Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 04 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Hồi 13h, ngày 13/4, tại cánh rừng khu vực ở gần bãi rác Khánh Sơn cũ, thuộc địa bàn phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu (TP. Đà Nẵng) xảy ra vụ cháy rừng trồng bạch đàn của nhiều hộ dân.
Nhận tin báo, lực lượng địa phương huy động dân quân tự vệ, dân phòng, công an và bộ đội đóng quân trên địa bàn hỗ trợ, mang máy thổi và chặt cành cây dập lửa, ngăn cháy lan. Tuy nhiên, do vị trí rừng bị cháy nằm trên đỉnh núi, xe PCCC gặp khó khăn khi tiếp cận.
Đến 15h30 cùng ngày, sau nhiều giờ đồng hồ, lực lượng phối hợp đã khống chế được đám cháy. Uớc tính khoảng hơn 3ha rừng bạch đàn của người dân bị lửa thiêu cháy. Được biết trong mấy ngày gần đây, thời tiết ở Đà Nẵng do nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng đã lên mức nguy hiểm báo động cấp 4, trên diện rộng, nên Hạt Kiểm lâm đã tổ chức trực 100% tại các khu rừng xung yếu Hòa Hiệp Bắc, Hòa Khánh Bắc, Hòa Khánh Nam, Thọ Quang, Hòa Phú, Hòa Ninh, Hòa Sơn, Hòa Khương và Hòa Liên.
Hiện, vụ việc đang được các cơ quan chức chức năng điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy. (Người Đưa Tin 13/4) đầu trang(
Toàn tỉnh có hơn 30.000 ha rừng thông dễ cháy, trong đó vùng trọng điểm 16.000 ha. Tuy nhiên hàng năm việc phát dọn thực bì chỉ đạt từ 5.000-7.000 ha, còn tới hơn 23.000 ha thông chưa được phát dọn, nguy cơ cháy rừng rất cao.
Ông Nguyễn Trọng Thực, Hạt trưởng kiểm lâm huyện Yên Thành chia sẻ: Huyện có trên 3.000 ha rừng thông, đầu mùa nắng nóng, BQL rừng phòng hộ huyện xử lý trên 500 ha, các xã xử lý được khoảng 500 ha, còn lại gần 2.000 ha rừng thông do các xã quản lý chưa xử lý được.
Huyện Đô Lương hiện có gần 7.000 ha rừng thông, trong đó diện tích rừng thông nhựa đến độ tuổi khai thác trên 1.000 ha. Số diện tích rừng thông này có trên 500 ha thuộc sự quản lý của Công ty TNHH 1 thành viên Lâm nghiệp Đô Lương, còn lại nằm trong sự quản lý, bảo vệ của 12 xã, thị trên địa bàn huyện. Đến thời điểm này, Công ty TNHH 1 thành viên Lâm nghiệp Đô Lương xử lý trên 500 ha, còn lại hơn 6.500 ha rừng thông chưa được xử lý.
Tại huyện Nam Đàn có trên 7.000ha rừng được phân bố ở 15 xã, trong đó diện tích rừng do BQL rừng đặc dụng quản lý 5.600ha. Rừng Nam Đàn chủ yếu là thông thuần loài, độ dốc tương đối lớn, lượng thực bì dày, giáp ranh với các huyện như: Thanh Chương, Nghi Lộc, Hương Sơn, Đô lương. Vì vậy nguy cơ cháy rừng là rất lớn nếu không được xử lý tốt, kịp thời.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Xử lý thực bì kinh phí rất tốn kém, từ 70-80 triệu đồng/ha, trong khi nguồn khai thác nhựa thông hạn chế nên hầu hết diện tích rừng thông do xã quản lý chưa được xử lý.
Hiện Chi cục kiểm lâm tỉnh đang đề xuất Trung ương hỗ trợ kinh phí 12 tỷ đồng từ dự án “Nâng cao năng lực PCCCR Nghệ An”. Trong đó trên 60% số tiền trên sẽ để dành cho xử lý thực bì, chủ yếu hỗ trợ cho các xã có diện tích nhiều rừng thông.
Theo ông Tuấn, hiện nay Chi cục chỉ đạo các hạt kiểm lâm tiếp tục vận động nhân dân các xã có rừng thông tiến hành xử lý thực bì. Đối với các gia đình có điều kiện xử lý triệt để thì phát dọn xong phải đốt, lực lượng kiểm lâm sẽ giám sát chặt chẽ trong khi đốt thực bì.  (Báo Nghệ An 13/4) đầu trang(
Cứ vào mùa khô, nhất là năm nay, thời tiết quá nắng nóng khiến nguy cơ xảy ra cháy rừng ở Khu bảo tồn (KBT) đất ngập nước Láng Sen rất cao.
Do thời tiết nắng nóng, các hồ chứa, tích tụ nước trong khu cạn trơ đáy. Hiện, nguy cơ xảy ra cháy ở KBT mức độ 5.
Trước tình hình này, Ban Quản lý KBT đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân về công tác phòng, chống cháy rừng; ở xung quanh KBT đều tăng cường thêm các bảng cảnh báo, tuyên truyền, nghiêm cấm các hành vi đốt lửa trong KBT. Giám đốc KBT-Trương Thanh Sơn cho biết, lực lượng của KBT luôn cắt cử người trực 24/24 giờ. Nếu xảy ra cháy, ngoài nhân viên của KBT thì người dân ở địa phương cũng là lực lượng tham gia chữa cháy.
“Hiện KBT chỉ có 2 máy bơm nước chữa cháy, với khoảng 2.000m vòi nước. Máy móc thường xuyên được kiểm tra, vận hành thử, nhưng do máy được trang bị từ 2004 nên hiện quá cũ, chúng tôi e rằng, nếu xảy ra cháy, máy sẽ gặp trục trặc khi hoạt động. Do đó, chúng tôi đang đề xuất cấp trên hỗ trợ thêm 2 máy bơm”, ông Sơn cho biết thêm.
KBT đất ngập nước Láng Sen với tổng diện tích 4.802ha, chia làm 12 tiểu khu. Trong đó, khu vực vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích khoảng 2.000ha. Khu rừng tràm kinh tế với diện tích 1.200ha và vùng đa dạng sinh học nằm trong 3 xã: Vĩnh Đại, Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu A, huyện Tân Hưng.
Ngày 22-5-2015, KBT đất ngập nước Láng Sen chính thức được công nhận là khu Ramsar thứ 2.227 trên thế giới và là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam. Với hệ sinh thái đa dạng cùng hệ động, thực vật phong phú, KBT đất ngập nước Láng Sen được ví như một Đồng Tháp Mười thu nhỏ.
Nơi đây là môi trường sống của hơn 156 loài thực vật hoang dã thuộc 60 họ; 149 loài động vật có xương sống thuộc 46 họ, trong đó có 13 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; các loài thủy sản trên sông rạch, ao hồ khá phong phú.
Bên cạnh đó, KBT còn được lưu giữ qua các kiểu hệ sinh thái đặc trưng như: Rừng tràm tập trung, rừng tràm ven sông, lung, trấp và đồng cỏ ngập nước theo mùa với một số kiểu sinh cảnh đặc trưng như sinh cảnh lúa ma, sinh cảnh đồng cỏ năn và hội đoàn sen-súng. (Báo Long An 14/4) đầu trang(
Nắng nóng mới chỉ đầu mùa nhưng đang gay gắt và dự báo sẽ tiếp tục còn kéo dài, độ ẩm không khí thấp nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Cơ quan chức năng cũng đã dự báo cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ở cấp 4, cấp 5 – Cấp cực kỳ nguy hiểm.
Trước tình hình trên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Sỹ Đồng vừa ký văn bản gửi các ngành, địa phương và các đơn vị liên quan chỉ đạo về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phóng cháy, chữa cháy rừng.
Trong đó, đối với các chủ rừng như các công ty lâm nghiệp, khu bảo tồn, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337… cần tổ chức lực lượng ứng trực 24/24 giờ, tăng cường công tác tuần tra, kịp thời phát hiện lửa để tổ chức chữa cháy; nghiêm cấm việc đốt lửa trong rừng, ven rừng, nhất là tại các khu rừng có nguy cơ cháy cao; đồng thời chuẩn bị đầy đủ trang bị, dụng cụ chữa cháy, báo cáo ngay khi phát hiện cháy rừng về Ban chỉ đạo bảo vệ rừng cấp xã, cấp huyện để tổ chức ứng cứu. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 13/4) đầu trang(
Ngày 13/4, Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng đã phát bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng đang ở mức nguy hiểm, báo động cấp IV, có khả năng xảy ra cháy rừng trên diện rộng. Đây cũng là cấp dự báo cháy rừng cao nhất trên địa bàn TP kể từ đầu năm 2016 đến nay!
Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cho biết, theo tin từ Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương, nắng nóng đã xảy ra trên diện rộng ở khu vực các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ và một số nơi ở Trung Trung Bộ với nền nhiệt độ cao nhất phổ biến 35-37 độ. Tại Đà Nẵng, nắng nóng có khả năng kéo dài đến hết ngày 17/4.
Trước tình hình đó, Chi cục Kiểm lâm TP thông báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn đang ở mức nguy hiểm, báo động cấp IV, có khả năng xảy ra cháy rừng trên diện rộng. Cấp dự báo cháy rừng này có hiệu lực từ ngày 13/4 đến hết ngày 17/4. Đây cũng là cấp dự báo cháy rừng cao nhất trên địa bàn Đà Nẵng kể từ đầu năm 2016 đến nay.
Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng đề nghị Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các quận, huyện, xã, phường chỉ đạo các địa phương, đơn vị và các chủ rừng thực hiện nghiêm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. Đề nghị UBND các xã, phường có rừng thông báo nghiêm cấm phát đốt thực bì trong mọi trường hợp, thông tin về nguy cơ cháy rừng đến các cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư tại địa phương.
Đồng thời yêu cầu các Hạt Kiểm lâm tổ chức trực 100% tại các khu rừng xung yếu như Hòa Hiệp Bắc, Hòa Khánh Bắc, Hòa Khánh Nam, Thọ Quang, Hòa Phú, Hòa Ninh, Hòa Sơn, Hòa Khương, Hòa Liên; kiểm tra việc chấp hành thông báo của UBND xã, phường về nghiêm cấm phát đốt thực bì; tăng cường giám sát người và phương tiện ra vào rừng, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; báo cáo kịp thời tình hình cháy rừng về Ban chỉ đạo quận, huyện và Chi cục Kiểm lâm. (Infonet 13/4) đầu trang(
Đợt rét đậm, rét hại, băng tuyết, sương muối trước tết Nguyên đán năm nay đã làm thiệt hại trên 2.539 ha rừng tại huyện Trạm Tấu.
Trong đó, diện tích trong thời kỳ thiết kế cơ bản là 1.004,5 ha; rừng trồng đã chuyển sang bảo vệ ở cấp tuổi 1 và 2 thiệt hại 535,3 ha; rừng tự nhiên thiệt hại 1.000 ha, chủ yếu là rừng khoanh nuôi tái sinh ở các xã Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Làng Nhì và Tà Xi Láng.
Để khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu đề nghị, đối với diện tích rừng trồng còn thời gian thiết kế cơ bản thì diện tích cây trồng bị chết dưới 40% đề nghị cấp trên cấp kinh phí cho đơn vị sản xuất bổ sung cây giống, hỗ trợ nhân dân trồng dặm vào vụ trồng rừng năm 2016.
Đối với diện tích cây trồng bị chết từ 45 - 50%, diện tích cây trồng bị chết từ 60 - 100%, diện tích rừng trồng đã chuyển sang bảo vệ là 535,3 ha cây trồng chết 100% và 1.000ha diện tích rừng tự nhiên bị chết, gẫy, đổ không có khả năng phục hồi, đề nghị các ngành chức năng, cơ quan quản lý cấp trên cho ý kiến chỉ đạo để khắc phục. (Báo Yên Bái 13/4) đầu trang(
Các xã, thị trấn miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên hầu hết đều có rừng phòng hộ khu vực đồi, núi. Hộ nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ diện tích nhỏ lẻ, phần lớn là đồng bào dân tộc Khmer, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào nghề rừng.
Đó là bài học kinh nghiệm đắt giá mà các xã, thị trấn miền núi đã đúc kết đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng và chống chặt phá cây rừng, nhất là bước vào cao điểm mùa khô hàng năm. Hạt Kiểm lâm Tri Tôn và Tịnh Biên cho biết, đối với diện tích rừng phòng hộ đặc dụng vùng Bảy Núi, Ban Quản lý Dự án 661 An Giang tổ chức giao khoán hơn 6.000 hộ trồng, chăm sóc và bảo vệ. Hàng năm, hợp đồng với các hộ, trong đó có đến 1.993 hộ đồng bào dân tộc Khmer, chiếm trên 33% tổng số hộ nhận khoán.
Tại huyện Tri Tôn, các xã, thị trấn khu vực đồi, núi cũng đã tiếp tục duy trì, triển khai thực hiện phương án “Bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng” năm 2016. Công tác tuyên truyền chú trọng cả 2 phương tiện “nghe và nhìn” thông qua các tổ chức đoàn thể quần chúng, địa bàn dân cư và các vị sư sãi, à cha các chùa Khmer bằng song ngữ tiếng Việt – Khmer. Tương tự, ở huyện Tịnh Biên còn xác định khu vực trọng điểm, nơi có nhiều nguy cơ dễ gây sự cố; vận động đồng bào phum, sóc thay đổi hành vi (săn bắt động vật hoang dã, đốt và hầm than...) để chung tay “bảo vệ và phát triển rừng”.
Ngành Kiểm lâm đã tăng cường cổ động trực quan, toàn vùng treo 80 băng- rôn và dán 1.000 tờ áp phích về “bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng” các tuyến đường quanh chân núi và cụm dân cư. Các khu vực trọng điểm về cháy rừng và các đường lên núi cũng đã đóng 1.000  bảng “tam giác” cấm lửa và vẽ chữ trên đá tại 165 điểm. Đài Truyền thanh 2 huyện và 24 xã, thị trấn miền núi còn xây dựng chương trình truyền thanh song ngữ tiếng Việt – Khmer, thường xuyên nhắc nhở các quy định về bảo vệ rừng, tạm ngưng các hoạt động chặt hạ cây, tỉa thưa rừng mùa khô năm 2016 trên địa bàn các xã, thị trấn.
Về nguồn nước phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm lâm và địa phương sử dụng 1 bể chứa nước 100 m3 (địa bàn Tri Tôn) và 1 bồn 16 m3 (tại Ban Chỉ huy huyện Tịnh Biên), 5 bồn chứa 2m3/bồn (khu vực núi Dài lớn, xã Lương Phi) và 2 hồ chứa nước (núi Phú Cường, xã An Nông). Ngoài ra, sử dụng nước dự trữ (các can nhựa 10 lít) tại các điểm, chốt bảo vệ rừng; 654 bồn chứa 1m3 (hiện có) và tận dụng các hố nước (các sườn núi), ứng phó ngay tình huống khẩn cấp. Toàn vùng đã trang bị bổ sung 21 máy xịt đeo vai, 63 máy chữa cháy và 6.100 mét dây chữa cháy đồi, núi.
Các xã, thị trấn có rừng đồi, núi ở Tri Tôn và Tịnh Biên đã bố trí 132 chốt, với 78 lao động hợp đồng tuần tra bảo vệ rừng. Hơn 2.000 người sẵn sàng làm nhiệm vụ ứng trực; 3 lực lượng (Quân sự, Công an, Kiểm lâm) phối hợp chịu trách nhiệm tuần tra, kiểm tra; lực lượng tại chỗ (Lâm nghiệp xã, Tổ hợp tác bảo vệ rừng, lao động hợp đồng) luân phiên ứng trực tại các chốt canh; lực lượng xung kích, các đơn vị hỗ trợ khác sẵn sàng cơ động và tiếp ứng khi có sự cố, với phương châm 4 tại chỗ (lực lượng, chỉ huy, phương tiện dung cụ và hậu cần tại chỗ).
Công tác bảo vệ rừng được tăng cường nhưng vẫn còn không ít khó khăn. Đó là rừng phòng hộ đều tập trung khu vực đồi, núi có độ dốc lớn, diện tích nhỏ, đan xen với đất vườn, trong khi nguồn nước mùa khô khan hiếm. Vào mùa khô, đa số các hộ nhận khoán rừng đều không ở trực tiếp tại rừng, cho nên công tác phòng cháy, chữa cháy đều do lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương và các ngành có liên quan thực hiện.
Điều đáng lưu ý là giá trị kinh tế của rừng thấp, không bảo đảm đời sống cho người làm rừng, do vậy chủ rừng là các hộ nhận giao khoán chưa thực sự quan tâm đến rừng, tình trạng chặt phá cây rừng quy mô nhỏ, lẻ vẫn còn xảy ra. (Báo An Giang 14/4) đầu trang(
Tin từ Thanh tra tỉnh Đắk Nông cho biết: Ngày 13/4/2016 Cơ quan này đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông điều tra, xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan tới việc mất rừng với diện tích lớn.
Qua khảo sát thực tế của cơ quan chức năng, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng ồ ạt tại lâm phần của hai đơn vị trực thuộc Công ty Gia Nghĩa là Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha (ở xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong) và Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín(ở xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa) là có thật.
Sau đó,UBND tỉnh Đắk Nông đã chỉ đạo thanh tra tỉnh vào cuộc kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ rừng và quản lý rừng tại lâm phần quản lý của Công ty Gia Nghĩa. Đến ngày 19-1-2016,  UBND tỉnh Đắk Nông đã có công văn số 279/UBND-NC thống nhất cho Thanh tra tỉnh chuyển hồ sơ sang Cơ quan CSĐT Công anh tỉnh điều tra, xử lý vụ việc trên theo đúng quy định của pháp luật.
Vụ việc trên thể hiện sự quyết liệt trong việc đấu tranh chống lại các loại tội phạm xâm hại rừng của chính quyền tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn hiện nay. (Tầm Nhìn 14/4; Sài Gòn Giải Phóng 14/4) đầu trang(
Rừng phòng hộ xã Ngọc Yêu (huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum) trong thời gian gần đây đang bị phá nát. Các điểm phá rừng chỉ cách UBND xã và Trạm gác bảo vệ rừng chừng 7 km, tuy nhiên không một ai hay biết.
Men theo con đường đất đỏ từ xã Ngọc Yêu đi sang xã Măng Bút (huyện Kon Plông) sẽ bắt gặp rất nhiều điểm phá rừng phòng hộ. Đi theo một lối mòn nhỏ, chỉ mới đi được khoảng 500m một khúc gỗ to vừa bị đốn hạ, chưa kịp vận chuyển vẫn còn nằm lăn lóc. Đi thêm 1 đoạn, có rất nhiều gốc cây lớn đường kính trên 50cm, nhiều gốc phải đến vài người ôm. Các cây đã được xẻ gỗ để chuyển đi, dấu cưa vẫn còn tươi mới.
Một lối mòn thứ 2 cách lối mòn cũ 1 km, cứ cách nhau một đoạn là có các gốc cây bị đốn hạ. Bìa gỗ, gốc và thân vứt lăn lóc tại nhiều vị trí trong rừng phòng hộ. Rất dễ nhận thấy, các đối tượng có sự chọn lựa trước khi đốn hạ cây. Những cây gỗ lớn, quý hiếm mới được lựa chọn hạ.
Được biết đây là khu rừng phòng hộ hiếm hoi còn sót lại nhiều loài gỗ quý nằm giáp ranh giữa hai huyện Tu Mơ Rông và Kon Plông đang được quản lí, bảo vệ nghiêm ngặt. Bất chấp điều đó, các đối tượng phá rừng vẫn vô tư lộng hành, trong khi trách nhiệm các đơn vị liên quan còn đổ thừa cho nhau.
Ông Phạm Duy Linh - Phó Chủ tịch UBND Ngọc Yêu - cho biết: Tổng diện tích rừng qua xã Ngọc Yêu là khoảng 8.000 ha, trong đó UBND xã Ngọc Yêu quản lý 1.000 ha và giao khoán cho các hộ dân bảo vệ, 7.000 ha còn lại thuộc quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông.
Trước những hình ảnh cùng vị trí phát hiện điểm phá rừng từ mô tả của phóng viên cung cấp, ông Linh khẳng định sẽ cho thành lập đoàn kiểm tra vào xác minh xem thử, điểm phá rừng thuộc lâm phần xã quản lý hay của Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông sau đó sẽ báo sau.
Trong khi đó, ông Lê Viết Bảy - Phó Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông - thông tin: Theo số liệu báo của anh em đi kiểm tra báo về từ đầu mùa đến nay thì không có tình trạng phá rừng trong lâm phần của ban. Còn phá rừng ở lâm phần của đơn vị khác ông không rõ. Sau khi phóng viên cung cấp hình ảnh và mô tả điểm phá tại rừng phòng hộ xã Ngọc Yêu, ông Bảy vẫn tiếp tục khẳng định lâm phần của ban không có phá rừng. (Giáo Dục Và Thời Đại 13/4) đầu trang(
Vụ việc xảy ra tại lô 5, khoảnh 13 và lô 1, khoảnh 16, tiểu khu 502 thuộc địa bàn xã Hiếu, huyện Kon Plông. Lâm phần do Lâm trường Măng La, một đơn vị của Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Kon Plông quản lý.
Trước đó, vào ngày 7/3/2016, trong quá trình tuần tra, cán bộ Lâm trường Măng La phát hiện tại khu vực trên có một số đối tượng khai thác rừng trái pháp luật. Tổ chức mật phục đón lõng, đến 8 giờ tối nhóm lâm tặc huy động hơn 40 người từ huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai sang cõng gỗ tập kết ra gần đường Đông Trường Sơn để đưa lên ô tô đi tiêu thụ thì bị lực lượng của lâm trường phối hợp với Công an huyện bắt giữ.
Tang vật thu được gồm 1 ô tô 15 chỗ hiệu Toyota biển kiểm soát 81K- 5553 và 153 hộp gỗ xẻ nhóm 6, trong đó có 132 hộp gỗ xoan đào còn lại là gỗ kháo với tổng khối lượng trên 14m3. Ngoài ra lực lượng Công an huyện cũng mời về trụ sở làm việc 15 đối tượng nghi vấn.
Theo ông Vũ Văn Bắc, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kon Plông, trong vụ việc này lâm tặc đã lợi dụng địa bàn giáp ranh giữa hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai để khai thác gỗ. Thủ đoạn của nhóm lâm tặc rất tinh vi, như thực hiện vào ban đêm, dùng cưa xăng giảm âm để cưa cắt, không mở đường và sử dụng đông người vận chuyển gỗ trong thời gian ngắn để tránh bị phát hiện. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 13/4; Lao Động 14/4) đầu trang(
Thời gian gần đây ở phía tây bắc Nghệ An, nhất là tại huyện Quỳ Châu, diễn ra tình trạng người dân ồ ạt vào rừng khai thác cây để đốt làm than củi, chặt phá rừng trồng keo… ảnh hưởng không nhỏ đến độ che phủ, tác động xấu đến hệ sinh thái rừng đầu nguồn.
Ở huyện Quỳ Châu, nhiều diện tích rừng tại các xã Châu Hội, Châu Nga, thuộc diện tích rừng được Nhà nước giao đất, giao rừng cho dân theo Nghị định 163 của Chính phủ bị người dân chặt hạ gỗ đốt làm than. Tuy nhiên, bên cạnh diện tích rừng được giao như đã nêu trên, một số diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn gần khu vực này cũng đang bị xâm hại.
Qua kiểm tra thực địa cho thấy, rừng tại các xã Châu Hội, Châu Nga đang bị tàn phá nghiêm trọng. Nhiều cánh rừng phía tả ngạn sông Hiếu đoạn qua các địa bàn này bị chặt phá để trồng keo, lấy gỗ đốt làm than… Đội kiểm lâm cơ động phòng, chống cháy rừng số 3 thuộc Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã phát hiện một số xe chở gỗ thuộc nhóm 7, nhóm 8, khai thác trái phép tại xã Châu Nga.
Tại khu vực bản Kẻ Tằn 2, xã Châu Hội, phần lớn diện tích rừng được Nhà nước giao cho hộ dân khoanh nuôi, quản lý, bảo vệ theo Nghị định 163, cùng hơn 2.000 ha rừng thuộc Công ty Lâm nghiệp huyện Quỳ Châu quản lý. Khu vực này có khoảng 2 ha rừng đã bị chặt hạ. Ông Lê Văn Ban, một trong những chủ hộ có diện tích rừng vừa chặt phá ở bản Kẻ Tằn 2, cho biết, phần rừng bị chặt phá, đã được Nhà nước cấp "sổ đỏ". Trong bản còn nhiều hộ khác cũng đang phá rừng để trồng keo.
Chủ tịch UBND xã Châu Hội Lang Anh Tý cho biết: Ở bản Tằn 2, ngoài hộ ông Lê Văn Ban còn có hơn 10 hộ dân phát rừng; trong đó, hộ ông Đặng Kim Phượng và Lê Văn Ban phát nhiều nhất. Tại thời điểm chính quyền xã đo đạc xử lý, số diện tích rừng mà gia đình ông Phượng đã phát là 1,66 ha, còn hộ ông Lê Văn Ban là 1,3 ha.
Tại xã Châu Nga, người dân mang theo máy cưa lên rừng chặt hạ cây đem bán cho đầu nậu. Điều này diễn ra liên tục và công khai. Trưởng bản Thanh Sơn Lô Văn Cương cho biết, hiện trong bản có khoảng 50% số hộ gia đình đi đốn gỗ để đốt làm than hoặc làm củi. Theo Chủ tịch UBND xã Châu Nga Nguyễn Xuân Hòa, diện tích đất lâm nghiệp của toàn xã là 9.685,89 ha; trong đó, rừng sản xuất của Lâm trường Quỳ Châu là 5.560,95 ha; rừng sản xuất của dân là 2.490,22 ha, còn lại là rừng phòng hộ của Lâm trường Quỳ Châu.
Năm 2003, Nhà nước đã cấp "sổ đỏ" cho 198 hộ, tương đương 1.282,57 ha và đất tạm giao cho 98 hộ với 449,45 ha; năm 2014 và 2015 có 136 hộ được cấp "sổ đỏ" với 29,3 ha. Thiếu đất sản xuất và việc làm là nguyên nhân khiến nhiều người dân trong xã đổ xô vào rừng khai thác gỗ và phát rừng lấy đất trồng keo trái quy định. Thời gian vừa qua, chính quyền xã đã xử lý hành chính chín hộ dân cải tạo đất rừng trái quy định.
UBND xã Châu Nga và Lâm trường Quỳ Châu đã tổ chức kiểm tra thực tế. Tại tiểu khu 174 và 176 thuộc xã Châu Nga, phát hiện ba điểm khai thác gỗ còn để lại dấu cưa, ván xẻ cũng như những gốc cây lớn còn tươi vết cưa. Ngoài ra, cơ quan chức năng phát hiện hai điểm khai thác gỗ trái phép khác trên khu vực giáp ranh giữa rừng 163 và Lâm trường Quỳ Châu. Các cấp chính quyền, cơ quan chức năng của tỉnh Nghệ An cần sớm có biện pháp chấm dứt tình trạng khai thác rừng trái quy định ở miền tây Nghệ An. (Nhân Dân 14/4) đầu trang(
Lợi dụng chủ trương trồng rừng nhằm chống xói mòn và bồi lấp lòng hồ Núi Một thuộc khu vực giáp ranh thị xã An Nhơn và huyện Vân Canh (tỉnh Bình Định), một số hộ dân ngang nhiên vào chặt phá, lấn chiếm đất trồng rừng sản xuất.
Được sự chấp thuận của Sở NN-PTNT, Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định (Cty KTCTTL Bình Định) tiến hành trồng rừng phòng hộ trên vùng bán ngập nước trong lòng hồ Núi Một (tính từ đường biên cao trình 42 đến đường biên cao trình 46).
Với diện tích khoảng 70ha nhằm mục đích chống xói mòn và bồi lấp lòng hồ. Sau đó, Cty KTCTTL Bình Định hợp đồng với một số người dân thực hiện việc trồng rừng và hiện đã trồng được gần 30ha với phương thức trồng hỗn giao, gồm cây bản địa (sao đen hoặc dầu rái) và cây keo lai. Thế nhưng thực tế, hiện có một số hộ dân trong vùng lợi dụng chủ trương này, lén lút phá rừng tự nhiên ngoài phạm vi cho phép để trồng keo lai.
Qua ghi nhận, tại các khu vực Cà Bông, Hóc Vừng, suối Cây Trâm thuộc hồ Núi Một, nhiều cây rừng có đường kính từ 30- 40cm bị triệt hạ tận gốc. Điều đáng nói, sau khi xâm lấn, những đối tượng phá rừng còn vô tư dùng kẽm gai làm hàng rào phân định ranh giới và thực hiện việc trồng keo.
Theo ông Nguyễn Văn Phú, GĐ Cty TNHH KTCTTL Bình Định, cho biết công ty hợp đồng với 11 hộ dân trong vùng đã trồng được gần 30 ha. Quy cách trồng rừng đảm bảo kỹ thuật của Sở NN-PTNT đưa ra. Tuy nhiên, một số hộ lấn chiếm, phá rừng phòng hộ để trồng rừng sản xuất nằm ngoài nhóm hộ trồng rừng của công ty.
“Hồ Núi Một chỉ cần tích 90 triệu/110 triệu m3 nước là đủ cung ứng nước tưới cho trên 7.000 ha đất sản xuất nông nghiệp các huyện Tây Sơn, thị xã An Nhơn… Nếu như trước đây, hồ Núi Một cần tích nước đến cao trình 46 thì nay chỉ cần tích nước đến cao trình 42. Do đó bị trống từ đường biên cao trình 42 đến đường biên cao trình 46 nên cần trồng rừng để tránh xói lở lòng hồ, nhằm kéo dài tuổi thọ công trình”, ông Phú giải thích.
Trước tình hình trên, Chi cục Kiểm lâm Bình Định đã chỉ đạo cho Hạt Kiểm lâm thị xã An Nhơn và Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh phối hợp tiến hành kiểm tra những vùng rừng đã bị phá thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Núi Một.
Ngay sau đó, UBND huyện Vân Canh (Bình Định) thành lập đoàn công tác liên ngành vào cuộc xác định đối tượng, diện tích và địa điểm vi phạm. Đồng thời tiến hành tổ chức phá bỏ những diện tích đất lâm nghiệp phòng hộ bị lấn chiếm trái phép tại địa bàn xã Canh Liên.
Cụ thể, tại khoảnh 4 thuộc tiểu khu 321 rừng phòng hộ hồ Núi 1, lực lượng liên ngành đã phát hiện, đồng thời phá bỏ diện tích rừng trồng trái phép do ông Lâm Văn Mai, trú tại xã Nhơn Tân (thị xã An Nhơn) lấn chiếm 1,4 ha đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh quản lý rồi làm hàng rào thép gai bảo vệ và đã trồng 0,3 ha keo lai.
Tại khoảnh 5 thuộc tiểu khu 321, bà Đinh Thị Liên (trú tại xã Canh Liên, huyện Vân Canh) đã lấn chiếm đất lâm nghiệp quy hoạch phòng hộ do BQLRPH huyện Vân Canh quản lý với diện tích là 0,3ha. Bà Liên cũng làm hàng rào thép gai bảo vệ và đã trồng keo lai trên diện tích 0,1ha… Ngoài ra, tại khu vực này diện tích trồng thuần loài cây keo lai trên diện tích đất trống thuộc cao trình Hồ Núi Một khoảng 1,2ha.
Liên quan đến vấn đề nan giải trên, ông Đoàn Văn Tây - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh, đề nghị: “Sở NN-PTNT Bình Định cần chỉ đạo các đơn vị quản lý diện tích đất nằm trong cao trình hồ Núi 1, không cho các hộ dân tự ý trồng lấn chiếm, hay chiếm đất sử dụng vào mục đích khác nhằm tránh tình trạng lấn chiếm đất lòng hồ tiếp diễn và lấn chiếm đất, rừng quy hoạch phòng hộ tại lưu vực hồ Núi 1. Chúng tôi cũng đề nghị các cơ quan chức năng sớm có hướng xử lý các đối tượng vi phạm nói trên và giao trả lại diện tích đất cho Ban quản lý rừng quản lý”. (Dân Trí 14/4) đầu trang(
Xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có diện tích tự nhiên 173,75km2, trong đó phần lớn là diện tích rừng đầu nguồn, thuộc vùng đệm Phong Nha – Kẻ Bàng.
Dân số toàn xã hiện có khoảng 6.000 người, chủ yếu sống bằng nghề trồng và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, cuộc sống người dân nơi đây đang bị đe dọa, do nạn phá rừng tự nhiên lấy gỗ, tài nguyên rừng dần cạn kiệt, thiếu nước, thiếu đất sản xuất, sinh hoạt… Nhưng, nỗi lo lớn nhất của người dân nơi đây là nguy cơ lũ quét, sạt lở đất, người dân sẽ không còn đất dung thân…
Một buổi sáng đầu tháng 3/2016, mới sớm tinh mơ, một đoàn người dân thuộc các thôn 8, 9, 10 lặn lội đêm hôm từ Quảng Bình ra Hà Nội, đợi sẵn trước cổng Tòa soạn Báo Người cao tuổi. Hành trang họ mang theo cũng chỉ là những xấp đơn kiến nghị, kêu cứu. Họ muốn báo chí đến tận nơi, nhìn tận mắt, lên tiếng bảo vệ những cánh rừng; giúp họ kiến nghị với cấp có thẩm quyền để được giao đất rừng, vừa sản xuất lo cái ăn, cái mặc; vừa bảo vệ rừng, để rừng thực sự là lá chắn che chở cho cuộc sống an lành của các hộ dân nơi đây…
Đơn các hộ dân trình bày: Vào năm 1993 - 1994, Nhà nước có chủ trương giao đất trống đồi núi trọc và rừng tự nhiên thuộc địa phận xã và thôn cho các hộ dân để thực hiện chương trình 327. Nhà nước đầu tư vốn, hỗ trợ kĩ thuật cho người dân đã được giao đất lâm nghiệp hoặc có thẻ di dân, thông qua Lâm trường Bố Trạch làm “bà đỡ”. Nhân dân phấn khởi tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng tự nhiên và sống với rừng. Đến năm 2004, bỗng dưng Lâm trường Bố Trạch thuê người chặt phá rừng tự nhiên đầu nguồn, khai thác các loại gỗ quý nhiều năm tuổi, có giá trị rồi trồng thay vào đó là cây keo lá tràm, là loại cây kinh tế ngắn ngày.
Đến năm 2014, Lâm trường Bố Trạch tổ chức khai thác cây keo bán cho người mua, mang máy múc đến làm đường chằng chịt để xe lên chở gỗ keo, phá rất nhiều đồi núi… Cuộc sống của người dân trở nên khó khăn do thiên tai, do cạn kiệt nguồn nước, nhiều người đã phải bỏ đi làm xa để lấy kế mưu sinh. Không có đất rừng để làm ăn sinh sống, nhiều người phải nhắm mắt đưa chân, vào rừng chặt gỗ bán lấy tiền sinh sống, mặc dù biết rõ như vậy là vi phạm pháp luật, là góp phần gây nên nguy cơ đe dọa chính mạng sống của mình.
Trước tình trạng ấy, Nhân dân 3 thôn 8, 9, 10 bảo nhau mua giống cây lâu năm về trồng lại trên diện tích rừng Lâm trường Bố Trạch đã khai thác gỗ keo, nhằm mục đích bảo vệ rừng và môi trường chung. Vậy là xảy ra tranh chấp, đỉnh điểm là các ngày 30, 31/12/2014 và những ngày tiếp theo của tháng 1/2015. Tình hình nóng lên, Công an huyện Bố trạch phải can thiệp, một số người dân bị bắt đưa về trụ sở công an… Nhân dân thực sự hoang mang, không biết quy định nào có thể giúp người dân có đất sản xuất, làm như thế nào để sống mà không vi phạm pháp luật, không vướng vòng lao lí?...
Mang theo những tâm tư của người dân, nhóm phóng viên chúng tôi lên đường vào xã Xuân Trạch. Điều cảm nhận đầu tiên, chúng tôi thấy đây là một xã nghèo. Ba thôn 8, 9, 10 nằm men theo những bìa rừng, từ ngoài đi vào trong chỉ có một con đường độc đạo. Tìm hiểu thực tế địa phương được biết, toàn bộ diện tích rừng xã Xuân Trạch nằm trọn trong địa bàn 3 thôn (8, 9, 10).
Người dân ở đây cho biết, đây là khu vực đầu nguồn, với rừng nguyên sinh, đa dạng về chủng loại cây. Đồi núi ở đây có địa hình xung yếu, độ dốc lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân địa phương và nhiều xã phía hạ nguồn sông Gianh. Hơn chục năm trở về trước ở đây rừng cây còn rậm rạp, nhiều muông thú, nhiều cây cổ thụ các loại: lim, táu, sến, de, dổi… có những cây đường kính đến hàng mét, 2 – 3 người ôm không xuể, có gốc cây phải vài chục người ôm.
Thế nhưng, kể từ khi Lâm trường Bố Trạch cho khai thác gỗ ồ ạt để trồng cây keo, từng vạt rừng bị “cạo trắng”, nguy cơ lũ quét là rất cao. Trước đây, năm nào có lũ thì cũng bình thường, vì lũ về chậm và cũng rút chậm, nhưng hiện nay nếu lũ về cuốn rất nhanh, chớp mắt đã thấy lũ cuốn băng tất cả.
Ngoài ra, tình trạng thiếu nước ngày càng trở nên trầm trọng. Tất cả là hậu quả của việc chặt phá rừng nguyên sinh để trồng keo của Lâm trường Bố Trạch, phá vỡ cân bằng sinh thái, núi có độ dốc cao nhưng không có cây lâu năm, nên nước lũ cứ mặc sức cuốn xối xả, cuốn theo sỏi đá, cả những tảng đá hộc bồi lấp diện tích đất mầu, đất nông nghiệp…
Theo chân người thợ rừng, chúng tôi có mặt tại những điểm cao thuộc các địa danh: khu vực lán trại 327 của ông Cao Văn Hoành, khu vực bãi đá, khu vực Hà Bún, khe Ngang, khe Sến, khu vực Mái Trập, Vũng Tròn, Ngã hai, Đá Rùa, động Hà Riềng (gốc lim)… được biết đến trước đây là rừng giàu, nhiều gỗ quý. Chỉ bằng mắt thường, chúng tôi cũng đoán được nhiều vách núi có độ dốc lớn, khoảng 30 – 40 độ, có chỗ dễ đến 50 – 60 độ. Người thợ rừng xác nhận, những nhận định của chúng tôi gần như chính xác.
Vừa dẫn chúng tôi leo núi, qua những vùng cây bị đốn hạ, thay vào đó là những cây keo khẳng khiu, anh vừa kể với giọng chua xót: “Ở đây ngày xưa là rừng giàu, rất nhiều gỗ quý. Nhưng Lâm trường Bố Trạch đã cho khai thác để trồng keo. Với độ dốc như vậy, cây keo không thể ngăn lũ, nên đã có nhiều điểm sạt lở… Tại Tiểu khu 215, Khoảnh 5, rừng tự nhiên bị phá nghiêm trọng”.
Anh lần lượt dẫn chúng tôi đến những hiện trường vẫn còn nguyên dấu tích hậu quả của trận lũ quét khủng khiếp năm 2013. Đó là những diện tích đất trồng mầu và đất nông nghiệp của các hộ dân nhận khoán trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng theo Dự án 327.
Mặc dù cơn lũ qua đi đã lâu, nhưng dấu tích còn lại cũng đủ thấy độ khốc liệt của thiên tai, bãi đất trải dài ven dòng suối khe Ngang giờ ngổn ngang đá hộc, những hòn đá trung bình to cỡ chiếc rá, chiếc rổ, không ít tảng đá cỡ người ôm; những gốc cây cổ thụ đường kính tới mấy mét cũng nằm ngổn ngang trơ trọi, quang cảnh dễ còn khủng khiếp hơn cả chiến tranh. Chỉ vào những gốc cây, người thợ rừng cho biết, khi bị cuốn từ núi xuống, những cây này còn nguyên cả cành, cả lá, người dân kéo nhau ra cưa thân và cành cây mang đi, chỉ còn lại nguyên những gốc cây này là chứng tích.
Leo lên đỉnh núi rừng Đá Bạc, nơi từng là rừng nguyên sinh thuộc khu vực Ngã hai, mặc dù đã được Lâm trường Bố Trạch cho trồng cây keo lá tràm, nhưng cũng không giấu nổi những gốc cây lim, sến, táu, de, dổi có đường kính lớn còn sót lại, do chưa bị phân hủy theo thời gian.
Chỉ vào những cây keo gầy còm, người thợ rừng xót xa: “Lâm trường cho trồng keo trên vùng đất dốc như thế này rất kém hiệu quả, do sườn núi quá dốc, công tác chăm sóc khó khăn, nên cây không thể phát triển được. Tôi cũng không hiểu họ đốn cây rừng nguyên sinh đi trồng keo vào đây nhằm mục đích gì? Để giải ngân tiền dự án, hay nhằm giữ đất?”.
Càng leo lên cao, vào sâu trong rừng, càng thấy quang cảnh hoang tàn. Những bãi khai thác gỗ lậu lần lượt hiện ra trước mắt chúng tôi. Đây là những điểm khai thác còn mới, mạt cưa nhiều chỗ còn tươi nguyên. Những người vào rừng khai thác gỗ hạ cây xuống, xẻ bóc thành khí rồi mới cho trâu kéo ra khỏi rừng, để lại hiện trường là những phiến gỗ vỏ, cành cây ngổn ngang, trơ trọi…
Anh thợ rừng ngao ngán: “Ngày trước, đây là cánh rừng nguyên sinh, nhiều loại gỗ quý, dốc núi cao có địa hình xung yếu. Khoảng hơn chục năm trở về trước, ở đây cây cối rậm rạp, rất nhiều cây to cỡ người ôm, có cây phải chục người ôm mới xuể. Tôi khẳng định, đây là rừng nguyên sinh cần được khoanh nuôi bảo vệ. Thế nhưng Lâm trường phá sạch, lấy cớ dân phá, biến rừng giàu thành rừng nghèo kiệt, để họ dễ bề chuyển đổi mục đích từ rừng phòng hộ đầu nguồn sang rừng sản xuất… Nếu thiên tai, lũ quét kéo đến, đổ ập xuống xóm làng thì dân chúng tôi ở đây lãnh đủ”…
Anh còn dẫn chúng tôi đi nhiều điểm, chỉ cho chúng tôi xem những con đường xẻ ngang, xẻ dọc chằng chịt do Lâm trường Bố Trạch cho máy vào thi công, làm đường để kéo gỗ từ rừng ra ngoài. Anh lắc đầu nói vui mà trong giọng nói vẫn còn đầy chua xót: “Các anh xem, đường ở đây bây giờ còn nhiều hơn đường ở Thủ đô Hà Nội. Người ngoài vào đây mà không ai dẫn, có khi lạc chẳng biết đường ra”. Anh rỉ tai chúng tôi: “Nếu các nhà báo muốn tìm hiểu cảnh “lâm tặc” kéo gỗ ra khỏi rừng và sự bảo kê của lực lượng bảo vệ Lâm trường Bố Trạch, thì chịu khó ở lại đêm sẽ được chứng kiến tất cả”. (Người Cao Tuổi 13/4) đầu trang(
Ngày 13/4, Hạt kiểm lâm huyện Kon Plông (Kon Tum) cho biết: Liên quan đến vụ việc phá rừng trái phép xảy ra tại tiểu khu 502 thuộc lâm phần của Lâm trường Măng La quản lý, hiện cơ quan chức năng đã ra Quyết định khởi tố vụ án về tội “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, chuyển cho cơ quan Công an để tiếp tục điều tra làm rõ.
Thời gian qua, khu vực rừng sản xuất của huyện Kon Plông tiếp giáp với huyện K’bang (Gia Lai) đang bị lâm tặc xâm hại. Hàng chục cây gỗ xoan đào, kháo (nhóm VI) bị lâm tặc cưa hạ, xẻ hộp ngay tại chỗ. Nhóm lâm tặc đang vận chuyển số gỗ khai thác được đến địa điểm tập kết đã bị lực lượng chức năng mật phục bắt giữ.
Tại hiện trường, cơ quan chức năng đã bắt giữ được 15 đối tượng cùng với 153 hộp gỗ xẻ với khối lượng hơn 14,5 m3 cùng một chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi mang biển kiểm soát 81K-5553. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận quê Quảng Bình vào Kon Tum 10 ngày làm thuê cho một người tên Hạnh (ở huyện K’Bang, Gia Lai).
Được biết, khu vực rừng bị khai thác trái phép thuộc rừng sản xuất, nằm giáp ranh giữa hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, nơi đây đang tập trung diện tích rừng có giá trị lớn, có tuyến đường Đông Trường Sơn đi qua, việc vận chuyển gỗ rất thuận lợi. Công tác quản lý, bảo vệ rừng nơi đây đang gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, hai địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện quy chế để bảo vệ những diện tích rừng còn sót lại. (Tin Tức 13/4) đầu trang(
Ông Trần Văn Khoa, Phó Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, cho biết trên sông Sêrêpốk đã có 7 thủy điện đã và đang xây dựng, chưa kể nhà máy Đrang Phốk chực chờ triển khai ngay vùng lõi Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn. Song, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá tác động môi trường từ các dự án này một cách toàn diện.
Theo TS Y Ghi Niê, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam, bất kỳ công trình thủy điện nào cũng tác động đến thiên nhiên. Các dự án thủy điện thường nằm ở vùng núi, khu bảo tồn nên khi xây dựng sẽ mất một phần diện tích rừng, đất sản xuất, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đời sống của người dân trong vùng. Các giá trị văn hóa, lịch sử của khu vực cũng sẽ bị thay đổi hoặc biến mất.
“Để đánh giá đúng hiệu quả của một dự án thủy điện, tất cả yếu tố nêu trên cần được xem xét đầy đủ có phù hợp hay không” - TS Y Ghi Niê nhấn mạnh.
Với dự án thủy điện Đrang Phốk, dự kiến xây dựng vào cuối năm nay ở Đắk Lắk, chuyên gia sinh thái Đào Trọng Hưng, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, cho biết viện đã có nhiều ý kiến phản đối từ lúc nó mới được quy hoạch. Theo ông, dự án này không chỉ tác động trong nước mà còn ảnh hưởng đến vùng 3S - lưu vực các sông Sê Kông, Sê San và Sêrêpốk, một phần của hệ thống sông Mê Kông.
“Khi có bản đánh giá tác động môi trường của dự án này, chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ, đồng thời nêu ý kiến với Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội” - ông Hưng cho biết.
Dự án thủy điện Đrang Phốk gây nhiều lo ngại sẽ tác động ghê gớm vì nhiều người đã chứng kiến hậu quả mà các nhà máy xây dựng trước đó gây ra. Ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc VQG Yok Đôn, cho biết thủy điện Sêrêpốk 4A ở thượng nguồn sông Sêrêpốk hoạt động đã tác động rất lớn đến vườn. Nhà máy đã lấy phần lớn nước sông theo kênh dẫn dài khoảng 15 km đào băng qua 3 xã rồi mới trả về sông khiến khoảng 20 km sông Sêrêpốk cạn kiệt. Không chỉ hệ sinh thái của sông bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà nhiều nhánh suối trong VQG cũng khô cạn.
“Đoạn sông này vốn là nguồn sống của nhiều gia đình hành nghề đánh bắt thủy sản; sau khi bị chặn dòng, khô nước thì không còn cá tôm. Người dân đành vào rừng tìm nguồn sống. Nếu cơ quan chức năng vẫn đồng ý xây dựng thủy điện Đrang Phốk thì VQG Yok Đôn sẽ bị xé toạc” - ông Tùng lo ngại.
Theo ông Lê Tiến Dũng - Phó Chủ tịch UBND xã Krông Na, huyện Buôn Đôn - khu vực dự kiến làm thủy điện Đrang Phốk chỉ cách thủy điện Sêrêpốk 4A chừng 50 km. Nếu xây thêm nhà máy này nữa thì hàng trăm hộ dân sống bằng nghề đánh bắt thủy sản hết đường mưu sinh. Ông Dũng băn khoăn: “Chưa kể lâu nay, hoạt động văn hóa, tinh thần của người dân khu vực gắn với dòng sông Sêrêpốk qua một số nghi lễ. Nếu thủy điện cứ mọc lên thì các nghi lễ này có nguy cơ xóa bỏ”.
Trong khi đó, Sở Công Thương tỉnh Gia Lai cho biết hiện vẫn chờ ý kiến cuối cùng của các ngành liên quan về việc xây dựng thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2 tại khu BTTN Kon Chư Răng ở huyện Kbang. Sau đó, các bên sẽ họp lại rồi mới có ý kiến tham mưu cho UBND tỉnh. Việc đồng ý hay không sẽ do UBND tỉnh Gia Lai quyết định. Dù vậy, nhiều ý kiến đã phản đối quyết liệt việc xây 2 thủy điện này.
Trước ý kiến của ông Trịnh Viết Ty, Giám đốc Khu BTTN Kon Chư Răng, rằng sẽ có nhiều cái lợi khi làm 2 thủy điện nêu trên, gồm cả việc phát triển du lịch, ông Phan Xuân Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai, phản biện: “Thủy điện là thủy điện còn du lịch là du lịch. Bảo vệ rừng mà cứ muốn có đường đi thênh thang như trên quốc lộ thì làm sao mà giữ được tài nguyên!”.
Trao đổi với phóng viên về thông tin chủ đầu tư xin rút lại dự định xây dựng 2 thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2, ông Nguyễn An, Giám đốc Công ty TNHH MTV 30-4 Gia Lai, đã phủ nhận. Ông quả quyết: “Chúng tôi có rút đâu! Sau khi họp với Sở Công Thương, họ đưa ra ý kiến không thuận theo nên chúng tôi mới đề nghị bên tư vấn nghiên cứu kỹ hơn về việc ảnh hưởng đến môi trường. Chừng nào nghiên cứu lại rồi trình ra các sở và tỉnh mà họ không đồng ý thì chúng tôi mới chấp nhận rút lui”.
Ông An cho biết khi lấy ý kiến của các sở, ngành để làm 2 thủy điện này, nhiều đơn vị đã không đồng ý vì đụng đến rừng đặc dụng. Về việc chọn ngay phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTTN Kon Chư Răng làm thủy điện, ông An cho rằng do... bên tư vấn. “Họ thấy chỗ nào được, hiệu quả thì chỉ cho mình. Gia Lai bây giờ thì chỗ đó là nước nhiều nhất” - ông giải thích.
Chúng tôi cũng đề cập việc dư luận cho rằng chủ đầu tư chọn “tử huyệt” khu BTTN làm thủy điện chủ yếu là để lấy gỗ, ông An phân bua: “Gỗ đâu mà gỗ... Hai bên suối chẳng có cây nào to cả, lũ lụt quét hết rồi!”...
Theo ông Phan Xuân Vũ, vừa qua, ông Dương Văn Trang, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, đã thị sát Khu BTTN Kon Chư Răng và VQG Kon Ka Kinh. Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy Gia Lai là phải giữ những tài nguyên quý của khu BTTN và VQG để phục vụ cho mục tiêu bảo tồn, nghiên cứu khoa học.
Ông Bùi Văn Quang, Giám đốc VQG Chư Mom Ray (tỉnh Kon Tum), bày tỏ: “Với quan điểm cá nhân, tôi không bao giờ đồng ý xây thủy điện trong VQG, khu BTTN. Không đời nào lại đổi màu xanh mướt của rừng, tiếng kêu của muông thú lấy màu xám xịt của bê tông thủy điện và tiếng rầm rầm của máy chạy”.
Theo TS Cao Thị Lý, Khoa Nông Lâm Đại học Tây Nguyên, không nên can thiệp vào rừng nguyên sinh, nhất là với khu BTTN. “Nếu can thiệp lợi ích kinh tế vào đấy, khu rừng sẽ bị tác động rất lớn, một phần môi trường sinh thái sẽ bị phá vỡ và phải mất hàng trăm năm mới có thể phục hồi” - bà phân tích. (Người Lao Động 13/4) đầu trang(
TS Đào Trọng Tứ cho rằng việc xây dựng 2 thủy điện trong khu bảo tồn là hết sức nguy hiểm và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Liên quan đến việc UBND tỉnh Gia Lai đang giao Sở Công thương chủ trì khảo sát thực tế và lấy ý kiến các đơn vị liên quan về hai đập thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2 trong khu bảo tồn Kon Chư Răng (huyện Kbang), trao đổi với Đất Việt, TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu, nguyên phó Tổng thư ký Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho rằng nếu các dự án trên được chấp thuận cho thực hiện thì  đây là một việc làm hết sức sai lầm.
Đầu tiên, các công trình này nếu xây dựng trong vườn quốc gia, vùng bảo vệ nghiêm ngặt, dù ở quy mô nào cũng đã vi phạm luật. Luật Đa dạng sinh học 2008, Mục 2, Điều 7: Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng snh học nêu rõ:  2. Xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn.
Với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, chúng ta đang đững trước thách thức lớn trong  bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, vườn quốc gia, các khu bảo tồn  là những khu vực chúng ta đang tìm cách bảo vệ, không thể bị xâm hại dễ dàng như vậy. Từ trước tới nay có đã có nhiều câu chuyện buồn, tranh cãi  liên quan đến việc xây dựng  hoặc định xây dựng thủy điện ở các  vườn quốc gia,  khu bảo tồn thiên nhiên rồi.
“Chẳng hạn như Đắc Lắk có thủy điện Đrăng Phốk dự định xây dựng trong vườn quốc gia York Don, thủy điện Krông Kmak , rồi Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Các thủy điện nhỏ hoặc lớn được xây dựng trên tất cả các sông suối là bài toán đánh đổi lợi ích kinh tế và môi trường như mọi người đều biết. Vậy việc xây dựng các thủy điện trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn chỉ vì lợi ích quá ư nhỏ bé mà  người ta sẵn sàng bỏ qua cả luật pháp, cả lợi ích cho xã hội, cho con cháu sao?.
Không cần phải nói nhiều, việc xây dựng thủy điện hoặc bất cứ loại công trình kinh tế nào trong các khu bảo tồn, vườn quốc gia phải được coi là điều cấm kỵ nghiêm ngặt và không nên đặt ra để xem xét chứ đừng nói là sẽ làm”, TS Tứ nêu dẫn chứng.
Với nhiều năm nghiên cứu về thủy điện, dù chưa biết rõ kế hoạch chi tiết của 2 đập thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2, nhưng vị chuyên gia cho rằng về lâu dài dự án này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái động, thực vật  tại khu bảo tồn.
“Công suất 2 thủy điện trên là hơn  40 MW là rất to rồi, tính ra cũng khoảng  65-70  triệu USD rồi. Việc  mất rừng, ngoài diện tích lấy đi làm đập, làm hồ, xây nhà máy sẽ phải làm đường vào, đường truyền tải, Việc có một công trình lớn trong khu bảo tồ, thì người ta quản lý khu bảo tồn ra sao, quả là câu hỏi khó. Rồi vấn đề khi xây dựng thủy điện ở rừng quốc gia thì nó sẽ tác động rất lớn đến thực vật, động vật ở trong đó, những cái sinh hoạt của các động vật như vậy. Đặc biệt khu bảo tồn Kon Chư Răng hệ động thực vật lại rất phong phú và quý hiếm, như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn.  Nói tóm lại là nên tránh”, TS Tứ nhấn mạnh.
Theo vị chuyên gia, nhiều công trình thủy điện đã bắt buộc phải dừng lại do tác động đến tài nguyên thiên thiên nhiên và môi trường, hiệu quả kinh tế thấp vì thế chúng ta cần phải xem lại việc này.
Cũng chia sẻ về vấn đề này, GS. TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho rằng làm thủy điện thực chất là sự đánh đổi giữa kinh tế với môi trường. Chúng ta hy sinh môi trường để lấy được một số lợi nhuận về kinh tế. Với 2 công trình trong khu bảo tồn Kon Chư Păng, vị chuyên gia cho rằng phải xem xét xem lợi ích về kinh tế nó lớn đến mức như thế nào để, có đáng để hy sinh môi trường ở chỗ này hay không.
“Khu bảo tồn Kon Chư Răng với diện tích khoảng 30.000 ha rất quý về động vật, thực vật vì nó nằm giữa biên giới 2 tỉnh Gia Lai và tỉnh Quảng Ngãi cũ. Khu này nằm toàn bộ ở tỉnh Gia Lai, nằm cạnh sông Côn. Cái giàu có về đa dạng sinh học thì người ta đã tính toán rồi, thành lập khu bảo tồn có cả kiểm lâm để bảo vệ rồi.
Cũng chưa bao giờ có tình trạng chỉ mất có 25 ha rừng tức là chưa bằng 1/1000 của khu bảo tồn mà có thể xây được 2 nhà máy thủy điện cỡ nhỏ. Như vậy cái tỷ lệ này vào loại tiết kiệm nhất so với các nhà máy khác. Các nhà máy khác mất hàng trăm nghìn, có khi nhiều hơn nữa. Nhà máy Thác Bà trên sông Chảy gấp hơn 10 lần trên sông này. Đứng về phía môi trường mà nói thì tổn hại về môi trường là không lớn lắm”, vị chuyên gia nhận định.
Dù khẳng định diện tích rừng phải bỏ ra là ít, nhưng GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung thừa nhận, việc tác động vào cảnh quan, hệ sinh thái của khu bảo tồn sẽ dẫn đến nhiều hậu quả đáng lo ngại.
“Cái hại là đầu tiên phải phá rừng để làm hồ chưa nước, xây đường xá, cơ sở hạ tầng. Dù chỉ tốn 25 ha nhưng mà lâu dài mà nói việc hoạt động của nhà máy thủy điện ở đó sẽ làm cho con thú ở đó không ở được. Tiếng động, sự thay đổi chế độ nước sẽ ảnh hưởng đến lớn đến đời sống không chỉ con thú mà còn người dân gần đó”, vị chuyên gia khẳng định.
Lấy dẫn chứng từ công trình thủy điện An Khê – Kanak được coi là “sai lầm thế kỷ” xây dựng hồi năm 2005, GS.TSKH Lung khẳng định cần phải hết sức thận trọng để đánh giá, xem xét một cách toàn diện, nhiều khía cạnh.
“Thủy điện An Khê – Kanak khi đấy họ xây dựng không dựa vào hội đồng, cấp địa phương họ có quyền hạn vì thế sau hơn 10 năm xây dựng những hậu quả để lại vẫn hết sức nặng nề.
Nếu chủ tịch tỉnh được ban ngành ở địa phương góp ý kiến đánh đổi môi trường ít mà được nhiều lợi ích về kinh tế thì cần phải chỉ đạo mở một hội đồng để đánh giá tác động môi trường. Hội đồng đó sẽ tham mưu là nên hay không nên xây dựng và tỉnh sẽ phải dựa vào ý kiến đó để đưa ra quyết định cuối cùng”, GS.TSKH Lung nhấn mạnh. (Đất Việt 13/4) đầu trang(
Trước đề xuất của Công ty TNHH Một thành viên 30/4 Gia Lai về việc xây dựng hai công trình thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2 trong phân khu bảo tồn nghiêm ngặt của Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, các nhà khoa học cho rằng, điều này có thể vi phạm Luật Đa dạng sinh học.
Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng thuộc địa bàn xã Sơn Lang, huyện K’ Bang tỉnh Gia Lai, có ranh giới giáp ba tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi và Kon Tum, do Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai quản lý. Khu bảo tồn có diện tích rừng tự nhiên 15.900 ha, có chức năng  phòng hộ đầu nguồn cho vùng hạ lưu sông Côn, điều tiết nguồn nước cho thủy điện Vĩnh Sơn, Vĩnh Sơn 2, 3, 4, 5. Đây là nơi có hệ sinh thái rất đa dạng với nhiều loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam.
Theo đề xuất của Công ty TNHH một thành viên 30/4 Gia Lai (phường Thắng Lợi, thành phố Pleiku, Gia Lai) thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2 có tổng công suất 40MW, mức đầu tư 1.200 tỷ đồng. Khi chặn dòng sẽ chiếm dụng 25ha rừng trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trong đó có 6,1 ha rừng đặc dụng.  Vị trí dự kiến đặt công trình thủy điện Suối Say 1, 2 nằm trong phân khu bảo tồn nghiêm ngặt, rừng thuộc nhóm trung bình, sản lượng gỗ ước đạt 200 m3/ha, tiềm năng khai thác đạt 10-15 m3/ha, có nhiều nhóm gỗ từ nhóm III đến nhóm V.
Trước đề xuất xây dựng thủy điện nói trên, nhiều nhà khoa học không đồng tình. Theo PGS. TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), về mặt pháp lý, có nhiều quy định liên quan đến bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên. Nếu thủy điện được xây dựng tại phân khu bảo tồn nghiêm ngặt của Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng sẽ gây ra thay đổi thủy văn, dòng chảy, cắt đứt sinh cảnh trong rừng, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học.
Ngoài ra, theo TS Lê Anh Tuấn, rừng đóng vai trò quan trọng trong lưu giữ, điều tiết nước. Tây Nguyên đang đại hạn, việc bảo vệ rừng càng cấp thiết để điều tiết, lưu giữ nước. “Tôi không ủng hộ việc xây dựng những công trình như Suối Say 1 và Suối Say 2”, TS Lê Anh Tuấn nói.
TS Đào Trọng Tứ, thành viên Mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng, tài nguyên rừng còn lại ít ỏi. Việc đánh đổi rừng nguyên sinh lấy công trình thủy điện công suất 40MW là điều không đáng.
Theo TS Nguyễn Khắc Kinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và Phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, thì  Điều 7, Luật Đa dạng sinh học quy định những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học. Trong đó cấm hành vi xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.
Cũng theo TS Nguyễn Khắc Kinh, với các dự án như này, địa phương sẽ không có quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ là đơn vị thực hiện chức năng này.
Ông Ngô Tiến Dũng, Vụ Bảo tồn Thiên nhiên, Tổng cục Lâm nghiệp cũng cho rằng, để dự án này được phê duyệt phải trải qua rất nhiều quy định pháp luật. Theo ông Dũng “dù dự án mới đang khảo sát xin chủ trương nhưng đứng trên quan điểm bảo tồn, tôi hoàn toàn không đồng ý với việc xây dựng các công trình thủy điện trong khu bảo tồn thiên nhiên như thế này”. (Tiền Phong 14/4) đầu trang(
Nhiều chuyên gia cho rằng, việc xây 2 đập thủy điện trong khu bảo tồn Kon Chư Răng (huyện Kbang, tỉnh Gia Lai) là vi phạm luật và gây nhiều hệ lụy về môi trường và đa dạng sinh học.
Theo GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thì các luật như Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản… đều nêu rõ các khu bảo tồn, rừng quốc gia do Chính phủ thành lập, Quốc hội thông qua thì không được phép xây dựng những công trình như nhà máy thủy điện.
Vì vậy ngoại trừ những trường hợp liên quan tới quốc phòng, an ninh là "bất khả kháng", còn lại cần phải hạn chế việc phá rừng quốc gia hay khu bảo tồn để xây dựng các công trình thủy điện hay đường giao thông, GS Huỳnh cho hay.
Đồng tình với quan điểm này, TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ cho rằng, về mặt pháp lý, khu bảo tồn phải được bảo vệ nghiêm ngặt và không được phép thay đổi cảnh quan, chuyển đổi mục đích sử dụng.
"Tất cả những gì làm thay đổi, gây xáo trộn trong khu bảo tồn là không được phép", TS Tuấn nói.
Trong khi đó, TS Đào Trọng Tứ, Trung tâm Phát triển Bền vững Tài nguyên Nước và Thích nghi với Biến đổi Khí hậu, cho rằng, các khu bảo tồn hầu hết là rừng nguyên sinh và rừng đặc dụng. Việc lập các khu bảo tồn hay rừng quốc gia là để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này. Do đó, việc xây dựng thủy điện trong khu bảo tồn chính là phá rừng, dù ít hay nhiều và điều này là vi phạm luật.
"Không ai lại xông vào rừng cấm để làm thủy điện! Chúng ta đã có những bài học trước đây về các công trình thủy điện ở vườn quốc gia Chư Yang Sin hay Yok Đôn rồi", TS Tứ cho hay.
Trước đó, Công ty TNHH MTV 30-4 Gia Lai trình UBND tỉnh Gia Lai xin chủ trương xây thêm hai đập thủy điện Suối Say 1 và Suối Say 2 nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn Kon Chư Răng.
Theo đó, hai nhà máy thủy điện sẽ đặt trên dòng suối đi qua khu bảo tồn với tổng công suất là 40MW. Qua tính toán sơ bộ, để xây dựng 2 nhà máy thủy điện này, Công ty 30-4 sẽ lấy đi khoảng 25ha rừng, trong đó có 6,1ha là rừng đặc dụng.
Đổi lại, nếu được UBND tỉnh đồng ý cho triển khai, Công ty 30-4 sẽ đầu tư khoảng 1.200 tỉ để xây dựng 2 nhà máy. Và theo dự kiến doanh thu mỗi năm từ 2 nhà máy sẽ đạt 160 tỉ, nộp thuế vào ngân sách địa phương mỗi năm 25 tỉ đồng.
Không chỉ vi phạm luật, các nhà khoa học cũng cho rằng, việc xây dựng 2 nhà máy thủy điện với công suất 40MW giữa khu bảo tồn sẽ để lại nhiều hệ lụy.
GS Đặng Huy Huỳnh, người đầu tiên đề nghị thành lập khu bảo tồn Kon Chư Răng cho biết, đa dạng sinh học trong khu bảo tồn này rất cao với các quần thể vượn, nai, bò tót quý hiếm. Việc xây nhà máy thủy điện sẽ gây ảnh hưởng lớn tới các quần thể này, ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của khu bảo tồn.
Theo GS Huỳnh, nếu như UBND tỉnh Gia Lai đồng ý để Công ty 30-4 xây dựng 2 nhà máy thủy điện tại khu bảo tồn Kon Chư Răng sẽ tạo ra tiền lệ xấu. "Không thể mỗi lần thấy thủy điện hay công trình giao thông có lợi lại phá rừng quốc gia, khu bảo tồn để xây được", GS Huỳnh khẳng định.
Ở góc độ khác, TS Lê Anh Tuấn cho rằng, rừng ở khu vực Tây Nguyên có tác dụng điều hòa nguồn nước đang bị thu hẹp trong những năm gần đây. Hiện nay, nguồn nước ở khu vực này càng lúc càng khô hạn cũng vì lý do này. Do đó, nếu cho xây dựng các công trình thủy điện, tiếp tục phá rừng thì sẽ ảnh hưởng lớn tới nguồn nước của toàn vùng.
Đồng tình với quan điểm này, TS Đào Trọng Tứ cho rằng, rừng quốc gia, khu bảo tồn tại Việt Nam càng ngày càng ít đi. Trong khi đó, tình trạng hạn hán Tây Nguyên ngoài nguyên nhân khí tượng còn là do các hồ chứa của đập thủy điện. Nay lại phá rừng trong khu bảo tồn để xây nhà máy thủy điện là điều không hợp lý chút nào.
"Thủy điện bên ngoài đã làm hư hỏng rừng và gây cạn kiệt, khô hạn cho hạ lưu, nay lại đưa đập thủy điện đặt vào giữa rừng. Hai nhà máy với công suất 40MW không phải là nhỏ, phải làm đường vào, làm đường dây tải điện do đó nói không ảnh hưởng rừng đến làm sao được?", TS Tứ nói.
Ngoài ra, TS Lê Anh Tuấn cho rằng, việc xây dựng các tuyến đường vào khu vực xây dựng 2 nhà máy, đưa người vào xây dựng, làm việc sẽ gây ra tình hình lộn xộn, khó quản lý đồng thời dễ tạo điều kiện cho lâm tặc phá rừng.
"Những người dân ở trong phạm vi khu bảo tồn còn đang tìm cách để đưa ra ở những vùng đệm tránh gây ảnh hưởng. Nay lại đưa người công trình thủy điện vào vùng lõi của rừng. Vậy ban quản lý thủy điện sẽ làm luôn công tác quản lý khu bảo tồn?", TS Tứ đặt vấn đề.
Theo TS Lê Anh Tuấn, ở khu vực Tây Nguyên đã có quá nhiều bài học về thủy điện, trong đó có những công trình được gọi là "sai lầm thế kỷ", do vậy, cần phải cân nhắc thật kỹ càng để xem có nên lặp lại những sai lầm này ở một nơi khác, đặc biệt là trong một khu bảo tồn hay không.
"Một khi đã sai lầm thì khó sửa lắm. Rừng bị phá rồi thì có thể mất cả trăm năm mới có thể khôi phục lại được", TS Tuấn nói. (Vietnamnet 13/4) đầu trang(
Bằng cách nhập hộ khẩu vào địa phương, một số đối tượng đã hợp thức hóa việc mua gom đất rừng phòng hộ tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, sau đó tiến hành khai thác vàng trái phép...
Xã Thần Sa, huyện Võ Nhai là vùng đất có nhiều vàng. Mấy chục năm về trước, dân đào vàng ở các tỉnh phía Bắc đều đã biết tiếng vùng đất này và đổ về đây với hy vọng đổi đời. Giờ, hoạt động khai thác vàng thổ phỉ không còn dễ như trước nữa.
Nhà nước đã thắt chặt quản lý, ngăn chặn việc thất thoát tài nguyên quốc gia nên không có chuyện một nhóm người lạ mặt từ nơi khác đến tự chiếm lấy một vùng đất rừng để đào bới tìm vàng. Đất rừng được phân lô và giao cho những người dân địa phương chăm sóc, quản lý.
Tuy nhiên, sự cám dỗ của vàng đã khiến cho người ta tìm đủ mọi cách để đạt được mục đích. Đất rừng được giao cho ai thì dân đào vàng sẽ tìm mua lại “quyền chăm sóc, bảo vệ” khoảnh rừng đó với giá cao. Luật Bảo vệ rừng không cho phép chuyển nhượng rừng phòng hộ cho người ở nơi khác đến thì họ tìm cách xin nhập khẩu vào địa phương để tiện mua bán, chuyển nhượng.
Năm 2014, phát hiện khu rừng Bãi Mố, xóm Thượng Hạ Kim, xã Thần Sa có mỏ vàng gốc, ông Nguyễn Bá Mạnh là người ở địa phương khác đã tìm đến đặt vấn đề mua lại 3 lô rừng 79, 80, 81 khu Bãi Mố với diện tích xấp xỉ 30ha của chủ rừng Lý Kim Tài, trú tại xóm Thượng Hạ Kim. Sau khi thống nhất được việc mua bán chuyển nhượng quyền chăm sóc bảo vệ những khu rừng trên, tháng 2/2014 ông Mạnh đã làm đơn xin nhập khẩu luôn vào nhà ông Lý Kim Tài.
Tháng 4/2014, ông Tài kí hợp đồng chuyển nhượng gần 30ha đất rừng phòng hộ cho Nguyễn Bá Mạnh với giá 150 triệu đồng? Kể từ đó ông Mạnh trở thành chủ quản lý cả một khu rừng phòng hộ rộng lớn ở Thần Sa trong khi người dân địa phương không ai biết mặt ông Mạnh.
Khi ông Mạnh nhập khẩu và trở thành cư dân thường trú tại thôn Thượng Hạ Kim, ngay cả trưởng thôn Triệu Văn Kim cũng không biết mặt ông Mạnh, không được thông báo về nhân thân của ông là người ở đâu đến. Mãi cho đến khi có vài chục người lạ mặt mang máy móc đến khai thác vàng ở Bãi Mố thì trưởng thôn Kim mới nghe tên công dân mới trong thôn đồng thời cũng là “chủ rừng” mới Nguyễn Bá Mạnh.
Chẳng rõ mục đích mua lại đất rừng phòng hộ của ông Mạnh là để trực tiếp khai thác vàng hay để bán lại quyền quản lý mảnh rừng có vàng này cho các “bưởng” khai thác vàng trái phép khác.
Nhưng chắc chắn ông Mạnh không hề có ý định bảo vệ rừng, bởi sau khi các cấp chính quyền địa phương công nhận ông Mạnh là chủ khu rừng này thì cả xã Thần Sa, cả huyện Võ Nhai trở nên náo loạn với nạn “vàng tặc”.
Nơi đây cũng sớm trở thành địa điểm hội tụ của những tay giang hồ cộm cán, những cán bộ CA bị “thải hồi”. Trong suốt thời gian từ 2014 - 2015, UBND tỉnh Thái Nguyên đã phải nhiều lần ra văn bản yêu cầu chính quyền địa phương giải tỏa việc khai thác vàng trái phép nhưng không có kết quả. Thậm chí, CA tỉnh Thái Nguyên đã phải đau đầu với việc tên Phạm Anh Huy chủ mưu truy sát nhà báo để trả thù vì đã cố gắng điều tra phanh phui vụ việc.
Theo tìm hiểu của báo NNVN thì nhân vật Phạm Anh Huy chính là một đối tác với Nguyễn Bá Mạnh trong “thương vụ” chuyển nhượng rừng phòng hộ.
Cả Huy và Mạnh đều ở xã Tân Khánh, huyện Phú Bình và cùng có thời gian công tác trong ngành CA. Ngày 25/2/2014 cả Huy và Mạnh đồng loạt xin nhập khẩu vào nhà ông Lý Kim Tài nhưng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng lúc ban đầu chỉ do một mình Nguyễn Bá Mạnh đứng tên.
Đến ngày 16/7/2015, tức khoảng hơn 1 năm sau, Mạnh mới có động thái “rút chân”, kí chuyển nhượng toàn bộ 30ha rừng sang tên Phạm Anh Huy.
Trở thành “bưởng” của mỏ vàng Bãi Mố, Huy tỏ ra quyết liệt, hung hãn hơn, sẵn sàng thuê người đâm, chém dằn mặt những người có ý định cản đường. Tất nhiên, sự ngông cuồng đã khiến Huy phải trả giá trước pháp luật nhưng nhìn lại cả quá trình diễn biến của sự việc, theo NNVN, những người như Huy thực chất chỉ là “con tốt” bị thí trên bàn cờ. Đằng sau việc mua gom đất rừng phòng hộ của Huy và Mạnh phải là những thế lực, có tiền và có quyền.
Việc ông Nguyễn Bá Mạnh đang có hộ khẩu tại xã Tân Khánh, huyện Phú Bình, đang làm việc tại CA huyện Phú Bình bỗng dưng lại có thể nhập khẩu vào xóm Thượng Hạ Kim, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai với lời khai nghề nghiệp là “làm ruộng” chắc phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa nơi giới thiệu đến là CA huyện Phú Bình và nơi tiếp nhận là CA huyện Võ Nhai?
Lạ hơn nữa là ông Mạnh vừa kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng với ông Lý Kim Tài vào ngày 8/4/2011 thì ngày 11/4/2014 công dân mới Nguyễn Bá Mạnh đã “mời” được ông Diệp Văn Cao - Trưởng Công an huyện Võ Nhai, ông Hoàng Văn Quyết - Bí thư Đảng ủy xã Thần Sa, ông Lê Văn Tiến - Chủ tịch UBND xã Thần Sa và ông Trần Danh Tuyên - Phó CT HĐND xã Thần Sa cùng có mặt tại UBND xã Thần Sa để “Thông qua đơn chuyển quyền sử dụng đất của ông Mạnh”.
Có thể thấy, trong buổi lễ xem xét đơn chuyển quyền sử dụng đất này, sự xuất hiện của ông Diệp Văn Cao cũng là một biểu lộ quan tâm khá “đặc biệt”.
Câu chuyện Nguyễn Bá Mạnh, Phạm Anh Huy nhập khẩu vào huyện Võ Nhai, mua bán chuyển nhượng rừng để khai thác vàng trái phép còn rất nhiều uẩn khúc cần phải được đưa ra trước công luận. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/4) đầu trang(
Sau khi Báo Lao động Thủ đô có bài “Bắc Giang: Bất thường ở một dự án trọng điểm”, phản ánh về việc trong quá trình thực hiện Dự án sân golf 36 lỗ ở Yên Dũng có nhiều điểm bất thường trong việc bồi thường, GPMB, nhiều cơ quan đã vào cuộc. Mới đây nhất, chính quyền địa phương, Công ty cổ phần QNK đã ngồi lại với người dân để tìm giải pháp…
Phản ánh đến báo Lao động Thủ đô, nhiều thành viên của Trung tâm đầu tư trang trại đồi rừng (thuộc Công ty Nhân Nghĩa) ở xã Tiền Phong, Yên Dũng, Bắc Giang cho biết ngày 20.11.1993, UBND huyện Yên Dũng ra Quyết định số 318/QĐ-UB về việc giao 64,8ha khu vực T3, thôn Bình An, xã Tiền Phong cho Công ty Nhân Nghĩa trồng rừng với thời hạn 50 năm. Ngay sau khi có Quyết định 318, Hạt kiểm lâm huyện Yên Dũng đã phân cho Công ty Nhân Nghĩa 64,8 ha để thực hiện trồng các loại cây như: Rứa, keo, chàm, vải thiều, bạch đàn…
Khi Công ty Nhân Nghĩa đang thực hiện trồng cây trên đất được giao, UBND xã Tiền Phong và lãnh đạo thôn Bình An đã ký hợp đồng với Công ty quản lý công trình đô thị Bắc Giang giao 2ha đất để làm bãi đổ rác thuộc lô B và lô H đang do Công ty Nhân Nghĩa quản lý dẫn đến việc tranh chấp.
Sau khi có ý kiến, Hạt kiểm lâm huyện Yên Dũng đã vào cuộc và ra báo cáo số 11/KT-XM ngày 9.5.1996 kết luận Công ty Nhân Nghĩa đã cuốc đất, san ủi được 5ha (trồng cây được 2,8ha) nên đề nghị UBND huyện Yên Dũng thực hiện đền bù cây trồng đã có của Công ty Nhân Nghĩa khi giao 2ha cho đơn vị khác khai thác sử dụng.
“Không dừng lại ở đó, UBND xã Tiền Phong tiếp tục giao hàng chục ha đất ở khu vực T3 cho nhiều hộ cá nhân khác cho người khác quản lý, sử dụng. Điều lạ nữa là, dù UBND huyện Yên Dũng đã giao đất cho Công ty Nhân Nghĩa từ năm 1993, nhưng năm 1997 lại làm GCNQSDĐ cho các hộ mà UBND huyện giao đất trái thẩm quyền. Chính điều này đã khiến tình hình sử dụng đất đồi rừng khu vực T3 bị chồng chéo, tranh chấp kéo dài”, ông Nguyễn Văn Bảng bức xúc.
Cũng theo ông Bảng, việc giao đất chồng chéo ở khu vực T3 đã được thanh tra Sở địa chính (nay là Sở TNMT) tỉnh Bắc Giang vào cuộc và ra Quyết định số 290/QĐ-CT ngày 27.3.2000 về việc giải quyết đơn khiếu nại của các thành viên Công ty Nhân Nghĩa.
Cụ thể, tại mục 4, Điều 1 của Quyết định 290/QĐ-CT đã chỉ rõ: Yêu cầu UBND huyện Yên Dũng chỉ đạo UBND xã Tiền Phong và các ngành chức năng của huyện tiến hành xác minh, kiểm tra, xác định diện tích đất lâm nghiệp các hộ thực tế đang sử dụng gắn với cây cối lâm lộc đã trồng để lập giao đất cấp GCNQSDĐ theo đúng luật định. Tuy nhiên, UBND huyện Yên Dũng cố tình bỏ ngoài tai chỉ đạo của cấp trên khi không thực hiện theo Quyết định 290/QĐ-CT.
“UBND huyện Yên Dũng không thực hiện theo chỉ đạo của Quyết định 290/QĐ-CT nên Công ty Nhân Nghĩa tiếp tục cuốc đất, san đồi, trồng rừng với diện tích khoảng 30ha. Tuy nhiên, ngày 7.12.2015, chúng tôi vô cùng bất ngờ khi thấy lực lượng chính quyền đến khu đất mà chúng tôi đang trồng cây để chặt cây, san ủi mà không hề có thông báo hay quyết định thu hồi. Sau này hỏi ra mới biết, chính quyền thu hồi phần diện tích này để giao cho Công ty Cổ phần QNK Bắc Giang thực hiện dự án xây dựng sân golf”, ông Đào Văn Nghị, thành viên Công ty Nhân Nghĩa cho biết.
Cũng theo các thành viên của Công ty Nhân Nghĩa, khi thấy việc san ủi, chặt phá cây trái pháp luật, mọi người đã có ý kiến nhưng UBND huyện Yên Dũng không trả lời. Đặc biệt hơn, khi tìm hiểu, mọi người mới biết UBND huyện đã bồi thường hàng tỷ đồng cho những người khác mà thực chất số cây này được Công ty Nhân Nghĩa trồng từ năm 1993 đến nay.
Từ những phản ánh của người dân về những khúc mắc trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban dân vận (Thanh tra chính phủ)… đã yêu cầu UBND tỉnh Bắc Giang xử lý dứt điểm đơn thư. Theo đó, UBND tỉnh Bắc Giang cũng ra nhiều văn bản yêu cầu UBND huyện Yên Dũng vào cuộc làm rõ, cũng như giải quyết việc người dân phản ánh.
Thực hiện chỉ đạo của cấp trên, ngày 22.3.2016, nhiều phòng ban của UBND huyện Yên Dũng và Công ty cổ phần QNK đã làm việc, lắng nghe ý kiến của người dân để tìm ra giải pháp giải quyết việc người dân phản ánh sân golf Yên Dũng đã lấy vào diện tích 64,8 ha . Theo đó, 18 vị trí đã được lập phương án đền bù cho các tập thể và cá nhân với diện tích 144. 758 m2. (Lao Động Thủ Đô 13/4) đầu trang(
Hàng ngày cứ vào tầm chiều, trên tuyến đường liên huyện Ea Súp- Ea H’Leo (tỉnh lộ 19B- Đắk Lắk) xe chở gỗ lậu lại ngang nhiên tung hoành. Đó là những chiếc xe máy đã qua “độ chế”, chở theo những khúc gỗ dài phóng bạt mạng từ hướng Ea Súp về Ea H’Leo.
Theo phản ánh của người dân, chiều nào cũng có những chiếc xe chở gỗ như thế này xuất hiện trên tuyến tỉnh lộ 19B. Mặc dù gỗ rất cồng kềnh và nặng nề nhưng do đã được độ chế nên những chiếc xe máy này phóng rất nhanh.
Xe chở gỗ hầu hết là những chiếc xe “không số” được “tinh giảm” một cách tối đa, chỉ còn trơ lại động cơ và bộ khung. Thường mỗi xe chở được 4 lóng gỗ, nhưng cũng có xe chở đến 12 lóng. Nặng nề, cồng kềnh và lại phóng rất nhanh, những chiếc xe chở gỗ không chỉ đe dọa sự an toàn cho chính người lái mà còn là “hung thần” đối với người đi đường.
Tiếp xúc với chúng tôi, một trong số “tài xế” cho biết, gỗ này họ “tận thu” từ những cây gỗ lớn bị đốn hạ trong rừng. Mỗi người cưa cắt được từ 4-6 lóng/ngày rồi chở về bán với số tiền chừng trên 300 ngàn đồng.
Sau khi về đến xã Ea Wy, Cư Mốt (thuộc huyện Ea H’Leo) họ sẽ bán lại những trụ tiêu này cho các đầu nậu và tiếp tục phóng xe băng băng về nhà. PV Dân Việt đã liên hệ làm việc với Hạt kiểm lâm huyện Ea H’Leo để xác minh, tìm hiểu thêm các thông tin liên quan sự việc trên nhưng lãnh đạo Hạt cho biết đang bận họp, đi công tác nên chưa làm việc được. (Dân Việt 13/4) đầu trang(
Tối 13/4, Phòng Cảnh sát Môi trường (PC49) Công an Hà Tĩnh đã thu giữ một lượng gỗ quý được các đối tượng ngụy trang rất công phu trong xe container chạy từ Lào về Việt Nam tiêu thụ.
Vào khoảng 20h45' ngày 13/4, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về một số đối tượng đang vận chuyển gỗ quý từ xe container BKS 12C – 036.11 tập kết xuống làng nghề mộc Thái Yên (Đức Thọ).
Sau khi nhận tin báo, lãnh đạo Phòng PC49 đã triển khai lực lượng xác minh nguồn tin. Qua kểm tra tại hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện 170 lóng gỗ gõ đỏ (thuộc nhóm 2), có khối lượng khoảng 4m3 không có giấy tờ hợp lệ, được các đối tượng giấu dưới đáy contener, phía trên ngụy trang bằng hàng chục tấn sắn lát khô.
Được biết số gỗ này trên thị trường hiện có giá trị khoảng hơn 200 triệu đồng. Lái xe Phạm Văn Thanh (SN 1987, trú tại xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) khai nhận: Xe ô tô là của Công ty TNHH Quang Minh, có trụ sở tại tỉnh Lạng Sơn, đang vận chuyển thuê sắn lát khô từ Lào về Việt Nam.
Khi bốc sắn tại tỉnh Nam Than (Lào), Phạm Văn Thanh được một người đàn ông tên Phùng (trú tại xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình) thuê chở gỗ từ Thà Khẹc (Lào), qua Cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình) về Đức Thọ với giá 5,5 triệu đồng.
Theo Thiếu tá Đặng Quang Niềm - Phó trưởng Phòng PC 49, thời gian gần đây, các đối tượng thường chia lẻ lâm sản quý, ngụy trang trên các ô tô có trọng tải lớn chở hàng từ Lào về Việt Nam nên rất khó khăn trong công tác kiểm tra, phát hiện. Hiện, vụ việc đang tiếp tục được điều tra làm rõ. (Báo Hà Tĩnh 14/4) đầu trang(
Căn cứ vào các tài liệu, sổ sách thu giữ được, cơ quan tố tụng xác định có hơn 4.000 lái xe, chủ hàng đã nộp “phí” cho băng nhóm của Minh “Sâm” khi vào chợ gỗ Phù Khê (xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) với tổng số tiền hơn 5,3 tỷ đồng. Trong đó, 12 người bị băng nhóm uy hiếp, cưỡng đoạt tiền “bảo kê”.
Viện KSND tỉnh Bắc Ninh vừa ra cáo trạng truy tố 10 bị can trong băng nhóm do Nguyễn Ngọc Minh (SN 1960, tức Minh “Sâm”, Giám đốc Cty TNHH Đại An – trụ sở tại thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) cầm đầu về các tội “cưỡng đoạt tài sản” và “tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Trước đó, sau khi cơ quan CSĐT – Bộ Công an ban hành kết luận điều tra, đề nghị truy tố các bị can, Viện KSND Tối cao đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án tới Viện KSND tỉnh Bắc Ninh để truy tố theo thẩm quyền.
Theo cáo trạng, khoảng 17h30 ngày 13/8/2014, tại chợ gỗ Phù Khê Đông (hay còn gọi là chợ Đồng Bèo), thuộc xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, Cơ quan CSĐT – Bộ Công an bắt quả tang Nguyễn Hữu Hoàng (SN 1991), nhân viên của “Ban quản lý chợ Đồng Bèo” thuộc Cty TNHH Đại An (Cty Đại An) có hành vi cưỡng đoạt 1,2 triệu đồng của anh Đ.B.L, ở huyện Gia Lâm, Hà Nội. Sau đó, cơ quan CSĐT – Bộ Công an đã bóc gỡ đường dây tội phạm do Minh “Sâm” cầm đầu, núp bóng dưới vỏ bọc doanh nhân.
Kết quả điều tra xác định, năm 2010, Cty TNHH Đại An do Minh “Sâm” làm giám đốc được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt dự án đầu tư dự án kinh doanh 2 chợ gỗ Phù Khê Đông (chợ Đồng Bèo) và Phù Khê Thượng, thuộc xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn. Đến tháng 5/2012 các khu chợ này đi vào hoạt động.
Thay vì làm thủ tục đề nghị cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập Ban quản lý chợ, cũng như các nội quy liên quan hoạt động của chợ, Minh “Sâm” đã tự thành lập “Ban quản lý chợ Đồng Bèo” và giao cho con gái là Nguyễn Thu Hằng và con rể Trần Thái Sơn, cùng đám đàn em quản lý, tổ chức thu các loại phí “cắt cổ” đối với các xe gỗ ra vào khu chợ.
Đối với khu chợ Phù Khê Thượng và chợ Tiến Bào, Minh “Sâm” giao cho Nguyễn Thành Hưng (SN 1953, tức Hưng “Sóc”) làm quản lý. Cụ thể, Minh “Sâm” tự ký, ban hành “Quy chế về phí, lệ phí lưu bãi khu vực chợ gỗ Phù Khê”, trong đó quy định xe trọng tải lớn phải nộp phí từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng/ lần lưu bãi; xe ô tô không chở hàng mà đi vào chợ cũng phải nộp 50 nghìn đồng…
Ngoài ra, Minh “Sâm” còn chỉ đạo thuộc hạ bắt buộc các xe ô tô chở gỗ khi vào khu chợ hoặc nhà riêng, kho bãi của các hộ kinh doanh phải vào “Ban quản lý chợ” để hạ gỗ xuống và phải trả phí bốc xếp rồi mới tiếp tục cho vận chuyển về địa điểm tập kết. Nếu các xe chở gỗ không chịu trả phí thì “đàn em” của Minh “Sâm” không cho vào chợ, hoặc đe dọa hành hung, dọa báo công an, kiểm lâm đến kiểm tra lỗi hành chính như: vi phạm giao thông, giấy tờ thủ tục mua bán gỗ, thu giữ xe gỗ. Thậm chí, có trường hợp tố cáo đã bị đàn em của Minh “Sâm” đánh, xịt hơi cay, đốt xe gỗ gây thiệt hại 1 tỷ đồng…
Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, trong đó có 99 quyển phiếu thu phí và các sổ sách liên quan, CQĐT làm rõ từ tháng 6/2012 đến 8/2014, có hơn 4.000 lái xe, chủ gỗ đã nộp các loại “phí” cho băng nhóm này, với tổng số tiền hơn 5,3 tỷ đồng. Trong đó, CQĐT xác định có 12 trường hợp bị các đối tượng cưỡng đoạt 184 triệu đồng khi vận chuyển gỗ qua các khu chợ do Minh “Sâm” quản lý.
Đáng chú ý, kết quả khám xét đối với các bị can, cảnh sát thu giữ trong tủ đồ của bị can Quách Văn Lộc một khẩu súng K54, 1 băng tiếp đạn và 5 viên đạn. Khẩu súng này do Hưng “Sóc” giao cho Lộc cất giữ. Ngoài ra, CQĐT còn thu giữ của Hưng “Sóc” 4 khẩu súng khác và 1 quả lựu đạn, 2 dùi cui điện. Trong quá trình điều tra Hưng đã chết, nên cơ quan CSĐT – Bộ Công an đã quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Hưng về tội “cưỡng đoạt tài sản” và tội “tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. (Tiền Phong 14/4) đầu trang(
Ngày 13-4, Cục Người có công (Bộ LĐ-TB&XH) cho biết Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định cấp bằng Tổ quốc ghi công cho liệt sĩ Vũ Xuân Hải, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 2 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng), đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận tin anh Hải được công nhận liệt sĩ, gia đình và nhiều đồng nghiệp của anh Hải không nén được xúc động.
Đến hôm nay, chị Tô Thị Thoa - vợ anh Hải vẫn hay khóc nghẹn khi nói về anh. Nhận tin anh được công nhận liệt sĩ, mắt của chị cứ nhòa đi không nói nên lời. Con trai anh Hải, Vũ An Ninh, chia sẻ: “Hơn 30 năm làm công tác bảo vệ rừng, bố em luôn đau đáu về rừng. Bố suốt ngày đi làm, không kể ngày đêm. Nhiều khi mẹ và các em nói bố nghỉ việc ở nhà trồng trọt, chăn nuôi, cứ thế này thì cả nhà ai cũng lo. Nhưng bố nói bố yêu rừng”. Ninh nói đến đây khựng lại rồi giọng dần đặc đi: “Bố hy sinh khi mặc trên người bộ trang phục kiểm lâm, bố sống trọn đời cho rừng. Bố em xứng đáng là liệt sĩ…”.
Anh Cao Viết Lư - người đồng nghiệp cùng đi trong chuyến công tác định mệnh với anh Hải nhớ lại khi phát hiện tài xế vận chuyển gỗ trái phép, anh Hải đã nhiều lần ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra nhưng không được nên nói đồng nghiệp đuổi theo để tiếp tục yêu cầu dừng xe. “Đây không phải lần đầu tiên tôi thấy sự quyết liệt và xông xáo ở anh. Nhiều lần anh bị lâm tặc mua chuộc và anh đều dứt khoát khước từ. Không phải riêng tôi mà cả đơn vị và tất cả kiểm lâm từng làm việc chung với anh Hải đều sẽ thấy việc Cục Người có công ghi nhận liệt sĩ cho anh Hải là xứng đáng” - anh Lư chia sẻ.
Anh Đào Xuân Nam, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Đạ Huoai, người từng nhiều năm công tác với anh Hải nói: “Anh Hải được công nhận liệt sĩ là nguồn động lực rất lớn để lực lượng kiểm lâm chúng tôi cố gắng hơn nữa để làm tròn nhiệm vụ”.
Trong xúc động, ông Nguyễn Hữu Thiện, Cục phó Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), người bày tỏ nhiều quan điểm quyết liệt để anh Hải được công nhận là liệt sĩ, chia sẻ: “Khi nghe tin anh Hải được công nhận là liệt sĩ tôi đã rớt nước mắt vì sau nhiều ngày với nhiều cuộc họp, cuối cùng anh cũng được Tổ quốc ghi công. Anh Hải như một biểu tượng của sự hy sinh bảo vệ rừng để anh em cán bộ kiểm lâm càng quyết tâm giữ rừng hơn”.
Theo ông Thiện, cả nước có gần 12.000 cán bộ, chiến sĩ kiểm lâm, họ đều có gia đình, có mẹ già, con nhỏ… Lực lượng kiểm lâm làm nhiệm vụ trong điều kiện hằng ngày phải đối mặt với những nguy hiểm từ những kẻ phá hoại, buôn bán, vận chuyển trái phép gỗ. Tính mạng của cán bộ, chiến sĩ bị đe dọa bất cứ lúc nào. “Anh Hải được công nhận liệt sĩ chính là nguồn động viên to lớn giúp cho các chiến sĩ kiểm lâm yên tâm công tác mà Nhà nước, nhân dân giao phó” - ông Thiện nói.
Một trong những người mạnh mẽ lên tiếng cho rằng cần phải công nhận là liệt sĩ cho anh Hải - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn khẳng định việc công nhận là liệt sĩ là phù hợp với các quy định của Nhà nước và pháp luật, bởi vì anh Vũ Xuân Hải đã trực tiếp ngăn chặn hành vi vận chuyển gỗ trái phép và bị tông chết khi đang làm nhiệm vụ.
“Anh Hải được công nhận liệt sĩ là hoàn toàn xứng đáng với sự hy sinh của anh, là nguồn động viên to lớn, có ý nghĩa sâu sắc thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với sự hy sinh bảo vệ rừng của anh Hải và gia đình”. Ông Tuấn nói thế và cho rằng điều này góp phần rất lớn trong việc động viên anh em kiểm lâm tiếp tục nỗ lực trong công cuộc bảo vệ phát triển rừng, cũng như giữ kỷ cương pháp luật.
Vậy là sau gần một năm bốn tháng kể từ ngày hy sinh (28-12-2014) đến nay anh Vũ Xuân Hải đã được công nhận là liệt sĩ. Anh Hải hy sinh trong trường hợp cùng đồng đội truy đuổi, ngăn chặn một vụ vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn. Trong quá trình truy đuổi, anh Hải và đồng đội đã nhiều lần yêu cầu dừng xe nhưng tài xế không chấp hành nên anh truy đuổi đến cùng và bị tài xế này tông chết. Tài xế này sau đó đã bị khởi tố và tòa tuyên án 16 năm tù.
Tuy nhiên, anh Hải lại không được công nhận là liệt sĩ vì quan điểm khi đó của Cục Người có công cho rằng sự hy sinh của anh Hải không thuộc trường hợp: “Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự” (theo điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định 31/2013 - quy định về các trường hợp người hy sinh được công nhận là liệt sĩ). Lý do được đưa ra là với số lượng 2,668 m3 gỗ xuân thông (thuộc nhóm 6) mà tài xế trên đã chở trái phép thì hành vi này chỉ vi phạm hành chính.
Khi tiếp nhận sự vụ trên, Pháp Luật TP.HCM đã vào cuộc và có nhiều bài phân tích cho rằng việc áp dụng pháp luật để không công nhận liệt sĩ cho anh Hải như quan điểm trên là chưa phù hợp. Sau các bài viết của báo, nhiều chuyên gia, các cơ quan chức năng đã lên tiếng ủng hộ việc cần phải công nhận liệt sĩ cho anh Hải.
Với tinh thần lắng nghe, Cục Người có công và cả Bộ LĐ-TB&XH đã tiếp nhận các phân tích trên. Sau đó các bên liên quan đã có cuộc họp liên tịch để trao đổi về trường hợp hy sinh của anh Hải và cuối cùng đã thống nhất là có căn cứ để công nhận liệt sĩ cho anh.
Ông Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, cho rằng việc công nhận liệt sĩ cho anh Hải là một điều rất đáng mừng. “Cá nhân tôi rất hoan nghênh Cục Người có công, Bộ LĐ-TB&XH đã lắng nghe những ý kiến của các cơ quan nhà nước cũng như người dân để đưa ra một quyết định đúng đắn, hợp tình hợp lý” - ông Hùng nói. (Pháp Luật TP.HCM 14/4; Đời Sống Và Pháp Luật 14/4) đầu trang(
Theo nguồn tin riêng của Dân trí ngày 14/4, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) vừa đề xuất tiêu hủy số ngà voi, sừng tê giác buôn bán, vật chuyển trái phép thời gian qua bằng cách dùng xe lu nghiền nát tại Hoàng Thành Thăng Long hoặc khu vực tương đương tại Hà Nội.
Cụ thể, theo Đề án "Tiêu huỷ ngà voi, sừng tê giác tịch thu từ các hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái pháp luật" mà Bộ NN&PTNT vừa hoàn thành, trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ này cho biết, kế hoạch trên nằm trong tiến tình hướng tới Hội nghị cấp cao Hà Nội về chống buôn bán trái phép các loại động vật, thực vật hoang dã đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, có cả phương án tổ chức, thực hiện các hoạt động tiêu huỷ ngà voi, sừng tê giác-như một dấu mốc tỏ rõ quyết tâm, cam kết của Việt Nam trước hội nghị này.
"Tiêu hủy ngà voi, sừng tê giác bằng cách thức nghiền nát là hành động mang tính chất tượng trưng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc đấu tranh chống lại vấn nạn buôn bán mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã", Bộ NN&PTNT khẳng định.
Cũng theo bản đề án, việc tiêu hủy ngà voi, sừng tê giác bằng giải pháp trên nhằm tạo tiếng vang về truyền thông và cũng nhằm nêu lên thông điệp: Việt Nam không khoan nhượng với buôn bán động vật hoang dã, truyền tải thông điệp đó tới người dân nhằm nâng cao ý thức người tiêu dùng, thay đổi thói quen sử dụng các sản phẩm từ ngà voi và sừng tê giác.
Cụ thể hơn, Bộ NN&PTNT đề xuất thời gian tổ chức tiêu hủy các mẫu vật sừng tê giác, ngà voi vận chuyển, buôn lậu mà các cơ quan hữu quan thu được sẽ diễn ra trong khoảng thời gian tối đa là nửa ngày vào quý III năm 2016. Địa điểm được đề xuất là tại Hoàng Thành Thăng Long hoặc khu vực tương đương tại Hà Nội.
Bộ NN&PTNT cũng đã đề xuất thành lập một nhóm công tác để thống kê, phân loại số lượng, mẫu vật ngà voi, sừng tê giác là tang vật thu được từ các vụ án buôn bán, vận chuyển trái phép hiện đang được lưu giữ tại kho lưu trữ của Cơ quan Dự trữ nhà nước.
Nhóm công tác này sẽ do một lãnh đạo của Bộ Tài chính làm Trưởng nhóm, các Phó trưởng nhóm là lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT. Các thành viên còn lại, có người từ Bộ Công an, có người từ Bộ Tài chính và các ban, ngành liên quan.
Bộ NN&PTNT thậm chí còn lên cả một chương trình cho sự kiện này bao gồm trình diễn nghệ thuật về chủ đề bảo tồn động vật hoang dã, trình chiếu các đoạn phim về vấn nạn săn bắt tê giác và voi trên thế giới, các hoạt động tiêu hủy sừng và ngà voi ở một số quốc gia với số lượng khách mời lên đến 230 người (30 vị khách nước ngoài).
Sau khi tiêu hủy, Bộ NN&PTNT dự kiến cho phép sử dụng một phần bột, vụn, ngà và sừng được giữ lại làm giáo cụ trực quan phục vụ công tác đào tạo, trưng bày ở các bảo tàng. Phần lớn còn lại sẽ đươc chở đi rắc, đổ xuống Sông Hồng hoặc nơi tương tự.
Chương trình bao gồm cả việc mời các nghệ sĩ nổi tiếng thể hiện cam kết không sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã và cuối cùng mới đến màn sử dụng xe nghiền hoặc máy nghiền chuyên dụng để nghiền nát sừng tê, ngà voi trước sự chứng kiến của người xem.
Được biết, ngay sau khi nhận được bản đề án trên của Bộ NN&PTNT, Văn phòng Chính phủ đã có công văn gửi Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Công an đề nghị các Bộ này cho ý kiến về các đề xuất của Bộ NN&PTNT trước ngày 20/4/2016 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cho thực hiện hay không.
Hiện nay, nhiều tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế đã đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia buôn bán, nhập lậu nhiều ngà voi, sừng tê giác nhất thế giới. Riêng năm 2015, đã xảy ra hàng loạt vụ nhập lậu sừng tê giác và ngà voi với số lượng lớn qua các cảng biển tại Đà Nẵng, qua đường hàng không vào Việt Nam với số lượng sừng tê giác và ngà voi bị thu giữ hàng chục tấn.
Trong đó, vụ lớn nhất được phát hiện trong tháng 8/2015, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (Bộ Công an) đã phối hợp với Cục Hải quan và Bộ đội Biên phòng Đà Năng kiểm tra, bắt giữ số hàng khoảng 8 tấn ngà voi, sừng tê giác và vảy tê tê nhập từ Mozambique và Nigieria quá cảnh qua Đài Loan về đến cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. (Dân Trí 14/4) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt.
Từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường ra đời, các chủ rừng là tổ chức nhà nước được Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tăng cường giao khoán, mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng. Diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng gần 131 nghìn ha, chiếm 31,5% diện tích rừng toàn tỉnh.
Đến nay đã có 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình có diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng nằm trong phạm vi lưu vực Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang và Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa đã thành lập Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp huyện, 25 xã có diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường thành lập Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp xã.
Năm 2015, tỉnh đã giải ngân trên 7,5 tỷ đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó chi cho các đối tượng cung ứng dịch vụ là trên 7 tỷ đồng; chi phí quản lý điều hành là trên 488 triệu đồng. Trong năm nay, tỉnh tiếp tục chi trả 4,6 tỷ đồng cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Đây là nguồn tài chính quan trọng kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đặc biệt, đã tháo gỡ về tài chính cho UBND các xã có tiền triển khai công tác bảo vệ rừng, các hộ nhận khoán rừng có thêm thu nhập cải thiện đời sống. Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả.
Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng về cơ bản đã có những tác động nhất định đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nói riêng. Qua đó đã góp phần làm giảm số vụ xâm phạm, phá hoại rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép... Tổng số vụ vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng ngày càng giảm, năm 2015 là 773 vụ, giảm 586 vụ so với năm 2011; trên địa bàn tỉnh không có các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Tuy nhiên, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Theo Chi cục Kiểm lâm, số hộ được chi trả nhiều 6.388 hộ, diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng của các hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún; giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh thấp, bình quân 38.000 đồng/ha/năm, nhiều hộ gia đình, cá nhân có diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng nhỏ, từ 0,07 ha - 0,5 ha, số tiền nhận được trong năm chỉ từ 2.660 đồng đến 19.000 đồng/hộ, do đó chưa thu hút được sự quan tâm của người dân về chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Việc xác định được đối tượng để chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng do cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch trên địa bàn tỉnh trả chưa thực hiện được do nhà máy nước chủ yếu khai thác nước ngầm, việc xác định lưu vực cung ứng dịch vụ môi trường rừng và chủ rừng gặp khó khăn. Thêm vào đó, kinh phí thu từ các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch trên địa bàn tỉnh ít, mức phu bình quân là 250 triệu đồng/năm, trong khi diện tích rừng cung ứng dịch vụ theo lưu vực lớn, khó khăn trong việc chi trả tiền cho đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Việc lập hồ sơ khoán bảo vệ rừng của chủ rừng cho các đối tượng nhận khoán theo Văn bản số 4545/BNN-TCLN ngày 23-12-2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT có tiêu chí xác định trữ lượng rừng là việc đòi hỏi khối lượng công việc lớn mà đơn giá xây dựng hồ sơ thấp đang là cản trở. Hệ thống thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ tỉnh đến cơ sở hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm nên chưa nêu cao trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có tính ưu việt rất lớn. Do vậy, để chính sách đi vào cuộc sống, ngoài tăng cường việc kiểm tra, giám sát, các địa phương cũng kiến nghị việc cần phải có hướng dẫn cụ thể, sự chỉ đạo thường xuyên trực tiếp từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có như vậy, việc triển khai thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng mới đạt hiệu quả, khuyến khích người dân tích cực tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng, hơn thế nữa để chính họ có được cuộc sống ổn định từ nghề rừng. (Báo Tuyên Quang 13/4) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa công bố Quyết định quy hoạch phát triển cây mắcca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020, tiềm năng phát triển đến năm 2030.
Cụ thể, trong giai đoạn đến năm 2020, tổng diện tích trồng cây mắcca ở hai khu vực trên là 9.940ha, trong đó, khu vực trồng tập trung chỉ khoảng 2.350ha (Tây Bắc là 1.800ha, Tây Nguyên 550ha) còn khu vực trồng xen canh với cây cà phê, chè… gần 7.590ha (Tây Bắc 1.650ha, Tây Nguyên trên 5.900ha).
Theo quy hoạch mới công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích cây mắcca đến năm 2020 sẽ chỉ khoảng gần 10.000ha thay vì 200.000ha như kỳ vọng của nhiều chuyên gia và doanh nghiệp, tức chỉ bằng gần 5% mức đề xuất.
Lý giải về việc quy hoạch phát triển cây được mệnh danh là “cây tỷ đô”, là “nữ hoàng” của các loài hạt này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn cho biết: “Mắcca là cây trồng mới ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống, về đánh giá khả năng thích nghi, về kỹ thuật thâm canh, thu hoạch, bảo quản, sơ chế và chế biến… đang hoàn thiện; thị trường tiêu thị sản phẩm cần phát triển từng bước vững chắc để khẳng định về hiệu quả kinh tế, xã hội.
Quy hoạch phát triển mắcca phải dựa trên cơ sở phát huy lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương, phù hợp với định hướng quy hoạch ngành và sản phẩm.”
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cũng cho rằng, việc phát triển cây mắcca phải gắn với việc tạo vùng nguyên liệu tập trung, đầu tư thâm canh, áp dụng khoa học công nghệ từ khâu sản xuất giống đến cây trồng, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.
Mặt khác, cây mắcca là cây dài ngày, mới nhập vào Việt Nam và lại là cây trồng mục đích lấy hạt làm thực phẩm, do vậy phải xem xét từ kết quả khảo nghiệm để khẳng định sự phù hợp điều kiện thổ nhưỡng từng vùng miền trong quá trình sinh trưởng cũng như phát triển của cây.
“Do đó, trước mắt từ nay đến năm 2020 chỉ những vùng được quy hoạch mới trồng và những vùng này phải đảm bảo giống tốt. Còn ở những nơi khác nếu trồng thì rủi ro cao,” Thứ trưởng Tuấn nhấn mạnh.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt diện tích trồng mắcca vừa đưa ra khuyến cáo và định hướng về quy hoạch loại cây trồng này thời gian tới và yêu cầu từ nay đến năm 2020 chỉ trồng khoảng 10.000ha mắcca.
Về tiềm năng đến năm 2030, hai vùng trên có thể trồng khoảng 34.500ha cây mắcca, trong đó, khoảng 7.000ha trồng tập trung, còn lại là trồng đan xen. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích sẽ căn cứ vào kết quả tổng kết, đánh giá hiệu quả cây mắcca giai đoạn của năm 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ phối hợp với các địa phương để định hướng quy mô sản xuất cho từng tỉnh cụ thể phát triển.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đề nghị, các địa phương thực hiện đúng theo quy hoạch và có hướng dẫn cụ thể cho bà con nông dân từ khâu trồng, chăm sóc đến thu hái.
Theo quy hoạch, Bộ cũng khuyến khích người trồng mắcca tập trung đầu tư theo quy trình kỹ thuật tiên tiến, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả cao để cây mắcca phát triển bền vững. Đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi với nông dân đảm bảo quá trình thu mua và tiêu thụ sản phẩm một cách hiệu quả nhất. (Vietnam + 13/4) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong năm 2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn sẽ triển khai trồng gần 700ha rừng, tập trung ở huyện Bạch Thông, Chợ Mới, Ngân Sơn, Ba Bể và Na Rỳ. Công ty phấn đấu hoàn thành kế hoạch này trong tháng 6.
Năm 2016, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn chuẩn bị hơn 5 triệu cây giống  phục vụ trồng rừng trên địa bàn tỉnh. Ngoài các giống cây chính như: Keo lai hom, keo tai tượng, mỡ và thông thì năm nay công ty còn triển khai trồng các giống khác như quế, xoan ta, bồ đề. Để hoàn thành diện tích trồng rừng theo kế hoạch, công ty đã thực hiện 2 hình thức huy động vốn bao gồm: Trồng theo dự án bảo vệ, phát triển rừng của tỉnh và liên kết với các cá nhân hộ gia đình.
Công ty đã cùng đơn vị tư vấn lập hồ sơ thiết kế, chuẩn bị hiện trường và tư vấn ngoại nghiệp . Bắt đầu từ trung tuần tháng 4, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn sẽ triển khai trồng rừng, phấn đấu hoàn thành trong tháng 6. Hiện công ty  được Nhà nước giao quản lý, sử dụng trên 17.000ha đất lâm nghiệp. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 13/4) đầu trang(
Ngày 21-4 tới đây, Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam – Công ty TNHH MTV (VINAFOR) sẽ chào bán 24,3 triệu cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, với mức giá khởi điểm 10.100 đồng/cổ phần, tương ứng với 7% vốn điều lệ của Tổng Công ty sau cổ phần hóa.
Hiện tại, VINAFOR đang quản lý khoảng 923,8 triệu m2 đất tại 12 tỉnh, thành phố trên cả nước như: Hà Nội, Hải Phòng, Bình Định, TPHCM, Gia Lai, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Hòa Bình, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Đồng Nai, Bắc Giang; trong đó đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 1,9 triệu m2; đất nông nghiệp là 92,1 ha.
Bên cạnh việc trồng rừng tại các công ty con và đơn vị trực thuộc, VINAFOR còn hợp tác với nhiều đơn vị trồng rừng địa phương và hàng ngàn hộ dân dưới hình thức ký hợp đồng khoán sử dụng đất, đầu tư vốn trồng rừng và bao tiêu sản phẩm.
Trong 4 năm từ 2012 đến 2015, tổng doanh thu của công ty mẹ - VINAFOR tăng dần đều từ 1.103 tỷ đến 1.467 tỷ đồng. Trong giai đoạn mới từ năm 2016 – 2018, VINAFOR đang cùng với đối tác Sojitz Corporation (Nhật Bản) và JK Paper (Ấn Độ) xem xét thành lập liên doanh sản xuất bột giấy tại Quảng Ngãi có công suất chế biến bột giấy đạt 150.000 tấn sản phẩm/năm, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 3.500 tỷ đồng, trong đó VINAFOR dự kiến góp 12% vốn, tương đương 420 tỷ đồng.
Tổng Công ty dự kiến đạt doanh thu 3.600 tỷ - 4.500 tỷ đồng trong các năm 2016 – 2018, tỷ lệ trả cổ tức 5,5% - 7,1%. (Hải Quan 14/4) đầu trang(
Chiều tối 13/4, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo Chương trình thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) và Lacey đã tổ chức họp báo về phiên đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện VPA/FLEGT lần thứ 6.
Tại buổi họp báo, các bên liên quan đã công bố kết quả phiên đàm phán cấp cao lần thứ 6 về VPA/FLEGT diễn ra tại Hà Nội ngày 12 - 13/4/2016. Theo đó, trong phiên đàm phán thứ 6 này, nhiều tiến triển quan trọng đã đạt được như: Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS) được triển khai không chỉ đối với thị trường EU mà cho cả thị trường nội địa và các thị trường xuất khẩu khác.
Hơn nữa, một điểm khác đạt được là cơ chế cấp phép FLEGT đối với gỗ xuất khẩu sang thị trường EU. Mặt khác, việc xác minh dựa trên rủi ro và kiểm soát gỗ nhập khẩu, trong bối cảnh hai bên đều nhìn nhận về tính phức tạp của việc truy xuất nguồn gốc gỗ tại nước khai thác và trách nhiệm của nhà nhập khẩu trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ.
Hai bên cam kết kết thúc đàm phán vào cuối năm 2016. Trên tinh thần đó, hai bên đã xác định lộ trình thực hiện hiệp định sau khi được ký kết nhằm vận hành hệ thống cấp phép FLEGT trong thời gian sớm nhất.
Việc thực hiện Hiệp định VPA sẽ đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp sẽ được xuất khẩu từ Việt Nam, qua đó góp phần mở rộng thị trường EU và các thị trường xuất khẩu khác, tăng cường sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp và công nghiệp gỗ của Việt Nam. Đồng thời, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc tăng cường thực thi lâm luật và quản trị rừng.
Phiên đàm phán cấp cao lần thứ sáu này tiếp nối 13 phiên họp nhóm chuyên gia kỹ thuật và 5 phiên đàm phán cấp cao được tổ chức tại Hà Nội và Brussels trong thời gian qua, tạo nền tảng cơ sở cho việc kết thúc đàm phán Hiệp định. Phiên đàm phán tiếp theo sẽ được tổ chức tại Brussels vào đầu tháng 7/2016. (Kinh Tế Và Đô Thị 13/4; Chính Phủ 13/4) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Đài Tiếng nói Hoa Kỳ dẫn một phúc trình vừa đệ trình lên Quốc hội Mỹ cho biết, hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông có thể đã hủy hoại các rạn san hô, phá vỡ nguồn cá tại khu vực phụ thuộc rất nhiều vào thủy sản, đồng thời vi phạm luật quốc tế về bảo vệ môi trường.
Báo cáo ngày 12/4 soạn thảo cho Ủy ban đánh giá an ninh kinh tế Mỹ-Trung nêu rõ, các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông đặc biệt đáng quan ngại do quy mô và tốc độ của nó, do tính đa dạng sinh học trong vùng, và do tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa đối với môi trường sinh thái tại khu vực.
Phúc trình cho hay từ cuối năm 2013 tới tháng 10/2015, Trung Quốc đã bồi đắp khoảng 3.000 mẫu Anh (hơn 12 km2) đất đai trên 7 thực thể địa lý mà Bắc Kinh chiếm đóng trái phép ở Trường Sa (thuộc Việt Nam). Trung Quốc đã đắp đất cát lên khoảng 13 km2 diện tích các bãi đá, phá hủy các rạn san hô bên dưới.
Cũng theo phúc trình này, các tàu hút bùn của Bắc Kinh khuấy động bùn cát, gây tổn hại các mô san hô và ngăn cản ánh sáng Mặt trời, nguồn sống của các rạn san hô hình thành nên bãi đá. Cát và sỏi đá do Trung Quốc bồi đắp còn làm cá chết hoặc xua đuổi các sinh vật biển ra khỏi các rạn san hô, gây tổn thương môi trường sống lành mạnh của các loài thủy sản tại các khu vực ven biển.
Trước đó, giới chức Trung Quốc từng ngang ngược và ngụy biện tuyên bố dự án xây dựng đảo đã qua đánh giá khoa học và coi trọng việc bảo vệ môi trường không thua gì tầm quan trọng của các công trình thi công.
Tuy nhiên, Ủy ban đánh giá an ninh kinh tế Mỹ-Trung tố cáo Trung Quốc không công bố đầy đủ thông tin về việc đánh giá tác động môi trường của các kế hoạch bồi đắp đảo nhân tạo trái phép. (Vietnam + 14/4) đầu trang(./.