Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thời gian qua, một số địa phương, đơn vị sau khi cổ phần hóa chưa quản lý chặt chẽ, rà soát, lập quy hoạch và làm thủ tục chuyển giao đất đai từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, nên đất đai bị buông lỏng quản lý, tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng trái phép diễn biến phức tạp.
Để khắc phục tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, kiểm tra đối với diện tích đất có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn sai quy định...).
Theo đó, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT khẩn trương rà soát, kiểm kê hiện trạng đất và lập phương án quy hoạch sử dụng đất đối với diện tích đất chưa bàn giao cho công ty cổ phần, chưa bàn giao cho địa phương quản lý sau khi thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước (công ty, nông lâm trường quốc doanh).
Bên cạnh đó, báo cáo hiện trạng, đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng đất từ khi nhận bàn giao đối với diện tích đất đã bàn giao cho địa phương quản lý. Rà soát đối với diện tích đã bàn giao cho công ty cổ phần để xác định rõ diện tích đất còn và không còn nhu cầu sử dụng và cho việc sản xuất nguyên liệu phục vụ cơ sở chế biến để làm cơ sở đó, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ký hợp đồng thuê đất theo quy định hiện hành.
Hoặc yêu cầu công ty cổ phần làm thủ tục bàn giao cho địa phương quản lý theo đúng quy định hiện hành phần diện tích đất không còn nhu cầu sử dụng.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương triển khai, hoàn thành các công việc trên, lập báo cáo gửi Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT trước ngày 30/11.
Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT kiểm tra, đôn đốc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện, bảo đảm đúng tiến độ và tổng hợp, đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước 31/12.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ NN&PTNT chỉ đạo các công ty nông lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) đã thực hiện cổ phần hóa thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam, Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam, Tổng công ty Rau quả - Nông sản làm việc với Sở TN&MT các tỉnh, thành phố để được hướng dẫn và triển khai ngay việc rà soát hiện trạng đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ và Luật Đất đai, trình UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt.
Thủ tướng cũng yêu cầu làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất đối với diện tích đã giao mà công ty đang tiếp tục quản lý, sử dụng để sản xuất nguyên liệu phục vụ cơ sở chế biến của công ty.
Bộ NN&PTNT phải kiểm tra, đôn đốc các đơn vị liên quan hoàn thành công việc, và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 30/11/2012. (Thanh Tra 10/9)đầu trang(
Mới đây, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh vừa ký ban hành Công văn số 6718/UBND-TNMT yêu cầu một số sở, ngành và chính quyền các quận, huyện, thị xã rà soát đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất đối với các công ty nông, lâm nghiệp đã thực hiện cổ phần hóa và các nông, lâm trường trạm trại trên địa bàn TP. Qua đó tập hợp hồ sơ cổ phần hóa và xác định diện tích đất được sử dụng khi cổ phần hóa, báo cáo kết quả về UBND TP trước ngày 15-9-2012.
Đối với công ty trước đây trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giao Sở Tài Nguyên và Môi trường chủ trì cùng Sở Quy hoạch Kiến trúc và UBND các quận, huyện, thị xã nơi có đất phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện, báo cáo kết quả tổng thể về UBND TP trước ngày 25-11-2012.
Sở Tài nguyên và Môi trường cần có kế hoạch thực hiện đối với từng địa bàn, từng trường hợp, thực hiện theo nguyên tắc, đơn vị có đủ điều kiện thì xử lý, giải quyết trước. Các trường hợp có vướng mắc liên quan đến các Sở, ngành khác thì chủ động lấy ý kiến để giải quyết, bảo đảm tiến độ báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 30-11-2012 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với các công ty trước đây trực thuộc UBND TP Hà Nội, việc này giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Sở Quy hoạch và Kiến trúc và UBND các quận, huyện, thị xã nơi có đất để tiến hành xử lý, giải quyết đối với từng trường hợp, báo cáo kết quả tổng hợp về UBND TP trước ngày 31-12-1012.
Trong quá trình thực hiện, nếu phát hiện các trường hợp phức tạp, các trường hợp vi phạm pháp luật đất cần phải xử lý theo quy định của pháp luật thì Sở Tài nguyên và Môi trường đề xuất UBND TP chỉ đạo thanh tra theo quy định, làm căn cứ xử lý.
Đối với các nông trường, lâm trường, trạm trại chưa thực hiện cổ phần hóa, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Quy hoạch Kiến trúc, Kế hoạch và Đầu tư xây dựng kế hoạch kiểm tra, rà soát, phân loại, xử lý khắc phục vi phạm.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương kiểm tra, đề xuất chỉ đạo xử lý sau thanh tra việc quản lý, sử dụng đất của một số nông, lâm trường, trạm trại trên địa bàn huyện Ba Vì, báo cáo UBND TP trước ngày 30-9-2012. (Nhân Dân 11/9)đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Công văn số 6752/UBND-NNNT chấp thuận đề nghị giữ nguyên phân cấp quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường huyện Sóc Sơn như hiện nay.
Theo đó, Sở Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Sở Nội vụ, NN&PTNT hướng dẫn UBND huyện Sóc Sơn, Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội thực hiện có hiệu quả việc phân cấp quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường huyện Sóc Sơn theo quy định.
UBND TP giao cho huyện Sóc Sơn khẩn trương chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền các xã, thị trấn trên địa bàn tiếp tục thực hiện việc phân cấp quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường như hiện nay theo quy định tại Quyết định số 11/2011/QĐ-UBND ngày 2/3/2011 của UBND TP ban hành "Quy định phân cấp quản lý Nhà nước về một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015" và quy định hiện hành của Nhà nước.
Huyện Sóc Sơn hiện có 4.557ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng là 3.953ha. Rừng Sóc Sơn vốn là rừng trồng lâu năm, rừng thông, keo, bạch đàn đã già, có độ che phủ cao, thảm thực vật dày (0,5 - 1,5m). (Kinh Tế&Đô Thị 10/9)đầu trang(
Thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, Nhà nước từng ban hành nhiều chính sách ưu đãi, nâng mức hưởng lợi cho người dân trực tiếp tham gia trồng rừng. Ấy vậy mà sau hàng chục năm trồng rừng, nhiều nông dân ở U Minh Hạ lại nhận được thành quả lao động rất thấp. Vì sao?
Phóng viên báo Pháp Luật TP.HCM đã về tận U Minh Hạ để tìm hiểu nghịch lý này.
Ông Trần Ngọc Huỳnh (ấp 12, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, Cà Mau) là một nông dân nhiều năm liền sản xuất giỏi có tiếng ở xã Khánh Thuận. Nhắc tới ông, người ta nhớ đến một tấm gương cần cù, chịu khó, kiên trì bám đất, bám rừng. Có lần, ông được đài truyền hình tỉnh xuống quay phim, tuyên dương thành tích đã tìm tòi được giống mận An Phước về trồng trên bờ bao rừng, giúp gia đình và nhiều người dân quanh đây cải thiện cuộc sống.
Cánh rừng tràm ông nhận liên doanh liên kết cũng được mọi người đánh giá là tốt nhất khu vực Khánh Thuận. Ai cũng nghĩ rằng đến kỳ khai thác ông sẽ có được một số tiền lớn và sẽ giàu có lên.
Ông đã gìn giữ, chăm sóc cánh rừng này 16 năm qua, với một mơ ước nó sẽ là của cải làm thay đổi cuộc sống của gia đình mình. Ông kể: “Mỗi lần thấy khu rừng của mình bạt ngàn hơn, vợ chồng tôi vui sướng lắm. 16 năm sống lây lất bằng các nghề phụ là để lấy ngắn nuôi dài. Cánh rừng là tương lai của chúng tôi. Cuộc sống có thay đổi hay không là nhờ vào nó. Nhưng… chúng tôi không thể tin được khi nhận tờ giấy này”.
Ông Huỳnh lại chìa ra tờ “chiếu chỉ” cho chúng tôi xem. Theo đó, cánh rừng tràm trên 16 tuổi, với 20 ha sẽ khai thác được 494 triệu đồng. Sau khi chia cho Công ty TNHH MTV U Minh Hạ (gọi tắt là Công ty U Minh Hạ), trừ các khoản thuế, phí, ông Huỳnh còn lại đúng 184 triệu đồng, chưa được 1/2 thành quả lao động suốt 16 năm qua của cả gia đình ông.
“Năm 1997, khi về đây nhận đất trồng và bảo vệ rừng, tôi mang theo 12 lượng vàng và đầu tư hết vào đây. Nếu tính theo giá vàng thì bây giờ tôi chỉ thu lại được không tới 5 lượng. Điệu này, làm thêm một chu kỳ nữa chắc mạt luôn” - ông Huỳnh than.
Nhưng đó là mức thu hoạch cao nhất so với những nông dân ở rừng tràm khu vực xã Khánh Thuận này.
Ông Trần Văn Sơn (ấp 11, xã Khánh Thuận) kể: “Năm 2005, tôi được cho phép khai thác 10 ha rừng tràm, loại 10 tuổi. Sau ăn chia với Lâm ngư trường II, nay là Công ty U Minh Hạ, tôi còn lại 17 triệu đồng. Tính ra, mỗi 1 ha rừng tràm, sau 10 năm chăm sóc, bảo vệ, tôi được hưởng 1,7 triệu đồng, cũng tức là mỗi một năm, mỗi 1 ha rừng cho tôi thu nhập 170.000 đồng!”.
Tìm hiểu ở những cánh rừng tràm khác cũng thuộc lâm phần rừng U Minh Hạ, chúng tôi cũng nhận được cùng một tiếng than của người dân giữ rừng. Ông Phạm Văn Ngọt, một liên doanh trồng, giữ và bảo vệ rừng ở xã Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời, Cà Mau) chỉ thu được 10 triệu đồng sau 10 năm nhận giữ, trồng bổ sung cánh rừng hơn 20 ha. Và những người dân từng trải nghiệm qua công việc giữ rừng, trồng rừng tràm ở U Minh Hạ có cùng một đánh giá rằng mức hưởng lợi của những người trực tiếp trồng, giữ rừng tràm U Minh Hạ thua tiền công một đứa ở đợ.
Đi sâu tìm hiểu nguyên nhân vì sao người trồng rừng ở Cà Mau hưởng lợi quá thấp, chúng tôi phát hiện những loại “phí” lạ, chưa từng được Chính phủ quy định. Cũng như về tỉ lệ ăn chia, không thấy áp khớp vào đâu so với những quy định của Chính phủ, của các bộ, ngành về phân chia lợi ích cho người tham gia trồng, bảo vệ rừng.
Tại biên bản thanh lý hợp đồng khai thác, ăn chia lâm sản giữa Lâm ngư trường Trần Văn Thời với hộ liên doanh - liên kết Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (ngày 4-5-2006) thể hiện: Số tiền khai thác rừng tràm trên diện tích 28 ha rừng của bà Ẩn (10 năm trồng, bảo vệ) là 329 triệu đồng. Bà Ẩn bị trừ bảy loại thuế, phí, khoán gồm: khoán cá, thiết kế khai thác, thiết kế trồng rừng, phí thẩm định, thuế khai thác lâm sản, chi phí chung, chi phí nghiệm thu. Bảy loại khoán, phí và thuế này cộng lại hơn 64 triệu đồng. Sau khi nộp các khoản phí và chia cho Lâm ngư trường Trần Văn Thời, bà Ẩn còn được hưởng 54 triệu đồng!
Người dân ở rừng tràm còn bị thu một khoản kỳ lạ, chưa ở đâu có. Đó là tiền mua cá đang lội dưới sông. Tại biên bản đề năm 1999 thể hiện Công đoàn Lâm ngư trường Trần Văn Thời buộc 10 hộ dân phải nộp số tiền 2 triệu đồng (khoảng bốn chỉ vàng tại thời điểm thu) để có quyền… câu cá dưới sông trước mặt tiền đất của mình!
Ông Sáu Tài (Nguyễn Thanh Dân), một lão nông có gần 15 năm nhận đất khoán rừng tại xã Khánh Bình Tây Bắc, bức xúc: “Trên một thửa đất, chúng tôi bị đánh một loại thuế, hai loại khoán là khoán rừng và khoán cá. Còn phí thì không biết bao nhiêu mà kể. Mệt mỏi lắm nhưng đó là luật lệ ở rừng, không ai cãi được. Tôi đã gửi đơn thắc mắc, yêu cầu trả lời hoài nhưng có được ai trả lời đâu”.
Như trường hợp của ông Trần Ngọc Huỳnh nói trên, tổng doanh thu một chu kỳ rừng của ông là 494 triệu đồng thì đã bị nộp các khoản phí, khoán, thuế lên đến 86 triệu đồng. Hiện nay, phần lớn các loại phí, khoán này vẫn tồn tại.
Ngoài ra, người dân thắc mắc cái tỉ lệ ăn chia giữa chủ rừng với dân, trong đó các chủ rừng lấy từ 50% đến 60%, 70%... không biết căn cứ vào đâu. Trong khi đó, theo Nghị định 01/CP năm 1995 và Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Chính phủ thì mức hưởng lợi cho người dân tham gia trực tiếp trồng, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng nhiều hơn. Và cũng không có một quy định nào cho phép cùng lúc đánh thuế, phí, khoán nhiều như vậy.
Trả lời PV Pháp Luật TP.HCM về những điều trên, ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, cho biết đó là những hộ thuộc dạng liên doanh, liên kết, không áp dụng các chính sách phát triển rừng của Chính phủ. Đối tượng này được Cà Mau xem là đối tác hợp đồng kinh tế với các lâm ngư trường, thuận mua vừa bán.
Hóa ra từ lâu Cà Mau đã không cần áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển rừng của Chính phủ đối với việc phát triển hàng ngàn hecta rừng tràm. (Pháp Luật TPHCM 11/9)đầu trang(
Sở Tài nguyên - môi trường cho biết, theo kế hoạch sử dụng đất được tỉnh phê duyệt thì từ nay đến năm 2105, toàn tỉnh sẽ chuyển đổi gần 4 ngàn hécta đất rừng sản xuất sang đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản.
Được biết, từ năm 2011 đến nay, Đồng Nai đã chuyển đổi hơn 500 hécta đất rừng sản xuất sang đất sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân là do người dân chuyển sang trồng các loại cây khác đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngoài ra, Đồng Nai hiện đã quy hoạch 3 loại rừng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Đối với rừng phòng hộ và đặc dụng, tỉnh đã tiến hành đóng cửa từ nhiều năm nay và sẽ giữ nguyên diện tích. (Báo Đồng Nai 10/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Trước nguy cơ cây da cổ thụ trên đất nhà đang chết dần, ông Nguyễn Văn Cạn (ngụ thị trấn Long Bình, H.An Phú, An Giang) đã cho xây hàng rào bảo vệ cây da (ảnh). Ông Cạn cho biết, từ ngày có hàng rào, hạn chế được người và xe tới gần gây chấn động thân rễ nên từ đầu tháng 9, cây đã trổ cành, đâm tược trở lại.
Theo UBND H.An Phú, ước tính cây da này trên 350 tuổi, được người dân địa phương gọi là “ông cây”. Qua đo đạc, xác định cây cao trên 50 m, tàng lá xòe ra che phủ khoảng 500 m2. Huyện đã làm thủ tục đề nghị công nhận đây là cây da cổ thụ lớn nhất, đạt kỷ lục Guinness Việt Nam. (Thanh Niên 10/9)đầu trang(
Với mục tiêu giữ vững ổn định an ninh rừng trên địa bàn toàn tỉnh, không để xảy ra cháy rừng, phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, thực hiện triệt để các chủ trương, chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trên địa bàn, đổi mới tổ chức quản lý, bảo vệ rừng theo hướng xã hội hóa, sau 11 năm (từ 2001-2012), Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã đưa 186 kiểm lâm viên về công tác tại 402 xã trong toàn tỉnh.
Đến nay, công tác kiểm lâm viên địa bàn đã thực sự có bước trưởng thành về tổ chức, phương thức hoạt động, phát triển về số lượng và chất lượng.
Ông Nguyễn Phú Trinh, chủ trang trại tổng hợp (thôn Hải Tân, xã Hải Long), cho biết: Những năm qua, được UBND xã đã tạo điều kiện cho gia đình đầu tư phát triển rừng, đồng thời, kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã đã hướng dẫn gia đình cách trồng và chăm sóc rừng sản xuất. Với diện tích 3,5 ha, gia đình trồng keo, nuôi lợn rừng và cá, mỗi năm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng.
Ông Nguyễn Đăng Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Long, cho biết: Xã có tổng diện tích tự nhiên 1.915 ha, trong đó diện tích rừng 727,65 ha. Các năm qua, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã đưa kiểm lâm viên Nguyễn Thành Hưng về phụ trách địa bàn xã, tham mưu cho UBND xã xây dựng, triển khai thực hiện phương án quản lý BVR, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) theo phương châm “4 tại chỗ”.
Thành lập, kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 12/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách về BV&PTR, đồng thời xây dựng quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm, tập trung chỉ đạo công tác BVR, PCCCR. Tổ chức kiện toàn và duy trì hoạt động của các tổ BVR, PCCCR quản lý lâm sản tại thôn, bản. Nhờ đó, xã Hải Long đã thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; triển khai nhiều giải pháp quyết liệt về BVR, PCCCR, quản lý lâm sản.
Ngoài ra, kiểm lâm viên địa bàn đã tham mưu cho UBND xã đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật BV&PTR để người dân chủ động giữ rừng và phát triển rừng; đồng thời, tổ chức cho các hộ ký cam kết BVR, PCCCR; phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội như đoàn thanh niên, MTTQ, dân quân, tự vệ tham gia BVR, PCCCR có hiệu quả.
Với cách làm trên, tình hình an ninh rừng trên địa bàn xã từng bước được ổn định. Toàn bộ diện tích rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được bảo vệ an toàn, không xảy ra cháy rừng. Hầu hết các hộ dân trong xã đời sống được cải thiện, nhiều gia đình làm giàu từ nghề rừng. Đến hết tháng 8-2012, toàn xã có 132 trang trại tổng hợp, sản xuất nông - lâm kết hợp, trong đó có 5 trang trại cấp tỉnh, 27 trang trại cấp huyện. Độ che phủ của rừng năm 2011 là 54%. (Báo Thanh Hoá 11/9)đầu trang(
Ông Nguyễn Quân Chính, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị vừa kiểm tra công tác bảo vệ rừng ở xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh.
Những năm qua Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tích cực tham mưu UBND tỉnh các phương án PCCCR và tăng cường công tác bảo vệ rừng (BVR). Có kế hoạch cụ thể, phân chia mức độ cháy để huy động lực lượng PCCCR phù hợp. Tại các địa phương, Chi cục đã phối hợp bố trí lực lượng tại các chốt, các điểm để BVR, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động giúp người dân nâng cao nhận thức về công tác BVR…
Nhờ vậy, số vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại giảm dần qua các năm. Đối với xã Vĩnh Hà, công tác BVR được đặc biệt chú trọng. Địa phương đã chủ động thực hiện khá tốt công tác kiểm tra, BVR, xây dựng các phương án và tổ đội BVR. Nhờ vậy, từ đầu năm đến nay địa bàn chưa có cháy rừng xảy ra.
Về vấn đề thu hồi diện tích đất rừng, đồng chí Võ Văn Sanh, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà cho biết, tổng diện tích đất rừng trên địa bàn xã khoảng 2.200 ha thuộc các tiểu khu 558, 559, 560, 561, 574 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải quản lý và đã giao khoán cho công nhân trồng và bảo vệ.
Sau khi xã Vĩnh Hà có văn bản xin thu hồi diện tích đất tại các tiểu khu trên, tiếp nhận toàn bộ các hạng mục của Dự án 661 từ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã đầu tư và các hộ gia đình được Công ty giao khoán đất theo Nghị định 01/CP, xã tiếp tục quản lý, bảo vệ rừng theo chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Để đấu tranh, ngăn chặn tình trạng xâm hại rừng, chính quyền xã Vĩnh Hà cùng các tổ chức, đoàn thể và nhân dân đã có cam kết không vận chuyển lâm sản, chặt phá rừng. Lập các đội chốt chặn để BVR, tổ chức cho các chủ xe tự chế, xe công nông, xe cơ giới trên địa bàn ký cam kết không xâm hại, vận chuyển gỗ rừng…
Sau khi tiến hành kiểm tra thực địa và nghe báo cáo về công tác bảo vệ rừng ở Vĩnh Hà, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quân Chính đã đánh giá cao việc thực hiện công tác trồng rừng, BVR của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải, UBND xã Vĩnh Hà và Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh. Đặc biệt, biểu dương phương pháp quản lý xe tự chế, xe công nông mà xã Vĩnh Hà và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã thực hiện.
Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo ngành Kiểm lâm cần nắm bắt tình hình, tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý lâm sản nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản trái phép. Có kế hoạch luân chuyển cán bộ dài hạn và tổ chức quán triệt các quy định của Chính phủ, của ngành để tích cực phòng chống tiêu cực.
Trong quá trình trồng, chăm sóc và BVR, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải cần sử dụng đất có hiệu quả và tập trung công tác BVR. Về diện tích đất chưa bàn giao thực địa cho xã Vĩnh Hà, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải và UBND huyện Vĩnh Linh cần thực hiện các thủ tục còn lại để sớm bàn giao cho địa phương. Trong quá trình cấp đất, địa phương không nên chia đất bình quân cho các hộ dân, nhất là các hộ đã có đất sản xuất, nên ưu tiên giao đất cho người nghèo đang thiếu hoặc chưa có đất sản xuất… (Theo Quangtri.go.vn 10/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ở bang Hessen, vào giai đoạn trước năm 2001 có tới 110 đơn vị quốc doanh lâm nghiệp hạch toán độc lập, trong đó có 1 Vườn quốc gia, 1 Trung tâm tư vấn, 1 Trường đào tạo cán bộ lâm nghiệp còn lại là các lâm trường, với tổng số cán bộ, nhân viên lên tới trên 3300 người, mọi hoạt động của các đơn vị lâm nghiệp đều được bao cấp và thực hiện theo kế hoạch hàng năm.
Vào thời kỳ này rừng vẫn được quản lý theo nguyên tắc bền vững và quản lý rừng đa chức năng. Tuy nhiên xét về mặt kinh tế thì các lâm trường hoạt động kém hiệu quả.
Nguyên nhân kém hiệu quả trong hoạt động của các lâm trường quốc doanh được xác định là do sự can thiệp sâu của các cơ quan hành chính các cấp vào hoạt động kinh doanh của lâm trường, ngay cả trong việc tiêu thụ sản phẩm. Lâm trường phải tuân thủ thực hiện theo kế hoạch được áp đặt từ trên xuống, kế hoạch này được cho là quan liêu, thiếu thực tiễn và khả năng thực thi; biên chế cồng kềnh.
Tất cả những vấn đề trên dẫn đến hệ lụy là Lâm trường quốc doanh hoạt động một cách thụ động, triệt tiêu tính năng động sáng tạo, không có sự thống nhất giữ các lâm trường trong hoạt động và gặp khó khăn trong hạch toán kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế đó, vào năm 2001 bang Hessen đã tiến hành cải cách lâm nghiệp theo hướng:
- Trước tiên là tách chức năng quan lý nhà nước với chức năng kinh doanh, các cơ quan hành chính không được can thiệp vào hoạt động kinh doanh của lâm trường;
- Bỏ cấp quản lý hành chính trung gian, lâm trường trực thuộc trực tiếp Bộ Môi trường, Năng lượng, Nông nghiệp và Bảo vệ người tiêu dùng (Trước đây còn có cấp tỉnh và cấp quận/huyện tham gia quản lý lâm trường);
- Tổ chức lại 110 đơn vị lâm nghiệp thành một Lâm trường lớn (Cty mẹ) lấy tên Lâm trường quốc doanh Hessen Forst.
- Kế hoạch quản lý rừng trung hạn (10 năm) và hàng năm được Lâm trường trực tiếp xây dựng sát với thực tiễn, đảm bảo hiệu quả quản lý và được Bộ phê duyệt;
- Lâm trường được chủ động hoàn toàn trong việc thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, trong sử dụng lao động, sử dụng kinh phí được giao cũng như trong tiêu thụ sản phẩm;
- Tinh giảm biên chế: trong cải cách lâm nghiệp đã tinh giảm 1100 người, những người này không bị mất việc, một số được về hưu, số còn lại được hỗ trợ đào tạo để chuyển sang công việc khác.
Lâm trường Hessen Forst: Có tổng số 2.300 cán bộ, nhân viên, trong đó có Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, các phòng ban và 47 đơn vị trực thuộc.
- Các phòng chức năng gồm có 4 phòng: Tổ chức, nhân sự, Công nghệ thông tin và Pháp chế; Tài chính và ngân sách; Lâm sinh, Điều tra rừng, Sản xuất và Tiếp thị; Dịch vụ rừng cộng đồng, tư nhân và Bất động sản.
- Các phân trường hạch toán phụ thuộc (Cty con): gồm có 41 phân trường (FMU) được tổ chức lại từ các lâm trường trước đây. Trong các phân trường có các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ giúp việc và có các Trung tâm đào tạo; Bảo tồn; Giống cây trồng;
- Các tổ chức và đơn vị chuyên môn trực thuộc gồm có: Vườn quốc gia; Trung tâm dịch vụ Điều tra, lập kế hoạch và quản lý dữ liệu rừng (FENA); Trung tâm kỹ thuật; Bộ phận kiểm soát; Kiểm toán nội bộ.
Hessen Forst có nhiệm vụ: - Quản lý, kinh doanh rừng thuộc sở hữu nhà nước: 343.000ha, sản xuất gỗ 2 triệu m3/năm, lâm sản khác, quản lý bất động sản (đất đai), săn bắn và câu cá.
- Quản lý Vườn quốc gia Kellerwald.
- Quản lý 93% (296.000ha) rừng cộng đồng theo hợp đồng.
- Hỗ trợ các chủ rừng tư nhân thông qua các dịch vụ khuyến lâm và quản lý rừng theo hợp đồng (106.000 ha).
Mỗi phân trường của FSE quản lý trung bình 22.000ha, được tổ chức trung bình 12 tiểu khu trực thuộc, mỗi tiểu khu trung bình 2.500ha; các phân trường là đơn vị hạch toán phụ thuộc; mỗi tiểu khu có từ 3-4 cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp, bình quân mỗi nhân viên lâm nghiệp tiểu khu chịu trách nhiệm quản lý 1.500ha.
Về khai thác rừng: trước khi tiến hành khai thác, các phân trường được ký hợp đồng với các khách hàng mua gỗ trong phạm vi khu vực phân trường quản lý, trường hợp các khách hàng bên ngoài sẽ do FSE ký kết; chỉ tiến hành đấu thầu đối với các loại gỗ quý. Các phân trường được ký hợp đồng với các công ty khai thác gỗ có uy tín có chứng chỉ khai thác rừng để thực hiện việc khai thác theo kế hoạch và có sự giám sát chặt chẽ của cán bộ lâm nghiệp.
Hessen-Forst thực hiện dịch vụ đối với rừng cộng đồng và tư nhân theo hợp đồng tự nguyện về các loại việc sau: Lập kế hoạch hàng năm; trồng rừng, tái trồng rừng, bảo vệ rừng; xây dựng và bảo trì đường lâm nghiệp; Khai thác gỗ, phân loại gỗ và chuẩn bị bán gỗ; quản lý hợp đồng dịch vụ (hợp đồng của bên thứ 3); các biện pháp bảo vệ đường và an toàn giao thông trong rừng; quản lý tiếp thị gỗ, lâm sản; kiểm kê rừng và lập kế hoạch dài hạn; nghiên cứu và chuyên môn.
Lý do để các chủ rừng là cộng đồng và tư nhân lựa chọn hợp đồng với Lâm trường quốc doanh Hessen-Forst bởi vì đây là tổ chức của Nhà nước, giàu kinh nghiệm trong công tác quản lý rừng, mức phí thu thấp 3 EUR/ha.
Tài chính của Hessen Forst: Bộ Tài chính cấp cho Lâm trường hàng năm 30 triệu EUR (tương đương 830 tỷ VNĐ), cho 1ha là 90 EUR/ha (tương đương 2,5 triệu VNĐ/ha) để phục vụ lợi ích công cộng;
- Doanh thu từ khai thác và thương mại gỗ (bình quân khoảng 120 triệu EUR/năm);
- Thu từ các hợp đồng dịch vụ cho rừng cộng đồng và tư nhân theo quy định của bang (3 EUR/ha cho chủ rừng có diện tích từ trên 3ha).
Nhiều năm gần đây Lâm trường hoạt động có lãi. Kết quả doanh thu bình quân năm (2004-2009) là 173,3 triệu EUR, doanh thu bình quân 1 CBCNV là 69.500 EUR/năm (tương đương 1,92 tỷ VNĐ). (Nông Nghiệp Việt Nam 7/9)đầu trang(
Ở nước Đức ngày nay không còn lâm tặc, không còn người dân sống ở trong các khu rừng và sống phụ thuộc vào rừng. Nhận thức của người dân về vai trò của rừng đã đạt tới mức rừng là máu thịt của họ, là nơi thư giãn, nghỉ dưỡng, là nơi bảo vệ nguồn nước...; thậm chí nhận thức của người dân đôi lúc quá thái đi tới hành động cực đoan là biểu tình không cho khai thác rừng.
Có thể nhận thấy rừng ở bang Hessen được phân thành 2 loại nhưng không được đặt tên cụ thể. Loại thứ nhất được bảo vệ, không khai thác và được thiết lập là Vườn quốc gia (VQG Kellerwald-Edersee có diện tích 5.700ha); loại thứ 2 là những diện tích rừng còn lại được phép khai thác và sử dụng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững và quản lý rừng đa chức năng.
Ở bang Hessen Forst có những yêu cầu pháp lý bắt buộc bao gồm: Duy trì và phát triển diện tích rừng; quản lý rừng đa chức năng; kế hoạch quản lý rừng trung hạn (10 năm) bắt buộc; tránh khai thác trắng; loài cây phù hợp với thổ nhưỡng; không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Theo đạo luật lâm nghiệp của Hessen, chủ rừng phải quản lý rừng của mình theo hướng chuyên nghiệp và bền vững, dựa trên kế hoạch cũng như lợi ích công, quan tâm đến chức năng phòng hộ, sản xuất, bảo tồn thiên nhiên, giải trí và sinh thái cảnh quan.
Không có sự tách biệt giữa quản lý đất và quản lý rừng đối với những diện tích đất lâm nghiệp. Cơ quan lâm nghiệp chính là cơ quan quản lý chung về cả 2 đối tượng này.
Hồ sơ quản lý rừng được ghi chép tỷ mỷ, công phu và được lưu trữ bảo quản hết sức cẩn thận, có những hồ sơ lô rừng được xây dựng cách đây gần 200 năm vẫn còn được lưu trữ nguyên vẹn và vẫn được được cập nhật, bổ sung thêm thông tin nên rất thuận lợi cho việc lập kế hoạch quản lý rừng cũng như tra cứu phục vụ công tác nghiên cứu.
Cán bộ lâm nghiệp ở Đức được đào tạo kỹ lưỡng, đối với cán bộ đại học sau khi tốt nghiệp được tiếp tục đào tạo ở thực tiễn 1,5 năm trước khi chính thức được vào làm việc tại các cơ sở lâm nghiệp; đối với cán bộ trung cấp được đào tạo 3 năm cả lý thuyết và thực hành trực tiếp, đảm bảo cho cán bộ này thành thạo tất cả các kỹ năng làm việc tại hiện trường.
Tất cả cán bộ lâm nghiệp mà đoàn công tác tiếp xúc đều rất nghiêm túc và trách nhiệm với công việc, rất yêu rừng, yêu công việc của mình và tự hào về nghề rừng là để cho thế hệ mai sau.
Theo tính toán của các chuyên gia thì một hộ gia đình tư nhân có 4 người ở Đức có thể sống được bằng nghề rừng và tuân thủ nguyên tắc quản lý rừng bền vững thì cần tới 500ha rừng trở lên (con số này ở Phần Lan là 150ha).
Điều này cho thấy kinh doanh rừng là một công việc lấy số lượng thay cho giá trị, nếu chỉ quan tâm tới kinh tế đơn thuần thì giá trị kinh tế trên một diện tích mà rừng mang lại rất thấp và khó có thể làm giàu được từ các hoạt động lâm sinh.
Hessen Forst không phải trả tiền thuế sử dụng đất cũng như tiền thuê đất để trồng rừng, vì ngoài giá trị kinh tế, quan trọng hơn là rừng tạo ra môi trường môi sinh.
Có sự cạnh tranh giữa Hessen Forst với Cty tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ quản lý rừng cho cộng đồng và tư nhân. Tuy nhiên, Hessen Forst luôn có được uy tín cao đối với các chủ rừng, có được điều này chính là nhờ vào lợi thế và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ lâm nghiệp của lâm trường.
Chương trình giáo dục thiên nhiên cho học sinh ở các cấp đã được quan tâm. Lâm trường quốc doanh Hessen Forst trực tiếp tham gia hướng dẫn. Đây là chương trình có tác dụng tốt, giúp cho các em nhỏ gần gũi, yêu thiên nhiên, yêu rừng từ rất sớm.
Mô hình Lâm trường quốc doanh Hessen Forst là cần thiết để thực hiệnsứ mệnh quản lý rừng bền vững mà các chủ rừng tư nhân riêng lẻ khó có thể thực hiện tốt được.
Lâm trường quốc doanh là doanh nghiệp đặc biệt, cần có sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước trong các hoạt động công ích và không phải thuê đất và nộp thuế sử dụng đất.
Tổ chức lại Lâm trường quốc doanh ở Việt Nam sẽ rất khó khăn trong bối cảnh hiện nay do đời sống người dân sống trong rừng và gần rừng thấp, nhận thức về pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng còn rất hạn chế, lâm tặc nhiều; còn có sự xâm lấn đất đai của người dân với lâm trường nên rất khó khăn để bảo vệ rừng chứ chưa tính tới việc quản lý rừng bền vững. Vì vậy cần phải giải được bài toán này trong dịp tổng kết Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị về đổi mới sắp xếp lâm trường quốc doanh.
Khó có mô hình chuẩn về Lâm trường quốc doanh để có thể tổ chức cho tất các vùng miền của Việt Nam. Cần có thêm khảo sát nghiên cứu tiếp theo ở trong nước cũng như ở một số nước khác để có được mô hình tổ chức quản lý phù hợp
Hệ thống cơ quan hành chính lâm nghiệp ở Việt Nam khác xa so với bạn, ta có 2 hệ thống cơ quan ở cấp tỉnh và cấp huyện là lâm nghiệp và kiểm lâm, sự phối hợp giữa các cơ quan trong hai hệ thống này còn thiếu chặt chẽ và cát cứ trong hoạt động, điều này có thể gây lãng phí về nguồn lực nên về lâu dài cần nghiên cứu để nhất thể hóa các cơ quan lâm nghiệp ở mỗi cấp.
Cần nghiên cứu thực hiện quản lý rừng bền vững và đa chức năng (chức năng sản xuất, chức phòng hộ, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, cảnh quan du lịch nghỉ ngơi...) đối với tất cả diện tích rừng. Về lâu dài không nên tách biệt và phân loại rừng thành 3 loại là phòng hộ, đặc dụng và sản xuất như hiện nay.
Thực hiện quản lý rừng bền vững thì rất cần đội ngũ cán bộ lâm nghiệp có trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp cao. Do vậy cần đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan lâm nghiệp. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/9)đầu trang(
9-9, Ban Quản lý Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) đã công bô bản nghiên cứu khoa học của TS Phạm Đình Sắc (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam) cùng cộng sự thực hiện.
Kết quả đã tìm thấy 58 loài động vật không xương sống thuộc bảy lớp, 22 bộ đã được ghi nhận từ 21 hang động. Đây là kết quả bước đầu cho thấy sự đa dạng sinh học của các loài trong hang động, mở ra hướng nghiên cứu quan trọng với hệ sinh thái hang động. Trong 58 loài này, có nhiều loài mới lần đầu được công bố, gây sửng sốt đối với giới nghiên cứu động vật không xương sống. (Pháp Luật TPHCM 10/9)đầu trang(
Chiến dịch “Thiên nhiên tôi chọn” (Vote for nature) vừa được phong trào toàn cầu chống biến đổi khí hậu 350.org Việt Nam phát động với chủ đề trong năm đầu tiên: “Vì động vật hoang dã”.
Các hoạt động chính: vận động nhà hàng - quán ăn tại TP.HCM ký cam kết không buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trong danh mục cấm kinh doanh vận chuyển (từ tháng 10 đến 11-2012), cuộc thi toàn quốc thiết kế mẫu quảng cáo công cộng kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã (từ tháng 9 đến 11-2012), chuỗi sự kiện “Tiếng gọi nơi hoang dã” (từ tháng 9-2012 đến tháng 6-2013) để công chúng thảo luận về bảo tồn động vật hoang dã.
Riêng với trẻ em, chiến dịch đã thiết kế trò chơi giáo dục trực tuyến dạng flash “Cùng Bé Mầm tìm hiểu về động vật hoang dã” tại mục giải trí trên trang web www.vote4nature.350.org.vn và www.bemam.vn.
Công chúng quan tâm vấn đề này có thể cập nhật thông tin chiến dịch, tham gia các hoạt động trực tuyến tại trang web www.vote4nature.350.org.vn và www.facebook.com/vote4nature.
Chiến dịch "Thiên nhiên tôi chọn” sẽ kéo dài trong nhiều năm, với sự bảo trợ của Trung tâm Hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu (SCC). (Tuổi Trẻ 10/9; Pháp Luật TPHCM 11/9)đầu trang(
Kết thúc vụ trồng rừng năm 2012, tỉnh Bắc Kạn đã trồng được 11.000 ha rừng, trong đó có 8.300 ha trồng cây Mỡ, 1.800 ha trồng Keo và một số loại cây khác.
Trong vụ trồng rừng năm nay, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn triển khai khá tốt, hoàn thành sớm như Chợ Mới, Bạch Thông, thị xã Bắc Kạn.
Toàn tỉnh có 110 vườn ươm cây giống gồm hệ thống 30 vườn ươm của các lâm trường và 90 vườn ươm lẻ, vệ tinh cơ bản đáp ứng được lượng cây giống cho vụ trồng rừng.
Hiện vụ trồng rừng năm 2012 đã cơ bản kết thúc, tỉnh Bắc Kạn đã khuyến cáo người dân cần triển khai chăm sóc diện tích đã trồng, phát hiện kịp thời sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.
Hiện nay, tỉnh đang chỉ đạo các địa phương đăng ký kế hoạch trồng rừng năm 2013. Kế hoạch tạm giao là 10.500 ha, trong đó trên 9.700 ha rừng sản xuất và trên 700 ha rừng phòng hộ đặc dụng. (Chinhphu.vn 10/9)đầu trang(
8/9, tại vùng biển gần đảo Bình Ba (xã Cam Bình, TP.Cam Ranh), bà Nguyễn Thị Hòa (55 tuổi, trú thôn Bình Ba Tây, xã Cam Bình) đã thả một con đồi mồi dứa nặng 20 kg (tên khoa học là Chelonia mydas) về biển.
Con đồi mồi này do ngư dân địa phương bắt được khi khai thác thủy sản, bà Hòa mua lại với giá 1 triệu đồng. Trước đó, chiều 7.9, thấy người dân đưa một con đồi mồi nặng 23 kg đi tiêu thụ, bà Hòa cũng đã mua về với giá 1,1 triệu đồng và thả về biển.
Ông Đỗ Văn Đức, trưởng thôn Bình Ba Tây cho biết, khi biết các loại rùa biển quý hiếm bị bắt, bà Hòa thường bỏ tiền mua lại và phóng sinh. Ngày 31.8, bà Hòa cũng đã mua lại 2 con đồi mồi với giá 2,5 triệu đồng và thả về biển. (Thanh Niên 9/9; Vov.vn 9/9; Người Lao Động 8/9)đầu trang(
Năm 2012, toàn huyện phấn đấu trồng mới 200ha rừng. Tính đến hết tháng 8, toàn huyện đã trồng được 241ha, vượt 20% kế hoạch.
Rừng được trồng chủ yếu ở các xã như: Phúc Thuận 101ha, Thành Công 85ha Phúc Tân 43ha, Minh Đức 11ha…
Để đạt được kết quả trên, ngay từ đầu năm, huyện đã phối hợp cùng với UBND các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền tới các hộ dân chủ trương, cơ chế chính sách hỗ trợ về giống, phân bón khi tham gia trồng rừng; tổ chức các lớp tập huấn về cách trồng, chăm sóc cây cho các hộ trồng rừng. Hiện nay, diện tích rừng đang sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt trên 92%. (Đại Biểu Nhân Dân 10/9)đầu trang(
TP.HCM sẽ không phát triển đô thị vùng bảo tồn và vùng phục hồi sinh thái thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ.
Theo văn bản vừa được UBND TP.HCM ban hành, với diện tích hơn 37.000ha, rừng ngập mặn Cần Giờ được xem là lá phổi xanh của TP.HCM và là nơi lưu giữ nhiều giống gien động, thực vật quý hiếm. Năm 2001, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
Nhưng thời gian gần đây, tình trạng đước chết khô đã xảy ra ở hầu hết các tiểu khu ở đây, trong đó tập trung chủ yếu ở các tiểu khu 10A, 5B, 15A, 17, Lâm viên đảo khỉ Cần Giờ...Do đó, TP.HCM quyết tâm bảo tồn nghiêm ngặt các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trên địa bàn. (Tài Nguyên&Môi Trường 10/9)đầu trang(
Thực hiện chương trình trồng rừng năm 2012 (với tổng vốn đầu tư gần 1 tỷ đồng), đến nay, diện tích trồng cây phân tán và rừng phòng hộ ven biển đạt hơn 80.000/90.000 cây.
Dự kiến, đến giữa tháng 9/2012 sẽ trồng dứt điểm. Các loại cây được trồng nhiều là sao, dầu, xà cừ…
Mục đích của việc trồng rừng và cây phân tán nhằm góp phần bảo vệ môi trường, chống xói lở đất và tạo cảnh quan cho môi trường nông thôn. (Báo Bạc Liêu 10/9)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm TPHCM phối hợp Công ty Đại Thống vừa trao tặng hơn 150 phần quà, trị giá gần 100 triệu đồng cho học sinh nghèo, thầy cô giáo Trường Tiểu học Thạnh An, nằm trên ấp đảo Thiềng Liềng, xã Thạnh An, huyện Cần Giờ - TPHCM.
Người dân ấp đảo Thiềng Liềng sống chủ yếu bằng nghề giữ rừng, làm muối và đánh bắt cá. Hiện ở đây, điện, nước ngọt vẫn chưa đủ dùng, muốn vào đất liền, người dân phải đi bằng ghe gần 2 giờ. Theo ông Nguyễn Đình Cương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TPHCM, người dân ấp đảo Thiềng Liềng đã đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ - “lá phổi” xanh của TP. (Người Lao Động 11/9)đầu trang(
Sở NN-PTNT Đà Nẵng cho hay vừa tiếp nhận ảnh vệ tinh Landsat của Viện Bảo tàng thiên nhiên Hoa Kỳ chụp ngày 11/7/2012 khi quét qua bán đảo Sơn Trà (quận Sơn Trà, Đà Nẵng).
Qua đó có thể thấy tổng quan các vị trí của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đang và sẽ nguy có bị bìm bìm xâm hại.
Theo ông Nguyễn Hữu Tâm, chuyên viên Phòng Quản lý kỹ thuật (Sở NN-PTNT Đà Nẵng), qua phân tích các bức xạ quang phổ, chọn mẫu ảnh và kiểm chứng trên hiện trường theo các vị trí khảo sát, Phòng này đã đưa ra được bản đồ mô phỏng với các vị trí màu xanh được phân tích từ ảnh vệ tinh là vị trí dây lang bìm bìm đang xâm hại tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
"Qua bản đồ phân tích trên thì các diện tích giao cho các công ty du lịch đang bị dây bìm bìm phát tán với mật độ lớn và nguy cơ xâm hại rừng rất cao. Các diện tích ở khu vực Bãi Bắc bán đảo Sơn Trà đang lây lan gần tuyến đường quốc phòng. Tại khu vực này có tỉ lệ đa dạng sinh học cao, là khu vực sinh sống của nhiều loài thú quý. Vì vậy công tác diệt bìm bìm cần chú trọng ngay khi cúng chưa phát triển mạnh" - ông Nguyễn Hữu Tâm nói.
Ông cũng cho hay, sự phát tán dây lang bìm bìm tại bán đảo Sơn Trà nói riêng, Đà Nẵng nói chung được coi là mối nguy hại nghiêm trọng đối với sự đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng trên địa bàn TP. Do diện tích bị bìm bìm gây hại khá lớn nên không thể xử lý đồng thời tại nhiều vị trí.
Bằng nguồn ngân sách TP, từ năm 2005 đến nay Đà Nẵng đã tiến hành xử lý 870,35 ha dây lang bìm bìm xâm hại rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu bảo vệ cảnh quan Nam Hải Vân. Cụ thể năm 2005: 33ha, năm 2006: 50ha, năm 2008: 40ha, năm 2009: 70ha, năm 2010: 178,25ha, năm 2011: 499,1ha.
Tuy nhiên quá trình xử lý dây lang bìm bìm chưa được đồng bộ và tận gốc. Do nguồn kinh phí có hạn nên các lực lượng chức năng chỉ mới xử lý tại các vùng dây lang bìm bìm phân bố dày đặc mà chưa thể diệt các diện tích nhỏ lẻ phân bố rải rác trên diện tích lớn.
"Các diện tích bìm bìm thường lây lan khi tán rừng bị phá vỡ do quá trình làm đường, xây dựng công trình, cháy các thảm thực vật,... để lộ ra diện tích đất trống. Khi bìm bìm lây lan sẽ che kín mặt tiếp xúc của cây rừng với ánh sáng mặt trời từ đó tiêu diệt cây rừng, đồng thời lây lan với khuynh hướng mạnh" - ông Nguyễn Hữu Tâm cho hay. (Theo Infonet 11/9)đầu trang(
Đến chiều 10.9, Hạt kiểm lâm H.Hải Lăng (Quảng Trị) vẫn đang chăm sóc một con voọc chà vá chân nâu trong khi chờ ý kiến xử lý của lãnh đạo Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị.
Trước đó, chiều 7.9, ông Nguyễn Văn Thạnh (49 tuổi, trú thôn Xuân Lộc, xã Hải Chánh, H.Hải Lăng) đã phát hiện một con vật giống khỉ chạy vào sân phơi lúa nên gọi người thân bắt giữ, rồi báo cho cơ quan chức năng.
Ông Nguyễn Anh Thủy - Phó trưởng Hạt kiểm lâm H.Hải Lăng - cho biết đây là con voọc chà vá chân nâu đực, nặng chừng 20 kg, là loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, sống ở khá nhiều nơi trên nước ta nhưng đây là lần đầu tiên loài voọc chà và chân nâu được phát hiện tại H.Hải Lăng. (Thanh Niên 11/9)đầu trang(
Ban đầu chỉ có 3 con gà rừng, sau khi thuần hóa, đến nay anh Bùi Trọng Khang (ngụ ấp An Hòa, xã An Hảo, Tịnh Biên, An Giang) đã sở hữu bầy gà rừng nguyên chủng hàng chục con. Đây là bầy gà rừng được xếp là “đệ nhất” vùng Bảy Núi.
Tìm tới nhà anh Khang, chúng tôi cứ tưởng nhầm địa chỉ, bởi trước nhà anh Khang là một khoảng trống chẳng thấy nuôi con gà nào. Đến khi được chủ nhà dắt ra sân sau, chúng tôi ngỡ ngàng trước đàn gà rừng đang bay nhảy trên mái nhà.
Anh Khang kể: “Hôm trước có một người đem con gà trống nhà khoảng 2,5kg đến thả vào chuồng, lập tức con gà trống rừng bay đến đá tới tấp, làm con gà trống ta phản đòn không kịp. Nó bay nhanh lắm, đá cũng bạo. Tuy nhỏ con, nhưng hễ thấy con gà ta lớn cỡ nào, chúng cũng xông đến ra đòn cho bằng được. Với uy lực dũng mãnh, ra đòn nhanh, gà rừng lúc nào cũng thắng thế”.
Anh Khang là một giáo viên dạy môn Hóa Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong một lần đi dạy, thấy người dân trên núi bẫy được cặp gà rừng (1 trống, 1 mái), anh Khang mua lại đem về nuôi trong lồng sắt. Do đặc tính của gà rừng nhút nhát, mỗi khi gặp người là bay, nhảy loạn xạ, dễ bị tổn thương nên chẳng bao lâu 2 con gà rừng chết. Vốn đam mê nuôi gà lạ, anh Khang quyết tâm lên núi Cấm học cách thuần gà rừng. Khi bày tỏ việc muốn nuôi nhốt gà rừng trong lồng sắt, những bậc tiền bối tận tình chỉ kinh nghiệm nuôi sao cho hiệu quả.
Thấy cách thuần gà rừng cũng dễ, tôi về làm cái chuồng khoảng 50m2 sau nhà, phía trên bao lưới B40, rồi mua 3 con gà rừng (1 trống, 2 mái) thả vào thuần dưỡng. Trong chuồng, tôi còn thả vài con gà tre để gà rừng có bạn. Nếu chỉ thả riêng biệt gà rừng thì rất khó thuần. Nhất là lúc cho ăn, khi rải thóc vào chuồng nếu không có gà tre chạy lại ăn thì gà rừng không dám lại. Không bao lâu, những con gà rừng được thuần một cách dễ dàng.
Trên núi Cấm có ông năm Râu cũng biết thuần gà rừng, nhưng chủ yếu thuần hóa bằng cách cho lai với gà nhà. Còn anh Khang thì không làm như vậy. “Gà rừng là giống quý, nếu đem lai với gà nhà sẽ làm mất nguồn gen của chúng. Do đó, phải biết cách thuần hóa và giữ nguyên chủng giống gà rừng thì mới có giá trị” – anh Khang cho biết.
Sau một năm kiên trì thuần hóa, 2 con gà rừng bắt đầu đẻ, mỗi con đẻ được 7-8 trứng. Cũng giống như gà nhà, khoảng 20 ngày ấp ổ, đàn gà rừng con bắt đầu nở rộ. Lúc này, gà rừng mái không còn nhút nhát như trước, đàn gà con gần gũi với người nên ít tính hoang dã. Khi lớn lên, anh Khang còn đem gửi thả quanh quẩn sau nhà người thân không cần phải làm chuồng nhốt, mà gà cũng không bay về rừng.
Hơn 5 năm thuần gà rừng, anh Khang đã sở hữu một đàn gà lên đến cả trăm con. Hiện tại, anh bán bớt chỉ chừa lại 26 con, trong số đó có 20 con gà mái và 6 gà trống. Với số lượng gà mái như vậy, mỗi lần cho sinh sản nở ra hơn trăm chú gà rừng con. Hiện tại, mỗi tháng anh Khang cung cấp từ 1-3 con gà trống rừng cho khách du lịch. Một con có giá khoảng 1,5 - 2,5 triệu đồng, vậy mà không đủ để bán.
Thời gian tới, anh Khang dự định hùn với người bạn mở mô hình trồng nho kết hợp với nuôi gà rừng, gà tre Tân Châu… trên diện tích khoảng 1ha dưới chân núi Cấm để phục vụ khách du lịch. (Công An Nhân Dân 11/9)đầu trang(
Theo Ban Quản lý rừng đặc dụng Krông Trai thuộc địa bàn huyện quản lý, từ đầu năm đến nay đơn vị đã phối hợp với lực lượng chức năng phá hơn 9ha mía, sắn, lúa do người dân trồng trái phép trên đất rừng ở các xã Krông Pa, Ea Chà Rang, Suối Trai, Sơn Phước và Suối Bạc. Riêng tại khu vực Gò Dông và tiểu khu 213 thuộc xã Suối Bạc có gần 2,7ha.
Các diện tích trên đều không xác định được đối tượng vi phạm. Sau khi phá số diện tích hoa màu trồng trái phép này, đơn vị sẽ kiểm tra không để các hộ dân tiếp tục lấn chiếm đất rừng. Được biết, thời gian tới, Ban quản lý sẽ tiếp tục triển khai công tác này tại một số khu vực do đơn vị quản lý. (Đại Biểu Nhân Dân 8/9)đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn gửi UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến tình trạng giết hại Voi.
Quần thể voi của tỉnh Đắk Lắk hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là sự việc 2 cá thể voi mới đây bị chết tại Vườn Quốc gia Yok Đôn, đã gây bức xúc trong dư luận xã hội về thực trạng bảo tồn Voi ở địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các cơ quan, ban ngành chức năng tiến hành điều tra, xác minh làm rõ đối tượng giết hại 2 cá thể Voi tại Vườn Quốc gia Yok Đôn để xử lý nghiêm minh, nhằm răn đe, ngăn chặn tình trạng giết hại Voi tại địa phương, báo cáo Bộ trước ngày 30/9.
Được biết, Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Vườn Quốc gia YokDon phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành bảo quản xương của 2 cá thể Voi chết làm mẫu tiêu bản phục vụ trưng bày, giáo dục bảo tồn thiên nhiên tại Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam. (Chinhphu.vn 10/9)đầu trang(
Sau gần một ngày trời ngồi thuyền máy, chúng tôi bắt đầu du ngoạn bằng đường bộ trong đại ngàn xanh của Pù Mát. Ngỡ như mình đang lọt vào khu “vườn địa đàng xanh” của một thế giới thần tiên.
Vườn quốc gia Pù Mát vừa được UNESCO công nhận “Khu dự trữ sinh quyển tây Nghệ An”, có vành đai xanh lớn nhất Đông Nam Á, với diện tích hơn 1.303.285ha. Tuy nhiên, chúng tôi đã chứng kiến mối đe doạ từ con người tới môi trường sống của các loài động, thực vật ở đây.
Bằng chiếc thuyền nhỏ, ngược dòng sông Giăng để thưởng ngoạn vẻ đẹp nguyên sơ của khu dự trữ sinh quyển có một không hai ở khu vực Đông Nam Á. Từ đập Phà Lài (thuộc xã Môn Sơn, Con Cuông, Nghệ An) nhìn thốc lên hướng tây nam đã thấy bạt ngàn rừng nguyên sinh. Hai bên dòng sông đầy tiếng chim, muông thú líu lo; hai bên mạn thuyền, cá tôm bật tanh tách.
Anh Nguyễn Thanh Nhàn - Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Pù Mát không khỏi tự hào mình là người có thâm niên nghiên cứu và được sống gần gũi với thiên nhiên, muôn loài muông thú của khu rừng này hàng chục năm nay. Anh Nhàn cho biết: Hiện VQG Pù Mát có trên 2.494 loài thực vật, 931 chi thuộc 202 họ, trong đó có 68 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam.
Có hơn 132 loài thú, thuộc 11 bộ, 30 họ, trong đó có 42 loài thú lớn, 39 loài dơi và 51 loài thú nhỏ. Tiêu biểu các loài voi, hổ, sao la, vượn đen má trắng, chà vá chân nâu, khỉ đuôi lợn, mang Trường Sơn… Ngoài ra, VQG Pù Mát còn có 324 loài chim, thuộc 49 họ và 15 bộ, theo các mức độ thì có 3 loài ở mức sắp nguy cấp và 7 loài ở mức sắp bị đe doạ (như loài trĩ sao, công, gà lôi trắng, gà tiền). Hiện ở VQG Pù Mát còn có khoảng 86 loài lưỡng cư và bò sát, 83 loài cá, 459 loài bướm...
Sau gần một ngày trời ngồi thuyền máy, chúng tôi bắt đầu du ngoạn bằng đường bộ trong đại ngàn xanh của Pù Mát. Ngỡ như mình đang lọt vào khu “vườn địa đàng xanh” của một thế giới thần tiên. Đỉnh cao nhất của khu VQG này là đỉnh Pù Mát (khoảng 1.841m) nên được lấy đặt tên cho cả khu rừng. Còn lại hầu như độ cao của rừng khoảng trên dưới 1.000m. Nơi đây xuất hiện nhiều loài cây quý hiếm như sa mu, pơ mu, thông long gà, đỉnh tùng, sam bông trắng…
Sau bữa cơm nắm ở rừng, anh Nhàn mới bắt đầu kể câu chuyện về cây sa mu, loài cây quý hiếm và là niềm tự hào về loài cây di sản của đất nước Việt Nam. Được biết, khoảng cuối năm 1998, một số người dân tộc Thái thuộc xã Tam Quang, huyện Tương Dương trong quá trình đi rừng bị lạc sâu vào giáp khu vực thượng nguồn Khe Bu, gần biên giới Việt- Lào thì phát hiện những cây khổng lồ giống như những chiếc đũa thẳng đứng cắm giữa trời xanh mà họ không biết được đó là loài cây gì. Có người dân bản địa gọi đó là rừng “cây thần” nên không ai dám động đến.
Từ câu chuyện của người dân Tam Quang kể lại, cuộc hành trình đi tìm cây sa mu của đoàn cán bộ VQG Pù Mát bắt đầu. Đoàn gồm 10 thành viên cùng với một số dân bản Tùng Hương (xã Tam Quang, huyện Tương Dương). Xuất phát từ khu vực Khe Thơi, băng qua hết cánh rừng này đến cánh rừng khác, rồi vượt qua ngọn đèo Pù Xám đến đỉnh đèo Pù Xam Liệm…
Suốt 3 ngày đêm hết đi rồi lại ngủ giữa hun hút đại ngàn mà bóng dáng sa mu vẫn còn biệt tăm tích. Sang ngày thứ tư, đoàn “thám hiểm” mới bắt đầu chuyển hướng sang sườn tây của đỉnh Phu Đon Cắn, rồi hướng về đỉnh cao nhất Pù Mát. Thoạt nhiên từ xa xa, mọi người đã thấy quần thể cây cao đang hiện ra mờ mờ.
Tiến thẳng, mất gần 1 ngày trời nữa khi ấy mọi người mới thở phào được đứng dưới tán rừng sa mu - loài cây khổng lồ mà tưởng chừng chỉ có trong cổ tích. Họ đếm được 50 cây cao to gần bằng nhau. Cây sa mu ở đây được xác định là to nhất trong loài sa mu dầu ở miền tây Nghệ An, cao hơn 70m, đường kính 5,5m.
Cũng trong khuôn viên của VQG Pù Mát, cánh rừng săng lẻ vắt ngang hai bên Quốc lộ 7, đoạn qua xã Tam Đình, huyện Tương Dương. Toàn bộ cánh rừng nguyên sinh rộng gần một trăm ha. Hầu hết thân cây thẳng đứng, cao gần 70m, rừng có tán lá dày đặc, đủ các màu sắc, nào là trắng nhạt, xanh, vàng, đỏ nổi…
Mùa hè, miền tây xứ Nghệ được ví là “lò sấy Đông Dương”, nhưng đoạn Quốc lộ 7 qua xã Tam Đình có không khí mát lạnh nhờ rừng săng lẻ. Chị Lô Thị Lương - một người bán hàng dưới tán rừng săng lẻ tâm sự: Không ít người đi ngược về xuôi thấm mệt, khi qua đây chỉ cần vào chiếc võng của người dân mắc sẵn thân cây săng lẻ đánh một giấc, lúc trở dậy cảm giác khoan khoái, khoẻ mạnh.
Giám đốc Nhàn cho biết, ngoài nỗ lực bảo vệ của các cơ quan chức năng, phải kể đến công lao của ông Vi Chính Nghĩa - nguyên Bí thư Huyện ủy Tương Dương, Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Nghệ An (đã về hưu). Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, dân địa phương ồ ạt đi chặt phá rừng, trong đó có rừng săng lẻ.
Chứng kiến cảnh đau lòng này, ông Nghĩa (khi đó đã về hưu) xin chính quyền cho ông làm công tác bảo vệ rừng. Được huyện đồng ý, ông Nghĩa đi đến từng nhà để vận động bà con đừng phá rừng. Tin ông, người dân nghe theo... Để bây giờ, rừng săng lẻ xanh tốt đang hiển hiện. (Nông Thôn Ngày Nay 10/9)đầu trang(
Hằng ngày, trên tuyến đường Nha Trang - Đà Lạt (đoạn qua Khánh Vĩnh), có hàng chục xe máy ngang nhiên chở gỗ hộp, gỗ tròn phóng như bay về xuôi.
Dân chở gỗ chủ yếu là người địa phương. Họ chở gỗ thuê cho một số đầu nậu ở H.Diên Khánh và TP.Nha Trang. Anh Hà Nê (ở xã Sơn Thái) nói: “Họ chặt cây gỗ pơ mu, kiền kiền trong rừng. Cứ vài chục phút lại thấy 1, 2 chiếc xe máy chất các khối gỗ dài từ 1-3 m phía sau xe, mạnh ai nấy phóng như bay trên đường”.
Ông Nguyễn Tây, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Khánh Vĩnh thừa nhận có tình trạng nói trên và cho biết, các xe máy thường vận chuyển gỗ vào ban ngày, tập trung sáng sớm và trưa. Ông Tây phân bua: “Hạt đã tổ chức nhiều biện pháp, từ tuyên truyền đến kiểm tra kiểm soát, lập các chốt trên các tuyến đường.
Tuy nhiên, do đoạn đường này toàn là dốc núi, dài khoảng 30 km nên chúng tôi rất khó khăn để ngăn chặn. Nhiều lần nhận được tin báo từ cơ sở, lực lượng chức năng lên đến nơi thì họ đã tẩu tán hết; có khi bỏ xe, bỏ gỗ lại. Những người này cũng đặt những "trạm" báo tin, khi lực lượng chức năng kiểm tra là chúng báo cho nhau nên rất khó bắt được". Cũng theo ông Tây, từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm H.Khánh Vĩnh chỉ thu được 12 chiếc xe máy chở gỗ trái phép.
Khi đi dọc tuyến đường trên chúng tôi chứng kiến nhiều chiếc xe máy chở gỗ công khai. Gần trưa, quan sát từ một nhà dân ven đường ở xã Sơn Thái, chỉ trong vòng 1 giờ đã có hơn chục chiếc xe máy chở gỗ hộp, gỗ tròn cứ thế phóng ào ào. Những xe chở gỗ đa phần là xe cũ kỹ, có xe không có biển số, có xe thì biển số ở tỉnh khác, chở hàng trăm ký, nhưng chạy rất nhanh. (Thanh Niên 10/9)đầu trang(
Từng phá rừng, buôn trầm để làm giàu nhưng sau những lần vấp ngã, giật mình nghĩ đến câu nói “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, anh quyết định quay về ươm cây, trồng rừng để trả món nợ gây ra thời trai tráng. Đó là câu chuyện của anh Nguyễn Văn Tiến, chủ một cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng có tiếng ở huyện Hoài Ân.
Về xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân để nghe câu chuyện của người được ví như “thủ lĩnh ươm, trồng rừng”. Nhìn những mảng rừng xanh phủ kín dần trên những sườn đồi, ai cũng trầm trồ về sự đổi thay. Vùng đất nghèo khó năm xưa, nay đã trở thành vùng trọng điểm trồng rừng nhờ có sự góp công của nhiều người, trong đó có đôi bàn tay của anh Nguyễn Văn Tiến. Ít ai biết rằng, thời còn trẻ, dấu chân anh không sót bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào nơi rừng sâu để tìm trầm.
Nguyễn Văn Tiến kể, mình sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo, tuổi thơ đầy khó khăn, vất vả. Ba mất sớm, mẹ đau bệnh quanh năm, nhà lại đông anh em, những cơ cực đã nhen nhóm trong tâm trí tôi ý chí tự lập. Nhưng bước đầu lập nghiệp của tôi khi đó là theo lâm tặc phá rừng.
Tốt nghiệp THPT, thay vì làm hồ sơ thi đại học như bạn bè cùng lớp, Nguyễn Văn Tiến đầu quân cho một nhóm đi địu (tìm trầm) mong đổi vận. Vậy là tuổi trẻ chìm luôn dưới tán rừng già, ngược xuôi các tỉnh Tây Nguyên, cho đến Quảng Trị, Cao Bằng, rồi sang tận Lào, Campuchia…
Cuộc chiến của những người đi địu vô vàn nguy hiểm, dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc, sốt rét ác tính, rắn rết cắn, cây đè, thú dữ, lở núi, lũ quét… Nhưng, anh Tiến bảo chuyện này chưa thấm vào đâu so với chuyện luôn phải đối mặt với các băng nhóm tranh giành lãnh địa, cướp “hàng”, khi ấy mạng người mong manh lắm. Anh không nhớ rõ đã bao lần leo đèo, lội suối và bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, cùng máu đã đổ trên những cánh rừng nơi anh đi qua. Anh trầm ngâm kể: “Đận nào trúng trầm thì mấy anh em về sớm, còn không phải đi suốt hai ba tháng liên tục, hết lương thực lại ghé vào các bản làng mua rồi đi tiếp. 10 năm trời đánh vật với rừng, với trầm, tôi chứng kiến nhiều bạn bè gởi xác giữa rừng già!”.
Sau đôi ba lần trúng trầm, tích góp được một số vốn kha khá, anh chuyển sang buôn trầm. Luật bất thành văn trong nghề này là “tiền trao cháo múc”, để trở thành một lái buôn trầm cấp nhỏ trong tay phải luôn có vài trăm triệu đồng, buôn trầm lớn vốn lận lưng có khi lên đến vài chục tỉ đồng. Với ít vốn “lận lưng”, anh Tiến thuê nguyên một đội quân làm tay chân cho mình, rồi chính thức trở thành ông chủ lâm tặc buôn trầm cỡ nhỏ từ đó.
“Buôn trầm là hàng quốc cấm, một vốn mười lời, gặp thời phất lên như diều gặp gió, lỡ bị bắt coi như của đi thay người. Đã có không ít lái buôn sạt nghiệp, vào tù vì trầm”, anh Tiến chia sẻ.
Tận diệt hết cánh rừng này, anh Tiến lại cho quân sang khắp các cánh rừng khác. Anh nhớ lại: “Ngày ấy, tôi như con thú hoang, chỉ cần biết chỗ nào có thể có trầm là lập tức đưa quân lên tìm, kiếm, đốn hạ cây rừng không thương tiếc”.
Mỗi đường dây buôn trầm phải thiết lập cung đường bí mật riêng, luôn luôn nuôi nhiều “đàn em”, trang bị cả máy bộ đàm, xe ô tô, xe máy để hoạt động. Người thì chuyên đi bắt mối từ xa, người thì cắt rừng tạo đường vận chuyển thật an toàn kín đáo bí mật cho đường dây của mình. Kể đến đây, anh Tiến thở dài, chừng như chưa hết nỗi kinh hoàng và ám ảnh của những ngày băng rừng lội suối “lùng” trầm. Ấy là câu chuyện khoảng 2 giờ sáng một đêm tháng 7.1986, anh Tiến cùng anh em gom hàng ở Lào về cách cửa khẩu Lao Bảo (Đông Hà, Quảng Trị) chừng 3km thì bất ngờ từ trong rừng hơn 30 tên thổ phỉ bắn xối xả vào nhóm để cướp hàng. Lần ấy, chuyến hàng lớn gom cả tháng trời, bị cướp mất, tiếc lắm nhưng cũng đành phải bỏ của chạy lấy người. Thế là hơn 1 tỉ đồng mua trầm tan theo mây khói.
“Những lần thấm đòn máu, rồi trắng tay về quê không một xu dính túi. Những tháng ngày dài nằm ở nhà, nghĩ lại một thời “ăn của rừng”, tự mình nhận ra lỗi lầm của mình”, anh tâm sự. Không bao lâu sau, anh Tiến tiếp tục một cuộc hành trình trở lại với rừng, nhưng không phải để phá rừng…
Những cây dó bị hạ xuống để tìm trầm làm ngã biết bao cây xung quanh. Hàng trăm hay hàng nghìn cây, không còn nhớ rõ, nhưng trong giấc ngủ hằng đêm của anh, dó vẫn cứ đổ ầm ào. Bị ám ảnh mãi không dứt, anh nghĩ mình phải làm gì đó để trả nợ rừng.
Tại sao không đem cây dó về trồng? Phải trồng rừng, một ý nghĩ chợt lóe lên! Nhưng tay trắng phải bắt đầu từ đâu? Được các thợ bạn từng một thời theo anh bạt rừng động viên, anh Tiến thuê một mảnh đất, quyết tâm ươm dó, trồng cây tạo trầm. Anh nghĩ: Có thể không đền đắp lại được những gì đã gây ra nhưng đó là cách để phần nào chuộc lỗi với rừng.
Cuối những năm 80, anh bắt đầu cuộc hành trình mới, mày mò nghiên cứu cách ươm, trồng cây dó, keo, bạch đàn. Một lần nữa anh khăn gói vào rừng, không phải để chặt mà là nhổ cây dó con, nhặt hạt về ươm, trồng. Lấy cây mì làm bóng mát, anh trồng chen vào cây dó, nhiều người làm cỏ mì thấy cây lạ cuốc bỏ đi. Việc làm không giống ai, không ai hiểu của anh Tiến ngày đó khiến dân trong làng cho là anh bị ma rừng ám.
Nhưng, sự kiên trì với ý tưởng đem trầm về đồng bằng trồng của anh Tiến cuối cùng cũng có kết quả khi nhiều cây dó đã được ươm, trồng thành công. Nhiều người thấy thế, theo anh mua giống để trồng. Nhiều cây dó con được ươm thành công, anh trở thành người phân phối giống trong huyện, rồi xuất lên các huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), Kon Chrò (Gia Lai)...
Sau một thời gian chỉ bày cho nhiều người trồng dó, đích thân anh đi mua lại những cây dó từ 5 tuổi trở lên để khoan lỗ tạo trầm. Anh lại đi buôn trầm, nhưng lần này là làm ăn chính đáng ngay trên quê nhà, không lội rừng nguy hiểm lại giúp được nhiều gia đình khấm khá lên từ cây dó.
Năm 1998, Nhà nước có chương trình 327 trồng mới 5 triệu hecta rừng, anh Tiến nhận khoán trồng, chăm sóc khoảng 3 ngàn hecta. Dãy núi 32 Đồi Tranh, xã Ân Nghĩa, chết vì bom đạn, chất độc hóa học trong chiến tranh đã được hồi sinh. Rừng keo bạt ngàn của anh còn tạo công ăn việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động địa phương.
Nhận thấy nhu cầu trồng rừng ở đây rất lớn mà thiếu cây con, anh xin xã cho thuê khu đất trống sau chợ Kim Sơn làm vườn ươm keo. Từ ươm keo hạt anh mò tìm nghiên cứu sách báo, internet chuyển đổi từ keo hạt sang giâm hom keo lai. Vườn ươm của anh Tiến ngày một phát triển, sản xuất keo lai với số lượng lớn, xuất bán cho nhiều đơn vị, bà con trồng rừng trong và ngoài huyện.
Tiếng đồn gần, đồn xa, nhiều công ty, dự án trồng rừng đến đặt hàng. Cây giống của anh được nhiều người trồng rừng ưa thích vì anh luôn tuân thủ các quy trình kỹ thuật khi cắt cành, giâm bầu, công đoạn làm đất che chắn vườn ươm, hệ thống tưới nước phun sương bán tự động, đảm bảo tỉ lệ sống cao.
Hàng năm, cơ sở của anh cung cấp giống cho Công ty Lâm Nghiệp Sông Côn, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Ân, Dự án hỗ trợ sản xuất 135, Dự án khôi phục quản lý rừng bền vững (KFW6) huyện Hoài Ân, Chi nhánh lâm trường Bồng Lai, tỉnh Quảng Bình… Anh còn tận tình giúp đỡ nhiều gia đình trong huyện kỹ thuật trồng rừng và hỗ trợ cây giống. Thu nhập từ rừng đã làm thay đổi hẳn cuộc sống nhiều người dân ở đây, từ chỗ khó khăn đến thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Tham quan vườn ươm của anh, đi trong những luống hom vừa cho vào bầu thẳng tắp, hệ thống tưới nước tự động khắp vườn, những hom keo đâm chồi nảy lộc, chúng tôi không khỏi thán phục ý chí vượt khó vươn lên làm giàu của anh. Ngồi nhìn lại những cánh rừng xanh đến ngút tầm mắt, nơi sâu hút trong những vạt rừng chôn vùi thời tuổi trẻ, anh Tiến chợt rùng mình. Một thời nông nổi đã qua nhưng những căn bệnh của rừng vẫn còn đeo bám, thỉnh thoảng cơn sốt rét ập đến nhắc nhớ lầm lỗi một thời.
Những bài học xương máu đã dạy cho anh thấm thía cách đối xử với rừng. Và hàng ngàn hecta rừng được anh nhận trồng, chăm sóc ngày càng xanh ngay trên quê hương. Chia tay anh Nguyễn Văn Tiến giữa vườn ươm keo lai đang hối hả đâm chồi nảy lộc, chúng tôi mang theo tâm sự của anh Tiến “chỉ khi nào giữ được màu xanh cho rừng, tôi mới trả hết được món nợ đã gây ra với rừng”. (Báo Bình Định 10/9)đầu trang(
Công an tỉnh Gia Lai đã giao Công an huyện Ia Pa điều tra vụ giao 1.500 ha rừng cho 51 hộ dân trái quy định tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Ayunpa (BQL) dẫn đến rừng nơi đây bị phá sạch.
Công an đã triệu tập các ông Trần Đình Thanh, Nay Nhót (nguyên Trưởng, Phó BQL) để làm rõ các sai phạm; đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cán bộ liên quan. Không chỉ 1.500 ha rừng nêu trên bị phá mà hơn 4.000 ha rừng giao cho BQL trông coi cũng bị người dân phá, chiếm nhưng cơ quan chức năng không hề hay biết.
Sự việc vỡ lở khi mới đây Công ty CP Mía đường - Nhiệt điện Ayunpa (Gia Lai) xin quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy thì các cơ quan cấp tỉnh mới “té ngửa” số rừng trên bị mất. Theo ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai, năm 2005, BQL có Tờ trình xin giao khoán 1.500 ha rừng tại xã Pờ Tó, huyện Ia Pa (Gia Lai) cho 51 hộ dân để chăm sóc, bảo vệ, trồng bổ sung rừng.
Tờ trình này không được UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt nhưng từ cuối năm 2004, Trưởng và Phó BQL (ông Thanh, ông Nhót) đã giao 1.500 ha đất rừng với thời hạn 50 năm cho 51 hộ dân. Sau khi được giao khoán, thay vì thực hiện chăm sóc, bảo vệ thì họ đua nhau triệt hạ cây rừng. Đến nay rừng đã thành trang trại, đất nông nghiệp để trồng mía, cao su. Dân thấy cán bộ phá rừng nên cũng thi nhau phá. Hệ quả là hơn 5.400 ha rừng biến mất. Theo ông Trương Quốc Việt, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ia Pa, hầu hết những người được giao rừng là cán bộ và con em của cán bộ BQL và cán bộ xã Pờ Tó.
Đối chiếu thống kê, kiểm tra hiện trạng rừng cho thấy từ năm 2005 đến nay, BQL đã để mất gần 5.400 ha đất có rừng trong gần 20.000 ha rừng tự nhiên được Nhà nước giao cho Ban này quản lý. Lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đều cho rằng không hề biết BQL giao rừng cũng như không biết việc để mất hàng ngàn hecta rừng.
Được biết sau khi tỉnh giao công an làm rõ vụ mất rừng đặc biệt nghiêm trọng này, Công an huyện Ia Pa đã yêu cầu BQL cung cấp các tài liệu liên quan đến việc giao đất rừng nhưng BQL cung cấp không đầy đủ với lý do hồ sơ bị thất lạc. Còn các hộ dân nhận giao khoán hoặc đang canh tác trên diện tích rừng này cũng không cung cấp được các văn bản liên quan… (Tài Nguyên&Môi Trường 10/9)đầu trang(
10/9, tin từ UBND tỉnh Bình Thuận cho biết đã ra quyết định xử phạt hơn 45 triệu đồng, đồng thời tước quyền sử dụng giấy phép lái xe trong sáu tháng đối với tài xế Đỗ Kim Liên (ngụ Thanh Ba, Phú Thọ) về hành vi vận chuyển động vật hoang dã trái phép.
Được biết hồi đầu tháng 9, Hạt Kiểm lâm Phan Thiết phối hợp với CSGT kiểm tra, phát hiện xe tải 19B-002.52 đang vận chuyển trái phép 35 kg bọ cạp và 30 kg rắn hổ mang (động vật hoang dã quý hiếm nhóm IIB). Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã ra quyết định giao số động vật hoang dã trên cho Hạt Kiểm lâm Phan Thiết làm các thủ tục để thả chúng trở về môi trường tự nhiên theo quy định của pháp luật. (Pháp Luật TPHCM 11/9)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Dăm ba chục nghìn đồng từ những ngày đội mưa nắng mót quặng để đổi lấy mạng sống, khiến con thơ mất cha, mẹ già mất con, vợ mất chồng. Nỗi đau vẫn còn đấy, nhưng không mót quặng thì biết lấy gì để ăn.
Xã La Pán Tẩn, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái vẫn chưa nguôi sau nỗi đau lở núi làm 18 người thiệt mạng 2 người bị thương, đến nay, thi thể nạn nhân cuối cùng vẫn chưa được tìm thấy. Lực lượng cứu nạn vẫn miệt mài cuốc xới dọc con suối Khác Nha, còn người đi mót quặng thì vẫn nườm nượp xe máy ra vào rừng. Gặng hỏi một thanh niên với bì tải to chất sau xe mink, anh chỉ cười, đầu lắc lắc, tay xua xua như muốn nói không có gì. Những người phụ nữ trong bản đi đưa ma, đi làm rẫy về cho biết, đó là quặng, họ chở ra ngoài Tú Lệ .
Cũng chỉ vì những hòn quặng mang lại miếng cơm, manh áo bèo bọt mà hàng nghìn người dân xã La Pán Tẩn phải hàng ngày cặm cụi trên những dòng suối dữ, những vách núi nứt toác để mót quặng. Nỗi đau mất cha, mất chồng, mất con chưa nguôi thì họ đã phải nghĩ, ngày mai lấy gì, làm gì để nuôi những đứa con thơ. Cũng chỉ vì quặng mà gia đình Hảng Tồng Chua và Thào Thị Của cùng đứa con trai lớn Hảng A Giàng ở bản La Pán Tẩn phải bỏ mạng, để lại 2 đứa con thơ và người con dâu đang bụng mang dạ chửa.
Nỗi đau mất 2 em là quá lớn, khi mà Hảng Thị Là mới 17 tuổi và em gái Hảng Thị Sông 13 tuổi, đang theo học lớp 6. Chị Nù Thị Dế vừa về làm dâu được gần 1 năm, hiện đang mang thai, hỏi chị đã được mấy tháng, nhưng một lúc lâu chị vẫn không thể nhớ đứa con trong bụng được bao lâu. Cuộc sống lam lũ khiến chị chẳng có thời gian mà chăm bẵm cho đứa con trong bụng. Mới 21 tuổi, nhưng mặt chị đã sạm đi vì rám nắng. Giờ đây, bố mẹ cùng người chồng mất, để lại cho chị 2 đứa em, lúa trong nhà đã hết, chỉ trông chờ vào những bữa ngô qua ngày. Mặt chị lộ rõ vẻ lo lắng không biết lấy gì để nuôi hai đứa em chồng cùng đứa con sắp chào đời. Người chú ruột Hảng A Nắng cũng bị thương nặng đang điều trị ở BV Nghĩa Lộ.
Hảng Sông Tranh, hàng xóm của gia đình Hảng Tổng Chùa cho biết, người dân ở khắp bản La Pán Tẩn đều đi mót quặng. Nhà nào cũng có một vài người, có gia đình thì cả nhà cùng vào núi tìm quặng. “Có ngày mót được 2-3kg, cũng có ngày mót được vài yến, nhưng trung bình thì khoảng 5-6kg/ngày. Tìm được quặng rồi mang ra ngã ba Kim hay mang lên Tú Lệ, Nghĩa Lộ bán, có người thu mua”, anh Hảng Sông Tranh cho biết. Mỗi kilôgam quặng có giá từ 25.000 - 30.000 đồng, tùy theo chất lượng, thu nhập mỗi ngày mót quặng của người dân cũng được trăm nghìn đồng.
Anh Tranh tiết lộ: “Mỗi lần mưa lớn xuống, tìm quặng sẽ được nhiều hơn, vì kim loại từ trong núi chảy ra, xuôi theo dòng suối xuống. Có ngày sau trận mưa lớn, mót được đến cả tạ quặng”. Đề cập việc nguy hiểm đến tính mạng, anh Tranh lặp đi lặp lại: “Sợ chứ, sợ chứ, mưa xuống sẽ có lũ về. Mỗi lần đi mót đều phải vừa đi vừa trông chừng. Nhưng mà sợ vẫn phải đi mót. Ruộng nương ít lắm, không đủ thóc lúa ăn, lại còn mấy đứa con nữa cơ mà”.
Khu mỏ của Công ty CP Thịnh Đạt được cấp phép khai thác vào năm 2010, trên diện tích 2,25ha, thời hạn 7 năm. Ông Đỗ Xuân Thịnh, Giám đốc công ty cho biết, ngay trong buổi sáng bà con lên mót quặng, 2 bảo vệ của công ty đã ngăn cản nhưng không được. Nên khi vụ lở xảy ra, 1 nhân viên bảo vệ của công ty là anh La Văn Trận cũng bị vùi lấp theo. Đến 16h chiều, lực lượng cứu nạn mới tìm thấy xác, nhưng trên đường đưa thi thể ra ngoài, qua đoạn đường mòn, gặp núi lở, xác anh Trận lại bị vùi lấp. Phải đến 22h cùng ngày, lực lượng cứu nạn mới tìm lại được.
Ông Thịnh khẳng định, công ty không thu mua lại quặng của người dân được cũng như không thuê người dân đi mót để bán cho công ty. “Người dân mót được quặng rồi mang ra khu vực ngã ba Kim, hay lên Tú Lệ, thậm chí ra tận Nghĩa Lộ để bán. Chúng tôi đã nhiều lần nhờ chính quyền can thiệp để dẹp các đầu nậu thu mua để bà con sẽ không đi mót quặng nữa”, ông Thịnh nói.
Theo tìm hiểu, trên địa bàn 3 xã gồm La Pán Tẩn, Cao Phạ và Chế Cu Nha có 4 điểm khai thác quặng chì. Và tất nhiên, có hàng nghìn người dân ngày ngày đang đùa giỡn với tử thần để đổi lấy những hòn quặng. Ông Thịnh cho hay: “Thực ra, tôi cũng đã lường trước được sẽ có ngày sự việc xảy ra. Có thời điểm, người dân đổ xô vào mót sau mưa lên tới cả nghìn người, bảo vệ công ty không thể ngăn cản được. Chính quyền huyện Mù Cang Chải cũng tích cực vào cuộc khuyên bảo, rồi đề nghị các hộ ký cam kết không vào mót quặng, nhưng rồi cũng không ngăn được thảm họa”.
Có lẽ, cũng chỉ vì hai chữ “mưu sinh”, mà người dân nơi đây, dù nhìn thấy cái chết trước mắt vẫn phải làm. Vào tháng 4-2011, người dân ở La Pán Tẩn và các xã lân cận còn bất chấp nguy hiểm kéo hàng trăm người, gồm cả người già và trẻ con, lên khu mỏ thuộc quyền khai thác của Công ty khai thác khoáng sản Nam Hồng Hà ở bản Kháo Nhà, xã Cao Phạ, giáp ranh khu vực xảy ra vụ sập núi, dù trước đó đất đá trong lò sập xuống làm chết anh Lý A Dờ và bị thương 2 người là Lý A Chu và Hảng A Chua của xã La Pán Tẩn.
Gần cuối tháng 4-2011, UBND tỉnh Yên Bái đã cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cùng UBND huyện nổ mìn đánh sập cửa hầm lò để bảo vệ tính mạng cho người dân. Nhưng lò bị đánh sập, thậm chí cửa hầm đã được đổ bê tông, nhưng người dân vẫn phá thủng để vào mót, bất chấp lệnh cấm.
Song, cũng cần nói, điểm khai thác mỏ quặng chì của công ty CP Thịnh Đạt là khu vực rừng tự nhiên và rừng phòng hộ đầu nguồn. Vào thời điểm công ty được cấp phép, người dân đã kéo lên xã phản đối vì việc khai thác sẽ chặn nguồn nước tưới cho khu vực nương rẫy của La Pán Tẩn. Núi thì đào hầm, đào hào để lấy quặng, lòng núi rỗng. Rừng thì bị tàn phá.
Dù mệnh danh là đỉnh cao 2.100m trong hệ thống đèo núi Khau Phạ, nhưng đỉnh núi đã trọc lốc. Những cây gỗ to có giá trị bị đốn hạ ngổn ngang, nham nhở nơi gốc. Bằng cách cưa, xẻ thành từng đoạn, người dân vận chuyển ra dần bằng xe máy, thế là rừng cứ bị gặm nhấm dần đến nỗi, rừng đầu nguồn mà không còn mấy bóng cây cổ thụ. Đào núi lấy quặng, phá rừng lấy gỗ, lở núi có lẽ cũng là thảm họa nhìn thấy trước! (An Ninh Thủ Đô 11/9) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa