|
Ngày 13 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Vào lúc 11h30 ngày 12/6, tại xóm 8 Nam Lộc, Nam Đàn đã xuất hiện điểm cháy rừng sau đó bốc lên dữ dội.
Vụ cháy xảy ra tại Khe Hương vùng rừng giáp ranh giữa xã Thanh Lâm huyện Thanh Chương và xã Nam Lộc huyện Nam Đàn. Diện tích rừng bị cháy gồm thông và keo.
Ngay sau khi phát hiện cháy, hơn 400 người gồm Lữ đoàn công binh 414- Quân khu 4, công an, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, dân quân và người dân Nam Lộc, Nam Thượng đã có mặt triển khai công tác chữa cháy cứu rừng nhưng do thời tiết nắng nóng, gió tây nam thổi mạnh nên ngọn lửa bốc lên dữ dội.
Ngọn lửa đã lan nhanh, từ 1 điểm ban đầu đã lan ra 5 quả đồi ở xóm 7, xóm 8 Nam Lộc, khiến công tác chữa cháy rất khó khăn. Đến 22h cùng ngày, đám cháy đã được khống chế nhưng nguy cơ bùng phát vẫn rất cao; các lực lượng đang tiếp tục được huy động. Thiệt hại ước vài chục héc ta rừng thông trên 10 tuổi. (Báo Nghệ An 12/6) đầu trang(
Sau 4 ngày đêm cháy, lửa ăn sâu vào lớp than bùn ở xóm Rẫy thuộc ấp 17, xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau), phá hủy hoàn toàn đất than bùn, cây trồng của người dân. Mặc dù chính quyền và người dân đã nỗ lực dập lửa nhưng ngọn lửa âm ỉ dưới lớp than bùn tiếp tục lan rộng.
Ông Nguyễn Văn Hậu, một người trong xóm cho biết: “Trưa ngày 9/6, lửa bùng phát do ông H. vô ý đốt đồng, dọn cỏ, trồng rẫy. Bà con xung quanh tìm mọi cách dập lửa cháy dưới lớp than bùn nhưng bất thành, gọi báo chính quyền cứu giúp”.
Xóm Rẫy là khu vực tạm cấp cho 52 hộ dân, mỗi hộ 1,5 ha để trồng hoa màu và trồng rừng. Bà con nơi đây chủ yếu trồng dây thuốc cá và đây cũng là nguồn thu chính của bà con.
Ông Lê Văn Tài, ở ấp 17, cho biết, khu vực có lớp than bùn dày khoảng 1,2m, khu vực bị cháy và có nguy cơ cháy rộng khoảng 70 ha. “Trước đây, có nhà đầu tư mua lớp than bùn với giá 1,5 tỷ đồng/ha nhưng không cho dân bán. Nay bị cháy thiệt hại rất lớn”, ông Tài nói. (Tiền Phong 13/6) đầu trang(
Từ trước khi bước vào đợt hạn hán kéo dài Hạt Kiểm lâm Bù Đốp đã tổ chức nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng cháy rừng.
Qua báo cáo sơ bộ đợt nắng nóng từ đầu năm 2016 đến nay, toàn bộ địa phận kiểm soát của lực lượng Kiểm lâm Bù Đốp (Bình Phước) gồm 13.145 ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó đất có rừng tự nhiên là 6.417,5 ha, 6.149,4 ha rừng trồng và 578,1 ha đất không rừng, đường… đã được bảo vệ an toàn.
Là khu vực chịu ảnh hưởng lớn mạnh bởi hiện tượng El Nino, đợt nắng nóng từ đầu năm đến nay gay gắt hơn những năm trước, thời gian của mùa khô kéo dài nên nguy cơ gây cháy rừng càng dễ xảy ra.
Để chủ động trong công tác Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng hiệu quả, ngay từ trước khi bước vào đợt hạn hán kéo dài Hạt Kiểm lâm Bù Đốp đã tổ chức nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng cháy rừng.
Ngoài việc chủ động xây dựng phương án, các công cụ, phương tiện chữa cháy thì đơn vị luôn chủ động phối hợp cùng các đơn vị chức năng khác trên địa bàn để kiểm tra, đôn đốc đối với chủ rừng, chủ các dự án đang hoạt động trên địa bàn, đề nghị mỗi đơn vị phải có phương án đối phó với nguy cơ cháy rừng của riêng mình. Yêu cầu tổ chức lực lượng trực cảnh báo phòng, chống cháy rừng 24/24 giờ trong mùa cao điểm,các phương tiện, công cụ chữa cháy của đơn vị được điều động, bố trí trực thường xuyên tại các Chốt Bảo vệ rừng của Nông lâm trường để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
Hạt luôn chú trọng đặc biệt đến các diện tích rừng khu, rừng giáp ranh với diện tích rừng đang thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng. Tăng cường phối hợp cùng Nông lâm trường Bù Đốp, UBND xã Phước Thiện tuần tra ngăn chặn người ra vào rừng trái phép, sử dụng lửa để lấy mật ong rừng. Tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng để kiểm nghiệm khả năng ứng phó của các đơn vị có liên quan. Đề nghị Nông lâm trường Bù Đốp, Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé bổ sung thêm các trang thiết bị phục vụ chữa cháy rừng. Trong 6 tháng đầu năm, không để xảy ra vụ việc cháy rừng nghiêm trọng nào.
Từ đầu mùa, công tác tích trữ nước để phục vụ cho mùa khô cũng được triển khai mạnh mẽ, việc tu sửa các hổ chứa nước cũng được đẩy mạnh. Công tác bố trí người túc trực bảo vệ diễn ra liên tục để đối phó với biến cố có thể xảy ra.
Ông Nguyễn Văn Ách (Hạt trưởng Hạt kiểm lâm) chia sẻ: “Mặc dù trong công tác PCCCR và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn nhất định do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại như: Công tác phòng chống cháy đã được thực hiện nhưng chưa đồng bộ, các lực lượng phối hợp chưa thật sự chặt chẽ cùng nhau, nhất là đối với các đơn vị thực hiện dự án. Một số đơn vị chưa được trang bị đầy đủ các công cụ, phương tiện chữa cháy rừng”
Thực tế trước khó khăn trong việc PCCCR và bảo vệ rừng đang là khó khăn bởi các cơ quan chức năng tuy nhiên các đơn vị dự án chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống cháy rừng, nên chưa chủ động đầu tư. Bên cạnh đó, Nông lâm trường Bù Đốp hiện nay cũng tập trung nhiều cho hoạt động quản lý diện tích cây cao su, số lượng người làm nhiệm vụ bảo vệ rừng ít. Lượng người ra vào trong các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng hiện nay tương đối nhiều, ý thức chấp hành pháp luật của lực lượng này chưa cao.
Thời gian tới, Hạt chủ động, tích cực có các biện pháp trao đổi thông tin giữa Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp với Hạt Kiểm lâm các huyện Bù Gia Mập, Lộc Ninh để nắm bắt thông tin, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Có kế hoạch phối hợp cùng Nông lâm trường Bù Đốp tăng cường thêm các hồ nước nhân tạo, thực hiện tích nước, dự trữ trong mùa mưa đối với các hồ nước nhân tạo phục vụ công tác chữa cháy rừng trong mùa khô năm tới. (Pháp Luật + 12/6) đầu trang(
Mặc dù gần đây trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện rải rác một vài cơn mưa nhưng thời tiết vẫn nắng nóng, khô hanh.
Do vậy, ngành nông nghiệp tỉnh đang tiếp tục nâng cao tuyên truyền cảnh báo nguy cơ cháy rừng, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng (PCCR), bảo vệ động vật hoang dã. Cụ thể: Phối hợp phát thanh 45 lượt, phát thanh lưu động 17 lượt, làm cam kết bảo vệ rừng, PCCR với 3 cá nhân, gia đình...
Trong tháng 5, địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, giảm 2 vụ so với tháng trước. Trong đó: Tương ứng 8 vụ vi phạm lĩnh vực quản lý lâm sản, giảm 4 vụ; phá rừng, lấn chiếm rừng trái phép 2 vụ, tăng 2 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 0,3548 ha.
Trước tình hình đó, lực lượng kiểm lâm đã tăng cường tuần tra, truy quét bảo vệ rừng; phối hợp với các đơn vị chức năng tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn quản lý, đặc biệt là người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng. Cơ quan chức năng đã xử lý hành chính 4 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Lâm sản và phương tiện thu hồi gồm 24,062m3 gỗ các loại, 299 cây rừng non loại gỗ tạ, 3 xe máy, 4 phương tiện khác. Tổng số tiền thu nộp 154,068 triệu đồng.
Thời gian qua, tuy đã có mưa ở một số địa bàn trong tỉnh nhưng dự báo cháy rừng ở một vài khu vực vẫn ở cấp III xen kẽ cấp IV, V - là những cấp cực kỳ nguy hiểm, nên tình hình cháy rừng hiện vẫn rất phức tạp. Do vậy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tăng cường chỉ đạo đơn vị trực thuộc thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và xem đây là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt. Công tác cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức trực và báo cáo tình hình cháy rừng vẫn duy trì thực hiện nghiêm túc.
Trong tháng 5, cơ quan chức năng đã cấp 1 giấy phép khai thác tận dụng lâm sản với diện tích 0,29 ha; sản lượng gỗ: gỗ chính phẩm 1,474m3, gỗ nhỏ 2,323m3; gỗ cành ngọn 0,319m3, củi 0,912 ster.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hướng dẫn các cơ sở rà soát triển khai thực hiện Nghị định số 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Sở cũng đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị tổ chức họp kiểm tra, đôn đốc tiến độ trồng rừng thay thế của các đơn vị. Kết quả đến nay: Đối với Công ty cổ phần thủy điện Đắk Kar tổng diện tích phải trồng 60,2 ha tại Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng. Hiện công ty đã nhận bàn giao toàn bộ diện tích rừng trồng từ Ban quản lý để thực hiện công tác chuẩn bị trồng rừng. Do khu vực trồng rừng dốc nên không sử dụng cơ giới để khai hoang và làm đất, vì thế công ty đã cho công nhân phát dọn thực bì chuẩn bị trồng rừng.
Đối với Công ty cổ phần thủy điện Tây Nguyên (Đam Lo): Tại Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, tổng diện tích phải trồng là 27,65 ha. Hiện công ty đã nhận bàn giao toàn bộ diện tích và đang thực hiện khai hoang, làm đất chuẩn bị trồng khi mùa mưa đến. Tại Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh, công ty có tổng diện tích phải trồng 22,25 ha. Công ty đang xử lý thực bì để chuẩn bị trồng nhưng lại chưa gửi hồ sơ thiết kế trồng rừng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với công ty cổ phần thiết bị phụ tùng Sài Gòn (Đắk Glun) tổng diện tích phải trồng 41 ha tại Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh. Hiện công ty đã nhận bàn giao đất và thực hiện phát dọn thực bì và cày đất, móc mương tại một số khu vực. Đối với Nhà máy xi măng Bình Phước do Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh trồng, tổng diện tích phải trồng 100 ha.
Riêng 10 ha đã trồng trong năm 2015, do thời tiết nắng nóng kéo dài nên cây bị chết nhiều. Vì vậy khi mùa mưa tới, Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh sẽ trồng dặm lại để đảm bảo tỷ lệ cây sống theo quy định. 90 ha còn lại, hiện Ban quản lý rừng phòng hộ Lộc Ninh đã hoàn thành phát dọn thực bì và làm đất, chuẩn bị cây giống để trồng khi mùa mưa tới. (Báo Bình Phước 10/6) đầu trang(
Nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi chặt phá rừng trái phép, hủy hoại tài nguyên rừng, đồng thời, phát hiện và dập tắt kịp thời các điểm cháy rừng, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng cũng như thiệt hại tài nguyên rừng, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội vừa triển khai kế hoạch triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2016 trên địa bàn thành phố.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm Hà Nội Lê Minh Tuyên cho biết, các Hạt Kiểm lâm thuộc Chi cục sẽ tập trung hướng dẫn chủ rừng lập kế hoạch bảo vệ rừng và PCCCR. Chủ rừng phải xây dựng phương án PCCCR và phương án huy động lực lượng chữa cháy rừng của chủ rừng theo quy định của pháp luật.
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức tới chủ rừng, cộng đồng dân cư với phương châm “phòng cháy rừng là chính, chữa cháy rừng phải khẩn trương, kịp thời, hiệu quả, an toàn”. Tại các vùng trọng điểm hay xảy ra cháy rừng sẽ tăng cường tuần tra, kiểm tra, chú trọng những nơi có số người ra vào rừng đông, tại các khu du lịch sinh thái, du lịch tâm linh để kiểm soát nguồn lửa sử dụng trái phép tránh cháy lan vào rừng.
Ngoài ra, phối hợp với các Hạt Kiểm lâm của các tỉnh giáp ranh với Hà Nội xây dựng phương án phối hợp bảo vệ rừng và PCCCR giáp ranh kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi phá rừng, đốt rừng, hủy hoại tài nguyên rừng khu vực giáp ranh, ngăn chặn kịp thời nguy cơ cháy lan tại các khu vực rừng giáp ranh. Xây dựng và tổ chức thực hiện phương án bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn được giao quản lý. Kiểm tra các công trình, trang thiết bị, phương tiện PCCCR được giao quản lý đảm bảo hoạt động hiệu quả khi có cháy rừng xảy ra, tổ chức chữa cháy kịp thời theo phương châm 4 tại chỗ.
Các Hạt Kiểm lâm bố trí lực lượng thường trực quan sát phát hiện sớm cháy rừng tại các chòi quan sát lửa rừng đã giao các Hạt Kiểm lâm quản lý sử dụng. Bố trí thường trực 24/24 giờ trong thời gian cao điểm cháy rừng. Thời gian khác trực 8/24 giờ và thường trực nhận thông tin 24/24. Khi phát hiện cháy rừng phải thông báo theo quy định của Pháp luật và huy động lực lượng kịp thời để tổ chức chữa cháy rừng.
Kiểm lâm địa bàn kiểm tra và yêu cầu các chủ rừng, các hộ nhận khoán phải nghiêm túc thực hiện các qui định của nhà nước về BVR&PCCCR, quản lý không để sử dụng lửa bất cẩn trong rừng, đặc biệt những xã vùng trọng điểm và thời gian mùa khô hanh. Khi sử dụng lửa trong hoặc ven rừng vào mùa khô hanh, phải báo chính quyền địa phương, kiểm lâm địa bàn để có hướng dẫn về thời gian, kỹ thuật để đảm bảo an toàn khi sử dụng lửa.
Chú trọng các khu vực lễ hội đầu năm, lượng người ra vào rừng nhiều tại khu vực Chùa Hương (Mỹ Đức), Đền Sóc (Sóc Sơn), Đền Bác, Đền Thượng (Ba Vì),… việc đốt hương, vàng mã dễ gây cháy lan vào rừng, khu vực trên cần được hướng dẫn, biển nội quy sử dụng lửa để mọi người có ý thức BVR&PCCCR.
Sau mùa lễ hội việc đốt rác trong rừng phải có sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền địa phương và cơ quan Kiểm lâm. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, xử lý theo quy định của pháp luật… (Cổng Giao Tiếp Điện Tử Hà Nội 9/6) đầu trang(
Năm nào cùng vậy, vào mùa nắng nóng, các địa phương miền Trung lại đối diện với nguy cơ cháy. Thực tế đã có những trận cháy rừng lớn gây thiệt hại nặng nề cho các địa phương.
Năm 2016 Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng đã đối diện với những trận cháy rừng. Như vụ cháy rừng ngày 17/5 ở thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi đã làm cho hơn 10 ha keo bị thiêu rụi. Hay trước đó, ngày 11/4 cũng tại địa phương này, trong quá trình đốt rẫy, một hộ dân để cháy lan gần rừng phòng hộ Nước Nia, may mà UBND huyện kịp thời huy động hơn 100 cán bộ, công an, bộ đội kịp thời dập tắt vụ cháy. Hoặc như ở Quảng Nam chiều ngày 21/4 cũng đã xảy ra vụ cháy rừng ở xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc, thiệt hại gần 12 ha rừng keo…
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, 5 năm trở lại đây có trên 57 vụ cháy rừng xảy ra, gây thiệt hại gần 300 ha rừng trồng và cả rừng tự nhiên. Như tại huyện Đại Lộc, 4 năm qua (2012 - 2015), đã xảy ra 5 vụ cháy rừng làm thiệt hại 36,04 ha rừng trồng. Cháy rừng còn gây ô nhiễm môi trường, đe dọa tính mạng nhân dân sống ven rừng và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.
Nắng nóng cùng với sự bất cẩn của người dân là nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng. Thời tiết càng nắng nóng thì nguy cơ cháy rừng càng cao. Điều đáng nói là do ý thức chủ quan của con người như đốt nương làm rẫy, đốt than, xử lý thực bì để trồng rừng, khai hoang, đốt ong, thắp hương mồ mả, vệ sinh rừng sau khai thác,… là những nguyên nhân cháy rừng gây hậu quả nặng nhất.
Thời gian này, Quảng Nam và Quảng Ngãi đã triển khai nhiều biện pháp PCCCR. Trong đó, nhiều địa phương đã khoanh vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để phối kết hợp với lực lượng kiểm lâm chủ động đối phó với cháy rừng vào đỉnh điểm mùa khô.
Ngành kiểm lâm cũng đã bỏ ra hàng tỷ đồng để mua các loại xe chữa cháy rừng chuyên dụng, máy bơm nước chữa cháy, cưa xăng, thuyền máy, ca nô, ô tô, xe máy, hệ thống thông tin liên lạc, đồ bảo hộ, kẻng báo động… Để phòng xa, chính quyền các địa phương còn đề nghị người dân ký cam kết cấm mang theo lửa trong những khu rừng có nguy cơ cháy cao. Ngành kiểm lâm cho rằng, chủ rừng phải chịu trách nhiệm đầu tiên về công tác bảo vệ và PCCCR trong lâm phận do mình quản lý.
UBND tỉnh các tỉnh cũng đã ký quyết định phê duyệt phương án PCCCR rừng trên địa bàn tỉnh. Hạt Kiểm lâm các huyện đã chủ động xây dựng và triển khai chương trình kế hoạch công tác bảo vệ, PCCCR trên địa bàn. Củng cố, kiện toàn các ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện. Ký kết lại hợp đồng bảo vệ rừng trong mùa khô đối với tất cả các xã có nguy cơ cháy rừng. Chuẩn bị đầy đủ nguồn lực và các dụng cụ chữa cháy theo phương châm “3 tại chỗ”.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng cho biết, diễn biến thời tiết khô hạn năm nay vô cùng phức tạp, nên nhiều khu rừng xung yếu rất dễ xảy ra cháy. (Đại Đoàn Kết 11/6) đầu trang(
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, với công suất dưới 25 MW, việc đề nghị dừng xây dựng thủy điện Đrăng Phốk không ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch điện quốc gia nhưng sẽ giữ lại được hệ sinh thái Vườn quốc gia Yok Đôn.
Trước đó, Bộ NN&PTNT có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét lại về chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn để xây dựng Thủy điện Đrăng Phốk, tỉnh Đắk Lắk, trong khi chủ đầu tư là Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (Công ty TECCO) đang tiến hành việc đánh giá tác động môi trường để khởi động xây dựng Dự án này.
Trao đổi với PLVN,Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết: mặc dù đất nước đang trong giai đoạn phát triển và rất cần phát triển về cơ sở hạ tầng và thủy điện. Và thủy điện là nguồn tạo ra điện rẻ so với sử dụng các loại tài nguyên không tái tạo khác như than đá, dầu.
“Tuy vậy, trong sự phát triển, chúng ta ngày càng phải đặt sự phát triển cân bằng, bền vững lên vị trí quan trọng. Vì thế, đánh giá tác động nhiều mặt thì chúng tôi đã đề nghị với Thủ tướng Chính phủ xem xét lại chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để làm thủy điện”- ông Tuấn nói.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng chúng ta không nhất thiết phải chuyển mục đích sử dụng khoảng 63ha rừng chưa kể khoảng gần 20 ha sử dụng để tiếp tục xây dựng đường tải điện để có một nhà máy thủy điện công suất không lớn, dưới 30 MW.
“Cân đối tất cả các yếu tố đó tôi nghĩ rằng nó cũng không ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch điện quốc gia. Chúng ta phải giữ được hệ sinh thái Vườn quốc gia Yok Đôn. Tôi tin Chính phủ sẽ xem xét và sớm có kết luận về vấn đề này”- lãnh đạo Bộ NN&PTNT nêu quan điểm.
Đáng chú ý, theo Thứ trưởng Tuấn, ông có làm việc với lãnh đạo tỉnh Đăc Lắk và lãnh đạo địa phương này rất đồng tình với quan điểm của Bộ NN&PTNT dưa ra. Thậm chí, thường vụ tỉnh ủy địa phương này cũng đã bàn về chủ trương và cũng có quyết định thống nhất ý kiến của Bộ NN&PTNT.
Câu hỏi đặt ra, vì sao vào năm 2009, chính Bộ NN&PTNT đã trình Chính phủ xem xét, cho phép UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức lập hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng của Vườn quốc gia Yok Đôn sang mục đích không phải lâm nghiệp để xây dựng thủy điện Đrăng Phốk mà nay lại có quan điểm khác?.
Thứ trưởng Tuấn giải thích: Năm 2008-2009, tình hình khô hạn, tình hình của tác động biến đổi khí hậu nó chưa rõ nét, chưa căng thẳng như bây giờ cho nên lúc đó việc phát triển thủy điện đảm bảo cân bằng điện cho sự phát triển rất nhanh đất nước lúc ấy đặt ra rất cấp thiết nên rất nhiều công trình thủy điện không chỉ Tây Nguyên mà cả đất nước ta thời kỳ ấy được đồng ý chủ trương và xây dựng rất nhanh chóng, trong đó có chủ trương về thủy điện Đrăng Phốk, Vườn quốc gia Yok Đôn.
Lúc đó, Bộ NN&PTNT cũng đã đồng ý và đề nghị với Thủ tướng xem xét cho xây dựng thủy điện này. Tuy vậy, đến nay nhìn nhận lại, đánh giá lại thì chúng ta thấy rằng cần phải ưu tiên bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên cho việc phát triển bền vững hơn.
Ngoài ra, theo Thứ trưởng Tuấn, vào năm 2009 chưa có các nghị quyết của Quốc hội về việc quản lý diện tích rừng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng chặt chẽ như bây giờ.
“Hiện nay, bất cứ khu vực nào chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trên 20 ha thì phải xin ý kiến của Quốc hội. Và tôi tin nếu phải đưa ra quốc hội thì quốc hội cũng sẽ cân nhắc như các dự án thủy điện bị dừng trước đây ở sông Đồng Nai”- ông Tuấn nói. (Pháp Luật Việt Nam 10/6) đầu trang(
Nhiều cây gỗ bị "lâm tặc" đốn hạ la liệt trên con đường từ bản Kịt đi sâu vào Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Giám đốc khu bảo tồn này thừa nhận có thực trạng rừng bị chặt phá.
Khu bảo tồn thiên Pù Luông (thuộc địa phận huyện Bá Thước và Quan Hóa, Thanh Hóa) được đánh giá đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã. Từ khi được thành lập năm 1999, việc bảo vệ hệ sinh thái rừng là vấn đề đau đầu cho các nhà quản lý.
Ghi nhận của Zing.vn, dọc theo lối mòn nhỏ dẫn từ bản Kịt (xã Lũng Cao, huyện Bá Thước) đi sâu vào khu rừng thuộc khu bảo tồn có nhiều cây gỗ lớn bị đốn hạ nằm la liệt tại nhiều vị trí trong rừng. Những cây gỗ xanh tốt khỏe mạnh, hàng chục năm tuổi, hai người ôm không xuể bị cưa chặt phá nằm ngổn ngang.
Việc cưa xẻ gỗ thành ván phẳng được "lâm tặc" thực hiện ngay trong rừng. Những cây có giá trị bị lâm tặc mang, còn cây ít giá trị được bỏ lại, có dấu hiệu mục nát. Một cây gỗ được đánh dấu ký hiệu ghi ngày 12/5 vừa qua. Dưới các con số còn ghi nhiều cái tên khác nhau. Nhiều diện tích rừng thành những bãi chiến trường gỗ vứt bỏ và mùn cưa nhếch nhác.
Ông Lê Thế Sự, Giám đốc, kiêm Hạt trưởng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông thừa nhận có tình trạng chặt phá rừng diễn ra, song không cung cấp số liệu cụ thể. Cũng theo ông Sự, khu vực rừng bị khai thác trái phép thuộc Tiểu khu 254, những cây gỗ bị khai thác thuộc nhóm 5 và nhóm 7. “Gỗ bình thường thôi, không phải gỗ quý” - ông Sự nói.
Còn ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ tịch UBND huyện Bá Thước cho hay, ông đã nắm được vụ việc này. "Sắp tới, huyện sẽ làm việc với Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông để làm rõ trách nhiệm" - ông Dũng nói.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái. Rừng nguyên sinh tại Khu bảo tồn là loại rừng kín nhiệt đới, thường xanh theo mùa.
Khu bảo tồn có hệ động thực vật phong phú, đa dạng về số lượng và chủng loại với 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có xương sống, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát)... Đây cũng là nơi cư trú của báo gấm, beo lửa, hương sao, gấu ngựa, voọc quần đùi trắng,.. (Zing News 12/6; Dân Việt 12/6) đầu trang(
Theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng thì lãnh đạo huyện Sơn Động sẽ phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật khi để rừng bị phá.
Vụ việc phá rừng tự nhiên trái phép xảy ra tại xã Tuấn Mậu (Sơn Động – Bắc Giang) liên quan tới cha con Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn cho tới thời điểm này là hơn 2 năm nhưng rất có thể sẽ chìm xuồng nếu không có sự vào cuộc của các cơ quan báo chí, trong đó có Báo TN&MT là cơ quan đầu tiên đưa vụ phá rừng này ra ánh sáng.
Để bảo vệ rừng, Chính phủ đã có những quy định rất chi tiết khi giao đất, giao rừng cho các cá nhân, tổ chức trên toàn quốc để phủ xanh đất trống, đồi trọc cũng như bảo vệ, quản lý, khai thác rừng sẵn có. Chính vì vậy, vụ việc phá rừng tự nhiên tại xã Tuấn Mậu là hành vi xâm hại rừng đặc biệt nghiêm trọng. Các cơ quan chức năng sẽ buộc phải đối chiếu theo các quy định của pháp luật để xử lý chứ không thể coi đó là “tai nạn” để rút kinh nghiệm bởi cũng chính tại địa phương này đã có những vụ việc tương tự và các cá nhân phá rừng phải trả giá bằng những bản án nghiêm khắc của tòa án.
Bên cạnh đó không thể bỏ qua trách nhiệm của lãnh đạo huyện Sơn Động khi để xảy ra việc phá rừng trái phép trong thời gian dài như vậy mà không xử lý.
Cụ thể, tại Điều 2, Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng chính phủ quy định rõ: "Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, thì lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật".
Ngoài ra, chính quyền các cấp phải tổ chức hoạt động có hiệu quả của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ; huy động các lực lượng trên địa bàn kịp thời ngăn chặn các hành vi phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án bốn tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần); kịp thời báo cáo lên cấp trên đối với vụ việc khi vượt quá tầm kiểm soát của xã; giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản theo quy định của pháp luật.
Trong chuyện này, ông Phạm Văn Thắng đang là đương kim Chủ tịch thị trấn, đồng thời là chủ rừng nhưng lại để con là cán bộ tư pháp ngang nhiên phá rừng tự nhiên (thời điểm ông Thắng còn đang làm Trưởng công an thị trấn) nhưng đến giờ này, công an huyện Sơn Động vẫn không khởi tố vụ án thì phải chăng có thế lực nào “chống lưng” cho cha con ông Chủ tịch mặc dù Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ phá rừng tự nhiên trái phép sang công an huyện Sơn Động đề nghị khởi tố con trai ông Chủ tịch tội “hủy hoại rừng”.
Trả lời phóng viên về vụ phá rừng nghiêm trọng này, ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNPTNT) tỉnh Bắc Giang cho biết hành vi phá rừng tự nhiên là vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Quan điểm của chúng tôi là xử lý nghiêm, không bao che sai phạm bất kể là ai.
“Tôi đã giao Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang lập đoàn thanh tra kiểm tra sự việc và sau khi có báo cáo đầy đủ, chi tiết từ Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang, Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang sẽ xem xét trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm tại huyện Sơn Động” – ông Khái nói thêm.
Trước đó như chúng tôi đã đưa tin. Bức xúc trước việc cha con ông Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn Phạm Văn Thắng ngang nhiên lấn chiếm đất lâm nghiệp của hàng xóm và chặt phá trái phép 26.056m2 rừng tự nhiên tại xã Tuấn Mậu (Sơn Động – Bắc Giang), người dân nơi đây đã làm đơn tố cáo hai cha con ông Chủ tịch tới các cơ quan chức năng.
Hạt Kiểm lâm Sơn Động sau đó đã phải lập Tổ công tác đi xác minh thông tin. Kết quả cho thấy phản ánh của người dân về việc ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn phá rừng là có cơ sở nhưng thủ phạm chính, người trực tiếp chỉ đạo phá 26.056m2 rừng tự nhiên lại là Phạm Văn Cương - con trai ông Chủ tịch.
Sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn khi nhóm phóng viên phát hiện giấy ủy quyền của ông Phạm Văn Thắng cho con trai là Phạm Văn Cương toàn quyền sử dụng 9,5 ha đã bị làm giả với sự góp sức của cha con ông Chủ tịch thị trấn và một PCT xã khác.
Cụ thể là vào đầu năm 2016, nhân dịp phải giải quyết một vụ việc liên quan tới người dân tố cáo ông Thắng phá rừng và con trai ông này lấn chiếm đất rừng của người hàng xóm, thì ông Hoàng Văn Tuệ - PCT xã Tuấn Mậu đã “liều lĩnh” ký xác nhận một giấy ủy quyền cho cha con ông Thắng.
Liều lĩnh là bởi giấy này ghi ngày ủy quyền là ngày 24/02/2014 (giấy do con trai ông Thắng mang tới) nhưng thời điểm đó ông Hoàng Văn Tuệ chưa làm PCT xã Tuấn Mậu. Phải đến ngày 14/11/2014, ông Tuệ mới chính thức là PCT xã sau khi nhận Quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử PCT UBND xã Tuấn Mậu, nhiệm kỳ 2011 - 2016 của Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn.
Bản thân ông Tuệ cũng như ông Thắng, khi được phóng viên hỏi về vụ việc này đều đã thừa nhận có sự việc này nhưng chỉ là do sơ suất (ông Tuệ) hoặc đổ lỗi cho con trai Phạm Văn Cương và ông Tuệ tự làm để khớp hồ sơ. (Tài Nguyên Và Môi Trường 11/6) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật ở tỉnh này vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nhất là khu vực rừng phòng hộ ven biển và rừng trên địa bàn huyện Phú Quốc.
Chỉ tính riêng tại địa bàn huyện Phú Quốc, từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng đã phát hiện 22 vụ vi phạm đến rừng và đất lâm nghiệp.
Các hành vi chủ yếu là người dân vào rừng dọn dây leo, cắm trụ đá nhằm bao chiếm, mua bán trái phép. Tình hình vi phạm ngày càng tăng, trong khi công tác quản lý, bảo vệ rừng của chính quyền và các chủ rừng chưa chặt chẽ, chưa có biện pháp ngăn chặn và xử lý triệt để.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang Nguyễn Văn Tâm cho rằng, để khắc phục tình trạng vi phạm, chính quyền nơi có rừng phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp.
Cấp ủy, chính quyền chỉ đạo các ngành chức năng quản lý chặt chẽ diện tích rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn mình quản lý. Các lực lượng thường xuyên tuần tra tại những địa bàn phức tạp, trọng điểm nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật… (Nhân Dân 12/6) đầu trang(
Sáng 10/6, đoàn công tác liên ngành gồm Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN & PTNT), Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn phối hợp cùng UBND quận Sơn Trà, các cơ quan chức năng quận Sơn Trà tiến hành khám nghiệm hiện trường.
Đồng thời tiến hành lấy mẫu gỗ tại khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thủy Trang Trà làm cơ sở xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Theo một đại diện Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng cho biết, đoàn công tác sẽ khám nghiệm hiện trường chặt phá rừng, lấy mẫu gốc gỗ, lấy mẫu gỗ của 25 hộp gỗ xẻ đang cất trong kho của khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thủy Trang Trà để gửi đi giám định, làm căn cứ pháp lý xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Được biết bên trong khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thuỷ Trang Trà có nhiều công trình xây dựng trái phép hiện đang tồn tại. Ông Huỳnh Văn Bảy, Đội trưởng Đội kiểm tra quy tắc đô thị quận Sơn Trà cho biết, qua kiểm tra, Đội kiểm tra quy tắc đô thị quận Sơn Trà ghi nhận ở tiểu khu 63 Bán đảo Sơn Trà hiện có 1 căn nhà cấp 4, 1 nhà bếp, 1 nhà vệ sinh, 1 nhà gỗ có gác, 1 nhà thờ cúng.
Trao đổi với PV báo Người Đưa tin, ông Huỳnh Văn Hùng (Chánh văn phòng UBND quận Sơn Trà) xác, các số liệu xử lý, lập biên bản đều được Đội quy tắc đô thị quận Sơn Trà tiến hành. Ngoài ra, đoàn kiểm tra liên ngành gồm Công an, Viện kiểm sát... cũng phúc tra để có số liệu chính xác về việc phá rừng tại rừng đặc dụng Bán đảo Sơn Trà.
Hiện tại, Văn phòng UBND quận Sơn Trà chưa thể cung cấp số liệu, vì phải xin ý kiến Thường vụ Quận ủy Sơn Trà mới được phép cung cấp. Nhiều khả năng đến ngày 13/6, mới có kết quả chính thức việc phá rừng tại khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thuỷ Trang Trà.
Như PV báo Người Đưa tin đã đăng tải, Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng phát hiện tình trạng phá rừng tại khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thủy Trang Trà (thuộc tiểu khu 63 - rừng đặc dụng Bán đảo Sơn Trà).
Qua thống kê, số gỗ bị khai thác trái phép, chặt phá khoảng 16 cây gỗ tự nhiên có đường kính gốc từ 15 đến 143 cm; với ước khối lượng cây đứng tạm tính là 63,4 m3.
Ngoài ra, có 2 cây với khối lượng cây đứng tạm tính là 12,3 m3 nằm trong phạm vi đất rừng đặc dụng của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Số cây bị chặt phá gồm các loại: Chò, Nhội, Dẻ, Sồi, Lim xẹt và Lòng mang.
Tiếp tục kiểm tra nhà kho của cơ sở du lịch này, cơ quan chức năng phát hiện thêm 25 hộp gỗ xẻ các loại có khối lượng hơn 3,0 m3. Số gỗ này đang được cơ quan chức năng tiếp tục xác minh, làm rõ.
Ngay sau đó, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ đã có công văn chỉ đạo Thanh tra TP khẩn trương vào cuộc, làm rõ các vụ việc xâm hại rừng ở bán đảo Sơn Trà, kể cả vụ việc vừa được phát hiện tại tiểu khu 63.
Nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để tiến hành xử lý các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật. (Người Đưa Tin 10/6) đầu trang(
Ngày 12-6, Chi cục Kiểm lâm cho hay, đơn vị đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn chủ trì, phối hợp UBND Q. Sơn Trà và các cơ quan chức năng tổ chức khám nghiệm hiện trường, lấy mẫu gốc gỗ tại rừng và mẫu gỗ của 25 hộp gỗ xẻ để trong kho của khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thủy Trang Trà để gửi đi giám định, làm cơ sở xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Như Báo Công an TP Đà Nẵng đã phản ánh, từ nguồn tin của người dân, Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn đã thành lập đoàn công tác tiến hành kiểm tra hiện trường vụ chặt phá rừng tại khu vực Trường Mai.
Qua xác minh, lực lượng chức năng kết luận, người đã có hành vi khai thác gỗ rừng tự nhiên trong khu vực kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái Nhất Lâm Thủy Trang Trà (tên gọi khác là Trường Mai) thuộc Tiểu khu 63 rừng Sơn Trà là ông Phạm Trường Mai (1988, trú tổ 51, P. Thọ Quang, Q. Sơn Trà). Tổng cộng có 16 cây gỗ tự nhiên bị chặt hạ (khối lượng cây đứng tạm tính là 63,4m3); có 2 cây (khối lượng cây đứng tạm tính là 12,3m3) nằm trong phạm vi đất rừng đặc dụng của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Từ tài liệu, chứng cứ thu thập được, Sở NN&PTNT khẳng định, ông Phạm Trường Mai đã có hành vi lấy lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Liên quan đến vụ việc này, Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ đã ký Công văn số 4092 chỉ đạo Thanh tra thành phố khẩn trương hoàn thành việc thanh tra các vụ việc xâm hại rừng ở bán đảo Sơn Trà, kể cả vụ việc vừa được phát hiện tại tiểu khu 63. Nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để tiến hành xử lý các tổ chức, cá nhân có liên quan theo luật định. (Công An TP.Đà Nẵng 13/6) đầu trang(
Báo Tây Ninh ngày 25.5.2016 có đăng bài “Rừng phòng hộ Dầu Tiếng tiếp tục bị tàn phá”. Sau khi báo đăng, ngày 27.5.2016, cơ quan chức năng đã vào cuộc kiểm tra thực tế.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh và Giám đốc Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cho biết, thông tin của báo là chính xác. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là công tác quản lý và bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Ông Nguyễn Hoàng Sơn- Giám đốc Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cho biết, thời gian gần đây, tình hình khai thác, trộm cắp lâm sản, bao, lấn chiếm đất rừng làm rẫy vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là nạn trộm cắp lâm sản để làm nọc tiêu tại các tiểu khu rừng ven sông Sài Gòn, trong đó có Tiểu khu 59.
Cụ thể, trong tháng 5.2016, tại Tiểu khu 59 (thuộc ấp Suối Bà Chiêm, xã Tân Hoà, huyện Tân Châu), tình hình trộm cắp lâm sản có chiều hướng gia tăng. Các đối tượng thường có thái độ hung hăng, hăm doạ, gây áp lực đối với lực lượng bảo vệ rừng. Bọn chúng thường xuyên cho người theo dõi, chờ lực lượng bảo vệ rừng sơ hở để trộm cắp lâm sản. Số cây rừng sau khi trộm xong được vận chuyển qua bên kia sông Sài Gòn (thuộc địa bàn tỉnh Bình Phước và Bình Dương) để bán.
Theo ông Sơn, sở dĩ vẫn còn xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng, trộm cắp lâm sản là do trong khâu quản lý, bảo vệ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, tại Tiểu khu 59 có 4 người hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng, nhưng cũng không ổn định, khâu tuyển người rất khó khăn vì đây là công việc phải thường xuyên “đụng chạm” với dân.
Hơn nữa, nguồn thu nhập của anh em bảo vệ rừng vẫn còn thấp nên không thu hút được người tham gia. Lực lượng bảo vệ mỏng, diện tích rừng lại rộng- tổng diện tích rừng phòng hộ Dầu Tiếng là 33.000 ha, nên công tác bảo vệ, kiểm soát rất khó khăn. Ngoài ra, tiếp giáp với rừng đa số là đường thuỷ, trong đó đoạn trải cặp theo bờ sông Sài Gòn, chỉ cần lâm tặc qua bên kia sông là đã thuộc các tỉnh khác.
Bên cạnh đó, thực trạng người dân sống gần rừng cũng khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn. Hiện tại, có hơn 110 hộ dân đang sinh sống tại P25, quận 10 (ấp Suối Bà Chiêm) ven theo đất rừng phòng hộ, đa số là hộ nghèo. Do đó, thời gian nhàn rỗi thì họ vào rừng khai thác lâm sản bán kiếm tiền. Ngoài ra, cũng có người từ nơi khác đến đây chặt cây rừng để bán.
Trước tình hình khó khăn như vậy, Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền sớm thực hiện di dời dân trong khu vực nhằm hạn chế nạn phá rừng; cần xử lý nghiêm các đối tượng trộm cắp lâm sản, có hành vi gây hấn với lực lượng bảo vệ nhằm giáo dục, răn đe.
Ông Phạm Chí Trung- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cho biết, sắp tới, Chi cục sẽ tăng cường phối hợp với các đơn vị có liên quan để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng. (Báo Tây Ninh 11/6) đầu trang(
Những cây cổ thụ bị chặt hạ, gốc bị đào bới để lại những hố sâu hoắm, cả cánh rừng săng lẻ xã Châu Quang, huyện Qùy Hợp (Nghệ An) đang bị phá tan nát.
Nhìn bề ngoài, rừng săng lẻ tại xã Châu Quang, huyện Qùy Hợp (Nghệ An) tươi xanh bạt ngàn. Kỳ thực, len lỏi trong cánh rừng xanh ấy là những cây săng lẻ cổ thụ đang bị chặt hạ, tàn phá không thương tiếc.
Tại thôn Huội Quắm, xã Châu Quang, ngay dọc sát con đường mòn dẫn vào rừng, chúng tôi thấy những cây săng lẻ hàng chục năm tuổi có thân bằng 2 người ôm bị chặt hạ. Nhiều gốc cây nằm trơ trọi.
Nhiều cây săng lẻ còn bị lâm tặc đưa máy móc đào cả gốc, để lại những hố sau hoắm giữa rừng. Có những cây đã bị cắt rễ nhưng chưa kịp đốn hạ vẫn còn đứng nguyên tại chỗ. Chỉ cần gió mạnh thổi qua, những cây săng lẻ này có thể đổ xuống.
Một người dân bản địa cho biết, những cây săng lẻ ở đây được quản lý và chăm sóc nghiêm ngặt. Người này cũng không hiểu vì sao cây lại dễ dàng bị chặt hạ như vậy. Chỉ vào những hố sâu hoắm mới bị đào bới các cây săng lẻ, người này nói: “Các chú nhìn thấy đó, cả cánh rừng bị tàn phá nặng nề. Nhìn mà xót xa”.
Trả lời chúng tôi, ông Nguyễn Hữu Thanh (Hạt phó hạt kiểm lâm Qùy Hợ) cho biết, việc bảo vệ rừng này đã được giao cho Huyện đội Quỳ Hợp. Cơ quan này sẽ cử cán bộ kiểm tra và làm việc ngay với chủ rừng.
Theo ông Thanh, tùy vào mức độ vi phạm sẽ xử lý chủ rừng về trách nhiệm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Chúng tôi tiếp tục liên hệ với Huyện đội Qùy Hợp nhưng chưa nhận được câu trả lời. (Đời Sống Và Pháp Luật 13/6) đầu trang(
Thời gian vừa qua, dư luận nhân dân địa phương bức xúc trước việc một số đối tượng ở hai huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), Bình Gia (Lạng Sơn) cấu kết với nhiều người dân hai thôn Bản Cải, Nà Bó thuộc xã Liêm Thủy, huyện Na Rì (Bắc Cạn) khai thác gỗ quý hiếm. Tỉnh Bắc Cạn đã chỉ đạo các lực lượng chức năng ngăn chặn tình trạng này.
Ở xã Liêm Thủy có dải rừng núi đá rộng lớn, tiếp giáp với hai huyện Võ Nhai và Bình Gia, có gỗ nghiến nhóm IIa, loại gỗ đặc hữu trên núi đá cấm khai thác, sử dụng khi không được cấp có thẩm quyền cho phép.
Tuy nhiên, lợi dụng việc quản lý không chặt chẽ của chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng, gỗ nghiến có giá trị kinh tế cao nên thời gian vừa qua một số đối tượng ở hai huyện Võ Nhai và Bình Gia đã cấu kết với một số người dân địa phương lên rừng khai thác gỗ trái phép.
Tình trạng chặt hạ gỗ quý hiếm ở đây diễn ra từ nhiều năm trước, thời gian vừa qua, một số người dân ở hai thôn Bản Cải và Nà Bó lên rừng dùng cưa, xẻ gỗ thành nhiều quy cách khác nhau, sau đó vận chuyển sang Bình Gia, Võ Nhai tiêu thụ. Trước sự bức xúc của nhân dân xã Liêm Thủy, gần đây, Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo tỉnh, Chi cục Kiểm lâm đã vào Liêm Thủy, huyện Na Rì làm việc với chính quyền địa phương, chỉ đạo ngăn chặn.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Cạn Lý Thái Hải yêu cầu chính quyền huyện Na Rì và xã Liêm Thủy phải kiểm tra, rà soát, thống kê toàn bộ số gỗ hiện có đang “nằm” trên dải rừng núi đá xã Liêm Thủy để có cơ sở quản lý. Tổ chức trạm chốt chặn gồm các lực lượng kiểm lâm, công an huyện, chính quyền xã Liêm Thủy tại ngã ba đường vào thôn Nà Bó và Bản Cải.
Chi cục Trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết, tình trạng khai thác gỗ quý hiếm thời gian vừa qua ở xã Liêm Thủy đáng lo ngại. Khi thành lập tổ chốt chặn tại ngã ba Nà Bó và Bản Cải, từ cuối tháng 4, đầu tháng 5 vừa qua đến nay, tình hình khai thác gỗ trái phép đã được ngăn chặn. Tuy nhiên, việc duy trì trạm chốt ở đây đến bao giờ là vấn đề phải tính.
Vấn đề mà ông Hải băn khoăn là, nếu không duy trì trạm chốt tại ngã ba Nà Bó, Bản Cải thì tình trạng khai thác gỗ trái phép sẽ lại tái diễn, vì từ trước đến nay, huyện Na Rì nhiều lần tổ chức lực lượng liên ngành truy quét “lâm tặc” ở rải rừng núi đá Liêm Thủy. Khi lực lượng liên ngành rút về, tình trạng khai thác rừng lại tái diễn. Còn nếu duy trì trạm chốt tại đây thì ông Hải trần tình: “Trạm kiểm lâm khu vực Xuân Dương, Liêm Thủy rất ít người, nếu cứ “cắm” ở chốt chặn lâu dài thì sẽ không ai quản lý việc phòng cháy chữa cháy rừng, tổ chức nhân dân trồng rừng sản xuất. Do đó, việc duy trì trạm chốt đến bao giờ thì phải tính”.
Theo quy định, chính quyền xã có vai trò lớn đối với việc quản lý, bảo vệ rừng. Trên địa bàn, chính quyền xã không thể không biết những ai, đối tượng nào thường hay khai thác rừng trái phép.
Tỉnh ủy Bắc Cạn đã ban hành chỉ thị 08, Nghị quyết về trách nhiệm người đứng đầu quy định: người đứng đầu sẽ bị luân chuyển, miễn nhiệm nếu không hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc để xảy ra mất rừng.Thực hiện quy định này, với sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng, chính quyền xã phát huy tinh thần trách nhiệm thì rừng ở Liêm Thủy sẽ được bảo vệ có hiệu quả. (Nhân Dân 10/6) đầu trang(
Gần đây, tại các đường biên giới giáp ranh giữa Việt Nam, Lào (ở huyện Đăk Glei), Việt Nam và Campuchia tại huyện Ia H’Drai, tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép diễn biến rất phức tạp. Lợi dụng địa bàn rộng, phức tạp nên “lâm tặc” hoạt động rất mạnh.
Hầu hết gỗ sau khi được khai thác sẽ được tập kết ở khu vực sông Sê San, các đối tượng sẽ chở gỗ xuôi theo đường thủy để đưa về tập kết tại huyện Ia Grai. Từ đây gỗ được các đầu nậu thu mua và tẩu tán về các xưởng gỗ trên địa bàn huyện.
Tại khu vực Cửa khẩu quốc tế Bờ Y (huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum), hàng chục chiếc xe ô tô và xe máy độ chế chuyên dụng được “lâm tặc” sử dụng để vận chuyển gỗ lậu đang sẵn sàng chờ lệnh khi có hàng. Theo Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, từ đầu năm 2016 đến nay, lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện và bắt giữ 29 vụ vận chuyển trái phép gỗ, với gần 19 m3 gỗ tròn, 98,1 m3 gỗ xẻ, xử phạt hơn 135 triệu đồng.
Ông Dương Đắc Thế - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi cho biết: Lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng truy quét “lâm tặc” nhưng cũng gặp khó khăn do địa bàn rộng, lại tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia. Bên cạnh đó, khi bị phát hiện các đối tượng bằng mọi cách tháo chạy nên việc xử lý gặp rất nhiều khó khăn.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, từ đầu năm 2016 đến nay, lực lượng Kiểm lâm và các ngành chức năng ở địa phương đã phát hiện và xử lý khoảng 170 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, với trên 770 m3 gỗ trái phép. So với cùng kỳ năm 2015, tăng 20% số vụ và tăng 38% khối lượng gỗ. (Pháp Luật Việt Nam 13/6) đầu trang(
Sau khi VOV phản ánh về tình trạng lâm tặc chặt phá, rút ruột rừng ở tiểu khu 474, thuộc địa bàn xã Măng Cành, huyện Kon Plông, UBND tỉnh Kon Tum đã có công văn khẩn gửi chính quyền địa phương và đơn vị chức năng chỉ đạo kiểm tra làm rõ sự việc.
Cụ thể, UBND tỉnh Kon Tum giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND huyện Kon Plông và các đơn vị liên quan, như: Chi cục kiểm lâm, Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Kon Plông khẩn trương kiểm tra, xác minh nội dung phản ánh của VOV; báo cáo cụ thể kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý.
Song song với đó chỉ đạo các đơn vị chức năng, các chủ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn quản lý; triển khai thực hiện nghiêm túc kết luận số 04 ngày 13/1/2016 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giữ, mua bán lâm sản trái pháp luật.
Thủ trưởng các đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh khi để xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật diễn ra phức tạp trên địa bàn quản lý.
Trong một diễn biến khác, được biết chính quyền và ngành chức năng địa phương đã triển khai một số biện pháp để ngăn chặn việc lâm tặc vào tiểu khu 474 khai thác gỗ.
Ông Nguyễn Tấn Liêm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết: “Huyện đã chỉ đạo thành lập một chốt liên ngành đặt ngay tại ngã ba vào thủy điện Thượng Kon Tum. Thành phần của chốt liên ngành gồm Công an huyện, Hạt kiểm lâm, Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Kon Plông, UBND xã. Tổ liên ngành này có hai nhiệm vụ là chốt chặn việc vận chuyển gỗ trái phép qua; truy quét các đối tượng khai thác.
UBND xã đã phối hợp với Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Kon Plông đã đào một số rãnh và chặt 3 cây gỗ nhỏ đổ qua đường không cho vào rừng”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 11/6) đầu trang(
Theo thống kê mới nhất của Bộ NN&PTN, rừng Tây Nguyên đang bị suy giảm nghiêm trọng về diện tích và chất lượng. Trong 5 năm qua (2011-2015), độ che phủ của rừng giảm tới 6,1%, thậm chí nhiều khu vực không còn rừng.
Theo báo cáo Bộ NN&PTNT, diện tích rừng ở Tây nguyên đã giảm 6,1%, đưa độ che phủ của rừng giảm từ 51,8% xuống hơn 48,5%; trữ lượng gỗ đã giảm tới 17,4%. Nhiều nơi, tình hình phá rừng diễn ra rất nghiêm trọng.
Trao đổi với PV TBTCVN, ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT thẳng thắn thừa nhận, “Nhiều năm qua nhà nước và Bộ NN&PTNT đã có nhiều giải pháp và chỉ đạo nhưng có thể nói hiệu quả, kết quả bảo vệ rừng ở Tây Nguyên là chưa tốt”.
Theo ông Tuấn, có hai nguyên nhân cơ bản khiến rừng Tây Nguyên bị suy giảm nghiêm trọng về diện tích và trữ lượng rừng. Cụ thể là do chuyển mục đích sử dụng rừng để xây thủy điện, thủy lợi giao thông và các công trình tái định canh định cư... Cùng với đó là hành vi phá rừng trái pháp luật để lấy đất sản xuất, thậm chí là phá rừng để lấy đất sang nhượng trái pháp luật.
Bên cạnh đó, nạn khai thác gỗ vẫn còn diễn ra rầm rộ ở nơi đây, trong đó có "điểm nóng" là tỉnh ĐắkLắk. Điển hình như theo báo cáo của Vườn quốc gia Yok Đôn cho thấy, riêng năm 2015 đã xảy ra 336 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, cơ quan chức năng đã tịch thu gần 200m3 gỗ và 560 phương tiện phá rừng các loại.
Để khắc phục phục và ngăn chặn những hiện tượng này, ông Tuấn, cho biết: “Bộ NN&PTNT đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý là sẽ có hội nghị chuyên đề về bảo vệ và khôi phục rừng Tây Nguyên trước yêu cầu là phát triển bền vững của chính Tây Nguyên và khu vực Tây Nam bộ”.
Theo đó, Bộ NN&PTNT đã đề nghị dừng toàn bộ việc khai thác gỗ rừng tự nhiên cũng như việc chuyển mục đích rừng tự nhiên để sang làm các công trình khác (trừ các công trình quốc phòng an ninh) với mục đích là giữ được rừng tự nhiên còn lại hiện nay.
Cùng với đó, đề nghị Nhà nước có các dự án để khôi phục và phát triển rừng Tây Nguyên. Trong đó bao gồm chính sách cho người bảo vệ rừng và chính sách phát triển trồng rừng mới để đến năm 2020, khôi phục được độ che phủ khoảng 50% ở khu vực Tây Nguyên, xấp xỉ ngưỡng che phủ rừng của khu vực này cách đây 5 năm.
Đi đôi với đó là trừng trị, xử lý rất nghiêm khắc nạn khai thác gỗ; vận động bà con trong công tác bảo vệ, khôi phục rừng. Đặc biệt, theo ông Tuấn, phải có cơ chế đặc thù cho Tây Nguyên, như chính sách khoán. Trong đó, cơ chế khoán phải giúp người nhận khoán có thu nhập. Thậm chí, phải chấp nhận cơ chế có quỹ đất với một tỷ lệ nhất định để tạo điều kiện cho người nhận khoán có thể sản xuất, làm ăn sinh sống được. (Thời Báo Tài chính Việt Nam 9/6) đầu trang(
Liên tiếp trong tháng 5/2016, huyện Tây Hòa(Phú Yên) xảy ra 9 vụ phá rừng làm rẫy với diện tích 48.700 m2, tập trung tại khu vực: Thác Gà thuộc tiểu khu 357, Mũi Thuyền thuộc tiểu khu 358, xã Sơn Thành Tây. Những hình ảnh do phóng viên Thời sự thực hiện tại hiện trường trong đầu tháng 6 cho thấy: công tác bảo vệ rừng ở đây vẫn còn rất nhiều kẽ hở.
Hiện trường vẫn còn lại lán trại của những người phá rừng dựng lên…Là những điều đang diễn ra ở rừng tự nhiên huyện Tây Hòa.
Ông Trần Đức Hòa, PCT UBND xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cho biết: “Chúng tôi đi tuần tra liên tục qua đây phát hiện diện tích rừng bị phá. Tuần tra chưa có bắt được đối tượng, nếu bắt được sẽ truy tố”...
Từ tháng 9/ 2013 xã Sơn Thành Tây chính thức tiếp nhận hơn 3.890 ha rừng từ Ban quản lý rừng phòng hộ sông Bàn Thạch. Theo quyết định của UBND tỉnh thì một phần trong diện tích này sẽ giao cho người dân quản lý và khai thác để giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất. Tuy nhiên do kinh phí để đo đạc và phân vùng quá lớn, nên cho đến nay xã Sơn Thành Tây chưa thể giao cho dân. Trong khi chờ đợi xã quy hoạch, người dân đã phá cả rừng tự nhiên và rừng trồng từ nhiều năm trước để lấy đất trồng sắn.
Ông Vũ Công Tâm, cán bộ Lâm Nghiệp xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cho biết: “ Địa bàn xã quá rộng,...nhưng chỉ có 1 cán bộ lâm nghiệp xã.... khi lên đến nơi thì các đối tượng phá rừng đã bỏ đi”.
Diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trong khoảng 5 năm trở lại đây tại khu vực Dốc Lô, Mũi Thuyền, Thả Gà, Suối Tre, xã Sơn Thành Tây lên đến trên 150 ha; trong đó riêng năm 2015, diện tích rừng bị phá gần 40ha. 6 tháng đầu năm 2016 tổng số vụ việc phá rừng trên địa bàn xã Sơn Thành Tây là 18 vụ với diện tích 9,59 ha tập trung tại các vị trí: Vực Véo, Thác gà, Suối Phèn, Mũi Thuyền thuộc tiểu khu 356, 357, 358, V9.2. Mặc dù lực lượng chức năng đã nỗ lực tuần tra và truy tìm đối tượng, nhưng đến thời điểm này vẫn chưa xác định được đối tượng vi phạm.
Ông Dương Tấn Định, Hạt Trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cho biết: "Chưa quy hoạch được vùng sản xuất cho người dân nên người dân phá rừng làm rẫy. Chưa có biện pháp xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm..., ngoài ra do lực lượng mỏng , địa bàn rộng ".
Sơn Thành Tây là xã miền núi còn nhiều khó khăn. Tại những khu vực rừng bị phá, để có được một cây rừng có đường kính lớn có thể phải tốn hàng chục năm, thậm chí lâu hơn nữa mới có thể khôi phục.
Theo tính toán, muốn phục hồi được những cánh rừng như vậy phải mất nhiều thời gian, tiền của, công sức. Nhưng chỉ vì lợi ích trước mắt, một số đối tượng đã đốn hạ nhiều diện tích rừng để lấy gỗ, lấy đất sản xuất. Nếu không có những giải pháp căn cơ thì sẽ không lâu, những diện tích rừng này sẽ không còn nữa. Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 9/6) đầu trang(
Chiều ngày 10/6, tại trụ sở PC49 - Công An tỉnh Nghệ An, tổ công tác tiến hành khám xe và thu giữ 11 thanh gỗ tại bình xăng phụ và 12 thanh gỗ khác được giấu dưới hầm lối đi trên xe. Số gỗ nói trên gồm hơn 20 thanh, dài từ 1-3m, rộng từ 10-20cm, nghi là gỗ đinh hương.
Trước đó, ngày 9/6, Phòng Cảnh sát môi trường (PC49), nhận được tin báo từ quần chúng nhân, có một chiếc xe khách mang biển số Lào đang trên đường hành trình từ cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên) lưu thông qua địa bàn tỉnh Nghệ An. Trên xe có chở một số lượng lớn lâm sản trái phép.
Nhận được tin báo một tổ công tác PC49 phối hợp cùng Đội CSGT 1.48, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành chốt chặn trên quốc lộ 48, đoạn qua địa bàn xã Nghĩa Thuận, huyện Nghĩa Đàn.
Đến khoảng 23h cùng ngày, lực lượng chức năng phát hiện chiếc xe khách mang BKS Lào U2 – 2468 do tài xế Phan Văn Giảng (SN 1973) trú tại xóm 3, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu) điều khiển có nhiều biểu hiện nghi vấn. Ngay lập tức tổ công tác tiến hành dừng xe kiểm tra.
Kiểm tra tại chỗ lực lượng chức năng phát hiện trên xe có một lượng lớn gỗ thành phẩm, lúc này tài xế không xuất trình được hoá đơn chứng từ hợp pháp. Làm việc với cơ quan chức năng, ông Hồ Văn Tuấn (SN 1984, trú tại xã Diễn Hồng, Diễn Châu) khai nhận, số gỗ trên được ông mua rồi giấu dưới chiếc xe khách vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (Công Lý 10/6; Đài Tiếng Nói Việt Nam 10/6; Đại Đoàn Kết 10/6) đầu trang(
Ngày 10-6, trong quá trình tuần tra kiểm soát giao thông trên tuyến đường tránh Nam Hải Vân, tổ công tác của Trạm CSGT Hòa Nhơn (CATP Đà Nẵng) phát hiện xe khách BKS 98B-10157 do tài xế Chu Văn Hải điều khiển đang lưu thống hướng Bắc- Nam có nhiều dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu tạm dừng để kiểm tra.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên xe có chứa khoảng 2,5 m3 gỗ hương nhưng không có giấy tờ hợp lệ nên lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ trên và tiến hành bàn giao cho Đội Kiểm lâm cơ động Đà Nẵng xử lý. (Công An TP.Đà Nẵng 11/6) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Trúc vừa chỉ đạo UBND huyện Tây Hòa phối hợp các ngành chức năng chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn xã Sơn Thành Tây (huyện Tây Hòa).
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, mặc dù các cấp, các ngành chức năng đã có nhiều chỉ đạo triển khai các giải pháp bảo vệ rừng, tuy nhiên công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa còn nhiều bất cập, rừng tiếp tục bị chặt phá trái phép và diễn biến phức tạp. Từ đầu năm 2016 đến nay đã phát hiện 18 vụ phá rừng với diện tích 9,88 ha rừng, tập trung tại các vị trí: Vực Véo, Thác Gà, Suối Phèn, Mũi Thuyền thuộc các tiểu khu 356, 357, 358 và V9.2.
Để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép, UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Tây Hòa tổ chức kiểm tra chấn chỉnh lại công tác bảo vệ rừng tại xã Sơn Thành Tây. Chỉ đạo quyết liệt các lực lượng chức năng trong việc tuần tra bảo vệ rừng trên địa bàn; kiểm tra chặt chẽ các đối tượng ra vào rừng, nhất là các khu rừng tự nhiên, rừng được giao về địa phương quản lý.
Đồng thời, tập trung điều tra làm rõ các đối tượng tham gia phá rừng để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ kinh phí, phương tiện, lực lượng cho xã Sơn Thành Tây để tổ chức tuần tra, kiểm tra bảo vệ tốt diện tích rừng được giao.
UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với huyện Tây Hòa trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đặc biệt là địa bàn xã Sơn Thành Tây, không để xảy ra điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép; theo dõi, đôn đốc việc triển khai và báo cáo kết quả thực hiện cho UBND tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Phú Yên 10/6) đầu trang(
Ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hàm Yên cho biết, toàn huyện hiện có trên 52.899 ha đất lâm nghiệp, diện tích rừng hiện có trên 50.114 ha, trong đó diện tích đất rừng phòng hộ là 8.629 ha, diện tích đất rừng sản xuất gần 41.485 ha.
Xác định giữ rừng là một nhiệm vụ quan trọng, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện thực hiện nhiều giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, kịp thời ban hành các văn bản về quản lý, bảo vệ rừng, cấm khai thác và thu mua lâm sản trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó tiến hành rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất, giao rừng, tiếp tục thực hiện hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng. Để bảo vệ được diện tích rừng hiện có, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo cán bộ kiểm lâm bám sát địa bàn, tham mưu cho UBND các xã và thị trấn triển khai thực hiện tốt việc quản lý và bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về trách nhiệm và ý nghĩa của việc bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm địa bàn luôn túc trực sẵn sàng 24/24h để ứng cứu kịp thời khi có sự cố xảy ra, nhất là trong thời tiết nắng nóng như hiện nay.
5 tháng đầu năm 2016, Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp UBND các xã và thị trấn tổ chức gần 70 hội nghị tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức cho 3.648 lượt người ký cam kết bảo vệ rừng. Đặc biệt, lực lượng kiểm lâm huyện tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn các hành vi khai thác, mua bán lâm sản trái phép, đồng thời phối hợp chặt chẽ với ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng các xã xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng.
Qua đó, đã phát hiện và xử lý 17 vụ vi phạm, trong đó 4 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 1 vụ cất giữ lâm sản trái phép, 12 vụ vi phạm thủ tục hành chính. Tổng số tiền xử phạt 95 triệu đồng, tịch thu 2,890 m3 gỗ tròn, 3,021 m3 gỗ xẻ các loại trong đó có cả gỗ thuộc loài nguy cấp, quý hiếm.
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Yên luôn đề cao vai trò của lực lượng kiểm lâm địa bàn, bởi đây là lực lượng luôn bám sát cơ sở, là nòng cốt trong ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng tại cơ sở. Anh Đặng Thế Long, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Yên Lâm cho biết, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn tăng cường bám sát cơ sở, triển khai các công tác phối hợp cùng lực lượng tại cơ sở thực hiện tuần tra, xử lý các vụ việc phát sinh. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ rừng đến mỗi hộ dân.
Với những biện pháp đồng bộ trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, người dân từ chỗ chỉ biết khai thác nguồn lợi từ rừng đến nay đã biết bảo vệ, gìn giữ tài nguyên rừng để sử dụng lâu dài, bền vững. Trong thời gian tới, huyện Hàm Yên tiếp tục triển khai các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, Hạt Kiểm lâm huyện tăng cường thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng; phát hiện, bắt giữ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Phối hợp với các phòng, ban chức năng, UBND các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, nâng tỷ lệ che phủ của rừng, tạo nguồn thu nhập bền vững từ rừng cho người dân. (Báo Tuyên Quang 10/6) đầu trang(
Cây đa Tân Trào là “biểu tượng" của Thủ đô Kháng chiến và là niềm tự hào của người dân Tuyên Quang. Cây đa đã vào thơ, vào nhạc, và “ăn sâu” vào trong tâm tưởng người Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945. Vì vậy, tỉnh Tuyên Quang đã không ngừng nỗ lực thực hiện các giải pháp để chăm sóc, bảo tồn cây đa Tân Trào lịch sử vượt qua quy luật sinh tử, nhằm phát huy giá trị lịch sử.
Ông Viên Đức Minh, 76 tuổi, ở thôn Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương cho biết: Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra tôi mới 5 tuổi. Sau này lớn lên được bố mẹ kể lại cây đa Tân Trào gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Dưới gốc đa Tân Trào chiều ngày 16/8/1945, quân Giải phóng Việt Nam làm lễ xuất quân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đọc Bản Quân lệnh số 1 và ngay sau đó, quân Giải phóng đã lên đường qua Thái Nguyên tiến về giải phóng Hà Nội...
Với giá trị lịch sử quan trọng, cây đa Tân Trào luôn là niềm tự hào của người dân địa phương. Ông Hoàng Ngọc, 79 tuổi, thôn Tân Lập, xã Tân Trào chia sẻ: Tính đến nay, cây đa Tân Trào có khoảng hơn 300 tuổi. Cây đa đã đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi người dân Tân Trào, đặc biệt là sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Vì vậy, bảo vệ cây đa Tân Trào được người dân coi như trách nhiệm của mình. Những người cao tuổi như chúng tôi luôn truyền dạy lại cho các thế hệ sau về ý nghĩa lịch sử cũng như trách nhiệm phải bảo vệ, chăm sóc cây đa Tân Trào, để cây đa có thể sống mãi với những ý nghĩa lịch sử trọng đại.
Cũng theo ông Ngọc, cây đa Tân Trào trước đây gồm hai cây, người dân trong vùng quen gọi là "cây đa ông" và "cây đa bà", mọc cách nhau khoảng 10 m. Năm 1993, "cây đa ông" bị đổ do bão, chỉ còn một nhánh nhỏ, còn "cây đa bà" do quy luật “sinh tử” có dấu hiệu của sự già cỗi, lá nhỏ, vàng và một số ngọn nhỏ bị chết. Đến đầu năm 2008, cây đa Tân Trào chỉ còn duy nhất cành hướng Đông Bắc còn sống nhưng lá không tốt, các rễ chính của cây đa gần như đã hỏng.
Trước tình hình đó, UBND tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức “Hội thảo khoa học phục hồi cây đa Tân Trào” với sự tham gia của các nhà khoa học, quản lý lâm nghiệp, di sản văn hóa và sinh vật cảnh trong nước... để tìm phương án “cứu chữa” cây đa Tân Trào. Sau đó, phương án “cứu chữa” cây đa Tân Trào của Công ty cổ phần Thanh Hà đã được tỉnh Tuyên Quang lựa chọn. Cùng thời gian đó, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã chiết thành công 21 trong tổng số 26 cành để lưu giữ nguồn gen và một phần để tạo rễ ngay trên cây.
Sau khi trải qua giai đoạn chăm sóc đặc biệt của Công ty cổ phần Thanh Hà (từ năm 2008 - 2010) như: Phun các chế phẩm sinh học lên toàn bộ tán lá, thân và rễ theo định kỳ, trước là 21 ngày/lần, sau tăng lên 7 ngày/lần thì cây đa Tân Trào đã dần hồi sinh. Kết quả, sau nhiều năm “cứu chữa” và chăm sóc, đến nay, cây đa Tân Trào lịch sử đã hồi sinh trở lại rất nhanh.
Tại vết tạo sẹo trên cành cây duy nhất còn sống của cây đa Tân Trào đến nay, đã phát triển thành hai cụm rễ, với khoảng 38 rễ lớn nhỏ; tán lá rộng khoảng 60 m2, cành lá xum xuê. Ngoài ra, 3 cây đa con được nhân giống từ nguồn gen của cây đa Tân Trào và trồng trực tiếp lên phần thân của cây đa mẹ, nay cũng đang phát triển tốt. Còn "cây đa ông" sau khi bị bão thổi đổ chỉ còn một nhánh nhỏ, đến nay cũng đã hồi sinh và phát triển thành cụm cây mới gồm 4 gốc xanh tốt.
Bên cạnh đó, để bảo tồn phần gốc, thân chính cây đa đã bị chết và có nguy cơ đổ, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện dự án đầu tư biện pháp kỹ thuật để chống đổ, chống đỡ phần thân cây đang còn sống và bảo tồn nguyên trạng phần gốc không còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách sử dụng hệ thống cốt thép móng bê tông, cột đỡ bằng thép ống D250 mm ngoài bọc composit (vật liệu tổng hợp) giả thân cây, liên kết với thân cây bằng đai thép...
Ông Viên Ngọc Tân, Phó Giám đốc Ban quản lý Khu du lịch, lịch sử, văn hóa và sinh thái Quốc gia Tân Trào cho biết: Sau khi được Công ty cổ phần Thanh Hà và các cơ quan chức năng bàn giao cho Ban quản lý việc chăm sóc và bảo vệ cây đa Tân Trào, Ban quản lý đã tiến hành chăm sóc cây đa Tân Trào theo các phương pháp đã đặt ra: phun chế phẩm sinh học định kỳ vào thứ hai hằng tuần; bón phân tổng hợp 6 tháng/lần; cử cán bộ kiểm tra, theo dõi thường xuyên sự sinh trưởng và phát triển của cây đa, dựa theo tình hình thời tiết để đưa ra phương pháp chăm sóc tốt nhất.
Ví dụ như tình hình thời tiết nắng nóng như hiện nay, những nhân viên chăm sóc cây đa Tân Trào thuộc Ban quản lý sẽ tiến hành tưới nước cho cây hằng ngày vào sáng sớm; chăm sóc khuôn viên cây đa. Bên cạnh đó, Ban quản lý cũng thường xuyên tuyên truyền đến người dân địa phương và du khách ý thức bảo vệ cây đa lịch sử...
Thời gian tới, Ban quản lý sẽ tiếp tục chăm sóc cây đa lịch sử theo đúng hướng dẫn và yêu cầu kỹ thuật để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của cây đa; tiếp tục nắm bắt tình hình thời tiết để có chế độ chăm sóc phù hợp. Đặc biệt, từ nay đến hết năm 2016, Ban quản lý sẽ tiến hành theo dõi, ghi nhật ký từng ngày sự phát triển của cây đa để bảo tồn cây đa một cách tốt nhất. (Tin Tức 11/6) đầu trang(
Làm sao để các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam thực sự trở thành mô hình phát triển kinh tế xanh - nơi người dân nhận các lợi ích nhưng vẫn đảm bảo thiên nhiên sạch. Đó là bài toán không đơn giản mà các nhà khoa học và cơ quan quản lý đang tìm cách giải.
Năm 2000, UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam - đó là Cần Giờ. Việc Lang Biang lọt vào danh sách này năm 2015 giúp Việt Nam nâng tổng số khu dự trữ sinh quyển thế giới lên 9.
Các khu dự trữ sinh quyển có hệ sinh thái, độ đa dạng sinh học phong phú, song cuộc sống của người dân tại đây cũng là vấn đề được đặt ra. Việc đảm bảo sinh kế cho nhân dân bản địa mà vẫn bảo tồn khu dự trữ sinh quyển và phát triển hài hòa không đơn giản.
Bà Trần Thị Hoàng Mai - Phó Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam - nói: “Các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam đang đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước; song vấn đề đặt ra là phải đảm bảo hài hòa lợi ích để thực sự là những mô hình phát triển kinh tế xanh”.
Về việc giải bài toán này, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Phạm Công Tạc - Trưởng tiểu ban Khoa học tự nhiên của Ủy ban UNESCO Việt Nam - cho biết, để các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam bảo tồn nguồn gene, hệ sinh thái, thực, động vật nhưng người dân vẫn có thể khai thác thiên nhiên và giữ cho thiên nhiên sạch, bền vững, Bộ KH&CN đã phê duyệt và tổ chức thực hiện 5 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia tại 5 khu dự trữ sinh quyển. Kinh phí được trích từ ngân sách sự nghiệp khoa học. Kết quả của mỗi nhiệm vụ là các mô hình về bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững được thí điểm triển khai tại một khu dự trữ sinh quyển.
PGS-TS Phạm Trung Lương - Viện phó Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch, chủ nhiệm đề tài “Phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tiếp cận lý thuyết và thực tiễn tại Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang” - cho biết: Ở các vườn quốc gia, con người sống tách biệt với vùng lõi, còn ở các khu dự trữ sinh quyển, con người có thể sống trong vùng nên có những đặc điểm khác biệt.
Thực tế một số vườn quốc gia đã chuyển dân ra ngoài, nhưng họ không thích nghi được vì không có sinh kế mới. Người dân lại tiếp tục quay vào rừng. “Vì vậy, không nên áp đặt mệnh lệnh hành chính mà cố gắng tạo ra sinh kế mới cho người dân nhưng ít tác động xấu đến thiên nhiên” - TS Lương nói.
Theo đó, sinh kế sẽ được tạo ra từ hoạt động du lịch để người dân có thu nhập, hạn chế dần tác động xấu đối với thiên nhiên. TS Lương cho biết, dự kiến đến năm 2017 mô hình này sẽ được triển khai ở khu dự trữ sinh quyển An Giang và nếu đạt kết quả tốt sẽ mở rộng ra các khu khác từ năm 2018.
Đề tài “Xây dựng cơ chế kết hợp giữa bảo tồn cảnh quan đa dạng sinh học và không gian văn hóa tại khu dự trữ sinh quyển Lang Biang” do TS Vũ Ngọc Long - Viện Sinh thái học miền Nam làm chủ nhiệm - lại chọn cách tiếp cận khác. Theo ông Long, chương trình hợp tác đồng quản lý rừng tại Lâm Đồng đã có hiệu quả.
Đây là mô hình lập nhóm bảo vệ rừng cộng đồng, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và cùng có trách nhiệm, có quỹ tín dụng cộng đồng. Điều quan trọng là kết hợp các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh địa lý và không gian văn hóa bản địa, phân tích mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc cảnh quan và huy động mọi nguồn lực tham gia bảo tồn.
TS Trần Lâm Đồng - Viện Nghiên cứu lâm sinh - lại chọn phương pháp nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái rừng; từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, phục hồi và bảo tồn cho từng loại diễn thế sinh thái về mặt kỹ thuật, kinh tế - xã hội, thể chế và chính sách.
Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc, thế giới có khoảng nửa thế kỷ kinh nghiệm quản lý, bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển, nhưng kinh nghiệm này của Việt Nam còn khiêm tốn. Do vậy, các nghiên cứu và mô hình kể trên sẽ được rút kinh nghiệm để các khu khác học tập và có tác dụng lan tỏa cho cả mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển.
Bà Trần Thị Hoàng Mai cũng tin tưởng KH&CN là nền tảng thúc đẩy mạnh mẽ mạng lưới khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam. Đặc biệt, các nghiên cứu sẽ biến những khu dự trữ sinh quyển này thành phòng thí nghiệm học tập cho phát triển bền vững. Việc mỗi khu dự trữ sinh quyển có ít nhất một nhiệm vụ khoa học sẽ tạo ra các hoạt động. Từ đó, mỗi khu dự trữ sinh quyển sẽ phát triển các đối tác nước ngoài và cơ quan trong nước… cùng xây dựng các mô hình phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam. (Khoa Học Phát Triển 10/6) đầu trang(
Không phải ngẫu nhiên mà ngày Môi trường thế giới năm nay Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã lựa chọn chủ đề: "Tiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta".
Tình trạng buôn bán trái phép động vật hoang dã gia tăng đang làm suy kiệt tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH), đe dọa sự sống còn của các loài động vật trên thế giới. Ở Việt Nam, diện tích rừng bị thu hẹp, nạn buôn bán động vật hoang dã diễn ra phức tạp. Vì vậy, bảo tồn thiên nhiên trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Theo thống kê, nước ta xếp thứ 16 trên thế giới về ĐDSH, với hệ sinh thái bao gồm gần 11.500 loài động vật, hơn 21.000 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật… Tuy nhiên, UNEP đã chỉ rõ, hiện diện tích các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần. Số loài và lượng cá thể của các loài hoang dã suy giảm mạnh. Nhiều loài động, thực vật đã tuyệt chủng, 882 loài động, thực vật có giá trị suy giảm về số lượng, bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao.
Theo ông Trần Trọng Anh Tuấn, Trưởng phòng Bảo tồn loài, Cục Bảo tồn ĐDSH, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), những áp lực chính tổn hại ĐDSH là thay đổi nơi cư trú; khai thác quá mức tài nguyên sinh vật; ô nhiễm môi trường; sinh vật ngoại lai xâm hại; biến đổi khí hậu.
Thực tế ở Việt Nam, việc chuyển đổi đất, đặc biệt đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp, lương thực diễn ra hằng năm. Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, công trình đập thủy điện đã gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư và làm mất các sinh cảnh tự nhiên.
Việc khai thác trái phép gỗ và lâm sản, đặc biệt săn bắn, buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã, cũng như khai thác thủy sản bằng các biện pháp hủy diệt, vẫn tồn tại là thách thức đối với các cơ quan quản lý, bảo tồn ĐDSH.
Bên cạnh đó, các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, như xả chất thải chưa qua xử lý ra sông hồ, không khí đã gây ô nhiễm môi trường sống ở các thủy vực, kể cả một số vùng ven biển. Tình trạng di nhập các loài sinh vật ngoại lai vào nước ta vẫn chưa được kiểm soát, quản lý chặt chẽ và có các chế tài xử lý hiệu quả...
Tại hội thảo "Vai trò của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong bảo tồn ĐDSH và bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm tại Việt Nam", diễn ra đầu tháng 6 vừa qua, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân cho rằng, bảo tồn ĐDSH cần nhận được sự quan tâm, ủng hộ và tham gia của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, chứ không chỉ riêng cơ quan quản lý.
Đặc biệt, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội trong các hoạt động tuyên truyền, giám sát thực thi pháp luật sẽ góp phần thay đổi nhận thức, hành vi; khuyến khích người dân tham gia bảo vệ các loài động vật hoang dã, không sử dụng, tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã.
Để nâng cao hiệu quả tài nguyên ĐDSH, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề nghị, đa dạng hóa nguồn tài chính, từ ngân sách nhà nước, từ nguồn tài trợ quốc tế và các nguồn thu khác. Trong đó, chú trọng huy động sự đóng góp của khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ cho nhiệm vụ này. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ ĐDSH trong đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược; tiếp tục nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn ĐDSH, như tuần tra, bảo vệ, giám sát ĐDSH tại các khu bảo tồn.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, định hướng đến năm 2020, Việt Nam giảm đáng kể các áp lực trực tiếp lên ĐDSH, nhằm bảo tồn, phục hồi và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, các loại sinh vật và nguồn gen.
Các chương trình ưu tiên gồm: Quy hoạch ĐDSH, thiết lập hệ thống khu bảo tồn; bảo tồn các loại nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ... với các giải pháp về chính sách, tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế, đầu tư, tài chính. (Hà Nội Mới 11/6) đầu trang(
Ngày 10-6, Sở NN&PTNT cho hay, đơn vị vừa phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh tổ chức lớp tập huấn sử dụng thiết bị thực địa trong công tác tuần tra, giám sát đa dạng sinh học dành cho cán bộ quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa.
Chương trình chủ yếu tập trung trao đổi những kỹ năng sử dụng thiết bị định vị GPS để thu thập số liệu phục vụ công tác tuần tra giám sát bảo vệ rừng như xác định tọa độ, đánh dấu đường tuần tra, đặc biệt là ứng dụng thiết bị bẫy ảnh mới (camera trap) để giám sát đa dạng sinh học.
Sắp tới, những kỹ năng được tập huấn sẽ phục vụ cho cán bộ quản lý bảo vệ rừng thuộc các trạm bảo vệ rừng Sông Nam, Sông Bắc, Phú Túc, Cà Nhông, An Lợi trong việc triển khai thu thập dữ liệu ngoài thực địa của rừng Bà Nà - Núi Chúa. (Công An TP.Đà Nẵng 11/6) đầu trang(
Pháp luật là công cụ sắc bén nhất, hữu hiệu nhất để Nhà nước đấu tranh, chống lại nạn buôn bán trái phép động vật hoang dã, quý hiếm. Chính vì vậy, Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện công cụ này.
Đến nay, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), đấu tranh chống lại nạn buôn bán động vật hoang dã quý hiếm như: Công ước đa dạng sinh học, Công ước CITES, Hiệp định TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương)….
Cụ thể, Công ước đa dạng sinh học đến nay đã được 183 nước phê chuẩn, trong đó có Việt nam và có hiệu lực vào ngày 29/12/1993. Nội dung của công ước là bảo tồn các dạng tài nguyên sinh học (ĐDSH), sử dụng một cách hợp lý các thành phần của ĐDSH và chia sẻ một cách đúng đắn, hợp lý và công bằng lợi nhuận thu được do sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền, việc chuyển giao kỷ thuật tiên tiến một cách thích hợp, lưu ý đến các quyền sở hữu về các tài nguyên đó và các kỷ thuật và có nguồn kinh phí thích hợp.
Trong khi đó, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp CITES là bản hiệp ước giữa các quốc gia thành viên về việc kiểm soát việc buôn bán, trao đổi các loài động thực vật hoang dã để tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến tình trạng tuyệt chủng.
CITES bao gồm khoảng 5.000 loài động vật và 25.000 loài thực vật, chia làm 3 phụ lục: những loài bị nguy cấp bị đe doạ tuyệt chủng; ả những loài mặc dù hiện chưa bị nguy cấp nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng nếu không khai thác hợp lý; các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán.
Đặc biệt, điều ước quốc tế mới nhất mà Việt Nam tham gia có một số nội dung liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã là Hiệp định TPP. Theo Mạng lưới Giám sát động thực vật hoang dã (TRAFFIC): Hiệp định TPP có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động buôn bán ĐVHD vì phần lớn nhu cầu ĐVHD hiện nay là từ các nước châu Á.
Tại TPP, các nước tham gia đã cam kết những nội dung quan trọng như: Mỗi quốc gia “sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình” theo Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Để bảo vệ các loài dễ bị tổn thương, các bên tham gia ký kết CITES có trách nhiệm đảm bảo việc nhập khẩu và xuất khẩu một số loài phải được cấp phép.
Ngoài ra, mỗi quốc gia cam kết có biện pháp thích hợp để bảo vệ và bảo tồn ĐVHD được xác định là đang bị đe dọa trong lãnh thổ của mình; Các quốc gia không được nới lỏng luật môi trường để thu hút đầu tư; Các quốc gia “sẽ chống lại và có biện pháp ngăn chặn” các hoạt động buôn bán ĐVHD bất hợp pháp.
Đặc biệt, các quốc gia phải ngừng một số trợ cấp đánh bắt thủy sản không bền vững. Đánh bắt quá mức được coi là một vấn đề cấp thiết đối với hệ sinh thái biển, khiến 90% loài cá lớn trên thế giới như cá ngừ, cá tuyết và cá kiếm biến mất.
Trước thực trạng nạn buôn bán trái phép ĐVHD ngày càng phức tạp, Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế và chính sách để việc thực thi pháp luật về bảo vệ động, thực vật được hiệu quả. Bên cạnh việc sửa đổi, hoàn thiện, bổ sung các văn bản về xử phạt hành chính đối với hoạt động này, Nhà nước đã và đang hình sự hóa hoạt động buốn bán trái phép ĐVHD.
Đặc biệt, từ ngày 1/7 năm nay, các hành vi buôn bán ĐVHD sẽ chịu các hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS). Tại đây, các mức phạt đối với loại hình tội phạm này sẽ được nâng lên. Ví như, nâng mức hình phạt tiền đối với người thực hiện hành vi vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại khung cơ bản từ 500 triệu động đến 02 tỷ đồng, tăng mức phạt tù từ 03 năm lên 05 năm (Khoản 1 Điều 244); nâng mức cao nhất của hình phạt tù từ 07 năm (Khoản 2 Điều 190 BLHS 1999) lên 15 năm (Khoản 3 Điều 244 BLHS năm 2015)…
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, bên cạnh việc hoàn thiện chính sách pháp luật, Việt Nam cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cam kết không mua bán, tiêu thụ, sử dụng ĐVHD và kịp thời tố giác, thông báo các hành vi phạm tới cơ quan chức năng.
Bên cạnh đó, nhà nước cần xây dựng sinh kế bền vững bằng cách hướng dẫn và khuyến khích cộng đồng sống ở các vùng đệm tham gia vào nỗ lực bảo vệ, bảo tồn động thực vật nguy cấp, quý hiếm. Người dân phải thấy được việc bảo vệ ĐVHD cũng chính là bảo vệ kế sinh nhai của mình. Có như vậy, người dân mới tích cực tham gia bảo vệ; không săn bắn các loài ĐVHD quý hiếm; không làm ô nhiễm hoặc phá huỷ môi trường sống của động vật. (Tài Nguyên Và Môi Trường 10/6) đầu trang(
Nhiều năm trở lại đây, Quảng Bình được biết đến như một vùng đất di sản, chứa đựng nhiều giá trị thiên nhiên quý giá.
Trong quần thể di sản ở đây, hiện đang có một lượng lớn các loại động vật hoang dã sinh sống. Công tác cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã, đã và đang được Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng chú trọng trong nhiều năm qua.
Mặc dù công tác tuyên truyền đã được tiến hành sâu rộng trong nhiều năm nay, nhưng ở một số nơi trên cả nước, một bộ phận người dân, vẫn chưa hoàn toàn ý thức được về việc bảo vệ môi trường, bảo vệ các loài động vật hoang dã.
Việc tăng cường tuần tra, kiểm soát, để phát hiện và tháo dỡ những chiếc bẫy mà người dân đặt trong quá trình đi rừng, là một trong những nhiệm vụ trong tâm của ban quản lý VQG Phong Nha Kẻ Bàng, đặc biệt là những tháng nửa cuối năm. Bởi đây là thời điểm nhiều loài động vật sẽ tích cực mò đi kiếm thức ăn.
Ông Lê Thúc Định – Giám đốc Trung tâm cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã, VQG Phong Nha Kẻ Bàng cho biết: “Cứu hộ động vật hoang dã chỉ là một giải pháp tạm thời thôi. Để bảo tồn thì bà con không nên săn bắt đánh bẫy, và đặc biệt là nuôi nhốt trái phép động vật hoang dã nữa. Bởi nuôi nhốt lâu ngày thì việc thả lại tự nhiên sẽ rất khó, bởi chúng sẽ dần mất đi tập tính hoang dã, phục hồi rất lâu….”
Song song với quá trình tuần tra trong rừng, là hoạt độngcủa một đơn vị đặc biệt, nơi những loài động vật được các lực lượng chức năng giải cứu, sẽ được chăm sóc kĩ lưỡng. Đó chính là trung tâm cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã của Ban quản lý VQG Phong Nha Kẻ Bàng.
“Như cá thể, Vooc, Chà Vá Chân nâu thì con non thường được mẹ nó ôm ấp, nên khi về đây, anh em chúng tôi cũng phân công nhau để ôm ấp, coi mình như cha mẹ chúng vậy.” Anh Phạm Hùng Vương – Trưởng bộ phận cứu hộ, Trung tâm cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã, VQG Phong Nha Kẻ Bàng chia sẻ nói.
Chia khẩu phần ăn cho các con thú, thả muông thú vào rừng, 28 nhân viên của trung tâm cứu hộ dù tâm huyết ngày đêm, cũng chỉ đáp ứng được một khối lượng côngviệc nhất định, chứ không thể cứu hộ hay bảo tồn được toàn bộ các loài động vật hoang dã của một trong những Vườn quốc gia lớn nhất cả nước. Công tác cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã, sẽ chỉ mang lại hiệu quả lớn, khi có được sự chung tay của cả cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương. (ANTV 10/6) đầu trang(
Cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đang tiến hành điều tra, tìm nguyên nhân một con bò tót bị chết trong rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc địa bàn xã Vĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Ông Nguyễn Hữu Thanh, Trưởng Công an xã Vĩnh Sơn, cho biết vào khoảng 15 giờ ngày 9/6, một số người dân xã Nghĩa Hành, huyện Tân Kỳ, đi lấy mật ong rừng đã phát hiện một con bò tót chết tại lô 4, khoảnh 3, tiểu khu 919 của rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc địa bàn xã Vĩnh Sơn.
Nhận được tin báo, Công an xã Vĩnh Sơn đã báo cho Ban quản lý Rừng phòng hộ Anh Sơn thông báo cho Hạt kiểm lâm Anh Sơn về vụ việc và Hạt kiểm lâm Anh Sơn đã xác định xác con bò tót.
Tại hiện trường, xác con bò tót đã bị phân hủy vùng bụng, con bò tót nặng khoảng trên 1 tấn. Cơ quan chức năng tiến hành lấy phần đầu và mật con bò tót để phục vụ công tác điều tra, nghiên cứu.
Ông Thanh cho biết thêm, trước đây, rừng phòng hộ này có 8 con bò tót sinh sống. Trải qua thời gian, hiện nay, khu vực này chỉ còn lại 3-5 con bò tót. Cách đây 10 năm, đã có một con bò tót bị chết trong rừng vì tuổi thọ quá cao. Còn con bò tót bị chết lần này hiện cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra nguyên nhân.
Hiện tại, hiện trường con bò tót bị chết đang được lực lượng công an xã Vĩnh Sơn và Ban quản lý Rừng phòng hộ Anh Sơn bảo vệ để phục vụ cho công tác điều tra, xử lý. Bò tót là một trong những động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, cần được bảo vệ nghiêm ngặt ở Việt Nam. (Vietnam + 12/6; Tầm Nhìn 11/6; Tiền Phong 11/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiều 10/6, UBND huyện Bát Xát tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn giai đoạn 2011 – 2015.
Dự hội nghị có lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, lãnh đạo UBND các xã, thị trấn; đại diện ban quản lý rừng phòng hộ các xã.
Sau 5 năm, công tác thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, tạo chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng tại các xã trong huyện.
Theo báo cáo tại hội nghị, tính đến hết năm 2015, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn là trên 71.000 ha, diện tích đất có rừng là 58.039 ha. Qua rà soát, đánh giá, diện tích rừng đủ điều kiện được chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Bát Xát là 23.677,9 ha, tập trung tại các xã: Phìn Ngan, Tòng Sành, Mường Hum, Dền Sáng, Dền Thàng, Nậm Pung, Sàng Ma Sáo, Trung Lèng Hồ, Y Tý, Bản Xèo, Pa Cheo, Mường Vi, thuộc lưu vực các nhà máy thủy điện.
Triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tính đến năm 2015, trên địa bàn huyện có tổng số 4.452 hộ đã tham gia nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng. Tổng số tiền đã chi trả tới các đối tượng được hưởng trong 5 năm là hơn 12,61 tỷ đồng.
Nhờ có thêm nguồn thu nhập ổn định từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân các xã đã có thêm thu nhập cải thiện đời sống, từ đó nâng cao nhận thức, thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng; diện tích rừng, độ che phủ, chất lượng rừng của huyện ngày càng được nâng lên. Năm 2010, diện tích có rừng của huyện là trên 51.900 ha, độ che phủ là 49%, nhưng đến năm 2015, độ che phủ đã đạt 54,9%.
Cũng tại hội nghị, các đại biểu tham gia thảo luận những thuận lợi, khó khăn và bàn giải pháp tháo gỡ nhằm thực hiện tốt công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng trong thời gian tới. (Báo Lào Cai 11/6) đầu trang(
Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17-12-2014 của Chính phủ về công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp, cả nước mới thẩm định và xác định mô hình cho 238 công ty nông nghiệp, lâm nghiệp.
Trong đó, có 113 công ty nông nghiệp, 125 lâm nghiệp.Hình thức sắp xếp cụ thể có 17 công ty nông, lâm nghiệp tái cơ cấu, duy trì phát triển công ty 100% vốn nhà nước hoạt động sản xuất, kinh doanh; 58 công ty 100% vốn nhà nước hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ công ích; 98 công ty 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; thành lập 31 công ty trách nhiệm hữu hạn; giải thể, sáp nhập 16 công ty lâm nghiệp và 14 công ty nông nghiệp; chuyển thành ban quản lý rừng bốn công ty lâm nghiệp.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện một số địa phương, doanh nghiệp chưa tích cực, chủ động triển khai thực hiện sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp. Tại một số doanh nghiệp chưa thật sự quyết liệt thực hiện tái cơ cấu và cổ phần hóa; việc đổi mới quản trị doanh nghiệp, tái cơ cấu tài chính,... chuyển biến chậm, chưa đạt các yêu cầu đặt ra trong các đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Tỷ lệ thoái vốn đạt thấp; một số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, năng lực cạnh tranh chưa cao; chưa tách bạch được rõ chức năng, nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước.
Để hoàn thành kế hoạch tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong năm 2016 và những năm tiếp theo, người đứng đầu doanh nghiệp cần đánh giá, phân tích để tìm ra những nguyên nhân chủ quan gây cản trở, chậm trễ tiến trình tái cơ cấu, cổ phần hóa tại đơn vị để khắc phục, chỉ đạo quyết liệt, khẩn trương thực hiện phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt; thường xuyên bám sát tiến độ, yêu cầu các bộ phận nghiệp vụ, đơn vị liên quan nghiêm túc cam kết thực hiện phương án tái cơ cấu bảo đảm về chất lượng và tiến độ theo quy định.
Xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể chây ỳ, cản trở tiến trình tái cơ cấu. Đồng thời, chú trọng việc tìm kiếm, lựa chọn đối tác có đủ năng lực, thiện chí, hiểu biết về doanh nghiệp mình để cùng tham gia xây dựng ổn định và phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Đối với các Ban chỉ đạo cổ phần hóa, thường xuyên chỉ đạo và giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện cổ phần hóa tại doanh nghiệp, hướng dẫn để các tổ giúp việc cổ phần hóa thực hiện khẩn trương và đúng quy định của Chính phủ, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. (Nhân Dân 11/6) đầu trang(
Sáng 10/6, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (SFMI) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập SFMI (2006 – 2016) và 18 năm thành lập Tổ công tác Quốc gia về quản lý rừng bền vững (NWG) (1998 – 2016) tại Cung Trí thức Hà Nội (số 22 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội).
Năm 1998, NWG được thành lập. Đến năm 2006, NWG đã có 43 thành viên và được đổi tên thành Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (SFMI).
Đến nay, SFMI gồm 53 thành viên chính thức. Có đội ngũ cán bộ nghiên cứu, quản lý của các đơn vị trong và ngoài ngành lâm nghiệp. Tất cả đều là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng, lâm sinh, kinh tế, môi trường, quản lý khoa học, quản lý dự án… Đội ngũ chuyên gia của Viện có trình độ chuyên môn cao, trong đó có 5 Giáo sư, 7 Tiến sỹ khoa học, 24 Tiến sỹ chuyên ngành, 7 Thạc sỹ khoa học, còn lại đều có trình độ Đại học.
Sau 10 năm hoạt động, SFMI đã khẳng định rõ vị trí, vai trò của mình trong công cuộc quản lý rừng bền vững ở Việt Nam. SFMI chú trọng nâng cao nhận thức, năng lực quản lý rừng cho chủ rừng, cộng đồng và cán bộ liên quan. SFMI còn thử nghiệm và tư vấn dịch vụ Chứng chỉ rừng cho các loại hình Quản lý rừng tại Việt Nam như Cty lâm nghiệp, lâm trường, nhóm hộ gia đình. Viện tham gia đào tạo cán bộ tạo nguồn lực quý giá lâu dài để tiến hành quản lý rừng bền vững cho Việt Nam.
SFMI luôn tích cực tham gia các hoạt động trong các chương trình dự án quốc gia liên quan đến quản lý rừng bền vững như CDM, UNCCD, UN-REDD, UNFCCC, FLEGT…; tham gia đầy đủ các đại hội đồng toàn thế giới của FSC và hội thảo vùng.
Đặc biệt, Viện đã soạn thảo tiêu chuẩn FSC cho Việt Nam từ phiên bản 1 đến 9, đã được áp dụng để nâng cao năng lực quản lý rừng cho chủ rừng, cán bộ công nhân viên và cộng đồng suốt thời gian đến năm 2000.
SFMI đã cử chuyên gia hỗ trợ xây dựng Bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững Việt Nam và tham gia nhóm phát triển bộ chỉ số Quốc tế chung (IGI) phục vụ cho việc phát triển Bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững phiên bản 5.0 FSC – STD.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Cao Chí Công ghi nhận, trân trọng thành tích của SFMI và các cá nhân đã có đóng góp lớn cho công tác quản lý rừng bền vững của nước nhà. Ông Công khẳng định: SFMI là tổ chức tiên phong với các cá nhân có trình độ, năng lực đã làm tốt các công tác tập huấn, thí điểm thực nghiệm, công tác tuyên truyền đồng thời tư vấn, giúp đỡ Tổng cục Lâm nghiệp trong các vấn đề quản lý và bảo vệ, phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng FSMI nhấn mạnh: “Sắp tới quản lý rừng bền vững có nhiều thay đổi về chất như chứng chỉ rừng cho vùng sinh thái cảnh quan, chứng chỉ các dịch vụ của hệ sinh thái rừng và trước mắt là toàn cầu hóa các chỉ số của tiêu chuẩn FSC. Hướng phát triển này giúp Viện có thể có các chương trình quản lý rừng bền vững đồng hành, tăng cơ hội cho các chủ rừng lựa chọn. Đồng thời, SFMI cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, cần nâng cấp, tổ chức nhân sự kịp thời, trẻ hóa đội ngũ cán bộ để đáp ứng các đòi hỏi trong tương lai.” (Nông Nghiệp Việt Nam 10/6) đầu trang(
Tiếp tục tìm hiểu các thông tin liên quan đến việc thu phí dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Sa Pa (Lào Cai), phóng viên Văn Hóa nhận được những thông tin bức xúc của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn.
Nhiều doanh nghiệp mới đầu tư kinh doanh, xây dựng khách sạn đủ điều kiện theo Bộ Tiêu chuẩn quốc gia xếp hạng khách sạn, đã qua thẩm định của các cấp có thẩm quyền nhưng lại không được cấp giấy chứng nhận.
Theo đại diện một khách sạn trên địa bàn Sa Pa, đơn vị đầu tư xây dựng khách sạn từ đầu năm 2015 với tổng mức đầu tư gần 10 tỉ đồng. Đến tháng 12.2015, khách sạn đã được xây dựng xong và làm các thủ tục đăng ký kinh doanh với các cấp có thẩm quyền để đi vào hoạt động. Tuy nhiên, từ tháng 1.2016 đến nay, mặc dù đã được các cơ quan cấp giấy phép kinh doanh cũng như làm các thủ tục đề nghị xếp hạng sao cho khách sạn nhưng khách sạn vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận hạng sao.
Đã sáu tháng kể từ khi xây dựng xong nhưng khách sạn vẫn không thể hoạt động chính thức được. Nhiều đối tác của khách sạn đều yêu cầu phải công khai rõ ràng về hạng sao để có giá chào bán, quảng bá tới du khách. “Cho đến thời điểm này, phía các cơ quan chức năng cũng như Sở VHTTDL chưa cấp giấy chứng nhận công nhận hạng sao của khách sạn trong khi khách sạn đã hoàn tất các thủ tục giấy tờ cần thiết theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Điều này đã làm khó cho doanh nghiệp khi tham gia các hoạt động kinh doanh chính đáng. Để đầu tư xây dựng khách sạn trên địa bàn Sa Pa, đơn vị chủ đầu tư đã phải bỏ ra chi phí rất lớn, gấp từ ba đến bốn lần đối với chi phí xây dựng khách sạn tại khu vực khác. Chưa kể đến các chính sách được chào mời đầu tư từ phía lãnh đạo tỉnh Lào Cai với nhiều ưu đãi trong quá trình đầu tư và thời gian đầu khi bước vào hoạt động.
Hiện nay, việc triển khai thu phí dịch vụ môi trường rừng vẫn còn gặp phải nhiều phản đối của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, vẫn chưa thể triển khai rộng rãi nhưng đối với các doanh nghiệp mới đầu tư lại bắt buộc phải nộp nếu không sẽ không cấp giấy chứng nhận cho khách sạn để chính thức hoạt động đã gây khó khăn cho doanh nghiệp mới đầu tư.
Đặc biệt là đa số các khách sạn khi xây dựng đều phải vay vốn ngân hàng, sau một thời gian triển khai xây dựng xong, đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định nhưng lại không thể hoạt động theo đúng loại hình đã đầu tư là một thiệt thòi lớn cho doanh nghiệp. Nếu tình trạng này còn kéo dài nguy cơ phá sản chỉ trong tương lai gần”, vị đại diện khách sạn cho biết thêm.
Ngày 8.5 vừa qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai đã tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư và quảng bá du lịch tỉnh Lào Cai năm 2016. Tại Hội nghị này, các đại biểu tham dự là các chuyên gia, các nhà quản lí, các doanh nghiệp du lịch đều cho rằng, đối với Lào Cai nói chung và Sa Pa nói riêng cần tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển, trong đó cần có những chính sách ưu đãi trong việc đầu tư, giảm tối đa các loại phí nhằm giảm giá thành các sản phẩm du lịch, từ đó tạo lợi thế thu hút du khách trong nước và quốc tế.
Cũng tại Hội nghị này, Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Nguyễn Văn Vịnh cho biết Lào Cai với chủ trương nhất quán là các cấp chính quyền luôn ủng hộ mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đến đầu tư, kinh doanh tại tỉnh, chúng tôi cam kết luôn tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh và dành ưu đãi cao nhất cho các cá nhân, tổ chức đến địa phương đầu tư kinh doanh.
Hội nghị đã thu hút được sự đồng thuận rất lớn từ các doanh nghiệp đang kinh doanh các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai và đặc biệt đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn huyện Sa Pa. Tuy nhiên, ngay sau đó, bắt đầu từ ngày 16.5, UBND tỉnh Lào Cai quyết định tăng phí tham quan tại một số điểm tại khu vực huyện Sa Pa và tiến hành thành lập đoàn thanh tra các đơn vị kinh doanh du lịch chưa chi trả phí dịch vụ môi trường rừng.
Theo ông N.T.P, Giám đốc doanh nghiệp lữ hành tại Sa Pa thì các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đều chào bán tour trước cả năm, giá thành tour đều đã định sẵn. Việc tăng giá không có lộ trình sẽ đẩy doanh nghiệp vào cảnh không làm đúng hợp đồng đã thỏa thuận, mất uy tín trong việc giao dịch với đối tác.
“Đối với du khách khi đến một số khu vực bản của người dân tộc để dùng bữa như hiện nay sẽ phải trả nhiều phí hơn. Ví dụ du khách muốn đến Lao Chải dùng bữa trưa với giá 100.000đ/người/bữa thì phải trả thêm 75.000đ cho phí tham quan. Như vậy giá thành đã đắt gấp đôi so với chi phí một bữa ăn. Chưa kể đến việc áp dụng phí dịch vụ môi trường rừng thu trên tổng doanh thu mà chưa biết doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay không thì tình trạng tận thu và "chặt chém" để bù lại các khoản chi là khó tránh khỏi!”, ông N.T.P nhận định.
Liên quan đến việc áp dụng thu phí dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lào Cai, từ năm 2014, Tổng cục Du lịch đã có công văn gửi UBND tỉnh Lào Cai nêu rõ: Hoạt động du lịch ở các tỉnh miền núi nói chung, Lào Cai nói riêng mới phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch hầu hết là vừa và nhỏ nên các quy định ban hành cần tạo điều kiện khuyến khích và hỗtrợ cho các doanh nghiệp phát triển và kinh doanh hiệu quả, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Về những kiến nghị của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại Sa Pa theo Quyết định 15/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lào Cai, TCDL nhận thấy một số nội dung liên quan đến căn cứ pháp lý, đối tượng, mức thu tiền dịch vụ, phương pháp xác định doanh thu, thời điểm áp dụng và xác định phạm vi ranh giới của rừng được thu tiền dịch vụ chưa thực sự rõ ràng cần được xem xét, điều chỉnh hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch (lữ hành, khách sạn…) trên địa bàn tỉnh Lào Cai và phù hợp với thực tiễn.
Việc thống nhất áp dụng mức phí 1,5% trên tổng doanh thu đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn Lào Cai hiện nay là chưa hợp lý vì các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch có nhiều nguồn thu khác nhau. Do đó, nếu doanh nghiệp lữ hành tại Sa Pa lại phải trả phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng dựa trên tổng doanh thu cũng có nghĩa là thu phí chồng phí.
TCDL cũng đề nghị UBND tỉnh Lào Cai xác định rõ ranh giới của các khu rừng theo phạm vi, không gian và khu vực tính từ trung tâm rừng và xác định đối tượng thu phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng cũng như thu phí cho phù hợp.
Bên cạnh đó, TCDL đề nghị UBND tỉnh Lào Cai nghiên cứu, có giải pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế và trả lời đề nghị của Hiệp hội Du lịch Sa Pa, đồng thời xem xét điều chỉnh mức phí và cách tính phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng công bằng, phù hợp đối với từng loại đối tượng kinh doanh dịch vụ du lịch nhằm ổn định môi trường kinh doanh du lịch, góp phần đưa du lịch Lào Cai trở thành ngành kinh tế quan trọng và mũi nhọn ở địa phương. (Văn Hóa 10/6) đầu trang(
Được thành lập năm 2010, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng hoạt động và thực hiện theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại tỉnh Lâm Đồng.
Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, đối tượng thu tiền DVMTR bao gồm: Các cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR. Với chức năng ấy, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng có hai nguồn thu chính.
Nguồn thu trong tỉnh (chiếm 40% tổng số thu hàng năm) chủ yếu từ các đơn vị sử dụng DVMTR tại những khu rừng nằm trong phạm vi hành chính tỉnh Lâm Đồng. Nguồn thu ngoài tỉnh do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam thu (chiếm 60% tổng thu hàng năm) đối với các đơn vị sử dụng DVMTR từ những khu rừng nằm trong phạm vi hành chính từ 2 tỉnh (tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh khác), sau đó chuyển cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng.
Mỗi năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng thu trên dưới 150 tỷ đồng và gần như ổn định theo tỷ lệ phần trăm nói trên. Cụ thể, năm 2015, Quỹ thu gần 144,4 tỷ đồng, trong đó thu trong tỉnh 57,716 tỷ đồng, thu ngoài tỉnh 87,122 tỷ đồng. Năm 2016, dự kiến thu 154,519 tỷ đồng, trong đó thu trong tỉnh 65,693 tỷ đồng, thu ngoài tỉnh 88,826 tỷ đồng.
Nguồn thu này hàng năm được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng chi trả DVMTR cho nhiều đối tượng, bao gồm: Các chủ rừng là tổ chức nhà nước; chủ rừng là tổ chức ngoài nhà nước (DN ngoài nhà nước); các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng (BVR) với các chủ rừng là tổ chức hoặc họ chính là chủ rừng.
Việc chi trả DVMRT từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng cho các chủ rừng theo 2 lưu vực sông: Lưu vực sông Đồng Nai và sông Sêrêpốk. Đơn giá chi trả cho lưu vực sông Đồng Nai cao hơn lưu vực sông Sêrêpốk. Cụ thể, đã, đang và sẽ chi trả trong năm 2016 đối với lưu vực sông Đồng Nai, khoán BVR 500.000 đồng/ha/năm và phí quản lý của chủ rừng 50.000 đồng/ha/năm; đối với lưu vực sông Sêrêpốk, khoán BVR 400.000 đồng/ha/năm và phí quản lý của chủ rừng 40.000 đồng/ha/năm.
Tổng diện tích rừng được nghiệm thu và chi trả DVBVR mỗi năm một tăng, từ 354.754ha (năm 2015) lên 381.560ha (năm 2016), với tổng số hộ được hưởng lợi là 17.073 hộ (năm 2015), trong đó có 13.534 hộ là người dân tộc thiểu số, 3.539 hộ người Kinh và 33 tập thể.
Từ cân đối thu chi, mỗi năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng góp phần thiết thực vào việc bảo vệ, giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia là rừng và nước, đem lại lợi ích cho xã hội từ các công trình thủy điện, thủy lợi; làm hạn chế việc phá rừng mỗi năm trên 5%; khôi phục và tăng độ che phủ của rừng.
Với ý nghĩa đó, DVMTR từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển tỉnh Lâm Đồng cũng như Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên đem lại lợi ích không cho riêng ai! (Kinh Tế Nông Thôn 12/6) đầu trang(
Những năm gần đây, nhờ các chính sách hỗ trợ của nhà nước, nhận thức của người dân xã Thượng Giáp (Nà Hang) về phát triển kinh tế rừng được nâng lên, bà con luôn tích cực, chủ động trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Ông Nguyễn Văn Thuyết, thôn Bản Muồng, xã Thượng Giáp cho biết, cách đây khoảng 15 năm, cả vùng Thượng Giáp là những quả đồi trơ trọc. Thời điểm đó, bà con vẫn còn có tập quán du canh, phá rừng làm nương, cho đến khi đất bạc màu thì lại chuyển sang quả đồi khác, kết quả để lại là những quả đồi trọc.
Vào mùa mưa, nước trôi tuột từ đỉnh đồi xuống, lũ cơ man là lũ, ruộng đất xói lở khắp nơi, những thửa ruộng lúa 1 vụ dưới chân đồi có khi sắp đến ngày thu hoạch cũng bị cuốn sạch theo lũ, thậm chí chết cả người, mất nhà cửa, nắng nóng hoành hành, nguồn nước nhanh chóng cạn kiệt. Cái đói, cái nghèo cứ bám riết lấy người dân Thượng Giáp quanh năm.
Phải đến khi các địa phương trong tỉnh đẩy mạnh việc trồng rừng theo Quyết định 327 và Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định 661 của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương vận động nhân dân đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Lúc đó ông Thuyết còn là trưởng thôn, cùng các đồng chí cán bộ tỉnh, huyện, xã đi vận động bà con bỏ tập quan canh tác du canh, tập trung trồng rừng. Kết quả sau một thời gian, toàn bộ những quả đồi trên địa bàn xã Thượng Giáp đã được phủ xanh cây rừng. Từ đó lũ đã không còn như trước, hệ sinh thái phát triển đa dạng, những thửa ruộng đã không phải lo mất mùa, nhiều thửa trước đây chỉ canh tác được một vụ thì nay đã canh tác được 2 vụ.
Ông Nguyễn Văn Hằng, Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Giáp cho biết, vừa rồi xã có đợt rà soát, 100% các hộ dân trong xã không thiếu đất sản xuất. Toàn xã có 136 ha đất trồng lúa, trong đó có 42 ha đất sản xuất 2 vụ trở lên. Đối với đất rừng, xã có 2.605 ha, trong đó rừng sản xuất có trên 1.503 ha còn lại là rừng phòng hộ trên 1.112 ha. Không tính rừng phòng hộ, trung bình mỗi hộ dân của xã Thượng Giáp có trên 3,5 ha đất rừng sản xuất. Rừng phát triển thì bà con trong xã cũng không còn lo thiếu đói như trước đây.
Những năm gần đây, một số cánh rừng đã đến thời kỳ thu hoạch, nhà nước thu hồi vốn 20%, còn lại 80% giá trị cây rừng là của bà con. Bà con trong xã nhà nào cũng thu được món tiền lớn, nhà ít thì vài chục triệu đồng, nhà nhiều thì vài trăm triệu đồng. Năm 2011, nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cây giống, phân bón, tiền chăm sóc cây giai đoạn đầu đến năm thứ 4 khi cây phát tán.
Bà con trong xã thấy được lợi ích to lớn từ việc trồng rừng nên nhà nào cũng sẵn sàng nhận đất trồng rừng. Xã triển khai quyết liệt việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhất là đối với đất rừng giúp bà con yên tâm sản xuất trên mảnh đất của chính gia đình mình.
Kinh tế hộ gia đình gắn với kinh tế rừng một cách chặt chẽ hơn. Tuy nhiên hiện xã Thượng Giáp vẫn còn 548 ha đất chưa được giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên nhân là còn vướng mắc đối với việc tính toán giá trị rừng trồng trên mảnh đất được giao.
Mỗi hộ dân ở Thượng Giáp đều có đất trồng rừng, tích cực trồng rừng, bởi bà con đã quá thấm về cái khó, cái khổ vì thiếu rừng. Anh Nông Văn Luân, một người dân thôn Nà Thài, xã Thượng Giáp bảo: “Mình là người vùng cao, cuộc sống gắn bó với rừng bao đời nay làm sao có thể thiếu rừng được. Có thời điểm bà con mình chỉ vì thấy lợi ích trước mắt nên đã phá rừng làm nương, nay thì không còn cảnh đó rồi. Thời điểm trước đây, rừng không có nước, mưa bao nhiêu thì trôi tuột xuống suối bấy nhiêu, bà con không giữ được nước để làm ruộng, ao hồ không nuôi được cá. Những tháng giáp hạt từ tháng 3 đến tháng 7 mình toàn phải ăn ngô thay cơm, trẻ con đi học đứa nào may mắn thì có được nắm cơm mang theo. Nay thì cảnh đó không còn nữa”.
Gia đình anh Luân là một trong những hộ tích cực trồng rừng của thôn Nà Thài, hiện gia đình anh có 4 ha đất mới trồng rừng. Vừa qua, gia đình anh Luân đã thu hoạch được gần 2 ha rừng gỗ mỡ, số tiền thu được gần 80 triệu đồng. Ngay sau khi thu hoạch anh Luân tiếp tục trồng kế vào khu đất trống vừa khai thác. Anh Luân cho biết, đợt trồng rừng của anh vừa rồi không được nhà nước hỗ trợ giống, vật tư phân bón vì hết thời hạn hỗ trợ.
Để có vốn trồng rừng, gia đình anh phải đi vay 100 triệu đồng từ ngân hàng để đầu tư. Tiền mua cây giống 1.000 đồng/cây, mỗi ha trồng được 3.300 cây, tiền phân bón, tiền nhân công, tính ra mỗi ha rừng trồng 3 năm đầu phải đầu tư hết gần chục triệu đồng đấy. Bà con mình không nên ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, mình có đất được giao rồi thì phải chủ động trồng rừng, phủ kín thửa đất nhà mình chứ.
Nếu nhà nước hỗ trợ thì phải có chương trình, kế hoạch chứ, bà con mình mà chờ thì đến bao giờ mới có rừng. Nếu chăm sóc, bảo vệ rừng tốt sau này cũng có một món tiền kha khá để sử dụng. Lợi ích trồng rừng không chỉ là thấy được món tiền trước mắt mà nó đem lại lợi ích lâu dài cho đời sống bà con mình, mất rừng là mất tất cả, đói nghèo sẽ ập đến ngay. (Báo Tuyên Quang 10/6) đầu trang(
Năm 2016, tỉnh Cà Mau phấn đấu trồng mới ít nhất 1.500 ha rừng, trong đó có 100 ha rừng phòng hộ ven biển, 100 ha rừng ngập mặn, còn lại là trồng rừng hệ sinh thái ngọt, gồm hai loại cây chủ lực là tràm và keo lai, tập trung tại các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình.
Hiện toàn tỉnh đã trồng gần 10 nghìn ha cây keo lai, với giá 250 triệu đồng/ha, nhiều người dân có thể làm giàu. (Nhân Dân 11/6) đầu trang(
Chiều 09-6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ chủ trì giao ban tiến độ thực hiện Dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ vay vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản (Dự án JICA2) tỉnh Quảng Ngãi.
Dự án JICA2, triển khai trên địa bàn 9 xã thuộc 4 huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây và Tây Trà, gồm các hạng mục chính: Trồng mới rừng phòng hộ; bảo vệ rừng tự nhiên; khoanh nuôi có trồng bổ sung và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; xây dựng cơ sở hạ tầng sinh kế và hỗ trợ phát triển sinh kế trong vùng dự án,…với tổng vốn đầu tư gần 290 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA thông qua cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản 246,8 tỷ đồng, còn lại vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh 42,7 tỷ đồng.
Ban Quản lý dự án cho biết, tính đến thời điểm này, Dự án đã thực hiện trồng mới được 1.854ha rừng phòng hộ (đạt 66,21%); bảo vệ 3.208ha rừng tự nhiên (100,25%); khoanh nuôi có trồng bổ sung 457ha (76,17%) và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 2.689 ha (99,59%); xây dựng 39,5km đường lâm nghiệp, 27,6km đường ranh cản lửa tại vùng triển khai dự án,...
Như vậy, về khối lượng thực hiện các hạng mục của Dự án JICA2 cơ bản đảm bảo tiến độ. Tuy vậy, ở hạng mục trồng rừng khối lượng thực hiện còn thấp (đạt 66,21%) do gặp khó khăn trong việc tìm quỹ đất đưa vào quy hoạch thiết kế trồng rừng, trong khi đó 1.000 ha đất đã quy hoạch cho Dự án hiện hiện người dân đã xâm canh trồng keo.
Về tiến độ giải ngân của dự án, đến nay lũy kế giải ngân 92,2 tỷ đồng, thấp so với kế hoạch do các nhà thầu lập hồ sơ thanh toán chậm và một số nguyên nhân khác.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ nhấn mạnh tầm quan trọng của Dự án đối với việc phục hồi, phát triển, quản lý bền vững rừng phòng hộ của tỉnh; chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh củng cố, kiện toàn lại Ban Chỉ đạo; rà soát khối lượng còn lại của Dự án để tập trung tổ chức thực hiện đạt mục tiêu, kế hoạch, nhất là các hạng mục trồng rừng, khoanh nuôi có trồng bổ sung, nghiệm thu, thanh quyết toán, giải ngân khối lượng thực hiện.
Riêng hạng trồng rừng, hợp phần quan trọng nhất của Dự án, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý dự án, các địa phương liên quan; đồng thời yêu cầu chủ động phối hợp chặt chẽ, tập trung giải quyết những tồn tại, vướng mắc, nhất là diện tích đất đưa vào quy hoạch trồng rừng của Dự án, đảm bảo trồng đạt 2.800 ha rừng phòng hộ như mục tiêu Dự án đề ra; việc thực hiện Dự án phải đảm bảo chất lượng; đồng thời, rà soát, kiểm tra diện tích chồng lấn, dân lấn chiếm,… để kịp thời có hướng giải quyết.
Đối với hạng mục hỗ trợ sinh kế, Ban Quản lý nghiên cứu lồng ghép thực hiện những nội dung thiết thực, hiệu quả theo hướng bền vững để góp phần cải thiện thu nhập cho người dân tham gia. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ngãi 10/6) đầu trang(
Mặc dù nghề ươm cây giống mới hình thành khoảng 5-7 năm lại đây nhưng với lợi thế về đất đai và sự chịu khó của người dân, mỗi năm huyện Tân Kỳ cung ứng ra thị trường từ 33 đến 35 triệu giống cây lâm nghiệp các loại.
Keo lai là giống cây chiếm phần lớn ở Tân Kỳ với 2 loại hình ươm từ hạt và ươm từ hom nhánh. Ngoài keo lai, một số cơ sở sản xuất lớn còn ươm các loại giống cây gỗ quý khác như lát hoa, sấu đen, nhãn, sưa, tràm Úc….
Đứng đầu các xã sản xuất giống cây lâm nghiệp ở Tân Kỳ là xã Tân Hương với khoảng 300 hộ, bình quân mỗi năm cung ứng ra thị trường khoảng 30 triệu cây giống, tiếp theo là các xã Kỳ Sơn, Hương Sơn mỗi xã sản xuất khoảng vài triệu cây.
Do năng lực sản xuất và uy tín ngày càng lớn nên vùng giống cây lâm nghiệp của huyện Tân Kỳ không chỉ đáp ứng nhu cầu trồng rừng sản xuất trong tỉnh mà còn xuất bán đi các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị cho đến các tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Hòa Bình....
Theo người dân cho biết, sản xuất cây giống lâm nghiệp chi phí không lớn và yêu cầu về đất không qúa cao nhưng giá thường xuyên biến động, thấp nhất giá chỉ 120 đồng và cao nhất là 700 - 800 đồng/cây giống và nếu ổn định ở mức 400 - 500 đồng/cây thì mỗi ha vườn ươm đạt doanh thu gần 1 tỷ đồng/năm (sản xuất mỗi năm 3 vụ), bình quân mỗi sào lãi ròng khoảng 50 - 70 triệu đồng/năm.
Để nghề sản xuất giống cây lâm nghiệp ổn định và phát triển bền vững, cùng với thành lập các HTX và Ban quản lý làng nghề tại các xã để quản lý, huyện Tân Kỳ đang khảo sát để xây dựng quy hoạch vùng sản xuất cây giống, có cơ chế hỗ trợ để định hướng cho người dân sản xuất các cây giống lâm nghiệp theo quy hoạch của tỉnh. (Báo Nghệ An 10/6) đầu trang(
Xã Nhơn Tân (thị xã An Nhơn) có diện tích đất lâm nghiệp hơn 3.739 ha (đất có rừng 2.348 ha), từ chỗ phần lớn diện tích núi đồi hoang hóa, nhờ có Dự án WB3 đã dần phủ xanh và bắt đầu cho khai thác đạt hiệu quả kinh tế cao.
Ông Nguyễn Văn Chinh, Chủ tịch UBND xã Nhơn Tân, cho biết: Qua 10 năm (2006-2015) thực hiện Dự án WB3, toàn xã có 378 hộ tham gia trồng hơn 719 ha rừng (chủ yếu là cây keo lai và bạch đàn) và trồng rừng ngoài dự án 729 ha. Trong đó, toàn bộ rừng trồng đều đến chu kỳ khai thác, nhiều nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu nhờ trồng rừng.
Được dự án cho vay vốn 15 triệu đồng/ha và tập huấn kỹ thuật trồng, bà con chăm sóc chu đáo, nên từ lúc xuống giống trồng keo lai, tỉ lệ cây sống cao đạt trên 95%, cây rừng phát triển xanh tốt, năng suất đạt khá, từ 100 - 110 tấn gỗ/ha, sau khi trừ chi phí còn lãi 70 - 90 triệu đồng/ha; bạch đàn năng suất 70-80 tấn/ ha, lãi 40 - 50 triệu đồng/ha.
Nhiều hộ thu nhập cao, thoát nghèo vươn lên giàu có từ trồng rừng dự án và trồng rừng kinh tế; tiêu biểu như các hộ Huỳnh Văn Hà, Nguyễn Văn Chính, Tạ Vĩnh Bình, Trần Văn Cẩn... mỗi hộ có từ 15 - 40 ha rừng trồng, thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.
Ông Bạch Văn Sơn, trồng 40 ha vừa keo, bạch đàn ở Nhơn Tân, chia sẻ: “Được Ban quản lý Dự án tập huấn quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng khoa học, nên tui đưa cây keo lai, bạch đàn vào trồng, cây sống đạt 100%, năm rồi đã khai thác xong, trừ chi phí còn lãi từ 40 - 70 triệu đồng/ha. Thu hoạch xong tui trồng lại rừng keo, chi phí trồng mới 15 triệu đồng/ha; còn cây bạch đàn chỉ chăm sóc, bón phân, chừng 3 năm sau lại vào chu kỳ thu hoạch tiếp”.
Dự án WB3 đã thật sự mang lại đời sống ấm no cho nông dân Nhơn Tân. Ông Nguyễn Văn Chinh cho biết thêm: Trồng 1 ha rừng cần đến cả trăm công lao động, từ lúc xử lý thực bì, đào hố, trồng, chăm sóc, rồi thu hoạch, nạo vỏ cây, trồng lại rừng sau thu hoạch. Việc trồng rừng huy động không đủ lao động nông nhàn ở địa phương nên phải thuê thêm công bên ngoài, tạo việc làm và thu nhập khá cho nông dân.
Nhờ vậy, phong trào trồng rừng không chỉ có trong dự án, bà con còn tham gia trồng rừng kinh tế ngoài dự án khá lớn, góp phần tăng độ che phủ rừng trên địa bàn xã. Cũng nhờ Dự án WB3 đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào trồng rừng và thật sự góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, tăng thu nhập giảm nghèo cho nông dân và tăng nhanh hộ khá, giàu. Đây cũng là một trong những thế mạnh, tạo điều kiện cho toàn xã phấn đấu đến năm 2018 đạt chuẩn nông thôn mới. (Báo Bình Định 10/6) đầu trang(
Mấy năm gần đây, giá gỗ nguyên liệu ổn định ở mức cao, giá trị kinh tế từ trồng rừng tăng nên người dân tập trung đầu tư thâm canh trồng rừng.
Vừa thu hoạch xong 4ha keo lá tràm, tranh thủ mấy ngày mưa vừa qua, gia đình Mí Thương ở xã Ea Trol (huyện Sông Hinh) tập trung xuống giống keo lá tràm để trồng lại rừng. Năm nay, gia đình Mí Thương tăng diện tích trồng keo lên 5ha. Mí Thương cho hay: Cây keo dễ trồng, dễ tiêu thụ, ít bệnh dịch, giá lại đang cao. So với trồng sắn thì trồng keo khỏe hơn, cho thu nhập khá.
Vừa rồi, gia đình tôi bán 4ha keo 5 năm tuổi được 380 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi gần 300 triệu đồng. Còn theo Ma Bảnh ở xã Ea Bar (huyện Sông Hinh), cách đây mấy năm nhà ông chỉ trồng được 2ha keo trên những vùng đất đồi dốc. Bây giờ, keo có giá, gia đình Ma Bảnh không trồng nhiều sắn nữa mà mở rộng diện tích trồng keo lên 5ha.
Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Sông Hinh Nguyễn Khắc Sự cho hay: Hiện keo được thu mua 3 mức giá khác nhau. Keo có đường kính thân trên 18cm có giá 1,8-2 triệu đồng/tấn; keo từ 14-18cm có giá 1,4 triệu đồng/tấn, keo nhỏ hơn được thu 1,1 triệu đồng/tấn. Toàn huyện Sông Hinh có hơn 3.000ha rừng sản xuất, trong đó keo lá tràm chiếm hơn 60%, được trồng tập trung ở các xã Đức Bình Đông, Sơn Giang, Ea Trol, Ea Bar.
Không riêng huyện Sông Hinh, nhiều địa phương khác cũng phát triển mạnh trồng rừng sản xuất. Bà Lê Thị Tuyền ở xã Hòa Quang Bắc (huyện Phú Hòa), cho biết: Gia đình tôi trồng rừng đã hơn 20 năm nay, nhưng chưa khi nào trồng rừng lại có thu nhập cao như bây giờ. Hiện bình quân mỗi hécta rừng cho thu nhập khoảng 100 triệu đồng.
Còn ông Trương Tấn Hổ, Giám đốc Công ty TNHH Cao Nguyên Lâm, cho hay: Hiện nay, diện tích rừng sản xuất do công ty trồng đạt gần 700ha thuộc các huyện Sơn Hòa, Đồng Xuân và TX Sông Cầu. Mấy năm nay, giá gỗ nguyên liệu ổn định ở mức cao, trồng rừng có lãi nên công ty sẽ tiếp tục đầu tư trồng rừng mới. Dự kiến trong năm 2016, công ty trồng thêm 300ha.
Trồng rừng đang mang lại nguồn thu nhập khá nên nhiều nông dân đẩy mạnh thâm canh nhằm tăng giá trị kinh tế. Ông Nguyễn Văn Bá ở xã Hòa Quang Bắc (huyện Phú Hòa), cho biết: Trước đây, kinh tế từ trồng rừng không cao nên chúng tôi ít quan tâm đến việc chăm sóc. Ba năm trở lại đây, giá gỗ nguyên liệu tăng mạnh, lợi nhuận từ trồng rừng cao nên bà con đầu tư thâm canh cho cây rừng.
Theo ông Trần Văn Trung ở xã Hòa Định Tây (huyện Phú Hòa) thì khâu quan trọng nhất giúp trồng rừng hiệu quả là chọn giống. Người trồng phải chọn mua những cây giống khỏe mạnh, không sâu bệnh, có đỉnh chủ đạo và hệ rễ phát triển đầy đủ, không bị vỡ bầu, tổn thương để khi trồng giảm tỉ lệ chết; tốt nhất nên chọn mua giống ở những vườn ươm uy tín.
Trước khi trồng, người dân cần phát dọn thực bì sạch sẽ, cải tạo đất và bổ sung thêm phân lót sau đó mới trồng. Mật độ trồng không được quá dày để cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng; tỉ lệ hợp lý là cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m. Liên tục trong 3 năm, người trồng phải phát chồi, dọn thực bì và bón thúc cho cây trước mùa mưa hàng năm…
Với kỹ thuật thâm canh này, rẫy keo của gia đình ông Trung phát triển rất tốt. Ông Trung cho hay: 4ha keo của nhà tôi mới được 3 năm tuổi nhưng tỉ lệ cây có đường kính thân hơn 14cm khá nhiều. Với tốc độ phát triển như hiện nay, khả năng đến khi thu hoạch cây sẽ đạt đường kính trên 20cm.
Ông Nguyễn Siêng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Phú Hòa, cho biết: Huyện Phú Hòa có hơn 6.000ha rừng sản xuất; trong đó cây keo chiếm khoảng 3/4, còn lại là các loại bạch đàn, xà cừ. Các xã Hòa Định Tây, Hòa Quang Bắc, Hòa Quang Nam là những nơi có diện tích trồng rừng sản xuất nhiều nhất.
Hiện nay, hầu hết các hộ trồng rừng đều đầu tư thâm canh cho cây trồng, nhờ vậy hiệu quả kinh tế tăng đáng kể. Thời gian tới, địa phương sẽ phối hợp cùng các ngành chức năng hướng dẫn, đào tạo kỹ thuật thâm canh cây rừng cho người dân để tăng năng suất rừng trồng. (Báo Phú Yên 11/6) đầu trang(
Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng, Hà Tĩnh tự ý lấy đất của hai chủ rừng người ngoài xã chia cho chính mình và người thân.
Năm 2005, Công ty Rau Hà Tĩnh quản lý đất rừng của 8 xã vùng giữa huyện Kỳ Anh, đã ký hợp đồng với dân trồng rừng, thời hạn 40 năm. Khu công nghiệp Vũng Áng ra đời, công ty này giải thể. Năm 2010, UBND tỉnh Hà Tĩnh thu hồi gần 3.000ha giao về cho UBND các xã quản lý. Nhiều địa phương hiểu luật làm tốt. Chỉ có Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng tự ý lấy đất của hai chủ rừng người ngoài xã chia cho chính mình và người thân.
Các “Hợp đồng Kinh tế” mang tên Phan Hồng Cảnh ở xã Kỳ Tân và tên ông Nguyễn Văn Túy ở xã Kỳ Trinh, huyện Kỳ Anh đều chung nội dung: “Nhận khoán đất - Trồng - Chăm sóc - Bảo vệ rừng” ký kết với Công ty Rau quả Hà Tĩnh với đầy đủ tính pháp lý. Khi Khu Công nghiệp Vũng Áng hình thành, Công ty Rau quả giải thể.
Ngày 18/6/2010, UND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định 1777/QĐ-UBND thu hồi 2.648 ha đất giao về cho các xã quản lý. Xã Kỳ Hưng được giao 380ha, trong đó có hai hộ gia đình là dân ngoài xã Kỳ Hưng. Thời điểm 2010 cây trên đất chưa đủ tuổi thu hoạch, ông Túy và ông Cảnh vẫn chăm sóc, bảo vệ để thu hoạch.
Công văn số 1140 ngày 14/4/2014 của Liên Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn - Tài nguyên Môi trường - Tài chính... Hướng dẫn “Thực hiện giao đất, cho thuê đất...”. Trong đó có quy định về việc “Giải quyết các đối tượng đã sử dụng đất rừng...” ghi rõ: “Đối với phần diện tích các gia đình, cá nhân đang nhận khoán đúng quy định, sử dụng có hiệu quả... nếu đủ điều kiện được giao đất thì giao cho các hộ đó theo ranh giới diện tích hộ đang sử dụng nhưng không vượt quá giới hạn 30ha... Nếu không đủ điều kiện giao thì xem xét cho các hộ ấy chuyển sang thuê đất, thuê rừng theo diện tích và hiện trạng đang sử dụng...”.
Gia đình ông Nguyễn Văn Túy và Phan Hồng Cảnh đều đang làm tốt những điều mà Nhà nước quy định. Vậy mà, Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng lấy cớ hai gia đình này đều không phải là công dân xã mình, chẳng cần thông báo cho họ biết mà tự ý lấy đất của hai gia đình nói trên chia cho chính mình và người thân.
Trong đơn ngày 2/8/2015 của ông Túy và ông Cảnh gửi lãnh đạo thị xã Kỳ Anh khẳng định: “Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng là Mai Văn Long vi phạm pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế, làm trái với Thông tư 1140 của Liên Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn - Tài nguyên Môi trường - Tài chính. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của công dân”.
Trong Công văn số 01 năm 2015 của ông Mai Xuân Long - Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng ký tên, đóng dấu gửi UBND thị xã Kỳ Anh cho rằng:“Việc lấy đất của ông Cảnh và ông Túy là hợp lý vì hai công dân ấy không phải là người của xã Kỳ Hưng”. Cái lý của ông Mai Xuân Long rất vô lý bởi Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ, tại Điều 3 “Quy định về điều kiện nhận khoán...” ghi rõ: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất theo quy định của bên giao khoán” có quyền được nhận đất.
Nay ông Mai Xuân Long không còn giữ chức Chủ tịch UBND xã Kỳ Hưng nhưng đáng tiếc người kế nhiệm vẫn chưa nhận thức ra những sai phạm của người tiền nhiệm để khắc phục hậu quả. (Tiền Phong 11/6) đầu trang(
Gần 60 doanh nghiệp (DN) vận chuyển và xuất khẩu dăm gỗ vừa đồng loạt kêu khó với Thủ tướng Chính phủ về quy chuẩn an toàn trên phương tiện thuỷ nội địa trong khi Cục Đăng kiểm khẳng định không hề làm khó DN và nếu cố tình cắt bớt quy chuẩn để giảm chi phí vận chuyển, rủi ro cao hơn ai sẽ chịu?
Trong đơn kiến nghị tháo gỡ khó khăn gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT và Cục Đăng kiểm, nhóm các DN chế biến, vận tải dăm gỗ tại Quảng Ninh đưa ra kiến nghị liên quan đến quy chuẩn an toàn trên phương tiện thuỷ nội địa tại văn bản số 3306/ĐKVN-TS của Cục Đăng kiểm VN.
Theo nhóm DN này, không một phương tiện nào đáp ứng được quy định mà Đăng kiểm đưa ra và dù các quy phạm đăng kiểm đã ban hành nhiều tháng nay nhưng chưa có một con tàu nào được cấp phép. Do đó, ngành sản xuất đạt nhiều triệu tấn gỗ dăm xuất khẩu với hàng trăm DN và hàng vạn lao động có nguy cơ đình đốn vì quy định này.
Theo quy định của Cục Đăng kiểm VN, phương tiện thủy nội địa (TNĐ) chở dăm gỗ phải có nắp hầm hàng chịu lực và phải được đóng kín trước khi tiếp tục xếp gỗ lên trên để đảm bảo tính kín thời tiết trong trường hợp có mưa, dăm gỗ có thể ngậm nước làm tăng trọng lượng hàng hóa, giảm dự trữ nổi của phương tiện, gây mất an toàn khi lưu thông...
Nhận định về quy chuẩn này, giám đốc một Cty lớn chuyên xuất khẩu dăm gỗ thị trường Nhật Bản tại cảng Cái Lân (Quảng Ninh) cho rằng, ngay bản thân gỗ vốn đã ngậm khoảng 50% là nước rồi, nên khi hút thêm nước đến độ nhất định nó sẽ bão hòa và trương nở không quá 18% nên trọng lượng tăng thêm cao nhất cũng không quá 18%, bởi dăm gỗ là mặt hàng nhẹ. Do đó, người này cho rằng việc bỏ qua quy chuẩn trên không ảnh hưởng đến dự trữ nổi của phương tiện.
Theo nhóm các DN, quy định của đăng kiểm gây khó cho việc vận chuyển mặt hàng dăm gỗ, trong khi mặt hàng này đang có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới việc làm của hàng vạn lao động ở các địa phương miền núi các tỉnh phía bắc.
Các DN này cũng cho rằng việc vận tải phần lớn dựa vào đường thủy nội địa trong hơn 10 năm qua được các chủ phương tiện chuyên chở từ các nhánh sông đến các cảng lớn diễn ra bình thường và không gây trở ngại về mất an toàn giao thông trên sông nước và quy định từ cơ quan đăng kiểm đã khiến cho không ít DN bị kiểm tra, xử lý trên hải trình.
Trái với phản ánh của DN, ông Đỗ Trung Học - Trưởng phòng Tàu sông, Cục Đăng kiểm Việt Nam - khẳng định thông tin cho rằng các quy phạm đăng kiểm đã ban hành nhiều tháng nay nhưng không một phương tiện nào có thể thỏa mãn và được cấp phép là sai. Theo ông Học, các quy phạm đăng kiểm trên đã có từ lâu nhưng trước đó việc quản lý khá lỏng lẻo dẫn tới tình trạng mất an toàn, sau khi siết lại vẫn có nhiều tàu đóng mới đạt tiêu chuẩn và đã được Cục Đăng kiểm cấp phép. Cục cũng đang thụ lý nhiều hồ sơ đóng tàu mới theo quy chuẩn trên.
Lý giải về quy định đăng kiểm đang gây tranh cãi, đại diện cục cho rằng về mặt nguyên tắc, tàu là phải kín để mưa gió không rò lọt vào gây chìm tàu nên tàu nào cũng phải có nắp hầm hàng, riêng trường hợp tàu chở dăm gỗ, nắp hầm hàng phải dày và cứng hơn nắp hầm hàng thông thường. “Quy định có nắp hầm hàng là rất bình thường” - ông Học nhận xét.
Liên quan tới đề xuất dỡ bỏ nắp hầm hàng của các DN liên quan đến vận tải, xuất khẩu mặt hàng dăm gỗ, ông Học khẳng định có thể làm được nhưng sẽ phải chấp nhận rủi ro cao về an toàn.
Lý giải về điều này, ông Học cho hay khi xếp hàng trên boong tàu phải đảm bảo tầm nhìn và độ ổn định của tàu theo quy định và việc có nắp hầm hàng sẽ ngăn nước không rò lọt vào bên trong, đảm bảo tính ổn định và bảo quản hàng hoá trong hầm, bởi nếu nước rò vào trong hầm sẽ làm tăng khối lượng, làm mất ổn định dẫn tới mất an toàn và thậm chí chìm tàu. Ông Học cho rằng các DN vận tải nghiêm chỉnh đều hiểu và biết rằng phải làm theo đúng quy định thì mới an toàn.
“Quy chuẩn là đúng, DN kinh doanh gỗ dăm muốn giảm chi phí sản xuất vận chuyển nên kêu khó chứ cục không hề gây khó dễ. Đây là quy chuẩn của quốc gia, nếu DN cố tình muốn bỏ qua quy chuẩn thì phải chấp nhận rủi ro, rủi ro đó là hiện hữu. Nếu làm theo quy chuẩn thì ngay cả khi mưa to gió lớn tàu vẫn an toàn, còn nếu bỏ qua quy chuẩn, bỏ nắp hầm hàng thì ngay cả khi mưa nhỏ vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây chìm tàu, mức độ rủi ro cao hơn nhiều so với bình thường” - đại diện Cục Đăng kiểm nhận định.
Hiện Cục Đăng kiểm đã báo cáo lên Bộ GTVT về vấn đề này, Bộ GTVT đang tập hợp ý kiến của các cục vụ liên quan để trình báo cáo lên Chính phủ. (Lao Động 11/6) đầu trang(./.
|
|||