Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Do thời tiết nắng nóng cũng như sự bất cẩn của một số người dân, ngày 13/6, trên địa bàn huyện Thanh Chương đã xảy ra 3 vụ cháy rừng gây nhiều thiệt hại.
Đám cháy đầu tiên được ghi nhận là do ảnh hưởng từ đám cháy ở xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn. Theo ông Nguyễn Văn Thanh - Chủ tịch xã Thanh Lâm: Ngay sau khi xảy ra vụ cháy lớn ở Nam Lộc vào ngày 12/6, xã đã tổ chức phối hợp cứu chữa và tăng cường công tác phòng cháy nhưng do gió Tây Nam thổi mạnh nên vào khoảng 3h sáng 13/6 ngọn lửa bùng phát tại vùng rừng keo ở làng Trại, giáp xã Nam Lộc.
Ngoài lực lượng tại chỗ do UBND xã điều động, UBND huyện Thanh Chương đã huy động gần 200 người gồm cán bộ, chiến sỹ công an, quân sự huyện, Hạt kiểm lâm tham gia chữa cháy. Đến khoảng 10h trưa 13/6, các lực lượng đã dập được các điểm cháy. Thống kê ban đầu có khoản 3,1 ha rừng keo đã bị lửa thiêu rụi.
Vào lúc 11h 45 phút ngày 13/6, lại xảy ra vụ cháy rừng khác ở vùng Thung Lều thuộc địa bàn 2 xóm Kim Thịnh và Hợp Hòa của xã Thanh Chi. Đây là vùng rừng giáp ranh với xã Thanh Khê. Mặc dù lực lượng của huyện và 2 xã đã tập trung cứu chữa nhưng do nắng nóng, thiếu nguồn nước nên lửa cũng đã thiêu trụi 2,5 ha thông và keo lai.  Nguyên nhân ban đầu được xác định là do đốt ong.
Tiếp đó, 15h cùng ngày trên vùng rú Vách đối diện Tổng đội TNXP 5 (thuộc địa bàn xã Thanh Thủy) cũng đã xảy ra một vụ cháy làm cháy trụi một ngôi nhà sàn đã cũ. Nhờ cứu chữa kịp thời nên lửa chưa cháy lan ra rừng. Nguyên nhân được xác định là do một số người dân đốt thực bì sau thu hoạch keo gặp nắng to gió lớn cháy lan sang nhà sàn.
Hiện nay cả 3 vụ cháy đều đã được khống chế nhưng UBND huyện Thanh Chương chỉ đạo các xã và các lực lượng chức năng túc trực để kịp thời xử lý, đồng thời cảnh báo cho tất cả các xã có rừng, các chủ rừng và người dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ ngiêm ngặt các nguyên tắc PCCCR để đề phòng các vụ cháy có thể xảy ra. (Báo Nghệ An 13/6) đầu trang(
Trưa 12/6, ngọn lửa bất ngờ bốc cháy tại rừng Khe Hương thuộc xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn (Nghệ An). Đám cháy bùng lên dữ dội, nhanh chóng lan rộng sang xã Nam Thượng, diện tích rừng bị cháy được xác định là rừng thông, keo khoảng 10 năm tuổi.
Trong lúc cùng lực lượng cứu hộ tham gia chữa cháy rừng, ông Đậu Xuân Lành, Bí thư Đảng ủy xã Nam Lộc không may bị trượt chân ngã rơi xuống vực và bị chấn thương, gãy tay. Nạn nhân sau đó được đưa vào bệnh viện cấp cứu, bó bột. (Zing News 13/6) đầu trang(
Gần 350 cán bộ, chiến sỹ dập đám cháy kéo dài gần 9 giờ đồng hồ khiến 21,3 ha đồng cỏ và tràm bị thiêu rụi.
Vụ cháy xảy ra tại khu A1 Vườn Quốc gia Tràm Chim (QGTC) nằm trên địa bàn xã Phú Thọ, huyện Tam Nông (Đồng Tháp).
Ngay khi phát hiện cháy, lực lượng kiểm lâm Vườn QGTC thông báo kịp thời và kết hợp với lực lượng Công an, Quân sự của tỉnh Đồng Tháp và huyện Tam Nông; lực lượng quản lý rừng tràm Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh và dân quân các xã Phú Đức, Phú Hiệp, thị trấn Tràm Chim cùng cán bộ, công nhân viên chức Vườn QGTC và các ngành có liên quan (khoảng 342 người) sử dụng các phương tiện chuyên dụng và dụng cụ chữa cháy kịp thời.
Đến khoảng 22 giờ đám cháy mới cơ bản được khống chế và đến 0 giờ 25 phút ngày 13/6 đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn. (Tiền Phong 13/6) đầu trang(
Ngày 13-6, ông Nguyễn Văn Khánh, Trưởng ban nhân dân ấp 17, xã Khánh An, huyện U Minh (Cà Mau) cho biết, 4 ngày trước lửa bắt đầu xuất hiện và cháy sâu dưới lớp than bùn ở khu vực Xóm Rẫy.
Khu vực cháy có hoa màu, dây thuốc cá, cây keo lai, mỗi thửa đất bị cháy có diện tích 1,5 ha của 8 hộ dân, ước thiệt hại trên 100 triệu đồng. Theo người dân địa phương, hiện không có cách nào dập tắt đám cháy, vì lửa cháy âm ỉ dưới lớp than bùn, độ sâu hơn 1m.
Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Cà Mau, cho biết: “Mấy ngày qua có mưa liên tiếp nhưng vẫn không thể dập tắt đám cháy. Hiện chỉ có cách cắt băng, khoanh vùng, ngăn không cho cháy lan ra diện rộng và chờ mưa ngập xuống mới dập tắt được lửa”.
Nguyên nhân được xác định là do người dân bất cẩn trong quá trình đốt đồng, dọn cỏ trồng rẫy gây ra vụ cháy. Đây là khu vực tạm cấp cho 52 hộ dân, mỗi hộ 1,5 ha để trồng rừng và hoa màu. Bà con U Minh gọi đây là Xóm Rẫy nhưng chỉ trồng dây thuốc cá là chủ yếu. (Công An Nhân Dân 13/6) đầu trang(
Thông tin từ Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội, cơ quan chức năng đang tập trung điều tra, làm rõ nguyên nhân dẫn đến vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn xã Nam Sơn (Sóc Sơn) ngày 5-6.
Vụ cháy rừng xảy tại lô 7.3, khoảnh 13, thuộc Trạm Sản xuất Hồng Kỳ, địa giới hành chính xã Nam Sơn do chủ nhận khoán là Nguyễn Đăng Minh ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng.
Sau khi nhận được tin báo cháy rừng, Ban Chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Sóc Sơn đã phối hợp chặt với Hạt Kiểm lâm huyện Sóc Sơn, chính quyền địa phương triển khai lực lượng chữa cháy tại hiện trường.
Đã có 80 người được huy động tham gia chữa cháy rừng, sử dụng các phương tiện máy thổi gió, máy phát thực bì, cào cuốc, dao quắm, bàn dập lửa; với sự nỗ lực của các lực lượng, ngọn lửa đã được dập tắt sau 30 phút chữa cháy. Tuy vậy, vụ cháy đã làm thiệt hại khoảng 300m2 thực bì dưới tán thông rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn. (Hà Nội Mới 13/6) đầu trang(
Nắng nóng kèm gió lớn kéo dài suốt nhiều ngày qua khiến nhiều cánh rừng, đặc biệt là rừng sản xuất trên địa bàn Hà Tĩnh như những “lò lửa”, có thể phát hỏa bất cứ lúc nào. Trước tình trạng trên, kiểm lâm cùng các chủ rừng tại tỉnh này hiện đã huy động 100% quân số trực cháy 24/24.
Trao đổi với Dân trí vào trưa ngày 13/6 khi đang kiểm tra công tác trực cháy tại địa bàn thị xã Hồng Lĩnh, ông Trương Quốc Long, Chi cục phó Chi cục Kiểm Lâm Hà Tĩnh cho hay, những ngày qua nắng nóng tại Hà Tĩnh thường xuyên duy trì ở mức trên 38 độ C. Nắng nóng, kèm gió liên tục thổi mạnh, trong khi cành cây, lá cây rơi xuống khô đi một cách nhanh chóng, khiến nhiều cánh rừng, đặc biệt là rừng trồng, rừng sản xuất ở địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đứng trước nguy cơ cháy rất cao.
Các địa bàn dễ bùng phát cháy rừng là thị xã Hồng Lĩnh, với hơn 3.000 ha rừng thông, bạch đàn, thị xã Kỳ Anh hơn 3.600 ha thông, keo và huyện Can Lộc, gần 3.000 ha rừng trồng các loại.
Theo ông Long, nếu rừng phát hỏa vào lúc cao điểm nắng nóng này sẽ khiến công tác ứng cứu gặp nhiều khó khăn, thiệt hại do cháy rừng gây ra cho nhà nước và các chủ rừng sẽ rất lớn.
Để đối phó với tình trạng nắng nóng, nguy cơ xảy ra cháy rừng, ông Long cho biết, những ngày qua Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã cùng với các chủ rừng, các địa phương thành lập hàng trăm tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ khi có cháy rừng xảy ra.
Tại các huyện cao điểm dễ xảy ra cháy như thị xã Hồng Lĩnh, thị xã Kỳ Anh, các huyện Can Lộc, Thạch Hà, lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng của BQL rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh, BQL rừng phòng hộ Hồng Lĩnh đã huy động 100% cán bộ trực cháy 24/24 tại các chòi canh.
Đặc biệt, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đang phối hợp với các cấp, ngành và địa phương tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc tham gia bảo vệ rừng. Tại những khu vực rừng dễ bùng phát cháy rừng, lực lượng chức năng giám sát chặt chẽ các ngã lối ra vào, thậm chí cấm người dân vào rừng để ngăn ngừa rừng phát hỏa.
Ông Long cho hay, do chủ động các phương án phòng chống cháy rừng, nên mùa khô năm nay Hà Tĩnh vẫn chưa để xảy ra cháy rừng. (Dân Trí 13/6) đầu trang(
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của huyện Lệ Thủy trong những năm qua đã được các cấp, ngành, đoàn thể, chủ rừng hết sức quan tâm thực hiện và đạt kết quả khá tốt.
Từ nhiều năm qua, trên địa bàn hầu như không có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra. Đấy là kết quả của sự vào cuộc đầy trách nhiệm của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng nhằm ngăn chặn “giặc lửa” hoành hành trong mùa khô nóng.
Bước vào mùa khô năm nay, nhận định thời tiết diễn biến thất thường, nhiệt độ vào mùa khô có thể lên đến hơn 40 độ C, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao nên chính quyền địa phương huyện Lệ Thủy đã chủ động triển khai các biện pháp PCCCR.
Thông qua hội nghị triển khai công tác này từ đầu năm, UBND huyện đã lưu ý các địa phương có rừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho nhân dân thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng; tổ chức họp rút kinh nghiệm sau từng vụ cháy rừng, những điểm phát lửa xảy ra; tăng cường thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Để bảo đảm công tác PCCCR trên địa bàn được triển khai có hiệu quả, huyện Lệ Thủy đã củng cố và kiện toàn Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR các cấp; thống nhất kế hoạch, phương án PCCCR trên địa bàn do cấp mình quản lý. Các địa phương có rừng giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách cụ thể từng thôn, làng, bản và chịu trách nhiệm huy động lực lượng, phương tiện dụng cụ chữa cháy rừng khi có cháy xảy ra.
Mặt khác, các đơn vị như Lâm trường Kiến Giang, Lâm trường Khe Giữa, Lâm trường Long Đại, Công ty TNHH MTV Lệ Ninh, các chủ rừng cũng chú trọng thành lập ban chỉ huy, xây dựng các tổ, đội tuần tra rừng, cơ động xung kích trong chữa cháy rừng.
Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR huyện chỉ đạo Hạt Kiểm lâm chủ động giao địa bàn quản lý cho từng trạm kiểm lâm. Các trạm tăng cường đưa kiểm lâm viên về từng địa bàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện; đồng thời tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR trong mùa nắng nóng.
Ông Lê Văn Sơn, Phó Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy cho biết: Trên cơ sở tình hình sản xuất, trồng rừng, khai thác rừng và thực trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép trên địa bàn, huyện Lệ Thủy đã chủ động chia các vùng để bảo vệ gồm: Vùng trọng điểm có khả năng xảy ra lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp, phát thực bì trồng rừng trái phép thuộc địa bàn các xã Lâm Thủy, Kim Thủy, Ngân Thủy, Phú Thủy...; vùng trọng điểm về khai thác gỗ trái phép ở diện tích rừng giáp ranh với tỉnh Quảng Trị, rừng giáp ranh giữa Ban Quản lý rừng phòng hộ Động Châu với Chi nhánh Lâm trường Khe Giữa, khu vực Khe Nước Trong, bản Rum-Ho, xã Kim Thủy, diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn sông Kiến Giang...
Ngoài ra, huyện Lệ Thủy cũng đã chia ra 4 vùng trọng điểm cháy rừng để thực hiện tốt phương án phòng ngừa. Trong đó vùng Quốc lộ 1-ven biển có khoảng 2.000 ha rừng thông. Vùng phía trước có khoảng 4.000 ha gồm các xã Mỹ Thủy, Tân Thủy, Dương Thủy, Thái Thủy, Văn Thủy. Vùng đường 15 có khoảng 4.000 ha rừng gồm Kim Thủy, Trường Thủy, Mai Thủy, Phú Thủy, thị trấn Nông trường Lệ Ninh.
Vùng phía tây của huyện chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy và một số diện tích cao su của Công ty Lệ Ninh gồm các xã Lâm Thủy, Ngân Thủy, Lâm trường Khe Giữa, Lâm trường Long Đại... Trên cơ sở xác định những vùng trọng điểm thường xảy ra cháy rừng, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR đã tập trung công tác kiểm tra, chỉ đạo chặt chẽ, mua sắm trang thiết bị dụng cụ, phương tiện để kịp thời đối phó khi phát hiện cháy rừng xảy ra.
Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các phòng, ban chức năng, các xã có rừng tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề quán triệt công tác PCCCR cho người dân sống gần rừng; thực hiện ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR, không chứa chấp đối tượng phá rừng.
Đồng thời tu sửa hàng chục chòi canh chính và làm thêm các còi canh phụ đặt trên địa điểm xung yếu, bố trí lực lượng canh gác thường xuyên; chăm sóc tu sửa hàng chục km đường ranh cản lửa ở khu vực dễ cháy trong mùa khô. Công tác phát dọn, đốt trước thực bì ở các khu vực có rừng thông nhựa như Lâm trường Kiến Giang, Văn Thủy, Mỹ Thủy, Phú Thủy, Mai Thủy, Sen Thủy... cũng được chú trọng.
Với phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ), Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR các cấp ở Lệ Thủy xác định, khi xảy ra cháy rừng thì chính quyền địa phương, chủ rừng nơi xảy cháy phải chủ động huy động mọi lực lượng, phương tiện tại chỗ tham gia dập lửa để cứu rừng. Trường hợp vượt quá tầm kiểm soát của lực lượng cứu chữa tại chỗ, phải khẩn cấp báo cáo về ban chỉ huy PCCCR của huyện để huy động lực lượng ứng cứu.
Mặt khác, công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương các xã liền kề phải được chú trọng và phát huy hiệu quả; đặc biệt đối với các xã có diện tích rừng thông nhựa lớn như Mai Thủy, Trường Thủy, Thái Thủy, Sen Thủy...
Huyện Lệ Thủy có hơn 112.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, toàn huyện có hơn 3.700 ha rừng thông nhựa rất dễ cháy. Nhờ làm tốt công tác PCCCR nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn huyện chưa xảy ra vụ cháy rừng nào. “Huyện đang thực hiện chủ trương khuyến khích trồng rừng, xây dựng vốn rừng, bảo vệ rừng trong các thôn, làng, bản, hộ gia đình và cộng đồng dân cư.
Đối với tổ chức, cá nhân tham gia chữa cháy rừng bị tai nạn rủi ro sẽ được hỗ trợ kinh phí trong thời gian điều trị; đồng thời ban chỉ huy, chính quyền các cấp nhanh chóng làm thủ tục hồ sơ để người bị tai nạn được hưởng chính sách theo quy định” - Phó Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy Lê Văn Sơn nói. (Báo Quảng Bình 13/6) đầu trang(
Hiện nay, đang bắt đầu giai đoạn cao điểm của mùa khô, nhiệt độ tăng cao nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn.
Do đó, công tác phòng chống cháy rừng luôn được Vườn quốc gia Tam Đảo đặc biệt quan tâm, chỉ đạo quyết liệt nhằm ngăn ngừa và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Vườn quốc gia Tam Đảo có diện tích trên 34 nghìn ha, trải dài qua 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang. Vườn quốc gia Tam Đảo giữ vai trò điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường sống.
Theo thông báo từ các Trạm kiểm lâm của Vườn, tổng số diện tích rừng dễ cháy ở Vườn quốc gia Tam Đảo là trên 5 nghìn ha, trong đó ở tỉnh Vĩnh Phúc là gần 3 nghìn ha phân bố ở 75 điểm tập trung ở các địa bàn có nguy cơ cháy cao như các xã: Minh Quang, Đạo Trù, Đại Đình, Hồ Sơn, Hợp Châu, huyện Tam Đảo. Do vậy, công tác sẵn sàng các phương án phòng chống cháy rừng được triển khai quyết liệt.
Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng Vườn quốc gia Tam Đảo đã sẵn sàng các phương án phối hợp với các lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, bộ đội, công an của địa phương, của tỉnh để kịp thời xử lý. Đối với những vùng có nguy cơ cháy cao, vào thời gian cao điểm, các Hạt kiểm lâm địa phương phân công cán bộ trực 24/24 giờ để theo dõi, tiếp nhận thông tin cháy rừng; đồng thời chủ động về lực lượng và phương tiện để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Với sự chỉ đạo sâu sát của Tổng Cục lâm nghiệp và tỉnh, cùng với sự chủ động của mình, Vườn quốc gia Tam Đảo đang nỗ lực hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 12/6) đầu trang(
UBND TP. Nha Trang vừa thông qua Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy (PCCC) rừng năm 2016.
Theo đó, các đơn vị quản lý rừng và UBND các xã, phường có rừng và đất lâm nghiệp cần thực hiện tốt việc bảo vệ diện tích rừng hiện có, ngăn chặn và xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; quản lý chặt việc săn bắt, nuôi nhốt động vật rừng; kiểm kê rừng theo quy định; triển khai thực hiện tốt Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất giai đoạn 2016 - 2020, trong đó năm 2016 diện tích trồng rừng tập trung là 21,2ha, trồng cây phân tán là 30.000 cây.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về PCCC rừng; tổ chức cho các hộ có canh tác nương rẫy trong rừng và ven rừng ký cam kết thực hiện các quy định về PCCC rừng; triển khai phương án xây dựng đường ranh cản lửa núi Cô Tiên (phường Vĩnh Hòa); củng cố lại trang thiết bị phục vụ chữa cháy rừng; thành lập tổ kiểm tra công tác PCCC rừng của hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn quản lý; tăng cường kiểm tra, phát hiện sớm cháy rừng để ứng cứu kịp thời…
Hiện nay, TP. Nha Trang có độ che phủ rừng chiếm 11,7%, có diện tích rừng trồng dễ cháy hơn 1.120ha, nằm phân tán ở 11 xã, phường có đất lâm nghiệp. (Báo Khánh Hòa 12/6) đầu trang(
Từ đầu tháng 6 đến nay, trên khu vực rừng tràm huyện Giang Thành đã xuất hiện một số cơn mưa chuyển mùa nhưng lượng mưa phân bố không đều, thời gian và lưu lượng mưa ít. Vì vậy, toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn Hạt Kiểm lâm Giang Thành quản lý vẫn dự báo cháy ở cấp cực kỳ nguy hiểm và vẫn còn đối mặt với nguy cơ cháy cao.
Hiện tại, Hạt Kiểm lâm Giang Thành vẫn tiếp tục duy trì lực lượng, trang thiết bị canh phòng, ứng trực tại rừng. Huyện Giang Thành hiện có 2056 ha rừng tập trung nhiều ở xã Vĩnh Phú. Do nhiều tháng không có mưa, nước dự trữ trên các cánh rừng không còn nên rừng có nguy cơ xảy ra cháy bất cứ lúc nào. Cộng với thời gian này, người dân đốt đồng cỏ để chuẩn bị sản xuất lúa hè thu nên nguy cơ cháy lan vào rừng rất lớn.
Tuy hiện nay, dưới các lòng kênh đã có nước trở lại, một số khu vực rừng đã có độ ẩm dưới chân rừng nhưng nguy cơ cháy rừng tại thời điểm này ở rừng tràm trên địa bàn huyện Giang Thành vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Một số thảm thực vật dưới tán rừng đã xanh trở lại, nhưng tầng thảm thực vật dễ cháy đã nhiều hơn do lá khô từ trên cây rụng xuống. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao sau khi có nắng nóng trở lại từ 1 đến 2 ngày.
Trao đổi với Phóng viên Báo TN&MT, ông Hồ Ru By – Hạt Trưởng Kiểm lâm huyện Giang Thành cho biết: Măc dù đã có mưa nhưng chúng tôi không thể lơ là với Phòng chống cháy rừng (PCCR). Lực lượng kiểm lâm cùng các chủ rừng trên địa bàn huyện Giang Thành vẫn tiếp tục tăng cường các biện pháp PCCR theo kế hoạch.
Song song với việc thường xuyên tuyên truyền vận động người dân không mang lửa vào rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Giang Thành còn thường xuyên cử cán bộ bám địa bàn phối hợp với các đơn vị và chủ rừng như Trung Đoàn 30, Lâm trường 422 và Sư đoàn 330  trực sẵn sàng 24/24 giờ tại rừng nhằm phát hiện sớm các điểm cháy dập tắt lửa mới phát sinh không để xảy ra cháy nghiêm trọng; đồng thời tuần tra, kiểm soát ngăn chặn không cho người vào rừng trong thời gian vừa mưa vừa nắng. Hiện các cấp, các ngành của huyện Giang Thành đang nỗ lực, tập trung mọi biện pháp nhằm hạn chế các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn Huyện. (Tài Nguyên Và Môi Trường 13/6) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh vừa quyết định tổ chức lại Chi cục Kiểm lâm và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm lâm tỉnh (Quyết định số 956/QĐ-UBND ngày 11/6/2016).
Theo đó, tổ chức lại Chi cục Kiểm lâm trên cơ sở sáp nhập Chi cục Phát triển lâm nghiệp về Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đây là tổ chức hành chính thuộc Sở, có chức năng tham mưu quản lý chuyên ngành về bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành và tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Trụ sở làm việc tại số 24, đường Trần Hưng Đạo, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn
Cơ cấu tổ chức của Chi cục có Chi cục trưởng và không quá 02 Phó Chi cục trưởng. Các phòng chuyên môn gồm: Phòng Hành chính, Tổng hợp; Thanh tra, Pháp chế; Quản lý, bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên; Sử dụng và Phát triển rừng; Tổ chức, tuyên truyền và Xây dựng lực lượng. Các đơn vị trực thuộc: Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng và Hạt Kiểm lâm 11 huyện, thành phố. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lạng Sơn 13/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình hình phá rừng trên địa bàn huyện Bắc Bình diễn ra rất phức tạp. Không chỉ khai thác gỗ, các hộ dân ở huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) còn lấn chiếm đất rừng để sản xuất.
Chính vì vậy, các đơn vị chủ rừng và ngành chức năng huyện đã liên kết với đơn vị chủ rừng của huyện Đức Trọng và Di Linh (Lâm Đồng) nhằm bảo vệ rừng vùng giáp ranh.
Ông Võ Thái Hòa – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bắc Bình cho biết: Huyện có trên 90.000 ha rừng tự nhiên với 5 đơn vị quản lý, bảo vệ gồm Ban Quản lý rừng phòng hộ Cà Giây, Sông Mao, Phan Điền, Sông Lũy và Lê Hồng Phong. Trong đó có khoảng 43.000 ha rừng phòng hộ và khoảng 46.000 ha rừng sản xuất. Rừng thuộc lâm phận quản lý của các ban: Cà Giây, Sông Mao và Sông Lũy giáp ranh với huyện Đức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Đồng ước tính có hơn 95 km.
Hiện tại, tình trạng phá rừng ở khu vực giáp ranh này diễn biến phức tạp. Không chỉ khai thác gỗ trái phép, nhiều hộ dân ở huyện Đức Trọng còn lấn chiếm đất rừng để sản xuất, trồng cà phê. Xác định các khu vực trọng điểm thường xuyên xảy ra nạn khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ở các tuyến rừng, khu vực giáp ranh với huyện Đức Trọng (Lâm Đồng), khu vực dân cư xã Phan Sơn, Phan Lâm.
Hạt và đơn vị chủ rừng tiếp tục tổ chức các đợt truy quét chống phá rừng trên địa bàn huyện. Theo đó, bố trí lực lượng thường xuyên truy quét trên các khu vực như Phan Tiến, Phan Sơn, Phan Lâm; khu vực giáp ranh với xã Ninh Loan, Đà Loan – huyện Đức Trọng (Lâm Đồng); các tuyến giao thông như Sông Lũy – Bình Tân; Hải Ninh – Bình An; đường Đại Ninh – Lương Sơn.
Chỉ tính riêng trong tháng 5, toàn huyện đã tổ chức 27 đợt kiểm tra công tác quản lý và bảo vệ rừng giáp ranh. Qua kiểm tra, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cà Giây, Sông Mao thu giữ 7 máy cưa do các đối tượng bỏ chạy để lại, phát hiện hành vi khai thác rừng trái phép tại tiểu khu 89, 78 với số lượng 11 cây gỗ sao, 2 cây gỗ chai. Ngoài ra, còn phát hiện 3 trường hợp phá rừng trái phép tại các tiểu khu 60, 84 và 105 với tổng diện tích hơn 1 ha, chưa xác minh được đối tượng vi phạm.
Còn 17 trường hợp lấn chiếm gần 12 ha rừng để canh tác tại tiểu khu 104 cũng đang được đơn vị quản lý này tiến hành xác minh. Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, đơn vị chủ rừng cũng phát hiện tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại một số tiểu khu với diện tích lấn chiếm hơn 80.000m2, nhưng không xác định được đối tượng vi phạm.
Theo ông Hòa, công tác quản lý và bảo vệ rừng, nhất là ở khu vực giáp ranh được ngành chức năng của huyện cùng các đơn vị chủ rừng thực hiện quyết liệt. Từ đầu năm 2014, một Trạm quản lý và bảo rừng liên huyện Bắc Bình – Đức Trọng (Lâm Đồng) đã đi vào hoạt động. Tại trạm không chỉ có người của chủ rừng mà còn có lực lượng Công an, Quân sự, Hạt Kiểm lâm cùng phối hợp làm nhiệm vụ giữ rừng, trạm luôn giữ số lượng 14 người, trong đó có 4 người của huyện Đức Trọng (Lâm Đồng).
Sau một thời gian hoạt động, tình trạng lấn chiếm đất rừng, vận chuyện lâm sản trái phép ở khu vực giáp ranh có chiều hướng giảm. Để tiếp tục phát huy hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng giáp ranh, trong tháng 6, huyện sẽ thành lập tiếp một Trạm quản lý và bảo vệ rừng liên huyện Bắc Bình (Bình Thuận) – Di Linh (Lâm Đồng). (Báo Bình Thuận 13/6) đầu trang(
Được giao quản lý 1.158ha rừng bao bọc xung quanh khu di sản và các vùng lân cận, những năm qua Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn luôn chú trọng công tác bảo vệ rừng, góp phần tạo lập môi trường sinh thái và cảnh quan trong lành cho di sản.
Trong số 1.158ha rừng tự nhiên được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định để Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn khoanh vùng bảo vệ, diện tích chủ yếu thuộc địa bàn các xã Duy Phú, Duy Hòa, Duy Sơn và một phần giáp ranh với  xã Quế Trung, huyện Nông Sơn. Để quản lý diện tích rừng lớn này, ngay từ khi mới thành lập, Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn đã xác định việc bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Bên cạnh việc thành lập đội an ninh và bảo vệ rừng với số thành viên chuyên trách không ngừng được hoàn thiện (đến năm 2014 tổng số thành viên đã lên đến 30 người có kiến thức chuyên môn về rừng), đơn vị cũng đã đầu tư mua sắm trang thiết bị công cụ chữa cháy rừng chuyên dụng như vỉ dập lửa, bình chữa cháy, can nhựa, máy thổi gió, đồ bảo hộ…, sẵn sàng ứng cứu khi có sự cố xảy ra.
Theo ông Nguyễn Công Khiết - Phó Trưởng ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn, vấn đề quan tâm của đơn vị trong quản lý rừng hiện nay là tình trạng người dân lén lút vào rừng săn bắt động vật, đốt than dẫn đến nguy cơ cháy rừng. Vì vậy, đơn vị đã tăng cường lực lượng đến các điểm nóng có nguy cơ cháy rừng để chốt chặn, ngăn ngừa. Lực lượng này còn thực hiện việc truy quét, phá dỡ các bẫy thú đặt trái phép trong rừng, phát hiện các dấu hiệu chăn thả trâu bò để tổ chức đẩy đuổi ra khỏi phạm vi.
Ngoài ra, đơn vị luôn bố trí thường xuyên 2 nhân viên chốt canh tại điểm cao đỉnh núi Mỏ Cày nhằm quan sát toàn bộ diện tích rừng, nhanh chóng báo động khi phát hiện cháy rừng. Cùng với đó, đơn vị cũng tổ chức phát tuyến hàng chục ki lô mét đường băng xanh ngăn chặn cháy lan và giúp cho công tác ứng cứu khi có cháy rừng được cơ động hơn; lập phương án tác chiến tại chỗ, hợp đồng phối hợp với các đơn vị xã Duy Phú, Hạt Kiểm lâm huyện Duy Xuyên tăng cường  tuần tra truy quét rừng...
“Chúng tôi xác định công tác bảo vệ rừng cũng quan trọng như bảo tồn các đền tháp Mỹ Sơn nên vào thời điểm nắng nóng này, ban quản lý luôn cắt cử người bám sát địa bàn, trực báo cháy trong ngày. Cùng với đó, việc tuyên truyền nhắc nhở đến du khách và người dân địa phương thực hiện tốt các quy định về phòng chống cháy rừng cũng luôn được đơn vị đặt lên hàng đầu. Nhờ làm tốt công tác này mà nhiều năm qua hầu như chưa có vụ cháy rừng đáng kể nào xảy ra trên diện tích rừng xung quanh khu vực Mỹ Sơn” - ông Khiết cho biết.
Theo ông Nguyễn Duy - Đội trưởng Đội an ninh trật tự và bảo vệ rừng (Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn), dù chưa có thống kê chính thức về sự phục hồi của hệ động thực vật xung quanh khu di sản nhưng có thể khẳng định, kết quả công tác bảo vệ rừng thời gian qua là rất lớn, ước đoán diện tích che phủ rừng đạt trên 70% so với trước đây, trong đó số cây lớn có tán rộng chiếm 40 - 50%; tình trạng người dân vào rừng chặt cây đốt than đã không còn xảy ra.
Đặc biệt, các loại cây thuộc nhóm danh mộc có nguy cơ bị tuyệt chủng như chua, trao, kơnia, giẻ đỏ… nay đã được bảo vệ và phát triển tốt. Thậm chí, nhiều cá thể thân cây có đường kính vài người ôm xuất hiện khá nhiều tại các khu vực Hòn Đền - Nà Thắng. Cùng với đó, các loại động vật hoang dã như heo rừng, gà rừng, gà gô, trĩ, mang, khỉ, các loài chim cũng đã quay về cư trú, sinh sôi phát triển mạnh.
Song song với việc bảo vệ rừng, công tác phát triển rừng, bảo tồn các nguồn gen quý cũng được chú trọng như tổ chức trồng các loài cây bản địa thuộc nhóm danh mộc như lim xanh, gõ đỏ, cẩm lai, lát hoa, dầu rái… nhằm phát triển rừng theo tiêu chí rừng đặc dụng và tạo cảnh quan di tích lịch sử đã được triển khai mạnh mẽ.
Chỉ tính riêng 2 năm trở lại đây, hơn 10 nghìn cây gỗ quý đã được trồng bổ sung trên diện tích hàng trăm héc ta, dự kiến thời gian tới, mỗi năm sẽ có thêm 5.000 cây khác được trồng dặm thêm, bắt đầu từ vùng lõi mở rộng ra các khu vực xung quanh, nhất là tại những vùng rừng dù có cây che phủ nhưng chưa có cây danh mộc.
Ông Đinh Hài - Giám đốc Sở VH-TT&DL khẳng định, thành công của Mỹ Sơn kể từ khi được công nhận di sản văn hóa thế giới không chỉ ở công tác bảo tồn di tích gắn với phát triển du lịch mà còn thể hiện rõ nét ở việc phục hồi cảnh quan sinh thái tại vùng lõi di sản và những vùng lân cận.
Thực tế, ngày nay du khách đến tham quan Mỹ Sơn bên cạnh tìm hiểu, trải nghiệm các giá trị văn hóa lịch sử còn có cơ hội khám quá môi trường sinh thái xung quanh, nhất là khu vực Hòn Đền núi Chúa.
“Rừng và cảnh quan Mỹ Sơn là một phần quan trọng không thể tách rời trong giá trị lịch sử văn hóa của khu di sản. Vì vậy, việc bảo tồn rừng đặc dụng Mỹ Sơn - Hòn Đền cũng có nghĩa bảo tồn cho sự tồn tại của chính khu di tích, và điều này đã được Ban quản lý Mỹ Sơn làm khá tốt để mang đến cho khách những cảm nhận toàn diện và sâu sắc về khu di sản văn hóa thế giới này” - ông Hài nhìn nhận. (Tài Nguyên Và Môi Trường 13/6) đầu trang(
Đó là nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai tại Công văn số 2481/UBND-NL. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND huyện Krông Pa chỉ đạo các lực lượng chức năng tiếp tục tăng cường công tác tuần tra để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi phá rừng, khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra trên địa bàn.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp các ngành chức năng xử lý số gỗ vi phạm đã thu giữ theo đúng các quy định hiện hành, kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan của Hạt Kiểm lâm Krông Pa vì chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đồng thời, UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Krông Pa chỉ đạo các ngành chức năng đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý vụ khai thác trái phép 55,273 m3 gỗ tại tiểu khu 1415; xem xét, kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan do liên tục để xảy ra các vụ khai thác rừng trái phép trên địa bàn được giao quản lý.
Bên cạnh đó, các địa phương vùng giáp ranh chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng ở các huyện Ea H’leo và Ea Súp (tỉnh Đak Lak) tăng cường công tác tuần tra kiểm soát để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, góp phần bảo đảm an ninh trật tự vùng giáp ranh giữa hai tỉnh. (Báo Gia Lai 13/6) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa có văn bản gửi các Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp, UBND các huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và thực hiện phương án sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục chỉ đạo tuyên truyền các chủ trương, chính sách sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động các công ty lâm nghiệp. Chỉ đạo lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kịp thời ngăn chặn người dân các địa phương phá rừng tự nhiên. Đồng thời đôn đốc các công ty lâm nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi, trong đó tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và bảo vệ phát triển rừng, đất lâm nghiệp trên diện tích được giao.
Các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh theo kế hoạch. Quản lý chặt chẽ rừng và đất đai. Phối hợp với chính quyền và các cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm các tranh chấp và sớm hoàn thành việc giao đất gắn với thuê đất, thuê rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tạm dừng việc ký kết các hợp đồng liên doanh, liên kết sản xuất với các đối tác không trong phương án của tỉnh. Nghiêm cấm lợi dụng việc chuyển đổi làm thất thoát tài sản, tài nguyên của Nhà nước. Nếu công ty nào để xảy ra các vi phạm như: Lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng, mua bán, thanh lý tài sản trái phép thì trách nhiệm trước hết thuộc người đứng đầu công ty và các cá nhân trực tiếp vi phạm.
UBND các huyện Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế chỉ đạo UBND các xã tuyên truyền tới các hộ dân trên địa bàn về chủ trương, chính sách sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty lâm nghiệp. Nghiêm cấm việc lợi dụng chủ trương sắp xếp để lấn chiếm đất đai trái phép.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với lực lượng kiểm lâm tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp phá rừng tự nhiên trái phép theo quy định của pháp luật. Phối hợp với công ty lâm nghiệp trên địa bàn giải quyết dứt đỉểm các tranh chấp đất đai; hoàn thiện các thủ tục giao đất gắn với thuê đất, thuê rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty lâm nghiệp. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang 13/6) đầu trang(
Chi cục đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện Bá Thước, tham mưu cho UBND huyện thành lập 2 đoàn kiểm tra tiến hành xác minh.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, thời gian qua tình trạng an ninh rừng trên địa bàn thiếu ổn định, quá trình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép vẫn xảy ra tại nhiều địa phương, trong đó có Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Luông (xã Thành Sơn, huyện Bá Thước).
Trao đổi với PV NNVN, ông Lê Quốc Việt, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, cho biết: “Qua công tác giám sát, theo dõi chúng tôi có nắm bắt được một số thông tin liên quan đến tình trạng phá rừng tại huyện Bá Thước. Trước tình hình trên, Chi cục đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện Bá Thước, tham mưu cho UBND huyện thành lập 2 đoàn kiểm tra tiến hành xác minh”.
Về việc ông Lê Thế Sự - Giám đốc kiêm Hạt trưởng KBTTN Pù Luông khẳng định đơn vị đã tiến hành kiểm tra, đo đếm cụ thể và kết luận “chỉ có một vài cây bị chặt”; ông Lê Quốc Việt khẳng định phía KBTTN Pù Luông phải có văn bản cụ thể, xác minh ngày nào, thành phần tham gia kiểm đếm bao gồm những ai? Trong trường hợp số liệu cung cấp không đúng như thực tế thì sẽ có biện pháp xử lý vì cố tình báo cáo sai sự thật.
Ông Việt cho biết thêm, liên quan đến vấn đề an ninh rừng trong năm 2015 tại địa phận KBTTN Pù Luông, đơn vị này báo cáo vẫn còn hiện tượng khai thác rừng quy mô nhỏ lẻ, trong đó tập trung chủ yếu tại xã Thành Sơn và một vài điểm khác thuộc lâm phận của Khu bảo tồn.
Phía Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa nhận định, trong trường hợp đoàn kiểm tra xác minh tình trạng phá rừng nói trên là có thật thì trách nhiệm đầu tiên thuộc về chủ rừng (KBTTN Pù Luông), tiếp đến là chính quyền địa phương (UBND huyện Bá Thước). (Nông Nghiệp Việt Nam 14/6) đầu trang(
Huyện Đăk Glei (Kon Tum) đang là điểm nóng khai thác vàng trái phép. Lực lượng chức năng địa phương nhiều lần truy quét thế nhưng mọi biện pháp chỉ như “bắt cóc bỏ đĩa”.
Men theo con đường mòn vào các vị trí thuộc tiểu khu 180, cách trụ sở UBND xã Đắk Kan (huyện Đăk Glei) chừng khoảng 10km, những khu hầm vàng đồ sộ nằm sâu trong lòng đất dần lộ diện. Cửa hầm được thiết kế có chiều rộng chừng hơn 1 mét và cao chừng 2 mét. Những đường hầm được làm công phu, có sức chứa nhiều người được mọc ngang nhiên trong khu rừng nguyên liệu giấy.
Từ cửa hầm, đi sâu vào trong lòng đất khoảng 5 mét, đường hầm chia ra thành nhiều ngóc ngách nhỏ hơn và chạy các ngả trong lòng đất. Người dẫn đường cho biết, sở dĩ trong lòng đất đào nhiều ngóc ngách như vậy vì phải đào theo các vỉa đất có vàng, có nhiều hầm chạy dài như địa đạo dưới lòng đất.
Sau khi đi thị sát nhiều vị trí tại tiểu khu 180, chúng tôi phát hiện có 7 hầm vàng khá đồ sộ. Chưa dừng lại ở đó, tiểu khu 181 có hàng trăm hầm nằm san sát, không thể thống kê hết. Trong đó có nhiều hầm vàng sau khi khai thác xong đã bỏ không, có nhiều hầm lâm tặc chỉ đào thăm dò, khi phát hiện không có vàng nên chuyển qua đào chỗ khác.
Ban trồng rừng nguyên liệu giấy Ngọc Hồi (Công ty nguyên liệu giấy miền Nam) đã có báo cáo gửi UBND huyện Ngọc Hồi và các ngành chức năng tỉnh Kon Tum về việc người dân vào khai thác vàng, khoáng sản trái phép trong khu rừng nguyên liệu giấy thuộc tiểu khu 180, 181 xã Đắk Kan.
Trong báo cáo của Ban trồng rừng nguyên liệu giấy Ngọc Hồi, tình trạng người dân vào rừng nguyên liệu giấy khai thác vàng là “xảy ra rất đáng báo động”. Vàng tặc kéo nhau thành từng nhóm 30-40 xe máy đi sâu vào trong rừng để khai thác, đào bới len lỏi tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Các vị trí thường xuyên xuất hiện người ra vào liên tục cả ngày lẫn đêm như: khoảng 6 tiểu khu 180, khoảng 10 tiểu khu 181 (thuộc xã Đắk Kan).
Trước tình trạng trên, các cơ quan chức năng của tỉnh Kon Tum đã tích cực vào cuộc truy quyét, tịch thu máy móc, tháo dỡ lán trại đẩy đuổi các đối tượng khai thác trái phép ra khỏi địa bàn. Tuy nhiên, đẩy đuổi nơi này “vàng tặc” lại chạy đi nơi khác. Thành phần các đối tượng khai thác vàng trái phép gồm có người dân địa phương, một số thì từ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình tràn vào. Tình hình ở các điểm khai thác trái phép hết sức phức tạp, mất an ninh trật tự, ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng.
Ông Vũ Đình Sơn, Trưởng Ban trồng rừng nguyên liệu giấy Ngọc Hồi cho biết, những lần phát hiện người dân vào khai thác vàng đều báo cho chính quyền địa phương xử lý. “Sau khi mình báo chính quyền xử lý, nhiều đối tượng biết được đã đe dọa hành hung, đập phá đồ đạc của đơn vị tại các chòi canh”, ông Sơn nói.
Theo ông Ông Nguyễn Bá Huân, Chủ tịch UBND xã Đắk Kan, đối với việc người dân vào khai thác vàng ở tiểu khu 180 và 181, chính quyền xã thường xuyên tổ chức lực lượng công an, dân quân xã truy quyét. Tuy nhiên các đối tượng từ các nơi khác tới chủ yếu làm lén lút, nhỏ lẻ nên rất khó phát hiện. “Thực tình mà nói tình trạng đã diễn ra từ lâu rồi, một thời điểm không truy quyét thì rộ lên. Giờ truy quyét nên đã đỡ nhiều rồi. Các đối tượng chủ yếu đi xe máy vào khai thác, tối chở đất ra nơi khác xay chứ không làm tại chỗ”, ông Huân cho biết thêm.
Ông Nguyễn Đức Xuân, Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Ngọc Hồi cung cấp thêm, tại khu vực trên, UBND huyện đã xử phạt 2 trường hợp là ông Đinh Công Hà (SN 1970, xã Đắk Kan, huyện Ngọc Hồi) 10 triệu đồng, tịch thu phương tiện và thứ hai là công ty Hải Vân xin giấy phép khảo sát khu vực này nhưng lại tiến hành đưa máy đào, đào nhiều hố sâu, bị cơ quan phát hiện.
Theo ông Xuân, tình trạng người dân tiến hành khai thác vàng tại khu vực trên đã diễn ra từ lâu, tuy nhiên chưa có biện pháp xử lý triệt để vì chủ yếu là khai thác nhỏ lẻ, cá nhân. Năm 2003 -2004 đã có những trường hợp khai thác trộm và đã bị xử lý, nhiều hầm vàng bị đánh sập. (Công An TP.HCM 14/6) đầu trang(
Quảng Nam được xem là “diểm nóng” về hoạt động khai thác vàng. Từ có phép đến không phép, từ Nam Giang, Tây Giang đến Phước Sơn, Phú Ninh… tình trạng khai thác vàng diễn ra công khai lẫn lén lút.
Đặc biệt, nhiều Cty đã hết phép nhưng vẫn khai thác gây thất thoát lớn nguồn tài nguyên quốc gia. Hệ lụy của nó gây ô nhiễm môi trường, rừng núi bị tàn phá, tình hình ANTT phức tạp… Trong khi đó, 2 Cty vàng lớn nhất nước là Bồng Miêu và Phước Sơn đang nợ thuế hàng trăm tỷ đồng khiến dư luận vẫn chưa hết bức xúc và đặt nghi vấn liệu có hay không việc buông lỏng quản lý của một số cơ quan chức năng.
Không thể phủ nhận, thời gian qua lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị nhằm xóa bỏ tình trạng khai thác vàng trái phép cũng như chấn chỉnh tình trạng khai thác vàng có phép. Theo đó, nhiều đợt truy quét, đẩy đuổi được tiến hành, kinh phí để thực hiện những đợt ra quân trên tốn không ít. Thế nhưng sau mỗi đợt truy quét, thực trạng trên vẫn “đâu lại vào đó”.
Theo các ngành chức năng, nguyên nhân do địa bàn hiểm trở, mỗi lần truy quét mất thời gian và kinh phí, Trong khi đó, khai thác vàng trái phép đầu tư ít nhưng đem lại lợi nhuận lớn. Do vậy khi máy móc, lán trại bị đập phá thì ngay sau đó họ lại mua sắm thiết bị mới để đầu tư khai thác.
Ngoài ra, một số địa phương, đơn vị chức năng có biểu hiện bao che hoặc tiếp tay cho “vàng tặc” để các đối tượng này có đất hoạt động. Minh chứng như trung tuần tháng năm vừa qua, 30 CBCS CA tỉnh Quảng Nam đã lặng lẽ đột kích vào bãi vàng Thành Mỹ 1 (xã Đắc Pring, H. Nam Giang) để khống chế, đẩy đuổi 200 đối tượng khai thác vàng trái phép tại đây.
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Sông Thanh nằm trên địa bàn 2 huyện Phước Sơn và Nam Giang, giáp biên giới nước CHDCND Lào, với diện tích 93.249ha vùng lõi và 108.398ha vùng đệm. Riêng khu vùng lõi được chia thành 2 khu bảo vệ nghiêm ngặt. Thế nhưng tại khu vực này, nhiều năm qua các đối tượng khai thác vàng trái phép vẫn ngang nhiên hoạt động, dù bên ngoài KBTTN có nhiều đơn vị chức năng túc trực bảo vệ.
Để đột nhập bãi vàng trên, lực lượng CA tỉnh Quảng Nam phải cải trang thành cán bộ đi vận động công tác bầu cử. Sau khi lập biên bản xử phạt 13 chủ bãi vàng về hành vi thăm dò, khai thác khoáng sản trái phép, lực lượng chức năng đã phá hủy 15 hầm lò, 22 lán trại cùng hàng chục máy móc được dùng để khai thác vàng. Hơn 200 vàng tặc bị đẩy đuổi, bàn giao chính quyền địa phương quản lý. Tuy nhiên, sau khi lực lượng chức năng rút đi thì các đối tượng tiếp tục mua sắm thiết bị máy móc trở lại hoạt động bình thường…
Đầu tháng 6 này, sau 2 tuần bãi vàng trên bị truy quét, chúng tôi trở lại Nam Giang thì đã nghe thông tin các đối tượng làm vàng đã quay trở lại hoạt động. Tiếp xúc với chúng tôi, ông Alăng Mai - Chủ tịch UBND H. Nam Giang cho biết: KBTTN Sông Thanh chiếm 1/3 diện tích toàn huyện, giáp ranh 8/12 xã, trong đó có nhiều xã biên giới, địa bàn hiểm trở. Huyện đã nhiều lần tổ chức truy quét, đẩy đuổi nhưng cũng chỉ trong thời gian nhất định do không có kinh phí.
“Cấp huyện quản lý không xuể. Trong khi đó Ban Quản lý KBTTN Sông Thanh là đơn vị được giao chủ rừng, ngoài ra còn có các đồn biên phòng, chính quyền địa phương các xã nhưng lại để xảy ra tình trạng trên. Qua đó có thể thấy sự thiếu trách nhiệm trong việc quản lý của các đơn vị, chưa nói đến người dân nhiều lần đã có đơn, thư tố cáo tiêu cực liên quan đến vấn đề trên. Do vậy, cần nghiêm túc xem xét lại trách nhiệm của từng đơn vị” - ông Mai nhấn mạnh.
Chủ tịch UBND H. Nam Giang cũng cho rằng, thời gian qua, việc phối hợp quản lý, bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng chưa hiệu quả. Việc ký kết phối hợp giữa các bên được thực hiện nhưng hằng năm không có cuộc họp để xem xét, đánh giá lại hiệu quả việc phối hợp. Cũng chính việc để các bãi vàng trái phép hoạt động trong thời gian dài nên tạo điều kiện cho các đối tượng phạm pháp có nơi dung thân, từ đó phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, gây mất ANTT tại địa phương.
Việc KBTTN Sông Thanh bị tàn phá trong hàng chục năm qua, thế nhưng trả lời P.V, ông Từ Văn Khánh - Giám đốc Ban Quản lý KBTTN kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh (chủ rừng) lại cho rằng việc làm của vàng tặc trong KBTTN chỉ ảnh hưởng đến nguồn nước, còn cây cối, hệ động thực vật không bị ảnh hưởng(?).
“Với diện tích rừng lớn, song lực lượng mỏng nên vàng tặc lợi dụng tổ chức khai thác dai dẳng trong KBTTN. Từ sau Tết đến nay lực lượng liên ngành đã phối hợp truy quét 6 đợt, qua đó đẩy đuổi, đập phá một số máy móc, dụng cụ của vàng tặc... Do vàng tặc chỉ làm ở những triền khe suối nên không ảnh hưởng đến khu bảo tồn” - ông Khánh nói. Tuy nhiên, khi P.V hỏi ông đã trực tiếp vào địa điểm trên lần nào chưa mà khẳng định như vậy, vị giám đốc này cho biết “nghe anh em báo cáo chứ mình chưa vào đó lần nào”.
Để tiếp tục truy quét “vàng tặc” trong KBTTN Sông Thanh, thực hiện chỉ đạo của Thường trực Huyện ủy Nam Giang, từ ngày 3 đến ngày 7-6, liên ngành H. Nam Giang với gần 40 người đã tiến hành đợt truy quét tại 3 khu vực gồm Khe Tà Val, bãi Thành Mỹ 1, bãi Thành Mỹ 2 (thuộc xã Đắc Pring).
Kết quả đợt truy quét tiếp tục đẩy đuổi gần 100 đối tượng, phá hủy gần 30 máy móc, thiết bị như máy nổ, máy phát điện, bình hơi, máy xay đá, tiêu hủy hơn 30 lán trại, đặc biệt trong đó có 7 lán trại của người dân địa phương vào mở để buôn bán, phục vụ cho “vàng tặc”.
Theo UBND H. Nam Giang cho biết, sau đợt truy quét này sẽ thành lập một tổ liên ngành nhằm chốt chặn ngay trong khu vực khai thác vàng trái phép trên. Tuy nhiên, để dẹp tận gốc vấn nạn “vàng tặc” lộng hành ở đây hàng chục năm qua, theo ông Alăng Mai cần sự phối hợp hơn nữa của các ngành chức năng như Sở NN&PTNT, BĐBP cùng các đơn vị liên quan.
Đặc biệt, phải xử lý nghiêm và đưa những cán bộ nhà nước có hành vi làm ngơ, bao che, tiếp tay cho hoạt động khai thác vàng trái phép ra khỏi bộ máy của Đảng, Nhà nước theo tinh thần Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 18-5-2016 của UBND tỉnh Quảng Nam mới ban hành. (Công An TP.Đà Nẵng 13/6) đầu trang(
Đó là ông Nguyễn Văn Trường ở xã Nam Dương (Lục Ngạn, Bắc Giang), người dân ở đây còn gọi ông với cái tên thân mật là lão “Trường Cò”. Bởi một phần do dáng người nhỏ con và  ông còn là chủ khu rừng dẻ tái sinh tập trung rất nhiều loài chim, cò về ở.
Vào những chiều hè oi bức này, khi đến khu rừng dẻ của lão Trường Cò sẽ thấy từng đàn cò ở khắp nơi bay về làm tổ tạo thành một vùng trắng xóa trên nền cây xanh mát. Ông nghĩ đây là đất lành chim, cò mới về đậu nhiều như vậy.
Vui vẻ với cái tên Trường Cò bà con thân mật gọi mình, ông cũng cảm thấy có trách nhiệm và gắn bó hơn với đồi cò mình đang trông giữ. Từ đó, lão Trường Cò và gia đình đã nỗ lực bảo vệ rừng, tránh khai thác bừa bãi, nhất là vào mùa sinh sản của đàn cò. Đồng thời, ông cũng thường xuyên nhắc nhở và ngăn chặn người dân săn, bắn, làm ảnh hưởng đến đời sống của các loài động, thực vật ở đây.
Nhìn xa xăm về phía cuối khu rừng, ông Trường chia sẻ, khi chứng kiến cảnh môi trường xung quanh ngày càng bị ô nhiễm, tôi trăn trở suy nghĩ phải làm gì để bảo vệ được môi trường sống. Hằng ngày, gắn bó với những cánh rừng ông càng thấy được tầm quan trọng của đa dạng sinh học với thiên nhiên.
Vì vậy, ông Trường đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ đa dạng sinh học ở khu rừng tái sinh do gia đình mình quản lý. Nhờ đó, khu rừng dẻ của gia đình ông đã tạo thành một không gian xanh, đa dạng các loài động, thực vật sinh sống.
Tuy nhiên, để có được không gian xanh như hôm nay ông Trường đã phải trải qua không ít khó khăn. Nhập ngũ năm 1986, đến năm 1990 ông xuất ngũ và trở về gia đình làm kinh tế. Khi đó, gia đình ông được chính quyền địa phương giao khoán 10 ha rừng với 5 ha rừng dẻ tái sinh và 5 ha rừng đất trống.
Ông Trường nhớ lại, ban đầu khi mới nhận rừng, ông gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế do đất trống và bạc màu. Xót xa trước những quả đồi trọc bị tàn phá đến trơ trọi, đất đồi bị sạt lở mỗi mùa mưa từ đó, ông luôn đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường và bắt tay ngay vào cải tạo diện tích đất rừng được giao.
Trên diện tích 5 ha rừng dẻ, lão nông này đã thu dọn những cây khô, phát quang cỏ dại rồi trồng dứa ta thành các dải dài xen giữa những gốc dẻ. Việc làm này nhằm hạn chế sói mòn đất vào mùa mưa. Tiếp theo đó, ông trồng tre Bát Độ thành từng khóm để lấy măng phát triển kinh tế đồng thời tạo sự đa dạng sinh học và làm thế dựa cho các loài chim về làm tổ sau này.
Nhờ những nỗ lực của mình, sau hơn 10 năm trồng và chăm sóc, khu rừng dẻ tái sinh của gia đình ông Trường đã tạo thành một hệ sinh thái đa dạng. Trong đó, các tầng thực vật hỗ trợ nhau làm giảm tốc độ dòng chảy của nước vào mùa mưa, tránh được hiện tượng sói mòn, sạt lở. Vì vậy, khu rừng dẻ của ông Trường được người dân quanh vùng xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn xem như “lá phổi xanh” tạo bầu không khí trong lành.
Ông Trường chia sẻ, bởi lẽ, ông giữ được khu rừng xanh mát như vậy vì coi việc giữ rừng để bảo vệ môi trường, thiên nhiên, cảnh quan đẹp hơn chứ không phải làm kinh tế. Gia đình ông còn một khu rừng trồng cây ăn quả và chăn nuôi gà mới là thu nhập chính cho gia đình.
“Hơn 20 năm gắn bó với rừng, trải qua nhiều vất vả những lần có bão đổ gãy cây hay thức đêm hôm giữ rừng tôi đều không nề hà gì. Nhưng tôi không khỏi xót xa khi hàng ngày vẫn chứng kiến cảnh rừng bị “chảy máu”, người dân ở nhiều nơi đến săn bắt thú, chặt trộm cây gỗ.
Sắp tới, ông Trường cho biết mình sẽ tìm kiếm nguồn kinh phí để khoanh vùng bảo vệ rừng nhằm hạn chế người dân săn bắt động vật, chim cò... Với khu rừng tái sinh này, ông Trường mong muốn được các cấp chính quyền địa phương quan tâm hơn và có những biện pháp giúp ông giữ rừng. (Đại Đoàn Kết 13/6) đầu trang(
“Thiên nhiên kỳ diệu hay thảm họa” là tên cuốn sách hấp dẫn vừa được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh giới thiệu đến bạn đọc cả nước.
Cuốn sách là những câu chuyện về khám phá khoa học, sự kỳ diệu của thiên nhiên và những thảm họa mà con người đã và có thể gây ra cho môi trường sống của nhiều loài sinh vật và của chính mình.
Cuốn sách chuyển tải đến bạn đọc những thông tin bổ ích về thiên nhiên, để chúng ta cùng nhau yêu thương và nêu cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học qua các câu chuyện về vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà (Lâm Đồng), Yok Đôn (Đắk Lắk) hay phân tích về khí hậu và hiện tượng El-nino…
Tác giả của cuốn sách là ông Nguyễn Đức Hiệp, một người có thâm niên làm việc và cộng tác với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu và bảo tồn di sản văn hóa. Theo đó, 17 bài viết đầy ý nghĩa, hấp dẫn của ông được NXB Văn hóa – Văn nghệ TP Hồ Chí Minh tập hợp xuất bản thành cuốn sách “Thiên nhiên kỳ diệu hay thảm họa”. Dự kiến sách được in 2.000 cuốn, phát hành trong tháng 6 này. (Tin Tức 12/6) đầu trang(
TPHCM là một trong những điểm nóng về buôn bán động - thực vật hoang dã bất hợp pháp. Đó là khẳng định của ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM.
Hiện trung bình mỗi năm, trên địa bàn thành phố tiêu thụ cả ngàn tấn động vật và hàng chục ngàn tấn thực vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Một lần nữa, vấn nạn buôn bán các loại sinh vật hoang dã tại thành phố lại được dấy lên cấp thiết.
Ông Thắng nhận xét, áp lực tăng dân số, công nghiệp hóa, giao thông hóa, đô thị hóa, biến đổi khí hậu và đặc biệt là sự gia tăng hoạt động buôn bán động - thực vật hoang dã bất hợp pháp, đã và đang gây nên những tác động to lớn đến môi trường sống và đa dạng sinh học.
Sự suy giảm đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của đa số người dân, nhất là người dân nghèo sống phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên và các dịch vụ của hệ sinh thái. Vì vậy, con đường duy nhất để tự cứu mình và trái đất là phải sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và bảo vệ đa dạng sinh học.
Ông Nguyễn Xuân Lưu, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TPHCM, cho biết việc phát hiện và ngăn chặn tình trạng buôn bán động - thực vật hoang dã là vấn đề cực kỳ nan giải của các cơ quan chức năng ở thành phố hiện nay. Bởi lẽ việc buôn bán này mang lại lợi nhuận cực kỳ cao, nhu cầu tiêu thụ thì vẫn còn quá lớn nên các đối tượng bất chấp thủ đoạn, hậu quả, tìm mọi cách để săn bắt, vận chuyển trái phép.
TPHCM hiện không còn nhiều loài quý hiếm nên hầu như không có săn bắt tại chỗ mà là điểm tập kết từ các nơi khác về: các loài chim nước từ miền Tây lên, các loài rùa, rắn từ Campuchia về hoặc một số loài từ Tây Nguyên xuống. Thứ nhất là để tiêu thụ tại thành phố, bán cho các nhà hàng làm thực phẩm hoặc bán nuôi nhốt làm thú cưng, làm đồ trang sức… Thứ hai, thành phố là điểm trung chuyển để từ đó đưa hàng ra phía Bắc, xuất lậu qua Trung Quốc hoặc theo đường cảng đi các nước khác.
Tuy vậy, theo phân tích của ông Lưu thì phần lớn động - thực vật hoang dã tập kết tại thành phố là để đưa đến các nơi khác bán. “Do nạn săn bắt trái phép và bảo tồn không tốt nên các loài động - thực vật hoang dã ngoài tự nhiên suy giảm trầm trọng, số lượng còn ít nên giá cực kỳ cao, tiêu thụ trong nước chỉ một nhóm nhỏ tiếp cận được mà thôi. Tôi khẳng định phần lớn các món thịt rừng được bí mật tiếp thị tại các nhà hàng, cửa hàng đều là đồ giả, thậm chí chỉ là những thực phẩm bẩn như thịt heo, bò thối... giả thịt rừng hoặc tử tế lắm thì là đồ nuôi thôi! Cho nên, người tiêu dùng nên tỉnh táo, đừng vì sự tò mò hay tính háo danh của mình mà để các nhà hàng có cơ hội móc túi”, ông Lưu cảnh báo.
Theo Tiến sĩ Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, động - thực vật hoang dã là một mắt xích quan trọng và có vai trò, ý nghĩ riêng trong đa dạng sinh học. Chẳng hạn, rắn bắt chuột, chim én bắt muỗi…, nếu rắn hay chim én bị tận diệt, các loài địch họa sẽ gia tăng, đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm. Bên cạnh đó, các loài động - thực vật hoang dã còn có tính chỉ thị môi trường: Môi trường ô nhiễm, sinh vật héo úa và chết đi; ngược lại, môi trường trong lành thì động - thực vật phát triển tốt và con người cũng khỏe mạnh hơn.
“Cho đến hôm nay, người dân vẫn dựa vào biểu hiện của thiên nhiên, cây cỏ để dự đoán thời tiết, sắp xếp công việc của mình. Động - thực vật hoang dã có mối quan hệ mật thiết với đời sống con người”, ông Long khẳng định. Do đó, xu hướng thiết kế các đô thị càng hiện đại thì càng cần có nhiều không gian để con người sống với thiên nhiên.
“TPHCM có khu rừng ngập mặn Cần Giờ bảo tồn được khá nhiều loài động - thực vật hoang dã, quý hiếm. Bên cạnh đó còn có các khu công viên tập trung hay một số khu đất ngập nước ở Củ Chi, Bình Chánh… tạo được môi trường sống của thiên nhiên hoang dã. Tuy nhiên, tình trạng buôn bán động vật hoang dã tràn lan đang khiến thành phố “mất điểm”.
Một đô thị phát triển, ngoài các chỉ tiêu về kinh tế, hạ tầng kỹ thuật còn được đánh giá bằng giá trị sinh thái nhân văn và đạo đức môi trường. Lãnh đạo thành phố đang vận động toàn dân xây dựng thành phố xanh - sạch - đẹp - thân thiện thì cũng cần phải loại bỏ hình ảnh bắt nhốt, buôn bán động vật hoang dã tràn lan”, ông Long khuyến nghị.
Ông Nguyễn Xuân Lưu cho biết, việc gây nuôi, thuần hóa một số loài động - thực vật hoang dã được thành phố khuyến khích, vì vừa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng vừa là một ngành nghề sản xuất đem lại thu nhập cao. Tuy nhiên, việc kiểm soát cũng không dễ dàng, vừa qua đã có một số cơ sở lợi dụng mác nhân nuôi để thu gom, nuôi nhốt và buôn bán động vật hoang dã trái phép. Để đối phó với tình trạng này, thành phố đã phê duyệt chương trình gây nuôi, quản lý động vật hoang dã với những biện pháp kiểm soát, quản lý chặt chẽ hơn.
Về phía Chi cục Kiểm lâm cũng có kế hoạch tuyên truyền, khuyến cáo người dân không nên sử dụng động - thực vật hoang dã, “Chúng tôi mở rộng tuyên truyền trong công nhân viên chức, giới doanh nhân, vì người thu nhập trung bình không có điều kiện sử dụng động - thực vật hoang dã mà chỉ có những người thu nhập cao mới tiếp cận được”, ông Lưu nói. Và một điều cực kỳ quan trọng là sự vào cuộc, phối hợp của nhiều đơn vị chức năng như cảnh sát môi trường, quản lý thị trường, hải quan… trong việc phát hiện, ngăn chặn nạn vận chuyển, buôn bán động - thực vật hoang dã.
Ông Nguyễn Toàn Thắng cũng đồng ý rằng, việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học không chỉ là trách nhiệm của các nhà khoa học, các nhà quản lý mà còn là trách nhiệm của toàn cộng đồng, của bản thân mỗi con người chúng ta.
Chính phủ đã có những nỗ lực lớn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học như ban hành Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia. Ông Thắng cho rằng, các chính sách này đã đánh dấu một mốc quan trọng cho việc bảo tồn, tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. (Sài Gòn Giải Phóng 13/6) đầu trang(
Nhờ sự hỗ trợ của tổ chức quốc tế, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Sao La, tỉnh TT-Huế mang lại hiệu quả cao.
Việt Nam được thế giới công nhận là 1 trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, trong đó có hệ động vật hoang dã. Tuy nhiên, thực trạng săn bắt động vật quý hiếm đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong công tác bảo tồn, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các ngành chức năng. Để nâng cao hiệu quả công tác này, không thể không nhắc đến những đóng góp lớn từ sự hợp tác và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.
Trong vòng 5 năm qua, khu bảo tồn Sao La, tỉnh TT-Huế đã nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của khoảng 5 tổ chức quốc tế như: Ngân hàng Thế giới, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên, Tổ chức Bảo tồn thế giới, Quỹ Bảo tồn Việt Nam. Nhờ đó, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương mang lại hiệu quả cao, người dân có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động bảo tồn thiên nhiên.
Công tác bảo tồn động vật hoang dã tại Khu bảo tồn Sao La dù vẫn còn nhiều thách thức, nhưng với những nỗ lực của các ngành chức năng, nhất là sự hỗ trợ từ quốc tế đã phần nào giảm thiểu tình trạng giăng bẫy, săn bắt thú rừng. Sự hợp tác này còn cho thấy, việc bảo tồn động vật hoang dã trước nguy cơ tuyệt chủng là trách nhiệm của không chỉ một cá nhân, mỗi quốc gia nào mà của cả nhân loại. (Đài Truyền Hình Việt Nam 12/6) đầu trang(
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (Trung tâm) là đơn vị duy nhất trên toàn quốc có chức năng cứu hộ, bảo tồn, nhân nuôi sinh sản.
Đồng thời, tổ chức nghiên cứu khoa học, phục vụ tham quan, học tập, quan hệ trong nước và quốc tế về nghiên cứu, bảo tồn, trao đổi, cung cấp động vật hoang dã (ĐVHD) các thế hệ sau (F2).
Vừa đưa tay khoát một vòng rộng, Giám đốc Trung tâm Ngô Bá Oanh, vừa nói: “Anh xem, chớp mắt cái đã 20 năm rồi! Để có được cơ ngơi như ngày hôm nay, đã có hơn 80 lượt cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc tại đây. Cứu được một con vật tốn nhiều công sức lắm”. Thế rồi vừa dẫn khách thăm khu chuồng trại nuôi nhốt hổ, gấu và các loài linh trưởng, chim muông được cứu hộ, ông vừa kể về quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm này.
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (Trung tâm) là đơn vị duy nhất trên toàn quốc có chức năng cứu hộ, bảo tồn, nhân nuôi sinh sản.
Đồng thời, tổ chức nghiên cứu khoa học, phục vụ tham quan, học tập, quan hệ trong nước và quốc tế về nghiên cứu, bảo tồn, trao đổi, cung cấp động vật hoang dã (ĐVHD) các thế hệ sau (F2).
Vừa đưa tay khoát một vòng rộng, Giám đốc Trung tâm Ngô Bá Oanh, vừa nói: “Anh xem, chớp mắt cái đã 20 năm rồi! Để có được cơ ngơi như ngày hôm nay, đã có hơn 80 lượt cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc tại đây. Cứu được một con vật tốn nhiều công sức lắm”. Thế rồi vừa dẫn khách thăm khu chuồng trại nuôi nhốt hổ, gấu và các loài linh trưởng, chim muông được cứu hộ, ông vừa kể về quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm này.
Trong cứu hộ, Trung tâm đã tiếp nhận cứu hộ tổng số 949 vụ ĐVHD với trên dưới 100 loài gồm 27.930 cá thể và 5.908 kg rắn các loại từ các cơ quan chức năng của TP như Kiểm lâm, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan và các tỉnh, thành khác trên cả nước. Trong đó có nhiều loài ĐVHD quý hiếm thuộc nhóm IB, IIB. Trung bình mỗi năm Trung tâm tiếp nhận, cứu hộ trên dưới 50 vụ, với trên 1.000 cá thể và 290 kg Rắn các loại.
Trung tâm còn tổ chức tiêu hủy động vật có nguồn gốc từ nước ngoài vào Việt Nam số lượng trên 10 tấn với hàng vạn cá thể. Sau cứu hộ, Trung tâm đã phối hợp tổ chức thả về môi trường tự nhiên tại các Vườn quốc gia các Khu rừng đặc dụng và chuyển giao cho các Vườn thú, các cơ quan khoa học phục vụ nghiên cứu, tham quan, học tập giáo dục cộng đồng về bảo vệ ĐVHD.
Trung tâm hiện có đội ngũ gồm 24 cán bộ, công nhân viên với khối lượng công việc lớn. Trung tâm đã chủ động hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế nhằm nâng cao chất lượng cứu hộ, bảo tồn các loài ĐVHD. Hiện, các tổ chức này đã, đang chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ về tài chính cho Trung tâm trong hoạt động cứu hộ ĐVHD.
Đặc biệt, Tổ chức quốc tế phi lợi nhuận FOUR PAWS đã tài trợ không hoàn lại cho Trung tâm xây dựng gần 1.000m2 chuồng nuôi Gấu bán hoang dã. Với những thành tích trên,Trung tâm nhiều lần được nhận Cờ thi đua, Bằng khen của T.Ư và TP. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập, tập thể Trung tâm vinh dự được đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về những thành tích đạt được sau 20 năm xây dựng và trưởng thành.
Theo ông Ngô Bá Oanh, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình hoạt động cứu hộ, Trung tâm còn gặp không ít khó khăn như tỷ lệ ĐVHD bị tịch thu được đưa vào cứu hộ rồi thả về tự nhiên chưa cao. Các văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng nhất.
Việc xử lý của các cơ quan thừa hành pháp luật quá chậm. Mặt khác, diện tích mặt bằng của Trung tâm hiện quá chật nên mới chỉ đáp ứng được nuôi nhốt cứu hộ mà chưa có diện tích xây dựng chuồng trại bán hoang dã để nuôi nhốt sau cứu hộ trước khi thả về môi trường tự nhiên.
“Dự án mở rộng Trung tâm đã được UBND TP phê duyệt chủ trương, song việc triển khai quá chậm. Chủ trương này cũng đã được HĐND TP thông qua tại Nghị quyết số 06/2014/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2014 về “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030”. Theo đó, trung tâm sẽ có diện tích khoảng 12 ha” - ông Oanh cho biết thêm. (Kinh Tế Và Đô Thị 11/6) đầu trang(
Hàng chục năm nay, trên núi Hòn Một (xã Ninh Tân, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa), nằm gần các khu dân cư, khu vực sản xuất của người dân có một đàn khỉ ước chừng 70 - 80 con sinh sống. Đây là một tín hiệu vui về môi trường, sinh thái nên cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cần có biện pháp bảo vệ đàn khỉ này.
Theo chân người dân xã Ninh Tân, chúng tôi đi ngược lên núi Hòn Một, nơi đàn khỉ sinh sống. Vừa đến khu vực chân núi, chúng tôi bắt gặp đàn khỉ lên đến hàng chục con đang chạy nháo nhác để tìm thức ăn. Thấy người, đàn khỉ bỏ chạy.
Ông Trần Đình Tài, người dân thôn Trung (xã Ninh Tân) cho biết: “Cứ sáng sớm và chiều tối, bầy khỉ lại kéo xuống làng kiếm ăn. Khu vực khỉ tập trung thường là ven chân núi Hòn Một, nơi người dân trồng mía, bắp, chuối. Kiếm ăn xong, chúng thường tập trung ở suối, hồ sát nhà dân để uống nước”.
Ông Bùi Văn Quy - bảo vệ của Trường Tiểu học Ninh Tân kể: “Chúng bẻ mía, bẻ bắp ăn đối với cây chuối thì đàn khỉ tách bẹ ra ăn phần lõi bên trong. Nhiều lần chúng còn kéo xuống tận trường học để hái xoài. Khổ nhất là những hộ trồng chuối, bắp. Chúng đi tới đâu vặt sạch trái đến đấy, có 4 - 5 hộ trồng mía, bắp, chuối ở cạnh núi Hòn Một đã bị thiệt hại do đàn khỉ xuống phá phách”.
Qua trao đổi với ông Nguyễn Ngọc Hoàng - Chủ tịch Hội Nông dân xã Ninh Tân, chúng tôi được biết, đàn khỉ này sống trên các hốc đá ở đỉnh Hòn Một. Vào mùa khô hạn, chúng thường kéo xuống chân núi để tìm nước uống và thức ăn. Đàn khỉ này cũng thường phá phách cây trồng, nhưng người dân chưa phản ánh với chính quyền địa phương những thiệt hại do khỉ phá hoại.
Việc đàn khỉ xuất hiện, tồn tại ở Ninh Tân là một tín hiệu vui. Tuy nhiên, theo ông Tài: “Trước đây, một số thợ săn và người đặt bẫy ở TP. Nha Trang, Ninh Hòa cũng tìm đến đây để săn bắt khỉ, một số khỉ con đã bị bắt mang đi. 2 năm trở lại đây, do người dân địa phương ngăn cản nên các thợ săn không xuất hiện nữa, mà đàn khỉ này cũng khôn lanh, rất khó bắt được chúng”.
Theo ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh: Việc ở vùng núi xã Ninh Tân có đàn khỉ tự nhiên sinh sống là dấu hiệu tốt về môi trường sống. Việc cần làm lúc này là người dân cần ý thức bảo vệ động vật, không được săn bắt để giết thịt, nấu cao.
“Khi nắm bắt nguồn tin có đàn khỉ tự nhiên sinh sống ở Ninh Tân, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa đến kiểm tra thực tế; đồng thời làm việc với UBND xã Ninh Tân có biện pháp đuổi đàn khỉ lên núi Hòn Một để không phá hoại cây trồng của người dân. Chúng tôi cũng đẩy mạnh tuyên truyền trong người dân để bảo vệ đàn khỉ này, bởi đàn khỉ tự nhiên sinh sống trên núi cạnh khu dân cư như ở Ninh Tân là hiếm có, cần được bảo vệ”, ông Khương nói. (Báo Khánh Hòa 13/6) đầu trang(
Khoảng 5h sáng 11-6 tại km 207 Quốc lộ 1A Phú Xuyên (Hà Nội), Tổ công tác tuần tra kiểm soát Đội CSGT số 8, Công an TP Hà Nội phát hiện xe ôtô do Hoàng Văn Đoàn (51 tuổi), trú tại Yên Mỹ, Hưng Yên điều khiển di chuyển theo chiều Hà Nam đi Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu dừng xe kiểm tra.
Vào thời trên, lực lượng chức năng phát hiện phía cốp sau của xe, có nhiều túi lưới chở động vật, mỗi túi có từ 1-2 con. Lái xe Hoàng Văn Đoàn khai nhận, động vật được chứa trong các túi là kỳ đà, số lượng khoảng trên 20 con.
Toàn bộ số động vật này được Đoàn chở từ Hưng Yên về phía Thường Tín (Hà Nội) để đi tiêu thụ. Tuy nhiên, Đoàn không xuất trình được nguồn gốc giấy tờ của mặt hàng trên. Ngay sau đó, Đội CSGT số 8 đã bàn giao vụ việc  về cơ quan Công an huyện Phú Xuyên để tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền. (Công An Nhân Dân 12/6; Tiền Phong 12/6) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 370 cơ sở nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) với 22.394 cá thể thuộc 17 loài.
Trong đó có 132 cơ sở nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm với 19.231 cá thể (gấu, gấu ngựa, rùa câm, kỳ đà vân, rắn hổ mang, rắn ráo trâu, cá sấu nước ngọt, chim công); 238 cơ sở nuôi ĐVHD thông thường với 3.163 cá thể (nhím, lợn rừng, chim trĩ, hươu sao, dúi, gà rừng, nai).
Tất cả các trang trại nuôi ĐVHD được cấp giấy phép phải tuân thủ đầy đủ các quy định như đã cam kết; đồng thời, phải báo cáo để tránh tình trạng mua bán, vận chuyển trái phép. Tất cả các cá thể gấu ngựa được đưa vào quản lý, cấp giấy chứng nhận đăng ký nuôi, gắn chíp, lập hồ sơ quản lý, theo dõi.
Trước tình hình săn bắt, mua bán, vận chuyển, kinh doanh nhiều cá thể động vật quý, hiếm trên địa bàn tỉnh diễn ra phức tạp, Chi cục Kiểm lâm tỉnh  đã quản lý chặt chẽ từ khâu kiểm tra, giám sát, xác định nguồn gốc, chủng loại, số lượng loài đưa vào gây nuôi, đến khâu xác nhận trong lưu thông theo quy định.
Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc chấp hành các quy định đối với các cơ sở nuôi nhốt, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, các nhà hàng, khách sạn có kinh doanh ĐVHD và sản phẩm ĐVHD; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ ĐVHD. (Báo Thanh Hóa 13/6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiều 13/6, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức cuộc họp để nghe và cho ý kiến Quy hoạch phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030.
Diện tích rừng trồng tỉnh Nghệ An hiện có 191.495,41ha, trong đó, diện tích rừng trồng sản xuất 170.788 ha, diện tích rừng trồng gỗ nguyên liệu là 145.526 ha. Căn cứ vào kết quả kiểm kê và điều tra tại vùng nguyên liệu cho thấy rừng trồng các loại keo có diện tích lớn nhất (120.903 ha) chiếm tới 83,1%, diện tích rừng trồng nguyên liệu hiện có. Sản lượng khai thác hiện đạt 1.000.000m3/năm, cung cấp nguyên liệu sản xuất dăm gỗ, ván MDF, ván ghép thanh...
Quy hoạch phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 được thực hiện trên địa bàn 18 huyện thị với tổng diện tích 283.562 ha. (Báo Nghệ An 13/6) đầu trang(
Năm 2016, huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng mới 1.720ha rừng. Hiện nay, huyện đang tích cực chuẩn bị các điều kiện để triển khai công tác trồng rừng theo kế hoạch đã đề ra.
Trong tổng số 1.720ha rừng của toàn huyện, diện tích rừng trồng tập trung theo Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng là 1.600ha, rừng phân tán là 50ha và rừng trồng sau khai thác là 70ha.
Năm nay, diện tích rừng trồng sau khai thác sẽ không được hỗ trợ. Theo đồng chí Trần Trung Kiên - Bí thư Huyện ủy Chợ Mới thì điểm mới này không gây khó khăn cho huyện bởi từ nhiều năm nay, phong trào trồng rừng của huyện Chợ Mới đã phát triển rộng khắp.
Ngoài diện tích được hỗ trợ, phần người dân tự bỏ vốn trồng rừng khá lớn. Năm nay cũng vậy, diện tích thiết kế vượt 80ha so với kế hoạch. Tuy nhiên, địa phương cũng không chủ quan. Để trồng đạt diện tích theo kế hoạch, toàn huyện đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động phấn đấu trồng hết diện tích thiết kế.
Hiện nay, nhân dân đã xử lý thực bì được trên 1.600ha, cuốc hố được trên 1.580ha. Ban Quản lý Dự án bảo vệ và Phát triển rừng đang giao cây giống cho nhân dân. Cụ thể, giao giống keo cho trồng trên 600ha, giống quế cho trên 82ha. Diện tích còn lại đang tiếp tục giao cho nhân dân trồng kịp tiến độ.
Thời điểm này, tranh thủ những ngày thời tiết thuận lợi, nhân dân đã tiến hành trồng rừng. Huyện cũng tuyên truyền đến nhân dân không trồng vào những ngày thời tiết nắng nóng, số cây đã nhận cần bảo quản nơi thoáng mát để đảm bảo chất lượng cây giống. Toàn huyện đang nỗ lực phấn đấu tiếp tục đạt kết quả cao trong công tác trồng rừng năm 2016. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 10/6) đầu trang(
Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đã trồng được trên 9.000 ha rừng, đạt trên 95% kế hoạch trồng rừng năm 2016.
Các huyện, thành phố đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch là Yên Sơn, Chiêm Hóa. Hiện nay, các địa phương đang tập trung trồng nốt diện tích, phấn đấu đến hết ngày 30/6 sẽ hoàn thành kế hoạch trồng rừng của năm 2016.
Hiện huyện Yên Sơn đã hoàn thành gần 3.000 ha rừng, đạt trên 100% kế hoạch. Ngay từ khi bước vào vụ trồng rừng, huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, các xã, thị trấn, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn, tăng cường công tác tuyên truyền. Tạo điều kiện cho các hộ gia đình, các công ty lâm nghiệp khai thác những diện tích rừng đã đến tuổi thu, nhờ đó cũng góp phần rất nhiều trong việc giải phóng đất để thực hiện công tác trồng rừng.
Trong quá trình phát triển trồng rừng cán bộ Kiểm lâm địa bàn thường xuyên có mặt tại cơ sở đôn đốc kiểm tra, tuyên truyền hướng dẫn, tư vấn cho bà con nhân dân cuốc hố trồng cây đúng quy trình kỹ thuật, đúng mật độ. Nhờ đó các diện tích rừng trồng đều phát triển tốt.
Nhằm bảo đảm cho kế hoạch trồng rừng năm 2016 đạt kết quả tốt, ngay từ khi bước vào vụ trồng rừng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp phối hợp với các huyện, thành phố đăng ký diện tích trồng rừng. Để phục vụ trồng trên 10.500 ha rừng, toàn tỉnh đã sản xuất được gần 19.000 triệu cây giống các loại, đảm bảo đủ 100% nhu cầu cây giống phục vụ trồng rừng năm 2016.
Bên cạnh đó các Hạt Kiểm lâm thường xuyên phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền tới người dân về lợi ích của rừng, đẩy mạnh công tác trồng rừng theo hướng hàng hoá, trồng rừng thâm canh, đưa những giống mới có năng suất cao vào trồng.
Hiện nay, các huyện, thành phố đang tập trung đôn đốc người dân trồng rừng, phấn đấu đến hết tháng 6 sẽ hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tuyên Quang 12/6) đầu trang(
Chiều 13/6, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường, UBND tỉnh tổ chức họp để nghe và cho ý kiến về Quy hoạch phát triển rừng nguyên liệu tỉnh đến 2025, tầm nhìn 2030.
Theo Quy hoạch, diện tích trồng mới rừng nguyên liệu gỗ đến năm 2025 của Nghệ An là hơn 103 ngàn ha. Diện tích chuyển hóa để kinh doanh gỗ lớn đến năm 2025 gần 12.500 ha; cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt gần 8.500ha. Trên cơ sở đó, sẽ tăng năng suất rừng trồng nguyên liệu cũng như cung cấp sản phẩm cho các cơ sở chế biến, với sản lượng khai thác ước tính 7 triệu m3 giai đoạn 2016 - 2020 và 15 triệu m3 giai đoạn 2026 - 2030. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ rừng trồng đạt mức 80 triệu USD năm 2016 và 130 triệu USD vào năm 2020...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường nêu rõ: Đây là đề án có tính chiến lược lâu dài, do vậy, vấn đề quy hoạch phải đặt ra mục tiêu mang tính khả thi từng giai đoạn. Trong quy hoạch phát triển rừng phải gắn với đề án chế biến lâm sản; xác định khu vực Nghĩa Đàn là vùng chế biến lâm sản tập trung, các vùng làm vệ tinh cho vùng trung tâm.
Đ/c Hoàng Viết Đường nhấn mạnh: Đề án cần đánh giá cụ thể hơn thực trạng về giống cây trồng lâm nghiệp; Cơ cấu hạ tầng phục vụ cho rừng trồng nguyên liệu gỗ; Sản xuất rừng trồng gắn với cơ sở chế biến gỗ; Dự báo khả năng phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ và thị trường tiêu thụ; Phân định rõ về nguồn vốn và có cơ chế chính sách khuyến khích người dân trồng rừng và kéo dài tuổi thọ cho rừng…
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường yêu cầu Sở NN & PTNT tiếp thu ý kiến đóng góp của các ngành để hoàn thiện các quy hoạch cũng như đề án để trình UBND tỉnh trong thời gian tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 13/6) đầu trang(
Theo kế hoạch, năm 2016 toàn tỉnh sẽ trồng mới 2.295ha rừng, trong đó rừng phòng hộ 350 ha, trồng thay thế các hồ thủy điện 1.885ha.
Diện tích trồng mới tập trung tại các huyện Than Uyên, Tân Uyên, Mường Tè, Sìn Hồ, Nậm Nhùn... Hiện các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tích cực triển khai công tác trồng rừng, đảm bảo hoàn thành theo đúng kế hoạch đề ra.
Xác định tầm quan trọng về môi trường sinh thái cũng như những giá trị kinh tế rừng đem lại, những năm qua, Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ, phát triển rừng, góp phần cải thiện môi trường sinh thái, tăng độ che phủ rừng, che phủ đất trống đồi trọc.
Để chuẩn bị cho mùa trồng rừng mới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết từ đầu năm đến nay, Chi cục đã tích cực đôn đốc các đơn vị trực thuộc, các Ban Quản lý rừng phòng hộ… tích cực chuẩn bị đất, cây giống triển khai công tác trồng rừng; khảo sát thiết kế, hoàn thiện hồ sơ thiết kế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, đôn đốc các địa phương triển khai giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên, trồng rừng, chăm sóc rừng mới trồng…
Các đơn vị, địa phương tham gia trồng rừng đang tích cực triển khai khâu phát dọn thực bì, cuốc hố. Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã phát thực bì được 1.600ha, cuốc hố được 1.100 ha. Cùng với công tác thu dọn thực bì thì tại các vườn ươm nguồn cây giống đã cơ bản được bảo đảm cả về số lượng và chất lượng.
Để đáp ứng nhu cầu về cây giống, các đơn vị, Ban Quản lý rừng phòng hộ các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động gieo tạo, ươm cây giống ngay từ cuối năm trước nhằm cung cấp đầy đủ cây giống phục vụ trồng mới và chăm sóc rừng trồng.
Đến nay, các vườn ươm trên địa bàn đã chủ động chuẩn bị trên 2 triệu 600 nghìn cây giống các loại đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ cho trồng rừng. Các địa phương đã lựa chọn giống cây phù hợp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng với các loại cây giống chủ yếu như lát, quế, sơn tra và một số loại cây lấy gỗ…
Các địa phương cũng đã tiến hành thực hiện rà soát quy hoạch các loại rừng, giao quyền làm chủ cho Nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng; khuyến khích trồng rừng. Trước khi trồng, cử cán bộ kỹ thuật đến hướng dẫn người dân đào hố, bón phân, cách trồng chăm sóc đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Hiện ngành lâm nghiệp đang tích cực chỉ đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ các địa phương chủ động chuẩn bị vật tư, hiện trường phục vụ công tác trồng rừng và tiến hành trồng rừng ngay khi điều kiện thời tiết thuận lợi, phấn đấu hoàn thành trồng rừng trước 31/7, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2016. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức của cộng đồng trong quản lý bảo vệ, phòng chống cháy rừng.
Cùng với sự chuẩn bị của ngành chức năng, người dân tại các địa phương cũng đang tích cực chuẩn bị cho công tác trồng rừng năm 2016. Ông Vàng Văn Kẻo, Phó Chủ tịch UBND xã Nà Tăm, huyện Tam Đường cho biết: Năm nay xã có kế hoạch trồng trên 2 ha rừng. Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng, chính quyền xã đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh tuyên truyền cho bà con hiểu được tác dụng của việc trồng rừng. Hiện xã đã khoanh vùng và đo đạc xong diện tích đăng ký, bà con đang phát dọn thực bì, đào hố  và chuẩn bị trồng khi có mưa xuống…
Bên cạnh công tác trồng rừng phòng hộ, phong trào trồng rừng kinh tế đã phát triển mạnh tại nhiều địa phương. Có thể thấy, thời gian qua kinh tế lâm nghiệp đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp. Trồng rừng không chỉ có tác dụng phòng hộ, cải thiện môi trường sinh thái mà còn góp phần nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn hộ dân trong tỉnh.
Trong thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng; đôn đốc các đơn vị chủ rừng thực hiện kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng theo kế hoạch. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; theo dõi, đôn đốc các chủ rừng phối hợp với Hạt Kiểm lâm các địa phương kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác tận thu theo đúng quy trình, phạm vi khai thác; tiếp tục triển khai bảo vệ diện tích khoanh nuôi chuyển tiếp từ các dự án…
Với sự chủ động tích cực chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho trồng mới rừng của các ngành chức năng và bà con Nhân dân, tin rằng toàn tỉnh sẽ hoàn thành công tác trồng rừng theo đúng kế hoạch, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái, giữ gìn hệ sinh thái các rừng đầu nguồn… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lai Châu 13/6) đầu trang(
Năm 2016, huyện Chợ Đồn được giao trồng gần 590 ha rừng. Đến thời điểm này, huyện đã cấp phát được hơn 44 vạn cây giống các loại để người dân trồng rừng.
Các giống cây được cấp chủ yếu là Quế, Keo, Mỡ… được gieo ươm tại Vườn ươm Bình Trung, Lâm Trường huyện Chợ Đồn. Theo thống kê nhanh của huyện Chợ Đồn, hiện nay việc cấp cây giống cho người dân đã đạt trên 70% kế hoạch theo diện tích đã được Ban Quản lý dự án phát triển rừng Chợ Đồn nghiệm thu khâu xử lý thực bì, cuốc  hố.
Để đảm bảo chất lượng rừng trồng, ngay khi cấp giống, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã hướng dẫn người dân cách bảo quản cây giống theo đúng quy trình kỹ thuật, khi thời tiết có mưa thì triển khai trồng. Đến nay, người dân huyện Chợ Đồn đã trồng được trên 30% diện tích. Huyện đang phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm nay trước ngày 31/6 tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 11/6) đầu trang(
Keo lá liềm được xác định là một trong những loài cây trồng rừng chủ yếu ở nước ta theo Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ NN-PTNT.
Keo lá liềm có khả năng sinh trưởng tương đương với keo tai tượng nhưng khối lượng riêng của gỗ cao và đặc biệt có khả năng chịu hạn và chịu ngập nước theo mùa rất tốt nên loài cây này được sử dụng khá rộng rãi trong trồng rừng ở các vùng cát và cát nội đồng ven biển Bắc Trung bộ.
Diện tích đất cát vùng Bắc Trung bộ là 334.740ha, chiếm 12% tổng diện tích đất lâm nghiệp của cả vùng, trong đó 36,7% diện tích còn bị bỏ hoang. Trước đây, rừng trồng ở vùng đất cát này chủ yếu là rừng trồng keo lá tràm, sinh trưởng kém, tỷ lệ thành rừng thấp và không có hiệu quả kinh tế.
Đứng trước yêu cầu cấp bách của địa phương và bà con nông dân về thay thế rừng trồng kém chất lượng và tăng tỷ lệ phủ xanh đất hoang hóa, Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Bắc Trung bộ (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) bắt đầu triển khai nghiên cứu đưa cây keo lá liềm vào trồng rừng vùng cát từ những năm 2000.
Qua nhiều năm tập trung nghiên cứu về hệ thống các biện pháp thâm canh rừng trồng, như các biện pháp kỹ thuật làm đất, bón phân, mật độ trồng, khả năng cải tạo đất, tỉa cành… Trung tâm đã đạt được nhiều kết quả nổi bật ứng dụng vào sản xuất, góp phần tăng diện tích rừng keo lá liềm lên 6.500ha như hiện nay. Qua đó, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho rừng trồng ở vùng cát nội đồng Bắc Trung bộ.
Theo ông Trương Duy, Chủ tịch UBND xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị, từ trước đến nay người dân vùng cát thường chỉ trồng rừng theo các dự án với mục tiêu chính là phòng hộ, chống cát bay, cát lấp, hầu như không cho sản phẩm gỗ, có chăng chỉ là một lượng nhỏ củi đốt. Nhưng từ khi rừng keo lá liềm được trồng theo các tiến bộ kỹ thuật đã tạo ra khái niệm trồng rừng cho sản phẩm gỗ, nhờ đó đem lại nguồn thu nhập cao cho người dân vùng cát.
Ở vùng cát nội đồng, kỹ thuật lên líp (tức là làm luống cao) do Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Bắc Trung bộ nghiên cứu đã đảm bảo độ thoát nước tốt, hạn chế hiện tượng cát bay, tăng tỷ lệ sống của rừng trồng lên hơn 20% và trữ lượng bình quân của rừng tăng gần 200% so với phương pháp trồng rừng truyền thống (không lên líp).
Bên cạnh đó, việc bón phân vi sinh hữu cơ đã cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát triển, đồng thời bổ sung một lượng chất hữu cơ giúp vừa làm giảm tỷ lệ cát trong đất vừa hạn chế hiện tượng cát bay. Hiệu quả của việc bón phân là tăng tỷ lệ sống của rừng lên 10 - 15%, sinh trưởng của cây tăng 120 - 150% và hiệu quả kinh tế tăng 44,3%.
Đối với keo lá liềm trồng mật độ 1.650 cây/ha phù hợp nhất cho trồng rừng trên cát nội đồng, với trữ lượng rừng tăng 132 - 208% so với các mật độ dày hơn (2.200 - 2.500 cây/ha) và lãi ròng (NPV) đạt 19.541.561 đồng/ha/7 năm.
Ngoài hiệu quả kinh tế, rừng keo lá liềm trồng đúng kỹ thuật còn có tác dụng chắn gió rất tốt, bảo vệ diện tích canh tác nông nghiệp phía sau đai rừng, cải tạo tính chất lý hoá học của đất và tăng độ pH đất, từ đó làm giảm độ chua của đất cát nội đồng.
Thấy được hiệu quả kinh tế cao của mô hình rừng trồng keo lá liềm, bà con nông dân tại huyện Triệu Phong đã học tập và trồng trên 200ha rừng. Trung tâm Khuyến nông các tỉnh Bắc Trung bộ cũng đã ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật này để xây dựng trên nhiều mô hình trình diễn cho bà con thăm quan học tập.
Với những ưu điểm nổi bật của tiến bộ kỹ thuật trồng rừng keo lá liềm trên cát nội đồng vùng Bắc Trung bộ, các nhà khoa học mong muốn các địa phương, các cơ quan chức năng và bà con ứng dụng tiến bộ kỹ thuật này để mở rộng diện tích trồng rừng keo lá liềm trên diện tích đất hoang hóa hoặc thay thế các rừng trồng kém chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/6) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Tụ, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện An Lão, cho biết, trong tháng 6 này, Phòng NN&PTNT huyện sẽ phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh và UBND các xã, thị trấn tổ chức kiểm tra các cơ sở, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn.
Hoạt động này nhằm chấn chỉnh, xử lý nghiêm các đơn vị, cá nhân kinh doanh giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc, kém chất lượng và không đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh theo quy định; góp phần nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp, giảm thiểu thiệt hại cho người trồng rừng kinh tế tại địa phương.
Phòng NN&PTNT huyện đã hướng dẫn các xã, thị trấn lập danh sách các cơ sở, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp nhưng không đăng ký kinh doanh; các vườn ươm không có đủ thủ tục công nhận nguồn gốc cây giống; các vườn ươm cung cấp cây giống đã hết hạn công nhận theo Quyết định của Sở NN&PTNT.
Được biết, hiện nay trên địa bàn huyện An Lão có 8 cơ sở và 5 hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp; nhưng tình trạng mua bán giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc vẫn diễn ra phổ biến. (Báo Bình Định 12/6) đầu trang(
Việc quản lý và kinh doanh rừng theo tiêu chuẩn chứng chỉ FSC (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cho giá trị kinh tế cao, đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư và góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sống. Tại tỉnh ta, mô hình này được thực hiện trong 2 năm trở lại đây, nhận được sự ủng hộ từ các công ty lâm nghiệp và người dân.
Thôn Nghẹt, xã Phú Thịnh (Yên Sơn) có 110 hộ dân, chủ yếu là người Dao quần trắng. Ông Lý Văn Dau một trong những chủ hộ trong thôn có 2,2 ha trong tổng số hơn 5 ha mỡ, vừa được Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Viện quản lý rừng bền vững thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT điều tra, khảo sát đánh giá để cấp chứng chỉ rừng.
Ông Dau cho biết, ban đầu nghe có vẻ rắc rối, nhưng sau thì thấy có nhiều điều lợi. Bởi nếu tuân thủ đúng chuẩn FSC, sau khi thu hoạch rừng, gia đình có thể thu từ 90 - 100 triệu đồng/ha, thay vì chỉ 70 - 80 triệu đồng/ha như hiện nay.
Không riêng gia đình ông Dau mà 14 hộ gia đình khác ở thôn Nghẹt quyết định đăng ký thực hiện chăm sóc 48,5 ha rừng theo kỹ thuật trồng nghiêm ngặt theo chuẩn FSC, từ việc chọn cây giống, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến chăm sóc, quản lý rừng.
Theo anh Triệu Đăng Khoa, Chi cục Phó Chi cục Kiểm lâm, xã Phú Thịnh hiện có 181,37 ha rừng được khảo sát cấp chứng chỉ rừng với sự tham gia của 60 hộ dân. Việc thu hút chính người dân tham gia thực hiện cấp chứng chỉ rừng là một bước tiến lớn trong việc phát triển rừng theo định hướng tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của tỉnh, khi 85% diện tích rừng sản xuất nằm trong tay người dân.
Cùng với Phú Thịnh, 2 xã Tiến Bộ, Công Đa cũng đang tập trung thực hiện thí điểm việc cấp chứng chỉ rừng tới các hộ dân. Các xã đã tích cực phối hợp với Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang và các đơn vị liên quan tổ chức tập huấn, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích khi được cấp chứng chỉ rừng.
Đến nay, các xã đã bước đầu lập hồ sơ đánh giá cũng như thành lập các tổ nhóm để thực hiện việc đánh giá và phát triển rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC. Theo dự kiến, trong tháng 6-2016, Công ty Woodsland Tuyên Quang sẽ mời các chuyên gia FSC đến các hộ gia đình của 3 xã Phú Thịnh, Công Đa, Tiến Bộ đã đánh giá, nếu đạt yêu cầu sẽ được cấp chứng chỉ rừng.
Trong năm nay 5 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp gồm: Tuyên Bình, Nguyễn Văn Trỗi, Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hóa phấn đấu có 5.526 ha rừng được cấp chứng chỉ rừng FSC. Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang cũng đã trực tiếp làm việc với 3 xã của huyện Yên Sơn gồm: Phú Thịnh, Công Đa, Tiến Bộ để thực hiện các bước của bộ tiêu chí này.
Sau khi được cấp chứng chỉ, Woodsland Tuyên Quang sẽ thu mua toàn bộ gỗ rừng có chứng chỉ, để xuất khẩu. Giai đoạn 2015 - 2020, toàn tỉnh phấn đấu có trên 9.000 ha rừng được cấp chứng chỉ rừng bền vững FSC. Việc trồng rừng theo chuẩn thế giới thực sự là một bước tiến dài trong ngành sản xuất lâm nghiệp, xóa bỏ tình trạng trồng rừng theo kiểu tự phát, không áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa doanh nghiệp và người nông dân tiến gần đến cánh cửa bước ra thế giới với những sản phẩm gỗ chất lượng.
Theo Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Tuyên Bình Nguyễn Hồng Thái, hiện công ty đã thực hiện xong các bước theo kế hoạch của Viện Quản lý rừng bền vững và Phát triển rừng, từ hoàn thiện các báo cáo và số liệu hóa bằng bản đồ đến hoàn thiện các bằng chứng, tiêu chí theo Bộ tiêu chuẩn Quốc gia về quản lý rừng bền vững để thực hiện đánh giá vào tháng 6 này.
Việc cấp chứng chỉ rừng FSC đánh dấu một hướng đi mới từ nhận thức đúng đắn về sự cần thiết và tầm quan trọng của quản lý rừng bền vững, khẳng định quyết tâm tiến tới phương thức quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng về kinh tế, xã hội, môi trường của công ty trên cơ sở hợp tác, hỗ trợ, gắn kết giữa người trồng rừng với cơ sở chế biến. (Báo Tuyên Quang 13/6) đầu trang(
Bà Nguyễn Thi Lý (ngụ thôn Liên thành, xã Luận Thành, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa) khiếu nại UBND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho hộ ông Lang Văn Bản và một số hộ khác trên diện tích 1,2 ha đất trồng rừng của gia đình bà được Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đằng giao khoán 50 năm; việc các hộ san ủi đất rừng, phá hủy toàn bộ cây rừng, gây thiệt hại đối với gia đình bà.
Ngày 30/5/2016, UBND huyện Thường Xuân có Công văn số 789/BC-UBND gửi Báo PLVN báo cáo vê việc của bà. Theo đó, ông Cầm Bá Xuân, Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân cho biết: Sau khi nhận được khiếu nại của bà Lý, thực hiện trách nhiệm theo thẩm quyền, Chủ tịch huyện đã thành lập Đoàn thanh tra để xác minh giải quyết.
Qua kết quả xác minh của Đoàn thanh tra UBND huyện, ngày 25/12/2013 Chủ tịch huyện đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2482/QĐ-UBND đôi với khiêu nại của bà Lý. Bà Lý không đồng ý với kết quả giải quyêt và có đon gửi Chủ tịch UBND tỉnh, khiếu nại đối với Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện. Sau khi làm việc với Đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh, bà Lý đã rút đơn khiếu nại và ngày 27/3/2014 Chủ tịch tỉnh đã có Quyết định số 858/QĐ-UBND về việc đình chỉ giải quyết đối với khiếu nại của bà Lý.
Sau một thời gian, bà Lý lại tiêp tục có đơn gửi Chủ tịch UBND tỉnh tố cáo đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện, Đoàn thanh tra tỉnh đã xác minh và ngày 15/8/2014 có Báo cáo số 832/BC-TTTH gửi Chủ tịch UBND tỉnh. Căn cứ báo cáo kết quả xác minh của Đoàn thanh tra tỉnh, ngày 27/8/2014 Chủ tịch tỉnh có Văn bản số 7845/UBND-TD chỉ đạo UBND huyện Thường Xuân thực hiện xử lý sau kết quả giải quyết tố cáo nhưng Lý không đồng ý với kết quả giải quyết tố cáo của Chủ tịch UBND tỉnh và có đơn gửi Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh đã tổ chức cuộc tiếp dân tại huyện Thường Xuân. Và ngày 19/1/2016 UBND tỉnh có Văn bản số 623/UBND-TD về việc trả lời bà Lý, thông báo đến các cơ quan hành chính trong tỉnh không tiếp, không xem xét, giải quyết với vụ việc nêu trên của bà Lý. (Pháp Luật Việt Nam 11/6) đầu trang(
Cả xã trong tình thế buộc phải vi phạm pháp luật bởi những bất hợp lý trong quy hoạch là câu chuyện tại xã vùng sâu Hà Đông, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.
Xã Hà Đông có 99% dân số là người dân tộc tại chỗ và là xã vùng sâu nhất của huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai. Sinh sống trên diện tích gần 20.000 ha nhưng điều oái oăm là trên 4.500 nhân khẩu xã Hà Đông không hề có lấy một mét vuông đất sản xuất nào trên giấy tờ. Ngày ngày vẫn sản xuất trên đất lâm nghiệp, người dân của xã Hà Đông đang ở trong tình thế buộc phải vi phạm luật bởi những bất hợp lý trong quy hoạch.
Theo quy hoạch lâm nghiệp từ năm 2008, toàn bộ gần 20.000 ha diện tích tự nhiên, trong đó có gần 7.000 ha đất sản xuất từ nhiều đời của người dân nơi đây bỗng trở thành đất lâm nghiệp. Không chỉ người dân không có đất sản xuất mà đến cả trụ sở Ủy ban nhân dân xã Hà Đông cũng được xây dựng trên đất mượn của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa.
Việc sống nhờ trên chính đất của mình đã gây ra nhiều hệ luỵ. Thêm vào đó, do không có sự phân định về mặt ranh giới cộng với việc thiếu đất sản xuất nên tình trạng phá rừng làm rẫy diễn ra khá phổ biến ở đây. Lực lượng chức năng cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại chỗ.
Chuyện cả xã từ chính quyền đến người dân ở xã Hà Đông vi phạm luật đất đai là câu chuyện đã tồn tại từ nhiều năm qua. Trong lúc mòn mỏi chờ những động thái từ phía chính quyền cấp trên thì rừng nơi đây vẫn tiếp tục mất. Còn người dân, đang sinh sống trên những cánh rừng này vẫn đang đối mặt với tình trạng thiếu đất sản xuất, nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo. (Đài Truyền Hình Việt Nam 13/6) đầu trang(
UBND xã Tân Hòa, huyện Tân Châu vừa tổ chức cho nhân dân bốc thăm và giao đất tái định cư tại thực địa cho các hộ dân trong diện di dời ra khỏi đất lâm nghiệp tại ấp Suối Bà Chiêm, xã Tân Hòa.
Đợt này có tất cả 82 hộ gia đình, cá nhân di dời ra khỏi đất lâm nghiệp theo chủ trương của UBND tỉnh được giao đất để bố trí tái định cư. Đây là những hộ dân sinh sống trong khu vực P25 thuộc ấp Suối Bà Chiêm.
Tại khu tái định cư, mỗi hộ được bố trí một thửa đất có diện tích 400 m2, mục đích sử dụng là đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài. Hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tổng diện tích đất được giao trong đợt này là trên 32.000m2. (Báo Tây Ninh 12/6) đầu trang(
Trong thời gian vừa qua, nhiều công ty lâm nghiệp ở tỉnh Đắk Nông đã giao đất tràn lan cho những cá nhân không thuộc diện được giao đất. Trong đó, có nhiều cán bộ cũng được “ưu tiên” giao hàng chục hécta đất rừng để trồng cây công nghiệp.
Đắk Nông hiện có 14 công ty lâm nghiệp, được giao quản lý hơn 160.000ha rừng và đất rừng. Nhưng phần lớn các công ty này đang hoạt động không hiệu quả, để mất quá nhiều diện tích rừng và đất rừng; giao đất rừng tràn lan cho nhiều cá nhân không thuộc diện được nhận đất.
Đứng đầu về những sai phạm này là Công ty TNHH Gia Nghĩa. Công ty này được tỉnh Đắk Nông giao quản lý hơn 24.000ha rừng và đất rừng tại huyện Đắk Glong và thị xã Gia Nghĩa. Từ năm 2009 - 2014, công ty này đã ký hợp đồng giao khoán rừng sản xuất cho 147 hộ dân theo Nghị định 135 của Chính phủ với diện tích hơn 1.100ha. Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Đắk Nông, việc giao khoán của công ty này chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa ưu tiên giải quyết đất cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Trong 147 hộ được giao khoán đất rừng, chỉ có 2 hộ là đồng bào dân tộc tại chỗ và có 27 hộ được giao đất không cư trú hợp pháp trên địa bàn xã, huyện nơi có đất của bên giao khoán. Còn đơn nhận giao khoán phần lớn không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có cơ sở để xác định đối tượng giao khoán nhưng vẫn được nhận đất giao khoán.
Qua xác minh 90 hộ nhận khoán, Thanh tra tỉnh Đắk Nông phát hiện có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú như đã khai trong hồ sơ nhận khoán nhưng vẫn được giao khoán hơn 83ha đất rừng. Một số trường hợp như hộ ông Lê Văn Dân được nhận giao khoán 3,4ha đất rừng đã xâm canh trồng cây nông nghiệp; hộ ông Hoàng Đại Cường được giao khoán 2 lần với diện tích 25ha và hộ bà Nguyễn Thị Thương cũng được giao khoán 2 lần với diện tích 8,9ha.
Không những thế, công ty này đã giao khoán hơn 204ha đất rừng cho 67 hộ có nguồn gốc từ phá rừng trái phép chưa xử lý, chưa có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Theo giải trình Công ty TNHH Gia Nghĩa, do áp lực phải trồng lại rừng ngay trên diện tích rừng bị phá theo chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Nông, nên đơn vị này đã bỏ qua thủ tục lập dự án khi thực hiện việc giao khoán?
Vào năm 2007, Công ty Lâm nghiệp Đắk Song (nay đổi tên là Công ty TNHH MTV Thuận Tân - PV) ký hai hợp đồng kinh tế trái quy định giao 16,7ha đất rừng tại xã Thuận Hà (huyện Đắk Song) cho ông Trần Văn Dương (cán bộ Công an huyện Đắk Song) trồng rừng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng. Sau khi bàn giao đất, Công ty Lâm nghiệp Đắk Song còn “ưu ái” cung cấp toàn bộ giống, cây trồng như: xoan, keo, muồng… để ông Dương trồng cây trên đất rừng.
Trong thời gian ông Dương phát thực bì trồng cây, nhiều hộ dân địa phương đã nhảy vào tranh chấp đất rừng. Ngoài ra, ông Dương còn đi lấn chiếm sang vị trí khác được giao khoán để trồng cây công nghiệp.
Từ đó xảy ra tranh chấp đất đai, thậm chí xô xát gây thương tích giữa ông Dương, người làm cho ông Dương với các hộ dân khác, làm mất an ninh trật tự địa phương. Đến cuối năm 2011, UBND huyện Đắk Song thu hồi 6ha của ông Dương để thực hiện dự án ổn định dân di cư tự do và cũng “ưu ái” bồi thường cho ông Dương trái quy định 740 triệu đồng.
Theo kết luận tại Quyết định số 234/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông, việc Công ty Lâm nghiệp Đắk Song (cũ) ký hợp đồng cho ông Dương đã vi phạm Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 của Hội đồng Nhà nước và Nghị định 135 của Chính phủ.
Theo đó, việc Công ty Lâm nghiệp Đắk Song ký hợp đồng cho ông Dương nhận giao khoán trong khi ông này đang là cán bộ Công an huyện Đắk Song, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và không có hộ khẩu nơi có đất là không đúng đối tượng theo quy định tại Điều 2, Nghị định 135 và Mục I, Phần I, Thông tư số 102/2006/TT-BNN của Bộ NN-PTNT.
Trong đó, quy định đối tượng nhận giao khoán là các hộ gia đình có hộ khẩu tại nơi có đất, phải ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, đời sống khó khăn. (Sài Gòn Giải Phóng 13/6) đầu trang(
Gần 80 doanh nghiệp (DN) tại 7 tỉnh phía Bắc cùng ký đơn đề nghị Thủ tướng chỉ đạo bỏ bớt tiêu chuẩn an toàn của tàu chở gỗ dăm vì cho rằng các tàu này đang vận hành an toàn.
Mới đây, 79 DN sản xuất, kinh doanh chế biến, bán, xuất nhập khẩu, vận tải dăm gỗ tại các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Hòa Bình, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Giang đồng ký đơn đề nghị Thủ tướng chỉ đạo ngành chức năng điều chỉnh quy định phương tiện thủy chở gỗ dăm (về cảng Cái Lân, Quảng Ninh và Hải Phòng) “đóng nắp hầm hàng cứng” thay vào đó là “phủ bạt che kín và chằng buộc an toàn”. Các DN cho biết, không phương tiện chở gỗ dăm nào có thể thỏa mãn quy chuẩn về nắp hầm hàng, kể cả phương tiện thiết kế mới.
Theo tìm hiểu của PV Báo Giao thông, vài năm gần đây có tình trạng phương tiện thủy (và cả tàu biển) dùng cọc gỗ, sắt để cơi chiều cao để xếp gỗ dăm vượt cao hơn nắp hầm hàng vài mét. Trong đó, chủ yếu các tàu này xuất phát từ cảng, bến thủy không phép và được dư luận báo chí phản ánh. Năm 2015, khi Cục Đường thủy nội địa VN và cơ quan chức năng khác siết chặt kiểm tra, xử lý, một số DN kiến nghị vì đây là loại hàng nhẹ nên cần cho phép tàu được cơi nới để chở hàng trên mặt boong.
Tháng 8/2015, Cục Đăng kiểm VN có văn bản hướng dẫn trường hợp tàu chở trên mặt boong, phải có bản tính nghiệm (tính toán, thử nghiệm) liên quan đến sự ổn định tàu khi vận hành, đồng thời các khoang hàng phải có nắp hầm đảm bảo kín, chịu được tải trọng xếp trên nóc. Bên cạnh đó, cần có sơ đồ sắp xếp, chằng buộc hàng, trong đó đảm bảo yêu cầu tầm nhìn của người lái tàu.
Tuy nhiên, theo Cục Đăng kiểm VN, đến nay, mới có 12 phương tiện thực hiện theo hướng dẫn và được cấp chứng nhận kiểm định, với chiều cao hàng trên mặt boong hơn 3m. Trong khi đó, theo đại diện các đơn vị Cảng vụ Đường thủy nội địa tại Thái Nguyên, Phú Thọ…, hầu hết các tàu chở gỗ dăm vẫn lấy hàng từ cảng, bến không phép. Các tàu dùng cọc gỗ, sắt cao vây xung quanh hầm hàng để chở thông từ dưới hầm cao vượt hầm hàng vài mét.
Ông Đỗ Trung Học, Trưởng phòng Tàu sông (Cục Đăng kiểm VN) cho biết, nắp hầm nhằm đảm bảo an toàn trước các yếu tố như nước mưa, sóng tràn qua boong làm mất ổn định của phương tiện trên hành trình. Bởi dăm gỗ khi gặp nước, thời tiết ẩm sẽ tích tụ lại, làm tăng trọng tải và dẫn đến nguy cơ tai nạn.
Trước câu hỏi liệu có thể thay thế quy chuẩn về nắp hầm hàng của tàu chở gỗ dăm bằng che bạt, ông Học cho biết: “Quy chuẩn an toàn trên cũng là thông lệ quốc tế mà một số nước như: Nga, Trung Quốc đang áp dụng. Có thể bỏ bớt quy chuẩn để giảm chi phí vận tải, nhưng về nguyên tắc an toàn kỹ thuật, không nên, vì  đổi lại thuyền viên, phương tiện phải chấp nhận hệ số rủi ro cao hơn”.
Lãnh đạo một đơn vị quản lý đường thủy phía Bắc (đề nghị không nêu tên) cho rằng: “Tàu phải có nắp hầm hàng để đề phòng tai nạn do mưa gió và cũng phải nêu rõ được chở đến chiều cao bao nhiêu để cơ quan chức năng có căn cứ kiểm tra, đối chiếu. Nếu không có nắp rất nguy hiểm”, vị này nêu quan điểm. (Giao Thông 13/6) đầu trang(./.