|
Ngày 13 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Liên quan đến việc Bộ Công an “đánh úp” các xưởng gỗ khủng ở Gia Lai, P.V Báo Gia Lai đã liên hệ với ông Trương Huy Bảo-Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Bảo Hoàng-về việc các xưởng gỗ của Công ty đang bị Tổng cục An ninh 2 (Bộ Công an) bất ngờ kiểm tra hàng loạt; đồng thời tìm hiểu rõ thêm những thông tin này từ phía các cơ quan chức năng
Khẳng định với P.V ngày 8-10, ông Trương Huy Bảo cho biết đây chỉ là một đợt kiểm tra thông thường của tỉnh, quyết định của UBND tỉnh là kiểm tra thông thường mà xưởng gỗ nào trên địa bàn cũng bị kiểm tra chứ không riêng gì xưởng của Công ty Bảo Hoàng. Công ty đã cung cấp đầy đủ hồ sơ liên quan cho các cơ quan chức năng, phục vụ công tác kiểm tra.
“Làm gì có việc Tổng cục 2 ở đây, kiểm tra này là kiểm tra của tỉnh, không tin thì anh cứ xuống Chi cục Kiểm lâm tỉnh mà hỏi. Đây là hoạt động kiểm tra thông thường, do có tin đồn thế này thế kia nhiều quá nên Kiểm lâm vào kiểm tra, chỉ có thế thôi. Việc xưởng gỗ bị kiểm tra định kỳ về hàng tồn, hàng xuất, hàng nhập… là chuyện bình thường”-ông Bảo khẳng định.
Theo ông Bảo, đối với số gỗ đang được các cơ quan chức năng kiểm, đếm tại xưởng gỗ ở làng Nú, xã Ia Nan (huyện Đức Cơ), Công ty đã bỏ ở đó lâu lắm rồi. “Xưởng này đã nghỉ hơn 3 năm nay và số gỗ cũng đã mục nát, cẩu lên là gãy đôi. Trong số gỗ này có cái còn dấu búa, có cái thì không còn do gỗ mục nát, dấu búa bị mờ hoặc nát theo cây gỗ. Số gỗ này chúng tôi không bán được nên dồn lại cất ở đó, chủ yếu đều là loại gỗ tạp như căm xe, gỗ dầu... Còn cành, ngọn gỗ trắc cũng không phải là mới mà Công ty đã mua lâu rồi từ nguồn hàng thanh lý”-ông Bảo nói.
Khi P.V đặt câu hỏi về gốc gỗ trong các xưởng của Công ty Bảo Hoàng thì được ông khẳng định đó là số gỗ của Công ty mua lại của các doanh nghiệp bên Lào, Campuchia rồi nhập về Việt Nam. Toàn bộ số gỗ này đều là gỗ hợp pháp và có đầy đủ các giấy tờ. Đồng thời, không chỉ riêng Bảo Hoàng mà còn có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng được phép nhập gỗ từ Campuchia về Việt Nam, chỉ cần đầy đủ thủ tục và được luật pháp Việt Nam công nhận. Tính đến thời điểm này Công ty Bảo Hoàng đã nhập khoảng 14 ngàn m3 gỗ và đóng thuế cho Nhà nước 14 tỷ đồng.
Theo khẳng định của ông Trương Huy Bảo: “Nếu không hợp pháp thì Hải quan cửa khẩu không bao giờ cho nhập. Bởi khi nhập hàng thì phải thông qua Hải quan và doanh nghiệp phải đóng thuế”.
Đồng thời, cũng theo ông Bảo, Công ty Bảo Hoàng và nhiều doanh nghiệp khác cũng được UBND tỉnh đồng ý cho phép nhập khẩu gỗ từ Campuchia qua các cửa khẩu phụ và lối mở. “Ai có đủ điều kiện thì người đó được nhập, cũng phải tới mười mấy doanh nghiệp được đưa gỗ về nhưng chúng tôi được đưa về nhiều nhất là vì chúng tôi có nhiều đơn hàng lớn. Không có ưu ái nào ở đây cả, miễn sao chúng tôi mua gỗ đầy đủ thủ tục, được luật pháp Việt Nam công nhận và cho nhập thì chúng tôi chở về.
Còn việc chúng tôi không đưa gỗ qua cửa khẩu Lệ Thanh vì chỗ đó mắc con sông (sông Sê San), phía bên kia là dự án của người ta, do vậy theo đường cửa khẩu phụ thì các công ty phía bên kia thuận tiện giao hàng hơn, giao cửa khẩu nào thì tôi nhập cửa khẩu đó nhưng đối với cửa khẩu phụ thì phải xin ý kiến của tỉnh mới được. Tôi là doanh nghiệp nhập khẩu gỗ, tỉnh cho tôi làm chỗ nào thì tôi làm chỗ đó. Tôi nói thật hiện tại bây giờ rừng ở đây đã không còn gỗ thì những doanh nghiệp nhập khẩu gỗ, nộp thuế đầy đủ như chúng tôi thì phải được tạo điều kiện, khuyến khích chứ!”-ông Bảo lý giải.
Sáng 9-10, theo lãnh đạo của Hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ, trước đó ngày 2-10, Cục An ninh Nông nghiệp Nông thôn (A86) thuộc Tổng cục An ninh 2 (Bộ Công an) phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện kiểm tra các xưởng gỗ của Công ty TNHH một thành viên Bảo Hoàng nằm trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Theo đó, lực lượng này được chia thành 2 đoàn, 1 đoàn kiểm tra tại xưởng ở TP. Pleiku và 1 đoàn kiểm tra tại huyện Đức Cơ. Tại huyện Đức Cơ công tác này được giao cho Hạt Kiểm lâm huyện ra quyết định và làm trưởng đoàn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các lực lượng Bộ Công an. Hiện nay, ngoài việc đo đếm số gỗ tại các xưởng của Công ty Bảo Hoàng thì đoàn đang tiến hành kiểm tra hồ sơ giấy tờ liên quan đến số gỗ nói trên của doanh nghiệp này.
“Hiện đang trong giai đoạn kiểm tra nên mọi thông tin không được tiết lộ ra ngoài, hiện trường cũng được bảo vệ nghiêm ngặt, lực lượng chức năng của tỉnh có nhiệm vụ bảo vệ cho công tác kiểm tra”-lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Đức Cơ cho biết.
Trong khi đó, lãnh đạo huyện Đức Cơ cho biết, do tính chất công việc và nghiệp vụ kiểm tra nên Bộ Công an không thông báo với chính quyền địa phương. Theo lãnh đạo huyện, Công ty Bảo Hoàng đăng ký hoạt động doanh nghiệp từ nhiều năm nay tại địa bàn huyện Đức Cơ. Hiện trên địa bàn huyện có 8 doanh nghiệp được UBND tỉnh cho phép mua gỗ từ Campuchia về qua đường cửa khẩu phụ. Từ đầu năm 2015 đến nay chỉ có 2 doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu gỗ từ Campuchia về với khoảng 5.000 m3, các doanh nghiệp khác cũng được UBND tỉnh cho phép nhưng không có hoạt động thu mua.
“Lực lượng thông quan kiểm tra việc nhập gỗ là do Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hải quan, Biên phòng chứ địa phương không tham gia. Địa phương đã chủ động chỉ đạo các bộ phận liên quan tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng ngừa việc trà trộn giữa gỗ rừng và gỗ nhập từ Campuchia nhập về để hợp thứ hóa thành gỗ nhập khẩu”-một đồng chí lãnh đạo huyện Đức Cơ cho biết. (Tầm Nhìn 13/10) đầu trang(
Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế từ rừng sản xuất mang lại cuộc sống ổn định cho các hộ dân sống gần rừng. Cũng vì muốn có thêm diện tích đất trồng rừng, nhiều hộ dân ở huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã bất chấp pháp luật để lấn chiếm, tranh chấp đất rừng của các hộ khác và đất lâm nghiệp của xã quản lý.
Theo đơn thư của một số hộ dân ở xã Thanh Hóa phản ánh về việc họ bị các đối tượng ở địa phương lấn chiếm đất rừng, nhằm chiếm đoạt đất rừng với diện tích lớn.
Anh Tô Đức Tiệp (trú tại thôn 1, Bắc Sơn, xã Thanh Hóa, huyện Tuên Hóa) cho biết gia đình tôi và một số hộ dân khác từ trước tới nay nhận chăm sóc, bảo vệ rừng ở khu vực Khe Trơng. Đến tháng 2 năm 2014, chính quyền địa phương đã cấp giấy “Chứng nhận QSD đất và Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” cho gia đình anh quản lý, sử dụng “đất có rừng tự nhiên sản xuất” với diện tích 18181,5m2. Lô đất rừng của gia đình anh Tiệp được giao thuộc khu vực Khe Trơng, thửa đất 106, tờ bản đồ số 31 thuộc xã Thanh Hóa, huyện Tuên Hóa. Thời hạn sử dụng đất 50 năm.
Thế nhưng, gia đình anh Tiệp vừa mới giao đất để chăm sóc, bảo vệ mới được hơn 1 năm thì đến đầu tháng 8/2015 có ông Phạm Văn Bảy trú tại thôn 3, Bắc Sơn xã Thanh Hóa đã thuê người vào chặt phá, phát dọn để trồng rừng sản xuất. Anh Tiệp đã phát hiện và báo vụ việc lên xã, nhưng ông Bảy không dừng lại, mà thuê thêm rất nhiều người nữa vào xẻ phát thêm 2 ngày nữa đến khi xã có yêu cầu dừng lại.
Trong 3 ngày thuê người vào phá rừng, ông Bảy xâm phạm rừng được cấp QSD cuả các chủ hộ Tô Đức Tiệp, Võ Hồng Xinh, Trần Hương Chanh, Đinh Minh Sáu, Phạm Văn Thích ở khu vực Khe Trơng. Diện tích rừng bị ông Bảy thuê người sẻ phát 17 000 m2.
Anh Võ Hồng Xinh trú tại xóm 1, Bắc Sơn cho biết “ông Bảy sẻ phát mất 8000m2 rừng của gia đình. Chúng tôi được cấp bìa đỏ đất rừng rồi. Chúng tôi chăm sóc, bảo vệ rừng để sử dụng lâu dài, thế nhưng họ vào phá hoại, lấn chiếm để trồng rừng sản xuất. Chúng tôi làm đơn lên xã, nhưng xã chưa giải quyết xong”.
Trên địa bàn xã Thanh Hóa ngoài việc ông Bảy lấn chiếm rừng của 5 hộ dân ở Khe Trơng còn có nhiều người chiếm sẻ phát rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp đã được cấp GCN QSD đất cho từng hộ gia đình. Việc sẻ phát, lấn chiếm này chủ yếu xảy ra ở khu vực khảnh 4, tiểu khu 20, vùng Cà Xen, xã Thanh Hóa với diện tích 9,3ha.
Nhiều hộ dân chăm sóc, bảo vệ sử dụng loại rừng IIIA thuộc các khoảnh 1 và 5 tại tiểu khu 14 khe Pheo và các khu vực Bầu Năm, Khe Trơng cũng bị các đối tượng vào xâm chiếm, lấn đất xẻ phát rừng.
Người dân cũng ồ ạt vào lấn chiếm, xẻ phát rừng, đất lâm nghiệp do xã quản lý tại các tiểu khu 14, 20, 21 với diện tích lên tới 21,32 ha.
Một số hộ dân bất chấp pháp luật, chạy theo cái lợi trước mắt để lấn chiếm đất rừng, sẻ phát tràn lan lấn, chiếm rừng và đất lâm nghiệp của các hộ khác và của xã quản lý xã đã gây nên bức xúc trong đời sống nhân dân. Trước tình hình đó chính quyền xã Thanh Hóa đã thụ lý đơn thư các hộ dân và đã tiến hành kiểm tra thực địa, tổ chức xử lý, hòa giải.
Ngày 14/9/2015, UBND xã Thanh Hóa đã có Báo cáo số 31 về “Tình hình quản lý, bảo vệ rừng và việc tranh chấp đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” gửi về UBND huyện Tuyên Hóa và các phòng ban liên quan. Trong Báo cáo 31 có ghi rõ nhiều diện tích đất rừng bị người dân sẻ phát, lấn chiếm thuộc rừng IIA và IIIA (rừng phục hồi và rừng trung bình).
Ông Nguyễn Hữu Tâm, chủ tịch xã Thanh Hóa cho biết “việc xảy ra tranh chấp, lấn chiếm rừng ở trên địa bàn xã có 3 loại vi phạm: Tranh chấp, lấn chiếm giữa rừng có chủ nhưng chưa được chuyển đổi. Giữa rừng có chủ (có giấy CNQSD đất) nhưng bị chủ khác xâm lấn, sẻ phát. Và vi phạm sẻ phát, lấn chiếm đất lâm nghiệp của xã quản lý”.
Trong năm 2015, có rất nhiều đơn thư của người dân trong xã về việc xả ra tranh chấp, lấn chiếm liên quan đến đất rừng. Xã đã tổ chức xử lý được 18 trường hợp. Còn một số trường hợp xã hòa giải nhưng chưa được. Phía UBND xã cũng hướng dẫn một số hộ làm đơn gửi tòa án để được giải quyết. Còn ở xã chủ yếu là tuyên truyền người dân về pháp luật, phối hợp với kiểm lâm để quản lý rừng cho tốt. Khi xảy ra việc thì kiểm tra và tổ chức hòa giải.
“Trường hợp ông Bảy lấn chiếm rừng của 5 hộ khu vực Khe Trơng là do năm 2010 ông này đã vi phạm 1 lần, lén vào trồng một ít cây keo trong rừng chăm sóc, bảo vệ của các hộ dân. Năm 2012, xã đã phối hợp tổ chức cưỡng chế, nhưng ông Bảy không đứng ra nhận trách nhiệm. Tháng 8/2015, ông này thuê người vào sẻ phát rừng của 5 hộ, vì cho rằng keo của mình trồng trước đây nên giờ sẻ, phát để trồng tiếp. Việc này cũng một phần lần trước cưỡng chế không xử lý sạch các cây keo vô chủ, nên ông Bảy lấy cớ là cây mình trồng để vào chiếm đất. Hộ ông Bảy đã được giao đất và rừng với diện tích gần 3ha rồi, nhưng ông vẫn đi lấn chiếm của các hộ khác”.- Ông Tâm cho biết.
Anh Đinh Minh Sáu ở thôn 1, Bắc Sơn một hộ bị họ lấn chiếm đất rừng cho rằng “chúng tôi được cấp bìa đất hợp pháp thì không giám xin chuyển đổi rừng sang rừng trồng sản xuất, chỉ lo chăm sóc, bảo vệ. Giờ họ vào phá hoại, lấn chiếm làm thiệt hại kinh tế gia đình, và công sức chăm sóc rừng. Mong các cấp chính quyền xử lý sớm, dứt điểm để chúng tôi tiếp tục trồng rừng, chăm sóc. Vì mùa nà là mùa trồng cây rừng, chứ hàng ngày theo việc rừng rú cũng bất an lắm. Sau này có xử lý xong, chúng tôi lấy lại được đất lâm nghiệp thì cũng lo việc bị trả thù, kẻ xấu vào đốt, phá hoại rừng. Giờ nhờ vào chính quyền cả thôi”. (Tầm Nhìn 12/10) đầu trang(
“Ngôi nhà gấu” về chiều. Những tia nắng ấm hiếm hoi từ cổng trời Tam Đảo rọi xuống các gian phòng, đánh thức hơn 100 cá thể gấu tật nguyền, tội nghiệp. Bên ngoài tường rào điện, ông Tuấn tay xách từng xô thức ăn vào trong khu bán hoang dã, tỉ mỉ giấu vào các ống tre, hộp nhựa, gáo dừa được treo cao để tạo đồ làm giàu, kích thích khả năng tìm kiếm thức ăn cho gấu.
Sau gần 30 phút tạo đồ làm giàu, ông Tuấn ra hiệu cho các nhân viên bảo vệ các gian nhà của gấu mở cửa cho các cá thể gấu chạy ra đánh mùi, tìm kiếm thức ăn bằng bản năng hoang dã của mình. Sau khi “đánh chén” xong khẩu phần ăn, các cá thể gấu tiếp tục vui chơi bằng các trò chơi được bố trí sẵn như võng, bánh xe, đu lắc…
Vốn là người làm nghề lái xe tải, thế nhưng chỉ qua một thời gian ngắn tiếp xúc với các cá thể gấu ở Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam (tại Vườn quốc gia Tam Đảo), ông Châu Văn Tuấn đã trở thành "nhà nghiên cứu" đồ chơi, góp phần phục hồi bản năng hoang dã cho hàng chục cá thể gấu “thương binh” vốn được nuôi nhốt trong các trang trại trên cả nước, với mục đích chích hút lấy mật.
Chia sẻ với phóng viên báo VietnamPlus, ông Tuấn kể, năm 2007 bắt đầu về làm, nơi đây chỉ có 4 con gấu nhỏ - chúng nghịch ngợm, năng động như những đứa trẻ. “Đến khi trung tâm đón nhận gấu to về, nói thực là mình cũng có cảm giác lo vì chúng là động vật hoang dã, khó thuần. Thế nhưng nhờ làm việc theo quy trình, đảm bảo an toàn nên việc chăm sóc gấu dần dần đã trở nên gần gũi hơn.”
Giờ đây, sau gần 10 năm gắn bó với “ngôi nhà gấu” lớn nhất Việt Nam, ông Tuấn đã được phân công làm Giám sát đội công nhân chăm sóc 139 cá thể gấu vốn được cứu hộ từ các vụ buôn bán bất hợp pháp và nuôi nhốt trong các trang trại ở các tỉnh thành trên cả nước, với nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Theo ông Tuấn, đa số các cá thể gấu khi được cứu hộ về Trung tâm đều trong tình trạng sức khỏe rất yếu, răng vỡ hoặc sâu nghiêm trọng do cắn vào các thanh cũi sắt, chân tay sừng hóa nứt nẻ do bị nhốt nhiều năm trong cũi sắt không vận động di chuyển, có những cá thể bị mù mắt, cụt chi. Tại Trung tâm, hiện có đến 4 cá thể gấu bị mù hoàn toàn, 2 chú mất một mắt, 17 gấu bị mất chi, 6 gấu bị thương tật ở chi do bị bẫy ngoài tự nhiên, hoặc bị thương tổn.
“Chính vì thế, để tạo môi trường sống cũng như rèn luyện kỹ năng cho gấu, tôi đã nghiên cứu ra các loại trò chơi, dụng cụ làm giàu (cất giấu thức ăn, tìm kiếm thức ăn, đánh mùi) dành cho gấu tùy theo tính cách, khả năng sức khỏe và chiều cao, cân nặng của các cá thể gấu…,” ông Tuấn chia sẻ.
Chia sẻ về việc thiết kế trò chơi cho gấu, ông Tuấn cho biết, qua kinh nghiệm tiếp xúc với gấu, ông đã nghĩ ra các trò chơi phù hợp với bản năng của từng cá thể. Ví dụ, gấu bị nuôi nhốt, giam cầm trong các trang trại, lồng chật hẹp, khi đưa về trung tâm dù được sống trong khu bán hoang dã rộng lớn, được vui đùa, nhưng nếu không có các trò chơi, thú vui để khơi gợi lại bản năng hoang dã cho gấu thì cũng không khác gì giam cầm chúng.
Cũng theo ông Tuấn, việc tìm kiếm lại bản năng hoang dã cho gấu sau một thời gian dài bị giam cầm hoàn toàn là do con người (anh em công nhân chăm sóc gấu). “Đã gắn bó với gấu thì phải hiểu được tính cách của chúng. Có những hôm, mình nghĩ ra cái trò chơi rất điên rồ như đu lắc, nằm võng…, nhưng gấu lại rất thích.”
Đơn cử như các cá thể gấu mất, cụt chi (tay, chân), ông Tuấn nghĩ ra trò chơi đơn giản như cái võng cứu hỏa thấp và đồ chơi cho thấp xuống. Những con di chuyển chẩm lại làm đa dạng hóa trò chơi đặt trên mặt đất như bánh xe ôtô, lăn thùng nhựa. Đối với cá thể gấu khỏe mạnh, nhanh nhẹn thì tạo cột leo trèo, chơi bóng, đồ chơi treo cao…
Không chỉ tạo trò chơi, ông Tuấn còn tạo ra cách làm giàu thức ăn cho gấu. Với cách làm đơn giản, thức ăn được cho vào trong các ống tre, hộp nhựa, gáo dừa, sau đó treo cao trong chuồng hoặc ngoài sân chơi để gấu trèo lên nhâm nhi, nhấm nháp. Theo ông Tuấn, điều này tốt cho sức khỏe gấu, góp phần kích thích gấu vận động để dần giúp chúng lấy lại bản năng tự nhiên.
Sau một thời gian dài sống trong trung tâm cứu hộ, giờ đây các cá thể gấu đã thay đổi rất nhiều, có những con khi cứu hộ về chân tay đã lở loét, có con mất răng, cụt chi và mù mắt, di chuyển chậm chạp, nhưng dần dần đã trở nên nhanh nhẹn và khỏe mạnh nhờ được chăm sóc bài bản và vui chơi tự do.
"Tôi luôn cảm thấy xúc động mỗi khi nhìn thấy những chú gấu lần đầu tiên được ra khu bán tự nhiên. Đó là lần đầu chúng được cảm nhận thế nào là cỏ dưới chân và nắng ấm trên lưng, được vui đùa với những thứ trò chơi thân quen. Nhất là những chú gấu đã được nuôi nhốt trong trại gấu từ khi là gấu con, thì đây chính là 'ngôi nhà' an toàn cho chúng," ông Tuấn chia sẻ.
Ông Tuấn cũng cho biết, ngoài việc làm giàu thức ăn, sáng tạo trò chơi cho gấu, các bác sĩ và điều dưỡng viên ở Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam cũng phải làm việc một cách miệt mài, chăm bẵm cho gấu từng ngày. Điều thú vị ở chỗ, khi về đây, mỗi chú gấu đều được đặt tên, ghi rõ hồ sơ theo dõi lai lịch, sức khỏe.
Hiện tại, Trung tâm đang có tất cả 139 cá thể gấu, trong đó có nhiều cá thể bị mất chi, mù mắt, tàn tật và ốm đau. Thế nhưng, tất cả đều được ông Tuấn và đội ngũ nhân viên chăm sóc tận tình, và được đặt tên như những đứa trẻ vừa chào đời với các tên khác nhau. Có con mang tên Việt Nam, chẳng hạn như Nhân Ái, Chiến Thắng, Yên Bái. Lại có con mang tên nước ngoài, như Vandrew, Zebedee.
Gắn bó và làm việc tại Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam, trong khuôn viên Vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) suốt gần một thập kỷ, giờ đây ông Tuấn cũng như “người cha” chăm chút từng bữa ăn, tìm kiếm trò chơi cho từng cá thể gấu, để chúng được sống với bản năng hoang dã của mình.
“Cũng như các loài động vật hoang dã khác, gấu nên được sống trong môi trường tự nhiên mà vốn dĩ là của chúng. Chúng cần được đối xử nhân đạo. Và chúng sinh ra không phải để phục vụ mục đích của con người, để bị nhốt trong cũi sắt và bóng tối, và chịu đựng đau đớn vì bị khai thác đến kiệt quệ,” ông Tuấn nói. (Vietnam + 11/10) đầu trang(
Năm 2000, tư thương mua nấm linh chi chưa phơi khô với giá 17.000 đồng/kg. Ba ngày vào rừng, một người có thể mang về hơn 100 kg nấm quý, bán được gần 2 triệu đồng nên ngư dân nghèo xem đây là thu nhập "khủng".
Đã qua rồi cái thời hàng chục ngư dân neo thuyền ven biển để vào rừng "săn" nấm linh chi mọc trăm năm giữa đại ngàn. Giờ đây, anh Mai Thiên Huy (42 tuổi) trở thành người cuối cùng vào rừng tìm nấm quý ở xã Bãi Thơm, huyện Phú Quốc (Kiên Giang).
Hơn 30 năm trước, anh Huy theo cha mẹ từ Thanh Hóa vào Phú Quốc lập nghiệp khi "đảo ngọc" còn hoang sơ. Dãy đất nằm giữa biển và rừng ở xóm Xà Lực của ấp Đá Chồng được gia đình Huy chọn làm chỗ dừng chân. Những ngày theo cha vào rừng tìm nhựa chảy ra từ thân cây dầu để dùng trong việc đóng ghe tàu đi biển, anh Huy phát hiện vài "tay" nấm to như chiếc thúng mọc trên lớp thực bì. "Chạm phải nấm quá to, tôi cột dây gánh về nhà phơi để nấu nước uống cho mát chứ đâu biết tên và tác dụng chữa bệnh của nó. Thấy chúng tôi phơi nấm, người đi đường hỏi mua rồi mang ra chợ Dương Đông bán lại", anh Huy kể.
Năm 2000, tư thương mua nấm linh chi chưa phơi khô với giá 17.000 đồng/kg. Ba ngày vào rừng, một người có thể mang về hơn 100 kg nấm quý, bán được gần 2 triệu đồng nên ngư dân nghèo xem đây là thu nhập "khủng". "Làm thợ hồ lúc đó mỗi ngày chủ trả công chỉ hơn 50.000 đồng. Những người đi biển, hôm nào đánh bắt nhiều tôm cá cũng bỏ túi khoảng 100.000 đến 120.000 đồng. Thấy chúng tôi bán nấm được nhiều tiền, không ít người ở Đá Chồng đã neo ghe để đi 'săn' nấm", người đàn ông sống ven rừng kể.
Ba năm sau, linh chi "rút" sâu vào những khu rừng già đầy hiểm trở vì những nơi dễ đến đã đầy dấu chân người. Tiếp tục sống bằng nghề "săn" thảo dược quý, người dân Xà Lực âm thầm đi sâu vào đại ngàn Phú Quốc. Nơi đó, có những thân cây dầu to khoảng 3 người ôm mới giáp đã bị chết đứng hoặc nhánh của chúng mục vì gãy đổ.
"Nấm linh chi chỉ mọc trên thân hoặc nhánh cây mục. Lúc đầu, quá nhiều người tìm chúng nên thảo dược này không còn tồn tại ngoài bìa rừng. Bây giờ, muốn có được nấm quý phải lội sâu vào đại ngàn gần một ngày mới tìm gặp. Ba ngày sau quay về, trên vai tôi chỉ được vài ký nấm và nếu gặp kiểm lâm thì bị tịch thu hết, xem như công cốc", anh Huy chia sẻ.
Theo anh thợ rừng, người bỏ nghề "săn" nấm gần đây là ông Sáu Khánh. Ngư dân ngoài 50 tuổi này cũng là "thợ săn" lão luyện, từng neo ghe lên rừng và vác ra khỏi đại ngàn những thân nấm to như chiếc nia, nặng hơn 30 kg. Đối với anh Huy, lần gặp nấm to nhất bằng chiếc thúng, dày 16 cm, nặng 14 kg.
Sau vài năm "săn" sản vật của rừng, đại ngàn hiểm trở với những dốc núi gần như dựng đứng đã làm mòn dần sự kiên nhẫn của dân nhập cư đến với Bãi Thơm. Ông Khánh bỏ nghề chuyển chỗ ở đến vùng đất mới gần Bãi Dài, thế nhưng những lúc nhớ rừng, người "thợ săn" ngày nào đã trốn vợ vài ngày dể tìm về đại ngàn. Khi quay ra, ông Khánh luôn gánh đầy bao linh chi nhưng sản vật của rừng chỉ còn to bằng bàn tay hoặc chiếc quạt chứ không to như trước đây.
Quay về thị trấn Dương Đông, phóng viên gặp bà lão ngoài 60 tuổi từng là "mối" làm ăn với những người thợ rừng. Theo bà Nguyễn Thị Hồng (ngụ xã Hàm Ninh), hơn 10 năm trước, nhiều người sống quanh rừng già thường chở ra chợ huyện hàng trăm kg nấm linh chi rừng các loại. Bà Hồng là người đầu tiên kinh doanh loại thảo dược quý này ở đường Bạch Đằng, thị trấn Dương Đông.
"Bây giờ, cả tháng mới có người mang linh chi đến bán, giá cao gần chục lần lúc trước. Họ giao nấm cho tôi chủ yếu là lúc trời tối, sợ gặp nhà chức trách xét hỏi, tịch thu", bà Hồng nói.
Trò chuyện cùng phóng viên, "thợ săn" linh chi Lương Văn Dũng (51 tuổi, ngụ xã Cửa Dương) cho biết, tuần nào ông cũng tìm cách vào rừng tìm dược liệu để làm từ thiện. Những lần như thế, ông cố tình "rút" sâu vào đại ngàn vài ngày để tìm nấm linh chi bán cho các tiệm thảo dược để bù lại chi phí bốc thuốc miễn phí.
"Linh chi vài chục ký tôi từng gặp và vác về thị trấn nhưng đó chỉ là dĩ vãng. Giờ đây, loài nấm quý này chỉ có trong rừng sâu, có nơi quanh năm không nhìn thấy mặt trời. Kiên nhẫn vài ngày và đánh liều với kiểm lâm để vào rừng thì quay ra được vài ký linh chi, thân chúng chỉ to như những chiếc đĩa", ông Dũng thật thà nói. (Infonet 12/10) đầu trang(
Sáng 12-10, các Sở NN&PTNT, TN&MT, Công an tỉnh Quảng Nam và 5 huyện Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phú Ninh, Núi Thành tổ chức Lễ ký kết tăng cường phối hợp công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản và an ninh trật tự vùng rừng giáp ranh.
Theo đó các đơn vị nói trên sẽ triển khai các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên khoáng sản, bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn thiên nhiên. Tham mưu cho UBND cùng cấp xây dựng phương án bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản và phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức thanh tra, hỗ trợ phương tiện, lực lượng tham gia kiểm tra, truy quét tại các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm, khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh; trao đổi thông tin về tình hình quản lý, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên khoáng sản thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý… (Đại Đoàn Kết 12/10; Báo Quảng Nam 12/10) đầu trang(
Hàng trăm phách gỗ được lâm tặc tập kết, cất giấu tại các vị trí chỉ cách trạm quản lý bảo vệ rừng chưa đến 3 km.
Ngày 12-10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết đã có báo cáo xử lý các trường hợp vi phạm về khai thác gỗ trái phép xảy ra tại khu vực rừng phòng hộ Sông Tranh.
Theo đó, từ ngày 22 đến 24-9, lực lượng kiểm lâm tổ chức kiểm tra tại khu vực thôn 2 (xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam) phát hiện 25,7 m3 gỗ xẻ (124 phách) được cất giấu trái phép tại hai địa điểm khác nhau.
Qua tìm hiểu, các vị trí cất giấu gỗ lậu này cách trạm quản lý bảo vệ rừng (thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh) khoảng 3 km.
Mở rộng khu vực kiểm tra sang thôn 8 (xã Phước Hiệp, huyện Phước Sơn) là địa bàn giáp ranh với thôn 2 (xã Trà Bui), phát hiện thêm 3,9 m3 gỗ xẻ (16 phách) cất giấu trái phép, không người nhận. Đội kiểm lâm cơ động đã lập hồ sơ vi phạm, tạm giữ tang vật để phục vụ điều tra.
Theo ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, tổ công tác của chi cục đã tiến hành kiểm tra các vị trí thuộc tiểu khu 742 trong lâm phận Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh phát hiện nhiều cây gỗ bị chặt hạ đã được cắt khúc, đường kính trung bình 70-80 cm, một số đoạn đã được xẻ phách và chuyển ra khỏi hiện trường.
Ngày 30-9, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Sông Tranh phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ kiểm tra hiện trường rừng tại khu vực thôn 2, xã Trà Bui phát hiện thêm hai vụ khai thác rừng trái phép, lập biên bản tạm giữ 19 lóng gỗ chò (19,9 m3). Trong đó, 15 lóng được phát hiện tại Khe Rát (khối lượng 13 m3), còn tại Suối Thùng Phí có bốn lóng (khối lượng 6,6 m3).
Hiện lực lượng chức năng đang xác minh, xử lý theo quy định. (Pháp Luật TP.HCM 12/10) đầu trang(
Rừng phòng hộ Sông Tranh bị tàn phá kể từ khi người dân được di dời vào đây để phục vụ dự án thủy điện
Chính quyền tỉnh Quảng Nam có lẽ đã nhận ra sai lầm khi đưa dân vào sinh sống trong vùng lõi rừng phòng hộ Sông Tranh (xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) bởi cánh rừng này đang bị tàn phá nặng nề.
Mất hơn nửa giờ băng rừng lội suối, chúng tôi cũng đến được khu vực rừng bị tàn phá trong lâm phần rừng phòng hộ Sông Tranh ở thôn 2, xã Trà Bui. Dọc đường đi, không khó để phát hiện những phách gỗ đã cưa xẻ được cất giấu, chờ cơ hội để đưa đi tiêu thụ.
Tiếp cận một vạt rừng rộng chưa đến một sào đất, chúng tôi ghi nhận gần 10 cây to với đường kính hơn 1 m bị triệt hạ bằng cưa lốc, áng chừng cả 100 m3 gỗ. Những thân gỗ lớn 2 người ôm không xuể nằm ngổn ngang, dấu cũ, dấu mới đều có. Tại khu vực chúng tôi đến, dù chỉ nằm ở bìa rừng nhưng khung cảnh hết sức hoang tàn, những cây gỗ lớn như chò, giổi bị đốn hạ không thương tiếc.
Một người dân địa phương cho biết hằng đêm, “lâm tặc” dùng cưa lốc để xẻ gỗ rồi thuê trâu kéo lên đường, sau đó đưa xe tải vào vận chuyển đi tiêu thụ. Điều đáng nói, muốn đi vào khu vực rừng bị phá chỉ có một con đường lại có đến 2 trạm bảo vệ rừng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Sông Tranh nhưng gỗ lậu vẫn có thể tuồn ra ngoài. “Thật không thể nào tin được rằng các trạm bảo vệ rừng vô can” - một cán bộ xã Trà Bui nhận định.
Ông Đoàn Tất Chẩn, Giám đốc BQLRPH Sông Tranh, thừa nhận có thiếu sót trong việc quản lý, chỉ đạo nhưng cũng đưa ra các lý do như rừng rộng, lực lượng mỏng, “lâm tặc” tinh vi khi chỉ phá rừng từ 1-2 giờ sáng... Khi được hỏi vì sao biết thời gian “lâm tặc” hoạt động nhưng lại không tổ chức truy bắt thì ông Chẩn trả lời ấp úng và cho biết sẽ đề nghị điều tra về vấn đề tiêu cực trong nội bộ của BQLRPH.
Ông Nguyễn Tuân Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Sông Tranh, cũng cho rằng do thiếu lực lượng, việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa tốt. Tuy nhiên, ông Sơn thừa nhận việc giám sát có phần chưa chặt chẽ, trách nhiệm của kiểm lâm địa bàn chưa tốt... Trả lời câu hỏi có hay không việc cán bộ của hạt tiếp tay cho “lâm tặc”, ông Sơn nói: “Chúng tôi chưa nắm được”.
Theo ghi nhận của chúng tôi, khu vực trong lâm phần rừng phòng hộ Sông Tranh mặc dù khá xa xôi, đường đi hiểm trở nhưng vẫn có nhiều nhà dân sinh sống. Tìm hiểu thì được biết hơn 7 năm trước, do ảnh hưởng của dự án thủy điện Sông Tranh 2, hàng trăm người dân xã Trà Bui phải rời làng vào vùng lõi rừng phòng hộ sinh sống. Thiếu đất sản xuất, người dân không còn sự lựa chọn nào khác là đổi rừng lấy miếng ăn.
Theo BQLRPH Sông Tranh, từ thôn 1 đến thôn 6 có 130 con trâu kéo, 75 cưa lốc phục vụ cho khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Để tiêu thụ gỗ, sát bìa rừng còn mọc lên ít nhất 3 xưởng cưa chuyên gia công, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ như bàn ghế, phản... Gỗ được chế biến ra thành phẩm là chiêu bài để hợp thức hóa gỗ lậu. Nhà nhà chứa gỗ, người người đi lấy gỗ từ rừng bán cho các đầu nậu hoặc xưởng cưa.
Theo ông Hồ Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Trà Bui, do thiếu đất sản xuất nên người dân phá rừng cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên trước đây, người dân phá rừng để có đất làm rẫy thì nay, họ chủ yếu vào rừng đốn gỗ để bán cho “lâm tặc”. Trong khi đó, “lâm tặc” rất khôn ngoan khi không trực tiếp phá rừng mà xúi giục người dân địa phương phá rừng rồi thu mua với giá thấp. “Để xảy ra tình trạng phá rừng, ngoài lý do người dân không có đất sản xuất, còn vì địa phương không nhận được sự phối hợp với ban quản lý để bảo vệ rừng” - ông Tiến đánh giá.
Ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, cho biết tính đến thời điểm này, các ngành chức năng của tỉnh đã bắt giữ 150 m3 gỗ được cho là xuất phát từ rừng phòng hộ Sông Tranh. Theo ông, để xảy ra tình trạng trên, ngoài nguyên nhân do sự buông lỏng quản lý, còn có việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý và người dân không tốt. “Nếu có quan hệ tốt thì chính những người dân ở trong rừng là tai mắt cho kiểm lâm. Đằng này, người dân lại giúp sức cho “lâm tặc” phá rừng” - ông Đức nói.
Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, nhìn nhận để việc người dân sống chung với rừng phòng hộ như hiện nay là không ổn và những lán trại của người dân không chừng là nơi “lâm tặc” núp bóng hoặc có thể lợi dụng người dân để phá rừng. Vì thế, ông Thanh yêu cầu huyện Bắc Trà My tiến hành di dời các hộ dân ra khỏi khu vực rừng phòng hộ Sông Tranh trong thời gian tới. (Người Lao Động 12/10) đầu trang(
Lâm tặc ở đâu mà "hiên ngang" ghê rứa, dám "chiếm" đường của dân?
- Ở huyện miền núi Đông Giang (Quảng Nam) chứ đâu, nhưng nói "chiếm" thì cũng hơi quá, thực ra là lợi dụng thôi, nhưng lợi dụng đến mức gần như công khai rồi!
- "Đầu cua, tai nheo" như thế nào?
- Chuyện là vầy, năm 2013 các cơ quan chức năng tổ chức khởi công, xây dựng tuyến đường từ xã Jơ Ngây đi xã Za Hung dài hơn 20km, với tổng vốn đầu tư hơn 100 tỷ đồng nhằm phục vụ cho việc đi lại, phát triển KT-XH của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu ở các bản làng vùng sâu, vùng xa.
- Thế là tốt quá đi chứ!
- Có đường thâm nhập nhựa cho 2 làn xe lưu thông thì ai chả mừng. Nhưng...
- Nhưng sao?
- Mục đích là phục vụ cho mục đích dân sinh, song từ khi khánh thành vào đầu năm 2015 đến nay họa hoằn lắm mới có một số ít người dân địa phương qua lại. Riêng số đông người và phương tiện lưu thông trên tuyến đường này chủ yếu là để khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
- Chẳng lẽ tiêu tốn hàng trăm tỷ đồng xây dựng con đường "phục vụ" cho... lâm tặc. Nguyên nhân nào dẫn đến lãng phí như vậy?
- Có người bảo, nguyên nhân sâu xa là do khi lập luận chứng kinh tế-kỹ thuật, các cơ quan chức năng không khảo sát kỹ, đánh giá đầy đủ tình hình thực tế cũng như không xây dựng các phương án phát triển KT-XH nhằm phát huy công năng của con đường Jơ Ngây - Za Hung...
- Đó là nói rứa, chứ tui tin các ban ngành chức năng cũng có cái lý của họ. Bởi lẽ, xây đường cho dân đi bao giờ cũng là việc tốt. Hơn nữa, đường sá luôn là ưu tiên hàng đầu trong các kế hoạch phát triển KT-XH, phải có đường đã rồi mới tính đến việc khác được. Tui nghĩ, vấn đề ở H. Đông Giang không hẳn là sai lầm về mặt đầu tư, mà chính là khiếm khuyết khâu quản lý. Ai lại để lâm tặc đi nghênh ngang như thế, coi sao được!
- Ông nói rứa Bề Tui nghe cũng có lý đó. Lỗi không nằm ở con đường, mà chính là ở con người. Mong rằng, các nhà quản lý sở tại cũng sẽ nhìn thấu việc này, chớ để một công trình bạc tỷ bị lâm tặc lợi dụng thêm ngày nào nữa. (Công An TP.Đà Nẵng 13/10) đầu trang(
8h30 sáng 12-10, trên tuyến Quốc lộ 1A, đoạn qua địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, tổ tuần tra CSGT đường bộ, đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi bắt quả tang xe khách chạy tuyến Bình Định - Quảng Ngãi BKS: 77L 3015, do Nguyễn Quốc Việt (SN 1982), trú tại phường Nhơn Phú, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định điều khiển chở 13 bao tải chứa động vật hoang dã gồm: trăn, rắn, rùa và chồn.
Theo kết quả điều tra ban đầu, số động vật hoang dã quý hiếm trên được chủ xe nhận của một đôi nam nữ tại thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vận chuyển về huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi với giá 250 nghìn đồng.
Đây là số động vật hoang dã nằm trong danh mục cấm buôn bán, vận chuyển. Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi điều tra, xử lý vụ việc. (An Ninh Thủ Đô 13/10) đầu trang(
Thời tiết năm nay diễn biến khá phức tạp, nắng nóng, khô hạn kéo dài, ít mưa nên nguy cơ cháy rừng xảy ra cao hơn so những năm trước. Trước thực trạng trên, các chủ rừng trong tỉnh tổ chức triển khai tốt kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) ngay từ đầu năm 2015.
Trong đó, tập trung củng cố và kiện toàn lại Ban chỉ huy PCCCR, các tổ (đội) chuyên trách và các lực lượng bán chuyên trách PCCCR tại cơ sở. Ngoài ra, trang thiết bị PCCCR được các đơn vị quản lý rừng trong tỉnh chuẩn bị ngay từ đầu năm và triển khai kịp thời xuống các vùng trọng điểm dễ cháy.
Các chủ rừng còn chủ động vệ sinh bờ bao, bờ kênh, tỉa thưa vệ sinh rừng, đắp đập giữ nước phục vụ công tác PCCCR; nạo vét thông thoáng kênh mương, đảm bảo thuận lợi cho công tác vận chuyển các trang thiết bị khi cháy rừng. Trong đó, Vườn Quốc gia Tràm Chim thực hiện công tác trục băng PCCCR với diện tích 164ha tại phân khu A1 và A5.
Để hạn chế thấp nhất cháy rừng có thể xảy ra, Hạt Kiểm lâm liên huyện Tam Nông - Tân Hồng, Tháp Mười - Cao Lãnh thường xuyên tổ chức kiểm tra công tác PCCCR tại các rừng trên địa bàn quản lý, tập trung kiểm tra các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao như: Vườn Quốc gia Tràm Chim, Trại giống Động Cát, Khu Di tích Gò Tháp và rừng Phòng hộ môi sinh Bắc Tháp Mười.
Tuy nhiên, với diện tích rừng phân bố rải rác, không tập trung, tiếp giáp đất nông nghiệp và khu dân cư nên việc quản lý, kiểm soát, nhất là công tác quản lý người xâm nhập vào rừng khai thác trái phép vẫn còn xảy ra, chưa có giải pháp hiệu quả để tổ chức ngăn chặn triệt để. Đây là một trong những “quả bom” nổ chậm đối với công tác PCCCR.
Theo số liệu của UBND tỉnh, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ cháy rừng tại Vườn Quốc gia Tràm Chim; Khu Di tích Gò Tháp; rừng phòng hộ biên giới của Đoàn kinh tế Quốc phòng 959. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân xâm nhập trái phép để đánh bắt thủy sản, bẫy chuột, sử dụng lửa bất cẩn gây cháy.
Trước tình hình trên, lực lượng Kiểm lâm phối hợp với lực lượng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an huyện, các lực lượng tại địa phương và các chủ rừng tiến hành đẩy mạnh tuần tra chống xâm nhập trái phép vào rừng với 1.860 lượt, tăng 615 lượt so với cùng kỳ năm 2014.
Qua công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng chức năng và chủ rừng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 91 vụ (tăng 28 vụ so với cùng kỳ) vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tổng số tiền xử phạt và bán tang vật tịch thu vi phạm hành chính đã thu nộp ngân sách nhà nước trên 200 triệu đồng. (Báo Đồng Tháp 12/10) đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ đầu năm đến nay, diện tích rừng trồng tập trung của tỉnh đạt 305 ha, tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 2.100 ha, giảm 4,55%; diện tích rừng trồng được khoanh nuôi tái sinh đạt 115 ha; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 36.553ha, tăng 10,2%; ươm cây giống lâm nghiệp đạt 520 ngàn cây.
Cũng trong 9 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy rừng. Tổng diện tích 3 vụ cháy là 0,457 ha, là loại rừng hỗn giao lồ ô-gỗ và rừng loại IIIA1. Mức độ thiệt hại của ba vụ cháy trên là từ 10-20%. So với cùng kỳ năm 2014, số vụ cháy rừng xảy ra trong năm nay giảm 1 vụ và diện tích rừng bị cháy giảm 1,153 ha.
Về tình hình vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, trong 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 207 vụ, giảm 111 vụ so với cũng kỳ năm 2014. Trong đó, vi phạm về phá rừng trái pháp luật xảy ra 9 vụ, làm thiệt hại 5,113 ha rừng sản xuất, tăng 06 vụ và diện tích thiệt hại tăng 3,721 ha so với cùng kỳ năm 2014. Tổng số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý lâm sản xảy ra 196 vụ, giảm 117 vụ so với cùng kỳ năm 2014. Hiện các cơ quan chức năng đã xử lý 199 vụ, trong đó xử lý hành chính 197 vụ và xử lý hình sự 2 vụ, với tổng số tiền phạt thu nộp trên 2 tỷ đồng. (Báo Bình Phước 12/10) đầu trang(
Tại hội thi nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy (PCCC) nhân Ngày toàn dân phòng cháy 4-10, với nội dung thi đội hình “chạy 300m chữa cháy cứu người, cứu tài sản”, Đội PCCC thuộc Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Xuân Lộc đã vượt qua 40 đội tham dự để giành giải nhất.
Kết quả đó đến từ việc coi trọng công tác PCCC - phòng, chống cháy rừng (PCCR) của Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc.
Đến BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc vào tháng mưa, nỗi lo cháy rừng thời điểm này chưa phải cấp bách, nhưng không khí luyện tập các thao tác và phương án chữa cháy của Đội PCCC - PCCR trong đơn vị vẫn được duy trì thường xuyên để phòng khi xảy ra sự cố cháy có thể chủ động xử lý ngay.
Ông Hoàng Đình Long, Giám đốc BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc, cho biết đơn vị quản lý diện tích rừng tự nhiên trên 10,3 ngàn hécta, trong đó có hơn 10 ngàn hécta thuộc địa bàn huyện Xuân Lộc và trên 300 hécta thuộc địa bàn 2 huyện Tánh Linh và Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận), bao gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Về mặt khí hậu, rừng phòng hộ Xuân Lộc chịu ảnh hưởng trực tiếp thời tiết khắc nghiệt của vùng Nam Trung bộ, lượng mưa ít, nắng nóng gay gắt, khô hạn kéo dài, nên vào mùa khô tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra các vụ cháy, đe dọa đến sự an toàn của rừng phòng hộ.
Xuất phát từ thực tế đó và với quyết tâm làm tất cả những gì có thể để phòng ngừa các mối nguy cơ về cháy rừng, BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc đã nhanh chóng xây dựng và hình thành lực lượng bảo vệ rừng gắn với nhiệm vụ PCCR trong đơn vị.
Trước hết, BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc đã thành lập Ban Chỉ huy PCCC-PCCR gồm 14 thành viên, do Giám đốc đơn vị làm trưởng ban. Trong BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc chia thành 2 cụm, mỗi cụm phụ trách 3 phân trường, do 1 thành viên trong Ban Chỉ huy PCCC-PCCR phụ trách. Tại mỗi phân trường còn thành lập 1 tổ chỉ huy PCCR do Phân trường trưởng làm tổ trưởng.
Ngoài ra, tại các khu vực xung yếu, có nguy cơ xảy ra cháy cao, các phân trường còn thành lập tổ xung kích chữa cháy gồm các hộ dân sử dụng đất tại chỗ, sẵn sàng chữa cháy khi có sự cố.
Theo ông Hoàng Đình Long, từ cách tổ chức lực lượng chặt chẽ nên các thành viên trong Đội PCCC-PCCR được trải đều ở các phân trường theo từng tổ hoặc phân tổ, tham gia trực gác tại các chòi canh 24/24 giờ và cùng phối hợp với người dân thực hiện công tác bảo vệ rừng theo phương phâm 4 tại chỗ.
Hàng ngày được cọ xát với thực tế nên bản lĩnh, tay nghề, sự phản ứng của lực lượng PCCC-PCCR trong đơn vị nhanh nhạy và chính xác. Tuy nhiên, để không ngừng nâng cao trình độ cho mọi người trong công tác PCCR, việc huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy cho lực lượng thường xuyên được coi trọng.
Hàng năm, được sự hỗ trợ của lực lượng Cảnh sát PCCC và Chi cục Kiểm lâm tỉnh, BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc đã mở các lớp bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy, trang bị những kiến thức, kỹ năng PCCR cho các đội viên. Vào mùa khô, lực lượng PCCC-PCCR còn phối hợp với Cảnh sát PCCC, kiểm lâm, các phân trường tổ chức diễn tập các phương án chữa cháy rừng với quy mô lớn, có sự tham gia của người dân để chủ động xử lý tình huống khi có các sự cố cháy xảy ra trong thực tế.
Dù có tay nghề cao, nhưng theo ông Long, việc trang bị phương tiện chữa cháy cho lực lượng PCCR cũng là vấn đề được BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc thường xuyên quan tâm trang bị. Trong điều kiện nguồn kinh phí có hạn nhưng đơn vị vẫn cố gắng mua sắm đủ các dụng cụ cần thiết cho công tác chữa cháy rừng, như: bình xịt động cơ đeo vai, bình xịt tay, máy thổi gió, máy phát cỏ cùng các dụng cụ thô sơ khác... để dập tắt các đám cháy ngay từ khi bùng phát, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn.
Một bí quyết khác dẫn đến thành tích cao của Đội PCCC-PCCR BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc được ông Long tiết lộ là do được rèn luyện, thực tập nhiều nên lực lượng PCCC- PCCR của đơn vị luôn có được sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, thao tác chính xác, xử lý hiệu quả các sự cố cháy.
Nhờ vậy, mùa khô những năm qua, trong lâm phận của BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc không để xảy ra các vụ cháy tài nguyên rừng trên lâm phận được bảo toàn. (Báo Đồng Nai 12/10) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân được chuyển từ Công ty Lâm nghiệp Trà Tân (Cty Trà Tân) năm 2007. Từ đó đến nay Cty làm ăn thua lỗ triền miên. Đặc biệt, tại Cty đã xảy ra nhiều sai phạm nghiêm trọng làm mất rừng, mất đất và cả vốn của Nhà nước…
Từ năm 2007 - 2011, Cty triển khai trồng 618,8ha rừng tại huyện Tây Trà và Trà Bồng, trong đó diện tích trồng keo là 474,8ha và 144ha cao su. Riêng năm 2008, Cty tiến hành trồng 74,8ha cây keo tại xã Trà Tân và Trà Bùi (Trà Bồng), nhưng không có hồ sơ thiết kế thi công và dự toán theo quy định. Rừng trồng không được chăm sóc, quản lý, dẫn đến 38,4ha rừng tại xã Trà Tân bị thiệt hại 100%; còn đất bị người dân chiếm dụng hết.
Trong khi chưa được sự đồng ý của UBND tỉnh, tháng 2/2011, Cty Trà Tân tự tiện liên doanh ký kết hợp đồng với Cty TNHH Nam An Lộc, Bình Phước (Cty Nam An Lộc) để trồng 1.000ha cao su với giá trị đầu tư hơn 2,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, chỉ trồng được 124ha cao su tại huyện Tây Trà và 20ha tại Trà Bồng. Trước khi trồng cũng không lập hồ sơ thiết kế, dự toán và 20 ha cao su tại Trà Bồng chết hoàn toàn, còn diện tích cao su tại Tây Trà sống ngắc ngoải với tỷ lệ thấp. Mặt khác, Cty Nam An Lộc tự đưa cây Dó Bầu trồng trong diện tích cao su liên doanh nhưng Cty Trà Tân không có ý kiến gì.
Tháng 10/2007, Cty Trà Tân ký hợp đồng với Cty An Nam Lộc (TP HCM) trồng 600ha cây keo tại huyện Tây Trà và đối tác đã đầu tư hơn 2,9 tỷ đồng. Sau khi trồng được 1 năm, do không chăm sóc đúng quy trình nên diện tích keo bị chết hết.
Năm 2011, Cty Trà Tân bán 2ha keo đến tuổi thu hoạch tại xã Trà Bùi cho ông Huỳnh Tấn Sơn với giá 70 triệu đồng, nhưng không thể hiện trong sổ tiền mặt và báo cáo tài chính của Cty trong năm này.
Năm 2014, Cty ký hợp đồng khai thác keo trên diện tích 259ha tại xã Trà Phong (Trà Bồng) với ông Nguyễn Tấn Mạnh (người địa phương) với giá 690 ngàn đồng/tấn, nhưng không thể hiện số lượng là bao nhiêu tấn; trong hồ sơ kế toán cũng không có khoản thu tiền từ bán keo. Đặc biệt, ông Mạnh lợi dụng sơ hở tự quyền khai thác keo rồi đem bán ra ngoài thu lợi mà lãnh đạo Cty không hay biết gì.
Lãnh đạo Cty còn tự bán 7 loại tài sản với giá trị gần 834 triệu đồng nhưng không đưa ra đấu giá công khai, trong đó có việc thanh lý xe Mitsubishi giá trị còn lại 119 triệu đồng, chỉ áp giá và bán 80 triệu đồng.
Trong năm 2009 - 2010, Cty chủ trương vay tiền cá nhân bên ngoài để sản xuất - kinh doanh nhưng không xin ý kiến của chủ sở hữu (UBND tỉnh) phê duyệt, không có hợp đồng vay vốn. Hồ sơ tài chính chỉ thể hiện 4 phiếu thu với tổng số tiền vay là 1,3 tỷ đồng, trong đó ông Nguyễn Xuân Trúc cho vay 600 triệu đồng, Lê Văn Pháp 300 triệu đồng và bà Nguyễn Thị Thu Thảo 400 triệu đồng. Các phiếu thu tiền đều không có chữ ký của người nộp tiền, chỉ có Kế toán trưởng và Giám đốc Cty ký tên.
Đến năm 2012, tổng số tiền lãi chi trả là 867,6 triệu đồng, đơn vị không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; các phiếu chi trả tiền lãi chỉ có một mình Kế toán Lê Thiện Hóa ký tên và toàn bộ số tiền trả lãi vay trên đều do Giám đốc Cty trực tiếp nhận để trả cho người cho vay vốn. So sánh mức lãi suất của ngân hàng thương mại lúc bấy giờ thì việc vay vốn bên ngoài đã gây thiệt hại cho Cty hơn 213 triệu đồng.
Trong quản lý, theo dõi nợ phải thu, phải trả, Cty mắc nhiều sai phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến tính minh bạch và tài chính; dẫn đến mất khả năng thu hồi nợ, mất vốn của Nhà nước đã giao.
Tính đến cuối năm 2013, tổng số nợ phải thu là hơn 3,8 tỷ đồng, trong khi số nợ phải trả chỉ có 681 triệu đồng. Do không đủ chứng từ gốc để đối chiếu công nợ nên mất khả năng thu hồi nợ với số tiền hơn 2 tỷ đồng. Trường hợp ông Nguyễn Hành (Trà Bồng) trên sổ sách Cty còn treo nợ 73 triệu đồng, nhưng ông Hành trình bày là ông đã hợp đồng trồng rừng cho Cty tại xã Trà Bùi và hiện Cty chưa thanh toán tiền công trồng rừng cho ông là 373,5 triệu đồng. Theo sổ sách kế toán thể hiện ông Lê Lý nợ Cty hơn 1 tỷ đồng, cũng không có đủ hồ sơ, chứng từ để đối chiếu và ông Lý không hợp tác làm việc hoặc trả nợ.
Do buông lỏng quản lý, làm ăn yếu kém kéo dài, đặc biệt là thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái gây thiệt hại lớn về kinh tế - tài chính, nên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa giao cho các cơ quan chức năng kiểm kê, xác minh thực trạng công nợ, vốn, tài sản của Cty Trà Tân đang quản lý, làm cơ sở tham mưu cho tỉnh xử lý theo hình thức giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp ngay trong tháng 10 này.
Ngoài việc yêu cầu lãnh đạo các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… tổ chức kiểm điểm trách nhiệm liên đới đến hoạt động của Cty Trà Tân, Chủ tịch UBND tỉnh còn giao Thanh tra tỉnh chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiếp tục làm rõ trách nhiệm của lãnh đạo Cty Trà Tân trong việc làm trái quy định, thiếu tinh thần trách nhiệm, dẫn đến mất vốn Nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp. (Thanh Tra 13/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, người dân Thành Phố Bắc Kạn đã chủ động trồng xen canh các loại cây nông nghiệp trên những diện tích rừng trồng mới.
Các giống cây được bà con trồng xen canh như: Lúa nương, sắn, vừng và một số loại cây ngắn ngày khác. Ngoài tác dụng nâng cao hiệu quả kinh tế, việc trồng xen canh trên diện tích rừng trồng mới sẽ tạo cho đất có được độ tơi xốp và độ ẩm cần thiết cho quá trình phát triển của cây keo, mỡ, giúp bà con đỡ được công chăm sóc, làm cỏ, bón phân.
Vì vậy, khoảng hơn 90% diện tích rừng trồng mới năm thứ nhất và năm thứ 2 được bà con nông dân trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn tập trung trồng xen canh. Để việc xen canh đem lại hiệu quả kép, thành phố đã chỉ đạo cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn phối hợp với ban phát triển rừng các thôn tuyên truyền, hướng dẫn bà con trồng xen canh phải đảm bảo được kỹ thuật, mật độ cũng như chất đất trồng xen canh cây trồng cho phù hợp. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 12/10) đầu trang(
Dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn do Ban quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành làm chủ đầu tư được thực hiện từ đầu tháng 6.2014 và hoàn thành vào cuối tháng 8.2015.
Dự án do Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam thực hiện với tổng diện tích trồng phục hồi rừng ngập mặn là 27,45ha, trong đó trồng rừng 23,90ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung là 3,55ha. Với mật độ mỗi hécta trồng 6.666 cây đước (một trong 10 loài cây có tác dụng chắn sóng), dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang trải dài trên địa bàn 4 thôn: Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ.
Mục tiêu của dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang là nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven sông, bảo vệ các bờ đê, bờ kè khỏi bị xói lở bởi gió bão, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bước đầu với việc lựa chọn cây giống phù hợp, thực hiện đúng quy trình trồng, chăm sóc và xây dựng hàng rào bảo vệ nên vùng đước trồng trong dự án phát triển tốt, có khả năng trở thành “lá chắn xanh” cho vùng ngập mặn huyện Núi Thành, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy vậy, để dự án thực sự phát huy hiệu quả thì vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết rốt ráo.
Ông Nguyễn Văn Liền – ở thôn Đông Bình (xã Tam Giang) bày tỏ: “Là người dân vùng ngập mặn Tam Giang, chúng tôi rất vui mừng khi dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn được thực hiện tại địa phương, chúng tôi sẽ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng trồng. Tuy nhiên, để cây đước mới trồng phát triển cần phải tiếp tục bảo vệ trong thời gian dài và người dân ở địa phương cũng đề nghị nhà nước có hỗ trợ về kinh phí để thực hiện”.
Với tổng mức đầu tư hơn 3,1 tỷ đồng, dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang được thực hiện nhằm trồng mới trên diện tích đất trống ven sông, đầm, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung đối với diện tích rừng mật độ còn thưa để đảm bảo chức năng phòng hộ và khoanh nuôi quản lý, bảo vệ những diện tích rừng ngập mặn hiện có.
Mức kinh phí trên chỉ đủ để thực hiện xong dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn trong giai đoạn đầu còn vấn đề chăm sóc để cây đước mới cao chừng vài tấc phát triển, trở thành rừng ngập mặn là cả một thời gian dài.
Ông Cao Anh Tuấn – cán bộ kỹ thuật Chi cục Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam lo lắng: “Trồng rừng phải theo quy trình “một năm trồng, 3 năm chăm sóc”, do vậy, để dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang thực sự phát huy tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu thì phải có nguồn kinh phí để chăm sóc, trồng dặm... ít nhất là 3 năm tiếp theo. Ban quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành có thể xin nguồn kinh phí bổ sung chăm sóc rừng hàng năm của tỉnh để trang trải...”.
Những năm qua, cùng với phong trào toàn dân bảo vệ diện tích rừng ngập mặn hiện có, dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang đã góp phần để hình thành “lá chắn xanh” trong tương lai cho các xã vùng ven sông, ven biển huyện Núi Thành.
Ông Nguyễn Minh Khả - Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy – Trưởng ban Quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành cho biết: “Đây sẽ là dự án có hiệu quả thiết thực trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và dự án này phải được xem như là tài sản của nhân dân, nhân dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc. Huyện sẽ có kế hoạch xin hỗ trợ kinh phí để dự án thực sự có hiệu quả là “lá chắn xanh” ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai trên địa bàn huyện Núi Thành”. (Báo Quảng Nam 12/10) đầu trang(
Anh Lê Văn Hưởng, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Nguyên Phong, thị trấn Ái Tử huyện Triệu Phong được nhiều người biết đến là một doanh nhân thành đạt, một chủ rừng năng động, giỏi giang.
Từ những thành công trong hoạt động trồng rừng nhiều năm, đã tạo nền tảng vững chắc giúp anh gây dựng Doanh nghiệp tư nhân Nguyên Phong trở thành một trong những đơn vị lớn hoạt động trong ngành chế gỗ rừng trồng trên địa bàn.
Vốn xuất thân từ một nông phu trồng rừng lâu năm ở vùng đất gò đồi Triệu Ái, anh Lê Văn Hưởng lập thân, lập nghiệp từ những ha rừng trồng đầu tiên. Nhận thấy, vùng đất Tây Triệu Phong có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế trồng rừng, anh đã mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích. Đến nay, anh có trên 100 ha rừng trồng ở địa bàn 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Mỗi năm doanh thu từ rừng đạt trên 1 tỷ đồng. Mặc dù công việc bề bộn, nhưng anh vẫn cùng nhân dân trong vùng tham gia công tác bảo vệ hàng trăm ha rừng.
Nhờ nhanh nhạy trong nắm bắt nhu yếu thị trường trước tiềm năng dồi dào của rừng trồng trên địa bàn, song song với làm kinh tế trồng rừng, năm 1996, anh mạnh dạn chuyển sang mở xưởng chế biến gỗ rừng trồng. Những ngày đầu chập chững bước vào lĩnh vực kinh doanh, cơ sở của anh chỉ dừng lại ở chỗ sơ chế gỗ rừng trồng với một tổ máy hơn 10 công nhân. Hoạt động sản xuất lúc bấy giờ hoàn toàn thô sơ, làm bằng sức người là chính, chưa có hệ thống lò sấy gỗ và nhà kho để chứa đựng sản phẩm. Gỗ cưa xẻ ra chỉ để bán cho các đơn vị sơ chế gỗ khác.
Trãi qua quá trình phấn đấu, học hỏi đến năm 2002, anh thành lập Doanh nghiệp tư nhân Nguyên Phong, nằm trong cụm công nghiệp Làng nghề Ái Tử. Hiện nay, với quy mô trên 1,3 ha, hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp từng bước được hiện đại hóa, phát triển cả về quy mô lẫn công nghệ. Với tám tổ máy cưa, công suất cưa xẻ mỗi ngày ước đạt 20 mét khối gỗ khối phôi gỗ.
Cùng với đó, 12 hầm sấy với hệ thống truyền nhiệt bằng hơi nước và hệ thống tẩm hóa chất dưới áp lực, doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt những yêu cầu về kỹ thuật của khách hàng. Mỗi năm, doanh nghiệp sản xuất trên 18.000 m3 gỗ nguyên liệu và trên 6.000 m3 ván ghép thanh, mang về doanh thu gần 28 tỷ đồng. Sản phẩm gỗ của doanh nghiệp tư nhân Nguyên Phong, được tiêu thụ tại thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Doanh nghiệp còn cung cấp sảm phẩm cho các đơn vị sản xuất hàng mộc xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc.
Năm 2014, anh Lê Văn Hưởng mạnh dạn đầu tư hơn 5 tỷ đồng, xây dựng hệ thống nhà máy sản xuất ván gỗ ghép thanh. Đây là nhà máy đầu tiên trên địa bàn huyện Triệu Phong cho ra loại sản phẩm này. Với công suất mỗi năm ước đạt 6.000 m3 sản phẩm ván gỗ ghép thanh, đã đưa doanh thu của doanh nghiệp mỗi năm tăng thêm gần 5 tỷ đồng. Nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và hiệu quả, doanh nghiệp đã tạo công ăn việc làm ổn định cho gần 100 lao động địa phương và các huyện lân cận với mức lương từ 3 – 5 triệu đồng mỗi tháng.
Từ những thành tích có được trong sản xuất, kinh doanh, bản thân anh nói riêng và doanh nghiệp nói chung, nhiều năm liền được các cấp, ngành biểu dương khen thưởng. Từ năm 2005 đến năm 2014, doanh nghiệp tư nhân Nguyên Phong đã được UBND tỉnh tặng Bằng khen; năm 2007 và 2008, được Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác nộp ngân sách nhà nước.
Năm 2008, anh Lê Văn Hưởng được Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tặng Bằng khen; Năm 2009, anh được Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng Trị, bình chọn là một trong 1.000 doanh nhân xuất sắc của cả nước.
Lớn lên từ rừng, lập thân lập nghiệp rồi thành đạt nhờ rừng và chế biến sản phẩm rừng trồng, doanh nhân Lê Văn Hưởng đã phát huy được tiềm năng, lợi thế vùng gò đồi Tây Triệu Phong để làm giàu chính đáng. Bằng sự nhanh nhạy, quyết đoán và mạnh dạn của mình, anh Lê Văn Hưởng xứng đáng là tấm gương sáng điển hình trong phát triển kinh tế và có nhiều cống hiến làm giàu cho quê hương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 12/10) đầu trang(
Tính đến ngày 30/9/2015 cả nước đã trồng rừng thay thế được 15.959 ha, đạt 23,6%. Các địa phương tích cực triển khai trồng rừng thay thế gồm: Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An.
Tại Lạng Sơn, có 33 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác với tổng diện tích rừng chuyển đổi là 682,38 ha (trong đó, có 3 dự án chuyển đổi rừng sang làm thủy điện với diện tích là 235,9 ha; 30 dự án chuyển đổi rừng sang mục đích phi nông nghiệp, với diện tích 446,48 ha).
Trong 33 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, đến nay đã có 2 dự án trồng rừng thay thế được 50 ha. (Báo Lạng Sơn 12/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích bảo vệ rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2015 - 2020.
Theo đó, các đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ, bao gồm: hộ gia đình đồng bào DTTS, hộ gia đình người Kinh nghèo, cộng đồng dân cư thôn được giao rừng hoặc nhận khoán bảo vệ rừng tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thuộc vùng dân tộc và miền núi (khu vực II và III - theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ) có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng như bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên...
Nghị định nêu rõ mức hỗ trợ cụ thể như sau: hỗ trợ tiền khoán bảo vệ rừng là 400 nghìn đồng/ha/nămđối với hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn đang bảo vệ các diện tích rừng thuộc quyền quản lý của Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do các công ty lâm nghiệp quản lý; diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND cấp xã quản lý...
Trong đó, hạn mức diện tích tối đa được hỗ trợ là 30ha/hộ gia đình (hoặc cộng đồng dân cư) và có quyền được hưởng lợi từ rừng, cũng như thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước.
Đối với các hộ gia đình bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được giao có trồng bổ sung và cộng đồng dân cư thôn thực hiện bảo vệ rừng được giao sẽ được hỗ trợ bảo vệ rừng 400 nghìn đồng/ha/năm; hỗ trợ trồng rừng bổ sung, mức hỗ trợ theo thiết kế - dự toán, tối đa không quá 1,6 triệu đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600 nghìn đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo.
Ngoài ra, các hộ gia đình trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên với mức từ 5 - 10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền tùy theo từng loại cây được trồng để phát triển sản xuất.
Riêng các hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ thì được trợ cấp 15kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực (thời gian hỗ trợ tối đa là 7 năm, tính từ thời điểm bắt đầu chu kỳ sản xuất đầu tiên).
Nghị định số 75/2015/NĐ-CP cũng quy định đối các đối tượng hộ gia đình trên được hưởng chế độ tín dụng ưu đãi vay không cần tài sản bảo đảm để trồng rừng, phát triển sản xuất với hạn mức cho vay tối đa 15 triệu đồng/1ha trong thời hạn vay tối đa là 20 năm; đồng thời, được vay hỗ trợ phát triển chăn nuôi số vốn tối đa 50 triệu đồng trong vòng 10 năm, với lãi suất cho mỗi gói vay 1,2%/năm. Theo đó, các ngân hàng cung cấp gói vay ưu đãi này, bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng NN&PTNT.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 2.11.2015 tới đây. (Báo Quảng Nam 12/10) đầu trang(
Theo kế hoạch trồng rừng thay thế của năm 2015, tổng diện tích rừng trồng thay thế là 22.300ha. Trong đó: Các dự án thủy điện 8.800ha; các dự án khác 13.500 ha.
Trong 9 tháng đầu năm (tính đến 30.9), có 23 địa phương có kế hoạch và triển khai trồng rừng thay thế, với diện tích 8.089ha, đạt 36% kế hoạch năm. Ước cả năm trồng được 11.660ha, đạt 52,3% kế hoạch.
Đối với tỉnh Hà Giang, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế là 1.363,9ha. Trong đó, diện tích trồng rừng thay thế các dự án thủy điện là 823,49ha; diện tích trồng rừng thay thế các dự án hoạt động ngoài thủy điện là 540,39ha.
Tính đến 10.10, tổng diện tích trồng rừng thay thế của tỉnh đã lập phương án được duyệt là 580,07ha, đạt 42,5% diện tích phải trồng (trong đó nộp tiền vào Quỹ BV PTR của tỉnh là 11,65 ha = 364.856.114 đồng). Tổng diện tích đã trồng là 374,62 ha, đạt 64,58% diện tích phương án được duyệt. Ước thực hiện 3 tháng cuối năm trồng thêm được 15,21ha.(Báo Hà Giang 12/10) đầu trang(
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác trồng rừng thay thế thời gian qua vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc như: nhiều địa phương chưa quyết liệt, kết quả trồng rừng thay thế đạt thấp; hầu hết các địa phương chưa chủ động bố trí ngân sách nhà nước để thực hiện; nhiều chủ dự án không chủ động xây dựng phương án trồng rừng hoặc nộp tiền để trồng rừng thay thế; dự án nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của một số tỉnh còn để vốn tồn đọng...
Đối với tỉnh Bình Thuận, trong 9 tháng đầu năm đã tổ chức thực hiện trồng, chăm sóc rừng thay thế trên diện tích 238,6 ha, khả năng thực hiện đến 31/12/2015 là 288,53 ha, đạt 36,54% so với tổng diện tích phải trồng rừng thay thế được duyệt (288,53/789,52 ha). (Báo Bình Thuận 12/10) đầu trang(
Từ năm 2014 đến nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt 18 phương án trồng rừng thay thế với tổng diện tích 2.042,57 ha, trong đó, các dự án tự thực hiện trồng rừng thay thế là 429,76 ha, các dự án nộp tiền ủy thác về quỹ bảo vệ phát triển rừng là 612,86 ha (các dự án thủy điện là 1.464,1 ha) với kinh phí 40,946 tỷ đồng.
Đến nay, Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã thu được 25,187 tỷ đồng, đạt 61,5% số kinh phí phải thu, số còn lại các chủ dự án cam kết nộp ủy thác hoàn thành trước 30-6-2016. Theo kế hoạch trong năm 2015, tỉnh được Trung ương giao trồng 662 ha diện tích rừng chuyển đổi sang làm thủy điện.
Ngay từ vụ xuân các địa phương đã tập trung triển khai quyết liệt và trồng được 1.650 ha, đạt 249% kế hoạch. Đối với diện tích rừng chuyển đổi sang mục đích khác, tỉnh được giao trồng 500 ha, các địa phương trồng được 852 ha, đạt 170,4% kế hoạch giao.
Năm 2016, tỉnh tiếp tục được Trung ương giao trồng 1.361 ha thuộc các dự án chuyển đổi mục đích có yêu cầu trồng rừng thay thế. Với những kết quả đạt được trong thời gian qua và những khó khăn trên, tồn tại và hướng giải pháp trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo quyết liệt, phấn đấu hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, kế hoạch trồng rừng thay thế được giao, bảo đảm tiến độ và chất lượng. (Báo Thanh Hóa 12/10) đầu trang(
Tại Nghệ An, chỉ tiêu trồng bù rừng chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm thủy điện được tỉnh ưu tiên nên đã trồng được 1.585 ha (hoàn thành 100% kế hoạch).
Chỉ tiêu trồng bù rừng chuyển đổi mục đích khác dự kiến sẽ trồng 1.251 ha trong năm 2015 và hiện nay đã trồng hơn 532 ha (đạt 76% kế hoạch), dự kiến diện tích gần 720 ha sẽ hoàn thành trước 31/10 năm nay.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, việc truy thu tiền tái rừng một số đơn vị, dự án, doanh nghiệp có diện tích chuyển đổi trước năm 2012 ở Nghệ An còn chậm và gặp khó khăn do một số dự án đã chuyển nhượng chủ đầu tư, một số dự án đã quyết toán nhưng không đưa kinh phí trồng rừng bù vào dự toán… (Báo Nghệ An 12/10) đầu trang(
Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, diện tích rừng trồng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang mục đích khác còn hạn chế.
Năm 2015, Bộ NN&PTNT đã lập kế hoạch TRTT với diện tích 22.300 ha, trong đó các dự án thủy điện 8.800 ha; các dự án khác 13.500 ha. Đến nay, có 23/50 tỉnh, thành trong nước mới chỉ trồng được 8.089 ha rừng, đạt 36% kế hoạch. Đối với các dự án chuyển mục đích sang xây dựng thủy điện, có 11/26 địa phương đã TRTT trên diện tích 5.709 ha, đạt 65% kế hoạch.
Các dự án chuyển sang mục đích khác có 20/48 địa phương thực hiện trồng rừng được 2.380 ha, đạt 18%. Tỉnh Bình Định có kế hoạch trồng 500 ha rừng thay thế các dự án chuyển sang mục đích khác, nhưng đến nay chưa thực hiện. (Báo Bình Định 12/10) đầu trang(
Đà Nẵng là một trong những địa phương có tổng diện tích trồng rừng phải thay thế với diện tích lớn (1.226 ha), nhưng triển khai chậm.
Đến nay, Đà Nẵng chỉ triển khai được 5 dự án tương đương 100ha rừng cần thay thế. Theo Phó Chủ tịch UBND Phùng Tấn Viết, một trong những nguyên nhân chính của việc trồng rừng thay thế đạt thấp là do nhiều dự án nhỏ lẻ (trên địa bàn Đà Nẵng có 46 dự án); một số chủ dự án không chủ động trong xây dựng phương án trồng rừng thay thế cũng như thực hiện nộp tiền.
Trong thời gian đến, Đà Nẵng cam kết sẽ đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế. (Cổng Thông Tin Điện Tử Đà Nẵng 12/10) đầu trang(
Sáng 12/10, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã tổ chức Hội nghị trực tuyến đánh giá kết quả trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới.
Tham dự và chủ trì Hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải. Tại Đắk Lắk, đồng chí Y Dhăm Ênuôl- Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết, tổng diện tích rừng phải trồng rừng thay thế trong cả nước là 67.750ha, đến cuối tháng 9/2015 cả nước đã trồng rừng thay thế được gần 16.000ha, đạt 23,6% kế hoạch, riêng 9 tháng đầu năm, có 23/50 tỉnh thực hiện trồng rừng thay thế với diện tích gần 8.100ha, đạt 36% kế hoạch.
Tổng số tiền do các chủ dự án nộp về Qũy bảo vệ và phát triển rừng 262.306 triệu đồng, trong đó đã giải ngân được 68.510 triệu đồng. Các địa phương tích cực triển khai trồng rừng thay thế gồm: Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Đắk Lắk 12/10) đầu trang(
Tính đến ngày 30/9, cả nước chỉ mớitrồng rừng thay thế được 15.959 ha, đạt 23,6% kế hoạch.
Riêng kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 của tỉnh Cà Mau là 100 ha.Đến ngày 30/9, UBND tỉnh đã phê duyệt phương án trồng rừng thay thế được 120 ha. Đến nay, các địa phương đã tổ chức trồng được 110 ha, ước đến hết tháng 10 trồng đạt 100% diện tích đã phê duyệt.
Cả giai đoạn 2006–2015, tổng diện tích trồng rừng thay thế của tỉnh là 397ha. Diện tích trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh Cà Mau là trồng bù lại diện tích rừng bị mất đi do xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi và các công trình công cộng khác. (Báo Cà Mau 12/10) đầu trang(
Trong những năm qua, các đơn vị chủ rừng cùng với lực lượng chức năng huyện Krông Bông đã triển khai nhiều biện pháp để thu hồi diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nên kết quả mang lại chưa cao.
Theo thống kê, trên địa bàn huyện Krông Bông có 17.060 ha rừng, đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm trái phép, trong đó, diện tích bị lấn chiếm trước năm 2008 là 14.299 ha, từ năm 2008 đến nay là 2.831 ha gồm: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông 3.009 ha; các xã Hòa Phong 5.249,5 ha; Yang Reh 2.853,8 ha; Cư Pui 2.582 ha; Yang Mao 1.918 ha; Ea Trul 574,6 ha; Cư Đrăm 78 ha; Hòa Sơn 14 ha; Hòa Lễ 5,8 ha; Khuê Ngọc Điền 3,4 ha; cộng đồng buôn Ngô A, B (xã Hòa Phong) 770,9 ha.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tràn lan trên địa bàn thời gian qua là do dân số tăng nhanh, kéo theo nhu cầu về đất ở, đất sản xuất cũng tăng cao, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hộ còn sống phụ thuộc vào rừng… Đặc biệt, tình trạng dân di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào địa phương phá rừng làm nhà, lấy đất sản xuất còn phổ biến.
Trước tình hình đó, từ năm 2012, huyện đã cho rà soát, thống kê và cưỡng chế thu hồi lại diện tích rừng bị chặt phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi lại rừng theo tinh thần Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16-3-2012 của UBND tỉnh về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng…, nhưng kết quả mang lại vẫn chưa cao khi phần lớn những diện tích rừng, đất lâm nghiệp sau khi giải tỏa, cưỡng chế giao lại cho các chủ rừng đã bị người dân tái lấn chiếm.
Để “mạnh tay” với tình trạng này, UBND huyện Krông Bông đã xây dựng phương án xử lý vi phạm, theo đó, lực lượng chức năng địa phương và các chủ rừng tiến hành rà soát, kiểm tra để xác định đối tượng vi phạm làm căn cứ thiết lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với những vụ việc có dấu hiệu hình sự, Hạt Kiểm lâm huyện tiến hành điều tra ban đầu, sau đó chuyển hồ sơ sang cơ quan công an xử lý còn những trường hợp không xác định được đối tượng thì lập biên bản, thông báo và xử lý theo quy định…
Trước khi tiến hành cưỡng chế, giải tỏa, thu hồi, chủ rừng và lực lượng chức năng thông báo đến các đối tượng đang lấn chiếm đất rừng, đất lâm nghiệp trái pháp luật tự động tháo dỡ lán trại, thu hoạch hoa màu trả lại đất cho chủ rừng; tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức họp dân, ký cam kết với dân nêu rõ thời hạn trả đất cho chủ rừng, ưu tiên cho những hộ chấp hành cam kết được thu hoạch các sản phẩm vụ cuối trên diện tích rừng lần chiếm.
Những trường hợp chây ì, trốn tránh thì kiên quyết cưỡng chế theo Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính. Những diện tích sau khi giải tỏa thu hồi được giao lại cho các chủ rừng và địa phương quản lý; chủ rừng phải xây dựng phương án trồng rừng trên diện tích thu hồi, báo cáo Sở NN-PTNT phê duyệt phương án, giải pháp về cây giống, kỹ thuật, kinh phí trồng rừng; tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên nhằm tránh tình trạng rừng bị tái lấn chiếm…
Ông Nguyễn Thanh Dũng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Krông Bông cho biết, do địa phương có nhiều diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trong thời gian dài nên việc thu hồi số diện tích này gặp rất nhiều khó khăn vì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người dân. Trước mắt, đơn vị sẽ tiến hành giải tỏa một số ít diện tích để làm điểm rút kinh nghiệm, sau đó mới triển khai đồng loạt.
Đi đôi với việc cưỡng chế, giải tỏa thu hồi nêu trên, UBND huyện giao cho các phòng, ban liên quan chuẩn bị quỹ đất, khu vực tạm thời di dời các hộ dân chưa có nhà ở, đất ở, đất sản xuất để huyện đề xuất với UBND tỉnh lập quy hoạch, ự án bố trí ổn định dân cư phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; rà soát các đối tượng là người dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, buôn đặc biệt khó khăn đưa vào Đề án thực hiện Quyết định 755/QĐ ngày 20-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt để kiến nghị với UBND tỉnh giải quyết. (Tin Tây Nguyên 12/10) đầu trang(
Bên cạnh tập trung chỉ đạo khẩn trương lắp đặt máy móc, thiết bị, sớm hoàn thành đưa Nhà máy chế biến gỗ MDF và ván ghép thanh công nghệ hiện đại hàng đầu châu Âu vào hoạt động, một nhiệm vụ quan trọng mà Công ty Lâm nghiệp Tháng Năm đang triển khai là chuẩn bị nguyên liệu đầu vào.
Đồng chí Hoàng Viết Đường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đánh giá cao tầm quan trọng của dự án và coi Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An của Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm tại Nghĩa Đàn là điểm nhấn của bức tranh công nghiệp vùng Tây Bắc, là lối ra cho nghề trồng rừng trên địa bàn tỉnh, có ý nghĩa “đòn bẩy” trong chiến lược phát triển rừng và kinh tế - xã hội các huyện miền Tây Nghệ An.
Ngoài giải quyết việc làm ổn định cho hơn 400 lao động trực tiếp tại nhà máy cùng hàng vạn lao động khác cho người dân xung quanh nhà máy và vùng nguyên liệu, dự án sẽ góp phần đưa nghề rừng Nghệ An có bước phát triển mới theo hướng bền vững. Vấn đề mà lãnh đạo công ty hết sức quan tâm là đi đôi với khẩn trương lắp đặt dây chuyền, đơn vị đã triển khai các hoạt động chuẩn bị nguồn nguyên liệu đầu vào, bởi chỉ có đảm bảo được nguồn nguyên liệu bền vững thì nhà máy mới hoạt động hiệu quả, tồn tại và phát triển.
Đơn vị đã phối hợp tổ chức điều tra, rà soát diện tích rừng trồng và quỹ đất chuẩn bị các phương án sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu. Đặc biệt ngày 26/7/2015, công ty đã tổ chức hội thảo phát triển vùng nguyên liệu với sự có mặt đầy đủ các thành phần: UBND tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan; đại diện lãnh đạo UBND các huyện và các doanh nghiệp lâm nghiệp, đơn vị trên địa bàn có diện tích rừng trồng để trình bày chủ trương, cơ chế chính sách của nhà máy trong tổ chức vùng nguyên liệu và ký kết các hợp đồng cung cấp nguyên liệu gỗ.
Theo lãnh đạo công ty, hiện trên địa bàn tỉnh có rất nhiều tổ chức, cá nhân trồng rừng. Qua số liệu tổng hợp trên địa bàn tỉnh có trên 100.000 ha rừng nguyên liệu, trong đó có tới hàng chục ngàn ha đã đến kỳ khai thác, chưa có đầu ra ổn định. Vì thế, trước mắt trong khi chưa xây dựng được vùng nguyên liệu riêng, công ty sẽ tập trung thu mua sản phẩm nguyên liệu rừng trồng cho các tổ chức, cá nhân.
Nhằm tạo thuận lợi cho người trồng rừng bán sản phẩm nguyên liệu gỗ cho nhà máy, công ty thực hiện biện pháp thu mua linh hoạt như: Mua gỗ tại rừng, mua tại nhà máy, ở bìa rừng hoặc trên xe. Để làm tốt điều này, công ty phát huy nguồn lực tại chỗ, nhất là các đơn vị, cá nhân chuyên mua, bán gỗ và đội ngũ lao động làm thuê, lực lượng vận chuyển để hình thành mạng lưới thu mua tận gốc, giúp các hộ không có điều kiện nguồn nhân lực khai thác, vận chuyển về bán tại cổng nhà máy.
Tại các khu vực trọng điểm công ty sẽ đặt các trạm thu mua, thanh toán trực tiếp, kịp thời. Tuy nhiên, công ty cũng đã xác định: “Thời kỳ đầu, hình thức thu mua gỗ tại cổng nhà máy” vẫn là chính. Và để bảo đảm quyền lợi cho cả 2 phía, công ty niêm yết công khai giá và tiêu chuẩn từng chủng loại gỗ cần thu mua tại cổng nhà máy và các địa phương theo từng thời điểm, thực hiện thu mua sát giá thị trường; tổ chức bộ phận kiểm tra chất lượng gỗ, cân đo, thanh toán nhanh gọn, chính xác; hình thành bộ phận thị trường, kế hoạch nghiệp vụ sớm khảo sát nghiên cứu đưa ra các giải pháp điều chỉnh chính sách thu mua hợp lý, làm tốt việc ký thoả ước với các đại lý cung cấp gỗ rừng trồng cho Công ty theo kế hoạch cả năm, từng tháng, từng tuần, khắc phục các vướng mắc nảy sinh và các sự cố: bão lụt, ách tắc giao thông, bất khả kháng của đại lý… đảm bảo nguồn gỗ cung cấp cho nhà máy kịp thời, ổn định, không bị gián đoạn.
Đi đôi với thực hiện tốt chính sách thu mua, công ty đặc biệt quan tâm đến công tác trồng rừng. Do quy hoạch vùng nguyên liệu đất thuê 9.496 ha lại nằm ở 7 huyện và các xã, công ty không thể tự tổ chức sản xuất, quản lý và bảo vệ được nên sử dụng hình thức liên kết với Công ty CP Đầu tư - phát triển nguyên liệu Đông Bắc xây dựng vùng nguyên liệu trên địa bàn các huyện: Đô Lương, Tân Kỳ, Yên Thành, Tổng đội 6, Hoàng Mai với diện tích khoảng 4.200 ha và liên kết với Công ty CP Đầu tư - phát triển nguyên liệu Phủ Quỳ trên địa bàn các huyện: Quỳ Châu, Quỳ Hợp, TX. Thái Hoà, Nghĩa Đàn với diện tích khoảng 5.200 ha để trồng, quản lý, bảo vệ diện tích rừng thuộc đất thuê.
Để việc liên kết phát triển vùng nguyên liệu có hiệu quả, khi có quỹ đất công ty triển khai xây dựng trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phát triển các giống cây rừng.
Bên cạnh đó, công ty cũng tăng cường phối hợp với các địa phương đơn vị, chủ rừng trên địa bàn xác lập kế hoạch trồng hàng năm, triển khai hợp đồng nguyên tắc về nhận đầu tư ứng trước của công ty với các hộ, đơn vị trồng rừng. Đồng thời cam kết thu mua gỗ rừng trồng theo cơ chế thị trường và giá tại thời điểm khai thác; cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ trồng rừng theo quy trình; cung ứng giống và vật tư, phân bón để người dân trồng rừng (nếu nhận đầu tư ứng trước); tạo cơ hội nâng cao năng suất, hiệu quả rừng trồng của chủ rừng.
Ngoài ra, đối với những vùng rừng tập trung, công ty đầu tư máy làm đường lâm nghiệp để mở rộng vùng có đường lâm nghiệp. Qua đó giúp người trồng rừng vận chuyển vật tư, cây giống phục vụ trồng rừng và tạo thuận lợi trong việc khai thác, vận chuyển gỗ.
Một tín hiệu vui, đến đầu tháng 8/2015 đã có 5 doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng thỏa thuận với công ty sản xuất, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy. Đặc biệt, thời gian qua, công ty cũng đã phối hợp với ngành Lâm nghiệp tỉnh và các địa phương đẩy mạnh công tác trồng rừng nguyên liệu. Năm 2014, diện tích rừng trồng trong vùng quy hoạch nguyên liệu nhà máy là 13.652,9 ha, đạt 105,2% kế hoạch. 6 tháng đầu năm 2015, mặc dù trong điều kiện thời tiết nắng hạn nhưng trong vùng quy hoạch nguyên liệu nhà máy đã trồng 6.646,0 ha, đạt 53,2% kế hoạch năm .
Có thể nói công tác chuẩn bị nguyên liệu cho nhà máy đang được Công ty tiến hành khẩn trương, là tiền đề quan trọng để sớm giúp nhà máy bảo đảm nguồn nguyên liệu hoạt động ổn định, hiệu quả. Tuy nhiên vấn đề cần tiếp tục quan tâm tạo điều kiện là các cấp chính quyền và ngành liên quan sau khi phê duyệt quy hoạch sớm tạo quỹ đất để công ty chủ động trong xây dựng vùng nguyên liệu lâu dài cho nhà máy. (Báo Nghệ An 12/10) đầu trang(
Cả nước hiện có 67.750ha phải trồng rừng thay thế. Đến cuối tháng 9-2015, cả nước đã trồng thay thế được 15.959ha, đạt 23,6%.
Riêng Khánh Hòa có 358ha phải trồng rừng thay thế, trong đó 275ha chuyển sang làm thủy điện tại huyện Khánh Vĩnh gồm: Thủy điện Sông Giang 2 (Khánh Trung) có 162ha rừng phòng hộ được chuyển đổi mục đích sử dụng; Thủy điện Sông Chò 2 (xã Khánh Hiệp) có 113ha rừng phòng hộ được chuyển đổi mục đích sử dụng và 83ha chuyển sang mục đích khác để xây dựng công trình công cộng.
Đối với việc trồng rừng thay thế, UBND tỉnh đã và đang tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai việc nộp tiền trồng rừng thay thế trong năm 2015 đối với các dự án thủy điện.
Riêng dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng công trình công cộng, hàng năm UBND tỉnh đều cân đối, bố trí vốn ngân sách Nhà nước để các ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp trên địa bàn trồng rừng phòng hộ, với diện tích hơn 200ha/năm. (Báo Khánh Hòa 12/10) đầu trang(
Đối với công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, diện tích cần trồng rừng thay thế là gần 700 ha, trong đó có 553 ha thuộc các dự án chuyển sang mục đích xây dựng công trình công cộng, trên 130 ha thuộc các dự án chuyển sang mục đích khác.
Năm 2015, tỉnh đã trồng được 32 ha/300 ha kế hoạch, đạt 10,7%. Quá trình triển khai trồng rừng thay thế của tỉnh vẫn gặp vướng mắc do chưa có quy định cụ thể về đối tượng đất trồng rừng thay thế và chưa có chế tài xử phạt các tổ chức, cá nhân đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang mục đích khác, nhưng không thực hiện xây dựng phương án trồng rừng thay thế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tỉnh Thái Nguyên 12/10) đầu trang(
Đối với Phú Yên, tổng diện tích phải triển khai trồng rừng thay thế khoảng 910ha, trong đó trồng rừng thay thế đối với các dự án chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thủy điện khoảng 270ha, trồng rừng thay thế các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác gần 640ha.
Theo quyết định phê duyệt của Bộ NN-PTNT, chỉ tiêu trồng rừng thay thế của Phú Yên từ năm 2014 đến 2016 là 404ha. Đến cuối năm 2014, Phú Yên đã triển khai trồng gần 40ha (đạt 26,5% so với kế hoạch năm 2014 phải trồng là 150ha). Dự ước đến cuối năm 2015, Phú Yên sẽ trồng đạt khoảng 250ha. Hiện các chủ đầu tư đã lập hồ sơ thiết kế và chuẩn bị trồng rừng… (Báo Phú Yên 13/10) đầu trang(
Ngày 12/10, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đã chủ trì họp trực tuyến với các địa phương về tình hình trồng rừng thay thế.
Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng hợp kết quả rà soát tình hình các địa phương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế là 67.750 ha; trong đó, các dự án chuyển sang xây dựng công trình thủy điện 17.840 ha và các dự án chuyển sang mục đích khác 49.910 ha. Lũy kế đến ngày 30/9/2015, cả nước đã trồng rừng thay thế 15.959 ha, đạt 23,6%.
Trên cơ sở kết quả rà soát, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã lập kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 với tổng diện tích 22.300 ha; trong đó, các dự án thủy điện 8.800 ha và các dự án khác 13.500 ha. Đến ngày 30/9/2015, 23/50 địa phương có kế hoạch trồng rừng thay thế triển khai trồng rừng thay thế, với diện tích 8.089 ha, đạt 36% kế hoạch năm; ước cả năm trồng được 11.660 ha, đạt 52,3% kế hoạch năm.
Các địa phương đạt kết quả tích cực trong trồng rừng thay thế gồm: Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng, Gia Lai. Các địa phương có dự án thủy điện phải trồng rừng thay thế với diện tích lớn, nhưng chưa trồng gồm: Thừa Thiên Huế, Cao Bằng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phú Yên, Lạng Sơn, Bình Phước, Kon Tum, Quảng Nam. Tại hội nghị, đại diện các bộ, ngành, địa phương cơ bản nhất trí với Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khai thác; đồng thời nêu ra những khó khăn, vướng mắc trong việc trồng rừng thay thế hiện nay như: Việc quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng; chủ đầu tư dự án chưa bố trí vốn và còn trây ì không nộp tiền trồng rừng thay thế; phương thức quản lý và cách thức trồng rừng thay thế...
Hội nghị chỉ ra tình trạng trồng rừng thay thế còn chậm là do công tác chỉ đạo triển khai trồng rừng thay thế ở nhiều tỉnh chưa thực sự quyết liệt, đặc biệt là một số tỉnh có chỉ tiêu kế hoạch lớn. Bên cạnh đó, hầu hết các địa phương chưa chủ động bố trí vốn ngân sách nhà nước để trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng chuyển mục đích sang xây dựng các công trình công cộng.
Nhiều chủ dự án không chủ động trong xây dựng phương án trồng rừng thay thế cũng như thực hiện nộp tiền để trồng rừng thay thế. Mặt khác, một số dự án đã nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng nhưng một số tỉnh còn để vốn tồn đọng, chưa chủ động tham mưu cho UBND tỉnh trong việc quản lý, điều phối tiền thu từ các chủ dự án để triển khai kế hoạch trồng rừng thay thế...
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh, trồng rừng thay thế là việc thực hiện Nghị quyết số 62/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện; nhưng lớn hơn là tạo thành nếp cho các chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện những quy phạm pháp luật của nhà nước trong việc phải trồng bù lại rừng. Đây là điều kiện hết sức quan trọng bảo đảm phát triển rừng bền vững.
Đánh giá cao nỗ lực của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan, chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện trồng rừng rừng thay thế, Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Sau 2 năm triển khai, công tác trồng rừng thay thế đã có những khởi sắc. Tuy nhiên, thời gian tới cần nỗ lực hơn nữa và giải quyết những khó khăn vướng mắc về việc trồng rừng thay thế hiện này.
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khi phê duyệt dự án mới phải tính đến vấn đề trồng rừng thay thế theo Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường quản lý và yêu cầu các chủ đầu tư khi làm dự án phải tính phương án trồng bù lại rừng.
Nhấn mạnh năm 2015 phải hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế cho các công trình thủy điện, Phó Thủ tướng yêu cầu: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trường rà soát số liệu ở các địa phương và sớm có báo cáo trong tháng 10; phối hợp với các bộ, ngành liên quan có hướng dẫn cụ thể đối với những nội dung liên quan đến trồng rừng thay thế như: Vấn đề đơn giá trồng rừng; mô hình trồng bù rừng nhưng ở ngoài rừng phòng hộ, rừng đặc dụng…
Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo dõi việc trồng rừng thay thế của các công trình thủy điện; nếu chủ đầu tư nào không thực hiện trồng bù lại rừng, kiên quyết thu hồi giấy phép và dừng hoạt động dự án.
Các địa phương có dự án thủy điện mà trước đây chưa có phương án trồng rừng thay thế cần yêu cầu chủ đầu tư phải nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng theo lộ trình cụ thể hàng năm.
Phó Thủ tướng yêu cầu bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác trồng rừng thay thế, nhất là biểu dương những mô hình quản lý và trồng bù lại rừng tốt để chủ đầu tư khác học tập, làm theo. (Tin Tức 12/10; Pháp Luật TP.HCM 13/10) đầu trang(
Các công ty nông, lâm trường quốc doanh hiện được giao quản lý diện tích lớn đất đai, nhưng hiệu quả thu được từ những diện tích này rất thấp.
Qua giám sát, một trong những thực trạng được chỉ ra là Nhà nước, địa phương đều chưa quản lý được và kết quả là một nguồn tài nguyên lớn đất đai đang bị lãng phí, thậm chí hoang hóa, gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Trong khi đó, không ít hộ dân sống phụ thuộc vào đất rừng, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số lại đang thiếu đất sản xuất.
Đây là nghịch lý mà nhiều đại biểu đã chỉ ra tại Hội thảo Nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức.
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, về cơ bản, các công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã lập được quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và ngành. Xác định được diện tích cần thiết để giữ lại và chuyển sang thuê, diện tích bàn giao về địa phương.
Tuy nhiên, có một thực tế là việc thu hồi đất của các nông, lâm trường giao lại cho địa phương quản lý còn chậm, dẫn đến tình trạng đất “vô chủ”, không có người quản lý kéo dài, tạo kẽ hở cho việc lấn chiếm đất trái phép. Thậm chí nhiều nông, lâm trường quốc doanh vẫn còn quỹ đất có thể khai thác lại bỏ phí, sử dụng kém hiệu quả; khi tiến hành trồng rừng, thu hút đầu tư lại ở nguồn lực bên ngoài vào. Sự lãng phí đó càng nhức nhối khi thực tế nhiều địa phương vẫn đang thiếu quỹ đất để giao cho nông dân sản xuất, nhất là đồng bào dân tộc ít người để xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế.
Báo cáo của Ủy ban Dân tộc cho thấy, hiện có hơn 30.000 hộ dân đang thiếu đất sản xuất, không có đất sản xuất. Giám sát tại các địa phương, ĐBQH Phương Thị Thanh (Bắc Kạn) cho biết, rất nhiều nơi bà con không đủ đất sản xuất hoặc có đất thì rất xấu không sản xuất được. Nhiều nơi như Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Tuyên Quang… dù chính quyền địa phương rất kiên quyết thu hồi đất nông, lâm trường giao cho dân, tuy nhiên, diện tích đất được thu hồi không nhiều.
Một số nơi bàn giao đất tốt nhưng địa phương còn lúng túng do không xác định được trữ lượng rừng để bàn giao và cách tính giá trị tài sản trên đất. Là một trong những địa phương có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, ĐBQH Tôn Thị Ngọc Hạnh (Đắk Nông) nêu thực tế, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn do thiếu đất, cùng với tập quán sinh sống di cư nên việc lấn chiếm, chặt phá trên diện tích đất nông, lâm trường diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Nguyên nhân chính của hạn chế, tồn tại nêu trên được các đại biểu chỉ ra là do hạn chế trong công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của các nông, lâm trường. Nhiều diện tích đất bàn giao cho địa phương chủ yếu lại là đất các công trình hạ tầng công cộng hoặc đất xa, xấu, khó canh tác, đất đang có tranh chấp hoặc vi phạm khó giải quyết.
Việc bàn giao đất cho địa phương, thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các nông, lâm trường trong nhiều trường hợp vẫn dựa trên tài liệu bản đồ kém chính xác, thiếu độ tin cậy, thiếu rà soát, đối chiếu trên thực địa. Các doanh nghiệp từ rà soát xây dựng đề án trình lên Chính phủ hoặc đơn vị chủ quản, thiếu sự giám sát của chính quyền địa phương và đơn vị liên quan.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng, việc xây dựng phương án tổ chức sản xuất sau chuyển đổi do các công ty nông, lâm nghiệp tự xây dựng nên không tránh khỏi tình trạng “tự soi gương sửa mình”, dẫn đến thiếu tiêu chí để thẩm định, cho phép.
Chuẩn bị cho hoạt động giám sát tối cao của QH tại Kỳ họp thứ 10 tới, Đoàn giám sát của UBTVQH Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014 đã làm việc với nhiều bộ, ngành, địa phương trên cả nước, trực tiếp khảo sát thực tế tại một số nông, lâm trường, công ty nông, lâm nghiệp…
Số liệu của Đoàn giám sát cho thấy, tính ra trong 10 năm (2004 - 2014), hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích mà các nông, lâm trường mang lại chưa tương xứng với diện tích đất đai rộng lớn được giao quản lý, sử dụng. Một trong những thực trạng phổ biến là các nông, lâm trường quốc doanh làm ăn chưa có hiệu quả, còn để lãng phí đất đai, làm thất thu cho ngân sách nhà nước…
Đây là tình trạng phải được chấn chỉnh ngay, không thể để kéo dài thêm nữa. Ví quản lý đất đai nông, lâm trường như việc quản lý một gia đình, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, muốn quản lý được trước hết phải biết đất đai của mình đến đâu. Nếu chưa xác định được thì rõ ràng không thể quản lý tốt.
Tiếp nối chuỗi hoạt động giám sát tại các bộ, ngành, địa phương, công ty nông, lâm nghiệp… Hội đồng Dân tộc, cơ quan được giao chủ trì tiến hành đợt giám sát chuyên đề này, đã tổ chức Hội thảo để các chuyên gia, ĐBQH trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh, cung cấp thêm thông tin cho các ĐBQH trước khi diễn ra hoạt động giám sát tối cao tại Kỳ họp thứ 10 tới.
Một trong những thông tin được chia sẻ tại Hội thảo là QH cần cân nhắc thấu đáo và quyết một chính sách, giải pháp đặc biệt, tạo bước đột phá trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh. Đất đai và tài nguyên rừng phải được giao cho những chủ thể cụ thể quản lý, sử dụng có hiệu quả, gắn quyền lợi với trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai, bảo vệ, phát triển rừng.
Đối với các địa phương, cần lập được phương án quản lý, sử dụng đất đối với diện tích đất do các nông, lâm trường bàn giao cho địa phương quản lý. Có giải pháp giải quyết và xử lý dứt điểm các tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai tại các nông, lâm trường trên địa bàn. Đánh giá đúng nhu cầu thực tế để giao đất và sử dụng đất rừng hiệu quả, bền vững.
Riêng đối với các công ty nông, lâm nghiệp chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh phải khẩn trương rà soát, điều chỉnh phương án sử dụng đất phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh sau khi được sắp xếp lại, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất của địa phương.
Đồng thời phải xác định rõ diện tích các loại đất quản lý, sử dụng cho từng mục đích. Trong tổng thể các giải pháp ấy, cần quan tâm đến việc lấy một phần diện tích đất đai giao cho các công ty nông, lâm nghiệp nhưng đang không được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả để giao lại cho dân, đặc biệt là những hộ dân đang thiếu đất sản xuất. Nếu được chấp thuận, đây sẽ là giải pháp góp phần xử lý những bất cập liên quan đến hiệu quả sử dụng đất đai nông, lâm trường, tạo điều kiện cho người dân phát triển sinh kế, thoát nghèo bền vững.
Theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phùng Đức Tiến, hiện các công ty nông, lâm nghiệp đang hoạt động dưới 3 hình thức: tự tổ chức sản xuất, khoán sử dụng đất và liên doanh, liên kết. Tuy nhiên, vẫn chưa có một tổng kết, đánh giá nào về hiệu quả hoạt động của các mô hình này. Vẫn còn tình trạng “khoán trắng”, bỏ hoang hóa đất. Trách nhiệm về tài chính đất đai của nông, lâm trường quốc doanh không còn được thực hiện, nợ đọng tài chính kéo dài.
ĐBQH Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị) đề nghị, trước hết phải đánh giá được công tác quy hoạch đối với hơn 2 triệu hécta đất và rừng của các công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp lại. Trong đó, bao nhiêu diện tích là rừng đặc dụng, bao nhiêu là rừng sản xuất và bao nhiêu là đất trống. Tại sao sau 8 năm chuyển đổi vẫn còn đất trống? Thứ hai, cần cân đối lại quy hoạch diện tích giữa rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
Vì trước đây khi thực hiện quy hoạch trên bản đồ đã không tiến hành lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp và các nhà khoa học có liên quan. Thực tế, hiện nay rừng đặc dụng và rừng phòng hộ chiếm gần 50%, trong khi đó rừng sản xuất chỉ chiếm trên 50%, nhưng nhu cầu về rừng sản xuất lại nhiều. (Đại Biểu Nhân Dân 11/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 11/10, đội ngũ ứng phó phối hợp của Indonesia, Singapore và Malaysia đã bắt đầu chiến dịch thả bom nước nhằm dập tắt đám cháy rừng ở phía Nam quần đảo Sumatra - nguyên nhân gây nên tình trạng khói độc hại ở nhiều quốc gia trong khu vực suốt nhiều tuần qua.
Trong một tuyên bố đưa ra hôm Chủ nhật, Cơ quan Kiểm soát Thảm họa Quốc gia Indonesia (BNPB) cho hay có tổng cộng 7 máy bay trực thăng và 4 phi cơ khác tham gia vào chiến dịch này. Chiến dịch tập trung vào công tác chữa cháy tại hai khu vực là Ogan Komering Ilir và Musi Banyuasin thuộc quần đảo Sumatra.
Được biết, Singapore đã đưa một trực thăng lớp Chinoook và 34 nhân sự thuộc lực lượng không quân nước này đến để hỗ trợ dập tắt đám cháy rừng. Ngoài ra, họ cũng cử một đội ngũ chuyên gia cứu hộ và đối phó thảm họa cùng 5.000 lít khí Heli để hỗ trợ phía Indonesia. 2 chiếc phi cơ RSAF C-130 cũng được triển khai để di chuyển các nhân sự nói trên đến địa điểm phòng cháy.
Trong khi đó, Malaysia đã triển khai một đội ngũ 25 người cùng nhiều trang thiết bị, trong đó gồm một máy bay thả bom nước có khả năng nạp đến 6.000 lít nước chỉ trong vòng 12 giây, đủ để dập tắt các đám cháy có diện tích ngang một sân bóng đá mỗi lần chuyển nước.
Ngoài ra, BNPB cũng cho hay một đội ngũ chuyên gia cứu hỏa khác của Australia dự kiến sẽ tới Palembang. Chính quyền Canbera cho hay họ cũng sắp triển khai phi cơ Hercules L 100, với khả năng mang 15 tấn nước đến trong tuần này để hỗ trợ chính quyền Indonesia dập tắt đám cháy rừng.
Phía Australia cho hay phi cơ của họ chỉ có thể hỗ trợ được trong vòng 5 ngày bởi họ cũng cần huy động một lực lượng lớn ở nước họ để dập tắt đám cháy rừng ở New South Wales. Ngoài ra, Indonesia vẫn đang chờ tiếp nhận thêm sự hỗ trợ từ các quốc gia khác.
Cháy rừng ở Indonesia là hiện tượng diễn ra hàng năm, nhưng đám cháy năm nay được cho là nghiêm trọng nhất do gây nên tình trạng khói độc hại bắt nguồn từ các bãi than bùn. Tình trạng khói đã ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn ở Đông Nam Á trong nhiều tuần qua, khiến nhiều nước cảnh báo về ảnh hưởng tới sức khỏe. Nhiều trường học bị đóng cửa, nhiều chuyến bay hủy chuyến cũng do tình trạng này. (Đại Đoàn Kết 12/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||