|
Ngày 15 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trong lúc đang ngồi nhậu, Tuấn đã bàn với Kiều rồi đến Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm (xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) “xin” gỗ. Khi không được cán bộ của ban quản lý đồng ý, cả 2 xông vào đuổi đánh rồi cướp gỗ.
Chiều 14/10, TAND huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) tổ chức mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo Phan Anh Tuấn (SN 1988) và Lê Khắc Kiều (SN 1986) cùng trú tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) về tội “Cướp giật tài sản”.
Theo cáo trạng, sáng ngày 7/6 trong lúc uống bia thì Tuấn bàn bạc với Kiều đến Ban QLR phòng hộ Sông Tiêm (đóng tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) lấy gỗ mà đơn vị này đã thu giữ được của người dân khai thác trái phép trước đó.
Đến khoảng 12h trưa cùng ngày, Tuấn lấy xe máy của Kiều mang BKS 38H2 - 5794 chở nhau đến Ban QLR phòng hộ Sông Tiêm thì gặp anh Đặng Sỹ Thắng (cán bộ Ban QLR phòng hộ Sông Tiêm) đang trực bảo vệ tại đó.
Tuấn dừng xe xin anh Thắng 2 khúc gỗ nhưng anh Thắng không đồng ý. Sau đó, Tuấn lại đi vòng ra phía sau để tiếp tục thực hiện ý đồ lấy gỗ thì bị anh Thắng phát hiện, ngăn cản. Bất ngờ, Tuấn dùng tay đấm vào người anh Thắng. Bị tấn công, anh Thắng liền chạy vào phòng lấy 1 con dao, 1 tuýp sắt chạy ra thì Tuấn và Kiều lấy gạch đuổi ném.
Do sợ hãi anh Thắng đã chạy vào phòng đóng cửa lại nhưng Tuấn và Kiều vẫn tiếp tục dùng gạch ném vào chổ anh Thắng. Sau đó, Tuấn và Kiều đi lại lấy 2 khúc gỗ de tròn thuộc nhóm IV (1 khúc rộng 75cm, dài 2,4m; 1 khúc rộng 73cm, dài 1,8m) có giá trị 828 ngàn đồng rồi cùng nhau đưa từng khúc qua hàng rào ra đường.
Thực hiện xong Tuấn gọi điện cho anh Lê Khắc Dũng ở cùng xã đưa xe kéo đến bốc 2 khúc gỗ nói trên để chở về. Đi được khoảng 1 km thì Tuấn và Kiều sợ bị cơ quan chức năng xử lý nên bảo với anh Dũng chở gỗ quay lại Ban QLR phòng hộ Sông Tiêm để rồi quay về.
Sau đó, sự việc đã được báo lên cơ quan chức năng huyện Hương Khê. Tại cơ quan điều tra, Tuấn và Kiều đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Vật chứng cơ quan chức năng thu giữ gồm 1 con dao bằng sắt, dài 42cm; 1 tuýp sắt dài 85cm; 2 viên gạch màu đỏ và 2 khúc gỗ de tròn.
Tuấn và Kiều bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê truy tố về tội Cướp giật tài sản.
Chiều ngày 14/10, TAND huyện Hương Khê đã mở phiên tòa xét xử và tuyên án phạt Phan Anh Tuấn 90 tháng tù giam, Lê Khắc Kiều 84 tháng tù giam. Riêng Lê Khắc Dũng, người dùng xe kéo chở 2 khúc gỗ do không biết Tuấn và Kiều thực hiện hành vi phạm tội nên không xử lý. (Dân Trí 15/10; Công Lý 15/10; Người Lao Động 15/10) đầu trang(
Số gỗ này được lực lượng kiểm lâm phát hiện tập kết tại thôn 6, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My (thuộc rừng phòng hộ Sông Tranh).
Ngày 14-10, UBND tỉnh Quảng Nam có quyết định tịch thu 48 phách gỗ xẻ thuộc nhóm VI, khối lượng gần 11m3 do không xác định được chủ sở hữu.
Trước đó ngày 23-9, Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam truy quét cũng phát hiện một bãi tập kết gỗ với khối lượng gỗ rất lớn tại khu rừng thôn 2, xã Trà Bui.
Điểm tập kết gỗ này gồm 124 phách gỗ đã được cưa xẻ với khối lượng hơn 25m3, thuộc nhóm III, nhóm VI. (Tuổi Trẻ 15/10) đầu trang(
“Lâm tặc” đã dùng rựa chặt đứt bè gỗ thả chìm xuống sông hòng tẩu tán tang vật rồi nhảy xuống sông tẩu thoát trong đêm tối.
Ngày 14/10, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV Công an tỉnh Quảng Nam cho biết, đã phối hợp cùng cơ quan Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam trục vớt được 27 phách gỗ (hơn 4,5m³) từ nhóm III đến nhóm VI dưới đáy sông Yên, thuộc khu vực Bến Hống, thôn Tích Phú, xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, để xử lý theo pháp luật.
Trước đó, rạng sáng 10/10, tổ công tác của đơn vị tuần tra trên sông Yên đã phát hiện một ca nô loại nhỏ đang neo kéo một bè gỗ tại địa phận trên. Khi phát hiện tổ công tác, các đối tượng “lâm tặc” đã dùng rựa chặt đứt bè gỗ thả chìm xuống sông hòng tẩu tán tang vật rồi nhảy xuống sông tẩu thoát trong đêm tối. (Công An Nhân Dân 15/10) đầu trang(
“Rừng không chỉ cho dân làng mọi thứ, cho con thú có chỗ ở, con chim có cành đậu, con suối không bị cạn nước... mà còn cho con cháu mai sau. Bác Hồ đã dạy “rừng là vàng” mà” - già K’Rế khảng khái nói và quyết tâm giữ rừng cho con cháu.
Như bao gia đình người Lạch dưới chân núi Langbiang, ngôi nhà nhỏ của già K’Rế ở thị trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng cũng đơn sơ, giản dị lắm. Đã hơn 75 tuổi, nhưng già vẫn còn rất nhanh nhẹn, minh mẫn. Chúng tôi hỏi “bí quyết nào giúp già sống khỏe vậy?”, già trả lời ngắn gọn “ngày nào cũng đi bộ vào rừng như tập thể dục nên khỏe thôi”.
Được biết, năm 1995 già K’Rế bắt đầu nhận khoán và bảo vệ rừng thuộc Vườn quốc gia (VQG) Bidoup - Núi Bà. Sau ba năm gắn bó với công việc, năm 1998 già được cử làm công việc chuyên trách, phụ trách tiểu khu 100, 113 và 114 rộng khoảng 3.000ha; quản lý 11 tổ bảo vệ rừng với 30 tổ viên.
Đảm nhận công việc trên một diện tích rừng rộng lớn như vậy nên những ngày tháng của già là đi rừng, ngủ rừng. Già kể, “hành trang mang theo mỗi lần lên rừng chỉ mỗi một chiếc gùi nhỏ đã có sẵn bộ quần áo, áo mưa, một ít gạo, nồi cơm và cây xà gạc quen thuộc”.
Già K’Rế nói tiếp: “Năm 2000, một mắt phải của tôi cứ mờ dần. Sợ hỏng mắt không đi rừng được nữa thì buồn lắm. Các anh bên VQG khuyên tôi nên ở nhà và hướng dẫn cho bà con cách giữ rừng là được. Nhưng thật may mắn, con mắt còn lại vẫn không sao, tôi mang kính và vẫn có thể đi rừng. Ngày đầu chưa quen, hơi khó khăn, bây giờ thì quen rồi. Ông trời giữ cho tôi con mắt còn lại là giúp tôi lại được giữ rừng đấy cô ạ”.
Sau gần 20 năm gắn bó với những cánh rừng xa, khi tuổi đã về già, Ban quản lý VQG cho phép già về nghỉ ngơi, song “không đi rừng tôi sẽ buồn lắm”, già xin về quản lý bảo vệ rừng ở gần nhà. Già K’Rế nhận nhiệm vụ làm Tổ trưởng Tổ 30 gồm 7 tổ viên, quản lý 209ha thuộc tiểu khu 145B, dưới chân núi Bà.
Anh Trần Văn Tỉnh - Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Núi Bà, tươi cười nói về người “đồng nghiệp” đặc biệt của mình rằng: “Ông ấy làm cán bộ chuyên trách khu vực Langbiang của VQG hơn 20 năm rồi đấy. Riêng tôi đã làm việc với ông ấy từ năm 2005 kìa, 10 năm qua đã có không biết bao nhiêu lần tôi có dịp cùng ông K’Rế đi rừng, ăn rừng, ngủ rừng. Là người có tâm huyết với nghề, ông ấy là người duy nhất làm chuyên trách bảo vệ rừng được thời gian dài như vậy”.
Anh Tỉnh kể: “Đêm hôm mưa gió có việc huy động là ông ấy đi ngay. Có khi bọn phá rừng hoạt động cả vào ban đêm. Bởi vậy, già K’Rế và bà con cùng kiểm lâm đi gác rừng cả đêm là chuyện thường xuyên. Có hôm ông ấy còn bảo “các anh cứ ở trạm tôi đi trước cho rồi có gì tôi báo, tôi biết nhiều đường tắt người ta khó phát hiện hơn”. Có những đêm ông cùng chúng tôi đi đến 12 giờ đêm chưa về”.
Khi tôi hỏi ông K’Rế đã lớn tuổi, lại hỏng một mắt thì sao, anh Tỉnh khẳng định ngay “không, ông ấy vẫn rất khỏe và tinh tường lắm. Mùa khô cũng như mùa mưa ông vẫn đi và nằm lại trong rừng dài ngày để kiểm tra khắp lượt”. Gắn bó 20 năm làm công tác bảo vệ rừng nên rừng ở đây chỗ nào cũng có chân ông.
Phát hiện thấy lâm tặc, ông và bà con đã chỉ đường tắt cho kiểm lâm đi bắt. Ông và bà con là con mắt của rừng và của cả kiểm lâm. 20 năm qua, mỗi lần mùa khô đến, ông K’Rế cùng bà con mang cả cơm lên rừng canh lửa tận khuya mới về. Vừa về thấy có lửa cháy lại chạy lên ngay, không biết bao đêm ông và bà con thao thức vì rừng.
“Làm việc này nhiều khi cũng khó xử lắm, nhất là khi chính bà con mình lại đi phá rừng. Mỗi khi gặp ai đó phá rừng, mình không bao giờ chửi bới người ta bởi đôi khi họ cũng vì mưu sinh thôi mà. Mình chỉ khuyên anh em đừng nên phá rừng nữa, rừng là tài sản của Nhà nước. Mình giữ rừng, bảo vệ rừng là bảo vệ cho chính mình, chính con cái mình sau này đấy” - già K’Rế nói.
Bà con quanh vùng kể lại, từ năm 1996 đến năm 2000 có không biết bao nhiêu lần, có những nhóm người chặn đường già K’Rế đi rừng về hay đến tận nhà ông rồi thét lớn “tại sao mày dám cấm tao xẻ gỗ”. Vợ con hoảng sợ, hàng xóm đến kín nhà. Già nhẹ nhàng nói, “rừng là của Nhà nước, Nhà nước thuê tôi giữ rừng, đó là nhiệm vụ của tôi. Anh phá rừng là sai rồi”.
Bà Cil Prợt - vợ già K’Rế đã bao ngày khóc ròng vì người ta đến nhà chửi bới đòi đánh chồng mình, cũng bao ngày bao đêm bà lo lắng trằn trọc vì ông đi rừng chưa thấy về. “Có lúc sợ quá cũng khuyên ông nghỉ nhưng ông không chịu nên tôi chỉ biết lo bữa cơm miếng nước để ông ấy có sức mà đi rừng”, bà tâm sự.
Được biết, thời gian ông K’Rế làm công tác bảo vệ rừng không biết bao nhiêu lần bị đe dọa. Có người còn bảo với ông, “người bà con với nhau mà không giúp lại đi giúp người ngoài” hay “sau này ông chết thì kiểm lâm khênh ông đi chứ chúng tôi không khênh ông đi”, nhưng ông vẫn nhận thức rõ ràng rằng, bảo vệ rừng là trách nhiệm mà ông phải hoàn thành. Tuy nhiên, đấy chỉ là suy nghĩ của những người phá rừng, còn lại đa số bà con ai cũng yêu quý ông vì ông đang làm việc đúng. Mà đúng như thế thật, ông K’Rế là người rất uy tín ở đây.
Anh Tỉnh cho biết, mỗi khi mùa khô có cháy rừng, chỉ cần già K’Rế lên tiếng huy động thì có khoảng hơn 100 bà con tham gia dập lửa. “Càng làm nhiều thì càng động chạm nhiều nên muốn làm được việc này lâu dài và hiệu quả như vậy là cả một sự nỗ lực rất lớn của ông K’Rế. Có người làm chuyên trách chỉ ba tháng là xin nghỉ vì không chịu nổi áp lực” - anh Tỉnh khẳng định.
Nghe nói, đối với hầu hết anh em kiểm lâm ở đây, già K’Rế là cả kho kinh nghiệm đi rừng. Chính già là người dạy cho họ cách tìm địa điểm cắm trại qua đêm; kinh nghiệm tìm rau rừng, trái rừng mùa nào, khu vực nào nhiều nhất; cách bắt cá suối… Già vẫn thường dạy kiểm lâm cách phân biệt đường sá trong rừng.
Năn nỉ mãi già K’Rế cũng mới tiết lộ cho chúng tôi một ít kinh nghiệm giữ rừng của bản thân: “Khi đi vào rừng, phải chú ý lắng nghe, nếu có tiếng máy cưa thì báo cho kiểm lâm ngay. Mình là người của rừng, mình quen nhiều đường tắt, phải chỉ để các anh kiểm lâm biết đường đến khu rừng bị phá nhanh hơn. Các khu vực đi kiểm tra trong ngày phải tuyệt đối bí mật, không được nói với ai. Tôi chỉ nói cho cô biết đôi chút thế thôi chứ rừng nhiều bí ẩn, lâm tặc thì nhiều mưu mô, cuộc đấu tranh giữ rừng còn dài, còn cam go, phải trực tiếp tham gia rồi sẽ có những kinh nghiệm không nói nên lời. Nó như bản năng giữ rừng vậy”.
Người đàn ông già có vóc dáng nhỏ bé trước mắt tôi lúc này thật lớn lao; chẳng khác nào người chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ cho màu xanh của rừng.
Già K’Rế tâm sự, “rừng càng gần lại càng khó quản lý cô ạ. Vì bà con đi làm tiện thể chặt gỗ làm củi, làm nhà. Rừng gần khu vực sản xuất của bà con nên thi thoảng vẫn có tình trạng chặt thông, dời bờ rào lấn chiếm đất rừng thành đất sản xuất”. Bởi vậy, phải vào rừng mỗi ngày và làm tốt công tác tuyên truyền cho bà con mới mong giữ rừng được.
Tôi may mắn được một lần đi rừng cùng già K’Rế. Già hơi ngần ngại vì “cô không quen không đi nổi đâu”. Tôi quả quyết “cháu còn trẻ mà, cháu đi được”. 30 phút trôi qua tôi bắt đầu thấy cái “trẻ” của mình không đấu nổi với dốc núi. Vậy mà già K’Rế đi trước vẫn sảng khoái nói chuyện với mọi người, thi thoảng ông lại cất lời hát một bài hát bằng tiếng người bản địa.
Nghe bà con trong tổ bảo vệ rừng này bảo, đấy là bài hát “Núi Bà của tôi” khi nào đi rừng già K’Rế cũng hát. Tôi đi chậm nhất trong đoàn, già K’Rế đi lùi lại nói chuyện với tôi để xua đi cái mệt. Già nói về những loại rau rừng và cách chế biến chúng, nhất là cách ăn những loại rau đặc biệt trong rừng mà bà con gọi là “rau cấm”.
