Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 16 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo ông Lê Tất Thắng ở xã Cát Sơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cho biết: Gần dây, khu vực đầu nguồn hồ Hội Sơn, xã Cát Sơn, tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp để canh tác, trồng keo liên tục xảy ra, nhưng do chính quyền địa phương chưa xử lý dứt điểm nên tình trạng trên vẫn tái diễn. (Quân Đội Nhân Dân 16/10) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Ngãi quyết định xử phạt hành chính 50 triệu đồng đối với ông Nguyễn Tấn Mười (xã Tịnh Hiệp, H.Sơn Tịnh) đã vi phạm lĩnh vực kinh doanh lâm sản đồng thời tịch thu 8,17m3 gỗ xẻ các loại không có hồ sơ lâm sản hợp pháp. (Thanh Niên 16/10) đầu trang(
Suốt 8 năm không được tái định canh, hàng trăm hộ dân ở thôn 1 và 4, xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi đã đánh liều phá rừng phòng hộ để lấy đất sản xuất.
Năm 2008, để xây dựng Thủy điện Hà Nang, UBND huyện Trà Bồng đã tiến hành di dời 104 hộ dân của thôn 1 và 4, xã Trà Thủy về nơi ở mới (cách nơi ở cũ 5-7km), ngay trong khu vực rừng phòng hộ của địa phương này. Thế nhưng dù định cư đã gần 8 năm nay, số hộ trên vẫn không được cấp đất sản xuất.
Ông Hồ Văn Bon - một trong những hộ tái định cư ở xã Trà Thủy - lắc đầu: Bà con đã  nói "mỏi cả miệng” với cán bộ xã, huyện, tỉnh rồi nhưng vẫn chưa được cấp đất. Vì vậy để có cái ăn, cùng với "đánh đu" mạng sống với thủy thần bằng cách bơi thuyền vượt qua lòng hồ trở về nơi cũ trồng trọt, chăn nuôi; nhiều người dân đã chặt phá rừng phòng hộ gần nơi ở để lấy đất sản xuất.
“Cán bộ nói khu vực này là rừng phòng hộ nên cấm không cho người dân vào chặt phá cây để làm nương rẫy. Thế nhưng chờ nhiều năm rồi mà không được cấp đất gieo lúa, trồng cây... để sinh sống nên bà con mới làm liều phá rừng” - anh Hồ Văn Di  (thôn 4) phân bua.
Theo quan sát của chúng tôi, không chỉ khu vực rừng ở gần nơi ở, mà hàng loạt khu vực khác ở vùng lân cận thuộc rừng phòng hộ Trà Bồng, cũng đã bị người dân xâm phạm chặt cây, phát quang để lấy đất trồng lúa, cây keo...
Ông Nguyễn Dương - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Trà Bồng, đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý khu vực rừng nơi đây xác nhận: Tình trạng người dân khu tái định cư của dự án Thủy điện Hà Nang chặt phá cây, phát quang lấy đất sản xuất xảy ra khá phổ biến. Chúng tôi đã phối hợp lực lượng kiểm lâm Trà Bồng tăng cường tuyên truyền và ngăn chặn; lập biên bản rất nhiều trường hợp vi phạm nhưng cũng không thể đủ lực lượng túc trực 24/24 để canh giữ được. Bên cạnh đó bà con nơi đây thuộc diện nghèo nên dù có xử phạt thì họ cũng không có tiền để đóng.
Trả lời Báo NTNN về tình trạng trên, ông Trần Văn Sương - Phó Chủ tịch UBND huyện Trà Bồng giải thích: Vì nhiều lý do nên thời gian qua sự phối hợp giữa chính quyền Trà Bồng và các cấp ngành của tỉnh trong việc chuyển đổi số diện tích đất rừng tại khu vực trên đến giờ vẫn chưa xong.
Tuy nhiên ông Sương thẳng thắn: Vì bất cứ nguyên nhân nào thì việc hàng trăm hộ dân tái định cư thôn 1 và 4 chưa có đất sản xuất suốt nhiều năm nay một phần trách nhiệm, lỗi thuộc về chính quyền Trà Bồng.
Hiện UBND huyện đã hoàn tất phương án, thủ tục và trình lên các cấp ngành của tỉnh đề nghị cho phép chuyển đổi gần 257ha đất rừng phòng hộ tại Tiểu khu 35 sang đất sản xuất lâm nghiệp. Ngay sau khi được tỉnh phê duyệt, chính quyền sẽ tổ chức cấp cho dân trong thời gian sớm nhất.
Được biết theo phương án mà chính quyền Trà Bồng đã trình, thì trừ 1 phần diện tích để làm đường vào khu sản xuất và một số hạng mục khác, số còn lại khoảng 219ha huyện sẽ dành 22ha cải tạo thành đất sản xuất lúa nước 2 vụ/năm.  Dự kiến mỗi hộ sẽ được giao diện tích lúa nước từ 0,1-0,2 ha/hộ và đất lâm nghiệp từ 1-2ha/hộ. (Dân Việt 16/10) đầu trang(
Ngày 15/10, ông Ngô Phi Thâm, Chủ tịch UBND xã Duy Sơn (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam), cho biết, đã xử phạt hành chính 6 triệu đồng đối với 4 người trên địa bàn về hành vi giết động vật hoang dã.
Trước đó, ngày 11/9, trên facebook của mình Dương Công Ly (25 tuổi) và Phạm Thành Trường (24 tuổi, cùng trú huyện Duy Xuyên), đăng ảnh 2 thanh niên đang xách 2 con chồn vừa bị giết.
Hạt kiểm lâm Duy Xuyên vào cuộc điều tra và xác định, do thường xuyên bị những con chồn từ trên núi xuống tấn công vịt nuôi ở trong trang trại nên Hồ Phước Hiệp (31 tuổi) và Nguyễn Ry (44 tuổi, cùng trú xã Duy Sơn) lập mưu giăng bẫy chúng. Hai chủ trang trại này sau đó rủ thêm Ly và Trường cùng tham gia vây bắt.
Sau nhiều giờ đuổi bắt, nhóm người này đánh chết 2 con chồn. Trước khi làm thịt, Ly và Trường chụp ảnh cho nhau để đăng lên facebook nhưng không ngờ bị cơ quan chức năng xử phạt. (Tiền Phong 16/10; Nông Nghiệp Việt Nam 16/10) đầu trang(
Công an môi trường tỉnh Hà Tĩnh vừa phối hợp với Công an huyện Hương Sơn thực hiện kiểm tra và thu giữ gần 10 mét khối gỗ vô chủ, gỗ lậu. Số gỗ này thuộc chủng loại từ nhóm 4 đến nhóm 8.
Theo đó, vào ngày 14/10, qua nắm bắt thông tin, lực lượng Công an môi trường thuộc Công an tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp với Công an huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) thực hiện kiểm tra địa bàn tại khu vực thuộc địa phận xã Sơn Kim 1 thuộc huyện Hương Sơn. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ được 36 khúc gỗ tròn thuộc chủng loại từ nhóm 4 đến nhóm 8. Tổng khối lượng gỗ thu giữ được gần 10 mét khối.
Theo ghi nhận cho thấy, toàn bộ số gỗ vô chủ này mới khai thác cách đây chưa được lâu, thân gỗ dấu vết vẫn còn mới. Sau khi thu giữ, lực lượng CA đã lập biên bản và tiến hành bàn giao cho phía Hạt kiểm lâm Hương Sơn xử lý.
Trên địa bàn xã Sơn Kim 1 từng bị lực lượng chức năng phát hiện và thu giữ nhiều khối lượng gỗ lậu. Cách đây chưa lâu, vào ngày 14/6/2015,  lực lượng CA tỉnh Hà Tĩnh cũng đã thu giữ được hơn 8 mét khối gỗ vô chủ, gỗ lậu thuộc chủng loại từ nhóm 2 tới nhóm 8. Toàn bộ gỗ vô chủ này được nhận định là do lâm tặc khai thác từ cánh rừng nguyên sinh đầu nguồn, gỗ được kéo về bãi tập kết, chờ thời cơ vận chuyển đi tiêu thụ. Toàn bộ số gỗ lậu bị thu giữ đều nằm trong lâm phận thuộc sự quản lý của Hạt kiểm lâm huyện Hương Sơn.
Đề nghị cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh tăng cường lực lượng, thực hiện tốt công tác kiểm tra, xử lý, tránh tiếp diễn cảnh những cánh rừng đặc dụng trên địa bàn bị lâm tặc tàn phá như đã từng diễn ra trong nhiều năm qua. (Pháp Luật Và Xã Hội 15/10) đầu trang(
Nhờ làm tốt công tác bảo tồn nên môi trường sống ở Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, thuộc xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang dần thu hút nhiều loài chim quý hiếm nằm trong diện bảo tồn, sách đỏ về sinh sống, sinh sản ngày một nhiều.
Ông Nguyễn Hồng Bàng, Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng - Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, cho biết: “Khoảng vào năm 2011, có nhiều loài chim quý về đây sinh sống, số lượng ban đầu chỉ vài chục con, nhưng ngày càng nhiều lên. Trước tình hình đó, đến năm 2013, chúng tôi đã chính thức quy hoạch khu vực đất vườn chim và thành lập đội quản lý nhằm tạo điều kiện để bảo tồn những loài chim quý hiếm”.
Theo kết quả khảo sát của Viện Sinh học nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, vào cuối năm 2013, tại khu vực vườn chim trong Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân có hơn 50 loài chim sinh sống trú ngụ, với tổng đàn khoảng 10.000-15.000 cá thể. Đặc biệt, trong đó có 3 loài chim quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam là chim cổ rắn (anhingar melanogaster), cò nhạn (ardea oscitans) và giang sen (tantalus leucocephalus).
Hiện nay, diện tích đất sử dụng của Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân là 1.450ha, trong đó đất rừng khoảng 431ha, khu vực vườn chim là 130ha. Để đảm bảo môi trường hoang dã tự nhiên cho các loài chim sinh sống, các cán bộ quản lý vườn chim luôn chú ý không tác động quá nhiều.
Trung tâm tiến hành thành lập đội bảo vệ túc trực 24/24 giờ nhằm ngăn chặn mọi hành vi xâm hại vào khu vực vườn chim; dọn cỏ kênh mương, thả cá bổ sung để tạo nguồn thức ăn tại chỗ; trồng thêm tre, trúc và các cây bản địa để tạo điều kiện cho chim, cò làm tổ và sinh sản,… từ đó, số lượng loài và cá thể không ngừng tăng theo từng năm.
Bên cạnh đó, đơn vị còn tổ chức tuyên truyền, phổ biến và lập biên bản cam kết đối với những hộ dân sống xung quanh không vào vườn chim săn bắt, cuối năm có tặng quà cho các hộ sống quanh khu vực vườn chim. Ngoài ra, còn tiến hành xây dựng một số công trình như làm đường, xây dựng tháp canh và cắm một số bảng hiệu không cho người dân vào rừng để tạo thuận tiện cho công tác quản lý, bảo tồn; đồng thời định hướng phát triển du lịch sinh thái trong tương lai.
Ông Nguyễn Văn Hiền, Phó Giám đốc Trung tâm, thông tin: “Đội quản lý vườn chim hiện có 7 người, mỗi ngày đều thay phiên nhau trực vào buổi tối ở khu vực giáp dân. Hơn nữa, mỗi năm chúng tôi đều tiến hành trồng thêm hàng trăm ngàn cây bản địa, tạo môi trường sống tốt cho các loài chim. Vì đây đều là những loài chim quý hiếm nên công tác bảo tồn, bảo vệ luôn được chúng tôi chú trọng. Hiện đàn chim ở đây sinh sống rất ổn định, mỗi năm đều tăng đàn”.
Cũng theo ông Hiền, song song với các giải pháp trên, công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) cũng được trung tâm đặc biệt quan tâm, nhất là vào mùa khô. Bởi, chỉ cần một đám cháy nhỏ có thể làm đàn chim bỏ đi. Do đó, việc PCCC luôn được lãnh đạo đơn vị đặt lên hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ của mình.
Song hành cùng với trung tâm, hiện ngành chức năng của tỉnh cũng dành sự quan tâm trong việc bảo tồn và phát triển vườn chim. Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã tổ chức xét duyệt đề cương đề tài “Quản lý, bảo vệ và phát triển vườn chim Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang”. Đề tài do tiến sĩ Dương Văn Ni làm chủ nhiệm và Trường Đại học Cần Thơ chủ trì thực hiện.
Mục tiêu của đề tài là nhằm khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường tự nhiên, thành phần loài của quần thể chim, nước và cá tự nhiên tại khu vực quy hoạch; liệt kê danh mục cây bản địa; xây dựng bản đồ chi tiết hạ tầng phân bố thực vật và bản đồ cao trình phục vụ quản lý nước, hiện trạng phân bố dòng chảy của năm; đề xuất biện pháp bảo vệ và phát triển bền vững vườn chim Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, nhằm đảm bảo tính đa dạng sinh học và phát triển du lịch cho tỉnh Hậu Giang trong thời gian tới... (Dân Tộc Và Miền Núi 15/10) đầu trang(
Ngày 15/10, tại khu đồi Năm Voi- xã Sơn Đà, Hạt Kiểm lâm huyện Ba Vì đã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Sơn Đà tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2015.
Qua buổi diễn tập chữa cháy rừng giúp nâng cao ý thức trách nhiệm cho cán bộ, Nhân dân địa phương trong công tác phòng chống cháy rừng, nâng cao khả năng chỉ đạo tổ chức chỉ huy giữa cháy rừng cấp xã, khi xảy ra cháy rừng tổ chức nhanh chóng dập tắt đám cháy, không để cháy lớn xảy ra.
Với tình huống giả định trong diễn tập năm nay là người đi rừng làm cháy rừng, sau khi đám cháy bùng phát, có khả năng lây lan rộng và nếu không được chữa cháy kịp thời thì đám cháy sẽ thiêu rụi nhiều diện tích rừng trồng đã hơn chục năm. Với phương châm 4 tại chỗ, sau hơn một giờ, các lực lượng phòng cháy, chữa cháy và người dân địa phương đã khống chế và dập tắt lửa, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, tài sản.
Được biết, Sơn Đà là xã đồi gò của huyện Ba Vì có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 218,28ha. Rừng của Sơn Đà chủ yếu là rừng trồng keo. Những năm qua, do làm tốt công tác tuyên truyền nên ý thức pháp luật về bảo vệ rừng của Nhân dân trong toàn xã chuyển biến tích cực, rừng của Sơn Đà cơ bản được đảm bảo, phát triển bền vững, hiệu quả.
Trước đó, Hạt kiểm lâm huyện Ba Vì đã phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã: Vân Hòa, Yên Bài tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng. (Kinh Tế Và Đô Thị 15/10) đầu trang(
Theo bà Thái Mỹ Anh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh An Giang, cần bổ sung cây thốt nốt vào danh mục cây nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ cụ thể ở khoản 5, điều 6, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xây dựng loài và chế độ quản lý thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Chính phủ.
Đề nghị này nhằm xác lập hành lang pháp lý, thực hiện biện pháp chế tài để ngăn chặn tình trạng mua bán, vận chuyển cây thốt nốt ra khỏi địa bàn tỉnh An Giang đang diễn ra phổ biến.
Lãnh đạo UBND các huyện Tri Tôn và Tịnh Biên cho rằng đề ngị trên là rất cần thiết để bảo vệ cây thốt nốt – loại cây đặc thù của địa phương phải trồng từ 30 năm trở lên mới cho trái, chu kỳ trồng rất dài đang góp phần xóa đói giảm nghèo tại địa phương.
Theo ông Trần Anh Thư, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, cơ quan này đã ghi nhận ý kiến từ phía Sở TN&MT, đang tham mưu UBND tỉnh trình Bộ NN&PTNT để trình Chính phủ bổ sung cây thốt nốt vào danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định tại khoản 5, Điều 6 của Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 – 11- 2013 của Chính phủ. “Nếu được đưa vào danh mục cây nguy cấp thì mới có cơ chế xử phạt mạnh tay được và bảo vệ được cây Thốt Nốt!” – ông Thư nói.
Hiện tại tỉnh An Giang có khoảng 60.000 cây thốt nốt, mỗi năm 2.000 hộ dân thu hoạch nước thốt nốt chế biến gần 4.000 tấn đường thành phẩm, giải quyết việc làm cho trên dưới 5.000 lao động nông thôn, trong đó có khoảng 75% là người dân tộc Khmer. (Tài Nguyên Và Môi Trường 14/10) đầu trang(
Cuốc bộ nửa ngày, thì chúng tôi đến được thôn 3 (Trà Linh, Nam Trà My, Quảng Nam), gồm vài nóc nhà loe hoe trên lưng núi. Phía trái của làng, là những ngôi nhà nhỏ như chuồng chim, xây cất như nhà sàn, xếp đều tăm tắp ở khoảnh đất rộng, thoáng, trông xuống thung lũng.
Phó bí thư Đảng ủy xã Trà Linh Hồ Văn Bút bảo đó là khu vực để lương thực, gồm thóc, lúa, ngô của đồng bào Xê Đăng. Điều lạ là đồng bào không để thóc lúa ở trong nhà, mà để ở một cái chòi nhỏ ngoài bìa rừng. Ở vùng núi cao, rừng thẳm này, Nhà nước vẫn phải cứu đói vì thiếu thóc gạo, thế nhưng, xưa nay, nơi đây chưa từng xảy ra trộm cắp lương thực bao giờ.
Mỗi lần vào làng của người Xê Đăng, phải đi qua 3 lần cổng. Những cái cổng vào xóm 4, tức làng Tắc Xanh quả thực khiến nhiều người yếu vía phải dựng tóc gáy. Lớp cổng thứ nhất phải đi qua cái cầu tre ọp ẹp, lớp cổng thứ 2 đi qua cây gỗ, và lớp cổng cuối cùng phải qua mặt những hình nộm bằng gỗ tay cầm kiếm nhìn phát khiếp.
Điều đặc biệt nữa, là các ngôi nhà trong xóm cứ nối với nhau thành một "dây". Tức là, để vào làng, phải đi qua cổng, đi qua trước nhà đầu làng, rồi lại đi qua cổng và nhà tiếp theo, cứ thế cho đến hết. Nhà nào ở cuối xóm, thì phải đi qua lần lượt từng nhà trong xóm. Theo anh Bút, điều này để thể hiện tính đoàn kết bản làng. Ngoài ra, người lạ vào làng, thì ngay lập tức cả làng biết.
Nhưng, việc đi qua các ngôi làng Xê Đăng kiểu này quả thực… vất vả. Cứ qua nhà nào, lại phải chào hỏi nhau bằng… bát rượu. Đồng bào Xê Đăng uống rượu bằng bát. Nhà nào cũng có vài bình rượu cần ở giữa nhà. Khách cứ hút một hơi phải hết một bát. Chủ nhà "đo bụng" khách bằng cách đổ thêm bát nước vào chum rượu mà không tràn ra ngoài.
Chủ uống 1 bát rượu, thì khách phải uống 3 bát, cứ thế nhân lên. Rượu cần nhạt, nên uống no bụng không say, mà đã say thì suốt 3 ngày cứ biêng biêng khó tả. Giờ, rượu sâm có sẵn trong nhà, nên ngoài rượu cần, thì khách thoải mái uống rượu sâm củ, rượu lá sâm..
Ngồi uống rượu lá sâm ngâm với chân sơn dương hoang dã săn được trên núi Ngọc Linh, ông Hồ Vă Điết, kể cho chúng tôi nhiều chuyện thú vị về sâm Ngọc Linh. Ông Điết sinh năm 1944, nguyên là Chủ tịch UBND xã Trà Linh khóa đầu tiên, từ năm 1976.  Tôi từng viết bài về hành trình tìm ra sâm Ngọc Linh của dược sĩ Đào Kim Long. Ông Long kể rằng, ông chính là người phát hiện ra sâm Ngọc Linh vào ngày 19/3/1973, và ông đã hướng dẫn đồng bào Xê Đăng cách dùng sâm để bồi bổ sức khỏe, chữa bệnh. Hồi tìm ra sâm, ông bảo đồng bào phải giấu cây thuốc này đi, kẻo khoe ra sẽ bị giết, bởi nó quá quý. Từ đó, đồng bào gọi sâm là cây thuốc giấu.
Có ý kiến cho rằng, đồng bào Xê Đăng ở quanh núi Ngọc Linh đã biết đến cây thuốc này từ lâu, và gọi nó là cây thuốc giấu. Ông Đào Kim Long được đồng bào chỉ cho, nên mới biết.
Những ngày lang thang ở núi Ngọc Linh, gặp những người già, thì họ đều bảo rằng, trước kia không ai biết đến cây sâm Ngọc Linh và nó mọc đầy rừng cũng không biết dùng. Ông Hồ Văn Điết còn khẳng định rằng: "Đảng và cách mạng vào đây đã chỉ cho người dân cây thuốc giấu (sâm Ngọc Linh) và hướng dẫn người Xê Đăng dùng cây thuốc này".
Ông Hồ Văn Phong, Nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trà Linh, hiện đang sống ở làng Tắc Xanh, cũng khẳng định rằng, năm 1973 người Xê Đăng mới biết dùng sâm Ngọc Linh và người tìm ra nó, chỉ cho đồng bào chính là ông Đào Kim Long.
Hôm tôi gặp, ông Hồ Văn Phong vừa vừa mới nghỉ hưu được hơn tháng. Ông Phong đã trả lời thắc mắc của tôi, rằng vì sao nhà nào ở Trà Linh cũng sở hữu vườn sâm, ít cũng trị giá vài trăm triệu, nhiều thì hàng trăm tỷ, mà sao Trà Linh vẫn là xã nghèo, nhiều gia đình phải cứu đói bằng gạo.
Ông Phong lấy luôn ví dụ từ nhà mình. Gia đình ông vốn khá giả, sở hữu vườn sâm vài ngàn cây. Ông Phong là người "giác ngộ" sớm, nên trồng sâm từ năm 1979, cùng thời với các đại gia Hồ Văn Du, Hồ Văn Lượng, những người hiện có vườn sâm trăm tỷ.
Thế nhưng, vì làm cán bộ, tham gia vào chính quyền, nên ông không sâu sát, không mở rộng được vườn sâm nhà mình. Ông chỉ sở hữu vài ngàn cây sâm. Vườn sâm của ông lâu năm, nên giá trị rất lớn. Vườn của ông có gần 1000 cây sâm nhiều năm tuổi. Hàng năm, ông chỉ thu hạt, thu lá cũng đủ sống dư giả.
Thế nhưng, vào tháng 8/2014, vườn sâm của ông Phong và 4 hộ dân trong nhóm bị nhổ sạch sẽ, không còn một cây nào. Đợt đó, ông Phong và cả 4 thành viên trong nhóm đều đi tập huấn dưới Tam Kỳ 4 ngày. Cả nhóm đều là cán bộ xã, trồng trong rừng sâu, nghĩ không ai biết vị trí vườn sâm của mình, nên chủ quan bỏ ngỏ mấy ngày, không cắt cử người trông nom.
Lực lượng công an huyện, xã đã đến vườn sâm của nhóm để thu thập thông tin, định giá tài sản mất cắp. Riêng vườn sâm của ông Phong được định giá hơn tỷ đồng. Đến nay, thủ phạm vẫn chưa được tìm thấy.
Từ khá giả, 5 hộ gia đình trồng sâm trong nhóm ông Phong đã hóa nghèo vì mất trắng vườn sâm. Về hưu rồi, ông Phong mới tính gây dựng lại vườn sâm. Mấy ngày đi rừng với Phó bí thư Hồ Văn Bút, anh cứ lặng lẽ, không nói gì cả. Chúng tôi đề nghị anh dẫn vào vườn sâm nhà mình, nhưng anh lắc đầu từ chối, dù rất nể chúng tôi.
Theo anh, để chúng tôi vào được vườn sâm, thì phải có sự đồng ý của nhóm, gồm 10 người. Từng ấy người "bỏ phiếu", thì chắc chắn chúng tôi không thể vào vườn sâm được. Ngồi uống rượu ở nhà anh Bút, ông Phong mới tiết lộ rằng, chính anh Bút cũng vừa bị trộm sâm. Điều đau lòng, người trộm sâm không xa lạ, mà chính là cậu em ruột Hồ Văn Báo, sinh năm 1991, trú cùng thôn.
Hôm chúng tôi lên Ngọc Linh, thì Báo vừa mới bị công an bắt khi mang sâm đi tiêu thụ. Mấy năm trước, Báo cũng từng đi tù 2 năm vì tội trộm 2kg sâm của người dân trong làng. Vì là anh em, nên anh Bút cũng không tiết lộ, cũng không muốn kể.
Những ngày ở thủ phủ sâm Ngọc Linh, nghĩ đến chuyện trộm sâm, mà đau lòng. Công sức của đồng bào Xê Đăng suốt nhiều năm ròng lặn lội rừng sâu, hầu hết đều thành công cốc, nuôi bọn trộm và các đầu nậu. Những toán trộm thường đi xuyên từ phía Kon Tum sang. Chúng vượt núi nhiều ngày, rồi xâm nhập vườn sâm để đào bới.
Ông Phong đặt nghi vấn rằng, nhiều khả năng, các vụ trộm sâm có sự móc nối giữa người ngoài và thành phần bất hảo ở Trà Linh. Chỉ có những kẻ sống ở đây, mới nắm được di biến động của các thành viên bảo vệ. Như vườn sâm của nhóm ông Phong, chỉ những người thân cận mới nắm được chuyện cả nhóm đi tập huấn, để trống vườn sâm.
Ngoài ra, công tác bảo vệ vườn sâm cực kỳ nghiêm ngặt, nên không dễ gì kẻ trộm đột nhập được. Ngoài con người, thì còn hàng loạt công cụ, vũ khí bảo vệ vườn sâm. Xung quanh vườn, thường là các hầm, hào sâu, cắm chông bên dưới. Người ngoài vào vườn sâm, có thể rơi xuống hố và chết tươi vì hầm chông. Rồi hệ thống bẫy cụp, hệ thống bẫy tên tự động cũng được giăng như ma trận trong rừng, nên kẻ lạ mặt vào được đã khó, ra được khỏi rừng mà giữ được mạng sống thì là kỳ tích.
Chuyện trộm cắp sâm xảy ra như cơm bữa, đã trả lời cho câu hỏi vì sao mua sâm tại vườn lại đắt hơn của đầu nậu, dù đều là sâm Ngọc Linh xịn. Trong khi giá sâm 5-7 năm tuổi mua tại nhà người dân Xê Đăng là 50 triệu đồng, thì mua của các đầu nậu buôn sâm có thể chỉ 30 đến 40 triệu đồng. Lý do là vì các đầu nậu chuyên thu gom được sâm của bọn trộm. Mà bọn trộm chẳng mất công đầu tư, chăm sóc, nên giá nào chúng cũng bán. (VTC News 16/10) đầu trang(
Nhà nghiên cứu Đà Lạt Nguyễn Hữu Tranh đã dành nhiều tâm huyết cho xứ sở ngàn hoa này. 40 năm rồi, ông vẫn nhớ như in vẻ hoang sơ của núi rừng cao nguyên.
Ngày ấy, thông mọc khắp lối, Đà Lạt đâu đâu cũng thấy thông. Thông trên núi, thông trong rừng, thông len lỏi trong phố thị... Nhưng nay, rừng Lâm Đồng trông như một tấm da beo loang lổ. Càng đi vào sâu càng thấy rừng bị xâm hại không thương tiếc.
heo thống kê chưa đầy đủ của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, chỉ trong 6 tháng năm 2015 đã ghi nhận hơn 500 vụ phá rừng, chủ yếu phá rừng để lấy đất làm rẫy. Từ tháng 6-2014 đến nay, hơn 160 ha rừng đã bị mất, phần lớn là rừng thông. Đáng báo động là hình thức “ken cây” - tiêm thuốc độc vào thân cây để “giết” thông.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng cho biết tỉ lệ che phủ rừng của tỉnh hiện chỉ ở mức 52,5%, riêng TP Đà Lạt có tỉ lệ thấp nhất. Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016 công bố con số khiến chúng ta giật mình: Chưa đầy 5 năm, Lâm Đồng mất khoảng 90.000 ha rừng. Riêng TP Đà Lạt, tỉ lệ độ che phủ rừng chỉ còn 47%, giảm gần 10% so với năm 2010. (Người Lao Động 15/10) đầu trang(
Sáng 14.10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến pháp luật và ký cam kết bảo vệ động vật hoang dã đối với chủ kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn TP.Tam Kỳ.
Theo đó, các cán bộ thuộc Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng  số 1 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) đã triển khai các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã. Trong đó có các nghị định của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, động vật rừng quý hiếm; quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi săn bắt, bẫy, nuôi, nhốt, giết động vật rừng; thông tư của Bộ NN&PTNT về quản lý khai thác tự nhiên và nuôi động vật rừng; thông tin về chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp được ưu tiên bảo vệ…
Qua các nội dung phổ biến giúp 30 chủ kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn nắm bắt và tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thời ký cam kết bảo vệ động vật hoang dã. (Báo Quảng Nam 15/10) đầu trang(
Hàng trăm học sinh trường Chu Văn An (Hà Nội) hào hứng tham gia các hoạt động thú vị trong chương trình nhằm ủng hộ bảo vệ loài tê giác do Đại sứ quán Mỹ tổ chức chiều 15-10.
Chiều ngày 15-10, Đại sứ quán Mỹ đã có buổi giao lưu với trường Chu Văn An (Hà Nội) tổ chức sự kiện One Million Footprints nhằm tuyên truyền bảo vệ loài tê giác. Chương trình có sự tham gia Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, bà Susan Sutton, cùng các thầy trò học sinh trong trường Chu Văn An.
Nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ, hai nước đang cùng nỗ lực trong việc kiểm soát các hoạt động buôn bán động vật hoang dã. 2 nước cùng hợp tác tài chính thức trong chương trình “Cùng hành động tạo sự thay đổi” (OGC), nhằm nâng cao nhận thức cho công chúng làm giảm nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã, đồng thời cải thiện quan hệ song phương trong lĩnh vực an ninh môi trường.
Tại buổi sự kiện bà Susan Sutton và các nhân viên làm việc tại Đại Sứ quán Mỹ đã giao lưu cùng thầy trò học sinh trường Chu Văn An nhiều hoạt động bổ ích. Các hoạt động như: Xem phim tìm hiểu về tê giác, dạy các em học sinh gấp giấy bằng hình tê giác, đọc sách và cùng nhau in chân sơn, ký tên ủng hộ tổ chức bảo vệ loài tê giác.
Việt Nam là 1 trong 3 nước liên đới tới việc buôn bán và tiêu thụ sừng tê giácnhiều nhất trên toàn thế giới. Nhu cầu này đang đẩy tê giác tới tận diệt. (Người Lao Động 16/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng chặt phá rừng trên địa bàn huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) xảy ra thường xuyên và hết sức phức tạp. Mới đây nhất, gần 10ha rừng phòng hộ thuộc địa bàn xã Hương Minh bị phát hiện chặt phá.
Theo đó, vụ phá rừng mới đây xảy ra tại khoảnh 5, khu 146B thuộc địa phận rừng phòng hộ do xã Hương Minh, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) quản lý.
Ngày 6/10, UBND xã Hương Minh nắm được thông tin tại khu rừng 146B bị chặt phá tràn lan trên diện rộng nên đã cử cán bộ chuyên trách cùng với các cán bộ hạt kiểm lâm vào kiểm tra thực địa nơi xảy ra sự việc.
Sau khi kiểm tra, ông Đoàn Ngọc Lương, Phó chủ tịch UBND xã Hương Minh xác nhận với PV báoĐời sống và Pháp luật có sự việc chặt phá rừng xảy ra đồng thời cho biết, trách nhiệm đầu tiên vẫn thuộc về xã và kiểm lâm địa bàn.
Qua kiểm tra, đo đạc, số diện tích bị chặt phá lên tới 8,92ha. Diện tích rừng không hề nhỏ này đã bị một nhóm đối tượng chặt phá ồ ạt trong 7 - 8 ngày gần đây mà không ai hay. Toàn bộ những cây lớn nhỏ đều bị hạ gục một cách không thương tiếc. Được biết số gỗ rừng này thuộc nhóm 6, nhóm 7, nhóm 8.
Trao đổi với ông Nguyễn Văn Minh, Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Vũ Quang, ông này cho biết: “Hiện tại chưa xác định được cụ thể các đối tượng tham gia. Đối với trường hợp này cơ quan đã xác định là có dấu hiệu tội phạm hình sự. Hiện cơ quan đang hoàn thiện thủ tục, hồ sơ để khởi tốvụ án và gửi cho cơ quan Công an huyện có trách nhiệm chủ trì, điều tra làm rõ sự việc”.
Trước đó, báo Đời sống và Pháp luật có phản ánh về tình trạng phá rừng tại Vườn quốc gia Vũ Quang. 15 gốc cây gỗ De (nhóm 4), ước tính khối lượng khoảng 30m3 thuộc tiểu khu 166 (Lát Chính – Khe Công) nằm trong vùng lõi VQG Vũ Quang (Hà Tĩnh) đã bị lâm tặc đốn hạ.
Tình trạng phá rừng tại huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) đang diễn ra hết sức phức tạp, vai trò quản lý rừng hết sức lỏng lẻo tạo điều kiện cho lâm tặc ngang nhiên "hoạt động". Đến khi rừng bị tàn phá rồi mới kiểm tra, xử lý thì đã quá muộn. (Đời Sống Và Pháp Luật 16/10) đầu trang(
Công an huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau đang tạm giữ hai nghi phạm Nguyễn Hoàng Khang (20 tuổi) và Huỳnh Công Luận (30 tuổi) để làm rõ các hành vi liên quan.
Ngày 15-10, Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên (Sở NN&PTNT Cà Mau) cho biết đang phối hợp với Công an huyện Ngọc Hiển làm rõ vụ phá rừng, gây thương tích cho cán bộ kiểm lâm Trần Thanh Giang, thuộc cán bộ tiểu khu 220.
Trước đó, vào đêm 11 rạng sáng 12-10, tổ tuần tra của Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên phối hợp công an địa phương tuần tra khu vực rừng phòng hộ ven biển, đến đoạn liên tiểu khu 219 phát hiện một nhóm người lạ đang chặt phá cây rừng trái phép.
Trong lúc vây bắt, lực lượng làm nhiệm vụ bị các đối tượng chống đối, dùng chân vịt máy đuôi tôm làm trọng thương kiểm lâm viên Trần Thanh Giang.
Ông Giang được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Ngọc Hiển cấp cứu ngay trong đêm trong tình trạng mất máu nhiều, hiện đã qua cơn nguy kịch.
Công an huyện Ngọc Hiển đang tạm giữ đối tượng Nguyễn Hoàng Khang (20 tuổi) và Huỳnh Công Luận (30 tuổi), cùng tạm trú tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, để làm rõ các hành vi liên quan. (Tuổi Trẻ 16/10) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ có văn bản gửi Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND TP Hà Nội liên quan đến khiếu nại, tố cáo (KN, TC) của một số công dân xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn.
Theo văn bản này, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND TP Hà Nội kiểm tra việc giải quyết KN, TC của một số công dân xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10.
Trước đó, Thanh tra Chính phủ đã có Báo cáo số 1335 gửi Thủ tướng Chính phủ về vụ việc này. Báo cáo này khẳng định đoàn công dân đông người của huyện Sóc Sơn thường xuyên đến Trụ sở Tiếp Công dân Trung ương KN, TC một số nội dung liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất đai tại địa bàn.
Đây là vụ việc có tiềm ẩn nguy cơ phát sinh thành điểm nóng về khiếu kiện tập trung đông người tại Hà Nội trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc khoá XIII, Thanh tra Chính phủ đề xuất Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ thành lập đoàn thanh tra để thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Sóc Sơn.
Các đoàn công dân thường xuyên đeo bám tại Trụ sở Tiếp công dân Trung ương gồm: Bà Phạm Thị Ngần (trú tại thôn Phù Mã, xã Phù Linh) đại diện cho 5 hộ dân có đất giãn tại xã KN liên quan đến việc cấp đất giãn dân; Việc thu hồi 42.894m2 đất tại xã Phù Linh để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu đất phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất có sự chồng lấn lên khu đất giãn dân đã được cấp cho các hộ; Ông Nguyễn Văn Na và một số hộ dân xã Phù Linh đề nghị xem xét Văn bản số 964/UBND-VP giao UBND xã Phù Linh thành lập hội đồng xét duyệt cấp đất giãn dân và tổ chức xét duyệt đối với các hộ dân nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện; Ông Lê Văn Phương TC bà Nguyễn Thị Kiểm đã cấu kết với một số cán bộ địa phương làm giả hồ sơ giấy tờ để nhận bồi thường giải phóng mặt bằng hàng chục tỷ đồng trên thửa đất lấn chiếm (mảnh đất mua lại từ ông Chúc lấn chiếm của UBND xã Phù Linh quản lý); TC một số lãnh đạo xã Tiên Dược xây dựng nhà kiên cố trái phép trên đất nông nghiệp; Ông Phạm Ngọc Dương TC ông Tạ Văn Đạo, Phó Chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn tự ý xây dựng nhà biệt thự, sân tenis và một số công trình phụ trợ khác trái phép trên hàng chục ha đất rừng tại khu Kèo Cà, xã Hiền Ninh dẫn đến một số cán bộ cũng như nhiều hộ dân khác lấn chiếm, xây dựng nhà trái phép trên đất nông, lâm nghiệp.
Liên quan đến các KN, TC của công dân, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản đề nghị UBND TP Hà Nội chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết nhưng đến nay vụ việc vẫn chưa giải quyết dứt điểm, gây bức xúc cho quần chúng nhân dân. (Thanh Tra 16/10) đầu trang(
Thời gian qua, nấm lim xanh được xem là “linh thảo” của vùng rừng Đông Trường Sơn nên được giới thương lái ráo riết thu mua với giá cao.
Nhiều người dân trên địa bàn huyện miền núi Nam Đông và A Lưới (Thừa Thiên- Huế) đã bất chấp nguy hiểm để vào rừng săn tìm nấm lim xanh... với hy vọng đổi đời.
Trước thông tin nấm lim xanh được cánh thương lái thu mua mỗi ký khô trên 3 triệu đồng và nấm tươi mỗi ký khoảng 2,5 triệu đồng, nhiều hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã Thượng Nhật, huyện miền núi Nam Đông đã bỏ công sức vào rừng sâu săn lùng loại nấm được xem như là “linh thảo” chữa được bệnh hiểm nghèo này.
Anh Hồ Viết Hoàn (38 tuổi), một trong số người chuyên săn nấm lim xanh ở thôn 3, xã Thượng Nhật, kể lại rằng, cuối năm 2014, trong một lần vào rừng bẫy chim, anh tình cờ hái được mấy tai nấm lim xanh mọc trên thân gỗ lim đã bị chặt bỏ nên đưa về nhà. “Khi biết tui hái được nấm lim xanh, một số tay buôn ở TP Huế đã tìm đến ra giá 3 triệu đồng cho 5 tai nấm lớn gấp đôi bàn tay người. Vì đang cần tiền chữa bệnh cho con nên tui chấp nhận bán...”.
Theo anh Hoàn, ngay sau khi thông tin anh trúng tiền triệu nhờ hái nấm lim xanh nên nhiều người trong thôn bản đã bỏ dở nghề làm rừng, bóc te (bóc vỏ cây tràm) để lặn lội vào rừng tìm nấm lim xanh, mong có thêm thu nhập, nếu trúng đậm sẽ... “đổi đời”. Cũng như nhiều tay thợ săn nấm lim xanh khác, khi biết địa phương có người trúng nấm lim xanh quý hiếm, ông Hồ Văn Nục (55 tuổi, cùng trú thôn 3, Thượng Nhật) cũng đã đùm bới gạo cơm, tay vác theo cây rựa để băng rừng, lội suối, bất chấp những hiểm nguy ở chốn “rừng thiêng nước độc” để tìm nấm lim xanh…
May mắn khi chúng tôi tìm đến nhà ông Nục đúng lúc ông vừa trở về sau gần nửa tháng vượt rừng tìm hái loại nấm quý này. Nghe có người hỏi về nấm lim xanh, ông Nục ngần ngại một lát rồi vào nhà lấy cho chúng tôi xem 2 tai nấm lim to bằng chiếc quạt mo. Ông bảo: “Đây là thành quả của những chuyến “nằm bờ, ngủ bụi” trong rừng đấy chú à”.
Nói rồi ông Nục kể: “Cứ mỗi lần xuất hiện mưa dông thì tui liền dặn vợ đùm bới cơm gạo, mùng mền để đi rừng tìm nấm lim xanh. Thế nhưng việc tìm nấm không hề đơn giản; bởi cây nấm lim xanh thường mọc trên thân gỗ lim mục ruỗng. Mà gỗ lim hiện trong rừng cũng khan hiếm chứ không nhiều như trước do bị “lâm tặc” đốn hạ gần hết. Nếu may mắn lắm chỉ tìm thấy 2-3 tai nấm trên một gốc gỗ lim…”.
Trên địa bàn huyện miền núi A Lưới cũng có nhiều người vào rừng săn tìm nấm lim xanh. Trong đó, khu vực xã Hồng Trung, Hồng Vân, xã Nhâm... với những cánh rừng sát biên giới Việt - Lào thường được cánh “săn” nấm lim xanh tìm đến lùng sục.
Suốt gần 3 năm làm nghề “săn” tìm nấm lim xanh, ông Hồ Thanh Mới (người dân tộc Cơ Tu, ở xã Nhâm) cũng đã có những cú “ăn đậm” khi nấm lim bán được giá, thu lợi từ 10 đến 15 triệu đồng với mỗi chuyến đi rừng. Tuy nhiên, theo ông Mới, người đi tìm nấm lim xanh cũng thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro như bị sốt rét, rắn độc cắn... và nếu không chữa trị kịp thời chắc chắn sẽ mất mạng.
Trước tình trạng nấm lim xanh được săn lùng ráo riết, hiện các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã phát đi thông báo khuyến cáo người dân không nên tận diệt nấm lim xanh trong tự nhiên. Qua đó khuyến khích các xã miền núi tăng cường công tác hướng dẫn, tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ người dân mở các điểm trồng nấm lim xanh để có nguồn nguyên liệu phục vụ y học, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Theo PGS.TS Trần Thị Thu Hà, Phó trưởng Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Huế: Nấm lim xanh có tên khoa học là Garnodema Lucidum, thuộc dòng nấm linh chi, có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe con người. “Đặc biệt loại nấm này có tác dụng hỗ trợ điều trị, ngăn ngừa ung thư, xơ gan, gan nhiễm mỡ, bệnh gout, tiểu đường, chống viêm nhiễm, giảm lão hóa và phục hồi thể lực sau tai biến...”, bà Hà nhận định. (Công An Nhân Dân 16/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tính đến tháng 6/2015, toàn tỉnh có 904.642,98 ha rừng trên tổng số hơn 1.160.242 ha diện tích đất lâm nghiệp, trong đó có 737.762,72 ha rừng tự nhiên, độ che phủ đạt 54,6%. Do đó, khai thác hiệu quả tiềm năng và tối đa nguồn lợi từ rừng trên cơ sở đảm bảo sự bền vững của các yếu tố liên quan đang là hướng đi cho sự phát triển kinh tế ở các địa phương. Tuy nhiên, việc làm này cũng tồn tại một số khó khăn nhất định.
Rừng và đất lâm nghiệp Nghệ An hiện nay chủ yếu tập trung ở 10 huyện miền núi phía Tây của tỉnh, có địa hình đồi núi cao, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt. Các huyện này có gần 50 vạn đồng bào các dân tộc ít người như Thái, H’Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu, Đan Lai... sinh sống. Trong khi đó, đại bộ phận dân cư có tập quán phát nương làm rẫy, sống dựa vào rừng, đời sống còn nhiều khó khăn.
Những năm gần đây, do sự thay đổi trong chủ trương quản lý của Nhà nước và các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chương trình, dự án nên việc phát nương làm rẫy đã giảm mạnh. Mỗi năm, diện tích nương rẫy giảm từ 100 - 200 ha và hiện tập trung ở các huyện vùng cao giáp biên giới Việt - Lào như Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong (với khoảng 50.000 ha).
Sự chuyển đổi cơ cấu ngành từ khai thác vốn rừng không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của ngành kinh tế nông - lâm nghiệp mà còn tác động đến tỉ lệ che phủ rừng, vấn đề môi trường sinh thái...
Hiện tại, diện tích rừng trồng tập trung 9 tháng ước đạt 13.515 ha, đạt 90% kế hoạch, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2014; tập trung bảo vệ tốt 906.850 ha diện tích rừng hiện có. Công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy, phòng trừ sâu bệnh tiếp tục được đẩy mạnh. Diện tích rừng chăm sóc ước đạt 27.500 ha, bao gồm: 26.003 ha rừng sản xuất, 1.496,9 ha rừng phòng hộ. Tổng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 409.736 m3, tăng 10,07% so với cùng kỳ năm 2014.
Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu là từ rừng trồng của các dự án đã đến thời điểm cho khai thác để làm nguyên liệu công nghiệp chế biến như ván ép, dăm gỗ, nguyên liệu giấy, ngoài ra còn để phục vụ nhu cầu xây dựng. Một số loại tre, trúc, giang, luồng, nứa hàng, song mây… thu hoạch đều tăng so với cùng kỳ năm 2014 do phục vụ nhu cầu chế biến công nghiệp và đời sống người dân.
Bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng được chú trọng. Trong những tháng đầu năm, nhiều đợt nắng nóng liên tục kéo dài với nền nhiệt cao (39 - 410C), gió Tây Nam hoạt động mạnh, cảnh báo cháy rừng luôn ở cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm). Mặc dù đã có sự chỉ đạo quyết liệt từ các cơ quan, đơn vị liên quan nhưng vẫn xảy ra 24 vụ cháy rừng. Diện tích rừng bị cháy là 66,97 ha, chủ yếu là rừng trồng sản xuất tại các huyện Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Quỳ Châu và Hưng Nguyên.
Trước tình hình đó, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tập trung chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng chống cháy rừng như phát dọn thực bì, tổ chức trực canh liên tục, tăng cường trang bị phương tiện chữa cháy rừng..; qua đó góp phần hạn chế sự cố đáng tiếc có thể xảy ra. (Công An Nghệ An 15/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông.
Tại tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuyển công ty nông nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước không giữ cổ phần chi phối sáu công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Đắk Lắk; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Thắng Lợi; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Phước An; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê-Cacao tháng 10; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Ea Pốk; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Sản xuất kinh doanh tổng hợp Krông A na. Giải thể đối với ba công ty nông nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Buôn Ma Thuột; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Đray H’Linh; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê-Ca cao Krông A na và phối hợp với nhà đầu tư khác thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông nghiệp Càphê Cư pul. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích sáu công ty lâm nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Krông Bông; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp M’Đrăk; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ea Kar; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Buôn Wing; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Chư Phả; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ea Wy.
Chuyển Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Lăk thành Ban quản lý rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập có thu; phối hợp với nhà đầu tư khác thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tám công ty lâm nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Chư Ma Lanh; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Rừng Xanh; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ya Lốp; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ea H’Mơ; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ea H’Leo; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Thuần Mẫn; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Phước An; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Buôn Ja Wầm.
Tại tỉnh Gia Lai, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuyển công ty nông nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước không giữ cổ phần chi phối hoặc không nắm giữ cổ phần ba công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Gia Lai; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Biển Hồ; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Bầu Cạn.
Duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu Công ty lâm nghiệp, Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích các công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Ka Nak; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Sơ Pai; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Hà Nừng; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Trạm Lập; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kông Chro; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kông H’De; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kông Chiêng; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Lơ Ku; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đắk Roong; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Krông Pa; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Kon Tum duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty lâm nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô.
Cùng với đó là duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu Công ty lâm nghiệp do Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Ngọc Hồi; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Hà; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Sa Thầy; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kon Rẫy; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kon Plông. Đối với tỉnh Đắk Nông, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuyển công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước không giữ cổ phần chi phối đối với hai công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Thuận An và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Càphê Đức Lập.
Duy trì củng cố, phát triển và tái cơ cấu, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động sản xuất kinh doanh đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đại Thành và duy trì củng cố, phát triển và tái cơ cấu, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đối với các công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đắk Wil; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Nam Tây Nguyên; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đắk N’Tao; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đức Hoà; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Quảng Sơn.
Thủ tướng chỉ đạo chuyển công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần, Nhà nước không giữ cổ phần chi phối đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Nam Nung; chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập có thu đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đắk Măng.
Giải thể các công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Gia Nghĩa; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Thuận Tân; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Quảng Đức; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Quảng Tín; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Trường Xuân; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp Đức Lập. (Vietnam + 15/10) đầu trang(
Diện tích và sản lượng gỗ trồng rừng của Việt Nam đã tăng trong thời gian qua nhưng chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ,… giá trị kinh tế thấp, chưa có các giải pháp về kỹ thuật và chính sách để phát triển rừng trồng gỗ lớn phục vụ cho sản xuất đồ mộc, gỗ xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản phẩm gỗ chế biến. Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ban hành Quyết định số 774/QĐ – BNN –TCLN ngày 18/4/2014 Phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 – 2020 nhằm mục tiêu phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn.
Theo kế hoạch hành động này, từ ngày 08 – 10/10/2015, tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức lớp tập huấn ToT “Bồi dưỡng phương pháp khuyến nông và kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn bằng một số loài cây mọc nhanh” cho 30 học viên là cán bộ khuyến nông và cộng tác viên khuyến nông của hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị.
Trong thời gian tập huấn, học viên được cung cấp những kiến thức về phương pháp khuyến nông, tổng quan về phát triển gỗ lớn tại Việt Nam và trên thế giới, kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng và tỉa thưa cho một số loài cây gỗ lớn mọc nhanh như keo, bạch đàn... Ngoài ra, giảng viên và học viên cùng nhau trao đổi những vướng mắc trong việc trồng rừng gỗ lớn như: cách chọn hộ, xã, lâm phần để duy trì được rừng gỗ lớn trong 10 - 15 năm, mật độ tỉa thưa, số lần tỉa thưa,… Bên cạnh việc học lý thuyết, học viên còn đi tham quan thực tế và thực hành ngoài hiện trường.
Khóa tập huấn đã giúp học viên hiểu rõ hơn giá trị của rừng gỗ lớn, kỹ thuật trồng thâm canh, tỉa thưa, nuôi dưỡng rừng gỗ lớn. Sau khóa tập huấn học viên có thể tự tin về địa phương truyền đạt lại những kiến thức đã học cho người dân. (Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia 15/10) đầu trang(
Căn cứ vào Đề án trồng rừng thay thế giai đoạn 2010-2015, tỉnh Cà Mau phấn đấu trồng mới 100 ha rừng các loại. Đây là diện tích trồng ở những nơi đất trống và bị mất do để đất cho các công trình dân sinh như khu công nghiệp, khu tái đinh cư…Đến nay, Cà Mau trồng được 120 ha thay thế, vượt 20 ha so với đề án phê duyệt.
Nhìn chung, công tác quản lý và trồng mới rừng nói chung tại địa phương những năm gần đây có chuyển biến tích cực. Cơ chế quản lý rừng có nhiều đổi mới theo hướng giao đất, giao rừng cho dân quản lý. Cà Mau xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới: mô hình hợp tác xã nuôi tôm – rừng; nghêu, cá… mang lại thu nhập đáng kể cho người dân.
Rừng tràm U Minh Hạ có tổng diện tích lên tới gần 80.000 ha, nếu trước đây chỉ độc nhất cây tràm nay triển khai trồng thêm cây keo lai và nhiều loại cây khác. Những hộ dân sau khi được giao đất giao rừng tích cực tổ chức sản xuất theo hướng, vừa quản lý tốt rừng vừa sản xuất, nuôi trồng nhiều loại cây con để phát triển kinh tế. Giai đoạn 2015 – 2020, tỉnh Cà Mau tập trung một số việc như đổi mới cơ chế quản lý rừng theo quy định hiện hành; tiếp tục giữ rừng đi đôi với trồng rừng mới, tổ chức sản xuất theo hướng đa dạng hóa, xã hội hóa nhằm phát huy tối đa lợi thế và tiềm năng của rừng.
Ngoài ra, trong thời gian qua, hiện tượng cây tràm bị chết ‘’đột biến’’ cũng đã được cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau xác định nguyên nhân là do ảnh hưởng thời tiết nắng nóng kéo dài làm độ phèn tăng cao, khiến rừng tràm khô héo, chết dần. Bên cạnh đó, việc các hộ dân chọn cây giống không đảm bảo chất lượng, khâu bảo quản và kỹ thuật trồng chưa đúng với khuyến cáo của ngành chuyên môn cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng tràm.
Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích, huyện U Minh Lê Trung Kiên cho biết, đây là năm đầu tiên ở địa phương này xảy ra hiện tượng rừng tràm bị chết. Do chưa thực hiện hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng của năm 2015 nên xã chưa tiến hành nghiệm thu xác định cụ thể diện tích rừng bị thiệt hại. Tuy nhiên, ngày 13/10, qua phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện U Minh kiểm tra thực tế bốn hộ dân tham gia trồng rừng tại ấp 20 có hộ ông Huỳnh Văn Huốl là không tham gia trồng mới rừng tràm, còn lại ba hộ dân gồm: ông Trần Văn Tý, ông Trần Văn Út và ông Trịnh Ngọc Lành đều có diện tích tràm bị thiệt hại.
Theo UBND xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tính đến thời điểm này, xã triển khai trồng được khoảng 95 ha trong số 150ha rừng tràm trồng mới trong năm 2015. Gần 50 hộ tham gia trồng tràm, mỗi hộ trồng từ 0,7 - 4 ha. Theo tính toán chi phí đầu tư trồng mới mỗi ha rừng tràm khoảng 1,7 triệu đồng cho mua cây giống và cải tạo lên liếp trồng tràm.
Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Cà Mau ông Nguyễn Như Độ cho biết, ngành chuyên môn đang phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra đánh giá cụ thể diện tích rừng tràm bị chết, mức độ thiệt hại để có biện pháp hỗ trợ người dân trồng lại rừng tràm trên diện tích đất rừng sau khai thác. (Vụ Khoa Học, Công Nghệ Và Môi Trường 15/10) đầu trang(
Thời gian qua, việc trồng rừng thay thế ở Thừa Thiên Huế còn chậm, nhất là đối với các dự án thủy điện.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNN, tổng hợp kết quả rà soát tình hình ở các địa phương, diện tích rừng phải thay thế từ việc xây dựng các công trình thủy điện là gần 18.000 ha, đến nay trồng rừng thay thế đạt trên 51%, các dự án chuyển sang mục đích kinh doanh là 20.000 ha, trồng thay thế được 22%, các dự án chuyển sang mục đích xây dựng công cộng trên 30.000 ha, trồng thay thế đạt 8,2%. Tổng số tiền do chủ dự án nộp về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đến nay đạt 262 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân được 68,5 tỷ đồng.
Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh là 1.305 ha, trong đó tổng diện tích rừng chuyển sang làm thủy điện là 965 ha, diện tích rừng chuyển đổi sang mục đích khác là 341 ha. Kết quả trồng rừng thay thế từ năm 2006 đến 2014 là 446 ha, trong đó các dự án thủy điện chỉ đạt 106/965 ha, các dự án khác đạt 341/341 ha. Ước thực hiện trong năm 2015, toàn tỉnh trồng 124 ha, đạt 12,3% tổng diện tích cần trồng rừng thay thế.
Kết quả trồng rừng thay thế diện tích chuyển sang mục đích sử dụng trên địa bàn tỉnh thấp là do quỹ đất để các công ty thủy điện trồng lại rừng khó khăn và các chủ đầu tư dự án thủy điện chưa thật sự nghiêm túc trong việc chấp hành quy định trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, đơn cử: Thủy điện Bình Điền chỉ mới trồng 134 ha, còn hơn 320 ha chưa trồng; Thủy điện Hương Điền chỉ mới trồng 36 ha, còn 328 ha chưa trồng; Thủy điện A Lưới có 144 ha phải trồng thay thế nhưng vẫn chưa trồng được diện tích nào cả.
Trước tình hình đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Đinh Khắc Đính yêu cầu các chủ đầu tư dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh nghiêm túc thực hiện việc trồng rừng thay thế. “Nếu chủ đầu tư các dự án thủy điện cố tình trì hoãn kéo dài việc trồng rừng thay thế thì UBND tỉnh sẽ có những biện pháp mạnh để xử lý, như xử phạt vi phạm hành chính, đình chỉ hoạt động”- ông Đính cho biết thêm. (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/10) đầu trang(
Việc thu hút các DN lớn về đầu tư ở địa phương để khơi gợi nguồn lực, phát huy lợi thế, tiềm năng, phát triển kinh tế là điều rất đáng mừng.
Đó còn là chỉ dấu khẳng định sự thành công của chính quyền mỗi tỉnh. Vậy nhưng, rất nhiều lãnh đạo địa phương cùng những người trong cuộc khi chúng tôi tìm hiểu đều tỏ rõ sự băn khoăn, cẩn trọng. Thực tế tìm hiểu cho thấy, có rất nhiều vấn đề đặt ra song hành cùng quá trình sắp xếp, chuyển đổi đất đai nói chung và nông, lâm trường (NLT) nói riêng.
Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hòa Bình, lo ngại trước việc tài sản của Nhà nước bị thâu tóm mà công nhân nông trường trở thành người làm thuê trên chính mảnh đất do họ gây dựng nên để rồi quyền lợi bị chiếm dụng, thậm chí rơi vào cảnh phát canh thu tô...
“Có trường hợp, NLT bán lại cổ phần cho cổ đông không phải người lao động. Vậy là, quyền sử dụng đất của Nhà nước đã bị chuyển thành quyền sử dụng của một nhóm cổ đông”, ông Sinh nói.
Dẫn chứng điều này, ĐB Nguyễn Tiến Sinh cho hay: Một Cty ở Tây Bắc, trước đây nông trường viên nhận khoán với nông trường - là DN của Nhà nước; sau khi chuyển đổi thành Cty, nay người lao động lại tiếp tục nhận khoán nhưng là làm thuê trên đất của Cty tư nhân, vì vốn liếng đất đai đã cổ phần hóa. Vậy thì khi chuyển đổi, người dân được gì, Nhà nước được gì? Không những không được mà còn mất đi. Chúng tôi đi giám sát về cứ buồn mãi cho đến tận bây giờ.
Vẫn theo ĐB Nguyễn Tiến Sinh, việc chuyển đổi các NLT quốc doanh thành Cty cổ phần chỉ giống như biện pháp “hà hơi thổi ngạt”, còn nửa vời, nếu không muốn nói là bình mới rượu cũ.
Cũng về thực trạng nông dân mất đất, ĐBQH Chu Sơn Hà (Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) cho hay xã Ba Vì (huyện Ba Vì - Hà Nội) có 2.000 cử tri, 100% dân tộc ở đó là đồng bào Dao.
“Tôi đi giám sát rất đau lòng khi biết đồng bào không có đất SX phải đi sang làm thuê ở Trung Quốc, đối mặt với rất nhiều rủi. Trong khi đó, đất ven vùng đệm của VQG Ba Vì thì lại giao cho các cá nhân, tổ chức ở nơi khác đến chứ lại không giao cho đơn vị sở tại", ĐB Hà bày tỏ.
Đồng tình với quan điểm này, ĐBQH Đỗ Văn Đương (TP.HCM) cho rằng, tích tụ đất đai là đúng nhưng làm thế nào để người nông dân không mất đất, không bị đẩy ra đứng đường thì phải tính toán kỹ, thận trọng, không thể làm ồ ạt được.
ĐB Đỗ Văn Đương phần nào lo ngại DN lấy đất, đưa vào SX chỉ phần nào, cái quan trọng liệu có phải chiếm hữu đất đai không?
“Chúng ta biết rằng toàn bộ tài sản của Nhà nước, mồ hôi công sức do lớp lớp các nông trường viên nghe theo tiếng gọi của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới. Họ đã gây dựng nên bao nhiêu năm chẳng lẽ bị mất trắng khi không thể đáp ứng được yêu cầu SX công nghệ cao?”, ĐB Đương đặt câu hỏi.
Không vòng vo trước thực trạng giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, sử dụng sai mục đích diễn ra lộn xộn như lâu nay, ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) thẳng thắn nêu quan điểm, nếu không kiên quyết, minh bạch và tính toán hợp lý thì rất dễ xuất hiện một tầng lớp địa chủ mới làm bần cùng hóa người nông dân.
Thanh Hóa là một trong những tỉnh tiên phong đi đầu thực hiện việc đổi mới, sắp xếp các NLT. Cách mà địa phương này đã và đang làm là chuyển đổi các NLT thành Cty TNHH 2TV. Một số tỉnh ở phía Bắc cũng đang làm theo cách đó. Việc chuyển đổi này, hiện các đơn vị đã có đề án sắp xếp.
Điểm mấu chốt trong các đề án này chính là đất đai và việc làm của hàng ngàn con người. Hầu hết công nhân và hộ nhận khoán đất ở các Cty NLT đều gắn bó qua nhiều thế hệ.
Liệu mai này, lớp thế hệ đang có hợp đồng với Cty TNHH 2TV nghỉ chế độ thì quyền lợi của thế hệ kế tiếp được giải quyết ra sao? Gia đình họ sẽ sống bằng gì nếu không có đất để SX hoặc với việc sử dụng công nghệ cao, ít lao động thì những người chưa qua đào tạo sẽ sinh sống ra sao?
Nhiều hộ nhận khoán lo ngại rằng, đất được giao cho hộ dân SXNN trong khi Nhà nước đã miễn thuế nông nghiệp, còn DN thuê đất thì phải đóng thuế, không cẩn thận vẫn là “phát canh thu tô”.
Riêng đề án của tỉnh Hòa Bình cho thấy vấn đề sắp xếp số lao động dôi dư sau khi chuyển đổi đang là bài toán nan giải. Giải pháp mà đề án đưa ra là số lao động dôi dư này sẽ được giải quyết hưởng chế độ trợ cấp theo quy định hiện hành của Nhà nước (?!).
Rõ ràng, vấn đề cấp bách sau chuyển đổi mô hình hoạt động của các Cty chính là việc làm cho người lao động.
Ai cũng biết rằng, quy mô SX của các Cty TNHH 2TV sẽ rất lớn, hình thành các vùng SX chuyên canh, cánh đồng lớn được áp dụng công nghệ KHKT tiên tiến hiện đại, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên nghiệp. Và điều tất yếu sẽ xảy ra là khi nông nghiệp phát triển mạnh, công nghệ càng cao thì sẽ dư thừa một lượng lớn lao động.
Bài toán đó giải quyết ra sao nếu không có một lộ trình? Chẳng hạn đi kèm với việc hoàn thiện đề án, dự án thì cần triển khai ngay việc tổ chức đào tạo, học nghề cho nhóm đối tượng là công nhân, nông dân vùng bị ảnh hưởng dự án để khi triển khai đồng loạt thì những lao động này không bị bỡ ngỡ và có thể nhập cuộc ngay. Qua đó, nhà đầu tư có đủ thời gian đánh giá, lựa chọn, bố trí lao động ở những vị trí phù hợp.
Đây cũng là vấn đề quan trọng nhất được Hội đồng cơ quan thường trực sắp xếp, đổi mới Cty nông, lâm nghiệp (Bộ NN - PTNT) khi tiến hành thẩm định đề án của các địa phương đều đưa ra những yêu cầu DN phải cam kết. Đồng thời lưu ý, việc kinh doanh của các Cty TNHH 2TV chỉ tập trung vào SXNN, chăn nuôi chuyên gắn với KHCN, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; không đầu tư vào sản phẩm và ngành nghề khác SXNN; không chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Có hành động được như những gì thể hiện trong các bản đề án được hoàn chỉnh thì may ra đây mới là cuộc cách mạng thực sự làm chuyển biến mạnh mẽ hoạt động Cty nông, lâm nghiệp, bằng không thì vẫn là “bình mới rượu cũ”, tệ hơn là tích tụ đất đai vào một số đối tượng mà thôi.
Vĩnh Phúc, một tỉnh đầu tư hàng đầu cho công tác đào tạo nghề cho nông dân “hậu công nghiệp”, tuy nhiên, theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh thì đến 1/10/2014, tổng số lao động của Vĩnh Phúc từ 15 tuổi trở lên là 518.477 người (trong đó 514.023 là người Vĩnh Phúc).
Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo là 22,33%. Cơ cấu lao động ngành nông nghiệp là 191.955 người. Điều đáng nói, tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo chỉ chiếm 5,09%.
Đặc biệt, trung bình lao động nông nghiệp hiện tại chỉ dành 1/3 thời gian. Nếu sử dụng 100% thời gian cho lao động nông nghiệp thì 2/3 lao động nông nghiệp sẽ dôi dư, dẫn đến thừa lao động, thiếu việc làm ngày càng tăng.
Thời gian tới mỗi năm Vĩnh Phúc có từ 6.000 - 7.000 lao động tăng mới và khoảng 9.000 - 10.000 lao động có nhu cầu chuyển dịch khỏi ngành nông nghiệp thì áp lực chuyển đổi lao động và việc làm ngày càng gay gắt.
Vấn đề này đã được tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức hội thảo, mời các chuyên gia hàng đầu đến tham vấn, tuy nhiên câu chuyện hiện vẫn đang hết sức bế tắc. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/10) đầu trang(
Tổng số tiền thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai trong 10 năm (2004-2014) của các nông, lâm trường vào khoảng 1.928 tỉ đồng. Bộ Tài chính cho rằng con số này còn thấp và cần rà soát nâng cao hiệu quả nộp ngân sách của các nông, lâm trường.
Trong đó, tổng số tiền sử dụng đất phải nộp là 47,46 tỉ đồng (số tiền đã nộp khoảng 27,31 tỉ đồng, số tiền còn nợ vào khoảng 20,21 tỉ đồng). Tổng số tiền thuê đất mà các nông, lâm trường phải nộp vào khoảng 1.880,5 tỉ đồng (số tiền đã nộp vào khoảng 1.694,7 tỉ đồng và số tiền còn nợ khoảng 219,4 tỉ đồng).
Số liệu thu nộp nghĩa vụ tài chính của các nông, lâm trường nêu trên là đúng quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực tế tình hình quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh trong giai đoạn 2004-2014.
Theo báo cáo, tính đến ngày 31/6/2012, các nông trường, lâm trường, ban quản lý rừng và khu bảo tồn, vườn quốc gia quản lý gần 8 triệu ha. Trong đó, phần lớn diện tích đã được Nhà nước giao cho 642 nông, lâm trường quản lý, sử dụng.
Trong số gần 8 triệu ha, có hơn 5 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông, lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện sản xuất kinh doanh. Theo quy định pháp luật, Nhà nước không thu tiền sử dụng đối với phần diện tích này.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, quy định của pháp luật và thực tế việc không thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất đối với phần diện tích kể trên là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo Bộ Tài chính, khi chuyển từ hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (bao cấp về đất đai), sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, các nông, lâm trường gặp khó khăn do diện tích rừng, cây trồng chưa đến thời gian được khai thác, thu hoạch trong khi nguồn vốn của các nông, lâm trường thì hạn hẹp, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với nhà nước.
Bên cạnh đó, do thiếu kinh phí, các nông, lâm trường sau khi được chuyển đổi chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ rà soát đất đai, đo đạc cắm mốc giới, lập hồ sơ địa chính để chuyển sang thuê đất theo quy định. Đồng thời, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ ở nhiều nông, lâm trường còn hạn chế, vẫn còn mang tư tưởng bao cấp, chờ ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước nên ngại làm thủ tục chuyển sang thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất để tránh việc phải kê khai thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với nhà nước.
Bộ Tài chính cho rằng, để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh, vấn đề quan trọng là quản lý, sử dụng hiệu quả, đúng pháp luật đối với diện tích hơn 5 triệu ha (đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất các nông, lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích) giao đất nhưng không thu tiền sử dụng đất.
Ngoài ra, cần thực hiện cho thuê đất đối với diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định nhưng chưa thực hiện.
Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chỉ đạo việc thu nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đúng theo quy định đối với diện tích sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đã chuyển sang thuê đất (472.709 ha), giao đất có thu tiền sử dụng đất (2.029 ha). Trên cơ sở đó tạo ra sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng từ việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, tạo việc làm và thu nhập cho các hộ đồng bào người dân tộc ở địa bàn nơi có các nông, lâm trường.
Bên cạnh đó, để đánh giá được đầy đủ, khách quan hiệu quả sử dụng đất của các nông, lâm trường giai đoạn 2004-2014, thì cần thiết phải rà soát, xác định, cắm mốc giới và đo đạc ranh giới.
Trên cơ sở đó, tách các phần diện tích đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (diện tích sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh), diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất (diện tích đất rừng phòng hộ, đất sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không phục vụ kinh doanh) để làm thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. (Chính Phủ 15/10) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020. Trong đó đối tượng áp dụng là:
Hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng: Bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; trồng rừng, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất; nhận khoán bảo vệ rừng...
Theo nghị định, đối tượng rừng khoán bảo vệ được hỗ trợ gồm: Diện tích rừng Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là rừng tự nhiên Nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp quản lý; diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND cấp xã quản lý.
Hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn nêu trên được hỗ trợ tiền khoán bảo vệ rừng là 400.000 đồng/ha/năm, hưởng lợi từ rừng và thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước với hạn mức diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ  tối đa là 30ha 1 hộ gia đình.
Hộ gia đình thuộc đối tượng 1 nêu trên thực hiện bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được giao có trồng bổ sung với rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hỗ trợ bảo vệ rừng là 400.000 đồng/ha/năm; hỗ trợ trồng rừng bổ sung, mức hỗ trợ theo thiết kế - dự toán, tối đa không quá 1.600.000 đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600.000 đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. (Dân Việt 15/10) đầu trang(
Nhiều hộ dân ở huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế thoát nghèo nhờ trồng rừng.
Thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nên thời gian qua đã có nhiều khách hàng vay vốn trồng rừng được tiếp cận không chỉ nguồn vốn của các NHTM, mà còn cả vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP).
Nguồn vốn Dự án trồng rừng WB3 được Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức song phương tài trợ, giải ngân qua VBSP nhằm mục đích hỗ trợ phát triển ngành Lâm nghiệp đã mang lại hiệu quả rõ rệt tại nhiều địa phương, trong đó có một số huyện tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Chẳng hạn như tại địa bàn huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế), ngay từ khi thực hiện, địa phương đã phối hợp với ngành chức năng tiến hành quy hoạch đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời phối hợp cùng VBSP cho vay vốn.
Đến nay, sau 10 năm triển khai dự án WB3 tại 6 xã Lộc An, Lộc Bổn, Lộc Điền, Lộc Hòa, Lộc Sơn và Xuân Lộc, Phòng giao dịch VBSP huyện Phú Lộc đã giải ngân cho vay trên 16,2 tỷ đồng, giúp người dân trồng mới 1.526ha với 1.144 hộ tham gia. Các hộ dân đã đầu tư và sử dụng nguồn vốn vay đúng mục đích, xóa nghèo và vươn lên thành hộ khá.
Nhìn cơ ngơi khang trang của ông Hồ Đa Thê – Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn thôn Bến Ván, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc ít người biết rằng, để trở thành hộ khá giả như hiện nay, ông đã có hàng chục năm gắn bó với nghề trồng rừng.
Bản thân ông Thê cũng là Trưởng nhóm chứng chỉ rừng Bến Ván. Ông Thê kể: năm 2005, gần 200 hộ dân ở thôn Bến Ván và một vài thôn khác đã tham gia trồng rừng với diện tích khoảng 150ha. Nhiều hộ không có vốn đã được VBSP cho vay. Tham gia dự án, người dân được tập huấn trồng, chăm sóc, khai thác và cấp sổ đỏ đất rừng.
“Từ trồng rừng tự phát, đến nay hầu như nhà nào cũng có được diện tích rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế do Hội đồng quản trị Rừng thế giới (FSC) cấp chứng chỉ, nên thu nhập từ trồng rừng cũng khá” – ông Thê chia sẻ.
Ông Nguyễn Tiến ở thôn Bến Ván là một trong số những hộ trồng rừng cho biết,  từ đầu năm 2006, biết đến VBSP cho vay vốn trồng rừng, ông đã xin vay 5 triệu đồng để trồng 0,5 ha rừng. Sau 5 năm, sau khi trừ các chi phí ông Tiến còn thu lãi 30 triệu đồng.
Đến năm 2013, ông lại vay VBSP, nhưng lần này với mức 6,5 triệu đồng. Ông Tiến cho biết, nguồn vốn của VBSP được gia đình đầu tư mua giống, phân bón. Còn công chăm sóc thì mình bỏ ra nên cũng giảm được chi phí. Chắc chắn 2 năm nữa, cây được thu hoạch sẽ có lãi.
Cũng ở thôn Bến Ván còn có gia đình ông Ngô Đình Trường cũng được tiếp cận vốn vay của VBSP. Năm 2014 ông vay 15 triệu đồng để trồng 0,7 ha keo lai. Đây là lần thứ hai ông Trường vay vốn trồng rừng. Trước đó, năm 2006, ông đã được VBSP cho vay 7,5 triệu đồng theo nguồn vốn WB3, sau 5 năm thu hoạch, trừ các chi phí ông còn lãi 35 triệu đồng.
Theo tính toán của các hộ vay vốn trồng rừng, 1 ha đất có thể trồng khoảng 1.650 cây. Chi phí cho tiền giống khoảng 1,6 triệu đồng, chi phí chăm sóc khoảng trên 10 triệu đồng. Do đó, nếu người nhà bỏ công chăm sóc, không phải thuê thì mỗi ha rừng keo có thể lãi 70 triệu đồng qua 5 năm. Ngoài ra, xen kẽ với cây keo, mỗi năm trồng thêm một vụ sắn cũng thu được 3 triệu đồng.
Ông Bạch Văn Thanh – Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Bổn cho biết, cả xã có 3.600 hộ, hơn 15.000 nhân khẩu. Trong đó, có 359 hộ vay vốn VBSP, dư nợ 1,9 tỷ đồng, rất nhiều hộ vay vốn để trồng rừng. Có thể nói, nguồn vốn của VBSP với nhiều chương trình như cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo… đã hỗ trợ người dân sản xuất kinh doanh vươn lên thoát nghèo.
Theo ông Lê Quang Thắng - Giám đốc Phòng giao dịch VBSP huyện Phú Lộc, nhiều hộ tham gia dự án WB3 hiện có thu nhập cao từ trồng rừng. Bên cạnh đó, qua dự án này người dân đã nâng cao nhận thức và tham gia trồng rừng bền vững, bảo vệ môi trường.
Người dân đã biết áp dụng các biện pháp trồng và chăm sóc rừng, từ đó diện tích rừng ngày càng phát triển, đạt năng suất cao, tăng thêm thu nhập. Có thể nói, dự án WB3 thực hiện tại huyện Phú Lộc đã đem lại hiệu quả cụ thể, thiết thực, góp phần tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng dự án, tăng thêm độ che phủ rừng. (Thời Báo Ngân Hàng 15/10) đầu trang(
Theo Báo cáo số 314/BC-CP ngày 25/6/2015 của Chính phủ tính đến ngày 31/6/2012, các nông trường, lâm trường, ban quản lý rừng và khu bảo tồn, vườn quốc gia quản lý 7.996.467 ha (trong đó 7.599.580 ha đã được Nhà nước giao cho 642 nông, lâm trường quản lý.
Theo Báo cáo số 314/BC-CP ngày 25/6/2015 của Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014, tính đến ngày 31/6/2012, các nông trường, lâm trường, ban quản lý rừng và khu bảo tồn, vườn quốc gia quản lý 7.996.467 ha (trong đó 7.599.580 ha đã được Nhà nước giao cho 642 nông, lâm trường quản lý, sử dụng); cụ thể, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần diện của các nông, lâm trường được Nhà nước giao quản lý, sử dụng như sau:
Có 5.143.653 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông, lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện sản xuất kinh doanh được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai năm 2003 giao cho 284 ban quản lý, vườn quốc gia, khu bảo tồn. Quy định của pháp luật và thực tế không thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất đối với phần diện tích này là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Có 472.709 ha chuyển sang hình thức thuê đất giao cho 112 nông, lâm trường; 2.029 ha chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất giao cho 4 nông, lâm trường, diện tích này đóng góp chủ yếu số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của các nông, lâm trường trong giai đoạn 2004 - 2014.
Tuy nhiên, trong thực tế, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp là lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc đặc biệt ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đầu tư, phần lớn các nông, lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các nông, lâm trường quốc doanh bên cạnh việc đảm bảo ý nghĩa về hiệu quả sử dụng đất thì cũng có ý nghĩa về quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tại các địa bàn có nông, lâm trường.
Ngoài ra, một số nông, lâm trường sau khi được sắp xếp, chuyển sang thuê đất và có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thuộc đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005, Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ thì được miễn tiền thuê đất một số năm, mức miễn tùy theo địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư (từ 7 năm đến 15 năm), vì vậy những trường hợp này không phát sinh nghĩa vụ tài chính về đất trong thời gian được hưởng chính sách ưu đãi.
Trong giai đoạn 2004 - 2014, theo số liệu báo cáo chưa đầy đủ của 48 cục thuế địa phương về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của các nông, lâm trường (trong đó có 42 địa phương có số liệu về số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; 6 địa phương không có số liệu (chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất của các nông, lâm trường) thì tổng số tiền thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai của các nông, lâm trường khoảng 1.927,9 tỷ đồng.
Trong đó, tổng số tiền sử dụng đất phải nộp là 47,46 tỷ đồng (số tiền đã nộp khoảng 27,31 tỷ đồng, số tiền sử dụng đất còn nợ khoảng 20,21 tỷ đồng) và tổng số tiền thuê đất mà các nông, lâm trường phải nộp khoảng 1.880,5 tỷ đồng (tiền thuê đất đã nộp khoảng 1.694,7 tỷ đồng và số tiền thuê đất còn nợ khoảng 219,4 tỷ đồng). Số liệu thu nộp nghĩa vụ tài chính của các nông, lâm trường nêu trên là đúng quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực tế tình hình quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh trong giai đoạn 2004 - 2014.
Hiện có 1.981.189 ha giao cho 242 nông, lâm trường quản lý thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai năm 2003 nhưng các nông, lâm trường chưa làm các thủ tục liên quan để được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định.
Mặt khác, khi chuyển từ hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (bao cấp về đất đai) sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật Đất đai năm 2003, theo phản ánh thì các nông, lâm trường gặp khó khăn do diện tích rừng, cây trồng chưa đến thời gian được khai thác, thu hoạch trong khi nguồn vốn của các nông, lâm trường thì hạn hẹp dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với Nhà nước.
Bên cạnh đó, do thiếu kinh phí các nông, lâm trường sau khi được chuyển đổi chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ rà soát đất đai, đo đạc cắm mốc giới, lập hồ sơ địa chính để chuyển sang thuê đất theo quy định; đồng thời, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ ở nhiều nông, lâm trường còn hạn chế, vẫn còn mang tư tưởng bao cấp, chờ ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước nên ngại làm thủ tục chuyển sang thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất để tránh việc phải kê khai thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với Nhà nước.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh thì vấn đề quan trọng là quản lý, sử dụng hiệu quả, đúng pháp luật đối với diện tích 5.143.653 ha (đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất các nông, lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích) giao đất không thu tiền sử dụng đất của các ban quản lý, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý; thực hiện cho thuê đất đối với diện tích 1.981.189 ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định nhưng chưa thực hiện; chỉ đạo việc thu nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đúng theo quy định đối với diện tích sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đã chuyển sang thuê đất (472.709 ha), giao đất có thu tiền sử dụng đất (2.029 ha), trên cơ sở đó tạo ra sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng từ việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, tạo việc làm và thu nhập cho các hộ đồng bào người dân tộc ở địa bàn nơi có các nông, lâm trường.
Bên cạnh đó, để đánh giá được đầy đủ, khách quan, hiệu quả sử dụng đất của các nông, lâm trường giai đoạn 2004 - 2014 thì cần thiết phải rà soát, xác định, cắm mốc giới và đo đạc ranh giới, trên cơ sở đó tách các phần diện tích đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (diện tích sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh), diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất (diện tích đất rừng phòng hộ, đất sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không phục vụ kinh doanh) để làm thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 16/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo số liệu của Trung tâm Cứu hỏa liên cơ quan quốc gia Mỹ (NIFC) công bố hôm 14/10, tính từ đầu năm đến nay tại Mỹ đã ghi nhận 51.110 vụ cháy rừng, thiêu trụi hơn 4,5 triệu ha rừng, lớn hơn cả diện tích của đất nước Đan Mạch.
Các vụ cháy rừng nghiêm trọng tại miền Tây nước Mỹ đã khiến năm 2015 trở thành năm bị thiệt hại nặng nề nhất do "giặc lửa" kể từ năm 1960 của thế kỷ trước.
Theo số liệu của Trung tâm Cứu hỏa liên cơ quan quốc gia Mỹ (NIFC) công bố hôm 14/10, tính từ đầu năm đến nay tại Mỹ đã ghi nhận 51.110 vụ cháy rừng, thiêu trụi hơn 4,5 triệu ha rừng, lớn hơn cả diện tích của đất nước Đan Mạch. Điều này đồng nghĩa cứ trung bình mỗi đám cháy lại thiêu trụi 88 ha rừng.
Mặc dù con số này dự kiến sẽ còn tăng cao trong những tháng cuối năm, song cũng đã đủ khiến năm 2015 trở thành năm đầu tiên có diện tích cháy rừng vượt quá 4 triệu ha trong vòng ít nhất 55 năm qua.
Mùa cháy rừng gây thiệt hại lớn gần đây nhất là hồi năm 2006 khi xảy ra tổng cộng 84.578 vụ cháy, khiến hơn 3,6 triệu ha rừng bị thiêu hủy.
Thống kê của NIFC cũng phản ánh một xu hướng lâu dài đáng lo ngại. Theo đó, kể từ năm 1960 và đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nước Mỹ trung bình ghi nhận hơn 100.000 vụ cháy/năm, song diện tích rừng bị thiêu rụi chưa bao giờ vượt quá 2,2 triệu ha.
Tuy nhiên, giai đoạn 2000 - 2014 dù chỉ 2 lần ghi nhận tổng số vụ cháy vượt quá 90.000 vụ, song 9 trong tổng số 14 năm này lại có tổng diện tích rừng bị thiêu trụi vượt quá 2,2 triệu ha. Thiệt hại tăng lên do hoạt động của người dân, mở rộng việc xây dựng nhà ở tại các khu vực trong hoặc gần các khu rừng và đặc biệt tình trạng biến đổi khí hậu khi các mùa trong năm ngày càng nóng và khô hơn.
Những tác động trên được minh chứng rõ ràng nhất trong năm nay, khi các đám cháy đã tàn phá bang California - vốn đang bị nạn hạn hán hoành hành - và các bang miền Tây khác.
Bang California đang trải qua năm thứ tư của đợt hạn hán tồi tệ nhất trong hàng thập kỷ qua, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống sinh hoạt của người dân. Giới chuyên gia cho rằng biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân gây cháy rừng, trong khi nhiều nhà khoa học dự báo cuối thế kỷ này, cháy rừng trên diện rộng sẽ trở nên thường xuyên. (Chính Phủ 15/10) đầu trang(
Hôm 15-10, Trung Quốc ban hành lệnh cấm nhập khẩu ngà voi châu Phi trong 1 năm, nhằm chống nạn săn trộm và buôn bán động vật hoang dã, Tân Hoa Xã cho biết.
Trang web Cục Lâm nghiệp Nhà nước (SFA) của Trung Quốc thông báo sẽ ngừng cấp giấy phép nhập khẩu cho đến ngày 15-10-2016.
Hồi tháng 2, Trung Quốc cũng đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm chạm khắc bằng ngà voi châu Phi trong 1 năm và SFA cho biết đang xem xét có quyết định gia hạn lệnh cấm hay không.
Buôn bán sản phẩm chạm khắc bằng ngà voi là hợp pháp ở Trung Quốc nếu phù hợp quy định. Ngà voi chỉ có thể đến từ 2 nguồn, từ các mặt hàng nhập khẩu trước khi Trung Quốc tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) vào năm 1981 và từ 62 tấn ngà voi thô mua của 4 quốc gia châu Phi vào năm 2008, theo sự cho phép của CITES. Ngà voi thô và các sản phẩm ngà voi phải được xử lý đúng nơi quy định, bán ở các cửa hàng nhất định và được theo dõi riêng. Mỗi sản phẩm hợp pháp đều được xếp vào danh mục và có thể truy nguồn gốc.
Tuy nhiên, theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ ngà voi lớn nhất thế giới. Nhu cầu gia tăng của Trung Quốc với ngà voi nhập lậu, làm đồ trang sức và trang trí, đã thúc đẩy làn sóng săn bắt voi ở châu Phi.
Hồi tháng 6, một bộ trưởng chính phủ Tanzania cho rằng săn trộm voi là một thảm họa quốc gia và kêu gọi Trung Quốc kiềm chế nhu cầu ngà voi. Ngày 7-10, Tanzania đã truy tố một nữ doanh nhân Trung Quốc là Yang Feng Clan, 66 tuổi, mệnh danh "nữ hoàng ngà voi", cầm đầu đường dây buôn lậu gần 1,9 tấn ngà voi trị giá 2,7 triệu USD.
Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Tập Cận Bình hồi tháng trước, 2 nước đã cam kết cấm gần như hoàn toàn việc xuất nhập khẩu ngà voi, bao gồm hạn chế đáng kể ngà voi từ săn bắn và ngăn chặn buôn bán ngà voi trong nước. (Sài Gòn Giải Phóng 15/10) đầu trang(
Mặc dù bị chặt mất đầu, nhưng con trăn vẫn giãy dụa trong chậu nước nóng suốt hơn 1 phút.
Đoạn video dài 1 phút 23 giây ghi lại cảnh tượng một con trăn bị chặt đầu giãy dụa trong chậu nước nóng. Sau khi con trăn dài khoảng 3,6 m thoát ra ngoài, một người đàn ông đã đưa nó trở lại chậu và một người đàn ông khác tiếp tục đổ nước nóng vào chậu.
Cảnh tượng được cho là quay tại huyện Tiên Du, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Người quay đoạn video cho biết người dân địa phương đã săn được một con trăn Miến Điện và đang chế biến làm món nhậu.
Từ khi được đăng tải lên mạng xã hội Weibo ở Trung Quốc, đoạn video đã thu hút được hàng nghìn lượt chia se và 15.000 bình luận với những ý kiến khác nhau.
Phần lớn cư dân mạng Trung Quốc cảm thấy kinh hãi với hành động tàn ác này. Nhưng một số người cho rằng con trăn có thể gây nguy hiểm cho những người dân địa phương và nó đang bị giết.
Cơ quan lâm nghiệp địa phương đã xác nhận con trăn bị giết là động vật được bảo vệ ở Trung Quốc và cảnh sát đát đang truy tìm người đàn ông giết hại con trăn. (24 Giờ 16/10; Dân Việt 16/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang