Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 13 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Ông Nguyễn Hải Âu, Phó trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng, Chi cục kiểm lâm Nghệ An cho biết: Do nắng nóng kéo dài nên từ ngày 11-13/7 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng, gồm Nam Đàn 1 vụ, Thanh Chương 2 vụ, Đô Lương 1 vụ.
Khoảng 20 giờ trong ngày 12/7, tại khu vực xóm Kiều Dương xã Thanh Lâm, Thanh Chương (Nghệ An) xảy ra vụ cháy rừng.
Ngay sau đó, chính quyền địa phương đã huy động khoảng trên 60 người lực lượng kiểm lâm, dân quân, công an, quân đội chữa cháy rừng. Đến 10 giờ tối ngày 12/7 các lực lượng mới dập tắt lửa rừng, thiệt hại 1 ha.
Ngay trong sáng 13/7, chính quyền địa phương tiếp tục giao cho lực lượng kiểm lâm, dân quân xã Thanh Lâm bám sát kiểm tra lại hiện trường phòng lửa rừng bùng phát trở lại.
Ông Nguyễn Hải Âu, Phó trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng (Chi cục kiểm lâm) cho biết: Do nắng nóng kéo dài nên từ ngày 11-13/7 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng, gồm Nam Đàn 1 vụ, Thanh Chương 2 vụ, Đô Lương 1 vụ.
Các vụ cháy làm thiệt hại 8,7 ha rừng, trong đó có 2,3 rừng lau lách, 6,4 rừng thông xen keo. Hiện tại Chi cục kiểm lâm tỉnh đang chỉ đạo hạt kiểm lâm phối hợp chính quyền địa phương điều tra nguyên nhân cháy, chỉ đạo các lực lượng kiểm lâm thường trực PCCCR 24/24 h. Tuần tra, canh gác các đối tượng đưa lửa vào rừng kịp thời xử lý.
Sáng ngày 13/7 các lực lượng kiểm lâm, quân đội được cử lên kiểm tra lại các vùng cháy ở Thanh Lâm.Trước đó 17 giờ ngày 11/7, tại  khoảnh 7, tiểu khu 1004C xã Thanh Lâm gần đó đã xảy ra vụ cháy rừng, các lực lượng đã dập tắt  lửa rừng lúc 2.30 p sáng ngày 12/7, thiệt hại 3 ha rừng. (Báo Nghệ An 13/7) đầu trang(
Với phương châm phòng là chính, Hạt Kiểm lâm Quan Hóa đã chỉ đạo kiểm lâm viên phụ trách địa bàn tham mưu cho UBND các xã, thị trấn và các chủ rừng tổ chức kiểm tra, kiểm soát các khu rừng gần khu dân cư.
Trong các phương án được triển khai, công tác tuyên truyền nâng cao ý thức BVR & PCCCR trong nhân dân luôn được đơn vị triển khai thực hiện có hiệu quả. Bên cạnh đó, kiểm lâm viên luôn bám sát địa bàn để làm tốt công tác tham mưu và kiểm tra đôn đốc thực hiện tốt công tác PCCCR, đặc biệt tại các khu vực được xác định là trọng điểm cháy rừng.
Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các xã, chủ rừng tổ chức thực hiện các biện pháp PCCCR trên địa bàn; tổ chức khảo sát xây dựng các phương án, kế hoạch bảo vệ rừng, PCCCR, phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức triển khai thực hiện công tác PCCCR theo đúng các phương án, kế hoạch đã được phê duyệt; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án PCCCR của xã, chủ rừng nhà nước, kịp thời phát hiện khắc phục những thiếu sót trong công tác PCCCR; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định về công tác PCCCR.
Ngoài ra, ngay từ đầu năm Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa đã tham mưu cho UBND huyện phương án PCCCR, tăng cường các lực lượng liên ngành như: Công an, quân sự, chủ rừng, lực lượng quần chúng bảo vệ rừng; bố trí lực lượng, phương tiện, trang thiết bị PCCCR để kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra.
Bên cạnh đó, huyện Quan Hóa cũng kiện toàn 18 ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng của xã, thị trấn, giai đoạn 2016 - 2020, có quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên BCĐ và kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần theo phương châm 4 tại chỗ.
Kiện toàn 123 tổ đội QLBVR thôn bản, 18 trung đội DQTV, tổ đội thanh niên xung kích, kiểm lâm địa bàn đã phối hợp với Ban CHQS 18 xã, thị trấn xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động BVR, PCCCR năm 2016. Nhờ thực hiện nhiều biện pháp PCCCR, nên đã nâng cao được ý thức của người dân đối với công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Trong các tháng cao điểm mùa khô sắp tới, công tác này sẽ được đẩy mạnh hơn nữa. Cùng với thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, PCCCR còn phân công lực lượng kiểm lâm địa bàn và hợp đồng lao động trực PCCCR liên tục 24/24 giờ trong ngày để nắm vững diễn biến tình hình phá rừng, cháy rừng ở từng địa phương. (Văn Hóa Và Đời Sống 12/7) đầu trang(
UNBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành công văn gửi các ngành, các đơn vị về triển khai  thực hiện Chỉ thị số 03- CT/TU ngày-11/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Thực hiện Quyết định số 2860/QĐ-ƯBND ngày 21/6/2016 của ƯBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TU ngày 11/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Sở Nông nghiệp &PTNT được giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực thực hiện Chỉ thị số 03- CT/TU ngày-11/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Để triển khai thực hiện các nội dung kế hoạch được giao tại Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 21/6/2016 của ƯBND tỉnh, Sở Nông nghiệp &PTNT kính đề nghị các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan và ƯBND các huyện, thành, thị thực hiện một số nội dung như sau:
Đối với các sở, ban ngành cấp tỉnh có liên quan được giao chủ trì các nội dung tại Quyết định số 2860/QĐ-UBND ban hành văn bản chỉ đạo, phân công các cơ quan, đơn vị trực thuộc triển khai các nội dung tại Quyết định số 2860/QĐ- UBND ngày 21/6/2016 của UBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TU ngày 11/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy;
Uỷ ban nhân dân các huyện, thành, thị Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm và các phòng chức năng của ƯBND huyện tham mưu thực hiện các nội dung tại mục X, Quyết định số 2860/QĐ-ƯBND của UBND tỉnh, trong đó tập trung thực hiện ngay các nhiệm vụ tại mục 1 và 4 (thực hiện và hoàn thành báo cáo kết quả gửi vê Sở Nông nghiệp &PTNT trước ngày 31/7/2016).
Thời gian thực hiện kế hoạch thực hiện Chỉ thị: Thời gian thực hiện từ nay và duy trì hàng năm giai đoạn 2016 - 2020;
Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 03- CT/TU của BTV Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp &Phát triển nông thôn tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá 3 năm, tổng kết đánh giá 5 năm thực hiện Chỉ thị 03- CT/TU.
Chế độ thông tin báo cáo: Các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan và UBND các huyện, thành, thị có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị 03- CT/TU (6 tháng 01 lần) gửi về sở Nông nghiệp &PTNT (qua Chi cục Kiểm lâm) để tổng hợp. Thời gian gửi báo cáo trước ngày 20/6 và 20/12 hàng năm.
Giao Chi cục Kiểm lâm tổng hợp tham mưu cho Sở Nông nghiệp &PTNT báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị 03- CT/TU (6 tháng 01 lần), để báo cáo Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Thời gian gửi báo cáo trước ngày 25/6 và 25/12 hàng năm.
Ngoài ra căn cứ vào tình hình diễn biến công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương, đơn vị báo cáo nhanh để Sở Nông nghiệp &PTNT tổng hợp tham mưu xử lý, giải quyết những vấn đề bất cập, nổi cộm về công tác QLBVR;
Các văn bản chỉ đạo của các sở, ban ngành cấp tỉnh; Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo đôi với công tác quản lý bảo vệ rừng của UBND các huyện, thành, thị gửi  đông thời cho Chi cục Kiểm lâm để tổng hợp theo dõi đôn đốc. (Báo Nghệ An 12/7) đầu trang(
Chiều 12-7, ông Vũ Văn Diến, Viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Đồng, cho biết Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C49B), Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an (C44), Công an tỉnh Lâm Đồng đã họp và quyết định khởi tố vụ án liên quan vụ phá rừng tại khu vực lòng hồ thủy điện Đồng Nai 5, thuộc xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm.
Cùng với việc khởi tố vụ án, sẽ khởi tố bị can với ba người là Lê Hồng Hà (tức Hà "đen", sinh năm 1968, quê Diễn Châu, Nghệ An, là chủ mưu băng nhóm phá rừng và nhiều lần đe dọa giết kiểm lâm), Nguyễn Văn Tuấn (quê Đắk Nông) và Nguyễn Văn Thành (thường trú tại Bình Dương).
Riêng Hà "đen" đang bỏ trốn, cơ quan công an vẫn đang tích cực truy bắt. Ngoài ra, cơ quan công an tiếp tục điều tra tám người đang bị tạm giữ tại Công an huyện Bảo Lâm để làm rõ vụ án phá rừng quy mô lớn này.
Trước đó, Bộ Công an và các lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đã truy quét “công trường” khai thác gỗ lậu hoạt động lâu năm tại khu vực rừng nguyên sinh ở hồ thủy điện Đồng Nai 5 (thuộc xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm) nơi giáp ranh giữa Lâm Đồng với các tỉnh Đắk Nông và Đồng Nai, bắt giữ 19 người.
Tại bãi tập kết gỗ, cơ quan chức năng thu giữ 7-8 m3 gỗ đã xẻ chuẩn bị đưa đi tiêu thụ. Kiểm tra quanh khu vực ven lòng hồ, cơ quan chức năng còn phát hiện thu giữ hàng chục m3 gỗ chưa kịp vận chuyển. (Pháp Luật TP.HCM 12/7) đầu trang(
Trước tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều mặt diễn biến phức tạp, nhất là vùng rừng giáp ranh; trong khi đó trách nhiệm quản lý của một số chủ rừng chưa chuyển biến tích cực, một số xã có rừng lại buông lỏng quản lý, khoán trắng cho đơn vị bảo vệ rừng nên số vụ vi phạm lâm luật và lấn chiếm đất lâm nghiệp qua mỗi năm cứ gia tăng.
Để ngăn chặn và đẩy lùi hiệu quả các vi phạm, từ đầu năm 2016, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng, trong đó Hạt Kiểm lâm làm nòng cốt tiến hành công tác kiểm tra, nghiệm thu diễn biến tài nguyên rừng trên địa bàn huyện. Qua đó làm cơ sở tổ chức cho 63/63 đối tượng chuyên khai thác lâm sản trái phép, 386 hộ dân sống ven rừng làm cam kết không khai thác lâm sản trái phép và lấn chiếm đất rừng để sản xuất, cũng như tuân thủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Gắn với tuyên truyền, ký cam kết cho các đối tượng, lực lượng chức năng phối hợp các xã có rừng đẩy mạnh kiểm tra, truy quét và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. 6 tháng đầu năm lực lượng chức năng đã tổ chức kiểm tra, truy quét 85 đợt; qua đó phát hiện, lập hồ sơ xử lý 24 vụ vi phạm lâm luật, giảm 28 vụ so cùng kỳ năm trước. Trong đó 16 vụ khai thác và phá rừng trái phép, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 5 vụ và 3 vụ vi phạm khác.
Đáng chú ý trong số vụ vi phạm, đã có 5 vụ chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự nhằm tăng tính răn đe. Riêng xử lý hành chính 19 vụ, tịch thu 2 xe ô tô, 2 xe mô tô, 30,267m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 197 triệu đồng. Ngoài ra lực lượng chức năng còn phát hiện 6 trường hợp lấn chiếm 20.480m2 đất lâm nghiệp trong quy hoạch 3 loại rừng thuộc lâm phận rừng phòng hộ Hàm Thuận – Đa Mi, các đơn vị chủ rừng đã lập hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Tiếp tục phát huy hiệu quả công tác chống phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trong 6 tháng đầu năm, từ nay đến cuối năm UBND huyện Hàm Thuận Bắc sẽ tăng cường làm tốt công tác tuyên truyền gắn với đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi phạm.
Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng và các xã có rừng, quản lý chặt chẽ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nhất là khu vực rừng giáp ranh. Phát huy vai trò các chủ rừng trong phòng chống phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp. (Báo Bình Thuận 12/7) đầu trang(
Sáng ngày 11/7/2016, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Nguyễn Đức Hòa đã chủ trì cuộc họp trực tuyến với các địa phương có rừng về công tác quản lý, bảo vệ rừng 06 tháng đầu năm; đồng thời, triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong 06 tháng cuối năm.