Khi mọi người ngồi nghỉ ngơi, già chỉ đứng và chống cây xà gạc vào sau lưng. Già bảo “đứng thế này khỏe hơn, chứ giờ già rồi, ngồi xuống rồi đứng lên đi tiếp thì mệt lắm”. Trên đường đi vào sâu trong rừng có lúc già quay lại nói với tôi, “vậy là người ta đã vào tận đây rồi. Chúng đã chặt một nhát dao vào cây để đánh dấu”. Vào rừng sâu, có lúc đi qua nhiều lá rụng ẩm ướt, già lại bảo mọi người dừng lại kiểm tra xem ai “thu hoạch” được nhiều vắt nhất. Những người đi rừng kiểm tra vắt cắn và đó trở thành đề tài vui đùa của họ.
Còn với tôi, già ôn tồn bảo: “Cô ở ngoài phố lâu lâu mới vào rừng nên vắt nó hỏi thăm. Còn chúng tôi đi rừng quen rồi nên vắt có chào đâu”. Câu nói của già khiến mọi người cười sảng khoái mà quên đi cái mệt giữa rừng sâu.
Đi mấy tiếng đồng hồ trong rừng rồi già bảo với tôi đến đây là hết phạm vi quản lý bảo vệ của tổ mình rồi. Giữa bạt ngàn cây chẳng thấy cột mốc hay ranh giới nào, không hiểu làm sao già biết. Già K’Rế cười và bảo, “mình xem bản đồ đếm xem diện tích mình quản lý bắt đầu từ đâu, qua mấy con suối, mỗi lần đi kiểm tra mình cứ căn cứ vào các con suối là biết ngay. Với lại đi hàng ngày nên rừng giống lòng bàn tay ấy mà”.
Anh Cơ Liên Ha Long, thành viên tổ 30, khoe: “Trước đây rừng là của chung, “cha chung nên chẳng ai khóc” mạnh ai người nấy vào phá rừng, nhưng giờ khác rồi, nhận khoán và bảo vệ rừng rồi phải có trách nhiệm bảo vệ như giữ của nhà mình. Chỉ cần “nghe hơi” lâm tặc vào rừng bất kể ngày, đêm lập tức từ già đến trẻ đều chạy lên để đuổi chúng”.
Còn anh Liêng Hót Khim thì nói, “dân làng nghe lời già K’Rế, khước từ lời mua chuộc của lâm tặc quyết giữ rừng thôi”.
Ông K’Rế có 6 người con; 4 gái, 2 trai. Cậu con trai trưởng của ông K’Rế là anh K’Huy hiện cũng đang là kiểm lâm viên thuộc Trạm kiểm lâm Bidoup thuộc VQG Bidoup Núi Bà. Huy kể, “Hồi nhỏ theo cha vào rừng rồi cha dạy cho cách đi rừng. Cũng nhờ cha mà mình gắn bó và yêu rừng”. Anh em kiểm lâm còn nói đùa “K’Huy từ già K’Rế mà ra, rồi yêu rừng cũng bắt đầu từ già K’Rế đấy”.
Với những đóng góp lớn suốt 20 năm qua trong việc giữ rừng, già K’Rế đã nhận được nhiều bằng khen của tỉnh, của huyện, của VQG. Nhưng có lẽ điều ý nghĩa nhất với già là khi không chỉ là “người chỉ huy” của bà con nhận khoán bảo vệ rừng mà già còn được bà con mệnh danh là “con mắt giữ rừng của Langbiang”. (Người Lao Động 15/10) đầu trang(
Với những người yêu thiên nhiên, thích trải nghiệm, Vườn Quốc gia Bạch Mã là địa điểm lý tưởng không thể bỏ qua trong hành trình khám phá vùng đất cố đô.
Từ thành phố Huế, theo Quốc lộ 1A khoảng 40 cây số về phía Nam đến thị trấn Cầu Hai, huyện Phú Lộc, sau đó rẽ phải khoảng 4 cây số, du khách sẽ đến Vườn Quốc gia Bạch Mã. Là điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên Huế, Vườn Quốc gia Bạch Mã có rất nhiều nơi để tham quan như: Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài… với vẻ đẹp thiên nhiên như một bức tranh thủy mặc và bầu không khí trong lành, mát mẻ.
Trước khi đến thăm Vườn Quốc gia Bạch Mã, được Hướng dẫn viên kể rằng: một ngày ở Bạch Mã có bốn mùa, song chúng tôi chưa tin. Nhưng quả thật, có đi mới biết, mới tin vì Bạch Mã nằm ở phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc kéo dài từ biên giới Việt Nam - Lào ra tận Biển Đông, ở độ cao 1.450m so với mực nước biển nên Vườn Quốc gia này sở hữu khí hậu 4 mùa trong một ngày.
Từ chân núi Bạch Mã, du khách có hai sự lựa chọn để bắt đầu chương trình du lịch. Hoặc là tự đi bộ lên núi hoặc sẽ thông qua một phương tiện vận chuyển duy nhất là ô tô với giá 900.000 đồng/chuyến vừa đi vừa về. Đường lên đỉnh Bạch Mã khá quanh co và dốc. Càng lên cao, không khí trở nên lạnh hơn và khung cảnh núi rừng hiện ra cũng đẹp hơn.
Theo anh Trương Cam, Kiểm lâm viên Vườn Quốc gia Bạch Mã, trong hơn 22.000 héc-ta diện tích tự nhiên, Vườn Quốc gia Bạch Mã có tới 16.900 héc-ta rừng nguyên sinh che phủ với hơn 1.700 loài thực vật, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: trò chỉ, kiền, giẻ hương, gõ, tùng... nhiều cây đường kính 80 - 100cm và trên 300 loài cây thuốc quý như: ba gạc, bình vôi, lá khôi, cây 7 lá 1 hoa... Hệ động vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã có tới 931 loài, bao gồm 83 loài thú, trong đó có nhiều loài quý hiếm.
Anh Trương Cam giới thiệu thêm về một số loài động - thực vật đặc hữu của vườn: "Mảng thực vật ở đây có cây đỉnh tùng, có trong Sách Đỏ Việt Nam, phân bố ở độ cao từ 1.000m trở lên, ở vườn hiện còn 3 cá thể thôi. Cây pơ mu, du sam, dẻ, trong đó có một số cây mang tên Bạch Mã: Cơm Bạch Mã, Tùng Bạch Mã, Thông Nàng Bạch Mã… có 69 loài được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Động vật thì có 15 loài đặc hữu như: trĩ sao và gà lôi lam mào trắng. Vườn đang chiếm ưu thế về họ móng guốc là mang và nai…voọc ngũ sắc, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài; gấu ngựa và gấu chó.
Chính sự đa dạng, phong phú về hệ động, thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã nên rất nhiều công ty du lịch đã thiết kế tour đến Bạch Mã để đáp ứng nhu cầu của du khách.Ông Nguyễn Quốc Thành - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Du lịch Hương Giang, một trong những đơn vị tổ chức tour “Trải nghiệm Vườn Quốc gia Bạch Mã” cho biết: "Vườn Quốc gia Bạch Mã là điểm đến vô cùng hấp dẫn. Vườn còn giữ được rất nhiều hệ động thực vật rất phong phú và gần như còn nguyên vẹn, chúng tôi cũng phối hợp với Vườn Quốc gia Bạch Mã để tổ chức các chương trình đưa khách du lịch lên tham quan, đây là chương trình du lịch sinh thái. Khi du khách đến Bạch mã thì có thể lên đỉnh cao nhất, ở đó có Vọng Hải Đài, chỗ để quan sát cảnh quan môi trường vì từ Bạch Mã có thể nhìn đến tận Lăng Cô, biển Cảnh Dương, rồi chúng tôi có những tour đưa khách đi tham quan động thực vật ở trong rừng, tắm suối, thưởng thức các món ăn vùng cao."
Đến với Vườn Quốc gia Bạch Mã, du khách sẽ có dịp khám phá những tuyến đường mòn thiên nhiên kỳ thú như: đường mòn Trĩ Sao dẫn đến thác Trĩ Sao - nơi có nhiều chim trĩ sao sinh sống; đường mòn Đỗ Quyên dẫn đến thác Đỗ Quyên, quanh năm tung bọt trắng xóa xuống các khe suối; đường mòn Ngũ Hồ dẫn đến 5 hồ nước nằm nối tiếp nhau được hình thành từ một con suối lớn; đường mòn Vọng Hải Đài dẫn đến đài ngắm cảnh trên đỉnh Bạch Mã. Đứng từ đây, du khách có thể ngắm toàn cảnh đèo Hải Vân, núi Túy Vân, đầm Cầu Hai, vụng Chân Mây…
Ngoài ra, du khách có thể khám phá đường mòn dài 300m xuyên qua rừng Trò đen, nơi có khá nhiều cây cổ thụ, nhiều cây có đường kính trên 1m và cao tới hơn 30m. Nhưng có một điều đặc biệt tại Vườn Quốc gia Bạch Mã mà bất cứ du khách nào cũng ấn tượng đó là được “mục sở thị” anh Trương Cảm - Kiểm lâm viên Vườn thể hiện tài năng bắt chước tiếng chim để gọi chim về.
Sau khi tham quan Vườn Quốc gia Bạch Mã và được chứng kiến tài năng gọi chim của Kiểm lâm viên Trương Cam, mỗi du khách có một cảm nhận rất khác. Chị Phạm Lê Thảo, Phó Vụ trưởng Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch và PGS-TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam chia sẻ: "Tôi rất ấn tượng về anh ấy, bởi vì anh có sự hiểu biết không ai có thể sánh được về động thực vật ở đây, đặc biệt là đối với các loài chim. Anh ấy cũng có một lòng say nghề, có tâm huyết muốn gửi gắm đến những người khác tình yêu của mình đối với thiên nhiên của Bạch Mã".
"Điều đọng lại trong tôi là các anh ở Vườn Quốc gia đã giữ được tính chất nguyên sinh, sự hoang sơ của một vườn quốc gia, được gặp gỡ, trao đổi nghe những câu chuyện mà anh Trương Cam kể. Rõ ràng không đi thì không có điều kiện tiếp cận một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, rất tốt."
Dù không phải là lần đầu tiên đến với Vườn Quốc gia Bạch Mã cũng như được chứng kiến cách giao lưu giữa kiểm lâm viên Vườn Quốc gia với các loài chim, nhưng với anh Nguyễn Xuân Hải - Giám đốc Công ty du lịch Tầm nhìn Viễn Á, đây luôn là trải nghiệm ấn tượng: "Trước đây tôi đã có những đoàn khách Pháp tới Vườn Quốc gia Bạch Mã, người hướng dẫn tại chỗ là người rất tài năng và tôi được thưởng thức, trải nghiệm cách mà anh ấy gọi chim, cực kỳ hấp dẫn. Được nghe cách anh ấy gọi chim về là ta nhìn thấy tình yêu của người làm lâm nghiệp, mà sau này có thể phát triển thành những tour trải nghiệm trong lĩnh vực khám phá… Đó là điểm nhấn rất lớn cho khám phá Vườn Quốc gia Bạch Mã".
Bạch Mã là một trong 30 Vườn Quốc gia trong cả nước, được thành lập để bảo tồn đa dạng sinh học về động - thực vật của khu vực chuyển tiếp giao thoa khí hậu miền Bắc, miền Nam. Với những người yêu thiên nhiên, thích trải nghiệm, Vườn Quốc gia Bạch Mã là địa điểm lý tưởng không thể bỏ qua trong hành trình khám phá vùng đất cố đô.
Thời gian đẹp nhất để du khách đến thăm Vườn Quốc gia Bạch Mã là vào mùa Hè và đầu mùa Thu bởi thời điểm này, không khí mát mẻ, thậm chí hơi se lạnh của Bạch Mã sẽ khiến cho chuyến đi của du khách trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn. Quý vị và các bạn đừng bỏ qua cơ hội khám phá Vườn Quốc gia Bạch Mã vì đây chắc chắn là hành trình trải nghiệm ấn tượng, khó quên ở Thừa Thiên Huế. (VOV Giao Thông 14/10) đầu trang(
Mặc dù GCNQSDĐ được mang tên những cán bộ BQL rừng phòng hộ, nhưng khi đối chiếu với sơ đồ hiện trạng rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ thì đất này đang thuộc rừng sản xuất do Nhà nước quản lý...
Sau khi nhận được đơn thư tố cáo của bạn đọc về tình trạng cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ biến đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước thành đất của mình, phóng viên Báo Công lý đã tiến hành xác minh. Ông Nguyễn Đức, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ cho biết: Những thửa đất số 94, 95, 96, 96b, tờ bản đồ số 4 trước đây thuộc đất của bà Mai Thị Ngọc Thỏa (nguyên nhân viên Ban quản lý).
Theo bản đồ quy hoạch hiện trạng rừng năm 2008 của UBND TP. Pleiku thì phần đất này trước đây là đất lâm nghiệp, nhưng năm 2011, khi làm hồ sơ thì lại được chuyển thành đất nông nghiệp? Ông Đức cho rằng, lúc đó ông chưa nhận nhiệm vụ ở Ban quản lý nên không biết việc này.
Điều đáng nói là mặc dù biết đó là đất lâm nghiệp nhưng ông Nguyễn Đức cùng các cán bộ của Ban quản lý vẫn tiến hành mua bán phần đất được cho là cấp GCNQSDĐ sai sót này với bà Mai Thị Ngọc Thỏa. Lý giải về việc này, ông Đức cho rằng: “Ban tôi quản lý đất lâm nghiệp nhưng nhiều người dân vẫn sử dụng sản xuất và xây dựng trên đó. Thế nên, bản đồ số 53 năm 2008 của UBND thành phố là bản đồ chưa chính xác lắm”(!?).
Để làm rõ hơn sự việc, phóng viên đã có buổi làm việc với ông Nguyễn Bá Trường, Phó Trưởng phòng Tài Nguyên - Môi trường TP. Pleiku. Ông Trường cho rằng việc cấp GCNQSDĐ trên đều có hồ sơ rõ ràng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi phóng viên đề cập muốn được xem hồ sơ cấp thửa đất trên thì ông Trường lại cho rằng không thuộc thẩm quyền và chỉ có thể cho xem bộ hồ sơ pho to chứ không cung cấp được.
Tuy nhiên, trong hồ sơ pho to, phần xác nhận của cán bộ địa chính xã Diên Phú không có ngày tháng. Giải đáp về vấn đề này, ông Trường cho rằng “chắc là trong lúc photo nó bị mất đi”(!?). Trong quá trình làm việc với phóng viên, ông Nguyễn Bá Trường liên tục khẳng định: Nếu có sai sót trong quá trình cấp sổ thì là do bản đồ hiện trạng rừng năm 2008 có sai sót?
Ông Trường cũng cho biết, đối với đất lâm nghiệp mà muốn chuyển mục đích sử dụng thành đất nông nghiệp với diện tích gần chục hecta như trên thì phải có quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng của UBND cấp tỉnh.
Song, theo tìm hiểu của chúng tôi thì từ năm 2008 đến năm 2011, UBND tỉnh Gia Lai không có bất cứ quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất nào trên địa bàn. Theo bản đồ quy hoạch số 53 về hiện trạng rừng năm 2008 của TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai thì thửa đất số 94, 95, 96, 96b, thuộc tờ bản đồ số 4, xã Diên Phú, TP. Pleiku là đất “đồi núi chưa sử dụng”.
Thế nhưng, không hiểu cơ quan chức năng đã tiến hành “xác minh” thế nào mà đến năm 2010, những thửa đất này từ đất lâm nghiệp chuyển thành đất nông nghiệp. Đặc biệt hơn, đất này đã và đang thuộc quyền sửa dụng của một số cán bộ, nhân viên thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ. (Công Lý 14/10) đầu trang(
Bảy cá nhân đã được vinh danh tại Lễ trao giải Cống hiến bảo vệ động vật hoang dã lần thứ hai tổ chức ngày 14-10. Trong đó, phóng viên Lê Thị Hồng Vân của Báo Nhân Dân điện tử được vinh danh với những đóng góp tích cực trong lĩnh vực bảo vệ các loài động vật hoang dã (ĐVHD) ở Việt Nam.
Lễ trao giải do Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và tổ chức Freeland đồng tổ chức sáng 14-10 tại Hà Nội nhằm vinh danh hai nhà báo và năm cán bộ thực thi pháp luật có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực bảo vệ các loài ĐVHD của Việt Nam.
Giải thưởng được thực hiện trong khuôn khổ chương trình Khu vực châu Á Hành động chống nạn buôn lậu động vật hoang dã (ARREST) một liên minh gồm các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan khác, trong đó có ENV và Freeland do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tài trợ.
Xuất phát từ ý tưởng của ENV dưới sự hỗ trợ của USAID, giải thưởng Cống hiến Bảo vệ ĐVHD được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2013 đã thu hút sự quan tâm và tham gia của các cơ quan thực thi pháp luật cũng như những đơn vị báo chí trên cả nước với nhiều cá nhân có thành tích xuất sắc.
Với loạt bài viết kêu gọi bảo vệ ĐVHD trong thời gian qua, đặc biệt là chùm năm bài viết bắt đầu từ tháng 4-2012, nhà báo Lê Thị Hồng Vân đã đi đầu trong công tác đấu tranh bảo vệ Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo trước nguy cơ mất đất và phải di dời hàng trăm cá thể gấu. Phóng sự dài kỳ về ngôi nhà của gấu tại Vườn Quốc gia Tam Đảo đã nhận được sự ủng hộ của đồng nghiệp và dư luận cả nước. Sau khi loạt bài viết của phóng viên Lê Thị Hồng Vân đăng tải trên báo Nhân Dân điện tử và một số báo khác phản ánh, Thủ tướng Chính phủ chính thức ra chỉ thị duy trì hoạt động của Trung tâm cứu hộ gấu.
Phóng viên Đỗ Doãn Hoàng của báo Lao Động cũng là một trong bảy cá nhân được vinh danh nhờ những thành tích nổi bật trong điều tra và các loạt bài chống tội phạm về ĐVHD tại Việt Nam. Trong số đó, phải kể đến vụ tham gia điều tra, bắt giữ rùa biển lớn nhất trong lịch sử tại Khánh Hòa năm 2014, giúp lực lượng chức năng phát hiện 10 tấn rùa biển.
Bên cạnh đó, năm cán bộ thực thi pháp luật xuất sắc với nhiều thành tích nổi bật trong công tác phòng chống tội phạm về ĐVHD cũng đã được vinh danh, bao gồm: Huỳnh Quốc Thắng - Cán bộ hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất; Nguyễn Duy Toại - Đội trưởng, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường, Công an tỉnh Bắc Kạn; Nguyễn Hữu Hóa-Cán bộ bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn Sao La (Thừa Thiên-Huế); Nguyễn Trọng Khôi - Đội trưởng, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường, Công an tỉnh Tây Ninh; và Trần Hữu Hồn g-Trưởng phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường, Công an tỉnh Nghệ An.
Phát biểu tại lễ trao giải, bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc ENV cho hay quá trình nhận đề cử và xét duyệt giải thưởng được bắt đầu từ tháng 11-2014 và Ban tổ chức đã nhận được nhiều đề cử trên cả nước. Ban giám khảo bao gồm đại diện của ENV, tổ chức Freeland, IUCN tại Việt Nam, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, tổ chức TRAFFIC Đông Nam Á – Chương trình tiểu vùng Mê Kông mở rộng.
Nhấn mạnh vai trò và đóng góp của các các nhân được vinh danh, bà Quyên hy vọng rằng những cống hiến cũng như sự tận tâm của họ sẽ có sức lan tỏa và là tấm gương để đồng nghiệp và cộng đồng noi theo trong việc bảo vệ đa dạng sinh học nước nhà.
Theo TS Phạm Anh Cường, Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong những năm gần đây, nhờ nỗ lực của các cơ quan thực thi pháp luật mà nhiều vụ buôn bán ngà voi, sừng tê giác, tê tê và các loài ĐVHD nguy cấp khác được phát hiện và xử lý ngày càng tăng, thể hiện cam kết ngày càng mạnh mẽ trong công tác đấu tranh của lực lượng thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Bên cạnh đó, sự thay đổi tích cực trong nhận thức của người dân đối với vấn đề này cũng góp phần rất lớn giúp biến chuyển cục diện ngày càng xấu đi của các loài động vật hoang dã. Từ đó, những tấm gương sáng, nhiều gương mặt tiêu biểu có thành tích trong hoạt động vì sự nghiệp bảo tồn ngày càng nhiều. Đây là những điểm sáng tích cực cần được vinh danh, ghi nhận.
Việt Nam là đất nước sở hữu giá trị đa dạng sinh học cao, là mái nhà của khoảng 10% số loài trên thế giới mặc dù tổng diện tích chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích đất liền trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đa dạng sinh học tại Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều mối đe dọa đặc biệt là tình trạng săn bắt, buôn bán, tiêu thụ trái phép và không bền vững các loài động vật hoang dã, đẩy nhiều loài đến bờ vực của sự tuyệt chủng ở tốc độ nhanh hơn bao giờ hết trong thập kỷ gần đây.
Theo số liệu IUCN ghi nhận và cập nhật vào tháng 6-2015, số loài động vật hoang dã xếp hạng cực kỳ nguy cấp của Việt Nam là 44 loài, số loài nguy cấp là 89 loài và số loài bị đe dọa là 233 loài trong đó lớp thú chiếm số lượng lớn nhất trong các nhóm loài động vật. Đặc biệt, các loài đặc hữu của nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa 3/9 loài thú, 6/10 loài chim và 8/39 loài lưỡng cư đặc hữu của Việt Nam hiện đang bị đe dọa. (Nhân Dân 14/10; Lao Động 14/10) đầu trang(
Chiều 14-10, ông Trần Văn Duy, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên, thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, cho biết, đang phối hợp với Công an huyện Ngọc Hiển làm rõ vụ phá rừng, gây thương tích cho cán bộ thi hành công vụ.
Trước đó, vào đêm 11 rạng sáng 12-10, tổ tuần tra liên ngành của Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên tiến hành tuần tra khu vực ven biển, đến đoạn Liên tiểu khu 219 thì phát hiện một nhóm người lạ đang khai thác gỗ đước trái phép.
Trong lúc vây bắt đối tượng phá rừng thì các đối tượng chống đối, dùng chân vịt máy đuôi tôm làm trọng thương cánh tay của kiểm lâm viên 30 tuổi Trần Thanh Giang. Ngay trong đêm, anh Giang được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Ngọc Hiển cấp cứu, sức khỏe hiện đang hồi phục.
Tại hiện trường, lực lượng làm nhiệm thu giữ hơn 8m3 gỗ đước từ 10 - 12 năm tuổi mà nhóm lâm tặc bỏ lại.
Liên quan đến vụ việc trên, Công an huyện Ngọc Hiển đang tạm giữ hai đối tượng Nguyễn Hoàng Khang (20 tuổi) và Huỳnh Công Luận (30 tuổi), cùng tạm trú tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển để phục vụ công tác điều tra các hành vi liên quan. (Nhân Dân 15/10) đầu trang(
Ngày 14/10, UBMTTQ tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị tập huấn về công tác tuyên truyền bảo vệ, phát triển và phòng cháy chữa cháy rừng; sơ kết 1 năm thực hiện công tác tuyên truyền đối với các huyện nghèo theo NQ 30A và NQ 09 của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh.
Sau 1 năm triển khai thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác tuyên truyền đối với các huyện nghèo theo NQ 30A và NQ 09 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh đã ban hành các kế hoạch, tăng cường công tác tuyên truyền và tổ chức tập huấn cho cán bộ làm công tác mặt trận của 7 huyện thuộc vùng 30A.
Nhờ đó, công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở khu vực miền núi đạt được nhiều kết quả, như: sản xuất nông nghiệp đạt khá toàn diện, sản lượng lương thực tăng 20% so với cùng kỳ, các chỉ tiêu chăn nuôi, trồng rừng đều tăng so với năm 2013; xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực.
Trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của địa phương, các huyện đã lựa chọn được nội dung, giải pháp đột phá phù hợp để tổ chức thực hiện. Công tác kết nghĩa, hợp tác giữa các huyện miền xuôi và các huyện miền núi được quan tâm, đã phối hợp xây dựng mục tiêu, lộ trình cho từng giai đoạn, có kế hoạch theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giao ban đánh giá trong quá trình thực hiện.
Tại hội nghị, các đại biểu cũng đã được nghe báo cáo kết quả xây dựng khu dân cư “ 3 không” trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển và phòng cháy chữa cháy rừng năm 2015; nghe chia sẻ kinh nghiệm xây dựng mô hình khu dân cư “ 3 không” của các huyện miền núi. (Đại Đoàn Kết 14/10) đầu trang(
Tôi chưa từng thấy khu rừng nào được bảo vệ nghiêm ngặt như những khu rừng trồng sâm trên núi Ngọc Linh.
Thật khó có thể tin, ở một xã, mà mỗi hộ gia đình đều có tiền tỷ, có những đại gia nông dân sở hữu những vườn sâm trị giá hàng trăm tỷ đồng, mà đường sá không có, hoàn toàn cuốc bộ. Trụ sở UBND xã Trà Linh (Nam Trà My, Quảng Nam), vùng đất trồng nhiều sâm nhất và sâm ở đây có giá trị cao nhất, là ngôi nhà cấp 4 bằng gỗ xộc xệch, có tuổi đời 30 năm.
Con đường vào trung tâm xã cũng là đường mòn cuốc bộ. Có đoạn phải bước chân trên những hòn đá lội qua ruộng. Điều lạ nữa, là hàng năm, nhà nước vẫn phải chuyển gạo lên cứu đói. Đường sá quá xa xôi, nên dù sâm nhiều, mà vẫn đói, bởi trẻ con chẳng thể bẻ sâm ăn thay gạo.
Nai nịt gọn gàng, chúng tôi bắt đầu hành trình cuốc bộ từ UBND xã Trà Linh, đi sâu vào rừng Ngọc Linh, với khát vọng được nhìn thấy cây sâm mọc dưới tán rừng. Đứng giữa những thửa ruộng bậc thang, Phó bí thư Đảng ủy Hồ Văn Bút chỉ tay bốn phía núi, chỉ những túm nhà như chuồng chim câu treo trên vách đá xanh thẫm, lảng bảng mây mù. Mỗi khóm dân cư túm tụm trên trời đó là một làng Xê Đăng.
Vào đến cửa rừng, thì đoàn chúng tôi dừng lại. Lương y Phạm Văn Thanh, thầy lang nổi tiếng chữa bệnh dạ dày, vốn tính cẩn thận, nên thắp nhang ở lối vào rừng, bên tảng đá lớn chặn giữa đường.
Lương y Phạm Văn Thanh bảo, chẳng phải ngẫu nhiên mà núi Ngọc Linh cho ra đời loài sâm quý hiếm nhất thế giới. Sâm tiết trúc, cùng loài với sâm Ngọc Linh, giống hệt về hình thái, nhưng mọc ở dãy Hoàng Liên Sơn, thì không có nhiều giá trị. Trong nhà anh, có cả trăm bình sâm tiết trúc, nhưng anh chẳng dùng bao giờ.
Lương y Thanh tin rằng, núi Ngọc Linh ngoài khí hậu, chất đất, thì có lẽ còn có nhiều linh khí, và thứ linh khí, năng lượng đó bồi bổ cho loài sâm này, biến chúng thành thần dược. Vậy nên, trước khi vào rừng Ngọc Linh, anh thắp nhanh khấn vái thần núi, rồi vãi bát gạo trắng ra rừng.
Chúng tôi ngồi chờ ở ngã ba đường vào rừng, thì đột nhiên có hai người đàn ông nhỏ thó, khuôn mặt đầy vẻ nghi hoặc đi ra từ rừng. Với khuôn mặt lạnh, hai người đàn ông này đặt cho chúng tôi vô số những câu hỏi. Thậm chí, anh ta còn đòi giấy giới thiệu, chứng minh thư…
Mặc kệ Phó Bí thư Hồ Văn Bút giải thích, hai người đàn ông này vẫn phỏng vấn một hồi, rồi mới cho chúng tôi lên núi. Anh Bút giải thích rằng, từ đầu đường mòn đến các bản, có vô số "trạm kiểm soát" như thế. Từ bản vào rừng sâu, còn nhiều trạm kiểm soát nữa. Không những các trạm kiểm soát được phân công, mà tất cả người Xê Đăng sống ở núi Ngọc Linh đều là những "trạm kiểm soát" di động.
Quả thực, đi rừng nhiều, từng vào hầu hết các rừng quốc gia, khu bảo tồn, thậm chí rừng cấm linh thiêng của đồng bào miền núi phía Bắc, song tôi chưa từng thấy khu rừng nào được bảo vệ nghiêm ngặt như núi Ngọc Linh.
Hôm ở huyện, tôi được nghe các cán bộ huyện kể rằng, vào tháng 4, huyện Nam Trà My đã tổ chức cuộc chinh phục đỉnh Ngọc Linh. Mục đích của cuộc chinh phục, ngoài việc khám phá đỉnh núi, còn khảo sát địa hình, thu thập thông tin cho dự án ngàn tỷ trồng sâm Ngọc Linh. 40 năm qua, kể từ khi đất nước thống nhất, chưa từng có ai đặt chân được lên đỉnh Ngọc Linh.
Người Xê Đăng vẫn vào rừng hàng ngày, sống như người rừng để trồng sâm, nhưng không ai dám lên ngọn núi này, bởi họ sợ thần rừng, thần núi linh thiêng. Theo lời kể, để chinh phục đỉnh núi Ngọc Linh, cán bộ xã Trà Linh đã phải mất mấy tháng trời tuyên truyền, thuyết phục bà con Xê Đăng ủng hộ, tạo điều kiện cho đoàn leo núi.
Đoàn chinh phục đỉnh Ngọc Linh gồm 30 người, gồm các cán bộ chủ chốt của huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, cán bộ xã, cùng với 30 người địa phương dẫn đường, phục vụ chuyến đi. Trong đoàn có cả công an, bộ đội để bảo vệ. Thế nhưng, cuộc chinh phục đỉnh Ngọc Linh lẽ ra chỉ mất 5 ngày, thì phải mất trọn 10 ngày. Lý do không phải đường quá xa, quá khó đi, mà vì trong hành trình lên núi, đoàn công tác phải đi vòng nhiều đoạn.
Trong các cánh rừng đều có vườn sâm của đồng bào, mà đồng bào nhất định không cho cán bộ vào khu rừng có vườn sâm. Dù trong đoàn đều là cán bộ, với sự hộ tống của chính quyền địa phương, của cả người địa phương, cũng không qua được những khu rừng mà các hộ gia đình trồng sâm và nhận là của mình.
Trước khi lên núi Ngọc Linh, tôi đã có cuộc trò chuyện với anh Nguyễn Văn Tùng, chủ quán tạp hóa kiêm quán ăn ở trước UBND xã Trà Linh và quá trình lang thang suốt mấy ngày trên núi, mới công nhận những điều anh kể là thật. Việc đồng bào Xê Đăng bảo vệ rừng sâm không khác gì lực lượng bảo vệ lãnh tụ.
Theo anh Tùng, có mấy đoàn Hàn Quốc tìm vào tận xã Trà Linh rất nhiều lần, chỉ mong được nhìn thấy cây sâm đang sống, được bốc một nắm đất ở vườn sâm mang về nước nghiên cứu, nhưng họ đều thất vọng quay về. Dù họ có trả bao nhiêu tiền, cũng không lên núi được. Họ sẵn sàng đầu tư rất nhiều tiền cho bà con trồng, rồi thu mua toàn bộ, nhưng họ cũng không làm nổi khi họ không được nhìn thấy cây sâm mọc trong rừng thế nào.
Điều khó tin hơn nữa, là dù đã sống ở Trà Linh hơn 10 năm, quen biết tất cả đồng bào Xê Đăng ở đây, anh Tùng vẫn chưa từng được nhìn thấy cây sâm mọc trong rừng. Anh Tùng là đầu nậu buôn sâm, buôn lá, cho bà con vay nợ bằng tiền, trả nợ bằng sâm, mà cũng không biết cây sâm mọc ở chỗ nào thì cũng thật buồn cười.
Theo anh Tùng, kỳ quặc hơn nữa, là bản thân anh hiện đang sở hữu 5.000 cây sâm, nhưng anh cũng không biết chúng mọc ở đâu (!?). Chuyện này kể ra, thật khó tin, nhưng có vào với đồng bào, thì mới tin đó là thật.
Anh Tùng sống ở Trà Linh đã lâu, thích mua đất rừng bao nhiêu cũng có, nhưng anh không trồng nổi, vì chẳng có ai ở rừng mà trông nom cho. Vậy nên, để có được vườn sâm, anh đã đầu tư mua 5.000 cây giống, và mua một "khu rừng hơi". Vài năm sau, cứ 5.000 cây giống, thì anh sẽ được đồng bào trả cho 5.000 củ sâm. Bán được bao nhiêu tiền, thì chia nhau theo tỷ lệ đã thỏa thuận trước. Coi như, anh Tùng đầu tư vốn liếng, bà con đầu tư công sức và cả hai bên đều hưởng lợi.
Để trồng được sâm, thì các nhóm phải lập thành các tổ, đội. Mỗi tổ, đội gồm vài thành viên đến 10, thậm chí 15 thành viên, là những người cùng làng, anh em ruột thịt, cực kỳ thân thiết, tin tưởng nhau. Những vườn sâm của nhóm phải nằm cạnh nhau để dễ bề bảo vệ, trông nom.
Mỗi ngày thường có 2-3 người thay ca nhau trông nom vườn sâm. Đêm thì số người trông nom tăng lên gấp đôi, gấp ba. Mỗi nhóm quản lý một khu rừng độc lập và các nhóm cũng không biết khu vực trồng sâm của nhau. Ở mỗi vườn sâm đều có lều, chòi canh gác. Có cả tivi, các thiết bị phục vụ thiết yếu cho cuộc sống. Điện được kéo từ máy phát lắp ở suối.
Một số người trong một nhóm đã trồng sâm thuê cho anh Tùng, tuy nhiên, anh Tùng lại không phải là người của nhóm, nên không được vào khu vực trồng sâm, dù "vườn sâm" của anh đã được 5 năm tuổi, đã thu hoạch hạt và sắp thu hoạch được củ.
Theo anh Tùng, sở dĩ, anh bỏ tiền tỷ để trồng sâm, mà không biết sâm của mình ở đâu, là bởi vì anh tin tưởng đồng bào Xê Đăng, những người sống bao đời sống trong rừng thẳm và rất thật thà, trọng nghĩa khí. (VTC News 15/10) đầu trang(
5 tháng qua đã có 3 cá thể voọc (còn gọi là "nữ hoàng linh trưởng, đang có nguy cơ tuyệt chủng) bị săn bắn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, TP.Đà Nẵng. Tuy nhiên, cơ quan bảo vệ pháp luật cho rằng “quá trình xử lý gặp lúng túng”.
Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng, xác nhận về vụ săn, giết voọc vừa xảy ra vào đầu tháng 9.
Theo đó, trên thân voọc bị săn có nhiều vết đạn hoa cải, hiện kiểm lâm đang chờ kết quả giám định để khởi tố vụ án vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm rồi chuyển công an thụ lý. Vụ việc do một sinh viên phát hiện con voọc bị nhiều vết thương, lết ra gần vệ đường tại bán đảo Sơn Trà hôm 2.9 nên gọi Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (Green Việt) và Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn ứng cứu.
Tuy nhiên, cá thể voọc sau đó đã chết. Bà Lê Thị Trang, Phó giám đốc Green Việt, xác định đây là cá thể voọc chà vá chân nâu giống cái, chưa trưởng thành, còn gọi là voọc ngũ sắc, gần 2 tuổi, nặng khoảng 4 kg, có thể bị bắn nhiều phát súng vì còn lại đầu đạn trong thân voọc.
Trước đó, tại tiểu khu 64 Sơn Trà cũng đã xảy ra vụ Vi Văn Sơn (39 tuổi) cùng 4 đồng phạm từ xã Tiên Kỳ, H.Tân Kỳ, Nghệ An xâm nhập rừng Sơn Trà bẫy giết 2 con voọc, 2 con mang, 1 chồn, 1 sóc, xẻ thịt sấy khô giữa khu bảo tồn, đã bị kiểm lâm bắt giữ.
Tuy nhiên sau khi khởi tố vụ án, Công an Q.Sơn Trà khởi tố bị can thì bị Viện KSND cùng cấp bác vì cho rằng “hành vi săn giết động vật nhóm 1B có giá trị trên 100 triệu đồng mới bị truy cứu”. Trong khi đó, các đơn vị định giá đều cho rằng “voọc không phải là sản phẩm lưu hành trên thị trường nên không có cơ sở định giá”.
Trong khi đó, voọc là loài đặc hữu của Đông Dương, có nguy cơ tuyệt chủng khi chỉ còn dưới 2.000 cá thể, riêng VN chiếm 50%, tập trung nhiều nhất ở Sơn Trà với 300 con (2014). Sách Đỏ VN 2007 xếp voọc vào bậc nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng. (Thanh Niên 15/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, Hạt Kiểm lâm Phụng Hiệp đã phối hợp với lực lượng công an các xã, thị trấn trên địa bàn huyện tăng cường công tác kiểm tra việc nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép.
Kết quả đã phát hiện một tổ chức và hộ gia đình nuôi nhốt 2 cá thể khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis), trọng lượng 11,2kg. Qua đó, Hạt Kiểm lâm đã vận động giao nộp 1 cá thể và ra quyết định phạt hành chính, tịch thu 1 cá thể do chủ cơ sở không hợp tác với cơ quan chức năng.
Theo Chi cục Kiểm lâm Hậu Giang, hiện 2 cá thể khỉ nêu trên đã được bàn giao cho Khu cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang để quản lý, chăm sóc và thả về tự nhiên theo đúng quy định. (Báo Hậu Giang 14/10) đầu trang(
Sau hơn 10 năm được thực thi, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 (BV&PTR) đã từng bước đi vào cuộc sống của người dân.
Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng vào thực tế, một số quy định của Luật đã không còn thích hợp hoặc không đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là việc làm rõ trách nhiệm và lợi ích của người dân khi được giao khoán đất rừng.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được ban hành năm 2004 đã có tác động tích cực đến sự phát triển rừng cũng như đời sống của người dân. Bên cạnh những ưu điểm, Luật cũng bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập cần điều chỉnh cho rõ ràng và minh bạch. Đó là những vấn đề liên quan đến cộng đồng và hộ gia đình; cải thiện sinh kế người dân sống phụ thuộc vào tài nguyên đất... tuy được đề cập tại Điều 54 của Luật BV&PTR nhưng chưa quy định cụ thể về nội dung khoán, bảo vệ rừng cũng như trách nhiệm, quyền lợi của các đối tượng được giao đất rừng.
Điển hình như ở Hòa Bình và Bắc Kạn, khi mỗi hộ tại Hòa Bình được giao 3,6ha diện tích rừng tự nhiên, Bắc Kạn là 9,66ha/hộ nhưng sổ giao rừng của họ chỉ ghi giao “đất rừng” mà thực chất chưa giao rừng tự nhiên, chưa có sự thống nhất giữa ngành lâm nghiệp với địa chính, giữa giao rừng trên thực tế với tài liệu giao. Trong Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) chỉ có thông tin về diện tích rừng, chứ chưa hề có thông tin về trạng thái rừng, chất lượng rừng, thậm chí không xác định rõ loại rừng nào.
Theo đại diện của Liên minh Đất rừng FORLAND, nguyên nhân ban đầu là do công tác giao rừng do kiểm lâm chỉ cấp đến “sổ xanh”, đây là cơ sở để ngành địa chính cấp “sổ đỏ” nhưng trên mẫu của “sổ đỏ” không quy định thông tin đặc thù về giao rừng. Chính vì vậy, trên thực tế, không thể kiểm soát được chất lượng rừng cũng như vấn đề cải tạo rừng bởi “gốc đã không được kiểm soát lúc giao thì “ngọn” chỉ phụ thuộc vào báo cáo của cá thể những hộ được giao. Điều này phần nào “phản tác dụng” của công tác giao đất giao rừng khi không ít hộ dân tự ý chặt phá rừng, tận thu gỗ hoặc tự ý chặt cây rừng khi chưa đủ tuổi thu hoạch để chuyển sang một loại khác đang được cho là có giá trị cao trên thị trường.
Theo FORLAND, tại Điều 30 và Điều 70 của Luật BV&PTR 2004, đã quy định quyền của hộ gia đình được giao đất, giao rừng là được khai thác, sử dụng gỗ từ rừng được giao. Nhưng trên thực tế, khi địa phương chỉ chú trọng giao đất, đa phần rừng trên đó là rừng nghèo, chất lượng kém, rừng non mới phục hồi, rừng gỗ và hỗn giao gỗ tre. Còn muốn khai thác gỗ theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chủ rừng, người dân phải có thủ tục như bản thiết kê khai thác do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; bản dự kiến sản phẩm khai thác; sơ đồ khai thác... do đó, dẫn đến tình trạng người được giao khoán rừng không sống được bằng nghề trồng rừng, gây khó khăn hơn đến công tác bảo vệ rừng và phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Thời gian qua, hiệu quả từ chủ trương xã hội hóa phát triển kinh tế lâm nghiệp đã thực tế chứng minh là đúng đắn và mang lại hiệu quả kinh tế, gỡ được nút thắt người trồng rừng không sống được bằng nghề rừng. Vì vậy, trong sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tới đây, các chuyên gia đề xuất phải mạnh dạn thay đổi tư duy theo hướng này. Đó là phân quyền và phi tập trung hóa trong quản lý tài nguyên rừng.
Ngoài kinh tế nhà nước, cần trao quyền và khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Xác định vai trò cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng theo hướng cộng đồng được hưởng quyền gì, hình thức quản lý rừng cộng đồng ra sao và có công nhận cộng đồng là chủ rừng hay không? sửa đổi Luật cũng cần làm rõ mối quan hệ về quyền sở hữu, quyển sử dụng rừng, đất rừng, trong đó, chú ỷ quyền sở hữu rừng của cộng đồng dân cư.
Để làm được điều này, phải có sự phối hợp đồng bộ, rõ ràng giữa các ngành liên quan trong lĩnh vực BV&PTR, đặc biệt với hai Bộ chủ quản là Bộ NN&PTNT với Bộ Tài nguyên và Môi trường. Được biết, tới đây, Bộ NN&PTNT sẽ trình dự án Luật Lâm nghiệp để Quốc hội xem xét, thông qua vào đầu 2016. Hiện, Bộ đã xin ý kiến trình Bộ Tư Pháp, Chính phủ, đồng thời, tiếp tục lấy ỷ kiến đóng góp để nâng hiệu quả của dự án Luật. (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/10) đầu trang(
Tổ chức Bảo vệ Động vật hoang dã (WAR) cho biết, dưới sự tài trợ của quỹ Buck Kingsman, mới đây tổ chức này cùng Trường Đại học Carlifornia- Berkeley (Mỹ) và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai đã tổ chức thành công khóa tập huấn Giáo dục môi trường (GDMT) tại các vườn quốc gia (VQG) và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Việt Nam.
Khóa tập huấn thu hút gần 30 cán bộ GDMT đến từ 20 VQG và KBTTN thuộc khu vực phía Nam và Tây Nguyên tham dự. Hầu hết các cán bộ đều có ít nhất 3 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này, nhiều cán bộ giữ vị trí chủ chốt tại các đơn vị.
Giảng viên của khóa tập huấn này là các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động, giảng dạy trong lĩnh vực giáo dục bảo vệ môi trường, kỹ năng lãnh đạo, phát triển cộng đồng, tiêu biểu như Tiến sỹ Susan Lynn Carpenter, giảng viên Trường Đại học California tại Berkeley (Mỹ)…
Nhiều chuyến thực địa cũng đã được tổ chức nhằm giúp học viên tăng cường học hỏi, giao lưu. Điển hình là chuyến tham quan Trạm Cứu hộ ĐVHD Củ Chi và Địa đạo Củ Chi, nơi học viên không những được tìm hiểu về các hoạt động GDMT với du khách mà còn tìm hiểu về những loài ĐVHD quý hiếm.
Ngay sau khóa tập huấn, ba dự án nhỏ với tổng kinh phí hỗ trợ đến gần 50 triệu đồng đã được trao cho các VQG và KBTTN với các ý tưởng giáo dục bảo vệ môi trường tại đơn vị mình. (Du Lịch 15/10) đầu trang(
Qua thẩm định, kiểm tra tính pháp lý hồ sơ giao khoán đất duới chân đèo Hải Vân theo Nghị định 01 và 135 của Chính phủ, Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu (TP. Đà Nẵng) và P.Hòa Hiệp Bắc ghi nhận đến 49 hồ sơ giao khoán đất (tương ứng hơn 120ha đất) trái quy định, mua bán chuyển nhượng, sử dụng không đúng mục đích.
UBND P.Hòa Hiệp Bắc (Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng) cho biết, đã có ý kiến đề nghị Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền để tiếp tục xử lý và tiến hành bàn giao 127,62ha đất rừng dưới chân đèo Hải Vân lại cho phường quản lý, bảo- vệ (theo QĐ 7280 ngày 14.10.2014 của UBND TP. Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho địa phương này) trước ngày 1.1.2016.
Số đất trên là các hồ sơ giao khoán không đúng thời điểm, mua bán chuyển nhượng, sử dụng không đúng mục đích. Đáng chú ý, có 11 hồ sơ với 20,9ha đất rừng đặc dụng và phòng hộ giao khoán trái quy định theo NĐ 135 (năm 2005) của Chính phủ; 25 hồ sơ với hơn 51ha giao sau thời điểm NĐ 01/CP hết hiệu lực (ngày 8.11.2005); 6 hồ sơ với gần 19ha xây dựng trái phép, kinh doanh dịch vụ; 6 hợp đồng ủy quyền với 36,3ha...
Liên quan đến sự vụ, báo Lao Động số ra ngày 25.7 có đăng bài “Hậu xây biệt thự trái phép trên núi Hải Vân: Dài cổ chờ bàn giao đất!”. Tuy nhiên, đến nay, Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu chỉ bàn giao cho P.Hòa Hiệp Bắc hơn 1.504ha đất rừng, còn hơn 127ha tiếp tục “gia hạn” thời gian để “xử lý hậu quả”! Ông Trương Việt - Chủ tịch UBND P.Hoà Hiệp Bắc - cho biết, hiện nay hồ sơi diện tích đất sử dụng sai mục đích đã được Chi cục Kiểm lâm bàn giao cho phường, tuy nhiên, Chi cục Kiểm lâm cũng chưa xử lý. “Chúng tôi chỉ nhận trường hợp không vi phạm, còn vi phạm thì kiểm lâm phải xử lý xong tôi mới nhận” - ông Việt nói.
PV Báo Lao Động gặp ông Trần Văn Lương - Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng, đề nghị cung cấp danh sách các cá nhân sau khi được cấp đất sử dụng không đúng mục đích. Tuy nhiên ông Lương cho biết vẫn đang tiếp tục rà soát! Trả lời câu hỏi những cá nhân vi phạm là ai mà kiểm lâm không công khai? Ông Lương nói: “Chúng tôi đã bàn giao đất lại cho P.Hòa Hiệp Bắc nhưng chưa rõ ràng, cần tiếp tục kiểm tra thực tế”.
Ông Lương cũng cho hay: Các cá nhân sử dụng đất được giao khoán sai mục đích, xây dựng các công trình trái phép trên đó là trách nhiệm của địa phương, còn kiểm lâm chỉ quản lý rừng! Không phủ nhận để xảy ra tình cấp đất trái NĐ 01, 135 là do sai sót của lãnh đạo tiền nhiệm (Ban QL rừng đặc dụng Nam Hải Vân, Chi cục Kiểm lâm cũ) nhưng “tôi cũng không hỏi lúc đó ai cấp làm chi”.
PV đặt vấn đề tiếp: “Vì sao nhiều hécta đất rừng nằm dọc bên đường công vụ dẫn vào hầm đường bộ Hải Vân bị nhiều cán bộ “giữ chỗ” nhiều năm nay nhưng không ai xử lý?”, ông Lương trả lời: “Theo chủ trương thì trước đây cán bộ là 1 trong 4 đối tượng được giao đất mà”.
Trước thắc mắc cán bộ Không làm gì mà để đó năm này qua năm nọ, trong khi dân địa phương muốn có mảnh đất “cắm dùi” làm rừng không dễ, ông Lương cho rằng lúc đầu có trồng mà gặp bão gãy hỏng hết. Trả lời câu hỏi vì sao không kiểm soát, xử lý được việc đất sau khi giao khoán bị chuyển nhượng vô tội vạ? ông Lương trả lời: “Họ sang bằng giấy viết tay làm sao biết được”.
Rồi ông Lương “chốt hạ” vấn đề: “Đây là chuyện lịch sử để lại. Chúng tôi và phường Hòa Hiệp Bắc cần ngồi lại cùng giải quyết chứ tôi không đổ hết cho địa phương mà địa phương cũng đừng đổ hết cho chúng tôi. Dân thì chín người mười ý, trước đây vận động giao đất trồng rừng thì không thấy ai nhận, bây giờ thấy đất rừng hấp dẫn thì ý kiến đủ thứ. Nếu xử lý không nổi, chúng tôi sẽ báo cáo lại với cấp trên. Và trong quá trình rà soát, nếu phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, Chi cục Kiểm lâm sẽ báo cáo với cơ quan chức năng có biện pháp xử lý. Dự kiến đến cuối quý 1/2016, chúng tôi sẽ hoàn tất thủ tục bàn giao đất cho P.Hòa Hiệp Bắc”. (Lao Động 15/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
"Các nông, lâm trường được Nhà nước giao quản lý với diện tích rất lớn hơn 7 triệu ha. Trong 10 năm nay, tiền giao đất, cho thuê đất chỉ thu được tổng cộng 1.809 tỷ đồng, tức là trung bình 180 tỷ đồng /năm. Chia trung bình, mỗi ha đất chỉ dem lại 90 nghìn đồng", đó là vấn đề dược dư luận xã hội hết sức quan tâm trong thời gian gần đây. Vậy thực hư vấn đề đó ra sao và đâu là nguyên nhân?
Tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh,” do ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Hội đồng dân tộc của Quốc hội tổ chức, ông La Văn Thịnh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) cho hay, nếu chúng ta công nhận con số 7.916.467 ha là diện tích do các nông, lâm trường quản lý là đúng trên thực địa 7 triệu 599 ha là đất nông, lâm nghiệp, còn số tiền thu như trên là đúng nhưng chưa đủ.
Bởi, thực hiện Luật Đất đai 2003, sau hơn 10 năm đến nay, mới có các chủ thể được Nhà nước giao với diện tích hơn 472 nghìn ha chấp hành làm hợp đồng xin thuê đất, nộp tiền. Trên cơ sở diện tích này, các địa phương đã thu tiền nghĩa vụ tài chính với con số hơn 1.800 tỷ đồng. Trong nhiều trường hợp phát sinh trong 10 năm qua, số thu thực tế gần 1.700 tỷ, do giai đoạn 2011 - 2012 cho các doanh nghiệp dãn, chậm tiền thuê đất, đến nay, vẫn còn 219 tỷ chưa thu được.
Bên cạnh đó, có 5.143 ha đất không thu tiền là đất rừng phòng hộ, vườn quốc gia, rừng đầu nguồn, khu bảo vệ sinh quyển do 284 chủ thể đứng tên quản lý có Ban Quản lý, một số do nông, lâm trường quản lý. Gần 2 triệu ha phải chuyển sang thuê đất, giao đất theo Luật Đất đai 2013, nhưng do địa giới hành chính không rõ ràng nên chưa thực hiện trên văn bản. Vấn đề này, chủ thể lẽ ra phải khai báo, địa phương phải tác nghiệp thực hiện hợp đồng giao đất, cho thuê để các đơn vị này thực hiện nghĩa vụ thuê song lại “bỏ lửng”, thiếu kiểm soát.
Ổng Thịnh cho rằng, nguyên nhân tồn tại của công tác tài chính đối với đất nông, lâm trường là do các nông, lâm trường sau khi được chuyển đổi chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ rà soát đất đai. Vì vậy, đến nay, các nông, lâm trường chưa thể chuyển sang thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất. Một nguyên nhân khác là do các địa phương, mặc dù, là thu tiền của các nông, lâm trường nhưng lại không đầu tư đo đạc, phối hợp với họ để làm các thủ tục.
“Trách nhiệm của các cơ quan chức năng tại địa phương đối với công tác rà soát, đo đạc, cấp sổ đỏ cũng còn hạn chế; công tác đôn đốc các nông, lâm trường làm các thủ tục thuê đất vẫn chưa quyết liệt, thiếu sự phối hợp giữa chính quyền, công ty nông, lâm nghiệp và cơ quan chủ quản trong việc giải quyết mâu thuẫn về đất đai,” ông Thịnh nói.
Theo thống kê mới đây của Bộ TN&MT về việc này cho thấy, đến nay, mới có 447 tổ chức đo vẽ bản đồ diện tích đất đơn vị quản lý, với tổng diện tích 5.942.000 ha, chiếm 74,3%. Trong đó: 62 tổ chức, với diện tích 558.949 ha có bản đồ giải thửa; 385 tổ chức đã có bản đồ địa chính với diện tích 5.344.631 ha. Tuy nhiên, bản đồ địa chính chủ yếu được lập với tỷ lệ nhỏ, ít được cập nhật, chỉnh lý nên sau một thời gian không phản ánh đúng hiện trạng.
Hồ sơ giao đất, cho thuê đất được lập trên cơ sở các loại bản đồ khác nhau, chủ yếu là bản đồ địa hình, bản đồ giải thửa; trong các trường hợp có đo vẽ bản đồ địa chính, việc đo vẽ chủ yếu được thực hiện theo ranh giới thể hiện trên hồ sơ giao đất cũ, chưa thực hiện rà soát bóc tách các trường hợp chồng lấn, tranh chấp, lấn chiếm, giao khoán hoặc cho thuê, cho mượn không có khả năng thu hồi; nhiều trường hợp không rà soát, xác định ranh giới trên thực địa dẫn đến tình trạng trong hồ sơ là đất đã giao cho nông, lâm trường nhưng trên thực tế nông, lâm trường không quản lý, sử dụng được.
Bộ TN&MT kiến nghị ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội có Nghị quyết về việc sắp xếp các công ty nông, lâm nghiệp và thực hiện đo đạc, cắm mốc ranh giới, giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính và xử lý các tồn tại, vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường.
Bộ đề nghị cần quan tâm bố trí kinh phí từ ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương để hoàn thành đo đạc cắm mốc ranh giới, giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính đối với các nông, lâm trường.
Bộ TN&MT cũng đề nghị các địa phương chỉ đạo các sở, ngành khẩn trương lập, duyệt phương án sử tổng thể, đề án cụ thể về sắp xếp đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp. Đồng thời, bố trí kinh phí thực hiện xác định ranh giới sử dụng, đo đạc lập bản đồ, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính và xử lý tồn tại, vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai. Có giải phảp giải quyết dứt điểm các tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai tại đó.
Đồng quan điểm với Bộ TN&MT, ông Phùng Đức Tiến - Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê tại các nông, lâm trường quy hoạch đất đai nông, lâm trường. Trên cơ sở đó phải có tiêu chí gắn với kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng, quy hoạch cần có sự tham gia phối hợp của các Bộ, ngành địa phương. Đồng thời, tổng kết các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này... (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/10) đầu trang(
Mắc ca là loại cây trồng đang có xu thế phát triển nhanh trên thế giới, giá trị kinh tế tương đối cao. Mắc ca đã có ở Tây Nguyên 12 -13 năm, đã có những đánh giá ban đầu tương đối "tội nghiệp" cho cây mắc ca.
Có hai luồng ý kiến khác nhau về mắc ca (Macadamia), loại cây thời sự nhất hiện nay, được gọi là 'Nữ hoàng các loại hạt khô'. Luồng ý kiến thứ nhất được dùng với những từ rất kêu như 'cây tỉ phú' 'cây triệu đô'. Luồng thứ hai phản biện rằng việc ào ạt phát triển cây mắc ca là vô cùng nguy hiểm.
Các nhà khoa học cũng cho rằng còn nhiều vấn đề phải xem xét thận trọng. Phóng viên Tuần Việt Nam cùng trao đổi với TS Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học - Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên.
Mắc ca là một cây trồng mới, được đưa vào ở Việt Nam khoảng trên dưới 15 năm nay. Trong lịch sử phát triển cây trồng ở Tây Nguyên cũng như ở Việt Nam thì chưa có một loại cây nào có nhiều ý kiến trái chiều nhau như vậy.
Hiện nay mắc ca cũng là loại cây trồng đang có xu thế phát triển nhanh trên thế giới. Giá trị kinh tế tương đối cao. Mắc ca đã có ở Tây Nguyên cho đến nay là 12 đến 13 năm, đã có những đánh giá ban đầu tương đối "tội nghiệp" cho cây mắc ca.
Theo ông, có nhiều ý kiến trái chiều nhau bởi vì có một số mô hình mang hiệu quả kinh tế rất cao, ví dụ như ở Khánh Dương có mô hình 8ha, trồng từ năm 2011 đến năm 2015, mỗi ha thì có thể thu được 1,5 tấn quả. Nếu giá bán 70 nghìn đồng/1kg thì người ta lãi được 100 nghìn. Và cứ 1 ha thu được 100 triệu mà không cần tưới nước gì. Thu nhập cao hơn 2,5 - 3 tấn cà phê.
Tuy nhiên, cũng có những mô hình trồng 5 năm chưa có quả, nhưng không đáng kể. Cần phải có một đánh giá đầy đủ toàn diện tất cả những mô hình trồng mắc ca ở Tây Nguyên để có đánh giá một cách khoa học, có cơ sở. Thành công vì sao? Thất bại vì lý do gì?
Đối với cây lâu năm, nếu trồng bằng phương pháp thực sinh có thể 7, 8 năm sau mới cho quả và chắc chắn sẽ không ổn định. Hoặc là áp dụng biện pháp kỹ thuật, hoặc là giống không phù hợp, hoặc là trồng ở những vùng có điều kiện nhiệt độ, điều kiện thời tiết không phù hợp, thì chắc chắn hiệu quả không cao.
Từ năm 2002, Bộ Nông nghiệp đã có những khảo nghiệm ở những vùng sinh thái khác nhau. Tây Nguyên thì có công nhận được 4 loại giống phù hợp, và đã có đánh giá. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp đã công nhận 10 loại giống. Hiện nay có nhiều giống rất tốt đang phát triển ở Tây Nguyên, phù hợp phát triển ở Tây Nguyên, chất lượng rất cao.
Đề tài này đã kết thúc, đã công nhận về giống và sẽ tiếp tục việc đánh giá những giống phù hợp ở Tây Nguyên, chứ không phải chỉ dừng lại ở 10 loại giống này. Những cây mắc ca đầu tiên, một số được trồng bằng hạt, một số trồng cây ghép. Những cây mắc ca ở Tây Nguyên bây giờ đều có năng suất cao. Mỗi cây có thể thu được từ 10 - 20kg. Có thông tin cây mắc ca ở đây cho quả đến 70kg/1cây/1vụ thì tôi chưa thấy. Tôi nghĩ chắc cũng không có con số đó, 10 - 20kg là có.
Còn về cây thất bại thì ví dụ như mình cộng giống không phù hợp. Cây thực sinh bắt đầu ra quả chưa chắc đã cao, bởi vì nó bị phân ly. Một nguyên tắc với cây dài ngày, bây giờ ở Việt Nam cũng như trên thế giới, không ai trồng bằng hạt cả, bởi nó sẽ không duy trì được đặc tính tốt của cây.
Trong thời gian, một số cơ sở cung cấp cây giống và cũng có giá thành trong việc này, và nông dân mình chưa được hướng dẫn nên nhiều nông dân trồng cây từ hạt (cây thực sinh). Lời khuyên với một loại cây dài ngày, có giá trị kinh tế cao cần phải sử dụng cây ghép, và chỉ trồng và mua ở những cơ sở có uy tín nhất định. Và chỉ trồng những giống mà Bộ Nông nghiệp đã công nhận hoặc là những giống khác đã được đánh giá tốt đối với vùng đất như Tây Nguyên. Không phải bất kỳ giống nào cũng trồng.
Khi được hỏi về việc có thông tin cho rằng giống cây mắc ca hiện nay rất đắt: 100 nghìn đồng/cây. Nói khắt khe là làm thương mại trên lưng nông dân. Ông cho biết: “ Đúng cũng có những hiện tượng này, nhưng tôi cho rằng không phải là chính. Giá thị trường cây giống mắc ca ở Tây Nguyên biến động khoảng 60 đến 70 nghìn đồng một cây. Bởi vì cây giống này phải được trồng trong vườn ươm trên một năm, tối thiểu là 1 năm rưỡi nên chi phí tăng. Tôi nghĩ những người kinh doanh đó cũng không đủ sức mạnh quảng bá những cây này ồ ạt. Tôi nghĩ là thời gian vừa qua cây mắc ca có những cơ sốt, bởi vì có những cái doanh nghiệp lớn có những dự án nó quá lớn và có những bước đi cũng tương đối táo bạo”.
Ông cho biết thêm: “Ví dụ như là một số công ty đang định dự kiến phát triển hàng chục tới vài chục nghìn ha. Trong khi trên cả thế giới hiện nay mới có trên dưới 100ha. Hiện nay cây mắc ca vẫn sốt, không nên bỏ lỡ cơ hội phát triển cây mắc ca, bởi vì những đánh giá ban đầu cho thấy Tây Nguyên là một vùng đất lý tưởng để phát triển cây mắc ca. Đặc biệt, với trên 500 ha cà phê sẵn có ở Tây Nguyên, có thể trồng xen vào để xóa bỏ độc canh cà phê. Hai cây mắc ca và cà phê có thể sống chung với nhau, cái này thế giới đã chứng nhận. Ví dụ như đất nước Guatemala có 90% diện tích mắc ca trồng xen trong cà phê. Ở Viện nông lâm nghiệp Tây Nguyên chúng tôi có 10 nghìn ha cây mắc ca trồng xen với cà phê.”
Cây mắc ca xuất hiện trên truyền thông với những danh xưng "cây triệu đô", "cây tỷ phú" làm cho thông tin cứ phát sốt, cái này do các cơ quan truyền thông thổi bùng lên. Chữ "cây tỷ đô" đầu tiên là của cố Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn. Nhưng ông phát biểu ở góc độ khác: phải tổng hợp hài hòa, từ sản xuất chế biến đến xuất khẩu lâu dài, chứ không phải từ giá trị của hạt mắc ca. Đây phải là chuỗi giá trị; hoặc đơn giản chỉ là một hình tượng "một tỷ đô" về một loại cây có khả năng làm giàu cho nông dân Tây Nguyên và Việt Nam.
Với mong muốn cây mắc ca có thể là cứu cánh, nếu không thành tỷ phú thì ít ra cũng giải quyết được vấn đề đói nghèo của địa phương. Ông có chia sẻ: “Tôi thấy việc xóa đói giảm nghèo thì cũng tương đối khó. Vì đây là một cây công nghiệp đòi hỏi phải có đầu tư chăm sóc, phải tuân thủ nghiêm ngặt các kỹ thuật về giống, canh tác, chế biến. Hình ảnh một nông dân không có đầu tư kiến thức, vốn, có thể thoát nghèo và làm giàu, tôi cho rằng khó. Cây này chỉ phát huy hiệu quả kinh tế khi được đầu tư bài bản và có hệ thống. Từ việc cung cấp nguyên liệu, tới chế biến thương mại. Với những cây có giá trị kinh tế cao, phần chế biến thương mại cực kỳ quan trọng. Nếu có những doanh nghiệp lớn đầu tư theo chuỗi giá trị, tôi nghĩ dễ thành công vì họ có thể chia sẻ hai khâu hiệu quả cao nhất là chế biến thương mại. Người nông dân từ đó sẽ phát triển ổn định hơn. Ở góc độ xóa đói giảm nghèo thì phải có sự vào cuộc của những doanh nghiệp để giúp nông dân.”
Cây mắc ca trồng sau một số cây khác ở Tây Nguyên như cà phê, hồ tiêu nên có cái lợi thế là rút được những kinh nghiệm từ những cây trồng khác. Bây giờ nếu phát triển theo chuỗi giá trị, liên kết nông dân và doanh nghiệp, nông dân đảm nhận vùng cung cấp nguyên liệu của doanh nghiệp. Còn khâu chế biến, thương mại, quảng bá doanh nghiệp làm thì hiệu quả cao hơn. Hiện nay vẫn bị cắt từng khúc rời rạc, hiệu quả không cao.
Có doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ giống, vốn cho nông dân, và có thể là sẽ bảo hiểm cho nông dân tài sản vườn cây. Đây là một cơ hội, tất nhiên là không có gì thành công mà dễ dàng, phải có đầu tư thích đáng trong nghiên cứu để chọn được những giống mắc ca phù hợp nhất cho vùng. Nếu cứ phụ thuộc vào nhập giống nước ngoài thì không thể nào nhận được những giống tốt nhất. Ngay cả những giống tốt nhất của nước ngoài cũng chưa chắc đã phù hợp ở Việt Nam. Như một số nước đã làm.
Thứ hai là kỹ thuật canh tác, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch thế nào?Phải có một lực lượng cán bộ khuyến nông nắm vững kỹ thuật hướng dẫn nông dân, vì đây là loại cây trồng mới, khác với các cây cà phê, sầu riêng, cao su đã trồng nhiều năm ở đây. Nếu có đầu tư thích đáng, cùng sự vào cuộc của các doanh nghiệp, tôi nghĩ sự nghiệp mắc ca sẽ phát triển bền vững hơn. Chúng ta cũng sẽ khai thác được lợi thế về điều kiện tự nhiên của Tây Nguyên.
Thời gian gần đây nhiều người có ảnh hưởng trong xã hội có ý kiến rằng nên trồng mắc ca với số lượng lớn, tạo thành chiến lược. Có cảm giác "cuộc chạy đua mắc ca" đến hồi nước rút., ông cho biết: “Theo tôi không chỉ mắc ca mà những cây trồng khác chúng ta chỉ phát triển có hiệu quả khi hiểu biết đầy đủ về loại cây đó, và các điều kiện tự nhiên của vùng đang thực hiện là Tây Nguyên, cũng như xác định được thị trường hoặc là triển vọng môi trường. Tôi nghĩ là dù muốn, dù không cây mắc ca vẫn là một cây trồng mới, phải có những quyết định thận trọng, và chỉ trồng những giống tốt thật sự. Vấn đề quan trọng hiện nay là làm sao Nhà nước tăng cường việc quản lý chất lượng những nguồn cung cấp giống vì khi đã bung ra sản xuất thì rất khó kiểm soát.”
Bây giờ việc sản xuất tập trung trong một số cơ sở, ta tăng cường quản lý những cơ sở này. Có thể nó sẽ tốn kém, phát sinh nhiều vấn đề, nhưng Nhà nước phải quản lý chất lượng và giúp người nông dân tiếp cận được giống tốt. Vấn đề kỹ thuật từ từ nông dân sẽ hiểu và làm có hệ thống. Nếu cây giống không đạt yêu cầu, không đạt chất lượng thì những vấn đề khác như kỹ thuật sẽ không hiệu quả. (Vietnamnet 15/10) đầu trang(
Hiện nay, Ban Quản lý Rừng ATK Định Hóa đã tiến hành cấp xong 416 nghìn cây quế giống (tương đương diện tích trồng là 104ha) cho trên 70 hộ dân ở 6 xã của huyện, gồm: Linh Thông, Quy Kỳ, Tân Thịnh, Lam Vỹ, Bảo Linh và Phượng Tiến.
Số quế giống này được trồng vào diện tích rừng phòng hộ đã được phê duyệt thiết kế năm 2015. Tính đến thời điểm này, người dân đã trồng được khoảng 50% diện tích.
Các hộ dân tham gia trồng quế được huyện cấp 2.500 cây quế/ha. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cung ứng giống còn cho vay 1.500 cây/ha. Các hộ dân này còn được tuyên truyền chủ trương, các cơ chế hỗ trợ của huyện trong việc phát triển rừng quế.
Được biết, từ nay đến năm 2020, huyện Định Hóa dự kiến trồng 2.000ha quế tại các xã nằm trong vùng quy hoạch gồm: Kim Sơn, Quy Kỳ, Tân Dương, Phượng Tiến, Tân Thịnh, Lam Vỹ, Linh Thông, Phúc Chu. Riêng năm 2016, huyện sẽ phấn đấu trồng 500ha quế. Các hộ tham gia trồng quế được tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây, hỗ trợ giống cây, phân bón vô cơ để bón lót theo quy trình kỹ thuật. (Báo Thái Nguyên 14/10) đầu trang(
Toàn tỉnh hiện có 19 doanh nghiệp chế biến gỗ, 1 doanh nghiệp chế biến lâm sản ngoài gỗ với tổng khối lượng gỗ nguyên liệu nhập xưởng bình quân hàng năm khoảng trên 70.000m3.
Các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn chủ yếu vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu, chế biến gỗ thành phẩm thô chứ chưa thực sự đi vào chiều sâu.
Năm 2014, 20 cơ sở đã nhập vào tổng khối lượng gỗ là 78.078 m3, trong đó, gỗ rừng tự nhiên là 23.286m3; gỗ rừng trồng là 54.792 m3. Tổng khối lượng gỗ xuất xưởng trong năm là hơn 43,3 ngàn m3 nhưng tập trung ở một vài công ty lớn, số còn lại chủ yếu sản xuất sản phẩm gỗ thô phục vụ các công trình dân dụng.
Nguyên nhân một phần là do phần lớn các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh chưa thực sự quan tâm đến khai thác chiều sâu như đầu tư máy móc, sản xuất những sản phẩm mộc tinh chế, tìm thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên liệu đầu vào.
Toàn tỉnh chỉ có 7 cơ sở đã đầu tư máy móc thiết bị hoàn chỉnh để sản xuất đồ mộc xuất khẩu, gỗ tinh chế như Công ty cổ phần chế biến gỗ xuất khẩu Hưng Thịnh, Công ty TNHH Hải Sơn, DNTN Khánh Công (Chư Jút); Công ty TNHH MTV Đại Thành (Đắk Mil); Công ty Cổ phần Kỹ nghệ gỗ Long Việt (Đắk Song), Công ty TNHH Thái Thịnh (Đắk Glong).
Thế nhưng trong đó cũng chỉ có Công ty Cổ phần Kỹ nghệ gỗ Long Việt được đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại để sản xuất ván nhân tạo, ván sợi MDF và được xem là cơ sở duy nhất đầu tư đúng hướng. Các cơ sở chế biến còn lại tuy có đầu tư trang thiết bị nhưng lạc hậu, ít được đổi mới, không đồng bộ.
Chưa kể đến, phần lớn các cơ sở nêu trên có quy mô nhỏ lẻ, đặc biệt là thiếu vốn đầu tư nên năng lực cạnh tranh yếu. Sản phẩm của các cơ sở đa số là gỗ xẻ xây dựng cơ bản, mộc dân dụng cung cấp cho thị trường trong nước.
Hiện chỉ có ít doanh nghiệp xuất khẩu đồ mộc và chủ yếu xuất khẩu đi Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... nên chưa mang tính đa dạng, hiệu quả sản xuất thấp. Lao động tại các đơn vị chế biến lâm sản hiện khoảng 2.000 người nhưng chủ yếu là lao động thời vụ, tay nghề thấp, chưa mang tính chuyên nghiệp.
Với một tỉnh được xem là có thế mạnh về lâm sản, trong đó có nguyên liệu gỗ, nhưng, sản phẩm từ lĩnh vực này lại đang đóng vai trò thứ yếu, rất mờ nhạt trong tỷ trọng kinh tế của tỉnh. Trong khi, theo nghiên cứu, điều kiện kinh tế càng phát triển, đời sống đa phần người dân được nâng lên thì nhu cầu tiêu dùng gỗ theo đầu người ngày càng tăng.
Cụ thể, các sản phẩm từ gỗ như hàng mộc cao cấp, đồ gỗ nội thất, gỗ mỹ nghệ, ván nhân tạo là những mặt hàng có nhu cầu rất lớn kể cả thị trường trong nước và nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và nhiều năm tiếp theo. Trong khi nguyên liệu từ rừng tự nhiên càng thu hẹp thì ngoài việc đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, để đảm bảo tính bền vững, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cũng cần quan tâm đến nguồn nguyên liệu tái tạo, nguyên liệu tận dụng và nguyên liệu trồng.
Theo thống kê, tổng diện tích trồng rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2008 đến nay khoảng gần 15.000 ha nhưng chủ yếu là rừng trồng từ các chương trình, dự án của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Diện tích rừng nguyên liệu do các doanh nghiệp tham gia trồng còn rất khiêm tốn, chỉ khoảng hơn 5,7 ngàn ha.
Từ đây cho thấy, vấn đề quy hoạch, tái cơ cấu lĩnh vực sản xuất, chế biến đồ gỗ đang là yêu cầu rất cần được quan tâm hiện nay. Để làm được điều này, tỉnh cần có chính sách thu hút, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại kết hợp với mở rộng vùng nguyên liệu, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường… để sản xuất, chế biến gỗ thực sự đi vào chiều sâu, mang tính bền vững. (Báo Đắk Nông 14/10) đầu trang(
Năm 2011, được sự tài trợ của công ty Premier – Vương quốc Anh, thông qua cơ quan đại diện phía Nam của Trung ương Hội CTĐ Việt Nam, Hội CTĐ tỉnh Sóc Trăng đã tiếp nhận dự án trồng rừng ngập mặn ven biển tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề.
Đến nay, tỉnh hội đã thực hiện được 4 giai đoạn dự án, góp phần tạo lá chắn xanh cho vùng ven biển và phòng ngừa thảm họa thiên tai. Tuy nhiên, việc duy trì và phát huy hiệu quả diện tích rừng đã trồng gặp nhiều khó khăn bởi tác động từ nhiều phía.
Khi tiếp nhận dự án, Hội CTĐ tỉnh Sóc Trăng đã chủ động phối hợp với Sở NN & PTNT, Chi cục Kiểm lâm, UBND huyện Trần Đề tiến hành chọn giống cây thí điểm, tổ chức tuyên truyền, khuyến khích cộng đồng và nhân dân tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng. Từ việc thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ dự án, trong giai đoạn đầu đã có 25 ha rừng bần được trồng với tỉ lệ cây sống đạt 80%.
Sau đó các giai đoạn tiếp theo tiếp tục được triển khai thực hiện trong 4 năm, đến nay đã có 65 ha rừng bần được trồng mới tại bãi bồi ven biển xã Trung Bình, với tổng kinh phí thực hiện gần 5 tỉ đồng.
Ông Lâm Văn Bé, Phó Chủ tịch UBND huyện Trần Đề, cho biết: “ Dự án trồng rừng thời gian qua đã góp phần rất hiệu quả trong giảm tác hại của biến đổi khí hậu và còn góp phần tạo hệ sinh thái dưới tán rừng, giúp bà con cải thiện đời sống nhất là những hộ nghèo. Dự án này được người ven biển rất đồng tình ủng hộ”.
Sau 4 giai đoạn của dự án đã nâng diện tích rừng phòng hộ của huyện Trần Đề lên gần 740 ha, qua đó có tác dụng rất lớn trong việc giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biển đổi khí hậu đồng thời còn tạo được sự hài hòa trong việc đảm bảo sinh kế cho người dân vùng ven biển với việc bảo vệ, phát triển các loài thủy sản. Từ khi các vạt rừng bần ngập mặn được trồng dày lên, các bãi bồi được phủ xanh lấn dần ra biển, đời sống người dân nơi đây đã nâng lên đáng kể, triều cường, gió bão, lốc xoáy cũng giảm bớt mức độ thiệt hại.
Anh Lê Văn Châu, Tổ trưởng tổ bảo vệ rừng, cho biết: “Dự án trồng rừng ngập mặn đã giúp người dân vùng ven biển có việc làm ổn định. Hiện Tổ trồng rừng và bảo vệ rừng có trên 30 người, bà con giờ đã ý thức hơn trong việc trồng và bảo vệ rừng và cũng hạn chế được việc phá rừng.”
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Bần non luôn gặp nhiều khó khăn gây thiệt hại đến hiệu quả trồng rừng. Như do ảnh hưởng của địa hình, địa lý, vị trí các bãi bồi ven biển tập trung nhiều bãi bùn, dầy khi gặp tác động của dòng chảy và thời tiết, làm cây bần mới trồng ngập sâu dưới bùn, cây non bị chết và hư.
Đặc biệt qua mùa mưa bão và chuyển mùa gió chướng Tây Nam, tỉ lệ cây hao hụt phải trồng dặm từ 25-30%, thậm chí có những vị trí trồng rừng tỉ lệ cây thiệt hại trồng lại trên 50%. Bên cạnh những thiệt hại do tác động của thiên tai, dự án còn gặp nhiều khó khăn do con người trực tiếp tác động, phá hoại. Trong năm 2014, các ngư dân vãng lai đã đóng đáy lưới dày đặt trong vùng quy hoạch trồng Bần của dự án, gây thiệt hại trên 30 ngàn cây Bần non từ một- hai năm tuổi.
Năm 2015, các tàu ghe ngoài tỉnh đến khai thác trái phép các loài thủy sản sinh sống ven bờ đã gây thiệt hại trắng 12,2 ha rừng Bần từ hai đến ba năm tuổi đang phát triển tốt. Sau những thiệt hại trên, Hội CTĐ tỉnh Sóc Trăng đã báo cáo UBND tỉnh và Ban Điều hành dự án cấp trung ương, đồng thời cùng chính quyền địa phương chủ động khắc phục diện tích hư hại và có biện pháp tăng cường mạnh hơn công tác tuyên truyền trong thời gian tới.
Bà Nguyễn Thu Hương, Chủ tịch Hội CTĐ tỉnh Sóc Trăng, nhận xét: “Chúng tôi triển khai dự án đến nay đã được 4 năm và trồng được trên 65 ha rừng. Hiện diện tích sinh thái dưới tán rừng đã có nhiều loài thủy sản sinh sống. Cái khó của chúng tôi là các diện tích rừng khoảng từ 1 đến 2 năm tuổi đang bị các tàu đáng bắt các tỉnh lân cận đến khai thác, làm thiệt hại diện tích rừng rất lớn, có những đoạn khoảng 12ha bị mất trắng hoàn toàn. Thời gian tới, chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với Công an, Biên phòng, Kiểm lâm để tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, nhằm bảo vệ và chăm sóc rừng được tốt hơn”.
Về phía địa phương, Ông lâm Văn Bé, Phó Chủ tịch UBND huyện Trần Đề, cho biết:“Về trách nhiệm của địa phương, chúng tôi sẽ tăng cường công tác tuyên truyền để người dân có ý thức hơn trong việc chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có, đồng thời cử người thường xuyên kiểm tra giám sát để tránh tình trạng khai thác nghêu trên diện tích rừng của địa phương quản lý”.
Tỉnh Sóc Trăng với 72km bờ biển, trong đó có 2 huyện, 1 thị xã tiếp giáp Biển đông, tuy nhiên diện tích rừng ngập mặn phòng hộ ven biển hiện nay chỉ gần 6.000 ha, dự án trồng rừng ngập mặn ven biển xã Trung Bình, huyện Trần Đề đã đóng góp đáng kể vào quỹ rừng hiện có của địa phương, đồng thời tạo lá chắn xanh góp phần giảm bớt những tác hại của thiên tai, bảo vệ môi trường sống.
Tuy nhiên thời gian tới, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng, sự tham gia hỗ trợ tích cực của các đơn vị có thẩm quyền, nhất là sự ý thức của người dân để rừng không còn bị xâm hại và bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 14/10) đầu trang(
Là tỉnh vùng cao, có diện tích tư nhiên rộng hơn 480.000 ha, dân cư thưa thớt, chưa đến 30 vạn người và 95% diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là đất rừng, đất lâm nghiệp.
Thế nhưng, kinh tế từ đất rừng, đất lâm nghiệp đem lại cho người dân nơi đây còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng…
So với các tỉnh trong khu vực Việt Bắc, quỹ đất rừng và đất lâm nghiệp Bắc Kạn là rất lớn, với 432.387 ha. Trong đó có 303.675 ha đất được quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp. Với quỹ đất lớn, thổ nhưỡng khá màu mỡ, rất thuận lợi cho trồng cây lâm nghiệp và phát triển nghề rừng.
Tuy nhiên, chủ yếu là núi cao, địa hình hiểm trở, nên suốt nhiều năm qua, kinh tế rừng của Bắc Kạn vẫnđược nông dân phát triển theo lối tự phát, chưa tạo thành sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh theo mùa vụ như những địa phương khác, do đó, quỹ đất rừng và đất lâm nghiệp chưa phát huy hiệu quả như mong muốn và hầu như chưa thể giúp nông dân yên tâm sống bằng nghề trồng rừng.
Chính vì thế, nhiều quỹ đất thuận tiện cho việc trồng cây lâm nghiệp, nhưng vẫn được nông dân quen dùng để trồng những cây lương thực ngắn ngày như: Khoai, sắn, bí, ngô, đỗ tương. Vì những cây lương thực giúp cho người dân có thứ ăn trước mắt. Điển hình nhất là các huyện; Ngân Sơn, Pác Nặm, Ba Bể vẫn có nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể phát huy thế mạnh của cây công nghiệp, cây đặc sản, nhưng phần lớn đã được nông dân quy hoạch thành những nương rẫy cố định, để trồng cácloại cây lương thực ngắn ngày như; ngô, sắn, khoai… với mục đích nhanh được thu hoạch, sớm hồi vốn.
Hầu hết những nông dân được hỏi, họ đều biết giá trị của những cây công nghiệp, cây đặc sản hoặc cây gỗ quý sẽ có giá trị cao hơn nhiều so với trồng cây lương thực, nhưng do thiếu vốn đầu tư, nên họ phải nhìn vào lợi nhuận phía trước.
Ông Lý Kim Tiến, thôn Tân Cư, xã Xuất Hoá thị xã Bắc Kạn là những người đi đầu trong phong trào trồng rừng và sống bằng nghề rừng tại tỉnh Bắc Kạn. Bởi những năm 1990 của thế kỷ trước, ông đã mạnh bạo nhận giống cây mỡ về, sau đó thuê lao động cuốc hốc, để trồng trên diện tích khoảng 17 ha đất lâm nghiệp của gia đình.
Đến năm 2000, gia đình ông thu hoạch vụ gỗ đầu tiên, những cây mỡ thẳng tắp dài từ 6 đến 8 mét, đường kính gốc to nhất gần 30cm. Cứ tưởng khi bán hết rừng, sẽ có tích luỹ dưỡng già. Thế nhưng, bán sạch cả rừng mới thu được số tiền đủ trang trải tiền thuê người trồng, chăm sóc và may mắn là còn dư được chút ít, đủ tiền mua cây giống và tiếp tục thuê dân trồng lại diện tích rừng đã chặt hạ.
Cũng theo cách tính của ông Tiến, thì cây keo và cây mỡ là 2 giống cây được ươm trồng phổ biến tại các vườn ươm của Bắc Kạn, có lợi thế là giá cây giống rẻ, dễ trồng, nhanh lớn. Thế nhưng, loại cây này có nhược điểm là giá bán rẻ như gỗ tạp, lúc chặt hạ chỉ bán cho những cơ sở thu gom về làm gỗ chống hầm lò, hoặc băm nhỏ làm gỗ ép, nên giá trị kinh tế rất thấp. Do đó, sau khi trồng lại rừng, ông đã tìm mua thêm những loại cây ăn quả, cây gỗ quý bản địa để trồng xen canh, với hy vọng sau này sẽ có cơ hội thu được món tiền lớn hơn.
Nhìn chung, những người có những cánh rừng đẹp, có thể bán thu được hàng trăm triệu đồng hiện nay, phần lớn thuộc về những người có điều kiện kinh tế khá giả, hoặc những nhà nông đã có ruộng, vườn và đất bãi trồng cây lương thực, đủ để nuôi sống gia đình. Do đó, công việc trồng rừng cốt để giữ đất, với hy vọng sau vài năm được thu hoạch, sẽ có tích luỹ để sửa sang nhà cửa, hoặc mua sắm những vật dụng đắt tiền, bởi trong họ chưa có khái niệm sẽ sống và làm giàu bằng nghề rừng.
Cũng do địa hình hiểm trở, nên trồng rừng đã khó, đến khi được thu hoạch còn thêm các loại thủ tục, giấy tờ “làm khó” đối với chủ rừng và những người kinh doanh hàng lâm sản, nên nhiều nông dâncủa huyện; Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Bạch Thông...đã có vườn rừng đến kỳ khai thác, nhưng cũng chẳng buồn thuê người chặt hạ. Vì địa hình phức tạp, độ dốc cao, đường vận chuyển từ trong rừng đến đường xe ô tô quá tốn kém, do đó tiền thuê người chặt, khuôn vác ra đến nơi tập kết coi như hoà, nên nhiều người trồng rừng vẫn với mục đích để giữ đất đồi rừng, nhằm tránh người khác xâm lấn đất “ông cha”, vì họ chưa có tính đến hiệu quả từ những đồng vốn bỏ ra để trồng rừng.
Cho đến hết năm 2014, Bắc Kạncó 99.585 ha rừng trồng các loại đang trong giai đoạn phát triển, tuổi cây rừng từ 1 đến 16 năm, chỉ có số ít đã trồng hơn 20 năm về trước. Trong đó, vẫn chủ yếu là các loại cây giá trị kinh tế thấp như: Trúc sào, luồng, mỡ, sấu, tre…
Những cây trồng gọi là chủ lực vẫn thuộc nhóm cây ngoại lai quen thuộc như;cây keo có 20.462 ha, nhóm các loại hỗ giao giữa cây bản địa và ngoại lai như: lát, quế trồng xen canh khoảng hơn 11.000 ha, còn nhóm cây tạp bản địa phổ biến nhất như: Chè sham tuyết, hồi, trám, xoan ta, bồ đề, thông là hơn 60.000 ha. Ngoài ra, còn số ít những cây quý hiếm như lát hoa, đinh, nghiến đã được số ít người dân tự trồng phân tán trong vườn rừng ở nơi gần nhà.
Trong 5 năm qua, diện tích có rừng của Bắc Kạn khá lớn, độ che phủ của thảm thực vật luôn duy trì mức 65 đến 72%, nhưng các cây trồng vẫn chủ yếu là những loại gỗ tạp phổ thông, giá trị kinh tế thấp, cùng với điều kiện địa hình phức tạp thì việc trồng, chăm sóc đến khi thu hoạch sẽ không còn lợi nhuận cao.
Trong khi, điều kiện tự nhiên của Bắc Kạn mát mẻ quanh năm, nhiều rừng có núi đá vôi, rất phù hợp với các loại gỗ quý như: Đinh, nghiến, lát hoa, thông đá. Tuy nhiên, chính sách phát triển các loại cây quý hiếm bản địa đã không được chính quyền hướng dẫn người dân trồng, nên các vườn ươm chưa quan tâm tạo cây giống.
Từ đó, diện tích rừng trồng lớn, cây rừng phát triển nhanh, đạt sinh khối bình quân từ 10 đến 15m3/ha/năm, những nơi rừng đạt trên 10 năm tuổi sẽ có sinh khối trên 80 /ha/năm. Tổng sản lượng gỗ nguyên liệu được khai thác hàng năm đạt bình quân từ 230 đến 250.000m3 gỗ nguyên liệu.
Tuy sản lượng gỗ hàng năm của Bắc Kạn rất lớn, nhưng giá trị tiền thu về cho người trồng rừng còn thấp, bởi chủ yếu là gỗ tạp rẻ tiền, trong đó nhân công trồng, chăm sóc, cắt hạ chủ yếu bằng phương pháp thủ công, sức người là chính.Chi phí tiền nhân công lao động cao đã làm cho nông dân không còn lời lãi.
Do đó, trong chiến lược phát triển nghề rừng những năm gần đây, Bắc Kạn đã mời gọi những nhà đầu tư có vốn dài hơi đầu tư vào nghề rừng từ trồng rừng đến chế biến, trong đó ưu tiên phát triển cây có giá trị cao như quế, hồi.
Ngoài ra, các vườn ươm đã chủ động lựa chọn các cây giống tốt, đủ tiêu chuẩn để thực hiện thu hái hạt và tạo mầm giống giúp nông dân đa dạng sản phẩm cây lâm nghiệp, giúp cho những người có điều kiện kinh tế tham gia trồng rừng đặc sản, nhằm từng bước đa dạng hoá các sản phẩm lâm sản của địa phương.
Không chỉ liên quan đến vốn của người dân còn hạn chế, cùng với đó là những nút buộc của cơ chế và pháp lý chưa rõ ràng giữa gỗ quý hiếm được thu hoạch từ rừng trồng với gỗ quý hiếm rừng tự nhiên, dẫn đến người dân Bắc Kạn vẫn chưa dámđầu tư trồng cây gỗ đặc sản, hoặc chưa thật sự mặn mà với nhóm cây trồng bản địa quý hiếm như: Nghiến, đinh, lát, thông đá.
Bởi cây trồng quý hiếm vẫn chưa có lối ra trong tiêu thụ sản phẩm, nếu nông dân có trồng được cây gỗ quý, sau hơn 10 năm, lỡ nông dân muốn chặt bán, sẽ gặp các thủ tục rắc rối, vì nơi cửa rừng các loại gỗ quý hiếm sẽ bị lực lượng chức năng kiểm tra rất chặt chẽ, nếu không có cơ chế rõ ràng, rất có thể nông dân sẽ gặp rắc rối về mặt pháp lý, khiến họ không mặn mà, nên cơ cấu trồng rừng suốt 20 năm qua vẫn là cơ cấu những loại gỗ tạp mau lớn, dễ trồng, dễ bán. Do đó, vòng luẩn quẩn trong lựa chọn cây giống cứ mãi bám vào người nông dân, và chưa có cuộc thay đổi cơ cấu cây giống, thì chưa thể giúp nông dân gắn bó với nghề rừng để thoát nghèo. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/10) đầu trang(
Ngày 14-10, tại lễ khai mạc Triển lãm Quốc tế lần thứ 11 về máy và thiết bị công nghiệp chế biến gỗ 2015, đại diện Bộ Công Thương cho biết, những năm gần đây, sản phẩm chế biến gỗ đã và đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu mỗi năm một tăng cao, tiềm năng xuất khẩu sản phẩm gỗ rất lớn.
Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt hơn 4,3 tỷ USD, tăng 14,1% so với năm 2013; 9 tháng năm 2015, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 3,4 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Với những kết quả này cho thấy, tiềm năng phát triển và xuất khẩu của ngành chế biến gỗ còn rất lớn. Do vậy, nhu cầu giao lưu, tìm hiểu, trao đổi về công nghệ chế biến gỗ của các doanh nghiệp rất cần thiết, góp phần thúc đẩy ngành chế biến gỗ phát triển.
Với định kì 2 năm một lần, triển lãm Quốc tế lần thứ 11 về máy và thiết bị công nghiệp chế biến gỗ lần này đã quy tụ gần 300 doanh nghiệp, các hiệp hội gỗ đến từ 21 quốc gia vùng lãnh thổ quan tâm. Với quy mô gần hơn 500 gian hàng, tập trung trưng bày trang thiết bị công nghệ hiện đại, máy móc chế biến gỗ, nguyên phụ liệu, linh kiện cho ngành sản xuất gỗ xẻ, ván lạng, ván MDF, ván ép, lò sấy khô...
Triển lãm sẽ là cầu nối liên kết giữa nhà cung cấp với các công ty nhập khẩu, các nhà máy chế biến gỗ, đồng thời các doanh nghiệp quảng bá và giới thiệu các loại máy móc chế biến gỗ, các công nghệ liên quan cũng như các sản phẩm và dịch vụ đi kèm một cách hiệu quả.
Đây là kênh xúc tiến thương mại quan trọng giúp các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài gặp gỡ, trao đổi khoa học công nghệ, thu hút đầu tư vào thị trường Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường ra các nước trong khu vực và quốc tế.
Triển lãm do Chi nhánh Công ty VINEXAD, Công ty Triển lãm quốc tế Chan Chao, Công ty TM và DV tiếp thị Yorkers tổ chức, diễn ra từ ngày 14 đến ngày 17-10-2015 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn , quận 7, TP.HCM. (Hải Quan 14/10) đầu trang(
Vụ cháy xưởng gỗ ở Gia Lai: Người đe dọa phóng viên là kế toán trưởng
Sáng ngày 15.10, Phòng Cảnh sát PCCC CA tỉnh Gia Lai đang tổ chức khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân vụ cháy tại xưởng gỗ Cty TNHH Hiệp Lợi (trú 291 Trường Chinh, Phường Trà Bá, TP. Pleiku) - do ông Hồ Sỹ Hiệp làm Giám đốc.
Vụ cháy xảy ra khoảng 19h20 ngày 14.10, đến 20h30, cảnh sát PCCC cơ bản khống chế được ngọn lửa.
Liên quan đến vụ cháy, người phụ nữ đe dọa, lấy khúc gỗ đòi đập máy ảnh PV C.B (Đài tiếng nói Việt Nam - VOV) được xác định là Bùi Thị Kha Trân (SN 1975, Kế toán trưởng Cty TNHH Hiệp Lợi. Bà Trân yêu cầu PV không được chụp ảnh, quay phim vì “doanh nghiệp không muốn đưa tin”.
"Kinh nghiệm thì mình không có, thấy cháy thì bực, rồi Cty chắc chắn sẽ quy trách nhiệm này kia. Hôm qua, mình thấy thực sự là mình sai, rất sai", bà Trân áy náy.
Cán bộ cảnh sát nhận định, công tác PCCC tại Cty này được buông lỏng, xem thường khi bình chữa cháy hết khí, bảng tiêu lạnh PCCC bong tróc, dòng chữ rất mờ. Nếu không có sự có mặt kịp thời của lực lượng PCCC thì ngọn lửa đã lây lan, thiêu rụi toàn bộ số gỗ ở xưởng.
Các xưởng gỗ lớn tại Gia Lai hiện đang bị Cục An ninh nông nghiệp nông thôn (A86) - Tổng cục An ninh, Bộ Công an phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) tổng kiểm tra, làm rõ nguồn gốc, xuất xứ. Cty TNHH Hiệp Lợi chứa hàng trăm m3 gỗ, rộng nhiều hecta là một trong những xưởng gỗ lớn của Gia Lai. Với những dấu hiệu không minh bạch, Bộ Công an và Tổng cục Lâm nghiệp nên sớm đưa Cty này vào diện cần kiểm tra tại Gia Lai. (Lao Động 15/10; Đài Tiếng Nói Việt Nam 15/10) đầu trang(
Bình Phước có diện tích đất tự nhiên 687.154 ha, là nơi định cư, sinh sống của trên 922.889 người gồm nhiều dân tộc khác nhau.
Theo số liệu diễn biến rừng năm 2014 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tổng diện tích đất lâm nghiệp 178.417,57 ha, trong đó đất rừng đặc dụng 31.397,78 ha, đất rừng phòng hộ 44.544,71 ha, đất rừng sản xuất 102.475,08 ha. Theo hiện trạng sử dụng đất thì diện tích có rừng là 115.617,96 ha (gồm 58.263,41 ha rừng tự nhiên với nhiều loại hiện trạng khác nhau, biến động từ rừng nghèo kiệt bị tác động mạnh đến rừng giàu, nguyên sinh); 57.354,55 ha rừng trồng; 61.546,06 ha đất chưa có rừng.
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, Bình Phước có khả năng cung ứng được cả 5 loại dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính phủ.
Theo kế hoạch thu, chi tiền DVMTR năm 2015, hiện xác định được 9 đơn vị chủ rừng đủ điều kiện cung ứng DVMTR, gồm: Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Vườn quốc gia Cát Tiên, Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Gia Phúc, Hạt Kiểm lâm thị xã Phước Long, các Công ty TNHH MTV: Cao su Sông Bé, cao su Phước Long, cao su Bình Phước, cao su Phú Riềng và Trung tâm Ứng dụng khoa học lâm nghiệp Nam bộ. Các chủ rừng và cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp có đội ngũ cán bộ kỹ thuật đủ năng lực để thực hiện việc chi trả DVMTR.
Đồng thời cũng xác định được 19 đơn vị sử dụng DVMTR của tỉnh, gồm: 7 cơ sở sản xuất thủy điện (trong đó 5 cơ sở do Quỹ Trung ương điều tiết); 10 cơ sở sản xuất nước sạch (trong đó 7 cơ sở do Quỹ Trung ương điều tiết) và 2 tổ chức kinh doanh du lịch. Tính đến tháng 8-2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã thu được 68,87 tỷ đồng tiền ủy thác chi trả DVMTR từ các cơ sở, tổ chức sử dụng DVMTR của tỉnh.
Từ những đặc điểm tiềm năng nêu trên có thể thấy, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh có những thuận lợi như: Toàn bộ diện tích tự nhiên của tỉnh phân bố trên ba lưu vực lớn là sông Bé, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Đây là những lưu vực có tiềm năng cho sản xuất thủy điện, nước sản xuất và nước sinh hoạt ở khu vực miền Đông Nam bộ. Phần lớn diện tích rừng phân bố ở những khu vực phát huy được giá trị DVMTR.
Đặc biệt là điều tiết và duy trì nguồn nước. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển cả về số lượng và chất lượng rừng. Số lượng cơ sở, tổ chức sử dụng DVMTR của tỉnh tương đối nhiều. Qua đó, góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh những thuận lợi thì cũng còn một số hạn chế như: Tổng diện tích đất lâm nghiệp chiếm 25,96% diện tích tự nhiên của tỉnh là không nhiều so với một số tỉnh có chung lưu vực chi trả DVMTR. Bên cạnh đó, diện tích đất chưa có rừng là 61.546,06 ha (chiếm 34,5% diện tích đất lâm nghiệp).
Vì vậy, cần phải phát triển những mô hình rừng trồng đa mục đích, bền vững, phù hợp với điều kiện của địa phương, có đủ điều kiện cung ứng DVMTR trên diện tích đất chưa có rừng. Giá chi trả DVMTR đang áp dụng một mức giá chung cho toàn tỉnh, chưa phản ánh đúng chất lượng dịch vụ của mỗi lô rừng, chưa công bằng.
Vì vậy, cần tính toán cụ thể giá chi trả cho mỗi lô rừng theo lưu vực và đơn vị sử dụng DVMTR. (Báo Bình Phước 14/10) đầu trang(
Là tỉnh miền núi có diện tích rừng bao phủ khá lớn, vì vậy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được triển khai trên địa bàn tỉnh ta không chỉ góp phần cải thiện đời sống cho người dân, cho chủ rừng, mà còn góp phần giúp công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn.
Xác định ý nghĩa thiết thực của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh để làm đầu mối thực hiện thu, chi trả phí DVMTR. Đồng thời xây dựng và ban hành các Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR; phê duyệt Đề án triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Công tác tuyên truyền được chú trọng triển khai với nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân về chính sách chi trả DVMTR và trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng. Cùng với đó, chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác quản lý, vận hành hệ thống chi trả DVMTR từ tỉnh tới huyện, xã; nguồn kinh phí đã được giải ngân theo kế hoạch hàng năm tới các chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Gia đình anh Lù A Minh, bản Nậm Dê, xã Sơn Bình, huyện Tam Đường là một trong những hộ được nhận tiền phí dịch vụ môi trường rừng. Anh Minh chia sẻ: “Đã 3 năm nay, năm nào gia đình tôi được nhận hơn 4 triệu đồng từ sách chi trả DVMTR. Số tiền trên tôi đăng ký một phần mua cây, con giống để chăn nuôi, trồng trọt; một phần đầu tư mua quần áo, sách vở cho con học tập.
Nhờ đó cuộc sống của gia đình từng bước được nâng cao. Tôi và bà con trong bản thường xuyên vào rừng kiểm tra, phát cỏ để rừng lên xanh tốt, không đốt lửa bừa bãi trong rừng như trước nữa”.
Được biết, từ năm 2012 đến hết tháng 9/2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã thu hút được số tiền chi trả hơn 541.475 triệu đồng. Quỹ đã phối hợp với các địa phương, các hộ, đơn vị chủ rừng tổ chức nghiệm thu và thực hiện chi trả đầy đủ cho đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng với số tiền gần 494.984,8 triệu đồng với 8.522 hộ được nhận tiền chi trả DVMTR.
Đơn giá chi trả bình quân cho 1ha năm 2012 là 270.214 đồng/năm, năm 2013 tăng lên 333.662 đồng/ha/năm, năm 2014 là 434.177 đồng/ha/năm. Cá biệt có hộ có thu nhập cao nhất tại xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn là 47.5 triệu đồng/năm. Riêng huyện Mường Tè – địa phương có diện tích rừng khá lớn, mức thu nhập bình quân của các hộ trong huyện 16,4 triệu đồng/năm. Mức thu nhập này đã thực sự góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo đồng chí Lê Trọng Quảng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh ta đã thực sự đem lại những hiệu quả đáng khích lệ cả về môi trường, kinh tế và hiệu ứng xã hội. Đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương gắn bó với rừng.
Số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy giảm rõ rệt, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã giảm; trên địa bàn tỉnh không có tụ điểm lớn về phá rừng, kinh doanh lâm sản trái pháp luật... Điều đáng nói là chính sách chi trả DVMTR được triển khai đã góp phần nâng cao nhận thức của đại bộ phận người dân trên địa bàn tỉnh về công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Nếu như năm 2012, Tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt: 43%. Đến hết năm 2015, tỷ lệ che phủ rừng ước đạt trên 45,5%. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng bước đầu đã đi vào cuộc sống, gắn kết lợi ích giữa người sử dụng dịch vụ môi trường rừng và người bảo vệ rừng.
Chính sách chi trả DVMTR, giao đất giao rừng cho người dân hiện nay đang là một trong những động lực thúc đẩy người dân sống bằng nghề rừng, yên tâm gắn bó với rừng; đồng thời thúc đẩy nghề lâm nghiệp của tỉnh ta ngày càng phát triển bền vững.
Đến nay, 8 huyện, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp huyện. Ban Quản lý rừng phòng hộ các huyện, Hạt Kiểm lâm là các đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng và thực hiện nhiệm vụ chi trả DVMTR tại địa bàn các huyện, thành phố.
Đối với cấp xã, bản: toàn tỉnh đã thành lập 108 Ban Chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cấp xã; 1.144 tổ xung kích bảo vệ rừng và PCCCR thôn, bản (nay chuyển thành tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng thôn, bản gắn với việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng). (Báo Lai Châu 14/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một loài chim sống trong những cánh rừng mưa ở Đông Á đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi chiếc mỏ sừng có giá trị cao gấp ba lần ngà voi.
Theo BBC, chim tê điểu, hay còn gọi là hồng hoàng mũ cát, nặng khoảng ba kilogram. Chúng có cục u tạo thành từ chất sừng (một loại protein sợi) kéo dài dọc phần trên mỏ đến hộp sọ. Chiếc sừng cứng như sắt này có thể chiếm 11 % trọng lượng con chim.
Có hơn 60 loài chim mỏ sừng sinh sống ở châu Phi và châu Á, tất cả đều có sừng rỗng, trừ chim hồng hoàng mũ cát. Con trống sử dụng chiếc sừng trong những cuộc giao chiến. Ngoài ra, cả chim trống và mái đều dùng chiếc sừng như một dụng cụ đào côn trùng từ những thân cây mục ruỗng.
Tê điểu sống ở Malaysia và Indonesia, tập trung trên các hòn đảo Sumatra và Borneo. Chúng thường ăn trái cây và các loại hạt nên được mệnh danh là "những nông dân của rừng rậm" bởi vai trò phát tán hạt giống trong khi ăn.
Những con chim có sải cánh lên tới hai mét, bộ lông hai màu trắng đen và mảng da trần lớn xung quanh cổ họng. Chúng nổi tiếng với tính cảnh giác và khả năng lẩn trốn.
Mỗi năm, hàng nghìn con chim mỏ sừng bị giết để lấy sừng và các tay săn trộm thường bán đầu chim sang Trung Quốc. Trong năm 2012-2014, các nhà chức trách đã thu được 1.111 chiếc sừng từ tổ chức buôn lậu ở West Kalimantan, Indonesia. Yokyok Hadiprakarsa, nhà nghiên cứu chim mỏ sừng, ước tính khoảng 6.000 con chim bị giết hàng năm ở Đông Á.
Chiếc sừng của tê điểu đôi khi còn được nhắc tới như "ngà". Đây là một vật liệu đẹp để chạm khắc với bề mặt trơn nhẵn và sắc vàng do các chất tiết ra từ tuyến dầu. Phần lớn các loài chim sử dụng đầu để xoa chất dầu bảo vệ từ tuyến này lên bộ lông, chân và bàn chân.
Trong hàng trăm năm, những nghệ nhân Trung Quốc rất ưa chuộng sừng tê điểu và dùng nó để chế tác đồ cho giới quý tộc giàu có. Những thợ chạm khắc Nhật Bản cũng sử dụng sừng tê điểu để tạo các đồ vật tinh xảo đeo trên thắt lưng kimono của đàn ông.
"Một số ghi chép nhắc đến việc tặng sừng tê điểu cho các tướng quân. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, tê điểu trở nên rất hiếm do nạn săn bắn", Noriku Tsuchiya, người quản lý khu vực Nhật Bản trong Bảo tàng Anh, cho biết.
Nạn buôn bán sừng tê điểu trái phép vẫn tiếp diễn một cách bí mật. Sừng tê điểu có giá 6.150 USD/kg, gấp hơn 3 lần ngà voi. Khác với nạn săn ngà voi và sừng tê giác đang trở thành tâm điểm chú ý, việc giết tê điểu lấy sừng chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà chức trách. "Nếu không ai chú trọng theo dõi, tê điểu sẽ trở nên tuyệt chủng", Hadiprakarsa cảnh báo.
Loài chim sinh sản chậm này không chỉ bị nạn săn bắn đe dọa mà chúng còn đang mất dần môi trường sống. Do dầu cọ ngày càng được ưa chuộng ở phương Tây, người trồng cọ đang phá hủy những cánh rừng mưa ở châu Á.
Các nhà nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Singapore ước tính Sumatra và Borneo mất gần 3 % diện tích rừng mưa ở vùng đất thấp mỗi năm. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế, tê điểu "thuộc hạng mục Gần tuyệt chủng và cần được theo dõi cẩn thận để tránh số lượng tiếp tục giảm trong tương lai". (Giáo Dục Và Thời Đại 14/10) đầu trang(
Hôm 12-10, chính quyền Bắc Kinh tuyên bố bắt giữ 16 người liên quan tới đường dây buôn lậu động vật hoang dã lớn.
Cảnh sát thu 804 kg ngà voi, 11,3 kg sừng tê giác và 35 chân gấu. Người ta ước tính giá trị lô hàng lên tới 3,8 triệu USD.
Theo điều tra, băng đảng buôn lậu này thuộc một mạng lưới tội phạm lớn. Chúng chuyển số hàng lậu này từ Nhật Bản qua Hongkong trước khi đưa vào đại lục. Nhà kho, nhà máy và các cửa hàng đồ cổ là vỏ bọc hoàn hảo để che giấu hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.
Trung Quốc là thị trường buôn bán ngà voi bất hợp pháp lớn nhất thế giới. Trong chuyến thăm Mỹ hai tuần trước, Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết cùng Mỹ thực hiện các biện pháp nhằm chấm dứt việc buôn lậu ngà voi và các loại động vật hoang dã khác. Trung Quốc đang nỗ lực nâng cao nhận thức về việc buôn lậu động vật quý hiếm thông qua chiến dịch chống buôn lậu và các kênh truyền thông xã hội.
Chiến dịch truy quét tội phạm buôn lậu động vật hoang dã đã kéo dài ba tháng. Kết quả này là thành công lớn cho các nhà hoạt động vì quyền động vật ở Trung Quốc. Nó là minh chứng cho cam kết trấn áp hoạt động buôn bán bất hợp pháp của Chính phủ Trung Quốc. (Pháp Luật TP.HCM 14/10) đầu trang(
Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, trong chuyến thị sát với Bộ trưởng Y tế Nila Moeloek nhằm xử lý tình trạng khói mù do cháy rừng gây nên, Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã hối thúc Bộ Điều phối Chính trị, Pháp lý và An ninh phối hợp với Cơ quan Giảm nhẹ thiên tai quốc gia (BNPB) nhanh chóng giải quyết các vụ cháy ở Sumatra và Kalimantan.
Trước đó, Bộ trưởng Điều phối Chính trị, Pháp lý và An ninh Luhut Pandjaitan thông báo đã chi 385 tỷ Rupiah (gần 3 triệu USD) để giải quyết tình trạng cháy rừng và khói mù đang gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Hiện chính phủ cũng đang lên kế hoạch chi một khoản ngân sách bổ sung lên tới 700 tỷ Rp (tương đương 5,18 triệu USD) để đối phó với tình trạng cấp bách trên.
Theo số liệu thống kê mới nhất, cho đến nay huyện Ogan Komering Ilir (OKI), tỉnh Nam Sumatra là khu vực bị ảnh hưởng tồi tệ nhất bởi nạn cháy rừng. Nhằm giảm thiểu những tác động do khói mù gây ra, Chính phủ Indonesia đã cho vận chuyển một lượng lớn hàng cứu trợ y tế như mặt nạ chống khói mù sương khói, bình Oxy và thuốc kháng sinh, thuốc nhỏ mắt, mũi, vitamin.... đến các trung tâm y tế và bệnh viện nhằm đảm bảo phân phối kịp thời cho người dân.
Trước tình trạng số người nhiễm các bệnh đường về hô hấp gia tăng mạnh ở các tỉnh Riau, Jambi, Nam Sumatra, Tây, Nam và Trung Kalimantan, Bộ trưởng Y tế chỉ đạo đội ngũ nhân viên y tế địa phương liên tục theo dõi sức khỏe cộng đồng thông qua việc phòng chống, chữa bệnh và phục hồi.
Ngoài ra, Bộ Y tế cũng kêu gọi cộng đồng, nhất là phụ nữ mang thai, trẻ em và người cao tuổi sống ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi khói bụi hạn chế ra khỏi nhà để tránh những ảnh hưởng đến sức khỏe và nên sử dụng khẩu trang khi phải hoạt động bên ngoài.Với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, quỹ cứu trợ thiên tai cùng các thiết bị được quốc tế hỗ trợ, Indonesia hy vọng nạn cháy rừng và tình trạng khói mù sẽ sớm được kiểm soát. (Vietnam + 15/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||