Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 15 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Theo ông Nguyễn Việt Hùng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Vĩnh Phúc, vào khoảng 1 giờ 30 phút sáng 15-12, tại thôn Lập Đinh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã xảy ra cháy rừng làm thiệt hại khoảng bảy ha rừng trồng.
Đây là khu rừng trồng các loại cây như bạch đàn, keo đã quy hoạch vùng sản xuất và được giao cho các hộ gia đình quản lý.
Sau khi phát hiện đám cháy, lực lượng kiểm lâm và chủ rừng đã huy động hơn 200 người, bao gồm lực lượng chữa cháy cơ sở, quân đội, công an và nhân dân trên địa bàn tổ chức chữa cháy. Tuy nhiên, do địa bàn đồi dốc nên công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn, các xe chữa cháy chuyên dụng không thể tiếp cận được hiện trường. Đến khoảng 4 giờ sáng nay, vụ cháy mới được dập tắt hoàn toàn.
Hiện các cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy. (Nhân Dân 15/12) đầu trang(
Theo Trung tâm Khí tượng thuỷ văn và tổng hợp của Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và PTNT), gần một tháng nay trên địa bàn tỉnh Bắc Giang không có mưa, thời tiết khô hanh kéo dài nên tại nhiều xã thuộc các huyện: Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Dự báo cháy rừng khu vực này đang ở cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Tại các huyện: Sơn Động, Yên Dũng và Việt Yên ở cấp IV - cấp nguy hiểm. Trước tình hình đó, Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh yêu cầu Ban chỉ đạo các huyện, xã và chủ rừng tăng cường kiểm tra, thực hiện ngay các phương án phòng, chống cháy rừng, tích cực tuần tra canh gác để phát hiện và dập tắt kịp thời các đám cháy. (Báo Bắc Giang 15/12) đầu trang(
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, tính đến ngày hôm nay 14/12, tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Theo đó, các huyện, thị xã, thành phố như: Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ cháy lan rất nhanh.
Các địa phương: Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân Đồn, Hoành Bồ, Cẩm Phả và Hạ Long đang ở cấp IV, cấp rất nguy hiểm. Huyện Hải Hà, Đầm Hà, Cô Tô đang ở cấp III, cấp nguy hiểm.
Bởi vậy, Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng và chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý chặt chẽ tránh các nguyên nhân chủ quan và khách quan phát sinh các nguồn nhiệt, nguồn lửa gây cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng./.
Theo thống kê của Cảnh sát PCCC tỉnh Quảng Ninh, tính từ đầu tháng 12 đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ cháy rừng, thiệt hại 20ha, chủ yếu là rừng keo, bạch đàn, thông; trong đó địa bàn xảy ra cháy rừng chủ yếu là Hạ Long và Cẩm Phả. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 14/12) đầu trang(
Chuyện về ông Nguyễn Văn Ách (Bảy Ách), Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp, Bình Phước chúng tôi đã kể nhiều. Lần này gặp lại, biết rằng cuối tháng 12 ông nghỉ hưu, vậy nhưng chuyện về những cánh rừng trong ông vẫn chưa thôi trăn trở!
“Tình yêu, trách nhiệm với rừng thể hiện qua việc làm, hành động chứ không phải lời nói suông”, đó là cảm nhận của tôi khi nghe ông Bảy giới thiệu những “sáng chế độc đáo, không giống ai”, phục vụ công tác chữa cháy rừng.
“Món” đầu tiên là chiếc máy cày được cải tạo, nối thêm một rơ móc phía sau làm bệ đặt bồn nước. Nắp bồn nước đồng thời là đường ống gắn súng bắn nước có áp lực cực mạnh. Theo ông Bảy Ách thì: “Tất cả những thứ này đều rất rẻ tiền. Ngoài chiếc máy cày và súng bắn nước phải mua, còn lại toàn đi xin. Chi phí ít nhưng rất hiệu quả. Vì xe máy cày có cặp bánh to, máy khỏe, rất phù hợp với địa hình rừng”.
Một món đồ rất quan trọng dành cho người chữa cháy có thể tiếp cận gần đám cháy rừng nữa được ông Bảy “chế” ra, đó là những tấm tôn chặn lửa cháy lan. Mỗi tấm cao hơn 1m, ngang 2m, được gia cố khung bằng những cây thép có chân.
“Khi cháy rừng, cắm những tấm tôn này xuống thành một hàng rào, có thể ngăn lửa lan rộng. Phối hợp với những chiếc xe máy chữa cháy cơ động nữa”, ông Bảy giới thiệu rồi dẫn chúng tôi ra khu nhà kho phía sau.
Ở đó có hơn chục chiếc xe máy “dã chiến”, đã được “độ” lại máy, lốp là loại dành cho xe địa hình. Trên mỗi xe có một thùng nhựa loại 200 lít, một đầu ống gắn liền thùng, đầu còn lại là súng bắn nước tự chế, áp suất mạnh, có thể phun xa vài chục mét. Những chiếc xe cào cào này sẽ cơ động vào gần đám cháy, những chỗ mà xe lớn không thể tiếp cận. Sau khi phun hết nước thì nhanh chóng quay ra xe bồn đậu gần đó, tiếp nước. Chỉ vài phút là có thể quay lại khu vực cháy. Và, đội quân vận hành những thiết bị chữa cháy này đều là người dân địa phương, được ông “tuyển” kỹ với các tiêu chí: khỏe mạnh, gan dạ và nhanh nhẹn.
“Thiết bị tốt đến đâu mà không có nước thì cũng vứt. Vì thế, chúng tôi đã hoàn thành gần 20 hầm chứa nước dung tích 200m3, nằm rải rác trong rừng. Tôi nghĩ nếu không may có sự cố hỏa hoạn rừng, chúng tôi sẽ xử lý tốt”, ông Bảy cho biết.
“Về hưu rồi mà tỉnh có dự án, muốn “khai tử” một khu rừng nghèo kiệt nào đó như vừa rồi, chú có tiếp tục đấu tranh không?”, tôi hỏi. Ông đáp liền: “Có chứ. Khi về hưu rồi, tiếng nói của mình sẽ khác đi, nhưng không phải là không có cách. Chỉ cần mình còn tâm huyết, còn yêu rừng”.
Tôi hỏi tiếp: “Như vậy là chú đã có những phương án chuẩn bị cho lúc đó?”. “Đúng. Dù về nhưng nếu tỉnh có những dự án gây tổn hại đến rừng, trong khi giá trị mang lại không có, hoặc quyền lợi đó chỉ mang lại cho tư nhân, thì lúc đó tôi có người dân, sát cánh đấu tranh cùng. Tôi đã đã xây dựng một mạng lưới quần chúng ở địa phương để làm nhiệm vụ bảo vệ rừng rồi. Chứ trông vào lực lượng chuyên trách của nhà nước thì… thua. Ở đây bảo vệ rừng không phải là kiểm lâm, không phải Nông lâm trường, bảo vệ, mà là người dân địa phương”.
Khi kể về rừng, về công tác bảo vệ, ông Bảy Ách nói không dứt với tất cả sự sôi nổi, hào hứng. Nhưng khi dẫn chúng tôi vào đến khu vực rừng bị cắt hồi tháng 7 vừa qua ở khoảnh 1, TK69, rừng Bù Đốp, nét mặt ông Hạt trưởng hay cười bỗng chùng xuống, khắc khổ hơn. Khóe mắt người đàn ông 60 tuổi như có nước.
Sau 3 tháng, “máu” của cây rừng dù đã khô, đóng vảy dưới gốc, nhưng vẫn còn mới lắm. Một vài cây khác như vẫn còn “đau”, chưa chịu khô vết cắt, vẫn rỉ ra những dòng nhựa cuối cùng. Trong đó, không ít gốc có đường kính 40 - 50cm.
Hai bàn tay xiết chặt, ông Bảy Ách nói, giọng ngắt quãng, thoảng trong tiếng gió ù ù giữa “cánh đồng” trống trải: “Mấy chục năm chúng tôi gắn bó với rừng, giữ rừng còn hơn cả bản thân mình, rừng thở thì tôi thở.
Sau khi rừng bị cắt 129ha, cả tuần liền tôi nuốt cơm không nổi. Đêm đến cứ trằn trọc không ngủ được. Tôi không đủ can đảm ra hiện trường để nhìn những cây rừng ngã xuống. Cả tháng sau tôi mới dám đến xem lại hiện trường. Dù ở nhà đã hình dung ra, nhưng khi đến, vẫn phải dụi mắt mấy lần, tưởng mình nằm mơ. Xót xa lắm”.
Rời khoảnh 1, chúng tôi đến khoảnk 2, TK69, nơi mà anh Trọng, kiểm lâm viên bảo rằng: “Nếu chú Bảy không kiên quyết ngăn chặn thì bây giờ chúng ta đang đứng giữa trời y như bên khoảnh 1”.
Tại đây, tôi thấy cây rừng có mật độ khá dày, nhưng đường kính chỉ từ 20 - 30cm. Ngay chỗ chúng tôi đứng, có hàng chục chủng loại cây. Đây chính là nơi ông Bảy Ách đang xây dựng dự án du lịch sinh thái, tham quan. Thật xót xa nếu khu rừng đẹp thế này lại bị san bằng để chăn nuôi.
“Người ta đánh giá rừng nghèo dựa trên các tiêu chí như: phải có từ 100 khối gỗ/ha rừng mới được coi là rừng không nghèo, được giữ lại, khoanh nuôi. Mà gỗ phải có đường kính từ 30cm trở lên. Cho nên, một ha rừng có khi có cả ngàn cây gỗ, nhưng đường kính không đạt nên không đo, không tính.
Ví dụ ngay chỗ chúng ta đang đứng, mật độ cây rất nhiều, nhưng khối lượng không có. Nếu tính theo tiêu chí này thì khu vực này là rừng nghèo kiệt. Họ đâu biết khu rừng khộp này cũng đã có tuổi đời hơn 2 chục năm, thì những cây dầu đồng, cà trắc, da đá, giáng hương mới được như vậy. Bởi thế cho nên, ở trên đâu có biết, khi xem kết quả đo đếm, thấy 1ha có 20 khối gỗ, nghèo quá, bỏ đi.
Đây là tiêu chí rất nguy hiểm, nhiều cánh rừng ở Bình Phước đã bị hạ vì những tiêu chí này. Tôi đã từng đấu tranh, kiến nghị là không dựa vào khối lượng gỗ để đánh giá rừng nghèo mà nên dựa vào các tiêu chí như mật độ cây, khả năng phát triển, đa dạng loài… nhưng không được”, ông Bảy Ách nói trong tiếc nuối, xót xa.
Nghe ông Bảy Ách thao thao kể về rừng, cảm giác như ông có thể nói suốt ngày không hết. Nghe ông nói mới thấy, 2/3 cuộc đời gắn bó với rừng của ông, có biết bao nhiêu kỷ niệm, vui buồn, vất vả, mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu, đều có cả. Có lẽ, màu xanh của rừng chính là lẽ sống, là hạnh phúc, là “máu thịt” một đời của ông. Vì thế, tôi cảm nhận được nỗi đau của ông khi chứng kiến cảnh những cây rừng ngã xuống mà không làm được gì. “Khi cây rừng bị cắt, tôi cảm giác như da thịt mình đang bị cắt vậy”, ông nói.
Trên đường từ TK69 trở ra, ông Bảy trầm ngâm: “Cuối tháng 12 này tôi về hưu, nhưng tôi sẽ vẫn gắn bó với rừng và sẽ bảo vệ rừng bằng tất cả khả năng mình có. Khi nhắm mắt xuôi tay, tôi cũng muốn “về với đất rừng”.
“Chúng tôi có thể ngăn chặn triệt để lâm tặc phá rừng, hay người dân lấn rừng trái phép. Nhưng với quyết định của chính quyền, nhân danh dự án thì đành bất lực. Chuyện phá rừng lâu nay chúng ta vẫn “đổ” hết cho lâm tặc, nhưng chẳng ăn thua gì so với kiểu phá rừng hợp pháp dưới mác “dự án”.
Để kết luận rừng nghèo, cần có đánh giá khách quan từ nhiều cơ quan, nhà khoa học và dựa trên nhiều tiêu chí. Chứ không nên căn cứ vào đánh giá độc lập của đơn vị nào, nhất là chủ rừng và doanh nghiệp xin dự án”, ông Bảy Ách. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/12) đầu trang(
Với tổng diện tích 13.862,2 ha, được bao bọc bởi con sông La Ngà có chiều dài trên 45km, rừng phòng hộ Tân Phú là môi trường sinh sống của nhiều loài động thực vật hoang dã quý hiếm. Trong đó giá trị nhất phải kể đến các loại gỗ quý như: trắc, căm xe, mật, gỏ đỏ, giáng hương, cẩm lai... Vì thế công tác quản lý, bảo vệ rừng tại đây luôn được quan tâm chú trọng.
Từ đầu năm 2016 đến nay Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú phối hợp với Hạt kiểm lâm, Công an huyện và Đội Cảnh sát phòng cháy chữa cháy số 5 đã tổ chức 6 cuộc tuyên truyền và 2 lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Thực hiện tốt kế hoạch tuần tra, truy quét, mật phục nhằm ngăn chặn lâm tặc vào rừng trộm lâm sản, nhất là loại gỗ quý. Thực hiện tốt Quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng giữa 3 huyện Định Quán, Xuân Lộc huyện Định Quán và Đức Linh tỉnh Bình Thuận đã ký kết.
Mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng do địa bàn quản lý rộng, nằm ở khu vực giáp ranh các huyện và khu dân cư. Ngoài ra có 42 hộ với 70 ha đất nằm trong vùng lõi của rừng phòng hộ, đời sống người dân còn nhiều khó khăn là áp lực và thách thức lớn cho công tác quản lý bảo vệ rừng. Tính đến tháng 12/2016 đã xảy ra 24 vụ vi phạm, giảm 26 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhiều nhất là các vụ trộm cắp gỗ, với 8 vụ thiệt hại 8 cây gỗ trắc giảm so với cùng kỳ 16 cây. Tình trạng hủy hoại cây rừng trồng, lấn chiếm đất rừng, đặt bẫy săn bắt thú rừng tuy đã hạn chế nhưng chưa được ngăn chặn triệt để.
Bước vào những tháng đầu mùa khô năm 2016-2017 Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú hiện đang đẩy mạnh triển khai công tác phòng chống cháy rừng với phương châm 4 tại chỗ và thông qua khai thác, phát triển du lịch sinh thái, các hình thức tuyên truyền vận động phù hợp từng bước nâng cao ý thức bảo vệ, phòng chống cháy rừng cho các tầng lớp nhân dân. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Nai 14/12) đầu trang(
Ngày 13/12, Bộ Chỉ huy BĐBP và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã tổ chức lễ ký kết phối hợp giữa hai đơn vị nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng khu vực biên giới, đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Tại lễ ký kết, hai bên thống nhất cao về trách nhiệm, nội dung và biện pháp phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới, đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, quá trình phối hợp phải bảo đảm chặt chẽ, thống nhất, an toàn nội bộ và hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ, không gây cản trở hoặc làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung công việc chuyên môn giữa các bên phối hợp, cần tuyệt đối giữ bí mật về kế hoạch, phương án, biện pháp nghiệp vụ, mệnh lệnh của người chỉ huy trước, trong và sau khi phối hợp.
Với sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Chỉ huy BĐBP và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, năm 2016 đã phát huy tính tích cực nhiệm vụ của mỗi bên và luôn lấy là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy và đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Với những nội dung cơ bản trong kế hoạch phối hợp như xây dựng cơ chế chính sách, phối hợp tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh về những chủ trương, chính sách, biện pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng qua đó cùng đấu tranh ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới.
Trao đổi thông tin quan trọng về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới, nắm rõ phương thức hoạt động của các đối tượng vi phạm liên quan đến lính vực quản lý, bảo vệ rừng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại rừng.
Song song với đó là công tác giáo dục pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới; công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng...
Đánh giá công tác thực hiện trong thời gian qua, cả hai đơn vị nhận thấy việc phối hợp thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế dẫn đến công tác đấu tranh với các đối tượng vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh chưa mang lại hiệu quả cao, các đơn vị thực hiện còn chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ của mình...
Việc ký kết kế hoạch phối hợp giữa hai lực lượng để phù hợp với thực tiễn công tác là điều hết sức cần thiết, làm cơ sở pháp lý để mỗi bên xác định trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ rừng trong thời gian tới... (Giáo Dục Và Thời Đại 14/12) đầu trang(
Chiều 14/12, ông Nguyễn Văn Hùy (Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh) cho biết, ông chính là người đã tham dự phiên đấu giá và giành được quyền mua cây sưa 200 năm tuổi ở Đình Đông Cốc (xã Hà Mãn, H.Thuận Thành, Bắc Ninh) với mức giá 24,5 tỷ đồng.
Theo ông Hùy, do gia đình làm nghề gỗ, thường xuyên phải tìm mua các loại cây gỗ quý và cây gỗ sưa ở đình làng Đông Cốc không xa lạ gì với ông, thêm vào đó, rất nhiều người dân ở đây cũng biết tới ông, thậm chí còn thông tin cho ông về việc đấu giá cây.
"Gia đình tôi làm gỗ truyền thống nên tôi không lạ gì cây gỗ sưa ở đây và tôi cũng đã được các cụ mời xuống xem cây, tham gia mua cây nhưng do lúc đó chưa có các văn bản đồng ý hạ giải của cơ quan chức năng nên không mua được.
Đến nay, sau khi các cơ quan chức năng đã đồng ý cho hạ giải và biết địa phương có tổ chức đấu giá, tôi đăng ký tham gia, mua được cây", ông Hùy nói.
Vị đại gia Bắc Ninh cho biết thêm, ngay sau phiên đấu giá khoảng 10 ngày, ông đã nộp đầy đủ 24,5 tỷ vào tài khoản cho cơ quan chức năng để mong sớm có thể hạ giải, khai thác cây sưa này.
"Tiền tôi đã đóng đủ rồi nhưng đến giờ đã hơn 3 tháng, do các vấn đề ở phía bên A là chính quyền địa phương chưa giải quyết xong nên chưa thể hạ giải, khai thác cây. Tôi cũng đã nhiều lần kiến nghị, giục lãnh đạo huyện, xã cần giải quyết nhanh, sớm bàn giao cây nhưng vẫn chưa được", ông Hùy chia sẻ.
Ngoài ra, ông Hùy có biết việc bà Nguyễn Thị Hợp đã ký hợp đồng với người dân mua cây sưa này với giá 49 tỷ đồng nhưng chính quyền địa phương nói rằng, đây là hợp đồng không có giá trị, đã hủy hợp đồng. Do vậy, ông cũng không quan tâm đến vấn đề này mà trách nhiệm của chính quyền địa phương là phải sớm bàn giao, trả lại cây cho ông.
Khi được hỏi dự định mua cây gỗ sưa về làm gì? ông Hùy chia sẻ, do gia đình làm nghề gỗ nên ông và mọi người "quyết tâm mua để về xẻ ra, đóng các đồ gỗ quý để bán".
Trả lời về việc có bán cây sưa này đi Trung Quốc không? ông Hùy cho biết, bản thân ông cũng không biết bán như thế nào qua Trung Quốc mà chỉ biết làm hàng gỗ quý để bán.
Vị đại gia cũng từ chối bình luận mức giá 24,5 tỷ là đắt hay rẻ và có lời lãi nhiều không. Ông Hùy cho rằng, những sự việc như ẩu đả trong cuộc họp hôm 7/12 chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giải quyết.
Về việc này, Chủ tịch UBND xã Hà Mãn Nguyễn Văn Hiến cũng xác nhận rằng, ông Hùy tại phiên đấu giá cây sưa 200 tuổi mang số thẻ 02 và tại lần trả giá thứ 16 ông này đã trả mức giá cao nhất là 24,5 tỷ đồng so với 4 người còn lại cùng tham gia.
Từng trao đổi với Đất Việt về việc này, ông Nguyễn Hữu Mạo - Giám đốc Ban Quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh khẳng định rằng, việc bán cây sưa 200 tuổi ở Đình Đông Cốc đã được Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Bắc Ninh đồng ý cho địa phương đấu giá. Chi cục kiểm lâm cũng đã có văn bản xác định rằng cây sưa 200 tuổi này đã chết.
Trước đó, ngày 7/12, tại đình thôn Đông Cốc, xã Hà Mãn (Thuận Thành, Bắc Ninh), chính quyền xã ađã tổ chức buổi họp tiếp dân về việc đấu giá cây sưa từng được rao bán với giá 50 tỷ đồng.
Tuy nhiên, ngay khi bắt đầu cuộc họp thì đã xảy ra màn ẩu đả, thậm chí có người bị đánh chảy máu đầm đìa ở đầu. Mâu thuẫn xảy ra khi người dân cho rằng, cây sưa đỏ này đã có người trả số tiền lên đến 49 tỷ đồng nhưng chính quyền lại bán với giá chỉ 24 tỷ đồng.
''Cây sưa của làng Đông Cốc nằm ở đình làng mà chính quyền mang tận lên Hà Nội để tổ chức bán đấu giá là không hợp lý, có khuất tất. Cây ở thôn Đông Cốc phải về đây đấu giá công khai cho toàn dân biết'' - một người dân thôn Đông Cốc đặt nghi vấn.
Sau khi xảy ra vụ ẩu đả, ngày 8/12/2016, UBND tỉnh Bắc Ninh có công văn số 3675/UBND-NC, trong đó, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo: ''Giao UBND huyện Thuận Thành xem xét giải quyết trả lời công dân và báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh trước ngày 15/1/2017''.
Ngày 8/12, Chủ tịch UBND huyện Thuận Thành, ông Nguyễn Tiến Hoàng cho biết, UBND huyện Thuận Thành đã quyết định tạm dừng khai thác cây gỗ sưa tại đình làng Đông Cốc, xã Hà Mãn nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. (Đất Việt 15/12) đầu trang(
Ông Tám Đô, một vị lão thành cách mạng có uy tín ở đảo là nhân chứng tiếp theo về chuyện rắn khổng lồ. Người ta kể rằng ông từng có nhiều năm chiến đấu trong rừng nên đã nhiều phen có dịp giáp mặt rắn hổ mây khổng lồ.
Có lần ông và hai vị bác sĩ đã tận mắt chứng kiến con rắn hổ mây dựng đứng cao cỡ đến 50 mét, nó táp đàn dơi lớn đang bay lượn trên bầu trời. Lại có lần, ông đang chạy giặc cùng đồng đội trong rừng Bãi Thơm, đã gặp một bầy rắn khổng lồ, con nào cũng có thân to bằng cái chum, quần thảo đục ngàu cả dòng sông để mò cá. Đến đầu năm 1960, tiểu đoàn thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đi càn tới Vũng Bầu đã chạm mặt rắn. Gặp phải quái thú khổng lồ đang ngóc đầu dậy, tên nào tên nấy cuống cuồng nã súng liên hồi.
Chúng dùng pháo và súng đại liên bắn hết cả tấn đạn để tấn công rắn. Khi bọn lính kéo đi, bà con ra xem thì thấy cây cối xung quanh ngã nát với một xác rắn khổng lồ có thân to bằng con trâu mộng, dài cũng đến 50m, đầu ngóc khỏi tán rừng!?
Tương truyền cũng từng có hai người săn thú từng chạm mặt rắn khổng lồ và sau đó đã buông súng, bỏ nghề. Một tay săn thứ thiệt tên là Trường, nổi tiếng là hung dữ, săn thú giỏi. Nhưng một hôm, đang trong lúc truy đuổi con mồi, thì bất thình lình anh này nghe có tiếng gió sau lưng thổi tới. Con mồi kêu lên một tiếng rồi mất hút, đoán ra đó là “sát thủ rừng xanh” nên anh cũng chạy thục mạng. Khi về tới nhà thì anh đổ gục, cơ thể lạnh ngắt vì sợ hãi. Sau lần đó, anh đã cạo đầu, bỏ nghề đi săn.
Còn một thợ săn tên Nam đi săn thường dắt bầy chó đi theo. Người này cũng gặp phải rắn khổng lồ, bầy chó săn tinh khôn nhào tới cắn rắn cứu chủ. Người thợ săn may mắn thoát chết nhưng mấy chú chó săn tinh khôn đã hy sinh, không tìm được xác. Nghe nói, sau đó người này cũng bỏ nghề và thề cả đời không ăn thịt chó.
Chính vì những chuyện đã từng xảy ra nên những người sống bằng nghề đi rừng xưa ở Phú Quốc sợ nhất là đụng phải mặt mãng xà khổng lồ. Nếu gặp con nhỏ còn có cơ may thoát nạn, còn gặp loại to thì coi như hết đườn sống. Người dân nơi đây cho rằng rắn khổng lồ chính là rắn hổ mây vì chúng có màu mốc vàng, xen kẽ đốm trắng như trái mây, bụng vằn màu trắng sữa.
Ở tuổi trưởng thành, nó có thể to cỡ thân cây dừa, dài gần 20m, đầu có mồng như gà, có tiếng rít the thé như tiếng gà rừng. Người dân ví von hổ mây là “ẩn sĩ” vì rằng chúng chỉ xuất hiện ở chốn thâm u, hiếm khi xuất hiện ở vùng dân cư đông đúc và ven biển.
Giải thích cho những trường hợp may mắn thoát khỏi bàn tay thần chết khi đụng độ với mãng xà, ông Phước cho rằng một là, do tổ tiên, gia đình thợ săn ăn ở phúc đức. Hai là, khi đó rắn khổng lồ đã no bụng, nó đang nằm nghỉ ngơi. Ba là, thợ săn phải có kinh nghiệm đi rừng lâu năm, hiểu được tâm tính của loài rắn và phải thật bình tĩnh để xử lý tình huống khi bất ngờ gặp mãng xà.
Lý do mà ông Phước may mắn sống sót đến tận bây giờ sau những lần gặp rắn khổng lồ là vì ông biết khi gặp phải con rắn trong trạng thái muốn tấn công nhưng không phải tấn công mà là động tác dọa đối thủ. Chỉ khi ta làm cho chúng tưởng rằng chúng đang bị đe dọa thì chúng mới tấn công lại. Do đó, khi gặp phải rắn khổng lồ, thợ săn phải thật bình tĩnh, nhẹ nhàng lùi lại và nhanh chân tẩu thoát.
Trong cuộc trò chuyện, ông Bảy Phước còn kể cho chúng tôi nghe về cuộc đại chiến giữa 6 siêu khuyển và mãng xà chúa. Ở Phú Quốc, có hai con vật được người ta nhắc đến nhiều nhất đó là chó Phú Quốc và rắn hổ mây. Nhiều thợ săn từng kể lại rằng, ai “vô phúc” mới phải đối diện với rắn hổ mây khổng lồ. Chúng dài cả chục mét, thân to bằng cái phích, có thể nuốt chửng một con bò. Cứ nhắc đến loài rắn này là các thợ săn giỏi nhất cũng phải kinh hồn khiếp vía. Tuy nhiên, ở Phú Quốc đến nay còn lưu truyền câu chuyện 6 chú chó xoáy hạ gục một mãng xà chúa nặng đến cỡ vài tạ.
Suối Tranh là một địa danh du lịch nổi tiếng ở đảo Phú Quốc. Con suối này được bắt nguồn từ dãy núi Hàm Ninh, do các khe nước nhỏ hợp thành, róc rách chảy trên núi, len lỏi qua biết bao rừng cây, gộp đá, thác ghềnh. Suối dài khoảng 15 km, ngày đêm chảy hiền hòa bên những phiến đá nối tiếp nhau chạy dài xa tít. Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xóa. Khung cảnh ở đây tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Khách du lịch đến suối Tranh không chỉ ngắm hoa thơm cỏ lạ, những chòm cây hình thù khẳng khiu rắn rỏi, thân cây ngả màu xanh xám, mọc chen vào đá. Nơi đây còn có những hang động huyền hoặc, kỳ bí như hang Dơi nằm trên núi cao chừng 200m, sâu đến 50m, có nhiều thạch nhũ đẹp, lạ mắt. Đặc biệt, du khách đến đây sẽ còn được nghe chuyện về đàn siêu khuyển chiến đấu với mãng xà khổng lồ để cứu chủ mình ra sao.
Câu chuyện về cuộc đại chiến được kể lại như sau: Ngày ấy, đảo Phú Quốc còn rừng rậm và nhiều động vật hoang dã. Trong nghề săn bắt, không ít thợ bắt chuyên lùng bắt rắn và với bất cứ thợ săn nào ở đây thì họ luôn cần cộng sự đắc lực là loài chó xoáy. Với đặc tính giỏi chiến đấu và biết đi săn, chó xoáy biết phát hiện con mồi cách xa hàng cây số, sau đó chủ động dồn mồi vào nơi có bẫy của thợ săn. Trong mỗi chuyến đi săn, các thợ săn đều mang theo bầy chó xoáy của mình đi cùng.
Chiều hôm đó, khi thợ săn này đi đến khu vực suối Tranh thì bỗng nhiên đàn chó xoáy 6 con dừng lại, nhìn về hướng tảng đá mà sủa inh ỏi. Chúng gầm gừ và thỉnh thoảng lùi dần, tuyệt nhiên không dám lại gần. Tưởng chó gặp cọp, người thợ săn vác khẩu súng tiến lại gần xem sự tình. Khi đến nơi, anh ta như chết đứng, toàn thân lạnh ngắt, tay đã ôm súng mà không thể ngắm bắn.
Lúc người thợ săn phát hiện trước mình là con rắn hổ mây khổng lồ đang cuộn trên một tảng đá lớn cũng là lúc anh sợ hãi đến mức đứng chôn chân một chỗ. Con mãng xà dài thượt, thân mình lớn hơn cái phích nước! May thay, con rắn không làm gì người thợ săn. Thần trí hồi phục, anh ta quay đầu chạy bán sống bán chết về làng báo tin. Thấy khuôn mặt người thợ săn tái xanh tái mét, cắt không còn giọt máu, dân làng biết ngay anh ta đã đụng mặt “sát thủ rừng xanh”.
Sau khi cấp tốc bàn bạc, hơn chục trai tráng quyết định ôm súng, nỏ chạy vào suối Tranh để giết chết mãng xà vì đây là khu vực đông người đi rừng và khu dân cư, nếu để con rắn đó tồn tại thì sẽ rất nguy hại cho con người. Nhưng sau khi đoàn người tới nơi, con mãng xà đã không còn nằm trên tảng đá đó nữa. Nhưng thật bất ngờ vì 6 chú chó xoáy của người thợ săn vẫn đang gầm gừ và tập trung quanh một cái cây. Vừa lúc đó, mọi người hoảng hồn khi thấy đầu con mãng xà khổng lồ sà xuống gần mặt đất như muốn tấn công đám chó xoáy. Thì ra con rắn đã di chuyển lên cây và nó đang cuốn mình quanh thân cây này.
Mục đích ban đầu là đi tiêu diệt rắn, nhưng khi thấy rắn thì đám trai làng không còn dũng khí để tấn công mãng xà. Tất cả chỉ biết đứng ngây người nhìn đàn chó chiến đấu với rắn hổ mây. Cuộc chiến diễn ra rất khốc liệt. Sau một hồi quần thảo, con rắn dường như đã bị cắn gãy sống lưng, phải nằm yên bất động. Tuy nhiên, hai con chó xoáy đã bỏ mạng vì dính phải nọc độc của rắn hổ mây. Chứng kiến hai “cộng sự” trung thành của mình hy sinh, người thợ săn không cầm được nước mắt. Cũng từ đó, người thợ săn này đã buông súng và bỏ nghề.
Nhiều người cho rằng ngày nay rắn khổng lồ vẫn còn tồn tại trên Phú Quốc và ẩn thân đâu đó trên 99 ngọn núi kia. Còn ở những khu vực có rừng sát với khu dân cư, người ta vẫn bắt gặp rắn hổ mây có kích cỡ nhỏ hơn những con rắn trong huyền thoại. Mới đây nhất, một con rắn hổ mây nặng cỡ gần 20kg mò xuống suối Tranh uống nước đã bị người dân đập chết. Con rắn này được một chủ nhà hàng mua để ngâm rượu. Tiếc rằng khi chúng tôi tìm đến xem thì chủ nhà hàng này đã tặng hũ rượu đó cho bạn của mình ở tận ngoài đất liền.
Một cán bộ kiểm lâm của Vườn quốc gia Phú Quốc cho hay, Vườn quốc gia Phú Quốc trải rộng trên toàn bộ huyện đảo, rừng già tràn ra tận ven biển, sát thị trấn Dương Đông. Về chuyện rắn hổ mây, cán bộ này nói đó là loài rắn có thật. Tuy nhiên theo anh, rắn hổ mây chính là rắn hổ chúa theo cách gọi của người ngoài Bắc. Chỉ có điều, hổ chúa trên đảo Phú Quốc có màu hơi vàng và có thân hình lớn hơn.
Chuyện anh em kiểm lâm gặp rắn hổ mây diễn ra thường xuyên, tuy nhiên chỉ gặp những con nhỏ, thân bằng cỡ... cái ống bơ sữa, dài khoảng... 5-6m, nặng trên dưới... 20 ký. Năm 1991, lực lượng kiểm lâm từng bắt gặp một con rắn hổ mây có thân to bằng cái phích, trọng lượng ước chừng hơn 30kg.
Nói về rắn khổng lồ, ông Lưu Đức Thuận (Trưởng ấp Suối Cát, xã Cửa Dương) cho hay: “Chuyện về rắn hổ mây khổng lồ đến thế hệ tôi đã không còn ai chứng kiến, chỉ được nghe các bậc cao niên kể lại. Những người cuối cùng biết nhiều về nó như ông Tám Đô, ông Dương Quảng thì đã qua đời hết rồi. Theo tôi thì có thể tin rằng rắn hổ mây khổng lồ là loài có thật. Tuy nhiên, nội dung câu chuyện và cân nặng của chúng đã bị “tam sao thất bản”, bị phóng đại lên rất nhiều”.
Như vậy là cho đến ngày nay thì đã không còn người dân nào trên đảo Phú Quốc bắt gặp một con rắn khổng lồ dài hàng chục mét, nặng hàng trăm kí như trong truyền thuyết. Tuy nhiên, những câu chuyện huyền bí về loài rắn “sát thủ rừng thiêng” này chắc chắn vẫn sẽ được tiếp tục lưu truyền qua nhiều thế hệ và những câu chuyện kì bí về rắn khổng lồ vẫn sẽ là một “đặc sản” để thiết đãi khách du lịch đến với đảo Phú Quốc, một thiên đường nghỉ dưỡng nơi hạ giới... (Vn Tin Nhanh 14/12) đầu trang(
WWF Việt Nam và Vườn Quốc gia Yok Don đã cam kết thực hiện kế hoạch hành động khẩn cấp để bảo tồn voi rừng Yok Don giai đoạn 2016 - 2020.
Kế hoạch khẩn cấp bảo tồn voi rừng Yok Don được khởi động vào ngày 14/12 tại Vườn Quốc gia Yok Don (VQGYD), mở đầu cho một loạt các khóa tập huấn cho cán bộ kiểm lâm vườn về tác nghiệp hiện trường và thực thi pháp luật cơ bản theo tiêu chuẩn Kiểm lâm châu Á, theo dõi đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh do WWF Việt Nam hỗ trợ thực hiện.
Theo WWF, kế hoạch nói trên tập trung đẩy mạnh thực thi pháp luật, và giảm thiểu mâu thuẫn giữa voi với người dựa trên hiểu biết về tập tính di chuyển theo mùa của voi và sinh kế thân thiện cho người dân.
Song song với việc nâng cao kỹ năng và kiến thức cơ bản về thực thi pháp luật và tác nghiệp hiện trường cho lực lượng kiểm lâm, SMART (công cụ theo dõi và báo cáo hiện trường - Spatial Monitoring and Reporting Tool) sẽ được triển khai toàn diện ở VQGYD để thu thập dữ liệu, giám sát loài và quản lý hoạt động tuần tra một cách chuyên nghiệp.
Tây Nguyên là nơi hiện có đàn voi rừng lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% quần thể voi rừng toàn quốc. Đàn voi này cũng là nguồn hy vọng lớn nhất về bảo tồn do số lượng cá thể còn nhiều nhất, cơ cấu đàn cho thấy dấu hiệu phục hồi và nguy cơ đồng huyết cận huyết ít hơn các đàn khác trong cả nước. Vì vậy cứu được đàn voi rừng Tây Nguyên là bảo tồn hiệu quả quần thể voi rừng châu Á của Việt Nam.
Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, quần thể voi hoang dã ở Việt nam đã giảm khoảng 95% sau 40 năm (1975-2015). Riêng ở Đắk Lắk, trong vòng 8 năm (2009 – 2016) đã có ít nhất 23 cá thể voi rừng bị chết, so với con số ước tính tổng đàn chiếm khoảng 25%, gần 75% trong số voi chết là voi con dưới một tuổi.
Nạn buôn bán trái phép nhưng công khai các sản phẩm ngà voi, lông đuôi voi, da voi, đế chân voi ở các trung tâm du lịch, các quầy bán hàng lưu niệm trên toàn tỉnh và sân bay Buôn Mê Thuột cũng là một đe dọa đối với voi rừng Yok Don. Voi đực bị săn trộm lấy ngà ảnh hưởng đến cơ cấu đàn, ảnh hưởng đến tập tính của cả đàn và về lâu dài voi sẽ tự tuyệt chủng.
“Chúng ta cần hành động khẩn cấp để cứu lấy đàn voi rừng, đây là cơ hội cuối cùng, nếu không số phận của chúng có thể sẽ giống như tê giác Java một sừng, tuyệt chủng tại Việt Nam năm 2010 hoặc loài hổ, hiện không tìm được dấu vết sinh sản nào ngoài tự nhiên trong những năm gần đây", tiến sỹ Văn Ngọc Thịnh, Giám đốc WWF Việt Nam, cho biết.
Trong kế hoạch dài hạn, WWF Việt Nam sẽ cùng VQGYD đẩy mạnh hợp tác bảo tồn với rừng đặc dụng Mondulkiri của Campuchia để bảo tồn toàn diện đa dạng sinh học của toàn vùng cũng như bảo vệ các đàn voi rừng di chuyển qua các hành lang xuyên biên giới của chúng. (Zing News 14/12) đầu trang(
Chà vá chân nâu, một trong những loài linh trưởng đẹp nhất thế giới đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao do tình trạng săn bắt và mất dần sinh cảnh sống.
Theo các chuyên gia bảo tồn, 21 trong 24 loài linh trưởng ở Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó có nhiều loài đặc hữu như chà vá chân xám (Pygathrix cinerea). Chúng được phát hiện năm 1995 và mô tả năm 1997. Do săn bắt và buôn bán bất hợp pháp nên số lượng loài suy giảm nghiêm trọng từ năm 2000, hiện chỉ còn 1.500 con. Chúng thường sống ở rừng kín thường xanh, rừng kín nửa rụng lá, sống thành đàn khoảng 10-15 con.
Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là loài linh trưởng đặc hữu, vùng phân bố hẹp ở miền Bắc Việt Nam. Trong tự nhiên nó chỉ còn dưới 200 cá thể. Các nhà khoa học cho biết, duy nhất một quần thể với khoảng 100 con được xác định ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long (Ninh Bình). Chúng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng rất cao và có tên trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp trên thế giới.
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) chỉ còn chưa tới 250 cá thể được ghi nhận ở một vài khu rừng nhỏ ở hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Chúng nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới và 100 loài sinh vật bị đe dọa tuyệt chủng trên trái đất.
Voọc mũi hếch có bộ lông nâu đen, lông trên đầu và quanh mặt trắng nhạt, không có mào lông trên đỉnh đầu. Nơi sống của voọc mũi hếch có phần đa dạng hơn các loài voọc khác, thường ở những vùng cây cao trên núi đất và thung lũng.
Voọc Cát Bà còn gọi là voọc đầu vàng (Trachypithecus poliocephalus) từng có hơn 2.000 cá thể, nhưng nay chỉ còn khoảng 70 con sinh sống ở quần đảo Cát Bà (Hải Phòng). Loài này cũng nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới.
Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) được ghi nhận ở một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam. Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) là nơi có quần thể lớn nhất, ước tỉnh 450 con.
Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) là một trong những loài linh trưởng đẹp nhất thế giới. Chúng được tìm thấy ở Lào, Việt Nam, Campuchia và đang bị đe dọa tuyệt chủng cao.
Loài này có thân hình thon nhỏ, lông nhiều màu, trán màu đen, lông mặt dầy tạo thành đĩa mặt, màu từ trắng xám đến xám. Cổ và ngực chúng có màu hung đỏ từ rực rỡ đến nhạt. Chúng thường ăn quả, lá cây rừng, ngô, khoai, sắn, rau xanh.
Vượn cao vít (Nomascus nasutus) còn khoảng 130 con, phân bố ở khu rừng thường xanh trên núi đá vôi, diện tích 2.000 ha tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Trùng Khánh (Cao Bằng).
Để chung tay bảo vệ linh trưởng ở Việt Nam, mới đây một nhóm bảo tồn loài động vật này đã cho ra đời cuốn sách ảnh được cho là kim chỉ nam bảo tồn linh trưởng: "Bảo vệ linh trưởng Việt Nam - bên bờ vực thẳm".
Các tác giả đã liệt kê đầy đủ chủng loại linh trưởng quý hiếm trên thế giới đang sinh sống ở Việt Nam, nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do sự săn bắt của con người. Chúng được chia thành các mức độ như cực kỳ nguy cấp, nguy cấp, sẽ nguy cấp và sắp bị đe dọa. (VnExpress 14/12) đầu trang(
Trong 4 năm, đã có 15 người dân hiến tặng các mẫu vật về rùa biển và thả về biển nhiều cá thể rùa biển tại Cù Lao Chàm. Đó là những hành động đáng để tuyên dương đối với những cá nhân và tổ chức, song vẫn còn nhiều nỗi lo cho hoạt động bảo tồn giống rùa biển tại nơi này...
Ngày 14.12, Ban quản lý bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho biết, tính từ năm 2012 đến nay, đã có 15 người dân hiến tặng mẫu vật và thả lại về biển nhiều cá thể rùa biển, với tổng số lượng là 31 mẫu vật và cá thể.
Trong đó, các mẫu vật về rùa biển đã chết được người dân tặng lại cho trung tâm phục vụ mục đích truyền thông, nâng cao công tác bảo tồn các loài rùa biển tại nơi này.
Riêng các cá thể còn sống sẽ được thả về lại biển, góp phần bảo tồn cho các loài rùa biển nơi này.
Theo số liệu thống kê, từ năm 2014 đến nay, tần suất xuất hiện rùa biển tại vùng biển Cù Lao Chàm ngày càng nhiều. Riêng năm 2014, đã có 9 cá thể rùa biển mắc lưới ngư dân, trong đó có 3 cá thể được cứu sống và thả về lại biển, 6 cá thể chết được hiến tặng làm mẫu vật.
Từ năm 2012 đến nay, đã có 8 lớp tập huấn cho 200 người dân nhằm nâng cao nhận thức trong công cuộc bảo tồn rùa biển tại Cù Lao Chàm và xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành. (Lao Động 14/12) đầu trang(
Ngày 7/12, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã chứng kiến quá trình chuyển giao một cá thể gấu ngựa chưa gắn chíp cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội. Trước đó, nhiều trường hợp nuôi nhốt gấu bất hợp pháp khác trên địa bàn Hải Dương,  Đắk Lắk… cũng được phát hiện nhờ tin báo của người dân tới ENV.
Có thể khẳng định, đây là một tín hiệu tích cực, ghi nhận sự nỗ lực bền bỉ trong công tác tuyên truyền, thay đổi suy nghĩ người dân về bảo vệ động vật hoang dã.
Theo đó, ngày 26/10, từ đường dây nóng 1800-1522 của ENV, người dân đã thông báo hiện tượng một hộ gia đình tại huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương) hiện đang nuôi nhốt cá thể gấu ngựa. Chỉ một ngày sau khi nhận được thông tin này, một đoàn kiểm tra gồm Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hải Dương phối hợp cùng Phòng cảnh sát Môi trường, Công an tỉnh Hải Dương đã có mặt để tiến hành xác thực thông tin.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng đã xác nhận gia đình này đang nuôi nhốt một cá thể gấu ngựa nặng khoảng 100kg. Khai thác bước đầu, chủ hộ cho biết, cá thể gấu này đã được mua ở Quảng Ninh và nuôi từ năm 2008 nhưng chưa đăng kí gắn chíp. Trước đó, vào ngày 5/12, một chủ trại gấu tại Đắk Lắk cũng đã tự nguyện chuyển giao 6 cá thể gấu ngựa (đã được đăng ký quản lý và gắn chíp) cho cơ quan chức năng sau thời gian dài nuôi nhốt.
Sau khi nhận được tin báo qua đường dây nóng, ENV đã liên lạc với chủ gấu và làm việc chặt chẽ với cơ quan chức năng địa phương để thúc đẩy quá trình chuyển giao. Đây là một trong rất nhiều trường hợp tự nguyện chuyển giao gấu đáng được tuyên dương.
Ghi nhận sự vào cuộc nhanh chóng và kịp thời của các cơ quan chức năng, bà Nguyễn Thị Phương Dung - Phó Giám đốc ENV cho biết: “Hoạt động nuôi nhốt gấu không những không đem lại lợi ích cho người dân mà còn là gánh nặng quản lý nhà nước. Việc chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam là một nhu cầu tất yếu. Chính vì vậy, việc tịch thu mọi cá thể gấu bất hợp pháp không những là hành động thực thi pháp luật kiên quyết mà còn đảm bảo nhanh chóng chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật tại Việt Nam”.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2005, có hơn 4.300 cá thể gấu được phát hiện nuôi nhốt tại các trang trại trên cả nước. Hầu hết những cá thể gấu này đều bị săn bắt từ tự nhiên và bán cho các trang trại nhằm đáp ứng nhu cầu cung ứng, tiêu thụ mật. Những năm 2000 - 2002 là thời “hoàng kim” của các đối tượng nuôi nhốt và kinh doanh mật gấu. Giá thành mật gấu giao dịch ngầm cao chót vót, trên dưới 250.000 đồng/cc.
Nguồn lợi từ việc khai thác mật quá lớn nên mỗi cá thể gấu có giá hàng trăm triệu đồng. Người ta đua nhau nuôi gấu và không ít trường hợp xây biệt thự, sắm xe hơi nhờ nuôi gấu và bán mật. Tuy nhiên, đến thời điểm này, giá mật gấu chỉ còn 20.000 – 80.000 đồng, thậm chí 12.000 đồng/cc. Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2015, số lượng này giảm 72%, chỉ còn khoảng 1.250 cá thể gấu bị nuôi nhốt trong các trang trại trên cả nước.
Nhưng vấn đề đáng nói là khi giá mật gấu “chạm đáy” bởi nhiều người cho rằng, kiểu nuôi nhốt và khai khác mật vô tội vạ không đảm bảo chất lượng, thiếu an toàn cho người sử dụng và không thật sự chữa được bệnh như quảng cáo, khiến việc nuôi nhốt gấu hầu như không sinh lợi, thì không ít chủ cơ sở bỏ mặc hoặc chăm sóc gấu một cách ngược đãi. Sự ngược đãi này xuất phát từ tâm lý muốn với cơ quan chức năng để có một khoản tiền hỗ trợ.
“Vẫn còn hơn 1.000 cá thể gấu đang bị nuôi nhốt tại các trang trại. Hầu hết các cá thể này đều có nguồn gốc từ tự nhiên. Tuy nhiên, với cam kết và những thành tựu các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân đã đạt được trong 10 năm qua, chúng tôi tin rằng tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật sẽ sớm chấm dứt hoàn toàn ở Việt Nam” - bà Nguyễn Thị Phương Dung chia sẻ.
Khách quan nhìn nhận, trong suốt 10 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong cuộc chiến chống lại nạn săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã. Trong đó, dư luận cũng đặc biệt ghi nhận các nỗ lực đã được triển khai nhằm tăng cường thể chế, chính sách về bảo vệ động vật hoang dã, những loài nguy cấp, quý, hiếm. Khắc phục những “lỗ hổng” pháp lý, nâng cao khung hình phạt và cải tiến khung pháp lý.
Ngoài ra, chuyển biến đáng ghi nhận nhất là ý thức của người dân về vấn đề bảo vệ động vật hoang dã ngày càng được nâng cao. Minh chứng rõ nhất là, chỉ tính riêng trong ba năm trở lại đây, số lượng vi phạm về động vật hoang dã được người dân chủ động thông báo đã tăng gấp đôi. Nhiều cuộc gọi theo đường dây nóng của ENV được sớm ghi nhận và can thiệp.
Nhờ những chuyển biến ý thức này, lực lượng chức năng đã khám phá và bắt giữ nhiều vụ buôn bán trái phép động vật hoang dã với quy mô lớn, triệt phá thành công nhiều vụ vận chuyển trái phép trên khu vực cảng, biên giới. (Pháp Luật Việt Nam 15/12) đầu trang(
Những năm gần đây, hoạt động gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) của các hộ dân trên địa bàn Quảng Trị đang phát triển mạnh nhằm phát triển sinh kế, đồng thời gián tiếp bảo tồn các loài ĐVHD và giảm sức ép lên rừng tự nhiên.
Hộ gia đình anh Văn Thành, ở thôn Long Hưng, xã Hải Phú (Hải Lăng) đầu tư xây dựng khu trang trại gây nuôi ĐVHD trên diện tích hơn 13.500 m2 từ năm 2014 đến nay. Với với 9 loài vật nuôi như rắn ráo trâu, rắn hổ mang, rắn sọc dưa, kỳ đà vân, rùa đất, rùa nước vàng…hiện tại trang trại của anh có hơn 3.400 cá thể động vật quý hiếm và khoảng hơn 600 cá thể động vật nhóm thông thường, có quy mô lớn nhất trong số các trang trại nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh.
Anh Thành cho biết giống vật nuôi được mua từ các trang trại gây nuôi trong tỉnh và trong nước. Trong quá trình gây nuôi, trang trại của anh Thành đã chấp hành đầy đủ các quy định của nhà nước, khi xuất nhập ĐVHD đều có lập thủ tục theo đúng quy trình, có sự kiểm tra xác nhận của các cấp có thẩm quyền. Với thị trường đầu ra ổn định, giá thành các loại động vật quý hiếm tương đối cao, mô hình nuôi ĐVHD bước đầu khẳng định hiệu quả kinh tế mang lại cho các hộ dân.
Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 6 trại nuôi và 27 cơ sở nuôi ĐVHD, với tổng số loài đang được nuôi là hơn 6.200 cá thể, trong đó số loài quý hiếm chiếm gần 5.000 cá thể. Nhiều hộ nuôi khác có quy mô tương đối lớn như hộ ông Nguyễn Hữu Diên, xã Triệu Đông (Triệu Phong); Nguyễn Phi Lực, xã Cam Thành (Cam Lộ)… với quy mô gần cả ngàn cá thể, trong đó phần lớn là động vật quý hiếm.
Ngoài việc mua giống từ các cơ sở khác về nuôi, các hộ nuôi đã thực hiện gây nuôi thành công một số loài như rắn ráo thường, hươu sao, lợn rừng, rùa đất sepon, don, cầy vòi mốc, cầy vòi hương, nhím đuôi ngắn. Hoạt động gây nuôi ĐVHD đã đem đến nguồn thu nhập tương đối ổn định cho một bộ phận nông dân chịu khó tìm tòi và đổi mới các hình thức kinh doanh, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc giảm áp lực săn bắt các loài ĐVHD trái phép từ rừng tự nhiên.
Mặt khác, hoạt động gây nuôi ĐVHD là một quyết định cần thiết đối với sự phát triển của xã hội khi mà nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ động vật rừng ngày càng cao, trong khi đó lại không có nguồn cung cấp hợp pháp, dẫn đến nạn săn bắt động vật rừng trái phép vẫn luôn diễn ra.
Trong những năm qua, các chủ trại nuôi và cơ sở nuôi đều chấp hành tốt các quy định của nhà nước về nuôi nhốt ĐVHD. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, các Hạt kiểm lâm và kiểm lâm địa bàn luôn tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các trại, cơ sở nuôi, thường xuyên hướng dẫn các trại, cơ sở gây nuôi ĐVHD đăng ký cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận gây nuôi ĐVHD thông thường, quý hiếm theo quy định của pháp luật. Chủ động phối hợp với các cơ quan, ban, ngành có liên quan trong việc kiểm tra, kiểm soát tình hình mua bán, kinh doanh, săn bắt, nuôi nhốt trái phép ĐVHD trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh những thuận lợi, thực tế hiện nay hoạt động gây nuôi ĐVHD vẫn còn những hạn chế nhất định. Đó là các hoạt động gây nuôi chỉ mang tính tự phát, quy mô các trại nuôi rất nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch đồng bộ từ địa phương và sự hỗ trợ từ các cơ quan liên quan, các doanh nghiệp. Sản phẩm từ ĐVHD chỉ được tiêu thụ nội bộ, chưa thực sự trở thành hàng hóa đã làm cho hình thức gây nuôi này thiếu ổn định và bền vững.
Việc phân biệt giữa sản phẩm ĐVHD được gây nuôi hợp pháp từ các trại gây nuôi và các sản phẩm động vật rừng bị săn bắt trái phép từ tự nhiên hết sức khó khăn nên khi tiêu thụ trên thị trường dễ bị lợi dụng. Chưa có tài liệu hướng dẫn về quy trình kỹ thuật gây nuôi, chăm sóc cho từng loài động vật hoang dã, tiêu chuẩn làm chuồng trại hỗ trợ các chủ nuôi. Ngoài ra do thiếu các thông tin về quy trình kỹ thuật gây nuôi, phòng trừ dịch bệnh, thị trường thu mua không ổn định… nên một số loài gây nuôi không mang lại hiệu quả kinh tế cao như mong đợi.
Để phát huy hơn nữa hiệu quả của hoạt động gây nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh, các ngành chức năng liên quan cần phối hợp với chính quyền có các giải pháp quy hoạch lâu dài về các khu vực được gây nuôi ĐVHD trên địa bàn nhằm phát triển hơn nữa khả năng bảo tồn loài, cùng với hiệu quả kinh tế cũng như bảo vệ môi trường sinh thái.
Huy động tài trợ từ các tổ chức, cá nhân cho các nghiên cứu khoa học về các hoạt động gây nuôi và bảo tồn ĐVHD, sớm ban hành bộ tài liệu quy trình kỹ thuật gây nuôi, chăm sóc ĐVHD, các tiêu chuẩn xây dựng chuồng trại… làm căn cứ cho việc quản lý công tác gây nuôi ĐVHD trên địa bàn. (Báo Quảng Trị 15/12) đầu trang(
Kinh nghiệm cho thấy động vật hoang dã rất khác so với vật nuôi và tình trạng nuôi nhốt sẽ khiến những nhu cầu sinh học của chúng không được đáp ứng. Nhiều vật nuôi hoang dã có thể ủ mầm bệnh và dễ dàng lây sang cho con người.
Hầu hết các loài khỉ mang vi rút herpes B - một loại vi rút có thể gây chết người; rùa và một số loài bò sát có thể mang vi khuẩn salmonella - một vi khuẩn có thể gây bệnh truyền nhiễm đặc biệt cho trẻ em; vẹt và các loài chim khác cũng có thể lây truyền một số bệnh sang người trong đó có bệnh cúm gia cầm. Phần lớn các căn bệnh mới hiện nay đều do động vật lây truyền sang cho con người.
Đặc biệt chúng có thể gây ra nguy hiểm, do là loài hoang dã chưa được thuần phục, mặc dù bị nuôi nhốt nhiều năm nhưng chúng vẫn có thể gây ra nhiều cái chết thương tâm. Trong 10 năm trở lại đây, cả nước đã xảy ra hàng chục trường hợp nuôi động vật hoang dã (gấu, hổ…) rồi bị chúng tấn công đến chết hoặc mang thương tật suốt đời. Mới đây, vào cuối tháng 9/2016 tại khu chuồng nuôi của Công ty TNHH Bia Thái Bình Dương ở Dĩ An (Bình Dương) một nhân viên 40 tuổi bị hổ tấn công, chết tại chỗ khi vào chuồng nuôi cho hổ ăn.
Trước đó, tại Khu du lịch Đại Nam, nơi có hàng trăm cá thể động vật hoang dã đã 2 lần xảy ra hiện tượng thú tấn công người nuôi, lần đầu, một con hổ phóng qua bức tường cao hơn 2m, tấn công người khiến 1 chết, 2 bị thương, còn lần sau là một con voi, dùng vòi quật chết người quản tượng. Cũng trong tháng 5/2016 tại huyện Cam Lộ (Quảng Trị)  một đàn trâu vô chủ 9 con tấn công nhiều người dân, khiến 1 công nhân lâm trường bị thương nặng…
Để ngăn chặn có hiệu quả những rủi ro trong hoạt động nuôi, nhốt động vật hoang dã hung dữ, thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu UBND các huyện, thị, Sở Nông nghiệp PTNT và các cơ  quan báo, đài của tỉnh phải thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục phổ biến các quy định của pháp luật trong việc quản lý, gây nuôi động vật hoang dã, nâng cao nhận thức về nguy cơ và biện pháp bảo đảm an toàn trong việc nuôi các loài động vật hung dữ.
Cùng với đó, chủ động kiểm tra, rà soát các cơ sở nuôi động vật hoang dã hung dữ như cá sấu, gấu, rắn… trên địa bàn, nếu cơ sở nào cố ý không chấp hành quy định về điều kiện nuôi, nhốt động vật hoang dã thì phải xử lý nghiêm.
Tổ chức các đợt kiểm tra giám sát, hướng dẫn chủ nuôi gia cố chuồng trại, không để động vật hoang dã hung dữ thoát ra ngoài gây nguy hiểm cho con người; chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, nuôi, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép động vật hoang dã.
Tiến hành khoanh vùng, quy định cụ thể các khu vực được nuôi động vật hoang dã hung dữ; vận động chủ cơ sở di dời trại nuôi động vật hoang dã hung dữ ra khỏi khu dân cư và những nơi có nguy cơ mất an toàn cao hoặc không nuôi nhốt và nên chuyển giao động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm nhóm IB, đặc biệt là các loài hung dữ về trung tâm cứu hộ, cơ sở nghiên cứu khoa học; tổ chức tiêu hủy nếu động vật ốm, mang mầm bệnh không có khả năng nuôi dưỡng lâu dài cho người và vật nuôi.
Ngành công an phối hợp với lực lượng kiểm lâm yêu cầu các cơ sở nuôi động vật hoang dã hung dữ cam kết và thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người; đảm bảo vệ sinh môi trường; tham gia ứng phó kịp thời nếu xảy ra trường hợp động vật hoang dã tấn công người hoặc thoát ra ngoài môi trường. Tăng cường công tác nắm tình hình, tổ chức giám sát, điều tra, kiểm tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo tồn các loài động vật hoang dã.
Cần có kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng hải quan, biên phòng tăng cường việc ngăn ngừa, đấu tranh, triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất các loại động vật hoang dã từ các nước và địa phương khác vào địa bàn tỉnh. (Báo Bình Thuận 15/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định giao Bộ Tài chính xuất, cấp không thu tiền 1.924 tấn gạo từ nguồn dự trữ Quốc gia cho tỉnh ta để hỗ trợ các nhóm hộ gia đình, người dân tham gia bảo vệ rừng 4 huyện vùng cao núi đá, biên giới.
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh quyết định cấp cho huyện Đồng Văn gần 340 tấn, Mèo Vạc gần 388 tấn, Yên Minh trên 557 tấn và Quản Bạ 629 tấn để bảo vệ trên 96,2 nghìn ha rừng. Các nhóm hộ gia đình, người dân các huyện trên tham gia bảo vệ, phát triển rừng được Nhà nước hỗ trợ với định mức 20kg gạo/ha.
Được biết, năm 2009 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Đầu tư bảo vệ, phát triển rừng 4 huyện vùng cao núi đá giai đoạn 2008 - 2015 với tổng kinh phí trên 377 tỷ đồng. Sau 8 năm thực hiện, có trên 82,7 nghìn ha rừng được khoán bảo vệ; khoanh nuôi tái sinh trên 28,4 nghìn ha; trồng mới trên 17,1 nghìn ha; nâng độ che phủ rừng từ gần 31% năm 2007 lên trên 43% năm 2014; xây dựng 28.949 bếp đun cải tiến; cấp phát trên 11,8 nghìn tấn gạo hỗ trợ người dân trồng, bảo vệ rừng.
Dự án thu hút trên 50 nghìn hộ gia đình của 68 xã, thị trấn tham gia vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm tại chỗ cho trên 70 nghìn lao động. Đồng thời, giúp người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán…
Dự án Đầu tư bảo vệ, phát triển rừng 4 huyện vùng cao núi đá kết thúc tháng 12.2015 và đang được xây dựng theo các quy định của Luật Đầu tư công. Song song với việc xây dự án chuyển tiếp, tỉnh ta đã chỉ đạo tổ chức cho nhân dân tiếp tục bảo vệ tốt diện tích rừng tại 4 huyện vùng cao núi đá. Việc Chính phủ quyết định cấp phát 1.924 tấn gạo đợt này, sẽ giúp người dân có thêm nguồn lực, thực hiện tốt mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng, từng bước XĐGN. (Báo Hà Giang 14/12) đầu trang(
Ngày 13/12, tại Sa Pa, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tham gia tọa đàm có các đại biểu thuộc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai và 25 tỉnh có liên quan; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF); Tư vấn Dự án “Tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam” (IPFES).
Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm triển khai cơ chế mới trong chi trả dịch vụ môi trường rừng tại một số cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng như cơ sở sản xuất công nghiệp; cơ sở nuôi trồng thủy sản và cơ sở kinh doanh du lịch. Đồng thời, trao đổi với các cơ quan của tỉnh Lào Cai về kinh nghiệm đạt được trong thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; sự phối hợp, giúp đỡ từ trung ương và giữa các cấp ở địa phương.
Trước đó, đoàn công tác đã chia thành 3 nhóm theo nhu cầu của các địa phương đi khảo sát thực địa tại các cơ sở nuôi cá nước lạnh, cơ sở sản xuất công nghiệp và cơ sở kinh doanh du lịch… (Báo Lào Cai 13/12) đầu trang(
Ngày 14/12, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị sơ kết thí điểm các cơ chế mới trong chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lào Cai.
Dự hội nghị có lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của 25 tỉnh có liên quan.
Lào Cai là tỉnh đầu tiên áp dụng thí điểm cơ chế quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các đơn vị kinh doanh du lịch, cơ sở nuôi cá nước lạnh và cơ sở sản xuất công nghiệp. Đến nay đã có 61 đơn vị thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng ký kết hợp đồng ủy thác và thanh toán tiền với quỹ (34 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch, 18 đơn vị nuôi cá nước lạnh và 9 đơn vị sản xuất công nghiệp) với tổng số tiền là 2,7 tỷ đồng.
Cơ chế thí điểm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở công nghiệp, kinh doanh dịch vụ du lịch, nuôi cá nước lạnh được triển khai thực hiện đã tạo thêm nguồn lực hỗ trợ cho các chủ rừng trên địa bàn tỉnh. Tuy kết quả bước đầu thu tiền dịch vụ môi trường rừng còn thấp nhưng đã khẳng định đây là cơ chế, chính sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn.
Tại hội nghị, đại biểu đã thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương, nêu một số tồn tại, khó khăn trong thực hiện cơ chế mới và cùng rút kinh nghiệm để nâng cao hoạt động chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Lào Cai 14/12) đầu trang(
Những năm qua, nhờ làm tốt công tác bảo vệ rừng, nên những diện tích rừng do Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (Bình Định) quản lý luôn được bảo vệ bền vững.
Sau khi thực hiện đề án sắp xếp, đổi mới, Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn nằm trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh quản lý gần 12.842 ha rừng và đất rừng; trong đó có gần 11.000 ha được tỉnh giao và gần 1.849 ha đất công ty thuê của các địa phương để trồng rừng SX.
Với diện tích rừng tự nhiên hơn 10.770 ha được UBND tỉnh giao quản lý, Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn đã giao khoán cho đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ rừng theo Nghị quyết 30a được 4.279,5ha; diện tích đất, rừng còn lại công ty tự tổ chức quản lý bảo vệ.
Công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) luôn được công ty đặt lên làm nhiệm vụ hàng đầu, ngay đầu năm công ty đã xây dựng phương án và kế hoạch QLBVR trong cả năm.
Để giữ bình yên cho những cánh rừng, trong năm 2016 công ty thành lập hẳn một văn phòng QLBVR tại trạm QLBVR Lò Than và 4 trạm QLBVR trên địa bàn các xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Hảo, Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh). Phân công hẳn phó giám đốc trực chỉ đạo công tác QLBVR cho 15 cán bộ, nhân viên của công ty đứng chân tại các trạm nói trên.
“Ngoài ra, công ty còn thành lập 4 chốt QLBVR giáp ranh địa bàn của với Cty TNHH MTV Lâm nghiệp KaNák, Sơ Pai, Hà Nừng và xã Nghĩa An (huyện Kbang, Gia Lai), bố trí tại mỗi chốt 2 nhân viên thường xuyên phối hợp với ban điều hành thôn, hộ nhận khoán thực hiện công tác QLBVR”, ông Võ Văn Cường, Giám đốc Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, cho biết.
Những diện tích rừng đã được giao cho hộ dân quản lý, công ty không “giao trắng” mà phối hợp với ban điều hành 6 thôn trong xã cùng 17 nhóm nhận khoán với tổng số 377 hộ luân phiên túc trực tại 2 điểm chốt QLBVR thuộc xã Vĩnh Sơn giáp ranh huyện Kbang (Gia Lai) thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra,.
Để QLBVR đi theo hướng bền vững, công ty đã xây dựng dự án “Quản lý bảo vệ, khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ và trồng cây lâm sản ngoài gỗ là dược liệu”. Mục tiêu nhằm quản lý, khai thác và phát triển lâm sản ngoài gỗ phù hợp để rừng được quản lý bảo vệ tốt hơn. Đồng thời tăng thu nhập cho hộ gia đình nhận khoán QLBVR và người dân sống gần rừng.
“Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ là cây dược liệu để từng bước tạo vùng nguyên liệu được ổn định, tận dụng tiềm năng đất đai, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho người dân sống gần rừng và cán bộ QLBVR của công ty. Hiện công ty đang tiến hành trồng thử nghiệm một số cây như hoàng đằng, giảo cô lam, lan kim tuyến, sa nhân, đinh lăng...”, ông Cường cho biết thêm.
Bên cạnh đó, Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn đã lập thủ tục bàn giao diện tích rừng bị xâm canh cho địa phương quản lý. Cụ thể, xã Vĩnh Sơn sẽ được giao trả 703,76 ha; thu hồi trồng lại rừng trên diện tích đất xen kẽ trong rừng tự nhiên và diện tích đất lấn chiếm 25,98 ha; xã Vĩnh Hảo dự kiến sẽ được giao 154,69 ha, thu hồi trồng lại rừng trên diện tích đất xen kẽ trong rừng tự nhiên và diện tích đất lấn chiếm 16,37 ha.
Thực hiện xây dựng chuỗi giá trị trong SX lâm nghiệp, Cty triển khai từ khâu SX giống chất lượng cao đến trồng rừng thâm canh; bảo vệ, nuôi dưỡng rừng đến khâu khai thác, chế biến và xuất khẩu.
“Đối với chế biến, công ty từng bước giảm dần chế biến dăm xuất khẩu, đẩy mạnh chế biến gỗ ghép. Công ty cũng đã xây dựng dự án trồng rừng gỗ lớn giai đoạn 2016 -2025 với diện tích 717,6ha, riêng trong năm 2016 đã trồng được 218ha”, ông Võ Văn Cường cho hay. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/12) đầu trang(
Sáng ngày 13/12, UBND tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Chỉ thị số 65/2015/CT-UBND về tăng cường công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Phan Ngọc Thọ, UVTV Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Hiện toàn tỉnh có trên 502 nghìn ha rừng, trong đó có gần 349 nghìn ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Thực hiện Chỉ thị số 65/2015/CT-UBND của UBND tỉnh về tăng cường công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2016, ngành Lâm nghiệp đã phối hợp với các địa phương tiến hành rà soát gần 3,5 nghìn ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, phát hiện trên 739 ha bị lấn chiếm (trong đó, trên 417 ha rừng có chủ và gần 321 ha không có chủ), đã thu hồi được trên 424 ha.
Nguyên nhân của tình trạng lấn chiếm đất rừng là bên cạnh việc thiếu đất sản xuất cục bộ của một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì việc quy hoạch quản lý rừng và đất lâm nghiệp được giao của các Ban quản lý, Công ty Lâm nghiệp không tham khảo địa phương và cộng đồng dân cư dẫn đến tình trạng giao đất chồng lấn lên rẫy cũ của dân; mặt khác năng lực quản lý và thực thi pháp luật về lâm nghiệp của một số đơn vị còn yếu, kém hiệu quả, chưa có quy định xử lý trách nhiệm đối với chủ rừng để mất rừng và khai thác trái phép lâm sản.
Đối với đất rừng do cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý thì việc kiểm tra thiếu thường xuyên, thiếu công cụ và thể chế quản lý và cũng chưa có quy định xử lý trách nhiệm của chủ rừng khi để mất rừng, xảy ra tình trạng khai thác trái phép lâm sản.
Sau khi nghe ý kiến các các chủ rừng và đại diện lãnh đạo các địa phương về những khó khăn trong công tác quản lý cũng như sự phối hợp xử lý các vụ việc liên quan đến lấn chiếm đất rừng và ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép lâm sản. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ nhấn mạnh, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn là rất quan trọng, vì vậy ngành Lâm nghiệp cần phải rà soát cũng như rút kinh nghiệm cụ thể từ thực tiễn công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp thời gian qua để quản lý chặt chẽ hơn nữa; cùng với đó cần lưu ý việc nghiên cứu từ giống cây, chăm sóc và cải tạo rừng nhằm nâng cao chất lượng rừng.
Trên tinh thần Chỉ thị số 65/2015/CT-UBND của UBND tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị ngành Tài nguyên và Môi trường, ngành Lâm nghiệp và các địa phương có diện tích rừng cần phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức người dân và chủ rừng về bảo vệ rừng; phải xác định muốn làm giàu từ rừng trước tiên phải quản lý tốt rừng, do đó, trong quá trình thực hiện phải lấy kinh nghiệm từ cơ sở và phải thực hiện đúng, đủ các quy định pháp luật cũng như có các giải pháp đồng bộ, chặt chẽ về quản lý đất đai và rừng ở địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Thừa Thiên - Huế 13/12) đầu trang(
Hội thảo “Diễn biến nguồn cung nguyên liệu gỗ năm 2017” diễn ra đã diễn ra ngày 14/12 tại TP Hồ Chí Minh nhằm cung cấp thông tin cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam chế biến gỗ có sự chuẩn bị tốt nhất về nguồn cung nguyên liệu và chiến lược phát triển trong thời gian tới...
Trong đó, đa số ý kiến của các đại biểu tham dự là cần hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu để đảm bảo cho doanh nghiệp trong nước đủ nguyên liệu để sản xuất.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến gỗ đã đóng góp đáng kể vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cụ thể, năm 2015 giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,9 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2014, trong đó sản phẩm gỗ đạt 4,79 tỷ USD. Riêng 10 tháng đầu năm 2016 giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5,59 tỷ USD, trong đó sản phẩm gỗ đạt 4,1 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2015.
Dự báo ngành chế biến gỗ Việt Nam tiếp tục mở rộng trong những năm tới đang đặt ra bài toán cung ứng lượng gỗ nguyên liệu rất lớn từ nguồn nhập khẩu và rừng trồng trong nước. Hiện nay, gỗ rừng trồng trong nước đã trở thành một nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 30- 40% tổng lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là gỗ cao su và gỗ keo tràm.
Để bảo vệ ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong nước và đảm bảo nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng được cung cấp đầy đủ và bền vững trong những năm tới, ông Trần Lê Huy - Đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA) đề nghị Bộ NN& PTNT, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam kiến nghị Chính phủ ban hành các giải pháp hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu một cách hiệu quả.
Cụ thể, tăng mức thuế xuất đối với mặt hàng gỗ tròn và gỗ xẻ lên cùng mức 20% trong khung quy định Nghị quyết số 830/2009/UBTVQH12 ngày 17/10/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tăng cường các giải pháp thủ tục hành chính, kiểm tra giám sát của Kiểm lâm, Hải quan sở tại và chính quyền địa phương, để hạn chế việc thương nhân việc thương nhân nước ngoài thu gom, khống chế thị trường gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước và lẩn tránh thuế xuất khẩu bằng cách giảm giá bán, kê khai không đúng quy cách gỗ nguyên liệu xuất khẩu.
Khi tình hình thị trường gỗ nguyên liệu trong nước ổn định trở lại, Chính phủ nên có giải pháp điều chỉnh mức thuế xuất khẩu các mặt hàng phù hợp định hướng phát triển nghành gỗ trong tương lai... (Kinh Tế Và Đô Thị 14/12) đầu trang(
Trước những khó khăn trong thực hiện dự án trồng rừng ngập mặn ven biển, để giữ mãi màu xanh cho những cánh rừng, ông Trần Sĩ Pha, Phó Trưởng Ban Phòng ngừa, ứng phó thảm họa (Hội Chữ thập đỏ Việt Nam), Giám đốc dự án cho rằng: Giai đoạn 2017-2020 cần bảo vệ và duy trì trên 9.000 ha rừng ngập mặn; xây dựng thí điểm các khu du  lịch sinh thái cộng đồng; xây dựng các công trình ven biển vững mạnh, an toàn trước thiên tại và biến đổi khí hậu.
Muốn làm được điều đó,  các ngành chức năng cần đảm bảo chi phí chăm sóc, bảo vệ rừng hàng năm cho các đội bảo vệ rừng; hoàn thiện cơ chế đồng quản lý, quyền sở hữu đất, rừng tại các địa bàn trọng điểm; tăng cường tham gia các dự án trồng và phục hồi rừng phòng hộ ven biển của Chính phủ; mở rộng hoạt động và dự án tại các tỉnh đồng bằng sông Mê Kông.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tác động của thiên tai và con người, diện tích rừng ngập mặn của nước ta nay chỉ còn hơn 310.000 ha. Do đó, việc bảo vệ, phục hồi và phát triển hệ thống rừng ven biển là hết sức cần thiết. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Hội Chữ thập đỏ Việt Nam chỉ đạo các hội cấp tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của địa phương, quản lý, bảo vệ tốt các diện tích rừng đã trồng; tiếp tục vận động các nguồn lực triển khai các chương trình, dự án, hoạt động bảo vệ và phát triển rừng ven biển. Trước mắt, Hội cần phối hợp vận động, triển khai hiệu quả chính sách quản lý bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu đã được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 119/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016.
Theo ông Cao Chí Công, Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Các địa phương cần rà soát, chuyển đổi diện tích đất ven biển quy hoạch trồng rừng sản xuất hoặc các loại đất đang bị xói lở, ảnh hưởng của cát bay, cát di động nghiêm trọng để quy hoạch trồng rừng phòng hộ ven biển.
Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Nguyễn Thị Xuân Thu cam kết, Hội tiếp tục phối hợp với ngành lâm nghiệp, Cục Phòng chống thiên tai thực hiện mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn; trong đó ưu tiên xây dựng các mô hình tạo sinh kế ven biển, rừng ngập mặn; xây dựng cơ chế, giao trách nhiệm cho các tổ chức, cá nhân quản lý, chăm sóc rừng.
Bà Thu cũng  nêu rõ: Chủ tịch Hiệp hội Chữ Thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế đồng thời là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản đã cam kết sẽ phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong các hoạt động phòng chống thảm họa, thiên tai. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cũng sẽ tích cực phối hợp, kêu gọi các nguồn lực từ các Hội quốc tế. Bên cạnh đó, Hội sẽ chủ động phối hợp với các cơ quan của Chính phủ xây dựng các dự án môi trường, dự án ODA tại địa phương có rừng ngập mặn.
Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đề nghị các địa phương nghiên cứu, xây dựng đề án phát triển các mô hình sinh kế rồi đề xuất lên Hội. Hội sẽ tập hợp trình Chính phủ để có kế hoạch, kêu gọi vận động triển khai. (Vietnam + 15/12) đầu trang(
Việc trồng rừng ngập mặn ven biển đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên quá trình thực hiện cũng có những vướng mắc cần tháo gỡ.
Tỉnh Ninh Bình đang quản lý hơn 400 ha rừng, trong đó những cánh rừng do dự án của Hội Chữ thập đỏ trồng, chăm sóc đã được đưa vào diện tích rừng nhóm 2, được kiểm kê năm 2016 và xác lập ranh giới, cắm mốc rõ ràng. Ông Bùi Trọng Kỳ, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Ninh Bình cho hay: Ninh Bình còn hơn 200 ha đất trống nằm trong quy hoạch phát triển trồng rừng, tuy nhiên năm 2016 là năm kết thúc việc trồng rừng mới theo dự án.
Để trồng nốt diện tích 200 ha đất trống cần nguồn vốn không nhỏ.  Mặt khác, tỉnh đang dự kiến xây dựng đê Bình Minh 4, sau đó sẽ đắp con đường từ đê Bình Minh 3 nối với đê Bình Minh 4. Khi ấy, tỉnh sẽ đứng trước những thách thức của yêu cầu hài hòa giữa phát triển rừng và tạo sinh kế lâu dài cho người dân.
Là một trong tỉnh chịu ảnh hưởng thiên tai, biến đổi khí hậu lớn của cả nước, Thanh Hóa đã xây dựng dự án phát triển rừng ngập mặn đến năm 2020 nhằm phòng ngừa, ứng phó với thiên tai. Thực hiện dự án, Thanh Hóa cần cần bảo vệ 2.274 ha, trồng 597ha, nâng cấp 409ha rừng. Ông Lê Văn Đốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa cho rằng: Ở  các địa phương đang có sự chồng chéo giữa diện tích trồng rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản, giữa phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Thêm vào đó, việc chưa thống nhất giữa mật độ cây, tiêu chuẩn cây con mới gây nhiều lúng túng cho địa phương. Mức đầu tư của các dự án chưa đồng nhất cũng gây khó khăn không nhỏ khi triển khai tại cơ sở.
Ông Đoàn Mạnh Hùng, Chi Cục phó Chi cục Kiểm Lâm Nam Định chia sẻ: Nam Định hiện có 3.100 ha rừng, trong đó 2.500 ha rừng ngập mặn (gồm cả hơn 1.000 ha do Hội Chữ thập đỏ trồng). Trong chương trình phát triển rừng ngập mặn, tỉnh đã thu hồi được một số diện tích nuôi trồng thủy sản không hiệu quả và hiện đang phát triển rừng tại đây.
Tại Nam Định, khó khăn trong triển khai trồng rừng ngập mặn chủ yếu là việc bàn giao cho các cơ quan quản lý nhà nước không kịp thời. Ranh giới giữa các bên quản lý trồng rừng chưa rõ ràng. Tỉnh cũng gặp vướng mắc trong việc thanh lý một số diện tích rừng chết do thiên tai để trồng rừng mới, nhất là diện tích được trồng do nguồn vốn phi chính phủ hỗ trợ. (Vietnam + 15/12) đầu trang(
Đảm bảo mọi diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn đều có chủ đang là một thách thức lớn nhưng không thể không làm. Giải pháp nào được coi là căn cơ... để gỡ những nút thắt trên?
Nhiều chuyên gia và những người có trách nhiệm đều cho rằng, công tác giao đất, giao rừng, cho thuê rừng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc là do nhận thức của một bộ phận cán bộ về chủ trương giao đất, giao rừng còn hạn chế. Họ sợ mất tài nguyên quốc gia khi giao rừng cho mọi thành phần kinh tế.
Cùng với đó, công tác giao đất, giao rừng, cho thuê rừng qua các thời kỳ được thực hiện khác nhau, thiếu sự thống nhất; chính sách, quy định, trách nhiệm, quyền lợi của các chủ rừng cũng chỉ mang tính định hướng, thiếu cụ thể; chưa xác định cụ thể các đối tượng rừng để giao, cho thuê; thiếu chính sách hỗ trợ cho các chủ rừng, đặc biệt là hộ gia đình, cá nhân...; công tác triển khai giao đất, giao rừng của các cấp, ngành chậm, kém hiệu quả, chồng chéo, thiếu thống nhất...
Để từng bước giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong công tác giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) hiện nay, theo ông Đặng Bá Thức - Hội KHKT Lâm nghiệp tỉnh, các bộ, ngành trung ương cần sớm xem xét, điều chỉnh một số điều của Luật Đất đai phù hợp với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; quy định rõ đối tượng cụ thể được giao đất, giao rừng theo từng loại rừng (phòng hộ, sản xuất...).
Bộ NN&PTNT và TN&MT thống nhất ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp gắn với hồ sơ quản lý rừng để áp dụng trên toàn quốc...; hướng dẫn các địa phương ban hành đơn giá các loại rừng theo các nghị định, thông tư để thực hiện giao đất, rừng có thu tiền sử dụng rừng và cho thuê rừng; cần bố trí kinh phí thường xuyên cho UBND các tỉnh để thực hiện giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp theo quy định.
Trên cương vị lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước tỉnh về lâm nghiệp, ông Nguyễn Công Tố - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã có những kiến nghị cụ thể, sát tình hình thực tế về công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, kiến nghị UBND tỉnh và các sở, ngành liên quan chỉ đạo UBND cấp huyện: tập trung kiểm tra, rà soát, xác định những khó khăn, vướng mắc để tập trung chỉ đạo, xử lý dứt điểm; khẩn trương giao, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ, nhất là đối với 46 ha đất tại TX Kỳ Anh; tổ chức bàn giao đất, rừng ngoài thực địa đối với diện tích 2.485 ha/20 xã/5 huyện, nhất là huyện Hương Khê (1.179 ha), TX Kỳ Anh (763 ha), Thạch Hà (358 ha)...
Ông Tố còn cho rằng, các địa phương cần tập trung tuyên truyền, vận động các hộ nhận đất, rừng thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ tài chính để hoàn thành kế hoạch giao, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp đúng quy định.
“Đối với diện tích 35.337 ha rừng và đất lâm nghiệp chưa giao, đang do UBND xã quản lý, cần chỉ đạo các phòng, ban, cơ quan, địa phương liên quan kiểm tra, rà soát, xác định diện tích có thể giao cho các hộ dân (không trùng các quy hoạch khác, diện tích đất cực đoan,...) để tiếp tục xây dựng phương án giao đất, giao rừng cho các hộ dân sản xuất” - ông Tố lưu ý.
Qua trao đổi, lãnh đạo một số địa phương có diện tích rừng, đất lâm nghiệp lớn trong tỉnh, như: Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn..., đều mong sớm nhận được sự hỗ trợ về mặt chuyên môn để địa phương tập trung thời gian, nhân lực hoàn thành việc giao, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp và tổ chức bàn giao đất, rừng ngoài thực địa cho các hộ. Đồng thời, tiếp tục kiểm tra, rà soát diện tích đất rừng không hiệu quả, không đúng mục đích đang do các chủ rừng quản lý để xem xét, tham mưu UBND tỉnh chuyển về địa phương giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng.
Hiện, một số hộ trong tỉnh đã và đang đầu tư lớn để SXKD nông lâm kết hợp trên diện tích giao khoán nên chưa an tâm và cũng không có cơ sở để hưởng chính sách ưu đãi, UBND tỉnh cần có chủ trương rà soát diện tích giao khoán ở các chủ rừng, nếu hợp lý thì nên thu hồi chuyển về địa phương để cấp giấy CNQSDĐ cho các hộ dân. Vụ 19 hộ dân ở Trôm Vo (Chi Lời), xóm Phố Tây, xã Sơn Tây (Hương Sơn) nhiều năm nay đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Tổng đội Thanh niên xung phong trả lại đất cho họ theo đúng Luật Đất đai là một ví dụ điển hình.
Những nông dân đang ngày đêm miệt mài lao động trên từng cánh rừng, quả đồi lại có những kiến nghị rất sát với tình hình thực tế. Ông Nguyễn Nam Giang (xóm Tân Cầu, xã Kỳ Hợp, huyện Kỳ Anh), nói: “Nhà nước cần tiếp tục quan tâm tổ chức tập huấn kiến thức liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng cho người dân, đặc biệt là người dân vùng cao, vùng sâu, trình độ dân trí còn thấp; có chính sách hỗ trợ vay vốn đầu tư trồng rừng phù hợp, sát thực tiễn để người dân dễ tiếp cận, đặc biệt là đối với diện tích trồng rừng gỗ lớn lâu năm, các loại lâm đặc sản giá trị cao...”.
Còn ông Phạm Bá Minh (xã Sơn Kim 1) và ông Trần Viết Hùng (xã Sơn Tây, Hương Sơn) cho rằng, cần có chính sách khuyến khích đối với các hộ trồng cây bản địa, đầu tư xây dựng các khu chế biến tập trung; có cơ chế khi khai thác, tỉa thưa đối với rừng trồng xen, làm giàu, phục hồi rừng; đầu tư xây dựng, hỗ trợ cơ sở hạ tầng như: đường, điện... cho các khu SXKD tập trung, diện tích lớn.
Công tác giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Hà Tĩnh đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân miền núi và bước đầu đã thu được những kết quả quan trọng. Khó khăn, bất cập là điều khó tránh khỏi khi thời gian thực hiện kéo dài..., nhưng tin rằng, với những giải pháp đồng bộ, cụ thể, sát thực tế, cùng với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành, “mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi” ở Hà Tĩnh sẽ sớm có chủ đích thực. (Báo Hà Tĩnh 14/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Đakrông (Quảng Trị) thông qua nguồn vốn từ nhiều chương trình, dự án đã tiến hành trồng mới 939,5 ha rừng (tăng 139,5 ha so với kế hoạch năm 2016).
Trong đó, từ nguồn vốn Chương trình 30a trồng mới 300 ha; dự án bảo vệ và phát triển rừng trồng mới 200 ha; dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (BCC) trồng mới 294,5 ha; Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông trồng mới 50 ha; Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đakrông thực hiện mô hình trồng cây gỗ lớn tại khóm A Rông (thị trấn Krông Klang) trồng 5 ha; người dân trồng rừng tập trung 70 ha…
Ngoài ra, huyện Đakrông cũng chú trọng trồng cây phân tán với việc trồng mới 60,7 vạn cây, trong đó nguồn vốn nhà nước hỗ trợ 50,7 vạn cây, người dân trồng 10 vạn cây.
Với việc làm thiết thực nêu trên đã góp phần nâng độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Đakrông đạt 63,5%.  (Báo Quảng Trị 14/12) đầu trang(
Hiện nay, cây keo lai là loài cây chủ lực, chiếm trên 70 - 80% đối tượng cây trồng lâm nghiệp hàng năm, do đây là đối tượng có nhiều đặc tính nổi trội như thời gian trồng ngắn, sinh trưởng nhanh, chất lượng gỗ khá, khối lượng gỗ nhiều.
Gỗ keo lai ít mối mọt, cong vênh nên được thị trường ưa chuộng. Đặc biệt là điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng ở tỉnh Quảng Trị cũng tương đối phù hợp để cây keo lai sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên do phần lớn chỉ trồng trong 5-6 năm là khai thác nên gỗ keo lai chủ yếu cung cấp cho các nhà máy làm nguyên liệu chế biến ván ép, gỗ dăm. Lượng gỗ keo dùng để xẻ chiếm ít do chất lượng gỗ xẻ thấp, nhiều mắt sẹo, gỗ non.
Theo ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh, hiện nay phần lớn chu kỳ kinh doanh rừng keo lai thông thường của nông dân trong tỉnh chỉ từ 5- 6 năm là khai thác. Đây là chu kỳ kinh doanh ngắn, cây chưa đủ thời gian để tăng bán kính, gỗ cây bị non, chất lượng thấp, giá trị kinh tế từ rừng trồng mang lại không cao, bình quân chỉ đạt từ 50 - 60 triệu đồng/ha.
Vì thế, với mục tiêu nâng cao chất lượng gỗ cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng rừng, từ năm 2014 Trung tâm Khuyến nông (KN) tỉnh đã triển khai mô hình “Trồng rừng thâm canh cây keo lai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lượng gỗ” trên diện tích 5 ha tại xã Cam Thủy (huyện Cam Lộ). Đến nay tuy chỉ mới sau 2 năm trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật, cây keo lai phát triển tốt, trữ lượng gỗ ước tính đạt từ 21,5 - 26m3/ha.
Ông Trần Quốc Triển ở tại thôn Cam Vũ, xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ cho biết, gia đình ông có 0,8 ha thực hiện mô hình trồng thâm canh cây keo lai với mục đích sản xuất gỗ xẻ do Trung tâm KN triển khai. Khi tham gia thực hiện mô hình này ông phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật cơ bản từ khâu xử lý thực bì, trồng, chăm sóc cho đến khâu khai thác theo tiêu chuẩn quốc tế FSC. Về xử lý thực bì, ông không được thực hiện theo phương thức phát đốt như từ trước đến nay mà chỉ phát quang cỏ, cây bụi, sau đó dọn theo băng để cải thiện tăng độ phì cho đất, giảm hiện tượng xói mòn bề mặt đất.
Mật độ trồng là 1.660 cây/ha với cự ly hàng cách hàng 3 m và cây cách cây 2 m. Kích thước hố trồng cây là 40 x 40 x 40 cm. Hố trồng cây được đào vào khoảng tháng 9 khi có những trận mưa đầu mùa làm mềm đất. Tiến hành bón phân và lấp hố trước khi trồng 7 - 10 ngày. Mỗi gốc được bón lót 0,3 kg phân hữu cơ vi sinh. Khi bón phân phải tiến hành trộn đều trong hố để cải thiện tốt độ phì nhằm giúp cho cây trồng có bộ rễ được phát triển đều, cây chắc khỏe và phát triển tốt về sau. Giống keo lai đưa vào trồng là giống keo lai dâm hom được lấy từ các vườn ươm được cấp phép của Chi cục Lâm nghiệp.
Cây giống có chiều cao thân cây 20 - 30 cm, đường kính cổ rễ 0,25 - 0,3 cm, tuổi xuất vườn cây từ 3 - 4 tháng tuổi, cây con không bị sâu bệnh, không cụt ngọn. Thời điểm trồng là vào lúc trời râm mát, có nắng nhẹ hoặc mưa phùn. Cây khi đưa trồng phải còn nguyên bầu không bị vỡ, hệ rễ không bị tổn thương, phải xé bỏ túi bầu khi trồng cây.
Rừng keo lai sau khi trồng cần chăm sóc trong 3 năm liên tiếp với các bước phát thực bì, làm cỏ, vun gốc kết hợp bón phân, chặt tỉa cành nhánh, quản lý bảo vệ, chống cháy rừng…Trong quá trình chăm sóc cần lưu ý tỉa cành để tập trung dinh dưỡng nuôi thân làm cho cây sinh khối nhanh, nâng cao chất lượng gỗ, gỗ có ít mắt. Khi tỉa cành thì cần dùng rựa sắc hoặc kéo cắt cây cắt sát vào thân cây không tạo vết dập, xước. Tuy nhiên lưu ý không tỉa quá 50% tán cây nhằm giúp cây có đủ khả năng quang hợp; không tỉa cành vào mùa mưa vì các vết cắt dễ bị nấm bệnh xâm nhập.
Do cây keo lai dâm hom có sự phân cành sớm, đa thân, nhiều cành nhánh, sinh khối lá lớn vì vậy cần phải tỉa cành, tỉa cây đa thân vào giai đoạn 5 - 6 tháng sau khi trồng là tốt nhất. Với những cây phát triển nhiều ngọn thì loại bỏ bớt ngọn chỉ để lại một ngọn chính, những cây phát triển nhiều thân cũng tỉa bớt chỉ chừa lại một thân chính tốt nhất giúp cây phát triển. Đặc biệt ông Triển đánh giá cao việc không đốt thực bì như trước đây mà chỉ phát thực bì toàn diện sau đó dọn sạch theo băng.
Ông Triển chia sẻ: “Các hộ xung quanh khi đốt thực bì thì chỉ cần qua 1 trận mưa là chất dinh dưỡng đã trôi hết. Còn để lại thực bì thì mặc dù khi trồng mới phải tốn nhiều công hơn tuy nhiên qua 1 năm đầu tiên thì lớp thực bì này hoai mục đã cung cấp một lượng lớn chất dinh dưỡng cho cây. Chỉ mới 2 năm trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật nhưng rừng keo lai của tôi đã khép tán”.
Ông Nguyễn Văn Lục, Giám đốc HTX Thủy Đông, xã Cam Thủy đánh giá cao mô hình trồng rừng thâm canh đang được triển khai trên địa bàn HTX. Ông Lục cho biết: “Năm 2015 vừa qua, trong HTX có bán một số diện tích trồng keo lai 5 năm tuổi với giá bán khoảng 60 triệu đồng/ha. Tuy nhiên cũng trên diện tích đó có một số hộ chỉ tỉa thưa và để lại thêm 1 năm thì đã bán được với giá hơn 80 triệu đồng/ha. Vì vậy với mô hình này nếu tuân thủ đúng quy trình thì sau 10 năm đạt giá trị từ 150 - 180 triệu đồng/ha là hoàn toàn nằm trong khả năng. Với diện tích đất rừng của HTX là hơn 300 ha thì trong thời gian tới chúng tôi sẽ vận động xã viên áp dụng mô hình này vào diện tích rừng của mình. Trên cơ sở đó hướng tới đăng ký trồng rừng theo chứng chỉ FSC”.
Theo ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm KN tỉnh, do trồng với chu kỳ ngắn nên giá trị kinh tế từ rừng trồng mang lại chỉ đạt khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha/chu kỳ 5 năm, mới chỉ đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của người trồng, chưa có tích lũy và làm giàu. Trong khi đó nếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật như trên cùng với việc tỉa thưa khi cây trồng vào năm thứ 4, để lại mật độ phù hợp từ 800 - 1.000 cây/ha thì dự kiến khi rừng từ 10 năm tuổi trở lên cây keo lai sẽ đạt chiều cao bình quân khoảng 18 m, đường kính thân hơn 19 cm, trữ lượng gỗ hơn 180 m3/ha, trong đó có khoảng 60% đạt chất lượng gỗ xẻ.
Theo giá gỗ hiện nay thì 1 ha rừng mô hình có giá trị khoảng 190 - 200 triệu đồng. Như vậy có thể thấy mặc dù việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng trồng gỗ lớn phải kéo dài thời gian chăm sóc thêm khoảng từ 5 - 6 năm nhưng giá trị kinh tế mang lại cho người dân gấp 3 - 3,5 lần so với trồng rừng gỗ nguyên liệu như hiện nay. Ngoài ra, rừng keo lai gỗ lớn còn giúp giảm bớt số lần khai thác, trồng lại rừng do đó giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác.
Ông Đồng cho biết thêm: “Trên cơ sở này, trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng các mô hình trình diễn, tuyên truyền, tập huấn nhằm nhân rộng mô hình này ra toàn tỉnh để vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, vừa góp phần vào việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu” . (Báo Quảng Trị 15/12) đầu trang(
Sau 8 năm thực hiện Dự án phát triển lâm nghiệp (gọi tắt là KFW7) trên địa bàn huyện Thuận Châu đã cơ bản hoàn thành, đạt hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường góp phần nâng cao độ che phủ rừng trên địa bàn toàn huyện. Đó là những đánh giá được nêu tại Hội nghị tổng kết Dự án vừa được huyện Thuận Châu tổ chức vào ngày 12/12.
Qua quá trình thực hiện, Dự án đã thiết lập được trên 6.000 ha rừng. Trong đó trồng mới trên 2.430 ha, khoanh nuôi tái sinh trên 3.500 ha. Diện tích đạt yêu cầu nghiệm thu để bàn giao sau kết thúc dự án là trên 5.800 ha. Thành lập được 13 Ban quản lý tại 13 bản, quản lý và bảo vệ 824 ha rừng cộng đồng. Phối hợp với Ban QLDA tỉnh và các đơn vị tư vấn triển khai thực hiện hợp phần phát triển cộng đồng đã đầu tư và bàn giao đưa vào sử dụng 183 tiểu dự án.
Diện tích rừng trồng và rừng khoanh nuôi tái sinh sinh trưởng và phát triển tốt, không có hiện tượng phá rừng làm nương rẫy, một số diện tích rừng bị cháy đã được nhân dân ngăn chặn kịp thời. Công tác giải ngân các nguồn vốn đảm bảo cho các hoạt động của dự án. Tổng số vốn đã giải ngân dự án là trên 48 tỷ đồng, trong đó vốn ODA trên 38 tỷ đồng còn lại là vốn đối ứng.
Trong thời gian tới, huyện Thuận Châu tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, vận động các hộ gia đình có ý thức trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng; Tăng cường kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiện dự án để kịp thời rút kinh nghiệm trong quản lý, đảm bảo hiệu quả đầu tư từ dự án…. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 14/12) đầu trang(
Mấy chục năm trước, hàng chục hộ dân xã Triệu Ái (huyện Triệu Phong, Quảng Trị) đã lên vùng đất đồi Tràng Sòi khai hoang để trồng rừng, trồng sắn, trồng cây cao su... dù điều kiện đi lại và sinh hoạt lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, thiếu thốn.
Tuy nhiên một thời gian dài, người dân chủ yếu thâm canh rừng trong chu kỳ ngắn, trồng nhanh và cũng khai thác nhanh. Từ khi tham gia mô hình chuyển hóa rừng trồng và trồng rừng thâm canh gỗ lớn, vùng Tràng Sòi đã luôn đảm bảo được độ che phủ của rừng và thu được hiệu quả kinh tế cao hơn.
Hộ gia đình ông Nguyễn Các, thôn Tràng Sòi, xã Triệu Ái hiện nay sở hữu diện tích rừng nhiều nhất thôn, với tổng cộng 90 ha. Gia đình ông trước đây ở thôn Gia Độ, xã Triệu Độ. Năm 1993 ông cùng vợ con lên Tràng Sòi khai hoang làm kinh tế mới. Ông Các nhớ lại, thời kỳ đó có khoảng 40 hộ cùng lên đây lập nghiệp, nhưng rồi điều kiện thiếu thốn, rừng trồng chưa kịp lên xanh đã bị gia súc phá hoại, giá trị thu nhập mang lại từ rừng thấp nên người dân chán nản, lần lượt trở về quê cũ. Những người bám trụ lâu dài như gia đình ông chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Năm 2000, thôn Tràng Sòi chính thức được thành lập và từ bấy đến nay cũng chỉ còn có 6 hộ dân làm thành một thôn. 6 hộ dân, trong đó có 4 hộ của cha con ông Nguyễn Các, người được tín nhiệm bầu giữ chức trưởng thôn, sở hữu hơn 150 ha rừng, vừa chăm sóc vừa tích cực trồng mới làm kinh tế và góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Trước đây, các chủ rừng thường chăm cây được 4-5 năm tuổi thì khai thác, bán gỗ dăm, giá trị đem lại không cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như thói quen trồng và khai thác nhanh, người trồng gặp khó khăn về kinh tế sợ thiên tai, hỏa hoạn làm cây gãy đổ, cháy rừng nên thường khai thác sớm để bán.
“Ai cũng thấy việc bán rừng non rất thiệt thòi, giá gỗ dăm không cao, không ổn định nhưng người này nhìn người kia rồi cũng quyết định bán. Thêm nữa, từ trước tới nay chúng tôi trồng rừng chứ chưa biết nhiều việc chăm rừng đến lúc đảm bảo chất lượng thì sẽ bán được giá, chưa biết đến khái niệm rừng cấp chứng chỉ FSC”, ông Các chia sẻ.
Đến đầu năm 2016, các hộ trồng rừng thôn Tràng Sòi được chọn để triển khai các mô hình chuyển hóa rừng và trồng rừng thâm canh gỗ lớn. Bước đầu có 11, 5 ha rừng được chọn tham gia mô hình trồng rừng FSC và 18 ha rừng keo lai giâm hom trồng năm 2011 và 2012 của 6 hộ tham gia chuyển hóa rừng, mật độ trồng ban đầu 1.650 cây/ha.
Theo ông Các, từ khi tham gia trồng rừng thâm canh gỗ lớn cấp chứng chỉ FSC, được tuyên truyền về lợi ích khi trồng rừng gỗ lớn đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu gỗ ra nước ngoài, các hộ dân thấy được hiệu quả kinh tế, lợi nhuận gấp đôi khi khai thác gỗ đạt chuẩn để bán.
Như hộ của ông Các, vừa qua bán 12 ha rừng gần 8 năm tuổi thu hơn 800 triệu đồng, còn khoảng 5,9 ha đang khai thác bán, ước khoảng hơn 400 triệu đồng. Giá thu mua gỗ được cấp chứng chỉ FSC của các doanh nghiệp từ 1,3 - 1,8 triệu đồng một khối, trong khi giá thu mua của thị trường chỉ khoảng 1,2 triệu đồng/m3 gỗ xẻ.
Ông Nguyễn Thanh Bình, thuộc nhóm hộ trồng rừng của ông Nguyễn Các cho biết thêm, vừa qua nhóm hộ của ông triển khai trồng mới 12 ha rừng theo mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn, được hỗ trợ 1.700 cây giống và phân bón. Với những lợi ích kinh tế từ việc tham gia trồng rừng gỗ lớn, ông Các đang tích cực vận động các hộ dân trong thôn và các thôn lân cận như Trung Long, Liên Phong tích cực tham gia mô hình để gia tăng hiệu quả trồng rừng sản xuất.
Ngoài hỗ trợ về thu mua gỗ lớn, tham gia mô hình chuyển hóa rừng, các hộ dân ở thôn Tràng Sòi được hỗ trợ phân bón, cây giống; được tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn và tỉa thưa đảm bảo theo đúng yêu cầu kỹ thuật của hợp đồng, đảm bảo chất lượng gỗ thu hoạch.
Hiện tổng diện tích rừng toàn xã Triệu Ái khoảng hơn 8.200 ha, trong đó rừng sản xuất là hơn 8.000 ha. Tại 3 thôn Tràng Sòi, Trung Long, Liên Phong, diện tích rừng có độ tuổi từ 1 - 6 năm tuổi là khoảng 110 ha và đang được Dự án Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững đưa vào kế hoạch quản lý nhằm mục đích chuyển hóa rừng trồng gỗ lớn.
Với sự hỗ trợ tích cực của ngành lâm nghiệp về xây dựng mô hình khuyến lâm, đặc biệt trong triển khai hai mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng, thời gian tới sẽ có thêm nhiều nhóm hộ trồng rừng tích cực tham gia nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, giảm nhẹ các tác hại của thiên tai. (Báo Quảng Trị 14/12) đầu trang(
Nhờ cụ Triệu Mùi Pham bày cách trồng quế, làm ruộng nước... đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Nậm Đét, huyện Bắc Hà (Lào Cai) không những thoát nghèo mà còn có cuộc sống khấm khá.
Nhà cụ Triệu Mùi Pham, nép dưới tán rừng quế. Năm nay cụ đã 94 tuổi (có 56 năm tuổi Đảng) nhưng vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Chúng tôi đến thăm cụ Pham khi cụ đang phơi quế cùng các con cháu. Cụ Pham cười bảo: “Trời cho tôi sức khỏe, nên ở tuổi này tôi vẫn làm việc, vẫn đi rừng chăm sóc cây quế. Con cháu nhiều khi cứ nói tôi nên ở nhà nghỉ ngơi, nhưng hơn 40 năm gắn bó cùng với cây quế đã thành quen rồi”.
Cụ Pham là nữ Bí thư chi bộ Đảng người dân tộc Dao đầu tiên của Huyện ủy Bắc Hà. Nhờ lãnh đạo chi bộ đạt “4 tốt” (lãnh đạo sản xuất tốt; lãnh đạo thực hiện chính sách pháp luật tốt; lãnh đạo công tác vận động quần chúng tốt; lãnh đạo công tác củng cố, phát triển Đảng tốt), cụ Pham đã vinh dự được về thủ đô Hà Nội gặp mặt và chụp ảnh chung với Bác Hồ tại “Đại hội Bí thư chi bộ miền núi giỏi” vào năm 1966.
Chỉ vào tấm ảnh được đóng khung kính cẩn thận và treo trang trọng trong nhà, cụ Pham xúc động nói: “Đây là tấm ảnh tôi được chụp với Bác và các đồng chí cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Tại hội nghị, Bác đã ân cần căn dặn tôi rằng là bí thư chi bộ miền núi tôi phải cố gắng làm thế nào cho đồng bào mình no cơm, ấm áo hơn nữa. Muốn như vậy thì phải tăng gia sản xuất”.
Cụ Pham cho biết, xã Nậm Đét chủ yếu là đồng bào Dao, Phù Lá, Mông… sinh sống. Trước đây, bà con chỉ biết sản xuất mỗi năm một vụ, chủ yếu là chặt, đốt rừng để trồng ngô và trồng lúa nương, năng suất rất thấp. Đời sống của bà con nghèo đói, thiếu thốn vô cùng. Là người đứng đầu xã Nậm Đét, cụ Pham đã trăn trở suy nghĩ tìm cách làm sao cho người dân “no cơm, ấm áo”.
Năm 1974, hay tin bà con ở xã Viễn Sơn, huyện Văn Yên (Yên Bái) đã thoát nghèo nhờ trồng quế, cụ  Pham cùng một số cán bộ xã lặn lội đến học hỏi. Rồi khi trở về, đoàn đã mang theo 200kg hạt giống và 20.000 cây con. Có giống và học được kỹ thuật, cụ Pham lại cùng các đảng viên khác lội bộ đến từng nhà vận động, hướng dẫn bà con cách trồng quế. Kiên trì và không quản khó khăn, dần dần cụ Pham đã “cắm” được cây quế lên vùng núi đá ngút ngàn này. Đến nay, Nậm Đét đã là thủ phủ quế của Lào Cai.
Ông Bàn A San – Chủ tịch UBND xã Nậm Đét nói: “Hiện, nhân dân trong xã đã trồng được 1.137ha quế trong đó có 860ha đang cho khai thác. Vụ năm 2015, người dân thu  trên 280 tấn vỏ quế khô, sản xuất hơn 120 lít tinh dầu quế, 1.260m³ gỗ, doanh thu từ quế đạt 22 tỷ đồng. Năm 2016 sản lượng và doanh thu từ quế ước đạt cao hơn năm 2015. Nhờ trồng quế, người dân nơi đây không những thoát nghèo mà còn khấm khá, giàu có.
Mới 30 tuổi nhưng anh Triệu Long Phúc (dân tộc Dao) ở thôn Tống Hạ đã sở hữu hơn 4,5ha quế, trị giá tiền tỷ. Anh Phúc cho hay, chu kỳ khai thác của quế từ 13 – 15 năm, thu nhập bình quân đạt 500 triệu đồng/ha.
Trong ngôi nhà mới xây khang trang, ông Triệu Kim Hín – Trưởng thôn Tống Hạ không giấu được niềm vui: “100% hộ dân thôn Tống Hạ đều là người Dao đỏ. Nhờ cụ Pham đưa cây quế về Nậm Đét mà bà con trong thôn đã có cuộc sống đầy đủ. Nhiều hộ đã xây được nhà đẹp, mua được xe máy, tủ lạnh, cho con cái ăn học đàng hoàng. Tôi có hơn nửa tỷ đồng để xây căn nhà này cũng từ tiền trồng quế mà ra. Người Dao đỏ chúng tôi ví cây quế như cây “vàng” rất quý giá”. (Dân Việt 14/12) đầu trang(
Tận dụng lợi thế diện tích đất lâm nghiệp lớn, thổ nhưỡng thích hợp cho phát triển cây rừng nhiệt đới, cây công nghiệp  lâu năm và lực lượng lao động dồi dào, những năm qua, các cấp ủy, chính quyền huyện Tân Sơn luôn quan tâm, đầu tư lĩnh vực trồng rừng và coi đó là thế mạnh phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
Có diện tích đất lâm nghiệp chiếm 89% tổng diện tích đất tự nhiên; năm 2016, huyện trồng mới được gần 1.800ha rừng tập trung, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 45.250m3. Tổng diện tích chè hiện có trên 3.210ha, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là trên 2.986ha, sản lượng chè búp tươi ước đạt 15.891 tấn.
Để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, hiện đa số các địa phương đã chuyển đổi giống cây lâm nghiệp từ trồng keo hạt giống cũ, bạch đàn sang trồng bằng các giống keo hạt lai ngoại, keo mô. Tỷ lệ cơ giới trong khai thác cơ bản đạt 100%. Với cây chè, đã đẩy mạnh chuyển đổi, thay thế bằng các giống chè lai LDP1, LDP2, PH11, Bát Tiên… có năng suất cao, chất lượng tốt.
Thời gian tới, huyện tập trung chỉ đạo đẩy mạnh tái cơ cấu phát triển lâm nghiệp, khai thác có hiệu quả lợi thế đất đồi rừng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm đa dạng về chủng loại, có chất lượng và thương hiệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm để tăng thu nhập từ đồi rừng, góp phần từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, cải thiện môi trường sinh thái. (Báo Phú Thọ 14/12) đầu trang(./.