Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nhiều xưởng gỗ lậu tồn tại trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên từ năm này sang năm khác một cách bình yên cho đến khi Bộ Công an vào cuộc
Từ ngày 30-9, Tổng cục An ninh - Bộ Công an, Công an tỉnh Gia Lai và đoàn công tác của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NN-PTNT) đã tiến hành kiểm tra một số xưởng gỗ trên địa bàn các huyện Đức Cơ, Chư Prông (tỉnh Gia Lai), trong đó có xưởng gỗ của Công ty TNHH  MTV Bảo Hoàng.
Theo cơ quan chức năng, qua kiểm tra bước đầu 2 xưởng gỗ của Công ty Bảo Hoàng đã phát hiện sai phạm. Trong đó, tại xưởng gỗ đặt tại làng Nú, xã Ia Nan, huyện Đức Cơ, có khoảng 50 m3 gỗ không có nguồn gốc.
Theo một lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Gia Lai, việc kiểm tra lần này do các lực lượng chức năng ở trung ương làm. “Đến bây giờ họ vẫn đang làm nên cũng chưa cung cấp gì” - vị này nói. Về việc vì sao các xưởng gỗ này đã tồn tại từ lâu và thực tế có sai phạm nhưng vẫn không được phát hiện, lãnh đạo này cho biết việc kiểm tra các xưởng gỗ của Công ty Bảo Hoàng do Hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ đảm nhiệm. Tuy nhiên, khi liên hệ làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ, phóng viên Báo Người Lao Động được thông báo “lãnh đạo hạt đi công tác”.
Một lãnh đạo UBND huyện Đức Cơ thừa nhận tình hình quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực biên giới diễn biến phức tạp. Lợi dụng việc cho phép nhập khẩu gỗ qua các lối mở, một số đối tượng đã khai thác, tàng trữ, vận chuyển gỗ trái phép. Theo lãnh đạo này, đối với Công ty Bảo Hoàng, trước đây huyện đã thành lập đoàn kiểm tra nhưng công ty không hợp tác. Sau đó, khi vào kiểm tra được thì không có máy móc để cẩu gỗ ra thực hiện đo đếm.
“Có một lần được vào kiểm tra. Kho mở cửa thì chỉ có ít gỗ, giấy tờ đầy đủ còn các kho khác thì không mở cửa nên không biết lối mà làm. Nhiều khi mình cũng làm dạng dè chừng bởi khi đang làm là cứ có người “a lô! a lô!”, mệt lắm” - vị này phân trần.
Ông Đinh Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Ia Nan, cho biết xưởng gỗ của Công ty Bảo Hoàng tại địa bàn được thành lập khoảng 5 năm nay, gần đây ngừng hoạt động.
Trước đó, tháng 9-2014, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị của Bộ Công an và lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk bất ngờ phong tỏa 2 xưởng gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái ở số 93 đường Y Wang và hẻm 267 Mai Hắc Đế (thuộc phường Ea Tam và phường Tân Thành, TP Buôn Ma Thuột). Sau khoảng 1 tuần, lực lượng chức năng mới kiểm đếm, phân loại hết số gỗ trong 2 xưởng này.
Xưởng gỗ số 93 đường Y Wang nằm ngay giữa khu dân cư, rộng hàng ngàn mét vuông, hình thành từ hàng chục năm trước nhưng người ngoài không ai biết được hoạt động bên trong bởi xung quanh là tường rào cao hơn 3 m, phía trên giăng dây thép gai chằng chịt. Còn xưởng gỗ nằm trong hẻm 267 Mai Hắc Đế rộng thênh thang nằm giữa vườn cà phê, vườn điều và cũng được bao bọc bằng hàng rào thép gai.
Theo phản ánh của người dân, từ khoảng 1 giờ đến 4 giờ hằng ngày, hàng chục chiếc xe tải cỡ lớn nối đuôi nhau chở gỗ vào xưởng nhưng chẳng bao giờ thấy bóng dáng của lực lượng chức năng.
Nói về 2 xưởng gỗ lậu này, ông Trang Quang Thành, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, cho biết lực lượng kiểm lâm chỉ được xử lý khi bắt quả tang gỗ lậu đang chở trên đường, còn việc kiểm tra trong xưởng thì không được phép, muốn kiểm tra phải có sự phối hợp nên gặp nhiều khó khăn. “Trước khi Bộ Công an truy quét, sở đã nhiều lần chỉ đạo lực lượng kiểm lâm mật phục nhưng đều bất thành” - ông Thành nói.
Sau hơn 1 năm xảy ra vụ việc, ông Thành cho biết hiện vẫn chưa thể làm rõ trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng 2 xưởng gỗ lậu lớn nằm trong phố. Theo ông, ngay sau khi Bộ Công an phát hiện gỗ lậu, sở cũng tính làm rõ trách nhiệm của những cá nhân có liên quan nhưng sợ chồng chéo nên đang chờ kết quả của bộ rồi mới xử lý.
“Vào thời điểm đó, trong 2 xưởng của Công ty TNHH Hiền Thái có khoảng 2.000 m3 gỗ nhưng không biết có bao nhiêu gỗ lậu. Trong vụ việc này, một kiểm lâm phụ trách địa bàn tên là Thành đã bị bắt. Đến giờ, chúng tôi vẫn chưa nhận được thông báo chính thức từ Bộ Công an nên chưa kết luận được gì” - ông Thành nói. (Người Lao Động 10/10) đầu trang(
Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế từ rừng sản xuất mang lại cuộc sống ổn định cho các hộ dân sống gần rừng. Cũng vì muốn có thêm diện tích đất trồng rừng, nhiều hộ dân ở huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã bất chấp pháp luật để lấn chiếm, tranh chấp đất rừng của các hộ khác và đất lâm nghiệp của xã quản lý.
Theo đơn thư của một số hộ dân ở xã Thanh Hóa phản ánh về việc họ bị các đối tượng ở địa phương lấn chiếm đất rừng, nhằm chiếm đoạt đất rừng với diện tích lớn.
Anh Tô Đức Tiệp (trú tại thôn 1, Bắc Sơn, xã Thanh Hóa, huyện Tuên Hóa) cho biết gia đình tôi và một số hộ dân khác từ trước tới nay nhận chăm sóc, bảo vệ rừng ở khu vực Khe Trơng. Đến tháng 2 năm 2014, chính quyền địa phương đã cấp giấy “Chứng nhận QSD đất và Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” cho gia đình anh quản lý, sử dụng  “đất có rừng tự nhiên sản xuất” với diện tích 18181,5m2. Lô đất rừng của gia đình anh Tiệp được giao thuộc khu vực Khe Trơng, thửa đất 106, tờ bản đồ số 31 thuộc xã Thanh Hóa, huyện Tuên Hóa. Thời hạn sử dụng đất 50 năm.
Thế nhưng, gia đình anh Tiệp vừa mới giao đất để chăm sóc, bảo vệ mới được hơn 1 năm thì đến đầu tháng 8/2015 có ông Phạm Văn Bảy trú tại thôn 3, Bắc Sơn xã Thanh Hóa đã thuê người vào chặt phá, phát dọn để trồng rừng sản xuất. Anh Tiệp đã phát hiện và báo vụ việc lên xã, nhưng ông Bảy không dừng lại, mà thuê thêm rất nhiều người nữa vào xẻ phát thêm 2 ngày nữa đến khi xã có yêu cầu dừng lại.
Trong 3 ngày thuê người vào phá rừng, ông Bảy xâm phạm rừng được cấp QSD cuả các chủ hộ Tô Đức Tiệp, Võ Hồng Xinh, Trần Hương Chanh, Đinh Minh Sáu, Phạm Văn Thích ở khu vực Khe Trơng. Diện tích rừng bị ông Bảy thuê người sẻ phát 17 000 m2.
Anh Võ Hồng Xinh trú tại xóm 1, Bắc Sơn cho biết “ông Bảy sẻ phát mất 8000m2 rừng của gia đình. Chúng tôi được cấp bìa đỏ đất rừng rồi. Chúng tôi chăm sóc, bảo vệ rừng để sử dụng lâu dài, thế nhưng họ vào phá hoại, lấn chiếm để trồng rừng sản xuất. Chúng tôi làm đơn lên xã, nhưng xã chưa giải quyết xong”.
Trên địa bàn xã Thanh Hóa ngoài việc ông Bảy lấn chiếm rừng của 5 hộ dân ở Khe Trơng còn có nhiều người chiếm sẻ phát rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp đã được cấp GCN QSD đất cho từng hộ gia đình. Việc sẻ phát, lấn chiếm này chủ yếu xảy ra ở khu vực khảnh 4, tiểu khu 20, vùng Cà Xen, xã Thanh Hóa với diện tích 9,3ha.
Nhiều hộ dân chăm sóc, bảo vệ sử dụng loại rừng IIIA thuộc các khoảnh 1 và 5 tại tiểu khu 14 khe Pheo và các khu vực Bầu Năm, Khe Trơng cũng bị các đối tượng vào xâm chiếm, lấn đất xẻ  phát rừng.
Người dân cũng ồ ạt vào lấn chiếm, xẻ phát rừng, đất lâm nghiệp do xã quản lý tại các tiểu khu 14, 20, 21 với diện tích lên tới 21,32 ha.
Một số hộ dân bất chấp pháp luật, chạy theo cái lợi trước mắt để lấn chiếm đất rừng, sẻ phát tràn lan lấn, chiếm rừng và đất lâm nghiệp của các hộ khác và của xã quản lý xã đã gây nên bức xúc trong đời sống nhân dân. Trước tình hình đó chính quyền xã Thanh Hóa đã thụ lý đơn thư các hộ dân và đã tiến hành kiểm tra thực địa, tổ chức xử lý, hòa giải.
Ngày 14/9/2015, UBND xã Thanh Hóa đã có Báo cáo số 31 về “Tình hình quản lý, bảo vệ rừng và việc tranh chấp đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” gửi về UBND huyện Tuyên Hóa và các phòng ban liên quan. Trong Báo cáo 31 có ghi rõ nhiều diện tích đất rừng bị người dân sẻ phát, lấn chiếm thuộc rừng IIA và IIIA (rừng phục hồi và rừng trung bình).
Ông Nguyễn Hữu Tâm, chủ tịch xã Thanh Hóa cho biết “việc xảy ra tranh chấp, lấn chiếm rừng ở trên địa bàn xã có 3 loại vi phạm: Tranh chấp, lấn chiếm giữa rừng có chủ nhưng chưa được chuyển đổi. Giữa rừng có chủ (có giấy CNQSD đất) nhưng bị chủ khác xâm lấn, sẻ phát. Và vi phạm sẻ phát, lấn chiếm đất lâm nghiệp của xã quản lý”.
Trong năm 2015, có rất nhiều đơn thư của người dân trong xã về việc xả ra tranh chấp, lấn chiếm liên quan đến đất rừng. Xã đã tổ chức xử lý được 18 trường hợp. Còn một số trường hợp xã hòa giải nhưng chưa được. Phía UBND xã cũng hướng dẫn một số hộ làm đơn gửi tòa án để được giải quyết. Còn ở xã chủ yếu là tuyên truyền người dân về pháp luật, phối hợp với kiểm lâm để quản lý rừng cho tốt. Khi xảy ra việc thì kiểm tra và tổ chức hòa giải.
“Trường hợp ông Bảy lấn chiếm rừng của 5 hộ khu vực Khe Trơng là do năm 2010 ông này đã vi phạm 1 lần, lén vào trồng một ít cây keo trong rừng chăm sóc, bảo vệ của các hộ dân. Năm 2012, xã đã phối hợp tổ chức cưỡng chế, nhưng ông Bảy không đứng ra nhận trách nhiệm. Tháng 8/2015, ông này thuê người vào sẻ phát rừng của 5 hộ, vì cho rằng keo của mình trồng trước đây nên giờ sẻ, phát để trồng tiếp. Việc này cũng một phần lần trước cưỡng chế không xử lý sạch các cây keo vô chủ, nên ông Bảy lấy cớ là cây mình trồng để vào chiếm đất. Hộ ông Bảy đã được giao đất và rừng với diện tích gần 3ha rồi, nhưng ông vẫn đi lấn chiếm của các hộ khác”.- Ông Tâm cho biết.
Anh Đinh Minh Sáu ở thôn 1, Bắc Sơn một hộ bị họ lấn chiếm đất rừng cho rằng “chúng tôi được cấp bìa đất hợp pháp thì không giám xin chuyển đổi rừng sang rừng trồng sản xuất, chỉ lo chăm sóc, bảo vệ. Giờ họ vào phá hoại, lấn chiếm làm thiệt hại kinh tế gia đình, và công sức chăm sóc rừng. Mong các cấp chính quyền xử lý sớm, dứt điểm để chúng tôi tiếp tục trồng rừng, chăm sóc. Vì mùa nà là mùa trồng cây rừng, chứ hàng ngày theo việc rừng rú cũng bất an lắm. Sau này có xử lý xong, chúng tôi lấy lại được đất lâm nghiệp thì cũng lo việc bị trả thù, kẻ xấu vào đốt, phá hoại rừng. Giờ nhờ vào chính quyền cả thôi”. (Tầm Nhìn 12/10) đầu trang(
Không chỉ lén lút bán tại các điểm du lịch, ngay tại các nhà hàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều loại động vật hoang dã cũng được phục vụ thượng khách nếu có nhu cầu. Hiện nay, bên cạnh việc kinh doanh, giết mổ, Hà Nội còn là nơi trung chuyển động vật hoang dã đi nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
Theo số liệu thống kê của Phòng CS phòng chống tội phạm về môi trường (CSPCTP về MT), CATP Hà Nội, trong năm 2014 đơn vị đã phát hiện, bắt giữ 57 vụ, 61 đối tượng liên quan. Trong đó, chuyển cơ quan điều tra, khởi tố 13 vụ và 15 bị can, chuyển cơ quan khác 11 vụ và 19 đối tượng.
Từ đầu năm 2015 đến nay, đơn vị cũng đã phát hiện 29 vụ, 34 đối tượng liên quan. Trong đó, chuyển cơ quan điều tra khởi tố 10 vụ với 10 bị can, xử phạt hành chính 6 vụ với 11 đối tượng liên quan, thu nộp ngân sách hơn 102 triệu đồng và hiện đang điều tra 13 vụ.
Điều đáng nói, trong các vụ được cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ, số lượng động vật hoang dã thuộc loại nguy cấp, quý hiếm cần được bảo tồn ngày càng gia tăng. Điển hình, ngày 13-7-2015, Đội 3, Phòng CSPCTP về MT phối hợp với CAQ Bắc Từ Liêm bắt quả tang đối tượng Lê Đức Minh (SN 1993) ở xóm 7, xã Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm đang có hành vi vận chuyển 3 cá thể culi (thuộc loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm) trên xe ô tô BKS: 21B1 - 391.50. Ngày 22-7, cơ quan CSĐT, CAQ Bắc Từ Liêm đã khởi tố bị can về tội Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm. Tương tự, ngày 24-7-2015, Phòng CSPCTP về MT phối hợp với CAP La Khê, quận Hà Đông kiểm tra hành chính nơi trọ của Đinh Công Thành (SN 1987) ở tổ 4, phường La Khê phát hiện một thùng xốp bên trong nuôi nhốt 44 cá thể rùa (11 loài), trong đó có 8 cá thể rùa hộp trán vàng miền Bắc (thuộc danh mục động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ). Sau khi giám định và hoàn thiện hồ sơ, cơ quan chức năng đã bàn giao đối tượng  và tang vật đến Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV, CAQ Hà Đông giải quyết theo thẩm quyền.
Đại tá Doãn Hữu Châu - Trưởng phòng Cảnh sát PCTP về môi trường, CATP Hà Nội cho biết, nhằm chung tay bảo vệ môi trường, xử lý mạnh tình trạng vận chuyển, mua bán, giết mổ động vật hoang dã trái pháp luật, các cơ quan chức năng cần có sự phối hợp đồng bộ, vào cuộc quyết liệt. Mới đây, Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường đã có văn bản gửi Chi cục Kiểm lâm TP Hà Nội kiến nghị tăng cường quản lý, kiểm tra xử lý vi phạm liên quan đến động vật hoang dã trên địa bàn Hà Nội.
Thượng tá Phùng Quang Hiển - Phó Trưởng Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường, CATP Hà Nội cho biết, thời gian gần đây, qua công tác điều tra, nắm tình hình trên địa bàn Hà Nội có khoảng 392 cơ sơ giết mổ, nuôi nhốt động vật hoang dã các loại.
Trong đó riêng nuôi nhốt gấu là 218 cơ sở (có giấy phép) với 303 cá thể thuộc 18 quận, huyện như: Mê Linh, Phúc Thọ, Thanh Trì, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Ba Vì, Sơn Tây...  Đối với động vật quý hiếm khác như: khỉ đuôi dài, khỉ mặt đỏ, gà lôi, kỳ đà, tê tê, rắn hổ mang... với gần 32.000 cá thể được nuôi nhốt trên 19 địa bàn quận, huyện và thị xã.
“Trên thực tế, thời gian gần đây các cá nhân, cơ sở kinh doanh giết mổ, mua bán và vận chuyển động vật hoang dã có giảm nhưng chưa đáng kể. Đáng nói hơn, các cơ sở này chuyển vào hoạt động lén lút khiến cho cơ quan chức năng khó quản lý, xử lý hơn. Bên cạnh đó, một số quy định của luật chưa đồng bộ cũng như việc cơ quan chủ quản trong lĩnh vực này chưa thực sự mạnh tay nên việc mua bán, giết mổ, vận chuyển động vật hoang dã trái quy định của pháp luật vẫn diễn ra” - Thượng tá Phùng Quang Hiển nói.  Đại diện Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường cũng viện dẫn, cụ thể ở đây có những xung đột trong quản lý như Nghị định 160/2013/NĐ-CP về “tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” với Nghị định số 32/2006/NĐ-CP  về “quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm” và Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA VKSNDTC-TANDC về “hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, động vật hoang dã” (tại Điều 190 BLHS) còn có sự “vênh nhau” nên khi áp dụng gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, cơ quan chủ quản được xác định trong việc bảo vệ động vật hoang dã là Cục Kiểm lâm, Bộ NN&PTNT thì vẫn chưa thực sự mạnh tay, quản lý trong lĩnh vực của mình nên khi phối hợp chưa được “ăn ý”. Từ những vấn đề trên, để kiềm chế và quản lý chặt chẽ tình trạng mua bán, vận chuyển và giết mổ động vật hoang dã, cần có sự chung tay vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành. (An Ninh Thủ Đô 12/10) đầu trang(
Ngày 11-10, Ban Quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết trong ba ngày qua, lực lượng của đơn vị đã phát hiện và bắt giữ ba vụ đặt bẫy bắt động vật hoang dã với số lượng lớn tại đây.
Tang vật lực lượng kiểm lâm thu được trong ba vụ đặt bẫy ở trên gồm năm cá thể cầy vòi hương, một cá thể chồn bạc má, bốn cá thể rùa sa nhân, một cá thể gà lôi trắng, 3,5 kg thịt, xương động vật rừng các loại và hơn 800 sợi thắng xe đạp dùng để làm bẫy bắt động vật hoang dã.
11 người đặt bẫy là cư dân địa phương các xã vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã bị xử phạt hành chính. Ba vụ vi phạm ở trên được xem là lớn nhất trong khoảng ba năm trở lại đây về số tang vật, đối tượng vi phạm bị bắt giữ và xử lý. (Pháp Luật TP.HCM 12/10) đầu trang(
Theo một cán bộ kiểm lâm, hầu hết lông đuôi voi bán trên thị trường đều là giả.
Theo một cán bộ kiểm lâm, hầu hết lông đuôi voi bán trên thị trường đều là giả, thậm chí ngay cả lông được cắt trực tiếp tại đuôi voi cũng là “hàng rởm” được các “quản tượng”… gắn keo vào.
Những ai đến Đắk Lắk, chưa cần tìm đâu xa, chỉ xuống đến sảnh các khách sạn lớn là thấy lông đuôi voi bày bán tại gian hàng lưu niệm.Tại khách sạn Dakruko Đắk Lắk (30 Nguyễn Chí Thanh, TP Buôn Ma Thuột), PV Báo Giao thông hỏi mua một lông đuôi voi để cầu may mắn. Nhân viên bán hàng cho biết, lông đuôi voi đen giá 400 nghìn đồng, còn lông đôi voi trắng 500 nghìn đồng/chiếc. Khi được hỏi lông đuôi voi này xuất xứ từ đâu, nhân viên bán hàng lắc đầu không biết.
Tại hiệu vàng Thanh Tân, ngay trung tâm thương mại TP Buôn Ma Thuột, chúng tôi được nhân viên hiệu vàng chào mời, giới thiệu mua nhẫn vàng, bạc có lồng lông đuôi voi để được may mắn. Tại đây rất nhiều kiểu nhẫn đã được làm sẵn, có lỗ rỗng để luồn lông đuôi voi vào. Người mua ưng ý, chọn mẫu nhẫn cũng như lông đuôi voi, chỉ cần đợi 5-10 phút là nhân viên thao tác xong.
Thấy nhân viên hiệu vàng đưa ra một rổ nhựa, đựng cả trăm chiếc lông đôi voi để khách hàng chọn, tôi hỏi người bạn đi cùng, lông đuôi voi ở đâu mà nhiều vậy? Người bạn lắc đầu không biết, còn cô nhân viên nhanh miệng trả lời: “Lông nhà em được mua từ… châu Phi về đấy, anh ạ! Còn anh muốn mua lông đuôi voi Việt Nam, thì vào Buôn Đôn, người ta… nhổ trực tiếp bán cho anh”.
Đầu tháng 3, một anh bạn từ Hà Nội vào tham dự lễ hội Festival Cà phê Buôn Ma Thuột, sau đó rủ chúng tôi cùng vào Buôn Đôn chơi. Tại đây, một thanh niên tự xưng là “quản tượng” mời chào mua lông đuôi voi và hứa dẫn đến nơi nuôi voi, thích lông nào anh ta lấy kéo cắt lông đó bán liền với giá 300 nghìn đồng/chiếc. Anh bạn tôi hào hứng theo “quản tượng” mua một cái lấy may. Mua được rồi, trên đường anh bạn vẫn còn hào hứng: “Ở Hà Nội tôi cũng thấy bán lông đuôi voi nhiều lắm, nhưng sợ mua phải đồ giả. Nay đến tận con voi cắt lông, mới tin tưởng mình mua đồ thật”.
Trên chuyến xe khách giường nằm từ Buôn Ma Thuột đi Huế, xe chuẩn bị chuyển bánh, một thanh niên điển trai lên xe rao bán lông đuôi voi cùng các đồ trang sức từ xương cốt động vật khác. Anh này hướng dẫn cách phân biệt hàng “rởm, xịn” bằng cách ngâm một sợi lông đuôi voi vào chậu nước khoảng 10 phút. Lấy ra khỏi chậu thấy sợi lông đuôi voi mềm ra, sau đó để ráo nước một lúc nó khô cứng lại như ban đầu. “Đây mới là lông đuôi voi thật 100%”, anh này khẳng định.
Anh bạn tôi lúc ấy cũng lấy cái lông đuôi voi được cắt ra từ đuôi con voi tại Buôn Đôn ngâm nước và nó cũng mềm ra, rồi một lúc khô ráo nó cũng cứng lại. Việc làm của anh bạn vô tình chứng minh cho những lông đuôi của người bán rong là hàng thật, nên chuyến xe đó, anh ta bán được hơn 20 cái.
Khi người bán lông đuôi voi xuống xe, tài xế xe khách Nguyễn Ngọc Sĩ mới hé lộ thông tin: “Bữa trước, anh và phụ xe cũng được người bán rong này tặng mỗi người một cái và nhờ nếu ai mua giới thiệu giúp. Nhưng khi mang về cho mấy người bạn chuyên đi rừng, họ khẳng định là đó lông đuôi voi giả hết”.
Cách đây ít ngày, khi quay trở lại Đắk Lắk, nhân gặp anh bạn đồng hương làm cán bộ Kiểm lâm, tôi kể lại câu chuyện mua lông đuôi voi. Nghe xong, anh bạn cười to: “Các anh bị tụi họ lừa hết. Buôn Đôn chỉ có hơn 40 con voi, mà phong trào mua lông đuôi voi để lấy may đã rộ lên cả chục năm nay, nên chẳng con voi nào còn một sợi lông cả. Để được một lông đuôi voi dài khoảng 15cm, nó phải mất tới 10 năm mới mọc được. Thủ đoạn của mấy “quản tượng” mà anh gặp là dùng lông đuôi voi giả, lấy keo gắn vào đuôi con voi, sau đó chào hàng, lấy kéo cắt trước mặt khách để họ cứ tin là hàng thật”.
Để góp phần “an ủi”, anh cán bộ Kiểm lâm tặng cho tác giả bài viết một lông đuôi voi để đeo cho may mắn, và khẳng định 100% là lông đuôi voi thật, anh kiếm được trong rừng. Anh kể, cách đây 15 năm, khi đoàn kiểm lâm phát hiện một con voi rừng chết, anh nhổ mấy cái lông làm kỷ niệm. Tôi vui mừng đi mua một chiếc nhẫn vàng tây 2,9 triệu đồng để luồn lông đuôi voi đeo vào ngón giáp út. Nhưng may mắn chưa thấy đâu, mà chỉ một tuần sau, khi đang chạy xe máy, tôi tông ngay vào con chó chạy ngang đường, ngã xe sưng cả đầu gối, loét cả bàn tay và méo cả chiếc nhẫn. (Giao Thông 11/10) đầu trang(
Vào ngày 7/8, Công ty TNHH Vạn An (địa chỉ Lô 2 - A10.2, đường 2-9, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng) mở Tờ khai hải quan số 100507009520/A11 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng.
Mặt hàng khai báo là: Đá Cẩm thạch dạng khối, đá thô, chỉ cắt cạnh, chưa đánh bóng, tổng khối lượng là 40 tấn, trị giá 20.000 USD; hàng mới 100%. Tờ khai được hệ thống phân luồng xanh. Lô hàng được đóng trong 2 container số CMAU1291440 và IPXU3225588 thuộc Vận đơn số MZ30255362, được vận chuyển trên tàu Spectrum N, chuyến 9999, sau đó được chuyển tải sang tàu King Brian chuyến 148UBR, cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng ngày 10/8.
Qua thu thập thông tin trên hệ thống dữ liệu hải quan điện tử, lô hàng thuộc Tờ khai số 100507009520/A11 của Công ty TNHH Vạn An đã được hệ thống phân luồng xanh, chỉ chờ hàng được đưa về cảng Tiên Sa là DN sẽ làm thủ tục đưa hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan ngay mà không phải xuất trình hồ sơ hải quan cũng như thực tế hàng hóa để cơ quan hải quan kiểm tra.
Để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm của đối tượng, ngay khi tàu King Brian cập cảng Tiên Sa lúc 7 giờ 30 phút ngày 10/8, 2 container hàng hóa thuộc bộ Tờ khai số 100507009520/A11 được xếp lên bãi cảng vào lúc 9 giờ 15 phút cùng ngày, Cục Điều tra chống buôn lậu đã có Điện fax số 048/ĐTCBL-Đ1 ngày 9/8 gửi Cục Hải quan TP Đà Nẵng yêu cầu dừng thông quan đột xuất, chuyển kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng, đồng thời triển khai xây dựng kế hoạch thu thập thông tin, tài liệu liên quan tới lô hàng trên.
Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng đã ra Quyết định số 504/QĐ-HQCĐN ngày 10/8 về việc tạm dừng hàng hóa qua khu vực giám sát đối với lô hàng trên trong thời hạn 5 ngày. Đồng thời, gửi giấy mời yêu cầu DN lên làm việc về lô hàng. Tuy nhiên, sau 3 lần gửi giấy mời, DN vẫn không có mặt theo yêu cầu. Đồng thời, DN có Công văn số CV/08/2015 ngày 12/8 xin hủy tờ khai nêu trên với lý do đối tác nước ngoài yêu cầu hủy vì giao nhầm hàng.
Tuy nhiên, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng không chấp nhận việc hủy tờ khai do không đáp ứng các điều kiện để được hủy theo quy định tại Điều 22 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính.
Ngày 11/8, Tổ công tác liên ngành đã lập biên bản làm việc với hãng tàu CMA CGM có văn phòng thường trực tại Đà Nẵng làm rõ các nội dung về người nhận hàng, người gửi hàng, vận đơn và các chứng từ có liên quan. Quá trình làm việc với hãng tàu được biết, ngày 10/8, Công ty TNHH Vạn An đã có giấy giới thiệu không số cử Nguyễn Văn Dũng đến hãng tàu làm thủ tục lấy Lệnh và thanh toán cước phí có liên quan đến lô hàng.
Hãng tàu đã cấp Lệnh giao hàng cho DN (Lệnh có giá trị đến hết ngày 13/8). Tại thời điểm hãng tàu CMA CGM Việt Nam tiếp nhận chứng từ của lô hàng đến ngày 5/8, khách hàng có đề nghị sửa đổi thông tin về hàng hóa trước khi hãng tàu gửi thông tin chính thức cho cơ quan hải quan. Cụ thể, ngày 5/8, khách hàng có thay đổi thông tin tại mục miêu tả hàng hóa từ “precious stones” (tạm dịch là “đá quý”) sang “stones”.
Quá trình làm việc, hãng tàu đã cung cấp các tài liệu như vận đơn, giấy giới thiệu của DN cử nhân viên đến lấy Lệnh tại hãng tàu, thông báo hàng đến… Tổ công tác liên ngành làm việc với Công ty xác định DN đã làm thủ tục nhận lệnh cấp hàng, nộp thuế đối với mặt hàng trên. Tổ công tác đã thu thập các tài liệu có liên quan đến lô hàng như: Vận đơn, hợp đồng mua bán, hóa đơn thương mại, điện chuyển tiền ra nước ngoài, chứng từ thanh toán cước vận tải, lệnh giao hàng, giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước…
Ngày 12/8, Đội trưởng Đội kiểm soát khu vực miền Bắc thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu đã ký Quyết định khám phương tiện vận tải, đồ vật theo Thủ tục hành chính số 16/QĐ-Đ1, theo đó, Tổ công tác đã lập kế hoạch và phối hợp với các lực lượng tổ chức khám xét theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả khám xét 2 container số CMAU 1291440 và IPXU 3225588, phát hiện container số IPXU3225588 có 6/16 kiện chứa đá dạng cục có dấu hiệu nghi vấn, tiến hành kiểm tra 6 kiện này phát hiện có 12 khối đá (mỗi kiện có 2 khối đá) được xếp vào giữa các kiện, nhìn bề ngoài chúng có hình dạng khác biệt so với khối đá xếp trong kiện. Nghi vấn các khối đá này chứa hàng hóa vi phạm, lực lượng khám xét tiến hành mở (đập) 12 khối đá, phát hiện một số lượng lớn sản phẩm động vật ở dạng khúc (nghi là ngà voi) và sản phẩm động vật ở dạng sừng (nghi là sừng tê giác) được bao bọc trong các lớp giấy bạc.
Đồng thời đã trưng cầu giám định đối với toàn bộ số tang vật vi phạm nêu trên tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, kết quả tổng cộng có 593kg ngà voi, 142kg sừng tê giác. Với lô hàng này, Công ty TNHH Vạn An mở tờ khai nhập khẩu hàng theo khai báo là đá nhập khẩu từ Mozambique, lô hàng được phân luồng xanh. Công ty đã làm thủ tục nhận lệnh tại hãng tàu để lấy hàng, đã thanh toán toàn bộ cước phí vận chuyển của lô hàng và đã nộp thuế nhập khẩu đầy đủ để làm thủ tục thông quan hàng hóa.
Số lượng rất lớn sừng tê giác và ngà voi nêu trên được cất giấu hết sức tinh vi trong các khối đá, cơ quan hải quan đã tiến hành soi chiếu nhưng không phát hiện được, chỉ khi khám xét bằng phương pháp thủ công, chi tiết, tỉ mỉ toàn bộ lô hàng mới phát hiện ra số tang vật này.
Toàn bộ hàng hóa không có trong khai báo hải quan, có hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu theo quy định tại Quyết định số 11/QĐ-CP ngày 24/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Mặc dù, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phối hợp với Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74, Bộ Công an) yêu cầu Giám đốc DN làm việc, giải trình về lô hàng. Nhưng sau khi bị phát hiện, Giám đốc DN trốn tránh không làm việc, có dấu hiệu bỏ trốn…
Căn cứ kết quả phát hiện, bắt giữ và khám xét, ngày 11/9, Cục Điều tra chống buôn lậu đã ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu 593kg ngà voi và 142kg sừng tê giác xảy ra tại cảng Tiên Sa, TP Đà Nẵng theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Hình sự.
Ngày 21/8, Cục Điều tra chống buôn lậu phối hợp với Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Trung (Đội 2), Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc (Đội 1); Chi cục Hải quan cảng Đà Nẵng; C74 đã khám xét lô hàng nhập khẩu từ Nigeria, đến cảng Đà Nẵng ngày 11/8.
Qua kiểm tra 3 container, lực lượng chức năng phát hiện một trong số 3 container hàng có chứa 63 bao tải dứa chứa tổng cộng 2,2 tấn ngà voi, bên ngoài được ngụy trang bằng các lớp gỗ. Theo Bản lược khai hàng hóa và vận tải đơn thì hàng hóa này là gỗ, chứa trong 3 container 20’’, người nhận hàng là Công ty TNHH Vạn An, địa chỉ 2A-10.2 đường 2/9 TP Đà Nẵng. (Kinh Tế Và Đô Thị Cuối Tuần 10/10) đầu trang(
Tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Hàm Thuận Nam từ đầu năm đến nay giảm.
Trong 9 tháng, các ngành chức năng và các địa phương trong huyện phát hiện, lập hồ sơ xử lý 36 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 20 vụ so với cùng kỳ năm 2014. Tịch thu 36 phương tiện vi phạm; trên 47 m3 gỗ và xử phạt hành chính thu nộp ngân sách 223 triệu đồng.
Huyện Hàm Thuận Nam tiếp tục tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp và phòng cháy chữa cháy rừng để mỗi người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, tố giác các đối tượng xâm hại đến tài nguyên rừng.
Tổ chức truy quét trên các địa bàn trọng điểm, các vùng giáp ranh nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng, không để xảy ra điểm nóng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bình Thuận 8/10) đầu trang(
Những kẽ hở trong công tác quản lý và hoạt động kém hiệu quả của các nông lâm trường (nay là các Công ty TNHH Một thành viên) dẫn đến rừng xanh ngày càng thu hẹp và cùng với đó là lũ lụt, lở đất kèm theo muôn vàn ẩn họa khi thiên nhiên nổi giận vì những “lỗi lầm” của con người.
Tây Nguyên, Tây Bắc hay Tây Nam Bộ... từng có những vùng trùng điệp rừng xanh, được ví như lá phổi đem lại môi trường sống an lành cho con người. Không chỉ là “vàng”, rừng còn đi vào thi ca như một thực thể xã hội “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Thế nhưng những kẽ hở trong công tác quản lý và hoạt động kém hiệu quả của các nông lâm trường (nay là các Công ty TNHH Một thành viên) dẫn đến rừng xanh ngày càng thu hẹp và cùng với đó là lũ lụt, lở đất kèm theo muôn vàn ẩn họa khi thiên nhiên nổi giận vì những “lỗi lầm” của con người.
Trong các tác phẩm văn học “Đất nước đứng lên” hay “Rừng xà nu”, Tây Nguyên thật hùng vĩ bởi màu xanh kì bí của núi rừng. Vậy nhưng nhiều khu rừng bát ngát vốn có của đại ngàn Tây Nguyên cơ bản đã bị xóa sổ tính đến thời điểm này. “Nước mắt rừng” Tây Nguyên vẫn chưa thôi rơi khi mà mỗi ngày lại có thêm những cánh rừng tiếp tục bị xâm hại.
Theo chân một cán bộ kiểm lâm địa bàn về vùng Ia Chía, Ia O (Ia Grai, Gia Lai) chúng tôi chứng kiến nỗi đau của rừng (từng thuộc quyền quản lý của các lâm trường), từ những quả đồi xưa ngút ngát rừng đã biến thành nương rẫy…
Ông Lê Tiến Hiệp, Phó phụ trách Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai chia sẻ: “Rừng ở đây mất nhiều trong giai đoạn 2010-2012, khi có chủ trương chuyển đổi rừng sang trồng cao su và giao cho các doanh nghiệp thì người dân địa phương sợ mất hết rừng, hết đất nên ồ ạt vào lấn chiếm làm rẫy... Hiện, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai quản lý hơn 10.648ha rừng, trong đó rừng phòng hộ hơn 5.200ha nhưng không có kinh phí dịch vụ bảo vệ rừng để giao khoán cho dân quản lý”.
Theo ông Hiệp, nguồn kinh phí từ dịch vụ bảo vệ rừng phải là rừng phòng hộ đầu nguồn của các công trình thủy điện, còn rừng hiện ông đang quản lý nằm phía dưới thủy điện...
Trước đợt kiểm kê rừng năm 2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai đã chuyển trả diện tích hơn 3.160ha về huyện Ia Grai quản lý vì số này đã mất rừng và bị lấn chiếm làm rẫy. Đáng chú ý có những vụ phá rừng ở đây với quy mô lớn nhưng không tìm ra lâm tặc. Cuối năm 2014, vụ phá rừng công khai tại lô 1, khoảnh 9, tiểu khu 365, lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai với khối lượng gỗ thiệt hại hơn 133m³ trên diện tích rừng phòng hộ trạng thái IIB…
Ở xã Ia Kreng, huyện Chư Pah (Gia Lai), có trên 5.700ha đất rừng, trong đó có trên 3.100ha rừng phòng hộ. Nhưng toàn xã có hơn 200 hộ nghèo, chiếm 46,3% và người dân tại chỗ hầu hết sinh sống ở gần rừng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xã đã phát hiện 24 vụ phát rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp, 6 vụ khai thác gỗ trái phép trên 87m³ gỗ các loại.
Tại khu vực rừng giao khoán cho người dân làng Díp đã xảy ra 3 vụ khai thác gỗ trái phép với hơn 43,7m³ gỗ và 19 vụ phát rẫy. Cùng với làng Díp, tại khu vực giao khoán ở làng Doch 1 và Doch 2, cũng liên tiếp xảy ra nhiều vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép...
Theo báo cáo Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly (Chư Pah, Gia Lai) đang hợp đồng giao khoán rừng cho 73 hộ dân của 3 làng trên địa bàn xã Ia Kreng gồm Doch 1, Doch 2 và Díp với diện tích rừng giao khoán 3.000ha, tổng kinh phí chi trả cho hoạt động giao nhận khoán trong năm 2015 là 600 triệu đồng, nhưng rừng ở đây vẫn tiếp tục bị triệt hạ.
Tỉnh Đắk Lắk hiện có 35 dự án trồng rừng, cải tạo, quản lý, bảo vệ rừng... với tổng diện tích gần 30.700ha và đã có 24 dự án có quyết định cho thuê hơn 17.500ha đất. Tuy nhiên nhiều dự án không hiệu quả như Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Tân Phú Hưng triển khai dự án ở xã Ea Sol, Ea Hleo từ năm 2011 đến nay mới có 26ha cao su, còn lại phần lớn diện tích bị xâm canh. Công ty TNHH Hoàng Nguyễn thuê 438ha đất ở Ea Hleo để chuyển đổi rừng sang trồng cao su nhưng chỉ trồng được 90ha cao su và phần lớn đã bị chết; hàng chục hécta rừng còn lại bị tàn phá, xâm canh...
Từ năm 1999-2010, tỉnh Đắk Lắk đã giao khoán cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng dân cư 27.000ha rừng để chăm sóc, bảo vệ, nhưng sau đó diện tích rừng bị phá, lấn chiếm, xâm canh trái phép lên đến 10.000ha.
Tại tỉnh Đắk Nông đã giao hơn 30.000ha đất và rừng cho các doanh nghiệp để thực hiện các dự án nông lâm nghiệp theo quy hoạch vẽ ra trên giấy rất hấp dẫn nhưng thực tế chỉ thấy mất rừng và tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tại Đắk Ngo có 9 doanh nghiệp vào liên doanh liên kết trên tổng diện tích gần 2.000ha đất và rừng nhưng sau đó đã để mất hơn 1.000ha rừng.
Phần lớn các dự án được tỉnh Đắk Nông cho thuê rừng, thuê đất, nhưng quá trình triển khai đã không quản lý bảo vệ được mà còn mất rừng rồi mất luôn đất vì người dân lấn chiếm làm rẫy...
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tính đến giữa năm 2015, diện tích rừng trên địa bàn Tây nguyên có khoảng 2.567.116ha; trong đó rừng tự nhiên hơn 2.253.000ha, rừng trồng hơn 313.000ha, so với kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2008, diện tích rừng tự nhiên giảm hơn 358.700ha...
Có nhiều nguyên nhân làm giảm diện tích và chất lượng rừng như lợi dụng chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để phá rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng trái phép…
Các chính sách quản lý về rừng, đất đai còn bị lợi dụng theo kiểu lách luật khi giao dự án như chia nhỏ dự án dưới 1.000ha trong vùng chuyển đổi để dễ dàng thực hiện các thủ tục pháp lý. Nhiều doanh nghiệp được giao rừng sau khi tự khảo sát, lập dự án chuyển đổi đất rừng, sau đó để mất rừng và gây lãng phí đất đai, hoạt động không hiệu quả…
Trao đổi với PV Báo CAND, TS Phạm Quang Tú (Tổ chức Oxfam) khẳng định: Các công ty lâm nghiệp (nay  là các Công ty TNHH một thành viên) quản lí rừng rất kém. Nhiều nơi rừng bị chặt phá, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên. Điển hình như ở Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Gia Nghĩa (Đắk Nông), chỉ trong thời gian ngắn, hàng nghìn hécta rừng đã biến mất. Việc giao khoán rừng chưa được thực hiện nghiêm túc, phần lớn giao khoán sai đối tượng. “Các công ty chủ yếu giao đất cho người nhà, người có chung mối quan hệ làm ăn. Trong khi đó, người dân sở tại, đồng bào dân tộc thiểu số lại chẳng có gì” – ông Tú nói.
Những con số “biết nói” nêu trên chưa thể phản ánh thực trạng nhức nhối rừng Tây Nguyên đang hằng ngày bị xâm hại. Song, hậu quả mất rừng đã thấy rõ như nguồn nước ngầm bị cạn kiệt, biến đổi khí hậu bất thường. Khí hậu Tây Nguyên không còn như trước đây (kéo dài 6 tháng nắng và 6 tháng mưa) mà chỉ mưa dầm theo sự ảnh hưởng của các cơn bão, áp thấp nhiệt đới; lượng sương mù cũng giảm hẳn vào buổi ban mai và lúc hoàng hôn buông xuống… Sự ngột ngạt của khí hậu Tây Nguyên ngày càng trầm trọng tiềm ẩn cơn “nóng giận” đang bị ghìm nén của thiên nhiên.
Trao đổi với PV Báo CAND, TS Phạm Quang Tú (Tổ chức Oxfam) khẳng định: Các công ty lâm nghiệp (nay  là các Công ty TNHH một thành viên) quản lí rừng rất kém. Nhiều nơi rừng bị chặt phá, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên. Điển hình như ở Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Gia Nghĩa (Đắk Nông), chỉ trong thời gian ngắn, hàng nghìn hécta rừng đã biến mất. Việc giao khoán rừng chưa được thực hiện nghiêm túc, phần lớn giao khoán sai đối tượng.
“Các công ty chủ yếu giao đất cho người nhà, người có chung mối quan hệ làm ăn. Trong khi đó, người dân sở tại, đồng bào dân tộc thiểu số lại chẳng có gì” – ông Tú nói. (Công An Nhân Dân 10/10) đầu trang(
Từ nhiều ngày nay, lực lượng gồm hàng trăm chiến sĩ thuộc Tổng cục An ninh kinh tế (Bộ Công an) và Tổng cục lâm nghiệp đã bất ngờ đột kích các xưởng gỗ lậu có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Tiếp cận hiện trường theo ghi nhận của PV, tại xưởng gỗ của Doanh nghiệp Bảo Hoàng có rất nhiều cán bộ mang quân phục công an và Kiểm lâm đang tiến hành làm việc, bảo vệ hiện trường.
Theo nhiều người dân cho biết, xưởng gỗ khu vực biên giới này đã được hình thành từ năm nhiều năm trước đây. Tại khu vực huyện Đức Cơ, có 2 xưởng gỗ quy mô lớn. Cả hai xưởng gỗ này là nơi tập trung hàng trăm m3 gỗ được vận chuyển từ biên giới Campuchia. Theo quan sát của chúng tôi, có tới hàng trăm m3 gỗ nguyên khúc cây, nhiều loại gỗ quý như trắc, cẩm, hương... rải rác khắp trong xưởng.
Trước khi đưa lực lượng vào đồng loạt các xưởng gỗ này, nhiều trinh sát của Tổng cục An ninh kinh tế đã nằm vùng trong thời gian dài để nắm bắt tình hình. Từ nhiều ngày nay, xe công vụ mang biển số của Bộ Công an và Tổng cục lâm nghiệp đã được huy động, đọc lệnh kiểm tra đột xuất các xưởng gỗ có dấu hiệu vi phạm.
Một cán bộ của hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ cho biết, qua kiểm tra ban đầu tại các xưởng gỗ lực lượng chức năng phát hiện nhiều gỗ nằm trong xưởng, một số có dấu búa của kiểm lâm nhưng nhiều lượng gỗ cũng không có giấy tờ. Trước đó, nhiều lần PV cũng đã phát hiện xe chở gỗ trên quốc lộ 14C đoạn qua địa phận huyện Chư Prông và Đức Cơ, đã phá nát nhiều tuyến đường tuần tra biên giới.
Suốt thời gian qua, nạn khai thác gỗ trái phép dọc biên giới các huyện Đức Cơ, Ia Grai, Chư Prông, tỉnh Gia Lai luôn nóng từng ngày. Nhiều thủ thuật lâm tặc tận dụng triệt để nhằm qua mặt cơ quan chức năng hòng tuồn gỗ lậu về tiêu thụ nhưng chiêu bài thường xuyên áp dụng nhất là việc lâm tặc tăng cường khai thác gỗ dọc theo đường biên giới Việt Nam - Campuchia và giữa các huyện Đức Cơ - Chư Prông; Ia Grai - Chư Păh; Chư Păh - Đăk Đoa.v.v... với mục đích mỗi khi "bị động", lâm tặc dễ dàng vận chuyển gỗ sang địa bàn khác nhằm tránh lực lượng kiểm lâm đồng thời từng bước hợp thức hoá khối lượng gỗ khai thác trái phép.
Minh chứng cho chiêu bài này là việc Tổng cục An ninh Kinh tế kiểm tra đột xuất 2 xưởng gỗ của Công ty Bảo Hoàng (đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, Tp. Pleiku) đã phát hiện hàng trăm m3 gỗ (chủ yếu là cẩm lai, hương...) không rõ nguồn gốc. Song, điều kỳ lạ là một phần trong đó đã được đóng dấu búa kiểm lâm. Vậy từ đâu hàng chục m3 khai thác lậu này lại được đóng dấu búa kiểm lâm hay đúng hơn ai bảo kê cho lâm tặc lộng hành?
Tại kỳ họp HĐND tỉnh Gia Lai khóa X, Phó bí thư thường trực- chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai Phạm Đình Thu nhận định tình hình gỗ lậu tại vùng biên đặt biệt “nóng”. Nguyên nhân bởi UBND tỉnh cho đã mở 9 cửa khẩu phụ để nhập khẩu hơn 35.000 m3 gỗ vào Việt Nam. Từ đây gỗ không rõ nguồn gốc theo gỗ hợp pháp đã ồ ạt tuồn vào. (Tầm Nhìn 9/10) đầu trang(
Dự án làm tuyến đường xẻ ngang vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt động thổ từ năm 2011 nhưng đến năm 2015, chính quyền địa phương mới cấp phép tận thu gỗ. Quá trình khai thác có những điểm bất thường.
Từ phản ánh của người dân địa phương, nhóm phóng viên đã có mặt tại dự án làm đường đang dang dở ở xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong (Nghệ An) và được chứng kiến hiện trường tận thu gỗ ở vùng lõi khiến người dân ‘sốt ruột’.
Được biết, tuyến đường đang thi công là dự án đường tuần tra biên giới khởi công từ năm 2011, dài 22km. Con đường này theo thiết kế đã cắt ngang qua vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Hiện tại, tuyến đường vẫn còn một quãng dài chưa hoàn thành.
Theo ghi nhận, bắt đầu từ xã Hạnh Dịch, hai bên tuyến đường nhiều đống gỗ lớn nằm rải rác, trong đó có một vài điểm tập kết gỗ rất lớn với nhiều xe tải ‘khủng’ vận chuyển.
Vào sâu trong rừng già nơi tuyến đường còn thi công dở dang, chúng tôi bắt gặp đủ chủng loại gỗ quý nằm la liệt hai bên lề đường, như sến, táu, dổi đủ kích cỡ. Nhiều khu vực vẫn đang trong quá trình ‘tận thu’, vết nhựa còn mới trên những gốc cây vừa bị đốn hạ.
Theo quan sát trực tiếp, tại một số khu vực hai bên tuyến đường việc tận thu gỗ có những điểm bất thường. Như tại Km18 (theo chiều dài tuyến đường - PV), hai bên đường chất đầy gỗ quý, có cây thân to với đường kính đến khoảng 1m, nhựa cây đang rỉ ra tươi rói.
Đặc biệt lần theo vết kéo gỗ từ trong rừng ra, chúng tôi bắt gặp 4 gốc cây gỗ lớn mới bị đốn hạ, cách đường khoảng từ 50 đến 100m.
Điều lạ là những gốc cây vẫn còn tươi rói, không hề có dấu hiệu bị đất đá trong quá trình thi công đường làm ảnh hưởng, dẫn tới nguy cơ chết nhưng số cây này vẫn bị đốn hạ. Trên một số gốc không có dấu bài cây, trên những thân cây rải rác bên đường có nhiều đoạn không có dấu búa kiểm lâm.
Theo tìm hiểu của PV VietNamNet, tuyến đường biên giới ở Quế Phong được khởi công xây dựng từ năm 2011, cắt ngang vùng rừng đặc dụng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Mặc dù thế đến tháng 3/2015, ban quản lý khu bảo tồn này mới có văn bản báo cáo tình hình và kiến nghị Sở NN&PTNT cho phép tận thu lâm sản tại đây.
Lý giải việc chậm trễ này, ông Lê Phùng Diệu, Phó giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn Pù Hoạt cho biết, đơn vị được thành lập sau khi có dự án làm đường. Với tư cách là chủ rừng, ban quản lý đã kiến nghị được tận thu những lâm sản bị hư hại trong quá trình làm đường.
Ngày 6/7/2015, Sở NN&PTNT Nghệ An có quyết định số 807/QĐ-NN.LN về việc phê duyệt hồ sơ, cấp phép tận thu, tận dụng gỗ thuộc phạm vi giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông từ trạm kiểm soát biên phòng Hạnh Dịch đi mốc M14 (xã Hạnh Dịch), với khối lượng khai thác gần 1.300m3 gỗ. Số gỗ khai thác nằm từ nhóm 2 đến nhóm 8.
Cụ thể, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt được tận thu khai thác tại Tiểu khu 59, gồm các lô a - K10, lô a - K13, lô a - K16, lô a - K17, lô a - K21, lô a - K23, lô a - K24, lô a - K25, lô a - K27. Tiểu khu 72 gồm lô a - K1, lô a - K2 và lô a - K3, thuộc xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong.
Tổng diện tích khai thác là 22,85ha; số lượng khai thác là 1.273,28m3. Đối tượng khai thác là rừng tự nhiên thuộc đất rừng đặc dụng đã được chuyển mục đích sử dụng đất; thời gian khai thác đến ngày 31/12/2015.
Sau khi được tỉnh cho phép, Ban quản lý khu bảo tồn Pù Hoạt đã hợp đồng với một công ty để khai thác gỗ hai bên tuyến đường. Theo số liệu từ ban quản lý này, trong hơn 2 tháng ‘tận thu’, đã có chừng 400m3 gỗ được ‘xuất kho’. Khoảng 200 khối gỗ khác đang nằm rải rác trong rừng chờ vận chuyển ra ngoài.
Trao đổi với VietNamNet, ông Lê Phùng Diệu cho rằng, đơn vị luôn duy trì một tổ gồm ít nhất 3 người chỉ đạo, giám sát việc khai thác gỗ. Tuy thế trong quá trình thu thập thông tin tại thực địa, chúng tôi không bắt gặp bóng dáng lực lượng kiểm soát nào. Trong khi đó, việc khai thác, tận thu vẫn được tiến hành gấp rút.
Thực tế, hiện trạng việc khai thác tận thu lâm sản có biểu hiện ‘bắn tỉa’, chọn lựa những cây gỗ có giá trị. Đặc biệt việc kiểm soát có vẻ khá sơ sài khi nhiều gốc cây vừa đốn nhưng không có dấu bài cây; nhiều đoạn thân đã cắt ra thiếu dấu búa kiểm lâm.
“Thực tế có nhiều cây nằm ở vị trí cheo leo rất khó khai thác, lực lượng chức năng gặp khó trong việc đánh dấu bài cây. Chúng tôi luôn có lực lượng kiểm tra việc tận thu để đảm bảo đúng quy định”, ông Diệu giải thích. Tuy thế trước nhiều hình ảnh mà PV đưa ra, lãnh đạo Ban quản lý Khu bảo tồn Pù Hoạt sẽ cho lực lượng vào kiểm tra, xử lý ngay.
Ông Diệu cũng cho biết thêm, việc tận thu lâm sản ở dự án làm đường chỉ là việc ‘giải quyết hậu quả để lại’, do dự án động thổ từ 2011 nhưng đến năm 2015 mới cấp phép tận thu.
“Việc này đã sai từ đầu, anh chưa có hồ sơ thiết kế tận thu lâm sản nhưng đã múc, san ủi để làm đường ảnh hưởng đến rừng là sai!”, ông Diệu cho hay.
Trao đổi với VietNamNet, lãnh đạo Hạt kiểm lâm Quế Phong cho biết sẽ cho lực lượng vào hiện trường để làm rõ các nội dung trên. (Vietnamnet 10/10) đầu trang(
Ngày 9.2, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình) cho biết các bác sĩ thú y của trung tâm đang tích cực chăm sóc cho 2 con khỉ vàng.
Trước đó, gia đình ông Nguyễn Tiến Thìn (ở thôn 10, xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) đã tự nguyện giao nộp 2 con khỉ vàng trên (1 đực và 1 cái) có trọng lượng lần lượt là 2,5 kg và 2 kg cho Hạt Kiểm lâm Bố Trạch để chăm sóc, phục hồi.
Hạt Kiểm lâm sau đó bàn giao lại cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật. Khỉ vàng có tên khoa học là Macaca mulata, là loài động vật rừng hoang dã nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm 2B.
Được biết, sau khi được chăm sóc, cứu hộ, hiện thể trạng của 2 con khỉ đang tốt dần lên. Các bác sĩ sẽ tiếp tục chăm sóc, theo dõi và thả 2 con khỉ vàng về môi trường tự nhiên khi chúng hoàn toàn hồi phục, khỏe mạnh. (Thanh Niên 9/10) đầu trang(
Người đứng đầu ngành Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho rằng việc phá rừng ở Trà Bui cũ rích vì xảy ra lâu rồi, khối lượng gỗ nhiều vì kéo ra chậm.
Liên quan đến vụ tàn phá rừng tại xã Trà Bui của huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh quản lý, chiều 8/10 phóng viên Báo Đất Việt đã trao đổi với ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam
Theo ông Tuấn, việc phá rừng này xảy ra lâu lắm rồi nhưng do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh không xử lý triệt để nên lượng gỗ ứ dồn lại mới thấy nhiều như thế.
Khi được hỏi về việc ngày 5/10, sau khi kiểm tra thực địa tại hiện trường phát hiện nhiều khối lượng gỗ quý hiếm bị chặt hạ trái phép như chốn không người.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh đã nghi ngờ có sự tiếp tay của lực lượng quản lý, bảo vệ rừng với lâm tặc, ông Tuấn nói: “Cái này không thể nói lực lượng kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng tại khu vực này mỏng được. Vì theo quy định mỗi xã được phân công, bố trí một kiểm lâm địa bàn để quản lý địa bàn được giao. Ông Phó Chủ tịch UBND tỉnh nói rồi trách nhiệm này phải huy động cả hệ thống chính trị, các ban ngành cùng làm. Để làm tốt phải xây dựng cơ chế phối hợp, chứ khi xảy ra không thể đổ lỗi do thiếu người chỉ đạo được vì quy định là mỗi xã chỉ được phân công, bố trí một kiểm lâm địa bàn thôi. Trách nhiệm của Trạm kiểm lâm ở đó, Ban quản lý rừng ở đó khi phát hiện việc phá rừng phải phối hợp xử lý, chứ không thể đổ lỗi do lực lượng mỏng được. Câu chuyện này nói hoài rồi.”
Ông cho biết, việc này được Ban quản lý phát hiện lâu rồi chứ không phải mới phát hiện nay đâu. Ban quản lý phát hiện từ đầu năm đến trước khi kiểm tra là 19 vụ, lẽ ra khi phát hiện từng vụ Ban phải đưa gỗ ra khỏi lâm phận rồi phối hợp với kiểm lâm để lập biên xử lý. Vụ nào đủ khối lượng thì xử lý hình sự, không đủ khối lượng thì xử lý hành chính.
Do phát hiện xong rồi Ban chậm xử lý vẫn đề đó nên để dồn dồn lại khối lượng lớn như thế. Chính vì để dồn khối lượng lại nên cũ rích cũ rơ chứ đâu mới gì, có những cây gỗ cũ rích chứ không phải cây gỗ mới. Gỗ mục hết rồi, việc xử lý của mấy người trong Ban quản lý chậm quá.
Nói về việc Phó Chủ tịch Quảng Nam không loại trừ khả năng kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc, ông cho hay: “Chuyện ông Phó Chủ tịch tỉnh đặt vấn đề nghi ngờ lực lượng quản lý, bảo vệ rừng để xảy ra phá rừng việc này có hay không thì trong quá trình điều tra, cơ quan Công an sẽ lập chuyên án điều tra. Bây giờ mình nói việc này phải có chứng cứ, mình thấy cảm giác như thế nhưng việc có hay không. Ông Phó Chủ tịch tỉnh chỉ đạo ngành phải quản lý cán bộ, đánh giá cán bộ. Hai việc quan trọng hiện giờ là xác định thực hư ra sao, nếu ai có dấu hiệu thế nào, phát hiện dấu hiệu sẵn sàng tố giác đi để có chứng cứ. Nếu nói như vậy mà không có chứng sao xử lý được.”
Trả lời báo chí, là chủ rừng để xảy ra phá rừng nghiêm trọng nhưng ông Đoàn Tất Chẩn – Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh biện minh: “Lực lượng bảo vệ rừng mỏng, trong khi quản lý diện tích lớn. Dân lên ở đông, lại chủ yếu sinh sống bằng nghề rừng. Phá rừng dai dẳng biết đó mà chịu”.
Đề cập về sự có mặt vô ích của 2 trạm quản lý bảo vệ rừng trong rừng, chủ rừng phân trần, những trạm này xây ra để làm chỗ sinh hoạt cho nhân viên bảo vệ rừng, không có chức năng canh trực 24/24 giờ (?!).
Tuy nhiên, ông Nguyễn Nhuần – Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My lại cho rằng, sự buông lỏng quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh mới là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng phức tạp ở xã Trà Bui. (Đất Việt 9/10) đầu trang(
Nhằm chấn chỉnh lề lối làm việc, tác phong công tác, khắc phục hạn chế, yếu kém, thậm chí là sai phạm của một số kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đang quyết liệt chỉ đạo thực hiện Kế hoạch nâng cao năng lực hoạt động của kiểm lâm để hướng tới bảo vệ rừng “tận gốc”.
Lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn hiện nay có 242 người, trình độ không đồng đều. Bên cạnh những việc đã làm được, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh thời gian qua xuất hiện những hạn chế, thiếu sót, có biểu hiện xa dân, né tránh, làm ngơ, thậm chí “bật đèn xanh” cho các đối tượng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép.
Đặc biệt, tình hình cán bộ kiểm lâm trên địa bàn tỉnh không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, mắc khuyết điểm, thậm chí là vi phạm pháp luật gần đây có chiều hướng gia tăng. Từ năm 2010 đến nay, 30 cán bộ kiểm lâm (chiếm 12,5% biên chế lực lượng) bị xử lý kỷ luật. Mặt khác, theo quy định, hiện nay Bắc Cạn còn thiếu hơn 100 kiểm lâm.
Trước tình hình kiểm lâm vừa thiếu lại vừa yếu và để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn ban hành Kế hoạch nâng cao năng lực hoạt động của kiểm lâm với 16 nội dung yêu cầu cụ thể.
Vấn đề quản lý, bảo vệ rừng “tận gốc” đã được nói nhiều trong những năm qua, nhưng làm thì chưa được. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do, cán bộ kiểm lâm được giao phụ trách địa bàn nhưng lại không sát dân, không gần gũi với nhân dân nên không phát huy được tai mắt của nhân dân, có vi phạm lâm luật mà nhân dân không cho biết.
Khắc phục hạn chế này, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn quy định từ Hạt trưởng, Hạt phó đến kiểm lâm viên định kỳ, đột xuất phải họp với dân, kiểm lâm địa bàn phải họp, đối thoại với dân ở thôn, bản mỗi tháng từ hai đến ba lần để nắm chắc địa bàn, tăng cường quan hệ để phát huy tai mắt của nhân dân. Bên cạnh đó, nhân dân là lực lượng đông đảo, rộng khắp giám sát hoạt động của kiểm lâm.
Kiểm lâm viên phải có trách nhiệm tham mưa cho chính quyền cơ sở phát huy vai trò, trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng. Khi có phá rừng, xâm hại rừng thì lãnh đạo Hạt kiểm lâm và kiểm lâm phụ trách địa bàn phải chịu trách nhiệm và phải bị xử lý nghiêm theo quy định.
Thời gian gần đây, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đã luân chuyển gần 50 Hạt trưởng, Hạt phó, Trạm trưởng, Trạm phó trên địa bàn toàn tỉnh. Tới đây, sẽ đào tạo, bồi dưỡng đối với những người chưa đáp ứng yêu cầu, sắp xếp lại nhiều vị trí công tác nhằm phát huy năng lực, sở trường của cán bộ và tránh tiêu cực xảy ra nếu để làm việc lâu tại một vị trí, địa bàn.
Ông Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho cam kết: “Chúng tôi thành lập Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch nâng cao năng lực hoạt động của kiểm lâm để kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những cá nhân không chấp hành kế hoạch, thậm chí loại khỏi ngành nếu vi phạm pháp luật nhằm chấn chỉnh lề lối làm việc của lực lượng kiểm lâm, từ đó hướng tới mục tiêu quản lý, bảo vệ rừng “tận gốc””. (Nhân Dân 9/10) đầu trang(
Việt Nam đã tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites).
Thế nhưng, công cuộc bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) ở Việt Nam hiện đang gặp khó khăn bởi mâu thuẫn từ chính sách pháp lý cho đến thực tế. Thế nên mới xảy ra những vụ việc đau lòng như: hổ ngoạm mất tay ở Nghệ An, hay gấu ăn tay trẻ ở TP Hồ Chí Minh, Phú Thọ…
Nói đến hậu quả của việc nuôi nhốt ĐVHD trong khu dân cư, nhiều người không thể quên hình ảnh một cậu bé 5 tuổi (ở Phú Thọ) ngồi trên giường bệnh với hai cánh tay bị mất vĩnh viễn. Người chứng kiến không khỏi xót xa và giận dữ khi biết rằng, cậu bé bị một con gấu nuôi nhốt cướp đi đôi tay ấy.  Kém cậu bé này 2 tuổi, một bé trai ở huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh cũng bị một con gấu nuôi nhốt trong nhà mình cắn mất một cánh tay.
Gần đây nhất, ngày 23/8, chị Trần Thị Yến ở huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An  đã bị con hổ nuôi nhốt tại Khu du lịch sinh thái Trại Bò, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vồ mất một cánh tay. Theo thống kê của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV), vào cuối năm 2014 có 174 cá thể hổ bị nuôi nhốt trong các trang trại và vườn thú, trung tâm cứu hộ trong cả nước.
Đề cập riêng về chuyện nuôi nhốt hổ ở Việt Nam, bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam cho biết, hiện nay Chính phủ vẫn cho phép một số trang trại tư nhân nuôi nhốt hổ. Ban đầu, việc gây nuôi hổ ở các trang trại này là bất hợp pháp do hổ bị săn bắn trái phép từ tự nhiên.
Tuy nhiên, thay vì xử phạt và tịch thu hổ ngay khi bị phát hiện, Nhà nước cho phép các chủ trang trại tiếp tục nuôi giữ các cá thể này với cam kết không tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại và sẵn sàng chuyển giao lại hổ cho Nhà nước vì mục đích bảo tồn khi có yêu cầu. Tuy nhiên, do công tác kiểm soát trại nuôi chưa hiệu quả nên để xảy ra nhiều vi phạm ở chính các trang trại này.
Sau mỗi vụ việc xảy ra, dư luận lại đặt câu hỏi vì sao người ta lại để những con vật hung dữ như vậy nuôi nhốt tại khu dân cư? Vì sao Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về Buôn bán động thực vật hoang dã nguy cấp mà vẫn để tình trạng này?... Thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, tình trạng nuôi nhốt động vật hoang dã vì mục đích kinh doanh vẫn còn. Điển hình như nuôi gấu lấy mật phục vụ khách du lịch ở TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Hay như nuôi nhốt gấu ở xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội…
Trong một khảo sát tại các cơ quan kiểm lâm đối với hoạt động gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm cho thấy, có tới 80% trên 47 Chi cục  Kiểm lâm tham gia khảo sát đều không ủng hộ việc cho phép gây nuôi thương mại các loài nguy cấp, quý hiếm như hổ với lý do chính các cán bộ kiểm lâm cũng không phân biệt được cá thể hợp pháp và bất hợp pháp.
Điều này càng chứng tỏ việc cho phép gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm nói chung và loài hổ nói riêng đã vô tình tạo nên một thị trường hợp pháp song song với thị trường bất hợp pháp, tạo cơ hội cho các đối tượng săn bắt hổ từ tự nhiên và hợp pháp hóa trong trang trại, thúc đẩy các hoạt động săn bắt bất hợp pháp. Việc không kiểm soát tiêu chuẩn chuồng trại và điều kiện gây nuôi, an toàn kỹ thuật đã dẫn đến nhiều trường hợp người dân gặp nguy hiểm khi tiếp cận các khu vực nuôi nhốt ĐVHD nguy cấp, quý hiếm.
Theo tìm hiểu của ENV, kết quả xử lý hình sự các tội phạm liên quan tới các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm được bảo vệ trong nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, trong tổng số 93 vụ việc được đưa ra xét xử, chỉ có 30 vụ việc đối tượng vi phạm bị tù giam, 63 vụ có đối tượng bị tù giam nhưng cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.
Mức phạt tù giam trung bình là 24 tháng, mức phạt thấp nhất là 5 tháng, mức cao nhất là 7 năm tù cho một đối tượng tái phạm lần thứ hai. Trong số 93 vụ việc trên thì có 17 vụ liên quan đến các đối tượng buôn bán và vận chuyển hổ nhưng chỉ có 3 đối tượng bị tù giam. Việc xử lý đối tượng liên quan đến các loài quý hiếm khác như beo lửa, báo, mèo rừng, voọc, tê giác, ngà voi… cũng không nhiều.
Những số liệu trên cho thấy việc áp dụng các quy định của pháp luật trong xét xử tội phạm về ĐVHD chưa nghiêm khắc, chưa đủ sức răn đe. Đối tượng cầm đầu đứng sau các đường dây buôn bán và vận chuyển ĐVHD hầu như không bị xử lý. Trên thực tế, đối tượng bị xử lý đều đóng vai trò ít quan trọng trong đường dây tội phạm như: người vận chuyển, đối tượng trung gian…
Trước thực trạng buôn bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu, sử dụng trái phép ĐVHD, năm 2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 03/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Để thực hiện hiệu quả chỉ đạo này, các cơ quan chức năng cần quyết tâm và nỗ lực hơn trong công tác điều tra, xét xử, đồng thời đề xuất hoàn thiện chính sách về quản lý, bảo tồn, kiểm soát buôn bán, tránh việc nuôi nhốt, buôn bán trái phép ĐVHD nguy cấp gây mất ổn định về an ninh và để lại những hậu quả đáng tiếc cho cuộc sống của cộng đồng. (Công An Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Côn Sơn là một hòn đảo vô cùng xinh đẹp và thanh bình, nơi có Vườn Quốc gia và là Ramsar thứ 6 và cũng là khu Ramsar biển đầu tiên của Việt Nam.
Nhắc tới Côn Đảo, người ta luôn nghĩ tới hình ảnh một vùng đất xa xôi của Tổ quốc - nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử với những địa danh như Hàng Dương, nhà tù…
Nhưng ở Côn Đảo còn có thảm thực vật vô cùng phong phú với sức sống mãnh liệt, là một trong những khu đất ngập nước quan trọng (Ramsar) của thế giới và ở đây còn có một mùa hồi sinh của rùa biển (hay còn gọi là vích) - loài sinh vật cổ đại của đại dương có mùa đẻ trứng diễn ra từ tháng 5 tới đầu tháng 10…
Tới Côn Đảo bằng đường thủy, tàu cập Bến Đầm lúc 6h sáng sau một hành trình dài 12 tiếng trên biển, Côn Đảo đón chúng tôi với thời tiết đẹp, khắp nơi nhuộm một màu nắng. Trên đường đi, chúng tôi có thể thấy các hòn đảo nhỏ xung quanh đảo chính Côn Sơn: Bảy Cạnh, Bãi Dương, Hòn Cau, Hòn Tài, Hòn Tre lớn.
Côn Sơn là một hòn đảo vô cùng xinh đẹp và thanh bình, nơi có Vườn Quốc gia và là Ramsar thứ 6 và cũng là khu Ramsar biển đầu tiên của Việt Nam. Khu vực trung tâm đảo rất nhỏ, lòng vòng xe máy chút là bạn đã quay về điểm xuất phát. Ở đây, bạn có thể tham quan chùa núi Một, thưởng thức món nước é ngon tuyệt và ngắm cảnh Côn Đảo từ trên cao. Sau khi thăm các công trình lịch sử và bảo tàng, nhớ ghé cơm gà ở chợ Côn Đảo và lên lịch trình viếng mộ Cô Sáu tại Nghĩa trang Hàng Dương.
Tham gia khóa huấn luyện cơ bản về cứu hộ rùa biển do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế Việt Nam (IUCN) phối hợp cùng Vườn Quốc gia Côn Đảo tổ chức, chúng tôi được tận mắt chứng kiến trên tất cả các đảo nơi rùa đẻ trứng, đều có trạm kiểm lâm và công việc của các anh ngoài tuần tra biển, bảo vệ hệ san hô còn có thêm nghề… “bà đỡ” vào mùa rùa đẻ trứng.
Chúng tôi trở thành “bà đỡ” ngay trong đêm đầu tiên ra đảo khi anh Nghĩa, Phó trạm Kiểm lâm, người được phân công trực rùa ngày hôm đó thông báo “có rùa lên”. Ngay lập tức, chiếc đèn pin duy nhất dùng để ăn cơm được tắt đi. Mọi người ra sân đứng quan sát. Anh Nghĩa hướng dẫn chúng tôi cách nhận biết rùa lên đẻ.
Thông thường vào buổi chiều, rùa sẽ thăm bãi từ xa, để tối, khi thủy triểu lên, chúng sẽ lên dò bãi và lót ổ đẻ trứng. Trong bóng tối, thật khó để nhìn thấy rùa, nhưng khi quen dần, sẽ nhìn thấy một vật màu đen đang di chuyển, kéo theo một vệt đen phía sau chính là đường đi của chúng. Một tối ở hòn Tài trung bình có 2 - 5 con lên dò bãi và thường có một con đẻ thành công. Vì hòn Tài bé, bãi cát bé nên số lượng rùa lên đẻ ít hơn so với các đảo khác.
Việc di chuyển từ dưới biển lên cho đến lúc tìm được chỗ tốt để đẻ, rồi hoàn thành quy trình đẻ trứng diễn ra khoảng hai tiếng. Nếu lên bãi mà rùa cảm thấy không an toàn, không tìm được chỗ thích hợp, chúng sẽ bỏ đi. Bởi vậy, trong quá trình rùa lên đẻ và đào ổ, tất cả phải im lặng, không được tạo ra ánh sáng trắng nào, nếu không, rùa nhạy cảm với ánh sáng và âm thanh sẽ sợ và bò về biển.
Với những con rùa “mót đẻ”, quá trình đào ổ và đẻ trứng sẽ diễn ra nhanh hơn. Khi rùa làm ổ, các cán bộ kiểm lâm thường tiếp cận chúng từ phía sau, dùng cọc đánh dấu lỗ rùa sẽ đẻ trứng, để sau khi rùa lấp ổ, còn biết được vị trí để di dời trứng vì lỗ đẻ trứng của rùa rất khó xác định sau khi rùa mẹ đã lấp ổ.
Do bản năng sinh tồn, chúng phải giấu ổ để tránh sự đe dọa từ các loài khác. Mỗi lỗ rùa tạo ra để đẻ trứng rộng khoảng 20 cm, sâu 60-80 cm và chứa được 50-180 trứng. Mỗi quả trứng như quả bóng bàn, hơi mềm.
Với loài rùa, phải đến 30 tuổi mới có thể sinh sản và mỗi mùa sinh sản, rùa có thể đẻ khoảng hai đến năm ổ trứng. Những năm tiếp theo, chúng sẽ trở về đúng nơi đó để đẻ và đến nay, khoa học vẫn chưa giải thích được hiện tượng này.
Trong quá trình rùa lấp ổ, cán bộ kiểm lâm sẽ đo hoặc gắn thẻ cho rùa để phục vụ việc nghiên cứu và theo dõi rùa trong khu vực Vườn Quốc gia.
Rùa lấp ổ rất khéo, lúc đầu bằng bơi sau, rồi lại dùng hai bơi trước quạt cát lấp tiếp, rồi bò xuống biển. Các kiểm lâm bắt đầu chuyển sang công đoạn di dời ổ trứng bằng tay. Việc di dời ổ trứng phải được tiến hành càng sớm càng tốt, vì sau 6 tiếng mới chuyển thì ổ trứng sẽ bị hỏng.
Trứng rùa nếu đủ điều kiện, sau khoảng 50 ngày thì nở. Rùa con sẽ chờ nhau nở hết rồi đồng loạt chui lên khỏi tổ. Trung bình khoảng 80% trứng sẽ nở thành con non, nhưng do đạt đến độ trưởng thành chậm và có nhiều loài đe dọa nên ước tính tỉ lệ sống sót đến khi trưởng thành của rùa chỉ còn 1/1000. Bởi vậy, loài sinh vật cổ đại này của đại dương rất cần được bảo vệ.
Hiện tại chỉ có ở đảo Bảy Cạnh (đảo lớn nhất, nơi rùa lên đẻ nhiều nhất), nếu được sự đồng ý của Vườn Quốc Gia, bạn có thể xem rùa đẻ trứng và thả rùa con, nhưng việc này dần đang bị hạn chế bởi các nguy cơ đe dọa rùa.
Bạn có thể ra Côn Đảo bằng đường thủy, xuất phát tại Cảng Cát Lở ở Vũng Tàu với giá 150 nghìn/vé giường nằm. Mỗi ngày có một chuyến, vé ưu tiên bán cho những người dân trên đảo trước nên việc mua vé tàu hơi khó khăn với những bạn ở xa. Những ngày biển động thì tàu ngừng hoạt động.
Đi đường hàng không thì có một số hãng khai thác đường bay TP HCM - Côn Đảo, Cần Thơ - Côn Đảo, các bạn có thể tham khảo giá của Vietnam Airlines hoặc của Vasco.
Để di chuyển trên đảo, có thể thuê xe đạp, xe máy, nếu nhóm đông thì đi taxi hoặc có thể đi bộ. Cuộc sống ở Côn Đảo rất yên bình, không có dịch vụ chèn ép khách du lịch, bạn có thể đi chơi tự túc mà không phải theo tour. (Giao Thông 11/10) đầu trang(
Ngày 10-10, lực lượng của Bộ Công an và Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) vẫn tiếp tục kiểm đếm, làm rõ nguồn gốc số gỗ nằm tại các bãi của Công ty TNHH MTV Bảo Hoàng.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, Hạt kiểm lâm huyện Đức Cơ xác nhận việc đột kích các xưởng gỗ được Cục An ninh nông nghiệp nông thôn (A86) - Tổng cục An ninh, Bộ Công an phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp triển khai, trong đợt kiểm tra này đoàn tập trung vào các xưởng gỗ của Công ty Bảo Hoàng (TP Pleiku, Gia Lai).
Theo UBND huyện Đức Cơ, do tính chất nghiệp vụ nên trước thời điểm vào các xưởng UBND huyện không được báo cáo sự xuất hiện của đoàn.
Hiện nay lực lượng đang chia làm hai hướng: các xưởng gỗ tại biên giới giáp ranh với Campuchia và các xưởng gỗ tại TP Pleiku.
Hiện trên địa bàn huyện Đức Cơ đang có tám doanh nghiệp được UBND tỉnh Gia Lai đồng ý cho nhập khẩu gỗ qua đường tiểu ngạch từ Campuchia về Việt Nam.
Việc nhập gỗ này lực lượng chức năng địa phương không được tham gia, huyện Đức Cơ chỉ tăng cường tuần tra canh giữ bảo vệ rừng trên lâm phần của mình, phòng ngừa việc các đơn vị trà trộn gỗ trong nước bất hợp pháp thành gỗ nhập khẩu.
Trả lời PV về việc các xưởng gỗ của mình bị “đánh úp”, ông Trương Huy Bảo - giám đốc Công ty Bảo Hoàng - cho biết tại các xưởng gỗ của ông đều là gỗ nhập từ Campuchia, Lào… Chủng loại gỗ chủ yếu là căm xe, dầu…
Từ nhiều năm trước, Bảo Hoàng cùng một số công ty khác được UBND tỉnh Gia Lai đồng ý cho nhập hàng chục ngàn m3 gỗ từ biên giới qua các cửa khẩu phụ về trong nước.
Giám đốc Bảo Hoàng cho rằng tất cả số gỗ nằm trong kho của ông đều là gỗ có giấy tờ hợp pháp, được hải quan, biên phòng làm thủ tục thông quan, đến nay riêng Bảo Hoàng đã nhập về 14.000m3 gỗ, đóng thuế cho Nhà nước 14 tỉ đồng. (Tuổi Trẻ 10/10) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Tuy An, Phú Yên phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm Sơn Hòa vừa phát hiện một vụ phá rừng tự nhiên với quy mô lớn tại khu vực rừng giáp ranh giữa xã An Lĩnh (huyện Tuy An) và xã Sơn Long (huyện Sơn Hòa).
Các đối tượng phá rừng đã sử dụng phương tiện cơ giới ủi rừng làm đường để phục vụ cho việc khai thác và vận chuyển gỗ trái phép ra khỏi rừng.
Qua kiểm tra, đo đếm, lực lượng chức năng đã xác định diện tích rừng bị ủi để làm đường hơn 2.770m2, diện tích rừng tự nhiên bị phá gần 12 ha.
Hạt Kiểm lâm huyện Tuy An đã tạm giữ 1 xe múc hiệu HITACHI, một xe mô - tô biển kiểm soát 78H1 - 10634, 15 lóng gỗ tròn (từ nhòm 3 - nhóm 7) có khối lượng 3,784m3.
Khi phát hiện lực lượng chức năng tuần tra, các đối tượng phá rừng đã chạy trốn khỏi hiện trường. Được biết, vào năm 2013, tại tiểu khu này cũng đã xảy ra một vụ phá rừng tự nhiên với diện tích hơn 3,36ha. (ANTV 11/10) đầu trang(
Tổ bảo vệ rừng thôn Bù Lư, xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập có 15 người, nhận khoán bảo vệ 2.000 ha rừng tại 5 tiểu khu 10, 11, 12, 16, 17 thuộc Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Anh Điểu Phú (32 tuổi), Tổ trưởng tỏ ra khá tinh tường trong việc đi rừng.
Địa bàn mà tổ nhận bảo vệ rừng giáp ranh tỉnh Đắk Nông nên khá phức tạp. Ít nhất đi tuần phải có 5 người, nếu tình hình phức tạp thì đem theo lương thực đi khoảng 2-3 ngày.
Do đường cách trở nên việc ăn uống cũng thiếu thốn, anh em thường mang theo gạo, rau củ, cá khô và bắt cá dưới suối, kiếm rau rừng làm thức ăn. Với công việc này, anh em được hỗ trợ trung bình từ 1-1,2 triệu đồng/người/tháng sau khi trừ tiền ăn.
Anh Điểu Phú nói: “Mình luôn xác định vì mục tiêu chung bảo vệ rừng và bảo đảm lợi ích cho thành viên trong tổ. Vì thế, anh em trong tổ đoàn kết, hỗ trợ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngoài ra, các thành viên còn đi tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn tích cực phối hợp, tránh làm hại rừng, hiểu được bảo vệ rừng là trách nhiệm chung chứ không của riêng ai”. (Báo Bình Phước 10/10) đầu trang(
Ngày 10/10, BQL Chương trình UN – REDD Việt Nam giai đoạn II tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội thảo sơ kết, đánh giá kết quả 1 năm thực hiện quy chế phối hợp giữa Sở NN&PTNT các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An trong công tác bảo vệ rừng.
Tại hội thảo, đại biểu các tỉnh cùng nhau đánh giá lại những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện quy chế phối hợp, qua đó khẳng định, công tác bảo vệ rừng của Hà Tĩnh với hai tỉnh lân cận đã được tăng cường và đạt được một số kết quả nhất định. Theo đó, lực lượng kiểm lâm 3 tỉnh đã phối hợp bắt giữ, xử lý 71 vụ khai thác, tàng trữ, buôn bán trái phép lâm sản; tịch thu gần 102 m3 gỗ các loại, 67 kg động vật rừng, 2 cưa xăng, 8 phương tiện các loại; phạt tiền nộp vào ngân sách gần 654 triệu đồng.
Tại khu vực giáp ranh với Quảng Bình, năm 2014 và những tháng đầu năm 2015, Hạt Kiểm lâm Kỳ Anh phối hợp với các chủ rừng, các lực lượng chức năng của Quảng Trạch, Tuyên Hóa tổ chức 650 lượt kiểm tra, phát hiện và xử lý 20 vụ vi phạm, tịch thu gần 51,5 m3 gỗ các loại và 2 cưa xăng. Hạt Kiểm lâm Hương Khê, Tuyên Hóa cùng chủ rừng, lực lượng biên phòng tích cực vào cuộc phối hợp triển khai thực hiện các nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng...
Tại khu vực giáp ranh giữa Hương Sơn và các huyện Thanh Chương, Nam Đàn (Nghệ An), lực lượng kiểm lâm thường xuyên cắt cử lực lượng tiến hành tuần tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật. Nhờ đó, tại các khu vực giáp ranh với Nghệ An đã không xảy ra cháy rừng, không có việc lấn chiếm rừng…
Tuy nhiên, không ít đại biểu cho rằng, công tác phối hợp bảo vệ rừng vẫn còn ở mức tự phát, theo từng vụ việc, chưa đồng bộ, hiệu quả còn hạn chế.
Để khắc phục tình trạng trên, đại biểu đã cùng nhau phân tích nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp; trao đổi những kinh nghiệm hay, bài học quý trong quá trình thực hiện nhiệm vụ… (Báo Hà Tĩnh 10/10) đầu trang(
UBND huyện Bắc Bình vừa tổ chức hội nghị đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng 9 tháng đầu năm 2015, và triển khai phương hướng, nhiệm vụ của quý 4 năm 2015.
Đến dự và chủ trì hội nghị có Ông Lê Văn Long- chủ tịch UBND huyện, ngoài ra, còn có đơn vị chủ  rừng, và đại diện lãnh đạo các xã, TT.
Trong 9 tháng đầu năm 2015, UBND huyện đã huy động lực lượng tăng cường thường xuyên kiểm tra, truy quét, ngăn chặn nhằm làm hạn chế tình hình phá rừng tại các khu vực giáp ranh. Qua đó, xử lý 152 vụ vi phạm, tịch thu trên 370m3 gỗ tròn, và gỗ xẻ các loại, bắt giữ 17 xe máy; cùng 16 phương tiện khác, thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng , đặc biệt là trong mùa khô năm 2014-2015 được cấp ủy; chính quyền và các đơn vị chủ rừng; các cá nhân, doanh nghiệp quan tâm triển khai thực hiện, cụ thể đốt chần tự nhiên 194,5 ha và cày băng chống cháy  rừng trồng được 130,7 ha.
Tại hội nghị, đại diện các địa phương, cũng như chủ rừng đã nêu lên một số tồn tại như khu vực Sa Mai giáp Ninh Loan của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng phát hiện người dân nơi đây lấn chiếm diện tích rừng để trồng cà phê, lực lượng hạt kiểm lâm đã lập biên bản; Ngoài ra, các đơn vị còn chỉ ra một số hạn chế trong công tác truy quét, cũng như xử lý vi phạm lâm luật trong thời gian qua.
Phát biểu kết luận tại hội nghị, Ông Lê Văn Long đã biểu dương sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, ngành từ huyện đến cơ sở trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời cũng yêu cầu trong những tháng cuối năm 2015 cần tiếp tục tăng cường mọi lực lượng thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; Trong đó chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiệm túc luật bảo vệ
và phát triển rừng; thực hiện tốt công tác phối hợp bảo vệ rừng giáp ranh với các xã, huyện và tỉnh bạn; đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động tuần tra, kiểm tra, truy quét và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, trên cơ sở đó góp phần ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 10/10) đầu trang(
Ngày 9-10, đoàn giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh do ông Nguyễn Ngô - Phó Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã làm việc với UBND huyện Khánh Sơn về công tác bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015.
Thời gian qua, công tác giao đất, khoán rừng cho các tổ chức, cá nhân nhận chăm sóc bảo vệ phát huy hiệu quả, hạn chế việc khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật. Người dân địa phương đã trồng mới hơn 2.273ha rừng sản xuất theo Chương trình 147, góp phần nâng độ che phủ rừng trên địa bàn huyện từ 49,7% năm 2011 lên 51,2% năm 2014...
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Ngô đề nghị huyện Khánh Sơn tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển rừng; đẩy mạnh công tác giao đất khoán rừng, tạo chuyển biến tích cực trong lĩnh vực lâm nghiệp. Bên cạnh đó, tạo điều kiện để các chủ rừng, nhất là các hộ gia đình và cá nhân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp trên diện tích rừng được giao... (Báo Khánh Hòa 9/10) đầu trang(
Ngày 12-10, tin từ sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết, đơn vị này vừa nhận báo cáo chính thức của Chi cục Kiểm lâm (KL) Quảng Nam về tình hình vụ khai thác trái phép lâm sản tại rừng phòng hộ (RPH) Sông Tranh.
Báo cáo cho thấy, qua theo dõi nắm tình hình, từ ngày 22 đến 24-9, Chi cục KL tổ chức kiểm tra tại khu vực thôn 2, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My (cách trạm Quản lý bảo vệ rừng thuộc BQL RPH Sông Tranh khoảng 3 km) thì phát hiện 25,760m3 gỗ xẻ (124 phách) được cất giấu trái phép tại hai điểm khác nhau.
Mở rộng kiểm tra, phát hiện tại thôn 8, xã Phước Hiệp (huyện Phước Sơn, địa bàn giáp ranh với thôn 2, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My) 3,937m3 gỗ xẻ (16 phách) cất giấu trái phép không có người nhận. Đội KL cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 đã lập hồ sơ vi phạm, tạm giữ tang vật, tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, trong thời gian trên, tổ công tác kiểm tra tại tiểu khu 742 trong lâm phận BQL RPH Sông Tranh phát hiện nhiều cây gỗ bị chặt hạ đã được cắt khúc, đường kính trung bình 70-80cm, một số đoạn đã được xẻ phách và chuyển ra khỏi hiện trường.
Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của sở NN&PTNT Quảng Nam, ngày 30-9-2015, Hạt KL RPH Sông Tranh phối hợp với BQL RPH Sông Tranh kiểm tra hiện trường rừng tại khu vực thôn 2, xã Trà Bui, phát hiện mới hai vụ khai thác rừng trái phép, lập biên bản tạm giữ 19 lóng (19,930m3) gỗ Chò. Trong đó, tại Khe Rát 15 lóng (13,270m3) và tại Suối Thùng Phi có 4 lóng (6,66m3).
Hạt KL RPH Sông Tranh đang phối hợp với các cơ quan chức năng xác minh, xử lý theo quy định pháp luật. (Công An Tp.HCM 12/10) đầu trang(
Ông Nguyễn Đắc Phương- Phó Chủ tịch UBND huyện Sông Mã (Sơn La) tâm sự: Lực lượng kiểm lâm huyện Sông Mã đã tham mưu đắc lực cho cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển mới, khoanh nuôi, bảo vệ vốn rừng.
Bà Lò Thị Lanh ở bản Mường Nưa, xã Mường Lầm, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cho biết: “Bao năm qua người dân sống dựa vào rừng để lấy thức ăn, lấy nhà cửa, lấy nguyên liệu và đất sản xuất... Ai cũng nghĩ rừng là vô tận nên trách nhiệm bảo vệ chưa cao. Nhưng bây giờ thì có ai phá rừng nữa đâu. Không phải bởi chúng tôi đã giàu có mà vì chúng tôi đã hiểu nhiều hơn về giá trị của rừng…”. Nhìn về phía các bản: Pá Có, Tà Cọong, Pá Nhạp, Lốm Hỏm… - nơi có cả ngàn ha rừng của xã Mường Lầm đang xanh ngăn ngắt, tôi hiểu là bà Lanh đang nói rất thật.
Mường Lầm là xã nhiều khó khăn của huyện Sông Mã, cách trung tâm huyện lỵ tới gần 40km với điều kiện giao thông rất khó khăn, cư dân chủ yếu là bà con dân tộc Thái, Mông với nghề làm nương là chính. Bởi thế, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng ở đây chẳng dễ dàng gì, nhất là trong những mùa gieo hạt.
“Ở đây lúa ruộng ít nhưng khí hậu, chất đất lại hợp với cây nhãn nên nhà ai cũng muốn có một mảnh vườn để thêm cơ hội xóa nghèo, làm giàu. Nhưng đất lâm nghiệp đã giao, mốc chỉ giới đã rõ, hiểu biết về trách nhiệm bảo vệ rừng đã được nâng lên nên dù rất muốn có thêm đất sản xuất cũng chẳng ai dám xâm lấn đất rừng…” – anh Hà Văn Hay, dân bản Huổi Én, xã Mường Lầm, bảo vậy.
“3 năm về huyện Sông Mã làm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm cũng như nhiều năm trước làm việc ở  Chi cục Kiểm lâm Sơn La, tôi chưa bao giờ thấy tinh thần bảo vệ và phát triển vốn rừng ở huyện Sông Mã lên cao như bây giờ. Nhờ thế, không chỉ độ che phủ của rừng đã nâng lên tới gần 50% mà nhiều cây gỗ quý, thú quý cũng bắt đầu hồi sinh. Ngay như con voi sau bao năm lạc bầy giờ cũng thường xuyên lưu trú với rừng nơi đây. Chúng tôi rất trân trọng những kết quả đó và luôn huy động lực lượng tăng cường bám nắm, đồng hành cùng nông dân giữ rừng”.
Đánh giá về hiệu quả phát triển vốn rừng ở huyện Sông Mã, ông Nguyễn Đắc Phương- Phó Chủ tịch UBND huyện tâm sự: Lực lượng kiểm lâm huyện Sông Mã đã tham mưu đắc lực cho cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển mới, khoanh nuôi, bảo vệ vốn rừng cũng như tuyên truyền cho người dân hiểu rõ về 2 nội dung: Ích lợi của rừng và trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi trong tham gia, bảo vệ phát triển vốn rừng. Nhờ thế, hiệu quả công tác kiểm lâm đạt cao và hiệu quả bảo vệ rừng của huyện cũng chuyển biến rõ nét.
Ông Phương cho hay, từ đầu năm đến nay, với gần 56.000ha rừng, toàn huyện không xảy ra những vi phạm lớn. Những vụ vi phạm nhỏ cũng giảm thiểu tới mức thấp nhất so với những năm vừa qua. Hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển vốn rừng ở huyện Sông Mã sẽ còn được nâng lên nhiều hơn, đời sống người bảo vệ rừng sẽ được cải thiện tốt hơn nếu như mức hưởng phí dịch vụ môi trường rừng ở huyện Sông Mã được hưởng như mức bình quân của các địa bàn thuộc vùng hồ sông Đà.
Hiện mức phí dịch vụ môi trường rừng giữa huyện Sông Mã và các địa bàn vùng hồ sông Đà chênh nhau tới hàng chục lần, nên cũng có những thiệt thòi cho người dân trong việc đóng góp bảo vệ và phát triển rừng. (Dân Việt 9/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2015, UBND tỉnh phê duyệt và giao chỉ tiêu kế hoạch trồng 12.000 ha rừng. Trong đó, trồng rừng có nguồn vốn hỗ trợ hơn 7.958 ha và trồng rừng bằng vốn tự có của doanh nghiệp, nhân dân là 4.041,7 ha.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo các ban quản lý dự án lâm nghiệp cơ sở phối hợp với chính quyền các địa phương đẩy nhanh tiến độ khảo sát thực địa, giải phóng đất, chuẩn bị hiện trường, nguồn cây giống chất lượng,v.v... phục vụ trồng rừng năm 2015.
Kết quả đến cuối tháng 9, toàn tỉnh đã trồng hơn 12.561 ha rừng, đạt 104,7% kế hoạch giao. Trong đó, trồng rừng sản xuất bằng nguồn vốn đầu tư phát triển được 5.017,7 ha; trồng rừng bằng nguồn vốn ủy thác trồng rừng thay thế được 2.441 ha; các doanh nghiệp và nhân dân tự trồng hơn 4.654 ha... Bên cạnh công tác trồng rừng, các đơn vị cũng đã khoán  bảo vệ 211.379 ha rừng đến người dân; chăm sóc 46.843 ha rừng trồng, đạt 100% kế hoạch.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến các tầng lớp nhân dân nên an ninh rừng tương đối ổn định, trong tỉnh không có điểm nóng về khai thác lâm sản trái phép. (Báo Thanh Hóa 10/10) đầu trang(
Đến hết tháng 9, toàn tỉnh đã trồng rừng vượt kế hoạch đề ra với trên 14 nghìn ha, đạt 103%, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; đặc biệt ý thức tự giác trồng rừng của người dân.
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), năm 2015, để đảm bảo tiến độ trồng rừng, Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, thành lập đoàn công tác kiểm tra tại một số huyện được giao diện tích trồng rừng lớn để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác trồng rừng năm 2015.
Đồng chí Nguyễn Đình Quang, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo cấp tỉnh trực tiếp đi kiểm tra tại 4/7 huyện về công tác trồng rừng. Ban chỉ đạo các huyện, thành phố chỉ đạo Ban chỉ đạo các xã kiện toàn, củng cố các tổ, đội tuần tra, kiểm tra, Ban phát triển rừng ở thôn, bản.
Huyện Yên Sơn là huyện được giao kế hoạch trồng rừng nhiều nhất năm nay với kế hoạch giao trồng 4.100ha. Đến giữa tháng 9, toàn huyện đã thực hiện được gần 4.300ha, đạt 104,8% kế hoạch. Ở nhiều xã, ý thức trồng rừng của người dân đã được nâng lên từ chỗ phải tuyên truyền, vận động đến chỗ trở thành ý thức tự giác của người dân.
Ông Nguyễn Đức Quyến, Phó Chủ tịch UBND xã Thắng Quân (Yên Sơn) cho biết, từ năm 2011 đến nay xã luôn về đích sớm, vượt kế hoạch trồng rừng. Hiện nay, toàn xã có 1.300 ha rừng, trong đó có 1.200 ha rừng trồng, còn lại là rừng phân tán. Công tác vận động trồng rừng ở đây vẫn được tiến hành thường xuyên song không còn vất vả như trước. Nhiều hộ đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp nên bà con yên tâm trồng rừng.
Cùng với đó là giá trị kinh tế cao từ rừng mang lại, nhiều hộ có nghề trồng rừng lâu năm thu nhập 200 - 300 triệu đồng trở lên. Nếu như trước đây, sau khi thu hoạch, các hộ phải chờ một khoảng thời gian sau mới trồng, có khi cỏ dại mọc um tùm mới trồng. Nhưng nay, khai thác hết chu kỳ này lại trồng tiếp chu kỳ khác. Có khi chỉ nửa tháng sau khai thác là đã có cây lên xanh rồi.
Huyện Sơn Dương đã hoàn thành và vượt kế hoạch trồng rừng từ cuối tháng 8. Mặc dù ban đầu triển khai trồng hơn 2.255 ha rừng tương đối khó khăn do thời tiết không thuận lợi, nhiều xã chưa thực sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo. Không chỉ những xã vốn có tiếng là đất rừng như Lương Thiện, Đông Thọ, Đồng Quý... mà ngay cả những xã, thôn trước đây vận động trồng rừng khó khăn nay cũng đã phát động được phong trào trồng rừng tự giác trong nhân dân.
Ông Ma Xuân Hạ, trưởng thôn Cầu, xã Minh Thanh chia sẻ, vài năm gần đây, người dân thôn Cầu đã tự giác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng do nhận thấy giá trị từ rừng mang lại. Hiện cả thôn có trên 70 ha rừng trồng, trên 95% người dân có rừng. Thôn không còn diện tích đất trống. Tỷ lệ hộ nghèo của thôn giờ chỉ còn dưới 10%, năm 2014 có 7 hộ nghèo thoát nghèo cũng nhờ phát triển kinh tế rừng. Rừng sau khi khai thác được người dân phát dọn thực bì và trồng ngay đến đó chứ không đợi thời tiết hoặc có thời gian nghỉ ngơi.
Ngay như gia đình ông Hạ có 4 ha rừng, vừa khai thác 3 ha, gia đình ông đã nhập cây giống về trồng ngay. Ông Hạ đã trồng rừng từ 8 năm nay. Là trưởng thôn vừa gương mẫu, ông Hạ vừa vận động người dân tự giác trồng rừng và tuyên truyền về lợi ích kinh tế rừng mang lại.
Đã có thời điểm, rừng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của một số cây màu ngắn ngày. Nhưng qua các năm, tỉnh ta đều thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng rừng đúng tiến độ đề ra. Điều đó đã khẳng định sự quan tâm chỉ đạo đồng bộ của lãnh đạo từ cấp tỉnh đến cơ sở. Công tác tuyên truyền có phương pháp đi đôi với việc giao kế hoạch mang tính khả thi. Từ đó mà nhận thức của người dân được nâng lên.
Niềm tin của người trồng rừng vào cơ chế, chính sách khuyến khích trồng rừng của Nhà nước được khẳng định. Đây chính là điều kiện thuận lợi để tỉnh ta triển khai thực hiện hiệu quả Đề án nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng trồng, giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. (Báo Tuyên Quang 10/10) đầu trang(
Đã chấm hết những ngày sống du canh du cư, đi khắp núi rừng đốt nương làm rẫy, những chàng trai trẻ người Mông ở thôn Suối Lóp, xã Suối Giàng (Văn Chấn) như Hảng A Gia hôm nay luôn coi những cánh rừng quê hương như chính cuộc sống của mình và anh đã truyền ngọn lửa đam mê, quyết tâm giữ rừng tới đồng bào một cách tự nhiên, hồn hậu...
Sinh ra và lớn lên trong gia đình không mấy khá giả, có tới 8 anh chị em, ở nơi nghèo khó như Suối Lóp, ngay từ khi còn nhỏ Hảng A Gia đã thường xuyên được ông bà, bố mẹ dẫn theo khi lên rừng. Trong suốt những tháng năm tuổi thơ, Gia và các anh em trong nhà đã cùng ăn, cùng nghỉ, cùng chơi đùa dưới những tán lá rừng, coi những cây rừng như những người bạn thân thiết. Bởi vậy, anh đã sớm nhận thức được vai trò của rừng đối với cuộc sống cộng đồng.
Không chỉ điều hòa khí hậu giúp cho mưa thuận gió hòa, giữ nước giúp cho cây cối hoa màu sinh trưởng và phát triển tốt, rừng còn là nơi cung cấp chất đốt, rau, củ quả nuôi sống bao thế hệ đồng bào Mông ở Suối Lóp này. Chính điều đó đã thôi thúc anh quyết tâm giữ rừng và gắn bó thân thiết với rừng. Càng yêu càng muốn bù đắp cho rừng. Từ những năm 1996 – 1997, anh đã thực hiện mong muốn biến những vùng đất cỏ hoang lau lách, cằn cỗi lâu năm thành những cánh rừng xanh ngút ngàn.
Qua trải nghiệm thực tế ở xã An Lương cùng huyện, anh Gia nhận thấy kinh tế của nhiều hộ dân ở đây đã thực sự giàu lên nhờ cây quế và  anh quyết tâm mua 5 kg hạt quế với giá 60 nghìn đồng/1 kg về tự ươm bầu và trồng theo hướng dẫn của những người có kinh nghiệm ở An Lương. Là người đầu tiên đưa quế về trồng ở Suối Lóp, anh Gia đã gặp phải không ít sự phản đối của người dân, đặc biệt là các cụ cao tuổi khi cho rằng cây quế không phải là cây trồng phù hợp với đất đai, khí hậu của Suối Lóp.
Khi những cây quế đầu tiên bị chết mà không rõ nguyên nhân, ngay cả một số người thân thiết trong dòng họ cũng quay lưng lại với anh, muốn anh nản chí và bỏ cuộc để không phải mất công mất sức nhiều.
Anh Gia tâm sự: “Nếu chỉ vì những lý do đó mà mình từ bỏ quyết tâm thì mình đã không có ngày hôm nay. Mình đã quyết tâm chứng minh cho mọi người thấy được cây quế hoàn toàn có thể sinh trưởng và phát triển tốt tại Suối Lóp”. Chính sự quyết tâm của bản thân, sự chăm chỉ, cần cù và cả những động viên, hỗ trợ của người thân trong gia đình, sau 3 năm, 5 ha quế đầu tiên của gia đình anh đã lớn lên và phát triển ổn định, khẳng định một hướng đi, lựa chọn mới phù hợp với đất rừng Suối Lóp.
Chưa được khai thác đồng loạt, nhưng năm 2013 từ khai thác tỉa cây quế đã mang lại cho gia đình anh Gia nguồn thu gần 120 triệu đồng. Trồng cây đã đến ngày hái quả, giờ đây anh Gia đã tự tin đi vận động người dân cùng trồng cây quế, phủ xanh dần diện tích đất trống, đồi núi trọc ở địa phương. Với vai trò là Bí thư Chi bộ thôn, điều đầu tiên khi vận động nhân dân anh nói: “Trồng quế không chỉ đem lại hiệu kinh tế cao, phù hợp với đất đai, khí hậu của Suối Lóp, mà bà con cũng không phải chăm sóc nhiều. Trong 3 năm đầu, vẫn có thể canh tác các giống cây trồng ngắn ngày khác như ngô, khoai, sắn…”.
Để hướng dẫn nhân dân cùng làm theo, Gia không ngại khó, ngại khổ đến từng hộ dân trong thôn để tuyên truyền, vận động người dân bám đất, giữ rừng; học cách đào hố, trồng quế ngày càng nhiều thêm. Với những hộ dân còn e ngại, sợ diện tích đất của mình không thích hợp với cây quế, anh Gia sẵn sàng cắt một phần diện tích đất của gia đình mình chia cho các hộ dân. Học tập theo anh, toàn thôn Suối Lóp có 60 hộ thì giờ đã có 53 hộ dân trồng quế. Ngoài ra, bà con còn trồng chè Shan tuyết - giống chè đặc sản của địa phương và chăn nuôi trâu, bò, dê, lợn để cải thiện đời sống gia đình.
Chỉ tay về phía đồi quế 15 năm tuổi của gia đình, anh Hảng A Di thôn Suối Lóp xã Suối Giàng phấn khởi nói: “Nếu như thằng Gia nó không mạnh dạn mang cây quế về thì những đồi quế kia vẫn chỉ là đất trắng bạc màu. Nó trồng quế cho hiệu quả kinh tế cao, mình cũng học tập trồng theo 1ha. Đến nay, đã được 15 năm, năm ngoái bán một nửa thôi đã thu về 100 triệu đồng đấy”.
Thôn Suối Lóp hiện được giao quản lý, bảo vệ 100 ha rừng tự nhiên phòng hộ, ở vị trí đầu nguồn, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ nước, giảm thiểu lũ ống, lũ quét trên địa bàn thôn và cả xã Suối Giàng. Trăn trở làm thế nào để nâng cao được nhận thức của bà con, gắn liền việc bảo vệ rừng với nhu cầu lợi ích phát triển kinh tế của nhân dân, từ đó nêu cao ý thức bảo vệ rừng, Gia đã học hỏi kinh nghiệm từ các xã lân cận và tận dụng diện tích rừng già khí hậu ẩm ướt quanh năm để trồng cây thảo quả. Năm 2010, Hảng A Gia đã trồng thử nghiệm 1 ha cây thảo quả, thấy hiệu quả kinh tế cao anh tiếp tục mở rộng diện tích, hiện nay đã trồng được trên 2 ha. Năm 2014, anh thu về trên 1 tấn quả tươi.
Không chỉ với thôn Suối Lóp, mà anh Gia đã trở thành người đầu tiên ở xã Suối Giàng đưa cây thảo quả về trồng. Nhiều người dân trong thôn, trong xã thấy vậy đã bắt tay vào trồng thảo quả. Hiện diện tích thảo quả của xã đã đạt trên 10 ha. Đây là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và không mất công đầu tư chăm sóc.
Tuy nhiên, cũng là giống cây trồng chỉ sống được ở những nơi có khí hậu ẩm ướt, dưới tán cây rừng, để phát triển được đòi hỏi người dân phải giữ tốt diện tích rừng đầu nguồn. Do đó, từ nhiều năm trở lại đây, không phải tuyên truyền nhiều nhưng đồng bào ở Khe Lóp, ở Suối Giàng đã tự nhận thức việc bảo vệ rừng chính là bảo vệ chính cuộc sống của mình.
Những ngày tháng 9, tháng 10 này, đồng bào Mông trong thôn Suối Lóp không chỉ vui mừng khi bẻ những bắp ngô vàng óng trên nương, thời điểm này cũng là mùa thu hoạch thảo quả. Những chùm thảo quả chín đỏ mọng được người dân nâng niu xếp vào bao để thương lái vào tận nơi thu mua.
Đã ngoài 80 tuổi, nhưng già làng Sùng A Dê - người có kinh nghiệm 33 năm làm trưởng thôn vui mừng khôn siết khi thấy người dân trong xã, trong thôn có thêm một hướng đi mới để thoát nghèo và làm giàu. “Lớp trẻ bây giờ chúng nó tiến bộ lắm - nhất là thằng Hảng A Gia. Nhờ có nó mà người dân đã biết trồng quế, trồng thảo quả và giữ rừng để cuộc sống  ngày càng no ấm hơn. Vui lắm, ưng cái bụng lắm!” - già làng Sùng A Dê nói. (Báo Yên Bái 9/10) đầu trang(
Kế hoạch năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng hơn 3.687 ha rừng thay thế; trong đó, các doanh nghiệp làm dự án thủy điện phải trồng hơn 3.192 ha và ngoài thủy điện là hơn 495 ha.
Tuy nhiên, đến hết tháng 9, thời điểm mà “mùa trồng rừng” đã gần hết nhưng các doanh nghiệp thủy điện mới trồng được 431 ha, đạt 11,69% kế hoạch, còn các công trình khác ngoài thủy điện thì vẫn chưa triển khai.
Theo quy định thì tất cả các cá nhân, tổ chức khi sử dụng diện tích rừng sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp đều phải trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng đã sử dụng. Các dự án, khi được phê duyệt đầu tư phải đồng thời được phê duyệt dự án trồng rừng thay thế.
Các dự án đã được phê duyệt đầu tư và đi vào hoạt động thì phải được phê duyệt phương án đầu tư trồng rừng thay thế bổ sung và hoàn thành việc trồng rừng thay thế trong vòng 18 tháng sau khi được phê duyệt. Tuy nhiên thực tế cho thấy, đến thời điểm này, hầu như các quy định trên chưa được thực hiện hiệu quả.
Trong năm 2015, UBND tỉnh đã phê duyệt phương án trồng rừng với tổng diện tích là hơn 1.712 ha của 6 doanh nghiệp trong tổng số 9 doanh nghiệp phải trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, Công ty Thủy điện Đồng Nai phải trồng gần 1.380 ha/2.753 ha, Ban Quản lý Thủy điện Đồng Nai 5: 213 ha/213 ha, Công ty Mê Kông II 101,6 ha/101,6 ha, Công ty Cổ phần Công trình Việt Nguyên: 1 ha/1 ha, Công ty Cổ phần N&S: 12,68 ha/12,68 ha và Công ty TNHH MTV Vận tải Quốc Long 4,19 ha/4,19 ha. Thế nhưng, trên thực tế phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện. Trên địa bàn có 431 ha rừng trồng thay thế được triển khai nhưng chủ yếu là của Công ty Thủy điện Đồng Nai.
Nguyên nhân dẫn đến “vỡ kế hoạch” là do trong quá trình triển khai trồng rừng thay thế, một số đơn vị chủ dự án thủy điện không chấp hành nghiêm túc việc trồng rừng, đưa ra nhiều lý do để kéo dài thời gian. Trong đó, nhiều chủ dự án đầu tư lại cho rằng do diện tích trồng rừng lớn, thời gian chuẩn bị lại ngắn nên các đơn vị gặp khó khăn trong công tác chuẩn bị nguồn kinh phí để tổ chức triển khai.
Chủ đầu tư dự án các công trình thủy điện không có chuyên môn nghiệp vụ trong công tác trồng và quản lý các dự án trồng rừng. Do đó, khi triển khai thực hiện, các đơn vị gặp nhiều khó khăn về lập phương án trồng rừng, hồ sơ thiết kế trồng rừng, kỹ thuật trồng, chăm sóc và quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Để xảy ra thực trạng trên một phần do các đơn vị chức năng trong quá trình thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư có sử dụng đất lâm nghiệp đã chưa thực sự chú ý đến những quy định liên quan đến trồng rừng thay thế.
Vừa qua, Sở Nông nghiệp-PTNT đã phối hợp với các ngành chức năng rà soát, kiểm tra các dự án sử dụng đất rừng mà chưa trồng rừng thay thế. Nhiều chủ đầu tư dự án thủy điện thừa nhận năng lực trồng rừng hạn chế và xin được nộp kinh phí trồng rừng thay thế cho địa phương. Trên cơ sở này, Sở Nông nghiệp-PTNT đã làm việc với các chủ dự án thủy điện để xác định diện tích, thời gian và số tiền trồng rừng thay thế và báo cáo UBND tỉnh xem xét các đề xuất, kiến nghị phương án xử lý với từng đơn vị.
Một vướng mắc nữa ảnh hưởng đến việc trồng rừng thay thế là quỹ đất để bố trí cho việc trồng rừng thay thế chủ yếu là dựa trên cơ sở báo cáo rà soát, thống kê của các đơn vị chủ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình bàn giao ngoài thực địa thì nhiều diện tích đất bị người dân xâm canh hoặc đang xảy ra tranh chấp.
Hiện nay, các ngành, địa phương mới bố trí đất cho 7 chủ dự án thủy điện với diện tích hơn 1.757 ha, số còn lại là gần 1.472 ha chưa có quỹ đất để bố trí. Các dự án ngoài thủy điện đã bố trí cho 2 chủ dự án với diện tích gần 5 ha, còn lại chưa có đất để bố trí là hơn 490 ha. Theo Sở Nông nghiệp-PTNT thì trong thời gian qua, toàn tỉnh đã có hơn 1.900 ha bố trí cho việc trồng rừng đã bị người dân xâm canh, lấn chiếm và rất khó thu hồi.
Phát biểu tại hội nghị đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội mới đây, đồng chí Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, “mùa trồng rừng” đến nay đã kết thúc. Như vậy, chỉ tiêu về trồng rừng thay thế trong năm nay của tỉnh là không hoàn thành được. Rút kinh nghiệm trong năm 2015, ngành Nông nghiệp và các địa phương cần phải chủ động xây dựng các kế hoạch, chỉ tiêu về trồng rừng thay thế một cách cụ thể và sát hợp.
Trên cơ sở các chỉ tiêu phấn đấu, các ngành, địa phương cần nâng cao công tác phối kết hợp, chủ động triển khai các phương án, kế hoạch cụ thể mới nâng cao được công tác trồng rừng thay thế trong năm 2016. (Báo Đắk Nông 9/10) đầu trang(
Đối với một tỉnh vùng cao, còn nhiều khó khăn như Bắc Kạn thì tài nguyên rừng được coi là một tiềm năng, lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế.
uy nhiên, từ nhiều năm nay việc quản lý, bảo vệ rừng vẫn thường được coi là trách nhiệm riêng của lực lượng kiểm lâm mà chưa có sự hỗ trợ thực sự từ cộng đồng xã hội. Khắc phục những bất hợp lý này, một cách làm hay ở nhiều địa phương hiện nay đó là có những cơ chế giúp người dân có thu nhập hợp pháp từ rừng, đặc biệt là việc phát triển kinh tế từ trồng rừng, qua đó đã giảm được những tác động xấu đến rừng.
Bao đời nay người dân ở thôn Phia Khao xã Bản Thi vẫn chủ yếu sinh sống dựa vào rừng. Đó có thể là phát nương, làm rẫy, là chặt hạ những cây gỗ quý để bán . Vậy nhưng, 5 năm trở lại đây, khi khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập thì tình trạng phá rừng làm nương rẫy đã giảm đáng kể.
Trong đó, có một lý do quan trọng đó là người dân được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng. Hơn thế nữa, các gia đình ở đây cũng đã được hỗ trợ xây dựng  chuồng trại để phát triển chăn nuôi, trồng rừng, các loại cây có giá trị kinh tế cao.
Đến nay, nhờ phát triển kinh tế rừng đúng hướng, có thêm thu nhập từ rừng và đất rừng, người dân đã không còn có những tác động xấu đến khu bảo tồn. Ông Phạm Hữu Nghiệp, Thôn Phía Khao, xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn cho biết:  Với tinh thần đảng viên đi trước, ở đây đa số đồng bào Dao nên mình đi trước làm trước để người dân làm theo.
Cùng với các chính sách giúp người dân phát triển kinh tế, một tín hiệu vui trong phát triển kinh tế rừng hiện nay đó là người dân đã thấy được lợi ích từ trồng rừng, đã có không ít hộ dân tự bỏ vốn trồng rừng và họ biết cách lựa chọn những loại cây trồng phù hợp, cho hiệu quả kinh tế. Theo người dân xã Đại Sảo, huyện Chợ Đồn: Ở đây ít đất nông nghiệp thì trồng rừng là hướng đi rất đúng, đặc biệt là cây quế. Cây quế thực sự là cây giúp xóa đói giảm nghèo. Nếu giá ổn định như hiện nay thì bà con sẽ có đời sống khá.
Xã hội hoá công tác quản lý và bảo vệ rừng là giải pháp quan trọng hiện nay, điều này đã thể hiện rất rõ ở huyện Chợ Đồn. Một kinh nghiệm quan trọng của địa phương này chính là công tác tuyên truyền, vận động giúp người dân hiểu rõ lợi ích của việc bảo vệ rừng bằng cách gắn lợi ích trực tiếp của người dân với diện tích rừng được giao.
Đến nay, tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện đã đạt trên 12.000 ha và là địa phương có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh. Ông Hà Sỹ Huân, Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Đồn cho biết: Thừa hưởng các chính sách hỗ trợ như: 661, Pam… vừa qua một số diện tích rừng đã đến tuổi khai thác, đem lại nguồn thu khá cao cho người dân. Đặc biệt ở các xã: Bình Trung, Đại Sảo, yên Nhuận… Góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Ưu tiên phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là những loại cây mang tính hàng hóa cao là chủ trương quan trọng của tỉnh Bắc Kạn. Trong đó, kinh tế từ rừng đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao mức sống của người dân. Đặc biệt là với những thôn bản thiếu đất sản xuất nông nghiệp.
Ông Trần Văn Đại, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới cho biết: Bà con ở đây đã trồng rừng từ nhiều năm nay, đất sản xuất nông nghiệp ít. Người dân trồng nhiều loại cây như quế, trúc và đã cho thu hoạch. Phải khẳng định kinh tế rừng với Tân Sơn là chủ đạo.
Tín hiệu vui từ kinh tế rừng những năm qua sẽ là động lực lớn để người dân trong tỉnh tiếp tục  phát triển lĩnh vực này hơn nữa trong thời gian tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 9/10) đầu trang(
Mục thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân cho biết: Tại khu vực đầu nguồn hồ Hội Sơn, xã Cát Sơn (Phù Cát, Bình Định), tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp để canh tác, trồng keo diễn ra phổ biến. (Nhân Dân 11/10) đầu trang(
Sáng 9/10, Công ty cổ phần Tân Vĩnh Cửu (Tavico) đã chính thức khai trương Trung tâm phân phối nguyên liệu gỗ nhập khẩu tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Đây là mô hình phân phối nguyên liệu gỗ chuyên nghiệp đầu tiên và có qui mô lớn nhất tại Việt Nam.
Trung tâm này diện tích 158 ngàn m2 bao gồm Chợ đầu mối gỗ tròn, Siêu thị nguyên liệu gỗ xẻ sấy, Kho ngoại quan và Khu dịch vụ khách hàng. Trung tâm kinh doanh các loại gỗ cứng nhập khẩu từ Mỹ, Châu Âu, Canada, Nhật, Úc, Nga… để cung cấp nhu cầu trong nước và khu vực Châu Á.
Trung tâm cũng cung cấp các dịch vụ như tư vấn sử dụng nguyên liệu, xẻ sấy gia công gỗ, hợp tác cung ứng nguyên liệu cho công trình, mua bán ký gửi các nguyên phụ liệu ngành gỗ và vận chuyển hàng hóa.
Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tavico cho biết, Trung tâm phân phối nguyên liệu gỗ Tavico có mục tiêu tạo ra nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, ổn định và hiệu quả cho khách hàng. Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa hội nhập sâu vào thị trường thế giới, theo đó tham gia vào Cộng đồng kinh tế Asian, hiệp định TPP.
Tavico chọn thời điểm này đầu tư Trung tâm để chuẩn bị chu đáo mọi nguồn lực đón đầu những cơ hội mới. “Trung tâm phân phối gỗ nguyên liệu nhập khẩu Tavico ra đời sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp gỗ Việt ở thị trường quốc tế. Tavico cam kết sẽ mang lại sản phẩm và dịch vụ tốt nhất cho khách hàng không chỉ trong nước mà cả các nước Đông Nam Á, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Hiện tại, năng lực cung cấp của Trung tâm này là 72 ngàn m3 gỗ tròn và 75 ngàn m3 gỗ xẻ sấy/năm.
Thành lập năm 2005, Tavico được biết đến là nhà phân phối nguyên liệu gỗ nhập khẩu lớn nhất Việt Nam. Tavico đang nỗ lực tham gia để trở thành một “mắt xích” quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành công nghiệp gỗ thôn qua việc tạo ra nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, hiệu quả và ổn định. Tavico đã hợp tác với các nhà cung cấp khai thác gỗ chuyên nghiệp, có uy tín từ Mỹ, Châu Âu, Canada, Nhật, Úc, Nga… Nguồn gỗ do Tavico nhập khẩu đều có giấy chứng nhận xuất xứ và được kiểm soát chặt chẽ từ nguồn khai thác hợp pháp.
Nhân dịp này, Tavico cũng tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 10 năm thành lập công ty. (Đầu Tư 9/10) đầu trang(
Hiện nay, số liệu thống kê về xuất nhập khẩu (XNK) gỗ giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc có độ lệch khá lớn.
Chỉ riêng kim ngạch XK gỗ năm 2014, phía Hải quan Trung Quốc đưa ra con số nhiều hơn gần 600 triệu USD so với Việt Nam. Điều này dấy lên quan ngại về thực trạng gian lận thương mại gây thâm hụt ngân sách và khiến chính sách về thương mại gỗ đưa ra không sát với thực tế.
Việt Nam và Trung Quốc có chung đường biên giới kéo dài qua 7 tỉnh của Việt Nam với 29 cửa khẩu lớn nhỏ khác nhau, chưa kể các cửa khẩu phụ, đường mòn lối mở... Với dân số khoảng 1,4 tỷ nguời, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 7% và tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng, Trung Quốc hiện là một trong những thị trường XK lớn nhất của Việt Nam.
Có một thực trạng là số liệu thống kê về tình hình XNK các mặt hàng giữa Việt Nam và Trung Quốc có độ chênh lệch lớn. Gỗ cũng nằm trong danh mục có sự khác biệt rõ rệt về số liệu thống kê giữa hải quan 2 nước. Trong đó, số liệu thống kê từ Hải Quan Trung Quốc luôn lớn hơn số liệu thống kê từ Hải quan Việt Nam.
Theo Ts. Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trends, Việt Nam XK nhiều mặt hàng gỗ sang Trung Quốc, đặc biệt là trong 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, nhìn vào thống kê kim ngạch XNK gỗ giữa Hải quan Việt Nam và Trung Quốc có sự chênh lệch lớn. Năm 2012, kim ngạch XK gỗ được Hải quan Việt Nam thống kê là 710,5 triệu USD, số liệu Hải quan Trung Quốc cung cấp là 835,3 triệu USD, chênh lệch 125 triệu USD. Năm 2013, con số chênh lệch này cao hơn 1,5 lần, từ 125 triệu USD lên 184 triệu USD. Tuy nhiên, con số sau đó tăng vọt khoảng 3,2 lần, ở mức 184 triệu USD năm 2013 lên gần 600 triệu USD năm 2014.
Kim ngạch NK gỗ cũng có sự chênh lệch. Thống kê của Trung Quốc cho thấy số gỗ xuất sang Việt Nam nhiều hơn con số Việt Nam thống kê lượng gỗ nhập từ quốc gia này. Năm 2012, Hải quan Trung Quốc đưa ra kim ngạch XK gỗ sang Việt Nam là 251,26 triệu USD; của Hải quan Việt Nam là 201,241 triệu USD, chênh 50,02 triệu USD. Năm 2013, độ chênh giảm xuống còn 10,79 triệu USD, năm 2014 là 51,61 triệu USD.
Ts. Tô Xuân Phúc cho rằng có những bằng chứng rõ ràng cho thấy một số DN tham gia thương mại các mặt hàng gỗ với Trung Quốc kê khai giá XK thấp hơn giá nguyên liệu đầu vào nhằm trốn hoặc giảm thuế. Các hành vi này không những gây thất thu cho ngân sách quốc gia mà còn gây ra tình trạng méo mó thị trường.
Các con số "ảo" này làm cho các cơ quan quản lý không có những thông tin tin cậy về quy mô và xu hướng biến động và thay đổi của thị trường. Quy mô XK gỗ và các mặt hàng gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc có thể lớn hơn rất nhiều so với quy mô hiện nay được đưa ra bởi các cơ quan quản lý. Điều này có thể gây rủi ro về mặt chính sách, chính sách được xây dựng không khớp với thực tế.
Ông Vũ Quốc Vương, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Mỹ nghệ Đồng Kỵ, cho biết thực tế giá trị thực của hàng hóa xuất bán của các DN cao gấp 10 lần so với số liệu thống kê hải quan. Các DN có xu hướng kê khai số tiền bán hàng ít đi, có khi bộ bàn ghế bán được hơn 100 triệu đồng, họ chỉ khai 10 - 15 triệu đồng, nhằm giảm thuế phải đóng. Cách tính đơn vị hàng hóa của Việt Nam và Trung Quốc cũng khác nhau, Việt Nam tính theo m3 (1 m3 tương đương 1,4 tấn). Sang Trung Quốc, hàng lại được tính theo tấn, vì vậy có sự chênh lệch về số liệu.
Trong khi nhiều ý kiến cho rằng độ chênh quá lớn giữa thống kê hai nước là vấn đề nghiêm trọng, thì cũng có ý kiến khẳng định điều này không có gì quá to tát. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, sự chênh lệch này là vấn đề xảy ra muôn thuở trên thế giới, Việt Nam XK sang Trung Quốc qua 29 cửa khẩu, định mức khác nhau, cách tính khác nhau nên không thể có số liệu thống kê của 2 nước giống hệt nhau.
Theo Ts. Tô Xuân Phúc, tình trạng chênh lệch số liệu hải quan giữa các quốc gia là tương đối phổ biến. Điều quan trọng là cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các chênh lệch này là gì và các cơ chế và biện pháp gì cần đưa ra đối với mỗi quốc gia nhằm giảm thiểu và dần tiến tới xóa bỏ tình trạng chênh lệch.
Có ý kiến cho rằng cần thiết lập một sàn TMĐT xuyên quốc gia nhằm nâng cao tính minh bạch và giải quyết vấn đề khác biệt về thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho DN của 2 quốc gia trong các hoạt động XNK các mặt hàng giữa hai bên.
Thực hiện được việc này sẽ tiến tới xóa bỏ chênh lệch thông tin thống kê các mặt hàng XNK, bao gồm cả mặt hàng gỗ giữa 2 quốc gia. Điều này cũng giúp định vị lại tầm quan trọng của thương mại các mặt hàng gỗ của Việt Nam trong mối quan hệ tổng thể với các quốc gia bao gồm cả Trung Quốc trong tương lai. (Thời Báo Kinh Doanh 11/10) đầu trang(
Giai đoạn 2011-2015, Lạng Sơn đặt mục tiêu trồng mới từ 40-50 nghìn héc ta rừng. Đây là con số lớn trong bối cảnh một số dự án trồng rừng đã kết thúc, nguồn vốn ngân sách trung ương cho trồng rừng không dồi dào như giai đoạn trước, địa bàn trồng rừng ngày càng xa và khó khăn...
Tuy nhiên, vượt qua tất cả những khó khăn ấy, con số trồng rừng trong 5 năm qua của toàn tỉnh đã vượt mục tiêu đề ra.
Vụ trồng rừng năm 2011 diễn ra trong bối cảnh rất nhiều khó khăn. Trước tiên phải kể đến dự án trồng rừng 661 đã kết thúc, điều này đồng nghĩa với việc hàng chục tỷ đồng nguồn vốn trung ương phân bổ cho trồng rừng bị cắt giảm và nguồn nhân lực là các Ban quản lý dự án 661 tự giải thể.
Trong khi đó địa bàn trồng rừng ngày càng xa dân và ngay đợt rét đậm, rét hại hồi đầu năm 2011 gây thiệt hại hơn 5 triệu cây giống đã khiến cho khó khăn càng nhân lên thêm gấp bội. Ấy là quãng thời gian mà các biện pháp, giải pháp cho trồng rừng luôn là vấn đề nóng trong các cuộc họp của UBND tỉnh.
Để có thể thực hiện mục tiêu trong cả giai đoạn, bắt buộc mỗi năm Lạng Sơn phải trồng mới từ 8.000 ha rừng trở lên và kế hoạch của năm 2011 chỉ lấy mức thấp nhất là trồng mới 8.000 ha rừng. Thế nhưng con số ấy cũng là quá lớn khi mà chỉ có chưa đầy ½ trong số đó là có kinh phí thực hiện.
Phân tích thấu đáo những khó khăn đó, UBND tỉnh đã có nhiều công văn chỉ đạo ngành chuyên môn triển khai các nhiệm vụ trồng rừng, trong đó công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tự đầu tư và vay vốn ưu đãi theo Quyết định số 39 của UBND tỉnh để trồng rừng được đẩy mạnh. Mặt khác, kịp thời ban hành quyết định kéo dài thêm thời hạn hoạt động của các Ban quản lý dự án trồng rừng 661.
Các huyện cũng có sự vào cuộc tích cực và lần đầu tiên, ngoài nguồn vốn ngân sách của tỉnh cấp cho trồng cây phân tán, một số huyện đã trích ngân sách huyện cho nội dung này. Kết thúc vụ trồng rừng năm 2011, toàn tỉnh trồng mới được 8.718 ha, vượt 9% so với kế hoạch. Trong đó nhân dân tự đầu tư trồng gần 3.000 ha rừng, con số cao nhất từ trước đến nay.
Vụ trồng rừng 2011 chính là điểm nhấn quan trọng để nhân dân trong toàn tỉnh triển khai  thuận lợi các vụ trồng rừng tiếp theo. Nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng cao, các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (nhựa thông) được giá là những thuận lợi cơ bản trong giai đoạn này.
Ngoài ra, các cấp, ngành tiếp tục có sự quan tâm chỉ đạo đến phát triển lâm nghiệp. Bà Hà Thị Thủy, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Chi Lăng chia sẻ: trong giai đoạn trước, Chi Lăng trồng mới khoảng 800 ha rừng mỗi năm, tuy nhiên được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng như sự quyết tâm của lãnh đạo huyện, từ năm 2012 đến nay, Chi Lăng trồng mới trên 1.200 ha rừng và từ chỗ chưa có dự án nào vay vốn trồng rừng, thì đến nay đã có hàng chục hộ được duyệt vay vốn ưu đãi.
Xã hội hóa trồng rừng trở thành phong trào có sức lan tỏa mạnh mẽ, các mô hình liên kết dần xuất hiện ở Tràng Định, Đình Lập, Lộc Bình; các cơ sở chế biến được mở rộng về số lượng và quy mô. Ước tính giai đoạn 2011-2015, mỗi năm nhân dân tự đầu tư trồng mới khoảng 3.000 ha rừng. Con số trồng rừng năm sau cao hơn năm trước và tỷ lệ vượt kế hoạch luôn ở ngưỡng hai con số.
Tính đến tháng 10/2015, vụ trồng rừng 2015 đã đạt trên 11,7 nghìn héc ta, vượt 23,4% kế hoạch. Nếu chỉ dừng lại ở con số này thôi thì tổng diện tích rừng trồng mới trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt trên 51.300 ha, vượt mục tiêu đề ra.
Hiện nay ngành chuyên môn đang khẩn trương rà soát, tổng kết công tác trồng rừng trong cả giai đoạn và tham mưu cho tỉnh xây dựng kế hoạch giai đoạn tiếp theo. Sẽ có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn, thế nhưng điều dễ nhận thấy nhất đó là tỷ lệ xã hội hóa ngày càng được nâng lên, sự phụ thuộc vào ngân sách ngày càng giảm đi. Đó chính là động lực lớn để kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục có những bước tiến vững chắc, tương xứng với tiềm năng của tỉnh. (Báo Lạng Sơn 9/10) đầu trang(
9 tháng năm nay, huyện Lương Sơn đã trồng rừng được 705 ha, đạt 108% kế hoạch, bằng 94% so với cùng kỳ, diện tích khai thác rừng trồng 345,5 ha, sản lượng gỗ khai thác khoảng 14 nghìn m3.
Cùng với đó, thực hiện dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đã trồng 100 ha rừng tập trung tại các xã Cao Dương, Tân Vinh; khoanh nuôi, bảo vệ 500 ha rừng tự nhiên tại các xã Hợp Thanh, Tân Thành; chăm sóc, bảo vệ 222,9 ha rừng Dự án KFW7 thực hiện tại các xã Cư Yên, Liên Sơn, Hợp Hoà, Tiến Sơn.
Công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện được thực hiện tốt. Huyện đã rà soát, thống kê, đánh giá hiệu quả 35 cơ sở chế biến lâm sản, trong đó có 8 công ty TNHH, 27 hộ kinh doanh. (Báo Hòa Bình 9/10) đầu trang(
Người dân không được trồng cây lâu năm có giá trị, nghiêm cấm việc đào ao thả cá, san đất làm nền nhà. Nghèo đói, họ lại vào rừng để rồi trở thành lâm tặc. Đó là tình trạng đáng buồn đang diễn ra với hàng trăm hộ dân thuộc Vườn Quốc gia Bến En (Thanh Hóa).
Trải qua một đoạn đường dài khó đi, tôi tìm đến thôn Xuân Đàm, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân. Đón tôi là Bí thư Chi bộ Nguyễn Hữu Sỹ, ông nói: “Chúng tôi sinh sống ở đây đã nhiều năm, mãi sau này Vườn Quốc gia (VQG) Bến En mới được thành lập. Hơn 20 năm qua, chúng tôi xin huyện cấp sổ đỏ chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài mà không được”.
Đầu những năm 1980, khi kinh tế đất nước còn khó khăn, Lâm trường Như Xuân được đặt tại vị trí thôn Xuân Đàm ngày nay. Sau khi lâm trường giải thể, một số công nhân không trở về quê cũ mà ở lại khai hoang đất. Do có điều kiện thuận lợi về tự nhiên, một số hộ dân ở Nghệ An cũng từ biệt quê hương về đây lập nghiệp. Họ trở thành lớp người đầu tiên đặt nền móng cho việc ra đời thôn Xuân Đàm sau này. Năm 1987, thôn Xuân Đàm được thành lập với 15 hộ dân trực thuộc xã Hóa Quỳ và ông Nguyễn Hữu Sỹ được bầu làm Bí thư Chi bộ cho đến tận bây giờ.
Mùa xuân năm 1992, người dân trong vùng vô cùng mừng rỡ khi biết khu rừng của làng đã trở thành vườn quốc gia. Ông Sỹ chua xót kể: “Lúc đầu là vui mừng, sau này đến chán nản khi nghe tin làng giờ đã nằm trong vùng lõi của rừng nên sẽ không được cấp sổ đỏ, muốn trồng cây keo, cây gỗ để làm nhà cũng khó. Muốn trồng thì phải trồng trộm, nếu kiểm lâm phát hiện mình trồng họ sẽ nhổ cây lên. Nhiều cây keo trước kia được trồng đến thời kỳ thu hoạch nay bị cấm không cho chặt. Nhà dột nát, mối mọt, không có gỗ thay thế, dân vào rừng chặt cây về sửa nhà sẽ bị quy thành lâm tặc rồi bị xử phạt, tịch thu tang vật.
Nhiều nhà đông con, có con lớn xây dựng gia đình, muốn ở riêng cho rộng rãi, vậy mà ra vườn của nhà mình san cái nền đất làm nhà cũng bị phạt. Thấy máy xúc, máy ủi vào làng là kiểm lâm lại đuổi ra. Cứ như thế này, dân chúng tôi sống thế nào đây”. Trong thôn có anh Vi Văn Hải - thuê máy múc về đào nền nhà trên mảnh đất của gia đình - bị kiểm lâm phạt mất 3 triệu đồng. Người dân muốn đào thêm ao để thả cá theo mô hình VAC là điều không thể.
Tôi tìm đến nhà trưởng thôn Lô Văn Trung, ông bộc bạch trao đổi: “Làng tôi thành lập trước khi Vườn Quốc gia Bến En ra đời, hơn 20 năm qua, chúng tôi xin làm sổ đỏ mãi mà không được, bởi đất Xuân Đàm là đất của Bến En nên không thể cấp”.
Ông Trung đưa ra một hình ảnh so sánh khiến tôi hết sức thương cảm: “Nếu đứng trên đỉnh con dốc nơi có đặt trạm kiểm lâm kia nhìn Xuân Đàm và thôn bên cạnh sẽ có sự khác nhau rất nhiều. Chỉ cách nhau một con dốc thôi, bên kia dốc thôn người ta được trồng đồi keo, đồi caosu phát triển kinh tế nên giàu lắm, còn chúng tôi chỉ được trồng các loại hoa mầu ngắn ngày như sắn, ngô, lúa phụ thuộc tự nhiên, thị trường bấp bênh thì làm sao mà phát triển kinh tế, như thế thì lấy cái gì để xây dựng nông thôn mới đây?”.
Trong công sở làm việc của xã Hóa Quỳ, tôi có trao đổi câu chuyện với ông Bùi Văn Tỉnh - Bí thư Đảng ủy và bà Hoàng Thị Lương - Phó Bí thư Đảng ủy xã thì được chia sẻ: “Nhiều lần tiếp xúc cử tri, chúng tôi có đứng ra kêu gọi các đại biểu xem xét giải quyết những thắc mắc cho người dân nhưng vẫn không có kết quả. Chúng tôi chỉ biết động viên người dân cố gắng vượt qua mà thôi”.
Gặp tôi tại hội trường thôn, bà Lê Thị Phương - Phó Chi hội Người cao tuổi - bùi ngùi: “Trồng một vài cây ăn quả lâu năm xung quanh vườn phục vụ cho gia đình thì kiểm lâm cho trồng nhưng nếu trồng với quy mô lớn, diện tích vài ba sào thì không được, kiểm lâm sẽ nhổ lên. Nuôi con trâu, con bò không được chăn thả rông vào rừng, kiểm lâm sẽ đuổi ra vì họ sợ làm ảnh hưởng đến nguồn gen di truyền. Như vậy thì lấy đâu ra cái để mà xóa đói giảm nghèo, xóa đói giảm nghèo bằng cái gì được đây? Không có tiền mua gạo ăn, vào rừng hái ít măng đem bán cũng bị quy thành lâm tặc. Nếu nghèo đói buộc chúng tôi làm lâm tặc thì sao!”.
Nếu bà Phương lo lắng về cái nghèo, thì ông Lô Văn Chiều (70 tuổi) lại lo cho cái nghĩa địa “hậu sự” của người dân: “Chúng tôi sống vô gia cư, chết không nghĩa địa chôn cất, có nhà mà như không vì không có quyền sử dụng chính mảnh đất của mình, chết thì phải vào rừng đào một khoảng đất hẹp dưới gốc tre để chôn”.
Quả thật, những đòi hỏi về quyền lợi của người dân đến các cơ quan chức năng không phải không có lý khi ông Nguyễn Hữu Sỹ đưa ra con số thống kê “chắc như đinh đóng cột” và lấy cả uy tín của gần 30 năm làm Bí thư Chi bộ của mình ra khẳng định: Xuân Đàm có 50 hộ dân với 228 nhân khẩu, trong khi toàn thôn chỉ có 6ha đất trồng lúa gồm 2ha đất lúa một vụ, 4ha đất lúa 2 vụ. Do hệ thống thủy lợi tưới tiêu không có, nên 6ha lúa hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên theo dạng “được ăn cả, ngã về không”. Thu nhập bấp bênh nên có tới 90 người dân trong thôn phải sang các làng, xã bên cạnh làm thuê.
Đưa cho tôi Quyết định 24 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng, ông Lô Văn Trung và ông Lê Văn Hảo Chi - Hội trưởng chi hội nông dân - cho biết: “Cứ tưởng Trung ương sẽ hỗ trợ cho mỗi thôn theo như quyết định đã hướng dẫn là 40 triệu đồng/ năm. Ba năm qua, chúng tôi vẫn chưa nhận được số tiền hỗ trợ kể trên”.
Tôi đem những thắc mắc của ông Trung, ông Hỏa trao đổi với ông Lê Bá Thọ - Phó giám đốc Vườn Quốc gia Bến En, ông Thọ cho biết: “Chủ trương hỗ trợ 40 triệu đồng/năm cho mỗi thôn là có nhưng vẫn chưa được thực hiện đầy đủ do thiếu kinh phí Nhà nước. Mỗi năm, Nhà nước chỉ cấp kinh phí hỗ trợ cho 2 thôn nên 3 năm qua chúng tôi mới hỗ trợ được 6 thôn trong tổng số 34 thôn. Chúng tôi ưu tiên hỗ trợ cho những thôn đang phấn đấu xây dựng nông thôn mới”. Nếu đúng như ông Lê Bá Thọ trao đổi thì trong vòng 3 năm qua, Nhà nước đã nợ 34 thôn với số tiền lên tới hàng tỉ đồng.
Hiện tại, Vườn Quốc gia bến En có 34 thôn trực thuộc rừng đặc dụng, trong đó có 9 thôn: Xuân Đàm (xã Hóa Quỳ), Tân Thành, Tân Thịnh (xã Xuân Quỳ), Sơn Bình, Đức Bình, Thanh Bình, Sơn Thủy, Làng Lung, Dọc Nái (xã Tân Bình) huyện Như Xuân nằm trong vùng lõi của rừng đặc dụng. Đây là những thôn chịu nhiều thiệt thòi nhất vì khu vực họ sinh sống không có rừng sản xuất nên không thể trồng cây lâu năm để phát triển kinh tế. Riêng 25 thôn còn lại thuộc vùng đệm rừng đặc dụng tiếp giáp với rừng sản xuất, có thể trồng cây lâu năm nên kinh tế phát triển hơn so với 9 thôn nằm trong vùng lõi.
Ông Nguyễn Văn Hùng - Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm VQG Bến En - cho biết: “9 thôn trên thuộc vùng lõi rừng nên theo đúng quy định sẽ không được cấp sổ đỏ, các hộ dân không được san ủi làm nền nhà, trồng cây lâu năm, đào thêm ao thả cá trên mảnh đất mà người dân đang ở, đó là quy định rồi nên không thể làm sai được. Riêng 25 thôn thuộc vùng rừng đệm lại có rừng sản xuất nên được trồng cây lâu năm. Vùng rừng đệm được cấp sổ đỏ nên người dân được làm nhà, san ủi đất, trồng cây lâu năm, đào ao thả cá trên mảnh đất của họ”.
Trong những năm qua, lãnh đạo Vườn Quốc gia bến En đã tiến hành nhiều nỗ lực nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân vùng lõi rừng, nâng cao việc bảo vệ rừng với phát triển kinh tế, ổn định đời sống các hộ dân. Gặp tôi tại cơ quan làm việc, ông Đặng Hữu Nghị - Giám đốc kiêm Hạt trưởng kiểm lâm - cho biết: “Chúng tôi đang làm tờ trình lên chính phủ đề xuất phương án cắt đất rừng giao cho các hộ dân, nếu chính phủ đồng ý chúng tôi sẽ tiến hành cắt đất giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ dân”.
Cùng chung biện pháp giải quyết như ông Nghị, ông Lê Bá Thọ - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia bến En - mở ra một tia sáng mới cho các hộ dân vùng lõi rừng: “Chúng tôi đã làm đề án cắt đất rừng giao cho các hộ dân và gửi lên chính phủ. Nếu cắt đất rừng từ 50ha trở lên theo luật phải được Quốc hội đồng ý. Quốc hội đồng ý, chúng tôi sẽ cắt đất giao quyền sử đất lâu dài cho các hộ dân vùng lõi. Khi đó, trên mảnh đất của mình các hộ dân có quyền san lấp nền nhà, đào ao thả cá, trồng cây lâu năm...”. (Lao Động 11/10) đầu trang(
Việt Nam là một trong những nước trồng rừng nhiều nhất trên thế giới (khoảng 13,4 triệu ha). Cùng với tài nguyên đất, nước, thực vật, động vật, rừng là loại tài nguyên có khả năng tái sinh và có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của con người.
Với diện tích trồng lớn, rừng ở nước ta được chia ra làm 3 loại: Rừng đặc dụng (1.524.868 ha, chiếm 14% tổng diện tích rừng toàn quốc), rừng phòng hộ (5.350.668 ha chiếm 49%), rừng SX (4.040.056 ha chiếm 37%).
Diện tích rừng đang có chiều hướng tăng lên, tuy nhiên chất lượng rừng ngày càng giảm. Để rừng ngày càng tươi tốt, không những về diện tích che phủ mà cả chất lượng rừng, cần có những biện pháp hữu hiệu. Vấn đề đặt ra là cần có sự góp sức của cả Nhà nước và nhân dân.
Thấu hiểu điều đó, với mong muốn phát triển rừng bền vững gắn liền với đảm bảo cuộc sống của người dân, ngày 9/9/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Trong đó đặc biệt chú ý đến việc hỗ trợ trồng rừng SX và phát triển lâm sản ngoài gỗ, cũng như hỗ trợ trồng rừng phòng hộ. Theo như chính sách hỗ trợ, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch rừng SX đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên để trồng rừng SX bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ.
Mỗi hộ gia đình sẽ được hỗ trợ từ 5 - 10 triệu đ/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền đối với trồng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ tùy theo chu kỳ kinh doanh của cây trồng theo thiết kế ban đầu và dự toán.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và thiết kế - dự toán. Bên cạnh những quyền lợi được hưởng thì hộ gia đình được hỗ trợ cũng phải có trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh đó, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch trồng rừng phòng hộ đã giao cho hộ gia đình thì được Nhà nước cấp kinh phí theo thiết kế - dự toán để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Cuộc sống của người dân miền núi vốn đã nhiều cơ cực, người dân sống dưới tán rừng, gắn chặt cuộc sống với trồng rừng còn cơ cực, khó khăn hơn. Hy vọng với những chính sách hỗ trợ ban đầu sẽ tạo được động lực để họ có thể tự vươn lên thoát nghèo, cải thiện cuộc sống từ nghề trồng và bảo vệ rừng và làm giàu trên quê hương mình. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/10) đầu trang(
Là một chính sách mới đưa vào thực hiện với nhiều khó khăn vướng mắc, nhưng công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã được ngành chức năng tích cực triển khai và đang phát huy nhiều hiệu quả. Đặc biệt là làm tăng diện tích che phủ rừng và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên.
Là một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, Kon Tum có nhiều điều kiện để phát triển các công trình thủy điện và lợi thế trong việc khai thác các tiềm năng từ rừng. Do đó, hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh là hết sức cần thiết trong việc bảo vệ, phát triển rừng và môi trường tự nhiên.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Kon Tum thực hiện thu tiền chi trả DVMTR đối với 21 nhà máy thủy điện (11 nhà máy nội tỉnh và 10 nhà máy liên tỉnh) và 1 nhà máy nước liên tỉnh. Các cơ sở này phải chi trả tiền dịch vụ để bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện và nước sạch. Theo đó, toàn tỉnh có 363.117 ha rừng được bảo vệ từ tiền DVMTR trên tổng số 604.257 ha, chiếm 60% diện tích.
Với mức chi trả là 20 đồng/Kw điện thương phẩm đối với cơ sở sản xuất thủy điện và 40 đồng/m3 nước thương phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nước sạch, hàng năm tỉnh Kon Tum thu về hàng trăm tỷ đồng tiền DVMTR. Tính đến cuối năm 2014, nguồn thu từ DVMTR là khoảng 500 tỷ đồng. Theo kế hoạch năm 2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum sẽ thu về khoảng trên 143 tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2015, Quỹ đã thu được 58,9 tỷ đồng, đạt 41% kế hoạch.
Hoạt động chi trả DVMTR tại Kon Tum từ khi được triển khai đến nay đã phát huy nhiều quả thấy rõ trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và môi trường sinh thái tự nhiên. Ông Hồ Thanh Hoàng – Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết: “Quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR từ năm 2011 đến nay đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và quyền lợi của người dân trong trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh. Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm nương rẫy đã giảm đáng kể theo từng năm”.
Chính sách này còn giúp tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích người dân và các cấp chính quyền địa phương tích cực tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời, nâng cao năng lực quản lý, phát triển rừng của nhiều đơn vị tham gia.
Cơ sở cung ứng DVMTR là 20 tổ chức (gồm 18 chủ rừng là tổ chức nhà nước: Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp, Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam và 2 đơn vị ngoài quốc doanh) với diện tích bảo vệ là gần 292 ngàn ha rừng; 75 UBND các xã, phường, thị trấn với diện tích bảo vệ là hơn 28 ngàn ha rừng; 3.578 hộ gia đình, cá nhân và 21 cộng đồng dân cư thôn được nhà nước giao đất, giao rừng với diện tích quản lý là gần 43 ngàn ha.
Bên cạnh những hiệu quả mà chính sách chi trả DVMTR đã mang lại, cũng còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. “Đây là chính sách mới, đội ngũ cán bộ đa số cũng mới, còn thiếu kinh nghiệm, năng lực chưa đáp ứng nhu cầu công việc, do đó cần phải đào tạo, bồi dưỡng thêm. Công tác chi trả DVMTR là chính sách lớn cần sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành. Tuy nhiên một số ngành, địa phương còn ít quan tâm. Một số cơ quan, đơn vị còn lúng túng trong lập kế hoạch cũng như thực thi chính sách, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện”, ông Hồ Thanh Hoàng chia sẻ.
Ngoài ra, một khó khăn cần nhắc đến nữa đó chính là nhận thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như chính sách chi trả DVMTR. Kon Tum là tỉnh miền núi, phần lớn là người đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, năng lực kỹ thuật tài chính hạn chế, trình độ dân trí không đồng đều. Nhất là những nơi có rừng lại nằm cách xa trung tâm nên nhận thức của người dân lại càng hạn hẹp.
Việc thu chi DVMTR đúng tiến độ hay không còn phụ thuộc vào tính tự giác của các cơ sở được cung ứng dịch vụ. Thế nhưng, nhiều đơn vị thủy điện chưa nghiêm túc trong kê khai, nộp tiền dẫn đến tình trạng nợ đọng kéo dài qua các năm.
Để tiếp tục phát huy những hiệu quả mà chính sách này mang lại, ngành chức năng tỉnh Kon Tum đã triển khai nhiều giải pháp để từng bước tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện hơn trong công tác của cấp quản lý. Trong đó, chú trọng công tác tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, nhân dân trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của rừng và chính sách chi trả DVMTR đối với môi trường, đời sống con người.
Song song với đó là các buổi đào tạo nâng cao năng lực, trình độ cho các cán bộ chuyên môn. Thường xuyên theo dõi, giám sát tình hình triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại các địa phương trong tỉnh và đẩy nhanh công tác trồng rừng thay thế…
Qua 4 năm thực hiện chi trả phí DVMTR, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Kon Tum đã đạt được nhiều thành quả đáng kể. Hi vọng với những kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và kết quả đã đạt được, chính sách này sẽ ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp và phát huy hơn nữa hiệu quả của nó trong việc bảo vệ, phát triển rừng và môi trường sinh thái tại địa phương. (Tài Nguyên Và Môi Trường 9/10) đầu trang(
Tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”, các chuyên gia đã tham gia “hiến kế” gỡ khó, phân tích thực trạng để quản lý có hiệu quả đất nông lâm trường.
Hội thảo diễn ra ngày 9/10, do Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường (KH,CN&MT) của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), phối hợp tổ chức.
“Nhà nước cần tách bạch đất sử dụng cho mục đích công ích và sản xuất kinh doanh, đảm bảo việc quản lý hiệu quả tài sản công khỏi sự lợi dụng của các nhóm lợi ích, giảm nguy cơ tham nhũng đối với các đơn vị được trao quyền quản lý tài nguyên của quốc gia.", ông Nguyễn Văn Hồng, đại diện nhóm nghiên cứu của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam kiến nghị.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, hiện nay tình trạng tranh chấp vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông, lâm trường vẫn còn diễn ra phổ biến, kéo dài nhiều năm, nhất là các tỉnh khu vực Tây Nguyên, một số tỉnh miền Đông Nam bộ.
Đơn cử như tại tỉnh Đắk Nông, do năng lực quản lý của các nông lâm trường tại địa phương bộc lộ nhiều yếu kém, nên đến nay, rừng ở địa phương này dường như không còn gỗ để khai thác, và tốc độ phá rừng dường như cũng không kịp kiểm soát. Trong khi đó, ông Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội nhận định, sau quá trình chuyển đổi, từ năm 2004 đến nay, cả nước đã có 2 lần rà soát, tổng kiểm kê đất và rà soát quy hoạch tổng thể các loại rừng.
“Tuy nhiên, công tác cắm mốc, đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn không được triển khai đồng bộ đã dấn đến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp kéo dài, không thực hiện nghĩa vụ tài chính như giao đất có thu hồi tiền sử dụng đất, hay thuê đất,” ông Tiến thông tin.
Ông La Văn Thịnh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài Chính cho rằng, phải tập trung giải quyết triệt để pháp luật hành chính về đất đai, ngăn chặn và không làm phát sinh thêm các giao dịch mua bán đất rừng không đúng quy định pháp luật, sớm ban hành quy hoạch sử dụng với 47 triệu ha đất nông lâm trường quốc doanh (NLTQD), giải quyết hồ sơ địa chính về đất đai; giải pháp đồng bộ hơn để giải quyết kịp thời các bất cập về quản lý, sử dụng đất đai tại các NLTQD, tăng trách nhiệm của địa phương, đặc biệt Bộ NN&PTNT xem lại Điều 13, Nghị định 118.
Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Tổng giám đốc công ty TNHH MTV Cao su Chư Păh, Tập đoàn Cao su Việt Nam kiến nghị, phải có một quy hoạch tổng thể các loại hình sản xuất cho cây trồng của NLTQD, tuân thủ tuyệt đối việc quy hoạch sau khi đã xác thực tính khoa học và thực tiễn, coi việc phá vỡ quy hoạch là việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.
Khi đã giao đất thì phải ổn định lâu dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung. Phải xem đa dang hóa cây trồng, ngành nghề là xu hướng phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm bổ trợ lẫn nhau. Tăng cường quản lý nhà nước đối với sử dụng đất đai, tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ”, sử dụng không hợp lý kéo dài…
Về hoạt động tổ chức, theo ông Tiến, hiện nay chỉ có một số doanh nghiệp cao su sản xuất, kinh doanh có lãi, còn phần lớn các nông lâm trường quốc doanh hoạt động kém hiệu quả. Đặc biệt, tại một số nơi vẫn còn tình trạng khoán trắng, bỏ hoang đất đai; trong khi trách nhiệm về tài chính đất đai của nông lâm trường quốc doanh còn chưa được thực hiện dẫn tới nợ đọng tài chính kéo dài.
Để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nêu trên, theo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký đất đai đề xuất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần có nghị quyết về việc tăng cường quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường; tăng cường giám sát trách nhiệm của chính quyền các địa phương trong việc quản lý, sử dụng đất và giải quyết dứt điểm các tồn tại, vi phạm pháp luật đất đai tại các nông, lâm trường.
Đồng tình quan điểm trên, ông Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội, cho rằng để tháo gỡ những “bùng nhùng” về đất đai, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê tại các nông lâm trường; đồng thời tổng kết các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển theo chuỗi giá trị...
Tham gia góp ý tại hội thảo, ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, đến thời điểm này, Nhà nước cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý theo mô hình chủ quản của bộ, ngành, để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. “Trong việc này, nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để sản xuất kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không cần nắm thì dứt khoát phải giao cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững,” ông Sinh chia sẻ.
Theo báo cáo của các địa phương, hiện nay cả nước có 54 nông, lâm trường, Ban quản lý rừng còn diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.300 ha (điển hình là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Bình Thuận, và một số đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam).
Ngoài ra, trên cả nước hiện có 76 nông, lâm trường, ban quản lý rừng đang bị lấn chiếm với diện tích gần 59.700 ha (điển hình như Công ty cổ phần Đông Triều, Công ty cao su 1-5, và Công ty 30/4 Tây Ninh, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Konplong, Đắk Hà, Ngọc Hồi…) (Dân Sinh 10/10) đầu trang(
“Để tháo gỡ khó khắn, vướng mắc trong công tác quản lý đất nông lâm trường, Nhà nước cần tách bạch đất sử dụng cho mục đích công ích và sản xuất kinh doanh, đảm bảo việc quản lý hiệu quả tài sản công khỏi sự lợi dụng của các nhóm lợi ích, giảm nguy cơ tham nhũng đối với các đơn vị được trao quyền quản lý tài nguyên của quốc gia."
Đây là một trong những kiến nghị vừa được ông Nguyễn Văn Hồng, đại diện nhóm nghiên cứu của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đưa ra tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh,” do  Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội phối hợp với Hội đồng dân tộc của Quốc hội tổ chức ngày 9/10, tại Hà Nội.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, hiện nay tình trạng tranh chấp vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông, lâm trường vẫn còn diễn ra phổ biến, kéo dài nhiều năm, nhất là các tỉnh khu vực Tây Nguyên, một số tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Theo báo cáo của các địa phương, hiện nay cả nước có 54 nông, lâm trường, Ban quản lý rừng còn diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.300 ha (điển hình là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Bình Thuận, và một số đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam).
Ngoài ra, trên cả nước hiện có 76 nông, lâm trường, ban quản lý rừng đang bị lấn chiếm với diện tích gần 59.700 ha (điển hình như Công ty cổ phần Đông Triều, Công ty cao su 1-5, và Công ty 30/4 Tây Ninh, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Konplong, Đắk Hà, Ngọc Hồi…)
Đơn cử như tại tỉnh Đắk Nông, do năng lực quản lý của các nông lâm trường tại địa phương bộc lộ nhiều yếu kém, nên đến nay, rừng ở địa phương này dường như không còn gỗ để khai thác, và tốc độ phá rừng dường như cũng không kịp kiểm soát.
Trong khi đó, ông Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội nhận định, sau quá trình chuyển đổi, từ năm 2004 đến nay, cả nước đã có 2 lần rà soát, tổng kiểm kê đất và rà soát quy hoạch tổng thể các loại rừng.
“Tuy nhiên, công tác cắm mốc, đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn không được triển khai đồng bộ đã dấn đến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp kéo dài, không thực hiện nghĩa vụ tài chính như giao đất có thu hồi tiền sử dụng đất, hay thuê đất,” ông Tiến thong tin.
Về hoạt động tổ chức, theo ông Tiến, hiện nay chỉ có một số doanh nghiệp cao su sản xuất, kinh doanh có lãi, còn phần lớn các nông lâm trường quốc doanh hoạt động kém hiệu quả. Đặc biệt, tại một số nơi vẫn còn tình trạng khoán trắng, bỏ hoang đất đai; trong khi trách nhiệm về tài chính đất đai của nông lâm trường quốc doanh còn chưa được thực hiện dẫn tới nợ đọng tài chính kéo dài.
Phân tích cụ thể hơn, ông La Văn Thịnh, Phó Cục trưởng Quản lý cộng sản (Bộ Tài chính) cho biết, nguyên nhân tồn tại của công tác tài chính đối với đất nông-lâm trường là do các nông lâm trường sau khi được chuyển đổi chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ rà soát đất đai. Vì vậy, đến nay các nông lâm trường chưa thể chuyển sang thuê đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Ngoài ra, “trách nhiệm của các cơ quan chức năng tại địa phương đối với công tác rà soát, đo đạc, cấp sổ đỏ cũng còn hạn chế; công tác đôn đốc các nông lâm trường làm các thủ tục thuê đất vẫn chưa quyết liệt, thiếu sự phối hợp giữa chính quyền, công ty nông-lâm nghiệp và cơ quan chủ quản trong việc giải quyết mâu thuẫn về đất đai,” ông Thịnh nói.
Để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nêu trên, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký đất đai đề xuất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần có Nghị quyết về việc tăng cường quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường; tăng cường giám sát trách nhiệm của chính quyền các địa phương trong việc quản lý, sử dụng đất và giải quyết dứt điểm các tồn tại, vi phạm pháp luật đất đai tại các nông, lâm trường.
Mặt khác, ông Chiến cũng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ngành khẩn trương tổ chức việc lập và trình duyệt phương án tổng thể về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp; bố trí kinh phí và thực hiện việc xác định ranh giới sử dụng, đo đạc, lập bản đồ địa chính về đất đai… Đồng tình quan điểm trên, ông Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội, cho rằng để tháo gỡ những “bùng nhùng” về đất đai, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê tại các nông lâm trường; đồng thời tổng kết các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển theo chuỗi giá trị... "Thêm vào đó, hiện tại các nông lâm trường quốc doanh đang gặp khó khăn về vốn đầu tư sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ cao, vì thế Nhà nước cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển sản xuất...để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực này," ông Tiến nêu quan điểm.
Tham gia góp ý tại hội thảo, ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, đến thời điểm này, Nhà nước cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý theo mô hình chủ quản của Bộ, ngành, để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước.
“Trong việc này, nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để sản xuất kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không cần nắm thì dứt khoát phải giao cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững,” ông Sinh chia sẻ.
Vị đại biểu này cũng lưu ý, việc quản lý đất đai hiện nay rất phức tạp. Lỗi là do cơ chế còn chưa rõ ràng. Vì thế, các Bộ, nghành và các cấp chính quyền cần quan tâm, rà soát lại các diện tích đất nông lâm trường; giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trong quá trình chuyên đổi quy hoạch, đo đạc địa chính.
Trước tình trạng phá rừng nghiêm trọng ở Đắk Nông, bà Tôn Thị Ngọc Hạnh, Phó trưởng đoàn Chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Nông cũng kiến nghị Trung ương hỗ trợ nguồn kinh phí, để tỉnh để cân đối, phục vụ cho việc đo đạc, sắp xếp lại các nông lâm trường (công ty lâm nghiệp) theo hướng chuỗi liên kết, phát triển sản xuất. (Vietnam + 9/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Chính phủ Malaysia đã điều máy bay tới Indonesia để hỗ trợ dập tắt các đám cháy rừng - nguyên nhân gây ra tình trạng khói mù ảnh hưởng tới nhiều quốc gia trong khu vực.
Theo yêu cầu từ phía Indonesia, 3 máy bay của Malaysia đã được gửi tới phía Nam đảo Sumatra - nơi cháy rừng đang hoành hành. Tham gia sứ mệnh này có máy bay thủy phi cơ đổ bộ với khả năng thả hơn 6 tấn nước trong 12 giây khi bay ở tốc độ 130 km/h. Hiện Malaysia là quốc gia duy nhất ở khu vực sở hữu loại máy bay chữa cháy này. Theo kế hoạch, chiến dịch hỗ trợ của Malaysia sẽ kéo dài 5 ngày.
Trước đó, Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ Nhật Bản, Malaysia và Nga sau nỗ lực chữa cháy bất thành trong nhiều tuần qua. Hiện, khói mù từ các vụ cháy rừng đã lan tới miền Nam Thái Lan. (Đài Truyền Hình Việt Nam 10/10) đầu trang(
Có thể nói vui đây là một “tai nạn nghề nghiệp” khi ông Bộ trưởng Helmut Brunner phụ trách quản lý rừng của bang Bayern, miền Nam nước Đức đã vô tình làm một khu rừng nhỏ nằm gần nhà ông bốc cháy.
Ông đã thừa nhận hành vi sơ ý này trên đài phát thanh của bang vào hôm thứ Tư 7-10 vừa qua khi khẳng định rằng ông đã vứt một mẫu vật mà ông nghĩ đó là một tàn lửa đã tắt vào khu rừng nhỏ gần nhà ông. Vài giờ sau đó, ông đã phát hiện lửa bốc lên tại khu vực này.
Rất may là 22 lính cứu hỏa đã có mặt kịp thời và 4.000 lít nước đã nhanh chóng khống chế được lửa, không gây thiệt hại vật chất nào. Ông bộ trưởng nói: “Tôi hoàn toàn không lường được nguy hiểm này, thật là phiền toái. Ai cũng có lúc vô ý như vậy”.
Mùa hè ở miền Nam nước Đức rất khô hanh và câu chuyện trên khiến nhiều người hả hê châm biếm khi ông bộ trưởng vẫn thường xuyên cảnh báo người dân phải hết sức cẩn thận với các rủi ro hỏa hoạn trong mùa khô. (Pháp Luật TP.HCM 9/10) đầu trang(
Một phụ nữ người Trung Quốc có biệt danh “Nữ vương ngà voi” đã bị nhà chức trách Tanzania bắt giữ và đưa ra tòa xét xử với cáo buộc buôn lậu gần 1,9 tấn ngà voi trị giá 2,7 triệu USD.
Theo tổ chức chuyên về bảo tồn voi Elephant Action League, Yang Feng Clan (ảnh), 66 tuổi bị cáo buộc cùng với 2 đối tượng nam giới người Tanzania, Manase Philemon và Silvanus Matembo, móc nối với những tay săn trộm voi quốc tế và khách hàng. Ba nghi phạm này hoạt động buôn lậu ngà voi trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-2000 đến 22-5-2014.
Thời gian gần đây, Yang đã lặng lẽ rời khỏi Tanzania để đến Uganda, nhưng trở lại Tanzania cách đây 1 tuần thì bị lực lượng chống buôn lậu động vật hoang dã của nước này bắt giữ.
Yang được cho là người gốc Bắc Kinh, đến  Tanzania những năm 1980 với vai trò là một phiên dịch, nhưng sau đó chuyển sang hoạt động buôn lậu ngà voi. Nếu bị kết tội, Yang có thể đối mặt với án phạt từ 20-30 năm tù giam. Chính quyền Tanzania ước tính, số lượng voi tại nước này đã sụt giảm mạnh, từ 109.051 con năm 2009 xuống còn 43.330 con năm 2014. (An Ninh Thủ Đô 10/10) đầu trang(
Theo tờ Express, bốn nhân viên kiểm lâm ở Vườn quốc gia Garamba, phía Bắc Congo đã bị những kẻ săn trộm voi bắn chết.
Một nhóm kiểm lâm khoảng 10 người đã đối mặt với những kẻ săn trộm trong lúc đi tuần. Phát ngôn viên của Vườn quốc gia Garamba cho biết những kẻ săn trộm tỏ ra hoàn toàn áp đảo so với lực lượng kiểm lâm và khiến họ buộc phải rút lui.
Một máy bay trực thăng đã được điều tới để giải cứu các nhân viên kiểm lâm nhưng chỉ có 6 người may mắn sống sót. Ông Erik Mararv, quản lý công viên Garamba, cho hay các vụ đụng độ giữa những kẻ săn trộm và nhân viên kiểm lâm đang ngày càng tăng trong thời gian qua.
Số lượng voi châu Phi đã giảm tới 60% trong thập kỷ qua với khoảng 30.000 con voi bị săn bắn mỗi năm để cung cấp ngà cho một số nước ở châu Á. (Vietnam + 10/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang