|
Ngày 15 tháng 03 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Công an huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) vừa bắt khẩn cấp Giàng A Sử, sinh năm 1988, dân tộc Mông ở bản Háng Cơ Bua, xã Púng Luông là thủ phạm đốt rừng ngày 9/3/2016.
Vụ cháy rừng đã thiêu trụi khoảng 50 ha rừng thông có tuổi đời trên 20 năm do Ban QLR phòng hộ Mù Cang Chải quản lý.
Theo lời khai ban đầu của Sử, do mâu thuẫn với trưởng thôn Giàng A Trư, khi Sử bị trưởng thôn nhắc nhở một vài lần chặt thông để sử dụng nhưng không sử dụng hết.
Sáng 9/3/2016 Sử đốt nến vào ống nứa có bùi nhùi, để lửa bén vào bùi nhùi sẽ lan ra rừng. Đến trưa Sử quay lại nhưng không thấy rừng cháy, dốc ống nứa ra thấy nến cháy hết nhưng không bắt lửa vào bùi nhùi nên Sử quẹt lửa đốt vào rừng luôn rồi chui vào bụi quan sát. Khi đám lửa cháy to bằng cái thúng thì Sử chạy đi được chừng 5-6m tiếp tục đốt một mồi lửa nữa mới chạy về nhà.
Hạt Kiểm lâm phối hợp với Công an huyện Mù Cang Chải và chính quyền địa phương phát động người dân tố giác tội phạm, sau khi sàng lọc đối tượng, Giàng A Sử đã nhận mình gây ra vụ đốt rừng đó.
Sáng 14/3/2016 Công an và Kiểm lâm Mù Cang Chải dẫn Sử lên hiện trường diễn lại quá trình đốt rừng của mình để lập hồ sơ xử lý trước pháp luật. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/3) đầu trang(
Theo ông Đỗ Cường Minh – Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái, cho đến thời điểm hiện tại các đám cháy rừng trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã cơ bản được dập tắt.
Sau 2 vụ cháy rừng xảy ra tại khoảnh 16, tiểu khu 340 khu vực giáp ranh với đèo Khau Phạ, thuộc địa phận xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái và tại địa bàn giáp ranh giữa huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái với các huyện Bắc Yên và Phù Yên của tỉnh Sơn La. Hiện thiệt hại về 2 vụ cháy đã cơ bản được thống kê.
Số diện tích bị cháy đa phần là cây bụi nên không có diện tích rừng bị thiệt hại. Còn theo thông tin từ phía UBND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La thì diện tích rừng bị thiệt hài là hơn 300 ha, chủ yếu là rừng nguyên sinh và rừng tái sinh. Nguyên nhân gây ra các vụ cháy vẫn đang được các lực lượng chức năng điều tra, làm rõ. (ANTV 13/3) đầu trang(
Theo thông tin từ các ngành chức năng, từ ngày 8-3 đến ngày 11-3, tại địa bàn các huyện Phù Yên, Bắc Yên và Mai Sơn đã xảy ra cháy rừng, gây thiệt hại gần 172 ha rừng loại IIa, IIIa1 IIIa3.
Diện tích rừng bị cháy thuộc các bản Háng Đồng A, Háng Đồng B, xã Háng Đồng (Bắc Yên); bản Nam, Sam Ta, xã Chiềng Chung (Mai Sơn) và các bản thuộc địa bàn xã Suối Tọ (Phù Yên).
Ngay sau khi xảy ra cháy rừng, các huyện đã huy động từ 300 người đến 400 người tham gia chữa cháy theo phương châm ”4 tại chỗ”. Riêng đối với 2 vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Sốp Cộp xảy ra ngày 5-2, tỉnh đã tăng cường lực lượng của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Chi cục Kiểm lâm tỉnh để chữa cháy rừng.
Đến hết ngày 9-3, các huyện Bắc Yên, Mai Sơn đã khống chế được lửa, không để lây lan ra diện rộng. Riêng cháy rừng tại khu vực bản 5 Nhà, xã Suối Tọ, Phù Yên đến sáng ngày 11-3, các lực lượng chữa cháy đã khống chế được đám cháy. Tính từ ngày 5-2 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ cháy rừng tại các huyện Thuận Châu, Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mai Sơn, gây thiệt hại gần 250 ha rừng. (Báo Sơn La 14/3) đầu trang(
Ngày 14/3, ông Đỗ Văn Đồng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau thông báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm 41.426/ 43.545 ha rừng tràm.
Mức độ cảnh báo cháy gần như toàn bộ rừng tràm U Minh hạ thuộc Vườn quốc gia U Minh hạ, Cty Lâm nghiệp U Minh hạ và các đơn vị quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Trong thông báo vừa phát đi, Chi cục kiểm lâm Cà Mau nghiêm cấm người vào rừng và xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân không chấp hành qui định về phòng cháy chữa cháy rừng tràm vào mùa khô. (Tiền Phong 15/3) đầu trang(
Hạt kiểm lâm Vũng Tàu vừa có văn bản đề xuất UBND thành phố Vũng Tàu chỉ đạo UBND các phường, xã có rừng thông báo đến toàn dân việc cấm đốt rẫy, đốt thực bì trong mọi trường hợp tại núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa và bãi cát ven biển thuộc thành phố Vũng Tàu.
Đây là biện pháp để phòng, chống cháy rừng thời kỳ cao điểm mùa khô, nắng hạn khắc nghiệt khó lường về nguy cơ cháy rừng. Hạt kiểm lâm cũng đề nghị việc cấm người không có nhiệm vụ ra vào rừng, các địa phương sẵn sàng sử dụng phương châm 04 tại chỗ để ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Trong thời gian gần đây tỉnh BR-VT là một trong những địa phương trong cả nước xảy ra nhiều vụ cháy rừng, công tác tuyên truyền, phòng, chống cháy rừng cần phải được chú trọng và triển khai các biện pháp triệt để nhằm đảm bảo không xảy ra cháy rừng trên địa bàn. (Cổng Thông Tin Điện Tử TP.Vũng Tàu 12/3) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có văn bản chỉ đạo, yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và chống phá rừng mùa khô năm 2016.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, thời tiết đang bước vào cao điểm mùa khô, nắng nóng gay gắt kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất cao. Theo thông tin từ Cục Kiểm lâm, Tây Ninh nằm trong nhóm các tỉnh có nguy cơ cháy rừng cấp V- cấp cực kỳ nguy hiểm. Vừa qua, tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng đã liên tục xảy ra cháy rừng vào thời điểm cận tết, sau tết nguyên đán làm thiệt hại hơn 76 ha rừng và diện tích khoanh nuôi tái sinh.
Để kịp thời đối phó với diễn biến phức tạp nêu trên và ngăn chặn tình trạng cháy rừng xảy ra, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh về việc tăng cường công tác PCCCR, quản lý, bảo vệ rừng.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở NN&PTNT chỉ đạo các Ban quản lý rừng (chủ rừng) khẩn trương rà soát, bổ sung hoàn chỉnh các phương án, kế hoạch phối hợp thực hiện nhiệm vụ PCCCR và chống phá rừng phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra canh phòng tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng, nhất khu vực giáp biên giới Campuchia, khu vực đầu nguồn sông Sài Gòn giáp tỉnh Bình Phước, các khu vực dân cư, dân sống tại ấp Con Trăn, xã Tân Hoà, huyện Tân Châu.
Đôn đốc các BQL rừng hoàn thành dứt điểm công tác chăm sóc phòng cháy rừng trồng, làm các đường băng cản lửa; thực hiện đốt chủ động và các quy trình kỹ thuật khác để phòng cháy; đồng thời phân công, bố trí hợp lý lực lượng, phương tiện đáp ứng yêu cầu PCCCR tại chỗ.
Sở NN&PTNT tổ chức lực lượng tuần tra canh phòng thường xuyên để kịp thời phát hiện và kiểm soát nguồn lửa có thể gây cháy lan vào rừng; dập tắt kịp thời các đám cháy, không để cháy lan diện rộng; có biện pháp ngăn chặn tình trạng đốt, sử dụng lửa bừa bãi ở các khu vực ven rừng, gần rừng có nguy cơ xảy ra cháy lan vào rừng.
Kết hợp tuần tra canh phòng cháy rừng với việc chống phá rừng và các hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp làm rẫy. Phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương tăng cường thông tin, tuyên truyền, cảnh báo cháy rừng trong suốt thời gian cao điểm của mùa khô. Chỉ đạo, đề xuất kiểm điểm, xử lý nghiêm các trường hợp lơ là, thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy rừng hoặc vi phạm các quy định về PCCCR…
Chủ tịch UBND tỉnh còn yêu cầu cơ quan thường trực Ban chỉ huy các cấp, các trạm, chốt bảo vệ rừng bố trí thường xuyên 24/24 giờ hằng ngày trong suốt thời gian cao điểm mùa khô để tiếp nhận và xử lý nhanh thông tin về cháy rừng; đề xuất huy động lực lượng, dụng cụ, phương tiện tại chỗ sẵn sàng ứng cứu…
UBND các huyện, thành phố có rừng chỉ đạo các lực lượng liên ngành cấp huyện (Công an, Quân đội, Kiểm lâm) phối hợp chính quyền cơ sở thường xuyên tăng cường kiểm tra, truy quét, ngăn chặn kịp thời các hành vi phá rừng, trộm cắp lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật.
Kiểm tra, yêu cầu các BQL rừng tổ chức thực hiện hiệu quả phương án bảo vệ, PCCCR; có kế hoạch tổ chức hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trú đóng trên địa bàn tuần tra, kiểm tra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng… (Báo Tây ninh 14/3) đầu trang(
Yên Bái tích cực thực hiện các phương án phòng cháy chữa cháy nhằm giảm tối đa nguy cơ cháy rừng, và ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra.
Nhiều cánh rừng ở tỉnh Yên Bái đang ở mức cảnh báo cháy cấp V- cấp cực kỳ nguy hiểm. Trước tình hình này, Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã củng cố gần 1.500 tổ đội phòng cháy, chữa cháy rừng ở cơ sở; tổ chức cho trên 75.000 hộ dân sống gần rừng và ven rừng ký cam kết bảo vệ rừng.
Tại các xã vùng cao thuộc huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã hướng dẫn bà con dọn dẹp thực bì hơn 1500 héc ta thảo quả bị chết rét, tránh cháy lan khi đốt nương làm rẫy.
Ông Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái cho biết: “Chúng tôi đã chỉ đạo các Hạt kiểm lâm cử cán bộ kiểm lâm địa bàn hướng dẫn người dân đốt nương làm rẫy theo đúng quy trình kỹ thuật. Theo đó, những diện tích có thể đốt nương làm rẫy thì người dân phải đăng ký với thôn, xã và đốt phải có sự hướng dẫn trực tiếp của kiểm lâm địa bàn. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để đưa tin kịp thời về cấp dự báo cháy rừng”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 15/3) đầu trang(
Dự án đầu tư xây dựng nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 – 2020 vừa được UBND tỉnh thông qua quyết định phê duyệt và giao cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam làm chủ đầu tư.
Đây là lần đầu tiên Chi cục Kiểm lâm tỉnh chịu trách nhiệm thực thi một dự án về phòng cháy chữa cháy rừng bài bản, có nguồn đầu tư lớn, được lãnh đạo tỉnh đặt vấn đề quan tâm đúng mức.
Theo đó, dự án tập trung vào các phần việc như ưu tiên đầu tư, nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng bằng việc xây dựng phần mềm cảnh báo cháy rừng và quản trị, điều hành công việc trực tuyến; Xây dựng mô hình quản lý lửa rừng thống nhất; Nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); xây dựng quy ước, ký cam kết thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, PCCCR; tổ chức diễn tập chữa cháy rừng và đào tạo, tập huấn công tác chữa cháy rừng.
Cạnh đó, dự án đặc biệt quan tâm dành nguồn kinh phí để đầu tư phương tiện, trang thiết bị phục vụ PCCCR. Được biết, theo tính toán ban đầu tổng mức đầu tư dự án trên 60 tỷ đồng, từ nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách Trung ương cùng vốn Chương trình Phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 và vốn đối ứng ngân sách tỉnh. Dự án được thực hiện từ năm 2016 - 2020.
Mục tiêu dự án là nâng cao năng lực, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng từ tỉnh đến huyện, xã; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng, chủ rừng, các ngành và các cấp chính quyền địa phương về công tác phòng cháy, chữa cháy nhằm tăng cường khả năng kiểm soát phòng và chữa cháy kịp thời, hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Nam 14/3) đầu trang(
Chiều 14/3, UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng năm 2015 và giai đoạn 2011-2015; phương hướng, nhiệm vụ năm 2016 và giai đoạn 2016-2020. Đồng chí Hoàng Viết Đường - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tỉnh chủ trì hội nghị.
5 năm qua (giai đoạn 2011-2015), diện tích rừng của tỉnh cơ bản được quản lý, bảo vệ tốt, hàng năm độ che phủ rừng đều tăng (hiện nay đạt 57%). Các khu rừng giàu tài nguyên, trữ lượng lâm sản lớn đang được bảo vệ.
Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh xảy ra 114 vụ cháy với diện tích hơn 434 ha. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng được chú trọng và lực lượng chức năng đã phát hiện hơn 5.600 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, lâm sản tịch thu gần 11.490 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách hơn 95 tỷ đồng.
Về kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đã hoàn thành 100% chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ phát triển rừng bao gồm: bảo vệ hơn 4.459.500 lượt ha, khoang nuôi tái sinh 195.101 lượt ha, trồng rừng 63.285 ha, trồng hơn 12 triệu cây phân tấn, chăm sóc 104.380 lượt ha…
Khai thác sử dụng rừng, trong đó khai thác gỗ rừng tự nhiên hơn 29.408 m3, khai thác gỗ rừng trồng 2.144.200 m3 và giải quyết việc làm, thu nhập cho 47.500 hộ dân. Tổng nguồn vốn huy động đầu tư cho kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015 gần 1.990 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách nhà nước là 348 tỷ đồng…
Mục tiêu thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016-2020 là xây dựng và ổn định 3 loại rừng. Tạo lập được các khu rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đảm bảo hạn chế tối đa lũ ống, lũ quét, ngăn chặn bảo vệ các công trình hạ tầng, dân cư và đồng ruộng . Nâng cao tỷ trọng của sản xuất lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tăng dần tỷ trọng của chế biến, xuất khẩu lâm sản trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, đảm bảo từng bước tham gia vững chắc hội nhập khu vực và quốc tế về thị trường lâm sản…
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Hoàng Viết Đường – Phó chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận và đánh giá cao kết quả của công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2015, đồng thời đề nghị trong thời gian tới các cơ quan, địa phương cần tập trung thực hiện tốt công tác khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng; tiến hành kiểm kê, rà soát thực trạng rừng, đất rừng; thực hiện việc chuyển đổi, sắp xếp các Công ty nông lâm trường.
Có kế hoạch quản lý bảo vệ rừng chặt chẽ cho từng loại rừng, đồng thời tăng cường các giải pháp PCCCR. Kiện toàn lực lượng kiểm lâm để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng. Bên cạnh đó, tập trung tuyên tuyền, vận động nhân dân tham gia trồng rừng liên kết với các doanh nghiệp trong sản xuất, phát triển rừng, tạo sự đổi mới theo hướng tái cơ cấu nghề rừng, gắn với đầu tư nhà máy chế biến các sản phẩm từ gỗ đảm bảo phát triển bền vững.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị các ngành chức năng và địa phương tăng cường công tác phối hợp đồng bộ để thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng. Lồng ghép hiệu quả các chương trình dự án phát triển rừng. Tăng cường việc tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Chủ động phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, kiên quyết đấu tranh, chấm dứt tình trạng khai thác, phá rừng trái pháp luật… (Báo Nghệ An 14/3; Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 14/3) đầu trang(
Hiện nay nhiều thôn bản trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã thành lập tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng. Các tổ này đi vào hoạt động đã phát huy được tinh thần tự chủ động trong công tác tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng, tình trạng cháy rừng cũng không còn xảy ra.
Đây là buổi phát quang rừng của người dân bản Chu va 12, xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Năm 2012, bản Chu va 12, thống nhất thành lập Tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng . Nhiệm vụ của tổ là canh gác, bảo vệ và phòng cháy rừng. Để đảm bảo an toàn cho rừng, tổ bảo vệ rừng thường phải thực hiện nhiệm vụ từ 5h đến 19h, đặc biệt là vào mùa khô. Nhờ có tổ bảo vệ này, 3 năm trở lại đây, khu vực bản Chu Va 12 đã giảm hẳn tình trạng chặt phá và không còn xảy ra cháy rừng
Anh Sùng A Giảng, Phó trưởng bản Chu Va 12, Xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, Lai Châu: Sau khi ban quản lý rừng phòng hộ giao khoán rừng cho bản chúng tôi, chúng tôi phân công 4 tổ thường xuyên có mặt tại chỗ để trực. Do vậy cách đây 3 năm chúng tôi đã không để xảy ra cháy rừng.
Ông Nguyễn Đình Thượng, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Đường, tỉnh Lai Châu: Các tổ chuyên trách bảo vệ rừng các bản đã tổ chức hoạt động nghiêm túc có hiệu quả, trong đó các tổ đã xây dựng quy chế hoạt và phân phối thu nhập từ dịch vụ môi trường rừng, duy trì được một lực lượng lớn và thường xuyên để tham gia công tác tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng, tham gia chữa cháy nếu có cháy thảm thực vật.
Toàn tỉnh Lai Châu, hiện có trên 990 Tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng tại hầu hết xã, góp phần giảm rõ rệt tỉ lệ cháy rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Lâm Đồng 14/3) đầu trang(
Ý thức về bảo vệ và phát triển rừng của đồng bào ở Lai Châu đã được nâng lên, số vụ cháy rừng giảm rõ rệt qua từng năm.
Tại nhiều thôn bản trong tỉnh đã thành lập được tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng. Các tổ đi vào hoạt động đã phát huy được tinh thần chủ động trong công tác tuần tra, kiểm soát và bảo vệ rừng. Cũng qua đây, người dân đã gắn quyền lợi của bản thân mình vào rừng.
Đối với đồng bào dân tộc Mông ở bản Chu Va 12, xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, vụ cháy rừng vào thời điểm Tết Âm lịch năm 2010 là một ký ức không thể nào quên. Anh Sùng A Giảng, Phó trưởng bản Chu Va 12 nhớ lại, mùa khô hanh năm ấy, ngọn lửa bùng phát tại khu vực rừng Quốc gia Hoàng Liên.
Vùng cháy rừng trông thấy tận mắt, nhưng phải đi mất nửa ngày mới đến nơi. Người dân cùng các lực lượng chức năng đã phải ăn ngủ trên rừng để dập lửa; có tối, mọi người phải nhịn đói vì lương thực không thể vào được đến nơi. Sau ba ngày đối mặt, lửa đã được dập tắt hoàn toàn...
Chính từ vụ cháy rừng kinh hoàng đó, người dân bản Chu Va 12 đã dần ý thức được việc cần phải bảo vệ rừng. Bản Chu Va 12 có 96 hộ đều là dân tộc Mông. Năm 2012, sau vài lần họp, người dân trong bản đã thống nhất thành lập Tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng; trong tổ lại chia thành 5 nhóm để thay nhau canh gác rừng, cũng như xây dựng 2 chòi canh kiên cố để thường xuyên quan sát rừng.
Anh Hàng A Tính chia sẻ: "Vào thời gian mùa khô, những ngày nắng nóng, dễ xảy ra cháy rừng, các tổ được chia ra theo tháng để trực. Bản thân tôi thời điểm này cũng đang trực rừng. Người nào trực đều phải đi rừng từ 5 giờ sáng để tới vị trí chòi canh, đến 7 giờ tối mới về nhà. Việc ăn uống hằng ngày đều phải mang cơm nắm, khoai sắn và nước đi". Chính nhờ phân công cụ thể công việc cho từng nhóm bảo vệ rừng của bản, mà 3 năm trở lại đây, khu vực bản Chu Va 12 không còn xảy ra cháy rừng.
Hiện toàn huyện Tam Đường có trên 130 tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng như bản Chu Va 12; số diện tích rừng được nhận khoán bảo vệ là trên 31.000 ha. Để đạt hiệu quả cao, các tổ chuyên trách đều có quy chế hoạt động cụ thể. Trong đó, Tổ trưởng phải là Trưởng bản; các thành viên trong tổ là đại diện các hộ gia đình trong bản, mỗi hộ phải có 1 thành viên tham gia để bảo vệ diện tích rừng chung.
Nhiệm vụ của tổ là tuyên truyền và vận động nhân dân trong bản ký kết thực hiện các quy định về bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy rừng và thực hiện các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; xây dựng kế hoạch tuần tra, phân công ứng trực 24/24 giờ trong thời gian cao điểm mùa hanh khô....
Đặc biệt, kinh phí duy trì hoạt động của tổ chuyên trách được trích từ số tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm của thôn bản; cụ thể số tiền chích tùy thuộc theo thống nhất của từng thôn bản. Chi phí ấy sẽ dùng để hỗ trợ cho các thành viên khi tham gia tuần tra, canh gác bảo vệ rừng, chữa cháy rừng, mua sắm dụng cụ cần thiết cho công tác quản lý bảo vệ rừng...
Ông Nguyễn Trọng Lịch, Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lai Châu cho biết, với trên 990 Tổ chuyên trách tại hầu hết các bản của tỉnh đã giảm rõ rệt các vụ cháy rừng. Năm 2015, tỉnh Lai Châu chỉ xảy ra 8 vụ cháy rừng, với diện tích khoảng 15 ha. (Tin Tức 13/3) đầu trang(
Trong tháng 2-2016, Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa đã phối hợp với các ngành chức năng, các đơn vị và chủ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nhiều khu vực rừng trên địa bàn.
Qua công tác tuần tra kiểm soát, đã bắt giữ và xử lý được 16 vụ vi phạm lâm luật, thu giữ hơn 22,9m3 gỗ các loại. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm Lâm huyện Tuyên Hóa còn chú trọng xử lý tình trạng lấn chiếm rừng và đất rừng trái pháp luật; tăng cường công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng; đẩy mạnh quản lý nhà nước đối với các cơ sở cưa xẻ, chế biến gỗ trên địa bàn...
Được biết, trong năm 2015, huyện Tuyên Hóa đã phát hiện và lập biên bản xử lý 114 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 206,683m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách trên 696 triệu đồng. (Báo Quảng Bình 14/3) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh Khánh Hòa phối hợp với các địa phương và chủ rừng tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Qua đó, phát hiện 91 vụ vi phạm, tịch thu 71,37m3gỗ các loại, thu nộp ngân sách 804,4 triệu đồng. Ngoài nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng đang tập trung triển khai phương án phòng, chống cháy rừng trong cao điểm mùa khô năm nay.
Trong công tác phát triển rừng, các đơn vị và địa phương đang tiến hành nghiệm thu, phúc tra và thanh quyết toán các công trình lâm sinh; đồng thời, tiến hành khảo sát, lập hồ sơ thiết kế để chuẩn bị cho kế hoạch trồng rừng năm 2016. (Báo Khánh Hòa 14/3) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối tượng Hạ Đình Nhuy, SN 1990, trú tại thôn Bản Vén, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 8/2013 đến tháng 11/2015, Nhuy đã dùng cưa lốc chặt hạ trái phép 8 cây gỗ nghiến tại khoảnh 116, tiểu khu 378, khu rừng Thôm Phát thuộc thôn Khau Cà, xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông với tổng khối lượng hơn 40m3.
Sau khi khai thác, Nhuy đã thuê dân địa phương dùng trâu kéo vận chuyển số gỗ trên cất giấu tại nhà bố vợ thuộc thôn Thôm Phụ, xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông. Hiện số gỗ này đã bị tạm giữ để chờ xử lý. (ANTV 12/3) đầu trang(
Sáng 14-3, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: Thực hiện sự chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy Bắc Cạn, sáng 14-3, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn chuyển giao toàn bộ hồ sơ vụ việc liên quan đến việc khai thác, vận chuyển gốc cây gù hương cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an tỉnh Bắc Cạn) xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, ngày 20-2, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng chống cháy rừng số 1 (thuộc Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn) bắt giữ xe ô-tô mang biển kiểm soát 20C-078.80 vận chuyển một gốc cây gỗ rừng tự nhiên có hình thù phức tạp, có dấu búa kiểm lâm số KL 1270.
Sau đó, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đưa mẫu gốc cây đi giám định tại Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, xác định: Đây là gốc cây gù hương, thuộc nhóm IIa, loại gỗ quý hiếm, hạn chế khai thác, sử dụng (Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới có quyền cấp phép khai thác, sử dụng).
Ông Hải khẳng định: “Sau khi có kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn sẽ có căn cứ để xử lý nghiêm cơ quan, cá nhân thuộc quyền quản lý của Chi cục Kiểm lâm trong việc xác định nguồn gốc lâm sản, đóng dấu búa kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông”.
Gốc cây gù hương nêu trên có giá trị vài tỷ đồng. Trong hồ sơ liên quan đến việc khai thác, vận chuyển gốc cây này, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Bạch Thông đã xác nhận nguồn gốc, đóng dấu búa kiểm lâm vào gốc cây nêu trên. (Nhân Dân 14/3) đầu trang(
Tháng 12/2015, báo Người Đưa Tin đã khởi đăng loạt bài phản ánh về việc nhiều cánh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng trong khu vực huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang đang "chảy máu" do nạn chặt, phá rừng diễn ra trầm trọng trên địa bàn.
Địa điểm bị lâm tặc khai thác nằm trên đỉnh một ngọn núi thuộc khu vực Lũng Lừa (tên gọi của người dân địa phương) thuộc xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang... Nơi đây có nhiều cây nghiến đã bị lâm tặc đốn hạ và vận chuyển chỉ còn trơ gốc và nhiều cây nghiến cổ thụ đang chờ bị “xẻ thịt”.
Ba tháng sau (2/2016), trên địa bàn xã Năng Khả (huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) nơi lâm tặc ngang nhiên khai thác gỗ nghiến một cách “rầm rộ”. Trước đó không lâu, xã Năng Khả (Na Hang) luôn là điểm nóng về khai thác gỗ trái phép, trong số đó gỗ nghiến (thuộc nhóm gỗ quý hiếm 2A) được các đối tượng tìm nhiều cách khác nhau để khai thác.
Một địa điểm khác thuộc khu vực khe Khuổi Bốc, thôn Nà Chao (xã Năng Khả, huyện Na Hang) nơi được cho là đã có dấu chân của “lâm tặc” đi qua. Có lẽ vì giá trị kinh tế của gỗ nghiến ngoài thị trường quá lớn nên bọn lâm tặc mới bất chấp gian khổ để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng. Thậm chí, lâm tặc còn không tiếc tay chặt hạ những cây gỗ nhỏ trong rừng để bắc thành đường vắt qua khe suối sâu thăm thẳm.
Mục đích của “lâm tặc” là sau khi đốn hạ nghiến, bằng mọi cách vận chuyển trót lọt gỗ quý ra khỏi rừng để đem đi tiêu thụ. Bất chấp gian khổ, thậm chí là qua mặt cơ quan chức năng.
Nhưng nếu rừng không có gỗ quý, và cán bộ bảo vệ rừng không lơi lỏng trong công tác quản lý, móc nối thậm chí là tiếp tay cho “lâm tặc” phá rừng thì tiếng chim hót trong trẻo không thảng thốt bởi tiếng cưa máy.
Không chỉ riêng huyện Na Hang, Lâm Bình mới xảy ra tình trạng “lâm tặc” vào rừng đốn hạ nghiến mà trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang cũng xảy ra tình trạng này.
Điểm chung của các đối tượng “lâm tặc” khi vào rừng, dụng cụ mà bọn lâm tặc mang theo để vào rừng lấy gỗ là những chiếc cưa máy có lam dài khoảng 1m. Chỉ loại cưa này mới có thể cưa được những cây nghiến già có đường kính lớn. Một cây nghiến lớn đến đâu nhưng vào tay lâm tặc vài phút cũng gục ngã và bị xẻ thành từng thớt gỗ hoặc những thanh, phách vuông vắn.
Sau đó nhóm trộm gỗ lăn xuống chân rừng và vận chuyển đi tiêu thụ bằng tàu thuyền, hoặc khuân vác xuống bìa rừng nơi có những chiếc ô tô 7 chỗ chờ sẵn. Khi gặp lực lượng kiểm lâm, chúng sẵn sàng chống trả để bảo vệ hàng. Nếu vẫn bị truy đuổi, chúng sẵn sàng "bỏ của chạy lấy người" theo đường thủy đến địa phương khác hoặc lẩn trốn vào sâu trong rừng.
Được biết, sau khi xảy ra vụ việc “lâm tặc” vào đốn hạ rừng tại khu vực xã Năng Khả, huyện Na Hang, nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra đã tìm đến khu vực phá rừng nói trên để kiểm tra nhưng vẫn là chưa đủ. Tại sao, chỉ đến khi lâm tặc đã đốn hạ và vận chuyển hết nghiến mới đi kiểm tra để khắc phục hậu quả mà không có những biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu.
Trong quá trình điều tra, PV báo Người đưa tin bất ngờ phát hiện ra một xưởng chế biến gỗ khá lớn, điều bất ngờ ở đây là xưởng chế biến gỗ này có quan hệ khá rộng với một quan chức cấp cao tại tỉnh Tuyên Quang?.
Điều này cũng lý giải tại sao, các cơ quan chức năng các huyện Na Hang, Lâm Bình "khó" ra tay xử lý. Phóng viên sẽ tiếp tục cung cấp tới bạn đọc nội dung này khi có những thông tin mới nhất. (Người Đưa Tin 15/3) đầu trang(
Thời gian qua, tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là khai thác, vận chuyển gỗ làm trụ tiêu bằng các loại phương tiện như ôtô, xe càng, xe máy độ chế trên địa bàn huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông diễn biến phức tạp. Hành vi của các đối tượng không chỉ gây thiệt hại tài nguyên rừng mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của người dân và các cơ quan chức năng.
Trước tình hình trên, Công an huyện Đắk Song đã triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, ra quân truy quét, lập lại trật tự công tác quản lý bảo vệ rừng; đồng thời, xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng, khai thác gỗ trái phép trên địa bàn. Chỉ trong thời gian ngắn, Công an huyện Đắk Song đã phối hợp bắt giữ hàng chục vụ khai thác, vận chuyển gỗ, thu giữ gần 1.000 trụ tiêu bằng gỗ các loại, hàng chục xe máy độ chế cùng nhiều tang vật có liên quan.
Mới đây nhất vào tối 1-3, qua công tác tuần tra kiểm soát, tổ công tác của Công an huyện Đắk Song đã phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang 4 thanh niên ở xã Đắk Ndrung, huyện Đắk Song đang dùng xe máy độ chế vận chuyển lâm sản trái phép. Lực lượng chức năng đã lập biên bản thu giữ 18 trụ tiêu bằng gỗ tạp, 1 cưa lốc, 4 xe máy độ chế.
Theo lời khai của các đối tượng, do cuộc sống khó khăn nên các đối tượng rủ nhau vào rừng khai thác gỗ rồi dùng xe máy độ chế vận chuyển đi bán cho người dân với giá từ 120.000đ đến 130.000đ/trụ gỗ. Mỗi xe vận chuyển từ 4 - 6 trụ gỗ dài từ 3,5 - 4m. Thời gian vận chuyển thường vào ban đêm.
Cũng theo các đối tượng thì việc khai thác gỗ như vậy là vi phạm pháp luật và việc vận chuyển gỗ bằng xe máy độ chế khi tham gia giao thông là nguy hiểm cho chính bản thân và người tham gia giao thông nhưng vì cuộc sống và để có tiền nên các đối tượng vẫn làm.
Theo Trung sỹ Trần Đức Anh, Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song: “Để thuận tiện cho việc vận chuyển lâm sản, các đối tượng đã độ chế các loại xe máy như hàn thêm các thanh sắt ở trước và sau có tác dụng để kê các thanh gỗ 2 bên. Một chiếc xe máy như thế các đối tượng có thể vận chuyển từ 4 - 8 trụ tiêu bằng gỗ. Đặc biệt khi gặp lực lượng chức năng, các đối tượng phóng nhanh và tìm mọi cách chống đối để tránh bị bắt giữ thì sẽ gây nguy hiểm cho chính bản thân, người tham gia giao thông và lực lượng chức năng. Điển hình vào tháng 3-2014, một số đối tượng dùng xe máy độ chế vận chuyển lâm sản trái phép, khi gặp lực lượng chức năng, các đối tượng chạy với tốc độ rất nhanh và đâm thẳng vào tổ tuần tra. Hậu quả, một đồng chí cán bộ bảo vệ rừng của Công ty TNHH một thành viên Đắk NTao, huyện Đắk Song bị thương rất nặng và đã không qua khỏi”.
Đắk Song là huyện trọng điểm của tỉnh Đắk Nông về diện tích trồng cây hồ tiêu và chiếm 1/3 diện tích diện tích cây hồ tiêu toàn tỉnh Đắk Nông. Những năm gần đây giá hồ tiêu tăng cao và ổn định nên nhiều người dân đua nhau mở rộng diện tích. Do nhu cầu về trụ tiêu tăng cao, trong đó có trụ tiêu bằng gỗ nên các đối tượng đã vào rừng khai thác gồ, dùng xe càng và xe máy độ chế vận chuyển về bán cho người dân với giá từ 100.000 - 220.000 đồng/trụ.
Trung tá Nguyễn Đức Thùy, Phó trưởng Công an huyện Đắk Song cho biết, trước tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là khai thác, vận chuyển trụ tiêu bằng xe máy độ chế, xe càng diễn biến phức tạp, Công an huyện Đắk Song đã triển khai kế hoạch ra quân đấu tranh, truy quét mạnh, đồng thời thành lập 3 tổ công tác phối hợp với các lực lượng chức năng như chính quyền địa phương, kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng tổ chức tuần tra, chốt chặn, truy quét để đấu tranh với những đối tượng hủy hoại rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép, trong đó có khai thác, vận chuyển trụ tiêu bằng gỗ trái phép.
Bên cạnh đó, lực lượng Công an còn phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ. Qua đó làm cho người dân hiểu rõ về những quy định của pháp luật trong công tác quản lý bảo vệ rừng cũng như sự nguy hiểm và tác hại của việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua các đợt truy quét, lực lượng Công an đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ khai thác, vận chuyển trụ tiêu bằng gỗ, thu giữ gần 1.000 trụ tiêu bằng gỗ các loại, hàng chục xe máy độ chế, nhiều cưa lốc, góp phần đảm bảo ANTT trên địa bàn. (Công An Nhân Dân 15/3) đầu trang(
Vào khoảng 14h15 phút chiều nay 11-3, tổ công tác của Đội CSGT số 15, Phòng CSGT đường bộ - đường sắt, CATP Hà Nội gồm Đại úy Bùi Thanh Tuấn, Trung úy Vũ Thanh Sơn, Trần Vũ Hiếu do Đại úy Vũ Xuân Hà Thái chỉ huy, làm nhiệm vụ tại km 10+800 đường Võ Văn Kiệt phát hiện xe ô tô tải mang BKS 88H-6614 vi phạm Luật Giao thông đã ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên thùng xe tải chở 4 khúc gỗ sưa khá lớn. Lái xe Hà Văn Tần (SN 1987, ở Vĩnh Phúc) cùng chủ hàng là Nguyễn Văn An (SN 1991, Tam Dương, Vĩnh Phúc) và Nguyễn Văn Thu (SN 1975, ở Tam Đảo, Ba Vì).
Đấu tranh tại chỗ, hai chủ hàng Nguyễn Văn An và Nguyễn Văn Thu tường trình 4 khúc gỗ trên xe là gỗ sưa được cả hai mua với giá 7 triệu đồng để mang về trồng. Tuy nhiên, cả hai không xuất trình được giấy tờ, chứng từ, hóa đơn chứng minh nguồn gốc xuất sứ của số gỗ sưa này. Tổ công tác đã bàn giao vụ việc đến CAH Sóc Sơn để tiếp tục điều tra làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 12/3) đầu trang(
Ngày 11/3/2016, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tràm Chim kết hợp Công an huyện Tam Nông đã tổ chức tiêu hủy 12 chiếc xuồng, 19 bình ắc qui và 22 bộ xung điện dùng để đánh bắt thuỷ sản mang tính huỷ diệt.
Đây là những tang vật đã bị lực lượng Kiểm lâm cơ động Phòng cháy chữa cháy rừng Vườn Quốc gia Tràm Chim và Công an huyện Tam Nông tuần tra, phát hiện và bắt giữ của những đối tượng xâm nhập trái phép vào Vườn Quốc gia Tràm Chim để đánh bắt và khai thác thủy sản bằng xung điện… từ tháng 6/2015 đến cuối năm 2015. (Dân Trí 13/3) đầu trang(
Đầu tháng 3-2016, sau khi xem lại các bức ảnh một gia đình sếu đầu đỏ vừa chụp được, ông Nguyễn Văn Hùng - giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim, Đồng Tháp - bất ngờ phát hiện một con sếu vốn là “cư dân” của vườn 18 năm về trước.
Đó cũng chính là con sếu đầu đỏ mà vào ngày 14-3-1998, ông Hùng đã cùng các chuyên gia quốc tế và trong nước đã bắt, gắn máy định vị và đeo vòng số 150-0364 vào chân. Khi ấy con sếu này mới 3 tuổi.
Ngày 12-3, trời còn chưa sáng hẳn, ông Hùng đã sẵn sàng đầy đủ máy ảnh, ống kính với đồng phục ngụy trang đứng nép sẵn trong rặng tre bên bờ cỏ năng rộng hơn 1.000ha ngay giữa tiểu khu A1, trung tâm của vườn. Đây cũng chính là cánh đồng năng mà mỗi mùa xuân, sếu đầu đỏ lại tìm về đây kiếm thức ăn để rồi trở thành một biểu tượng của VQG này.
Đến trưa cùng ngày, theo hướng chỉ tay của ông Hùng, chúng tôi đã được “diện kiến” đàn sếu bốn con, trong đó có con sếu “18 năm trở về” giữa cánh đồng cỏ năng bạt ngàn của VQG Tràm Chim.
Xa xa, đàn chim chao lượn một vòng, đủ để ống kính 400 của ông Hùng chụp được một khoảnh khắc, rồi lại bay đi mất hút về phía rừng tràm. Vẫn chưa hết phấn khích khi chụp hình được chính con sếu mà mình đã từng ôm ấp, vỗ về cho ăn uống 18 năm trước, ông Hùng kể:
“Bữa đó tôi đi chụp cả ngày, tối về đổ ảnh ra xem thì thấy bức ảnh của con sếu có vòng khuyên, dù đã khá khuya nhưng tôi vẫn soạn ngay một bức thư cho ông Jeb Barzen, thành viên Quỹ Sếu quốc tế đang ở Mỹ, cùng với các tấm hình”.
Một ngày sau đó, ông Jeb Barzen đã có thư trả lời, xác định đó chính là vòng khuyên đỏ mang dòng số 150-0364, được chính ông đeo vào chân con sếu tại khu vực A4 ở VQG Tràm Chim vào ngày 14-3-1998.
Theo ông Hùng, đó là thời điểm Hội Sếu quốc tế, Viện Nghiên cứu điểu học hoàng gia Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường (ĐH Quốc gia Hà Nội), ban quản lý VQG này cùng thực hiện dự án đeo vòng khuyên và đặt máy định vị để nghiên cứu về quá trình di chuyển và tập quán của sếu.
Tại thời điểm đó, ông Hùng đang là một chuyên viên, được tham dự trong đoàn gồm bảy người, trong đó có cả ông Jeb Barzen, cùng đi bắt sếu để gắn vòng khuyên và máy định vị.
“Lúc đó mỗi mùa xuân, đàn sếu về ăn tại đồng cỏ năng này có hơn cả trăm con. Chúng tôi phải mất một năm để chuẩn bị và gần cả tháng trời mới đặt xong được vòng cho bảy con sếu từ 3-5 tuổi, có cả đực và cái” - ông Hùng nhớ lại.
Những con sếu này được đặt các vòng nhựa mang màu sắc khác nhau, cùng với một vòng nhôm đánh số thứ tự, trong đó có bốn con được chính ông Hùng gắn máy định vị, sau đó được các thành viên trong đoàn thay phiên nhau chăm sóc trước khi thả chúng về lại môi trường.
Việc đặt máy định vị lúc bấy giờ đã giúp xác định được đường đi ăn hằng năm của sếu đầu đỏ, và phác họa được những bãi ăn ưa thích của chúng ở Việt Nam như Tràm Chim, Kiên Giang, Tây Ninh và trên đất Campuchia.
“Đến nay, con sếu này đã 21 tuổi nhưng nhìn vẫn không khác xưa là bao” - ông Hùng nói thêm.
Đây không phải là lần đầu tiên ông Hùng chụp được ảnh những con sếu đầu đỏ đã từng được gắn vòng khuyên để nghiên cứu. Năm 2006, ông Hùng cũng từng chụp được ba con sếu đầu đỏ có mang khuyên chân trong cùng một gia đình sếu đầu đỏ về ăn ở Tràm Chim.
10 năm trước, đàn sếu đầu đỏ về ăn ở Tràm Chim vẫn còn nhiều. Việc chụp những con sếu mang vòng khuyên lúc đó đối với ông Hùng chỉ là niềm vui khi con sếu đã không còn sang chấn tâm lý, trở lại ăn bình thường. Nhưng lần này thì khác, những năm gần đây lượng sếu đầu đỏ trở về Tràm Chim mỗi mùa xuân đang có xu hướng giảm dần.
Từ tháng 1-2016 đến nay, ông Hùng chỉ mới ghi nhận được đàn sếu 15 con, gồm hai gia đình bốn con, hai cặp đực cái và một gia đình ba con trở về ăn ở cánh đồng năng giữa VQG Tràm Chim.
“VQG Tràm Chim là một khu ramsar, vùng nước ngập được bảo tồn gần như nguyên thủy. Và sếu đầu đỏ là biểu tượng nơi đây, nhưng việc đàn sếu đầu đỏ ngày càng ít đi đã khiến những người bảo tồn lo ngại” - ông Hùng nói.
Sinh ra và lớn lên ở vùng này, 26 năm làm công tác ở VQG Tràm Chim, ba lần có ý định phải bỏ nơi đây vì cuộc sống, cuối cùng ông Hùng vẫn còn trụ lại vì thấy mình thật sự là một phần của thiên nhiên nơi đây. Việc gặp lại con chim 18 năm trước như giúp ông Hùng nhìn lại cả quãng đường cố gắng bảo tồn loài chim quý hiếm này.
“Việc phát hiện con sếu trở lại sau 18 năm có thể nói là một chuyện khá hi hữu, vì đã 10 năm rồi tôi không chụp được hình con sếu nào có đeo vòng khuyên trở về” - ông Hùng cho biết.
Điều đặc biệt hơn, theo ông Hùng, con sếu này còn có cả một gia đình mới với bốn thành viên và khỏe mạnh.
“Nó là động lực để tôi cùng những nhân viên VQG Tràm Chim cố gắng tiếp tục phấn đấu công tác bảo tồn cũng như tuyên truyền về ý thức bảo vệ thiên nhiên” - ông Hùng khẳng định.
Tuy nhiên, ông Hùng cho rằng vẫn chưa thể nhận định gì mang tính khoa học về câu chuyện này, mà cần phải nghiên cứu thêm. Cũng theo ông, VQG đang phối hợp với Hội Sếu quốc tế và ĐH Khoa học tự nhiên xây dựng đề án nghiên cứu và phục hồi đàn sếu, hiện đang xin kinh phí địa phương.
Ngày 12-3, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Văn Dương - chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - cho biết địa phương đã chính thức phê duyệt đề án này. Theo ông Dương, không riêng gì VQG Tràm Chim, thông tin con sếu đầu đỏ trở về sau 18 năm lưu lạc cũng đem lại một niềm vui cho những lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp.
“Sếu đầu đỏ là biểu tượng của VQG Tràm Chim và hình ảnh con sếu đầu đỏ trở về sau 18 năm lưu lạc sẽ giúp cho hình ảnh của VQG này trở nên đẹp hơn, hi vọng nó sẽ kéo thêm du khách về đây” - ông Dương nói. (Tuổi Trẻ 13/3) đầu trang(
Các nhà khoa học vừa công bố thêm loài ếch mới được tìm thấy ở Cao Bằng cho thấy tiềm năng đa dạng sinh học của hệ sinh thái núi đá vôi Đông Bắc Việt Nam.
Loài ếch đá mut-x-man tên khoa học Odorrana mutschmanni có kích thước lớn, con cái lớn hơn con đực. Chiều dài thân ở con đực 85-91 mm và 108-110 mm ở con cái. Phần trên đầu và phía trước lưng của chúng nhẵn, phần sau của lưng và hai bên sườn sần với các hạt nhỏ.
Loài mới được đặt theo tên của tiến sĩ Frank Mutschmann, Giám đốc Viện thú y EXOMED ở Berlin (Đức), nhằm vinh danh và ghi nhận những đóng góp của ông trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Nghiên cứu là kết quả hợp tác của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng các đồng nghiệp ở Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Vườn thú Cologne và Đại học Cologne (Đức). (VnExpress 14/3) đầu trang(
Vào ngày 14-3, lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để điều tra nguyên nhân cái chết của một cá thể bò tót tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.
Trước đó, vào hồi 17 giờ ngày 13-3, lực lượng kiểm lâm Trạm Kiểm lâm Rang Rang đã phát hiện tại Khoảnh 2, Tiểu khu 98, Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai (địa giới hành chính thuộc ấp 5, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu) có cá thể bò tót chết là giống đực khoảng hơn 10 năm tuổi, nặng 800kg, lông màu đen và các bộ phận trên cơ thể vẫn còn nguyên, chỉ có 2 vết rách da vùng bả vai phải và vết thương vùng bụng. (Báo Đồng Nai 14/3; Tuổi Trẻ 15/3) đầu trang(
Trên thế giới, hành trình khám phá thiên nhiên hoang dã, còn được biết đến với tên Safari, từ lâu đã là một loại hình du lịch được ưa chuộng. Tại Việt Nam, tuy chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây, nhưng Safari đã kịp thu hút sự chú ý và quan tâm của dư luận.
“Safari” trong ngôn ngữ của tộc người Swahili ở Châu Phi có nghĩa là “chuyến hành trình”, dùng để chỉ những cuộc hành trình để săn bắn và tìm kiếm thực phẩm, hay những chuyến di cư đến vùng đất mới của người Châu Phi cổ. Năm 1850, khái niệm thám hiểm Safari lần đầu tiên phổ biến với các nước phương Tây sau khi hoạ sĩ, nhà nghiên cứu sinh thái người Anh William Cornwallis Harris dẫn đầu một chuyến hành trình nghiên cứu đến Bắc Phi để lấy tư liệu cho cuốn sách về các loài động thực vật trên thế giới của ông.
Kể từ đó, Safari trở thành một thú giải trí mới cho giới quý tộc yêu thích thiên nhiên và ưa mạo hiểm ở Anh và nhiều nước Châu Âu khác, những người đã quá chán ngán phải ngắm nhìn muông thú trong những cái chuồng nhỏ bé ở thảo cầm viên. Nhận thấy tiềm lực kinh tế vô giá từ loại hình du lịch này, đầu những năm 1910, chính phủ Châu Phi bắt đầu xây dựng những khu sinh thái chuyên dành cho khách tham quan có thể thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên hoang dã và tập tính sinh hoạt của các loài động vật đặc trưng của Phi Châu.
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, cơn sốt Safari bắt đầu lan toả khắp thế giới. Chính phủ các nước khắp năm châu bắt đầu tiến hành xây dựng những khu du lịch khám phá thiên nhiên ngay tại chính quốc để giữ chân người dân trong nước, đồng thời thu hút thêm du khách quốc tế. Tuy nhiên, vì thiếu thế mạnh về địa hình hoang mạc rộng lớn, sự đa dạng sinh thái, cũng như lượng hướng dẫn viên lành nghề trong việc thám hiểm, nên đa số các khu Safari này chỉ dừng lại ở mức “Safari công viên”, “Safari bán hoang dã” hay “Safari mini”.
Điển hình của dạng Safari này ở khu vực Châu Á có thể kể đến Safari World ở Thái Lan, Night Safari ở Singapore hay Vinpearl Safari ở Phú Quốc. Điểm chung của các khu Safari này là diện tích nhỏ, không gian tự nhiên bị che lấp bởi các công trình nhân tạo, còn thú rừng không hoạt động tự do mà được nuôi thả trong các khu riêng biệt, trông không khác gì so với một vườn bách thú cỡ lớn. So với các khu Safari rộng lớn của Châu Phi, nơi du khách có thể tận mắt chứng kiến bầy sư tử đuổi bắt và xé xác một con mồi, thì các khu Safari “hiền hoà” này có một khoảng cách rất lớn.
Vào cuối tháng 2/2014, UBND tỉnh Long An đã phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Vườn thú Mỹ Quỳnh tại xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa (cách trung tâm TP.HCM khoảng 30 km) do Công ty Cổ phần Vườn thú Mỹ Quỳnh làm chủ đầu tư. Điều đáng chú ý là dự án 280 tỉ đồng này được định hướng sẽ là khu Safari đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo mô hình quốc tế với hơn 3000 loài động vật hoang dã đến từ châu Phi, Việt Nam và nhiều nước khác.
Dự kiến khu vườn thú sẽ được phân ra 3 khu lớn gồm: đảo tê giác và chim, khu họ mèo lớn, gấu, bò sát và khu thú móng guốc. Khi đến đây, du khách sẽ trải nghiệm cảm giác phiêu lưu kỳ thú trên xe địa hình và tham quan các con thú được thả rông theo đúng môi trường hoang dã châu Phi thực tế. Nếu dự định này thực sự thành công, thì đây quả là một tín hiệu vui cho ngành du lịch trong nước vì hiện trên thế giới không nhiều quốc gia có khả năng xây dựng một khu Safari đúng “chuẩn” Châu Phi.
Tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất được đặt ra là bên đầu tư sẽ làm thế nào để “cải tạo” địa hình đồng bằng sông nước ở Long An trở nên thoáng đãng, rộng lớn như các khu hoang mạc Phi Châu? Liệu có phải thay thế những giống thực vật địa phương của tỉnh bằng các giống cây bụi thấp ngoại nhập để tạo “không khí”? Và các con vật sẽ thích nghi thế nào với sự khác biệt khí hậu giữa Châu Phi và Việt Nam?
Chỉ hy vọng tình trạng thú chết hàng loạt như ở Vinpearl Safari vừa qua sẽ không lặp lại. Rất nhiều câu hỏi cần có sự giải thích rõ ràng từ phía Công ty Cổ phần Vườn thú Mỹ Quỳnh trước khi công trình dự kiến hoàn thiện và khánh thành trong năm 2017. (Tầm Nhìn 14/3) đầu trang(
Để trấn an dư luận, đồng thời đảm bảo tài sản, tính mạng của nhân dân và cá thể hổ, UBND huyện Pác Nặm vừa có Công văn số 17/TB – UBND yêu cầu các xã, thị trấn tổ chức họp tuyên truyền, phổ biến tới toàn thể nhân dân biết về cá thể hổ tự nhiên là động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Theo đó, mọi trường hợp bẫy hổ, bắt không đúng quy định, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hổ đe dọa, xâm hại tài sản hoặc tính mạng của nhân dân, tổ chức hộ gia đình, cá nhân thì phải áp dụng các biện pháp xua đuổi thủ công, không gây tổn thương cho cá thể hổ. Nếu hổ tấn công đe dọa đến tính mạng của nhân dân mà áp dụng các biện pháp xua đuổi không thành thì báo cáo Chủ tịch UBND huyện để xem xét, quyết định xử lý.
Lãnh đạo huyện Pác Nặm cũng cảnh báo nhân dân không được vào rừng một mình, đặc biệt là lúc về đêm, không chăn thả gia súc vào rừng. Ông Hoàng Văn Thắm, Phó Chánh văn phòng UBND huyện Pác Nặm, cho rằng, thông tin xuất hiện hổ vẫn đang được xác minh. (Tiền Phong 15/3) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo tin từ Sở NN&PTNT, trong năm 2015, các ngành chức năng có liên quan đã thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần quan trọng trong thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo; xã hội hóa nghề rừng và huy động các nguồn lực tham gia quản lý bảo vệ rừng.
Đến nay, đã ký kết hợp đồng ủy thác với 26/26 đơn vị; lập 14 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng, qua đó xác định tổng diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng là gần 296 nghìn ha rừng tự nhiên trên địa bàn của 70 xã/11 huyện. Trong đó, giao khoán bảo vệ rừng cho hộ, nhóm hộ với diện tích hơn 234 nghìn ha/1.103 nhóm hộ, chủ rừng tự quản lý bảo vệ gần 48 nghìn ha và hơn 13 nghìn ha được chi trả từ nguồn các dự án bảo vệ rừng khác.
Tổng số tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng đạt gần 47 tỷ đồng, đạt 73% kế hoạch năm 2015 (số tiền quý IV/2015 các đơn vị nộp về Qũy theo quy định từ ngày 15/2/2016). Tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là gần 55 tỷ đồng/hơn 64 tỷ đồng, đạt 85,3%. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Nam 14/3) đầu trang(
Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp với những số liệu cập nhật, cụ thể, chính xác và nhanh nhất để đưa ra những biện pháp, giải pháp hiệu quả nhất…
Đó là phần mềm thuộc Dự án Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp Việt Nam - giai đoạn II (FOMIS II) được Bộ NN&PTNT chính thức ban hành tại Quyết định 589 triển khai bắt đầu từ tháng 2/2016 và hiện tỉnh Lâm Đồng đang tập huấn cho cán bộ kiểm lâm.
Mục tiêu của Dự án là xây dựng một hệ thống quản lý thông tin tích hợp (MIS) phục vụ công tác quản lý tài nguyên lâm nghiệp cũng như góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Các hoạt động chính bao gồm xây dựng các bộ tiêu chuẩn thông tin và cơ chế chia sẻ thông tin trong ngành lâm nghiệp. Dự án do Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Phần Lan tài trợ. Dự án bao gồm: Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng (TNR) nhằm lưu trữ dữ liệu TNR thông qua điều tra kiểm kê rừng (ĐTKKR).
Theo đó, hệ thống cập nhật tất cả những thay đổi về rừng và đất lâm nghiệp và cung cấp thông tin để đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác. Hệ thống báo cáo nhanh kiểm lâm hỗ trợ cán bộ kiểm lâm từ trung ương đến địa phương soạn thảo các báo cáo về bảo vệ rừng theo các chỉ số gồm 153 chỉ số bằng trực tuyến. Ví dụ như các vụ cháy rừng, sâu bệnh hại rừng, diễn biến TNR, thay đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, các vụ vi phạm pháp luật bảo vệ rừng…
Hệ thống cơ sở dữ liệu TNR bao gồm các bộ dữ liệu quốc gia như dữ liệu về ĐTKKR của tỉnh và toàn quốc được tích hợp từ 2013-2016; Dữ liệu về điều tra rừng từ các chu kỳ trước đây trong các năm 1990, 1995, 2000, 2005 và 2010; Bản đồ hiện trạng rừng năm 2007; Bản đồ chức năng rừng năm 2007.
Hệ thống chia sẻ dữ liệu lâm nghiệp gồm những chức năng chính như xem và tìm kiếm dữ liệu về lâm nghiệp; Các bản đồ chuyên ngành như dữ liệu về ĐTKKR, dữ liệu về đói nghèo; Báo cáo tóm tắt về dữ liệu ĐTKKR; In các báo cáo và bản đồ; Tải dữ liệu… Bên cạnh đó, toàn bộ dữ liệu được tích hợp trên đã được đưa vào hệ thống chia sẻ dữ liệu trực tuyến tại địa chỉ http://maps.vnforest.gov.vn/.
Đây là hệ thống chia sẻ dữ liệu dựa trên công nghệ Web nguồn mở hiện đại và được vận hành trên nền FORMIS. Thông qua đây, các dữ liệu được chia sẻ một cách an toàn, quyền sử dụng đối với các đối tượng người dùng được quản lý hiệu quả. Ngoài ra, ứng dụng khác như Cổng thông tin REDD+ đang được kết nối và chia sẻ trên hệ thống FORMIS.
Ông Nguyễn Thanh Điền - Điều phối viên quốc gia về đào tạo và truyền thông của Dự án cho biết: Hiện tại, trong hệ thống đã có Dữ liệu về kết quả ĐTKKR của các tỉnh; Dữ liệu điều tra TNR các chu kỳ 1990, 1995, 2000, 2005 và 2010; Bản đồ hiện trạng rừng năm 2007; Bản đồ 3 loại rừng 2007; Ranh giới hành chính cho tỉnh, huyện, xã và vùng sinh thái; Ranh giới tiểu khu, khoảnh; Dữ liệu về nghèo đói. Các dữ liệu khác đang được tiếp tục tích hợp vào hệ thống thời gian tới.
Ông Điền còn cung cấp những ý nghĩa trong ứng dụng của phần mềm này như: Số liệu luôn có trên mạng để phục vụ mọi cuộc hội nghị nhanh chóng và đầy đủ; bản thân các hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng cũng nắm được những số liệu diễn biến TNR của diện tích mình quản lý. Phần mềm này còn tiện ích ở chỗ, chỉ cần điện thoại kết nối 3G là nắm được mọi diễn biến về cháy rừng một cách kịp thời và cụ thể từ vị trí đến mức độ thiệt hại…
Đánh giá chương trình tập huấn về phần mềm FORMIS, Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm Lâm Đồng Võ Danh Tuyên khẳng định: Đây là chương trình cung cấp kiến thức hiện đại trong quản trị rừng và đất lâm nghiệp rất hiệu quả. Những thông tin về diễn biến rừng và đất lâm nghiệp là cơ sở khoa học xác thực để vừa phục vụ trong ngành kiểm lâm, vừa giúp các nhà quản lý, các địa phương đưa ra những quyết sách đúng đắn nhất.
Sau 11 ngày tập huấn phần mềm ở Đà Lạt, 46 học viên ngành kiểm lâm trong toàn tỉnh sẽ là những hạt nhân tiếp tục triển khai rộng tại các đơn vị trên cơ sở kết quả kiểm kê rừng được UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành tại Quyết định 299, ngày 28/1/2015.
Nghĩa là phần mềm theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp sẽ được nhiều đối tượng cùng tham gia cập nhật và sử dụng dữ liệu, từ cán bộ kiểm lâm trung ương đến địa phương; từ chi cục, hạt đến kiểm lâm địa bàn; từ chủ rừng đến các hộ nhận khoán và cán bộ liên quan ở các cấp xã đến cấp tỉnh… Phần mềm FORMIS được miễn phí và là công cụ còn dữ liệu cập nhật được phân quyền quản trị một cách chặt chẽ.
Tại đợt tập huấn, các học viên Lâm Đồng có chung nhận xét: Với mỗi người được thao tác nhiều lần trên máy tính theo hướng dẫn kỹ lưỡng của các chuyên gia nước ngoài và Việt Nam, họ thực sự rất tự tin khi được làm chủ công nghệ mới trong công việc của mình.
Thành quả của dự án đã góp phần thực hiện cải cách hành chính, minh bạch thông tin và rút ngắn thời gian trong công tác chỉ đạo điều hành. Dĩ nhiên, khi công nghệ tiên tiến là giải pháp hỗ trợ hữu hiệu thì vai trò của con người thực hiện, đặc biệt ý thức và trách nhiệm về bảo vệ - phát triển rừng của cộng đồng càng là vấn đề hàng đầu. (Báo Lâm Đồng 14/3) đầu trang(
Lãnh đạo UBND huyện Ba Vì (Hà Nội) cho biết, ngoài sai phạm của khu biệt thự Điền Viên Thôn đang được thanh kiểm tra để xử lý thì những công trình xây dựng nhà ở nghỉ dưỡng tại 2 xã Yên Bài và Vân Hòa đã có kết luận xử lý và đây là những sai phạm thuộc về nhiệm kỳ trước.
Ngày 14/3, trao đổi với Tiền Phong, ông Nguyễn Thành Sơn, Chánh Văn phòng UBND huyện Ba Vì cho biết, ngoài sai phạm của khu nghỉ dưỡng Điền Viên Thôn với 57 biệt thự xây không phép đang được thanh kiểm tra để xử lý vi phạm thì những trường hợp xây dựng nhà ở nghỉ dưỡng tại 2 xã Yên Bài và Vân Hòa đã được các cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội tiến hành thanh kiểm tra, đưa ra kết luận và xử lý vi phạm từ năm 2012-2013.
“Những sai phạm liên quan đến việc xây dựng những công trình tại 2 xã Yên Bài, Vân Hoà đã được cơ quan thành phố và huyện kết luận, xử lý rồi. Đây là những vi phạm thuộc về nhiệm kỳ trước”, ông Sơn nói.
Theo ông Bạch Công Tiến, Chủ tịch UBND huyện Ba Vì, việc xây dựng không phép tại khu vực đồi Đống thuộc xã Vân Hòa và tại đồi Đá Bạc thuộc xã Yên Bài là những trường hợp xây dựng trên đất lâm nghiệp, chưa được chuyển đổi thành đất ở theo quy định.
Đặc biệt trong số này nhiều trường hợp đã được UBND huyện cấp sổ đỏ. Để giải quyết dứt điểm những sai phạm trên, ngày 9/9/2014 UBND thành phố Hà Nội đã ra văn bản chỉ đạo giải quyết một số khó khăn, vướng mắc trong việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cấp trái pháp luật.
Đồng thời yêu cầu chủ đầu tư những công trình này phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo đúng quy định để tiếp tục được hoàn thiện và sử dụng công trình. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại mới chỉ có một số hộ đóng đầy đủ số tiền truy thu trên.
Theo lãnh đạo huyện Ba Vì, thời gian qua mặc dù đã nhiều lần đốc thúc, yêu cầu các chủ đầu tư nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nhưng các chủ đầu tư cố tình không thực hiện với lý do khó khăn về tài chính. Một số công trình thi công xây dựng dở dang, bỏ hoang, trong khi đó việc liên hệ với chủ nhà rất khó khăn. “Lãnh đạo huyện Ba Vì sẽ tiếp tục chỉ đạo 2 xã tiến hành kiểm tra tổng thể toàn bộ các biệt thự này.
Đồng thời yêu cầu các chủ đầu tư khẩn trương khắc phục vi phạm bằng việc nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định”, vị cán bộ cho biết. Trường hợp nào không thực hiện, các cơ quan chức năng của huyện sẽ lên kế hoạch tổ chức cưỡng chế, phá dỡ công trình sai phạm.
Trả lời câu hỏi của PV Tiền Phong, mức độ xử lý có thỏa đáng so với hành vi của nhiều cán bộ địa phương gây ra, đại diện huyện ủy Ba Vì cho rằng, huyện đã nhiều lần có chỉ đạo, chấn chỉnh công tác quản lý đất đai. Tuy nhiên, cơ sở đã không thực hiện đúng chỉ đạo của huyện. (Tiền Phong 15/3) đầu trang(
“Phê duyệt Báo cáo tác động môi trường (ĐTM) chỉ xem xét, đánh giá về ĐTM của dự án, còn những giấy phép khác không thuộc thẩm quyền của Bộ TN- MT”.
Đó là quan điểm của ông Mai Thanh Dung – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ TN-MT trước vấn đề Khu dịch vụ du lịch sinh thái trong phân khu hành chính dịch vụ 1 – Vườn Quốc gia Ba Vì (Le Mont Bavi Resort & Spa) do Cty TNHH phát triển công nghệ làm chủ đầu tư xây dựng trái phép đang gây “nóng” dư luận thời gian qua.
Ông Dung cho biết, chủ đầu tư đã gửi đầy đủ hồ sơ đề nghị Bộ TN-MT phê duyệt đánh giá ĐTM cho dự án này. Dựa trên cơ sở, Quyết định số 1181/QĐ – BNN – TCLN ngày 6/5/2010 của Bộ NN-PTNT phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 1254/QĐ – BNN – TCLN ngày 6/6/2014 của Bộ NN-PTNT phê duyệt chi tiết mặt bằng tổng thể Phân khu hành chính dịch vụ 1 – Vườn Quốc gia Ba Vì. Bộ TN-MT đã thành lập một đoàn công tác lên Vườn Quốc gia Ba Vì khảo sát, kiểm tra, đánh giá thực trạng.
Thoạt nghe, những quyết định trên có vẻ đầy đủ và chi tiết nhưng thực tế, cả hai quyết định lại không nói rõ mức độ, quy mô, tính chất dự án mà chỉ đề cập ở từng độ cao được phát triển thế nào. Trong khi đó, theo TS Nguyễn Cử, mỗi khu bảo tồn và vườn quốc gia gồm có vùng đệm (bên ngoài) và vùng lõi.
Trong vùng lõi được quy hoạch gồm một hoặc nhiều khu bảo tồn nghiêm ngặt (cấm xâm phạm), khu chức năng hành chính (trụ sở quản lý) và khu phục hồi sinh thái (có thể đầu tư khai thác kinh doanh du lịch theo hình thức xã hội hóa). Song, diện tích khai thác kinh doanh du lịch tối đa chỉ được phép bằng hoặc dưới 20% tổng diện tích khu phục hồi sinh thái.
Ở một khía cạnh khác, khi trả lời câu hỏi về việc, trước khi xem xét phê duyệt ĐTM, Bộ TN-MT có rà soát về các cơ sở pháp lý của dự án hay không, ông Mai Thanh Dung cho rằng, theo Luật Bảo vệ môi trường 2014, Quyết định phê duyệt Báo cáo ĐTM cần căn cứ trên chủ trương đầu tư, thực hiện dự án và việc cấp phép xây dựng.
“Phê duyệt ĐTM thì chỉ xem xét, đánh giá về ĐTM của dự án, còn những giấy phép khác không thuộc thẩm quyền của Bộ TN-MT”. Và ông Dung cũng không biết sau khi được phê duyệt Báo cáo ĐTM, chủ đầu tư đã đệ trình các cơ quan chức năng có liên quan khác để xin cấp phép theo quy định hay chưa.
Cho rằng, quan điểm trên là có lý vì họ chỉ “quản” một lĩnh vực riêng biệt đó là yếu tố môi trường. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy, sự chồng chéo về trách nhiệm quản lý giữa Bộ TN-MT và Bộ NN-PTNT. Như TS Nguyễn Cử chia sẻ, hiện nay, hai Bộ cùng quản lý một đối tượng, dẫn đến sự chồng chéo.
Cụ thể, Bộ TN- MT với Tổng cục Môi trường và Cục bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ NN&PTNT với Tổng cục Lâm nghiệp và Vụ bảo tồn thiên nhiên, tất cả 6 cơ quan quản lý về rừng, nhưng vẫn diễn ra nhiều sự việc khiến dư luận phải quan ngại về tư nhân hóa nguồn tài sản công và chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời là sự đánh đổi các giá trị tự nhiên và tài nguyên đa dạng sinh học phục vụ cho mục tiêu phát triển. Do đó, câu chuyện đặt ra lúc này là cần thống nhất về một mối trong quản lý các khu vườn quốc gia. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 13/3) đầu trang(
Vườn quốc gia đâu phải đất nhà của họ! Ba Vì non thiêng với những ngọn núi xanh như chiếc ngai tựa cho Thăng Long - Hà Nội. Ở trong lòng thành phố mà có cả núi cao rừng rậm, đầm hồ, đường dốc quanh co lên giữa sương mây thì là cái phúc lớn cho Hà Nội - Thủ đô.
Núi Ba Vì còn gọi núi Tản Viên là một trong những ngọn núi đẹp và nổi tiếng của nước ta và là ngọn núi của tâm linh, nơi ngự trị muôn đời của Đức Thánh Tản Viên - Sơn Tinh, vị thần tối linh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Từ lâu tôi vẫn nghĩ sự ưu ái của tự nhiên ấy là tiềm năng quý giá cho phát triển du lịch văn hóa nhân văn. Thời Pháp, người ta đã xẻ thịt đất rừng Ba Vì để xây biệt thự. Dấu tích những kiến trúc ấy vẫn còn. Mấy mươi năm gìn giữ, hy vọng ngày nào đó đường lên Non Tản là một tuyến du lịch lý tưởng bậc nhất của thành phố, hơn thể, của cả nước.
Lần lên đền thờ Bác Hồ mấy năm trước, tôi đã có một đề xuất là nên xếp hạng bảo vệ danh thắng non thiêng Ba Vì gắn với các di tích Đền Thượng Đền Hạ, đền thờ Hồ Chí Minh... Rồi gần Đền Trung còn có một ngôi chùa cổ, được xem là danh lam bậc nhất đó là chùa Tản Viên Sơn, điều đó càng làm cho khu di tích này trở thành một điểm đến hấp dẫn của du khách khi hành hương lên Non Tản - Ba Vì.…
Khi đã đầu tư tôn tạo cảnh quan xong thì đề nghị làm hồ sơ đưa Ba Vì thành danh thắng di sản thế giới gắn với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh… Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Vì bao nhiêu năm nay làm nhiệm vụ trông coi bảo vệ một tài sản vô giá của thành phố. Và tôi nghĩ sẽ có ngày người ta cũng sẽ tính đến cách xây dựng trên ấy những cơ sở dịch vụ lưu khách…
Tôi ủng hộ việc khai thác dịch vụ tại đây khi thấy nó chính đáng và cần thiết. Nhưng động vào non thiêng là phải được phép của Chính phủ, của ngành quản lý. Đất ấy đầy nhạy cảm. Ít ra từ chủ trương đến việc quy hoạch bảo tồn phải được phê duyệt. Rồi cũng sẽ có khu nghỉ dưỡng, nhưng phải trên cơ sở quy hoạch của cơ quan chức năng, được cấp thành phố phê duyệt.
Vậy mà người coi rừng lại cắt rừng bán không cần báo cáo hỏi han gì ai. Chuyện như đùa. Đem rừng bán cho doanh nghiệp dễ như chơi, mới nghe thật khó tin. Qua theo dõi thấy việc mua bán đất ấy tùy tiện và mục đích là bán lấy tiền.
Khu dịch vụ nghỉ dưỡng Le Mont Bavi Resort & Spa nằm ở cốt 600, Vườn quốc gia Ba Vì cho đến nay dự án vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, ngay từ giữa năm 2015, sau khi hoàn tất cơ bản quá trình xây dựng, đơn vị chủ đầu tư đã đưa siêu dự án này vào hoạt động và chờ… cấp phép sau.
Nghe nói bán chỗ ấy được 8 tỷ đồng, lấy từ từ mỗi năm một ít. Trắng trợn hơn, họ đã tính chuyện ăn chia khi đi vào kinh doanh. Hãy xử nghiêm những người dám mang tài nguyên quốc gia ra bán chác, dám bán cả rừng thiêng chỉ vì mấy tỷ đồng…
Chưa hết, cạnh đó, một khu Resort khác với 57 căn biệt thự hoành tráng thuộc khu nghỉ dưỡng Điền Viên thôn cũng trong tình trạng không được phê duyệt của cơ quan chức năng, tồn tại nhiều năm rồi. Ai đã cho phép lấy rừng thiêng quốc gia đem bán?
Dư luận đang chờ xem cách xử lý ra sao. Hay là lại lặp lại “điệu hát” cũ là phạt cho tồn tại, “buộc… hoàn thiện hồ sơ, bổ sung quy hoạch…”. Xin đừng xử lý theo kiểu “giơ cao, đánh khẽ”… (Thể Thao Và Văn Hóa 14/3) đầu trang(
Khi dư luận còn chưa kịp lắng xuống trước sự xuất hiện của cả một khu nghỉ dưỡng cao cấp Le Mont Bavi Resort & Spa (Tây Đằng, Ba Vì, Hà Nội) xây dựng không phép, thì người ta lại phát hiện ra hàng loạt biệt thự nghỉ dưỡng Điền Viên thôn đã hoàn thiện đang được chủ đầu tư rao bán tại xã Yên Bài (Ba Vì, Hà Nội) cũng không có phép.
Xâu chuỗi lại sự việc, bỗng thấy lồ lộ hàng loạt dự án xây dựng không phép cũng từng bị phanh phui trước đó, rất đáng để nhắc lại như biệt phủ ở đèo Hải Vân, khu biệt thự của ca sĩ Mỹ Linh, biệt phủ Thành Chương (Sóc Sơn, Hà Nội)…
Có một điểm chung giữa các công trình xây dựng này là “không phép” và rất nhiều “giấy phạt”. Có giấy phạt cũng đồng nghĩa với việc chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hoàn toàn biết được công trình đang vi phạm pháp luật. Thế nhưng, điều “kỳ lạ” là dù vi phạm, dù bị nhắc nhở và bị phạt thì công trình vẫn tiếp tục được hoàn thiện và đi vào sử dụng.
“Chúng ta đã quá quen và nhờn với việc phạt, người ta vui vẻ đóng phạt để tiếp tục xây dựng. Nhiều người còn coi việc nộp phạt là một phần trong chi phí xây dựng. Thế nên mới có chuyện cả tòa nhà to đùng 8B Lê Trực vẫn ngang nhiên vi phạm thiết kế, vi phạm chiều cao ngay giữa Thủ đô, mặc cho các cơ quan chức năng… phạt.
Và cũng có lẽ chúng ta đang phạt quá nhẹ nên không đủ sức răn đe. Bên cạnh việc phạt cho có thì các cơ quan cũng thiếu kiên quyết trong xử lý những sai phạm khiến cho nhiều người nhờn và sẵn sàng nộp phạt để… tiếp tục vi phạm”, một chuyên gia chia sẻ.
Quả thực, cứ động đến sai phạm nào trong lĩnh vực đất đai, xây dựng cũng thấy các cơ quan chức năng đưa ra giấy phạt. Tòa nhà 8B Lê Trực cũng đầy đủ giấy phạt vi phạm từ phường đến quận. Rồi những sai phạm tại các biệt thự ở Ba Vì gần đây cũng có đầy đủ giấy phạt. Theo xác định của UBND xã Yên Bài, khu nghỉ dưỡng Điền Viên Thôn thuộc khu Rừng Mu nằm dưới chân núi Ba Vì có diện tích khoảng 4,8ha thuộc tờ bản đồ số 19… thế nhưng nghịch lý là công trình vẫn thi công mà “chả có thay đổi gì”.
Cụ thể, ngày 5/1/2015, UBND xã Yên Bài đã lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình. Tuy nhiên, chủ đầu tư đã không thực hiện đúng thời hạn ghi trong biên bản. Ngày 7/1/2015, Chủ tịch UBND xã Yên Bài đã ban hành quyết định đình chỉ thi công xây dựng 3 công trình vi phạm trật tự xây dựng vì hành vi xây dựng công trình khi không được phép xây dựng.
Đi kèm với quyết định phạt, UBND xã Yên Bài cũng đề nghị các đơn vị cấp điện, cấp nước phải dừng ngay việc cấp điện, nước đối với công trình vi phạm trong thời hạn 24 giờ.
Đồng thời, Trưởng công an xã chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng cấm các phương tiện vận tải chuyên chở vật tư, vật liệu và người lao động vào xây dựng công trình vi phạm. UBND xã Yên Bài đã ra quyết định đình chỉ thi công 10 căn biệt thự trong khu nghỉ dưỡng Điền Viên thôn…
Ông Nguyễn Xuân Chiến, Chủ tịch UBND xã Yên Bài giãi bày rằng, xã biết đến việc làm sai trái này từ lâu nhưng bất lực. Rất nhiều lần xã lập biên bản ngừng thi công và ra các quyết định đình chỉ, xử phạt hành chính nhưng chỉ như “ném đá ao bèo”.
Có lẽ DN, người dân đã thấm nhuần điệp khúc “phạt cứ phạt, xây cứ xây”. Nên điệp khúc này lặp đi lặp lại trong phần lớn các dự án, công trình xây dựng. Bác Nguyễn Văn Đức (Hà Đông) cho biết:“Chúng ta không thiếu lực lượng, thế nhưng lại thiếu sự kiên quyết và một chế tài thực sự nghiêm khắc, thượng tôn pháp luật. Thực tế, Hà Nội hiện có nhiều công trình sai phép, tất cả do công tác quản lý đô thị của chúng ta “yếu kém”. Nhưng yếu kém này không phải là do trình độ, mà là muốn phạt cho tồn tại. Còn nếu đã lập biên bản xử phạt thì phải yêu cầu chủ đầu tư giữ nguyên hiện trạng, nếu cố tình vi phạm thì chủ đầu tư phải chịu toàn bộ phí tổn trả về hiện trạng ban đầu. Kiên quyết không xuê xoa, nể nang thì vi phạm nào tồn tại được? Nếu pháp luật nghiêm minh thì chủ đầu tư nào dám vi phạm?”. (Thời Báo Ngân Hàng 14/3) đầu trang(
Phát triển du lịch sinh thái (DLST) trong rừng đặc dụng thông qua hình thức liên doanh, liên kết là chủ trương của Chính phủ nhằm tạo điều kiện cho người dân được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, tạo việc làm cho người dân địa phương, tạo nguồn thu thay thế nguồn đầu tư từ ngân sách trong quản lý và bảo tồn rừng.
Tuy nhiên, dư luận không khỏi bức xúc trước tình trạng một số khu DLST xâm hại đất rừng, đe dọa đa dạng sinh học, chức năng điều hòa môi trường, thậm chí có những dự án xây dựng ngang nhiên trên đất rừng mà chưa được cấp phép. Siết chặt quản lý và hậu kiểm các dự án DLST là một công việc cấp bách nhằm lập lại trật tự trong lĩnh vực liên doanh, liên kết đầu tư kinh tế rừng đặc dụng.
Theo Khoản 1, Điều 3, Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27.12.2007 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT về quy chế “Quản lý các hoạt động DLST tại các vườn quốc gia (VQG), khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) thì DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng bản địa. Việc tổ chức hoạt động DLST phải phù hợp với quy hoạch khu rừng đặc dụng, có nghiên cứu tác động tới việc bảo tồn thiên nhiên và đề án phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.
Song thật đáng lo ngại khi nhiều chuyên gia cho rằng, tình trạng các dự án DLST, nghỉ dưỡng ngang nhiên xâm hại rừng, không làm nghiên cứu tác động tới bảo tồn thiên nhiên mà chỉ tính tới lợi ích kinh tế đang có chiều hướng tăng lên gây nhức nhối trong dư luận. Trường hợp khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Đà Nẵng) hiện là nơi đang bảo tồn loài voọc chà vá quý hiếm của Việt Nam và thế giới là một điển hình.
Theo ông Vũ Ngọc Thành, Khoa Sinh học, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, trước đây, tổng diện tích bảo tồn loài voọc chà vá là hơn 4.000ha nhưng do tốc độ đô thị hóa, du lịch hóa… nay chỉ còn lại 2.000ha (trong đó chỉ 1.000ha còn rừng). Cũng tại khu vực 1.000ha, một công ty thương mại và du lịch đã có dự án xây khu resort rộng 142ha với hàng loạt dự án lớn, tòa nhà cao 40 tầng, được ký cách đây 10 năm nhưng vẫn chưa hề có đánh giá tác động môi trường.
Trên diện tích 142ha xây dựng resort là nơi sinh sống của 7 đàn chà vá với 100 cá thể (bằng 1/3 tổng số cá thể tại khu bảo tồn). Ngoài ra, khoảng 200ha ở phía biển bán đảo Sơn Trà là nguồn thức ăn (gồm 200 loài) của voọc chà vá hiện cũng được quy hoạch làm khách sạn và resort.
“Các dự án kinh tế bao gồm cả DLST đang được triển khai ở các khu VQG hiện nay thường không có đánh giá tác động môi trường hoặc có thì rất hời hợt, cán bộ tham gia không có chuyên môn sâu và không có lương tâm” - ông Vũ Ngọc Thành nói.
Phát triển DLST là đúng nhưng nếu không có sự kiểm soát tốt trước lượng du khách gia tăng sẽ gây rất nhiều tác hại tới rừng. Theo tài liệu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên, nhiều khu DLST đã bị “lãng quên” công tác hậu kiểm dẫn tới nguy cơ rừng bị tàn phá và ô nhiễm nặng.
Khu DLST Vườn quốc gia Tràm Chim là một ví dụ, lượng khách du lịch đông dẫn tới nhu cầu cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, rác thải càng lớn. Tuy nhiên, vấn đề dùng lợi nhuận để tái đầu tư cho rừng còn chưa được chú trọng. Thời gian tới, nếu không có biện pháp xử lý tốt vấn đề nước thải, rác thải sinh hoạt hằng ngày thì ô nhiễm môi trường trong rừng rất nặng nề.
Theo KTS Đặng Quang Minh, tại các nước phát triển, trước khi cấp phép cho các dự án DLST trong rừng đặc dụng, cơ quan chức năng suy xét rất kỹ về thẩm mỹ và kiến trúc của các công trình, họ rất hạn chế việc chặt phá cây để “bê tông hóa” đặc biệt là với những khu xây dựng có diện tích lớn.
Điều đó sẽ gây phản cảm và không phù hợp với xu hướng bảo tồn rừng trên thế giới. “Đáng lo ngại là trào lưu xây dựng tràn lan đang trở thành “mốt” của nhiều nhà đầu tư bởi thu lợi nhuận cao, dễ dàng chuyển nhượng, thu hồi vốn nhanh hơn” - ông Minh cho biết.
Còn ông Vũ Ngọc Thành bày tỏ: “Thật đáng lo lắng khi nhiều khu DLST đã xây dựng cả biệt thự đơn lập, song lập, bể bơi, thậm chí phá cây đi để làm thảm cỏ nhân tạo, công viên giả mà công trình “Le Mont Bavi Resort & Spa” không có giấy phép giữa Vườn Quốc gia Ba Vì (Hà Nội), do Công ty TNHH Phát triển công nghệ làm chủ đầu tư là một ví dụ. Theo tôi, việc xây dựng resort, bể bơi, biệt thự, làm thảm cỏ nhân tạo trong vùng lõi VQG đang phổ biến ở nhiều khu DLST cần xem lại có thực hiện đúng pháp luật hay không. Nếu pháp luật chưa quy định rõ thì cần điều chỉnh bởi rừng là của cộng đồng, DLST cũng vì cộng đồng chứ không phải lợi ích của một nhóm nhỏ”.
Sự tăng trưởng và phát triển các khu DLST vẫn được đo trên thang giá trị là vốn đầu tư cho dự án đó là bao nhiêu nhưng ít nhà đầu tư nào tính giá trị bằng tiền cho hệ sinh thái còn lại trong khu VQG. Trên thế giới, chủ đầu tư luôn tính toán trong vốn đầu tư cho một sản phẩm DLST đạt đẳng cấp quốc tế, có bao nhiêu phần trăm đóng góp của hệ sinh thái và đa dạng sinh học còn lại trong khu rừng.
Tiếc là ở ta, chưa có ai tính xem phần diện tích còn lại các khu VQG mang lại những lợi ích kinh tế gì. Các nhà bảo tồn thì thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị sinh học trong khi các nhà đầu tư chỉ chú trọng tới các giá trị kinh tế.
Trong tương lai, còn rất nhiều khu VQG nằm trong “tầm ngắm” của các nhà đầu tư. Trường hợp VQG Côn Đảo là một ví dụ. Tạp chí du lịch nổi tiếng thế giới Lonely Planet (Anh) trong hai năm liền (2011 - 2012) đã bầu chọn Côn Đảo là 1 trong 10 hòn đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới, đặc biệt là VQG Côn Đảo có giá trị rất lớn trong việc phát triển DLST.
Để phát triển du lịch, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 870/QĐ-TTg ngày 17.6.2015 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển “Khu du lịch quốc gia Côn Đảo đến năm 2030”.
Trong đó, quy định trên cơ sở khai thác hợp lý thế mạnh về tài nguyên biển, rừng của VQG Côn Đảo, ưu tiên phát triển các loại hình DLST có đẳng cấp. Song, một sản phẩm DLST có đẳng cấp chưa hẳn ở số tiền đầu tư là bao nhiêu, mà cần phải có những chủ đầu tư biết sử dụng một vốn quý giá khác đó là gìn giữ và phát huy vẻ đẹp ấn tượng, bí ẩn, lãng mạn còn lại trong khu rừng. Quả vậy, văn hóa ứng xử với tài nguyên rừng mới là điều quan trọng.
Nhiều chuyên gia cho rằng, tiềm năng để phát triển DLST của Việt Nam trong rừng đặc dụng còn rất lớn, chắc chắn sẽ có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với các VQG. Bởi vậy, rất cần những nhà quản lý tại các địa phương có trách nhiệm và sự hiểu biết sâu sắc về giá trị của tài nguyên rừng. Do đó, cần phải chọn ra được những nhà đầu tư biết trân trọng công tác bảo tồn. Những khu DLST còn để lại cho muôn đời sau, hãy cẩn thận với phong trào “bê tông hóa” rừng như đã xảy ra!
Về lý thuyết, nhiều tài liệu đã chỉ ra rằng trong bảo tồn có phát triển, trong phát triển có bảo tồn. Nhưng trên thực tế, bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế thường mâu thuẫn nhau. Trước thực trạng các khu DLST của cả nước đang hoạt động với cách thức thiếu chuyên nghiệp với quy mô nhỏ lẻ, manh mún thì việc rút kinh nghiệm trong đầu tư, quản lý và hậu kiểm các khu DLST trong rừng đặc dụng là vô cùng cấp bách.
Đừng để lợi ích nhóm, tư duy chạy theo lợi nhuận chi phối, lạnh lùng hủy diệt những cánh rừng vô giá, để rồi mọi hệ lụy lại đổ lên đầu cháu con phải gánh! (Đại Biểu Nhân Dân 14/3) đầu trang(
Những năm gần đây, nguồn thu từ rừng sản xuất đã giúp người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển kinh tế, cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống. Việc nâng cao thu nhập từ rừng luôn được chính quyền địa phương quan tâm thể hiện qua việc nghiên cứu, xây dựng các mô hình trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Chúng tôi đến thăm gia đình anh Quách Đại Thắng, xóm Ao Trám, xã Động Đạt, huyện Phú Lương. Anh Thắng đang chăm sóc từng khóm cây giống. Năm nay dự tính gia đình anh Thắng trồng khoảng 5 vạn cây keo tai tượng và hơn 1 vạn cây mỡ. Anh Thắng chia sẻ, hơn 10 năm trước gia đình khó khăn lo ăn từng bữa, loay hoay chưa biết trồng cây gì, nuôi con gì để có hiệu quả kinh tế, thoát được cảnh đói nghèo. Nhờ cán bộ kiểm lâm tuyên truyền, hướng dẫn cách trồng rừng anh Thắng mạnh dạn trồng thử 1ha keo, sau 7 năm rừng keo cho thu nhập hơn 60 triệu đồng.
Từ hiệu quả bước đầu anh Thắng mạnh dạn nhận thêm 5ha nữa. Cây keo lai dễ trồng, dễ chăm sóc, hợp với chất đất ở đây, lại không mất nhiều công lao động. Đến nay, nhiều hộ được thu hoạch, bán keo với giá cao, như hộ anh Vũ Văn Phúc mới khai thác 1,5ha rừng keo 10 năm tuổi thu được 150 triệu đồng; gia đình các ông Nguyễn Viết Quý, Phạm Văn Đoan bán 1,5ha keo được 100 triệu đồng.
Nhận thức được trồng rừng mang lại hiệu quả về nhiều mặt nên người dân của xã Động Đạt đã tận dụng từng khoảnh đất để trồng rừng. Nhờ có nguồn nguyên liệu gỗ phong phú này, trên địa bàn xã cũng đã hình thành 5 cơ sở sản xuất, chế biến gỗ, ván dăm, tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.
Trưởng Ban quản lý Dự án Bảo vệ và phát triển rừng huyện Phú Lương Ngô Thanh Sơn, cho biết: Huyện Phú Lương có diện tích rừng và đất rừng phòng hộ là 3.550,4ha, chiếm 7,5% trong tổng số 47.232,6ha rừng và đất rừng phòng hộ của tỉnh. Diện tích rừng phòng hộ được phân bố ở 6 xã. Trong đó, nhiều nhất là xã Yên Ninh với 1.403,4ha, kế đến là xã Yên Lạc với 1.027,6ha, 4 xã còn lại có từ 125ha đến 379,4ha.
Vì vậy, diện tích rừng phòng hộ các xã Yên Ninh, Yên Lạc, Động Đạt trở thành trọng điểm quản lý, bảo vệ của huyện. Việc quản lý bảo vệ rừng phòng hộ gặp nhiều khó khăn khi nơi có diện tích rừng tập trung thì xa khu dân cư, địa hình hiểm trở, đi lại tuần tra kiểm soát rừng rất vất vả.
Nơi có rừng phòng hộ diện tích nhỏ lẻ có thể giao cho dân; tuy nhiên, theo quy chế quản lý 3 loại rừng, lợi ích của người quản lý bảo vệ rừng phòng hộ còn thấp, khiến họ chưa làm hết trách nhiệm với diện tích rừng được giao.
Từ thực tế trên, Hạt Kiểm lâm Phú Lương cùng với Ban chỉ huy Quân sự huyện đã xây dựng phương án, được UBND huyện phê duyệt giao khoán bảo vệ rừng phòng hộ ở tiểu khu 290 cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện là 878,96ha. Trong đó, núi đá có rừng 500,67ha, núi đá có thực bì 76,5ha, núi đất xen núi đá nhỏ 263,14ha, đất có độ dốc dưới 15% là 40ha và đất có khả năng trồng rừng 48,14ha.
Bên cạnh việc xóa đói giảm nghèo từ trồng rừng, tỉnh Thái Nguyên hiện đang tập trung triển khai xây dựng mô hình “Cánh rừng mẫu lớn” tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, với tổng diện tích gần 460ha, nhằm tạo ra một cách thức sản xuất mới, chuyển đổi phương thức sản xuất để nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, tăng hiệu quả sử dụng đất và chất lượng rừng trồng, phát triển lâm nghiệp bền vững. Đây là lần đầu tiên, mô hình “Cánh rừng mẫu lớn” được xây dựng ở tỉnh Thái Nguyên.
Theo Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên Vũ Văn Phán: Đề án tổng thể “Cánh rừng mẫu lớn” ở Quy Kỳ được xây dựng dựa trên việc trồng rừng bằng tập đoàn cây đa tác dụng, có năng suất, chất lượng cao, sử dụng phương châm “lấy ngắn nuôi dài” thông qua trồng rừng kết hợp trồng xen cây dược liệu, lâm sản phụ, phát triển chăn nuôi dưới tán rừng.
Cơ cấu cây trồng trong “Cánh rừng mẫu lớn” gồm các loại cây rừng bản địa có giá trị kinh tế cao đã qua khảo nghiệm phù hợp với sinh thái, thổ nhưỡng địa phương như dổi xanh, lim xanh, đa chai, chò chỉ...; khu vực thâm canh rừng trồng sử dụng các giống cây keo, mỡ, bạch đàn, thông, sa mộc...
Các loại lâm sản phụ trồng dưới tán rừng gồm các loại cây dược liệu, cây đặc sản, luôn có nhu cầu cao trên thị trường như: sa nhân, ba kích, mây nếp, đinh lăng, giảo cổ lam... Trong “Cánh rừng mẫu lớn”, mật độ trồng rừng gỗ lớn có cây ăn quả trồng 500 cây/ha, trồng thâm canh cây mỡ 2.500 cây/ha, trồng thâm canh keo 1.660 cây/ha...
Với tổng vốn đầu tư khoảng 33 tỷ đồng trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, việc đầu tư cho mô hình “cánh rừng mẫu lớn” chủ yếu do các doanh nghiệp thực hiện (vốn doanh nghiệp chiếm gần 90% tổng vốn đầu tư) và một phần hỗ trợ của Nhà nước bằng nguồn chính sách phát triển rừng sản xuất theo chương trình phát triển và bảo vệ rừng giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn.
Các doanh nghiệp khi tham gia vào việc xây dựng “Cánh rừng mẫu lớn” được tỉnh Thái Nguyên ưu đãi theo quy định của Nhà nước về khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn gồm: giao rừng gắn với giao đất, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ...
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên - đơn vị chịu trách nhiệm chính trong xây dựng, triển khai đề án, mô hình cánh rừng mẫu lớn ở Quy Kỳ không chỉ tạo ra mô hình điểm về phát triển kinh tế lâm nghiệp mà còn từng bước tạo ra vùng du lịch sinh thái, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương, phù hợp với kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng giai đoạn 2011 - 2020. (Đại Biểu Nhân Dân 14/3) đầu trang(
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bạch Thông lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra mục tiêu đến cuối nhiệm kỳ toàn huyện trồng đạt 2.200ha rừng, đưa độ che phủ của rừng lên trên 76%. Hiện nay huyện đã và đang triển khai cụ thể các giải pháp nhằm đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Bắt đầu từ năm 2011 huyện Bạch Thông tiếp nhận và triển khai dự án trồng mới rừng theo Chương trình 147 của nhà nước. Với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền nên công tác trồng rừng đã đạt được kết quả tích cực, nhận thức của người dân về giá trị kinh tế từ rừng trồng được nâng cao.
Phong trào trồng rừng được phát triển mạnh mẽ, diện tích đăng ký trồng rừng đều tăng theo từng năm với cơ cấu giống chủ lực là cây mỡ, và keo lai Úc. Năm 2011 toàn huyện trồng được 915ha, năm 2012 trồng được 1.138,97ha, năm 2013 trồng được 1.701ha, năm 2014 trồng được 1.300ha, năm 2015 trồng được 727,5ha. Như vậy, sau 5 năm toàn huyện trồng mới được hơn 5.000ha rừng, chưa kể những diện tích nhân dân tự bỏ vốn mua cây giống về trồng.
Chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra đến cuối nhiệm kỳ toàn huyện trồng mới 2.200ha rừng, như vậy bình quân mỗi năm huyện phấn đấu trồng mới hơn 400ha.
Để thực hiện thắng lợi chỉ tiêu đề ra huyện đã đề ra các giải pháp thực hiện, trong đó tập trung vào việc thay đổi cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hạn chế sâu bệnh, ưu tiên phát triển cây keo, cây quế. Đồng thời, thu hút các nguồn lực đầu tư cho lâm nghiệp, phát triển hệ thống đường lâm nghiệp theo quy hoạch tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân trồng rừng, nâng cao thu nhập từ rừng trồng.
Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV về chỉ tiêu phát triển rừng do vậy đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền địa phương. Theo đó, niên vụ trồng rừng năm nay huyện được giao chỉ tiêu trồng 500ha rừng, gồm rừng sản xuất tập trung, rừng phân tán và trồng lại rừng sau khai thác với cơ cấu giống là keo, mỡ, quế, xoan, lát.
Huyện đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, vận động nhân dân tích cực tham gia đăng ký và trồng rừng. Đồng thời, tiến hành rà soát chính xác, cụ thể diện tích đất trồng rừng hiện có tại các xã trên cơ sở đó tham mưu cho UBND huyện giao chỉ tiêu cho các xã thực hiện nhằm bảo đảm cho việc thực hiện có tính khả thi cao.
Đặc biệt, huyện luôn phát huy cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; tập trung đôn đốc công tác trồng rừng. Ban Thường vụ Huyện ủy làm việc trực tiếp với Ban Quản lý phát triển rừng và Hạt Kiểm lâm lắng nghe vướng mắc từ cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện công tác trồng rừng, từ đó cùng tháo gỡ khó khăn để có biện pháp chỉ đạo đúng hướng, kịp thời, hiệu quả. Huyện ủy cũng đã chỉ đạo các xã tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích của rừng trồng nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân để bà con nỗ lực, tâm huyết với phát triển rừng.
Năm 2016, huyện có kế hoạch rà soát, thống kê cụ thể, chính xác diện tích rừng trồng sau khai thác làm cơ sở để đưa ra bàn bạc có hướng hỗ trợ nhân dân kinh phí trồng lại rừng. Vụ trồng rừng năm nay đang được cấp ủy, chính quyền địa phương và ngành chuyên môn sát sao chỉ đạo từ khâu đăng ký, thiế kế, xử lý thực bì và hợp đồng sản xuất cây giống.
Cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn luôn bám sát cơ sở, phối hợp với các xã tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc người dân trồng rừng. Để bảo đảm trồng rừng theo kế hoạch đề ra, huyện và ngành chức năng đang chỉ đạo, vận động nhân dân chuyển đổi những diện tích trồng ngô, sắn trên đồi không hiệu quả sang trồng rừng cây phân tán.
Theo ngành chức năng của huyện, dự ước đến cuối nhiệm kỳ diện tích rừng trồng mới tăng vọt, nguyên nhân do những diện tích trồng từ năm 2011 đến kỳ khai thác, sau khai thác người dân sẽ tiến hành trồng bổ sung.
Đồng chí Nguyễn Phúc Định- Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Bám sát vào Nghị quyết Đại hội Đảng, Hạt Kiểm lâm đã chủ động tham mưu với huyện giao chỉ tiêu trồng rừng cho các xã hằng năm phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, để việc triển khai thực hiện mang lại kết quả cao.
Đồng thời, Hạt Kiểm lâm huyện sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kế hoạch trồng rừng, tổ chức nghiệm thu thực tế các diện tích rừng trồng mới một cách nhiêm túc, chính xác. Phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm, làm cơ sở hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện về công tác phát triển rừng. (Công An Bắc Kạn 14/3) đầu trang(
Ngày 11/3/2016, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 144/QĐ-UBND phê duyệt giá giống cây trồng lâm nghiệp năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Giá cụ thể của một số giống cây như sau: Cây Keo tai tượng (sản xuất từ hạt ngoại) giá 1.500 đồng/cây; Keo tai tượng (sản xuất từ hạt giống trong nước) giá 1.250 đồng/cây; Keo lai (sản xuất bằng phương pháp giâm hom) và Bạch đàn Urophylla giá 1.600 đồng/cây; Bạch đàn lai (sản xuất bằng phương pháp giâm hom) 2.200 đồng/cây…
Một số loại cây giống đem lại giá trị kinh tế cao như: Thông nhựa (sản xuất từ hạt) giá 7.000 đồng/cây; Lim xanh (sản xuất từ hạt trong nước) giá 30.000 đồng/cây; Lát hoa (sản xuất từ hạt trong nước) giá 11.500 đồng/cây; cây Sấu (sản xuất từ hạt trong nước) và Xà cừ (sản xuất từ hạt trong nước) giá 11.600 đồng/cây; Trám trắng (sản xuất từ hạt trong nước) giá 11.550 đồng/cây; thông Caribê (sản xuất từ hạt trong nước) giá 12.000 đồng/cây…
Các cây giống phải đáp ứng các yêu cầu về trọng lượng bầu, tháng tuổi, chiều cao và đường kính cổ rễ… Mức giá cây giống trồng rừng phê duyệt tại Quyết định bao gồm các khoản thuế theo luật định và chi phí vận chuyển đến trung tâm thôn, bản trên địa bàn tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang 11/3) đầu trang(
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, hàng loạt các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ dăm thi nhau mọc lên một cách tự phát.
Điều này không chỉ phá vỡ quy hoạch, đe dọa an ninh rừng, tình trạng tranh mua, tranh bán diễn ra khiến an ninh trật tự trở nên phức tạp. Nhưng khi được hỏi, các cơ quan quản lý lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Ngày 1/12/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Quyết định số 5115/QĐ-BNN-TCLN, phê duyệt phương án quản lý sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014-2020. Nhằm quản lý chặt chẽ việc sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu, hạn chế tối đa việc sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng trồng để sản xuất dăm gỗ… nên Bộ đã Giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các địa phương triển khai quán triệt nội dung phương án một cách đầy đủ, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo cụ thể trong tổ chức thực hiện phương án, đồng thời triển khai các công việc cụ thể sau:
Tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng quy hoạch chế biến gỗ của mình trên cơ sở Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ đến năm 2020 và định hướng đến 2030 được Bộ phê duyệt tại Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2012; tổ chức rà soát, sắp xếp lại các cơ sở sản xuất dăm gỗ gắn với vùng nguyên liệu theo định hướng đã xác định theo phương án; báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi, chỉ đạo kịp thời.
Quy định rõ ràng như vậy nhưng khi trao đổi với PV, bà Lê Thị Minh Nguyệt, Chánh Văn phòng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa lại liên hệ cho PV làm việc với Chi cục Lâm nghiệp. Tuy nhiên, ông Lê Văn Mơn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa tỏ ra ngạc nhiên: “Chúng tôi chỉ quản lý về khai thác, trồng rừng thôi, chứ việc chế biến gỗ dăm chỉ nắm qua. Cái này các anh phải sang Sở Công thương, Sở Kế hoạch đầu tư thì mới rõ”.
Trao đổi với PV, ông Lê Ngọc Nghinh, Chánh Văn phòng Sở Kế hoạch và đầu tư cho hay: Sở đang thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát hoạt động của các cơ sở chế biễn gỗ dăm trên cả tỉnh xem có cấp phép hay hoạt động tự phát, sau đó mới có hướng báo cáo để tỉnh xử lý. Theo lịch trình, hết tháng 3/2016 mới tiến hành xong. Lúc đó, Sở mới cung cấp thông tin cho báo chí được.
Trước đó, PV đã có cuộc khảo sát các địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hóa có tới gần 30 nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản. Hầu hết các cơ sở này đều xây dựng tự phát, không phép, cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào nên tiện đâu mở đó khiến việc kiểm tra, kiểm soát vô cùng khó khăn. Tại huyện Như Xuân có tới 4 hộ xây dựng xưởng chế biến gỗ dăm trái phép trên đất nông, lâm nghiệp, nằm trong hành lang đường bộ...
Cụ thể, hộ ông Nguyễn Quốc Kỳ, thôn Xuân Thượng, xã Thượng Ninh chuyển nhượng cho ông Lê Khắc Bảy, thôn Sông Xanh 700m2 đất lâm nghiệp nhưng không được chính quyền xác nhận. Đến nay, hộ ông Bảy đã và đang xây dựng xưởng chế biến lâm sản khi chưa được cơ quan chức năng cấp phép, vi phạm hành lang đường Hồ Chí Minh. Tại hiện trường, mặt bằng xưởng sản xuất được đổ đất, đá san lấp xong, nhà bảo vệ, trạm điện đã được xây dựng hoàn thiện. Do xây dựng trái phép, hộ ông Bảy đã bị chính quyền địa phương kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ thi công. Tương tự, tại thôn Mỹ Ré, xã Yên Lễ, hộ ông Ngô Đức Huy cũng đã và đang xây dựng xưởng chế biến lâm sản trái phép. Việc xây dựng này không có giấy phép kinh doanh, không được chấp thuận địa điểm đầu tư, lấn chiếm hành lang đường Hồ Chí Minh tại Km 599+800, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Chưa hết, tại thôn Vân Hòa, xã Cát Vân cũng đã và đang xây dựng xưởng chế biến gỗ dăm trái phép, chưa được cơ quan chức năng chấp thuận địa điểm đầu tư, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không có giấy phép đầu tư...
Việc vi phạm của đơn vị này diễn ra trong một thời gian dài, nhưng chính quyền sở tại lại không hề hay biết. Mãi đến khi có thông tin từ người dân thì các cấp chính quyền mới kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ xây dựng, buộc tháo dỡ, di rời. Tuy nhiên, việc xử lý không dứt điểm, một thời gian sau thì cơ sở này lại xây dựng, hoàn thiện khiến dư luận bức xúc.
Tại buổi làm việc với PV, ông Lê Sỹ Nghiêm, Chủ tịch UBND huyện Như Xuân thừa nhận: Thời gian qua, trên địa bàn huyện có tình trạng các hộ gia đình và công ty xây dựng xưởng chế biến gỗ dăm không phép. Khi phát hiện sự việc, huyện cũng đã chỉ đạo các phòng liên quan phối hợp với các địa phương kiểm tra, lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính và buộc tháo dỡ công trình. Đến thời điểm này các đơn vị chưa chấp hành, UBND huyện sẽ có phương án cưỡng chế trong thời gian tới. (Công Lý 15/3) đầu trang(
Mặc dù UBND tỉnh đã có Quyết định 288, các đơn vị của huyện như Hạt Kiểm lâm, Công ty TNHH MTV LN Quảng Đức đã nêu rõ không xác định được thời điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng của người dân, thế nhưng không hiểu vì lý do gì mà UBND huyện Krông Nô vẫn chỉ đạo Đoàn Kiểm tra thực hiện Chỉ thị 12 của huyện lập biên bản kiểm tra về việc lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp trái luật để xử lý vi phạm và thực hiện cưỡng chế thu hồi đất để giao cho doanh nghiệp.
Theo Quyết định số 05/2010/QĐ- UBND ngày 23/2/2010 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc ban hành quy định hướng dẫn cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà thời điểm sử dụng trước ngày 1/7/2004 nhưng không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ CP và Điều 44, Điều 45 và Điều 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ tiền bằng 50% giá đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tại thời điểm có quyết định phê duyệt phương án.
Tại Khoản 2, Điều 6: “Nhà, công trình xây dựng trên đất nông nghiệp trước ngày 1/7/2004, khi xây dụng chưa có quy hoạch sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ bằng 80% giá trị nhà theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 24 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP”.
Thế nhưng, tại biên bản ngày 15/10/2014 do Đoàn công tác của tỉnh Đắk Nông, UBND huyện Krông Nô, Hạt Kiểm lâm huyện Krông Nô, Công ty TNHH MTV LN Quảng Đức và Tập đoàn Đức Long-Gia Lai cùng tham gia kiểm tra, xác minh thì Hạt Kiểm lâm huyện và Công ty TNHH MTV LN Quảng Đức đều khẳng định “không xác định được thời gian người dân xâm canh là năm nào” mà chỉ nêu chung chung.
Cụ thể như: Hạt Kiểm lâm huyện xác nhận khu vực khảo sát lập dự án chủ yếu là đất xâm canh trồng cây công nghiệp và cây nông nghiệp, thời điểm bị phá và xâm canh “từ lâu”, do đó số liệu thống kê liên quan đến việc lập biên bản và xử lý đối với diện tích trên là chưa đầy đủ.
Còn ý kiến của Công ty TNHH MTV LN Quảng Đức nêu rõ khu vực kiểm tra không có rừng tự nhiên mà chủ yếu là diện tích các hộ dân phá rừng và đang xâm canh trồng cây công nghiệp và cây nông nghiệp. Diện tích các hộ dân phá rừng xâm canh diễn ra từ nhiều năm trước và rải rác qua từng năm, do đó số liệu về diện tích rừng bị phá, thời điểm bị phá chưa được thống kê đầy đủ.
Mặc dù UBND tỉnh đã có Quyết định 288, các đơn vị của huyện như Hạt Kiểm lâm, Công ty TNHH MTV LN Quảng Đức đã nêu rõ không xác định được thời điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng của người dân, thế nhưng không hiểu vì lý do gì mà UBND huyện Krông Nô vẫn chỉ đạo Đoàn Kiểm tra thực hiện Chỉ thị 12 của huyện lập biên bản kiểm tra về việc lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp trái luật để xử lý vi phạm và thực hiện cưỡng chế thu hồi đất để giao cho doanh nghiệp.
Điều đáng nói ở đây là người dân khẳng định họ khai phá sử dụng đất trước năm 2004 thì UBND huyện Krông Nô lại ghi thời điểm lấn chiếm, phá rừng trái pháp luật của người dân từ năm 2006 đến 2009. Dư luận đang đặt câu hỏi liệu việc UBND huyện Krông Nô cho lập biên bản kiểm tra hộ nào cũng ghi lấn chiếm, phá rừng từ 2006-2009 có phải nhằm mục đích thực hiện việc thu hồi đất của người dân mà doanh nghiệp không phải thực hiện đền bù cho dân?
Bất bình trước sự việc mập mờ của chính quyền huyện xã và Tập đoàn Đức Long Gia Lai, ông Hoàng Thế Hoàn đã làm đơn kiến nghị đòi quyền lợi cho gia đình và các hộ khác. Thế nhưng, thay vì đối thoại, có phương án đền bù thỏa đáng cho người dân thì UBND huyện Krông Nô lại có công văn yêu cầu Đảng ủy, UBND xã Quảng Phú tổ chức kiểm điểm tư cách đảng viên của ông Hoàng Thế Hoàn vì không chấp hành chủ trương của huyện và xã. Trước bức xúc của người dân, ông Hoàn đã viết đơn xin nghỉ không làm Xã đội trưởng nữa.
Theo ông Huỳnh Long Quốc-Trưởng Phòng Tài nguyên-Môi trường huyện Krông Nô, đất mà các hộ dân này đang canh tác sử dụng là đất lấn chiếm, đất phá rừng mà có. Nhưng sau khi thu hồi giao cho Dự án bò sữa thì huyện đã hết quỹ đất sắp xếp cho người dân.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắc Nông khẳng định: Dự án nuôi bò của Tập đoàn Đức Long-Gia Lai hiện mới đang làm thủ tục thu hồi đất, đền bù cho người dân, còn Dự án chưa được triển khai.
Còn ông Đỗ Thanh-Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long-Gia Lai cho biết: “Phía Công ty chỉ căn cứ vào các văn bản pháp lý mà UBND huyện Krông Nô và UBND tỉnh Đắk Nông để triển khai Dự án. Còn việc đền bù cho người dân như thế nào, giá bao nhiêu thì do UBND tỉnh Đắk Nông quy định. Công tác tái định canh định cư cho người dân sau khi thu hồi đất làm Dự án là việc của chính quyền địa phương, phía Công ty không có trách nhiệm!”.
Có thể nói, việc các cơ quan chức năng huyện Krông Nô không căn cứ các quyết định của UBND tỉnh Đắk Nông để tiến hành đền bù thỏa đáng, gây thiệt thòi cho dân. (Đại Đoàn Kết 14/3) đầu trang(
Diện tích che phủ rừng của tỉnh Lào Cai hiện đạt gần 55% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Với lợi thế tiềm năng về đất đai, rừng, nhân lực, tỉnh Lào Cai đã đẩy mạnh tái cơ cấu lâm nghiệp gắn với phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới.
Theo đó, cùng với trồng rừng, tỉnh Lào Cai đã gắn kết giữa quy hoạch phát triển rừng với xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản tại chỗ để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng.
Ngoài phát triển diện tích lâm nghiệp đa mục đích như: Vối thuốc, trẩu, thông Mã Vĩ, sa mộc là những loài cây gỗ lớn, sống lâu năm, khả năng tái sinh mạnh, nhiều địa phương còn khuyến khích người dân trồng cây lâm nghiệp bản địa cho sản phẩm phụ để tăng thu nhập từ 12 - 15 triệu đồng/năm.
Ông Tô Mạnh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai cho biết: “Ngành đang tập trung và phát triển các cây lâm sản ngoài gỗ như cây quế, cây hồi, cây trẩu để tăng thu nhập cho người dân.”
Hiện nay các sản phẩm lâm nghiệp của Lào Cai đã đưa ra được rất nhiều thị trường bằng các sản phẩm như là ván ghép thanh, ván bóc, ván ép tre…. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 14/3) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong năm 2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn sẽ triển khai trồng 685ha rừng, trong đó tập trung ở Bạch Thông, Chợ Mới, Ngân Sơn, Ba Bể và Na Rì.
Ngoài các giống cây chính như keo lai hom, keo tai tượng, mỡ và thông thì năm nay công ty còn triển khai trồng các giống khác như quế, xoan ta, bồ đề. Để hoàn thành diện tích trồng rừng theo kế hoạch, công ty đã thực hiện 02 hình thức huy động vốn bao gồm: Trồng theo dự án bảo vệ, phát triển rừng của tỉnh và liên kết với các cá nhân hộ gia đình. Công ty đã chỉ đạo đơn vị tư vấn lập hồ sơ thiết kế, đơn vị tham gia trồng rừng chuẩn bị hiện trường và tư vấn ngoại nghiệp, lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật.
Đồng thời, ký hợp đồng nhận khoán, hợp đồng liên kết đầu tư, cân đối nhân lực đối với các hộ dân sống xen canh; chủ động tìm kiếm nhân lực bên ngoài khi các hộ dân không có khả năng thực hiện để tránh tình trạng bỏ dở không trồng hoàn thành diện tích trồng như dự kiến. Bắt đầu từ tháng 4/2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn sẽ triển khai trồng, phấn đấu hoàn thành trong tháng 6.
Cùng với công tác trồng rừng, năm 2016 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn triển khai các biện pháp bảo vệ 8.000ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên thông qua thực hiện quy chế tổ chức, hoạt động của lực lượng bảo vệ và quản lý rừng; phối hợp, liên kết với các ngành chức năng nhằm nâng cao chế tài xử lý các vụ vi phạm khai thác trái phép, xác minh làm rõ các đơn thư khiếu nại liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp của công ty.
Năm 2015 công tác bảo vệ và quản lý rừng trên đất lâm nghiệp của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn diễn ra tương đối phức tạp, xảy ra 38 vụ khai thác trái phép với 95m3 gỗ rừng tự nhiên và 42,8m3 gỗ rừng trồng tại khu vực quản lý của các lâm trường: Chợ Mới, Bạch Thông và Na Rì.
Rút kinh nghiệm từ 02 vụ cháy rừng sau khai thác trắng và thảm thực bì dưới tán rừng trồng với diện tích 3ha tại tiểu khu Thanh Mai thuộc Lâm trường Chợ Mới và tiểu khu Huyền Tụng thuộc Lâm trường Bạch Thông, năm nay Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đã xây dựng phương án phòng, chống cháy rừng cụ thể, nhất là trong mùa khô hanh khi diện tích đang được xử lý thực bì, phát hiện và xử lý kịp thời, hạn chế thấp nhất rủi ro.
Hoạt động sản xuất giống cây lâm nghiệp và tư vấn lâm nghiệp cũng là một trong những là thế mạnh của công ty. Năm 2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn chuẩn bị hơn 5 triệu giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừng trên địa bàn tỉnh và 57.000 giống cây ăn quả. Để nâng cao chất lượng cây giống, đơn vị đã chú trọng đầu tư vườn cây mẹ; tăng cường quản lý, kiểm tra giám sát đối với các xí nghiệp sản xuất và hoạt động tư vấn nhằm đảm bảo chất lượng, uy tín và mở rộng thị trường.
Đối với hoạt động kinh doanh lâm sản, sản phẩm chủ lực của công ty vẫn là gỗ keo và thông. Trong năm 2015 vừa qua, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đã khai thác trên 5.400m3 gỗ keo; trên 1.800m3gỗ thông và trên 230m3 gỗ mỡ, bồ đề, gỗ tận thu).
Năm 2016 theo kế hoạch công ty sẽ khai thác trên 8.000m3 gỗ keo và mỡ; 1.200m3 gỗ thông, tổng doanh thu dự kiến đạt 16,7 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người phấn đấu đạt 4,5 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, việc tổ chức khai thác lâm sản tại một số địa bàn gặp trở ngại do bàn giao hiện trường khai thác, nhất là ở khu vực Lâm trường Ngân Sơn, Na Rì, Chợ Mới, Bạch Thông.
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động mọi mặt, năm 2016 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn sẽ phối hợp với Công ty cổ phần lâm sản Nam Định trong việc triển khai xin cấp chứng chỉ kinh doanh rừng bền vững (FSC) đối với một phần diện tích rừng trồng của công ty. Đồng thời, mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm tang hiệu quả sản xuất, kinh doanh.. (Công An Bắc Kạn 14/3) đầu trang(
Ngày 14/3, tại KCN Thạnh Lộc (Châu Thành, Kiên Giang), Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN (VRG) đã tổ chức lễ khánh thành Nhà máy chế biến gỗ MDF VRG Kiên Giang công suất 75.000 khối/năm.
Đến tham dự có Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát; Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cùng lãnh đạo các địa phương vùng ĐBSCL và lãnh đạo VRG.
Tổng Giám đốc VRG, ông Trần Ngọc Thuận, báo cáo, sau gần 2 năm khởi công xây dựng (7/2/2014), đến nay nhà máy đã hoàn thành xây lắp, chạy thử và dự kiến đưa vào vận hành thương mại vào tháng 5/2016.
Dự án có diện tích 9ha, tổng DT xây dựng 20.000m², tổng khối lượng chế tạo lắp đặt 3.000 tấn, tổng mức đầu tư 1.360 tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu VRG là 410 tỷ đồng hoạt động theo công nghệ ép liên tục, một công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ Đức. Đây cũng là công nghệ đầu tiên trên thế giới sản xuất ván MDF từ nguyên liệu là gỗ tràm nước.
Khi đi vào hoạt động, nhà máy này sẽ là nơi tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp từ các hộ dân trồng rừng với các cây trồng lấy gỗ như tràm Úc, keo lai, bạch đàn và các loại cây bản địa như bần, tràm nước và củi, gốc các loại với sản lượng ước tính 150 ngàn tấn/năm.
Dự kiến doanh thu mỗi năm 700 tỷ đồng, nộp ngân sách 100 tỷ, lợi nhuận 70 tỷ đồng. UBND tỉnh Kiên Giang đã chấp thuận và chuyển giao 3.900ha đất rừng để triển khai trồng rừng nguyên liệu cho nhà máy với 2 loại giống cây chính là keo lai và tràm Úc, đáp ứng 30% nhu cầu nguyên liệu.
Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao nỗ lực của lãnh đạo VRG trong tình hình giá mủ cao su giảm sâu nhưng vẫn giữ vững duy trì tăng trưởng, đảm bảo đời sống thu nhập cho hơn 120 ngàn lao động.
Đặc biệt, việc đưa nhà máy chế biến gỗ MDF VRG Kiên Giang vào vận hành SX sẽ thúc đẩy phát triển vùng kinh tế, giúp tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho các hộ dân trong vùng dự án và góp phần thúc đẩy đầu tư, phát triển thương mại, kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang, cũng như tạo bước phát triển mới cho ngành chế biến gỗ địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/3) đầu trang(
Thông tin từ Cục Thống kê Đồng Nai, kim ngạch xuất khẩu gỗ trong 2 tháng đầu năm 2016 là hơn 206 triệu USD, tăng gần 35%, tương đương 70 triệu USD so với cùng kỳ năm trước.
Đây là một trong 4 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2015. Hiện nay, sản phẩm từ gỗ là một trong 3 nhóm hàng có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Đồng Nai (chỉ sau giày dép, dệt may). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ lớn của tỉnh hầu hết thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ lớn của Đồng Nai là: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, xuất khẩu sản phẩm từ gỗ từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục tăng trưởng cao. (Báo Đồng Nai 13/3) đầu trang(
Dự án chế biến gỗ MDF được đánh giá có quy mô lớn nhất Đông Nam Á hiện nay, đòi hỏi quy hoạch vùng nguyên liệu lớn.
Tổng nhu cầu nguyên liệu khi cả 2 dây chuyền đi vào hoạt động theo dự tính là 800.000 tấn/năm. Hiện nay, cùng với khẩn trương lắp đặt thiết bị sớm hoàn thành đưa Nhà máy chế biến gỗ MDF và ván ghép thanh vào hoạt động, Công ty Lâm nghiệp Tháng Năm đang lo nguyên liệu đầu vào.
Theo báo cáo, đến tháng 3/2015, diện tích lâm nghiệp vùng quy hoạch của Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF do công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm làm chủ là 531,255.3 ha, trong đó, diện tích rừng trồng của nhà máy 136.738.5 ha.
Diện tích, trữ lượng vùng 5 tuổi trở lên trong vùng quy hoạch 12 huyện, tổng diện tích 3,230.85 ha, trữ lượng 210,005.25m3. ùng rừng nguyên liệu phục vụ cho chế biến nằm trên địa bàn 9 huyện như: Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Yên Thành, Thanh Chương... Cơ cấu cây trồng chủ yếu là keo và bạch đàn, trong đó keo chiếm 85%.
Để chuẩn bị cho sản xuất, Công ty CP Lâm nghiệp tháng Năm đã có kế hoạch thu mua nguyên liệu và khối lượng thu mua thực tế được xây dựng chi tiết, gửi đến chính quyền địa phương và các chủ rừng lớn. Hàng quý sẽ có trao đổi để giải quyết các vấn đề, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân. Đối với các nhà cung cấp trung thành cho dự án sẽ có các chính sách ưu tiên hơn.
Hiện đã có các công ty liên kết: Công ty Đông Bắc và Phủ Quỳ cung cấp nguyên liệu cho nhà máy; phát triển vườn ươm cây giống công nghệ cao, hỗ trợ người trồng rừng. Ngoài ra, hợp tác với Công ty chế biến phân vi sinh thuộc Tập đoàn TH để cung cấp phân bón và chính sách ưu đãi. Người trồng rừng cho dự án cũng sẽ được phối hợp với Ngân hàng Bắc Á để xây dựng và cung cấp nguồn vốn ưu đãi. Đi đôi với thực hiện tốt chính sách thu mua, công ty đặc biệt quan tâm đến công tác trồng rừng.
Ông Lê Hồng Sơn – Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Đàn chia sẻ: Trước yêu cầu lớn về nguyên liệu phục vụ dự án này, đối với huyện Nghĩa Đàn vì diện tích rừng không lớn nên chúng tôi sẽ tập trung chỉ đạo các xã đầu tư để tăng năng suất rừng trồng.
Ngay từ trước huyện đã chủ động rà soát diện tích rừng vùng nguyên liệu, đánh giá trữ lượng, sản lượng rừng trồng cho Dự án chế biến gỗ MDF do Công ty Lâm nghiệp Tháng Năm làm chủ đầu tư. Cùng với đó là chú trọng công tác quy hoạch, biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng, giống cây, tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc tốt hơn.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là đảm bảo nguyên liệu để nhà máy hoạt động. Hiện nay đã có hiện tượng tư thương thu mua nguyên liệu trong vùng quy hoạch của nhà máy. Vào vùng rừng bạch đàn của anh Nguyễn Văn Thành ở xóm Đông Hội 1 (Nghĩa Hội, Nghĩa Đàn), chúng tôi chứng kiến cảnh người dân chặt gỗ chất lên xe tải để vận chuyển ra Quảng Ninh làm cột chống hầm lò khai thác than.
Xác định nguyên liệu là khâu then chốt cho nhà máy hoạt động bền vững nên ông Nguyễn Công Vĩnh – Tổng Giám đốc Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm hết sức lo lắng cho vấn đề này. Ông Vĩnh cho biết: Đã có hiện tượng các cơ sở chế biến dăm gỗ hoạt động không phép trên địa bàn tỉnh khiến các doanh nghiệp đầu tư các dự án chế biến gỗ trong quy hoạch rơi vào cảnh khó khăn vì thiếu nguyên liệu sản xuất.
Hiện nay nhà máy chưa đi vào hoạt động chính thức nên nhu cầu nguyên liệu chưa căng, nhưng về lâu dài nếu như các địa phương không quyết liệt chấn chỉnh công tác quản lý trên lĩnh vực này thì rất dễ dẫn đến phá vỡ quy hoạch vùng và kinh tế - xã hội. Vừa qua, để chủ động nguyên liệu, chúng tôi đã liên hệ làm việc với các địa phương có diện tích rừng nhiều như Tương Dương, Con Cuông để mở rộng diện tích rừng nguyên liệu.
Tuy nhiên, vì các cơ sở chế biến tư nhân nhỏ lẻ không xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất, mà chủ yếu dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có ở các địa phương nên ảnh hưởng các nhà đầu tư có nhà máy chế biến đang hoạt động trên địa bàn; và việc khai thác bừa bãi không theo quy trình sẽ khiến không ít người dân chặt cả rừng non chưa đến độ khai thác để bán. Khi đó, không chỉ có doanh nghiệp thiệt hại mà còn ảnh hưởng tới cả người trồng rừng cũng như môi trường đầu tư của tỉnh.
Dự án chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF đi vào khai thác sẽ mang lại những hiệu quả và phát triển về kinh tế không chỉ cho chủ đầu tư mà cho cả nhân dân. Do đó, chính quyền các cấp, các nhà quản lý và các chủ rừng cần quản lý tốt quy hoạch đã đề ra đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho dự án. (Báo Nghệ An 14/3) đầu trang(
Các hiệp định thương mại trong thời gian tới sẽ là bệ phóng giúp sản xuất, chế biến gỗ Việt Nam chiếm lợi thế trong việc giành đơn hàng với doanh nghiệp Trung Quốc.
Công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đang là ngành tự tin nhất khi đối diện với các hiệp định thương mại tự do. Ngành chế biến gỗ cũng là một trong số các ngành của nước ta nhập nguyên liệu thô từ nước ngoài, chế biến tạo ra giá trị gia tăng và xuất khẩu. Do đó ngành này cũng có nhiều đóng góp cho cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM (HAWA) cho biết, từ năm 2016 trở về sau sẽ là thời cơ để ngành gỗ Việt Nam dành lợi thế tăng tốc vượt qua đối thủ lớn nhất là Trung Quốc. Các thị trường châu Âu và châu Mỹ mà chúng ta vất vả cạnh tranh với Trung Quốc từ trước đến nay đã có sự dịch chuyển đáng kể về sự lựa chọn gia công. Cán cân hiện tại đang có dấu hiệu nghiêng về phía Việt Nam.
"Trong vòng một năm trở lại đây, Việt Nam đang hút các đơn hàng lớn được dịch chuyển từ Trung Quốc. Hiện tại vẫn chưa có con số cụ thể, nhưng tôi thấy Việt Nam mình đang chiếm ưu thế và số đơn hàng tương đối nhiều”, ông Khanh nói.
Thông tin từ ông Khanh cũng là cơ sở để HAWA đưa ra dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sẽ đạt khoảng 7,6 tỷ USD, tăng 10,2% so với năm 2015.
Lý giải cho nguyên nhân mức tăng trưởng của ngành gỗ có chiều hướng tốt trong năm qua, cũng như dự báo cho nhiều năm sắp tới, ông Khanh cho rằng: “Hiệp định thương mại chuyển động đến đâu tạo đà cho ngành gỗ phát triển đến đó. Các nước nhập khẩu ở châu Mỹ, EU đang muốn tận dụng những ưu đãi về thuế, nguyên liệu của Việt Nam khi tham gia vào TPP, nên tập trung tìm kiếm cơ hội ở đây rất nhiều.
Kinh nghiệm về sản xuất gỗ của Việt Nam đang được đánh giá cao trong khu vực. Hơn nữa Trung Quốc không phải là thành viên của TPP nên thời điểm này Việt Nam đang được xếp ở “cửa trên” về sự lựa chọn.
Nhận định của HAWA về mức tiêu thụ đồ gỗ trên thế giới là rất lớn, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với nhu cầu. Thống kê sơ bộ trong năm 2015, tiêu thụ đồ gỗ nội thất trên thế giới đạt giá trị 467,7 tỷ USD (tăng 2,8%), và năm 2016 cũng được dự báo tỷ lệ tăng tương tự. Thị trường BĐS của các thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành gỗ như Mỹ, EU, Nhật bản đang tăng trưởng tốt cũng là động lực để nganh gỗ mở rộng thị phần xuất khẩu trên thế giới.
Trong khi đó, dù vẫn đang giữ vị thế nước sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất, ngành gỗ Trung Quốc lại đang gặp phải nhiều khó khăn. Trước hết, chi phí nhân công tăng cao đã khiến cho ngành gỗ nước này bị giảm lợi nhuận khá nhiều so với trước đây.
Mặt khác, có một yếu tố rất quan trọng mà các doanh nghiệp gỗ Việt Nam cần phải chú ý tới, đó là sự thoái trào của ngành gỗ Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc dành sự quan tâm nhiều hơn tới những ngành công nghiệp như điện tử, lắp ráp máy móc…, là những ngành có hàm lượng chất xám cao, đem lại nhiều giá trị thặng dư.
Không chỉ thất thoát đơn hàng từ các doanh nghiệp nước ngoài mà nhiều doanh nghiệp gỗ Trung Quốc đã phải tính tới chuyện dẹp nhà máy trong nước. Đồng thời đi mở nhà máy ở nước ngoài để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu trở lại vào nội địa. Một trong những địa chỉ mà các doanh nghiệp gỗ Trung Quốc đang tìm tới là Việt Nam, do có giá nhân công rẻ hơn.
Do đó, đã giảm sự quan tâm tới những ngành có hàm lượng chất xám và giá trị thặng dư thấp hơn như gỗ, dệt may… Chính vì thế, đây là cơ hội tốt để ngành gỗ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh việc đánh chiếm thị phần, nhất là với những mặt hàng cao cấp.
Dù đặt ở "cửa trên", nhưng ông Huỳnh Văn Hạnh, TGĐ Công ty Cổ phần TCMN Gỗ Liên Minh cũng cảnh báo doanh nghiệp cẩn trọng với hội nhập. "Ngành gỗ Việt Nam dù đang chiếm ưu thế lớn khi giành đơn hàng từ phía Trung Quốc, nhưng khi thị trường mở hoàn toàn, thì các doanh nghiệp Trung Quốc tràn sang Việt Nam, cộng với doanh nghiệp của AEC thì doanh nghiệp Việt cũng phải đối diện với mối nguy lớn nếu không nhanh chóng hoàn thiện mình." (Cafebiz 14/3)) đầu trang(./.
Biên tập: Thu Trang
|
|||