Tham dự cuộc họp còn có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành là thành viên Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Thuận, giai đoạn 2011 - 2020.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, được sự chỉ đạo sát sao, thường xuyên của UBND tỉnh, công tác quản lý, bảo vệ rừng trong 06 tháng đầu năm 2016 tiếp tục được duy trì với cường độ cao và tích cực tháo gỡ khó khăn; triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng theo kế hoạch đề ra; đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát, truy quét thường xuyên, liên tục, nhất là các trọng điểm phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trong nội địa và vùng giáp ranh; xử lý kịp thời và kiên quyết các hành vi vi phạm lâm luật.
Theo đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên toàn tỉnh đã phát hiện, lập hồ sơ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 344 vụ, giảm 134 vụ (28,03%) so với cùng kỳ 2015 (478 vụ) và so với 06 tháng liền kề cuối năm 2015 (369 vụ) giảm 25 vụ (6,77%). Trong đó, chủ yếu vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản; vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản…
Qua đó, cơ quan chức năng đã tịch thu 368,55 m3 gỗ các loại; 06 chiếc ô tô, xe máy và nhiều phương tiện khác. Đặc biệt trong số 344 vụ vi phạm, có 321 vụ đã xử lý hành chính và đang củng cố hồ sơ chưa xử lý 21 vụ, khởi tố hình sự 02 vụ… Bên cạnh đó, trên lĩnh vực phát triển rừng đã tích cực đôn đốc các đơn vị chủ rừng chuẩn bị đất, cây giống để triển khai trồng rừng khi thời tiết thuận lợi; tích cực phối hợp cùng các ngành tháo gỡ khó khăn về vốn để tiếp tục triển khai thực hiện các chỉ tiêu về giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng…
Phát biểu tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Nguyễn Đức Hòa đánh giá cao công tác triển khai tích cực, quyết liệt và chủ động các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng của các địa phương, đơn vị trong 06 tháng đầu năm 2016.
Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng thẳng thắn nêu lên những hạn chế, tồn tại trong thời gian qua, như: Tình hình lâm tặc với nhiều thủ đoạn phá rừng tinh vi, cản trở, đe dọa và tổ chức thành số đông để tấn công, chống trả lực lượng thi hành nhiệm vụ, gia tăng cả về vụ việc xảy ra và mức độ nguy hiểm; công tác xác minh, điều tra, đấu tranh của các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu; tiến độ trồng rừng còn chậm…
Về nhiệm vụ từ nay đến cuối năm 2016, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các ngành, địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, gắn đẩy mạnh các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống phá rừng; triển khai thực hiện quyết liệt và có hiệu quả các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của UBND tỉnh và các Quy chế phối hợp của UBND hai tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng; tập trung chỉ đạo tốt tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp; triển khai thực hiện hoàn thành có chất lượng các hạng mục đầu tư theo kế hoạch năm 2016 của Dự án Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Bình Thuận (JICA 2), Chương trình UN – REDD Việt Nam giai đoạn II trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và Dự án trồng rừng ven biển chắn sóng, chắn cát để cải thiện môi trường sống và canh tác của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2015 – 2020; đẩy mạnh công tác xác minh, điều tra, sớm kết luận đưa ra xét xử các vụ án về lâm nghiệp, chống người thi hành công vụ; phối hợp thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 12/7) đầu trang(
VQG Yok Đôn cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2016, qua công tác tuần tra, truy quét, lực lượng kiểm lâm Vườn đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 204 vụ vi phạm lâm luật (giảm 123 vụ, tương đương 38% so với cùng kỳ năm 2015).
Trong đó, có 3 vụ xử lý hình sự; tịch thu, tạm giữ 171 phương tiện, 94,1 m3 gỗ các loại. Đăc biệt, số cây gỗ trong Vườn bị lâm tặc đốn hạ là 441 cây, tuy giảm 63 cây (13%) so với cùng kỳ năm 2015 nhưng vẫn còn ở mức cao.
Cũng trong thời gian qua, trên lâm phần do Vườn quản lý và khu vực vùng đệm xuất hiện nhiều điểm nóng về tình trạng khai thác lâm sản, săn bắt trái phép động vật hoang dã, lấn chiếm rừng, vận chuyển, mua bán tàng trữ trái phép lâm sản như tại khu vực các trạm 5, 10, 9,  8, 7, Đắk Na, nơi còn nhiều gỗ, động vật hoang dã quý hiếm nóng tình trạng khai thác lâm sản, săn bắn động vật hoang dã; khu vực trạm 2, 3, Drang Phốk nổi lên tình trạng xâm lấn, bao chiếm đất đai; vùng giáp ranh với khu dân cư, các bến sông, tuyến đường mòn, tỉnh lộ, các buôn Drang Phốk, Trí A, Trí B, Ea Ma (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) nóng tình trạng vận chuyển, mua bán, tàng trữ lâm sản trái phép. (Báo Đắk Lắk 11/7) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo các cơ quan chức năng, tiếp tục làm rõ vụ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật tại huyện Đắk Glei và các địa phương khác trong tỉnh (nếu có).
Trước đó, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và báo Tin tức số ra ngày 21/6/2016 đã phản ánh việc về khai thác và vận chuyển gỗ trái phép tại huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum. Ngày 25/6/2016, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản 5176/VPCP-KTN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề này.
Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra làm rõ vấn đề đài Truyền hình VTV1 và báo Tin tức phản ánh. Nếu đúng, phải có biện pháp xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật và có các giải pháp không để xảy ra tình trạng tương tự.
Ngày 30/6/2016, UBND tỉnh Kon Tum đã có báo cáo về kết quả kiểm tra, xác minh vụ việc nói trên.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo các cơ quan chức năng, tiếp tục làm rõ vụ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật tại huyện Đắk Glei và các địa phương khác trong tỉnh (nếu có). Đồng thời, chỉ đạo việc kiểm điểm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức cá nhân có liên quan vụ việc; có giải pháp cụ thể, không để xảy ra tình trạng tương tự.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xem xét kiến nghị của UBND tỉnh Kon Tum về việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm tăng cường các chế tài đủ mạnh để xử lý vi phạm, đảm bảo tính răn đe và nghiêm túc thực thi pháp luật trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định. (Chính Phủ 12/7) đầu trang(
Mặc cho lệnh đóng cửa rừng, gỗ lậu khai thác ở miền núi Quảng Nam vẫn tràn về xuôi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi.
Ngoài các điểm nóng về khai thác vàng, Quảng Nam cũng là địa phương có nạn phá rừng diễn biến phức tạp, khi sở hữu diện tích rừng tự nhiên hơn 500.000 ha.
Hàng chục năm nay, Quảng Nam vẫn duy trì lệnh đóng cửa rừng và đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị để bảo vệ rừng thế nhưng, những nỗ lực này vẫn chưa thể ngăn chặn được các đối tượng lâm tặc. Gỗ vẫn đều đặn vận chuyển về xuôi theo nhiều hình thức rất tinh vi. Điều này cho thấy, cuộc chiến giữ rừng rất cam go. (Đài Truyền Hình Việt Nam 12/7) đầu trang(
Vừa gây chấn động dư luận khi xả thải đầu độc biển, gây nên thảm họa cá chết hàng loạt, nay Formosa Hà Tĩnh lại bị phát hiện chôn chất thải trên rừng, thuộc địa phận TX. Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Sáng 12.7, làm việc với PV Báo Lao Động, ông Lê Nam Sơn - Chánh Thanh tra Sở TNMT Hà Tĩnh - cho biết, sau khi nhận được thông tin về việc Cty Formosa Hà Tĩnh chôn lấp chất thải trên rừng, ngày hôm 11.7, đơn vị đã trực tiếp vào trang trại riêng của ông Lê Quang Hòa - Giám đốc Cty Môi trường và đô thị TX.Kỳ Anh ở Tổ dân phố Hoàng Trinh, phường Kỳ Trinh (TX. Kỳ Anh) - để xác minh.
Ngay khi vào, họ đã thấy lực lượng của Phòng Cảnh sát môi trường có mặt từ trước đang kiểm tra. Sau đó, họ cùng phối hợp đào một hố đã chôn lấp rác thải lên để lấy mẫu về phân tích xem đó là chất thải gì, có độc hại thế nào.
Sự việc cũng được cơ quan chức năng lập biên bản ngay tại hiện trường và xác định, khối lượng chất thải đã chôn lấp tại đây là khoảng 100m3. Theo nội dung biên bản, ngày 15.4, Cty Môi trường và đô thị TX. Kỳ Anh ký hợp đồng nhận xử lý rác thải cho Cty Formosa Hà Tĩnh với thời hạn một năm.
Cũng tại buổi làm việc với PV Báo Lao Động sáng 12.7, ông Võ Tá Đinh - GĐ Sở TNMT Hà Tĩnh - cho biết, theo quy định, khi một đơn vị ký hợp đồng với đơn vị khác để xử lý rác thải thì đơn vị nhận xử lý phải có chức năng, pháp lý về xử lý rác thải.
"Chúng tôi đang chờ kết quả phân tích xem chất thải chôn lấp đó nguy hại thế nào. Sau đó sẽ làm việc với Cty Formosa và chính quyền TX.Kỳ Anh, Cty Môi trường đô thị TX.Kỳ Anh. Quan điểm là nếu sai phạm sẽ xử lý nghiêm" - ông Đinh nói.
Tại cuộc làm với  PV, điện thoại của ông Đinh đổ chuông, sau đó liên tục là cuộc gọi đến từ Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Quốc Khánh và Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Lê Đình Sơn yêu cầu báo cáo về vụ việc nói trên. Sau cuộc điện thoại, ông Đinh cho biết, bị lãnh đạo phê bình vụ việc hôm qua chưa báo cáo lên tỉnh và ông Đinh đã nói xin rút kinh nghiệm.
Cũng theo ông Đinh, do điều kiện Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật môi trường Hà Tĩnh chưa tự phân tích được nên các mẫu lấy từ địa điểm chôn lấp chất thải ở Kỳ Anh hôm qua sẽ phải gửi ra Hà Nội phân tích.
Qua điện thoại, ông Đinh đã đốc thúc Trung Tâm quan trắc khẩn trương hối thúc và có thể nhờ Trung tâm Quan trắc môi trường của Nghệ An cùng phân tích giùm để có kết quả sớm nhất, để theo dự kiến, Sở TNMT sẽ làm việc với Cty Formosa Hà Tĩnh vào ngày thứ 5 (14.7) tới đây. (Lao Động 12/7) đầu trang(
Lãnh đạo Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường (C49, Bộ Công an) đang tiến hành điều tra, làm rõ về việc Formosa chôn chất thải ở trang trại của Giám đốc môi trường.
Liên quan đến vụ việc Formosa chôn chất thải ở trang trại của GĐ môi trường đang gây chấn động dư luận cả nước, sáng 12/7, trao đổi với PV báo Người Đưa Tin, lãnh đạo cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường (C49, Bộ Công an) cho biết, hiện đơn vị đã nắm được sự việc và đang vào cuộc điều tra, làm rõ vấn đề báo nêu. Đơn vị sẽ căn cứ vào kết quả điều tra nếu có sai phạm sẻ xử lý triệt.
Trước đó, liên quan đến việc xả thải của Formosa phía Cục đã thành lập một đoàn công tác cùng với các đơn vị liên quan tiến hành vào cuộc điều tra, xử lý ở khu công nghiệp Formosa.
Theo đó, trong khi các cơ quan chức năng chặn đường biển để kiểm tra, lâu nay Formosa đã đưa rác thải về đâu để tiếp tục sục rửa hệ thống, thì bất ngờ nhận được tin báo “rùng mình” từ người dân địa phương.
Nhóm PV báo Người Đưa Tin đã cải trang thành những người dân bản địa, xâm nhập một trang trại “ma” ở đầu nguồn sông Trí, nơi được cho là đang chôn lấp hàng nghìn m3 cặn cô đặc, lấy từ hệ thống xả thải của Formosa.
Nhóm PV có mặt tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh) và một ngày đầu tháng 7/2016. Theo tin báo từ một người dân địa phương cho biết: Tại trung tâm xử lý rác thải của tập đoàn Formosa Hà Tĩnh, người ta đang phân loại và đóng gói rất nhiều chất thải màu đen như bùn, bốc mùi khó chịu. Sau khi tập kết đủ số lượng, một số xe tải được điều động đến và vận chuyển theo hướng đường tránh thị xã Kỳ Anh rồi mất hút…
Những con đường đất ngoằn ngèo, đầy vết bánh xe tải nối trung tâm thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh) với vùng thượng Kỳ Trinh, đã đưa nhóm PV tiếp cận trang trại bí ẩn nằm giữa rừng tràm bao phủ. Nhóm PV đã hết sức bất ngờ và ngỡ ngàng, khi nhìn thấy hàng nghìn m3 rác thải công nghiệp đen kịt đang bốc mùi nồng nặc, được người ta vận chuyển đến, rồi chôn lấp ngay ở đây.
PV xuyên vào rừng tràm, mật phục ghi lại những hình ảnh khó tin: Khu đất hàng trăm m2 tạo thành vùng lõm giữa những thân tràm bao bọc. Và những chiếc xe tải phủ kín bạt, oằn mình từ nhà máy Formosa Hà Tĩnh chở theo những bao tải chất thải mang đổ xuống bãi này. Xe đổ đến đâu, hệ thống máy múc tiến hành san lấp đến đó.
Theo ghi nhận của PV báo Người Đưa Tin, đây là một khu rừng hoang vu, ít người qua lại và thường xuyên có nhiều thanh niên mặt mũi bặm trợn lai vãng, giám sát sự vào ra của những người lạ mặt. Thậm chí, người dân địa phương quanh vùng không ai được bén mảng đến nơi đây.
Nơi đây, người dân gọi là trang trại Hoàng Trinh. Giữa trang trại bí ẩn này, chỉ một ngôi nhà nhỏ với một đôi vợ chồng già trông nom, chăm sóc vườn tược và gia cầm cho ông chủ. Họ được thuê vào đây làm việc rồi dần dần chuyển đến sinh sống ở đây luôn.
Cả một vùng đất trống phát ra mùi hôi thối nồng nặc – đấy là mùi của hóa chất. Phần lớn rác thải đã được người ta lấp đất lên nhưng nhóm PV vẫn có thể đánh giá được trữ lượng thông qua những bao tải lộ thiên.
Điều đáng chú ý là toàn bộ diện tích của trang trại này đều nằm bên cạnh thượng nguồn sông Trí và cách đó không xa chính là đập tràn cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho hàng ngàn hộ dân quanh vùng.
Trong quá trình xâm nhập, đám xe tải đã phát hiện ra PV. Họ dừng vận chuyển để dò la tung tích. Nhóm PV báo Người Đưa Tin quyết định rút về TP Hà Tĩnh, liên hệ làm việc và trình báo về việc làm nguy hại này.
Bằng sự tiếp thu thiện chí, chiều ngày 11/7, đoàn liên ngành gồm: Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về môi trường, Thanh tra Sở TN – MT, Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Hà Tĩnh, Công an thị xã Kỳ Anh… đã theo chân PV đến hiện trường để tiếp cận sự việc. Điều bất ngờ đầu tiên với các cơ quan chức năng, trang trại “ma” này thuộc quyền sử dụng của ông Lê Quang Hòa, Giám đốc Công ty Môi trường – Đô thị thị xã Kỳ Anh.
Một cán bộ đang công tác tại Formosa Hà Tĩnh thừa nhận: “Đây chính là chất thải kim loại nặng, được lắng lại sau quá trình xử lý nước thải. Nó như một lớp bùn đen đọng lại dưới đáy hồ và được múc lên rồi đóng gói đi chôn lấp. Việc làm này là hết sức nguy hiểm vì có thể trong lớp bùn đó còn chứa rất nhiều kim loại nặng, có thể gây ra nhiều hậu quả khôn lường”. (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 12/7) đầu trang(
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đưa ra ví dụ rừng đầu nguồn có tác dụng giữ nước, duy trì chất lượng nước, chống sạt lở đất và lũ lụt cho hạ lưu, v.v… Vì vậy, những người được hưởng lợi ở hạ lưu cần chi trả một khoản tương xứng cho những người trực tiếp tham gia duy trì và bảo vệ các chức năng của rừng đầu nguồn.
Theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh - Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (ISPONRE), đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách nên cân nhắc việc làm thế nào để áp dụng các bài học kinh nghiệm của quốc tế và khu vực để áp dụng lượng giá hệ sinh thái (HST) ở cấp quốc gia.
Chi trả dịch vụ HST hay chi trả dịch vụ môi trường là công cụ kinh tế, sử dụng những người được hưởng lợi từ các dịch vụ HST chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của HST đó.
Theo Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystems Services-PES) hay còn gọi là chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services-PES) là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Thí dụ, rừng đầu nguồn có tác dụng giữ nước, duy trì chất lượng nước, chống sạt lở đất và lũ lụt cho hạ lưu, v.v… Vì vậy, những người được hưởng lợi ở hạ lưu cần chi trả một khoản tương xứng cho những người trực tiếp tham gia duy trì và bảo vệ các chức năng của rừng đầu nguồn.
Đây được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra cũng như sử dụng các dịch vụ HST bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ HST. Với 4 loại dịch vụ bao gồm: bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái và hấp thụ cácbon đã được thí điểm mô hình PES (chi trả dịch vụ HST) tại Việt Nam tại một số dự án nghiên cứu.
Mới đây, công cụ lượng giá và đánh giá dịch vụ hệ sinh thái - ValuES được xem như một công cụ hiệu quả để tính toán và chuyển đổi các lợi ích hữu hình và vô hình thành giá trị tiền tệ nhờ đó mà hậu quả từ việc suy thoái và mất đi của các dịch vụ HST được nhìn thấy rõ ràng cụ thể hơn giúp cho các nhà lập kế hoạch và ra quyết định hiểu rõ hơn giá trị kinh tế của đa dạng sinh học và các loại hình dịch vụ HST khác nhau.
Tuy nhiên, những công cụ trên vẫn chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong quá trình quy hoạch ở cả cấp địa phương lẫn Trung ương khi việc hướng dẫn áp dụng và thực hiện các công cụ này cũng chưa được xây dựng bằng tiếng Việt.
Cho đến nay, giá trị của các dịch vụ HST vẫn chưa được đề cập trong các quyết định quy hoạch và đầu tư, các dịch vụ tự nhiên vẫn được xem như là các dịch vụ “miễn phí” hay các dịch vụ “hàng hóa công ”.
Tại hội thảo Lượng giá, đánh giá và lồng ghép dịch vụ hệ sinh thái vào quy hoạch phát triển diễn ra vào ngày 12.7 tại Hà Nội, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh - Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (ISPONRE) đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc lồng ghép các dịch vụ HST vào quá trình quy hoạch. “Đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách nên cân nhắc việc làm thế nào để áp dụng các bài học kinh nghiệm của quốc tế và khu vực để áp dụng lượng giá HST ở cấp quốc gia”, ông Chinh nói.
Bản chất của PES là tạo cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho cộng đồng, cung cấp dịch vụ HST nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Cụ thể, Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua, quy định về dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học và hiện tại, Quỹ Bảo tồn Hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một số dự án về mô hình PES như bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái.
Theo ông Đào Xuân Lai -  Trưởng phòng Phát triển bền vững, hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống và sinh kế của người dân, đặc biệt là tại các cộng đồng bản địa. Giá trị kinh tế của các dịch vụ HST hiện nay vẫn chưa được xem trọng và lồng ghép một cách đầy đủ vào quy hoạch phát triển, lập ngân sách, và quá trình ra quyết định.
Các HST khỏe mạnh cung cấp các lợi ích to lớn về mặt sức khỏe và tiết kiệm cho cộng đồng cũng như giúp cho việc đạt được các mục tiêu lớn hơn về xóa đói giảm nghèo và hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững.
“Lượng giá các dịch vụ HST và lồng ghép chúng vào quy hoạch phát triển và các quyết định đầu tư là cần thiết để đảm bảo sự phát triển kinh tế lâu dài. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh, GIZ sẽ tiếp tục hỗ trợ các Bộ, ngành liên quan để lồng ghép tốt hơn các dịch vụ hệ sinh thái vào các chính sách”, ông Michael Wahl, Cố vấn trưởng dự án Lồng ghép chiến lược thích ứng dựa vào Hệ sinh thái tại Việt Nam (EbA), GIZ Việt Nam chia sẻ.
Tại hội thảo, với sự tham dự của gần 100 đại biểu đến từ các cơ quan Trung ương và địa phương, các trường đại học và viện nghiên cứu đã được trình bày và chứng minh rằng ValuES là một công cụ hiệu quả cho các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định trong vấn đề bảo tồn môi trường và quy hoạch phát triển.
Cũng trong dịp này, một khóa tập huấn 3 ngày cũng sẽ được tổ chức cho những giảng viên, những người sẽ tiếp tục giới thiệu công cụ này đến các tỉnh và là những người sẽ đào tạo tiếp một đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp trực tiếp tính toán và thực hiện nghiên cứu lượng giá dịch vụ HST cho Chính phủ và các chính quyền địa phương khi họ quyết định lồng ghép các công cụ này vào quá trình ra quyết định. (Một Thế Giới 13/7) đầu trang(
“Tôi muốn nhấn mạnh rằng bảo tồn thiên nhiên cần phải dựa vào dân. Người dân là những người bảo tồn thiên nhiên tốt nhất. Không lôi kéo được người dân vào việc này thì dù lực lượng kiểm lâm của chúng ta có đông đảo cũng không bảo vệ được rừng, bảo vệ được đa dạng sinh học…”, đó là lời tâm sự từ đáy lòng của GS.TS Đặng Huy Huỳnh, người được xem là cây đại thụ về động vật học, sinh thái học và bảo vệ thiên nhiên Việt Nam.
GS.TS Đặng Huy Huỳnh sinh ngày 25-10-1933 tại xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Hiện nay ông là Chủ tịch Hội động vật Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ tài nguyên & môi trường Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Cây di sản Việt Nam (VACNE).
Xuất thân từ vùng quê nhiều thành quả cách mạng và cũng rất nổi tiếng về đa dạng tài nguyên sinh vật, từ tuổi thiếu niên, năm 1945 ông đã tham gia thiếu sinh quân. Năm 1947-1954, ông là chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, hoạt động tại các chiến trường Liên khu 5, chiến trường Hạ Lào-Đông Bắc Campuchia.
Từ 1966-1969, ông được cử đi học, đào tạo ở trong nước và nước ngoài, nghiên cứu sinh tại Viện Tiến hóa hình thái Seversov Moscow thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Sau thời gian học tập và nghiên cứu, ông về công tác và làm Phó Viện trưởng rồi làm Viện trưởng Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam từ 1976-1995.
Trong thời gian công tác, ông trực tiếp thực hiện nhiều đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước; là Ủy viên Ban chủ nhiệm nhiều chương trình cấp Nhà nước như: Chương trình bảo vệ môi trường, 52,52D, Bộ GD&ĐT; Chương trình nghiên cứu điều tra tổng hợp các tỉnh Tây Nguyên I và II – Mã số 48C; Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (1961-1971) ở Mã Đà (Đồng Nai), A Lưới (Thừa Thiên Huế), Ngọc Hiển, Năm Căn (Cà Mau), làm căn cứ cho việc đề ra hướng khắc phục và góp phần vào việc đấu tranh với Mỹ về hậu quả của chất độc hóa học với môi trường Việt Nam…
Từ năm 1990 cho đến nay, GS.TS Đặng Huy Huỳnh liên tục là Phó Chủ tịch BCH Trung ương Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt và ủy viên của nhiều Hội đồng quốc gia... Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.
Dấn thân vào nghề sinh học cơ bản, nhà khoa học Đặng Huy Huỳnh càng ngày càng nhận thấy tài nguyên sinh vật ở Việt Nam ẩn chứa nhiều điều cần khám phá và chứng minh các quy luật sinh học, sinh thái; các nguyên nhân dẫn đến suy giảm hệ sinh thái, nguy cơ tuyệt chủng của những loài sinh vật quý hiếm và đặc hữu. Trên cơ sở đó định hướng cho công tác Bảo tồn Đa dạng sinh học.
Theo PGS.TS Phạm Văn Lực, một đồng nghiệp thân thiết của GS.TS Đặng Huy Huỳnh chia sẻ, “Tôi biết GS.TS Đặng Huy Huỳnh từ giữa năm 1974 sau khi tốt nghiệp khoa sinh vật, trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, tôi được phân công về công tác tại phòng động vật. Lúc đó, nhà khoa học Đặng Huy Huỳnh đã là trưởng phòng nghiên cứu động vật. Viện Sinh vật lúc đó cũng chưa được hình thành mà vẫn được gọi là khối sinh học thuộc Viện Khoa học tự nhiên thuộc Ủy Ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước”.
Năm 1975 khi thành lập Viện Khoa học Việt Nam, GS.TS Đặng Huy Huỳnh đã được bổ nhiệm làm Phó Chánh văn phòng của Viện. Cùng với đó, Viện Sinh vật học cũng được hình thành và chỉ sau chưa đầy một năm, theo đề nghị của các nhà sinh học trong viện ông đã được điều về làm Phó Viện trưởng Viện Sinh vật  học. Đến năm 1990 khi thành lập Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, GS trở thành Viện trưởng đầu tiên của viện này cho đến khi về hưu theo chế độ (năm 1995).
PGS.TS Phạm Văn Lực còn nhớ khi còn ở Viện Sinh vật học, với cương vị là Phó Viện trưởng, kiêm trưởng phòng nghiên cứu động vật, GS đã chủ động đề xuất và đứng ra chủ trì xây dựng phòng bảo tàng động vật trực thuộc viện, phòng bảo tàng ấy còn tồn tại và vẫn phát triển cho đến ngày nay chính là nhờ công lao, công hiến của GS.TS Đặng Huy Huỳnh.
Suốt mấy chục năm qua, ông đã chủ trì, dẫn đầu rất nhiều đoàn nghiên cứu thực địa của phòng và viện, những chuyến thực địa trên khắp các tỉnh thành, địa phương, từ đất liền đến các hải đảo trên cả nước từ những năm 60 của thế kỷ trước cho đến ngày nay, đã thu thập cho bảo tàng này hàng vạn mẫu vật, trong đó có rất nhiều mẫu quý.
Từ khi dự án xây dựng Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (năm 2002) và nhất là sau ngày Bảo tàng TNVN được thành lập (tháng 3 năm 2006), PGS.TS Phạm Văn Lực với cương vị là Trưởng Ban quản lý và sau đó là GĐ Bảo tàng đã không ngừng hợp tác và liên tục nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, có trách nhiệm của GS.
Giờ đây khi đã ở tuổi ngoài 80, GS.TS Đặng Huy Huỳnh vẫn không ngừng hoạt động trong các lĩnh vực sở trường của mình. Ông liên tục nghiên cứu, đào tạo thế hệ trẻ. GS thật sự là một tấm gương sáng, đáng ngưỡng mộ trong làng khoa học sinh vật học Việt Nam.
Với thành tựu đạt được trong công tác, GS.TS Đặng Huy Huỳnh nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước: được phong hàm GS (1991); nhận Huân chương chống Mỹ hạng Hai (1983), Huân chương I Xa La Lào hạng Hai do Chủ tịch CHDCND Lào trao năm 1991; Huân chương Lao động hạng Nhất (1997); được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về tập Atlas quốc gia (2005), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Động vật chí, thực vật chí, sách đỏ Việt Nam (2010), Giải thưởng cố đô Huế vì KH&CN lần thứ nhất năm 2006; Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng (1990), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng (2000), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng (2010).
Nhưng vinh dự hơn cả, tên ông đã trở thành niềm hãnh diện của học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế. (Pháp Luật Và Xã Hội 12/7) đầu trang(
Hiện, công tác bảo vệ đàn Voọc gáy trắng đang được giao cho cộng đồng dân cư hai xã Thạch Hóa và Đồng Hóa (Tuyên Hóa) đảm nhận. Tuy nhiên, để loài linh trưởng này có một môi trường sống an toàn, phát triển số lượng cá thể, cần có một kế hoạch dài hơi.
Lần đầu tiên, một cuộc hội thảo quy mô nhằm xây dựng phương án bảo tồn quần thể Voọc gáy trắng được tổ chức tại thành phố Đồng Hới vào cuối năm 2015. Hội thảo thu hút các nhà khoa học đến từ các trường đại học lớn trong nước, các cơ quan chức năng trung ương, địa phương và các tổ chức quốc tế...
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Sau hội thảo, căn cứ vào tình hình phát triển ốn định của đàn Voọc gáy trắng, bước đầu hình thành nên Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc gáy trắng Thạch Hóa, huyện Tuyên Hóa, diện tích 175 ha trải dài từ xã Thạch Hóa đến xã Đồng Hóa, với 4 nhóm giải pháp cụ thể đang được triển khai thực hiện.
Trong đó, thứ nhất là có chính sách chuyển đổi từ rừng do xã quản lý thành rừng đặc dụng; xây dựng cam kết bảo vệ giữa UBND xã và cộng đồng dân cư liên quan như thôn Thiết Sơn 1, Thiết Sơn 2 (xã Thạch Hóa), thôn Đồng Thuận (xã Đồng Hóa).
Thứ hai về quản lý bảo vệ, thành lập tổ bảo vệ cộng đồng bao gồm các cá nhân ưu tú trong cộng đồng, đại diện chính quyền  địa phương, đại diện lực lượng kiểm lâm, Hạt kiểm lâm Tuyên Hóa; xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ quần thể Voọc tại các thôn xóm kề rừng và lân cận để nâng cao ý thức và cam kết thực hiện bảo vệ rừng, bảo vệ quần thể Voọc; đồng thời xây dựng kế hoạch tuần tra giám sát và bảo vệ theo tháng, quý và năm; xây dựng quy chế quản lý bảo vệ dựa trên quy chế quản lý bảo vệ rừng đặc dụng Việt Nam; xây dựng chương trình du lịch sinh thái, trước mắt là du lịch ngắm Voọc gáy trắng nhằm mục tiêu bảo vệ, giáo dục cho cộng đồng và gây quỹ.
Thứ ba là tuyên truyền giáo dục, cụ thể: hình thành hệ thống bảng tuyên truyền, pano, áp phích tại những điểm nhạy cảm có thể tiếp cận tài nguyên rừng; tổ chức tuyên truyền, giáo dục trong trường học về bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã; đưa vào quảng bá hoạt động du lịch xem Voọc gáy trắng trong mạng lưới du lịch của tỉnh Quảng Bình; nâng cao năng lực cho tổ bảo vệ và truyền thông cộng đồng về công tác bảo tồn thiên nhiên.
Thứ tư là tiến hành các hoạt động nghiên cứu về tập tính của quần thể Voọc gáy trắng để xây dựng kế hoạch và giải pháp bảo tồn phù hợp; nghiên cứu về nhu cầu thức ăn và sinh cảnh của Voọc gáy trắng làm cơ sở xây dựng giải pháp mở rộng hoặc bổ sung nguồn thức ăn cho các quần thể Voọc trong tương lai.
Đồng thời để có nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ, cần duy trì nguồn kinh phí thuộc chương trình bảo vệ và phát triển rừng; kêu gọi đầu tư từ các nguồn khác như các tổ chức trong nước và quốc tế quan tâm đến công tác bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái và nâng cao sinh kế cộng đồng.
Ông Nguyễn Trọng Hưng, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết thêm: “Thời gian qua, vấn đề bảo vệ đàn Voọc gáy trắng ở 2 xã Thạch Hóa và Đồng Hóa đã nhận sự đồng thuận cao của chính quyền địa phương các cấp, các đơn vị chức năng và người dân, đặc biệt là cộng đồng dân cư tại các xã Thạch Hóa, Đồng Hóa, trong đó có các cá nhân điển hình như Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Văn Hồng”.
“Loài Voọc gáy trắng sinh sống tại các xã Thạch Hóa, Đồng Hóa, huyện Tuyên Hóa đang đối mặt với những thách thức lớn về vùng sống, nguồn thức ăn, các tác động gây ảnh hưởng trực tiếp như: săn, bắn, xâm lấn sinh cảnh, khai thác đá, khai thác củi... Các áp lực trên sẽ dẫn đến nguy cơ giảm số lượng loài rất cao. Vì vậy việc quy hoạch và xây dựng Đề án bảo tồn loài và sinh cảnh đối với quần thể Voọc gáy trắng hết sức cấp bách, cần phải làm ngay”- Ông Phạm Hồng Thái trao đổi thêm.
Trở lại khu vực thuộc diện tích cần bảo vệ nghiêm ngặt trải dài từ Thạch Hóa đến Đồng Hóa, qua các điểm: Giàn Vượn, Cửa Hung, Nước Lặn, Khe Đá, Hung Sú, Miếu Tam Quan, Hang Ngá, lèn Cây Gạo, Trung đoàn 18... đàn Voọc gáy trắng thường hay xuất hiện, chúng tôi cảm nhận cả một vùng lèn cao yên bình. Mỗi sáng khi bình minh lên, đàn linh trưởng bây giờ trở nên thân thiện, gần gũi với con người lại xuất hiện trên những mỏm đá cao phơi nắng, từng cụm hai, ba cá thể quây quần bắt chấy, rận cho nhau.
Theo các nhà khoa học, chuyên gia về bảo tồn linh trưởng, quần thể Voọc gáy trắng quý hiếm sinh tồn, phát triển ở vùng lèn bên cạnh cộng đồng dân cư, thân thiện với con người như ở xã Thạch Hóa, Đồng Hóa là vô cùng độc đáo, có một không hai.
Và tương lai khi hình thành nên Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc gáy trắng ở xã Thạch Hóa, Đồng Hóa... có sự đóng góp rất to lớn của những người như Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Văn Hồng, ngày đêm miệt mài “vác tù và hàng tổng”, vì sự bình yên của đàn Voọc gáy trắng quý hiếm. (Báo Quảng Bình 12/7) đầu trang(
Như thông tin VietnamPlus đã phản ánh, từ năm 2015 đến nay, hàng trăm cá thể tê tê quý hiếm được cơ quan chức năng các tỉnh “giải cứu” về Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã Hà Hội với mục đích chăm sóc để tái thả về tự nhiên, song hầu hết tê tê đã bị chết.
Cho đến nay, hàng loạt cá thể tê tê bị chết vẫn đang phải nằm trong “kho nhà xác động vật đông lạnh” của Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã Hà Hội ở huyện Sóc Sơn. Trong số đó, có rất nhiều cá thể bảo quản dài ngày đã bốc mùi hôi thối.
Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Ngô Bá Oanh, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội cho biết, từ năm 2015 đến nay, trung tâm tiếp nhận gần 300 cá thể tê tê từ cơ quan chức năng các tỉnh. Tuy nhiên, phần lớn số tê tê được cứu hộ đã chết do bị “con buôn” nhồi nhét thức ăn, sức khỏe quá yếu.
“Sau khi tê tê chết, chúng tôi đã tiến hành bảo quản đông lạnh. Lý do là, phần lớn tê tê được chuyển về trung tâm là tang vật của các vụ án buôn bán động vật hoang dã trái phép chưa được xử lý hình sự, nên trung tâm phải có trách nhiệm bảo quản cho đến khi vụ án kết thúc,” ông Oanh nói.
Vậy đối với những cá thể tê tê bị chết, hiện đang được bảo quản đông lạnh, sau khi vụ án kết thúc sẽ được xử lý thế nào?
Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội cho biết, ngay sau khi vụ án được xét xử, trung tâm sẽ thành lập Hội đồng tiêu hủy bao gồm đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, cơ quan kiểm sát, cơ quan thú ý... tiến hành tiêu hủy theo quy trình khép kín là đưa vào lò thiêu để đảm bảo vệ sinh môi trường.
“Việc tiêu hủy động vật hoang dã sau khi chết là để đảm bảo môi trường theo quy định của pháp luật, song việc này cũng rất lãng phí. Bởi trên thực tế có những loài động vật có giá trị kinh tế rất cao. Trước đây, sau vụ án tê tê có thể đem đấu giá để thu ngân sách, nhưng hiện nay tất cả tang vật đều phải tiêu hủy,” ông Oanh chia sẻ thêm. (Vietnam + 12/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nghị định 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp ra đời từ năm 2014, nhưng đến nay, hầu hết các công ty mới dừng lại ở việc thẩm định các mô hình chuyển đổi trong giai đoạn tới.
Trong diện thực hiện Nghị định 118 có tới 49 tỉnh, thành phố, bộ, ngành có công ty nông, lâm nghiệp cần thực hiện sắp xếp, đổi mới. Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 31/5/2016, mới có 3 đơn vị của Bộ Quốc phòng , một đơn vị của Bộ Công Thương và 2 đơn vị của Bộ NN&PTNT cùng với các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án tổng thể.
Theo báo cáo mới đây của Bộ NN&PTNT, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định 118, tổng hợp ý kiến của các địa phương, đơn vị với 10 nhóm vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện.
Trước hết là vướng mắc liên quan đến đất đai, lao động và tài sản trên đất, nhất là việc khoán đất, khoán rừng và vườn cây ổn định.
Mặt khác, khi xây dựng đề án các công ty nông, lâm nghiệp phải thống nhất với địa phương, nên cần có thời gian để thực hiện và bảo đảm chất lượng của đề án và phương án.
Nhiều đơn vị gặp khó khăn trong việc lựa chọn mô hình mới, nhất là về tiêu chí để lựa chọn đối tác trong mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Hiện nay, tiêu chí cho công ty nông, lâm nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh ở địa bàn chiến lược, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh không có, do đó, các công ty nông, lâm nghiệp ở những vùng này vừa phải hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa phải thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
Việc thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể, do đó tại các địa phương có công ty nông, lâm nghiệp được sắp xếp theo mô hình này gặp nhiều vướng mắc trong việc triển khai thực hiện.
Một khó khăn không hề nhỏ đó là kinh phí cho đo đạc, rà soát, cắm mốc ranh giới đất đai, ước tính cần 1.000 tỷ đồng. Mặc dù đã được Chính phủ hỗ trợ trên 60%, nhưng đến thời điểm hiện nay ngân sách Trung ương mới cấp được 150 tỷ đồng. Chính vì vậy, với những địa phương không có nguồn thu, khoản tiền 30% đối ứng từngân sách địa phương là bài toán rất khó giải.
Việc giao đất về địa phương do thực hiện giải thể hay thu hẹp nhiệm vụ, khi quy hoạch sử dụng diện tích đất này không dễ dàng, nhất là với các doanh nghiệp ở Tây Nguyên do trước đây nguồn gốc một phần đất của nông trường là của người dân đóng góp.
Việc cấp kinh phí quản lý, bảo vệ rừng sản xuất là rừng tự nhiên được cân đối từ khai thác rừng, nhưng nay đã đóng cửa rừng, do vậy không có nguồn thu để cân đối chi cho công tác này. Một số công ty đã ngừng khai thác, nhưng tới năm 2015 Bộ Tài chính mới phân bổ kinh phí quản lý bảo vệ rừng tự nhiên là rừng sản xuất.
Ngoài ra, do quy định của Nghị định 118 không có hình thức phá sản công ty nông, lâm nghiệp, vì thế dẫn đến tình trạng một số công ty đủ điều kiện phá sản, lại không thực hiện được, khiến địa phương rất khó xử lý, vì các khoản công nợ của các công ty này lớn, chủ sở hữu không có khả năng giải quyết. Nếu thực hiện giải thể cần có cơ chế xử lý nợ để giảm gánh nặng cho địa phương, nhất là các tỉnh nghèo.
Quyết định về đặt hàng, giao nhiệm vụ công ích để các đơn vị chuyển sang thực hiện nhiệm vụ công ích có kinh phí để quản lý, bảo vệ rừng đến nay chưa được ban hành, các công ty thực hiện nhiệm vụ công ích do không có kinh phí và cơ chế thực hiện nên rất khó khăn trong quản lý bảo vệ rừng.
Cùng với các khó khăn trên, việc “đội” kinh phí và thời gian do kiểm đếm vườn cây, rừng trồng, cắm mốc ranh giới và xử lý các vấn đề về tranh chấp, lấn chiếm đất đai, xử lý lao động dôi dư... cũng  ảnh hưởng đến thời gian thực hiện cổ phần hóa.
Hiện, Bộ NN&PTNT đang trình Chính phủ một số phương án để tháo gỡ tình hình trên. Trọng tâm của việc tháo gỡ tập trung vào sửa đổi Nghị định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường, lâm trường quốc doanh.
Cùng với đó là xử lý vấn đề về lựa chọn đối tác góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên; xác định giá trị vườn cây rừng trồng; chuyển nợ sang cổ phần; sử dụng tiền bán cổ phần để chi phí tiền kiểm đếm vườn cây, rừng trồng; cho phép sử dụng kết quả rà soát hiện trạng đất đai hiện có để xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới...
Bên cạnh đó, hiện nay Bộ KH&ĐT cũng đã xây dựng xong dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng; thu hút và khuyến khích đầu tư; đặt hàng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp”. (Chính Phủ 12/7) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), 5 năm qua, hàng nghìn hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng (BVR), chủ hộ trồng rừng kinh tế ở huyện Văn Chấn đã được nhận hơn 3,37 tỷ đồng từ tiền phí DVMTR.
Phí DVMTR không chỉ góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giá trị phòng hộ của rừng mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập cho người làm nghề rừng.
Xã Nậm Lành được thiên nhiên ưu đãi cho tài nguyên rừng phong phú. Toàn xã hiện có trên 6.000 ha rừng, trong đó, rừng tự nhiên là 4.250 ha và rừng trồng 1.750 ha. Cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp. Chính sách này đã làm thay đổi một phần cuộc sống của người dân, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo.
Đồng chí Triệu Toàn Pết - Chủ tịch UBND xã Nậm Lành phấn khởi cho biết: "Diện tích được chi trả DVMTR trên địa bàn xã hàng năm từ 3.200 ha đến 3.500 ha. Tính riêng năm 2015, số tiền xã nhận từ DVMTR là 500 triệu đồng. Căn cứ vào kết quả nghiệm thu diện tích rừng, UBND xã đã phối hợp cùng Ban Chi trả DVMTR huyện chi trả tiền tới từng hộ, nhóm hộ. Chính sách chi trả tiền DVMTR đã tạo bước phát triển tốt, tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã. Nguồn kinh phí này đã tạo điều kiện về nguồn lực cho các chủ rừng cũng như tăng cường trách nhiệm BVR; đồng thời, thông qua đó, người dân cũng biết thêm về các chính sách được hưởng, lợi ích từ rừng mà tự mua cây giống trồng rừng, chăm sóc rừng”.
Để chính sách chi trả DVMTR đi vào cuộc sống, Ban Chi trả DVMTR huyện Văn Chấn đã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức hội nghị tuyên truyền về chính sách chi trả tiền DVMTR. Trong 5 năm qua, đã tổ chức 40 hội nghị tuyên truyền cấp xã cho hơn 1.600 lượt người với thành phần là các tổ đội tham gia BVR, các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân; phát hơn 1.000 tờ rơi tuyên truyền BVR, phòng cháy, chữa cháy rừng, 500 quyển tài liệu tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR... tại các thôn, bản.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào nguyên tắc, hình thức chi trả DVMTR đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền DVMTR; đối tượng được chi trả tiền DVMTR; trách nhiệm của các hộ nhận khoán BVR; diện tích rừng của từng bản, nhóm hộ được chi trả tiền DVMTR, đơn giá được chi trả của một héc-ta rừng.
Trên cơ sở diện tích lưu vực có cung ứng DVMTR được tỉnh phê duyệt, Ban Chi trả cấp huyện đã phối hợp với UBND cấp xã, các chủ rừng rà soát, xác định phạm vi, ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng và phân loại các chủ rừng có tham gia cung ứng DVMTR trên địa bàn huyện, xây dựng bản đồ quản lý lưu vực đối với diện tích rừng do UBND đang giao khoán.
Sau 5 năm thực hiện, toàn huyện Văn Chấn đã có trên 58.4422 ha rừng được chi trả phí DVMTR. Trong đó, diện tích rừng đang giao khoán bảo vệ 47.040 ha, diện tích rừng của hộ gia đình, cá nhân quản lý 11.402 ha. Tổng số tiền chi trả DVMTR được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp hơn 3,37 tỷ đồng.
Chia sẻ niềm vui, ông Hà Văn Pành - Trưởng thôn Bản Mười, xã Sơn Lương cho biết: “Cộng đồng dân cư trong thôn quản lý, bảo vệ 40 ha rừng tự nhiên sản xuất. Từ khi được giao quản lý, chúng tôi đã họp và phân chia nhau tuần tra, trông coi bảo vệ tốt diện tích rừng trên. Hàng năm, diện tích trên đều được chi trả tiền cung ứng DVMTR. Đơn giá hỗ trợ hàng năm từ 20.000 - 60.000 đồng/ha rừng, riêng năm 2015 được chi trả 163.000 đồng/ha. Số tiền này đã là một động lực cho thôn chúng tôi bảo vệ tốt diện tích rừng được giao, đề cao hơn nữa trách nhiệm của từng cá nhân trong việc BVR”.
Mặc dù số tiền nhận được từ DVMTR còn nhỏ nếu chia ra từng hộ dân nhưng với phương châm “lấy rừng để nuôi rừng”, chính sách chi trả DVMTR thực sự là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự chuyển biến tích cực giúp người dân nhận khoán khoanh nuôi BVR hưởng lợi nâng cao thu nhập từ rừng, góp phần từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, đẩy mạnh công tác xã hội hóa nghề rừng. (Báo Yên Bái 12/7) đầu trang(
Rừng được xác định giữ vai trò vô cùng quan trọng trong giảm nhẹ thiên tai, nhất là trước sự tác động ngày một mạnh mẽ của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, hiện nay nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm nghiêm trọng, đòi hỏi phải có những giải pháp, cơ chế đặc thù để khôi phục, phát triển rừng bền vững…
Theo đánh giá tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 vừa diễn ra tại TP. Buôn Ma Thuột, nguồn tài nguyên rừng Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Kết quả kiểm kê rừng năm 2014, tỉnh Đắk Lắk có tổng diện tích tự nhiên 1.312.537 ha; trong đó đất có rừng: 507.489 ha (rừng tự nhiên 475.908,64 ha; rừng trồng 31.580,35 ha), đất chưa có rừng: 214.506,2 ha (đất có rừng trồng nhưng chưa thành rừng 20.657,7 ha; đất trống có cây gỗ tái sinh 25.457 ha; đất trống không có cây gỗ tái sinh 52.854,1 ha; đất có cây nông nghiệp 109.856,3 ha; đất khác 5.681 ha); độ che phủ rừng đạt 38,7%.
Trữ lượng rừng tự nhiên 58.234.195 m3, trong đó trữ lượng rừng giàu là 25.147.144 m3, trữ lượng rừng trung bình 18.608.748 m3, trữ lượng rừng nghèo 12.144.434 m3, trữ lượng rừng nghèo kiệt 2.333.867  m3.
Tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép vẫn tiếp diễn nhiều năm và có xu hướng phức tạp hơn; cháy rừng, đốt rừng do các hoạt động cá nhân thường xuyên xảy ra. Việc mất rừng còn do chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây công nghiệp; chuyển đất rừng để xây dựng các công trình thủy điện. Công tác quản lý, khôi phục rừng cũng còn nhiều bất cập.
Các công ty lâm nghiệp chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp nhưng vẫn hoạt động dựa vào ngân sách Nhà nước với nguồn nhân lực mỏng, năng lực và trách nhiệm có hạn, cơ chế quản lý bất cập... dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, buông lỏng quản lý rừng. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở chế biến gỗ hình thành tự phát tràn lan không theo quy hoạch, không gắn với vùng nguyên liệu dẫn đến tình trạng tiêu thụ gỗ bất hợp pháp, làm gia tăng tình trạng khai thác gỗ trái phép.
Cơ chế giao đất rừng sản xuất còn nhiều bất cập, thiếu minh bạch; tình trạng di dân ngoài quy hoạch, tăng dân số cơ học, tập quán du canh du cư vẫn tồn tại... cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng.
Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên, về mặt khách quan là do những tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, áp lực nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất hàng hóa, nhu cầu đất sản xuất ngày càng tăng; nhận thức của người dân khu vực ven rừng còn hạn chế. Về mặt chủ quan, đó là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng các cấp chưa được phát huy đầy đủ; chính quyền các cấp chưa thực sự coi trọng và thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong quản lý và bảo vệ rừng...
Đặc biệt, hiện nay mâu thuẫn lớn đang đặt ra cần được giải quyết giữa việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm vai trò tác dụng của rừng với việc mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân, nông thôn. Thực trạng này cần có chiến lược nghiên cứu, từ đó có quy hoạch, cơ chế chính sách cụ thể, mang tính đặc thù để giải quyết hài hòa.
Trước thực trạng cùng những tồn tại nêu trên, tỉnh Đắk Lắk đã đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ phục hồi rừng bền vững giai đoạn 2016-2020. Theo đó, một số mục tiêu chủ yếu hướng đến là: Bảo vệ và phát triển bền vững diện tích rừng hiện có và diện tích rừng được tạo mới với cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp ổn định đến năm 2020 và định hướng tới năm 2030 khoảng 569.948 ha, chiếm khoảng 43,4% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Diện tích rừng bị thiệt hại và số vụ vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm 30-35% so với giai đoạn 2011-2015. Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển rừng, phấn đấu đưa độ che phủ rừng hiện nay từ 38,7% (kết quả kiểm kê 2014) lên 40,4% vào năm 2020 và 42,1% vào năm 2030...
Để đạt được các mục tiêu đặt ra, theo Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Ngọc Nghị, có 6 giải pháp chủ yếu cần triển khai thực hiện, gồm: rà soát quy hoạch; bảo vệ rừng; khôi phục rừng; sắp xếp các công ty lâm nghiệp; về chế biến lâm sản và phát triển kinh tế lâm nghiệp của người dân; nhu cầu về tài chính và nhân lực.
Trong đó, cần tổ chức thực hiện nhiệm vụ thống kê quản lý diện tích rừng sau kiểm kê rừng, hoàn chỉnh việc rà soát quy hoạch ba loại rừng; tổ chức theo dõi cập nhật diễn biến tài nguyên rừng hằng năm và tổ chức phân cấp quản lý Nhà nước về rừng cho UBND cấp huyện, xã.
Bên cạnh đó, cần phải hạn chế việc chuyển đổi rừng tại các dự án, không khai thác rừng tự nhiên; tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý các hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, chế biến lâm sản và động vật hoang dã trái phép; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào, đầu ra của các cơ sở chế biến, coi đây là giải pháp trọng tâm trước mắt và phải duy trì hoạt động thường xuyên, có hiệu quả; chú trọng công tác khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng mới, trồng rừng thay thế, nâng cao chất lượng rừng.
Mặt khác, có những chính sách, cơ chế mở rộng quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm tự bảo vệ đối với rừng sản xuất của chủ rừng; quy hoạch xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản của tỉnh theo hướng tinh chế, hiện đại, đưa công nghiệp chế biến lâm sản trở thành mũi nhọn kinh tế của ngành, tạo công ăn việc làm, nâng giá trị sản phẩm lâm nghiệp, tăng thu nhập ổn định cho người làm nghề rừng và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh... (Báo Đắk Lắk 11/7) đầu trang(
Yên Bái là một trong hai tỉnh đầu tiên hoàn thành việc tổng điều tra, kiểm kê rừng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Toàn bộ diện tích rừng, chất lượng rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng đặc dụng được thể hiện rõ ràng trên bản đồ. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra: Sau kiểm kê rừng Yên Bái phải làm gì?
Kết quả kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái vừa công bố: Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Yên Bái là 523.275,2 ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên. Trong đó diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp là 479,626,1 ha, đất có rừng 387.576 ha chiếm 74,07%, đất trống đồi núi trọc 24.658,8 ha. Diện tích rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 43.649,1 ha bao gồm rừng tự nhiên 11.110,6 ha, rừng trồng 29.580,3 ha, đất chưa có rừng 2.958,2 ha. Độ che phủ của rừng đạt 62,2%.
Kiểm kê rừng cho thấy hiện nay rừng tự nhiên của Yên Bái còn 246.004,7 ha, rừng trồng 182.262,2 ha; đất chưa có rừng, bao gồm đất trồng chưa thành rừng, đất trống có cây tái sinh, đất trống đồi núi trọc, núi đá… có tổng diện tích là 95.008,4 ha.
Diện tích rừng trồng ngoài quy hoạch chủ yếu là cây quế 56.529,4 ha, trong đó 50.436,9 ha đã thành rừng. Huyện có diện tích quế nhiều nhất, cũng là huyện có diện tích quế trồng ngoài quy hoạch là Văn Yên, hiện có trên 40.019,2 ha. Trấn Yên 10.266,08 ha.
So với diện tích thống kê hàng năm 34.000 ha, tăng 22.529,37 ha. Diện tích quế nằm ngoài quy hoạch tập trung ở 3 huyện: Văn Yên, Trấn Yên và Văn Chấn. Việc phát triển cây quế rầm rộ hơn 10 năm qua, bởi cây này đã mang lại cho người dân lợi ích kinh tế cao. Ngoài việc bán vỏ, thân cành, lá quế cũng bán được giá cao.
Vì thế, ngoài trồng tập trung cây quế còn được trồng phân tán trong rừng phòng hộ sản xuất, rừng kinh tế. Mỗi năm Yên Bái trồng mới từ 10.000-12.000 ha quế. Kế hoạch năm 2016 Yên Bái trồng 15.000 ha quế, tuy nhiên diện tích trồng mới có thể lớn hơn rất nhiều.
Đứng sau cây quế là cây keo, được trồng ở các huyện vùng thấp: Yên Bình, Trấn Yên, Lục Yên với diện tích 61.899,4 ha. Diện tích keo chủ yếu nằm ở các Cty lâm nghiệp trước đây trồng cây nguyên liệu giấy phục vụ cho nhà máy giấy Bãi Bằng. Nay người trồng keo không chỉ bán cho các nhà máy giấy mà còn bán cho các cơ sở ván bóc, xẻ gỗ ghép thanh. Ngoài ra phải kể đến cây bồ đề với diện tích 34.939,4 ha. Người trồng rừng không còn lệ thuộc vào một khách hàng mà họ có quyền bán cho bất cứ khách hàng nào trả giá cao hơn. Thời bán hàng chủ yếu cho nhà máy giấy Bãi Bằng luôn bị các đầu nậu ép giá đã qua.
Cây thông cũng được trồng nhiều nhất ở hai huyện vùng cao Mù Cang Chải và Trạm Tấu 36.433,6 ha trên diện tích rừng phòng hộ, nơi đầu nguồn các dòng suối, nhằm điều tiết nước cho sông Hồng và sông Đà.
Đặc biệt sơn tra (táo mèo) là cây đa tác dụng, đang được tỉnh Yên Bái phát triển, kết quả kiểm kê toàn tỉnh có 3.390,6 ha, trong đó huyện Mù Cang Chải 1.211,7 ha, Trạm Tấu 2.178,4 ha. Là loài cây bản địa, sơn tra được trồng ở độ cao từ 800m trở lên, có sức chống chịu được lạnh giá và băng tuyết. Ngoài tác dụng phòng hộ cây sơn tra còn mang lại giá trị kinh tế rất cao nên người dân phát triển mạnh. Với giá 15.000-20.000đ/kg, thì mỗi ha trồng sơn tra thu 120-150 triệu.
Chất lượng rừng của Yên Bái khá cao, tổng trữ lượng rừng tự nhiên của Yên Bái hiện 30.674.674m3, rừng trồng 15.941.819m3, tre, vầu, nứa 84.766 ngàn cây.
Sau khi có kết quả kiểm kê rừng, tỉnh Yên Bái đã ban hành một loạt chính sách hỗ trợ người dân trồng rừng nhằm đẩy nhanh tốc độ trồng rừng, để mau chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xóa rừng nghèo kiệt… Đối với cây quế, huyện Văn Yên được hỗ trợ 1 triệu/ha, các huyện khác 3 triệu/ha.
Cây sơn tra sẽ là cây chủ lực trồng ở hai huyện vùng cao Mù Cang Chải và Trạm Tấu. Kế hoạch năm 2016 tỉnh Yên Bái trồng mới 850 ha sơn tra. Trong đó huyện Mù Cang Chải trồng 250 ha, Trạm Tấu 600 ha. Ngoài diện tích trồng rừng kinh tế và rừng phòng hộ, huyện Trạm Tấu được hỗ trợ trồng 300 ha dưới tán rừng nghèo kiệt, với mức hỗ trợ 6 triệu/ha. Đến nay diện tích đó đã trồng xong.
Với tham vọng đưa bản đồ diện tích rừng lên mạng, từ đó việc cập nhật thông tin diễn biến rừng từng ngày sẽ được các hạt kiểm lâm phối hợp với các xã, phường làm thường xuyên, để kết quả kiểm kê rừng phát huy được hiệu quả góp phần cho sự phát triển kinh tế của Yên Bái. (Nông Nghiệp Việt Nam 12/7) đầu trang(
Tính đến cuối tháng 6/2016, toàn tỉnh đã trồng mới được 1.500ha rừng tập trung; trồng rừng phân tán được trên 620.000 cây.
Bên cạnh đó công tác chuẩn bị giống, phát thực bì cũng được quan tâm. Đánh giá tổng quan cho thấy công tác trồng rừng lâm nghiệp năm 2016 của tỉnh đang có những bước chuyển biến rõ rệt.
Theo kế hoạch được giao, năm 2016 toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 2.000ha rừng; trong đó có 1.324ha rừng tập trung và trên 700ha rừng phân tán. Kết quả đến cuối tháng 6 toàn tỉnh đã trồng được trên 1.500ha rừng tập trung đạt 113% kế hoạch năm; trồng rừng phân tán được trên 310ha đạt 46% kế hoạch năm. Về công tác chuẩn bị cây giống, toàn tỉnh đã chuẩn bị được trên 19 triệu cây giống các loại đảm bảo phục vụ nhu cầu của nhân dân.
Trong đó có 4 triệu cây giống tốt tương đương 2.000ha. Bên cạnh đó công tác chuẩn bị đất trồng, xử lý thực bì cũng được các huyện, thành phố quan tâm đôn đốc triển khai. Theo ông Phạm Văn Điển – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, mặc dù năm 2016, tỉnh không hỗ trợ kinh phí để trồng rừng song đánh giá tổng quan cả quá trình từ chuẩn bị giống, đất, xử lý thực bì cho thấy kết quả trồng rừng 6 tháng đầu năm 2016 của tỉnh vẫn đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Qua kết quả trên cho thấy những chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân và chính quyền về phát triển trồng rừng từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội. Không còn thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước đại đa số người dân đã nêu cao tinh thần chủ động trong phát triển kinh tế rừng.
Với cấp ủy, chính quyền địa phương trên cơ sở kế hoạch giao, các huyện, thành phố đã tích cực vận động nhân dân chuẩn bị đất, cây giống đồng thời thực hiện trồng rừng theo khung thời vụ phù hợp. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 12/7) đầu trang(
Thực hiện Đề án Phát triển lâm nghiệp nâng cao chất lượng rừng năm 2016, huyện Bắc Hà đầu tư hơn 17 tỷ đồng để trồng và cải tạo chất lượng rừng trên địa bàn.
Theo đó, từ nay đến hết năm 2016, huyện Bắc Hà sẽ trồng mới 100 ha rừng phòng hộ, 1.100 ha rừng sản xuất, trồng và cải tạo 50 ha rừng sa mộc, trồng lại 30 ha rừng khai thác, mở rộng cải tạo diện tích cây sơn tra với hơn 100 ha tại các xã Lùng Cải, Lùng Phình, Tả Van Chư, Na Hối.
Theo quy hoạch, tại khu vực trung và thượng huyện sẽ trồng các loại cây như sơn tra, tống quá sủ, trẩu, sa mộc, xoan đào, thông mã vĩ. Vùng hạ huyện và còn lại trồng quế và xoan ta.
Tổng nguồn vốn đầu tư trồng rừng là 17,072 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách trung ương đầu tư 11,883 tỷ đồng, thu hút đầu tư của nhân dân 1,61 tỷ đồng, vốn dịch vụ môi trường rừng hơn 2,929 tỷ đồng, ngân sách địa phương 0,3 tỷ đồng và một số dự án 0,4 tỷ đồng.
Dự kiến thời điểm tháng 8/2016, toàn huyện sẽ trồng mới 500 ha rừng, các diện tích trồng và cải tạo còn lại sẽ hoàn thiện vào tháng 10 và tháng 11. (Báo Lào Cai 13/7) đầu trang(
Về tiêu chí vườn ươm được hỗ trợ: Là cơ sở để ươm cây rừng bằng phương pháp giâm hom, chồi, hạt, cây từ mầm nhân mô. Quy mô diện tích đất xây dựng vườn ươm tối thiểu 0,5 ha.
Về tiêu chí vườn ươm được hỗ trợ: Là cơ sở để ươm cây rừng bằng phương pháp giâm hom, chồi, hạt, cây từ mầm nhân mô. Quy mô diện tích đất xây dựng vườn ươm tối thiểu 0,5 ha.
Quy hoạch vườn ươm: Trung bình mỗi xã hoặc cụm xã có 1.000 ha đất quy hoạch trồng rừng sản xuất trở lên được quy hoạch một vườn ươm. Khi bố trí vườn ươm nên sử dụng các vườn ươm hiện có là chính; chỉ quy hoạch xây dựng mới khi có dự án mới trồng rừng nguyên liệu hoặc ở những nơi thật sự cần thiết.
Điều kiện để nhận hỗ trợ: Vườn ươm phải nằm trong quy hoạch sản xuất giống lâm nghiệp của tỉnh, hoặc vườn ươm thuộc các dự án trồng rừng nguyên liệu tập trung. Chủ vườn ươm phải cam kết sử dụng đất được giao vào mục đích sản xuất giống trồng rừng ít nhất 10 năm. Vườn ươm thuộc quyền sử dụng của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nếu có phần vốn của Nhà nước (doanh nghiệp nhà nước, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng) thì phần vốn của Nhà nước chiếm tỷ lệ không quá 50%.
Hạng mục hỗ trợ đầu tư: Xây dựng hạ tầng ban đầu, bao gồm điện, hệ thống tưới, hàng rào, vườn vật liệu, san ủi mặt bằng, xây dựng nền cứng. Mức hỗ trợ: Trung bình 200 triệu đồng đối với vườn ươm xây dựng mới; vườn ươm xây dựng mới ở những xã biên giới được hỗ trợ theo mức vốn dự án được duyệt; đối với vườn ươm cải tạo, nâng cấp để đạt tiêu chuẩn vườn ươm theo quy định, mức hỗ trợ không quá 50 triệu đồng một vườn ươm.
Trình tự thực hiện hỗ trợ: Tổng số tiền hỗ trợ được cấp làm 2 lần sau khi nghiệm thu. Lần 1 cấp 70% vốn hỗ trợ sau khi chủ đầu tư hoàn thành việc đầu tư các hạng mục thuộc cơ sở hạ tầng. Lần 2 cấp phần còn lại sau một năm xây dựng.
Nội dung trên được nêu trong dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách bảo vệ và phát triển rừng và chính sách đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp. Dự thảo quyết định này đang được công bố để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. (Báo Bình Phước 12/7) đầu trang(
Để đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả phủ xanh đất trống vùng cát, tăng cường khả năng phòng hộ, tạo cảnh quan môi trường, nâng cao độ che phủ rừng theo quy hoạch rừng phòng hộ ven biển đã được duyệt nhằm thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, UBND tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành, địa phương có liên quan triển khai trồng rừng trên diện tích đất quy hoạch phòng hộ ven biển.
Trong đó, yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, các ngành, địa phương liên quan tổ chức khảo sát, triển khai việc trồng rừng chắn gió, chắn cát bay, chống sa mạc hóa trên diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp ở vùng ven biển, nhất là ở xung quanh các khu vực có khu dân cư hoặc quy hoạch khu dân cư tập trung, xung quanh những khu vực quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp, dọc theo hai bên tuyến đường ven biển (tuyến đường cứu hộ, cứu nạn từ Núi Thành đến cầu Cửa Đại, Hội An).
Huy động các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động trồng, cải tạo đất để trồng rừng phòng hộ; đồng thời tranh thủ các nguồn lực trong xã hội, nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn ngân sách hỗ trợ của Trung ương, cùng với nguồn ngân sách của tỉnh để đẩy mạnh việc triển khai thực hiện trồng rừng vùng cát ven biển; nghiên cứu, đề xuất các biện pháp cải tạo đất, lựa chọn các loại cây trồng phù hợp, thích ứng với điều kiện khắc nghiệt để triển khai thực hiện có hiệu quả việc trồng rừng ở những vùng đất cát bạc màu, phấn đấu đến cuối năm 2020 hoàn thành việc trồng rừng ở những khu vực nêu trên.
Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai bàn giao diện tích đất dọc theo hai bên tuyến đường cứu hộ, cứu nạn (mỗi bên 50m) cho Sở Nông nghiệp và PTNT để tổ chức triển khai trồng cây phòng hộ chắn gió, chắn cát bay và tạo cảnh quan môi trường; đồng thời phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, các địa phương ven biển trong việc khảo sát, tổ chức thực hiện việc trồng cây trên diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp trong phạm vi quản lý của Ban.
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh ưu tiên bố trí nguồn kinh phí hằng năm cho các đơn vị, địa phương có liên quan triển khai việc trồng rừng phòng hộ ven biển.
UBND các huyện, thành phố ven biển tổ chức quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng phòng hộ ven biển hiện còn; phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc khảo sát xác định các khu vực ưu tiên trồng rừng phòng hộ theo quy hoạch được duyệt; không triển khai quy hoạch, xây dựng các công trình, các hoạt động phi lâm nghiệp trên diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp nhất là quy hoạch rừng phòng hộ thuộc địa bàn quản lý. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Nam 12/7) đầu trang(
Đỉnh đèo Mang Yang nằm tại km 112 quốc lộ 19. Khu vực này núi non trùng trùng điệp điệp, hiểm trở như một cửa ải trọng yếu.
Thời chiến tranh, đây là vị trí bị địch đánh phá rất khốc liệt và rải chất độc dioxin. Sau giải phóng, dân di cư từ các tỉnh, thành phố đến đây lập nghiệp ngày một đông. Để tồn tại, người dân phải... phá rừng, lấy gỗ bán cho đầu nậu và sẵn sàng dùng rìu, rựa... cản trở, thậm chí chống trả quyết liệt lực lượng quản lý, bảo vệ rừng.
Bà Võ Thị Hòa (65 tuổi) không hề muốn nhắc đến những ngày tháng cơ cực đi chặt phá cây rừng về đổi lấy gạo ăn. Nghe chúng tôi động viên nhiều lần, bà mới ngậm ngùi: Do kinh tế quá khó khăn, năm 1977, gia đình bà dắt díu nhau từ huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi lên xóm đèo kiếm sống. Khi đó, ở đây chỉ có vài căn nhà tranh thấp lè tè, tuềnh toàng.
Lên đèo ở được một thời gian, các con của bà lần lượt mắc bệnh sốt rét. Không vay mượn được tiền của ai, quá túng quẫn, vợ chồng bà phải đi chặt cây rừng bán cho các nhà xe qua đường.
Những ngày đầu không quen đi rừng, trèo núi, bà bị ngã nhào liên tục, chân tay sưng tấy, toàn thân đau nhức ê ẩm. bà đã nhiều lần muốn bỏ “nghề” nhưng thời đó hiềm một nỗi ngoài việc đi làm gỗ, ở đây không biết làm gì để có tiền sinh sống. Bởi vậy, “trước lạ sau quen”, gia đình bà và cả xóm này đều trở thành... “lâm tặc”.
Khi nói về những năm tháng khai thác gỗ trái phép, ông Bùi Minh Sĩ (58 tuổi) cũng tỏ ra thiếu tự nhiên. Với vẻ mặt ưu tư, ông kể: Năm 1990, thấy làm gỗ có tiền liền, “dễ ăn” hơn làm việc khác, tôi đã đưa cả gia đình từ thôn Hàm Rồng (TP. Pleiku) xuống xóm đèo Mang Yang khai phá đất hoang, làm nhà tá túc. Thời kỳ 1990-1998, làm gỗ trúng thật.
Trong ngày, ba người cưa gỗ dổi và thông nàng là có ngay 2 triệu đồng. Kiếm được nhiều tiền, sinh ham, mọi người lao vào làm gỗ như con thiêu thân. Làm được một thời gian, mắc bệnh sốt rét ác tính, sức tàn lực kiệt, nhiều người lăn ra đau ốm triền miên. Đúng là “ăn của rừng rưng rưng nước mắt!”.
Dừng kể giây lát, uống xong ly nước nóng, ông Sĩ tâm sự: “Thực tâm không ai ở cái xóm đèo này muốn phá rừng. Nhưng thời đó cực khổ quá chừng, đau ốm cùng quẫn, bất đắc dĩ lắm, bà con đành phải đi làm gỗ kiếm miếng cơm manh áo qua ngày”.
“Sống ở đỉnh đèo Mang Yang đã hơn 40 năm nay, nhưng chưa bao giờ chúng tôi thấy rừng Hà Ra xanh tốt như bây giờ, kể cả những vùng có chất độc hóa học”-bà Chu Thị Lý bộc bạch.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Hà Ra hiện có 13.671 ha đất lâm nghiệp, trong đó có hơn 10.400 ha rừng tự nhiên, 2.700 ha rừng trồng. Diện tích rừng ở Hà Ra đều được bà con ở gần rừng nhận khoán bảo vệ theo đúng quy định. Tuy tiền công chỉ có 200.000 đồng/ha/năm nhưng làm việc này rất hữu ích nên bà con vẫn vui mừng nhận khoán bảo vệ rừng.
Ngoài việc hợp đồng trồng rừng, từ năm 2002 đến nay, hộ bà Võ Thị Hòa còn nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ gần 200 ha rừng và nhận 5 suất bảo vệ rừng; hộ ông Bùi Minh Sĩ nhận khoanh nuôi hơn 100 ha rừng và nhận 3 suất bảo vệ rừng thời vụ...
Bà Võ Thị Hòa thừa nhận: “Một thời gian rất dài, xóm đèo Mang Yang sống nhờ vào việc khai thác gỗ trái phép. Làm vậy là đã lấy đi của rừng rất nhiều thứ, đã “nợ” của rừng quá nhiều. Nay được Đảng, Nhà nước cho nhận khoán trồng và bảo vệ rừng, bà con rất vui mừng vì có cơ hội “trả nợ” cho rừng, góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường sinh thái”. (Báo Gia Lai 13/7) đầu trang(
Ngày 12-7, tin từ Tỉnh ủy Bình Phước cho biết ông Nguyễn Văn Lợi, Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước, đã giao giám đốc Công an tỉnh Bình Phước khẩn trương chỉ đạo làm rõ việc ông Trần Đức Lý (ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi, Đồng Phú) gửi đơn tố cáo nhiều người phù phép đất rừng để trục lợi.
Vụ việc trên cũng được Ban Nội chính Tỉnh ủy Bình Phước có văn bản đề nghị Công an tỉnh Bình Phước, Công an huyện Đồng Phú làm rõ. Hiện vụ việc Ban Nội chính đang theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng.
Trước đó, ông Lý gửi đơn đến Tỉnh ủy, Ban Nội chính Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Công an tỉnh Bình Phước tố cáo quá trình kiểm kê bồi thường các hợp đồng liên kết trồng cao su với Công ty Sasco, hàng chục hecta rừng khoanh nuôi bảo vệ thuộc tiểu khu 363 thuộc Nông lâm trường Tân Lập (ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi) đã bị một số cá nhân kê khống thành đất cao su, chiếm đoạt nhiều tỉ đồng tiền bồi thường…
Ông Lý còn cho biết ngày 10-10-2014, ông đã bàn giao hồ sơ liên doanh cho Công ty Phát Lộc (đơn vị được Công ty Sasco ký hợp đồng làm việc với các hộ dân) liên quan đến 35,8 ha cao su mà ông đã trồng và chăm sóc.
Công ty Sasco hứa chi trả tiền bồi thường từ tháng 3-2015 nhưng đến nay ông và nhiều hộ dân vẫn chưa nhận được.
Ngày 25-3-2015, ông Lý phát hiện trong văn bản của Công ty Sasco báo cáo với tỉnh Bình Phước có danh sách một số người dù không có đất liên doanh với Công ty Sasco nhưng vẫn được nhận tiền bồi thường. Đáng chú ý, phần đất của ông Lý lại do hai người khác đứng ra nhận gần 4 tỉ đồng.
“Tôi đã gửi đơn tố cáo sai phạm nhưng đã sáu tháng không có kết luận. Trong khi tôi chưa từng phá rừng hay chặt cao su của ai thì Công an huyện Đồng Phú triệu tập tôi đến hai lần. Cán bộ điều tra cứ hỏi tôi về việc chặt cao su mà không tập trung vào việc tôi tố cáo phù phép đất rừng" - ông Lý bức xúc.
Trước đó, trao đổi với PV Pháp Luật TP.HCM, Thượng tá Đặng Văn Tiến, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú, cho biết: “Công an huyện triệu tập ông Lý là do có đơn tố cáo ông Lý từ trước về việc ông có chặt cây cao su của người khác. Nội dung tố cáo của ông Chính về phù phép đất rừng trong dự án Sasco, công an huyện đang sắp kết thúc điều tra rồi. Không có việc công an làm khó hay hù dọa người tố cáo”.
Cũng liên quan đến sự việc trên, khi nhận đơn tố cáo của ông Lý, lãnh đạo Tỉnh ủy Bình Phước đã chỉ đạo cơ quan chức năng sớm làm rõ việc kê khống đất rừng để hưởng lợi. Tuy nhiên, hơn nửa năm trôi qua, vụ việc vẫn chưa có kết quả.
Tháng 12-2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước đã chuyển vụ người dân tố cáo việc phù phép đất rừng thành cao su trong dự án Công ty Sasco cho cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú tiếp tục điều tra, xử lý.
Cơ quan này phải báo cáo kết quả cho thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước. Trong diễn tiến khác, phía Công ty Sasco đã có đơn gửi các cơ quan chức năng điều tra việc có hay không một số cá nhân trục lợi, kê khống để hưởng lợi. (Pháp Luật TP.HCM 12/7) đầu trang(
Hiện nay, người dân phá rừng trái phép dưới nhiều hình thức và mục đích khác nhau: Phá rừng lấy đất làm nương rẫy, khai thác và vận chuyển lâm sản, đốt than, tiêu thụ gỗ…
Tình trạng này đang diễn ra phức tạp, gây khó khăn cho chính quyền cũng như các cơ quan chức năng.
Ông Phạm Tấn Việt, Giám đốc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Ea Wy cho biết, Cty hiện quản lý 11.625 ha rừng và đất rừng. Ngay sau khi chuyển đổi từ loại hình lâm trường sang Cty, đơn vị đã thành lập 3 phân trường và 1 tổ cơ động QLBVR.
Cty còn phối hợp với kiểm lâm địa bàn, dân quân, công an các xã tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng tại các điểm nóng; tổ chức chốt chặn để truy quyét các đối tượng vận chuyển và mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn.
6 tháng đầu năm Cty đã phát hiện và bắt được 27 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu trên 18m3 gỗ các loại, xử phạt 81 triệu đồng. Ngoài ra, còn phát hiện 26 vụ phá rừng lấy đất làm nương rẫy với diện tích hơn 12ha.
Ông Việt cho biết, năm 2011 lực lượng QLBVR của Cty đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện, xã Ea Wy xác định được các đối tượng chuyên vận chuyển gỗ trái phép, bắt được đương sự cùng 3 xe máy cày vận chuyển trên 8m3 gỗ.
Đưa tang vật về trụ sở UBND xã Ea Wy, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk thì đã gần 3 giờ sáng. Đến 9 giờ cùng ngày, bọn lâm tặc huy động hơn 120 người ngang nhiên vào trụ sở UBND xã Ea Wy cướp lại gỗ, đồng thời đe dọa đến tính mạng vợ con các cán bộ thực thi pháp luật.
Theo ông Việt, những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn Cty gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, các chủ rừng chưa chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, chưa quan tâm, tìm biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng rừng, đất rừng được giao quản lý.
Cứ theo Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì gần như lực lượng QLBVR của Cty không có chức năng, quyền hạn gì với diện tích rừng được Nhà nước giao, về quy định thu thập thông tin ban đầu của chủ rừng thì không được cơ quan nào hướng dẫn phải làm gì, làm như thế nào.
Hiện nay, những diện tích rừng Cty quản lý nằm trên địa bàn 4 xã Ea Wy, Cư Mok, Ea Ral, Cư Amung, huyện Ea H’Leo. Trong vùng có khoảng 26 ngàn nhân khẩu và gần 7.000 lao động, với hơn 80% người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cuộc sống người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi đất đai ngày càng bị xói mòn bạc màu, năng suất cây trồng giảm.
Để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho bà con, Cty đã giao đất, giao rừng cho 600 hộ dân trong vùng theo Nghị định 135/NĐ-CP với hơn 200 ha; giao khoán theo Nghị định 01/CP là 700 ha, cho 250 hộ. Đồng thời Cty còn xây dựng nhiều mô hình trồng rừng đạt hiệu quả cao trong công tác giao khoán, quản lý và BVR để bà con làm theo.
Bên cạnh đó, Cty còn chủ động phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến sâu rộng đến người dân đang canh tác trên lâm phần hiểu rõ lợi ích của việc trồng rừng theo hướng hàng hoá tập trung.
Làm tốt công tác quản lý đất đai, mọi cây trồng lâu năm trên đất trồng rừng, đất sản xuất nông nghiệp hàng năm sau kiểm kê phải được lập biên bản và ký hợp đồng thoả thuận với Cty theo Nghị định 135/NĐ-CP. Những trường hợp cố tình không chấp hành thì lập biên bản xử lý.
Từ năm 2013, Cty đã thực hiện rà soát lại các diện tích đất lâm nghiệp bị người dân chặt phá, lấn chiếm đất rừng trái phép để trồng cây nông nghiệp. Đến nay, Cty đã thu hồi được 153,2 ha đất để trồng lại rừng theo kế hoạch phát triển rừng hàng năm. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/7) đầu trang(
Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công thương) vừa bàn giao máy móc thuộc đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào chế biến gỗ” cho Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp đa ngành Tân Hội (ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội- TP Vĩnh Long).
Tổng giá trị máy chế biến gỗ được đầu tư là 285 triệu đồng, trong đó trung tâm hỗ trợ 116 triệu đồng.
Ông Trần Thanh Trung- Phó Giám đốc trung tâm cho biết: Trước đây, HTX gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiết bị. Năm 2016, HTX đã đổi mới máy móc thiết bị (máy chế biến gỗ HEIAN) để đáp ứng nhu cầu sản xuất, rút ngắn thời gian sản xuất, sản lượng tăng 4 lần. (Báo Vĩnh Long 12/7) đầu trang(
Chính phủ Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã cơ bản đàm phán xong các nội dung quan trọng của Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT), và dự tính kết thúc đàm phán vào tháng 11/2016. Từ đây mở ra nhiều cơ hội về phát triển, bảo vệ và phát triển thương mại cho Việt Nam.
Việc đàm phán VPA/FLEGT được bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2010. Bên cạnh khối lượng lớn các nội dung cần đàm phán, tiến trình này bị kéo dài do tồn tại những khác biệt giữa Việt Nam và EU trong một số vấn đề liên quan đến việc xác minh nguồn gốc gỗ nhập khẩu và quy trình cấp phép FLEGT. Tuy vậy, với quyết tâm và nỗ lực của các bên tham gia, Việt Nam và EU, đến thời điểm này, đã có những giải pháp cho những khác biệt để đi đến thống nhất các nội dung trên.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trưởng đoàn đàm phán cấp cao của Việt Nam cho biết, kết thúc phiên đàm phán cấp cao lần thứ 5, hai bên cơ bản đã đạt được tiến triển quan trọng nhất đối với các vấn đề mấu chốt của Hiệp định. “Phiên đàm phán cấp cao lần thứ 5 cũng đã chuẩn bị cơ sở nền tảng cho việc kết thúc đàm phán Hiệp định theo tinh thần mà lãnh đạo cao cấp hai bên đã tuyên bố”.
Về quy trình cấp phép FLEGT, hai bên nhất trí áp dụng phương pháp xác minh cấp phép FLEGT cho các doanh nghiệp gỗ có đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường EU dựa trên hệ thống phân loại doanh nghiệp. Nếu cấp phép theo lô hàng sẽ mất nhiều thời gian, chi phí tốn kém và đòi hỏi nguồn lực lớn để thực hiện.
Trong khi đó, hệ thống phân loại doanh nghiệp sẽ khuyến kích các doanh nghiệp làm ăn chân chính, và hạn chế các doanh nghiệp không tuân thủ. Khi hệ thống này được xây dựng và vận hành, tiến trình cấp phép sẽ trở nên thuận lợi, giảm thời gian và chi phí..Cách tiếp cận này sẽ giúp cơ quan chức năng tiến hành cấp phép cho doanh nghiệp được thuận lợi, đáp ứng được tiêu chí đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Để thực hiện việc này, Dự án sẽ hỗ trợ Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng đề án phân loại doanh nghiệp, tập huấn về hệ thống phân loại doanh nghiệp cho các hiệp hội và các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Dự án đã tổ chức các hội thảo tham vấn, diễn đàn để tập hợp các ý kiến đóng góp từ các bên liên quan như cộng đồng, doanh nghiệp. Các ý kiến đã được gửi cho đoàn đàm phán của Việt Nam sử dụng trong quá trình đàm phán.
Trong thời gian vừa qua, Dự án đã tích cực hỗ trợ Tổng cục Lâm nghiệp trong tiến trình đàm phán đưa ra các giải pháp, các khuyến nghị nhằm xác minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ từ các nguồn khác nhau cũng như các giải pháp cho quy trình cấp phép FLEGT.
Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho phiên đàm phán cấp cao mà tại đó lãnh đạo của hai bên sẽ xem xét để đi đến thống nhất và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong lần đàm phán cuối cùng này.Bên cạnh đó, Dự án đã tổ chức các hội thảo tham vấn, diễn đàn để tập hợp các ý kiến đóng góp từ các bên liên quan như cộng đồng, doanh nghiệp. Các ý kiến đã được gửi cho đoàn đàm phán của Việt Nam sử dụng trong quá trình đàm phán.
Trong thời gian vừa qua, Dự án đã tích cực hỗ trợ Tổng cục Lâm  nghiệp  trong  tiến  trình đàm phán đưa ra các giải pháp, các khuyến nghị nhằm xác minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ từ các nguồn khác nhau cũng như các giải pháp cho quy trình cấp phép FLEGT.
Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho phiên đàm phán cấp cao mà tại đó lãnh đạo của hai bên sẽ xem xét để đi đến thống nhất và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong lần đàm phán cuối cùng này.
Từ một hộ trồng rừng chỉ biết đến việc trồng gỗ keo phục vụ cho sản xuất dăm gỗ, chủ hộ Lê Đức Thân cư trú tại xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã thay đổi cách nghĩ kể từ khi tham gia lớp tập huấn nâng cao nhận thức về trồng rừng và quản lý rừng có trách nhiệm.
“Lớp tập huấn đã giúp chúng tôi liên kết được với các doanh nghiệp chế biến gỗ, tìm hiểu được các yêu cầu của họ về nguyên liệu gỗ và hiểu được giá trị của gỗ rừng trồng. Ngoài ra, các hộ gia đình  còn được cung cấp thông tin về pháp luật trong khai thác lâm sản hợp pháp. Thông tin bổ ích từ lớp tập huấn phần nào đã giúp chúng tôi thay đổi cách thức làm nghề rừng để nâng giá trị rừng trồng của mình hơn”, ông Thân cho biết.
Hộ gia đình ông Thân là một trong những đối tượng được xác định dễ bị tổn thương do năng lực và nguồn lực tài chính hạn chế. Vì thế, việc hỗ trợ các đối tượng này có đủ năng lực sản xuất và có đủ thông tin để đáp ứng với những yêu cầu của thị trường về gỗ nguyên liệu, về chất lượng nguồn nguyên liệu và đáp ứng những quy định mới về chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ là thực sự cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu trên, từ tháng 4/2014, Trung tâm Con người và Thiên nhiên - PanNature đã tham gia cùng WWF và Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện Dự án "Hỗ trợ Triến trình Đàm phán VPA”. Dự ándo Liên minh Châu Âu và Quỹ Môi trường Thụy Điển (SIDA) tài trợ trong thời gian 4 năm.
Từ tháng 9 - 12/ 2015, nhiều hoạt động nổi bật đã được dự án thực hiện, trong đó có: Ngày 29-30/09/2015,  hội thảo “Thiết lập mạng lưới Tổ chức Cộng đồng tham gia vào quá  trình  thực  thi  lâm  luật quản trị rừng và thương mại lâm sản” được tổ chức thành công tại thành phố Huế. Hội thảo  bao  gồm 02  nội  dung chính: Thành lập mạng lưới tổ chức cộng đồng; và góp ý sửa đổi thông tư 35/2011/ TT-BNNPTNT  và  thông  tư 01/2012/TT-BNTPTNT của Chính  phủ.
Kết  quả  của  hội thảo là một mạng lưới tổ chức cộng đồng được thiết lập với kế hoach triển khai thực hiện hoạt động về FLEGT trong thời gian tới. Bên cạnh đó, 01 biên bản  thảo  luận  bổ  sung  đóng góp cho việc chỉnh sửa thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT đã được các bên tham gia nhất trí và sẽ được hoàn thiện gửi cho Tổng cục Lâm nghiệp đóng góp ý kiến.
Tăng cường năng lực truyền thông cho tổ nhóm cộng đồng thông qua khoá tập huấn “Kỹ năng và  hương pháp truyền thông cộng đồng hiệu quả” tổ chức tại thành phố Đà Nẵng từ ngày 25-28/11/2015. Các  học viên được trang bị các kỹ năng truyền thông cơ bản để thực hiện  truyền  thông  về  VPA/ FLEGT, từ đó xây dựng nội dung và kế hoạch truyền thông cho 07 Ban Lâm nghiệp Cộng đồng tại địa bàn dự án từ tháng 12/2015 – 6/2016.
Ngày 19/12/2015, PanNature đã phối hợp với Ban Vận động thành lập Hội Chủ rừng Việt Nam tổ chức “Hội nghị xúc tiến thành lập Hội chủ rừng Việt Nam: Cơ hội duy trì và nhân rộng mô hình Ban Lâm nghiệp Cộng đồng”.
Hội nghị tập trung vào thảo luận quy định và nội dung hoạt động Hội Chủ rừng Việt Nam; đánh giá thực trạng quản lý rừng và nhu cầu của các chủ rừng sau khi được giao rừng, đất lâm nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ; và thảo luận về tính phù hợp, khả năng nhân rộng và thể chế hóa mô hình Ban Lâm nghiệp Cộng đồng tham gia vào tiến trình thực thi VPA/FLEGT tại Việt Nam.
Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cho các ban lâm nghiệp cộng đồng. Ngày 21-24/12/2015, PanNature phối hợp với WWF- Việt Nam và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định tổ chức Diễn đàn “Tiếp cận thị trường cho sản phẩm gỗ rừng trồng tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên” tại thành phố Quy Nhơn.
Diễn đàn nhằm cung cấp cho các đại biểu các thông tin, kỹ năng về phân tích thị trường và đàm phán với doanh nghiệp thu mua gỗ nhằm tối đa hoá lợi ích. Đồng thời, tạo cơ hội chia sẻ thông tin về các yêu cầu của thị trường gỗ trong nước và quốc tế và khả năng đáp ứng các yêu cầu đó của các bên liên quan.
Nhằm tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng  lực  cho  các  thành  viên nhóm, trong thời gian tới dự án sẽ tập trung vào các hoạt động sau: Hỗ trợ trang thiết bị truyền thông và xây dựngchương  trình  phát hanh,  tổ chức tập huấn về phát thanh cho 07 nhóm tại 07 tỉnh; Tổ chức 07 lớp tập huấn về PCCCR tại 07 tỉnh của dự án; và Tổ chức các cuộc mạng lưới cho 07 tại các tỉnh để trao đổi/chia sẻ thông tin, ý tưởng, học hỏi và xây dựng các mối quan hệ với các bên liên quan
Tiếp tục hỗ trợ TCLN trong tiến trình đàm phán thông qua việc tổ chức các cuộc họp kỹ thuật giữa Việt
Nam và Liên minh Châu âu; Tổ chức tập huấn về kỹ năng truyền thông, vận động chính sách cho các tổ chức xã hội dân sự; Tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các doanh nghiệp về báo cáo đánh giá chuỗi cung của các doanh nghiệp; Tập huấn cho các doanh nghiệp về hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ, VNTLAS; Tập huấn cho các nhóm CBFC về phòng chống cháy rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 12/7) đầu trang(./.