|
Ngày 13 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Trong phiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội chiều 12-11, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết hiện bộ đang tính toán, kiến nghị không cho triển khai các dự án thủy điện không có quỹ đất trồng rừng.
Theo ông Hoàng, thời gian qua việc trả lại rừng tại các dự án thủy điện chưa đạt yêu cầu mặc dù quy định khi lấy một héc ta rừng làm thủy điện phải trồng bù lại một héc ta. Nguyên nhân là do việc xác định quỹ đất trồng rừng tại các dự án thủy điện không chính xác dẫn đến khi khởi công rồi mới đi tìm đất trồng rừng.
Qua nghiên cứu, các bộ liên quan kiến nghị có thể tính lại cách thức áp dụng, không nhất thiết phải trồng rừng lại tại nơi triển khai dự án mà có thể giao cho địa phương trồng lại ở nơi khác.
Trừ công trình trọng điểm quốc gia, thì bộ kiến nghị có thể dừng tiêu chí trồng rừng bù lại, dự án nào có quỹ đất trồng rừng mới cho triển khai, ông Hoàng nói.
Theo vị lãnh đạo Bộ Công Thương thì hiện nay cả nước có 19 đơn vị có đủ điều kiện kiểm định an toàn đập thủy điện. Trong đó, nhiều đơn vị mới được xem xét công nhận sau năm 2007. Kết quả tính đến tháng 10-2012, Bộ Công Thương mới kiểm định về an toàn được 22/66 đập, còn 44 đập thủy điện chưa được kiểm định.
Liên quan đến 2 dự án thủy điện gây tranh cãi là Đồng Nai 6, Đồng Nai 6A mà đại biểu Trương Văn Vở (Đồng Nai) liên tục nêu câu hỏi chất vấn trong hôm nay, ông Hoàng cho biết dự án đang trong quá trình thẩm định đánh giá tác động môi trường.
"Nếu qua thẩm định, thấy 2 dự án ảnh hưởng xấu đến rừng, hệ sinh thái và môi trường thì bộ sẽ kiến nghị Chính phủ quyết định dừng, không triển khai nữa", ông Hoàng cho biết.
Theo quy hoạch thì cả nước sẽ phát triển 1.110 dự án thủy điện. Trong đó Trung ương quản lý 200 dự án, còn hơn 900 là do các địa phương quyết định cấp phép đầu tư. Đến nay, đã rà soát kiểm tra được 100 dự án và từ nay đến hết năm 2013 sẽ tiếp tục rà soát, để điều chỉnh lại quy hoạch phát triển thủy điện. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/11)đầu trang(
Tiến độ xử lý nợ xấu chậm, kém hiệu quả; dư nợ bất động sản lớn, khó khắc phục; bức xúc vì an toàn thủy điện; xảy ra nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng… Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ ra nhiều điểm yếu của 9 Bộ trưởng hậu chất vấn.
Báo cáo việc thực hiện các Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn trong 2 kỳ họp (thứ 2, thứ 3) của Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc điểm danh cặn kẽ các vấn đề 9 Bộ trưởng được giao thực hiện sau phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội.
Phần công việc của Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát trong năm qua được ghi nhận ở nỗ lực xây dựng nông thôn mới, bảo vệ 3,8 triệu ha đất trồng lúa. Tuy nhiên, vấn đề kiểm soát tiêu chuẩn nhập khẩu nông sản lại là điểm hạn chế, dẫn đến hệ quả hàng nhập tràn lan, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hơn 1.200 tỷ đồng là con số đầu tư cho công tác trồng, bảo vệ rừng năm nay nhưng Phó Thủ tướng thừa nhận, việc ngăn chặn tình trạng phá rừng còn kém hiệu quả. Ngành để xảy ra nhiều vụ phá rừng, chống kiểm lâm nghiêm trọng, gây bức xúc thời gian qua. (Dân Trí 12/11)đầu trang(
Tại cuộc họp của Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, nhiều đại biểu đã đề nghị Chính phủ đóng cửa rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc.
Hiện vẫn chưa có quyết định cụ thể, còn nhiều ý kiến trái chiều. NNVN xin giới thiệu bài viết của ông Nguyễn Đức Sơn, Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông (Nghệ An), một trong những đơn vị quản lý và bảo vệ diện tích rừng tự nhiên khá lớn.
Tổng diện tích rừng tự nhiên cả nước khoảng gần 10,3 triệu ha, tổng trữ lượng gỗ là 862 triệu m3. Trong đó, có 4,3 triệu ha rừng tự nhiên sản xuất với trữ lượng 350 triệu m3 gỗ, nhưng diện tích rừng giàu, có trữ lượng gỗ cao trên 250m3/ha chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi rừng nghèo, rừng non phục hồi và rừng hỗn giao chiếm tới 80%.
Giai đoạn trước đây, do công tác quản lý lỏng lẻo, hàng loạt các liên hiệp và các lâm trường quốc doanh ra đời, rừng tự nhiên bị khai thác lớn. Sản lượng khai thác bình quân lên đến 1 triệu m3/năm. Từ năm 2000, công tác quản lý khai thác gỗ được siết chặt, phân cấp cụ thể và giảm mạnh số lượng chủ rừng, nên lượng gỗ khai thác chỉ từ 200.000-300.000 m3/năm. Năm 2012, sản lượng này chỉ đạt khoảng 110.000 m3.
Trước thực trạng đáng báo động đối với diện tích rừng tự nhiên, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã thực hiện một loạt các chỉ đạo cần thiết nhằm chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ rừng. Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và PTNT khẩn trương xây dựng một Đề án riêng đưa ra những phương án phù hợp về khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2013-2020.
Tại cuộc họp của Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 tổ chức mới đây, nhiều đại biểu đã đề ra ý kiến đề nghị Chính phủ đóng cửa rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc. Nếu phương án này được thực hiện ngay thì đồng nghĩa với việc giải thể các công ty lâm nghiệp hiện đang khai thác gỗ rừng tự nhiên.
Với tư cách là người đứng đầu Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông, một đơn vị đang quản lý và bảo vệ 7.500 ha rừng tự nhiên tôi xin có mấy ý kiến như sau:
- Thứ nhất, hiện nay việc bảo vệ rừng tự nhiên là một nhiệm vụ cam go, nóng bỏng. Các công ty lâm nghệp phải bỏ ra một nguồn kinh phí rất lớn để trả lương cho lực lượng bảo vệ, nguồn kinh phí này được lấy từ lợi nhuận thông qua khai thác gỗ rừng tự nhiên. Hàng năm nhà nước chỉ hỗ trợ tiền quản lý bảo vệ rừng phòng hộ với mức 200.000 đ/ha, nhưng thực tế nguồn ngân sách này không đủ mà chỉ đảm bảo 50-70%.
Còn rừng tự nhiên và rừng sản xuất thì chủ rừng phải tự tìm nguồn để bảo vệ, không có nguồn nào khác ngoài việc khai thác gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch được nhà nước giao hàng năm. Vì vậy nếu đóng cửa rừng tự nhiên lúc này, các Cty lâm nghiệp sẽ không có tiền bảo vệ thì rừng tự nhiên bị mất là chắc chắn, công sức từ bao nhiêu năm nay của các công ty lâm nghiệp lại uổng phí vậy sao? Hệ lụy từ việc mất rừng là khó tránh khỏi.
- Thứ hai, giả sử đóng cửa rừng tự nhiên và Nhà nước sẽ cấp kinh phí để quản lý bảo vệ thì liệu trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, nguồn ngân sách hạn hẹp, nhất là các tỉnh nghèo ngân sách liệu có kham nổi không? Nếu không lo nổi nguồn ngân sách để quản lý bảo vệ rừng đồng nghĩa với việc bỏ mặc rừng tự nhiên và rừng sản xuất, không ai quản lý bảo vệ cả thì việc mất rừng là điều tất yếu.
- Thứ ba, khi thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị và Quyết định 200/CP của Chính phủ, một số lâm trường đã chuyển sang công ty lâm nghiệp, hoạt động theo phương án đã được phê duyệt. Trong đó có một số công ty tổ chức khai thác, chế biến gỗ khai thác từ rừng tự nhiên.
Nếu đóng cửa rừng tự nhiên đồng nghĩa với việc giải thể, phá sản các công ty lâm nghiệp bởi lẽ: Phương án mới về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, tổ chức lại các công ty lâm nghiệp chưa ra đời. Loại bỏ phương án cũ thì các công ty lâm nghiệp xoay xở thế nào với các vấn đề như lực lượng lao động, nhà máy, phương tiện phục vụ... Đây là bài toán khó nhất, nên chăng đóng cửa rừng tự nhiên phải có lộ trình để nhà nước sắp xếp ổn thỏa các công ty lâm nghiệp, nhằm tạo điều kiện cho công ty tiếp tục đứng vững và tổ chức lại hợp lý.
- Thứ tư, đóng cửa rừng tự nhiên có nghĩa là nguồn cung cấp gỗ nội địa từ rừng tự nhiên theo đường chính thống sẽ chấm dứt. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng gỗ rừng tự nhiên của nhà nước và nhân dân còn rất lớn. Gỗ nhập khẩu, gỗ rừng trồng chưa thể thay thế gỗ rừng tự nhiên của nội địa được.
Một hậu quả khôn lường là chắc chắn sẽ tăng nguồn gỗ lậu, vì đã có “cầu” chắc chắn sẽ có “cung”. Giá cả các mặt hàng gỗ sẽ cao, hấp dẫn cho các hoạt động buôn gỗ, khai thác gỗ lậu. Cuộc chiến bảo vệ rừng sẽ nóng bỏng hơn bao giờ hết, trong khi đó các công ty lâm nghiệp chao đảo do chưa tổ chức lại sản xuất, không có tiền quản lý bảo vệ rừng... (Nông Nghiệp Việt Nam 12/11)đầu trang(
UBND tỉnh Điện Biên đã ban hành Văn bản số 2067 chỉ đạo các cơ quan chức năng, các sở, ngành liên quan tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát tình trạng buôn bán, săn bắt, nuôi nhốt động vật hoang dã trên địa toàn tỉnh.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan chuyên môn tăng cường tuyên truyền, vận động, giáo dục để nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã tới từng người dân, thôn, bản, khu dân cư.
Tổ chức quản lý gây nuôi, phát triển động vật hoang dã theo đúng các quy định tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; các Nghị định của Chính phủ về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng, cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoanh dã nguy cấp, quý hiếm. Các ngành chức năng cương quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm và cán bộ kiểm lâm bảo kê, tiếp tay vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã theo đúng các quy định của pháp luật.
Theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải cung cấp tài liệu, hướng dẫn kỹ thuật cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về kỹ thuật nhân giống, gây nuôi, phát triển các loài động vật hoang dã trong môi trường có kiểm soát và phải tuân thủ các quy định của nhà nước về gây nuôi, kinh doanh hợp pháp. Việc kinh doanh, vận chuyển, nuôi nhốt, chế biến động vật hoang dã và sản phẩm từ động vật hoang dã có nguồn gốc gây nuôi phải có đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp theo quy định của pháp luật và phải đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải tổ chức cứu hộ các cá thể động vật hoang dã đã bị xử lý tịch thu, đảm bảo động vật hoang dã khoẻ mạnh trước khi thả về môi trường tự nhiên. Động vật hoang dã đã bị xử lý tịch thu nhưng không thể thả về môi trường tự nhiên phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Cùng với đó, Công an tỉnh cần chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra, kiểm soát các quán ăn, nhà hàng, các địa điểm kinh doanh…để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định về mua, bán, vận chuyển, gây nuôi, chế biến trái phép động vật hoang dã theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện công tác quản lý nhà nước theo sự phân công, phân cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không để xảy ra tình trạng mua bán trái phép, săn bắt động vật hoang dã và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, sắn bắt động vật hoang dã trên địa bàn theo thẩm quyền. (Tài Nguyên&Môi Trường 13/11)đầu trang(
UBND tỉnh vừa có Chỉ thị số 18/CT-UBND về việc tăng cường kiểm tra, xử lý khai thác, vận chuyển, kinh doanh, tiêu thụ cây lâm sản khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng không có giấy phép.
Chỉ thị này xuất phát từ thực tế thời gian qua xuất hiện tình trạng xảy ra nhiều vụ việc khai thác, vận chuyển, mua bán, kinh doanh một số cây, lá rừng có nguồn gốc khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng tập trung, trang trại để bán cho tư thương người nước ngoài. Điều này đã làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, khai thác tận thu cạn kiệt gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng tới an ninh kinh tế, sản xuất nông nghiệp...
Ví dụ điển hình nhất là thời gian gần đây, ở các huyện khu vực miền Đông như Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà rộ lên tình trạng nhiều người dân vào rừng hái lá cây chua ka (nhiều nơi gọi là cu ca) - một loại cây tự nhiên trong rừng - để bán cho các tiểu thương người nước ngoài. Do bán được giá (tươi từ 3.000 đến 5.000 đồng/kg; khô có giá 20.000 đồng/kg), nên nhiều người tranh thủ lúc nông nhàn đã vào rừng để hái loại lá này. Chỉ có điều những người đi hái và bán loại lá này cũng không biết người mua nó để làm gì. Và chính các cơ quan chuyên môn, trong đó có cơ sở y dược cổ truyền cũng không xác định được loại lá này có tác dụng như thế nào và ý nghĩa dược liệu gì.
Nói tóm lại, các cơ quan chức năng và mọi người đều không biết mục đích các tư thương nước ngoài thu mua loại lá cây rừng này để làm gì. Ở đây có thể do trình độ của chúng ta chưa hiểu được giá trị của nó, song cũng không loại trừ việc thu mua loại lá rừng này vì một mục đích nào đó.
Vì vậy, việc tăng cường quản lý và ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán, kinh doanh một số cây rừng có nguồn gốc khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng tập trung, trang trại để bán cho tư thương người nước ngoài, theo tinh thần của Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 6-11 của UBND tỉnh là hết sức cần thiết và cấp bách. Nếu không ngăn chặn kịp thời chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, gây thiệt hại về kinh tế, tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt còn làm ảnh hưởng đến an ninh kinh tế.
Điều cần quan tâm nữa là khi xuất hiện các hiện tượng này, các cơ quan chuyên môn phải khẩn trương điều tra, nghiên cứu để có những kết luận chính xác về tác dụng, ý nghĩa của các loại cây rừng này. Trên cơ sở đó tuyên truyền, giáo dục để cho mọi người dân hiểu biết, tích cực tham gia bảo vệ tài nguyên rừng, không tiếp tay cho các hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái... (Báo Quảng Ninh 11/11)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 11/11, Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà đã di dời thành công hai cá thể voọc cái từ khu vực gần đảo Đồng Công tới khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Cát Bà.
Voọc được bắt tại một trong các hang ngủ của chúng và bị bắn thuốc mê bởi một bác sỹ thú y nhiều kinh nghiệm chuyên về động vật hoang dã đã phải leo lên cửa hang cao 15m. Sau đó chúng được chuyển từ hang xuống bằng một cái giỏ cho một bác sỹ kiểm tra sức khỏe của chúng, thu thập mẫu để kiểm tra và lắp thiết bị GPS đeo cổ để giám sát chúng trong tương lai.
Tiếp đó chúng được chuyển sang chiếc thuyền nhỏ để băng qua một đầm nuôi tôm tới khu vực của xuồng cao tốc rồi chuyển chúng qua khu vực biển xung quanh đảo tới khu vực thả. Ở đó, chúng được thả vào một chiếc lồng lớn đã được dựng sẵn.
Sức khỏe của voọc được giám sát bởi các bác sỹ thú y và khi thấy nó trong điều kiện sức khỏe tốt thì quyết định thả ngay lập tức.
Thiết bị GPS đeo cổ sẽ cho phép các nhà khoa học thu thập thông tin về sự di chuyển, thói quen và sự sinh sản của voọc trong khoảng 2 năm.
Những cá thể voọc này đã bị cô lập tại đảo Đồng Công trong nhiều năm khi mà rừng ngập mặn được sử dụng như một chiếc cầu nối tự nhiên tới đảo chính bị phá hủy để làm đầm nuôi tôm. Từ khi không còn cá thể đực nào trên đảo này chúng đã không thể sinh sản. Hy vọng rằng hiện tại chúng đang ở khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nơi có các cá thể đực sinh sống thì chúng có thể bắt đầu sinh sản.
Kế hoạch này đã được thiết lập trong gần 10 năm và được chấp nhận bởi các cơ quan chức năng Việt Nam và năm 2010.
Di dời động vật là một công cụ phổ biến được sử dụng trong bảo tồn để bảo vệ các loài động vật nguy cấp nghiêm trọng khỏi sự tuyệt chủng. Mặc dù chúng có thể khó khăn, phức tạp và tốn kém thỉnh thoảng nó còn là giải pháp duy nhất. (VietnamPlus.vn 13/11)đầu trang(
Về Vĩnh Thành (Yên Thành) những ngày cuối Thu, trên dọc những triền đồi bát ngát một màu xanh của rừng thông, rừng keo lai.
Bà Nguyễn Thị Lân - Trưởng xóm Cao Sơn, cho biết: Thôn Cao Sơn được giao nhiệm vụ bảo vệ trên 47 ha rừng theo Dự án “Bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng” do các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Ngay trong năm 2007 triển khai dự án, xóm đã xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng do cộng đồng tham gia xây dựng và biểu quyết nhất trí trong các cuộc họp.
Đồng thời tuyên truyền, vận động bà con trong xóm thực hiện đầy đủ các quy định bảo vệ, phát triển rừng. Thành lập 3 tổ quản lý bảo vệ rừng dưới sự chỉ đạo của Ban quản lý rừng cộng đồng. Các tổ thường xuyên thay nhau tuần tra, quản lý bảo vệ diện tích rừng được phân công.
Bà con nghiêm túc thực hiện những việc theo quy ước: Không khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép, không săn bắn, đặt bẫy thú rừng, không dùng lửa tuỳ tiện trong rừng để đốt ong lấy mật, đốt cây lấy than. Và khuyến khích những việc nên làm như, trồng các loại cây bản địa, lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng. Khuyến khích các thành viên trong cộng đồng phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm quy ước.
Bên cạnh đó, người bảo vệ rừng được chia sẻ lợi ích cộng đồng như: Được thôn xác nhận đơn xin khai thác gỗ làm nhà, gỗ gia dụng theo kế hoạch quy định của cộng đồng. Chia sẻ lợi ích chung của cộng đồng như trong tổng lợi ích của cộng đồng thu từ rừng (chủ yếu khai thác nhựa thông) được phân bổ tỷ lệ sau. Trích nạp ngân sách xã 3%, trích ban quản lý thôn 10%, tổ quản lý bảo vệ rừng 25%, quỹ bảo vệ phát triển rừng, phòng chữa, cháy rừng cấp thôn 20%, chia đều cho các thành viên trong thôn 42%.
Xóm tổ chức cuộc họp cộng đồng định kỳ 1 tháng/lần để tổng hợp, đánh giá tình hình quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng, quản lý và sử dụng quỹ của cộng đồng, xét khen thưởng và kiểm điểm các vi phạm quy ước, điều chỉnh bổ sung quy ước.
Bà Lân tâm sự thêm: Trước đây, Cao Sơn thường xảy ra tình trạng chặt phá rừng, đốt than… tuy nhiên, từ khi thực hiện dự án bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng thì ý thức bảo vệ rừng của người dân tăng lên rất cao. Diện tích rừng được bảo vệ tốt, theo định kỳ mọi người dân đều tham gia xử lý thực bì để PCCR, khi xảy ra cháy rừng thì tất cả người dân đều tham gia tích cực chữa cháy. Đặc biệt Cao Sơn còn trồng mới được hàng chục ha rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Như hộ ông Trần Hữu Khầm trồng được trên 6 ha rừng keo lai, tràm đã cho thu hoạch, dự tính gần 400 triệu đồng.
Ông Thái Huy Hoàng-Chủ tịch UBND xã Vĩnh Thành cho biết thêm: Vĩnh Thành có trên 172 ha rừng, trong đó 47 ha được bảo vệ theo Dự án phát triển rừng cộng đồng từ năm 2007-2008. Tuy dự án đã hết nhưng Vĩnh Thành vẫn duy trình “tinh thần” giữ rừng cộng đồng trên toàn bộ diện tích rừng của toàn xã. Cụ thể như xóm Cao Sơn vẫn duy trì các tổ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, nguồn kinh phí chi trả được trích ra từ khai thác bán nhựa thông.
Xã luôn củng cố các tổ đội PCCR với lực lượng nòng cốt là dân quân tự vệ với nhiều người dân tham gia ở các xóm. Nhờ vậy, khi xảy ra cháy rừng Vĩnh Thành đều xử lý kịp thời không để gây hậu quả lớn. Xã giao rừng cho từng cá nhân, nhóm hộ tham gia khoanh nuôi, bảo vệ để thực sự rừng là của dân. (Báo Nghệ An 13/11)đầu trang(
Trong tiết trời se lạnh của những ngày cuối thu, chúng tôi cùng ông Tilo Nadler, Trưởng Hội động vật học Frankfurt đưa những cá thể voọc về Vườn quốc gia Cúc Phương ở Nho Quan (Ninh Bình) sau một thời gian chúng được chăm sóc tận tình, chu đáo.
Những năm gần đây, Việt Nam được coi là một trong những điểm tập kết, trung chuyển và tiêu thụ động vật hoang dã trái phép của châu Á. Thực trạng này ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học, một số loài động vật quý hiếm phải đối diện với nguy cơ tuyệt chủng. Theo thống kê của cơ quan chức năng, có 147 loài động vật hoang dã trên cạn, 40 loại côn trùng, 90 loại bướm và hàng trăm loại thực vật đang bị khai thác, buôn bán ở Việt Nam. Đặc biệt, có ít nhất 37 loại động vật hoang dã đang bị tận diệt.
Voọc mông trắng là loài thú linh trưởng được xếp hạng cực kỳ nguy cấp, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Loài thú linh trưởng này cũng nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp hàng đầu thế giới được đánh giá từ năm 2000. Ước tính, tổng số cá thể voọc mông trắng hiện có trong tự nhiên là 200 cá thể, được phân bố rải rác, chia cắt thành 14-15 tiểu quần thể.
Dọc đường lên khu bảo tồn ngập nước Vân Long, ông Tilo Nadler kể cho chúng tôi nghe về dự án tái hòa nhập loài voọc mông trắng ở Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long. Dự án được sự tài trợ của Hội động vật học Frankfurt - FZS (Cộng hòa liên bang Đức), thực hiện từ tháng 5/2011 đến hết tháng 12/2013.
Theo nghiên cứu của tổ chức Frankfurt, voọc mông trắng được luật pháp Việt Nam bảo vệ nhưng việc thực thi còn chưa tốt, do vậy chúng đang chịu nhiều áp lực tiêu cực như săn bắn, buôn bán động vật hoang dã. Gần đây nhất là vụ một quân nhân ở Tây Nguyên giết voọc, sau đó chụp ảnh đưa lên trang mạng xã hội facebook khiến dư luận phẫn nộ. Hiện quân nhân trên đã bị cơ quan chức năng di lý về TP. Đà Nẵng để tiếp tục xử lý.
Hiện, hầu hết các tiểu quần thể voọc sống rải rác trong các cánh rừng tự nhiên ngoài vùng được bảo vệ, do vậy sự sống của chúng lại càng mong manh. Một vài tiểu quần thể mặc dù nằm trong khu vực được bảo vệ nhưng cũng không có được điều kiện an toàn. Nghiên cứu theo dõi một vài tiểu quần thể cho thấy, sự suy giảm nhanh số lượng của chúng ngoài tự nhiên từ năm 2008 đến 2010.
Một quần thể khá lớn voọc mông trắng đang sinh sống tại Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long và quần thể này đã được FZS phát hiện từ năm 1993. Từ năm 2001, UBND tỉnh Ninh Bình có quyết định công nhận nơi đây là khu bảo tồn thiên nhiên.
Năm 1991, cán bộ Rừng quốc gia Cúc Phương ngỡ ngàng đón tiếp một vị khách to lớn, mặt đỏ, râu đen, nói năng bộc trực, hào sảng. Ông chính là ThS. Tilo Nadler. Tilo đến Việt Nam với khát vọng bảo vệ loài voọc mông trắng từng được xem bị tuyệt chủng. Trong nhiều năm, người ta chỉ biết đến chúng qua hình ảnh in trên những con tem cổ ố vàng của một nhà sưu tầm.
Dẫu rằng voọc đang là loài thú cho nhiều kẻ hám lợi săn bắn, nhưng với Tilo, sau hơn 20 năm gắn bó với chúng, đã chứng minh tình yêu vô bờ của ông dành cho loài linh trưởng này, nhiều người còn ví chúng là những "đứa con" của ông.
Từ những ngày đầu gian khó đến nay, FZS đã hợp tác với Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình và Ban quản lý Khu bảo tồn đất ngập nước (KBTĐNN) Vân Long bảo vệ những cánh rừng tại đây. FZS đã hỗ trợ xây dựng trạm bảo vệ rừng, đóng cột mốc ranh giới, biển báo, chi phụ cấp, dụng cụ và bảo hộ cho nhân viên bảo vệ (NVBV) là người dân địa phương; đồng thời tham gia truy quét, tập huấn cho nhân viên, cán bộ lâm nghiệp và công an các xã đóng trong khu vực....
Do đó, KBTĐNN đã ngăn chặn được nạn săn bắt linh trưởng trái phép. Năm 2001, đã xóa sổ việc chăn thả dê trên núi đá vôi trên dãy Đồng Quyển để voọc mông trắng không còn phải tranh giành thức ăn, do vậy số lượng của quần thể này sớm ổn định và đến nay đang phát triển khá tốt.
Được biết, KBTĐNN Vân Long đang là nơi có số lượng loài voọc mông trắng lớn nhất trong tự nhiên ở Việt Nam. Tính từ khi thành lập (năm 2001) đến nay, số lượng voọc mông trắng tại KBT đã tăng gấp đôi, tổng số cá thể hiện có khoảng 100 con, chiếm 50% tổng số loài này ngoài tự nhiên trên thế giới.
Tuy nhiên, KBTĐNN Vân Long đang bị tách rời thành ba phân khu bởi đường giao thông và đê điều. Các tuyến đường giao thông và hệ thống đê điều này không thực sự làm cho các phân khu bị cô lập nhưng đã làm giảm sự giao lưu giữa các cá thể và đa dạng gen di truyền của các tiểu quần thể trong KBT.
Suốt 2 thập kỷ gắn bó với đại ngàn, sống giữa "đàn con" sách đỏ, đến nay Tito vẫn mang trong mình nỗi trăn trở làm sao duy trì và phát triển đàn voọc ở Việt Nam. Trong khi đó, thỉnh thoảng các phương tiện truyền thông đại chúng lại đưa tin về vụ giết, săn bắn, vận chuyển… voọc khiến những người làm công tác bảo tồn không khỏi đau lòng. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/11)đầu trang(
Chiều 12/11, UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy - bảo vệ rừng mùa khô năm 2011 – 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013.
Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có hơn 9.870 ha rừng có nguy cơ cháy cao, tập trung chủ yếu ở huyện Tam Đảo và thị xã Phúc Yên. Xác định công tác phòng cháy chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ và phát triển rừng, thời gian qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng, các huyện, thị có rừng và chủ rừng, phối hợp với các cơ quan liên quan, chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Với vai trò là cơ quan thường trực, Chi cục kiểm lâm tỉnh cùng các địa phương, chủ rừng đã xác định, phân vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy cao; tuyên truyền, vận động, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, từng bước góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, sắn sàng tham gia chữa cháy rừng khi được huy động.
Từ đầu mùa khô, Chi cục đã tiến hành dự báo cháy rừng theo tuần, thông tin kịp thời trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh và gửi dự báo đến Ban chỉ huy tìm kiếm cứu nạn và phòng cháy chữa cháy rừng - bảo vệ rừng các huyện, thị xã, các xã, thị trấn và các chủ rừng. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra tình hình phòng chống cháy rừng ở cơ sở, các chủ rừng; qua đó kịp thời phát hiện những tồn tại cần khắc phục, chủ động đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn cấp cơ sở và chủ rừng thực hiện tốt hơn công tác phòng chống cháy rừng.
Ban chỉ huy tìm kiếm cứu nạn và phòng cháy chữa cháy rừng - bảo vệ rừng các cấp và chủ rừng luôn duy trì trực ban, tuần tra canh gác lửa rừng tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao; đặc biệt trong các ngày có dự báo, đảm bảo thường trực 24/24h. Khi có đám cháy xảy ra, các địa phương, chủ rừng, kiểm lâm và các lực lượng khi được huy động đã hỗ trợ kịp thời chữa cháy, không để lan rộng và hạn chế thiệt hại.
Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng được triển khai tích cực và áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp cụ thể nhưng trong thời gian từ cuối tháng 12/2011 đến đầu năm 2012, tình hình cháy rừng vẫn xảy ra; tổng số vụ cháy rừng mùa khô 2011-2012 là 4 vụ, diện tích cháy là 86ha, diện tích thiệt hại là 33,4ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 6 vụ nhưng diện tích cháy và diện tích thiệt hại tăng. Trong năm 2012, toàn tỉnh xảy ra 3 vụ vi phạm hành chính về phòng cháy chữa cháy rừng; trong đó thị xã Phúc Yên xảy ra 2 vụ, tổng số tiền phạt là 6,5 triệu đồng; huyện Lập Thạch 1 vụ, tổng số tiền phạt là 8 triệu đồng.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc, tồn tại đối với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng như: Mức chi bồi dưỡng cho người tham gia chữa cháy rừng thấp, dẫn đến khó khăn trong việc huy động người tham gia chữa cháy; trách nhiệm của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân chưa cao, thiếu khả năng quản lý bảo vệ rừng, một số chủ rừng chưa chấp hành nghiêm các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng, chế độ tuần tra, thường trực, canh gác còn lỏng lẻo; việc giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vấn đề giải quyết tranh chấp giữa các chủ rừng.
Mặt khác, cần làm rõ thủ phạm gây ra cháy rừng, việc xử lý trách nhiệm chủ rừng chưa kiên quyết; tình trạng mua bán đất lâm nghiệp còn diễn ra, trong khi chủ rừng mới hầu hết không phải là người địa phương nên việc quản lý bảo vệ rừng chưa chặt chẽ… (Theo Vinhphuc.gov.vn 13/11)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hàng chục cuộc tìm kiếm nhưng tới nay các nhà khoa học vẫn chưa phát hiện được dấu tích nào chứng minh được sự tồn tại của bò xám trong Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn.
Như khẳng định của PGS Hà Đình Đức, mục tiêu chính của cuộc khảo sát về bò xám đã không mang lại kết quả. Các nhà khoa học không tìm thấy dấu vết của loài này ngoài tự nhiên. Những thông tin thu được sau hành trình xuyên rừng Yok Đôn chỉ được ghi nhận qua các cuộc phỏng vấn với các quan chức và nhân dân địa phương.
Ông Đức cho biết, một vài người dân Bản Đôn và Buôn Drang Phok quả quyết đã nhìn thấy bò xám 3 lần vào năm 1989. Già làng Ma Đinh, dân tộc Gia Rai ở Bản Đôn là quản tượng cho đoàn khảo sát nói rằng, ông đã trông thấy một đàn bò xám vào khoảng 20 - 30 năm trước đây, nhưng giờ rất hiếm. Một quản tượng khác là Ma Tiên cũng từng trông thấy một con bò xám đực ở suối Dak Nor vào tháng 3/1989. Cả hai đều khẳng định, về mùa mưa, bò rừng Banteng, bò tót và voi thường di cư từ Campuchia về phía rừng Việt Nam. Họ đã nhìn thấy rất nhiều dấu chân để lại trên đất đã khô ở gần Dak Na và Dak Nor.
Một thợ săn có tiếng tại Buôn Ma Thuột tên là A Manha cũng khẳng định, có nghe các già làng kể lại, năm 1977 ông Buka đã bắn hạ một con Bò xám gần VQG Yok Đôn. Một số bộ đội biên phòng cho hay, vào tháng 3/1989 đã từng giáp mặt bốn con Bò xám ở đồi Yangke cách biên giới Việt Nam - Campuchia 6km.
Ông Đức cho biết, chỉ hai trong số hàng trăm dấu chân của trâu bò rừng được kiểm tra trong các đợt khảo sát là phù hợp với dấu chân bò xám. Tuy nhiên, cả hai dấu vết đều đã cũ trên đất bùn khô cứng và bị méo mó dưới cái nắng như thiêu như đốt. Những dấu chân còn lại rõ ràng là của bò rừng, bò tót và trâu rừng.
Nhiều năm sau, các cuộc khảo sát của chuyên gia quốc tế vẫn tiếp tục diễn ra. Các chuyên gia quốc tế tiếp tục kết hợp với các nhà khoa học Việt Nam và Lào tiến hành khảo sát Kouprey ở tỉnh Champassak, Nam Lào. Nhân dân bản Xót cho biết, trước đó họ đã gặp một đàn 6 con Kouprey (?). Đoàn dự định đến khu vực biên giới Campuchia và Thái Lan, nhưng theo cảnh báo của những chuyên gia tìm kiếm và khai thác dầu khí lục địa Anh thì khu vực này cực kỳ nguy hiểm.
Dưới lòng đất có thể còn hàng vạn quả mìn bị chôn vùi. Chính đoàn khảo sát của họ cũng từng vấp phải mìn khi đang tiến hành ngoài thực địa. Họ cũng đưa cho đoàn xem tập ảnh các loại mìn được tìm thấy ở đây. Vì vậy công việc lại bị dừng lại. Khi trở về, các thành viên trong đoàn đều bị sốt rét.
Năm 1994, Nate Thayer nguyên phóng viên một tờ báo của Mỹ dẫn đầu một toán 26 người lính và nhà báo vào vùng hẻo lánh Đông Bắc Campuchia để tìm kiếm. Qua hai tuần khảo sát thiên nhiên với 150km, nhưng đoàn cũng không tìm được dấu vết Kouprey. Một vài người sớm bị kiệt sức vì trời nóng, những người khác biểu hiện mụ mị bởi sự lạm dụng thuốc phiện và rượu. Thayer đã chi 30.000 USD cho chuyến khảo sát nhưng cũng không thu được kết quả gì và chỉ dự đoán có thể còn một đàn khoảng vài con Kouprey tồn tại ở một vùng nhỏ Mondulkiri!.
Ông nói: "Tôi không một chút nghi ngờ sự tồn tại của Kouprey, các nhà nghiên cứu cứ đến đó mà ngồi chờ!". Cũng thời gian này, cơ quan nghiên cứu bảo vệ động vật hoang dã Campuchia và một vài nhà tài trợ phi chính phủ cũng nghiên cứu ở vùng này bằng phương pháp viễn thám. Toàn vùng khảo sát rộng 5.238km2 với 34,7 giờ bay nhưng không thu được kết quả gì.
Sau suốt một thời gian dài tìm kiếm gốc tích loài bò xám không kết quả, Men Soriyun, phó giám đốc cơ quan Bảo vệ Động vật hoang dã đã phải chua chát kết luận: "Kouprey không giống như bất cứ chủng quần nuôi nhân giống nào còn tồn tại, và loài này có thể đã hoàn toàn tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Rất nhiều cuộc tìm kiếm được tiến hành nhưng kết quả đạt được chỉ là những hy vọng vô cùng mong manh.
Kể từ sau khi phát hiện ra loài Kouprey, chúng cứ như muốn trêu ngươi con người mỗi khi muốn tiếp cận để tìm hiểu về nó. Vùng rừng núi ở ngã ba Đông Dương - biên giới ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia là nơi sinh sống của Kouprey. Tuy nhiên, những cuộc săn tìm chúng luôn gặp trắc trở và đầy nguy hiểm bởi chiến tranh triền miên cùng những bất ngờ đầy bí ẩn".
Thậm chí đến khi tình hình chính trị Đông Dương đã ổn định, công cuộc bảo tồn động vật hoang dã đã được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm hơn, nhưng sự tìm kiếm Kouprey vẫn luôn xa vời. Điều các nhà khoa học mong đợi là được một lần mặt đối mặt với loài bò xám đặc biệt này, nhưng vẫn chưa một lần thành hiện thực. Suốt 50 năm qua chưa có một nhà khoa học nào thực sự trông thấy Kouprey ngoài thiên nhiên!
Cũng vào năm 2004, giới khoa học xôn xao khi có thông tin một con bò xám đã xuất hiện ở bản Bạch Đàn, xã Kim Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ (Quảng Bình). Tuy nhiên, PGS Hà Đình Đức phủ nhận thông tin này. Theo như khẳng định của Chi cục kiểm lâm Quảng Bình, con vật trên thường xuất hiện khi trời chạng vạng tối, khoảng 18h, ra ăn cỏ với đàn bò của dân và bỏ đi sau khoảng 2-3 tiếng. Con bò này to cao hơn nhiều so với bò thường, nặng khoảng 2 tấn và rất dữ.
Nó đã làm chết hai con bò đực của người dân, nên bị người dân đánh bẫy, song thoát được, nên hiện đi lại cà nhắc. Các cán bộ kiểm lâm không thu được hình ảnh của nó nhưng đã ghi lại được dấu chân và thông báo lên Cục kiểm lâm quốc gia. Tuy nhiên, đại diện Cục kiểm lâm cho biết, chưa hề nhận được thông tin nào về một con bò quý hiếm tìm thấy tại Quảng Bình.
PGS Hà Đình Đức cũng cho biết, 99% thông tin về bò xám xuất hiện tại Quảng Bình là sai. "Từ thập niên 80, bò xám đã không còn nhìn thấy trên lãnh thổ Việt Nam và nó gần như bị coi là tuyệt chủng trên toàn thế giới. Bò xám được các chuyên gia thế giới đánh giá là động vật hoang dã quý hiếm số một. Do vậy, nếu thực sự tìm thấy một cá thể của loài này tại Việt Nam, đó sẽ là một thông tin "động trời" và sẽ thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học trên thế giới", ông Đức khẳng định.
Theo PGS Đức, địa bàn phân bố của bò xám chủ yếu ở biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào, không thể có ở Quảng Bình bởi vì sinh cảnh rừng ở đây không thích hợp với đời sống của bò xám. Lần trước, cũng từng có thông tin tìm thấy bò xám ở Ea Ca (Đăk Lăk), nhưng sau đó các nhà khoa học xác nhận lại rằng đó chỉ là một con bò tót. Từng nhiều năm nghiên cứu về bò xám, vị chuyên gia này cho rằng, có thể người dân Quảng Bình đã nhầm bò xám với con bò rừng Banteng, vì bò rừng Banteng bình thường có màu lông vàng, nhưng con đực khi về già màu lông cũng trở nên xám. (Người Đưa Tin 13/11)đầu trang(
Hiện nay, qua thống kê diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh Ðồng Nai có 181.569 ha.
Trong giai đoạn 2011-2020, tỉnh dự kiến trồng mới 4.599 ha; trồng rừng thay thế, nâng chất lượng 7.464 ha; trồng lại rừng sau khai thác 10.631 ha; khoanh nuôi phục hồi 2.443,8 ha; đầu tư xây dựng 30 chòi canh; 27 hồ đập chứa nước chữa cháy rừng; đồng thời duy trì tỷ lệ che phủ rừng đạt 29,76%... với tổng vốn đầu tư cho công tác quy hoạch, phát triển rừng gần 934 tỷ đồng. (Nhân Dân 10/11)đầu trang(
“Không đồng tình”, “cần phải đưa ra khỏi quy hoạch thủy điện”, “không thể nói là không có thông tin”... là ý kiến của các đại biểu Quốc hội về dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A cũng như phát ngôn gần đây của chủ đầu tư dự án này.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền - Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng): Chúng tôi đã trao đổi với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Phước và không đồng tình làm thủy điện Đồng Nai 6, 6A bởi dự án có liên quan đến rừng, trong khi đó theo quy định của Chính phủ thì rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là cấm. Nếu làm hai thủy điện sẽ ảnh hưởng. Quan điểm của chúng tôi thống nhất là không đồng tình làm thủy điện này.
Điều tôi quan ngại nhất là các nhà chuyên môn đã nói kỹ về những ảnh hưởng không có lợi nếu làm thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Các ý kiến này đưa ra những cơ sở khoa học, chủ đầu tư có bác được đâu, còn họ nói một số người chưa có đầy đủ thông tin là cách nói của họ thôi. Họ cứ nói không ảnh hưởng nhưng làm thủy điện là ảnh hưởng môi trường ghê gớm. Tôi đề nghị chủ đầu tư họp với đoàn đại biểu Quốc hội những tỉnh liên quan để tiếp tục trao đổi. Còn chúng tôi phản đối cũng phải có cơ cở.
Đại biểu Quốc hội Trương Văn Vở - Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai: Trước kỳ họp thứ 4 này, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai đã gửi văn bản đến Thủ tướng và các bộ ngành liên quan đề nghị xem xét cơ sở pháp lý của dự án này, nhưng tới giờ phút này (ngày 11-11) vẫn chưa nhận được thông tin chính thức việc xử lý dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A như thế nào. Đó là việc mà đoàn đại biểu cũng như cá nhân tôi băn khoăn.
Để thực hiện trách nhiệm của mình trước cử tri, tại phiên chất vấn của kỳ họp này tôi sẽ tiếp tục quan tâm làm rõ quan điểm của các bộ, ngành liên quan trong việc xem xét, rà soát quy hoạch thủy điện đối với dự án 6 và 6A. Quan điểm của tôi là cần đưa dự án ra khỏi quy hoạch bởi dự án có liên quan đến sử dụng đất rừng đặc dụng. Thủ tướng cũng đã quyết định công nhận vườn quốc gia Cát Tiên là di tích quốc gia đặc biệt.
Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, nếu được tiếp tục kiến nghị Chính phủ phê duyệt, triển khai đầu tư là không chấp hành đúng nghị quyết của Quốc hội (về tiêu chí dự án, công trình quan trọng quốc gia phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư). Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, các cơ quan chức năng của tỉnh đã lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn... qua các cuộc hội thảo, chứ sao nói không có thông tin được.
Luật sư Trương Trọng Nghhĩa (đại biểu Quốc hội TP.HCM: Tôi rất bức xúc về tác động môi trường của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Đại biểu Quốc hội của một số tỉnh, thành liên quan đã có nhiều ý kiến đề nghị xem xét cẩn trọng về hai dự án này.
Tại kỳ họp thứ 4, tôi có gửi chất vấn đến Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đề nghị cho biết: quan điểm của bộ trưởng trước những dư luận và ý kiến không đồng tình của nhiều nhà khoa học, cử tri, đại biểu Quốc hội và UBND tỉnh Đồng Nai trong việc triển khai hai dự án trên, đâu là những trở ngại của việc đình chỉ hai dự án này?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã trả lời, cho biết báo cáo đánh giá tác động môi trường về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đang chờ Bộ Tài nguyên và môi trường thẩm định, hiện chưa xác định thời gian thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường này. Tuy nhiên, quan điểm của Bộ Công thương là qua thẩm định, nếu xét thấy ảnh hưởng không có lợi về môi trường sinh thái, về xã hội... thì không nên triển khai thực hiện dự án.
Như vậy, quả bóng hiện đang ở trong chân của Bộ Tài nguyên và môi trường. Việc tiếp theo, tôi sẽ tiếp tục chất vấn bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường.
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Đinh Quốc Thái: Đồng Nai luôn tôn trọng các doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư vào địa bàn. Tuy nhiên khi chúng tôi tôn trọng anh, mời anh đến để phản biện, tranh luận mà anh nói chưa nhận được từ ý kiến của chúng tôi là một cách nói không đúng đắn.
Tỉnh đã yêu cầu các cơ quan chuyên môn tìm hiểu, thẩm tra và nhiều lần tổ chức lắng nghe ý kiến các nhà khoa học để “chốt” về dự án này. Đa số đều không đồng thuận. Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai cũng đã đối thoại, bày tỏ quan điểm với ông Bùi Pháp tại Sở Tài nguyên - môi trường Đồng Nai.
Tôi - với tư cách chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai - đã ký văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ nói lên những tâm tư của người dân cũng như lo lắng của chính quyền về hai dự án trên. Như vậy tôi phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về ý kiến của mình thì tại sao chủ đầu tư nói rằng Đồng Nai thiếu thông tin?! (Tuổi Trẻ 12/11)đầu trang(
Từ năm 2009, nhà nước đã tổ chức rà soát lại các dự án thủy điện trên toàn quốc và đã loại bỏ 100 dự án, tại sao hai dự án thủy điện Đồng Nai 6,6A lại quên rà soát? Đây có phải là sự lãng quên vô tình?
Đó là câu hỏi chất vấn của ĐB Trương Văn Vở (Đồng Nai) đối với Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng.
Bỡi lẽ, ĐB Trương Văn Vở dẫn chứng, dự án này liên quan đến 140 hecta rừng đặc dụng, Vườn Quốc gia Cát Tiên; Nhà nước có nhiều văn bản quy định về việc bảo vệ rừng đặc dụng; khu vực triển khai dự án đã được nhà nước công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt; UNESCO đang xem xét, công nhận VQG Cát Tiên là Di sản Thiên nhiên thế giới... nên cử tri yêu cầu dừng dự án để bảo vệ rừng.
"Đề nghị Bộ Trưởng đưa ra giải pháp xử lý cụ thể đối với dự án này, có loại bỏ ra khỏi quy hoạch hay không?" ông Vở hỏi.
Trả lời câu hỏi này, Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết đây là dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ và đang trong quá trình báo cáo đánh giá tác động môi trường và do Bộ Tài nguyên - Môi trường xem xét.
"Đây là một dự án có quy mô lớn, tạo ra khoảng 1 tỉ KW điện/năm và có tác động nhất định đến môi trường. Sau khi Bộ Tài nguyên Môi trường thẩm định ĐTM dự án trên, qua đó cho thấy hiệu quả kinh tế là một phần, nhưng tác động môi trường lớn thì sẽ báo cáo với chính phủ, quốc hội để có quyết định cụ thể. Quan điểm của chúng tôi là nếu theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường cho thấy dự án này ảnh hưởng lớn đến môi trường thì yêu cầu dừng lại ngay", Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng khẳng định.
Liên quan đến vấn đề đời sống cho người dân vùng thủy điện, đại biểu Nguyễn Thái Học (Phú Yên) đặt câu hỏi về chính sách cho đồng bào tái định cư sau khi xây dựng thủy điện vì thực tế hiện nay, đời sống người dân ở đây rất khó khăn, hộ nghèo chiếm đa số.
Theo Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng, việc bảo đảm đời sống cho người dân vùng thủy điện thời gian qua đã từng bước được khắc phụ những tồn tại, dần nâng cao đời sống người dân. Cụ thể, việc tái định cư cho người dân được giao cho các địa phương tổ chức sát sao, bảo đảm người dân ổn định cuộc sống.
Bên cạnh những cơ chế, chính sách chung về đền bù, cần có đặt thù đối với thủy điện. Ví dụ, đối với hộ dân có 30% đất bị thu hồi thì cũng có thể xem xét để được di dân đến khu vực mới.
Ngoài ra, nhà nước còn tổ chức giải quyết việc làm cho bà con phù hợp với trình độ dân trí, khả năng lao động...
Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Thái Học, trả lời của Bộ Trưởng chưa thật rõ, hơn nữa chỉ đề cập đến các dự án thủy điện đang triển khai. Trong khi đó, đời sống của người dân ở các thủy điện đã xây dựng nhiều năm đang rất khó khăn, chủ yếu là đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số, họ mong muốn nhà nước khảo sát đánh giá lại để có chính sách phù hợp hơn.
Trả lời vấn đề này, Bộ Trưởng thừa nhận đó là một tồn tại thực tế, thậm chí, có nhiều vùng, dân điện đi qua trên đầu nhưng người dân ở đó vẫn chưa có điện để sử dụng.
Vì vậy, sắp tới, Bộ sẽ tổ chức phối hợp với chính quyền địa phương đi nghe ngóng, khảo sát lại các dự án di dân tái định cư, từ đó xây dựng chính sách đặt thù hơn để nâng cao cuộc sống người dân.
Chính sách của nhà nước đối với việc di dân, tái định cư cho dân vùng thủy điện là làm sao để người dân có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Tuy nhiên, theo biểu Tô Văn Tám (Kon Tum), thực tế nhiều khu tái định cư không đáp ứng được tiêu chí trên, người dân thiếu đất sản xuất hoặc đất sản xuất rất xấu, tồn đọng nhiều chất hóa học độc hại.
Bộ Trưởng thừa nhận đó là một thực tế, người dân bị ảnh hưởng thủy điện, sau khi di dân đến nơi ở mới do không có điều kiện sống phù hợp phải quay lại nơi ở cũ hoặc tái nghèo. Vấn đề này, Bộ đã có cuộc phối hợp với các ngành đi kiểm tra một số thủy điện do Tập Đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư. Qua đó, chỉ đạo EVN có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. (Người Lao Động 12/11) đầu trang(
Đoàn Đại biểu Quốc hội Tỉnh Đồng Nai cho biết, tại phiên chất vấn Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng diễn ra hôm nay tại Quốc hội, dự kiến sẽ chất vấn cơ sở pháp lý của dự án thủy điện Đồng Nai 6&6A đang gây nhiều tranh cãi.
Tại cuộc họp báo do chủ đầu tư dự án tổ chức ở Hà Nội ngày 8-11, đại diện cấp cao nhất của chủ đầu tư nói tỉnh Đồng Nai chưa có đủ thông tin về dự án? Ông Trần Văn Tư, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tỉnh Đồng Nai: Họ nói thì đấy là quyền của họ. Chúng tôi ý thức được trách nhiệm lời nói của mình. Tất nhiên không có khả năng để biết hết mọi thứ. Nhưng không thể nói chúng tôi thiếu thông tin. Chúng tôi không đoán mò.
Ông Trương Văn Vở, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Tỉnh Đồng Nai cho rằng: Trước kỳ họp này của Quốc hội, chúng tôi có nghe ý kiến các bên về kết quả các hội thảo về báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án.
Theo đó, chủ đầu tư có đề nghị cho dự để cung cấp thêm thông tin. Trước sự có mặt của đại diện chủ đầu tư là ông Bùi Pháp (Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai), Giám đốc VQG Cát Tiên nói: “Được giao quản lý VQG, tôi phải có trách nhiệm bảo vệ rừng trước Chính phủ và trước Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Một cây rừng cũng phải bảo vệ”.
Tôi hỏi lại anh Bùi Pháp “Anh có nghe thấy Giám đốc VQG nói một cây rừng cũng phải bảo vệ không?”. “Anh có biết phải xin phép Quốc hội nếu cắt 50 ha rừng vùng lõi để chuyển đổi mục đích sử dụng không?”. Anh Pháp nói không biết và bảo Bộ cho phép làm thì chúng tôi làm. Tôi xin nhắc lại điều này để đại diện chủ đầu tư nhớ.
Nhưng Luật Đa dạng Sinh học năm 2008 và Nghị quyết 49 của Quốc hội năm 2010 chỉ cấm xây dựng hoặc yêu cầu xin chủ trương xây dựng trong vùng lõi VQG. Chứ các văn bản ấy không cấm hoặc không yêu cầu xin chủ trương nghiên cứu. Mà bây giờ họ đang giai đoạn nghiên cứu? Trả lời câu hỏi này, ông Trần Văn Tư cho biết: Theo cách nghĩ thông thường, không ai dại gì bỏ cả lượng tiền khổng lồ chỉ để nghiên cứu, để làm đánh giá tác động môi trường, để rồi không xây dựng gì.
Năm 2012, Bộ NN&PTNT ra quyết định chuyển 137 ha vùng lõi VQG Cát Tiên thành đất rừng bình thường. Như vậy, dự án sẽ không bị điều chỉnh bởi Luật Đa dạng Sinh học và Nghị quyết của Quốc hội nữa? Ông Trần Văn Tư: Chúng tôi chưa nhận được văn bản của Bộ NN&PTNT dù hai phần ba diện tích VQG Cát Tiên và trụ sở VQG nằm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Hơn nữa, không thể tự nhiên cắt một khu đất giữa vùng lõi để rồi bảo rằng nó không phải là vùng lõi.
Nghị quyết 49 của Quốc hội chưa phải là một văn bản luật nhưng là văn bản pháp lý cao nhất. Các bộ ngành và cả Chính phủ muốn ra văn bản gì chuyển đổi mục đích sử dụng của vùng lõi thì phải đề xuất Quốc hội xem xét.
Còn theo ông Trương Văn Vở: Nếu chính thức nhận được văn bản đó, chúng tôi sẽ có ý kiến Bộ NN&PTNT phải chịu trách nhiệm.
Chúng tôi sẽ kiến nghị việc ra quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng 137 ha rừng vùng lõi là thuộc thẩm quyền của Quốc hội và phải được Quốc hội cho ý kiến về chủ trương.
Tôi xin nói thêm, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 mới đây có nói đến bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ rừng phòng hộ. Điều đó càng đòi hỏi xem xét lại việc cắt đất vùng lõi như thế là đúng hay sai với nghị quyết của Đảng.
Nhưng diện tích ấy được cho là chủ yếu rừng nghèo, rừng hỗn giao, không còn rừng thường xanh và cây gỗ quý nữa? Ông Trần Văn Tư: Dù là nghèo thì vẫn nằm trong vùng lõi và, như vậy, phải được bảo vệ như vùng lõi. Mà rừng tự nhiên thì đâu phải chỗ nào cũng có gỗ quý? Đa dạng sinh học cơ mà. Có chỗ có rừng hỗn giao, có trảng cỏ, trảng tranh. Không có tre nứa, trảng cỏ, trảng tranh thì thú hoang, các loài thú quý lấy đâu thức ăn.
Tê giác, voi, hươu nai, bò tót đều sống nhờ vào các rừng tre nứa, trảng cỏ trảng tranh đó chứ. Tự ngàn xưa rồi. Chứ đâu phải đợi đến bây giờ bị chặt phá mới bảo là sinh ra rừng nom qua thì tưởng nghèo và hỗn giao như vậy.
Ngay cả Bàu Sấu, vùng đất ngập nước nguyên thủy còn sót lại của Đông Nam Bộ, cũng chủ yếu là trảng cỏ, trảng tranh. Chứ ở đó làm gì có cây gỗ quý nào.
Ông Bùi Pháp nói địa phương chỉ đề nghị cân nhắc được và mất, chứ không đề nghị dừng dự án? Về ý kiến này, ông Trần Văn Tư nói: Đa số nhà khoa học tham gia hội thảo tổ chức tại tỉnh đều cho rằng, giữa cái lợi và bất lợi, cái lợi ít hơn và cái bất lợi nhiều hơn. Vì thế, nếu hỏi về quan điểm, chúng tôi cho rằng dừng là tốt nhất. Nên dừng dự án.
Ngay từ khi chủ đầu tư bắt đầu thuê tư vấn làm ĐTM, từ khi bắt đầu có cuộc vận động, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai, và Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai đều đã bàn bạc và khẳng định chủ trương của mình. Đồng Nai đã có nhiều văn bản thể hiện quan điểm này.
Gần đây nhất, ngày 31-10-2012, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai có văn bản số 8559/UBND-CNN kiến nghị Thủ tướng Chính phủ: “Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A khi triển khai có thể đánh đổi nhiều thiệt hại chưa thể lường hết được. Do đó, UBND tỉnh Đồng Nai kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định không đầu tư dự án”.
Lợi ích kinh tế 15.000 tỷ đồng đóng góp ngân sách mà chủ đầu tư tính toán cho một chu kỳ đầu tư 40 năm chỉ là dự đoán. Mà hệ lụy thì không thể để đến khi xảy ra rồi mới lên tiếng. (Tiền Phong 12/11)đầu trang(
Nhiều người đã nhận định như thế về ông Bùi Pháp - chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đức Long Gia Lai - khi ông phát biểu tại cuộc họp báo về thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ngày 8-11.
Các báo ra ngày 9-11 đã đăng tải những ý kiến xung quanh cuộc họp báo của Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai. Nhìn lại toàn bộ diễn biến tại buổi họp báo của Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai cho thấy đại diện của công ty này đã thiếu bình tĩnh khi ông Bùi Pháp - chủ tịch HĐQT tập đoàn - cho rằng: “Tôi tin Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai chưa có đủ thông tin. Một số bộ phận, một số lợi ích riêng kết cấu với một số nhà báo, tờ báo đưa thông tin không chính xác. Chúng tôi đã kiến nghị Bộ Thông tin - truyền thông vào cuộc cứu doanh nghiệp”.
Liệu lãnh đạo tỉnh Đồng Nai có thiếu thông tin không khi dự án đã được họ mổ xẻ nhiều lần bằng những hội thảo, hội nghị tổ chức tại vườn quốc gia Cát Tiên, Sở Tài nguyên - môi trường Đồng Nai? Sau mỗi cuộc hội thảo, đa số nhà quản lý, nhà khoa học đều yêu cầu phải thận trọng khi triển khai hai dự án này. Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, người dân Đồng Nai cũng kêu nhiều về dự án và yêu cầu các đại biểu phải lên tiếng để bảo vệ rừng, bảo vệ vùng hạ lưu sông Đồng Nai.
Sau khi đọc thông tin phản ứng của ông Bùi Pháp trên báo chí, một người công tác trong lĩnh vực môi trường của Đồng Nai phải thốt lên: “Đó là cách nói của nhà đầu tư. Cứ thấy chi phí bồi thường cho dự án 230-320 đồng/m2 đất rừng, không bằng cốc trà đá là biết rồi”.
Đoàn khảo sát của các cán bộ thuộc Viện Sinh học nhiệt đới đi khảo sát (tháng 7-2011) nơi dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6. Bên kia sông là rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ 2-3 người ôm - Ảnh: Đức Tuyên
Liên quan đến những tranh luận về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 9-11, ông Huỳnh Ngọc Đáng - phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương - đề nghị ông Bùi Pháp cần nói năng có trách nhiệm hơn. “Bộ phận” nào, nhóm “lợi ích riêng” nào đã “kết cấu với một số nhà báo, tờ báo đưa thông tin không chính xác” như ông đã phát biểu?
“Tôi thấy tất cả các tiếng nói phản đối thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là rất trung thực nhằm bảo vệ diện tích rừng các khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia Cát Tiên và khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Nai cũng như tránh cho hàng triệu cư dân vùng hạ lưu nhiều tai họa do tác động tiêu cực từ hai công trình” - ông Đáng nhấn mạnh. Quan điểm của ông Đáng là cái gì luật pháp đã quy định thì mọi cấp, mọi công trình đều phải chấp hành. Theo nghị quyết 49 của Quốc hội, hai dự án thủy điện này cần được trình ra Quốc hội xem xét.
“Vậy Chính phủ nên tiến hành việc đó, không nên để dây dưa, sinh nhiều tiêu cực trong dư luận. Nếu Quốc hội xem xét thấy cần đình chỉ thì phải đình chỉ, dù đó là dự án công trình của tư nhân hay là Nhà nước, dù đã chuẩn bị sáu năm hay 10 năm, 15 năm vẫn phải đình chỉ...” - ông Đáng nói.
Đại biểu Quốc hội Trương Văn Vở - phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai - cho biết ông đã gửi chất vấn đến Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát đề nghị cho biết giải pháp cụ thể và trách nhiệm của bộ trưởng trước một số vấn đề có liên quan đến bảo vệ rừng. Tại chất vấn của mình, đại biểu Vở nêu việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện và tình trạng chặt phá rừng chưa được xử lý có kết quả.
Ông Vở dẫn số liệu từ năm 2006-2012 có trên 7.400ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được sử dụng để làm thủy điện. Đó là chưa kể có gần 1.000ha rừng bị chặt phá trong chín tháng đầu năm 2012. Đại biểu Vở còn đề nghị bộ trưởng trả lời cơ sở pháp lý của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có ảnh hưởng gần 140ha rừng vườn quốc gia Cát Tiên.
Theo ông Lê Cường - thư ký tòa soạn báo Người Lao Động, quan điểm của báo là đứng trên cái chung, xuyên suốt nhất của báo Người Lao Động là bảo vệ môi trường, bảo vệ báu vật vườn quốc gia Cát Tiên mà thiên nhiên đã ban tặng cho VN.
Báo Người Lao Động đã thu thập đầy đủ ý kiến các địa phương, các nhà khoa học, đoàn khảo sát, kể cả chuyến khảo sát hồi tháng 9-2012 của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế để trình Unesco công nhận vườn quốc gia Cát Tiên là di sản thiên nhiên của thế giới. Các chuyên gia của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế đặt ra nhiều vấn đề ảnh hưởng của hai dự án thủy điện này. Mạng lưới sông ngòi VN cũng có nhiều cuộc hội thảo, văn bản gửi hội đồng thẩm định bày tỏ chính kiến về nguy cơ đe dọa của hai dự án thủy điện đối với vườn quốc gia Cát Tiên. Đặc biệt, UBND tỉnh Đồng Nai cũng có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho dừng hai dự án thủy điện này cũng bởi sự lo ngại trên.
“Tóm lại, các phương tiện truyền thông, các nhà khoa học cũng muốn giữ gìn cho được báu vật Cát Tiên chứ không phải vì lợi ích nhóm hoặc cá nhân nào như nhà đầu tư phát biểu trong một cuộc họp báo trước bàn dân thiên hạ” - ông Lê Cường khẳng định. (Tuổi Trẻ 10/11)đầu trang(
Từ năm 2005 đến nay, dự án trồng rừng WB3 do Ngân hàng Thế giới (WB) hỗ trợ vốn vay triển khai trên địa bàn Bình Định đã mang lại hiệu quả thiết thực nhiều mặt: tăng độ che phủ của rừng, tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho hàng ngàn hộ nông dân trên địa bàn.
Theo Ban quản lý dự án trồng rừng WB3 tỉnh Bình Định, qua 8 năm triển khai (2005 - 2012), toàn tỉnh đã có 7.522 hộ ở các huyện Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh, Tuy Phước,Hoài Ân, thị xã An Nhơn, TP.Quy Nhơn tham gia trồng 13.228ha rừng. Riêng năm 2012, kế hoạch trồng rừng WB3 là 2.000ha, đến nay, các địa phương đã trồng được 1.417ha, đạt trên 70% kế hoạch. Các loại cây lâm nghiệp chính được đưa vào trồng là keo lai và bạch đàn cấy mô. Tại nhiều địa phương, người dân đã bắt đầu khai thác rừng trồng.
Điều đáng ghi nhận qua quá trình triển khai thực hiện dự án trồng rừng WB3 là các hộ được Ban quản lý dự án hỗ trợ kịp thời về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện giải ngân vốn vay, giúp bà con yên tâm trồng và chăm sóc rừng. Đến nay, ngân hàng đã giải ngân với tổng số tiền 110,687 tỉ đồng cho 7.522 hộ vay.
Trong đó, 9 tháng đầu năm nay giải ngân 11,133 tỉ đồng; 1ha rừng trồng được vay 15 triệu đồng. Bên cạnh đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho hộ gia đình và tổ chức tham gia dự án được địa phương quan tâm. Đến nay, ngành chức năng đã cấp GCNQSDĐ cho 6.029 hộ với diện tích 10.127ha, tạo sự phấn khởi và an tâm trong việc đầu tư thâm canh rừng trồng.
Ông Hồ Ngọc Hùng, Phó giám đốc Sở NN&PTNT kiêm Giám đốc Ban quản lý Dự án cho biết: "Mục đích của dự án là giúp các hộ dân hưởng lợi từ việc vay vốn để trồng rừng sản xuất, tạo việc làm, cải thiện đời sống; giúp người dân nâng cao nhận thức bảo vệ rừng, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi".
Theo kế hoạch, Dự án trồng rừng WB3 giai đoạn 2 đã được WB đồng ý cho thực hiện tại Bình Định đến năm 2015, mục tiêu trồng mới thêm 9.524ha tại 7 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.
Để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng đề ra, Ban quản lý dự án trồng rừng WB3 Bình Định đã đưa ra giải pháp tăng cường công tác truyền thông cho người dân tại các địa phương tham gia dự án. Đẩy nhanh tiến độ đo đạc, cấp GCNQSDĐ, thiết kế trồng rừng, nâng cấp các vườn ươm, gieo tạo cây - con giống, xây dựng mô hình khuyến lâm… Bên cạnh đó, trên cơ sở diện tích trồng rừng đã điều tra quy hoạch, từng địa phương tiến hành lập phương án giao đất, phối hợp với ban thực hiện dự án tiến hành họp dân để xác định chính thức hộ tham gia trồng rừng và diện tích kế hoạch trồng rừng, ký kết hợp đồng cung ứng cây giống đảm bảo kế hoạch.
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tạo điều kiện thuận lợi tổ chức giải ngân vốn vay ưu đãi cho các hộ gia đình kịp thời, góp phần thúc đẩy các hoạt động đầu tư trồng, chăm sóc rừng có hiệu quả. Ngành lâm nghiệp tỉnh cũng đề nghị WB nâng định mức cho vay ưu đãi từ 15 triệu đồng/ha lên 20 triệu đồng/ha, nhằm giúp người dân có điều kiện triển khai công tác trồng rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 12/11)đầu trang(
Với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, những năm qua, các ban ngành hữu quan từ tỉnh đến các địa phương trong tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách, giải pháp phù hợp, gắn trách nhiệm và lợi ích kinh tế cho người trồng rừng, giúp người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng và cơ hội tăng thêm thu nhập, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Dak Lak là tỉnh có diện tích rừng tự nhiên khá rộng (gần 600.000 ha), những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích rừng ở đây đang ngày càng bị thu hẹp dần… Trước thực tế đó, các ngành chức năng của tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp, kế hoạch trồng mới rừng (chủ yếu với 2 loại cây là keo và bạch đàn) và đã đem lại một số thành quả nhất định.
Năm 2010, toàn tỉnh trồng mới gần 400 ha rừng, năm 2011 trồng 3.341,5 ha, riêng năm 2012, dự kiến trồng 3.800 ha và hiện đã trồng được 1.388 ha, tập trung tại các huyện Ea Súp, Ea Kar, Buôn Đôn, Krông Bông, Cư M’gar… Trong kế hoạch trồng rừng tập trung, rừng sản xuất, phòng hộ phải kể đến Dự án FLITCH (gọi tắt là ADB) của Chính phủ về hỗ trợ trồng rừng, giao cho tỉnh triển khai tại các địa phương trong tỉnh khá hiệu quả.
Riêng năm 2011, toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới được 578/528 ha rừng từ nguồn vốn ADB, đạt 110% kế hoạch.Ea Kar là một trong những huyện có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh. Theo kế hoạch năm 2012, toàn huyện trồng mới 520ha rừng tập trung và tiếp tục chăm sóc 3.200ha rừng trồng qua các năm.
Ông Lê Văn Hồng, Chánh văn phòng UBND huyện cho biết, huyện đang chỉ đạo ngành liên quan và các xã tiếp tục triển khai tốt dự án ADB trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất thay thế nương rẫy canh tác kém hiệu quả cho đồng bào DTTS; các dự án trồng cây phân tán, kết hợp sử dụng có hiệu quả đất rừng giao khoán, cùng với tăng cường kiểm tra, giám sát việc trồng rừng kinh tế đúng quy định, đảm bảo môi trường sinh thái và hài hòa lợi ích giữa người dân với doanh nghiệp…
Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ea Kar được giao toàn bộ 250 ha rừng do Dự án ADB tài trợ, mới triển khai trồng được hơn 100 ha chủ yếu tại các xã Cư Yang, Cư Prông, Ea Sar… Trong khi đó, huyện Krông Pak cũng trồng được 100 ha rừng tập trung và phấn đấu đến cuối năm nay sẽ đạt kế hoạch trồng mới 200ha rừng tập trung, nâng tỉ lệ độ che phủ rừng của huyện lên 35%.
Theo Sở NN-PTNT Dak Lak, đến cuối năm 2012 toàn tỉnh sẽ trồng mới gần 3.800ha rừng tập trung, cùng với chăm sóc hơn 3.550ha rừng sản xuất và 250 ha rừng phòng hộ, ngoài ra còn phát triển thêm trên 1 triệu cây phân tán.
Để thực hiện tốt các chỉ tiêu về trồng rừng, hàng năm tỉnh Dak Lak đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp liên kết với nông dân tham gia trồng rừng, theo đó, nhiều địa phương đã hình thành các mô hình trồng rừng khá hiệu quả.
Đơn cử như việc trồng rừng theo Dự án ADB, hỗ trợ vốn không hoàn lại cho mỗi hộ tư nhân 500 USD/ha rừng sản xuất, doanh nghiệp trồng rừng được hỗ trợ 400 USD/ha và sau khi khai thác sẽ hoàn trả lại vốn cho quỹ ADB huyện 250 USD/ha.
Ông Nguyễn Hồng Mạnh, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ea Kar cho biết, hiện nay đơn vị đang tạo điều kiện cho người dân trồng hàng trăm ha rừng liên kết trên đất do công ty quản lý, mỗi hộ được doanh nghiệp hỗ trợ không hoàn lại 400 USD/ha (từ nguồn Dự án ADB), ngoài ra còn thường xuyên cử cán bộ chuyên trách hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu… để người dân trồng, chăm sóc rừng hiệu quả. Nhờ vậy, đã thu hút nhiều hộ đăng ký tham gia liên kết, nhất là những hộ nghèo.
Bên cạnh đó, nhiều địa phương khác cũng triển khai vận động nhân dân xây dựng hương ước, qui ước cấm chăn thả gia súc, bảo vệ các cánh rừng mới trồng, đã thu hút đông đảo các gia đình tham gia trồng rừng sản xuất, điển hình là tại các huyện M’Drak, Krông Bông, Ea Kar, Ea Súp… nhiều diện tích rừng trồng đã cho khai thác, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Lợi ích từ việc xen canh cây lương thực và hoa màu trong diện tích rừng trồng cũng được người dân khai thác, cho nguồn thu nhập mỗi năm hàng chục triệu đồng/ha.
Tại xã Ea Sô, huyện Ea Kar, việc xen canh ngô, đậu xanh trên diện tích rừng trồng năm thứ nhất, thứ hai đã trở nên phổ biến, ông Nguyễn Thế Thủy, Chủ tịch UBND xã Ea Sô cho biết, từ năm 2005 địa phương đã tổ chức cho người dân trồng xen thường xuyên gần 150 ha ngô, 100 ha đậu xanh trên diện tích rừng trồng đã cho kết quả tốt, với nhiều hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu, điển hình như hộ ông Y Sơn Mlô, Y Hoan Niê ở thôn 1, Đinh Văn Giá ở thôn 2… thu nhập nhờ xen canh mỗi năm trên 30 triệu đồng/ha rừng. Cách làm này rất phù hợp với điều kiện của địa phương.
Không chỉ lợi ích về kinh tế mà cả về môi trường, sinh thái, trước đây, do nạn chặt phá rừng hoành hành, nhiều khu vực của địa phương bị thiếu nước, hầu hết kênh, suối cạn khô, từ khi triển khai trồng rừng, đồi núi trọc đã được lên xanh, nhiều con suối cũng bắt đầu cho nước trở lại, ruộng rẫy ít bị khô hạn hơn… (Báo Đắk Lắk 12/11)đầu trang(
Đến hết tháng 10/2012, toàn tỉnh đã trồng rừng đạt 8.716 ha, vượt 8,9% so với kế hoạch. Trong đó trồng cây phân tán đạt 5.072 ha, vượt 69,1% kế hoạch, trồng rừng tập trung đạt 3.644 ha tăng 77% so với cùng kỳ. Đã khoán quản lý, bảo vệ rừng 6.500 ha, khoán khoanh nuôi 200 ha, chăm sóc rừng 3.745 ha.
Vào thời điểm kết thúc vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh đã nâng tổng diện tích đất rừng có cây trồng lên 420.663 ha, đạt độ che phủ 50,6% diện tích đất rừng, cao hơn mức bình quân của cả nước. (Báo Lạng Sơn 12/11)đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt Quy hoạch chi tiết Dự án trồng rừng kinh tế kết hợp trồng cây ca cao dưới tán rừng trên diện tích 326,3ha tại xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh do Công ty TNHH Đại Hoàng Nguyên đầu tư.
Theo đó, có 271ha ca cao được trồng trên đất nương rẫy, đất chưa có rừng và rừng trồng theo phương thức liên danh, liên kết với người dân. Diện tích còn lại là rừng tự nhiên trong vùng dự án, không trồng ca cao, mà phải tổ chức bảo vệ nguyên vẹn. Ngoài ra, UBND tỉnh cũng cho phép chủ đầu tư xây dựng đập tràn qua suối, đường giao thông nội vùng dài hơn 3.100m; thành lập 3 vườn ươm có công suất 200.000 cây/năm; lò sấy sản phẩm và 3 sân phơi rộng 3.000m2... Tổng kinh phí thực hiện dự án này gần 54 tỉ đồng
Theo kế hoạch, năm 2012, Công ty TNHH Đại Hoàng Nguyên phải xây dựng xong các công trình hạ tầng; đồng thời trồng cây muồng đen trên diện tích 81ha đất của người dân để che bóng mát từ 1-2 năm trước khi đưa cây ca cao vào trồng.
Được biết, trong năm 2010, Công ty TNHH Đại Hoàng Nguyên đã trồng thực nghiệm 12,7ha ca cao dưới tán rừng tự nhiên ở khu vực được quy hoạch tại xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh. (Báo Phú Yên 12/11)đầu trang(
Trà Vinh đã trồng mới 120 ha rừng phòng hộ ven biển, hoàn thành kế hoạch bảo vệ phát triển rừng của tỉnh năm 2012.
Như vậy, tính đến nay tỉnh Trà Vinh đã trồng mới và khôi phục được gần 7.720 ha rừng phòng hộ ven biển, trong đó có hơn 5.886 ha trồng mới, 1. 453 ha tái sinh tự nhiên, riêng số còn lại do người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng. Với các chủng loại cây trồng như: bần, phi lao, đước… dự kiến từ nay đến 2015, Trà Vinh sẽ đầu tư trồng mới và khoanh nuôi khoảng 1.000 ha rừng phòng hộ ven biển; nâng diện tích rừng ngập mặn ven biển của tỉnh lên hơn 8.700 ha, với tỷ lệ che phủ chiếm hơn 50%.
Bên cạnh việc trồng mới 120 ha rừng phòng hộ ven biển, tỉnh Trà Vinh cũng tiến hành giao khoán hơn 4.000 ha rừng nguyên sinh cho gần 3.000 hộ dân quản lý, chăm sóc. (Đại Biểu Nhân Dân 12/11)đầu trang(
Năm 2012, tỉnh ta đặt kế hoạch trồng mới 7.000 ha rừng. Đến hết tháng 10, toàn tỉnh đã trồng mới được 8.100 ha rừng, vượt 15% kế hoạch.
Theo đánh giá của ngành lâm nghiệp, trong điều kiện khó khăn về nguồn vốn, kết quả này đã ghi nhận bước chuyển quan trọng trong xã hội hoá nghề rừng. ở nhiều địa phương, người dân tự bỏ tiền ra để trồng rừng và mục tiêu của ngành lâm nghiệp là hướng đến trồng rừng chất lượng cao.
Theo đánh giá của Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN&PTNT), những năm gần đây, lợi ích kinh tế lâm nghiệp ngày càng được khẳng định đã làm chuyển biến nhận thức của người dân, là động lực khích lệ các hộ đầu tư SX. Bên cạnh đó, các công ty lâm nghiệp sau khi chuyển đổi mô hình, cơ chế hoạt động đều phát huy tính chủ động cao trong triển khai trồng rừng bằng nguồn vốn tự có và vốn vay.
Năm 2011, dự án trồng 5 triệu ha rừng của Chính phủ kết thúc, tỉnh ta không còn nguồn vốn hỗ trợ nữa nhưng với 80% diện tích là đất rừng nên tỉnh vẫn xác định trồng rừng là mũi nhọn kinh tế chủ lực và đã vào cuộc quyết liệt. Năm 2012, vốn cho SX lâm nghiệp của tỉnh 15 tỉ đồng, chủ yếu dành cho chăm sóc rừng trồng. Rừng kinh tế đã phát huy được thế mạnh, nhiều hộ nông dân tự bỏ kinh phí ra trồng rừng.
Tỉnh đã xây dựng nhiều chính sách thu hút thêm các doanh nghiệp cùng tham gia trồng rừng, xây dựng một số cơ sở chế biến để đảm bảo đầu ra cho lâm sản. Ngoài ra, tỉnh đã huy động mọi nguồn lực có thể cho người dân vay vốn ưu đãi trồng rừng, hướng dẫn bà con kỹ thuật từ xử lý thực bì, chăm sóc cây con đến việc nắm vững chu kỳ sinh trưởng của từng loại cây để chặt, tỉa đúng thời điểm và phòng-chống cháy rừng.
ừ thành công của dự án 661, các dự án rừng phòng hộ, đặc dụng cơ sở tỉnh đã trồng mới được 29.232,27 ha rừng, trung bình đạt 2.436,5 ha/năm; khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh 52.393,15 lượt ha, trung bình mỗi năm được 4.366,10 ha; bảo vệ rừng trồng, rừng tự nhiên 679.367,28 lượt ha, trung bình mỗi năm bảo vệ rừng được 56.613,94 lượt ha.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ có khoảng 48.700 hộ làm lâm nghiệp trong vùng dự án, số hộ nghèo khoảng 15.600 hộ, chiếm 32% số hộ làm lâm nghiệp trong vùng dự án tại nông thôn có đời sống chủ yếu dựa vào SX nông-lâm nghiệp. Hàng năm, dự án tạo việc làm cho khoảng 126.500 lao động góp phần XĐ-GN, phát triển SX, ổn định đời sống, bảo đảm QP-AN.
Bình quân hàng năm, các cơ sở SX cây giống của tỉnh SX được khoảng 8 - 10 triệu cây giống lâm nghiệp các loại, đảm bảo đủ lượng giống phục vụ kế hoạch trồng rừng hàng năm của tỉnh và nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Một số công trình hạ tầng lâm sinh phục vụ trồng rừng cũng đã được đầu tư xây dựng như: đường băng chống cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, chòi canh, đường sá từ những địa điểm trồng rừng SX ra điểm tập kết lâm sản.
Không chỉ thành công trong lĩnh vực trồng rừng (đưa độ che phủ rừng từ 38% (năm 1999) lên 46% như hiện nay), dự án còn góp phần chuyển dịch mạnh mẽ việc chế biến, tiêu thụ từ gỗ rừng tự nhiên trước đây sang chế biến, tiêu thụ gỗ rừng trồng với khối lượng hàng trăm ngàn m3/năm. Năm 2010, sản lượng gỗ rừng trồng SX khai thác ước đạt 148.846 m3 và giá trị ước đạt 152 tỉ đồng. Phong trào trồng rừng của nhân dân đã tạo nên vùng nguyên liệu khá ổn định, năng lực cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đáp ứng được yêu cầu; đất trống, đồi núi trọc đã được sử dụng có hiệu quả.
Ông Đới Văn Chinh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Thực tế hiện nay, các hộ trồng rừng đang khai thác non, định hướng của ngành lâm nghiệp là tuyên truyền cho người dân kinh doanh rừng SX theo hướng thâm canh cây gỗ lớn kèm theo quy trình kỹ thuật tỉa thưa khai thác cây bé, để lại cây lớn, đẩy chu kỳ khai thác lên 10-12 năm, giá trị kinh tế sẽ cao gấp 2-3 lần khai thác chu kỳ 5-7 năm.
Ngành đang xây dựng phương án lấy rừng mẫu đối chứng, chọn những hộ có kinh tế, có nhận thức để làm rừng mẫu. Ngành cũng khuyến khích trồng rừng hỗn giao, trong 1 ha rừng trồng có 20% cây bản địa. Hiện đã có một số huyện hỗ trợ cây giống bản địa cho nông dân.
Theo tính toán, cây keo tai tượng nhập nội đường kính chỉ đạt 10 cm nhưng với giống nhập ngoại, đường kính có thể lên tới 35-40 cm. Vì thế, ngành đang triển khai dự án giống lâm nghiệp chất lượng cao theo chỉ đạo của UBND tỉnh từ khâu tuyển chọn hạt giống, gieo mô hoặc gieo hom để chủ động rừng giống từ những giống bản địa như huyện Yên Thủy có rừng tự nhiên chò chỉ gần 100 ha, huyện Lạc Sơn có rừng lim...
Hiện, trên địa bàn tỉnh có nhà máy MDF Vinafo Tân An Hòa Bình (tại xã Lạc Thịnh, Yên Thủy) có công suất thiết kế khoảng 54.000 m3 MDF/năm, khả năng tiêu thụ từ 100-150.000 m3 gỗ tròn. Vùng nguyên liệu chính của công ty 10.000 ha rừng của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hoà Bình và 50.000 ha rừng của các vùng lân cận. Đây là những tín hiệu tốt cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh sẽ có thêm nguồn tiêu thụ đầu ra cho bà con trồng rừng.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chia sẻ: Với việc thường xuyên kết hợp giữa tuyên truyền cho người dân thông qua nhiều hình thức để người dân hiểu tác dụng và lợi ích của rừng. Đến nay, người dân đã tự nhận thức trồng rừng đầu tư ít, lãi nhiều hơn hẳn đầu tư vào những cái khác, làm ruộng chỉ đủ ăn mà làm giàu từ rừng. Đồng thời, tỉnh sẽ nối tiếp thực hiện dự án phát triển rừng SX; dự án nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng kiểm lâm và xây dựng một số dự án khác nhằm quản lý, bảo vệ, phát triển sử dụng rừng liên tục và bền vững trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh sẽ có chính sách khuyến khích bà con khai thác rừng gỗ lớn, thay đổi cơ cấu trồng rừng theo hướng có lợi nhất như cơ chế giãn nợ hoặc hỗ trợ vốn cho các hộ trồng rừng, thế chấp bằng rừng, thay đổi cơ cấu trồng rừng xem trồng loại cây gì để vừa tăng chất lượng rừng, vừa đem lại giá trị kinh tế cao hơn để bà con thật sự sống được từ trồng rừng. (Báo Hòa Bình 13/11)đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Trà Vinh vừa có văn bản yêu cầu UBND huyện Duyên Hải (Trà Vinh) thu hồi các văn bản của huyện có liên quan cho phép các hộ dân ở vùng ven biển khu vực rừng phòng hộ cặp đê Hiệp Thạnh đào ao nuôi tôm công nghiệp.
Theo Sở NN&PTNT, tổng diện tích rừng phòng hộ khu vực xã Hiệp Thạnh, huyện Duyên Hải là 254ha nhưng thời gian qua đã bị thiệt hại 177,8ha. Trong đó thiệt hại do sâu bệnh, triều cường làm sạt lở 90,2ha và có đến 87,2ha thiệt hại do người dân phá rừng để mở rộng mặt nước nuôi trồng thủy sản.
Đỉnh điểm là tháng 9-2011, UBND huyện Duyên Hải có công văn thống nhất cho ông Nguyễn Ngọc Oánh (ngụ huyện Long Thành, Đồng Nai) cải tạo đất rừng 3,7ha tại ấp Bào, xã Hiệp Thạnh thuộc khu vực rừng phòng hộ xung yếu nằm sát ven biển để nuôi tôm sú thâm canh. Hạt kiểm lâm Duyên Hải đã có ý kiến về việc phá rừng trái luật này. Tuy nhiên vụ việc không dừng lại, tháng 12-2011 UBND huyện Duyên Hải tiếp tục có văn bản thống nhất cho thêm sáu hộ dân cải tạo ao hồ nuôi trồng thủy sản thuộc khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu nằm ven biển.
Thậm chí tháng 11-2011, UBND huyện Duyên Hải quy hoạch đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất kết hợp giữa nuôi trồng sản xuất và bảo vệ rừng trên địa bàn xã Hiệp Thạnh từ 427ha chỉ còn 360,8ha, tức mất đi hơn 61ha đất rừng tự nhiên...
Sở NN&PTNT yêu cầu UBND huyện Duyên Hải phải có kế hoạch chỉ đạo Hạt kiểm lâm Duyên Hải, UBND xã Hiệp Thạnh quản lý tốt diện tích đất rừng hiện có của xã Hiệp Thạnh, đồng thời khắc phục lại toàn bộ diện tích đất rừng đã bị thiệt hại... (Tuổi Trẻ 13/11)đầu trang(
12-11, tin từ Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết Bộ NN&PTNT vừa có văn bản gửi UBND tỉnh Đắk Lắk.
Một lần nữa yêu cầu nhanh chóng làm rõ những thợ săn giết hại hai cá thể voi tại Vườn quốc gia Yok Đôn vào ngày 25-8 vừa qua để xử lý nghiêm nhằm ngăn chặn, chấm dứt tình trạng giết hại voi đang xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Ngày 25-8, hai cá thể voi một đực, một cái đã bị giết hại tại tiểu khu 257 Vườn quốc gia Yok Đôn. Ngày 30-8, Bộ NN&PTNT có văn bản yêu cầu tỉnh Đắk Lắk điều tra, làm rõ thủ phạm giết voi và báo cáo về Bộ trước ngày 30-9 nhưng việc điều tra vẫn chưa có kết quả. Đến ngày 27-10, đàn voi rừng đang cư trú tại địa phận xã Ya Tơ Mốt (huyện Ea Sup, thuộc Công ty TNHH Hải Hà) đã tấn công nhóm người đi vào rừng và quật chết một công an viên. (Pháp Luật TPHCM 13/11)đầu trang(
Theo chu kỳ, lâm tặc sẽ rộ lên phá hoại một thời gian rồi lại lắng xuống, âm ỉ. Lực lượng kiểm lâm cũng từ nhận định tình hình đó để mở các đợt trấn áp quy mô. Nhưng việc tuần tra, nhận định, vây bắt của kiểm lâm đụng đâu cũng gặp khó…
Tuần rừng có thể coi là công việc vất vả nhất mà lực lượng kiểm lâm phải thực hiện thường xuyên. Rừng bao la là vậy, thâm u là vậy nhưng sẽ còn “teo” lại nếu như không có dấu chân của người giữ rừng…
“Muốn đi tuần rừng phải chuẩn bị nhiều thứ lắm. Cuốc bộ trong rừng 2,3 ngày trời nên sức khỏe phải tốt, đồ ăn phải đầy…Riêng với chúng tôi còn phải xác định nguồn tin báo ở khu vực nào có phá rừng để mà đi nữa!”- Bùi Văn Duẩn, Trạm trưởng trạm kiểm lâm Đakrông nói. Việc đảm bảo bí mật trong các đợt triển khai tuần rừng là tối quan trọng...
Nhiều khi lâm tặc và kiểm lâm vờn nhau, “ra đòn gió” cả mấy ngày trời mới chính thức “tung chiêu”. Vậy nên đồng bào miền núi trên này có câu chuyện vui rằng cán bộ kiểm lâm có “nhà máy may” ở trong rừng vì khi vào thì mang áo quần bình thường mà khi ra thì ai cũng mang sắc phục kiểm lâm. “Bí mật thế chứ cũng nhiều lần bị lộ. Lâm tặc cắt cử bọn “chim lợn” ăn ngủ ngay trước trụ sở của mình, hễ mình có động tĩnh là nó báo ngay...”- Nguyễn Xuân Tuấn, Trạm trưởng trạm kiểm lâm khu vực Tà Long cho biết.
Giữa tháng 8.2012, cán bộ Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Đakrông đã có một chuyến tuần rừng gian nan vào tiểu khu 730 (thuộc xã Húc Nghì, H.Đakrông), nơi có nhiều “diễn biến nóng” trong thời gian gần đây. Theo lời kể của ông Hoàng Ngọc Tiến (Giám đốc Khu), chỉ riêng việc đi đến nơi cũng mất gần 1 ngày trời. “Ở đoạn đầu chúng tôi phát hiện khá nhiều súc gỗ được vứt ngổn ngang bên đường. Vào sâu, chúng tôi đã bắt tại trận 2 lâm tặc đang dùng máy cưa xăng triệt hạ mấy cây cổ thụ. Một tên bỏ chạy thục mạng, một tên anh em bắt lại được…”- ông Tiến nói.
Nhưng cũng có một điều bất hợp lý mà rất…hợp lý rằng, khi vào rừng dẫu kiểm lâm có phát hiện ra hàng đống gỗ thì cũng đành chịu. “Gỗ nặng thế chúng tôi chỉ được mấy người, làm sao kéo về được. Chỉ biết thế rồi ra ngoài bìa rừng lập chốt, đợi lúc nào lâm tặc kéo gỗ ra mới chặn bắt…”- một kiểm lâm viên chia sẻ. Khốn nỗi, ngày trước lâm tặc còn “dại” nên đốn bao nhiêu gỗ kéo ra ngoài tập kết bấy nhiêu, còn bây giờ sau khi đốn, cưa thành phách chúng vẫn để lại trong rừng, ai hỏi mua thì mới kéo về 2,3 phách….
Trong khi đó, cứ vào rừng là mọi thông tin liên lạc sẽ bị cắt đứt, nên kiểm lâm phải tự chủ động, tùy cơ ứng biến với tất cả tình huống có thể xảy ra. Có người cảm thán rằng: “Trong rừng thì biết kêu ai, nhắm bắt lâm tặc được thì rượt đuổi, còn lỡ chúng bỏ chạy hoặc chống cự thì cũng chịu chứ biết làm sao…”
Một con số làm tôi hết sức bất ngờ rằng để quản lý 230.000 ha rừng, lực lượng kiểm lâm của tỉnh Quảng Trị chỉ có chưa đến 200 người (trong đó chưa trừ ra bộ phận hành chính, tạp vụ, lái xe…). Ông Lê Văn Quý, Chi cục phó Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị thừa nhận rằng lực lượng của mình là quá mỏng. Theo quy định ngành, mỗi kiểm lâm viên chỉ phụ trách 500 ha rừng nhưng tại Khu BTTN Đakrông, mỗi kiểm lâm viên phải “gánh” hơn 3.000 ha!
Ngoài ra, chỉ có kiểm lâm biên chế mới được quyền sử dụng các công cụ hỗ trợ (súng, roi điện …), dừng xe nghi có chở gỗ lậu để kiểm tra, lập biên bản vi phạm. “Hầu hết các trạm kiểm lâm chỉ có trạm trưởng và trạm phó là vào biên chế, còn lại toàn là anh em làm hợp đồng. Chúng tôi đi vắng là anh em hợp đồng như trói tay trói chân…”- Bùi Văn Duẩn, Trạm trưởng trạm kiểm lâm Đakrông nói.
Chính bởi lực lượng vừa thiếu vừa yếu, lại hoạt động trên địa bàn rừng núi rộng lớn nên nhiều người cho rằng cuộc chiến giữ rừng chỉ có thể thắng khi có dân. “Nếu có dân, lâm tặc sẽ không còn nơi nào để ẩn nấp, qua mặt kiểm lâm…”- ông Nguyễn Thế Hải, Hạt phó hạt kiểm lâm H.Hướng Hóa nhắn nhủ.
Trong 2 năm trở lại đây, tỉnh Quảng Trị đã có cơ chế thành lập những tổ kiểm lâm địa bàn, do chính những thanh niên địa phương đảm trách (được trả phụ cấp trách nhiệm hằng tháng), cũng như giao khoán trách nhiệm bảo vệ rừng cho từng hộ gia đình… Những kết quả bước đầu là tín hiệu đáng mừng cho thế thắng đang dần nghiêng về “những người giữ rừng”.
“Nếu Nhà nước có sự hỗ trợ tối đa hơn cho người dân trong công tác bảo vệ rừng sẽ làm giảm gánh nặng đáng kể cho lực lượng kiểm lâm, đồng thời sẽ phát huy được thế mạnh trong quần chúng…Bởi “mắt rừng” chính là dân!”- Chi cục phó Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị Lê Văn Quý một lần nữa khẳng định. (Thanh Niên 12/11) đầu trang(
104 con gấu sống tại “ngôi nhà” con người dành cho chúng tại lũng Chắt Dậu, VQG Tam Đảo từng bị “cáo buộc” gây ô nhiễm nguồn nước hồ Làng Hà. Sở TNMT Vĩnh Phúc đã vào cuộc thanh minh cho gấu. Nhưng nếu xâu chuỗi lại chuyện nhà gấu bị tạm dừng xây dựng mà NDĐT đã đề cập hồi tháng 4, sẽ thấy không phải ngẫu nhiên mà có một loạt biến cố xảy ra.
Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam, do Tổ chức Động vật châu Á (AAF) xây dựng, bắt đầu bị “tố” gây ô nhiễm nguồn nước hồ Làng Hà bằng một lá thư bạn đọc được đăng trên Quân đội Nhân dân điện tử vào ngày 2-4. Sau đó tám ngày, phóng viên báo này lại có thêm một bài phản ánh về nguy cơ ô nhiễm nước hồ Làng Hà do Trung tâm cứu hộ gấu gây ra và đề nghị sớm có đánh giá chính xác và ngăn ngừa kịp thời.
Sau hai bài báo, Sở Tài nguyên – Môi trường Vĩnh Phúc đã gửi công văn số 309/STMNT-CCBVMT đến Trung tâm cứu hộ gấu yêu cầu Trung tâm báo cáo bằng văn bản về tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường.
Phúc đáp công văn này, Trung tâm cứu hộ gấu đã gửi công văn số 744 CV/AAF-VN mô tả về hai khu xử lý nước thải hiện đại cùng quy trình xử lý chất thải rắn theo đúng quy định của mình. Đồng thời, đề nghị Sở sớm lập đoàn thanh tra kiểm tra xác minh nguyên nhân về ô nhiễm hồ Làng Hà và suối Bạc mà báo chí phản ánh.
Không chỉ dừng ở đó, AAF tiếp tục gửi công văn số 753 đến Trung tâm Kiểm định Môi trường, Cục 49, Bộ Công an đề nghị vào cuộc để điều tra xác minh về ô nhiễm hồ Làng Hà.
Tổ chức này cũng gửi công văn số 745 đến báo Quân đội Nhân dân phản hồi về hai bài báo trên. Theo AAF, những thông tin trong bài báo không có tính khách quan. “Phóng viên hoàn toàn chưa liên hệ phỏng vấn hay tìm hiểu thông tin về phía dự án”. Đồng thời, AAF đề nghị báo “xác minh cụ thể và đầy đủ với nguồn thông tin nói trên và xem xét lại những nội dung đã đăng tải”. Tuy nhiên, phía AAF cho biết không nhận được công văn phản hồi.
Một thực tế từ trước đến nay là doanh nghiệp thường rất sợ bị thanh tra, kiểm tra về ô nhiễm. Việc xử lý ô nhiễm như một “gót chân Asin” mà bất cứ đơn vị hay cơ sở nào cũng muốn tránh bị chạm vào vì sợ phát hiện ra sai phạm. Việc Trung tâm cứu hộ gấu gọi các cơ quan chức năng vào cuộc và lên tiếng phản đối những thông tin không khách quan là những chuyện khác lạ.
Trong khi ba công văn yêu cầu điều tra xác minh sự việc từ phía AAF chưa hề được cơ quan chức năng trả lời thì ngày 2-5, hàng chục hộ dân ở thôn Tân Long, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc đã gửi một lá đơn lên rất nhiều cơ quan, ban ngành, từ Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Bộ NN-PTNT, Bộ TN-MT, UNMD tỉnh Vĩnh Phúc…, cho đến các cơ quan báo chí, kiến nghị về việc hồ Làng Hà bị ô nhiễm do hoạt động của Trung tâm cứu hộ gấu ở ngay đầu nguồn suối.
Lá đơn lấy chữ ký của 11 người, đại diện cho 40 hộ dân thôn Tân Long này viết: “Từ khi có Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo, chúng tôi nhận thấy hồ Làng Hà bị ô nhiễm nghiêm trọng, bằng mắt thường cũng có thể nhận thấy nước có màu đen, có các tạp chất bẩn và mùi hôi khó chịu. Chúng tôi đã lấy mẫu nước sinh hoạt tại các giếng đào ven hồ để kiểm tra thì hầu hết các mẫu nước này đều bị ô nhiễm do hệ thống nước thải của Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo đã ngấm vào nước giếng sinh hoạt”.
Lá đơn còn kết luận bằng một giả thiết, điều này “có khả năng gây nên các bệnh về đường ruột và gây ung thư, ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài cũng như tính mạng của bà con nhân dân trong khu vực”.
Và những người đứng đơn “đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có kế hoạch để chuyển trại gấu Tam Đảo đi nơi khác để không ảnh hưởng xấu đến môi trường, nguồn nước cũng như sức khỏe và tính mạng của bà con nhân dân”.
Nhằm xác minh sự thật về lá đơn này, vào tháng 6, chúng tôi đã về Tam Đảo. Tiếp chúng tôi tại trụ sở Vườn, Giám đốc Đỗ Đình Tiến nhắc đi nhắc lại việc nhận được đơn thư phản ánh của bà con thôn Tân Long về việc gấu gây ô nhiễm. “Cái sai lầm ở đây là đặt trại gấu trên đầu nguồn nước”, ông Tiến nói. Rồi ông dẫn lời các hộ dân kêu với ông rằng nước thải của gấu ngấm xuống ... giếng nước nhà họ. Ông còn gọi người dẫn chúng tôi đến gặp bà Phạm Thị Huê, trưởng thôn Tân Long, nhưng chúng tôi nói với ông Tiến là sẽ tự đi tìm hiểu sự việc.
Chúng tôi đã đi thị sát dọc suối Bạc, vào thôn Tân Long, nơi các hộ dân khiếu kiện và thôn Làng Hà, ngay bên cạnh hồ Làng Hà. Ông Huyên Thanh Hùng (thôn Làng Hà) và Đặng Đình Tiến (thôn Tân Long) cho biết, Giám đốc VQG Tam Đảo Đỗ Đình Tiến đã từng gọi hai ông đến nhà riêng và xúi giục viết đơn tố cáo Trung tâm cứu hộ gấu gây ô nhiễm môi trường. Nhưng ông Hùng và ông Tiến từ chối. “Không loại trừ bà Phạm Thị Huê, trưởng thôn Tân Long đã nghe theo lời xúi giục này mà viết đơn. Chứ nhà tôi sống cạnh hồ Làng Hà, tôi làm ống dẫn thẳng nước từ hồ về để sinh hoạt mà có thấy làm sao đâu”, ông Hùng nói.
Nhiều người dân thôn Làng Hà và thôn Tân Long tụ tập tại nhà ông Hùng để gặp chúng tôi hôm đó đều nói, Trung tâm gấu họ xử lý nước thải cẩn thận lắm. Hằng tháng họ vẫn ra hồ Làng Hà lấy mẫu nước đi xét nghiệm. Nên người dân sống cạnh hồ vẫn yên tâm dùng nước này để tưới tiêu.
Sau khi nhận thêm lá đơn của các hộ dân thôn Tân Long, ngày 5-6, Sở TNMT Vĩnh Phúc đã ra Quyết định số 99 lập đoàn thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai, bảo vệ môi trường và tài nguyên nước tại Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam. Hơn hai tháng sau, ngày 16-8, Sở đã có kết luận thanh tra. Đồng thời, ngày 9-9, Sở gửi Công văn số 929/STNMT-TTr ngày 9-9 trả lời ý kiến phản ánh ô nhiễm nước hồ Làng Hà của một số hộ dân thôn Tân Long. Đến đây, hàm oan “gấu làm ô nhiễm môi trường sống của người” mới được “giải” sau một tháng ròng cơ quan này lập đoàn thanh tra đi kiểm tra nguồn nước.
Công văn số 929 của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc kết luận rằng: “Khu đất của Trung tâm cứu hộ gấu không nằm ở vị trí đầu nguồn nước như đơn thư phản ánh của một số hộ dân (vị trí đầu nguồn nước là khu vực thị trấn Tam Đảo)”.
Công văn này còn cho biết: Ngày 19-6, Đoàn thanh tra đã làm việc với Trung tâm cứu hộ gấu, Ban quản lý VQG Tam Đảo và đại diện chính quyền địa phương, trong đó có bà Nguyễn Thị Huê. Nhưng tại buổi làm việc, bà Huê không xuất trình được kết quả phân tích chứng minh sự ô nhiễm chất lượng nước giếng ven hồ Làng Hà (đơn thư của 40 hộ dân khẳng định “đã lấy mẫu nước sinh hoạt tại các giếng ven hồ để kiểm tra”).
Đoàn cũng đã lấy mẫu nước giếng khơi tại một số hộ dân thuộc khu vực thôn Tân Long sinh sống gần hồ Làng Hà. Công văn 929 khẳng định: “Kết quả phân tích cho thấy: Chất lượng nước sinh hoạt ở khu vực tương đối tốt, tất cả các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm”.
Đoàn Thanh tra cũng tiến hành lấy mẫu nước mặt tại hồ Làng Hà. Kết quả phân tích cho thấy: Có 3/16 chỉ tiêu phân tích vượt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường nước mặt. “Với kết quả phân tích này, nước hồ Làng Hà chỉ bị ô nhiễm ở mức độ nhẹ, mang tính thời điểm, chứ không phải “ô nhiễm nghiêm trọng” như đơn thư phản ánh”, công văn 929 viết.
“Báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường hàng năm tỉnh Vĩnh Phúc cũng cho thấy, chất lượng nước hồ Làng Hà tương đối tốt, đủ điều kiện sử dụng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi và nuôi trồng thủy sản”.
Công văn 929 kết luận: “Việc một số hộ dân thôn Tân Long, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo phản ảnh ô nhiễm nước hồ Làng Hà do nước thải của Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam gây nên là không đúng thực tế”.
Và kết luận khách quan của Sở Tài nguyên Môi trường Vĩnh Phúc, đáng tiếc lại chưa là hồi kết cho những “án oan” liên tiếp được đổ vấy lên đầu những con gấu. Điều này chúng tôi sẽ đề cập đến trong bài sau. (Nhân Dân 9/11) đầu trang(
Trong sử sách, rừng núi ở Tam Đảo từng được ghi nhận là nơi sinh sống của nhiều loài thú dữ, trong đó có gấu. Gấu từng là nỗi ám ảnh của quan binh Pháp trong quá trình thôn tính đất này. Nhưng sau đó, gấu được xác định đã tuyệt chủng ở Tam Đảo.
Và giữa thế kỷ 21 này, gấu đã trở lại đây, sống hoang dã và tự do trong giới hạn cho phép giữa lũng Chắt Dậu. Vậy mà khi đang xây dựng dở với 104 con gấu được đón về, Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam lại đang đối mặt với một quyết định di dời.
Trong khi vụ gấu gây ô nhiễm nước chưa có kết luận cuối cùng, trong tháng 6, Giám đốc VQG Tam Đảo Đỗ Đình Tiến đã đơn phương gửi thẳng công văn đã đến Bộ chỉ huy (BCH) Quân sự Vĩnh Phúc và Bộ Quốc phòng, không thông qua Ban quản lý dự án, cũng không thông qua Bộ NNPTNT - cơ quan chủ quản của mình và ngang cấp với Bộ Quốc phòng - nhằm đề nghị hai cơ quan này có ý kiến đề nghị Bộ NNPTNT, Tổng cục Lâm nghiệp không mở rộng Trung tâm cứu hộ gấu ở thung lũng Chắt Dậu, đoạn Km13 quốc lộ 2B nữa và có kế hoạch di dời Trung tâm cứu hộ gấu này tới một địa điểm phù hợp khác vì lý do an ninh quốc phòng.
Lần lượt vào ngày 4 và 9-7-2012, hai cơ quan này đều có công văn gửi đến Bộ NNPTNT. Nhưng trong khi Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ NNPTNT “không mở rộng Trung tâm cứu hộ gấu tại thung lũng Chắt Dậu” và “tìm vị trí khác quy hoạch mở rộng Trung tâm” (theo công văn số 1997/BQP-TM) thì BCH Quân sự Vĩnh Phúc lại đề nghị “không nên mở rộng, xây dựng” và “có kế hoạch di dời Trung tâm cứu hộ gấu này tới một địa điểm phù hợp khác”.
Ngày 30-8, UBND tỉnh Vĩnh Phúc cũng gửi công văn số 3811 đến Bộ NNPTNT và Trung tâm cứu hộ gấu đề nghị “tạm dừng việc triển khai xây dựng các công trình trên diện tích 4.939ha đất còn lại của dự án. Việc triển khai giai đoạn 2 của dự án được thực hiện khi có sự thống nhất giữa Bộ Quốc phòng, Bộ NNPTNT và UBND tỉnh Vĩnh Phúc”.
Nếu “không được mở rộng” như trong đề nghị của Bộ Quốc phòng, có thể hiểu, dự án Trung tâm cứu hộ gấu sẽ dừng lại ở 6ha đã được xây dựng trong số 11ha được phê duyệt, và đủ chỗ cưu mang cho khoảng 100 con gấu, thay vì 200 con như mục tiêu ban đầu của dự án đề ra. Và như vậy, 104 con gấu đang sinh sống tại đây sẽ vẫn được vui chơi trong không gian tự do mà con người dành cho chúng mà không phải di dời đi bất cứ đâu, chỉ không còn cơ hội cho những con gấu khác mà thôi.
Tuy nhiên, trong cuộc họp ngày 25-9 tại Bộ NNPTNT, do Thứ trưởng Hà Công Tuấn chủ trì, thì vấn đề dừng dự án và xem xét khả năng bố trí khu vực khác để xây dựng dự án lại được đại diện các bên đưa ra, chứ không chỉ dừng ở việc không mở rộng dự án như đề nghị của Bộ Quốc phòng trước đây.
Tại thông báo số 4850/TB-BNN-VP ngày 3-10-2012 về kết luận của Thứ trưởng Hà Công Tuấn tại cuộc họp về dự án Trung tâm cứu hộ gấu, Bộ NNPTNT đã chính thức đồng ý với đề nghị của Bộ Quốc phòng. Thứ trưởng Hà Công Tuấn giao Tổng cục Lâm nghiệp sớm thông báo với tổ chức AAF bàn bạc giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến việc dừng dự án và xem xét khả năng bố trí khu vực khác để xây dựng Trung tấm cứu hộ gấu. Thứ trưởng cũng chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp đề xuất văn bản lấy ý kiến bộ ngành, địa phương liên quan để báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định.
“Không mở rộng”, “tạm dừng” và “di dời” dự án là những cụm từ không hề đồng nghĩa với nhau trong cách giải quyết về vụ gấu Tam Đảo mà các cơ quan liên quan đề xuất. Và giờ đây, quyết định cuối cùng được chuyển lên cho Thủ tướng Chính phủ, đây cũng là cấp đã đồng ý cho Bộ NNPTNT tiếp nhận dự án vào năm 2008.
Ngay sau khi nhận được thông báo này, Trung tâm cứu hộ gấu đã ra thông cáo thể hiện phản ứng của mình. Theo AAF, “việc đóng cửa Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam sẽ là lệnh trục xuất đối với 104 cá thể gấu đã được cứu thoát khỏi ngành công nghiệp nuôi gấu lấy mật, đẩy 77 nhân viên địa phương của Trung tâm vào cảnh thất nghiệp, cũng như gây cho Tổ chức Động vật châu Á những tổn thất nặng nề hơn nhiều so với con số tài chính 2 triệu USD. Không chỉ có vậy, việc thực hiện cam kết chấm dứt nạn nuôi gấu lấy mật của Chính phủ Việt Nam sẽ vẫn chỉ là một câu hỏi lớn”.
Không phải đến bây giờ, việc phải đóng cửa Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam - ngôi nhà của 104 con gấu mới được nói đến. Vụ việc kéo dài đã một năm nay, khởi đầu bằng quyết định vô lý tạm dừng xây dựng nửa ngôi nhà gấu đôi thứ hai của Giám đốc VQG Tam Đảo Đỗ Đình Tiến vào năm 2011. 77 nhân viên của Trung tâm đã nhiều lần “thót tim” không biết công việc của mình sẽ thế nào, và càng không biết số phận của những con gấu sẽ ra sao. Họ đã bảo nhau viết đơn gửi đến các cơ quan chức năng kêu cứu cho gấu, cũng là tự cứu lấy mình. Nhiều lá đơn đọc xong khiến người ta phải cảm động ứa nước mắt vì sự gắn bó giữa người và gấu nơi đây.
Vài chục lá đơn mà chúng tôi có trong tay đều kể về quá trình gắn bó với gấu của những nhân viên nơi đây và ấn tượng mạnh mẽ của họ khi được làm việc trong một môi trường năng động mà một tổ chức nhân đạo đã dành mối quan tâm sâu sắc tới không chỉ quyền lợi của các loài động vật mà còn cả môi trường cũng như các điều kiện sống, làm việc của công nhân với cộng đồng xung quanh...
Họ cho rằng, một nơi như Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam xứng đáng là một hình mẫu cho không chỉ các trung tâm cứu hộ động vật trong nước mà còn là một hình mẫu cho các doanh nghiệp về môi trường làm việc và bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Trong lá đơn của mình, nhân viên Đào Thị H. băn khoăn: “Không biết đến bao giờ Việt Nam mới có thể tự xây dựng một trung tâm với hệ thống thiết bị như vậy. Liệu phải mất bao lâu để tìm một vị trí mới và xây dựng lại từ đầu? Liệu lúc đó hơn 100 con gấu sẽ ở đâu? Sau bao lâu được tự do, được sống thực sự như một con vật hoang dã thì nay chúng đang trong nguy cơ bị nhốt lại lần nữa để con người xây cho chúng ngôi nhà khác? Hay Chính phủ Việt Nam sẽ có công văn thả hơn 100 con gấu về rừng và 100 con gấu này, trong một ngày không xa bị bắt lại để chích hút mật? Liệu còn nhà đầu tư nào tiếp tục bỏ tiền và một dự án mà tính bền vững không có? Liệu có tin được rằng Trung tâm cứu hộ sẽ được phát triển bền vững tại một nơi mới hay lại phải chiến đấu với những kẻ tham lam được bệ đỡ?...”
Công nhân Nguyễn Văn Ng. đặt câu hỏi: “Giả sử Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam phải đóng cửa hoặc di dời đi nơi khác, hay một tổ chức nào đó vào hoạt động, họ có mang lại công việc ổn định cho chúng tôi không? Và loài gấu có được bảo tồn nữa không?”
Nhiều lá đơn kể chi tiết quá trình Trung tâm từ chỗ đang hoạt động rất tốt lại bị tạm đình chỉ, bị thanh tra về môi trường, rồi nằm trong khu vực phòng thủ về an ninh quốc phòng, để rồi cuối cùng bị đề nghị đóng cửa.
Và rất trùng hợp khi tất cả các lá đơn đều có chung một nhận định: Trung tâm cứu hộ gấu bị di dời là do Giám đốc VQG Tam Đảo Đỗ Đình Tiến ngăn cản vì những tư lợi cá nhân. Nhiều lá đơn còn tố cáo hành vi nhận tiền hối lộ của ông Tiến đối với hàng chục nhân viên khi họ nộp đơn xin dự tuyển vào Trung tâm cứu hộ gấu. Số tiền ông Tiến nhận của những công nhân này là từ 8 đến 50 triệu đồng mỗi người. Và chỉ khi có tiền, đơn dự tuyển vào Trung tâm của họ mới được ông Tiến chuyển cho Trung tâm cứu hộ gấu.
Lá đơn của chị Phạm Thị Thu H. cho biết, khi vào làm việc ở Trung tâm vào tháng 7 năm ngoái, chị mới biết vị trí cán bộ giáo dục của chị đã từng được rao với giá 70 triệu đồng, nhưng phía Vườn không tìm được hồ sơ nào đáp ứng được yêu cầu, nên Trung tâm mới được đăng tuyển công khai trên toàn quốc. Và chị được chọn vào làm việc nhờ điều đó.
Các lá đơn đều khẩn thiết kêu gọi các cơ quan chức năng xem xét thay đổi quyết định di dời Trung tâm cứu hộ gấu. “Hy vọng các cá thể gấu vốn đã bị đối xử tàn tệ bởi chính sự độc ác của con người sẽ không lại bị sự tham lam ích kỷ của một số người làm ảnh hưởng một lần nữa”, một lá đơn viết. “Kính mong Bộ xem xét kỹ lưỡng và có quyết định đúng đắn. Chúng ta hãy góp một phần bảo vệ các loài động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam và trên toàn thế giới”, một lá đơn khác viết. Có người đề nghị “các lãnh đạo có thẩm quyền xem xét kỹ hơn bản chất của sự việc cũng như tư cách của một Giám đốc VQG. Liệu ông Tiến đang hành động vì lợi ích của đất nước hay vì lợi ích cá nhân?”
Khi gặp chúng tôi, Nguyễn Văn P., một trong những công nhân đầu tiên được tuyển vào làm việc tại đây, buồn bã nói, gia đình anh chỉ quen làm nông, nhưng giờ ruộng đất không còn. 5 năm làm việc, với vị trí tổ trưởng công nhân, P. được nhận mức lương hơn 6 triệu đồng. Không bằng cấp gì, nhưng P. cho biết mình thật may mắn kiếm được một công việc với mức lương đáng mơ ước cho những người dân nghèo nơi đây. Nếu trung tâm đóng cửa, P. vẫn không biết mình sẽ tiếp tục sống bằng nghề gì. “Giờ còn ngày nào hay ngày ấy, gấu còn ở đây thì bọn em vẫn ở lại để giúp đỡ Trung tâm”, anh nói.
Đến tận bây giờ, không chỉ P., 77 nhân viên của Trung tâm vẫn quyết bám trụ cùng những con gấu, chưa ai rời bỏ vị trí của mình, dù trong lòng họ rất buồn... (Nhân Dân 10/11)đầu trang(
Ðể ngăn chặn tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, tỉnh Gia Lai đã thành lập bốn đoàn kiểm tra liên ngành tại bốn địa bàn trọng điểm thuộc các huyện Ðức Cơ, Chư Prông, Chư Păh và Ðác Ðoa; các huyện, thị xã còn lại cũng tự thành lập Ðoàn kiểm tra trên địa bàn.
Sau hơn hai tháng triển khai, các đoàn kiểm tra đã phát hiện hơn 300 vụ vi phạm lâm luật và tịch thu hơn 600 m3 gỗ các loại, tạm giữ hàng trăm phương tiện khác. (Nhân Dân 11/11)đầu trang(
12-11, Công an huyện Diễn Châu (Nghệ An) đề nghị UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định xử phạt chị Nguyễn Thị Thể (trú tại xóm Phú Bình, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) vì đã vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng và tịch thu tang vật là hai con hổ sống.
Như đã đưa tin, 6-11, lực lượng công an huyện kiểm tra, thu giữ hai con hổ trên từ hộ của ông Nguyễn Văn Sáng (trú ở xóm 5, xã Diễn Quảng, huyện Diễn Châu) đang nuôi nhốt trái phép. Ông Sáng khai hai con hổ này do chị Thể gửi nuôi từ ngày 2-11.
Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu cho biết sẽ giao hai con hổ trên cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã chăm sóc để làm quen với môi trường sống tự nhiên sau đó thả về rừng. Hai con hổ trên là cá thể động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý hiếm (nhóm IB). (Pháp Luật TPHCM 13/11)đầu trang(
Một vụ vận chuyển ngà voi và sừng tê giác đã bị ngăn chặn tại sân bay quốc tế Nội Bài.
Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài liên tiếp phát hiện và bắt giữ 4 đối tượng, 2 vụ buôn lậu, vận chuyển lớn với hơn 120 kg ngà voi và trên 23 kg sừng động vật nghi là tê giác chỉ trong vòng 4 ngày (từ ngày 4 -8 tháng 11). Giá trị số hàng trên ước tính lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Hai hành khách đi trên chuyến bay SQ176 Singapore - Nội Bài ngày 08-11 đã bị tạm giữ khi phát hiện mang theo nhiều sùng động vật hoang dã. Qua kiểm tra, Đội thủ tục hành lý nhập khẩu - Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài- đã phát hiện trong hành lý của hai hành khách có tên Lê Viết Dương (SN1988) và Lê Văn Nam (SN 1986) cùng ở huyện Ứng Hòa, Hà Nội có chứa sùng tê giác và ngà voi.
Ngay lập tức lượng lượng làm nhiệm vụ đã báo cáo lãnh đạo và đồng thời kiểm đếm tang vật. Tổng số gồm 26 khúc ngà voi có độ dài khác nhau với trọng lượng khoảng trên 120 kg được giấu trong 2 chiếc túi và 4 valy số. Trước đó, ngày 4-11, qua soi chiếu hành lý ký gửi, lực lượng hải quan đã phát hiện hai đối tượng có biểu hiện nghi vấn là Nguyễn Văn Chiến và Nguyễn Văn Thân đều trú Hà Nội, kiểm tra hành lý của hai đối tượng này, Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài phát hiện có 7 chiếc sừng động vật nghi là sừng tê giác, có trong lượng 23kg cất giấu trong hai valy.
Vụ việc đã đươc Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Nội Bài lập biên bản, tạm giữ các đối tượng vận chuyển cùng toàn bộ số hàng trên để điều tra làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 10/11)đầu trang(
10-11, trong khi làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại km 193 quốc lộ 18A thuộc địa phận xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, Đội tuần tra kiểm soát giao thông 1- 4 thuộc Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh phát hiện xe ô tô mang BKS 16N – 6905 do Đỗ Xuân Đạt, trú tại Hải Hà điều khiển vi phạm luật giao thông đường bộ. Trong quá trình kiểm tra đã phát hiện trên xe trở 700kg mèo thịt không có giấy tờ hợp lệ.
Theo lời khai của lái xe, toàn bộ số hàng trên có nguồn gốc từ Trung Quốc, đang trên đường vận chuyển vào nội địa tiêu thụ.
Hiện Đội tuần tra kiểm soát giao thông 1- 4 đã bàn giao cho Phòng cảnh sát môi trường để xử lý . (Công An Nhân Dân 12/11; Báo Quảng Ninh 11/11)đầu trang(
Tin từ Công an H.K’bang (Gia Lai) ngày 12/11 cho biết, Công an huyện đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Văn Nghị (20 tuổi), Đặng Đức Thọ (32 tuổi), Nguyễn Văn Nguyên (29 tuổi), Nguyễn Văn Quyết (28 tuổi) và Hồ Viết Đức (28 tuổi, cùng trú H.K’bang) về hành vi “chống người thi hành công vụ”.
Trưa 20.10, nhóm người này đã dùng đá tấn công một số cán bộ bảo vệ rừng của Công ty lâm nghiệp Krông Pa khi bị phát hiện khai thác gỗ hương trái phép tại lâm phần của công ty. 3 cán bộ bảo vệ rừng là Nguyễn Thành Vinh, Lê Thành Công và Bùi Cao Đỉnh bị thương, phải đi cấp cứu; một số cán bộ gác rừng khác cũng bị thương nhẹ. (Thanh Niên 13/11)đầu trang(
Thanh tra tỉnh Thừa Thiên - Huế kiến nghị UBND tỉnh xem xét kỷ luật đối với ông Hồ Đăng Vang, Giám đốc Sở NN - PTNT, vì để xảy ra nhiều sai phạm
Qua hơn 3 tháng tiến hành thanh tra tại Sở NN-PTNT tỉnh Thừa Thiên - Huế và các đơn vị liên quan, thanh tra tỉnh đã có kết luận về hàng loạt sai phạm trong việc bán đấu giá rừng trồng, thu chi tài chính, chỉ định đấu thầu… gây thất thoát lớn cho ngân sách.
Chỉ tính riêng trong phê duyệt, thẩm định các hồ sơ khai thác rừng trồng, kết quả kiểm tra 49 hồ sơ tại các ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Bồ, A Lưới, Nam Đông, Sông Hương, Bắc Hải Vân cho thấy Sở NN-PTNT đã áp giá tùy tiện, không có căn cứ trong việc phê duyệt chi phí phát luồng thực bì, chặt hạ cắt khúc, bốc xếp, bóc vỏ cây…
Việc này hoàn toàn do ông Lê Ánh, chuyên viên Phòng Kế Hoạch - Tài chính (Sở NN-PTNT), tự đưa ra để trình ông Hồ Đăng Dũng, Trưởng Phòng Kế hoạch - Tài chính ký và được ông Hồ Đăng Vang, Giám đốc Sở NN-PTNT, ban hành quyết định phê duyệt theo hướng giảm dần giá trị so với ban đầu.
Trong số này có 15 hồ sơ được thẩm định lại dự toán khai thác rất nhiều lần, làm giảm số tiền so với ban đầu trên 10 tỉ đồng. Nghiêm trọng nhất là thẩm định giảm diện tích rừng từ 120 ha xuống còn 75,27 ha rừng thông ở BQL Rừng phòng hộ A Lưới dẫn đến giảm giá trị gần 2,3 tỉ đồng so với quyết định của UBND tỉnh.
Việc tính chặt hạ, cắt khúc gỗ theo quy định của Cục Lâm nghiệp chỉ 0,2 công/m3 nhưng Sở NN-PTNT áp dụng là 1 công/m3; việc áp đơn giá sửa chữa, làm đường rất tùy tiện, dao động từ 20-50 triệu đồng/km; kinh phí chi cho chỉ đạo là 1 tỉ đồng, trong khi quyết định của UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế không có khoản chi phí này…
Riêng ông Hồ Đăng Vang còn chỉ đạo, can thiệp trực tiếp vào BQL Rừng phòng hộ Sông Hương, A Lưới để cho Xí nghiệp Tấn Lộc (trụ sở ở Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) được trúng đấu giá khai thác hàng trăm hecta rừng trồng. Can thiệp để doanh nghiệp này được mượn 200 triệu đồng từ BQL rừng phòng hộ A Lưới nhằm chi trả cho dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn JBIC.
Thanh tra tỉnh Thừa Thiên – Huế khẳng định ông Vang đã làm thất thoát gần 9,2 tỉ đồng trong việc thẩm định khai thác rừng trồng; 1,1 tỉ đồng do 1.123 ha rừng không có sản lượng vì sai sót trong việc thiết kế, thẩm định, nghiệm thu trồng rừng… Vì vậy, Thanh tra tỉnh Thừa Thiên - Huế kiến nghị UBND tỉnh kiểm điểm trách nhiệm và có hình thức xử lý kỷ luật đối với ông Vang. Ngoài ra, yêu cầu các đơn vị trực thuộc tiến hành kiểm điểm nghiêm khắc vì để xảy ra sai phạm.
Liên quan đến những sai phạm này, Chánh Thanh tra tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra quyết định tạm giữ và thu hồi nộp vào ngân sách Nhà nước trên 3,6 tỉ đồng. Thanh tra tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng chuyển hồ sơ qua cơ quan công an để tiếp tục làm rõ một số dấu hiệu vi phạm pháp luật gây thất thoát ngân sách của một số cá nhân thuộc Sở NN-PTNT, BQL Rừng phòng hộ A Lưới và dấu hiệu lừa đảo của ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Xí nghiệp Tấn Lộc.
Ông Lê Trường Lưu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết trước mắt, Sở NN-PTNT phải tiến hành họp kiểm điểm và xử lý kỷ luật đối với các đơn vị, cá nhân trực thuộc đã để xảy ra sai phạm. Sau đó, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế sẽ họp xử lý theo quy định. Ông Lưu khẳng định: “Kết luận thanh tra đã có thì chúng tôi căn cứ vào đó để xử lý. Ai sai sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật chứ không bao che”. (Người Lao Động 13/11)đầu trang(
Công an Hà Tĩnh cho biết, vừa có quyết định khởi tố thêm 3 đối tượng chặt phá rừng với số lượng lớn trong vụ phá rừng tàn khốc xảy ra tại xã Sơn Hồng, Hương Sơn.
Đại tá Hoàng Bá Thọ, Trường phòng CSĐT tội phạm về kinh tế và chức vụ cho biết, cơ quan điều tra vừa ra quyết định khởi tố thêm 3 đối tượng trong vụ phá rừng tàn khốc ở Hương Sơn về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đối với các đối tượng, Lê Quốc Vương (SN 1977, trú xã Sơn Hồng, Hương Sơn); Lê Tình (SN 1974, trú xã Sơn Hồng) và Uông Công Giáo (SN 1974, trú xã Sơn Phúc). với số lượng lên tới gần 120m3 gỗ xẻ thuộc khu vực rừng biên giới thuộc xã Sơn Hồng, Hương Sơn do Cty lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn quản lý.
Cũng theo Đại tá Hoàng Bá Thọ cho biết, "sau 7 tháng điều tra, cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã tiến hành khởi tố, bắt tạm giam 15 đối tượng liên quan đến vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng nói trên. Trong đó 6 đối tượng trực tiếp khai thác, 2 đầu nậu buôn bán, 4 cán bộ (chủ rừng) và 3 cán bộ kiểm lâm địa bàn. Những đối tượng trên đã có các hành vi Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, nhận và đưa hối lộ”.
Được biết, quá trình điều tra vụ án này có nhiều khó khăn phức tạp, bởi vụ việc diễn ra trong một quá trình dài trên địa bàn miền núi hiểm trở, có liên quan đến số lượng lớn lên tới 400 người tham gia. Sau khi sàng lọc, phân loại từng đối tượng để xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đảm bảo ổn định tình hình, không ảnh hưởng đến đời sống dân sinh trên địa bàn, đồng thời tích cực giúp chủ rừng khôi phục SX có hiệu quả..
Vụ án đã kết thúc, cơ quan điều tra đang hoàn tất hô sơ để chuyển viện kiểm sát kịp thời truy tố các đối tượng trước pháp luật. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/11; Vietnamnet 13/11) đầu trang(
Công an tỉnh Đắk Nông vừa thực hiện lệnh bắt, khám xét nơi ở đối với Thân Văn Minh (SN 1943) và Thân Văn Hòa (SN 1974), nguyên Giám đốc và Phó giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Tín để điều tra làm rõ về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo tài liệu của Cơ quan điều tra, trong thời gian từ năm 2007 đến 2011, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Tín (công ty Quảng Tín - trụ sở tại xã Quảng Tín, huyện Đắk R’Lấp) được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lý hàng ngàn héc ta rừng để phục vụ cho việc triển khai thực hiện các dự án quản lý, bảo vệ phát triển rừng.
Theo đó, trong quá trình thực hiện, Công ty Quảng Tín đã liên doanh liên kết với các công ty, doanh nghiệp từ các tỉnh khác đến để triển khai các dự án trồng rừng và cây cao su. Tuy nhiên sau khi ký kết hợp đồng liên doanh liên kết với các công ty, Thân Văn Minh và Thân Văn Hoà đã thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý, không phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, các thành viên của công ty trong thực hiện quản lý bảo bệ rừng…, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm rừng bị phá mất trắng với một diện tích rất lớn.
Theo cơ quan công an, tổng diện tích rừng thiệt hại, mất trắng từ sự tắc trách của Công ty Quảng Tín là hơn 1.000 ha, trong đó bước đầu cơ quan điều tra xác định, có 262 ha nằm trong hợp đồng dự án liên doanh liên kết khái thác bảo bệ rừng giữa Công ty Quảng Tín với Công ty TNHH Hoàng Khang Thịnh (trụ sở tại thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đã bị xoá sổ hoàn toàn.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Nông đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (An Ninh Thủ Đô 13/11)đầu trang(
Hơn 4 năm nay, phía sau khuôn viên Nhà văn hóa huyện Krông Năng có một khối lượng gỗ Thủy tùng nằm chình ình mặc cho “mưa chan, nắng đốt” và có nguy cơ ải mục…
Việt Nam là một trong số ít các quốc gia còn tồn tại giống cây này, theo thống kê của các cơ quan chức năng, trên lãnh thổ Việt Nam hiện chỉ còn lại một số cá thể và được phân bố rải rác trên các địa bàn hẻo lánh thuộc huyện Krông Năng và huyện EaH’leo (Đắk Lắk).
Theo ông Nguyễn Văn Kiểm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng cho biết, lâu nay cư dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Krông Năng nói riêng đang bùng phát thú chơi đồ gỗ, đặc biệt đối với loài Thủy tùng (thuộc nhóm gỗ A1) …và cứ thế cư dân tại mọi thôn buôn trên địa bàn thi nhau đào bới, càn quét lùng sục tìm kiếm khắp mọi nơi nhằm tận thu tất tần tật mọi thành phần từ thân, cành, gốc thậm chí cả rễ cây Thủy tùng.
Trước nạn khai thác bừa bãi dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng cao đối với loài thực vật quý hiếm này lực lượng Kiểm lâm huyện đã tích cực tuần tra, ngăn chặn, xử lí các đối tượng khai thác và mua bán trái phép.
Từ năm 2009, Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng đã truy thu được gần 46 m3 gỗ Thủy tùng từ các đầu nậu gỗ lậu, số gỗ này chúng tôi cho tập kết tại phía sau khuôn viên Nhà văn hóa huyện, từ đó tới nay chúng tôi cũng như các cơ quan chức năng đã liên tục đề nghị các cấp chính quyền địa phương … xử lí số gỗ này theo các phương án như tổ chức bán đấu giá thanh lí hoặc chuyển giao cho các cơ quan sử dụng trang trí nội thất như Bảo tàng, Du lịch...
Trong khi chờ đợi quyết định của cấp trên, để tránh tình trạng thất thoát số gỗ quý hiếm này, hàng tháng Hạt Kiểm lâm buộc phải thuê nhân công với số tiền 300 ngàn đồng/người /tháng để trông nom bảo vệ.
“Cứ bảo Thủy tùng là loại gỗ quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng… nhưng tịch thu về lại để phơi nắng, phơi mưa như vầy hàng bao năm trời thì thật là rất không nên, vả lại trông nó phản cảm thế nào ấy…”- một người đàn ông sống ở gần Nhà văn hóa huyện Krông Năng phàn nàn.
Được biết không chỉ riêng tại huyện Krông Năng mà hiện nay tại một số huyện khác của tỉnh Đắk Lắk như EaH’leo, Krông Búk… cũng có hàng chục m3 gỗ Thủy tùng và cũng đang trong tình trạng “mòn mỏi” chờ quyết định của các cấp chính quyền… (Dân Trí 12/11)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều người lao vào khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Con Cuông) khai thác lâm sản trái phép. (Nhân Dân 12/11)đầu trang(
Một cá thế cá quý hiếm vừa bị bắt trên sông Gâm, đây là loài cá nằm trong Sách đỏ và đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Khoảng 11h sáng 9/11, trên tài khoản Facebook của một bạn có tên là Ly Gia Ken quê ở Cao Bằng xuất hiện hình ảnh một chú cá chiên khoảng 50-60kg, tấm ảnh có tiêu đề là "quái vật sông Gâm".
Theo thông tin, đây là cá thể cá vừa được bắt ở sông Gâm (Cao Bằng), nhánh của sông này chảy qua vùng Bảo Lạc, Bảo Lâm của Cao Bằng. Đặc biệt, khu vực nước Vằng Biu, Hắt Táng (Bảo Lạc) ở thượng nguồn sông Gâm gần đây xuất hiện nhiều người chuyên đánh bắt loại cá này.
Cá chiên có tên khoa học là Bagarius, thuộc cấp độ V - nhóm nguy cơ có thể bị tuyệt chủng, tuy nhiên loại cá này vẫn đang bị nhiều ngư dân truy bắt bởi có giá rất đắt, với giá mua tại chỗ không dưới 400.000 đồng/kg và khi chuyển về những nơi tại Hà Nội thì giá đắt gấp nhiều lần.
Hiện tại, người dân cho biết những cá thể cá chiên nặng từ 3 - 5kg may mắn vẫn có thể bắt được, nhưng to và nặng như cá thể cá chiên trong ảnh là rất hiếm.
Đây là một trong 4 giống cá nước ngọt quý hiếm được coi là "tứ quý hà thủy" gồm cá anh vũ, cá chiên, cá lăng và cá bống sinh sống trên dòng sông Gâm.
Khu vực sống của loài cá này thuộc vùng dân cư heo hút, đời sống của người dân rất khó khăn. Thông thường, những cá thể cá này khi bị bắt đều được đem bán và làm thịt ngay lập tức, khiến nguy cơ tuyệt chủng nguồn gene quý hiếm là hiện hữu.
Nhiều ý kiến bình luận đưa ra xoay quanh việc sẽ làm thịt cá thể cá này như thế nào, không ai bày tỏ việc cần phải bảo vệ nguồn gene quý hiếm. (Khoa Học&Đời Sống 12/11)đầu trang(
Ngày 11.11, ông Nguyễn Mạnh Thi, Chủ tịch UBND xã An Phú, TP.Tuy Hòa (Phú Yên) cho biết, xã đã huy động công an và dân quân truy bắt con khỉ 3 chi tấn công hàng loạt người đi đường.
Theo ông Thi, con khỉ này chỉ tấn công đàn ông, còn phụ nữ thì nó tỏ ra thân thiện. Theo những người ở đây, đã có hơn 10 người bị con khỉ tấn công, trong đó nặng nhất là anh Nguyễn Minh Khánh (31 tuổi, ở thôn Xuân Dục, xã An Phú). Đến chiều 11.11, anh Khánh vẫn đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 13 (tỉnh Bình Định). Chị Võ Thị Hồng Phúc (vợ anh Khánh) cho biết, hiện tại cánh tay phải của anh Khánh đã bị hoại tử, gân co rút, có khả năng tháo khớp khuỷu tay.
Theo lời chị Phúc, khi vợ chồng chị đi ngang đoạn đường Lê Duẩn, TP.Tuy Hòa thì phát hiện một con khỉ rất to, nặng khoảng 15 kg, bị mất chi trước, cổ còn đeo dây xích ngồi giữa đường. Thấy lạ, vợ chồng chị dừng xe để xem thì con khỉ bước lại cầm tay, tỏ ra thân thiện với chị Phúc, nhưng bất ngờ nhảy lên và ôm cổ tay anh Khánh cắn. Vì bị chống trả quyết liệt nên con khỉ bỏ vào rừng dương liễu gần đó. Vài ngày sau, anh Nguyễn Văn Đông (xã An Mỹ, H.Tuy An) trên đường từ TP.Tuy Hòa về qua đoạn đường này cũng bị con khỉ 3 chi tấn công vào hai cánh tay, phải khâu 14 mũi. (Thanh Niên 12/11)đầu trang(
Gần đây, nhiều nông dân trên địa bàn huyện Cam Lâm nuôi con dúi - loài động vật rừng thông thường. Do đây là đối tượng nuôi mới nên nông dân đang rất cần được hỗ trợ, hướng dẫn về kỹ thuật.
Là một trong những người đầu tiên nuôi thành công loại động vật hoang dã này, ông Dương Văn Châu - nông dân xã Suối Cát chia sẻ, ban đầu, thấy nhiều người vào rừng đào dúi bán với giá cao, thấy không có hàng để bán nên ông quyết định nuôi thử. Đầu năm 2012, với số vốn 10 triệu đồng, ông thả nuôi thử 20 cặp dúi. Chưa đến 1 năm, đàn dúi của gia đình ông đã phát triển lên gần 100 con. Hiện tại, với giá bán từ 400 đến 600 ngàn đồng/cặp dúi giống và hơn 350 ngàn đồng/kg dúi thịt, ông Châu thu về tiền triệu mà không mất nhiều chi phí.
Ông Châu cho biết: “Ban đầu, tôi chỉ nuôi thử. Dúi là loài dễ nuôi, chi phí đầu tư ít, không tốn nhiều công, quay vòng vốn nhanh, đầu ra tốt. Dúi nuôi từ lúc sinh ra đến khi thành thương phẩm (ăn thịt được) chỉ từ 6 đến 8 tháng. Dúi càng già thịt càng ngon. Cứ 3 đến 4 tháng, dúi sinh sản một lần, mỗi lứa từ 2 đến 3 con. Vừa qua, tôi đã xuất bán 25 cặp dúi con đã biết ăn, trị giá hơn 12 triệu đồng cho một số nông dân trong xã và các tỉnh, thành khác”.
Gần đây, nhiều nông dân trên địa bàn huyện Cam Lâm nuôi con dúi - loài động vật rừng thông thường. Do đây là đối tượng nuôi mới nên nông dân đang rất cần được hỗ trợ, hướng dẫn về kỹ thuật.
Hộ ông Trần Xuân Thái (xã Cam Tân) đầu tư 35 triệu đồng để mua 100 con dúi hoang dã về nuôi thử. Ban đầu, do chưa nắm bắt được kỹ thuật nuôi và chất lượng giống không đảm bảo nên đã có gần 10 cặp dúi bị chết. Hiện nay, đàn dúi của gia đình đang trong thời kỳ sinh sản, vì vậy, ông đã liên hệ với một số hộ nuôi có kinh nghiệm để học hỏi.
Ông cho rằng: “Đầu tư nuôi dúi hiệu quả hơn nhiều so với các động vật khác. Nuôi dúi không chiếm nhiều diện tích, chi phí đầu tư thấp, thức ăn đơn giản với các loại như: tre, trúc, mía, khoai lang, khoai mì... Trong khi đó, nông dân không phải lo lắng về đầu ra, dúi thịt hiện có giá khoảng 350 nghìn đồng/kg nên khả năng sinh lời lớn”.
Do nhận thấy hiệu quả từ đối tượng nuôi này nên nhiều nông hộ ở Cam Lâm đang tìm mua dúi giống để phát triển mô hình. Theo ông Nguyễn Kiên - Chủ tịch Hội Nông dân xã Cam Tân, mô hình nuôi dúi hứa hẹn nhiều triển vọng. Thời gian tới, Hội Nông dân xã sẽ tiến hành nhân rộng mô hình này.
Tuy nhiên, dúi là đối tượng nuôi mới, nông dân chưa được trang bị kiến thức, kỹ thuật nuôi, cách chăm sóc, phòng và chữa bệnh nên rất dễ gặp rủi ro. Ông Trần Xuân Thái cho biết: “Do mới nuôi thử nghiệm nên chúng tôi chưa nắm bắt được kỹ thuật cũng như cách phòng trị bệnh cho dúi. Hơn 10 cặp dúi của gia đình tôi đã chết do bệnh nhậm mắt, phân loãng. Khi mới phát hiện bệnh, do không biết thuốc điều trị nên tôi mua các loại thuốc tây để điều trị, nhưng hiệu quả không cao”. Còn theo ông Dương Văn Châu, để giúp nông dân phát triển mô hình nuôi dúi, ngành chức năng nên tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho nông dân.
Mô hình nuôi dúi phù hợp với nhu cầu chuyển đổi ngành nghề của nông dân, nhưng tại Cam Lâm, mô hình chỉ mang tính tự phát. Dúi tuy là động vật dễ nuôi nhưng cũng dễ mắc bệnh; khi nuôi với số lượng lớn, dúi có thể bị nhiễm dịch bệnh như một số vật nuôi thông thường khác. Vì vậy, ngành chức năng cần hỗ trợ, hướng dẫn về kỹ thuật để giúp nông dân phát triển bền vững đối tượng nuôi này. (Báo Khánh Hòa 12/11)đầu trang(
Ngành sản xuất đồ gỗ nội thất Việt Nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp (DN) đáp ứng đủ các yêu cầu về chất lượng và mẫu mã khi xuất khẩu vào thị trường châu Âu, Mỹ. Thế nhưng, người tiêu dùng trong nước chưa thể tiếp cận được những dòng sản phẩm chất lượng tốt này.
Kiến trúc sư (KTS) Nguyễn Trường Lưu, Phó Chủ tịch Hội KTS TPHCM (HAA) kể lại câu chuyện, trong chuyến công tác tại Mỹ năm rồi do Hiệp hội Gỗ cứng Mỹ mời, HAA mới được biết vị thế thật sự của ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam, là một trong 5 nhà cung cấp sản phẩm gỗ lớn nhất. Theo Hiệp hội Gỗ cứng của Mỹ, 10 năm trước Việt Nam chưa có tên trong danh sách khách hàng nhập khẩu của hiệp hội này, vậy mà hiện là một trong những khách hàng quan trọng.
Đầu tháng 11 này, khi Hội Mỹ nghệ và đồ gỗ TPHCM (Hawa) tổ chức cho một số KTS của HAA tham quan một số nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu như Danh Mộc (Củ Chi), Mifaco (Bình Dương), Gia Long (thương hiệu Lavanto)… các KTS tỏ ra ngạc nhiên lẫn thích thú về khả năng sản xuất các sản phẩm gỗ và hàng trang trí nội thất. Bởi trước đó, các KTS nhiều lúc trăn trở làm thế nào để tìm ra những nhà cung cấp uy tín và chất lượng có thể đáp ứng được bản vẽ thiết kế và nhu cầu khách hàng để công trình đạt độ hoàn thiện tối đa.
Theo KTS Hồ Lê Phương, các KTS khi nhận thiết kế nội thất một công trình nào đó về nhà phố, biệt thự, cao ốc hay chung cư... khi chủ nhà đặt vấn đề hỏi mua sản phẩm theo thiết kế, các KTS không biết sản xuất hay bán ở đâu để trả lời. Cuối cùng, đành chỉ ra các cửa hàng đồ gỗ, chủ yếu là hàng Trung Quốc, Malaysia để mua. Vì vậy, không ít trường hợp KTS đã phải từ chối việc thiết kế nội thất. Nhưng sau chuyến tham quan các nhà máy, các KTS có thể hình dung năng lực sản xuất trong nước cũng như qua đó có thể thiết kế sản phẩm sao cho phù hợp với khả năng của nhà sản xuất trong nước. Có thể nói, đó là sự khởi đầu đúng hướng.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hawa cho biết, chỉ riêng hội viên của Hawa có trên 300 DN, bao gồm sản xuất sản phẩm gỗ, thủ công mỹ nghệ… xuất khẩu cho hơn 120 quốc gia, vùng lãnh thổ mà mỗi nước có xu hướng, yêu cầu khác nhau. Vì vậy, về năng lực, có thể nói là rất phong phú, làm được các sản phẩm của khách hàng yêu cầu.
Mặc dù sức tiêu thụ đồ gỗ trang trí nội thất nội địa khá hấp dẫn, khoảng 3 tỷ USD/năm so với khoảng 4,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nhưng hiện nay lại bị sản phẩm nước ngoài chi phối. 3 năm qua, Hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất (Vifahome) - với mục đích khai thác thị trường nội địa - cho thấy DN xuất khẩu đồ gỗ trên sân nhà vẫn còn đầy những khó khăn. Mặc dù có DN thành công nhưng con số khá đông vẫn cảm thấy còn nhiều rối rắm khi nhìn vào thị trường nội địa bởi chưa biết khởi điểm từ đâu, dòng sản phẩm nào...
Theo KTS Hồ Lê Phương, hạn chế của các DN không phải nhỏ: với dây chuyền sản xuất hàng loạt, nếu cung ứng nhu cầu nội địa, số lượng nhỏ sẽ không dễ. Khách hàng trong nước chưa thật lý tưởng để nhà sản xuất kỳ vọng. Nhu cầu có nhưng do người tiêu dùng còn rất tự phát, chưa chú trọng hàng nội thất. Hơn 90% chủ nhà, khi xây nhà xong đi mua hàng nội thất có sẵn, chưa xem việc thiết kế nội thất cho căn nhà là một khâu cần thiết để hoàn chỉnh, làm đẹp ngôi nhà. Nói như KTS Nguyễn Trường Lưu, nội thất chính là cái hồn của căn nhà, nhưng người tiêu dùng trong nước mới chú trọng phần xác căn nhà.
Sau thời gian đầu hăm hở, các DN chế biến cũng cảm thấy không dễ dàng xâm nhập một sớm một chiều nhưng không vì thế mà chán nản. Lãnh đạo Công ty Mifaco cho rằng, việc tham gia Vifahome là cách từng bước tiếp cận với người tiêu dùng. DN sẵn sàng đáp ứng, sản xuất những đơn hàng nhỏ, lẻ trong nước. Bởi lẽ, khủng hoảng kinh tế đã chỉ cho DN hiểu rằng, phải xây dựng cho được cả thị trường trong và ngoài nước mới có thể đứng vững trong bối cảnh hiện nay.
Vì thế việc liên kết giữa các nhà sản xuất với những nhà tư vấn là một nhu cầu có thật. (Sài Gòn Giải Phóng 12/11)đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa) đang đàm phán đề xuất với Công ty Becamex Bình Dương cùng liên doanh xây dựng trung tâm triển lãm đồ gỗ ở tỉnh này nhằm đẩy mạnh tiêu thụ đồ gỗ nội thất trong nước và quảng bá cho các sản phẩm gỗ xuất khẩu.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa, cho biết thời gian qua một số doanh nghiệp đã có những bước tiến đáng kể trong quá trình khai thác thị trường nội địa, nhưng thực tế thị trường này vẫn còn nhiều tiềm năng mà doanh nghiệp chưa tận dụng hết.
Theo điều tra của Hawa, với 40% các sản phẩm đồ gỗ ở thị trường nội địa đi vào các công trình xây dựng mới, 30% lượng đồ gỗ nội thất trong nước được tiêu thụ ở thành thị và 30% còn lại thuộc về thị trường nông thôn.
Kết quả điều tra cũng cho thấy nhóm người tiêu dùng trung lưu ở thành thị, chiếm thị phần lớn nhất trong việc tiêu thụ các sản phẩm đồ gỗ nội thất.
Kế hoạch thành lập trung tâm phân phối đồ gỗ nội địa đã được Hawa tính toán từ nhiều năm qua. Nhưng chưa thực hiện được vì nhiều lý do, trong đó lý do lớn nhất vẫn là thiếu diện tích đất xây dựng.
Với nhu cầu mua sắm đồ gỗ của người dân sẽ tăng lên trong những năm tới, thiết lập một trong tâm chuyên phân phối đồ gỗ sẽ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng chọn lựa các sản phẩm hơn.
“Ngoài xúc tiến tiêu thụ cho thị trường nội địa, trung tâm sẽ là nơi quảng bá cho các sản phẩm gỗ xuất khẩu. Khi những nhà nhập khẩu nước ngoài đến Việt Nam tìm nguồn hàng, họ sẽ không mất thời gian để đến tham quan nhiều nhà máy mà chỉ cần đến trung tâm để chọn mua các sản phẩm tốt nhất của các doanh nghiệp đang trưng bày ở đây", ông Hạnh nói. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/11)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hôm qua, một tờ báo đã đăng sự phản biện “sắc bén” của ông chủ đầu tư hai công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Ông chủ đầu tư khẳng định đại loại rằng khoảng cách từ công trình đến khu vực Bàu Sấu là 50-60 cây số theo đường sông. Vậy thì té ra công trình này cách khu vực cần bảo tồn rất xa, thi công đâu có sao!
Nhưng chuyên gia người ta nói: phải tính theo đường chim bay. Tính theo đường này thì khoảng cách trên chỉ là 11 cây số, nguy hiểm lắm. Chuyên gia và chính quyền tỉnh Đồng Nai còn tính ra sự nguy hiểm đối với Bàu Sấu và Vườn quốc gia Cát Tiên, nào rừng ngập, sinh vật chết…
Vậy nên tính khoảng cách đó theo kiểu nào để biết là công trình tác động hay không? Bổn quán uống hai ly cà phê nguyên chất tự pha mà vẫn thấy rối. Vụ này phải tham khảo bạn già Tư Mắt Kiếng.
Chả coi phát biểu của chủ đầu tư hai công trình thủy điện trên rồi cười khà khà: Chim bay, chim đi bộ hay chim… lội nước gì thì cũng cứ theo quy định mà làm. Mở Luật Đa dạng sinh học ra coi đi: “Trường hợp có sự khác nhau giữa quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quy hoạch ngành, lĩnh vực, trừ quy hoạch quốc phòng, an ninh thì ưu tiên thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học”. Nghĩa là phải bảo vệ thiên nhiên.
Tợp hớp cà phê, chả nói tiếp: “Tui chỉ e luật nói vậy nhưng áp dụng hơi khó đó”. “Khó sao mà khó?” - bổn quán hỏi. “Tuân thủ đúng quy định thì lấy gì “sống”, cha nội?” - Tư Mắt Kiếng cười khà khà. (Pháp Luật TPHCM 12/11)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Nguy cơ tuyệt chủng của loài voi Sumarta ở Indonesia tiếp tục gia tăng khi các nhà môi trường nước này thông báo vừa có thêm 3 con voi bị chết được phát hiện thấy trên đảo Sumatra.
Quan chức Công viên quốc gia Tesso Nilo ở tỉnh Riau, Indonesia, Kupin Simbolon cho biết các nhân viên vừa phát hiện thấy thi thể của 3 con voi cái tại đây hôm 11/11.
Kết quả khám nghiệm cho thấy có vẻ như cả 3 con voi này đều bị chết do nhiễm độc, rất có thể là từ thuốc trừ sâu nông dân sử dụng trong việc bảo vệ các cây trồng của họ.
Với vụ việc trên, số voi Sumarta bị chết chỉ riêng tại Riau đã lên tới 11 con kể từ tháng Ba năm nay. Ngoài ra, còn có 5 con voi khác bị chết, cũng do ngộ độc, tại tỉnh Aceh, Sumatra kể từ tháng 4/2012.
Ông Kupin Simbolon cảnh báo rằng việc hàng loạt con voi Sumarta bị chết do nhiễm độc là một vấn đề rất nghiêm trọng, bởi quần thể voi Sumarta trong tự nhiện hiện ước chỉ còn chưa đầy 3.000 con, và nếu cứ tiếp tục như vậy thì loài động vật này sẽ tuyệt chủng trong vòng 3 thập kỷ tới, chưa kể tình trạng sử dụng tràn lan thuốc trừ sâu và bảo vệ thực vật, không được quản lý và kiểm soát của nông dân, sẽ gây hại không chỉ cho môi sinh mà cả sức khỏe con người. (VietnamPlus.vn 12/11)đầu trang(
Hàng chục ngôi nhà, kho hàng bị xóa sổ, hơn 2.000 hécta rừng rậm bị thiêu trụi trong vụ cháy rừng nghiêm trọng tại khu vực Tulka thuộc tiểu bang Nam Australia. Hiện lực lượng chức năng chưa kiểm soát được đám cháy này.
Phóng viên TTXVN tại Australia cho biết đám cháy bắt đầu lan rộng khoảng 11 kilômét gần cảng Lincoln ở Tulka từ trưa 11/11.
Hơn 100 lính cứu hỏa thuộc Cơ quan Phòng cháy chữa cháy Nam Australia (CFS) và Cục Môi trường đã tham gia dập đám cháy với sự hỗ trợ của các máy bay phun nước.
Người phát ngôn CFS, ông Chris Metevelis, cho biết mặc dù lực lượng cứu hộ đã thiết lập các đường ngăn cháy song chưa kiểm soát được tình hình, cháy rừng có thể tiếp tục bùng phát. Nhà chức trách đã yêu cầu cư dân trong vùng triển khai kế hoạch sơ tán trong tình trạng báo động cao.
Hiện nguyên nhân gây cháy rừng đang được điều tra.
Tại khu vực Avon ở phía Bắc thành phố Adelaide, tiểu bang Nam Australia, một đám cháy rừng cũng đã thiêu trụi nhiều cơ sở vật chất, trang thiết bị, gây thiệt hại khoảng 150.000 đô la Australia. (VietnamPlus.vn 12/11; Vov.vn 12/11)đầu trang(
Ngày 12/11, Lực lượng hải quan của Các tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE) đã bắt giữ các đối tượng tình nghi và tịch thu lô hàng gồm 100 chiếc ngà voi châu Phi tại cảng Jebel-Ali ở Dubai, Ấn Độ.
Hãng tin AP cho biết những kẻ săn trộm đã sát hại voi, lấy ngà, giấu trong các container đậu côve. Ước tính số ngà voi trên trị giá khoảng 15 triệu dirham (tương đương với 4,1 triệu USD).
Theo báo cáo từ Cơ quan quản lý môi trường châu Phi, voi là mục tiêu số một của những kẻ săn bắt trộm động vật hoang dã. Ngà voi là món hàng có giá trị, dùng để chế tác ra các vật dụng, đồ trang sức quý, đồng thời cũng là phương thuốc hiệu quả trong Đông y.
Từ năm 1989, Luật Thương mại quốc tế đã ra quyết định cấm việc kinh doanh buôn bán ngà voi, sau khi một lượng lớn số voi ở châu Phi bị giết hại để lấy ngà. Số lượng voi tại châu Phi đã giảm từ hàng triệu con giữa thế kỷ 20 xuống còn 600.000 vào cuối những năm 1980.
Hiện tại, châu Phi có khoảng 472.000 con voi còn sống sót và đang bị đe dọa bởi nạn săn bắn bất hợp pháp.
Theo ước tính, mỗi năm tại Kenya thuộc khu vực Đông Phi, có tới khoảng 200 con voi trưởng thành bị sát hại. (VietnamPlus.vn 12/11)đầu trang(
Người dân thị trấn Tateyama tỉnh Toyama, Nhật Bản, ngày 10/11 đã phát động phong trào trồng rừng với kỹ thuật nhân giống số lượng lớn hạt giống của cây liễu sam không phấn hoa (mukafun sugi).
Đây là một tin vui cho những ai mắc chứng dị ứng phấn hoa mỗi khi loài cây này bước vào mùa thụ phấn.
Theo Viện nghiên cứu lâm nghiệp tỉnh Toyama, Toyama là địa phương đầu tiên trên cả nước bắt đầu chính thức trồng loại cây lấy gỗ này.
Loại cây liễu sam không phấn này được phát hiện từ cây liễu sam tổ tại một đền thờ thuộc thành phố Toyama hồi năm 1992 và được viện này tiến hành nghiên cứu.
Năm 2008, Viện đã chính thức phát triển kỹ thuật nhân giống cây liễu sam không phấn chất lượng tốt nhờ cải thiện cất lượng hạt giống của cây tổ. Từ năm 2009, Viện bắt đầu nhân giống với số lượng lớn.
Các nhân viên hợp tác xã lâm nghiệp bắt đầu trồng 300 cây giống có chiều cao từ 30-60cm trên diện tích canh tác 1.500m2 tại vùng núi thị trấn Tateyama, tỉnh Toyama.
Dự kiến, trong năm nay, tỉnh Toyama sẽ xuất cây giống cho bốn hợp tác xã với mục tiêu trồng được 4.700 cây giống bao phủ các khu vực đồi núi với diện tích khoảng 23.000m2. Từ năm 2016, địa phương này có kế hoạch xuất giống cây ra các tỉnh ngoài Toyama.
Hiện tượng dị ứng phấn hoa (kafunsho) trở thành vấn đề y tế nghiêm trọng ở Nhật Bản, ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng sống của nhiều người, đặc biệt là những bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm đối với loại phấn từ loài cây liễu sam này. Mỗi khi loài cây này đến mùa thụ phấn, số lượng người bị dị ứng phấn hoa ở Nhật Bản tăng đột biến.
Sự xuất hiện của loại cây liễu sam không phấn hoa này có thể sẽ góp phần khắc phục tình trạng trên. (VietnamPlus.vn 12/11)đầu trang(
Theo tin từ tờ báo Ấn Độ The Times of India hôm 4/11 cho hay, một đàn voi say rượu đã tấn công ngôi làng Ấn Độ để tiếp tục tìm rượu uống rồi phá phách đã làm cho dư luận rất sửng sốt, không biết thực hư câu chuyện này thế nào.
Bài viết cho biết, đàn voi trên gồm 50 con từ trong rừng nồng nặc mùi rượu Mahua đã lùng sục vào 3 nhà dân và tàn phá các khu vực lúa mùa vào ngày Chủ Nhật. Sau đó chúng tấn công các cửa hàng bán đồ uống, tiếp tục nốc hết 18 thùng rượu Mahua (tương đương với 500 lít rượu), không dừng lại chúng còn lùng sục các túp lều liền kề để tìm thêm rượu.
Theo lí giải của ông Marshall Jones, một chuyên gia cố vấn cao cấp tại Viện Sinh học bảo tồn Smithsonia thì việc voi thường xuyên xung đột với con người ở Ấn Độ, gây thiệt hại nàh cửa và người do bị thu hẹp môi trường sống là một điều chắc chắn có thật. Mỗi năm ước tính có 300 người ở đây bị voi giết chết, trong khi có 200 con voi bị sát hại hàng năm.
Tuy nhiên vụ việc đàn voi tấn công vừa qua có phải thực sự chúng thích mùi rượu như tin tức báo chí đưa hay không vẫn là điều cần phải bàn luận. Có thể chưa chắc voi đã chiếm cửa hàng rượu rồi uống tới say và hung hăng phá phách. Năm 1984, bác sĩ tâm thần Ronald Siegel đã thử nghiệm 2 chú voi xiếc cho thấy, nó có thể uống dễ dàng một loại rượu không hương vị có nồng độ 7% ABV, khi cho thêm hương vị bạc hà, một hương vị yêu thích của voi, nó có thể uống lên rượu ở nồng độ 7%. Tuy nhiên rượu mạnh hơn voi lại không uống.
Một nghiên cứu khác vào năm 2005 về những con voi Châu Phi bị say rượu do trái cây lên men trong tự nhiên. Theo tính toán của Steve Morris, một nhà sinh vật học tại Đại học Bristol, thì một con voi đực nặng 3,3 tấn, nhỏ hơn voi đực Ấn Độ và bằng voi cái trung bình, bị say rượu khi uống ít nhất khoảng 10 lít rượu nồng độ 7 ABV.
Trong khi đó những con voi kia lại uống loại rượu Mahua, một loại rượu được cất từ loài hoa ngọt của cây Mahua nhiệt đới có nồng độ cồn từ 20-40%, theo nghiên cứu trong tạp chí the journal Alcohol Health and Research World năm 1998. Thật khó tưởng tượng một con voi hoang dã có thể tiêu thụ được loại rượu mạnh, trừ khi loại rượu có hương vị đặc biệt ngọt và hấp dẫn. Nhưng cây Mahua có hoa vị ngọt song rượu lại rất cay, cô Shermin de Silva, chuyên gia nghiên cứu xung đột voi và người ở Sri Lanka cho biết.
Silva phỏng đoán, có thể voi đã uống phải loại rượu gạo Ấn Độ có nồng độ cồn 10%, thấp hơn rượu Mahua. Chính vì thế mà có lẽ voi đã phá hoại các đồng lúa. Nhưng dù giả thuyết nào đi nữa thì hầu hết các cuộc tấn công vào con người và các cánh đồng được báo cáo từ trước đến nay đều do thủ phạm là những con voi tỉnh táo. Việc giải thích voi say rượu có thể là một cách nhìn nhận sai lầm về sự thật voi đang phải đối mặt với việc thu hẹp môi trường sống và thiếu nguồn thức ăn. (Đất Việt 11/11)đầu trang(
Một bộ xương gần như nguyên vẹn của voi mamut với niên đại tối thiểu 20.000 năm vừa được tìm thấy gần Paris, Pháp.
Điều đáng chú ý là ngay bên cạnh bộ xương là hai lưỡi dao sắc – một bằng chứng cho thấy những thợ săn Neanderthal cổ đại có thể đã xẻ thịt voi ngay sau khi hạ được nó.
Theo DailyMail, các nhà khảo cổ học phát hiện thấy bộ xương ở bên bờ sông Changis-sur-Marne, nằm cách Paris 30 dặm về phía Đông. Họ đặt tên cho nó là iHelmut và ước đoán iHelmut bị giết năm 30 tuổi, độ tuổi trưởng thành đối với loài mamut. Khi còn sống, con voi này cao khoảng 2,7m song cặp ngà của nó thậm chí còn dài hơn.
Các nhà sử học luôn tin rằng voi mamut tuyệt chủng do thay đổi khí hậu, kết hợp với bệnh dịch và sự săn bắn quá tay của con người. Vì thế, bằng chứng mới về việc iHelmut bị xẻ thịt sau khi chết càng củng cố giả thuyết này. “Những lưỡi dao chính là phần thưởng quý giá nhất của đợt khai quật. Nó giúp chúng ta hiểu hơn về người Neandethal, vốn sống cùng thời với voi Mammoth và là họ hàng rất gần với người hiện đại”, trưởng nhóm khai quật Greg Bayle nhấn mạnh.
Ông Bayle cho biết phần xương còn lại bao gồm 4 đốt sống và khung xương chậu hoàn chỉnh. Bộ xương được vùi lấp dưới cát nên khá dễ lộ thiên và các nhà khảo cổ rất hy vọng có thể tái tạo được cơ thể hoàn chỉnh cũng như những cử động cuối cùng của Helmet trước khi chết.
Trước đây, việc phát hiện hóa thạch voi mamut tại châu Âu rất hiếm mà chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc Sibera, nơi khí hậu lạnh giúp bảo quản hài cốt tốt hơn. Có khả năng voi bị săn tại khu vực khác nhưng được dòng sông đẩy xác xuống khu vực này, các chuyên gia phán đoán. (Vietnamnet 11/11) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||