|
Ngày 15 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Tổng cục Lâm nghiệp, UBND tỉnh Ninh Thuận đã phối hợp tổ chức Hội nghị sơ kết 4 năm phối hợp quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) vùng giáp ranh và đề ra các giải pháp trong thời gian tới.
Tham dự có lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp và các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà và Lâm Đồng.
Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó GĐ Sở NN-PTNT Ninh Thuận cho biết, rừng giáp ranh có đặc điểm núi cao, độ dốc lớn, xa khu dân cư rất khó khăn trong công tác bảo vệ, trong khi trữ lượng gỗ còn phong phú nên các đối tượng phá rừng luôn nhòm ngó và thực tế rừng đang bị phá. Năm 2010 Sở NN-PTNT Ninh Thuận đã ký quy chế phối hợp QLBVR với các tỉnh có rừng giáp ranh.
Kiểm lâm và chính quyền các địa phương đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật các chính sách về BV&PTR và vận động nhân dân tham gia BVR, PCCCR cho gần 60.000 lượt người sống gần rừng, đồng thời ký cam kết với 1.905 hộ không vi phạm Luật BV&PTR.
Bên cạnh đó kiểm lâm Ninh Thuận thường xuyên phối hợp với công an, chính quyền địa phương khu vực giáp ranh tổ chức 3.063 đợt truy quét khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và phá rừng trái pháp luật tại các khu vực giáp ranh với trên 24.989 lượt người tham gia. Kết quả đã phát hiện 918 vụ vi phạm, tịch thu 432 m3 gỗ các loại cùng hàng trăm xe ô tô, xe máy vận chuyển lâm sản…
Theo ông Hoàng, quy chế phối hợp QLBVR đã tạo điều kiện cho lực lượng kiểm lâm và chủ rừng các tỉnh trao đổi, cung cấp thông tin tình hình phá rừng, danh sách đối tượng phá rừng, kịp thời xác định các điểm nóng về phá rừng và hỗ trợ tối đa lực lượng khi kiểm tra truy quét theo yêu cầu của mỗi bên, nhờ vậy đã góp phần ngăn chặn đáng kể tình hình phá rừng tại các vùng giáp ranh.
Tuy nhiên, việc thực hiện quy chế sau 4 năm ký kết còn bộc lộ nhiều hạn chế, vẫn còn mang nặng hình thức; các quy định về phối hợp của từng đơn vị vùng giáp ranh chưa thực hiện thường xuyên; quy chế phối hợp còn nhiều bất cập, thiếu sót; việc trao đổi, cung cấp thông tin không kịp thời…
Ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm đồng đánh giá: Việc phối hợp BVR của các tỉnh đã góp phần làm giảm số vụ vi phạm Luật BV&PTR, song số vụ phá rừng có quy mô lớn, có tính chất phức tạp lại tăng, số vụ vi phạm ở rừng đặc dụng, vườn quốc gia trước đây ít nhưng nay thường xuyên, số vụ chống người thi hành công vụ quyết liệt hơn nguy hiểm đến tính mạng lực lượng BVR. Nhiều vụ truy quét liên ngành chưa hiệu quả cao do công tác thông tin rò rỉ.
Để nâng cao hiệu quả công tác BVR giáp ranh, theo ông Phạm S, 4 tỉnh phải có sự thống nhất quy chế phối hợp cấp tỉnh làm cơ sở cho các cơ quan chuyên môn triển khai thực hiện, đồng thời tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật BVR hiệu quả hơn. Nghiên cứu khảo nghiệm các giống cây lâm nghiệp trồng trên đất rừng có hiệu quả, đồng thời nhân rộng mô hình lâm nghiệp có hiệu quả để người dân, người nhận khoán sống được từ rừng...
Ông Trần Xuân Hoà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đánh giá: Thực trạng rừng vùng giáp ranh tại 4 tỉnh diễn biến rất phức tạp và nhiều vụ phá rừng có quy mô lớn, đối tượng phá rừng hầu hết là người dân nghèo. Để phối hợp BVR hiệu quả cần có quy chế phối hợp cấp tỉnh để chỉ đạo thống nhất với quan điểm rừng là tài nguyên quốc gia. Do vậy hệ thống chính trị cấp cơ sở phải thống nhất trong BVR không tính ranh giới về địa phương thì mới bảo vệ được rừng.
Trách nhiệm BVR không chỉ của lực lượng kiểm lâm, chủ rừng mà phải có lực lượng vũ trang. Nếu không có công an, bộ đội vào cuộc thì rất khó BVR. Đào tạo nghề cho người dân sống gần rừng để giải quyết công ăn việc làm nhằm giảm tác động vào rừng.
Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá cao quy chế phối hợp BVR của Ninh Thuận và các địa phương vùng giáp ranh. Theo ông Công, rừng giáp ranh là đối tượng dễ bị xâm phạm nhất và luôn là điểm nóng về phá rừng cũng như cháy rừng do địa hình xa xôi hẻo lánh.
Quy chế phối hợp BVR chưa có nội dung hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, chưa có phương án phối hợp giữa Sở NN-PTNT các tỉnh, UBND các huyện có rừng giáp ranh...
Hội nghị đã thông qua việc ký kết quy chế bổ sung và phương án phối hợp trong công tác QLBVR vùng giáp ranh giữa tỉnh Ninh Thuận và 3 tỉnh trong thời gian tới. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/9, tr11) đầu trang(
Ông Hoàng Trọng Hải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho biết tỉnh đã tăng cường nhân lực cho lực lượng kiểm lâm, tăng thêm các trạm kiểm soát tại các địa bàn trọng điểm, nhưng tình trạng rừng, đất rừng vẫn bị chặt phá, lấn chiếm trái phép ngày càng gia tăng.
Chỉ riêng từ đầu năm đến nay, tỉnh đã phát hiện, xử lý trên 147 vụ vi phạm lâm luật. Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng từ năm 2009 đến nay tăng lên trên 13.300 vụ, lực lượng chức năng đã tịch thu gần 19.500m3 gỗ các loại. Trong đó, chỉ có 137 vụ khởi tố hình sự, với 78 đối tượng, số vụ còn lại là xử lý hành chính.
Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 trở lại đây là trên 26.500ha, trong khi đó các ngành chức năng của tỉnh mới thu hồi được gần 2.000ha để trồng lại rừng.
Các địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh như Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; thành lập các đoàn kiểm tra thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, nhất là tăng cường kiểm tra tại các điểm nóng ở Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea H’Leo.
Tuy nhiên, theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tình hình khai thác, chế biến, vận chuyển gỗ trái phép vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi trong tỉnh. Thậm chí, trên địa bàn vẫn còn tồn tại một số “điểm nóng” và các đối tượng khai thác gỗ trái phép, nhất là gỗ quý hiếm trong các vườn quốc gia, vùng biên giới, các đường dây khai thác, vận chuyển lâm sản tại các địa bàn thuộc các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’Leo, Krông Bông, Ma Đ’rắk.
Việc điều tra, thống kê phân loại các đối tượng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ, sang nhượng đất rừng trái phép đã được thực hiện nhưng chưa xử lý, giải quyết triệt để.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các chủ rừng quản lý rừng, đất lâm nghiệp còn lỏng lẻo, sử dụng đất đai kém hiệu quả, lãng phí. Nhiều chủ rừng thiếu sự phối hợp tổ chức bảo vệ rừng, không kiểm tra, kiểm soát hết lâm phần quản lý, thiếu sự phối hợp và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng hữu hiệu. Thậm chí, một số nơi còn bao che, "làm ngơ" cho lâm tặc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng.
Các xã, huyện chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm, chưa quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Ở những "điểm nóng" về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, chính quyền địa phương thiếu kiên quyết xử lý, một bộ phận cán bộ kiểm lâm có những biểu hiện tiêu cực, chưa nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thời gian tới, ngoài việc tiếp tục thực hiện hiệu quả các Chỉ thị số 12, 08, Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, tỉnh Đắk Lắk còn tiếp tục thống kê, rà soát lại diện tích rừng bị phá, bị lấn chiếm và triển khai lập kế hoạch phá bỏ hoa màu, lán trại, trồng lại rừng đối với diện tích rừng bị phá, lấn chiếm, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng xâm hại trái phép tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật.
Tỉnh cũng mở các đợt kiểm tra, truy quét lâm tặc, những tụ điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, chế biến, mua bán, sử dụng, vận chuyển trái phép lâm sản, săn bắt, tàng trữ, sử dụng động vật hoang dã.
Tỉnh cũng tiếp tục điều tra, thống kê, lập danh sách các đối tượng khai thác lâm sản trái phép để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý, tuyên truyền vận động ký cam kết chuyển đổi ngành nghề, không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. (VietnamPlus 14/9) đầu trang(
UBND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) vừa chính thức công bố số liệu kiểm kê rừng năm 2014. Số liệu về diện tích rừng tự nhiên qua lần kiểm kê mới nhất này giảm đến hơn 3.485ha so với con số kiểm kê năm 1999; cùng đó, vấn đề đáng quan tâm nữa là số liệu về diện tích rừng trồng “đứng im” sau 15 năm cũng khiến cho nhiều người “suy nghĩ”.
Cụ thể, số liệu kiểm kê rừng 2014 cho thấy, Lạc Dương hiện có hơn 107.367ha rừng tự nhiên trong tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 130.922ha. Trong khi đó, hai con số tương tự này theo kiểm kê rừng 1999 là gần 110.853ha và 130.182ha.
Nguyên nhân của việc giảm diện tích rừng tự nhiên được UBND huyện Lạc Dương giải trình là do phá rừng, do chuyển mục đích sử dụng và đặc biệt là “do sai số của kiểm kê rừng năm 1999”. Theo văn bản báo cáo giải trình của UBND huyện Lạc Dương, con số 3.486ha rừng tự nhiên bỗng dưng “biến mất” chủ yếu là do sai số kiểm kê năm 1999.
Có thể hiểu, ở lần kiểm kê năm 1999, những cán bộ chuyên môn đã “kê khống” cho Lạc Dương 2.492ha rừng tự nhiên chứ trong thực tế thì... không hề có. Cũng có nghĩa là tỉ lệ độ che phủ của rừng ở Lạc Dương là một con số thấp hơn so với tỉ lệ như trong các báo cáo 15 năm qua.
Thêm nữa, với Lạc Dương, cùng với “sai số” rừng tự nhiên qua hai lần kiểm kê, một số liệu đáng quan tâm khác: Kết quả kiểm kê rừng năm 1999, huyện này có hơn 4.301ha rừng trồng; sau 15 năm - năm 2014, cũng là kết quả kiểm kê rừng nhưng con số này vẫn chỉ là 4.299ha (giảm 2ha). Chắc chắn số liệu báo cáo KT-XH hằng năm trong vòng 15 năm qua, năm nào Lạc Dương cũng đều thể hiện con số về diện tích trồng rừng theo kế hoạch.
Như vậy, nhìn vào hai con số về rừng trồng của Lạc Dương sau 15 năm, vấn đề đặt ra là chả nhẽ huyện này đằng đẵng một thời gian dài đến như vậy (15 năm) không trồng được hécta rừng nào hay sao (thậm chí còn mất đi 2ha rừng trồng)? Đó là chưa kể đến con số “tăng” tích cực mà kết quả kiểm kê rừng 2014 nêu rõ là trong vòng 15 năm qua, diện tích rừng tái sinh tự nhiên của Lạc Dương là 2.114ha.
Theo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH huyện Lạc Dương đến năm 2020, cùng với việc bảo tồn đa dạng sinh học thì huyện này sẽ duy trì độ che phủ của rừng trên 80%. Khi lập quy hoạch, tỉ lệ che phủ trên 80% này được dựa vào hai con số 114.155ha rừng tự nhiên và rừng trồng so với 130.182ha tổng diện tích đất tự nhiên của huyện. Nay, Lạc Dương qua kiểm kê rừng đã có sự “xáo trộn” từ hai con số đó thành 111.667ha so với 130.922ha, nên bỗng dưng huyện này tự... làm khó cho chính mình nếu tỉ lệ “trên 80%” kia tiếp tục tồn tại trong các văn bản.
Lâm Đồng hiện đang thực hiện chương trình kiểm kê rừng; và, kết quả trên của Lạc Dương chỉ mới là kết quả của một huyện. Nếu nhiều huyện cùng cho ra “con số thật” như Lạc Dương thì chắc chắn tỉ lệ độ che phủ rừng của Lâm Đồng 60,4% như hiện nay cũng sẽ là một con số “tự làm khó” cho tỉnh khi đặt mục tiêu phấn đấu nâng lên trên 61% trong tương lai. Song, vấn đề không ở chỗ tỉ lệ, mà quan trọng hơn đó là con số thật so với con số báo cáo bấy lâu nay. (Lao Động 15/9) đầu trang(
Hiện nay, Cơ quan CSĐT Công an huyện Khánh Vĩnh vẫn chưa có kết luận định giá tài sản bị thiệt hại ở 25,3 ha rừng bị phá trắng để hoàn chỉnh hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật. UBND huyện Khánh Vĩnh cho biết, trong văn bản gửi báo Tiền Phong.
Bài Vụ phá rừng nghiêm trọng ở Khánh Hòa: “Voi thành chuột nhắt” trên báo Tiền Phong phản ánh, đầu năm 2009, có 3 người ở huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) phá 4 ha rừng thuộc tiểu khu 105 (Khánh Bình, Khánh Vĩnh) do Cty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương (Cty LNTH) quản lý.
Đến tháng 3/2013, thêm một số người khác chặt phá rừng ở đó. Theo báo cáo ngày 28/5/2013 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, đã có 25,3 ha rừng phòng hộ tại tiểu khu 105 bị phá trắng, tổng khối lượng lâm sản bị thiệt hại khoảng 6.300m3.
UBND tỉnh chỉ đạo khẩn trương điều tra làm rõ vụ phá rừng nghiêm trọng này. Ngày 5/7/2013, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh khởi tố vụ án hình sự “hủy hoại rừng”, rồi chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Công an huyện Khánh Vĩnh.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Khánh Vĩnh đã ra quyết định khởi tố 9 bị can, đều là đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do. Thế nhưng, một báo cáo của Công an huyện Khánh Vĩnh cho biết, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh xác định, tổng thiệt hại do 25,3 ha rừng bị phá trắng tại tiểu khu 105 chỉ là 80,6 triệu đồng.
Cho rằng không đủ các yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản nhà nước, Công an huyện Khánh Vĩnh không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chủ rừng là Cty LNTH.
Bài trên báo Tiền Phong nêu câu hỏi: Có chăng, với việc định giá tài sản thiệt hại quá thấp, vụ phá 25,3 ha rừng đã không còn là nghiêm trọng, con voi đã thành con chuột nhắt?
Ngay sau khi báo Tiền Phong đăng bài, VKSND Tối cao yêu cầu VKSND tỉnh kiểm tra, báo cáo việc xử lý vụ phá trắng 25,3 ha rừng phòng hộ. Tiếp đó, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa và UBND tỉnh cũng yêu cầu cơ quan liên quan báo cáo về vụ này.
Trong văn bản đề ngày 4/9/2014, UBND huyện Khánh Vĩnh giải trình: 80,6 triệu đồng là giá trị tài sản bị thiệt hại trên diện tích 3.500m2 (0,35 ha) được chọn để giám định, không phải tổng giá trị tài sản bị thiệt hại ở 25,3 ha rừng.
Cụ thể, do diện tích rừng bị hủy hoại lớn, địa hình hiểm trở nên Hội đồng khám nghiệm hiện trường chỉ chọn 7 ô điển hình, mỗi ô có rộng 500m2 để xác định số gỗ bị thiệt hại. Tổng số gỗ bị thiệt hại ở 7 ô này là 27,959m3. Công an Khánh Vĩnh đã trưng cầu định giá tài sản đối với số gỗ này, để từ đó tính giá trị thiệt hại trên toàn bộ 25,3 ha rừng bị chặt phá. Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh xác định giá trị số gỗ đó là 80,6 triệu đồng.
Báo cáo của UBND huyện Khánh Vĩnh còn cho biết, Công an huyện mới xác định được thủ phạm phá 8,6 ha rừng, chưa xác định được thủ phạm phá 16,7 ha rừng còn lại. Công an huyện Khánh Vĩnh cũng chưa có kết luận định giá tài sản bị thiệt hại của 25,3 ha rừng bị phá trắng. Do không có đường vận chuyển, nên toàn bộ số gỗ là vật chứng vụ án vẫn bị bỏ lại ở rừng, giao cho Cty LNTH quản lý.
Trong khi yêu cầu định giá tài sản đối với số gỗ trên diện tích mẫu đã được thực hiện, tại sao Công an Khánh Vĩnh không trên cơ sở đó tính giá trị thiệt hại toàn bộ 25,3 ha rừng. Đến bao giờ, thiệt hại của vụ phá rừng nghiêm trọng này mới được xác định? Phải chăng, nếu báo chí không kịp thời phản ánh, con voi đã thật sự bị biến thành con chuột nhắt?
Công an huyện mới xác định được thủ phạm phá 8,6 ha rừng, chưa xác định được thủ phạm phá 16,7 ha rừng còn lại. Công an huyện Khánh Vĩnh cũng chưa có kết luận định giá tài sản bị thiệt hại của 25,3 ha rừng bị phá trắng. (Tiền Phong 15/9) đầu trang(
Hàng ngàn hécta rừng được giao cho các công ty lâm nghiệp ở Đắk Nông đã bị tàn phá, xâm chiếm tràn lan trong thời gian qua. Nhưng cơ quan chức năng địa phương vẫn chưa có biện pháp xử lý kịp thời để ngăn chặn tình trạng này.
Vào năm 2008, Nông lâm trường Tuy Đức bàn giao 530ha đất rừng tại các tiểu khu 1479 và 1499 cho Công ty Liên Thành lập dự án trồng rừng, kết hợp với kinh doanh dịch vụ, chăn nuôi động vật hoang dã.
Nhưng từ năm 2009 đến nay, hơn 60ha rừng tại 2 tiểu khu trên đã bị mất trắng. Trực tiếp xuống hiện trường tại tiểu khu 1479 và 1499, PV thấy những cánh rừng bị đốn hạ một cách không thương tiếc. Thay vào đó là những mảnh đất đang được cày xới, san ủi cho bằng phẳng để trồng khoai lang và hồ tiêu.
Còn ở Công ty TNHH Lâm nghiệp Trường Xuân (huyện Đắk Song), việc mất rừng diễn ra còn nhiều hơn. Từ tháng 9-2008 đến nay, có hơn 4.500ha đất lâm nghiệp do công ty quản lý bị người dân xâm chiếm (làm nhà, trồng hoa màu, trồng cây công nghiệp…), trong đó có 3.500ha rừng tự nhiên bị tàn phá.
Nhưng công ty này lại báo cáo chỉ có hơn 337ha đất lâm nghiệp bị 189 hộ dân xâm chiếm. Ngoài ra, việc liên doanh, liên kết của Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân với Công ty TNHH Thương mại Liên Minh còn làm mất thêm 43ha rừng.
Trong khi đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín (ở huyện Tuy Đức) được tỉnh Đắk Nông giao quản lý, bảo vệ hơn 9.880ha rừng tại 16 tiểu khu ở xã Đắk Ngo và xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức. Thời gian qua, công này đã liên doanh liên kết (LDLK) trồng rừng với 9 DN, HTX, nhưng theo kết quả thanh tra mới đây của Thanh tra tỉnh Đắk Nông, đã có hơn 1.000ha bị mất trong tổng số 1.700ha rừng LDLK.
Tỉnh Đắk Nông hiện có 14 công ty lâm nghiệp được giao quản lý hơn 160.000ha đất rừng, nhưng hầu hết đều bị lấn chiếm và chặt phá. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích rừng hiện bị lấn chiếm hơn 27.000ha, tập trung nhiều nhất ở các huyện Đắk Song (hơn 10.000ha), huyện Krông Nô (hơn 5.000ha), huyện Tuy Đức (hơn 4.000ha)… nhưng lực lượng chức năng chỉ xử lý được 2.162 vụ tranh chấp với diện tích hơn 3.000ha, đạt khoảng 12,7% tổng diện tích rừng bị lấn chiếm.
Theo ông Vũ Minh Khôi, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, việc mất rừng tại các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh là do… “lỗi cơ chế”. Thời gian qua, nhiều công ty lâm nghiệp gặp khó khăn do chậm được sắp xếp, đổi mới và không giao chỉ tiêu khai thác rừng. Vì thế, nhiều công ty không có tiền trả lương để nuôi sống đội ngũ nhân viên, cán bộ bảo vệ rừng.
Xuất phát từ những khó khăn đó, nhiều cán bộ bảo vệ rừng không còn nhiệt tình, tâm huyết với công việc và nhiều khi còn làm ngơ cho người dân phá rừng. Trong khi đó, có một lực lượng lớn dân di cư tự do “đổ bộ” xuống địa bàn tỉnh đã liên tục xâm chiếm đất rừng làm rẫy, cũng làm mất rừng tại các công ty lâm nghiệp.
Vì thế, việc sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp ở Đắk Nông là yêu cầu bức thiết để quản lý rừng hiệu quả. Ông Vũ Minh Khôi cho rằng: Trong thời gian tới, tỉnh cần phải chuyển đổi hình thức hoạt động các công ty lâm nghiệp. Nếu công ty nào hoạt động không hiệu quả thì chuyển sang hình thức ban quản lý bảo vệ rừng và Nhà nước phải bao cấp.
Bộ NN-PTNT từng nhận định: Nhiều công ty lâm nghiệp ở Tây Nguyên chủ yếu dựa vào khai thác rừng tự nhiên để có nguồn thu, vì thế khi bị cắt giảm chỉ tiêu khai thác gỗ thì không cân đối được nguồn vốn hoạt động. Trong khi đó, năng lực quản lý, điều hành của người đứng đầu các công ty lâm nghiệp còn yếu và đa số còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. (Sài Gòn Giải Phóng 13/9) đầu trang(
Sau hơn 2 tháng theo dõi, phóng viên đã phát hiện đường dây đưa gỗ lậu từ Campuchia vào Việt Nam
Những ngày đầu tháng 7-2014, trong vai những kẻ buôn gỗ, PV tới làng Bi, xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai để tìm hiểu về đường dây buôn gỗ lậu xuyên quốc gia. Gỗ lậu được đưa ồ ạt từ Campuchia qua xã biên giới này mà không vướng phải sự ngăn chặn nào từ phía cơ quan chức năng.
Ở làng Bi, rất nhiều người kiếm sống bằng nghề vận chuyển gỗ thuê cho các đầu nậu. Sau một hồi trò chuyện, khi hỏi mua gỗ, một người đàn ông dân tộc thiểu số thẳng thừng: “Cứ đưa tiền trước, bao nhiêu cũng có”.
Theo ông này, trước đây, làng Bi có rất nhiều đầu nậu tìm đến mua gỗ. Thời gian gần đây, do giá gỗ lên cao nên tình hình tạm lắng. Nổi danh trong giới buôn gỗ tại làng Bi là chị em bà Huệ và một người thường được gọi là Kiên “trọc”. Một trong những kẻ có máu mặt, thường xuyên nhận tiền và thu mua gỗ với khối lượng lớn cho bà Huệ tên là Win.
Theo một người từng có thời gian dài buôn gỗ tại xã Ia O, phải đưa tiền cho dân địa phương mua hàng vì họ thông thuộc địa bàn và có mối quan hệ “đặc biệt” với những kẻ buôn gỗ bên kia biên giới. Họ đã nhận tiền của ai thì chỉ bán cho người đó và hưởng tiền chênh lệch.
Một buổi trưa, bám theo một thanh niên vừa chở gỗ về làng Bi, đến bến phà 6 trên sông Pô Cô. Hàng chục xe máy đã chờ sẵn ở bờ sông. Nhiều nhóm đàn ông lần lượt đưa hàng trăm súc gỗ từ những chiếc xuồng lên bãi tập kết. Các nhóm khác xếp những khúc gỗ vuông có cạnh 20-30 cm, dài 1,2-1,4 m lên những chiếc xe máy rồi chở về phía làng Bi. Theo thanh niên này, nơi đây chủ yếu thu mua gỗ giáng hương (gỗ nhóm I), giá cả tùy thuộc chất lượng và người bán bên Campuchia, dao động khoảng 27-30 triệu đồng/m3.
Chiều 5-8, trước sân nhà ông Win ở xã Ia O, khoảng 6 người đàn ông tất bật xếp những súc gỗ vuông vào chiếc ô tô bán tải biển số 81C-058... Một người trông coi bãi gỗ này cho biết đây toàn là gỗ giáng hương được ông Win mua cho bà Huệ. Nơi này còn rất nhiều bãi gỗ, hằng ngày ô tô tấp nập đến chở đi.
Tối 5-8, bám theo chiếc xe 81C-058... từ làng Bi về TP Pleiku. Với quãng đường gần 100 km, chiếc ô tô chở gỗ vô tư chạy qua các chốt kiểm tra liên ngành.
Sau khi lọt qua chốt kiểm lâm và CSGT huyện Ia Grai đặt tại xã Ia Kra’I, chiếc xe chở gỗ chạy sang Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai rồi đến TP Pleiku. Khi vào nội thị, chiếc xe chạy lòng vòng qua nhiều tuyến phố rồi đến nhà kho của Xí nghiệp tư doanh Hoàng Nam (thôn Plei Do, xã Chư Á, TP Pleiku).
Qua tìm hiểu, được biết ngoài nhà kho của Xí nghiệp tư doanh Hoàng Nam, trên địa bàn TP Pleiku còn có các kho khác mà lái buôn vẫn thường mang gỗ về bán như kho Q.T (phường Diên Phú), kho Vân Mập (phường Chi Lăng)... Những kho này luôn đóng kín cổng, lắp hệ thống camera giám sát và có người canh gác 24/24 giờ.
6-8, trong vai người mua gỗ, PV tìm cách vào nhà xưởng ở kho Vân Mập. Sau một hồi kiểm tra kỹ càng, những người coi kho gỗ này mới để PV vào bên trong rồi lập tức đóng kín cửa.
Bên trong xưởng, hàng chục người đàn ông xăm trổ đầy mình luôn nhìn PV dò xét. Tại đây, hàng ngàn súc gỗ đa dạng về kích thước được xếp thành đống cao ngút. Cạnh đó là cả một hệ thống máy cưa cỡ lớn, hàng loạt xe nâng… Sau khi xem gỗ, PV hẹn sẽ quay trở lại và nhanh chóng rời nhà kho này.
Tại trụ sở của Xí nghiệp tư doanh Hoàng Nam, bên trong kho, ngoài những lô gỗ cao su đã đóng thành kiện còn có vô số khúc gỗ hương chất thành từng khối cao. Cũng tại nhà kho này, PV gặp lại nhiều chiếc ô tô như 81B-001.61, 47B-008.04... từng đến làng Bi chở gỗ.
Chiều 11-9, PV đăng ký làm việc với ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, về việc gỗ lậu ồ ạt tuồn qua biên giới thì được thông báo ông đang họp.
Trao đổi qua điện thoại, ông Nhĩ cho biết ngày 12-9, ông cũng đi họp cả ngày. “Chúng tôi đã nhận được thông tin về vụ việc và đang cho người kiểm tra, xem xét thực hư, khi nào có kết quả sẽ thông báo sau” - ông Nhĩ nói. (Người Lao Động 13/9, tr10; Sài Gòn Giải Phóng 14/9, tr7) đầu trang(
12-9, tin từ UBND xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) cho biết, trên địa bàn vừa xảy ra một vụ cháy rừng phòng hộ ven biển gây thiệt hại lớn.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 12h giờ cùng ngày, nhiều người dân thôn Tân, xã Hải Ninh phát hiện một ngọn lửa lớn bốc lên từ khu rừng tràm. Vụ việc lập tức được trình báo lên các cơ quan chức năng.
Sau đó, gần 20 cán bộ, chiến sĩ của Huyện đội Quảng Ninh cùng với hàng trăm người dân tham gia chữa cháy. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng cộng thêm trong rừng xuất hiện nhiều thảm thực vật dễ cháy nên lửa bùng phát ngày một dữ dội hơn.
Đến 16 giờ, ngọn lửa mới được khống chế hoàn toàn. Được biết khu rừng tràm Tân Định có hơn 20 năm tuổi, là lá chắn phòng hộ ven biển quan trọng của huyện Quảng Ninh. (Người Lao Động 13/9) đầu trang(
UBND tỉnh Đắk Nông vừa chỉ đạo các sở, ngành liên quan xem xét, kỷ luật nghiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân do có những sai phạm nghiêm trọng; trong đó đã để mất một diện tích lớn rừng được giao đơn vị quản lý.
Theo kết quả thanh tra, từ năm 2009 đến giữa năm 2014, công ty này đã để lấn chiếm, khai phá trái phép 3.510 ha rừng nhưng lại báo cáo không đẩy đủ, che giấu cơ quan chức năng (báo cáo chỉ mất gần 182 ha).
Ngoài ra, trong việc hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp, liên doanh, liên kết với các cá nhân, tập thể khác, công ty còn để mất 60 ha rừng. UBND tỉnh Đắk Nông cũng chỉ đạo các ngành và địa phương phối hợp lập các chốt bảo vệ, ngăn chặn phá rừng đối với 1.728 ha rừng còn lại của Công ty Trường Xuân. (Thanh Niên 13/9, tr7) đầu trang(
Khoảng 13h trưa 11/9, đám cháy bất ngờ bùng phát tại khu vực rừng Thông trên địa bàn xóm 10 của xã Đức Dũng, huyện Đức Thọ.
Nhận được tin báo, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng để dập tắt đám cháy. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, thảm thực bì dày nên lực lượng tại chỗ không thể khống chế được ngọn lửa. Một giờ sau đám cháy bùng phát và lan rộng sang địa bàn xã Tân Hương.
UBND huyện Đức Thọ đã huy động khoảng 200 cán bộ chiến sỹ thuộc các lực lượng: Kiểm lâm, Công an, Quân sự và lực lượng dân quân 2 xã Đức Dũng và Tân Hương để dập lửa.
Mặc dù các lực lượng tham gia chữa cháy với nổ lực rất cao, nhưng do địa hình hiểm trở, trời tối nên việc dập tắt đám cháy gặp nhiều khó khăn. Đến 22h đêm 11/9, đám cháy cơ bản được khống chế.
Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ. (Đài PTTH Hà Tĩnh 12/9) đầu trang(
Chỉ chở vài mét khối gỗ nhưng khi bị lực lượng kiểm lâm ngăn chặn, lâm tặc sẵn sàng chống trả quyết liệt. Thậm chí, những đầu nậu buôn gỗ trái phép còn thuê người đe dọa vợ, con các cán bộ kiểm lâm...
Đó chỉ là một phần những gian lao, vất vả của những người đang ngày đêm giữ màu xanh cho khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông (tỉnh Hòa Bình).
Giới thiệu với PV, ông Bùi Bình Yên - Giám đốc khu bảo tồn cho biết: “Khu bảo tồn được thành lập từ năm 2004 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2006, nằm trên địa bàn 7 xã thuộc hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tổng diện tích của khu bảo tồn lên tới gần 16.000 ha, trong đó có hơn 12.000 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, hơn 3.700 ha thuộc phân khu phục hồi sinh thái”.
Khi nói về những khó khăn trong bảo vệ rừng cũng như bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn, những cán bộ vẫn ngày đêm túc trực, canh giữ chỉ xem là việc làm bình thường, hàng ngày. Nhưng với PV, cảm nhận đầu tiên đó là công việc đầy những gian nan, thấm cả máu của những người giữ màu xanh cho rừng.
Biên chế của Khu bảo tồn Ngọc Sơn – Ngổ Luông chỉ có 25 người, chia làm 4 trạm bảo vệ rừng. Trong khi đó, đường tuần tra toàn khu bảo tồn lên tới 80 km, với những cung đường vô cùng hiểm trở.
Anh Nguyễn Trung Thành - cán bộ thuộc khu bảo tồn cho biết: “Trước đây, lực lượng kiểm lâm thường xuyên phải đối mặt với các đối tượng khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép có tổ chức. Các đối tượng này rất manh động, thường xuyên lăng mạ, ném đá, chai xăng vào trụ sở làm việc, vào ô tô công vụ, nhiều trường hợp công khai chống người thi hành công vụ. Thông thường cứ một người vận chuyển gỗ có vài người cùng đi xe máy hỗ trợ, nhiều khi điều khiển xe đâm thẳng vào cán bộ kiểm lâm”.
“Việc đối mặt với các đối tượng nói trên đã trở thành chuyện thường ngày. Điều mà chúng tôi trăn trở nhất chính là làm sao có cơ chế, chính sách tạo sinh kế, cải thiện cuộc sống cho người dân. Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông có hơn 13.000 nhân khẩu, tỷ lệ hộ nghèo trung bình của các xã hiện vẫn chiếm trên 40%. Diện tích đất dùng cho nông nghiệp rất hạn chế và nhiều người dân vẫn sống dựa vào tài nguyên rừng”, ông Bùi Bình Yên chia sẻ.
Đại diện Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông cho biết, để người dân cùng tham gia giữ rừng, việc tuyên truyền đã được Ban quản lý phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai mạnh mẽ. Thời gian qua, đã có 53 tổ tự quản bảo vệ rừng được thành lập cùng với các Ban tự quản lâm nghiệp do Ban quản lý thành lập.
Ban tự quản sẽ cùng với Khu bảo tồn và chính quyền xã xác định vị trí, phạm vi rừng được giao cho xóm tham gia quản lý. Ban có thể tổ chức đội tuần tra rừng nhân dân, cùng kiểm lâm tuần tra rừng, báo tin vi phạm rừng, quy định về cách thức xử lý, ngăn chặn người vi phạm, tạm giữ người và tang vật để Ban quản lý và UBND xã đến giải quyết...
Với việc người dân cùng chung tay bảo vệ màu xanh của rừng, tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép... đã giảm đáng kể. Anh Tường - thành viên Tổ tự quản bảo vệ rừng tại xóm Khú, xã Ngọc Sơn, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình cho biết: “Từ khi các ban tự quản được thành lập và phối hợp cùng lực lượng kiểm lâm, công an với lịch tuần tra thường xuyên, tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển gỗ đã giảm mạnh”.
Ông Bùi Bình Yên chia sẻ: “Cùng với việc bảo vệ rừng, chúng tôi đã và đang tích cực khai thác tiềm năng du lịch giúp phát triển kinh tế địa phương. Hội du lịch sinh thái đã được thành lập, chúng tôi cũng đã xây dựng tuyến du lịch sinh thái Mường Khụ, tuyến du lịch Thác Mu, các tuyến du lịch đi bộ xuyên rừng cũng như xây dựng các điểm dừng chân cho khách du lịch và sắp tới sẽ xây dựng tuyến du lịch đến động Nam Sơn”. (An Ninh Thủ Đô 13/9) đầu trang(
Liên quan đến bài viết “Kiểm lâm làm “cò” bán thú rừng”, ông Phạm Minh Đạo, giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, đã ký quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ông Lê Quốc Văn, thành viên của tổ kiểm lâm thuộc Hạt kiểm lâm H.Vĩnh Cửu. Thời gian tạm đình chỉ là 15 ngày.
Ông Đạo cũng cho biết đã yêu cầu ban quản lý rừng phòng hộ 600 phải ra quyết định đình chỉ công tác đối với ông Mai Ngọc Đạt trong hôm 12-9. ông Đạo nói sau khi báo Tuổi Trẻ phản ánh, Sở đã yêu cầu báo cáo nhưng người liên quan tìm cách chối.
Trước đó, báo Tuổi Trẻ đã phản ánh một số người làm công tác bảo vệ rừng tại Đồng Nai trở thành những tay “cò” dắt mối buôn bán thịt rừng. Cụ thể, ông Mai Ngọc Đạt dẫn một người ở TP.HCM đến mối cung cấp thịt rừng là bà Nhung (ở xã Phú An, H.Tân Phú). Còn ông Lê Quốc Văn thì tư vấn về thịt rừng và giới thiệu mật gấu cho một người ở TP.HCM. (Tuổi Trẻ 12/9, tr2) đầu trang(
11.9, ông Nguyễn Hữu Huân, Đội trưởng Đội Kiểm lâm (KL) cơ động số 2 (thuộc Chi cục KL tỉnh Gia Lai), cho biết: Đơn vị đang phối hợp với Chi cục KL Bình Định tiến hành điều tra, xác minh nguồn gốc 134 hộp gỗ căm xe (nhóm II) được vận chuyển trên xe ô tô tải 77H - 4977 nhưng không có hóa đơn, giấy tờ hợp lệ.
Trước đó, phát hiện ôtô 77H - 4977 do ông Trần Quang Phước (SN 1985, trú ở xã Cát Tân, huyện Phù Cát) điều khiển, lưu thông theo hướng Bình Định về TP Pleiku (Gia Lai) có nhiều nghi vấn, Đội KL cơ động số 2 phối hợp với Công an TP Pleiku đã tiến hành kiểm tra.
Qua đó, phát hiện trên xe 134 hộp gỗ căm xe (nhóm II) với khối lượng 2,644m3. Tại thời điểm kiểm tra, tài xế đã bỏ trốn, gỗ không có dấu của KL và một số giấy tờ có liên quan để chứng minh nguồn gốc, xuất xứ số gỗ trên là hợp pháp. (Bảo Vệ Pháp Luật 14/9) đầu trang(
12-9, tin từ Công an huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai cho hay vừa khởi tố bắt giam Vũ Văn Sơn (Sơn “Tây”, ngụ xã Phú Lý, H.Vĩnh Cửu) để điều tra hành vi “Chống người thi hành công vụ” và “ Cố ý gây thương tích”.
Theo xác minh ban đầu, chiều 20-7, ông Vũ Văn Sơn điều khiển xe ô tô đi ngang qua trạm kiểm soát cửa rừng Suối Trau (thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai) thì bị lực lượng kiểm lâm yêu cầu kiểm tra xe vì nghi ngờ chở cây rừng, động vật rừng. Ông Sơn không chấp hành mà quay xe ô tô chắn ngang thanh chắn ở trạm kiểm soát hăm dọa kiểm lâm, gọi điện cho người thân.
Sau đó, có 6 đối tượng đi xe máy đến trạm kiểm soát rừng Suối Trau dùng nón bảo hiểm xông vào đánh ba kiểm lâm đang chốt trực ở đây. Hậu quả, ông Trần Đức Dũng - phó trưởng trạm bị trọng thương ở đầu phải đi cấp cứu, hai kiểm lâm còn lại bị thương nhẹ.
Khi lực lượng kiểm lâm được huy động đến hiện trường, nổ súng chỉ thiên thì ông Vũ Văn Sơn cùng các đối tượng đánh kiểm lâm khác bỏ chạy. Hiện công an vẫn đang tiếp tục điều tra vụ việc. (Tuổi Trẻ 12/9) đầu trang(
13/9, Công an huyện Lộc Ninh cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố năm bị can có hộ khẩu thường trú tại huyện Lộc Ninh gồm: Nguyễn Hoàng Thọ (35 tuổi, trú ấp 3, xã Lộc Hưng), Giáp Văn Nhương (42 tuổi, trú ấp Cần Ché, xã Lộc Khánh), Đoàn Công Tuấn (38 tuổi, trú ấp Hưng Thủy, xã Lộc Thịnh), Nguyễn Thành Phước (31 tuổi, trú ấp 2, xã Lộc Hưng) và Giáp Văn Tài (29 tuổi, trú ấp 3, xã Lộc Hưng) về hành vi trộm cắp tài sản.
Theo hồ sơ vụ án, biết rõ tại khu vực ấp Vườn Bưởi, xã Lộc Thiện (Lộc Ninh) có 3 cây Giáng Hương khoảng 17 năm tuổi của gia đình anh Bùi Quang Thiện (40 tuổi, trú ấp Vườn Bưởi) đã đến thời kỳ có thể thu hoạch lấy gỗ nhưng không có ai trông coi nên Thọ rủ Nhương, Tuấn, Phước và Tài cùng cưa trộm để bán lấy tiền tiều xài.
Khoảng 19h ngày 26/6/2014, cả nhóm chở nhau bằng xe mô tô (loại phương tiện tự chế dùng để chở gỗ) và mang theo cưa, dao rựa, đèn pin đến chỗ 3 cây Giáng Hương để cưa trộm.
Đến khoảng 2h ngày 27/6/2014 thì cưa đổ được 2 cây có chiều dài mỗi cây hơn 20m và đường kính gần 40cm (tổng trị giá hơn 60 triệu đồng).
Khi cả nhóm đang cưa 2 cây gỗ thành nhiều khúc ngắn để vận chuyển thì bị người dân phát hiện tri hô nên cả nhóm bỏ chạy, không kịp mang theo tang vật và phương tiện cưa cây.
Qua xác minh truy xét, Công an huyện xác định nhóm đối tượng trên chính là thủ phạm gây ra vụ trộm. (Đời Sống & Pháp Luật 13/9) đầu trang(
13/9, chỉ sau 15 phút di chuyển bằng máy bay trực thăng vào sâu bên trong Vườn quốc gia Kruger, Nam Phi, Hồng Nhung đã tận mắt chứng kiến thực tế nghiệt ngã của nạn buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp.
Xác một cá thể tê giác đã bị những kẻ săn trộm bắn chết, chặt mất sừng và bỏ lại trong bụi rậm. Một cán bộ kiểm lâm của đội chống săn trộm ưu tú chỉ rõ cách mà bọn săn trộm chặt sừng tê giác tàn nhẫn như thế nào. Chúng chặt sừng ngay cả khi tê giác vẫn còn sống.
Hồng Nhung có mặt tại Nam Phi với tư cách là một đại biểu của đoàn Việt Nam sang Nam Phi tìm hiểu nạn thảm sát tê giác tại Nam Phi và những hậu quả của nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại các quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam.
“Tôi cảm thấy cực kì sốc trước cảnh tê giác bị sát hại dã man và bị chặt mất sừng, những dòng máu đỏ tươi vẫn còn chảy, thấm vào cát trắng. Đây là một hiện trường tội ác ghê ghớm nhất mà tôi từng chứng kiến trong cuộc sống”, Hồng Nhung nói.
Hồng Nhung tiếp tục bày tỏ: “Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm cần phải truyền tải những thông tin chân thực nhất tới công chúng Việt Nam để mọi người có thể hiểu và cảm nhận được sự khốc liệt của nạn thảm sát tê giác này”. Xác cá thể tê giác được các cơ quan chức năng của Vườn quốc gia Kruger phát hiện là cá thể tê giác thứ 758 bị giết hại trong năm nay tại Nam Phi.
Ông Andrew Paterson - Chủ tịch của tổ chức Rhinose Foundation, đơn vị tổ chức chuyến thăm và làm việc của đoàn Việt Nam tại Nam Phi cho biết: “Sừng tê giác có lẽ đang được vận chuyển đến Việt Nam hoặc Trung Quốc để tiêu thụ”.
Các nước như Việt Nam cần phải chấm dứt nạn tiêu thụ sừng tê giác, nâng cao nhận thức cho cộng đồng để họ biết rằng tiêu thụ sừng tê giác chính là hành động giết chết loài động vật tuyệt vời này và tiếp tay cho mạng lưới tội phạm toàn cầu.
Theo bà Vũ Thị Quyên - Giám đốc điều hành, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng trong thập kỉ qua.
Ở Việt Nam, một bộ phận người giàu có sử dụng sừng tê giác để thể hiện đẳng cấp, một bộ phận khác lại mù quáng tin rằng sừng tê giác có thể chữa bách bệnh, thậm chí là ung thư. Họ không ý thức được rằng hành động của họ có tác động trực tiếp đến sự sống còn của các loài tê giác trên thế giới. (VOV 13/9) đầu trang(
Nguy cơ đẩy loài voi đến bờ tuyệt chủng đang là nhãn tiền nếu không có những biện pháp bảo vệ kịp thời. Trong Sách đỏ, voi được liệt vào danh sách những loài động vật ở tình trạng “cực kỳ nguy hiểm”, ngấp nghé bờ vực tuyệt chủng.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, kết quả một số cuộc điều tra, khảo sát và tập hợp báo cáo của các địa phương từ năm 1995 đến nay cho thấy, trên phạm vi toàn quốc hiện chỉ còn 15 khu vực được xác định là có voi sinh sống với số lượng ước tính khoảng 75 -130 con, phân bố chủ yếu dọc biên giới Việt - Lào và Việt - Campuchia, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, các tỉnh Tây nguyên và tỉnh Đồng Nai.
Các đàn voi sống rất phân tán và bị xé lẻ thành nhiều nhóm, đàn nhỏ; đàn lớn nhất không quá 10-20 con. Điều này dễ dẫn đến nguy cơ voi ở Việt Nam sẽ bị tuyệt chủng nếu như không có những biện pháp quản lý tích cực.
Đơn cử như tỉnh Đắk Lắk, trong những năm qua, số lượng voi hoang dã lẫn voi nhà của tỉnh giảm nhanh. Đối với voi hoang dã, năm 1980 có hơn 550 con, thì hiện nay toàn tỉnh chỉ còn khoảng 5 đàn, với số lượng khoảng 60 -70 cá thể. Từ năm 2009 đến nay, đã có 17 con voi rừng bị chết, trong đó có nhiều cá thể voi bị săn bắn trái phép.
Nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống của voi hoang dã bị thu hẹp, chia cắt, cạn kiệt nguồn thức ăn. Bên cạnh đó, nạn săn bắn trái phép để lấy các sản phẩm có giá trị như ngà, lông, da... cũng đang làm cho số lượng voi hoang dã giảm đi nhanh chóng.
Mặc dù, Việt Nam là một trong số các quốc gia tham gia Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Điều này có nghĩa, tất cả hình thức buôn bán voi và các sản phẩm từ voi với mục đích thương mại đều bị cấm. Tuy vậy hoạt động này vẫn diễn ra phức tạp, tinh vi, diễn biến khó lường.
Đáng quan ngại khi siêu lợi nhuận, hình phạt thấp là lý do để tội phạm buôn bán động vật hoang dã ngày càng gia tăng. Người ta không từ một thủ đoạn nào để buôn bán một số loài hoang dã có giá trị hơn vàng. Thực tế, 100gram sừng tê giác đắt gấp rưỡi vàng. Nghịch lý là cũng với số lượng 100gram, nhưng là ma túy thì sẽ phải ngồi tù, còn sừng tê giác hay ngà voi thì chưa có trường hợp nào bị xử phải ngồi tù cả.
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi ở Việt Nam với mục tiêu cụ thể là ngăn chặn sự suy giảm số lượng voi, đảm bảo ít nhất 3 khu vực có voi sinh sống được bảo tồn, phát triển trong thế kỷ 21; giảm thiểu khả năng xung đột với người tại vùng có voi phân bố; bảo tồn và phát triển quần thể voi nhà tại tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ vào kế hoạch được phê duyệt, gần đây, Bộ NN&PTNT đã ra quyết định phê duyệt dự án "Khẩn cấp bảo tồn voi và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi ở Việt Nam đến năm 2020" với mức kinh phí trên 50 tỷ đồng.
Dự án đặt mục tiêu bảo tồn được các tiểu quần thể voi có số lượng đàn ít, sinh cảnh sống bị cô lập và bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm trong cùng vùng sinh cảnh. Đồng thời, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi săn bắn, xâm hại voi, buôn bán, vận chuyển, lưu giữ trái phép ngà voi và các bộ phận của voi, giảm thiểu các tác động tiêu cực của con người lên sự sinh tồn tự nhiên của voi hoang dã.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu rõ, sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các thông tin bảo tồn voi trong cả nước thông qua các hoạt động như điều tra đánh giá quần thể, phạm vi phân bố, sinh cảnh tự nhiên, tình hình sinh sản của các đàn voi nhỏ lẻ ngoài 3 tỉnh đã lập dự án là Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai.
Cùng với đó, thực hiện kế hoạch bảo tồn tại chỗ các tiểu quần thể voi gắn với các quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững với các khu rừng đặc dụng có voi phân bố thông qua các hoạt động như quy hoạch vùng sinh cảnh sống và hành lang di chuyển cho voi; liên kết công tác bảo tồn voi với bảo tồn các loài động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm khác, thực hiện các biện pháp nhằm cải tạo môi trường sống của voi và hạn chế xung đột giữa voi với con người.
Dư luận đang kỳ vọng vào dự án khi được triển khai sẽ góp phần bảo tồn được số lượng voi còn sót lại và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi trong thời gian tới. (Tài Nguyên & Môi Trường 11/9, tr4) đầu trang(
12/9, tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước cho biết, mới đây qua làm việc, đơn vị đã đồng ý hỗ trợ 4 hộ dân nuôi voi ngụ xã Đắk Nhau (huyện Bù Đăng), số lượng 4 con, với mức bình quân 500.000 đồng/tháng/con theo tâm tư, nguyện vọng của các hộ nuôi voi cũng như để bảo tồn voi.
Thời gian hỗ trợ từ quí IV/2014. Ngoài ra, hai hộ ông Điểu Cước và Điểu Nhố đã đồng ý bán lại 4 con voi, mức bình quân 500 triệu đồng/con để phục vụ bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái.
Trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện có 6 hộ dân ở huyện Bù Đăng đang nuôi 8 con voi cái, giống châu Á, trọng lượng 3-5 tấn/con, độ tuổi 17-40 tuổi, trong đó 7 con khỏe mạnh, có khả năng sinh sản tốt. Hiện các hộ nuôi đang cần voi đực để gieo giống cho đàn voi cái sinh sản. (Công An Nhân Dân 13/9, tr1) đầu trang(
13-14/9, Hội thảo Phúc Lợi Động Vật 2014 đã diễn ra tại TP.HCM. Chủ trì hội nghị là các chuyên gia của bốn tổ chức hoạt động vì phúc lợi động vật trong nước và quốc tế: Tổ chức Yêu Động Vật Việt Nam (YDV), Tổ chức Động Vật Châu Á (Animals Asia), Tổ chức Nhân Đạo Quốc Tế (Humane Society International), Tổ chức Kairos Coalition - Hoa Kỳ.
Hội nghị quy tụ 65 đại biểu bao gồm các chuyên gia đến từ nhiều tổ chức quốc tế uy tín trong lĩnh vực nhằm hướng tới mục tiêu quyền được yêu thương, bảo vệ, chăm sóc của các nhóm động vật từ thú cưng trong nhà đến động vật nuôi ở trang trại, động vật hoang dã.
Một số vấn đề lớn đã được đề cập và thảo luận như: Vật nuôi bị bỏ rơi, nạn buôn lậu chó để làm thịt diễn ra tại Việt Nam và nhiều nước Châu Á, phúc lợi đối với động vật bị khai thác trong trang trại, phúc lợi đối với động vật hoang dã trong môi trường nuôi nhốt…
Hội nghị Phúc Lợi Động Vật 2014 là cơ hội chia sẻ kinh nghiệm giữa các tổ chức, tăng cường hợp tác và thúc đẩy năng lực hoạt động với các nhóm cứu hộ - giúp đỡ - chăm sóc động vật địa phương, thay đổi nhận thức cộng đồng nhằm hướng tới mục tiêu dài hạn: cải thiện và đảm bảo phúc lợi cho động vật.
Chương trình hội thảo cũng lồng ghép các hoạt động vận động truyền thông như chiếu phim bảo vệ động vật, giới thiệu Chiến dịch Cùng ăn chay - kêu gọi cộng đồng hạn chế tối đa việc sử dụng động vật.
Bà Vi Thảo Nguyên - đồng sáng lập Tổ chức Yêu Động Vật chia sẻ: “Phúc lợi của động vật là một khái niệm còn xa lạ và gần như chưa hề tồn tại tại Việt Nam. Hội thảo mở ra cơ hội hợp tác, hỗ trợ giữa các tổ chức hoạt động vì động vật trong và ngoài nước, kêu gọi sự quan tâm chung của cộng đồng, nhằm hướng đến một tương lai không xa các phúc lợi của động vật sẽ được đảm bảo”.
Phúc lợi động vật hiểu một cách đơn giản, là việc đối sự đối xử tốt để con vật có trạng thái tốt về thể chất và tinh thần, tránh những đau đớn không đáng có, cho dù con vật đó là vật nuôi làm thực phẩm, công cụ sản xuất, thú cưng, hay động vật hoang dã bị nuôi nhốt.
Có 5 tiêu chuẩn đảm bảo phúc lợi động vật: Không bị đói khát; không bị khó chịu cả về thể chất và tinh thần: Không bị đau đớn, thương tật, bệnh tật; tự do thể hiện các hành vi bản năng; không bị sợ hãi và lo lắng. (Tuổi Trẻ 14/9) đầu trang(
Mỗi lần sập bẫy là hàng chục đến hàng trăm bồ câu xanh bị xóa sổ, đường đi của chúng là các nhà hàng quán nhậu trong thành phố.
Dòng họ Bồ câu trong tự nhiên khá phong phú loài: Bồ câu nâu, bồ câu nicoba, cu gáy, cu ngói, cu sen, gầm ghì…Thuộc họ bồ câu columbidae.
Lông chúng luôn có màu xanh lá rừng, được tô điểm bằng màu vàng, đỏ, nâu sặc sỡ, dáng đi ục ịch, mình tròn cổ ngắn. Chúng không biết gáy mà chỉ biết hú, thức ăn chủ yếu là quả chín, tuy nhiên buổi sáng và buổi chiều trước chúng ăn thêm đất, thường là những vạt đất có vị mặn. Lợi dụng đặc điểm này của bồ câu xanh các đối tượng đánh bẫy rừng chuyên nghiệp đặt lưới nơi các bãi đất trống trong các cánh rừng nguyên sinh.
Lưới đánh bồ câu xanh được thiết kế thành 2 cánh, mỗi cánh có kích thước 2m x 5m lật ngược ra ngoài được nối bằng dây sắt vào trong thum nơi con người đang núp. Khi kéo mạnh 2 cánh lưới sẽ lật úp vào trong. Mỗi lần sập bẫy là hàng chục đến hàng trăm bồ câu xanh bị xóa sổ, đường đi của chúng là các nhà hàng quán nhậu trong thành phố.
Bồ câu xanh ăn hoa quả rừng rồi gieo vãi hạt rừng đi khắp nơi, tác động lớn đến sự phát triển hệ sinh thái rừng. (Dân Việt 13/9) đầu trang(
Sừng tê giác được cấu trúc bằng một tổ chức lông liên kết lại cho nên cưa và mài rất khó, nhưng khi chẻ thì dễ, còn sừng những con vật khác là chất keo phần thừa của cân (gân) khi can (gan) của nó hoạt động, có ý kiến cho rằng sừng tê giác như móng tay móng chân, như tóc của người đó là điều sai lầm.
Theo Đông y, móng tay móng chân của người là chỗ thừa của cân (gân) khi can (gan) hoạt động, tóc là chỗ thừa của huyết, cho nên Đông y gọi tóc của người là huyết dư, mặt khác, người là loại động vật cao cấp còn tê giác là loại động vật khác cho nên ví dụ như vậy là không đúng. Cũng như những con vật khác, sừng tê giác trước hết là để bảo vệ bản thân.
Ngoài ra còn có tác dụng giải độc cho cơ thể của nó. Theo các tài liệu y học phương Đông, khi tê giác ăn uống phải thức ăn có độc, được đào thải qua da và đào thải ra ngoài theo sừng cho nên hàng ngày nó đi cà sừng vào cây để giải độc và cũng tìm kiếm những cây không có độc nó mới ăn. Theo truyền thuyết của những người đi rừng xưa của Việt Nam, nơi khe suối có dấu chân tê giác xuống uống nước thì không có độc nên người cũng uống được. Tê giác cắm sừng xuống dòng nước không có độc nó mới uống.
Đông y dùng sừng tê giác như thế nào? Theo các tài liệu của y học phương Đông, sừng tê giác là một vị thuốc được xếp vào nhóm thuốc “Thanh nhiệt lương huyết”. Sừng tê giác tính hàn, vị đắng khi dùng nó có tác dụng đi vào kinh tâm, can, vị (tim, gan, dạ dày). Nó có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, trấn kinh an thần dùng để điều trị các chứng thuộc ôn bệnh (bệnh do thời tiết sinh ra có tính lây truyền) như sốt cao, hôn mê nói nhảm, co giật, sốt phát ban...
Nó có phải thần dược không? Xin trả lời là không. Vì trong nhóm thuốc thanh nhiệt lương huyết có tất cả 17 vị thuốc như ngưu hoàng, sinh địa, huyền sâm, đan bì, xích thược... vừa rẻ lại vừa dễ tìm. Trong Đông y hiện nay hầu như không dùng sừng tê giác để chữa bệnh, vì đắt vừa khó tìm và có nhiều thảo dược khác thay thế rẻ tiền dễ tìm đã trình bày ở phần trên.
Cũng xin lưu ý bạn đọc rằng: Sừng tê giác là một vị thuốc chứ không phải là một bài thuốc. Trong y học phương Đông có tất cả khoảng một vạn bảy nghìn bài thuốc chỉ có khoảng 20 bài có thành phần sừng tê giác. Cho nên nếu chỉ uống độc vị sừng tê giác không có ý nghĩa chữa bệnh, nếu có tác dụng chỉ là cá biệt. Hơn nữa, trong Đông y không có bài thuốc nào dùng sừng tê giác độc vị.
Sừng tê giác có chữa được ung thư không? Đông y gọi ung thư là bệnh “nham”, còn ung thư là mụn nhọt. Theo Đông y, bệnh nham do hàn tích lâu ngày mà sinh ra, sừng tê giác là vị thuốc tính hàn nếu dùng điều trị bệnh nham thì hàn gặp hàn nên “tắc tử”, do đó dùng sừng tê giác để điều trị chứng nham là một việc làm sai lầm, có trường hợp nào đó lành là do chẩn đoán bệnh sai mà thôi.
Sừng tê giác có tác dụng bổ dưỡng làm cho người khỏe mạnh hơn không? Tác dụng của sừng tê giác đã nói ở trên: Nó không có tác dụng bổ huyết, bổ khí, bổ âm, bổ dương nên không làm cho con người khỏe ra và cũng không có chuyện uống sừng tê giác để tăng tuổi thọ.
Uống sừng tê giác có làm cho nam giới cường dương để sinh hoạt tình dục được tốt hơn không? Sừng tê giác tính hàn, nó không đi vào kinh thận. Trong Đông y, thận chủ thủy thuộc hàn nếu uống sừng tê giác vào dễ làm tổn thương mệnh môn hỏa của thận, làm giảm tinh khí dễ dẫn đến liệt dương hoặc làm cho âm khí quá mạnh, dương khí không khống chế được âm khí, dễ sinh ra chứng đi tiểu ban đêm nhiều, nhất là đối với người cao tuổi.
Xin độc giả đừng nghe lời đồn thổi mà tiền mất tật mang lại vi phạm pháp luật vì tê ngưu hiện nay là động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo vệ theo luật pháp Việt Nam và quốc tế.
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam khoảng 80% là sừng tê giác giả, có 15 người mang sừng tê giác đến hỏi thì 11 người là sừng tê giác giả gồm: Sừng trâu, sừng bò, sừng dê, sừng linh dương họ mài dũa rất đẹp, trông bề ngoài giống sừng tê giác nhưng khi soi ánh sáng vào thì không có đỏ hồng như sừng tê giác. Đây là một đặc điểm mà chỉ có sừng tê giác mới có. (Sức Khỏe & Đời Sống 12/9, tr7) đầu trang(
Thay đổi kết cấu xe và sử dụng nhiều biển kiểm soát giả hòng qua mắt lực lượng chức năng là thủ đoạn không mới của các đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép, nhưng luôn gây khó khăn cho lực lượng chức năng trong kiểm tra, xử lý.
Một xe ô tô vận chuyển lâm sản trái phép bị Phòng cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt – Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt giữ. Tại thời điểm kiểm tra, trên xe đang vận chuyển 25 thanh gỗ xẻ Pơ mu, tương đương 0,719 m3.
Lái xe, đồng thời là chủ hàng Trần Văn Biên không xuất trình được các loại hóa đơn, giấy tờ liên quan đến nguồn gốc của số hàng. Bước đầu lái xe khai nhận, số gỗ trên gom của các hộ dân trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái, mang về Hà Nội tiêu thụ.
Để tránh việc phát hiện của cơ quan chức năng, Biên đã tháo toàn bộ hàng ghế sau của xe ôtô 7 chỗ ngồi, đồng thời sử dụng nhiều biển kiểm soát giả.
Trung úy Cù Văn Tuấn - Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt cho biết: "Đội CSGT chúng tôi rất khó khăn trong khi kiểm soát đối tượng vẫn chuyển gỗ. Các đối tượng sử dụng các loại xe du lịch, thường thường các loại xe rất là tốt nên việc truy đuổi các đối tượng này trên đường rất nguy hiểm và khó khăn".
Đây chỉ là một trong số rất ít các vụ vận chuyển lâm sản trái phép bị bắt giữ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ xác định được chủ hàng và chủ phương tiện.
Chỉ tính riêng trong năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Phú Thọ đã phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển lâm sản trái phép bằng xe ô tô.
Tuy nhiên hầu hết các vụ bắt giữ đều không xác định được chủ hàng và chủ phương tiện, bởi hầu hết các xe được dùng để vận chuyển gỗ lậu đều là những xe đã cũ, nát hết niên hạn sử dụng, thường xuyên thay đổi biển số, thay đổi hình dạng, kết cấu xe và đi vào thời điểm đêm tối để tránh việc phát hiện của lực lượng chức năng.
Không ít đối tượng còn sử dụng hung khí chống trả quyết liệt lực lượng truy đuổi, làm tổn hại sức khỏe và đe đọa tới tính mạng của những người thực thi nhiệm vụ.
Để ngăn chặn nạn mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, cần thiết phải có chế tài xử lý đủ mạnh đối với các trường hợp tái phạm nhiều lần hoặc các trường hợp cố tình không chấp hành việc kiểm tra của lực lượng chức năng. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 12/9) đầu trang(
Theo Ban Quản lý dự án rừng Tây Ninh, hiện các dự án rừng của tỉnh này đã trồng được 290 ha các loại, tăng gần 90% so cùng kỳ.
Đến nay, tỉnh cũng hoàn tất công tác chăm sóc đợt một năm 2014 với diện tích chăm sóc 2.359 ha, đạt 100% kế hoạch năm, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 1.773 ha, rừng sản xuất 480 ha và rừng trồng ngoài quy hoạch hơn 100 ha.
Tính từ đầu năm, các Ban quản lý dự án rừng Tây Ninh đã gieo ươm được 567 nghìn cây rừng giống phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2014. Toàn tỉnh Tây Ninh có bốn đơn vị chủ rừng là Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, Khu rừng Văn hóa - Lịch sử Chàng Riệc (thuộc địa bàn huyện Tân Biên); khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (thuộc địa bàn huyện Tân Châu), khu rừng Văn hóa lịch sử núi Bà Đen (thuộc địa bàn thành phố Tây Ninh) và rừng khoanh nuôi tại 2 huyện Châu Thành và Bến Cầu với tổng diện tích gần 60 nghìn ha.
Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh đã triển khai thực hiện kế hoạch tăng cường bảo vệ rừng phòng hộ Dầu Tiếng. Ngoài việc chủ động triển khai các biện pháp như làm đường băng cản lửa, tổ chức lực lượng canh phòng, nâng cao nhận thức trách nhiệm của chủ rừng và người dân vùng đệm... tỉnh Tây Ninh còn chú trọng đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Các kiểm lâm viên cơ sở phối hợp chặt chẽ với nhân dân, hỗ trợ cho các đơn vị chủ rừng, UBND các xã có rừng kiểm tra truy quét ngăn chặn các vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái phép lấn chiếm đất rừng.
Bên cạnh đó, lực lượng Kiểm lâm còn phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt quy ước bảo vệ rừng kết hợp với việc vận động xây dựng “Khu dân cư, ấp văn hoá” đến từng thôn, ấp, hộ gia đình...
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm còn tăng cường mối quan hệ giữa kiểm lâm địa bàn với nhân dân, đặc biệt là với các Trưởng ấp ở cơ sở, đồng thời hỗ trợ về nghiệp vụ cho trưởng thôn, trưởng ấp trong việc quản lý dân cư trên địa bàn có rừng, thực hiện đúng Luật Bảo vệ và phát triển rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 12/9) đầu trang(
Thực hiện công tác giao đất giao rừng, hơn 5.300ha rừng tại TX. Mường Lay đã được giao cho 33 cộng đồng dân cư với 888 hộ gia đình quản lý, bảo vệ. Toàn bộ diện tích trên thuộc lưu vực sông Đà được thụ hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ.
Khi rừng có chủ, từ năm 2012 đến nay, người dân đã nhận được gần 2,9 tỷ đồng cho công tác chăm sóc, bảo vệ rừng từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên. Điều nhận thấy rõ nhất đó là việc triển khai chính sách trên đã tác động và làm thay đổi từ nhận thức đến hành động của mỗi người dân, cộng đồng tổ dân phố, bản tham gia bảo vệ rừng. Bởi vậy, trên địa bàn không còn xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép.
Lay Nưa là xã có diện tích rừng nhiều nhất thị xã, được thụ hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với trên 2.739ha. Thực hiện công tác giao đất giao rừng, toàn bộ diện tích rừng trên được giao 16 cộng đồng dân cư tại các bản khoanh nuôi, bảo vệ. Đến nay, các chủ rừng đã được nhận gần 1,5 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Khoàng Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Lay Nưa cho biết: Với các chủ trương, chính sách quan tâm đầu tư cho lĩnh vực phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp, đặc biệt là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhân dân trong xã đều tích cực tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.
Cuộc sống của bà con còn nhiều khó khăn do chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, song do đất sản xuất lúa nước ít. Vì vậy, làm tốt công tác bảo vệ rừng bà con đã được nhận tiền để mua gạo nên cuộc sống bớt phần khó khăn. Với sự hướng dẫn cách bảo vệ rừng của cán bộ Hạt Kiểm lâm TX. Mường Lay, hiểu được lợi ích từ rừng nên nhân dân bảo vệ rừng tốt hơn trước rất nhiều.
Theo ông Nguyễn Xuân Linh, Phó Chủ tịch UBND TX. Mường Lay: Thời gian qua, nhờ thực hiện tốt các biện pháp tuyên truyền, vận động, giải thích đã giúp người dân trên địa bàn thị xã hiểu rõ giá trị từ rừng mang lại nên đến nay, cơ bản người dân tại các tổ dân phố, bản có rừng đều có ý thức tốt trong việc cùng chung tay bảo vệ, chăm sóc rừng.
Việc giao rừng cho cộng đồng quản lý vừa đảm bảo việc giám sát lẫn nhau giữa các hộ tham gia bảo vệ rừng và góp phần tăng tính đoàn kết, giúp nhau trong cuộc sống. Người dân tham gia bảo vệ rừng được cải thiện đời sống nhờ biết cách sống dựa vào rừng mà không phá rừng. Thị xã đang đề nghị với tỉnh trồng bổ sung một số loại cây có khả năng giữ đất, nhất là trên diện tích đất rừng dốc dễ xảy ra tình trạng xói mòn, sạt lở đất, góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái.
Đầu tháng 9, trong chuyến công tác tại TX. Mường Lay kiểm tra tình hình thực hiện công tác giao đất, giao rừng, quản lý, bảo vệ và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99 năm 2010 của Chính phủ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến khẳng định những chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ rừng, nhất là tác động, hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến cuộc sống của người dân trên địa bàn thị xã.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là đối với diện tích rừng phòng hộ sông Đà như TX. Mường Lay để từ đó địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng, chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống để người dân yên tâm gắn bó bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 12/9) đầu trang(
Là khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, ngoài các loài động, thực vật khác, Vườn Quốc gia Tràm Chim còn là nơi trú ngụ của 231 loài chim, trong đó có 32 loài quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới, đặc biệt là sếu đầu đỏ.
Để cứu những động vật hoang dã bị bệnh hoặc bị tai nạn, Vườn Quốc gia Tràm Chim thành lập Trung tâm cứu hộ để chữa trị cho các loài động vật này trước khi thả về thiên nhiên.
Từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, khi mùa nước nổi đổ về, hai loại chim cồng cộc và điêng điểng bước vào mùa sinh sản. Chúng tập trung nhiều nhất vào diện tích rừng tràm của khu A2, nơi đây còn gọi là sân chim.
Hàng năm có khoảng 200.000 chim con được sinh ra. Tuy nhiên, có khoảng 10 - 15% số lượng này bị chết do giông gió làm rơi khỏi tổ hoặc bị săn bắt. (Báo Đồng Tháp 12/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Hòa An phát hiện và xử lý 18 vụ vi phạm quy định quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, 3 vụ vi phạm quy định khai thác gỗ trái phép, 3 vụ vi phạm về phòng cháy chữa cháy rừng gây thiệt hại 7,70 ha, 8 vụ mua bán vận chuyển lâm sản trái phép và 4 vụ vi phạm khác; tịch thu 0,25 m3 gỗ. Lập biên bản xử phạt hành chính đối với các vụ vi phạm 38 triệu đồng.
Huyện đã kiện toàn và thành lập 189 tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng, 1 ban chỉ huy cấp huyện, 20 ban chỉ huy cấp xã; 21 xã có kiểm lâm phụ trách, 198 thôn bản xây dựng hương ước bảo vệ rừng. (Báo Cao Bằng 11/9) đầu trang(
Qua 7 năm xây dựng phường điểm về công tác bảo vệ rừng, rừng và đất lâm nghiệp ở phường 3 (thành phố Đông Hà, Quảng Trị) được quản lý và bảo vệ tốt hơn, hiện tượng phá rừng, khai thác trái phép lâm sản, lấn chiếm rừng, đất trồng rừng không còn xảy ra.
Rừng phát huy vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong điều hoà khí hậu, cân bằng môi trường sinh thái, mang lại giá trị kinh tế lớn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều người dân.
Phường 3 hiện có 1.446,1 ha rừng, trong đó, rừng tự nhiên 37 ha, rừng trồng 1.409,1 ha. Rừng nằm rất gần khu dân cư và có nhiều trục đường giao thông lớn đi qua như: đường 9D, đường vào khu phố Khe Lấp..., thời tiết nắng nóng kéo dài, gió phơn Tây Nam thổi mạnh cùng với đó là có rất nhiều hoạt động diễn ra hàng ngày trong rừng như: Viếng mộ, đốt hương, đốt vàng mã, chăn thả gia súc, lấy củi, rà tìm phế liệu chiến tranh... nên nguy cơ cháy rừng xảy ra là rất lớn.
Anh Nguyễn Văn Đông, Phó Chủ tịch UBND phường cho biết: Kể từ khi phường 3 được Trạm Kiểm lâm Đông Hà chọn làm phường điểm thực hiện công tác bảo vệ rừng vào năm 2007, UBND phường 3 nhanh chóng soạn thảo, xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của phường và đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 205/ QĐ-UBND ngày 23/3/2011 về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020.
Trong đó, phường xác định nhiệm vụ đặt lên hàng đầu là công tác bảo vệ rừng, tập trung đẩy mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Trên có sở đó, tiến hành tổ chức quản lý, rà soát diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn về các mặt: Danh sách chủ rừng, diện tích, ranh giới các khu rừng, thống kê các loại đất, loại rừng theo từng lô, khoảnh, tiểu khu và theo từng đơn vị quản lý trên địa giới hành chính phường một cách chính xác trên thực địa và trên hồ sơ tài liệu, bản đồ.
Đồng thời phối hợp với kiểm lâm địa bàn, các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị, trường học trên địa bàn tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng với nhiều hình thức.
Chú trọng kiểm tra về công tác PCCCR của các chủ rừng trên địa bàn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát để phát hiện và kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng phương án đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng.
Hàng năm, phường tổ chức các hội nghị PCCCR cấp phường đánh giá những mặt đạt được, khắc phục những mặt còn hạn chế, khen thưởng kịp thời những tấm gương điển hình trong bảo vệ rừng.
Phường cũng đã tiến hành xây dựng và thực hiện có hiệu quả Quy ước bảo vệ và phát triển rừng do người dân tự nguyện tham gia xây dựng, phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội, phong tục tập quán và thuần phong mỹ tục của địa phương. Khi triển khai thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng, đông đảo người dân, các chủ rừng và các cơ sở kinh doanh lâm sản, kinh doanh dịch vụ ăn uống đã tích cực hưởng ứng và thực hiện việc ký cam kết bảo vệ rừng trên địa bàn, tham gia trồng rừng, xây dựng và phát triển vốn rừng.
Từ đó, dấy lên phong trào quần chúng tham gia bảo vệ rừng trong mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, phường đã ban hành Quy chế quản lý, sử dụng quỹ bảo vệ và phát triển rừng, thành lập hội đồng quản lý quỹ và đưa quỹ vào hoạt động. Hàng năm, từ nguồn quỹ bảo vệ rừng, UBND phường đã hỗ trợ tiền xăng xe cho tổ bảo vệ rừng, mua sắm một số dụng cụ chữa cháy rừng, tổ chức hội họp và đầu năm 2014 đã cho xây dựng biển dự báo cấp cháy rừng.
Để thực hiện tốt công tác quần chúng tham gia bảo vệ rừng và từng bước tiến tới việc xã hội hoá nghề rừng, UBND phường thành lập tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng của UBND phường 3 (17 người), khu phố Khe Lấp (10 người), đội xung kích BVR-PCCCR (15 người) lấy lực lượng nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ của phường.
Ông Đinh Thế Khoa, Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng khu phố Khe Lấp cho biết: “Những năm qua, Tổ bảo vệ rừng Khe Lấp luôn chú trọng tuyên truyền cho nhân dân về công tác BVR-PCCCR thông qua nhiều hình thức. Từ đó, rừng ở khu phố được bảo vệ tốt, được các cấp đánh giá cao. Nhiều tập thể, cá nhân được các cấp tuyên dương, khen thưởng”.
Anh Lê Thanh Châu, kiểm lâm địa bàn tại phường 3 cho biết: “Các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng ở phường 3 luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ bảo vệ rừng và kịp thời tham gia chữa cháy, hạn chế được thiệt hại do cháy rừng gây ra, không để xảy ra tình trạng khai thác rừng, mua bán, chế biến lâm sản trái phép…Đây là lực lượng vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển rừng ở phường 3 cũng như ở thành phố Đông Hà, góp phần quan trọng giữ màu xanh cho thành phố”.
Kết quả nổi bật trong 7 năm thực thực hiện việc xây dựng phường điểm về công tác bảo vệ rừng, đó là phường 3 đã thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, ý thức được trách nhiệm, quan tâm đúng mức trong công tác quản lý bảo vệ rừng, nên hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng ngày càng cao hơn. Rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn được quản lý, bảo vệ tốt.
Hiện tượng phá rừng, khai thác trái phép lâm sản, lấn chiếm rừng, đất trồng rừng không còn xảy ra; các vụ cháy rừng đều được phát hiện sớm, huy động lực lượng cứu chữa kịp thời nên hạn chế được thiệt hại do cháy rừng gây ra. Trình độ quản lý, sử dụng rừng của các chủ rừng được nâng lên nên lợi ích mang lại từ sản xuất lâm nghiệp ngày càng hiệu quả hơn, đây là động lực thúc đẩy người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Kiểm lâm địa bàn thường xuyên bám sát địa bàn, phối hợp với nhân viên hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng của phường, cài cắm cơ sở, củng cố được lòng tin trong nhân dân nên người dân đã có ý thức trong việc tố giác các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về QLBV&PTR, nhờ vậy nhiều vụ vi phạm được phát hiện, bắt giữ, xử lý góp phần ngăn chặn nạn xâm hại tài nguyên rừng.
Từ năm 2011 đến nay trên địa bàn phường không xảy ra cháy rừng, không xảy ra tình trạng khai thác rừng, mua bán, chế biến lâm sản trái phép. Nhận thức của cán bộ, nhân dân trong công tác QLBV&PTR được nâng lên rõ rệt, thấy rõ tầm quan trọng của rừng đối với đời sống kinh tế, môi trường sinh thái và lợi ích thiết thực với đời sống của nhân dân nên đã tham gia tích cực bảo vệ và phát triển rừng, giữ gìn màu xanh cho thành phố. (Báo Quảng Trị 12/9) đầu trang(
Vừa qua tại chùa Phúc Sơn làng Đồng Đại xã Đồng Thanh, huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã trao Bằng công nhận hai cây đại (miền Nam gọi là hoa sứ) có tuổi gần 700 năm là cây Di sản Việt Nam.
Hai cây đại (cây sứ) cổ thụ, với bộ gốc xù xì, cành cong queo như rồng bay, phượng múa, tán lá che kín 9 bậc thềm lên xuống và toàn bộ mặt sân ước tính khoảng 360 m2, về mùa hoa tỏa hương thơm ngát, nở trắng đầy cành, rụng trắng mặt sân gạch rêu phong. Theo tư liệu còn lưu giữ cho biết hai cây đại được trồng vào năm Canh Thìn 1348. (Tin Tức 11-17/9, tr8) đầu trang(
Công tác quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, luôn được BQL rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa chú trọng, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa và chính quyền địa phương tổ chức thực hiện, nhằm kiểm tra ngăn chặn kịp thời và kiên quyết xử lý các vụ việc vi phạm.
Thực hiện Kế hoạch tuần tra, truy quét, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép trong lâm phận trước dịp Lễ Quốc khánh 2/9 năm 2014, Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa đã tổ chức 2 đợt kiểm tra tại các tiểu khu 12, 20, 24 thuộc lâm phận Sông Nam từ ngày 22-29/8. Tham gia đợt tuần tra, truy quét còn có sự phối hợp, hỗ trợ của Đồn Công an Bắc Hòa Vang, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa.
Với tinh thần trách nhiệm cao, không ngại khó, ngại khổ của CBVC Ban Quản lý cộng với sự hỗ trợ tích cực của các lực lượng phối hợp, qua tám ngày làm việc tại hiện trường, đợt tuần tra truy quét đã đạt được kết quả đáng khích lệ.
Tổ công tác đã phát hiện và phá hủy tại hiện trường 01 lán trại; phát hiện 3,132m3 gỗ các loại. Trong đó: Vận chuyển 0,882m3 gỗ ra khỏi rừng, bàn giao cho Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa xử lý theo quy định của Pháp luật và phá hủy 2,25m3 gỗ tại hiện trường (do các tấm gỗ nằm rải rác nhiều nơi, không có điều kiện vận chuyển ra khỏi rừng).
Theo kế hoạch, trong thời gian đến BQL rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa sẽ tiếp tục triển khai nhiều đợt tuần tra truy quét hơn nữa nhằm bảo vệ sự yên bình của các cánh rừng trên lâm phận quản lý. (Sở NNPTNT Đà Nẵng 11/9) đầu trang(
Trưởng bản Phùng Sinh Xương "hạch toán" về giá trị của gần 90ha quế trong "rừng quế Bác Hồ", tài sản quý giá của người dân bản Giàng Cài như sau: Những năm gần đây, cây quế đều đặn mang lại cho 120 hộ đồng bào người Dao trong bản trên dưới 1 tỷ đồng/năm.
Nghe anh Xương nói thế, PV nhẩm tính trong đầu: Vị chi, mỗi gia đình người Dao nhờ cây quế mà được hưởng lợi khoảng 8,3 triệu đồng. Rồi tự "phong" cho loài cây này lên một thứ hạng mới, từ "cây giảm nghèo" trở thành "cây khởi giàu"...
Mùa này, vùng rừng núi Nậm Lành đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình, trong đó, điểm nhấn nhiều sắc màu nhất vẫn là cánh rừng quế cổ thụ vốn đã nổi tiếng khắp vùng Văn Chấn (Yên Bái) từ lâu. PV cùng Trưởng bản Xương và mấy người dân bản Giàng Cài, tay cầm rựa tiến vào rừng quế.
Trên đường, một phụ nữ độ tuổi trung niên đuổi theo để nhập bọn chào bằng tiếng phổ thông, rồi hỏi: "Đến mua quế hả?". PV nói đùa: "Gặp gì mua nấy. Nhưng mà, quế bán mỗi cân bao nhiêu?". Người phụ nữ tỏ ra nghi ngờ: "Có giá sẵn rồi mà, hỏi làm gì?".
Lúc này, Trưởng bản Xương mới giới thiệu: "Nhà báo dưới xuôi lên tìm hiểu về rừng quế bản ta đấy!...". Cho đến khi tiếng cười lao xao lẫn vào màu xanh bạt ngàn của rừng quế, vẫn hình dung ra vẻ thẹn thùng của người phụ nữ miền sơn cước khi bị "mắc lỡm" câu nói đùa của mình.
Vừa đi vừa trò chuyện, nhoáng một cái, PV đã có mặt ở "rừng quế Bác Hồ" - cái tên đã trở nên thân thuộc, đối với người Dao ở Giàng Cài từ hơn 3 thập kỷ qua. Những động tác thuần thục bắt đầu được "thi triển": Phát cây dại quanh gốc quế, dùng dao rạch một đường nhỏ để kiểm tra xem đã đủ độ "róc" chưa...
Biết PV không phải dân buôn quế, người phụ nữ gặp ở trên đường tên là Bàn Thị Còi lúc này mới hồ hởi bắt chuyện. Chị cho biết, rừng quế của bản được cha chị cùng dân bản tạo dựng từ những năm 80 của thế kỷ trước, khi Đảng ủy, UBND xã Nậm Lành phát động phong trào trồng cây gây rừng theo lời dạy của Bác Hồ.
Thời gian trước đó, ở những khoảnh rừng thuộc bản Giàng Cài đã có quế, nhưng là những cây mọc hoang. Đồng bào thường đi đốn về bóc vỏ bán hoặc đổi gạo chứ không được trồng tập trung. Người ta thường lựa cây cao nhất, "bập" một nhát vào gốc, lôi ra, róc như róc mía.
Đốn quế rồi, chẳng ai nghĩ đến việc "trả nợ" cho rừng, nên quế hiếm dần. Rồi quế lên giá, lái buôn lặn lội đến thu mua tận gốc. Để có được một cây quế trưởng thành, phải mất cả chục năm, thế mà chỉ đốn hạ trong chốc lát. Vì vậy, rừng quế Giàng Cài đứng trước nguy cơ biến mất.
Thế nhưng, kể từ khi người dân Giàng Cài dưới sự chỉ đạo của UBND xã Nậm Lành quyết tâm khôi phục rừng quế, thì mọi chuyện bắt đầu bước sang trang mới. "Do cái đầu đã hiểu ra lợi ích lâu dài của cây quế, nên có lúc nương ruộng mất mùa, đồng bào mình vẫn không động đến rừng quế. Nhiều khi phải ăn ngô, ăn sắn để trồng và chăm sóc quế, bà con vẫn vui cái bụng. Bây giờ, rừng quế mà mình tham gia trồng từ khi còn trẻ đã cho mình nhà cửa, cho con cái học hành. Cây quế không chỉ là "kho gạo" giữa rừng của người Giàng Cài nữa, mà còn giúp đồng bào Dao giàu lên..." - Chị Còi tâm sự.
Có một thực tế là, với người dân ở bản Giàng Cài, cây quế đã trở thành "phao cứu sinh" trong cuộc sống của họ. Nó tham gia vào tất cả mọi sinh hoạt của người dân, từ việc mua cuốn sách, quyển vở, quần áo cho con đến việc ma chay, cưới hỏi trong nhà.
Điều đáng mừng là bây giờ, lớp người trẻ tuổi ở xứ rừng này đã biết sự quý giá của rừng quế với hàng vạn cây lớn nhỏ đứng kề nhau mà cha ông họ đã cùng nhau tạo dựng nên... Trưởng bản Phùng Sinh Xương trò chuyện với PV, đại ý như vậy.
Theo anh Xương, bây giờ, dân bản Giàng Cài chỉ khai thác quế kiểu tỉa thưa theo đúng vụ thu hoạch (mỗi năm 2 đợt, dao động trong tháng 3 và tháng 8) để đảm bảo cho rừng quế tiếp tục sinh trưởng.
Việc khai thác được đảm bảo nguyên tắc bất di bất dịch: Cứ một cây quế đến tuổi khai thác, đồng bào lại trồng thêm 3-4 cây con khác. "Bà con trong bản Giàng Cài đều có chung nhận thức rằng, rừng quế là vốn quý của ông cha để lại, mình không giữ gìn, chăm sóc nó, không chỉ cái bụng đói mà còn có tội với lớp người đi trước. Chính vì thế mà cả bản, không ai bảo ai đều tâm huyết với khu rừng tập thể này..." - Trưởng bản Xương nhấn mạnh.
Không ngạc nhiên với câu hỏi của PV: "Với nguồn lợi lớn như vậy, người dân Giàng Cài làm thế nào để bảo vệ an toàn rừng quế?", Trưởng bản Xương thong thả tiết lộ: "Ngoài việc giúp dân bản xóa đói giảm nghèo, bản thân cây quế còn làm thay nhiệm vụ của lực lượng kiểm lâm nữa. Nó đang giữ rừng đấy!...".
Thấy PV tròn mắt trước khái niệm lạ huơ lạ hoắc này, anh phân tích cặn kẽ: Nhìn rừng quế hàng lối thẳng tắp thế, nhưng lâm tặc mà chặt được một cây, không trầy da thì cũng tróc mặt.
Ở Giàng Cài, nhà nào cũng xem rừng quế là "kho gạo" chung của dân bản, nếu cây quế nào bị chặt trái phép khi chưa cúng thần rừng thì "kho gạo" chung sẽ bị ảnh hưởng, nên ai cũng phải giữ. Dân bản không một ai dám đốt rừng làm rẫy vì sợ cháy luôn rừng quế. Quy định của bản về việc bảo vệ rừng quế còn ngặt hơn của kiểm lâm. Đấy là chưa kể các "đội đặc nhiệm" thường xuyên được dân bản cắt cử đi bảo vệ rừng quế mỗi ngày, nhất là dịp quế đến kỳ khai thác...
Nghe anh Xương thổ lộ, thầm nghĩ, có lẽ không một cách giữ rừng nào hiệu quả hơn thế. Khi người dân đã gắn quyền lợi của mình vào những cánh rừng, khi ấy lực lượng kiểm lâm sẽ không phải tốn quá nhiều công sức, thậm chí phải đổ máu trước sự hung hãn của lâm tặc. Sự an toàn gần như tuyệt đối ở rừng quế Giàng Cài đã chứng minh điều đó.
Từ rừng quế, PV vòng theo con đường mòn vắt qua sườn đồi, để đến nhà ông Bàn Văn Tài - người đã gắn bó với rừng quế Giàng Cài ngót 40 năm. Sau mấy tuần rượu đãi khách miền xuôi, ông Tài tâm sự: "Khu rừng quế quý giá này chính là ngôi "đền xanh" để người dân nơi đây ghi nhớ công lao của Bác Hồ.
Bác dạy: "Rừng là vàng", quả là chí lý. Nói đâu xa, tính riêng cây quế, vỏ bóc bán vỏ, thân thì bán cho nhà máy chế biến gỗ. Còn cành, lá dùng để nấu tinh dầu. Vàng từ đó ra cả đấy... Chính vì vậy mà bây giờ, ý thức bảo vệ rừng đã ăn sâu vào máu thịt người Giàng Cài. Rừng sẽ mãi là lộc của bản!".
Theo ông Bàn Văn Tài, ở bản Giàng Cài, mỗi lần hội họp tập thể, cán bộ bản cùng các bậc cao niên đều tranh thủ "ôn" lại hương ước giữ rừng để dân bản, nhất là lớp trẻ cảm nhận được tầm quan trọng của rừng nói chung, khu rừng quế của bản nói riêng. Vì thế, dân bản đều đồng lòng chăm sóc, bảo vệ "kho báu" chung của cả bản.
"Từ trước đến nay, quy định xử phạt các hành vi "làm hại" rừng quế chưa được áp dụng với thành viên nào trong bản. Điều đó chứng tỏ người dân Giàng Cài đã biết học theo Bác Hồ trong việc coi rừng là vàng rồi đấy..." - Ông Tài chia sẻ. (Biên Phòng 12/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Gần 1 triệu hécta đất rừng ở Tây Nguyên được giao cho 56 Cty TNHH MTV lâm nghiệp (CTLN), nhưng diện tích bỏ hoang, sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, vi phạm pháp luật rất lớn, trong khi người dân tại chỗ lại thiếu đất sản xuất.
Nghịch lý này đã được chỉ ra từ 10 năm trước, song quá trình thực hiện thiếu kiên quyết nên đến nay các CTLN vẫn... “ôm” quá nhiều đất.
21.8, Báo Lao Động đã phản ánh việc CTLN Trường Xuân (Đắc Nông) để mất 4.500ha/6.200ha đất rừng được giao chỉ trong vài năm, lãnh đạo tỉnh Đắc Nông cho rằng, đủ điều kiện xử lý hình sự giám đốc DN này. Nhưng đây không phải trường hợp cá biệt.
Từ năm 2004 đến nay, toàn tỉnh Đắc Nông có hơn 27.600ha rừng bị chặt phá, bao chiếm trái phép, chủ yếu là đất rừng do các CTLN quản lý. Nếu tính cả thời điểm trước năm 2004, các CTLN ở tỉnh này để rừng bị chặt phá, bao chiếm lên tới 90.000ha, đến nay Nhà nước không thu hồi lại được.
Tại tỉnh Đắc Lắc, chỉ tính từ năm 2008 đến nay cũng có hơn 26.400ha rừng bị xóa sổ, nhưng diện tích thu hồi được chưa tới... 2.000ha. Trong đó, riêng CTLN Chư Ma Lanh (huyện Ea Súp) được giao 14.000ha đất rừng, nhưng có hơn 7.000ha đã biến mất trong thời gian nói trên. Chỉ nửa ngày ở tiểu khu 262 và tiểu khu 264 thuộc xã Chư Ma Lanh do Cty quản lý, chúng tôi đếm được hơn 100 lán trại được dựng lên.
Xung quanh là những vạt rừng vừa bị phá, gỗ cháy đen nằm la liệt trên mặt đất, giữa bạt ngàn ngô, lúa, sắn, đậu đang xanh tốt. Ông Y Krắk - một hộ đang canh tác ở tiểu khu 262 - giải thích: “Ở huyện Ea Súp này, đi chỗ nào cũng thấy đất lâm trường, nếu không đi chiếm thì nông dân chúng tôi sống bằng gì?”. Ông Nguyễn Hữu Thu - Giám đốc CTLN Chư Ma Lanh - thừa nhận, 2 tiểu khu trên chỉ còn trên bản đồ lâm nghiệp, thực tế đã bị lấn chiếm 100%.
Các CTLN ở Tây Nguyên có nhiều lý do biện hộ cho việc mất rừng như lực lượng quá mỏng, thiếu kinh phí, chính quyền không biết quản dân, xử lý chưa nghiêm. Nhưng thực tế, việc mất rừng còn do các Cty này để nhiều Cty tư nhân bao chiếm dưới dạng cho thuê, cho mượn, liên doanh liên kết.
Tại CTLN Quảng Tín (Đắc Nông), UBND tỉnh mới có chủ trương cho khảo sát nhưng DNTN Đại Phát Lộc và HTX Hiệp Thành đã vào bao chiếm. Cty TNHH Bảo Châu đã bị thanh lý hợp đồng liên doanh liên kết, nhưng vẫn không trả lại đất rừng cho CTLN Quảng Tín.
Tổng cộng, 3 DN tư nhân này bao chiếm tới 857,3ha đất rừng của CTLN Quảng Tín. Điều đáng nói là diện tích này người dân đã canh tác trước đó, việc các Cty tư nhân vào chiếm đã dẫn đến xung đột gay gắt. Ngoài việc chiếm đất trồng caosu, các Cty tư nhân này cũng bao chiếm luôn 1.200ha rừng tự nhiên thuộc diện khoanh nuôi bảo vệ rồi để mất hơn 1.000ha.
Để hài hòa lợi ích giữa CTLN và người dân địa phương, Chính phủ đã có Nghị định 135/2005 quy định việc giao khoán đất cho người dân trực tiếp sản xuất. Nhưng quá trình thực hiện, các CTLN không minh bạch (không niêm yết công khai danh sách hộ đủ điều kiện, không đủ điều kiện nhận khoán) nên gây bức xúc cho người dân.
Sau khi nhận khoán, các hộ đều sử dụng đất sai quy hoạch, chủ yếu trồng cây nông nghiệp để thu lợi nhuận cao chứ không trồng rừng, diện tích rừng tự nhiên giao khoán bị chặt gần hết.
Riêng tỉnh Đắc Nông, các CTLN giao khoán 2.670ha rừng cho 367 hộ, bị chặt phá đến... 1.960ha, trong đó CTLN Quảng Tín bị chặt phá 1.900ha/2.100ha rừng giao khoán theo Nghị định 135. (Lao Động 15/9) đầu trang(
Trong khi nhiều địa phương chưa chú trọng đến việc trồng rừng thì tại xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La người dân lại tự ý thức được việc trồng và bảo vệ rừng.
Người dân đã đồng thuận trồng rừng, thấy được tiềm năng và lợi thế mà rừng mang lại. Việc làm này đã và đang giúp địa phương phát triển bền vững tài nguyên rừng.
Từ những ngày đầu tháng 8, người dân các bản Piêng Lán, Tà Số 1, Tà Số 2… của xã Chiềng Hắc đã ra quân trồng 1.000 cây hoa ban dọc Quốc lộ 6, kết thúc vụ trồng rừng năm 2014.
Chủ tịch UBND xã, ông Phạm Văn Hợi phấn khởi cho biết: "Năm nay, huyện Mộc Châu đã trồng mới hàng trăm ha rừng. Chỉ riêng ở xã Chiềng Hắc, bà con đã trồng được 157ha rừng tập trung và 10.000 cây phân tán. Đó là một kết quả chưa từng có trong hoạt động trồng rừng của xã. Nhiều hộ đến giờ còn đăng ký xin thêm giống để trồng vượt diện tích đã giao nhưng chúng tôi chưa dám nhận lời, vì lo nếu cố quá sợ cây giống không đảm bảo chất lượng”.
Đến với dân bản Tà Số 1 trên đỉnh dãy núi Tú Vàng hùng vĩ rất nhiều những cây đào, cây ban mới trồng dọc đường lên bản. Ông Hợi cho biết: Đào và ban là 2 loại cây được địa phương trồng dọc theo các tuyến quốc lộ, đường liên xã, bản để làm đẹp tươi thêm hương sắc núi rừng Tây Bắc. Cái hay ở việc trồng rừng này là Nhà nước hầu như không phải đầu tư gì ngoài cây giống, chọn địa điểm trồng, còn công sức, phân bón là của dân. Dân trồng rừng và hưởng lợi nên bà con rất hăng hái.
Đang mải miết chăm sóc những loại cây mới trồng, chị Lò Thị Tám, thôn Tà Số 1 cho biết: Diện tích rừng trồng mới này trước kia vốn là đất rừng. Khi nghèo khó người dân thường đốt rừng làm nương rẫy. Nhưng khi có chủ trương trả lại diện tích đất rừng đã phá, cấp cây giống miễn phí để người dân trồng lại số diện tích rừng đã mất, cho phép dân thu hoạch sản phẩm từ rừng trồng nên chúng tôi ủng hộ ngay.
Với đặc thù là một trong những huyện có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, địa hình phức tạp, Hạt kiểm lâm Mộc Châu đã luôn phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, tập trung nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng; xây dựng nhiều mô hình xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ góp phần nâng cao độ che phủ của rừng.
Nhìn bản thiết kế kỹ thuật trồng rừng do Hạt Kiểm lâm Mộc Châu xây dựng, thấy chi phí trồng mới 1ha rừng ở đây thấp tới mức khó tin 17.091.000 đồng, nhiều thành viên trong đoàn ngạc nhiên, anh Đào Mạnh Phong, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Mộc Châu giải thích: Chi phí thiết kế cho 1ha rừng chỉ có 250.000 đồng, chi phí thẩm định thì mỗi ha chỉ có 25.000 đồng. Tuy kinh phí đầu tư ít ỏi nhưng đến thời điểm này có thể khẳng định mô hình trên đã phát huy hiệu quả và khá thành công.
"Nhiều năm qua, Kiểm lâm Mộc Châu đã luôn trăn trở với việc bảo vệ rừng, đặc biệt với diện tích đất rừng bị người dân xâm hại hàng năm. Muốn trả lại màu xanh cho rừng thì phải dựa vào sức dân, phải tạo được sự đồng thuận. Vì thế, chúng tôi xây dựng kế hoạch, lập dự án và được huyện đồng ý, ủng hộ; kiểm lâm triển khai kế hoạch tuyên truyền, người dân đồng thuận, thế là thành công”, anh Phong khẳng định.
Để đảm bảo công tác bảo vệ rừng thành công, toàn huyện đã lập 169 đội bảo vệ rừng tại cơ sở với 3.199 người thường xuyên luân phiên tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng tại địa bàn, từng bản, tiểu khu, góp phần quan trọng hạn chế tình trạng phá rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép...
Đến nay, Hạt Kiểm lâm đã tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng với 15.875 hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thực hiện không xâm hại tài nguyên rừng, giao cho cấp ủy, chính quyền cấp bản, tiểu khu giám sát và thực hiện.
Ông Lò Thế Thi, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La khẳng định: Đây là cách làm rất sáng tạo, riêng có của Hạt Kiểm lâm huyện Mộc Châu. Nhờ cách làm này mà mấy năm nay Mộc Châu đã trồng được trên 500ha rừng gắn được cả 3 yếu tố: Phòng hộ, kinh tế và bản sắc rừng Tây Bắc.
Kiểm lâm Mộc Châu cũng là đơn vị đi đầu trong việc làm rõ chủ rừng và trách nhiệm chủ rừng khiến độ che phủ rừng ngày một lớn. Tới đây, Chi cục sẽ nhân rộng cách làm trên tới 12/12 huyện, thị trong tỉnh. (Đại Đoàn Kết 15/9) đầu trang(
12/9, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị nghị đánh giá kết quả điều tra kiểm kê rừng các tỉnh Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long 2013-2014. Hội nghị do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tổ chức.
Hội nghị được tổ chức nhằm đánh giá những kết quả đạt được của Dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Dự án được triển khai trên địa bàn 13 tỉnh (5 tỉnh ở Tây Nguyên và 8 tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long).
Mục tiêu dự án nhằm xác định và nắm bắt được diện tích rừng, chất lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể trên phạm vi cả nước; thiết lập hồ sơ quản lý rừng và xây dựng cơ sở dữ liệu rừng và đất chưa có rừng.
Báo cáo tại Hội nghị, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, tổng số xã thực hiện điều tra rừng, tiếp nhận các loại bản đồ và hiệu chỉnh, chuẩn hóa bản đồ trên địa bàn 13 tỉnh là 956 xã và 789 chủ rừng nhóm II. Tổng số bản đồ thu thập tại 13 tỉnh là 959 mảnh bản đồ xã tỷ lệ 1/10.000. Đồng thời, các đơn vị đã tiếp nhận, xử lý nắn chỉnh ảnh vệ tinh Spot 5.
Trong đó, đã tiếp nhận và xử lý ảnh với tổng số 67 cảnh ảnh chính. Ngoài ra, sử dụng 20 cảnh ảnh phụ bù mây hoặc ảnh vệ tinh có độ phân giải trung bình để bổ sung những vùng ảnh có chất lượng thấp. Bên cạnh đó, tổng số điểm mẫu điều tra điều tra xây dựng mẫu khóa ảnh trên 13 tỉnh là 11.212 mẫu khóa và 8.740 ô tiêu chuẩn. Tổng số bản đồ hiện trạng rừng cấp xã đã được xây dựng cho 956 xã và 789 chủ rừng nhóm II.
Về công tác điều tra rừng, đã xây dựng được bản đồ hiện trạng rừng của 956 xã với tỷ lệ 1/10.000 với đầy đủ các lớp thông tin: trạng thái rừng, ranh giới trạng thái, trữ lượng của lô trạng thái; bản đồ huyện tỷ lệ 1/50.000 của 112 huyện; bản đồ hiện trạng rừng của 789 chủ rừng nhóm II; danh sách các lô rừng cho chủ rừng nhóm I và nhóm II.
Bên cạnh đó, dự án đã tiến hành hỗ trợ các địa phương tổ chức tập huấn kiểm kê rừng, hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình kiểm kê. Trong đó, công tác đào tạo tập huấn sử dụng phần mềm hỗ trợ và các biện pháp kỹ thuật điều tra, kiểm kê rừng được thực hiện cho các cán bộ từ Trung ương đến địa phương đảm bảo công tác điều tra, kiểm kê rừng được thực hiện theo đúng quy trình và tiến độ đề ra. Nội dung chủ yếu bao gồm: sử dụng thiết bị điều tra rừng, sử dụng bản đồ, điều tra ô tiêu chuẩn,…
Về kết quả kiểm kê rừng của các tỉnh, đến nay, cơ bản các địa phương đã hoàn thành công tác rà soát ranh giới, đo đếm diện tích và đối chiếu trữ lượng ngoài thực địa và cập nhật bản đồ hiện trạng. Tuy nhiên, hiện có 5/13 tỉnh sơ bộ tổng hợp số liệu kiểm kê rừng toàn tỉnh, các tỉnh còn lại đang rà soát nội nghiệp, tổng hợp số liệu các cấp, lập hồ sơ quản lý rừng, cơ sở dữ liệu rừng và thực hiện kiểm tra, nghiệm thu thành quả các cấp.
Tại Hội nghị, báo cáo của Viện Sinh thái rừng và Môi trường (Trường Đại học Lâm nghiệp) về dự án điều tra kiểm kê rừng tỉnh Đắc Lắk và Đắc Nông cho thấy, dự án đã đạt được những kết quả nhất định. Trong đó, dự án đã hoàn thành các bản đồ hiện trạng rừng của hai tỉnh gồm 202 bản đồ hiện trạng của xã và 151 bản đồ hiện trạng của chủ rừng nhóm II.
Mặt khác, về kết quả hỗ trợ kiểm kê rừng, dự án đã chuẩn bị cho kiểm kê rừng ở Đắc Lắk và Đắc Nông tổng cộng 193 bản đồ phục vụ kiểm kê rừng cấp xã, 151 bản đồ phục vụ kiểm kê rừng của chủ rừng nhóm II, 344 tập danh sách các lô rừng của 344 đơn vị kiểm kê rừng. Đồng thời, tổ chức tập huấn cho 4 lớp tập huấn cấp tỉnh; hướng kiểm tra và hướng dẫn bổ sung kỹ thuật và tổ chức kiểm kê rừng cho 334 đơn vị kiểm kê rừng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, theo Tổng cục Lâm nghiệp, công tác thực hiện Dự án vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn. Trong đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong thực hiện điều tra, kiểm kê rừng còn hạn chế, đặc biệt ở các cán bộ địa phương. Công tác chuẩn bị về tài chính chưa kịp thời so với tiến độ triển khai thực hiện dự án.
Công tác giao đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập; giữa số liệu, bản đồ và thực địa có sự sai khác, giao chồng chéo giữa các chủ quản lý, sai lệch vị trí. Việc phối hợp trong bàn giao bản đồ địa chính ở một số địa phương còn chậm và lúng túng; một số quy định trong quản lý lâm nghiệp và quản lý đất đai còn chưa thống nhất.
Tại hội nghị, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận nhằm đưa ra những giải pháp thiết thực, góp phần thực hiện hiệu quả công tác điều tra, kiểm kê rừng. Trong đó, đối với các địa phương, cần đẩy nhanh tiến độ kiểm kê; thực hiện rà soát hệ thống phiếu, biểu kiểm kê, cập nhật bản đồ kiểm kê và nhập số liệu. Lập cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng đến từng lô rừng, chủ rừng và tổng hợp số liệu theo các chủ rừng và đơn vị hành chính.
Thực hiện kiểm tra, nghiệm thu theo quy định và trình Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt kết quả kiểm kê rừng của tỉnh. Thiết lập cơ sở dữ liệu về rừng và đất lâm nghiệp, phục vụ theo dõi diễn biến rừng và đất chưa có rừng hàng năm của địa phương; tổ chức đào tạo, tập huấn cho lực lượng kiểm lâm sử dụng, khai thác cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng.
Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần có văn bản chỉ đạo các đơn vị của Bộ từ Trung ương đến địa phương tổ chức cung cấp các tài liệu cho các đơn vị liên quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; phối hợp triển khai công tác kiểm kê rừng. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần có văn bản chỉ đạo các đơn vị của Bộ đang quản lý, bảo vệ các diện tích rừng ở địa phương thực hiện kiểm kê rừng và tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, đơn vị thực hiện dự án. (Đảng Cộng Sản 12/9) đầu trang(
Liên quan đến vụ án về băng nhóm xã hội đen Minh “sâm” tại Bắc Ninh, các cơ quan tố tụng đang khẩn trương làm rõ việc mua bán hai cây gỗ sưa trị giá hàng chục tỉ đồng được phát hiện hôm 13-8, khi Cơ quan điều tra Bộ Công an triệt phá băng nhóm tội phạm này.
Sau khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án, ông Nguyễn Văn Đại (trú tại huyện Yên Phong, Bắc Ninh) đã nhận hai cây gỗ sưa này là của mình và trình một số giấy tờ liên quan để chứng minh.
Ông Đại cho rằng hai cây gỗ sưa này được ông Đại mua lại của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản Vĩnh Phúc với giá trị hơn 38,7 tỉ đồng.
Hai cây gỗ sưa này là tài sản do kẻ gian cưa trộm trên địa bàn tỉnh và đã bị phát hiện, thu giữ. Sau đó cuối năm 2013, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã cho phép bán đấu giá với mức giá phê duyệt hơn 38,768 tỉ đồng.
Người trúng đấu giá là ông Đại với giá trúng là 38,773 tỉ đồng. Ngày 12-12-2013, ông Đại đã thanh toán tiền và nhận lô gỗ sưa cùng lý lịch mang về. Số gỗ trên sau đó được chuyển vào hệ thống công ty của Minh “sâm” để bán.
Mặc dù có hồ sơ chính xác nhưng các cơ quan tố tụng vẫn tiến hành làm rõ việc có hay không hành vi sử dụng giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm quay vòng, buôn bán số gỗ quý này. (Tuổi Trẻ 13/9, tr5) đầu trang(
12-9, TAND tỉnh quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm vụ án nhóm công an huyện Khánh Sơn “ăn chặn” trầm kỳ vì vắng nhiều nhân chứng quan trọng.
Trước đó, ngày 20-6, TAND huyện Khánh Sơn tuyên án sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thành Trung, nguyên trưởng công an huyện Khánh Sơn 10 năm tù vì tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Với tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, các bị cáo Nguyễn Hồng Hà - nguyên đội trưởng đội CSGT và Vũ Anh Trung - nguyên Đội trưởng đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường lãnh án 5 năm 6 tháng tù, bị cáo Trần Lệ Kiên - nguyên Phó đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - hỗ trợ tư pháp lãnh 5 năm tù và Luân Văn Nam với vai trò đồng phạm lãnh 3 năm tù.
Hai bị cáo Luân Văn Nam và Nguyễn Thành Trung đã làm đơn kháng cáo. Bị cáo Nam xin giảm nhẹ hình phạt, còn bị cáo Trung cho rằng mình bị oan. Hai luật sư Trần Đình Thơ (Đoàn luật sư Khánh Hòa) và Lê Văn Minh (Đoàn luật sư Hà Nội) cho rằng bị cáo Thành Trung có bằng chứng ngoại phạm.
Cụ thể, theo cáo trạng, tối 27-9-2012, bị cáo Trung gặp mặt các bị cáo Anh Trung, Hà, Kiên, Trần Văn Khánh (người đào trầm) tại quán cà phê tại thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn để bàn bạc việc ăn chia tiền bán trầm kỳ. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, bị cáo Thành Trung cho biết đang ăn nhậu tại TP Cam Ranh và có nhiều người làm chứng cho điều này.
Như đã thông tin, vào tháng 9- 2012, lợi dụng là cán bộ liên ngành ngăn chặn việc khai thác trầm kỳ trái phép tại xã Sơn Trung (Khánh Sơn), Anh Trung, Hà, Kiên và Nam đã lấy của người đào trầm 2 khúc trầm giao cho Thành Trung tiêu thụ. Thành Trung chia cho nhóm Nam 800 triệu đồng, nhóm Anh Trung 1,4 tỉ đồng, nhóm người đào trầm 1,6 tỉ đồng, Hồng Hà 350 triệu đồng.
Tổng số tiền bán 2 đoạn trầm kỳ là 4,15 tỉ đồng nhưng đến nay, các cơ quan chức năng chỉ thu hồi được 1,62 tỉ đồng. (Người Lao Động 12/9) đầu trang(
13/9, Sở NNPTNT tỉnh Yên Bái đã tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (2011 – 2013). Ông Hoàng Xuân Nguyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị còn có lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, tính đến 30/5/2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tiến hành chi trả trên 51 tỷ đồng cho chủ rừng với điện tích trên 200 nghìn ha, đảm báo đúng đối tượng.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong những chính sách phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người dân, góp phần từng bước cải thiện và nâng cao thu nhập của những đối tượng trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Dưới sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện hiệu quả. Các cơ quan chức năng đã tích cực phối hợp với các tổ chức, đoàn thể thường xuyên tuyên truyền, vận động giúp người dân tiếp cận, nắm bắt chính sách mới của Nhà nước về công tác bảo vệ rừng.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Xuân Nguyên đánh giá cao kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong 3 năm (2011 – 2013).
Để chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục phát huy được hiệu quả, trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đoàn thể tăng cường tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; hướng dẫn người dân ký cam kết bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng kiện toàn bộ máy hoạt động ở các cấp theo thẩm quyền; ký hợp đồng ủy thác với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng; tiếp tục chi trả và giám sát việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đảm bảo sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích và hiệu quả.
Nhân dịp này, Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam đã tặng bằng khen cho 4 tập thể và 5 cá nhân có thành tích xuất sắc trong 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Yên Bái 13/9) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2013.
Ông Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, Ban Công tác Lâm nghiệp Tây Nguyên cùng các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan và 12 huyện, thành trong tỉnh.
Theo báo cáo tại hội nghị, qua 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR (2011 - 2013) đã có 36 đơn vị, doanh nghiệp sử dụng DVMTR ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR gồm: Các đơn vị sản xuất thủy điện; các đơn vị sản xuất nước sạch; các đơn vị kinh doanh du lịch.
Trong 3 năm (2011 - 2013), nguồn thu từ chính sách chi trả DVMTR đã ổn định và tăng dần qua từng năm. Cụ thể, tổng số tiền đã thu được qua 3 năm là hơn 360 tỷ đồng. Tổng kinh phí đã chi trong 3 năm là hơn 331 tỷ đồng. Tính đến nay, tổng diện tích khoán bảo vệ rừng chi trả DVMTR là gần 333 ngàn ha.
Diện tích khoán bảo vệ rừng chi trả DVMTR hàng năm chiếm tỷ lệ bình quân là 87% tổng diện tích khoán bảo vệ rừng toàn tỉnh. Qua đó, đã giải quyết sinh kế cho hơn 15 ngàn hộ dân sống gần rừng, trong đó các hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 80%.
Phát biểu tại hội nghị, Ông Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những nỗ lực của các cơ quan, các tổ chức, cá nhân đã thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR thời gian qua.
Để chính sách chi trả DVMTR ngày càng hiệu quả hơn, Phó chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu trong thời gian tới các cấp, các ngành, đơn vị doanh nghiệp liên quan cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ như: Tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau để huy động sự vào cuộc của cả cồng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng; cập nhật những đơn vị doanh nghiệp chậm thực hiện chính sách chi trả DVMTR để có biện pháp xử lý; trồng rừng thay thế, nâng cao chất lượng rừng ở các dự án; rà soát lại diện tích rừng trên địa bàn để tiếp tục giao khoán cho người dân quản lý bảo vệ…
Dịp này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tặng bằng khen cho 1 tập thể và 4 cá nhân; Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng tặng bằng khen cho 10 tập thể, 9 cá nhân; Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp tặng giấy khen cho 7 tập thể và 7 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2011 – 2013. (Đài PTTH Lâm Đồng 12/9; Nông Nghiệp Việt Nam 15/9) đầu trang(
Từ năm 2005 trở lại đây, kinh tế rừng ở huyện Sơn Tịnh phát triển mạnh. Đến nay, diện tích rừng của một số địa phương đã cho thu hoạch, mang lại nguồn thu nhập lớn cho người dân.
Nhờ có nguồn thu nhập từ rừng mà nhiều hộ gia đình ở huyện Sơn Tịnh đã có nguồn tích lũy và làm giàu do kinh tế rừng mang lại. Anh Trần Văn Quang, thôn Đồng Nhơn Bắc, xã Tịnh Đông hiện là chủ của khu rừng rộng 9 ha, với hơn 22.500 cây keo lai từ 1 đến 5 năm tuổi.
Anh Quang bắt đầu trồng rừng từ năm 2000. Nhận thấy trồng rừng hiệu quả hơn hẳn so với các loại cây trồng khác, nên từ nhiều năm qua, có ai bán đất rừng, anh đều mua lại để mở rộng thêm quỹ đất, tăng thêm diện tích trồng rừng. Đến nay, ngoài khu rừng rộng 9 ha, anh còn phát triển được 2 cơ sở ươm cây giống, với hơn 1 triệu 500 ngàn cây. Từ công việc trồng rừng của anh, đã tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động, với mức thu nhập từ 3 đến 4,5 triệu đồng/tháng.
Trung bình hàng năm, anh thu hoạch được 1 ha keo lai, riêng có năm anh thu hoạch được từ 3 đến 4 ha keo lai sau 4 đến 5 năm trồng; cứ 1 ha thu hoạch năng suất ước tính khoảng 90 tấn 100 tấn gỗ nguyên liệu, bình quân sau khi trừ chi phí hàng năm anh thu lãi khoảng từ 50 đến 200 triệu đồng.
Khi Nhà nước có chính sách giao đất cho dân trồng rừng phòng hộ, rừng kinh tế, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, ông Trương Thuận Lực, thôn Phú Sơn, xã Tịnh Hiệp đã mạnh dạn tham gia nhận đất trồng rừng. Có đất, năm 2005 gia đình ông đã tiến hành trồng rừng, chủ yếu là cây keo lai.
Hiện nay, rừng keo ở núi Chóp Chài, thôn Phú Sơn, xã Tịnh Hiệp của gia đình ông có diện tích 7 ha. Do làm đúng kỹ thuật và quan tâm chăm sóc, phát cỏ nên rừng của gia đình ông tỷ lệ cây sống rất cao. Hiện nay 7 ha rừng của ông có số lượng tổng cộng 14.000 cây keo lai. Đa số rừng keo của ông đến thời kỳ 7 đến 8 năm tuổi mới cho khai thác. Với 7 ha này ước tính sau khi xuất bán sẽ cho thu nhập khoảng 700 triệu đồng, sau khi trừ chi phí thu lãi 350 triệu đồng.
Ông Trương Thuận Lực, xã Tịnh Hiệp cho biết: “Từ năm 2005 đến năm 2014 nếu không nhờ vào rừng, không có chương trình WB3 hướng dẫn về rừng thì đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn lắm. Nhưng đến bây giờ, dân cả làng đều dựa vào rừng, đời sống đã khấm khá hơn trước rất nhiều. Thấy hiệu quả, kinh tế rừng đem lại, nên ở các cánh rừng người dân đều tự xây dựng đường băng cảng lửa, bảng phòng cháy chữa cháy rừng, tuân thủ nghiêm ngặt qui định về trồng rừng nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản do rừng tạo nên”.
Ông Quang, ông Lực là 2 trong số hàng ngàn hộ dân ở huyện Sơn Tịnh phát triển kinh tế rừng đạt hiệu quả kinh tế cao. Từ năm 2005 trở lại đây, kinh tế rừng ở huyện Sơn Tịnh phát triển mạnh, người dân nhận thấy trồng cây lấy gỗ nguyên liệu giấy ít rủi ro, chi phí đầu vào thấp, dễ chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn huyện, nên nhiều hộ gia đình đã chủ động phát triển loại cây này trên diện tích của mình, góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp trên địa bàn huyện.
Hiện nay, toàn huyện tổng diện tích rừng đã trồng hơn 8.894 ha. Trong đó, có hơn 1.600 ha rừng thuộc dự án WB3. Đến nay, tỷ lệ độ che phủ rừng của huyện đạt 34%. Các xã có diện tích trồng rừng nhiều nhất như: Tịnh Đông, Tịnh Hiệp, Tịnh Thọ.
Trong quá trình phát triển kinh tế rừng, đã có nhiều hộ gia đình có nguồn thu nhập trên hàng trăm triệu đồng. Hàng năm, diện tích trồng rừng mới của huyện đạt từ 250 đến 300 ha.
Ông Trần Công Hiệp, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Sơn Tịnh cho biết: “Hiệu quả trồng rừng đã góp phần tăng tỷ trọng ngành nông nghiệp huyện, góp phần xóa đói giảm nghèo, đối với cư dân ở nông thôn, nhất là những người làm nghề rừng. Trong thời gian đến, huyện tiếp tục mở rộng diện tích phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân ở những vùng khó khăn, vùng cao, vùng xa; chỉ đạo nhân dân ở các vùng còn đất nhưng chưa tận dụng hết tiếp tục trồng rừng nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn”.
Tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện Sơn Tịnh hiện vẫn còn rất lớn, cho nên trong thời gian tới huyện Sơn Tịnh tiếp tục chú trọng phát triển công tác trồng rừng, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhất là các hộ gia đình. Các địa phương chuyển diện tích đất kém hiệu quả sang trồng rừng có tính chất bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân. (Hội Nông Dân VN 12/9) đầu trang(
Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) trong Chương trình Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT) (gọi tắt là VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm nay.
Việc VPA này được ký kết không chỉ mở ra cơ hội lớn cho DN XK gỗ mà đi kèm với đó là rất nhiều thách thức và công việc phải làm. Nội dung chính của VPA/FLEGT là yêu cầu nước XK gỗ phải đảm bảo về nguồn gốc của gỗ XK. Điều này làm thay đổi thói quen sản xuất, kinh doanh gỗ của DN, làng nghề gỗ của Việt Nam.
Đơn cử như trước đây, các DN và cơ sở sản xuất gỗ có thể nhập gỗ nguyên liệu từ những vùng nguyên liệu gỗ, kể cả nguồn gốc gỗ bất hợp pháp để sản xuất, kinh doanh trong nước và XK. Nhưng khi VPA/FLEGT được triển khai, không những DN phải nói không với gỗ bất hợp pháp mà dự kiến khá nhiều quy định chặt chẽ của VPA/FLEGT sẽ tác động khá lớn đến chu trình vận hành kinh doanh của DN.
Theo ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia phân tích chính sách của Tổ chức quốc tế Forest Trend tại Việt Nam (một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế được thành lập năm 1996 với mục tiêu thúc đẩy bảo tồn và quản lý rừng bền vững), gỗ hợp pháp là sản phẩm gỗ phải tuân thủ từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng những tiêu chí về các mặt xã hội, môi trường, kinh tế.
Ví dụ như xét về tiêu chí xã hội thì gỗ trồng trên đất đang có xung đột, tranh chấp là gỗ không hợp pháp. Tiêu chí kinh tế là người tham gia khai thác, vận chuyển phải tham gia đầy đủ yêu cầu về thuế, phí. Tiêu chí môi trường là các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi sản xuất phải cùng tuân thủ yêu cầu, tiêu chí về môi trường. Đây là một thách thức không hề nhỏ đối với thị trường gỗ nội địa, nhất là đối với các chủ hộ trồng rừng là những người dân lao động chưa được trang bị kiến thức hay những kỹ năng cần thiết về bảo vệ môi trường hay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí.
Vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải giới thiệu, đào tạo, tập huấn cho các chủ hộ trồng rừng biết và thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu của VPA/FLEGT. Tuy nhiên, thực hiện theo chủ trương giao đất, giao rừng của Nhà nước, diện tích đất rừng đã được giao cho 1,4 triệu hộ trồng rừng quản lý. Con số các hộ trồng rừng này là khá lớn, trong khi đó, theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện toàn quốc có khoảng 500 DN chế biến và XK gỗ lớn và vừa có khả năng về tài chính nhưng lại không có đất để trồng rừng.
Điều này đặt ra vấn đề là mỗi DN chế biến và XK gỗ không thể tự mình liên kết với hàng nghìn hộ trồng rừng để đảm bảo đủ số lượng nguyên liệu được mà cần sự hỗ trợ của cơ quan quản lý Nhà nước để từng người dân trồng rừng, từng hộ gia đình hiểu và thực hiện cho đạt các tiêu chuẩn cần có đối với FLEGT.
Chính quyền địa phương cần đứng ra làm cầu nối trung gian kết nối giữa hộ trồng rừng và DN. Điều này giải quyết được tâm lý lo lắng của DN sợ hộ trồng rừng bỏ, không làm theo cam kết hay ngược lại, hộ trồng rừng cũng lo DN không bao tiêu sản phẩm- ông Phúc đề xuất hướng giải quyết để kết nối giữa DN XK gỗ và các hộ dân trồng rừng.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, sau khi Hiệp định ký kết cũng chưa thể thực hiện được việc cấp giấy phép ngay mà các cơ quan Nhà nước còn cần phải hoàn thành một số việc. Đó là xây dựng văn bản kỹ thuật hướng dẫn FLEGT và các phụ lục kèm theo, tuyên truyền phổ cập thông tin đến với các đối tượng liên quan, xây dựng các tổ chức để thực thi FLEGT ví dụ như tổ chức xác minh, tổ chức cấp giấy phép…
Sau khi các cơ quan có trách nhiệm hoàn thành xong các công việc này mới có thể thực hiện được việc cấp giấy phép FLEGT. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của Indonesia, quốc gia đã thực hiện ký kết hai năm trước đây nhưng vẫn chưa thực hiện cấp giấy phép FLEGT được vì chưa hoàn thành xong những khâu đoạn trên.
Về phía DN, mặc dù một số DN lớn đã biết về VPA/FLEGT nhưng phần lớn DN và cơ sở sản xuất chưa hiểu kỹ càng, thậm chí còn chưa biết đến hiệp định quan trọng này. Mặc dù vậy, theo ông Nguyễn Tôn Quyền, DN vẫn cần thực hiện ngay bốn việc để chuẩn bị cho việc thực hiện VPA/FLEGT. Thứ nhất là tuyên truyền cho DN hiểu về hiệp định này nhưng quan trọng là DN phải chủ động tìm hiểu, từ đó xây dựng quy trình phù hợp với FLEGT. Thứ hai là DN phải xây dựng định mức tiêu hao nhiên liệu. Thứ ba là DN phải xây dựng chương trình quản trị phù hợp. Thứ tư là nâng cao trình độ cho công nhân.
Chế biến gỗ là ngành đem lại thu nhập cho gần 300 nghìn lao động tại 3.500 DN và hàng nghìn hộ gia đình tại các làng nghề, khu vực trồng rừng. Phát triển bền vững và ổn định ngành này có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế và xã hội của nhiều khu vực.
Việc Việt Nam hướng tới VPA/FLEGT còn là thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ, người dân và DN chế biến XK gỗ trước việc chống khai thác và thương mại gỗ bất hợp pháp trên toàn cầu. Thách thức và công việc là rất nhiều nhưng việc này đòi hỏi các DN và cơ quan Nhà nước phải nỗ lực hết sức, chuẩn bị sẵn sàng để thực thi tốt nhất Hiệp định VPA/FLEGT.
Ông Trịnh Quốc Đạt - Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho biết: Vấn đề tồn tại rất lớn trong sản xuất của các làng nghề gỗ hiện nay là hầu hết nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên dùng để sản xuất là gỗ NK, nhiều lô nguyên liệu gỗ nguồn gốc không hợp pháp, minh bạch vi phạm Hiệp định VPA/FLEGT. Nếu không sớm khắc phục tồn tại này thì sản phẩm sản xuất tại các làng nghề gỗ Việt Nam khó có thể đứng vững tại thị trường EU cũng như nhiều thị trường tiềm năng khác.
Do đó, các làng nghề gỗ, các DN gỗ cần liên kết đều phải thống nhất cam kết thực hiện sử dụng nguyên liệu gỗ hợp pháp, minh bạch, sử dụng lao động, biện pháp an toàn lao động, bảo vệ môi trường theo đúng tiêu chuẩn EU và các nước nhập sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam.
Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc phổ biến kiến thức cho các DN, các hộ sản xuất trong các làng nghề gỗ về Hiệp định VPA/FLEGT với EU để tránh sử dụng gỗ bất hợp pháp cũng như việc tổ chức sản xuất, sử dụng người lao động, an toàn trong sản xuất, bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất sản phẩm gỗ, tránh được những rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm.
Còn ông Tạ Văn Quả - Giám đốc Công ty CP Dịch vụ Thành Quả: Là DN XNK gỗ có quy mô tương đối lớn ở khu vực Quảng Trị nhưng cho đến nay, Công ty CP Dịch vụ Thành Quả chưa được phổ biến, tuyên truyền về Hiệp định VPA/FLEGT từ các nguồn thông tin chính thống như cơ quan chức năng của Bộ NN&PTNT hay từ phía các hiệp hội có liên quan. Tuy nhiên, qua tìm hiểu sơ lược, lãnh đạo DN nhận thấy, những quy định của Hiệp định VPA/FLEGT sẽ gây ra khá nhiều khó khăn cho DN, nhất là quy định về chứng minh nguồn gốc xuất xứ gỗ hợp pháp.
Thực tế, không chỉ khi Hiệp định ký kết mà hiện nay DN cũng đang “vấp” vấn đề này rồi. Công ty chủ yếu NK gỗ từ Lào và XK đi một số nước khác. Thông thường, DN sẽ nhận được giấy chứng nhận xuất xứ nguồn gốc gỗ từ nước bạn, chuyển về Việt Nam để tiếp tục xuất qua thị trường khác. Tuy nhiên, ngay tại Lào, việc cấp giấy này tại những cửa khẩu khác nhau cũng rất thiếu đồng bộ, gây khó cho DN Việt Nam. Khi XK gỗ sang EU, nếu áp dụng đúng theo Hiệp định VPA/FLEGT với những quy định ngặt nghèo hơn, có thể DN sẽ thêm “chật vật”.
Dự kiến, cuối năm nay Hiệp định VPA/FLEGT được ký kết nhưng cho tới thời điểm hiện tại, Công ty CP Dịch vụ Thành Qủa vẫn chưa có giải pháp nào ứng phó cho kịp thời, hiệu quả. DN mong muốn các cơ quan chức năng sẽ có sự hướng dẫn sát sao hơn, đồng hành cùng DN để mọi quy định được áp dụng thuận lợi, không gây khó dễ cho DN.
Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO- VCCI cho hay: Trong số các ngành được định hướng XK, ngành Gỗ được xem là một trong những ngành thành công trong việc tận dụng cơ hội để hội nhập. Với kim ngạch XK lớn và giải quyết công việc cho hàng nghìn lao động, việc phát triển bền vững và ổn định ngành chế biến gỗ có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế và xã hội của nhiều khu vực.
Việc chúng ta phải làm hiện nay là đẩy mạnh cung cấp thông tin và tuyên truyền về VPA/FLEGT cho các DN ngành Gỗ. Các hiệp hội gỗ cũng nên chủ động đóng góp ý kiến tham mưu cho Tổng cục Lâm nghiệp trong quá trình đàm phán đi đến ký kết VPA/FLEGT. (Hải Quan 14/9) đầu trang(
Việt Nam hiện đứng thứ sáu trên thế giới, thứ hai ở châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Tuy nhiên ngành hàng này sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về nguồn gốc nguyên liệu, nhân công… khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tính từ đầu năm đến hết tháng 7, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 5,7 tỷ USD mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ sang gần 40 nước trên thế giới, trong đó Hoa Kỳ là thị trường chính, chiếm 35,7% tổng kim ngạch đạt 1,2 tỷ USD, tăng 14,94%. Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản đạt 542,8 triệu USD, tăng 23,07%.
Đặc biệt thời gian qua, một số doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gỗ đã thực hiện hình thức xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất trọn gói theo các công trình ở nước ngoài mang lại giá trị gia tăng cao. Dự kiến năm 2014, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ đạt 6,5 tỷ USD.
Ông Nguyễn Quốc Khanh - Chủ tịch Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (Hawa) - cho biết: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng trưởng mạnh là do có sự dịch chuyển nhiều đơn hàng lớn từ các nước vào Việt Nam. Ngoài ra, thời gian qua Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại với nhiều nước và theo lộ trình thuế xuất nhập khẩu các mặt hàng giảm dần về 0%.
Trong đó, mặt hàng gỗ đang hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu. Đây chính là yếu tố hấp dẫn và thu hút nhiều DN nước ngoài hướng vào thị trường xuất khẩu gỗ của Việt Nam.
Tại tỉnh Đồng Nai, nhiều công ty sản xuất các sản phẩm từ gỗ cho biết, từ đầu năm đến nay, họ liên tục nhận được các đơn đặt hàng lớn từ những đối tác nước ngoài. Nhiều công ty đã nhận được đơn đặt hàng đến hết quý I/ 2015.
Các hiệp định thương mại song phương mà Việt Nam đã và sẽ ký kết đặc biệt là Hiệp định TPP dự kiến sẽ đem đến nhiều cơ hội cho các DN xuất khẩu. Tuy nhiên, lĩnh vực xuất khẩu gỗ sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn nếu không đáp ứng được yêu cầu về một số vấn đề liên quan đến xuất xứ nguyên liệu, nhân công, môi trường…
Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng- Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - cho biết: trong đàm phán TPP, vấn đề xuất xứ nguyên liệu, môi trường luôn được quan tâm.
Bên cạnh đó, theo quy định của TPP về thành phần giá trị khu vực, một sản phẩm cần có tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 55% tổng giá trị. Điều này đồng nghĩa với việc nhà sản xuất không được nhập khẩu nhiều hơn 45% nguyên vật liệu từ các quốc gia không phải là thành viên TPP để chế tạo, sản xuất, bao gồm cả chi phí chế biến.
Điều này có thể gây trở ngại với lĩnh vực sản xuất gỗ Việt Nam do không đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng các sản phẩm đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đòi hỏi đội ngũ lao động tay nghề cao.
Ông Nguyễn Quốc Khanh - Chủ tịch Hawa - nhấn mạnh: Thách thức đặt ra cho DN không nhỏ, song với TPP sẽ giúp DN nâng cao môi trường làm việc, cũng như quy mô sản xuất, khả năng cạnh tranh… để tham gia tốt hơn trên thị trường xuất khẩu.
Ngoài ra, nhà nước cần nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và vùng nguyên liệu để các DN có định hướng đầu tư phát triển; tạo điều kiện cho các DN tiếp cận với nguồn vốn vay đầu tư thiết bị, trồng cây gỗ lớn làm nguyên liệu và có biện pháp giảm chi phí cho DN trong quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu… (Công Thương 12/9, tr6) đầu trang(
Với tổng kinh phí đầu tư máy móc thiết bị 750 triệu đồng, ngành nghề sản xuất chủ yếu là sản xuất chế biến gỗ bóc phục vụ cho công nghiệp gỗ ép, Cơ sở sản xuất Nguyễn Ngọc Tuân đã đạt doanh thu trung bình 20 tỷ đồng/năm, tạo công ăn việc làm cho 45 lao động với thu nhập 4 triệu đồng/người/tháng.
Với đề án “Hỗ trợ máy móc thiết bị sản xuất chế biến gỗ”, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc sẽ hỗ trợ cơ sở đầu tư thêm máy bóc vỏ, tạo hình đầu vào cho máy bóc gỗ, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế phế phẩm và nâng cao công suất từ 800 m3/tháng đến thời điểm hiện tại đạt 1.100 m3/tháng, tạo công ăn việc làm tại chỗ cho lao động địa phương. Đây cũng là mô hình điểm tại huyện Lập Thạch để nhân rộng trên địa bàn huyện. (Công Thương 15/9) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Công văn số 12571/BTC-TCT hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm gỗ.
Theo đó, đối với sản phẩm gỗ tròn, gỗ nguyên cây chưa chế biến do tổ chức, cá nhân trực tiếp trồng và bán ra thì thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Ngoài ra, đối với sản phẩm gỗ tròn, gỗ nguyên cây chưa chế biến do doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp bán cho hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%.
Sản phẩm gỗ đã qua chế biến như: Gỗ ván, gỗ tấm, dăm gỗ áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng là 10%.
Từ ngày 01/01/2014 đến trước ngày ban hành công văn 12571/BTC-TCT, trường hợp đã áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng khác hướng dẫn nêu trên thì không thực hiện điều chỉnh lại. (Chính Phủ 12/9) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ TN&MT, thời gian qua Bộ đã tiếp nhận trên 100 văn bản của các địa phương đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện các công trình, dự án.
Đến nay, Thủ tướng đã cho phép các địa phương chuyển mục đích trên 5.700 ha đất lúa, trên 270 ha đất rừng phòng hộ để thực hiện dự án. Trong hai năm 2014 và 2015, diện tích đất nông nghiệp nói chung trên cả nước được phép chuyển mục đích sử dụng là trên 34.000 ha.
Bộ TN&MT cũng đánh giá việc quy hoạch để chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nhất là đất chuyên trồng lúa nước sang mục đích khác chưa được tính toán kỹ lưỡng. Nhiều địa phương chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị mới, khu liên hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ với diện tích lớn, dẫn đến tình trạng đất đai bị khoanh bao, đầu tư hạ tầng tốn kém, dàn trải nhưng khả năng thu hút đầu tư thấp.
Để khắc phục tình trạng trên, Bộ TN&MT cho hay cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc giao đất, cho thuê đất. Khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang các mục đích khác phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. (Pháp Luật TPHCM 15/9) đầu trang(
12.9, lực lượng liên ngành Thanh tra giao thông và Cảnh sát giao thông tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành lập biên bản và cưỡng chế hạ tải đối với đoàn xe chở gỗ gồm 4 chiếc xe quá tải đang lưu thông hướng Nghệ An - Thanh Hóa.
Theo đó, xe biển kiểm soát 37C-093.92 kéo theo rơ-mooc biển kiểm soát 37R – 00472 vượt tải trọng 200%; xe tải biển kiểm soát 37C - 056.27 chở gỗ vượt tải trọng 250%; xe tải biển kiểm soát 37C - 096.97 kéo rơ-mooc 37R - 004.07, chở gỗ quá tải 220%; xe tải biển kiểm soát 37C - 001.35 chở gỗ vượt tải trọng 280%.
Việc cân và dỡ tải trọng diễn ra tại bãi đỗ xe thuộc Trạm Cảnh sát giao thông quốc lộ 1A (thị xã Lưu Vệ, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chứng kiến của các chủ xe. Sau khi hạ tải xuống còn đúng tải trọng cho phép, các xe này mới được tiếp tục lưu thông.
Lực lượng chức năng đã thu giữ giấy tờ, xử phạt hành chính vi phạm chở quá khổ, quá tải theo quy định; tổng cộng 4 xe quá tải bị xử phạt 48 triệu đồng. Ngoài ra, tài xế 4 xe vi phạm nói trên còn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 2 tháng.
Trước đó, ngày 11.9, cũng trên tuyến Quốc lộ 1A đoạn từ thành phố Thanh Hóa đến thị xã Bỉm Sơn, lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh Thanh Hóa đã bắt giữ 7 xe chở quá khổ, quá tải, trong đó có những xe ô tô chở quá tải so với quy định từ 40-200% tải trọng cho phép.
Thời gian qua, lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh Thanh Hóa đã xử lý gần 80 trường hợp vi phạm về quá tải, thu phạt hành chính hàng trăm triệu đồng. (Một Thế Giới 12/9; Tin Tức 13/9, tr13) đầu trang(
Nhằm hạn chế những bất cập khi nhiều công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp vẫn chưa có sự thay đổi căn bản về quản trị DN, tình hình tài chính còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp… dự thảo Nghị định về sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp đang được trình để Chính phủ sớm ký ban hành.
Điểm mới quan trọng của dự thảo Nghị định là quy định chuyển công ty nông nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang công ty cổ phần. Trong đó, quy định loại công ty Nhà nước nắm giữ cổ phần trên 50% đến dưới 65% tổng số cổ phần, không giữ cổ phần chi phối hoặc không nắm giữ cổ phần; hình thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên chỉ trên cơ sở công ty nông nghiệp 100% vốn nhà nước cùng với cơ sở chế biến, tiêu thụ nông sản góp vốn thành lập loại hình công ty này, Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Ngoài ra, còn quy định việc hợp nhất, sáp nhập và các trường hợp công ty nông nghiệp phải giải thể.
Đối với các công ty lâm nghiệp, do đặc thù của công ty lâm nghiệp quản lý nhiều loại rừng, mỗi loại rừng có cơ chế quản lý và tổ chức quản lý rừng khác nhau, nên để làm cơ sở cho việc tiến hành sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp, dự thảo Nghị định đã quy định phân loại trên cơ sở các loại hình công ty lâm nghiệp theo 4 nhóm khác nhau.
Một trong những điểm mới quan trọng khác đó là duy trì, củng cố và phát triển công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo đó, quy định rõ loại hình công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hoặc nhiệm vụ công ích là chủ yếu.
Đồng thời, quy định công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng sản xuất là rừng trồng chuyển sang công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ cổ phần trên 50% đến dưới 65% tổng số cổ phần. Đối với công ty lâm nghiệp sản xuất giống cây lâm nghiệp và dịch vụ nông, lâm nghiệp, Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối hoặc thoái hết vốn.
Tại dự thảo Nghị định, một điểm mới được quy định nhằm đa dạng hóa các loại hình công ty lâm nghiệp đó là việc thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Tại quy định này, cũng nêu rõ các trường hợp hợp nhất, sáp nhập, giải thể công ty lâm nghiệp như: Thua lỗ 3 năm liên tục, thực hiện khoán trắng, quy mô diện tích dưới 1.000 ha và phân bố xen kẽ với đất nông nghiệp…
Trong nhóm các quy định về tài chính tại dự thảo Nghị định, sẽ bổ sung quy định Nhà nước đảm bảo vốn điều lệ đối với công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục duy trì, củng cố và phát triển do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Phương pháp xác định vốn điều lệ có khác so với các DNNN khác do hầu hết công ty nông, lâm nghiệp (đặc biệt là công ty lâm nghiệp) đều thiếu vốn điều lệ, chu kỳ sinh trưởng của cây rừng dài nhưng chỉ thu hoạch một lần nên hầu như không có nguồn thu bổ sung trong thời gian chưa có sản phẩm khai thác chính, sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, rủi ro cao. Hơn nữa, các công ty lâm nghiệp còn gặp nhiều khó khăn khi huy động các nguồn vốn từ bên ngoài nên cần có sự hỗ trợ của nhà nước, đặc biệt là đảm bảo vốn để hoạt động.
Dự thảo Nghị định cũng quy định cụ thể hơn việc xử lý tài sản trên đất (rừng, vườn cây lâu năm) trong trường hợp thu hồi đất, chuyển đổi sang công ty cổ phần, giải thể theo hướng phải thu hồi phần vốn nhà nước đã đầu tư và thời gian thu hồi phù hợp với đối tượng nhận chuyển tài sản trên đất.
Đặc biệt, công ty nông, lâm nghiệp được góp vốn bằng giá trị vườn cây, rừng sản xuất là rừng trồng để liên doanh trong các dự án nông, lâm nghiệp và dịch vụ, thế chấp vay vốn để sản xuất kinh doanh.
Đáng chú ý, Nhà nước sẽ đảm bảo vốn đầu tư để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt, rừng chưa được phép khai thác trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí theo chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (Hải Quan 14/9) đầu trang(
Nhiều năm nay, hàng trăm hộ dân ở các xã Hòa Hội, Hòa Hiệp và Xuyên Mộc (huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có đơn thư khiếu nại, tố cáo gửi các cơ quan chức năng ở địa phương và T.Ư về những sai phạm trong quản lý đất đai tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu (trước đây là Lâm trường Xuyên Mộc).
Quá trình xác minh, làm việc, cơ quan chức năng đã xác định một số sai phạm của công ty. Ðáng chú ý là, có những sai phạm được phát hiện từ năm 2001 đến nay vẫn chưa xử lý triệt để, dẫn đến khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp.
Lâm trường Xuyên Mộc thành lập năm 1978 theo Quyết định số 546 của UBND tỉnh Ðồng Nai trước đây, được giao nhiệm vụ tổ chức kinh doanh tổng hợp toàn diện về lâm nghiệp, bao gồm quản lý, bảo vệ, chăm sóc, cải tạo, trồng mới và khai thác tận thu hợp lý lâm sản theo kế hoạch..., với tổng diện tích hơn 16 nghìn ha.
Trong quá trình quản lý đất đai, UBND tỉnh Ðồng Nai và sau này là UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã điều chỉnh, giao lại một phần diện tích đất cho UBND huyện Xuyên Mộc và một số đơn vị khác quản lý để phát triển kinh tế địa phương. Lâm trường Xuyên Mộc chỉ quản lý và bảo vệ gần 10 nghìn ha.
Lâm trường Xuyên Mộc (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu) đã trồng rừng, hợp tác trồng rừng, giao khoán đất cho các đối tượng trồng rừng theo các Nghị định 01/CP ngày 1-1-1995 và Nghị định 135/2005/NÐ-CP ngày 8-11-2005 của Chính phủ.
Một trong những nội dung mà các hộ dân ở đây khiếu nại, tố cáo là việc một số cán bộ lâm trường, cán bộ địa phương được giao quá nhiều đất, trong khi người dân lại không có đất sản xuất, khiến cuộc sống của các hộ dân gặp rất nhiều khó khăn. Anh Trương Bảo Quốc (ở ấp 4, xã Hòa Hội), anh Lê Minh Thanh (ở ấp 3, xã Hòa Hội) cùng rất nhiều hộ dân khác cho rằng, việc giao khoán đất của lâm trường có "khuất tất".
Trong khi người dân địa phương thiếu đất sản xuất thì một số cán bộ lại được ưu ái nhận hàng chục ha. Nhiều trường hợp sau khi được giao khoán đã chuyển nhượng cho các đối tượng khác. Chủ tịch UBND xã Hòa Hội Ðinh Văn Ngân cũng thừa nhận thực tế một số người được giao đất quá nhiều trong khi người dân lại thiếu đất sản xuất.
Ðể làm rõ những nội dung khiếu nại, tố cáo của người dân, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã thành lập Tổ công tác nhằm xác minh, làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giao khoán đất trồng rừng tại Lâm trường Xuyên Mộc. Qua rà soát cho thấy, nhiều cán bộ lâm trường cả đương chức lẫn về hưu được giao khoán đất với diện tích rất lớn.
Như trường hợp gia đình ông Nguyễn Xuân Quang, nguyên Giám đốc Lâm trường, được giao khoán hơn 177 ha đất, trong đó ông Quang là 45,6 ha, vợ ông Quang 29,7 ha, con gái ông Quang 19,6 ha, con trai và con dâu ông Quang (đã tách khẩu) 82,9 ha; gia đình ông Võ Kim Thành, nguyên Trưởng phòng Tổ chức Lâm trường, có 59,7 ha, trong đó ông Thành 35,2 ha, vợ ông Thành 24,5 ha; gia đình ông Lưu Ngọc Châu, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu có 86 ha; gia đình ông Lê Văn Cơ, Giám đốc Công ty, có 44,5 ha...
Tính bình quân cả những cán bộ đã về hưu hoặc đang đương chức thì mỗi người được nhận giao khoán trung bình 15 ha đất. Theo Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu Lê Văn Cơ, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các nghị định, thông tư trước đây không hướng dẫn và quy định về hạn mức tối đa giao khoán đất cho mỗi hộ gia đình và cá nhân.
"Bên cạnh đó, đối tượng được nhận khoán cũng phải đủ năng lực mới được nhận. Nếu so người dân địa phương với cán bộ lâm trường thì chắc chắn cán bộ lâm trường năng lực... cao hơn" - ông Cơ cho biết.
Việc người dân tố cáo một số cán bộ Lâm trường Xuyên Mộc được nhận hợp đồng giao khoán nhiều đất là có thật. Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nguyễn Văn Trình trong phiên họp thường kỳ UBND tỉnh mới đây cho biết, dù pháp luật thời điểm giao khoán đất không quy định hạn mức tối đa nhưng việc giao đất quá nhiều cho các cán bộ lâm trường đương nhiên khiến người dân bức xúc. Ðó là chưa kể việc giao khoán sai 14 đối tượng, với tổng diện tích hơn 120 ha.
Tổ công tác của UBND tỉnh cũng xác định, đơn vị giao khoán cũng thực hiện chưa đúng theo trình tự, thủ tục giao khoán, nhận khoán về đất, cây trồng, vật nuôi, hiện trạng các loại rừng và tài sản trên đất theo quy định của Nhà nước.
Bên cạnh đó, một số hộ gia đình nhận giao khoán đã sử dụng đất sai mục đích, không trồng rừng mà trồng cây ăn trái, cây công nghiệp. Những sai phạm này đã được nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra phát hiện, kiến nghị xử lý từ năm 2001, tuy nhiên, lâm trường đã không giải quyết triệt để, khiến sai phạm kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân.
Ðến nay, vẫn còn một trường hợp dùng đất nhận khoán trồng cao-su với diện tích bốn ha; một trường hợp nhận khoán trồng tràm, nhãn và điều với diện tích 26,3 ha; ba trường hợp trồng quýt với diện tích 5,2 ha. Ngoài ra còn có 65,2 ha đất được lâm trường giao cho 35 hộ nhận khoán để trồng điều cao sản.
Ngay sau khi xác định cụ thể những sai phạm trong quản lý đất đai tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu, UBND tỉnh đã yêu cầu làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, trong đó yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nội vụ tham mưu xử lý trách nhiệm đối với lãnh đạo Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu; yêu cầu Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành lập thủ tục thu hồi hơn 120 ha đất đã ký hợp đồng giao khoán không đúng đối tượng, xử lý các trường hợp nhận khoán trồng rừng nhưng sử dụng đất giao khoán sai mục đích.
Ðồng thời yêu cầu các cơ quan chức năng khẩn trương xây dựng quy định về quản lý, sử dụng đất giao khoán, như: Hạn mức giao khoán, đối tượng nhận giao khoán, trình tự, thủ tục giao khoán...
Việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác quản lý đất đai tại Lâm trường Xuyên Mộc kéo dài nhiều năm và trở thành "điểm nóng" trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vụ việc sẽ không quá phức tạp nếu những thắc mắc, kiến nghị của người dân được cơ quan chức năng giải thích và giải quyết kịp thời. Ðồng thời, những sai phạm của cán bộ lâm trường được xử lý công khai, dứt điểm. (Nhân Dân 15/9, tr8) đầu trang(
Gốc cây thủy tùng vô cùng quý giá được một người kiểm lâm mua rồi hiến cho chùa. Nhà chùa đã phải tìm người đẽo tượng từ khắp nơi, hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến đẽo tượng Phật nhưng khi đụng dao búa vào đều gãy hết, chỉ có 1 nhóm thợ ở Hội An (Quảng Nam) là đẽo được.
Sự kỳ lạ còn ở chỗ với các nhóm thợ khác thì cây rất cứng, nhưng với nhóm thợ này gỗ lại rất dễ đẽo, đẽo xong thì ngay lập tức cứng lại. Nghe câu chuyện kỳ lạ về gốc cây thủy tùng đã được đúc tạc thành bức tượng Phật đặt tại gian chính điện của tịnh xá Ngọc Ban (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk), PV không khỏi ngạc nhiên và cảm thấy lý thú về những sự kỳ diệu xung quanh bức tượng này.
Trò chuyện cùng PV, Ni sư Nhàn Liên là trụ trì tại tịnh xá Ngọc Ban này kể lại về nguồn gốc của gốc cây thủy tùng vô giá này. Sự vô giá của nó là bởi hiện tại cả Tây nguyên chỉ còn vài cây thủy tùng còn sống, mà mỗi cây có giá tới cả chục tỷ đồng.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Chừng 6-7 năm về trước, ở tận huyện Krông Năng, phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk có một nhóm 4-5 người đồng bào Ê Đê hì hục đào một gốc cây to có đường kính tới 2m nằm lẩn sâu trong những lớp bùn đất. Gốc cây đó chỉ còn một phần thân nhưng rất lớn tới 3 người ôm mới hết. Lúc ấy tình cờ có người kiểm lâm đi ngang qua thấy, biết là cây gỗ quý hiếm nên đã ngỏ ý mua lại, và nhóm người dân tộc đồng ý bán với giá 10 triệu đồng. Ngay sau đó, người kiểm lâm thuê xe xúc, máy bơm rồi bơm nước xuống rồi hút bùn lên, để không ảnh hưởng tới rễ cây. Sau đó thuê xe cẩu đến cẩu lên. Phải mất đến 2 ngày đào bới với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại mới đưa được phần còn lại của cây thủy tùng lên mặt đất!”.
Một sự lạ là khi đào được gần 4m sâu dưới lòng đất, khi cho xe cẩu tới mọi người đều nghĩ với một gốc cây như thế thì dễ dàng lấy lên được, vì xung quanh gốc chỉ là bùn nhão, rất dễ để cẩu cây thủy tùng lên mà không sợ ảnh hưởng tới rễ cây. Thế nhưng chẳng hiểu sao năm lần bảy lượt cố gắng hết sức mà người lái xe cẩu không làm nhúc nhích chút nào gốc và phần thân còn lại của cây được, mà còn bị gãy trục cẩu nữa. Mọi người lại tiếp tục xúc, hút bùn lên, đào sâu tới hơn 8m, phải huy động tới hai chiếc xe cẩu khác mới đưa được cây thủy tùng rời lên được mặt đất.
Vợ người kiểm lâm này vốn là phật tử rất tín tâm, nhiều năm đi chùa lễ Phật biết chuyện nên nghĩ rằng gốc cây đặc biệt này phải có gì đó nên khuyên chồng hiến cúng lên nhà chùa, chứ bán đi thì uổng, mà nhà mình chưa chắc đủ phúc duyên giữ lại.
Người kiểm lâm thấy vợ phân tích đúng quá nghe lời đã liên lạc với sư bà là cố Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Ban trước đây, mong được hiến cúng về Tịnh xá.
“Khi người kiểm lâm cho người chở phần còn lại của cây Thủy Tùng đến Tịnh xá, gốc cây có đường kính hơn 2m, và sư bà cũng như các ni sư lúc ấy nhìn thì thấy tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát là hợp lí, mà phải là tượng đứng. Ông ấy cũng nói rằng vợ chồng ông ấy hiến cúng Tịnh xá gỗ quý, nhưng phải dùng để tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chứ không được dùng làm việc gì khác, nếu sư bà đồng ý thì vợ chồng ông ấy mới để lại. Nếu không, ông ấy dành hiến cúng tới chùa lớn. Thế rồi sư bà tiếp nhận và nói sẽ sớm tiến hành tạc thành bức tượng lớn để đặt ở chính điện cho phật tử đạo hữu tới chiêm bái!”, Ni sư Nhàn Liên kể lại.
Nhận được gốc cây lớn vô cùng quý giá như thế, đích thân sư bà Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên lặn lội tới Gia Lai, rồi ra Hà Nội, tìm khắp các nơi thợ tạc tượng danh tiếng nhất rồi mời về. Lạ kỳ một điều là hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến nhưng đều lắc đầu trở về vì không làm được.
Hỏi ni sư Nhàn Liên vì sao, ni sư trả lời: “Hồi ấy sư bà mời thợ thuyền về đông lắm, dựng sạp dựng lều cho mọi người tạc tượng tránh mưa tránh nắng bên hông Tịnh xá này. Gốc cây thủy tùng nằm ở đó được dựng lên để các nhóm thợ tạc đẽo. Nhưng việc dựng được gốc cây này lên cũng gian trân lắm. Hai chiếc xe cẩu cỡ lớn được điều tới để dựng gốc cây lên nhưng mãi mà vẫn không được. Cứ luồn dây cáp bằng thép vào để nâng lên thì cái thì đứt, cái thì tuột, rồi đang nâng lên nửa chừng thì bị chết máy. Nhiều người lấy làm lạ lắm nhưng không thể giải thích được vì sao. Sư bà phải đích thân lập đàn chay cúng nguyện mất một buổi, sau đó mọi sự mới thuận buồm xuôi gió. Lúc ấy chỉ cần một chiếc cẩu nâng lên rất nhẹ nhàng!”.
Thế nhưng việc tạc đẽo tượng lại tiếp tục xảy ra những sự cố. Khi các thợ bắt tay vào công việc thì chẳng hiểu sao búa đục cái thì gãy, cái thì mẻ hết. Gốc cây thủy tùng lúc ấy bỗng dưng cứng lại như đá, không thể nào đục đẽo được. Hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến làm việc đều bị như thế cả. Chỉ cần đưa đục chạm vào gõ mấy cái thì y như rằng chiếc đục sẽ bị mẻ, dùi thì gãy, có người thì gõ cả vào tay. Biết bức tượng phật mà sư bà định tạc đẽo kén duyên người tạc, nên sư bà lại lặn lội đi khắp nơi tìm các nhóm thợ về thực hiện công việc.
Sau đó, có người mách nước có một nhóm thợ ở Quảng Nam có tay nghề rất cao, thế là sư bà lặn lội tìm tới một xưởng gỗ ở Hội An tìm được một nhóm thợ nhận lời về Tịnh xá làm việc. Nhóm thợ này là 5-6 nghệ nhân, đều là những chàng trai trẻ độ tuổi 20-22 tuổi, chưa ai lập gia đình.
Về Tịnh xá, họ sớm bắt tay vào tạc tượng. Họ còn trẻ, nên vừa làm việc hăng say, vừa bật nhạc, hát hò vui nhộn. Các ni sư cũng hiểu, cùng trợ duyên cho họ, thêm động lực chuyên tâm công việc. Gỗ cây thủy tùng lúc ấy chẳng hiểu vì sao lại mềm như nến sáp, chỉ cần dùng dao nhỏ cũng gọt được nên chừng 2 tháng sau, bức tượng hoàn thành theo bản thiết kế của những nghệ nhân.
Nhưng, lúc ấy khuôn mặt tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trông na ná những hình tượng bên Đài Loan, sư bà không chịu nên đã tìm hình ảnh tôn tượng Ngài trông thật Việt Nam và yêu cầu sửa lại, rồi công việc cũng thành tựu như ý. Công việc vừa hoàn tất thì bức tượng nhanh chóng “đóng băng”, rắn hơn đá hoa cương không có gì đục lại được.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Quả thật việc đục tạc tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một công việc đầy khó khăn, trải qua nhiều công đoạn và hầu như lúc nào cũng có những sự việc lạ kỳ. Có lẽ vì chữ duyên với bức tượng như thế này nên không phải ai cũng hiệp tâm làm được. Từ một gốc cây thủy tùng như thế, giờ thành một bức tượng vô cùng đẹp đẽ và quý giá như thế này quả là một kỳ công”.
Ni sư Nhàn Liên cho biết, khi nhà chùa nhận gốc cây này về, có người bên kiểm lâm đã tới tìm hiểu và đánh giá về tuổi của gốc cây này, mọi người đều trầm trồ và ngạc nhiên khi nhóm kiểm lâm giám định gốc cây thủy tùng này cũng đến hơn 2000 năm tuổi. Mà theo kinh điển Phật giáo, cây gỗ có tuổi như vậy thì đã được “thọ thần”. Chính vì thế việc tạc đẽo tượng cũng lắm sự lạ kỳ không thể lý giải được.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Từ khi tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn thành được đặt tại chính điện của Tịnh xá Ngọc Ban này, đại chúng thập phương đến chiêm bái ngày càng thêm đông, ngưỡng vọng thành tâm cầu nguyện, và có nhiều sự linh ứng, ai cầu gì đều được Ngài phù hộ, ứng nghiệm ngay. Sức mạnh từ bi độ nguyện nơi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng tới rất nhiều người, mà chỉ tự thân mỗi người với tất cả tâm lòng thành kính cảm nhận được những linh ứng và sự kỳ diệu!”.
Hiện tại, bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng cây gỗ thủy tùng này được đặt tại Tịnh xá Ngọc Ban, tại gian chính điện từ lúc hoàn thành đến nay. Ni sư Nhàn Liên cho biết, nhiều lần có một số người đến thương lượng mua lại bức tượng này với giá vài tỷ đồng, nhưng đây là quà tặng của chùa nên không được phép bán. Nói đến chuyện liệu có bị trộm mất hay không, ni sư Nhàn liên cười cho biết có mấy lần vì muốn dịch chuyển tượng sang một chút để lau chùi, sửa sang lại mái nhà đều không được dù đã huy động cả chục người đàn ông lực lưỡng đến.
Chuyện một gốc cây có tuổi đời 2000 năm với vô vàn những điều kỳ bí xung quanh việc tạc thành bức tượng Phật vẫn được người dân nơi đây truyền tai nhau, và với sự linh thiêng kì diệu đó, mỗi người khi đến chiêm bái bức tượng này đều tự dặn lòng mình phải sống từ bi hơn, làm nhiều việc thiện hơn để cuộc sống được thanh thản. (An Ninh Thủ Đô 15/9) đầu trang(
Các chiến sĩ thuộc Ban chỉ huy Quân sự huyện Lý Sơn đang thực hiện mô hình ươm bàng vuông, góp phần rất lớn vào việc bảo tồn, nhân rộng loại cây đặc trưng của huyện đảo, tạo môi trường xanh phục vụ du lịch.
Ý tưởng này xuất phát từ tấm lòng luôn hướng về biển đảo quê hương của một vị Trung tá hơn nửa đời gắn bó với đảo tiền tiêu Lý Sơn. Trung tá Nguyễn Văn Đào, Chủ nhiệm hậu cần kỹ thuật - Ban chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn, “cha đẻ” mô hình chia sẻ: Cây bàng vuông là loài cây đã gắn liền với Lý Sơn từ bao đời nay. Cây tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của người dân, vượt qua phong ba bão táp để vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió.
Để có được vườn giống phong phú như ngày hôm nay, Trung tá Đào và các chiến sĩ đã ươm thử nghiệm rất nhiều lần. Cây bàng vuông là loại cây dễ sống, dễ trồng. Tuy nhiên, nếu không biết cách ươm thì tỷ lệ nảy mầm rất thấp.
Theo Trung tá Đào, mấy năm trước, người dân huyện đảo đã có ý thức nhân rộng giống cây này nhưng không thành công. Quả bàng vuông phải chờ gần 1 năm mới nhú lá mầm nhưng họ tưởng ươm không được nên bỏ hết. Cơ duyên đến với Trung tá Nguyễn Văn Đào rất tình cờ. Từ một quả bàng vuông thả dưới gốc nhãn, sau thời gian đã phát triển thành cây tươi tốt, gieo hi vọng cho khát khao bảo tồn và nhân rộng giống bản địa.
Trung tá Hồ Ngọc Hiên, Phó Chỉ huy trưởng động viên, Ban chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn, người trực tiếp tham gia ươm giống cho biết: Quá trình ươm rất đơn giản, chỉ cần tưới nước đều đặn là được, không cần dùng tới phân bón. Người ươm phải biết cách chọn quả để ươm, nếu chọn đại trà thì coi như hỏng. Thường thì chúng tôi lấy quả ở xóm Viễn Đông, tại Dinh địa phương.
Ưu điểm của bàng vuông là thích nghi tốt với mọi thời tiết. Cây trưởng thành có tán rộng, ít rụng lá lại cho hoa, quả rất đẹp. Mô hình ươm giống bàng vuông được các chiến sĩ triển khai từ năm 2011, đến nay đã ươm được số lượng lớn lên tới hơn 15.000 cây.
Mục đích chính là phục vụ cho việc tạo cảnh quan xanh trên đất đảo, hướng tới phát triển du lịch thân thiện, bền vững. Hiện tại, các trục đường giao thông chính của Lý Sơn chủ yếu trồng loại cây này, ước khoảng 2.500 cây.
Trung úy Nguyễn Đức Thuận, Trợ lý hậu cần, Ban chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn khẳng định: Trước mắt chúng tôi trồng để tặng du khách chứ chưa nghĩ đến việc kinh doanh. Mỗi du khách sẽ được tặng 2-3 cây để mang về đất liền, coi đó là món quà ý nghĩa mà huyện đảo dành cho họ. Đây cũng là cách tạo cảm tình tốt trong lòng khách du lịch bốn phương.
Cây bàng vuông giống từ vườn ươm của các chiến sĩ đã len lỏi đi khắp nơi, ngày càng được biết đến nhiều hơn. Nó đã theo chân người lính hải quân ra Hoàng Sa, đâm chồi và trụ vững trên vùng đảo thiêng liêng của Tổ quốc; phát triển tốt tươi tại các nhà nghỉ, khách sạn trên đảo.
Gần đây, Ban chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn đã cung ứng 1.000 cây bàng vuông giống tặng Thành phố Hồ Chí Minh. Còn rất nhiều đơn đặt hàng từ Đà Nẵng và các tỉnh, thành phố trong cả nước với số lượng lớn.
Trong tương lai, nếu mô hình ươm giống bàng vuông được triển khai nhân rộng thì không những ngành du lịch được hưởng lợi, mà ngay cả người dân trên đảo tiền tiêu sẽ có thêm nguồn thu nhập đáng kể từ cung ứng cây bàng vuông giống. Lợi ích kép từ mô hình là rất rõ. (Tin Tức 14/9) đầu trang(
Nhận thức được hiệu quả từ việc trồng rừng ngập mặn trước những tác động phải hứng chịu do ảnh hưởng của BĐKH đang ngày càng mạnh mẽ, những ngư dân ven biển tại 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa đã nỗ lực trồng hàng nghìn hécta rừng ngập mặn ven biển.
Cũng chính nhờ vậy người dân đã “vững bước” trước thiên tai và hưởng lợi từ rừng. Ngắm nhìn những dải đê, hàng dãy nhà vững chãi và cả trăm đầm nuôi trồng thủy được bao bọc bởi “bức tường xanh" đang vươn dài tại hai xã Nga Thủy (Nga Sơn) và Đa Lộc (Hậu Lộc) mới thấy thành quả của những con người không quản gian lao ngày đêm bám biển... trồng rừng.
Là một trong những người đầu tiên tham gia phong trào “mang rừng xuống biển” (phong trào do CARE hỗ trợ - một tổ chức nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế), ông Trần Văn Diện, ở xóm 9, xã Nga Thủy cho biết, hơn chục năm trước rừng bị chặt phá kiệt quê nên ở đây cây cối thưa thớt lắm. Vào mùa bão lũ, người dân trong xã, đặc biệt là nhũng hộ sống bằng nghề nuôi trồng thủy hải sản luôn phải sống trong cảnh bất an, mỗi năm bờ đê bao bằng bê tông xung quanh đầm nuôi thủy sản của bà con bị vỡ 3 - 5 lần, thiệt hại về kinh tế lên tới hàng chục tỷ đồng.
Theo đại diện của CARE, ngay từ khi phát động phong trào “đưa rừng xuống biển”, CARE đã thống nhất với chính quyền huyện Nga Sơn và Hậu Lộc về việc giao quyền quản lý rừng cho cộng đồng dân cư ven biển. Trên cơ sở đó, cộng đồng tham gia toàn bộ vào tiến trình lập kế hoạch quản lý rừng ngập mặn, xây dựng các quy định về quản lý phù hợp với điều kiện của địa phương và luật pháp hiện hành. Ngoài ra, cộng đồng còn được giao quyền quản lý rừng ngập mặn theo quyết định của ủy ban nhân dân huyện.
Thông qua phương thức hỗ trợ trồng và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng, trong đó thành viên cốt cán là “nhóm xanh” và các Hội: Nông dân, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, từ năm 2007 đến tháng 8/2013, CARE đã hỗ trợ người dân 2 xã trồng mới được tổng cộng 412ha rừng ngập mặn, tổng chi phí bình quân cho mỗi ha là 950 USD.
Giờ đây, những dải đê xanh do cộng đồng dân cư địa phương chung tay trồng mới đã bạt ngàn cây xanh trên 2 bờ sông Lạch Sung, trở thành “bức tường thành” bao bọc, chở che cho các tuyến đê biển dài hàng chục km trước mỗi trận triều cường, lũ quét.
Cùng với việc tạo lập dải đê xanh chắn sóng, rừng ngập mặn ở Nga Thủy và Đa Lộc cũng đang góp phần hình thành “lá phổi xanh” bảo tồn đa dạng sinh học. Trên các bãi bồi nước lợ, những chòi canh nuôi trồng thủy sản mọc lên chi chít, hàng ngàn ao ươm nuôi tôm, cua, cá như những ô bàn cờ yên bình hướng ra biển lớn.
Nói về tác dụng của rừng ngập mặn, ông Trần Văn Diện khẳng định, trồng rừng ngập mặn là hành động rất thiết thực, góp phần ngăn chặn “cơn giận dữ’ của biển, bảo vệ môi trường. Mặt khác, đây cũng là giải pháp để tạo thu nhập, phát triển sinh kế cho ngư dân bám biển.
Cũng mang niềm vui đổi đời nhờ rừng ngập mặn, ông Phan Văn Đông, ở thôn Đông Tân, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc cho rằng, rừng ngập mặn không chỉ giúp nguồn thủy sản tại địa phương sinh sôi ngày một nhiều hơn, mà cây lúa cũng được hưởng lợi và phát triển nhờ vào những kiến thức người nông dân được học tập thông qua các lớp học nhằm nâng cao nhận thức và tạo phương thức giúp sinh kế ổn định lâu dài, thích ứng với BĐKH gây ra.
Qua thực tế tìm hiểu, những khu rừng ngập mặn không những đã bảo vệ bình yên cho ngư dân trước cơn giận dữ của thiên nhiên mà còn mang lại ấm no cho người dân. (Tài Nguyên & Môi Trường 11/9, tr8) đầu trang(
Thời gian qua, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 5 (Quân khu 4) đã triển khai nhiều mô hình giảm nghèo bền vững để giúp bà con huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa từng bước nâng cao đời sống, phát triển kinh tế-xã hội.
Việc trồng rừng, bảo tồn hệ sinh thái mà đoàn đang triển khai đã góp phần tăng thêm thu nhập, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động nhàn rỗi trên địa bàn các xã biên giới, hạn chế di cư tự do, phát nương làm rẫy trái phép.
Tính đến nay, đoàn đã phối hợp bảo vệ 5.943ha rừng tự nhiên, trồng mới 390ha rừng phòng hộ, 50ha rừng sản xuất, nâng độ che phủ vùng dự án từ 30% lên 56%, bảo tồn hệ sinh thái, giảm thiên tai, góp phần ổn định dân cư trên địa bàn biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa. (Quân Đội Nhân Dân 14/9) đầu trang(
Thực hiện, Quyết định số 1391/ QĐ- UBND ngày 20/8/2014, UBND tỉnh đã tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2015cho các địa phương với tổng diện tích là 8.000 ha.
Trong đó, rừng phòng hộ, đặc dụng là 300 ha; Rừng sản xuất là 5.100 ha; Rừng phân tán là 2.600 ha. Trên cơ sở đó, các huyện đã giao chỉ tiêu cho các xã triển khai đăng ký trồng rừng và cơ cấu giống rừng trồng 2015.
Việc tạm giao kế hoạch trồng rừng các đơn vị sẽ giúp 10 Ban phát triển trồng rừng và Bảo vệ rừng cấp huyện, thị xã thuận tiện hơn trong việc chuẩn bị cho công tác trồng rừng từ việc bố trí nguồn giống, cơ câu giống, ký kết đơn vị tư vấn thiết kế trồng rừng, thành lập củng cố các ban phát triển rừng các cấp…để đảm bảo mùa trồng rừng năm 2014 được triển khai thuận lợi hơn. (Báo Bắc Kạn 13/8) đầu trang(
Ông Võ Đình Trí, cán bộ Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, cho biết: Vụ trồng rừng Thu Đông năm nay, huyện tiếp tục triển khai trồng mới 208 ha rừng kinh tế theo Dự án trồng rừng WB3 do Ngân hàng Thế giới cho vay ưu đãi tại 5 xã gồm: Cát Sơn, Cát Lâm, Cát Hiệp, Cát Hanh và Cát Khánh với 158 hộ tham gia.
Hiện nay, các địa phương đang đo đạc, thiết kế trồng rừng, xử lý thực bì, để trồng rừng khi mùa mưa đến. Được biết, từ năm 2005 đến nay, huyện Phù Cát đã trồng được gần 4.000 ha rừng nguyên liệu giấy theo Dự án trồng rừng WB3, có 2.629 hộ gia đình tham gia.
Qua đó, Ngân hàng Thế giới đã giải ngân cho vay với tổng số tiền trên 41 tỉ đồng; mỗi ha rừng trồng nông dân được vay từ 10-15 triệu đồng, thời gian vay 15 năm, mức lãi suất 0,65%/tháng. (Báo Bình Định 12/9) đầu trang(
Năm 2014, nông dân huyện Vân Canh trồng mới 380 ha rừng WB3, có 268 hộ tham gia dự án trồng rừng và chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất.
Tranh thủ trong những ngày cuối tháng 8, đấu tháng 9, trên địa bàn huyện có mưa to, làm tăng độ ẩm cho đất, bà con nông dân đã trồng mới trên 150 ha cây nguyên liệu giấy.
Bên cạnh đó, Ban quản lý dự án WB3 đã giới thiệu cho các hộ mua cây giống tại các vườn ươm được công nhận đảm bảo chất lượng cây giống; tiến hành cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho 268 hộ và giải ngân gần 3,8 tỷ đồng cho các hộ vay vốn để trồng rừng năm thứ nhất, giải quyết việc làm cho một số bộ phận lao động nông nhàn và tăng độ che phủ rừng và phòng chống xói mòn đồi núi trên địa bàn huyện, đồng thời tăng thu nhập cho hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo tại địa phương. (Hội Nông Dân Bình Định 11/9) đầu trang(
Đó là ông Nguyễn Duy Tươi, 61 tuổi, cựu chiến binh ở bản Chu Va 46, xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
Năm 1976, ông vào làm công nhân Xí nghiệp Quản lí cầu đường bộ I thuộc Sở Giao thông Vận tải. Năm 1979, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông tình nguyện đi bộ đội, tham gia chiến đấu tại mặt trận biên giới. Hoàn thành nghĩa vụ, ông trở về quê, tập trung làm kinh tế…
Cuộc sống khó khăn, ông xoay xở đủ nghề thợ mộc, thợ xây… nhưng vẫn không thoát khỏi đói nghèo. Ông thường trăn trở, phải làm sao thoát nghèo và làm giàu ngay trên mảnh đất mình sinh sống? Người khác làm được, tại sao mình lại bó tay? Năm 1998, khi Nhà nước có chủ trương giao đất, ông nhận 2,5ha diện tích đất hoang hóa trồng rừng.
Vợ chồng ông ngày đêm kiên trì, tần tảo, phát dọn thực bì, cải tạo đất và đào hố trồng cây. Ban đầu do thiếu kinh nghiệm, lựa chọn giống cây chưa phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu nên cây chết hàng loạt. Song bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ không cho phép lùi bước, ông tiếp tục học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình tốt, tham khảo trên báo đài và ươm giống cây trồng thay thế.
Vợ chồng ông bao phen “ăn rẫy, ngủ chòi”; mồ hôi thấm đẫm nhiều khoảnh rừng. Rồi thời gian dần trôi, không phụ công người, toàn bộ diện tích rừng của gia đình ông sinh trưởng, phát triển tốt. Ông tận dụng những diện tích đất đồi có độ ẩm cao trồng chè, ngô, dong riềng và cây thuốc đương quy; quanh nhà, trồng nhãn và nhiều loại cây ăn quả khác.
Ông còn nuôi, hàng chục con lợn, gần chục con trâu, hàng trăm gà vịt, mỗi năm cung cấp cho thị trường 4 – 5 tấn thịt… Hiện khu rừng của ông đã cho khai thác gỗ, kết hợp với chăn nuôi, trồng trọt, gia đình thu hơn 250 triệu đồng/năm.
Không chỉ nêu gương trong phát triển kinh tế, ông Tươi còn đảm nhiệm tốt vai trò Chi hội trưởng CCB của bản. Ông quan tâm đến đời sống của từng hội viên, thăm hỏi khi có người ốm đau, phúng viếng khi qua đời; hỗ trợ hội viên cùng làm giàu; tích cực tuyên truyền vận động CCB và nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Đến nay, 100% hội viên của Chi hội đã vươn lên thoát nghèo, số hộ giàu tăng lên; nhiều năm liền Chi hội được công nhận vững mạnh.
Ông Vũ Minh Đức, Chủ tịch Hội CCB xã Sơn Bình cho biết: “Ông Tươi là CCB gương mẫu, đi đầu trong mọi hoạt động, phong trào ở địa phương; thường xuyên giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn cho các hội viên và bà con để cùng phát triển kinh tế”.
Với những nỗ lực trong phát triển kinh tế, gương mẫu trong công tác đoàn thể và xã hội, ông Nguyễn Duy Tươi được các ngành, các cấp tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen. Mới đây, gia đình ông được Hội Nông dân huyện công nhận là hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi. (Người Cao Tuổi 12/9) đầu trang(
Lâm Trạch (Bố Trạch) là một xã miền núi còn gặp nhiều khó khăn, diện tích chủ yếu là đất rừng, với 2.246,4ha. Nhiều năm trở lại đây, thực hiện chủ trương giao đất giao rừng của Nhà nước, nhiều hộ dân đã mạnh dạn tham gia trồng rừng để phát triển kinh tế, trong đó cây thông là cây trồng chủ lực.
Chỉ sau vài năm, cây thông đã cho thấy hiệu quả, được xem là cây xóa đói, giảm nghèo của người dân nơi đây. Về với Lâm Trạch những ngày này, có thể thấy được hiệu quả rõ rệt trong việc giao đất giao rừng để bà con trồng rừng kinh tế. Những vùng đất trống đồi trọc trước kia nay đã được phủ một màu xanh bạt ngàn của thông.
Ông Nguyễn Sỹ Phúc, Phó Chủ tịch UBND xã Lâm Trạch cho biết, là một xã miền núi, đất đai khô cằn, sỏi đá, hệ thống thủy lợi nội đồng chưa được hoàn thiện nên việc sản xuất nông nghiệp của bà con gặp rất nhiều khó khăn. Diện tích đất trồng lúa của xã ngày càng bị thu hẹp, do thiếu nước sản xuất.
Vì vậy, chính quyền xã đã vận động bà con hướng đến trồng rừng, đặc biệt là trồng cây thông để phát triển kinh tế. Số lượng các hộ gia đình tham gia trồng thông ngày càng đông, vì người dân đã nhận thấy được đây là loại cây có thể giúp họ xóa đói, giảm nghèo và ổn định cuộc sống.
Trong sáu tháng đầu năm 2014, giá trị thu nhập từ rừng trên địa bàn xã là 7 tỷ đồng, đạt 280% kế hoạch năm. Nguồn thu từ lâm nghiệp tăng đột biến do bà con đã khai thác và bán nhựa thông với giá khá cao, khoảng trên dưới 30 ngàn đồng/kg.
Hiện tại, toàn xã Lâm Trạch có hơn 400 hộ trồng thông với tổng diện tích 620 ha, trong đó có 300 ha đã được khai thác để lấy nhựa. Tính bình quân cây thông cho thu nhập từ 5-10 triệu đồng/hộ/tháng. Theo ông Phúc, người dân trong xã đã bắt đầu trồng thông từ năm 2001, thời điểm đó bà con được dự án Việt-Đức hỗ trợ tất cả các chi phí để trồng thông, từ cây giống cho đến phân bón... Hiện tại, để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, UBND xã đang lập kế hoạch xin hỗ trợ vốn và chuẩn bị đất để trồng thêm 320ha thông nhựa trong năm 2015.
Ông Phạm Quốc Khánh, ở thôn 4, xã Lâm Trạch là một trong số những hộ dân thoát nghèo nhờ cây thông. Tiếp chuyện PV, ông cho biết, trước đây cuộc sống của gia đình ông rất vất vả, cơm còn không đủ ăn chứ đừng nói tới việc chi phí cho con cái học hành. Cái nghèo, cái đói cứ đeo bám gia đình ông, mặc dù hai vợ chồng đã làm việc vất vả không quản ngày đêm.
Khoảng hơn mười năm trước, khi nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng, gia đình ông đã mạnh dạn trồng 3,5ha thông với mong muốn có thể thoát nghèo. Sau một thời gian dài chăm sóc, rừng thông của gia đình ông cũng đã đến tuổi khai thác và cho thu nhập cao.
Từ đầu năm đến nay, ông Khánh đã thu hoạch được khoảng một tấn nhựa thông, bán được 30 triệu đồng. Bình quân mỗi tháng ông thu nhập từ nhựa thông khoảng 6 triệu đồng. “Từ khi khai thác nhựa thông để bán, thu nhập của gia đình tôi đã ổn định hơn, con cái có tiền để ăn học, không còn nghèo đói như trước nữa” - ông Khánh chia sẻ.
Cũng theo ông Khánh, cây thông có lợi hơn hẳn cây keo vì cây thông cho nhựa khoảng 9 tháng/ năm và có thể khai thác trong thời gian gần 20 năm, sau đó, khai thác gỗ để bán; gỗ thông cũng dễ tiêu thụ. Không chỉ gia đình ông Khánh, rất nhiều hộ dân ở xã Lâm Trạch vươn lên thoát nghèo nhờ cây thông như gia đình ông Nguyễn Văn Tiến (thôn 2), ông Nguyễn Văn Tào (thôn 3)...
Có rừng thông, người dân Lâm Trạch đang dần tự tin trên con đường xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kéo theo đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhiều so với trước đây, thu nhập bình quân đầu người cũng cao hơn.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì và phát triển các diện tích thông, vì cây thông là hướng phát triển bền vững của xã, rất hiệu quả trong xóa đói giảm nghèo. Không những thế, trồng thông còn góp phần bảo đảm môi trường" - Phó Chủ tịch UBND xã Lâm Trạch Nguyễn Sỹ Phúc chia sẻ. (Báo Quảng Bình 12/9) đầu trang(
Hiện nay, việc sử dụng đất nói chung và đất Lâm nghiệp nói riêng không theo quy hoạch, nên hiệu quả sử dụng đất chưa cao. Đặc biệt tại đồi Hích xã Cẩm Liên bao năm qua nhân dân chưa được cấp quyền sử dụng đất, canh tác trên đồi Hích một cách bừa bãi, không có quy củ, không theo quy hoạch.
Được sự nhất trí của UBND huyện Cẩm Thủy, ngày 8/9, tại hội trường UBND xã Cẩm Liên đã tổ chức hội nghị về việc giao quyền sử dụng đất tại đồi Hích và thảo luận giải pháp quản lý sử dụng đất tại đồi Hích một cách có hiệu quả nhất.
Đồi Hích thuộc địa bàn xã Cẩm Liên với diện tích 120,7 ha, hiện nhân dân đã trồng rừng kết hợp với trồng và trồng lúa, ngô với diện tích 80 ha, còn 40,7 ha đất đang bỏ trống. Đất tại đồi Hích hiện nay chưa có chủ thực sự, sử dụng không theo quy hoạch, một số hộ gia đình sống gần đó đang canh tác trồng lúa, ngô, lập lán trại trên đồi.
Tại hội nghị ông Nguyễn Hữu Khoa - Trưởng phòng tài nguyên môi trường huyện Cẩm Thủy đã hướng dẫn thủ tục giao đất, ưu tiên cho các hộ gia đình hiện đang canh tác trên đồi Hích. Những diện tích đất trống nhân dân chưa canh tác đề nghị UBND xã thông báo, tìm những cá nhân, gia đình thực sự tâm huyết với việc trồng rừng để giao đất. Ông Khoa nhấn mạnh, sau khi giao đất xong các hộ phải cam kết trồng rừng trong thời gian 24 tháng.
Hội nghị cũng đã thảo luận và định hướng trồng cây Quế tại đồi Hích để phát triển kinh tế theo hướng nhanh và bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng NTM xã Cẩm Liên phát triển, văn minh, giàu đẹp. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 11/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
NHÌN RA THẾ GIỚI
Các nhà khoa học đã phát hiện ra một loài khủng long săn mồi cực lớn từng sống trên trái đất có tên là Spinosaurus, có những đặc điểm thích nghi được với cuộc sống dưới nước để săn cá mập.
Từ các mẫu hóa thạch mới phát hiện trên vùng sa mạc Sahara thuộc Morocco và các mẫu vật trong các bảo tàng, các nhà khoa học đã phát hiện ra sự tồn tại của khủng long Spinosaurus.
Với cân nặng 20 tấn và chiều cao gần 15m, chúng có thân hình dài hơn con khủng long bạo chúa lớn nhất từng được phát hiện khoảng 3m. Spinosaurus được biết đến là loài khủng long cạn đầu tiên có thể sống dưới nước.
Trong khi các loài khủng long ăn thịt khác như T-Rex săn mồi trên cạn, khủng long Spinosaurus lại săn cá mập và những loài cá lớn khác tại các vùng nước sâu. (Đại Đoàn Kết 14/9, tr15) đầu trang(
Cặp linh dương Bongo Đông Phi cái sinh đôi tại Khu bảo tồn Woburn ở Bedfordshire (Anh), được coi là những con vật cực kỳ quan trọng đối với loài đang có nguy cơ tuyệt chủng này.
Người phát ngôn của Khu bảo tồn Woburn cho biết, chỉ có hai cặp Bongo song sinh trong số 15 cặp được sinh ra trong điều kiện nuôi nhốt từng sống sót trong các vườn thú trên toàn thế giới.
Cặp đôi linh dương trẻ này vừa được sinh ra bởi một con linh dương cái 9 tuổi có tên Millie. Con Bongo trưởng thành có chiều cao từ 110 đến 130cm. Chúng ăn cỏ, rễ và cây bụi. Bongo đang bị đe dọa bởi nạn săn trộm và bẫy bất hợp pháp. (Đại Đoàn Kết 14/9, tr15) đầu trang(
11/09, cảnh sát kiểm lâm tỉnh Quảng Đông nhận được tin báo từ công chúng khi thấy hai đối tượng khả nghi vận chuyển khá nhiều xác tê tê tại một ngôi nhà ở quận Bạch Vân, Quảng Đông, Trung Quốc.
Cơ quan quản lý đã đột nhập vào hiện trường bắt hai can phạm và thu giữ 457 con tê tê chết. Được biết, số tê tê này có nhiều con lớn với trọng lượng khoảng 20kg. Hiện cảnh sát vẫn đang hoàn thiện điều tra vụ án. (Xahoi.com.vn/Công lý 12/9) đầu trang(
Tờ Telegraph của Anh cho hay, dân làng ở trên dãy Himalaya, Ấn Độ đang tỏ ra vô cùng lo lắng và sợ hãi khi một con báo được cho là đã cắn chết 12 người dân trong vùng.
Người dân sống ở vùng đồi Kumaon trên dãy Himalaya thuộc lãnh thổ Ấn Độ cho biết, mục tiêu chính của con báo là những người say rượu và thường đi về nhà trong bóng tối sau khi kết thúc cuộc nhậu.
Kể từ đầu năm 2012, con báo đã giết chết 12 người. Nạn nhân đầu tiên của nó là một người đàn ông 46 tuổi sống ở làng Simar. Con báo được cho là đã giết chết ít nhất 2 người trong năm nay. Nạn nhân mới nhất của nó là một người đàn ông 44 tuổi từ làng Badeth.
"Người dân trong vùng vô cùng sợ con báo nên không dám đi ra khỏi nhà lúc trời nói. Con báo khiến cho việc đi lại của chúng tôi gặp vô vàn khó khăn. Mọi người thường mang gậy khi đi ra ngoài và cảnh giác nó cả ngày lẫn đêm. Rất nhiều người tin rằng nó chỉ tấn công những người say rượu" - ông Madan Paneru ở làng Kotali chia sẻ với tờ Telegraph.
Cô Belinda Wright, giám đốc của Hiệp hội Bảo vệ Động vật hoang dã Ấn Độ cho biết: "Tôi không nghĩ rằng con báo chỉ tấn công những người say rượu mà tấn công những ai thường đi một mình vào ban đêm.Tuy nhiên, con báo sẽ dễ dàng hạ gục 'con mồi' của mình hơn khi người đó say rượu". (VietnamPlus 15/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||