Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo quy định mới ban hành của Bộ NNPTNT, loài ba ba sẽ được nuôi phổ biến như các loại lợn, gà, tôm, cá mà không phải chịu sự kiểm soát của lực lượng kiểm lâm.
Điều này khiến hàng vạn nông dân đang nuôi, kinh doanh con vật này hết sức phấn khởi.
Quy định này được thể hiện trong Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường do Bộ trưởng Bộ NNPTNT vừa ký quyết định ban hành. Theo thông tư này, 160 loài động vật rừng thông thường được đưa vào danh mục quản lý của ngành kiểm lâm. Con ba ba vốn gây nhiều tranh cãi đã được đưa ra ngoài danh mục quản lý.
Người phấn khởi nhất khi biết thông tư này ban hành có lẽ là ông Trần Đình Quyết - Giám đốc Công ty TNHH Tiền Hậu (TP.HCM), “nạn nhân” trong vụ bắt giữ, xử phạt lô ba ba 608 con của lãnh đạo tỉnh Quảng Bình (NTNN đã thông tin trên nhiều số báo). Ông Quyết nói: “Bản thân tôi và hàng trăm nông dân nuôi ba ba hết sức phấn khởi vui mừng. Đáng ra, quy định này phải ra đời từ lâu rồi mới phải”.
Nông dân Phạm Văn Toại ở ấp 14 xã Phước Minh, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh, nuôi ba ba với quy mô 10.000 con nói: “Quy định ban hành như vậy là rất tốt cho bà con nông dân chúng tôi. Từ trước đến nay, ba ba vốn được chúng tôi nuôi phổ biến như cá, tôm. Khi có quy định này, bọn tôi không còn phải mất thời gian, công sức để lên kiểm lâm làm các thủ tục phức tạp nữa. Nhiều người có cơ hội để làm giàu từ ba ba”.
Phản ứng trước quy định mới này của Bộ NNPTNT, bà Lâm Thị Có- Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước Ninh nói: “Tôi cũng vừa biết được thông tư mới này và tâm lý chung của nông dân là ai nấy đều phấn khởi. Tới đây, khi họp Hội Nông dân xã, tôi sẽ phổ biến thông tư này cho bà con”. Theo bà Có, không chỉ riêng 44 hộ nuôi ba ba trong xã, mà hàng nghìn hộ nuôi ba ba ở huyện Dương Minh Châu và các địa phương trên cả nước rất có lợi về việc này.
Còn TS Võ Văn Sự- Chủ tịch Hiệp hội Bảo tồn động vật quý hiếm Việt Nam, người từng nhiều lần đề nghị ngành chức năng đưa các động vật được nuôi phổ biến, trong đó có ba ba ra khỏi sự quản lý của ngành kiểm lâm, đánh giá: “Đây là một bước tiến dài về chính sách của ngành nông nghiệp. Bởi từ đây, nông dân nuôi ba ba sẽ dễ dàng hơn”.
Thông tư trên của Bộ NNPTNT ra đời dựa trên “tiền lệ án” của một vụ án cụ thể. Đó là vụ án Công ty Tiền Hậu kiện Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, vì đã tịch thu và xử phạt doanh nghiệp buôn bán, vận chuyển ba ba với số tiền 500 triệu đồng (tòa đã xử thua cho phía doanh nghiệp- PV).
Trong phiên xét xử tại tòa án sơ thẩm Quảng Bình, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã dẫn bản dự thảo Thông tư 47 (trong đó, ba ba lúc đó vẫn nằm trong danh mục của dự thảo) ra trước hội đồng xét xử như một cơ sở để biện hộ cho quyết định xử phạt doanh nghiệp của Chủ tịch UBND tỉnh. Tuy nhiên, bản án của tòa gây nhiều tranh cãi khi đương nhiên công nhận quyền kiểm soát ba ba của ngành kiểm lâm rồi tuyên doanh nghiệp thua kiện.
Luật sư Phạm Thành Long - Giám đốc Công ty Luật TNHH Gia Phạm, người theo “kỳ án” này từ đầu nói: “Trước khi thông tư này ra đời, chưa có một văn bản nào khẳng định ba ba phải chịu sự quản lý của kiểm lâm, nhưng có nhiều văn bản khẳng định là đối tượng quản lý của ngành thủy sản. Vậy tại sao UBND tỉnh và TAND tỉnh Quảng Bình lại buộc người buôn bán ba ba phải có các thủ tục của kiểm lâm?”.
Một lãnh đạo thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (xin giấu tên) bình luận: “Tỉnh Quảng Bình xử phạt doanh nghiệp như vậy là không hợp cả lý, lẫn tình. Đáng ra, các cơ quan quản lý nhà nước khi chưa có quy định cụ thể thì nên xử lý làm sao có lợi cho người dân”.
Trong khi đó, cho đến nay, đại diện cơ quan công quyền cầm cân nảy mực là lãnh đạo tỉnh Quảng Bình, Sở NNPTNT, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình vẫn im hơi lặng tiếng trước sự việc này. (Nông Thôn Ngày Nay 12/10)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
So với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, Bắc Giang ít bị ảnh hưởng của thiên tai hơn. Tuy nhiên, những năm gần đây, mưa bão, lũ lụt, cháy rừng xảy ra trên địa bàn cũng gây những thiệt hại không nhỏ cho sản xuất và đời sống.
Trong 5 năm trở lại đây, năm 2008 là năm Bắc Giang chịu thiệt hại nặng nhất do thiên tai gây ra. Bà Lâm Thị Kim Anh, Giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn Bắc Giang cho biết: Trong năm có 4 sự kiện khí tượng thuỷ văn bất thường, đó là rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày từ giữa tháng 1 đến cuối tháng 2; ba đợt mưa kỷ lục do ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão số 4, hoàn lưu bão số 6 và mưa lớn cuối tháng 10 đầu tháng 11. Hậu quả, mưa lũ làm 14 người bị chết, 32 người bị thương, hàng nghìn ngôi nhà bị hư hại, hơn 22 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập (mất trắng hơn 9,4 nghìn ha)... thiệt hại ước hơn 800 tỷ đồng.
Những năm gần đây, tình hình mưa bão không căng thẳng như năm 2008 nhưng cũng gây những thiệt hại không nhỏ. Năm 2011, mưa bão, lốc xoáy gây thiệt hại về vật chất khoảng 7 tỷ đồng. Mùa mưa bão năm nay, Bắc Giang mới bị ảnh hưởng của bão số 5. Từ ngày 17 đến 19-8, trên địa bàn tỉnh đã có mưa to đến rất to trên diện rộng, trung bình toàn tỉnh 137 mm. Bão số 5 làm hai người chết, ba người bị thương; đổ, tốc mái nhiều nhà dân và công trình công cộng; hơn một nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng một số công trình giao thông, thuỷ lợi...
Với mục tiêu giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra, những năm qua, chính quyền các cấp, ngành chức năng luôn quan tâm đặc biệt tới công tác này. Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão các cấp thường xuyên được kiện toàn, các thành viên được phân công nhiệm vụ cụ thể. Từ nguồn vốn của Trung ương và tỉnh, hàng năm hàng chục tỷ đồng đã được đầu tư tu bổ đê điều và các công trình thủy lợi khác nhằm nâng cao năng lực phòng, chống lụt bão, bảo đảm an toàn về người và tài sản cho nhân dân.
Trước mùa mưa bão, chính quyền địa phương, ngành chức năng đều tiến hành rà soát hiện trạng các công trình thuỷ lợi, khu vực có nguy cơ sạt lở đất để xây dựng phương án chi tiết phòng, chống lụt bão, di dời dân ra khỏi vùng nguy hiểm, thực hành diễn tập xử lý các tình huống có thể xảy ra; chuẩn bị đầy đủ vật tư, trang thiết bị phòng, chống lụt bão theo phương châm "bốn tại chỗ". Việc bảo đảm thông tin liên lạc, giao thông cũng luôn được ngành chức năng quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành khi xảy ra mưa bão.
Đi đôi với các biện pháp trên, nhận thức rõ vai trò của rừng xanh đối với cuộc sống, những năm qua, công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng, nhất là đối với rừng phòng hộ, đặc dụng trên địa bàn luôn được Chi cục Kiểm lâm (lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý bảo vệ rừng) chú trọng. Việc phân công cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn, đồng thời tăng cường tuyên truyền các quy định của Nhà nước về phát triển lâm nghiệp, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn; làm tăng nhanh trữ lượng gỗ rừng tự nhiên cũng như rừng trồng; từng bước xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ rừng, qua đó hạn chế và giảm thiệt hại do mưa lũ gây ra.
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực như vậy song công tác phòng, chống thiên tai hiện nay còn những hạn chế nhất định. Nguyên nhân là do sự chủ quan của một bộ phận cán bộ và nhân dân; vốn đầu tư cho công tác phòng, chống lụt bão còn thấp hơn so với nhu cầu. Tình trạng chặt phá rừng trên địa bàn vẫn xảy ra. 9 tháng năm nay, ngành chức năng đã phát hiện lập biên bản, xử lý 52 vụ phá rừng, trong đó có một số vụ chặt phá rừng lớn xảy ra tại khu vực giáp ranh giữa xã Thanh Luận và thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động) hay vụ phá rừng ở xã Kiên Lao (Lục Ngạn) và xã Đông Hưng (Lục Nam)…
Không chỉ có vậy, toàn tỉnh còn xảy ra 12 vụ cháy làm thiệt hại 16,2 ha rừng, nhiều nhất tại huyện Yên Dũng. Ông Trương Anh Trường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: "Ngành chức năng, chính quyền địa phương đã đầu tư làm mới hơn 100 km đường băng cản lửa, tổ chức nhiều hội nghị tập huấn phòng, chống cháy rừng cho người dân địa phương. Tuy nhiên, công tác phòng, chống cháy rừng vẫn còn nhiều khó khăn do thực bì dày, chất lượng rừng thấp, nhận thức của một bộ phận nhân dân còn những hạn chế nhất định".
Thiên tai đang hoành hành ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Ở nước ta, sạt lở đất ở Mù Cang Chải (Yên Bái), lũ lụt ở các tỉnh miền Trung- Tây Nguyên xảy ra mới đây đã gây những thiệt hại nặng nề. Đặc biệt, động đất ở khu vực thủy điện Sông Tranh 2 (huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) thời gian qua làm cho bộ, ngành trung ương, chính quyền và người dân địa phương không khỏi lo ngại.
Từ thực tế đó, để chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra, bảo đảm an toàn cho sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn, chính quyền, ngành chức năng nên sớm có biện pháp chỉ đạo, khắc phục kịp thời những bất cập nêu trên. Trong đó, trọng tâm là làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhất là rừng phòng hộ, đặc dụng để bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời chủ động phương án ứng phó hiệu quả với các tình huống xảy ra. (Báo Bắc Giang 12/10)đầu trang(
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, huyện Văn Yên (Yên Bái)sẽ đẩy mạnh công tác xã hội hoá nghề rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước xoá đói giảm nghèo cho người dân địa phương.
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR), phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR), hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện nhiều biện pháp như: tuyên truyền, kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng thực hiện PCCCR, rà soát bổ sung lại các phương án PCCCR cấp xã, thị trấn, chỉ đạo các thôn, bản vận động các hộ gia đình tham gia ký cam kết không tự ý đốt nương bừa bãi khi làm rẫy, thực hiện các biện pháp kỹ thuật về dự báo cháy rừng...
Theo đó, Hạt Kiểm lâm huyện đã phân công cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn có nhiệm vụ giúp UBND các xã kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về quản lý, BV&PTR ở các địa phương, phối hợp với các tổ chức Hội, đoàn thể hướng dẫn và giám sát các chủ rừng trong việc quản lý, BV&PTR.
Các kiểm lâm viên tham mưu cho UBND xã thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, nêu cao vai trò là người đi đầu trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục các quy định của pháp luật về lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, xây dựng các tổ chức quần chúng PCCCR, kiểm tra phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, giúp chính quyền địa phương xử lý hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm lâm địa bàn luôn thực hiện tốt phương châm “3 bám” “kiểm lâm bám dân, bám rừng và bám chính quyền cơ sở” kịp thời báo cáo mọi thông tin để có hướng xử lý kịp thời.
Qua đó, đã phát huy được vai trò triển khai công tác quản lý và bảo vệ rừng, PCCCR của lực lượng kiểm lâm địa bàn. Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm địa bàn còn thường xuyên phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng, hướng dẫn các xã tổ chức điều tra tình hình sâu bệnh hại rừng trồng, phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn cho các chủ rừng và nhân dân về các biện pháp phòng trừ trước mắt và lâu dài, không để sâu bệnh lây lan ra diện rộng.
Một trong những thành công trong công tác quản lý, BV&PTR đã và đang được huyện Văn Yên thực hiện tốt là làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ rừng.
Mặc dù lực lượng tham gia công tác bảo vệ rừng còn mỏng, song cán bộ kiểm lâm địa bàn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng, bằng nhiều hình thức khác nhau cũng như phối hợp với Đài Truyền thanh huyện, cán bộ văn hóa xã đưa các nội dung của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xây dựng các bản tin cảnh báo cháy rừng để tuyên truyền tới từng hộ dân.
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên đã phối hợp với các xã, thôn, bản tổ chức 36 hội nghị ở thôn, bản trọng điểm tại các xã Nà Hẩu, Xuân Tầm, Phong Dụ Hạ, Đại Sơn, Mỏ Vàng thu hút 2.167 lượt người tham dự.
Qua đó, giúp người dân thấy rõ được vai trò trách nhiệm, nâng cao ý thức trong công tác bảo vệ rừng. Trong 6 tháng đầu năm, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên đã phối hợp với các ngành trong khối lâm nghiệp và UBND các xã tổ chức kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo trồng rừng tập trung được gần 1.700ha rừng, trong đó: quế gần 1.330 ha, keo trên 100 ha, bồ đề 215 ha, mỡ 12,3ha v.v...
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác trồng, chăm sóc, BV&PTR, huyện Văn Yên sẽ đẩy mạnh công tác xã hội hoá nghề rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước xoá đói giảm nghèo cho người dân địa phương. (Báo Yên Bái 11/10)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Khu vực Tây Nguyên đã xây dựng được 7 mô hình quản lý rừng bền vững, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 3 mô hình, còn lại 4 mô hình do các địa phương chủ động đầu tư triển khai thực hiện.
Tại tỉnh Gia Lai có 2 mô hình (Công ty Sơ Pai và Công ty Hà Nừng), tỉnh Đắk Lắk có 2 mô hình (Công ty Krông Bông và Công ty M'Đrăk), tỉnh Đắk Nông có 2 mô hình (Công ty Đại Thành và Công ty Đăk N'Tao), tỉnh Kon Tum có 1 mô hình (Công ty Lâm nghiệp Đăk Tô).
Các mô hình quản lý rừng bền vững đang được triển khai thí điểm trên các địa bàn khu vực Tây Nguyên với tổng diện tích tự nhiên là 120.000ha; trong đó diện tích có rừng 106.000ha, đất trống đồi trọc 9.500ha và đất khác gần 3.000ha.
Các doanh nghiệp đã xây dựng phương án kinh doanh bằng việc khai thác gỗ đúng kỹ thuật và khoa học, đảm bảo vốn rừng không bị mất đi mà ngày càng phát triển bền vững.
Đối với các vùng đất trống đồi trọc, đất dốc thì các đơn vị đưa vào trồng các loại cây rừng trên cơ sở gắn liền với cuộc sống của người dân trong vùng.
Thực tế, qua thời gian làm thí điểm, tình trạng xung đột giữa người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với các doanh nghiệp đã được hạn chế. Thêm vào đó, diện tích rừng được quản lý tốt hơn, tình trạng khai thác và xâm lấn đất trái phép giảm.
Các chủ rừng cũng đã chủ động được một số hoạt động bảo vệ và phát triển rừng (lấy khai thác rừng để nuôi lại rừng). Hiệu quả kinh doanh, thu nhập của người dân được trực tiếp tham gia quản lý bảo vệ rừng từng bước được tăng cao; một số cơ sở hạ tầng như trường học, nhà văn hóa, nhà rông... ở các buôn làng dân tộc được đầu tư xây dựng. (VietnamPlus.vn 11/10)đầu trang(
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, việc phát triển thủy điện ở Tây Nguyên những năm qua đã và đang để lại nhiều hệ lụy và vướng mắc, nhất là trong công tác đền bù, tái định cư, tác động xấu đến môi trường.
Trước thực tế này, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã phối hợp với Bộ Công thương rà soát đánh giá lại quy hoạch phát triển các công trỉnh thủy điện gắn với việc sử dụng đất đai, tài nguyên, giữ gìn môi trường sinh thái và đảm bảo không gian sinh sống của đồng bào ở các vùng dự án tại Tây Nguyên, kiên quyết loại bỏ những dự án hiệu quả thấp, ảnh hưởng đến rừng và sản xuất nông nghiệp.
Ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, cho biết: “Bộ Công thương đã hoàn tất việc đi thực tế một số thủy điện để có báo cáo đánh giá chung. Quan điểm của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên với vấn đề này là đồng ý rà soát nghiêm túc quy hoạch thủy điện ở Tây Nguyên. Đối với những dự án có tác động lớn tới môi trường, đời sống người dân mà không khắc phục được thì kiên quyết không để. Thậm chí, từ nay đến cuối năm, khi chưa có ý kiến chính thức về thủy điện, thì cũng nên tạm dừng các công trình thủy điện mới”.
Toàn khu vực Tây Nguyên đang có 287 dự án thủy điện, với tổng công suất gần 7.000MW. Hiện đã có 84 dự án được đưa vào sử dụng, công suất gần 5.000MW. Các dự án còn lại đang được xây dựng và lên kế hoạch đầu tư.
Hiện các tỉnh Tây Nguyên đang tiếp tục giải quyết những vướng mắc trong đền bù, tái định cư ở những công trình thủy điện lớn như Plei Krong, An Khê-Kanak và Đồng Nai 3. (Vov.vn 11/10)đầu trang(
Ngày 11.10, ban quản lý vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), cho biết sau 20 ngày tìm kiếm tại Phong Nha – Kẻ Bàng, tiến sĩ Nguyễn Thái Tự (đại học Vinh) và cộng sự đã phát hiện, thu được 1.599 mẫu vật của 111 loài cá, trong đó bổ sung 50 loài mới cho bản đồ Ngư loại học Việt Nam.
Trong số này có 33 loài cá thuộc dạng đặc hữu chỉ phân bố duy nhất tại Phong Nha – Kẻ Bàng, nhất là có loài cá Mo Khe Lạnh được phát hiện ở vùng nước Khe Lạnh của tuyến động Sơn Đòòng. Trong số các loài cá được phát hiện trong đợt này có sáu loài cá nằm trong danh mục Sách đỏ IUCN, đặc biệt có 14 loài cá sống trong hang động có nước. (Sài Gòn Tiếp Thị 12/10)đầu trang(
Hàng ngàn héc ta rừng phía tây bắc tỉnh Quảng Trị được bảo vệ an toàn và phát triển như hôm nay, công lớn nhất thuộc về Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh, ông Thái Văn Thành tháng nào cũng đi kiểm tra các cánh rừng thuộc địa bàn quản lý của mình. Hạt được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ hơn 30.000 ha rừng, nơi có địa hình phức tạp. Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như về họp thôn, đến với các trường học hay trên các kênh thông tin đại chúng... để chuyển tải đến bà con nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) nên rừng Vĩnh Linh luôn xanh tốt ngút ngàn. Độ che phủ của rừng không ngừng được nâng cao.
Nếu biết rằng mấy mươi năm trước, chiến tranh đã làm cho rừng ở đây cháy trơ trụi, thì mới thấy hết công lao của kiểm lâm và nhân dân Vĩnh Linh trong việc BV&PTR. Theo ông Thành, tuyên truyền vận động nhân dân có ý thức BVR là việc làm vô cùng quan trọng. Qua đó người dân hiểu thêm được chủ trương chính sách, cũng như việc nêu gương người tốt, việc tốt, nhân rộng phong trào quần chúng BVR.
Ông Hồ Văn Mừng ở xã Vĩnh Khê cho biết: “Kiểm lâm Vĩnh Linh về tận bản hướng dẫn bà con BVR, bà con mình không phá rừng nữa. Mỗi ngày nhìn rừng xanh tươi, chim thú về nhiều thì ưng cái bụng, còn thấy cảnh rừng bị cháy, thú bị bắt bị giết thấy rất đau xót. Rừng đem lại nhiều lợi ích cho bà con nên phải BVR”.
Để làm được việc trên, Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh rất chú trọng đào tạo các kiểm lâm viên trở thành những người tuyên truyền viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ. Gắn công tác tuyên truyền với xây dựng lực lượng quần chúng tham gia BVR, vận động nhân dân ký cam kết BVR, phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra, hướng dẫn việc xây dựng, sửa đối bổ sung và thực hiện quy ước BVR tại các thôn, bản. Các kiểm lâm viên cùng bà con còn trực chiến 24/24h vào những hôm cao điểm nắng nóng, những nơi dễ xảy ra cháy rừng...
Thời điểm hiện tại, huyện Vĩnh Linh đã thành lập được hơn 30 tổ quần chúng BVR với hơn 200 thành viên. Tại các địa bàn điểm đã xây dựng mô hình điểm về công tác BVR, PCCCR để đúc rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình. Nhờ có quyết tâm cao nên nhiều năm liền số vụ cháy rừng giảm đáng kể.
Để công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được tốt, Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh còn chủ động phối hợp với lực lượng Công an huyện, BCH Quân sự huyện, các cơ quan ban ngành liên quan, chính quyền địa phương các xã ngăn chặn có hiệu quả tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn. Kết quả thực hiện và thu giữ gần 45 m3 gỗ các loại quy tròn, giá trị lâm sản thu giữ 67 triệu đồng, tháo dỡ 324 bẫy bắt động vật hoang dã cài đặt trái phép trong rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/10)đầu trang(
Gần 20 năm trước, Nguyễn Văn Vũ (thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) bỗng dưng bỏ nghề, bỏ phố rồi đùng đùng tay xách, tay nải mang cơm nắm muối rang vào rừng dựng lán trồng cây. Người quen của gia đình nhắc khéo vợ Vũ, xem tìm thầy trừ tà đi, chứ lẩn thẩn như thế đích thị bị ma rừng xui, quỷ núi ám rồi.
Việc Vũ làm, vợ chồng đã bàn tính kỹ. Nay, Vũ thành lập doanh nghiệp, lái xe ô tô phóng vào rừng chỉ đạo sản xuất. Chẳng những đồng bào thán phục mà lãnh đạo địa phương còn coi doanh nghiệp Vũ Hoa là mô hình điểm trong phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Vũ đội mũ cối, lái xe ô tô chở chúng tôi lên đèo So. Dáng người nhỏ thó, nước da bánh mật, ở tuổi 42 nhưng mái tóc của anh đã bạc quá nửa. Anh thầm thì, dí dỏm trò chuyện, mình sinh năm Bính Ngọ, kiếp ngựa trâu nên nặng ách. Họ tên thì đã Văn lại còn Vũ, đâm ra cứ nửa nọ, nửa kia, đầu non mình phố, dù đang ở phố nhưng đầu óc lúc nào cũng chỉ nghĩ lên rừng. Kỳ thực, đến với rừng bằng lý giải đầy triết lý số phận, nhân duyên đó của Vũ chỉ là chuyện vui. Việc vợ chồng anh đầu tư trồng rừng hoàn toàn bởi sự suy tính thức thời thông qua lời giải khoa học đối với bài toán làm giàu.
Năm 1995, dù đang có một công việc khá hấp dẫn khi ấy là nghề sửa chữa xe máy tại phố Chợ Chu song vợ chồng Vũ đã dồn toàn bộ tiền bạc đầu tư mua đất trồng rừng. Vũ lý giải, nghề sửa xe máy cho thu nhập khá nhưng chỉ là tiền vừng. Làm ít tiêu ít, làm nhiều tiêu nhiều. Cóp nhặt thì chẳng bao giờ biết có được một món để chi tiêu việc lớn. Mang tiền đi trồng rừng coi như một cách tích lũy, thậm chí tiền lại có thể đẻ ra tiền. Năm đầu, gia đình Vũ trồng 11,6 ha theo chương trình giao đất giao rừng. Trong 5 năm tiếp theo, từ năm 1996 đến 2000, Vũ gần như ở tịt trên rừng. Toàn bộ công việc tại cửa hàng sửa chữa và mua bán phụ tùng xe máy do vợ anh - chị Bùi Thị Hoa đảm nhiệm. Cửa hàng xe máy làm ra bao nhiêu tiền, vợ chồng anh lại giành dụm mua thêm đất, thuê người trồng rừng. Kết thúc 6 năm cuốc đất, đào hố, xách nước tưới cây, vợ chồng anh đã là chủ của một khu rừng tập trung với diện tích trên 50 ha, gồm 35 ha gỗ mỡ, 15 ha quế trồng xen sả, 5 ha keo và 1 ha vườn ươm giống cây.
Rừng Vũ Hoa (người dân bản địa gọi như vậy) nằm trên đỉnh đèo So, thuộc địa phận giữa 2 địa phương là xã Quy Kỳ (huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) và xã Yên Nhuận (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). Vùng giáp ranh đỉnh đèo So được coi là lam sơn kỳ bí trước đây vốn lặng lẽ hoang vu, chẳng ai màng tới thì nay tràn sự sống bởi nỗ lực khai khẩn của Nguyễn Văn Vũ. Là công nhân gắn bó với nghề rừng của anh Vũ từ những ngày đầu tiên, chị Ngô Thị Oanh (xã Quy Kỳ) cho biết, anh Vũ có 5 công nhân thường xuyên làm công việc trồng và chăm sóc rừng. Thời điểm mùa vụ, anh thuê lượng nhân công lao động lên đến 20-30 người với mức lương bình quân đạt 2,5-3 triệu đồng/người/tháng.
Trên con đường uốn lượn dưới tán rừng Vũ Hoa, phong cách trầm hiền, điềm đạm của Nguyễn Văn Vũ bỗng chuyển thành sự nhanh nhẹn hoạt bát lạ thường. Vũ nói, vào rừng mình như thành con người khác, năng động hơn, tinh tường hơn. Vừa lái xe anh vừa kể, trước đây, khi mới mua đất, toàn bộ khu vực chỉ có lau sậy, cỏ tranh hoặc là đồi trọc. Sau khi dọn phát, cuốc hố trồng cây, gia đình đã đầu tư hàng trăm triệu đồng để thuê máy xúc, máy ủi mở đường vào trồng rừng, rồi lại thiết kế lô khoảnh, làm đường vận chuyển để khai thác. Tính tổng chiều dài, đường rừng Vũ Hoa phải ngót ngét 5 km. Xe ô tô dừng lại ở vị trí cao nhất của núi rừng đèo So.
Từ đây, Vũ khoát tay chỉ cho chúng tôi vùng rừng gỗ mỡ với giá trị gần 4 tỷ đồng vừa bắt đầu bước vào quy trình khai thác. Nhìn từ trên núi xuống, sân tập kết hàng chục mét khối gỗ mỡ nằm ngay bên trục Quốc lộ, nơi có biển báo “Địa phận tỉnh Bắc Kạn”. Phía dưới bên trái nơi chúng tôi dừng chân là vạt rừng quế trồng xen cây sả rộng 15 ha với giá trị hơn 2 tỷ đồng. Vũ chỉ tay về phía chân đèo, nơi có gần chục người đang thi công một công trình bên cạnh Quốc lộ rồi nói, đó là khu vực mình cho xây dựng nhà xưởng để chiết xuất tinh dầu quế và dầu sả. Vũ cụ thể, sau khi đi tham quan, học tập kinh nghiệm các vùng lân cận về trồng và sản xuất tinh dầu, năm 2011, anh đã quyết định thành lập doanh nghiệp Vũ Hoa với mục đích xây dựng vùng nguyên liệu, tiến đến xây dựng nhà máy chiết xuất tinh dầu. Nhà xưởng đang xây dựng chỉ là công trình thí điểm để thu mua sản phẩm từ cây quế hiện có trên địa bàn.
Ông Đỗ Trọng Bích (Chủ tịch UBND xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa) cho biết, theo dự án xây dựng vùng nguyên liệu của doanh nghiệp Vũ Hoa, xã Quy Kỳ sẽ có 500 ha rừng quế. Qua việc thông tin về dự án, các hộ dân của xã rất háo hức và mong muốn triển khai chương trình càng sớm càng tốt.
Ông Dương Văn Lượng (Phó Chủ tịch UBND huyện Định Hóa) nhận xét, cây quế được trồng trên địa bàn huyện qua nhiều chương trình và khẳng định sự phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng song lại chưa thực sự phát huy hiệu quả vì việc khai thác mới chỉ dừng lại ở công đoạn bóc vỏ. Hướng đề xuất dự án trồng rừng nguyên liệu phục vụ nhà máy chiết xuất tinh dầu quế của doanh nghiệp Vũ Hoa được UBND huyện đánh giá cao.
Theo đó, ngay từ những năm đầu tiên, việc tỉa thưa, tỉa cành cho đến khi khai thác triệt để, tất cả các sản phẩm từ cây quế đều được tận thu. Người tham gia dự án ngoài được hỗ trợ cây giống, vay vốn mua phân bón lại có thêm nguồn thu nhập phụ từ rừng. Theo kế hoạch, dự án sẽ xây dựng vùng nguyên liệu trồng quế của huyện Định Hóa rộng 1.400 ha. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/10)đầu trang(
Bà là Hoàng Thị May, thôn Bản Quất, xã Như Cố, huyện Chợ Mới. Mất 2 ngày hẹn, chúng tôi mới gặp được bà tại nhà riêng.
Dù đã giữa chiều nhưng bà May mới đang dùng bữa trưa. Người phụ nữ 53 tuổi vừa đi xe máy vượt qua đoạn đường dài hàng trăm km từ xã vùng sâu của huyện Bạch Thông về để đúng hẹn với khách.
Vóc dáng thấp đậm nhưng bà May lại mang phong thái rất nhanh nhẹn, linh hoạt, vừa mộc mạc, giản dị mà lại đằm sâu nét đẹp của người phụ nữ dân tộc Tày. Vào chuyện, bà bộc bạch, đang làm đại lý bảo hiểm nên phải đi khắp nơi để khai thác, phải có tiền thì mới trồng và phát triển được rừng.
Bà May tuổi Kỷ Hợi (1959). Sinh ra ở bản Khuân Tèng, lớn lên từ rừng, sống nhờ rừng, cả tuổi thơ của bà gắn với rừng. Rừng Như Cố trong ký ức của bà không chỉ đẹp mà còn là nguồn sống của dân bản. Thời con gái, khi đi làm nương, có lần bà còn bắt được con nai, con hoẵng. Giờ, chuyện đó đã thành cổ tích. Giai đoạn đốt rừng làm nương đã biến những khu rừng nguyên sinh trước kia trở thành đồi núi trơ trọc đá sỏi. Rừng già cổ thụ hóa thành bãi ót, khóm lau sậy, con chim, con thú bỏ đi hết.
Đau đáu nỗi niềm với rừng, năm 2002, bà May thuyết phục được chồng con khôi phục rừng bằng việc trồng rừng. Trước mắt, gia đình bà thực hiện việc trồng rừng keo ngay trên diện tích 4 ha của gia đình. Cây keo bám đất lớn rất nhanh. Bà May lại mua thêm hơn 10 ha đất rừng để trồng tiếp.
Trong câu chuyện về những khó khăn ban đầu khi thực hiện ý định khôi phục rừng, ông Nguyễn Văn Sơn là hàng xóm của gia đình bà May góp chuyện. Lúc đó, dân bản thấy lạ vì rừng cho gỗ, cho thú chứ có ai đi vãi thóc ra rừng bao giờ?
Rồi dị nghị nảy sinh, những khu rừng nghèo kiệt mà gia đình bà May phát để trồng mới đã bị “sờ” về thủ tục, thậm chí phải đình chỉ tạm thời vì bị cho là phá rừng. Thời gian đã làm những ngọn cây keo cứ cao mãi lên, rì rào cùng gió, gọi đàn chim quay về hót. Dân bản thấu được cũng mang cây trồng kín cả đất rừng Như Cố.
Bà May thống kê, tổng diện tích rừng mà gia đình bà đã trồng được qua 4 năm, tính đến năm 2005 là 30 ha. Cơ sở để tạo ra rừng xanh lại chính là từ 30 ha đất rừng cằn ban đầu. Bà May thổ lộ, không thể có đủ nguồn lực để mua và trồng mới diện tích rừng lớn như vậy ngay được mà phải dùng chiến lược lấy ngắn nuôi dài.
Sau khi mua đất, gia đình bà đã trồng sắn hoặc làm lúa nương rồi dùng nông sản đó đổi lấy giống keo hoặc trả công để thuê lao động. Cứ như vậy, mỗi năm mua thêm một ít, trồng thêm một ít.
Năm 2005, người con trai út của vợ chồng bà May theo chân 3 anh trai đi học chuyên nghiệp xa nhà. Chồng bà làm chòi, lập lán canh rừng. Hết đất trồng rừng lại neo người, bà đóng cửa hàng tạp hóa, chuyển sang làm đại lý bảo hiểm. Những tưởng ý định trồng rừng đã dừng lại ở đó thì vợ chồng bà lại lặn lội qua Bình Văn vào tận 2 xã vùng sâu là Yên Cư và Yên Hân của huyện Chợ Mới tiếp tục liên kết trồng rừng.
Lần này, bà là chủ đầu tư và phối hợp với cư dân địa phương có đất cùng trồng rừng. Theo thỏa thuận chia đôi lợi nhuận thì gia đình bà góp toàn bộ tiền thiết kế, mua giống, công trồng, chăm sóc và bảo vệ. Sau 2 năm, đến 2007, khi đã đạt được dự định ban đầu về diện tích, bà May chính thức dừng việc trồng rừng mới. Chúng tôi hỏi về số lượng diện tích rừng trồng tại Yên Cư và Yên Hân, bà May chỉ lấp lửng “khoảng 30 ha gì đó, nói ra nhiều sợ người ta cười là mình không khiêm tốn”.
Dòng suối Nhì Cà, một phụ lưu của tả ngạn sông Cầu quanh năm ầm ào nước cuốn, chạy vào giữa khu rừng của bà May ở xã Như Cố làm người ta ngỡ như mình lạc vào đại ngàn. Những cây keo lớn có đường kính tới 30-40 cm đứng dàn hàng thẳng tắp.
Cùng vào thăm rừng, ông Mai Xuân Huấn (Phó chủ tịch UBND xã Như Cố) cho biết, với nỗ lực của mình, gia đình bà May đã đi đầu, lan tỏa và tạo ra phong trào trồng rừng sôi nổi ở địa phương. Đến nay, tất cả các diện tích rừng sản xuất của Như Cố đã được người dân nhận trồng thực hiện đạt 100%. Đánh giá về rừng keo bà May, ông Huấn khẳng định, mỗi ha keo sẽ cho thu nhập từ 60-80 triệu đồng.
Thấy chúng tôi nhân con số trung bình là 70 triệu/ha với 30 ha rừng keo đã đến tuổi khai thác, bà May khua tay, đó là cách lập luận số học đơn sơ. Rồi bà phân tích, thực tế, để có một diện tích lớn rừng trồng thì nguồn lực đầu tư là không hề nhỏ. Vấn đề là việc thu hồi vốn phải đảm bảo ổn định, lâu dài.
Theo đó, với tổng số lượng diện tích đã có, bắt đầu từ năm 2013, mỗi năm gia đình bà sẽ chỉ khai thác khoảng 10 ha, rồi lại tiếp tục trồng mới trên diện tích vừa khai thác. Như vậy, việc khai thác rồi trồng mới sẽ diễn ra liên tục trong các năm, không chỉ đảm bảo ổn định về công ăn việc làm mà ổn định cả về thu nhập. Kết thúc một chu kỳ là 10 năm.
Song hành với quá trình trên, bà May cho biết, gia đình cũng tính tới việc đầu tư thiết kế lô khoảnh để cơ giới hóa làm rừng, xây dựng xưởng chế biến lâm sản thành khí, tạo thêm công ăn việc làm… (Nông Nghiệp Việt Nam 12/10)đầu trang(
Trong những năm gần đây đời sống kinh tế của người dân miền núi có nhiều bước phát triển. Điều đó cho thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế nhiều thành phần là hết sức đúng đắn, hợp lòng dân. Trong các nguồn lực phát triển mạnh như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại thì đến nay phải khẳng định một nguồn lực cho phát triển kinh tế bền vững đó là trồng rừng.
Ông Phạm Văn Thuyết - cán bộ Lâm nghiệp xã Đồng Hợp, Quỳ Hợp cho biết. “Hiện tại xã Đồng Hợp 1.152,45 ha đất rừng đã giao cho các hộ gia đình quản lý. hầu hết diện tích này đều được trồng keo cành làm nguyên liệu, nếu chăm sóc , bảo vệ tốt thì sau từ 5-7 năm sẽ cho thu hoạch. sản lượng bình quân đạt từ 80- 90 tấn/ ha và nếu theo giá hiện nay thì sau khi trừ chi phí thuê nhân công khai thác và cước phí vận chuyển mỗi ha cho lãi ròng gần 60.000.000 đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2012 trên địa bàn xã Đồng Hợp đã thu hoạch 101,9 ha với tổng sản lượng đạt 8.668 tấn, và đưa thu nhập về cho người dân là 5.086.000.000 đ”.
Điển hình về nhận đất trồng rừng có hộ ông Phan Văn Thái xóm Tân Thắng hơn 30 ha, ông Nguyễn Trung Thùy xóm Khe Mèn hơn 10 ha, và nhiều hộ gia đình khác có diện tích từ 5- 15 ha, Đối với đầu tư trồng rừng chỉ phải bỏ vốn cây giống và phân bón ban đầu cùng với thuê nhân công đào hố, trồng và làm cỏ trong 2 năm đầu sau đó chỉ bảo vệ cho đến khi thu hoạch. Bên cạnh đó trồng rừng còn là điều kiện thuận lợi để người dân phát triển chăn nuôi gia súc. Nhờ có nguồn thu nhập lớn từ trồng rừng nên nhiều hộ gia đình đã có cuộc sống khá giả, góp phần nâng cao mức thu nhập nội xã và thu nhập đầu người.
Để khuyến khích và tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế rừng, Đảng ủy chính quyền xã đã thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng Ban quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng đủ số lượng mạnh về chất lượng, Chỉ đạo mở các tuyến đường vận chuyển nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong quá trình sản xuất và vận chuyển sản phẩm, hàng năm có tổng kết đánh giá kết quả trồng và bảo vệ rừng đồng thời triển khai kế hoạch cho năm tiếp theo. (Theo Quyhop.gov.vn 12/10)đầu trang(
Trung tâm Cứu hộ gấu VN (TTCHG) vừa có thư gửi một số cơ quan truyền thông bày tỏ lo ngại về nguy cơ phải di dời ra khỏi vị trí hiện tại trong vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc).
Theo TTCHG, ngày 3-10 Bộ NN&PTNT đã thông báo cho Tổ chức Động vật châu Á (đơn vị tài trợ cho trung tâm) kết quả cuộc họp với Bộ Quốc phòng về lệnh dừng toàn bộ hoạt động xây dựng của dự án TTCHG, cũng như di dời 104 con gấu trước đây đã được cứu hộ về trung tâm, ra khỏi khu vực thung lũng Chắt Dậu thuộc vườn quốc gia Tam Đảo.
Ông Đỗ Đình Tiến - giám đốc vườn quốc gia Tam Đảo - cho biết việc xử lý sẽ trên cơ sở tiếp tục bảo tồn động vật hoang dã, nhưng cũng chưa biết hướng di dời, bố trí công việc cho nhân viên, đền bù việc đầu tư, xây dựng của Tổ chức Động vật châu Á thế nào vì Bộ NN&PTNT đang xem xét.
Ngày 11-10, bà Phan Thùy Trinh, cán bộ truyền thông của TTCHG, cho biết nếu phải di dời, trung tâm lo ngại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và tinh thần của 104 con gấu. Bà Trinh cho rằng nhiều con gấu đã sống trong môi trường bán hoang dã một thời gian dài, giờ quay lại sống trong lồng nuôi nhốt để chuyển đi là một cú sốc tâm lý lớn. (Tuổi Trẻ 12/10)đầu trang(
"Muốn phát triển công nghiệp, thì phải đánh đổi nguồn tài nguyên rừng để lấy tài nguyên khoáng sản...", ông Mai Ngọc Liêm (ảnh), Chủ tịch HĐQT Công ty CP xi măng Fico Tây Ninh, đã trả lời PV Thanh Niên vào sáng 11.10.
Ông Liêm cho biết, vào giai đoạn 2004, thời điểm nước ta đang thiếu xi măng trầm trọng, công ty được giao nhiệm vụ tìm nguồn nguyên liệu sản xuất xi măng để đáp ứng thị trường. Ngoài việc sản xuất, công ty còn được giao nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội vùng biên giới (giáp với Campuchia). Ông Liêm dẫn chứng: "Ngay từ những ngày đầu thành lập, công ty phải vay vốn ngân hàng để xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó kéo trên 35 km đường điện, chi phí rất nhiều. Hiện nay, chúng tôi còn quy hoạch khu dân cư rộng 74 ha (nằm trong số 238 ha rừng phòng hộ đã giao trong giai đoạn 2006 - 2009 - PV) với đầy đủ trường học, siêu thị... phát triển thành một thị trấn nhỏ ở biên giới. Thu hút nhiều người dân khác đến đây làm ăn sinh sống, hạn chế được phần nào tình trạng phá rừng".
Đề cập đến 238 ha rừng phòng hộ được giao để xây dựng dây chuyền 1, ông Liêm cho biết: "Thực tế, qua khoan thăm dò trữ lượng, chúng tôi chỉ sử dụng hết khoảng 100 ha. Rừng ở khu vực khai thác thuộc loại 3C đã bị phá hết rồi chứ còn gì là nguyên sinh. Riêng khu vực không sử dụng thì vẫn còn là rừng". Trả lời câu hỏi, việc phá rừng để làm nhà máy xi măng, lâu dài liệu có kéo theo những hệ lụy về môi trường khác? Ông Liêm nói: "Một dự án ra đời bao giờ cũng có 2 mặt. Anh muốn phát triển kinh tế về nguồn tài nguyên xi măng thì phải hy sinh tài nguyên rừng. Thực tế, để hạn chế phần nào, nhà máy cũng đã cho trồng lại rừng (hơn 50 ha) trong quá trình khai thác".
Liên quan đến 365 ha rừng nguyên sinh trong khu vực rừng phòng hộ, dự kiến giao cho Công ty triển khai giai đoạn 2 (2016 - 2020), ông Mai Ngọc Liêm giải thích: "Bước đầu, chúng tôi dự định sẽ thuê một đơn vị địa chất thăm dò, khảo sát. Nếu có mỏ đá với trữ lượng đủ để cho nhà máy hoạt động thì chúng tôi mới làm...".
Cũng theo ông Liêm, để được cấp phép thăm dò khoáng sản thì diện tích 365 ha rừng phải được loại ra khỏi diện tích rừng phòng hộ và giao lại cho công ty. Do đó, trong Quyết định 1831/QĐ-UBND ngày 24.9.2012, phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Tây Ninh đến năm 2020 của UBND tỉnh Tây Ninh, đã làm một động thái là loại 365 ha ra khỏi rừng phòng hộ Dầu Tiếng, để giao cho Công ty CP Fico Tây Ninh.
Ông Liêm cho biết, trong trường hợp thăm dò có mỏ đá, sau khi khai thác mỏ (sâu trên 20 m - PV), một phần công ty xi măng sẽ hoàn thổ, hoàn nguyên, tức là san lấp trả lại mặt bằng để tiếp tục trồng rừng. Song song đó, ông Liêm còn cho biết, nếu có đá sẽ xây dựng một nhà máy xi măng mô hình xanh (dùng rác đốt lấy nhiệt phát ra điện để quay lò làm xi măng, khí thải được thu hồi để phát điện) tại đây.
Trao đổi với PV Báo Thanh Niên trước đó, ông Lê Minh Thuần, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng (Tây Ninh), cho rằng: "Việc hoàn thổ, hoàn nguyên đối với những khu vực khai thác mỏ đá là rất khó thực hiện. Nếu có trồng rừng mới cũng không thể đủ và cũng không thể thay thế được khu rừng nguyên sinh này". (Thanh Niên 12/10)đầu trang(
Khi những cánh đồng lúa ngả màu vàng đến kỳ thu hoạch, gió heo may ùa về, là thời điểm “tận diệt” chim trời của các tay thợ săn. Tại các huyện: Nga Sơn, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia của tỉnh Thanh Hóa, lưới được giăng trắng đồng. Hễ con chim nào sa lưới đều bị vặt lông, mổ bụng, chế biến thành nhiều món ăn cho dân nhậu.
Đã hơn 1 tháng nay, cứ mỗi buổi sáng sớm hay lúc chiều muộn, tại một số tuyến đường đông người qua lại ở TP Thanh Hoá đều thấy xuất hiện những điểm bán “đặc sản” chim trời. Nhiều loại chim như cò, diệc, gà đồng, ngói… được bày bán tràn lan, sống hay thịt sẵn đều có để chiều lòng thực khách.
Tiếng người đàn bà bán chim rao sang sảng: “Anh ơi mua chim đi, cò 25.000 đồng/con, gà đồng 30.000 đồng/con. Rẻ hơn các món nhậu khác, không mua nhanh là hết ngay đó”. Lân la hỏi chuyện, tôi mới biết chim được người này mua lại của một số người đánh bẫy ở các huyện Quảng Xương, Hoằng Hoá. Ngày nào người này cũng chở 2 xe đầy chim trời lên phố để bán.
Lần theo đầu mối từ những người bán chim trời, chúng tôi tìm về xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương để được tận mắt chứng kiến cảnh tận diệt chim trời. Chạy qua khu công nghiệp Lễ Môn được một đoạn, hướng mắt về phía những cánh đồng mới gặt xong còn trơ cuống rạ, chúng tôi choáng ngợp trước cảnh cả cánh đồng mênh mông trắng lưới. Lều lán được mọc lên khắp nơi, những con chim mồi thi thoảng lại cất lên những tiếng kêu như ai oán, rồi tung cánh bay trong vô vọng.
Ông H. (quê ở xã Quảng Hùng), một tay săn chim có thâm niên hơn 10 năm, cho biết: Đây là thời điểm chim về nhiều, có ngày tôi bẫy được cả trăm con chim, tính ra kiếm được vài trăm nghìn đồng. Vào mùa này nhiều người xã khác cũng chọn nghề này để kiếm cơm. Đồ nghề của các thợ bẫy chim gồm có lưới, nhựa, chim mồi.
Đặc biệt, để dụ được những con chim trời sa lưới, cánh săn chim chuyên nghiệp còn dùng băng đĩa thu âm thanh của chúng rồi đem rải khắp cánh đồng gần chim mồi để gọi bầy đàn. “Chim thường đi theo bầy, vì thế khi thấy chúng đang bay lượn trên cao, âm thanh tiếng chim được mở to, đồng thời giật dây cho chim mồi tung cánh. Ở trên cao, đàn chim tưởng đồng loài gọi nên cũng sà xuống, thế là dính bẫy”, ông H. cho biết.
Từ xã Quảng Vinh, chúng tôi ghé qua một số xã Quảng Giao, Quảng Hùng, Quảng Hải thuộc huyện huyện Quảng Xương. Đi đến đâu cũng thấy lưới giăng trắng đồng. Cả cánh đồng tính sơ sơ phải đến nhiều chục giàn lưới. PV gặp ông Lê Văn M. một chủ bẫy chim ở xã Quảng Giao, đang lăm lăm khẩu súng trên tay để sẵn sàng nhả đạn vào những chú chim may mắn thoát ra khỏi giàn lưới. Ông M. chia sẻ: “Ở quê tôi có đến cả trăm người đi bẫy chim, nếu tính cả vùng này thì nhiều không đếm xuể. Mùa săn chim thường bắt đầu từ tháng 9 cho đến hết tháng 11. Chim năm nay ít hơn mọi năm, nên cứ bắt được con nào là lái buôn lại lấy hết để cung ứng cho nhà hàng”.
Chim trời bị tàn sát, người dân thi nhau giăng bẫy trắng đồng, thế nhưng không có sự vào cuộc của chính quyền sở tại. Một chủ tịch UBND xã cho biết: “Việc bẫy bắt chim trời có từ lâu rồi và là nghề truyền thống của địa phương, chúng tôi không cấm. Địa phương cũng không nhận được công văn, chỉ đạo nào của cấp trên ngăn cấm việc săn bắt chim trời cả”.
Ông Phạm Văn Chiến, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Thanh Hoá cho biết: Thời gian gần đây, chúng tôi cũng thấy xuất hiện việc buôn bán chim trời trên địa bàn TP. Hạt Kiểm lâm đã cử cán bộ xuống đấu mối với các phường để xử lý. Cái khó là, chim thường được chuyển từ các vùng khác về nên có bắt, có cấm chỗ này thì họ lại bán nơi khác và tìm mọi cách để đưa vào TP. Nếu đưa họ ra phạt theo Nghị định 99/CP của Chính phủ là rất khó. “Để chấm dứt tình trạng trên, phải có sự vào cuộc của các cấp, ngành, đặc biệt là chính quyền cấp xã. Có như thế thì may ra việc tàn sát, buôn bán chim trời mới có thể chấm dứt được”, ông Chiến nói. (Thanh Tra 11/10)đầu trang(
Mô hình nuôi chim trĩ của anh Hoàng Khắc Anh ở Khối 2, phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là một mô hình kinh tế cho hiệu quả kinh tế cao. Với qui mô khoảng 20m2, anh nuôi 100 con chim trĩ, trong đó 40 con chim mái và 60 con chim trống.
Anh Khắc Anh cho biết, nuôi chim trĩ rất đơn giản, thức ăn cho chúng là các loại rau xanh kết hợp với thóc. Khi chim bắt đầu sinh sản thì cho ăn thêm cám đậm đặc. Chuồng nuôi phải vệ sinh sạch sẽ và được che chắn tránh gió Bắc, không để nước mưa làm chim bị ướt.
Khi hỏi về hạch toán kinh tế, anh cho biết từ đầu năm đến nay, tính cả bán trứng, bán chim con, chim thịt và chim trống chơi cảnh, sau khi trừ chi phí anh lãi ròng 120 triệu đồng. Trong đó trứng chim bán với giá bán từ 50.000 - 70.000 đồng/quả. Chim con cứ 3 tháng anh bán 1 lần, mỗi lần khoảng 100 con với giá bán giao động từ 100.000 - 120.000 đồng/con. Chim thịt chưa qua chế biến 300.000 - 400.000 đồng/kg. Chim thịt sau khi chế biến bán cho du khách đến Cửa Lò có giá lên tới 450.000 - 500.000 đồng/kg. Chim trống bán cho du khách tham quan làm cảnh có giá lên tới 1- 1.2 triệu đồng/con.
Hiệu quả của mô hình nuôi chim trĩ tại hộ anh Hoàng khắc Anh đã được nhiều người dân và du khách tham quan học tập. Đây là mô hình nuôi đối tượng mới với vốn đầu tư ban đầu cao nên để nuôi thành công giống chim trĩ, người nuôi cần tìm hiểu thông tin và nắm vững kỹ thuật trước khi bắt tay vào nuôi giống chim này. (Khuyến Nông VN 11/10) đầu trang(
Khi làm thuỷ điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam), chủ đầu tư nói không có vấn đề gì nhưng khi đưa vào sử dụng thì sự cố xảy ra, động đất liên tục khiến dân sống không yên. Vậy ai đảm bảo hai thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A được xây dựng và lại làm trong vườn quốc gia, sẽ không để lại hậu quả gì?
Ông Trương Văn Vở, phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, đã đặt vấn đề như vậy khi trả lời phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị sau cuộc làm việc trực tiếp với tập đoàn Đức Long Gia Lai (ĐLGL) chiều ngày 10/10.
Vậy ông sẽ có hành động cụ thể gì sau cuộc làm việc với tập đoàn ĐLGL – chủ đầu tư dự án hai thuỷ điện này? Trả lời câu hỏi này, ông Vở cho hay: Chúng tôi sẽ tổng hợp ý kiến và đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai gửi kiến nghị một lần nữa đến các bộ, ban ngành liên quan làm rõ vấn đề về tác động môi trường và các hậu quả nếu có. Trước đây, UBND tỉnh từng gửi kiến nghị đến Chính phủ cũng như một số bộ về vấn đề tác hại của thuỷ điện, nhưng có lẽ lần này phải cụ thể hơn. Qua cuộc làm việc vừa qua, chủ đầu tư khẳng định việc xây thuỷ điện gắn với tương lai màu hồng, nhưng nói không ảnh hưởng gì lớn đến môi trường thì phải xem lại.
Những vấn đề mà ông Vở quan tâm nhất về hai thuỷ điện là: Thứ nhất, các tỉnh vùng hạ lưu như Đồng Nai, TP.HCM bị ảnh hưởng vì thuỷ điện Đồng Nai 6, 6A là chuyện ai cũng biết chắc chắn sẽ xảy ra. Do đó, người dân các tỉnh/thành này cần phải được biết mình sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, cần có ý kiến ra sao.
Thứ hai, khi làm thuỷ điện Sông Tranh 2, chủ đầu tư khẳng định không có vấn đề gì nhưng khi đưa vào sử dụng thì sự cố liên miên, động đất liên tục khiến dân sống không yên. Như vậy, ai sẽ đảm bảo hai thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A khi được xây dựng, lại xây dựng trong vườn quốc gia, sẽ không để lại hậu quả gì? Thứ ba, phương pháp đánh giá tác động môi trường của chúng ta hiện nay còn tù mù. Thế nên việc thẩm định cần phải xem xét trách nhiệm cụ thể, vì những tác hại của thuỷ điện chỉ thấy được về sau.
Sao nhất thiết phải xây thuỷ điện khi nhiều nước đều hướng đến việc bỏ thuỷ điện vì môi trường? Mặt khác, nếu muốn xây dựng, phải xem lại cơ sở pháp lý của hai dự án này. Theo nghị quyết 49 của Quốc hội về việc chuyển đổi trên 50ha rừng nguyên sinh thì phải được thông qua bởi Quốc hội, đằng này dự án chiếm tới 137ha rừng nguyên sinh và nếu tính luôn rừng phòng hộ là 370ha.
Tiếp theo là xem lại các cơ sở về luật Bảo vệ đa dạng sinh học, vì bảo vệ đa dạng sinh học là ưu tiên hàng đầu theo chỉ đạo của Thủ tướng. Và gần đây nhất là chỉ đạo bằng công văn 45 ngày 31.8.2011 của phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ: trường hợp diện tích rừng và đất cần cho dự án có thể chuyển mục đích sử dụng mà ảnh hưởng đến tiêu chí, mục đích và nội dung xác lập vườn quốc gia Cát Tiên thì dừng xây dự án. Đó chính là cơ sở pháp lý đó thôi!
Bà về cái lợi cũng như các tác hại của thuỷ điện Đồng Nai 6, 6A, ông Vở cho biết: Qua ý kiến các nhà khoa học được sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Nai tổng hợp báo cáo lại cho chúng tôi, thì thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A có ba cái lợi và sáu cái hại. Nhưng ngay cả cái lợi của nó tôi cũng thấy có vấn đề.
Ví dụ: trước đây khi chưa có thuỷ điện Đại Ninh (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), dân có nước tưới thoải mái cho cây trồng nhưng bây giờ thì kiếm nước cho cây rất khó khăn. Chủ đầu tư luôn nói là thuỷ điện điều hoà nước để giảm lũ mùa mưa, chống hạn mùa khô, rửa mặn sông ngòi nhưng thực tế thì đâu có vậy. Mùa mưa các anh phải xả vì sợ lũ làm vỡ đập khiến lũ chồng lũ, mùa khô các anh tích nước vì có nước mới có điện, có điện mới có tiền.
Tôi nghĩ nên chấp nhận phản biện. Tôi ủng hộ ý kiến của anh Dương Trung Quốc, đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, rằng nếu không thể thẩm định nổi thì phải thuê nước ngoài làm. (Sài Gòn Tiếp Thị 12/10)đầu trang(
Đơn vị tư vấn khẳng định khi xây thủy điện, chim, thú có thể… di chuyển đi đâu đó nhưng rồi sẽ trở về!
“Rừng tại hai khu vực xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là rừng nghèo, đất xấu và không có các loài chim, thú quý hiếm nằm trong Sách đỏ” - Viện Môi trường - Tài nguyên thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM, đơn vị tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho hai dự án thủy điện trên, khẳng định. Tập đoàn Đức Long Gia Lai (chủ đầu tư) cũng cho hay đơn vị tư vấn đã khảo sát thực địa và kết luận dự án không gây bất cứ tổn hại nào về đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
Tiến sĩ Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học Miền Nam, người nhiều năm gắn bó với rừng quốc gia Cát Tiên, phản bác ngay: “Vị trí quy hoạch hai dự án là nơi sinh sống của nhiều loài thú quý hiếm. Các loài như chà vá chân đen, khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, cu li nhỏ… vẫn có mặt tại đó”.
Nhóm khảo sát do ông Long chủ trì xác định ở khu vực quy hoạch hai dự án có 98 loài chim thuộc 25 họ, 13 bộ. Trong số đó có năm loài có tên trong Sách đỏ như gà so cổ hung, gà lôi hông tía, gà tiền mặt đỏ, hồng… Nhóm còn ghi nhận có một bầy chà vá chân đen khoảng 10 con sống tại khu vực đường vào thôn Bù Sa, xã Đồng Nai Thượng. Khu vực này cũng rất thích hợp cho vượn đen má vàng - một loài linh trưởng cực kỳ quý hiếm sinh sống.
Không riêng về các loài chim thú, đoàn khảo sát cũng xác định thảm thực vật tại khu vực trên rất đa dạng với sự hiện diện của một số loài thực vật đặc hữu hẹp đặc trưng của hệ thực vật Cát Lộc như Hùng Lan Việt, xoài Đồng Nai, lọ nồi sài gìn, trà hoa pike, hoa trà Cát Lộc…
Vị trí dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A trên bậc thang thủy điện sông Đồng Nai.
Từ thực tế trên, ông Long lo lắng: Quá trình mở đường, rồi sự ô nhiễm tiếng ồn trong lúc thi công sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh cảnh sống của các loài chim, thú, đặc biệt ba loài linh trưởng quý hiếm (chà vá chân đen, vượn đen má vàng và cu li nhỏ) do chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi về môi trường.
“Với việc xây dựng hai dự án thủy điện 6, 6A, bầy chà vá chân đen ở trên có nguy cơ bị tiêu diệt rất cao, bởi vùng sống của chúng nằm trên đường chuyên chở máy móc, nguyên vật liệu phục vụ cho hai dự án. Đây là loài rất nhút nhát, khi thấy người chỉ ngồi im một chỗ, lấy lá che mặt, che thân. Vì vậy đã có trường hợp thợ săn thoải mái bắn chết một lúc 15 con” - ông Long dẫn chứng.
Một báo cáo khác cũng chỉ ra có ít nhất bốn bầy vượn đen má vàng sinh sống dọc sông Đồng Nai, sát khu vực dự kiến xây thủy điện Đồng Nai 6, 6A. “Đây là loài có nguy cơ tuyệt chủng ở mức nguy cấp. Chúng lại có tập tính bảo thủ về lãnh thổ rất cao, nghĩa là nếu vùng sống của bầy bị thu hẹp hay chia cắt, chúng vẫn tiếp tục ở đó bất chấp nguy hiểm, thay vì di chuyển đi nơi khác” - ông Long nói. (Pháp Luật TPHCM 11/10)đầu trang(
11-10, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau ông Lê Dũng nói, đề nghị công an, kiểm lâm điều tra vụ chặt phá cây rừng ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau.
Hơn 2 tháng qua, rừng bị chặt phá với khoảng 100m3. Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Mũi Cà Mau báo cáo với Chi cục Kiểm lâm Cà Mau tình trạng chặt phá, đề nghị khởi tố vụ án. (Tiền Phong 12/10)đầu trang(
Rất nhiều khu rừng đặc dụng của Việt Nam đang phải “hy sinh” cho những dự án kinh tế. Lạ một nỗi, tình trạng “phá rừng làm kinh tế” ồ ạt như hiện nay lại được sự ủng hộ của bộ chủ quản
Bộ NN-PTNT vừa có văn bản trả lời Chính phủ về việc chuyển đổi gần 90 ha diện tích đất rừng phòng hộ tại huyện Tuy Phong - Bình Thuận để xây dựng kênh cấp nước cho Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân.
Theo đó, phần diện tích rừng cần chuyển đổi mục đích thuộc đất rừng phòng hộ nhưng chưa có rừng, chủ yếu là cây bụi, có vài cây gỗ tái sinh, phẩm chất xấu. Vì vậy, Bộ NN-PTNT cho rằng theo quy định hiện hành, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng chỉ áp dụng với diện tích có rừng, còn diện tích đất lâm nghiệp nêu trên chỉ thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Năm 2011, UBND tỉnh Nghệ An từng có văn bản xin Chính phủ chuyển đổi 49,8 ha đất rừng phòng hộ sang rừng sản xuất để hoạt động khoáng sản. Bộ NN-PTNT đã tham mưu cho Chính phủ trường hợp này như sau: khu vực dự kiến chuyển đổi mục đích sản xuất trước đây được quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng thực tế chỉ có cây tái sinh mật độ thưa trên núi đá vôi.
Để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Bộ NN-PTNT ủng hộ chủ trương chuyển mục đích sử dụng đối với 49,8 ha nêu trên sang mục đích khác để hoạt động khoáng sản. Nhưng do nguyên tắc, đất rừng phòng hộ khi chuyển sang rừng sản xuất phải phục vụ cho lâm nghiệp. Do đó, bộ đã “tận tình hướng dẫn” tỉnh xin Thủ tướng xem xét, cho phép bổ sung khu vực trên vào khu vực quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản của tỉnh.
Không rõ vô tình hay hữu ý nhưng dư luận cho rằng tỉnh Nghệ An thật “may mắn”. Bởi lẽ theo Nghị quyết 49/2010/QH12 của Quốc hội, nếu chuyển đổi từ 50 ha diện tích rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia (VQG)… trở lên phải do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Và nếu phải trình lên Quốc hội, việc chuyển đổi mục đích rừng phòng hộ có lẽ không suôn sẻ như vậy.
Trường hợp của Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh khi UBND tỉnh Kon Tum đề xuất chuyển mục đích sử dụng rừng để thực hiện dự án thủy điện Đăk Mi 1 và Đăk Mi 1A cũng là một ví dụ. Tổng diện tích đề nghị chuyển đổi cho 2 thủy điện này lên đến 64,73 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh.
Dù vậy, Bộ NN-PTNT cho biết trạng thái rừng ở khu vực này là rừng phục hồi và xen kẽ rừng tre nứa. Do đó, theo quy định hiện hành và trên cơ sở xem xét hồ sơ dự án, Bộ NN-PTNT xét thấy việc chuyển đổi mục đích để xây dựng 2 thủy điện là đủ căn cứ pháp lý. Đồng thời, việc quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng rừng thuộc thẩm quyền UBND tỉnh Kon Tum.
Không chỉ các khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn, đến cả VQG, cũng bị “xẻ thịt” vì… nghèo. Đó là khi UBND tỉnh Ninh Thuận xin chuyển đổi đất rừng của VQG Núi Chúa nhằm thực hiện dự án xây dựng tuyến đường du lịch sinh thái Vĩnh Hy - Ninh Chữ. Bộ NN-PTNT đã tham mưu cho Chính phủ về khu vực này như sau: diện tích rừng cần chuyển đổi mục đích là 6,3 ha thuộc VQG Núi Chúa, có hiện trạng rừng trên núi đá, đặc điểm loài cây là cây gai, cây bụi, cây thân gỗ thấp. Tuy nhiên, trong hồ sơ đề nghị của UBND tỉnh Ninh Thuận, diện tích rừng thuộc phạm vi VQG Núi Chúa cần phải thu hồi để thực hiện tuyến đường nói trên lại lên đến 30,7 ha.
Khu “rừng nghèo” đang gây tranh cãi nhất hiện nay: VQG Cát Tiên (trải qua địa phận 3 tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai) và rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Cát Tiên. Nếu xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, VQG Cát Tiên sẽ mất 137 ha và rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Cát Tiên sẽ mất 147 ha. Theo Bộ NN-PTNT, khu vực dự kiến thực hiện dự án chủ yếu là rừng nghèo, kiểu rừng hỗn giao tre nứa nên giá trị đa dạng sinh học không cao.
Chính vì vậy, bộ không ngần ngại ủng hộ việc “cắt” VQG và rừng phòng hộ đầu nguồn làm thủy điện. Tuy nhiên, kiểu rừng nghèo “hỗn giao tre nứa” mà Bộ NN-PTNT đã trình bày với Chính phủ là một trong 5 kiểu rừng đặc trưng của VQG Cát Tiên. Nhờ những kiểu rừng đó mà VQG Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới!
Nếu chất lượng của các khu rừng đặc dụng Việt Nam thực sự “nghèo nàn” đến như thế, Bộ NN-PTNT với vai trò là đơn vị chủ quản được Nhà nước giao phó nhiệm vụ và cung cấp tài chính để giữ gìn, bảo tồn rừng, phải là đơn vị chịu trách nhiệm đầu tiên! (Người Lao Động 12/10)đầu trang(
11.10, ông Lê Dũng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau xác nhận với PV Thanh Niên Online UBND tỉnh đã đề nghị cơ quan công an, cơ quan kiểm lâm cùng điều tra vụ chặt phá cây rừng ở Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau (H.Ngọc Hiển)..
Theo ông Dương Hoài Phương, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Ngọc Hiển: “Khoảng hơn hai tháng nay, rừng của VQG Mũi Cà Mau liên tục bị lâm tặc chặt phá với diện tích gần 2 ha, trên 100 m3 gỗ. Trước đó, đơn vị đã có báo cáo gửi Chi cục Kiểm lâm tỉnh về tình trạng cây rừng bị chặt phá và đề nghị khởi tố vụ án, chuyển cho cơ quan công an điều tra”.
Ông Phương cho biết thêm, lâm tặc sử dụng phương thức “khai thác chọn” (lựa cây rừng lớn) để tàn sát rừng, nên nếu không có biện pháp mạnh thì VQG Mũi Cà Mau sẽ dần dần bị “rút” hết ruột.
Tại những địa điểm phát hiện cây rừng bị chặt, có cả dấu cũ lẫn dấu mới, chứng tỏ lâm tặc hoạt động trong thời gian dài, ông Phương nhận định.
Cùng ngày, ông Huỳnh Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Mũi Cà Mau, cho biết đoàn công tác của tỉnh đã đến VQG Mũi Cà Mau kiểm tra vụ việc. (Thanh Niên 11/10)đầu trang(
Hơn một tháng trở lại đây, nhiều người dân ở các xã Tú Đoạn, Khuất Xá, Tam Gia, Tĩnh Bắc…, huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) đổ xô lên rừng đào rễ sim để bán cho thương lái. Trung bình một ngày mỗi người có thể đào được trên dưới 100kg rễ sim. Ước tính mỗi ngày có từ 6-8 tấn rễ sim được đào về bán cho thương lái.
Một số người dân tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình phản ánh: Gần đây, người dân ở xã lên rừng đào sim rất nhiều. Khi đào xong, họ gom thành từng bao đưa về bán cho tư thương ngay tại xã.
Có mặt tại một điểm được cho là nơi thu mua rễ sim lớn nhất tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, chúng tôi được chứng kiến một lượng lớn rễ sim được đóng vào thành từng bao chất lên xe ô tô mang đi. Ông Vi Văn Hiếu, chủ cơ sở thu này và cũng chính là trưởng thôn Bản Cảng, xã Khuất Xá cho biết: Biết tin Trung Quốc có thu mua rễ sim, nên tranh thủ lúc nông nhàn bà con trong thôn tranh thủ lên rừng đào rễ sim về bán. Ở đây cây sim mọc rất nhiều trên những vạt rừng nên rất dễ đào và vận chuyển bán; chúng tôi chỉ mua lại của bà con.
Theo tìm hiểu của phóng viên TTXVN thường trú tại Lạng Sơn thì ban đầu việc đào rễ sim chỉ là những người thường xuyên đi rừng tiện đào về, nhưng hiện tại thì rất nhiều gia đình “tham gia” vào việc này, giá thành cao, dễ bán nên nhiều người, nhiều nhà “rủ nhau” đi đào. Trung bình một ngày mỗi người có thể đào được trên dưới một tạ rễ sim; với giá thu khoảng từ trên dưới 2.000 đồng/kg, thì đây quả là số tiền không nhỏ đối với người dân nơi đây.
Ông Lộc Văn Cờ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình cho biết hiện trên địa bàn xã có 3 điểm thu mua rễ sim. Đó là các hộ gia đình anh Vi Văn Hiếu, Cam Văn Phòng và chị Vi Thị Mỳ; trong đó, điểm thu mua lớn nhất là hộ gia đình anh Vi Văn Hiếu, điểm này không chỉ tiến hành thu mua rễ sim của người dân trong xã Khuất Xá mà còn thu mua tại các xã lân cận như:Tú Mịch, Tam Gia, Tĩnh Bắc…. Chính quyền xã đã phối hợp với Kiểm lâm huyện Lộc Bình tiến hành kiểm tra, lập biên bản và đã phạt hành chính điểm thu mua này.
Theo quan sát của chúng tôi, trên tuyến đường vào các xã Tú Đoạn, Khuất Xá, Tam Gia, Tĩnh Bắc có rất nhiều điểm thu mua rễ sim. Theo ước tính của các điểm thu mua thì trung bình mỗi ngày có trên dưới 10 tấn rễ sim được thu gom mang đi bán, do vậy để đào được từng đó rễ thì số cây sim bị chặt hạ là rất lớn.
Ông Hoàng Văn Vinh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Lộc Bình cho biết việc khai thác rễ sim một cách bừa bãi của người dân các xã nói trên trong thời gian qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm tăng nguy cơ xói mòn đất và ảnh hưởng đến môi trường. Ủy ban Nhân dân huyện Lộc Bình đã chỉ đạo các xã nói trên đẩy mạnh việc tuyên truyền đến người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và chấm dứt việc đào rễ sim.
Trước tình trạng khai thác rễ sim một cách ồ ạt như vậy, cây sim đang bị chính người dân nơi đây tận diệt, nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường và cuộc sống người dân. Do vậy ngoài việc tuyên truyền thì chính quyền các cấp nơi đây cần có những biện pháp quyết liệt, hiệu quả để chấm dứt tình trạng này. (VietnamPlus.vn 11/10)đầu trang(
Chiều 11-10, ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên, cho biết Viện Sinh thái miền Nam đã chính thức gửi kết quả giám định chiếc đầu bò bị sát hại tại xã Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng).
Theo đó, con bò bị sát hại vào chiều 5-10 chính là bò tót (nhóm 1B - động vật hoang dã quý hiếm, nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại). Hiện cơ quan chức năng đang hoàn tất thủ tục để khởi tố vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã.
Thông tin từ Công an huyện Cát Tiên, cơ quan điều tra đã xác định được 17 đối tượng tham gia vụ sát hại bò tót, tất cả đều trú tại thôn Phước Sơn, xã Phước Cát 2; và người mua đầu bò tót là ông Huỳnh Văn Thuận, trú thôn Cát Lâm 2, xã Phước Cát 1 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng). (Sài Gòn Giải Phóng 12/10)đầu trang(
11/10, Phòng Quản lý, bảo vệ rừng - Chi cục Kiểm lâm Gia Lai - cho biết, ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục Trưởng vừa ra văn bản gửi UBND tỉnh Gia Lai, Sở NN&PTNT Gia Lai xin ý kiến về việc áp dụng hình thức kỷ luật mức khiển trách đối với ông Vân và ông Hiệp.
Trước đó, vào cuối tháng 4/2012, đoàn kiểm tra liên nghành tỉnh Gia Lai tiến hành truy quét lâm tặc tại rừng phòng hộ Ayun Pa. Tại đây, đoàn đã phát hiện khoảng 200 cây gỗ bị lâm tặc xẻ làm trụ tiêu. Số tang vậy này ông Vân chưa xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Cục đã quyết định đốt tiêu hủy. Việc này đã vi phạm về luật bảo vệ rừng trong việc xử lý tang vật vi phạm.
Được biết, ông Vân đã nộp 11 triệu đồng vào ngân sách để đền bù số tang vật trên. (Dân Trí 11/10; Tiền Phong 12/10)đầu trang(
Những ngày gần đây, trên tuyến quốc lộ 24 (đoạn qua đèo Vi-ô-lắc, thuộc xã Ba Tiêu, huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi) tiếp giáp với tỉnh Kon Tum xảy ra tình trạng người dân lén lút đào bới tìm gỗ huỳnh đàn gây ảnh hưởng đến môi trường và nguy cơ sạt lở núi.
Các đối tượng đã ngang nhiên tàn phá, đốn bỏ tất cả những gì có tại khu vực này tạo nên những hầm hố sâu nham nhở, thậm chí khoét qua đường giao thông, gây sụt lún bất cứ lúc nào. Tại hiện trường, hàng chục người mang đồ nghề đào bới tìm gỗ sưa bỏ chạy khỏi khu vực đèo Vi-ô-lắc khi thấy lực lượng thanh tra Sở GTVT Quảng Ngãi xuất hiện.
Ðây là hành vi phá hoại công trình giao thông, phá hoại công trình an ninh quốc gia cần được làm rõ và xử lý theo pháp luật. (Nhân Dân 12/10)đầu trang(
Theo Bộ NN-PTNT, 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 3,4 tỉ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng theo ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, ngay tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp (DN) lại bỏ ngỏ cho hàng ngoại nhập chiếm lĩnh.
Theo kết quả một số cuộc điều tra, khảo sát thị trường của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietforest) hồi đầu năm, hiện chỉ có khoảng 20% doanh số tiêu thụ đồ gỗ trong nước thuộc về các sản phẩm của DN Việt Nam, còn lại 80% là sản phẩm của Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…
Lạc quan hơn, theo Hội Chế biến gỗ và Thủ công mỹ nghệ TPHCM (HAWA), đồ gỗ Việt Nam hiện chiếm hơn 50% thị trường nội địa nhưng chủ yếu là sản phẩm của các công ty nhỏ, siêu nhỏ hoặc hộ gia đình. Các công ty, cơ sở này chủ yếu gia công cho DN lớn hoặc sản xuất đơn giản, ký gửi sản phẩm tại các cửa hàng đồ dùng nội thất, làm theo đặt hàng của khách là hộ gia đình…
Tại Hội chợ Đồ gỗ và Thủ công mỹ nghệ 2012 (Expo 2012) diễn ra ở TPHCM đầu tháng 10, gần 90% trong tổng số 100 DN tham gia triển lãm là DN nhỏ và vừa. Mục tiêu của các DN này là thông qua hội chợ để đưa sản phẩm đến gần người tiêu dùng trong nước hơn. Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch HAWA, cho biết các DN trong ngành đang nỗ lực tìm kiếm cơ hội bán hàng tại thị trường nội địa. Một số DN như Hoàng Anh Gia Lai, Hòa Phát… bước đầu đã có hệ thống phân phối riêng, tuy còn khá nhỏ lẻ...
Tuy nhiên, tổng giám đốc một DN xuất khẩu gỗ lớn nhận xét trong bối cảnh sức mua của thị trường thế giới giảm đáng kể, một số DN gỗ quay về thị trường nội địa nhưng vẫn loay hoay vì chưa tạo được sản phẩm có thiết kế phù hợp, không nắm bắt được xu hướng, nhu cầu khách hàng và chưa có hệ thống phân phối và giá bán hợp lý.
Ngay như Công ty Gỗ Đức Thành vốn có thế mạnh về đồ dùng nhà bếp bằng gỗ và đồ chơi gỗ, ít bị cạnh tranh, được khách hàng ưa chuộng nhưng vẫn chưa phát triển mạnh tại thị trường nội địa. Ông Lê Hồng Thắng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Gỗ Đức Thành, thừa nhận: Hiện doanh thu nội địa chỉ chiếm khoảng 20% tổng doanh thu của công ty.
“Tại thị trường nội địa chưa có những DN phân phối độc quyền, chuyên nghiệp nên Đức Thành vừa phải sản xuất vừa lo phân phối nên rất tốn kém nguồn lực, không chuyên môn hóa... gây trở ngại lớn cho chúng tôi” - ông Lê Hồng Thắng chia sẻ.
Khó khăn của Công ty Gỗ Đức Thành cũng là thực trạng chung của các DN ngành chế biến gỗ. Nhiều DN xuất khẩu rất mạnh nhưng khi tiếp cận thị trường nội địa gặp nhiều khó khăn vì hệ thống phân phối quá manh mún.
Theo báo cáo của Cục Chế biến, Thương mại Nông Lâm sản và Nghề muối (Bộ NN-PTNT), các DN gỗ lớn lâu nay chưa có sự quan tâm đúng mức đối với thị trường trong nước, đến khi muốn quay lại nội địa thì không đủ lực và kiên nhẫn để xây dựng lại từ đầu.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch HAWA, nhận xét hầu hết DN ngành gỗ Việt Nam chưa đủ tiềm lực, kiên nhẫn để làm việc này bởi đầu tư vào đây sẽ tốn nhiều tiền, thời gian thu hồi vốn chậm. Thế nhưng nếu không nhanh chân xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp ngay từ bây giờ thì sẽ để vuột mất cơ hội “tái chiếm” sân nhà.
Hiện tại, các tập đoàn nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, hệ thống phân phối chuyên nghiệp đã nhận ra điểm yếu này của các DN Việt và đang từng bước tiếp cận. Thái Lan, Malaysia đã mở cửa hàng phân phối tại TPHCM. Đến năm 2015, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với cam kết AFTA (Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN), gỡ bỏ hoàn toàn một số dòng thuế đối với hàng hóa của các nước trong khu vực. Đến lúc đó, khả năng cạnh tranh trên sân nhà là rất khó. (Người Lao Động 11/10)đầu trang(
Theo đơn khiếu nại (KN) của ông Võ Lâm Tùng (ngụ ấp 4, xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước) thì 3ha đất lâm nghiệp mà gia đình khai phá từ năm 1995 có nguồn gốc thuộc đất Lâm trường Bù Đốp.
Năm 2000, khu đất trên thuộc quy hoạch dự án phát triển kinh tế - quốc phòng và đã được UBND tỉnh Bình Phước phê duyệt tại Quyết định số 3178/QĐ-UB ngày 14/12/2000 về phê duyệt phương án sử dụng đất, bố trí lại đất sản xuất và ổn định cuộc sống cho các hộ dân xâm canh trong vùng dự án thuộc các xã Hưng Phước, Thiện Hưng, Thanh Hòa, Tân Tiến và Tân Thành huyện Lộc Ninh.
Ngày 8/1/2001, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 15/QĐ-UB thu hồi đất của Lâm trường Bù Đốp giao cho Binh đoàn 16 thực hiện Dự án “Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp quốc phòng an ninh Nam Đắk Lắk - Bình Phước” với diện tích 2.784,23ha, trong đó không có 3ha như trong đơn KN của ông Tùng.
Sau khi thu hồi đất, Trung đoàn 717 (thuộc Binh đoàn 16) triển khai thực hiện dự án, thì ông Tùng có đơn KN.
Ngày 2/7/2010, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1517/QĐ-UBND với nội dung bác đơn KN của ông Võ Lâm Tùng và 19 hộ.
Không đồng ý, ông Tùng có đơn KN đến Thanh tra Chính phủ.
Báo cáo số 13/BC-TTCP ngày 3/1/2012 của Thanh tra Chính phủ về kết luận kiểm tra, xác minh nội dung đơn KN, phản ánh của công dân các huyện Bù Đốp, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài (trong đó có đơn KN của ông Võ Lâm Tùng), nêu rõ: “Việc các hộ dân vào khai phá và trồng cây trên đất của các nông, lâm trường là không đúng quy định của pháp luật; UBND tỉnh Bình Phước thu hồi diện tích khai phá trồng cây trái phép này là đúng. Do vậy, việc dân đòi trả lại đất đã khai phá, trồng cây trái phép bị thu hồi là không có cơ sở giải quyết”.
Đồng thời, Thanh tra Chính phủ đề nghị UBND tỉnh Bình Phước “rà soát lại KN của từng hộ dân để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật; tính toán mức hỗ trợ phù hợp để hỗ trợ đối với diện tích cây trồng trước năm 2004 bị thu hồi mà chưa được hỗ trợ”.
Ngày 16/4/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 718/QĐ-UBND thành lập Hội đồng và Tổ công tác (Tổ Công tác 718) thẩm tra, rà soát lại đối với từng trường hợp cụ thể xem xét, hỗ trợ các hộ có cây trồng trên đất lâm nghiệp bị thu hồi trước ngày 1/1/2004, để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kết luận tại Báo cáo số 13/BC-TTCP của Thanh tra Chính phủ.
Kết quả thẩm tra, xác minh và rà soát theo đơn thư KN của ông Võ Lâm Tùng (đơn do Thanh tra Chính phủ chuyển về UBND tỉnh giải quyết) của Tổ Công tác 718 cho thấy: Ông Võ Lâm Tùng không có tên trong danh sách điều tra xâm canh lấn chiếm đất lâm nghiệp; không có đất bị thu hồi giao cho Trung đoàn 717 (thuộc Binh đoàn 16) nên việc đòi bồi thường cây trồng trên đất và yêu cầu trả lại đất là không có cơ sở xem xét, giải quyết. Hiện, gia đình đang sử dụng 1.170m2 đất do Trung đoàn 717 cấp. Qua làm việc trực tiếp, ông Tùng không cung cấp được chứng cứ mới so với kết quả giải quyết của UBND tỉnh Bình Phước trước đây.
Từ kết luận của Tổ Công tác 718, ngày 3/10/2012, UBND tỉnh Bình Phước đã ban hành Quyết định số 2011/QĐ-UBND bác đơn KN của ông Võ Lâm Tùng. Việc ông đề nghị cấp đất sản xuất cần làm đơn gửi UBND Bù Đốp để xem xét, giải quyết theo chính sách an sinh xã hội.
Quyết định này thay thế Quyết định số 1517/QĐ-UBND ngày 2/7/2010 của UBND tỉnh về giải quyết KN của ông Võ Lâm Tùng và 19 hộ ngụ tại xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp. (Thanh Tra 11/10)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Rừng là hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chính trong quan hệ tương tác sinh vật với môi trường. Tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng, tối ưu phải là 45% tổng diện tích, trong khi hiện Tây Nguyên chỉ khoảng 37%.
Những xưởng chế biến gỗ không phép đặt gần rừng, không gắn liền với vùng nguyên liệu, khối lượng gỗ để sản xuất ra các loại sản phẩm tiêu dùng nội địa chủ yếu là gỗ không có nguồn gốc, trôi nổi đang được xem là những "Ông trùm” đứng sau các vụ phá nhiều khu rừng phòng hộ, đầu nguồn của các sông suối... Đình chỉ hoạt động hàng trăm cơ sở chế biến gỗ trái phép ở vùng Tây Nguyên đang là giải pháp khả thi để cứu rừng.
Ai cũng thấy rõ ây Nguyên hiện có hơn 1.500 cơ sở chế biến gỗ, nhiều nhất là ở các tỉnh Gia Lai có 480 cơ sở, Lâm Đồng 420 và Đắk Lắk hơn 500 cơ sở. Chẳng ai biết được, bên trong nhiều khu xưởng cơ sở chế biến gỗ thiếu quy hoạch và thiếu sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ của các đơn vị chức năng nhưng rộng vài hecta này chứa những loại gỗ gì. Cũng chẳng ai trả lời được có bao nhiêu triệu m3 gỗ bị triệt hạ từ rừng Tây Nguyên đang được tập kết ở đây để chờ "hóa phép” đi tiêu thụ.
Nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay đối với các tỉnh Tây Nguyên để giữ rừng, không để tài nguyên rừng mất thêm, là sớm đóng cửa các xưởng chế biến gỗ trong rừng, gần rừng. Bố trí quỹ đất quy hoạch các khu chế biến lâm sản để chuyển các cơ sở chế biến lâm sản vào các khu quy hoạch, cụm, khu công nghiệp.
Gia Lai là tỉnh làm "mạnh tay” trong công tác kiểm tra, kiểm soát và đã xử lý nghiêm đối với những đơn vị vi phạm các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực hoạt động chế biến gỗ, đã kiên quyết thu hồi giấy phép và đình chỉ hoạt động 139 cơ sở chế biến gỗ có vi phạm. Tiếp đến là Đắk Lắk có 44 cơ sở đã bị đình chỉ hoạt động do sử dụng nguồn nguyên liệu không rõ nguồn gốc.
Một khi toàn quốc xây dựng và áp dụng các quy định về hệ thống kiểm soát, truy suất nguồn gốc gỗ hợp pháp sử dụng trong các cơ sở chế biến gỗ, rừng Tây Nguyên và rừng Việt Nam mới có thể tươi xanh. Rừng được cứu mới đảm bảo điều hòa không khí, nước, là mái nhà của động thực vật, tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo sự sống và sức khỏe con người… (Đại Đoàn Kết 11/10)đầu trang(
Dù lưu vực sông Đồng Nai hiện đã có 20 dự án thủy điện song với “nỗ lực” của nhà đầu tư (Tập đoàn CP Đức Long Gia Lai), sắp tới hệ thống sông này có thể gánh thêm 2 dự án nữa là 6 và 6A.
Do khu vực dự kiến xây thủy điện Đồng Nai 6 và 6A giáp ranh nhiều tỉnh nên Đồng Nai không thể đơn phương quyết định. Cảnh “cha chung không ai khóc” này khiến số phận 2 dự án treo lơ lửng. Phần đông chuyên gia về môi trường và người dân, dựa trên những luận cứ khoa học cũng như bài học thực tế cụ thể, không muốn Đồng Nai 6 và 6A được triển khai. Mà ở đâu cũng thế, bây giờ người dân quá sợ thủy điện rồi.
Về hình thức, luôn tồn tại ba mục tiêu cộng sinh nhau trong mọi dự án kinh tế, như các dự án thủy điện, đó là đóng góp vào lợi ích quốc gia; thu lợi cho nhà đầu tư và phục vụ cộng đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, ba mục tiêu ấy hiếm khi đồng hành, thậm chí “đá” nhau chan chát. Đích ngắm của các chủ đầu tư thủy điện là làm sao thu vén cho đầy túi nhờ bán điện và khai thác rừng, còn lợi ích cộng đồng là chuyện nhỏ.
Hãy nhìn vào đời sống hàng ngàn hộ dân ở hạ du các thủy điện Sông Tranh 2, Đắk Mi 4... tại Quảng Nam thì rõ. Mất đất sản xuất, nhà tái định cư không ở được, việc làm không có..., vậy thì điện sáng giăng giăng khắp núi đồi chẳng nghĩa lý gì khi nồi cơm của dân bản địa độn toàn khoai sắn!
Một tổn thất rất lớn nữa khó tìm lại được là mất rừng. Theo tính toán của Bộ Công Thương, với 1 MW công suất điện (ở miền Trung và Tây Nguyên), chúng ta mất 6,2 ha đất các loại (gồm 3,98 ha đất rừng, 2,2 ha đất canh tác và đất ở). Hầu hết các địa phương mất rừng không đủ đất để bố trí trồng mới, cũng hiếm chủ đầu tư nào chi tiền để trồng bù.
Từ năm 2006-2011, diện tích rừng Tây Nguyên giảm từ 2,98 triệu ha xuống còn 2,82 triệu ha… Vì vậy, mới đây Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã đề nghị đóng cửa rừng, dừng khai thác. Trước đó, giữa năm 2012, Bộ NN-PTNT cũng đã đề nghị tương tự. Điều đó cho thấy nhiệm vụ giữ rừng đang hết sức khẩn thiết. Những trận lũ kinh hoàng ở đồng bằng miền Trung gần đây chính là cảnh báo từ thiên nhiên, dù không mới nhưng hàm chứa lời nhắn gửi nhãn tiền: Ăn của rừng rưng rưng nước mắt!
Theo quy hoạch của Bộ Công Thương, cả nước sẽ có 1.097 thủy điện. Hiện 195 dự án đã vận hành, 245 dự án đang triển khai. Đợt kiểm tra tại miền Trung và Tây Nguyên vừa qua đã loại bỏ 52 dự án. Chắc chắn còn rất nhiều dự án thủy điện xứng đáng... bị khai tử nữa, vấn đề là mức độ giám sát và đánh giá trung thực của Bộ Công Thương cũng như chính quyền các địa phương đến đâu.
Trong bối cảnh như vậy, cách làm của tỉnh Quảng Nam đáng để học hỏi. Trong 44 dự án thủy điện đã phê duyệt, tỉnh này quyết định ngưng 19 dự án. Một nhát cắt tuy đau nhưng vẫn phải xuống tay bởi dân sinh là trên hết, như lãnh đạo địa phương đã nói: “Ngưng được cái nào mừng cho dân cái nấy”.
Quảng Nam làm được cớ gì các tỉnh khác không làm được! (Người Lao Động 12/10)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Chi tiêu hàng năm để bảo vệ các loài và môi trường sống của động thực vật ít hơn một nửa số tiền thưởng của ngành ngân hàng vào năm 2011, theo nghiên cứu của ông Stuart Butchart, tại Tổ chức BirdLife International ở Cambridge cho biết.
Mặc dù các chính phủ đã thông qua Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) vào năm 2010, nhằm giảm tỷ lệ tuyệt chủng các loài do con người gây ra và để cải thiện các khu bảo tồn vào năm 2020, nhưng tiến độ thực hiện đang rất chậm, một phần do chi phí tài chính thiếu.
Điều này xuất phát từ việc chính phủ không ưu tiên ngân sách cho bảo tồn. Việc chi từ 3-5 tỷ đô la để cải thiện tình trạng các loài bị đe dọa và ngăn chặn chúng tuyệt chủng, ít hơn so với giá một chiếc phi cơ mới của Hải quân Hoàng gia và ít hơn một nửa số tiền chi vào tiền thưởng của ngành ngân hàng.
Nếu chi tiêu cho các dự án bảo tồn không được chú trọng thì tốc độ tuyệt chủng của các loài sẽ diễn ra một cách nhanh chóng. Nhóm nghiên cứu của ông Stuart Butchart ước tính, để giảm nguy cơ tuyệt chủng cho tất cả các loài thì chi phí phải lên đến 76,1 tỷ đô la mỗi năm. (Đất Việt 12/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa