|
Ngày 13 tháng 08 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Tổng cục Hải quan, mặt hàng "than gỗ rừng trồng" nếu không đáp ứng được tiêu chí kĩ thuật được quy định tại Thông tư số 56/2013 thì không được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu (XK) 5%.
Về mặt hàng này, Cục Hải quan Bình Định đã có báo cáo Tổng cục Hải quan về vướng mắc. Cụ thể: Mặt hàng "than gỗ rừng trồng", mã số 44.02.90.90 trong Biểu thuế XK, để được hưởng mức thuế suất 5% phải đáp ứng về các tiêu chí kĩ thuật theo quy định tại Điều 2, Thông tư 56/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Thực tế hàng XK của doanh nghiệp không đáp ứng tiêu chuẩn ngoại quan, độ cứng và yêu cầu đen, bóng, cứng, rắn chắc, không nứt nẻ nên Hải quan Bình Định đã áp thuế XK theo thuế suất 10% (loại khác).
Theo trình bày của doanh nghiệpvà xác nhận của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định, các tiêu chuẩn hóa lí của than gỗ do doanh nghiệp sản xuất như: hàm lượng carbon cố định, nhiệt lượng, độ tro, độ bốc... (theo phiếu kiểm nghiệm số 674-1994.II/KT2-K5 của Trung tâm kĩ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 2) đều đạt và vượt yêu cầu so với quy định tại Thông tư 56/2013/TT-BTC.
Riêng chỉ tiêu ngoại quan, độ cứng theo quy định phải đen, bóng láng, cứng, rắn chắc, không nứt nẻ doanh nghiệp giải trình, thực tế than của doanh nghiệp do không lau chùi nên không bóng, đen, nếu lau chùi than sẽ bóng, đen và cứng rắn, chắc. Tuy nhiên có một vài vết rạn không đáng kể do trong quá trình sản xuất không thể không có, không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Do đó, doanh nghiệp đề nghị được xem xét yếu tố cảm quan để được hưởng thuế suất thuế XK 5%. (Hải Quan 13/8)đầu trang(
Ngày 1-8-2013, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 410 phê duyệt kế hoạch thu, chi tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2013, trong đó quy định thực hiện chi trả bình quân theo từng lưu vực sông chính gồm: sông Ba, sông Sê Rê Pốk và sông Sê San. Đối với lưu vực sông có mức chi trả cho hộ nhận khoán bảo vệ rừng dưới 200.000 đồng/ha thì sử dụng nguồn quỹ dự phòng của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh để hỗ trợ cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng đạt mức 200.000 đồng/ha.
Công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thực hiện cho 2 loại dịch vụ điều tiết nguồn nước cho sản xuất thủy điện và nước sạch. Theo kế hoạch năm 2013 được phê duyệt, tổng số tiền DVMTR chi trả cho các cơ sở cung ứng dịch vụ là 60.699,30 triệu đồng (trong đó: 56.754,20 triệu đồng nguồn DVMTR và 3.945,10 triệu đồng từ nguồn dự phòng) cho 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước; 108 xã thuộc 16 huyện, thị xã được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng và 7 chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn của 4 xã thuộc 3 huyện.
Hệ sinh thái rừng đã và đang cung cấp các loại DVMTR, bao gồm: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Người sử dụng DVMTR thực hiện trả tiền cho dịch vụ được hưởng từ bên cung ứng để duy trì các biện pháp quản lý tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp bền vững hơn mà nó cung cấp hệ sinh thái xác định. Trong quan hệ cung ứng và chi trả đối với DVMTR, đòi hỏi bên cung ứng DVMTR phải đảm bảo số lượng và chất lượng rừng cung ứng DVMTR. Số lượng và chất lượng cung ứng DVMTR phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ rừng-người trực tiếp quản lý bảo vệ rừng với vị trí có tính chất quyết định.
Chủ rừng là tổ chức nhà nước phải bảo đảm thực hiện đủ các hồ sơ, thủ tục gửi Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh gồm: bản cam kết quản lý bảo vệ rừng cung ứng DVMTR với Sở NN&PTNT; hợp đồng khoán và lập biểu thống kê danh sách các hộ nhận khoán bảo vệ rừng; lập biểu xác định diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường; lập bản đồ ranh giới diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường tỷ lệ 1/25.000. Đây là những yêu cầu bắt buộc làm cơ sở để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh để quản lý, kiểm tra, giám sát và tổng hợp tình hình chi trả DVMTR toàn tỉnh báo cáo cho cấp có thẩm quyền theo quy định của chính sách.
Trên cơ sở số tiền DVMTR đã xác định tại Quyết định số 410/QĐ-UBND, căn cứ các quy định tại Thông tư liên tịch số 62 và hướng dẫn của UBND tỉnh tại Công văn số 1487 ngày 17-5-2013, các chủ rừng lập dự toán trình thẩm định, phê duyệt đúng theo quy định của tỉnh. Đây là cơ sở để chủ rừng triển khai thực hiện chi trả và thanh toán; đồng thời là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình quản lý sử dụng tiền DVMTR của đơn vị chủ rừng.
Kết thúc năm, các chủ rừng lập báo cáo quyết toán tiền chi trả DVMTR được tập hợp vào báo cáo quyết toán chung theo quy định về quản lý tài chính đối với loại hình của tổ chức đó để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; lập báo cáo thực hiện chi trả DVMTR của năm theo mẫu số 9a được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 62/TTLT-BNNPTNT-BTC gửi Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh.
Tổ chức không phải là chủ rừng được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng hiện có trên địa bàn tỉnh là UBND các xã. Nhiệm vụ quản lý sử dụng tiền DVMTR trong năm 2013 đặt ra đối với UBND các xã phải có phương án quản lý bảo vệ rừng được UBND tỉnh phê duyệt. Trên cơ sở số tiền DVMTR được ghi trong kế hoạch thu, chi tiền DVMTR đã được UBND tỉnh phê duyệt của năm 2013, căn cứ phương án quản lý bảo vệ rừng; các xã lập dự toán sử dụng kinh phí theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 07/2012 về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng và quy định tại Điều 3 Thông tư số 85/2012 về hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ thực hiện.
Kết thúc năm, UBND xã quyết toán tiền chi trả DVMTR được tổng hợp vào báo cáo quyết toán của tài chính xã trình cho cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, thẩm định theo quy định hiện hành về chế độ tài chính cấp xã. Đồng thời, UBND xã lập báo cáo thực hiện chi trả DVMTR theo mẫu biểu 9a ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 62 gửi bộ phận chi trả cấp xã và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh.
Đối với 7 cộng đồng dân cư thôn phải có cam kết bảo vệ rừng với UBND xã; tiếp nhận tiền chi trả DVMTR sử dụng vào quản lý bảo vệ rừng theo các nội dung đã cam kết.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh nhận ủy thác chi trả tiền DVMTR từ bên sử dụng DVMTR cho các chủ rừng, có trách nhiệm lập kế hoạch chi trả hàng năm cho từng chủ rừng trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt. Trên cơ sở Quyết định phê duyệt của UBND tỉnh, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tiến hành tạm ứng và chuyển tiền chi trả cho từng chủ rừng theo quy định.
Công tác rà soát, lập phương án quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn xã; tổ chức rà soát khôi phục quyền sử dụng rừng của 7 cộng đồng dân cư thôn sẽ được Sở Nông nghiệp và PTNT, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh hướng dẫn các UBND huyện hoàn thành trước ngày 30-8-2013 để thực hiện cấp phát, quản lý, thanh toán. Ngoài ra, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng có trách nhiệm đôn đốc các cơ sở sử dụng DVMTR thực hiện hợp đồng ủy thác chi trả trong việc kê khai nộp tiền vào quỹ để kịp thời chi trả, bảo đảm kế hoạch chi trả được thực hiện đạt hiệu quả.
Bên cung ứng DVMTR có trách nhiệm thực hiện đầy đủ về nội dung, thủ tục hồ sơ quản lý và thời gian theo quy định; quản lý, sử dụng tiền chi trả đúng mục đích, đúng quy định của chính sách.
Mỗi bên tham gia trong mối quan hệ hệ chi trả-thanh toán tiền DVMTR cần đề cao tinh thần trách nhiệm phối hợp, tuân thủ nghiêm túc các quy định của chính sách chi trả, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các bên đều hoàn thành nhiệm vụ đặt ra góp phần cho chính sách chi trả DVMTR phát huy tác dụng thúc đẩy quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Báo Gia Lai 11/8)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
12-8, tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng), Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức hội thảo “Tham vấn xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng Xanh, giai đoạn 2013-2020”.
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Thủ tướng phê duyệt ngày 25-9-2012, thể hiện chủ trương và quyết tâm của Việt Nam trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà chiến lược đề ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng dự thảo “Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2013-2020”, bao gồm 11 nhóm giải pháp và hành động cụ thể.
Tại Hội thảo, các chuyên gia và đại diện các địa phương nhất trí với những nội dung cơ bản của dự thảo. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng đã bổ sung một số giải pháp nhằm hiện thực hóa và thúc đẩy kế hoạch tăng trưởng xanh tại Việt Nam, đó là: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tăng trưởng xanh; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ tăng trưởng xanh cho từng từng khu vực, địa phương; hoàn thiện cơ chế khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường; nâng cao mức chi trả đối với dịch vụ môi trường rừng nhằm hạn chế nạn phá rừng ... (Quân Đội Nhân Dân 12/8)đầu trang(
Ngày 12.8 tại TP.Rạch Giá (Kiên Giang), Bộ Tài nguyên - Môi trường trao chứng chỉ công nhận Vườn di sản ASEAN cho Vườn quốc gia (VQG) U Minh Thượng của tỉnh Kiên Giang.
Trong hệ sinh thái rừng úng phèn của ĐBSCL, chỉ còn duy nhất hệ thực vật rừng của vùng lõi thuộc VQG U Minh Thượng có những đặc điểm của rừng cực đỉnh nguyên sinh.
Đó là các ưu hợp rừng tràm hỗn giao và rừng tràm trên đất than bùn, với diện tích gần 3.000 ha. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Bùi Cách Tuyến yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang cần sớm xây dựng hồ sơ đề cử khu ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) cho VQG U Minh Thượng. (Thanh Niên 13/8)đầu trang(
Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim Nguyễn Văn Hùng cho biết, hiện nay Vườn đã kiểm soát được sự xâm hại của cây mai dương và đang xử lý dần. Từ năm 2005, diện tích cây này xâm lấn gần 1.000ha, đến nay chỉ còn hơn 283ha.
Cây mai dương còn được gọi là trinh nữ trâu, trinh nữ tây, móc mèo Mỹ, tên khoa học là Mimosa pigra thuộc họ đậu, được Tổ chức Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) liệt vào danh sách 100 loài ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất trên thế giới. Đây là một loại cây bụi, mọc dày đặc và có rất nhiều gai cứng.
Tác hại chính của cây mai dương tại Vườn Quốc gia Tràm Chim là làm thay đổi thảm thực vật, gây tác hại đến hệ động vật nhất là loài chim, thú, đặc biệt ảnh hưởng đến loài sếu quý hiếm về đây sinh sống, làm cho các loài thực vật khác không thể mọc được dưới tán của nó.
Từ nhiều năm qua, Vườn Quốc gia Tràm Chim được Công ty Coca-Cola và Tổ chức WWF (Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên) giúp tiêu diệt 200ha cây mai dương bằng biện pháp chặt và đốt bỏ.
Vườn còn thành lập Đội kiểm soát cây mai dương cơ động gồm 20 người thường xuyên đi diệt cây này, đồng thời được sự hỗ trợ của Quỹ môi trường toàn cầu Liên hiệp quốc, Trường Đại học Cần Thơ và Đại học Khoa học tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh đã thí nghiệm thành công từ việc sử dụng thân cây mai dương làm nguyên liệu sản xuất nấm như nấm linh chi, nấm mèo hay nấm bào ngư.
Vườn Quốc gia Tràm Chim còn xử lý cây mai dương bằng bằng giải pháp cơ học, hóa học, sinh học; đối với giải pháp cơ học là chặt và đào gốc rễ trước khi nước lên, biện pháp sinh thái là dùng lửa đốt (sau khi chặt cây mai dương khoảng 15 ngày) trên diện tích đã chặt, nhổ gốc và kiểm soát bằng biện pháp chặt và đào gốc cây sau khi mực nước hạ vào tháng 12 trên các diện tích đã diệt.
Phòng Quản lý tài nguyên thiên nhiên của Vườn đang tiến hành khoanh vùng xâm lấn của cây mai dương ở tất cả năm phân khu, để làm cơ sở lập một dự án đầu tư diệt trừ cây mai dương với sự tham gia của cộng đồng trong việc phòng trừ, nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Tràm Chim. (VietnamPlus 11/8) đầu trang(
Khách nhiều lần hẹn gặp nhưng ông Nguyễn Trường Sơn ở phường Phú Hội, TP Pleiku (Gia Lai) luôn bận việc. Người đàn ông 49 tuổi này cũng thận trọng dò xét xem người tìm mình là ai bởi ông đang sở hữu 4 khúc ngà voi hóa thạch quý hiếm, nếu ráp lại thành phần ngọn của chiếc ngà dài 1,26 m.
Theo chủ nhân chiếc ngà voi quý, khoảng 40 năm trước cha ông là nhà nhiếp ảnh, thường xuyên có những chuyến hoạt động nghệ thuật ở Chư A Thai thuộc huyện Phú Thiện. Những lần đi săn ảnh, cha ông Sơn cùng ăn, cùng ở với người đồng bào thiểu số bản địa. Quý chàng nghệ sĩ thường giúp đỡ dân làng, cha ông được già làng tặng 4 khúc "đá" mà người dân nơi đây cho rằng rất quý.
Vài năm trước người cha ngoài 80 tuổi tặng con trai 4 khúc "đá" có tổng trọng lượng 24 kg. Có lần ông Sơn dọn nhà đã mang 4 khúc "đá" đặt dưới gầm giường. Từ đấy phòng ngủ của gia chủ luôn có cảm giác mát dịu dù thời tiết xung quanh nắng gắt. Khi ráp 4 khúc "đá" với nhau, mọi người nhận ra đây là phần ngọn của chiếc ngà voi hóa thạch, xung quanh dính những hạt li ti nhiều màu.
"Theo tôi, những hạt li ti này là thủy tinh nham thạch trong quá trình miệng núi lửa đang hoạt động bám vào. Nhận định này có cơ sở bởi vùng đất phát hiện chiếc ngà voi hóa thạch cách miệng núi lửa Hàm Rồng của TP Pleiku khoảng 30 km theo đường chim bay. Nhiều tài liệu ghi rằng thủy tinh nham thạch ngoài tác dụng làm mát cho không gian xung quanh còn có khả năng chữa bệnh", ông Sơn cho biết.
Ông Sơn đã đưa 4 khúc "đá" đi kiểm định. Kết quả giám định từ Viện khảo cổ học Việt Nam thể hiện C-14 (Cacbon 14, độ tin cậy 98%), niên đại 19.450 năm trước Công nguyên. Viện đá quý - Trang sức cũng cấp giấy chứng nhận kiểm định đá quý cho chiếc ngà voi này.
Giải thích lý do đến nay mới công bố việc sở hữu ngà voi hóa thạch, ông Sơn cho hay vì Luật Di sản Việt Nam đã cho phép người dân được sở hữu cổ vật, báu vật… "Hay tin về chiếc ngà quý hiếm, nhiều thương gia nước ngoài tìm gặp tôi để hỏi mua với giá 4 triệu USD. Cũng có người đề nghị tôi cổ phần 50-50 để mang đi triển lãm khắp thế giới, lợi nhuận chia đều. Những lời đề nghị ấy đều bị từ chối vì tôi muốn phối hợp cùng các nhà khoa học nghiên cứu về lịch sử liên quan đến loài voi mang chiếc ngà này", ông nói.
Cũng theo ông Sơn, bằng kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu động vật rừng, ông nghĩ chiếc ngà thuộc "kỷ băng giá" và loài voi sống ở khu vực này lúc bấy giờ tạm gọi là F2, tức rất gần với voi ma mút và voi Việt Nam ngày nay. Phần gốc còn lại của chiếc ngà có thể dài đến 2,8 m, nặng 48 kg.
Hiện ông Sơn muốn làm rõ tất cả thông số đáng tin cậy về chiếc ngà voi đang sở hữu. Sau khi xác lập đầy đủ thông tin, ông sẽ dựng lại phiên bản, đúc một cặp ngà bằng thạch cao đính phụ gia cho giống với thủy tinh nham thạch.
Về phần thân voi, ông lên kế hoạch tìm voi trưởng thành, cân đo các chỉ số cơ thể sao cho phù hợp với độ dài chiếc ngà để dựng lại con voi tương thích. Điều này có thể đơn giản vì chủ nhân không thiếu tiền nhưng băn khoăn nhất hiện nay của ông Sơn là loài voi của gần 20 nghìn năm trước có lông rậm như voi ma mút hay trụi lông như voi Việt Nam bây giờ.
Ông Sơn hiện là chuyên viên động vật rừng, thành viên Phân viện quản lý rừng bền vững thuộc Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam. Ông từng thực hiện khoảng 20 tiêu bản tạo mẫu động vật rừng có giá trị cho Phân viện, các trường đại học lâm nghiệp, góp phần nghiên cứu, bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm.
Ngoài ra, ông Sơn còn gánh vác cơ nghiệp thuộc lĩnh vực da thú tổ truyền đến đời thứ ba. Trước đây ông làm trong ngành mỹ thuật ở TP HCM nên đã kết hợp, nâng tầm nghề nghiệp của gia đình. Ngoài sản phẩm thuộc da, nhồi bông, ông Sơn còn tạo dáng để sao cho con thú sinh động khiến người xem cảm giác như là nó đang còn chạy nhảy. (Vnxpress.net 11/8)đầu trang(
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau nhờ có vị trí địa lý đặc biệt, là phần đất liền chót cùng phía nam với ba mặt giáp biển, có nhiều bãi cát bùn ngập triều ven bờ giữ vai trò quan trọng đối với các loài chim nước di trú theo mùa.
Đây là khu rừng ngập mặn nguyên sinh lớn nhất Việt Nam, thứ hai trên thế giới vẫn còn giữ nguyên quá trình diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập ven biển, có tính đa dạng sinh học cao, đáp ứng được nhiều tiêu chí (4/15) của vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, nên được Ban thư ký công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới, thứ 5 của Việt Nam, và vừa được đón nhận Bằng chứng nhận Khu Ramsar vào ngày 13/4/2013 vừa qua.
Cũng chính nhờ ba bề giáp biển, sinh cảnh đặc thù, tính đa dạng sinh học phong phú, diện tích rừng nguyên sinh lớn nên Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một trong các vùng lõi quan trọng của Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau. Hệ sinh thái đặc thù này rất cần được bảo tồn tốt và nghiên cứu sâu hơn, với tổng diện tích khá lớn, gần 42.000 ha, trong đó phần đất liền có rừng ngập nước theo thủy triều hơn 15.000 ha, còn lại là các bãi cát bùn ven bờ và các bãi bùn ngập triều hơn 26.600 ha.
Giá trị lớn không thể tính của khu Ramsar này chính là bãi đẻ hay cái nôi của hàng trăm loài tôm, cua, cá, nhuyễn thể... và cũng là nơi tìm thức ăn, trú đậu của các loài chim nước di trú theo mùa đến từ nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt có sự xuất hiện các loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ của IUCN như rái cá lông mũi, cò trắng Trung Quốc. Rừng đước ở đây có lâm phần và trữ lượng sinh khối lớn nhất, nó lưu chứa sự đa dạng sinh học phong phú với rất nhiều chủng loài động, thực vật, thủy hải sản, bò sát... nhiều loài có giá trị kinh tế cao.
Theo các tài liệu, sự đa dạng sinh học nơi đây thể hiện ở các số liệu kiểm đếm của nhiều công trình khoa học, gồm khoảng 60 loài thực vật, 92 loài chim, 32 loài thú, 43 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư, hàng trăm giống loài thủy hải sản..., có rất nhiều loài có giá trị nhiều mặt. Tuy nhiên, những số liệu này theo thời gian có thể đã biến đổi nhiều, cần phải có sự cập nhật và có những loài có giá trị đang khai thác nhưng hầu như chưa được nghiên cứu gì nhiều. Do vậy đây quả là một kho tàng lớn ẩn chứa nhiều công trình khoa học vô giá, nhiều vấn đề mới cần khám phá mà các nhà khoa học không thể bỏ qua!
Vùng đất thiêng liêng này từng được mệnh danh là “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”, nơi có “đất biết đi và rừng cứ mãi sinh sôi” với thảm rừng xanh trên bãi đất bùn trải rộng bạt ngàn từ đông sang tây, cho đất nước trẻ trung, vững vàng vươn xa, cắm sâu vào đại dương. Và cũng chính từ những bãi triều cạn, những bóng rừng xanh ấy đã tạo điều kiện tốt cho hàng vạn loài thủy tộc quy tụ về đây nương tựa và sinh sôi phát triển bao đời. Cũng từ đó vùng biển Mũi Cà Mau mặc nhiên trở thành ngư trường rộng lớn, là một trong 4 ngư trường trọng điểm của nước ta lâu nay.
Ở đây, dải rừng xanh hiện hữu, hay con sò, con nghêu là những vật thể hữu hình và có giá trị kinh tế trước mắt nhìn thấy được, còn những giá trị vô giá tàng ẩn bên trong, bên dưới bãi triều và dưới tán cây rừng là vô hình khó thấy, nên bọn lâm tặc hay những kẻ phá hoại tài nguyên khác chỉ biết chặt cây rừng, trộm nghêu, múc cát... mà không hề thương tiếc, giữ gìn những thứ quý báu vô giá sẽ mất đi theo cùng với những thứ mà họ xâm hại mang đi.
Vì thế có bảo vệ được cánh rừng ngập mặn ven biển này thì mới bảo vệ được những giá trị vô giá dưới tán rừng, trên các bãi triều, cùng những giá trị có thể sinh lợi từ rừng - biển thông qua các dịch vụ hệ sinh thái phù hợp. Bảo vệ được rừng ngập mặn ven biển, đặc biệt là rừng đước, cũng có nghĩa góp phần bảo vệ tích cực bờ biển nhằm chống lại hiện tượng xói lở do sóng biển xâm thực trong bối cảnh sông Mekong đang và sẽ bị ngăn chặn khiến quỹ trầm tích suy giảm, không đủ bồi đắp như trước đây, và sẽ có tác dụng ngăn gió bão, triều cường do biến đổi khí hậu đang diễn ra dần rõ ràng và ngày càng phức tạp khó đoán. (Khoa Học Phổ Thông 12/8) đầu trang(
Người dân các xã Hầu Thào, Lao Chải, Bản Khoang, Sa Pả và Tả Phìn (Sa Pa) đã làm đất trồng mới 15 ha cây dược liệu atiso trong vụ hè thu năm nay.
Như vậy, tổng diện tích vùng nguyên liệu dược liệu của huyện Sa Pa lên gần 50 ha, vượt diện tích cây dược liệu thời "hoàng kim" nhất của huyện những năm 1970 của thế kỷ trước hàng chục ha.
Huyện Sa Pa xác định cây dược liệu là một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế và sẽ nâng diện tích lên hàng trăm ha, trong đó riêng cây atiso chiếm khoảng 50%.
Theo ông Nguyễn Tiến Thành, Trưởng phòng Kinh tế huyện Sa Pa, giá bán cây atiso luôn ổn định ở mức 2.500 đồng/kg. Những năm trước đã có hộ trồng atiso đạt mức thu nhập gần 50 triệu đồng/năm; nếu thâm canh tốt, có thể cho năng suất 100 tấn/ha và thu nhập gấp đôi. (Tin Tức 12/8)đầu trang(
Tin từ Sở NN&PTNT cho biết, trong 5 năm qua, thực hiện chủ trương bảo vệ, phát triển và làm giàu từ rừng, toàn tỉnh đã trồng rừng tập trung được 4.280 ha, gần 9.720 ha rừng được khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ. Tỷ lệ che phủ cây xanh là 44%, trong đó che phủ của rừng là 13%.
Thời gian qua, ngành nông nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng để đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật bảo vệ rừng tới mỗi người dân. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cũng được triển khai đồng bộ, góp phần làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Riêng từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện khoán bảo vệ rừng 1.873 ha; khoanh nuôi phục hồi rừng 335 ha. Hiện các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chuẩn bị 94.500 cây giống để phục vụ trồng khoảng 189 ha rừng trong mùa mưa năm 2013. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 11/8)đầu trang(
12/8, đoàn công tác của UBND tỉnh do đ/c Đinh Viết Hồng – phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Quỳnh Lưu.
Tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Viết Hồng ghi nhận, đánh giá cao những kết quả mà công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Quỳnh Lưu đạt được trong thời gian qua. Đồng chí cũng lưu ý thời gian tới, công ty cần quan tâm thực hiện tốt hơn nữa việc đảm bảo đời sống, chế độ cho người lao động; phối hợp với chính quyền địa phương giải quyết dứt điểm tình trạng lấn chiếm và đóng cột mốc ranh giới để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng. Việc khai thác nhựa thông cần kết hợp chặt chẽ với bảo vệ tài nguyên rừng để đảm bảo sinh trưởng, kéo dài tuổi thọ cho cây…
Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Quỳnh Lưu hiện quản lý gần 1.600ha rừng và đất rừng, trong đó có 716ha rừng thông nhựa khai thác hàng năm. Công ty luôn làm tốt việc phòng chống sâu bệnh hại rừng và công tác PCCCR. Ngoài đảm bảo mức lương bình quân 2,1 triệu đồng/người/tháng cho công nhân, công ty đã thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, đảm bảo việc đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn cho người lao động. (Đài PT- TH Nghệ An 12/8)đầu trang(
Để thực hiện tốt kế hoạch trồng 730 ha rừng, trong đó rừng kinh tế 230 ha và rừng phòng hộ 500 ha trong năm 2013, các cơ quan chuyên môn, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mù Cang Chải đang tập trung hướng dẫn kỹ thuật, thiết kế trồng rừng, sản xuất cây giống lâm nghiệp.
Với quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2013 đúng thời vụ, UBND huyện đã sớm giao kế hoạch trồng rừng, điều kiện cho các đơn vị chủ động sản xuất cây giống. Cùng với đó, các đơn vị trồng rừng, UBND các xã đã triển khai rà soát diện tích, thiết kế ngoại nghiệp, phát dọn thực bì để tổ chức cuốc hố trồng.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác trồng rừng, tiến hành rà soát, thống kê nhu cầu trồng rừng của nhân dân, phối hợp với ban quản lý các khu trên địa bàn tập huấn hướng dẫn kỹ thuật, cuốc hố, phát dọn băng, cung ứng đầy đủ, kịp thời cây giống đảm bảo chất lượng.
Các xã có diện tích trồng rừng lớn là: Nậm Có 60 ha, Púng Luông 30 ha, Lao Chải 30, Mồ Dề 20 ha, Nậm Khắt và Hồ Bốn 30 ha. (Báo Yên Bái 11/8)đầu trang(
Từ năm 2010 đến hết năm 2013, UBND tỉnh hỗ trợ gần 5 tỷ đồng để phát triển vùng nguyên liệu mây, lùng nhằm tạo nguồn nguyên liệu bền vững, góp phần phát triển nghề mây tre đan của tỉnh.
Số tiền này được dùng để hỗ trợ 50% giá giống và tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người trồng mây, trồng lùng. Nhờ vậy, bước đầu đã hình thành các vùng nguyên liệu mây tre đan tại các huyện như Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Yên Thành, Quỳnh Lưu…
Qua thực hiện chính sách, hàng nghìn lao động nông thôn đã được đào tạo, tập huấn, chuyển giao công nghệ chế biến, sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu, từ đó nâng cao thu nhập cho rất nhiều hộ dân nông thôn. (Đài PT- TH Nghệ An 13/8)đầu trang(
Với trên 479 nghìn ha đất lâm nghiệp, Yên Bái được xếp vào tốp đầu trong các tỉnh miền núi phía Bắc có lợi thế về lâm nghiệp. Trong những năm qua, nhân dân, các nông - lâm trường đã đẩy mạnh phát triển rừng kinh tế.
Bằng nhiều nỗ lực, đến nay toàn tỉnh đã trồng được trên 264 ngàn ha, chiếm 52,9% diện tích đất lâm nghiệp. Rừng kinh tế đã và đang góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo và làm giầu ở nhiều vùng quê.
Nhằm phát huy thế mạnh lâm nghiệp, những năm qua, tỉnh đã rà soát, quy hoạch 3 loại rừng, rà soát quỹ đất rừng sản xuất giao quyền làm chủ cho người dân; quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến; đổi mới cơ chế mô hình quản lý trong lĩnh vực lâm nghiệp...
Thông qua các chương trình, dự án trồng rừng như: Dự án trồng rừng 661, Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTG, Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a, cùng với việc thực hiện tốt công tác khuyến lâm mà diện tích rừng ngày một tăng. Phong trào trồng rừng phát triển từ vùng thấp đến vùng cao. Hàng năm, toàn tỉnh trồng mới được trên 12.000ha rừng kinh tế. Kinh tế đồi rừng đã góp phần xóa đói giảm nghèo cho các vùng quê. Đã xuất hiện nhiều trang trại rừng cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Đặc biệt, những năm gần đây, giá bán gỗ nguyên liệu từ gỗ rừng trồng mang lại thu nhập khá cao. Giá keo lai trung bình đạt trên 800 nghìn đồng/m3, đã thu hút nhiều người dân trồng rừng kinh tế. Theo các hộ sống được bằng nghề rừng thì chỉ sau 6-7 năm 1ha keo có thể cho thu từ 70-80m3 gỗ, nếu chăm sóc tốt có thể đạt 120m3, trừ chi phí mỗi ha người dân có thể lãi từ 45-50 triệu đồng.
Theo Niên giám thống kê thì giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng từ 237 tỷ đồng năm 2000 lên 917 tỷ đồng năm 2010. Sản xuất lâm nghiệp đã tạo việc làm cho hơn 90.000 hộ dân và trên 370 nghìn lao động có thu nhập từ kinh tế lâm nghiệp, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người trồng rừng.
Cùng với việc phát triển trồng rừng, công nghiệp chế biến gỗ cũng phát triển mạnh. Tính đến năm 2012, trên địa bàn toàn tỉnh có gần 400 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước, 26 công ty trách nhiệm hữu hạn, 15 công ty cổ phần, 21 doanh nghiệp tư nhân, 32 hợp tác xã, còn lại 295 hộ cá thể. Sản phẩm chế biến chủ yếu gồm gỗ xẻ các loại; ván dăm ép, đũa gỗ, tre; giấy đế, giấy vàng mã, vỏ quế khô, tinh dầu quế.
Hàng năm, các cơ sở sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn cung cấp cho thị trường khoảng 35.000m3 gỗ xẻ, 43.700m3 ván ghép thanh, 16.500m3 ván ép, 123.000m3 ván bóc, 461 triệu đôi đũa…, gần 40.000 tấn giấy đế, giấy vàng mã. Tổng doanh thu hàng năm từ chế biến gỗ đạt trên 500 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, so với tiềm năng, mạng lưới lâm sản chế biến gỗ còn hạn chế, mới chỉ tận dụng được một phần nguồn nguyên liệu sẵn có dẫn đến giá trị sản phẩm gỗ rừng trồng còn thấp.
Có thể nói, kinh tế rừng đã phát triển mạnh, song tỷ trọng giá trị so với toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp còn hạn chế, mới chỉ chiếm 22,6%. Rừng trồng tăng lớn về diện tích nhưng chất lượng rừng không đồng đều, rừng trồng từ các công ty lâm nghiệp do được đầu tư thâm canh nên trữ lượng đạt từ 80-100m3/ha, còn rừng trồng của các hộ gia đình đầu tư thấp, nguồn giống kém chất lượng, trồng quảng canh nên chất lượng rừng không đồng đều và chỉ đạt khoảng 50-70m3/ha. Cùng với đó là đời sống người trồng rừng còn khó khăn nên nhiều hộ bán rừng non từ 5-7 năm tuổi dẫn đến trữ lượng thấp.
Để phát triển kinh tế rừng, trong thời gian tới, tỉnh hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ổn định lâu dài để kinh doanh nghề rừng; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển rừng, nhất là kinh tế tư nhân, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung có quy mô thích hợp; khuyến khích các hình thức đổi điền, liên doanh liên kết và thành lập các trang trại nông lâm nghiệp; chuyển nghề rừng từ chủ yếu sử dụng tiền ngân sách sang nghề rừng có lợi nhuận; nâng cao năng lực cung cấp lâm sản đa dạng của rừng, đặc biệt là nguồn lâm sản ngoài gỗ; tận dụng tối đa diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp để hình thành các khu rừng trồng nguyên liệu tập trung.
Bên cạnh đó cần nhanh chóng thiết lập hệ thống rừng giống, vườn giống keo mỡ, tuyển chọn các dòng có năng suất cao đưa vào sản xuất; nâng cao năng suất rừng trồng thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học trong khâu chọn giống và kỹ thuật thâm canh rừng. Ngoài ra, để nâng cao giá trị sản phẩm gỗ rừng trồng, cần tiếp tục phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu; khuyến khích đầu tư chiều sâu cho các cơ sở chế biến hiện có, như cơ sở chế biến gỗ dân dụng cao cấp và trang trí nội thất…
Khi hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tiến hành kêu gọi đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp thành nhà máy chế biến lâm sản công suất lớn; ứng dụng công nghệ mới vào chế biến lâm sản để nâng cao hiệu quả kinh tế và tiết kiệm nguyên liệu như chế biến ván dăm, ván sợi, ván ép; khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mây, tre xuất khẩu phát triển, giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn ở khu vực nông thôn. (Báo Yên Bái 12/8)đầu trang(
Hàm Thuận Bắc là một trong những địa phương của tỉnh Bình Thuận có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Trong những năm qua, lãnh đạo địa phương đã có nhiều nỗ lực trong kêu gọi đầu tư, thu hút các nhà doanh nghiệp thực hiện dự án nông, lâm nghiệp để góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội địa phương.
Hiện nay, Hàm Thuận Bắc có nhiều dự án nông, lâm nghiệp được chấp thuận đầu tư. Nhiều dự án nông, lâm nghiệp đã triển khai khá tích cực, bước đầu đem lại hiệu quả về giá trị sử dụng đất, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đem lại sản phẩm cho xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực từ việc triển khai thực hiện các dự án nông, lâm nghiệp cũng còn một số hạn chế như: vướng mắc giải tỏa đền bù, chậm triển khai, đầu tư cầm chừng, năng lực tài chính của chủ đầu tư yếu… Để đi sâu giải quyết những tồn tại trên, vừa qua UBND tỉnh đã chỉ đạo cơ quan Thanh tra tỉnh thành lập đoàn thanh tra để thanh tra việc quản lý, sử dụng đất các dự án nông, lâm nghiệp do UBND tỉnh chấp thuận đầu tư trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc.
Theo kết quả thanh tra, tính đến thời điểm cuối tháng 2/2013, trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư, giao đất, cho thuê đất là 37 dự án nông, lâm nghiệp, với tổng diện tích đất 7.958,2303 ha.
Qua kiểm tra thực tế, xác định có 16 dự án đã đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả bước đầu trên đất được giao (được cho thuê) với diện tích 4.506,4343ha, chiếm 56,62%. Bên cạnh đó có 11 dự án chậm triển khai, mới đầu tư một phần diện tích, hiệu quả kém và sai mục tiêu với diện tích 2.091.27ha, chiếm 26,27%. Ngoài ra có 5 dự án đầu tư vướng đền bù, giải tỏa, vướng các thủ tục và bị dân lấn, chiếm đất với diện tích 1.143,276ha, chiếm 14, 36%. Còn lại 3 dự án được chấp thuận đầu tư nhưng chưa được giao đất, cho thuê đất với diện tích 217,25 ha, chiếm 2,72% .
Đối với các dự án triển khai đầu tư đúng mục tiêu, đã góp phần sử dụng đất đúng mục đích, cải tạo môi trường tự nhiên, giải quyết nhu cầu việc làm cho một số lao động ở địa phương. Tuy nhiên, số dự án chậm triển khai, mới đầu tư một phần diện tích, hiệu quả kém, sai mục tiêu, vướng đền bù, giải tỏa, vướng các thủ tục khác và bị dân lấn, chiếm đất còn nhiều.
Nguyên nhân chủ yếu là do việc khảo sát, lập, thẩm định dự án để đề nghị chấp thuận đầu tư của chủ dự án và các ngành, địa phương có liên quan chưa chính xác; từ đó có một số dự án tự ý chuyển đổi mục tiêu nhưng không xin phép cơ quan có thẩm quyền; việc quản lý, sử dụng đất sau khi được Nhà nước giao, cho thuê của các chủ dự án còn lỏng lẻo; việc phối hợp với chính quyền địa phương để giải quyết tình trạng dân lấn, chiếm đất của dự án chưa chặt chẽ, kém hiệu quả làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án. Một số dự án được giao đất là rừng nghèo kiệt, phải thực hiện việc tận thu lâm sản trước khi triển khai và một số diện tích các dự án được giao là rừng nghèo kiệt nằm trong quy hoạch 3 loại rừng, chờ chủ trương cải tạo rừng nên chưa thực hiện được.
Từ thực tế kết quả thanh tra, Thanh tra tỉnh đã có ý kiến đề xuất, kiến nghị với UBND tỉnh, các sở, ngành liên quan và chính quyền huyện Hàm Thuận Bắc:
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành chức năng có liên quan khi tiến hành khảo sát, thẩm định hồ sơ các dự án cần nắm chắc năng lực của chủ dự án, hiện trạng đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện thổ nhưỡng... để trình UBND tỉnh chấp thuận đầu tư, giao đất, cho thuê đất chính xác, bảo đảm các dự án triển khai đúng mục tiêu, đạt hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, theo dõi tiến độ và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ đầu tư của từng dự án; yêu cầu các chủ dự án thực hiện tốt nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
UBND tỉnh cho gia hạn thời gian triển khai dự án đến hết ngày 31/12/2013 đối với 10 dự án nông lâm nghiệp của: Công ty TNHH Thuận Uyên; Công ty TNHH Hoàng Nguyên; DNTN DV -TM Văn Mười; Công ty TNHH XD-TM Cát Minh; Công ty TNHH thanh long Việt Hàn; Công ty TNHH Kim Sơn; Công ty TNHH Vạn Đức; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận; Công ty cổ phần Gia Thành; Công ty TNHH Nông nghiệp Trường Lâm. Nếu đến cuối năm 2013 mà các dự án trên không thực hiện đúng cam kết thì kiên quyết thu hồi dự án.
Sở Tài nguyên và Môi trường cần hướng dẫn Công ty TNHH Đại Phúc, Công ty TNHH Phú Hòa, Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận (diện tích 805ha nằm trong 1.512 ha), Công ty cổ phần TaZon (dự án 44 ha) hoàn tất thủ tục về đất để trình UBND tỉnh giao, cho thuê đất để triển khai thực hiện dự án. UBND huyện Hàm Thuận Bắc chỉ đạo các ngành chức năng của huyện phối hợp với UBND các xã có dự án nông lâm và chủ dự án tích cực giải quyết đối với 6 dự án đang triển khai nhưng vướng đền bù (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận, Công ty TNHH Hà Thành, DNTN Tùng Hưng, Công ty TNHH Phát Hải, Công ty TNHH Đại Phúc, Công ty TNHH Phú Hòa).
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc sớm báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo giải quyết. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm tình trạng lấn chiếm đất đai, nhất là lấn chiếm đất của các dự án. (Báo Bình Thuận 12/8)đầu trang(
Công ty cổ phần Placo, Hải Phòng đang lập dự án đầu tư xây dựng khu vực nhà máy chế biến gỗ trên diện tích 60 ha thuộc Cụm công nghiệp Đạ Huoai.
Khi đi vào hoạt động, công ty này được phép thuê đất trồng rừng, liên doanh, liên kết với các đơn vị chủ rừng, các hộ dân trong khu vực để phát triển vùng nguyên liệu gỗ chế biến ổn định, lâu dài.
Bên cạnh các đơn vị chủ rừng và hộ dân đã phát triển khoảng 2.000 ha diện tích rừng keo nguyên liệu trên các địa bàn huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lâm, Di Linh, Công ty Placo sẽ tiếp tục nghiên cứu trồng thêm nhiều giống cây lâm nghiệp phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng trong vùng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng các mặt hàng gỗ chế biến của công ty trên thị trường. (Báo Lâm Đồng 11/8)đầu trang(
Trong 2 ngày 8 - 9/8, Dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng” tỉnh tổ chức bàn giao gần 3.000 cây trám đen giống và phân bón cho nông dân 5 xã trong vùng dự án ở 2 huyện: Quảng Uyên và Hạ Lang.
Tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, hơn 100 nông hộ ở 2 xóm Đâư Cọ và Lũng Vài nhận gần 1.000 cây trám đen, 153 kg phân NPK để thực hiện mô hình trồng trám. Đây là giống trám ghép do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nghiên cứu và cung ứng cho các tỉnh miền Bắc. So với giống trám đen thuần, trám ghép có khả năng sinh trưởng khá tốt, phù hợp thổ nhưỡng, khí hậu ở Cao Bằng, sau 4 năm đã cho thu hoạch. Nếu thâm canh tốt, năng suất đạt từ 50 - 100kg quả/cây/vụ.
Ngoài ra, các xã Tự Do (Quảng Uyên) và An Lạc, Kim Loan (Hạ Lang) được dự án hỗ trợ hơn 500 cây trám giống, 100 kg phân bón NPK triển khai mô hình ở 6 xóm. Xã Đức Quang (Hạ Lang) là địa phương được hỗ trợ nhiều nhất với hơn 1.300 cây giống; 250 kg phân NPK.
Tại các điểm bàn giao giống cây, kỹ thuật viên Ban Quản lý Dự án hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc trám đen cho nông dân. (Báo Cao Bằng 11/8)đầu trang(
Nguồn tin từ Cơ quan CSĐT Công an H.Buôn Đôn (Đắk Lắk) ngày 12.8 cho biết cơ quan này đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Phạm Văn Vượng (38 tuổi, trú xã Krông Na, H.Buôn Đôn) về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Như đã đưa tin, ngày 9.6, các cơ quan chức năng H.Buôn Đôn phát hiện một bãi tập kết gỗ lậu ngay bìa rừng của Khu du lịch văn hóa - sinh thái Bản Đôn do Công ty cổ phần Thương mại - du lịch Bản Đôn (đóng trên địa bàn xã Krông Na, H.Buôn Đôn) quản lý và bảo vệ.
Kết quả điều tra đã xác định vào đầu tháng 5.2013, Phạm Văn Vượng được Công ty cổ phần thương mại - du lịch Bản Đôn thuê thu gom củi, gỗ, cây đổ tại tiểu khu 469, xã Krông Na. Lợi dụng việc thu gom, Vượng bàn bạc, thỏa thuận với Nguyễn Thành Lam, trú xã Krông Na, cho người khai thác trái phép gỗ trên địa bàn.
Từ ngày 15.5, Lam thuê 3 người Nguyễn Hùng Danh, Lê Minh Tiến và Đàm Thanh Cửu dùng cưa máy cắt hạ gỗ trong 8 ngày, đến khi chính quyền xã Krông Na phát hiện mới dừng lại.
Qua khám nghiệm hiện trường, cơ quan chức năng xác định 221 cây rừng bị triệt hạ, trong đó 138 cây đã bị lấy đi phần gỗ. Số gỗ thu giữ được tổng cộng 47,159 m3, gồm các loại: hương, căm xe, cà chít, chiêu liêu, gáo vàng. (Thanh Niên 13/8)đầu trang(
Chiều 12-8, ông Trà Tho - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Phú Quốc - cho biết kết quả giám định từ Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật (Hà Nội) gửi về khẳng định ba con vật bị săn trộm và giết hại tại khu vực rừng Cây Thông thuộc ranh giới Vườn quốc gia Phú Quốc chính là voọc bạc Đông Dương.
Theo ông Tho, do đây là động vật quý hiếm nguy cấp thuộc nhóm 1B cấm săn bắt dưới mọi hình thức, nên các đối tượng tham gia vào vụ săn trộm sẽ bị đề nghị xử lý hình sự.
Đến thời điểm này, cơ quan chức năng đã xác định bốn đối tượng săn trộm voọc bạc là Dương Công Lực (SN 1977, ngụ ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương), Nguyễn Minh Hà (SN 1978, ngụ ấp Cây Sao, xã Hàm Ninh), Huỳnh Hữu Lộc (tự Út, SN 1979, ngụ khu phố I, thị trấn Dương Đông) và Võ Văn Thống (SN 1976, ngụ xã Cửa Dương).
“Trong số này, chỉ có Võ Văn Thống đã rời khỏi nơi cư trú sau khi vụ việc bị phát hiện, các đối tượng còn lại đều đã khai nhận hành vi giết voọc bạc” - ông Tho cho biết thêm. (Tuổi Trẻ 13/8)đầu trang(
12-8, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an TPHCM cho biết đang điều tra vụ việc có dấu hiệu buôn lậu xảy ra tại Công ty TNHH MTV Nhất Tâm, trụ sở tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương.
Kết quả điều tra xác định tháng 7-2012, Công ty Nhất Tâm mở tờ khai hải quan để xuất khẩu lô thạch dừa hỗn hợp ép khô. Tuy nhiên, khi kiểm tra, Cục Hải quan TPHCM phát hiện bên trong container xuất đi là 169 hộp gỗ pơmu xẻ thịt - thuộc mặt hàng cấm xuất khẩu.
Qua xác minh, giám đốc công ty là Nguyễn Thanh Tâm (25 tuổi, ngụ huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên) hiện không có mặt tại nơi cư trú. Cơ quan điều tra yêu cầu ông Tâm sớm liên hệ điều tra viên Đào Thanh Tùng, Đội 9 Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ - Công an TPHCM theo địa chỉ 324 Hòa Hưng phường 13 quận 10, điện thoại (08) 38623638 để làm rõ vụ việc. (Sài Gòn Giải Phóng 13/8)đầu trang(
12-8, Chi cục kiểm lâm cùng Bộ đội biên phòng Cà Mau đã tiến hành bốc dỡ, kiểm đếm 3 tàu chở gỗ trắc nghi nhập lậu từ Campuchia về với tổng số lượng hơn 70 khối. Toàn bộ số gỗ trên đang được bảo vệ nghiêm ngặt tại Cảng Năm Căn (huyện Năm Căn, Cà Mau).
Như đã thông tin, trong ngày 8-8, 3 tàu của công ty cổ phần Phú Trung Nam (do ông Phạm Khắc Quang làm giám đốc) vận chuyển gỗ trắc từ Campuchia về đến cảng Năm Căn thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Năm Căn (Bộ đội Biên phòng Cà Mau) kiểm tra. Cả 9 người trên tàu chở gỗ cùng toàn bộ số gỗ trắc đều bị tạm giữ để làm rõ.
Đây là lần thứ 8 công ty này nhập gỗ từ Campuchia vào Việt Nam qua cảng Năm Căn. Những lần trước, ngành chức năng Cà Mau kiểm tra nhưng không phát hiện sai phạm, cho thông quan. (Sài Gòn Giải Phóng 13/8)đầu trang(
12-8, TAND tỉnh Bình Thuận đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hành chính giữa người khởi kiện là ông Đinh Trọng Thúc (ngụ Biên Hòa, Đồng Nai) và người bị kiện là chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận. Ông Thúc yêu cầu tòa xử hủy hai quyết định xử phạt hành chính của chủ tịch tỉnh này vì cho rằng nó trái luật.
Theo hồ sơ, tháng 12-2010, ông Thúc ra Quảng Bình mua hai lô gỗ gõ đỏ có nguồn gốc nhập khẩu từ Lào. Trong số đó có 502 tấm ván mua của một công ty xuất nhập khẩu có đầy đủ giấy tờ và 48 tấm với khối lượng hơn 1,2 m3 cũng có đủ chứng từ hợp lệ nhưng người bán hứa sẽ gửi vào sau.
Đêm 21-12-2010, khi hai xe chở gỗ cho ông Thúc đến địa bàn xã Tân Đức, Hàm Tân thì bị Phòng CSĐT tội phạm về trật tự kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Bình Thuận bắt giữ. Qua đo đếm gỗ trên hai xe, cơ quan này xác định có hơn 22 m3 gỗ gõ đỏ. Để làm rõ, PC46 đã cử cán bộ đến Quảng Bình xác minh và khẳng định không có hành vi khai thác gỗ trái phép vì gỗ nhập từ Lào, việc mua bán hợp pháp có hồ sơ, hóa đơn nên cũng không thể xử lý hình sự về hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Nghi ngờ ông Thúc đã trà trộn gỗ ở Quảng Bình vào gỗ nhập từ Lào, ngày 27-5-2011, PC46 có công văn gửi Cục Kiểm lâm đề nghị xác định gõ đỏ có phân bố tại Quảng Bình hay không. Sau đó Cục Kiểm lâm có công văn khẳng định loài gỗ này không phân bố tại rừng Quảng Bình. Tháng 6-2011, cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Sau đó, đơn vị này tham mưu cho chủ tịch tỉnh ra quyết định xử phạt hành chính ông Thúc 80 triệu đồng và tịch thu hơn 1,2 m3 gỗ vì cho rằng số gỗ này chỉ có lời khai giữa bên bán và bên mua nên trái phép.
Theo ông Thúc, gỗ của ông hợp pháp nhưng các cơ quan có trách nhiệm ở Bình Thuận đã kéo dài giam xe, hàng hóa của ông gần tám tháng trời lại còn xử phạt rồi tịch thu gỗ khiến ông thiệt hại quá lớn. Cụ thể, ông phải đóng tiền lưu bãi hai xe ô tô 12 triệu đồng; tiền vay ngân hàng mua gỗ phải chịu lãi gần 50 triệu đồng, thiệt hại do gỗ để ngoài mưa nắng gần tám tháng… Tổng cộng, ông yêu cầu tòa buộc UBND tỉnh Bình Thuận bồi thường gần 300 triệu đồng và hơn 1,2 m3 gõ đỏ.
Tại phiên tòa, luật sư Trần Vũ Hải khẳng định việc PC46 ra quyết định tạm giữ xe và hàng hóa vì cho rằng “đã có hành vi vi phạm hành chính vận chuyển hàng nhập lậu” nhưng lại không lập biên bản vi phạm hành chính là trái pháp luật. Đến ngày 21-2-2011, PC46 mới lập biên bản vi phạm hành chính nhưng trong các quyết định không đề cập đến tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ, không có lời khai của người vi phạm là trái luật. Luật sư cũng băn khoăn vì quy định thời hạn tạm giữ phương tiện, tang vật vi phạm hành chính tối đa là 60 ngày nhưng cơ quan điều tra lại giữ đến gần tám tháng.
“Tôi không thể hiểu nổi trong hai xe chỉ có một xe vận chuyển hơn 1,2 m3 gỗ cần xác minh nhưng lại giam cả hai xe kéo dài khiến tôi bị thiệt đơn, thiệt kép” - ông Thúc bức xúc nói.
Riêng với 1,2 m3 gỗ mà tỉnh Bình Thuận cho rằng trái phép nên tịch thu, xử phạt, luật sư khẳng định đây là gỗ hợp pháp. Cụ thể, số gỗ trên được Công ty TNHH Phú Ninh (Quảng Bình) mua của Nhà máy chế biến gỗ Khampheng (Lào), có hợp đồng kinh tế, có tờ khai hải quan. Từ đó, luật sư đề nghị tòa tuyên hủy hai quyết định xử phạt hành chính của tỉnh Bình Thuận, buộc tỉnh phải trả lại 80 triệu đồng có tính lãi cho ông Thúc. Đối với thiệt hại do thời gian giam xe và hàng hóa sai quy định, luật sư nói sẽ tiếp tục thu thập chứng từ và yêu cầu bồi thường trong một vụ án khác.
Đại diện cho UBND tỉnh Bình Thuận đến tòa gồm Thượng tá Nguyễn Ngọc Huân, điều tra viên PC46, ông Lê Văn Sơn, giám định viên lâm nghiệp thuộc Sở NN&PTNT tỉnh và đại diện Phòng Pháp chế Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận. Những người đại diện này đều khẳng định không kéo dài thời gian giam xe mà làm đúng trình tự, thủ tục. Cạnh đó, do vụ việc phức tạp, cần có thời gian xác minh nên Chi cục Kiểm lâm cũng có đề nghị UBND tỉnh gia hạn thời gian xử lý hành chính. (Pháp Luật TPHCM 13/8)đầu trang(
12/8, TAND tỉnh Bình Định xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Thuấn (ảnh, SN 1960, nguyên Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ) 14 năm tù về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo cáo trạng, từ năm 1998 đến tháng 10/2000, với cương vị Giám đốc Công ty Nguyễn Huệ (thuộc Tổng Công ty lâm sản Việt Nam, Bộ NN&PTNT, đóng tại TP.Quy Nhơn), Thuấn đã chỉ đạo bộ phận kế toán làm trái các nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế, gây thiệt hại cho Công ty Nguyễn Huệ tổng cộng trên 5,4 tỉ đồng, gồm 35.000 USD và trên 4,7 tỉ đồng.
Cụ thể, Thuấn chỉ đạo cho nhân viên thanh toán vượt 106m3 gỗ (quy ra gần 35.000 USD) cho Công ty Hero Worksipper Enterprise Corp tại Campuchia (gọi tắt là Công ty Hero), sau đó cho công ty này mượn trên 200,2m3 để xuất bán cho một công ty khác ở Trung Quốc, gây thiệt hại trên 2,58 tỉ đồng.
Ngoài ra, Thuấn còn sử dụng tiền của Công ty Nguyễn Huệ để trả nợ thay cho Công ty Hero, duyệt chi tạm ứng trái nguyên tắc cho nhân viên của công ty này tổng cộng này trên 2,14 tỉ đồng.
Không thu được toàn bộ số tiền trên, Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ đã bị phá sản. Năm 2003, Thuấn bỏ trốn vào TP.HCM và bị Công an tỉnh Bình Định bắt theo lệnh truy nã vào ngày 2/10/2012. Tại tòa, bị cáo khai trốn vào TP.HCM là để tìm cách trả nợ cho công ty.
Ngoài hình phạt tù, HĐXX còn tuyên buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại toàn bộ số tiền đã gây thiệt hại cho Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ trên 5,4 tỉ đồng, nhưng do công ty đã phá sản nên khoản tiền này sẽ được sung vào công quỹ Nhà nước. (Phụ Nữ TPHCM 12/8)đầu trang(
Được đánh giá là rừng nghèo để chuyển đổi sang rừng trồng sản xuất, gần 2 tháng nay Lâm trường Bồng Lai đã tiến hành cày xới, chặt phá gần 70ha diện tích rừng đầu nguồn Bồng Lai tỉnh Quảng Bình để trồng cây keo lai.
Không thể đếm xuể những thân cây gỗ có đường kính lớn đã bị đốn hạ để cưa lấy gỗ, thảm thực vật nguyên sinh ở rừng đầu nguồn Bồng Lai xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cũng đã bị thiêu trụi.
Càng đi vào rừng sâu mới thấy rừng Lâm trường Bồng Lai bị chảy máu nghiêm trọng thế nào. Những thân cây gỗ cổ thụ đã bị đốn hạ để thay vào đó là những cây keo lai. Được biết cách đây 3 năm, UBND tỉnh Quảng Bình ký quyết định phê duyệt chuyển đổi hàng trăm ha rừng đầu nguồn ở xã Hưng Trạch sang trồng rừng kinh tế và giao cho Công ty TNHH 1 Thành viên Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình triển khai phát trắng để trồng rừng sản xuất, vì khu vực này được đánh giá và xếp vào diện rừng nghèo.
Theo đó, năm 2013, Lâm trường Bồng lai đã cho cày xới chặt phá 70ha rừng để chuyển đổi sang trồng cây cao su, thế nhưng những gì đã và đang diễn ra lại là câu hỏi lớn: Đây có phải rừng nghèo hay không?
Bà Nguyễn Thị Mậu, thôn Bồng Lai, xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cho biết: “Cây rất to khắp rừng bị đốn hạ hết, cây to lắm, hết rừng rồi…”. (VTV 13/8)đầu trang(
Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cho biết ngoài phòng tiếp khách của UBND tỉnh Thanh Hóa thì Kho bạc Nhà nước tỉnh này cũng đang treo một cặp ngà voi để trang trí cho đẹp từ rất nhiều năm nay.
Ông Vương Văn Việt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, cho biết đã tiến hành rà soát lại nguồn gốc, xuất xứ của cặp ngà voi được đặt tại phòng khánh tiết (phòng tiếp khách - PV) của UBND tỉnh này gây xôn xao dư luận thời gian qua. Qua đó đã biết được cặp ngà voi này do phía Lào tặng cho UBND tỉnh Thanh Hóa từ trước những năm 1996 - 1997.
“Họ tặng hai cặp ngà voi chứ không phải một cặp. Cặp ngà voi còn lại đang được treo tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hóa” - ông Việt cho biết.
Theo ông Việt, trụ sở của UBND tỉnh Thanh Hóa được hoàn thành vào những năm 1996 - 1998. Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa khi ấy đã đưa cặp ngà voi do phía Lào tặng về đặt ở phòng khánh tiết để trang trí cho đẹp. Ông Việt nói cặp ngà voi hiện vẫn đang được đặt ở phòng khánh tiết của UBND tỉnh Thanh Hóa.
“Việc treo ngà voi đã tồn tại mấy chục năm nay rồi, có ai đụng tới chuyện này đâu. Bây giờ không chỉ mình (UBND tỉnh Thanh Hóa - PV), mà các nơi khác cũng làm chuyện này. Nếu có vấn đề thì mình xử lý thôi, không đặt nặng chuyện này lên, mình nêu ra nó cũng không hay” - ông Việt nói và cho biếu nếu việc sở hữu ngà voi có liên quan đến các quy định của Việt Nam cũng như điều khoản quốc tế liên quan thì tỉnh Thanh Hóa sẽ có hướng xử lý.
Hiện trong hồ sơ lưu trữ của UBND tỉnh Thanh Hóa vẫn có đầy đủ thông tin về nguồn gốc của cặp ngà voi này.
Trước đó, Báo Người Lao Động đã phản ánh chuyện UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức buổi lễ trao bằng khen cho Hoa hậu các dân tộc Việt Nam 2013 Nguyễn Thị Ngọc Anh (quê ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa). Hậu cảnh của một bức ảnh mà ban tổ chức gửi cho các cơ quan báo chí cho thấy trụ sở UBND tỉnh Thanh Hóa đang đặt một cặp ngà voi rất đẹp. Từ đây đã dấy lên những luồng dư luận về nguồn gốc của cặp ngà voi này.
Trả lời phóng viên Báo Người Lao Động khi ấy, ông Vương Văn Việt cho biết đây chỉ là vật trang trí cho đẹp và việc đặt ngà voi trong trụ sở UBND tỉnh là điều hết sức bình thường, đã gặp ở nhiều tỉnh dọc miền Trung và khu vực Tây Nguyên.
Trong khi đó, bà Dương Việt Hồng, đại diện truyền thông Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã tại Việt Nam (WCS), cho biết ngà voi thuộc nhóm 1B và theo công ước quốc tế cũng như quy định của pháp luật ở Việt Nam hiện hành đều cấm buôn bán và sử dụng vào mục đích cá nhân. Ngà voi chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học và được kiểm soát chặt chẽ về mặt nguồn gốc.
“Gần đây quốc tế đã lên án Việt Nam rất nhiều trong việc chưa xử lý nghiêm đối với việc buôn bán, tiêu thụ các sản phẩm động vật hoang dã như sừng tê giác, ngà voi. Nếu vẫn không có thay đổi thì chúng ta có thể đối mặt với việc bị cấm vận trong lĩnh vực này” - bà Hồng nói và cho rằng việc sử dụng ngà voi làm vật trang trí ở cơ quan công quyền sẽ trở nên đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẽ ra đó là nơi phải làm gương cho người dân thực hiện.
Ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Cơ quan Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Việt Nam, cũng cho biết sắp tới CITES Việt Nam sẽ xây dựng quy định để bắt buộc các đơn vị đang sở hữu ngà voi phải tiến hành khai báo, kiểm kê. (Người Lao Động 13/8)đầu trang(
12/8, UBND tỉnh Kon Tum cho biết, thực hiện chính sách, pháp luật về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh, trước khi sắp xếp, tỉnh Kon Tum có 6 Cty đầu tư phát triển nông - lâm - công nghiệp và dịch vụ với 16 lâm trường trực thuộc; 1 lâm trường độc lập; 4 ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ và 3 BQL rừng đặc dụng, nhận quản lý gần 310.000ha rừng.
Sau khi sắp xếp, các Cty đầu tư phát triển nông - lâm - công nghiệp và dịch vụ chuyển thành Cty TNHH MTV lâm nghiệp. Hiện nay, toàn tỉnh có 7 Cty TNHH MTV lâm nghiệp thực hiện quản lý và bảo vệ gần 260.000ha rừng. Điều đáng nói là, lợi nhuận thu được của 7 Cty trong 10 năm qua chỉ đạt 1 tỷ 320 triệu đồng và có 4 doanh nghiệp bị lỗ. Các doanh nghiệp còn lại lợi nhuận không đáng kể so với tiềm năng rừng và đất rừng được giao.
Ngoài ra, tình hình tranh chấp, lấn chiếm đất đai giữa các Cty, lâm trường với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh ngày càng phức tạp. Theo kết quả rà soát rừng và đất lâm nghiệp do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kon Tum thực hiện, cho đến cuối năm 2012, tổng diện tích đất giao chồng lấn và bị lấn chiếm tại các Cty lâm nghiệp, các BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khoảng gần 43.500ha. Trong đó, diện tích đất giao chồng lấn 19.210,15ha; diện tích bị lấn chiếm sau khi UBND tỉnh Kon Tum giao lâm phần cho các đơn vị chủ rừng quản lý là 24.266,20ha. (Thanh Tra 12/8)đầu trang(
THẾ GIỚI
Hai hổ con Sumatra, kết quả của quá trình tìm hiểu hai năm trời của bố mẹ chúng, vừa chào đời tại vườn thú ở bang Washington, Mỹ.
Hổ mẹ tên Damai được nhiều người cho là “người mẹ tuyệt vời” khi nuôi dưỡng tốt cả hai hổ con. Theo các nhà bảo tồn, thời gian thai nghén của loài hổ này kéo dài 100 ngày. Khi sinh ra, hổ con nặng 2 kg.
Sự ra đời của hổ con tại vườn thú Smithsonian góp phần nâng số lượng hổ Sumatra trong các vườn thú tại Bắc Mỹ lên con số 70.
Khi hổ mẹ Damai bắt đầu tăng cân vào tháng 6 năm ngoái, nó được các nhân viên vườn thú giám sát chặt chẽ. Cha của hổ con là Kavi, 12 tuổi. Damai và Kavi có hai năm tìm hiểu nhau trước khi thực hiện giao phối.
Bà Craig Saffoe, một nhà sinh vật học tại công viên cho biết, họ đã rất lo lắng khi Damai và Kavi đến độ tuổi sinh sản. Nếu chúng không để ý nhau khi giao phối thì chúng có thể làm thương lẫn nhau hoặc tệ hơn.
Hổ Sumatra sống chủ yếu tại đảo Sumatra, Indonesia. Loài này đang ngày càng sụt giảm nghiêm trọng về số lượng do bị phá hủy môi trường sống cùng sự săn bắt của con người. Hiện số lượng hổ Sumatra trong hoang dã chỉ dao động khoảng từ 400 đến 500 con. Giới bảo tồn khuyến nghị cần có các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt để tránh đẩy loài này vào tình trạng tuyệt chủng. (Vnxpress.net 11/8)đầu trang(
Chính sự tuyệt chủng của các loài động vật khổng lồ trong kỷ Pleistocene đã gây ra sự khan hiếm các vùng đất trồng trọt màu mỡ hiện nay trên thế giới.
Theo nghiên cứu của một nhóm chuyên gia thuộc Viện Biến đổi môi trường của Đại học Oxford (Anh), kỷ Pleistocene - cách đây từ 11.700 năm đến 2,6 triệu năm - là thời kỳ mà các quần thể động vật ăn cỏ lớn thống trị hành tinh thay cho loài khủng long bị tuyệt chủng.
Những quần thể động vật ăn cỏ lớn này sống gần sông hồ. Chúng có trọng lượng trên 44 kg, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo sự màu mỡ cho các vùng đất ở cách xa nơi chúng sinh sống, thông qua quá trình đào thải của cơ thể và phân hủy xác sau khi chết.
Kết quả nghiên cứu trên được đăng tải trên tạp chí Nature Geoscience ngày 11/8.
Theo ông Chris Doughty, đồng tác giả của nghiên cứu, các loài động vật lớn giống như những mạch máu dinh dưỡng của Trái Đất, do vậy nếu chúng bị tuyệt chủng, những mạnh máu này bị cắt đứt.
Do phần lớn các loài động vật lớn đã bị tuyệt chủng, nên Trái Đất mới có nhiều vùng đất khô cằn hơn.
Sử dụng mô hình toán học, các nhà nghiên cứu của trường Oxford đã dự đoán rằng sự tuyệt chủng của các quần thể động vật ăn cỏ lớn đã làm giảm tới 98% sự phát tán của chất phốtpho quan trọng cho trồng trọt ở lưu vực sông Amazon, cũng như ở hầu hết các lục địa khác ngoại trừ châu Phi - lục địa duy nhất mà trong quá trình tiến hóa, loài người hiện đại sinh sống cùng với các quần thể động vật ăn cỏ lớn.
Theo nhóm nghiên cứu, mô hình sử dụng trong nghiên cứu trên sẽ cho phép các nhà khoa học dự đoán ảnh hưởng của sự tuyệt chủng của các loài động vật khác trên thế giới ngày nay.
Đây là kịch bản có thể xảy ra sớm đối với một số loài động vật lớn hiện nay, chủ yếu ở châu Phi và châu Á.
Giới khoa học cũng cảnh báo nếu các loài động vật lớn hiện nay như voi biến mất, sẽ gây ảnh hưởng xấu đối với các vùng đất trồng trọt. (Vietnamplus 13/8)đầu trang(
Loài chim hiếm hoi nhất Bắc Mỹ đã thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng khi hồi sinh trên một trường bắn của hải quân Mỹ.
Ít ai ngờ những quả đồi lởm chởm trên một hòn đảo ở miền nam California, Mỹ với đầy những biển báo nguy hiểm lại là nơi hồi sinh của loài chim hiếm hoi nhất Bắc Mỹ: Chim bách thanh đảo San Clemente.
Bất chấp những vụ nổ vì bom đạn làm rung chuyển hòn đảo thuộc sở hữu của hải quân Mỹ này, loài chim bách thanh San Clemente vẫn sinh sôi nảy nở từ bờ vực của sự tuyệt chủng ngay trên trường bắn hải quân, nơi luyện tập của các tàu chiến Mỹ.
Loài chim lông đen, xám và trắng này đã gần như tuyệt chủng khi số lượng của chúng chỉ còn 13 con vào thập niên 1990 đã tăng lên 140 con vào năm 2013, và đây là một trong những loài có nguy cơ tuyệt chủng đã hồi sinh trên những vùng đất quân sự trong thập niên qua.
Nhiều người cho rằng chính những miền đất “chết” được quân đội canh gác cẩn mật không cho người ngoài xâm phạm đã bảo vệ cho những loài động vật sắp tuyệt chủng, chẳng hạn như chim gõ kiến cổ đỏ và chuột túi Thái Bình Dương.
Tuy nhiên các quan chức quân sự Mỹ đã bác bỏ quan điểm này và tuyên bố rằng họ chỉ quan tâm đến an ninh quốc gia.
Trong 10 năm qua, ngân sách dành để bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng ở Mỹ đã tăng gần 45%, từ mức 50 triệu USD vào năm 2013 lên tới 73 triệu USD vào năm 2012.
Theo số liệu của Lầu Năm Góc, hiện các vùng đất của quân đội với diện tích khoảng 11,3 hecta là nơi bảo vệ cho gần 420 loài nằm trong danh sách đỏ của Mỹ.
Hiện Bộ Quốc phòng Mỹ đang tăng cường hợp tác với các tổ chức bảo vệ môi trường để mua lại các khu vực quan trọng làm vùng đệm xung quanh các căn cứ, điển hình là tuyên bố về việc phục hồi khu vực đồng cỏ xung quanh căn cứ hỗn hợp Lewis-McChord ở Washington hồi tháng 6 vừa qua. (Khám Phá 13/8) đầu trang(
Các nhà khoa học Nga vừa khai quật xác một con voi ma mút bị đóng băng ở vùng Siberia và phát hiện máu vẫn còn lỏng.
Điều khiến các nhà khoa học sửng sốt là mặc dù phần lưng và chân của xác voi đã không còn nguyên vẹn do bị động vật cổ đại cắn xé, nhưng phần bụng và hàm dưới vẫn còn nguyên vẹn và có những thớ cơ thịt tươi đỏ. Ngạc nhiên hơn cả là khi khoan vào người con voi tồn tại cách đây khoảng 10.000 – 15.000 năm ở độ tuổi khoảng 50 – 60, các nhà khoa học còn thấy máu tươi chảy ra, điều này có thể giúp nhân bản loài động vật đã bị tuyệt chủng này.
Voi ma mút là một chi voi cổ đại đã bị tuyệt chủng. Tồn tại ở thời Pliocen, vào khoảng 4,8 triệu năm đến 4.500 năm trước. Có đặc điểm lông dài (xấp xỉ 50 cm), rậm (hơn so với voi hiện tại), ngà dài và cong (hoá thạch ở Siberia có ngà dài 3,5 m), răng voi ma mút rất dài, cong quặp vào trong, dài nhất tới 5 cm, chân sau ngắn nên trọng tâm toàn thân nghiêng về phía sau, vai nhô cao. Chân chỉ có 4 ngón (kém 1 ngón so với voi hiện nay), da dày. Voi ma mút có răng lớn, sắc cạnh, thích hợp cho nghiền nát cỏ. Vòi có hai chỗ lồi giống như ngón tay, một ở phía trước và một ở phía sau, giúp chúng dễ dàng túm lấy cỏ. Da màu đen, nâu và nâu đỏ, lông vàng, cao từ 3 đến 3,3 m.
Cho đến gần đây, người ta cho rằng con voi ma mút cuối cùng biến mất ở Âu châu và nam Siberia khoảng 12.000 năm trước đây, tuy nhiên có những khám phá dẫn đến sự kết luận là chúng còn sống ở đó khoảng 10.000 năm trước đây. (Petrotimes.vn 12/8)đầu trang(
Các nhà khoa học tại Đức đang tiến hành thử nghiệm đưa những loài động vật ăn cỏ lâu nay không còn xuất hiện ở châu Âu quay trở lại nhằm thúc đẩy sự phát triển của thực vật bản địa đang dần biến mất tại đây.
Ngôi làng Töpchin thuộc bang Brandenburg cách Berlin khoảng 40km là một trong những nơi đầu tiên thực hiện thử nghiệm và loài ngoại lai được nhập khẩu là trâu nước châu Á. 10.000 năm trước, trâu nước vẫn là loài bản địa ở châu Âu nhưng vì nạn săn bắt nở rộ đã đẩy phạm vi sống của chúng ra xa tới phía đông nam của lục địa.
Mãi đến mùa hè năm 2011, người ta mới đưa trâu nước về chăn thả tại ngôi làng Töpchin theo một dự án phối hợp cùng Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Brandenburg tiến hành. Những con vật màu đen sừng được lai tạo giống theo đơn đặt hàng riêng tại Pháp có thể gặm cỏ ở những môi trường ẩm ướt và nghèo dinh dưỡng mà loài bò ở Đức đã ngán ngẩm, bao gồm một số vùng đầm lầy bị đe dọa và khu vực đầm lầy muối còn sót lại.
Ông Holger Rössling thuộc Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Brandenburg cho biết: “Chúng ta cần trâu để loại bỏ sinh khối, nếu không những khu vực nói trên sẽ mất đi các loài cây đặc hữu và chỉ còn tồn tại các loài phổ biến… Khác với bò, loài trâu chịu đựng giỏi và thích nghi tốt. Ngoài lợi thế về bộ móng guốc khỏe, chúng còn có thể gặm hầu như tất cả các loài thực vật”.
Dự án Töpchin là ví dụ về một xu hướng bảo tồn đang phát triển ở châu Âu, sử dụng các loài động vật ăn cỏ lớn, ngoại lai để làm tăng sự đa dạng của hệ động, thực vật bản địa. Nhiều người vẫn tin rằng bảo tồn thiên nhiên tức là để cho hệ động, thực vật bản địa tồn tại biệt lập, không có sự cạnh tranh của các loài ngoại lai hoặc khôi phục nguyên trạng môi trường sống của chúng. Nhưng trong một thế giới bị chi phối bởi con người và môi trường thay đổi nhanh chóng như hiện nay thì mọi thứ đã trở nên phức tạp hơn, không thể lúc nào cũng duy trì một khu vực thuần túy các loài bản địa. Đôi khi chúng ta phải sáng tạo và linh hoạt hơn trong cách điều chỉnh cảnh quan để duy trì đa dạng sinh học.
Điều đang xảy ra ở Đức hưởng ứng một xu hướng được gọi là “tái tạo tự nhiên” (rewild), một phong trào toàn cầu nhằm mở rộng các khu vực hoang dã trọng yếu, kết nối chúng thông qua các hành lang cho phép con người và động vật cùng tồn tại, đồng thời bảo vệ và tái du nhập các loài động vật ăn thịt hàng đầu.
Nếu sáng kiến “Tái tạo tự nhiên châu Âu” do các nhóm bảo tồn như Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) dẫn đầu đặt mục tiêu đến năm 2020 “tái tạo tự nhiên” được 1 triệu héc-ta đất thuộc 10 khu bảo tồn từ Tây Ban Nha tới lưu vực sông Danube và dãy núi Carpathian thì trái lại, các dự án ở Đức lại nhằm phục hồi đa dạng sinh học cho những cảnh quan mà con người đã tác động.
Chỉ trong thời gian ngắn, rất nhiều dự án tương tự như Töpchin đã xuất hiện trên toàn nước Đức. Cách Berlin vài cây số về phía tây, Quỹ Heinz Sielmann đã đưa 19 con ngựa Przhevalsky – loài bản địa của Mông Cổ – cùng chung sống với 41 con bò rừng bizon châu Âu ở Döberitzer, nơi trước đây từng là khu huấn luyện quân sự. Mục tiêu của dự án là để những con ngựa hoang và bò rừng bizon châu Âu dọn bớt cỏ ở khu vực này, tạo điều kiện cho các loài ưa nhiệt phát triển.
Dự án tiếp theo cũng sử dụng động vật ăn cỏ lớn nhằm khôi phục cảnh quan thiên nhiên tại một nhà máy xử lý nước thải cũ gần thủ đô Berlin. Hay ở quận Barnim thuộc bang Brandenburg, người ta kết hợp chăn thả ngựa konik – loài ngựa được cho là có nguồn gốc từ ngựa hoang châu Âu cổ đại – và các loài gia súc của Anh. Với lợi thế về sức vóc, chúng được kỳ vọng sẽ dễ thích nghi với địa hình gồ ghề và ẩm ướt hơn so với những chú bò bình thường ở Đức.
Ông Josef Reichholf, nhà động vật học và sinh học tiến hóa của Đại học Kỹ thuật Munich, người từ lâu đã ủng hộ việc đưa những loài ăn cỏ lớn để tăng cường đa dạng sinh học ở các cảnh quan có con người sinh sống, cho biết: “Chăn thả ngựa konik và các động vật ăn cỏ lớn khác là phương pháp tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên ở Đức”.
Ông giải thích rằng cảnh quan nơi đây chịu ảnh hưởng của một lượng lớn phân bón từ không trung khi các phương tiện giao thông và các nhà máy thải ô-xít ni-tơ. Điều này khiến các loài không đặc hữu phát triển và từ đó thu hẹp và cuối cùng là triệt tiêu các loài quý hiếm vốn thích nghi với môi trường nghèo dinh dưỡng. Thảm thực vật dày đặc cũng tạo ra một vi khí hậu ẩm ướt mát mẻ gây bất lợi cho nhiều loài côn trùng và loài chim vốn thích hợp với các sinh cảnh thoáng đãng. Do đó việc đưa các loài ăn cỏ lớn tới đây là nhằm loại bỏ bớt các loài cây phát triển quá mức, cho phép các loài bản địa hiếm hơn phát triển mạnh.
Khác với khu vực nhiệt đới, phần lớn đa dạng sinh học ở châu Âu không nằm trong các cánh rừng, mà ở khu vực đồng cỏ, đầm lầy và các vùng đất hoang. Sau nhiều thế kỷ được con người sử dụng, cảnh quan đó khi trở về trạng thái tự nhiên thường sẽ có ít loài hơn, vì thế lý do đằng sau rất nhiều kế hoạch bảo tồn ở Đức liên quan đến việc tái du nhập các động vật ăn cỏ ngoại lai. Mấu chốt của việc tái du nhập chính là tập trung theo dõi tác động của những loài ăn cỏ lớn tới cảnh quan.
Những dự án bảo tồn như Töpchin lúc đầu cũng bị người dân địa phương hoài nghi như một hình thức chiếm đất hợp pháp, song dần dần, họ đã nhận ra tính hiệu quả của dự án và đồng ý cho trâu nước đến gặm cỏ trên đất của mình. Cuối năm ngoái, một vài hộ gia đình ở Töpchin còn sản xuất được thịt và xúc xích trâu đem bán. Họ tin rằng cư dân thành phố Berlin sẽ thích thứ hương vị từ tự nhiên này… (Khoahoc.com.vn 12/8)đầu trang(
Hóa thạch xa xưa nhất của một động vật giống như loài sóc có niên đại khoảng 165 triệu năm trước vừa được phát hiện tại vùng Nội Mông, Trung Quốc.
Đây là loài động vật có vú, được đặt tên khoa học là Mammaliaformis megaconus. Mẫu vật này được cho là bảo tồn tốt nhất trong các mẫu của nhóm Mammaliaform được thu thập trước đây. Với niên đại 165 triệu năm thì Mammaliaformis megaconus sống sớm hơn 100 triệu năm khi khủng long Tyrannosaurus Rex có mặt trên trái đất. Báo Daily Mail dẫn lời ông Ze Xiluo, Giáo sư sinh học và giải phẫu học tại đại học Chicago (Mỹ) cho biết nhờ hóa thạch này mà chúng ta biết rõ hơn sự tiến hóa của động vật có vú.
Mammaliaformis megaconus được cho là loài ăn tạp khi các nhà khoa học phân tích bộ răng của nó. Răng hàm giúp nó nhai thực vật và một số răng trước khá lởm chởm giúp nó ăn côn trùng, giun và thậm chí là một số động vật xương sống nhỏ. Theo Daily Mail thì mẫu hóa thạch này được đưa về bảo quản tại Bảo tàng Cổ sinh vật học Liêu Ninh. (Thanh Niên 11/8)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||