Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh cảnh báo cháy rừng các khu vực tỉnh Nghệ An từ ngày 11 đến ngày 17/7/2016 như sau:
Các huyện vùng đồng bằng Trung du, núi thấp: Nam Đàn, Nghi Lộc, Đô Lương, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Thanh Chương  cảnh báo cháy rừng cấp V (cấp  cực kỳ nguy hiểm);
Các huyện Miền núi cao: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Nghĩa Đàn cảnh báo cháy rừng cấp IV (cấp  nguy hiểm).
Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh yêu cầu cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, hạt Kiểm lâm, chủ rừng hãy tập trung cao nhất, chỉ đạo làm tốt công tác phòng chống cháy rừng:Thực hiện nghiêm túc chế độ thường trực 24/24 giờ hàng ngày tại các chòi canh lửa, văn phòng thường trực Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp, để phát hiện sớm, xử lý nhanh các tình huống cháy rừng xảy ra.
Bố trí lực lượng canh phòng lửa rừng, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng, nghiêm cấm việc sử dụng lửa, đốt xử lý thực bì trong rừng và ven rừng. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện kỹ thuật, hậu cần ứng trực sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi có cháy rừng xảy ra.
Khi phát hiện cháy rừng xẩy ra thì chủ rừng, chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm, phải nhanh chóng huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật, hậu cần cơ động nhanh đến hiện trường tổ chức chữa cháy. Sau khi dập tắt đám cháy, chỉ đạo UBND xã và chủ rừng tổ chức lực lượng để canh phòng, dập tắt tàn lửa, đề phòng cháy rừng bùng phát trở lại. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 11/7) đầu trang(
Rừng tự nhiên cũng như rừng trồng là tài sản quý giá của các quốc gia, dân tộc, là lá phổi xanh điều hòa không khí, nhiệt độ, hạn chế những tổn thất do thiên tai, lũ lụt gây ra; mang lại sự sống bền vững cho con người và các loài động, thực vật.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng và có lực lượng chuyên trách cho công tác này, song trên địa bàn cả nước tình trạng phá rừng diễn ra liên tục, nhiều năm, với hàng trăm ngàn héc ta rừng bị mất, để lại những hậu quả khôn lường.
Đặc biệt tình trạng di cư từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh miền Nam, Tây Nguyên đã gây nên tình trạng phá rừng trầm trọng để giải quyết vấn đề đất ở, đất canh tác cho những người mới đến lập nghiệp. Bên cạnh đó một số đối tượng bất chấp các quy định của pháp luật ngang nhiên phá rừng càng làm cho nguồn tài nguyên đất nước ngày càng cạn kiệt, lâm nguy.
Trước thực trang đó ngày 20/6/2016, tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo phải đóng của rừng tự nhiên, không chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp trong khu vực 2,25 triệu ha rừng tự nhiên hiện có sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai, trừ các dự án phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh quan trọng.
Không chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp. Phải đóng cửa các cơ sở chế biến gỗ rừng tự nhiên, coi đây là giải pháp quan trọng để ngăn chặn đầu ra cho nạn phá rừng, buôn lậu gỗ. Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng là rất kịp thời, kiên quyết nhằm bảo vệ những cánh rừng tự nhiên còn lại cho thế hệ mai sau.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, tình trạng phá rừng để lấy gỗ, lấy đất canh tác cũng đã diễn ra từ nhiều năm nay. Mới đây ngày 30/6/2016, Công an huyện Cam Lộ đã bắt giữ Nguyễn Thanh Sơn (47 tuổi), trú xã Cam Nghĩa, Cam Lộ để điều tra làm rõ về tội hủy hoại rừng.
Trước đó trong 2 ngày 16 và 17/5/2016, Nguyễn Thanh Sơn đã thuê Mai Xuân Cảnh (35 tuổi) và Nguyễn Cao Lãm (38 tuổi), cùng trú huyện Lệ Thủy, Quảng Bình tiến hành chặt cây, san ủi lấn chiếm đất rừng tự nhiên ở xã Cam Chính với tổng diện tích hơn 1 ha. Từ nguồn tin thu thập được và qua xác minh thực tế, Công an Cam Lộ đã phát giác vụ việc, bắt giữ đối tượng có liên quan để điều tra làm rõ.
Thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh đã xảy ra nhiều vụ phá rừng, riêng địa bàn 2 huyện Vĩnh Linh, Cam Lộ theo báo cáo của ngành chức năng có 4 vụ phá rừng tự nhiên. Ngoài vụ việc ở Cam Lộ như đã nói trên thì đáng lo ngại là tình trạng phá rừng ở miền Tây Vĩnh Linh diễn ra trong nhiều năm.
Khi đến một số khu rừng ở miền Tây Vĩnh Linh chúng tôi thấy dấu tích của nhiều con đường ngang, dọc mở vào rừng sâu để khai thác, vận chuyển gỗ. Đã có hàng chục héc ta rừng bị chặt phá, san ủi còn trơ ra lớp đất mới và được trồng lên đó nhiều cây lâm nghiệp chỉ có độ cao khoảng vài mươi phân.
Mới đây, huyện Vĩnh Linh đã thành lập đoàn kiểm tra tình trạng phá rừng tự nhiên phòng hộ ở xã miền núi Vĩnh Hà. Những năm trước đây, UBND xã Vĩnh Hà được giao quản lý một số diện tích rừng tự nhiên phòng hộ khá lớn, song từ năm 2015 đến nay do công tác quản lý không chặt chẽ nên người dân đã phá rừng phòng hộ để có được đất trồng rừng, khiến cho dư luận bức xúc.
Kết quả của đoàn kiểm tra cho thấy, diện tích rừng bị phá nằm ở khoảnh 11, tiểu khu 558, người dân phát, đốt trồng lại cây keo với diện tích hơn 5 ha. Nhiều cây rừng có đường kính thân 15-25 cm đã bị chặt phá. Trước đó vào thời điểm cuối năm 2014, Báo Quảng Trị cũng đã phản ánh nhiều vụ việc chặt phá rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 585, 586 trên địa phận xã Vĩnh Hà nhưng chưa xác định được chủ sở hữu, đơn vị quản lý rừng. Thực tế này cho thấy việc quản lý rừng phòng hộ ở huyện Vĩnh Linh còn nhiều kẽ hở.
Không những thế ở Lâm trường Triệu Hải nhiều diện tích đất rừng của công ty cũng bị người dân lấn chiếm. Đây là những diện tích rừng vừa được công ty khai thác, chuẩn bị đất để trồng mới. Người dân sống khu vực xung quanh tự ý vào phá, cuốc, đốt để đưa cây giống vào trồng. Tổng diện tích đất rừng của công ty bị người dân lấn chiếm lên tới hàng chục héc ta.
Ngày 29/6/2016, tại hội nghị sơ kết 6 tháng của Ban Chỉ đạo 389/ĐP, một cán bộ lãnh đạo Công an tỉnh cũng cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2016 đã bắt giữ 100m3 gỗ (là gỗ rừng tự nhiên). Điều đó cho thấy tình trạng phá rừng tự nhiên đã diễn ra ngang nhiên, nhiều nơi, cần có biện pháp xử lý kiên quyết, mạnh mẽ hơn.
Lâu nay khi để xảy ra các vụ phá rừng, lãnh đạo các ngành chức năng luôn đổ lỗi do thiếu cán bộ, địa bàn rộng, việc giao đất, giao rừng chưa rõ ràng. Theo chúng tôi đó không phải là nguyên nhân chính, mà quan trọng là chưa có các biện pháp bảo vệ rừng hữu hiệu.
Bên cạnh đó là thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ làm công tác bảo vệ rừng và chính quyền, các ngành, đoàn thể ở địa phương chưa cao, chưa làm hết trách nhiệm của mình. Hầu như cấp ủy, chính quyền địa phương và lực lượng chức năng rất ít khi bị kỷ luật do tình trạng phá rừng trên địa bàn. Do thái độ thiếu kiên quyết, cả nể, kỷ cương phép nước không nghiêm là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng phá rừng đến mức báo động như hiện nay.
Để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, cần khắc phục các lổ hỏng trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Kiên quyết bảo vệ rừng, phải đóng cửa rừng tự nhiên, đóng cửa các cơ sở chế biến gỗ rừng tự nhiên như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ mới mong bảo vệ được những cánh rừng quý giá của đất nước, địa phương. (Báo Quảng Trị 8/7) đầu trang(
Ngày 8/7, lực lượng của Bộ Công an phối hợp với Công an tỉnh Lâm Đồng triệt phá và bắt giữ một nhóm lâm tặc táo tợn đã xâm hại rừng phòng hộ khu vực lòng hồ Nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 trong suốt 2 năm.
Khu vực rừng quanh lòng hồ thủy điện Đồng Nai 5 với địa hình hiểm trở cùng nhóm lâm tặc hoạt động táo tợn và tinh vi. Sau khi nắm bắt được thông tin Bộ Công an đã ra quyết định cử lực lượng Cảnh sát từ TPHCM lên để lập chuyên án và triệt phá nhóm lâm tặc này.
Công an tỉnh Lâm Đồng đã cử hàng chục cán bộ chiến sĩ phối hợp với lực lượng của Bộ Công an, bí mật hành quân tiếp cận vị trí. Các trinh sát cải trang thành người câu cá, đi khai thác lâm sản phụ hoặc công nhân thủy điện để tiếp cận vùng rừng mà nhóm lâm tặc đang xâm hại.
Rạng sáng ngày 8/7, các trinh sát bố trí lực lượng và chặn các ngả thoát của các đối tượng. Cùng lúc, lợi dụng các đối tượng cảnh giới lơ là, mất cảnh giác vì mê theo dõi Euro, trận đấu giữa Đức - Pháp, lực lượng Cảnh sát đã ập tới bắt quả tang nhiều đối tượng đang lai dắt số lượng lớn gỗ lậu từ thuyền lên xe tải để đưa đi tẩu tán.
Khi bị phát hiện, các đối tượng bỏ chạy nhiều hướng khác nhau theo đúng dự đoán của các trinh sát. Một số cán bộ, chiến sĩ đã nổ súng bắn chỉ thiên nhưng các đối tượng không chấp hành hiệu lệnh mà bơi ra giữa lòng hồ hòng tìm đường tẩu thoát.
Vì đã có kế hoạch từ trước, nên lực lượng Công an đã không ráo riết truy đuổi mà đón lõng bắt giữ khi lâm tặc lên bờ hoặc chạy ra các cửa rừng ở các huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh và Cát Tiên.
Các đối tượng hoàn toàn bị bất ngờ và hàng chục tên lâm tặc đã bị bắt về trụ sở điều tra. Theo điều tra ban đầu, nhóm lâm tặc này đã tàn phá khu vực rừng quanh lòng hồ thủy điện Đồng Nai 5 được khoảng 2 năm nay với số lượng gỗ lên tới hàng ngàn mét khối.
Hiện cơ quan chức năng vẫn đang mở rộng điều tra những đối tượng có liên quan. (Công Lý 9/7, Tiền Phong 8/7) đầu trang(
Ngày 10/7, thiếu tướng Bùi Văn Sơn, Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng, cho biết: “Cơ quan điều tra Công an tỉnh phối hợp cùng Cảnh sát cơ động, VSND, Chi cục Kiểm lâm và Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B), Bộ Công an… tiếp tục kiểm tra hiện trường vụ lâm tặc phá rừng quy mô lớn tại khu vực lòng hồ Thủy điện Đồng Nai 5, thuộc địa phận xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm”.
Đối tượng “đầu sỏ” chính là Lê Hồng Hà (48 tuổi), quê Nghệ An, được giới buôn bán gỗ lậu trên thị trường quen gọi là Hà đen. Trong vòng 2 năm qua, đối tượng này đã cầm đầu đường dây khai thác, vận chuyển gỗ lậu từ tiểu khu 390, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, thuộc lâm trường do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc quản lý đi tiêu thụ.
Nhóm này đều có tay nghề, kinh nghiệm trong việc phá rừng ở Nghệ An và Quảng Bình. Họ được Hà kêu về làm việc với thù lao từ 6 đến 15 triệu mỗi tháng.
Ngày 10/7, thiếu tướng Bùi Văn Sơn, Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng, cho biết: “Cơ quan điều tra Công an tỉnh phối hợp cùng Cảnh sát cơ động, VSND, Chi cục Kiểm lâm và Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B), Bộ Công an… tiếp tục kiểm tra hiện trường vụ lâm tặc phá rừng quy mô lớn tại khu vực lòng hồ Thủy điện Đồng Nai 5, thuộc địa phận xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm”.
Đối tượng “đầu sỏ” chính là Lê Hồng Hà (48 tuổi), quê Nghệ An, được giới buôn bán gỗ lậu trên thị trường quen gọi là Hà đen. Trong vòng 2 năm qua, đối tượng này đã cầm đầu đường dây khai thác, vận chuyển gỗ lậu từ tiểu khu 390, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, thuộc lâm trường do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc quản lý đi tiêu thụ.
Nhóm này đều có tay nghề, kinh nghiệm trong việc phá rừng ở Nghệ An và Quảng Bình. Họ được Hà kêu về làm việc với thù lao từ 6 đến 15 triệu mỗi tháng.
Ông Trương Hoài Minh, Phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng), cho biết: "Hiện Bộ Công an cùng với lực lượng chức năng đã phối hợp với công an tỉnh, huyện bắt giữ 4 đối tượng cầm đầu, tạm giữ 8 đối tượng khác để điều tra, riêng Hà “đen” đã kịp thời tẩu thoát”.
Trước đó, rạng sáng 8/7, C49B bắt quả tang khoảng 20 lâm tặc đang "hành nghề". Các lâm tặc thừa nhận hành vi vi phạm và cho biết họ làm thuê cho một người tên Hà “đen”.
Thời gian hoạt động của một lâm tặc trong nhóm lâu nhất khoảng 2 năm, ngắn nhất từ 2-6 tháng. Các lâm tặc khai nhận số lượng gỗ mà họ khai thác lậu của Hà “đen” được tẩu tán, chuyển đến tiêu thụ dưới huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước).
Tổ công tác đã kết hợp công an tỉnh Bình Phước, kiểm tra hành chính một cơ sở thu mua gỗ tại huyện Bù Đăng.
Bước đầu tạm giữ 40 mét khối gỗ rừng không có giấy tờ liên quan được cho là mua gỗ của “Hà” đen và các đối tượng liên quan. Đồng thời cơ sở này cũng có 60 mét khối gỗ có giấy tờ, tuy nhiên đang làm rõ nghi vấn giấy tờ giả. Đồng thời, tiếp tục kiểm tra những công ty thu mua gỗ tại TP Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) có mua gỗ lậu của Hà “đen”...
Theo Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49, Bộ Công an), đường dây phá rừng và tiêu thụ gỗ lậu của Hà Đen mở rộng ra các tỉnh lận cận. Bộ Công an cùng Công an tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước phát hiện nhiều cơ sở tiêu thụ gỗ cho Hà ở TP Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm, huyện Đạ Huoai (Lâm Đồng) và nhiều tỉnh khác như Đăk Nông, Bình Phước.
Hiện, các lực lượng chức năng của Bộ Công an và tỉnh Lâm Đồng đã chia thành nhiều mũi chốt chặn ở nhiều địa bàn khác nhau như Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát Tiên và vùng giáp ranh tỉnh Đắk Nông để truy bắt những người bỏ trốn.
Các cơ quan chức năng cũng đang tiếp tục đi kiểm tra thực tế hiện trường các khu vực rừng phòng hộ bị triệt hạ để thống kê số lượng gỗ, làm cơ sở xử lý vụ án. (Đất Việt 11/7) đầu trang(
Sáng 10-7, tổ công tác Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B) Bộ Công an tiếp tục phát hiện một đường dây khai thác gỗ trái phép trong phạm vi 6 tiểu khu rừng với diện tích hàng chục hecta đất rừng.
Tổ công tác của C49B cùng Công an tỉnh Lâm Đồng đi hàng chục kilômet từ TP Bảo Lộc đến một khu khai thác, tập kết gỗ trái phép tại xã Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm).
Đi xuyên qua cánh rừng nguyên sinh, cơ quan chức năng phát hiện một bãi đất trống rộng nhiều hecta, thuộc tiểu khu 398.
Tại đây, hàng trăm cây gỗ lớn nhỏ bị đốn hạ chất thành từng đống, nhiều cây có dấu búa của kiểm lâm nhưng nhiều cây cũng không rõ nguồn gốc. Xung quanh là một dãy nhà xây dựng kiên cố cùng những lán trại tạm bợ...
Đại úy Nguyễn Văn Đạt, phó Phòng 3 (C49B), cho biết trong quá trình trinh sát nắm tình hình, phát hiện trên vùng lõi của khu rừng tự nhiên xã Lộc Bắc lại có một diện tích lớn rừng bị khai thác gỗ mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đóng các cửa rừng.
C49B đã lập kế hoạch đấu tranh, chặn đứng việc ai đã “hợp thức hóa” khu rừng bán cho công ty tư nhân khai thác gỗ trong thời gian qua.
Điều tra ban đầu cho thấy khu rừng này thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lộc Bắc (Lâm trường Lộc Bắc) là đơn vị được Nhà nước giao quản lý rừng.
Rất nhiều loại gỗ không được đóng dấu búa kiểm lâm, không được xác nhận về chủng loại cây để trà trộn.
Và cũng có nhiều loại gỗ cực quý hiếm, nhiều năm tuổi. Tổ công tác đã đến đây kiểm tra đánh giá lại làm căn cứ, tham mưu cho các cơ quan ban ngành xử lý.
Trong đó, các tiểu khu 398, 418, 419 lại không có báo cáo tác động môi trường của Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng nhưng đã được Lâm trường Lộc Bắc ký hợp đồng bán trái phép, giao cho Công ty TNHH MTV Thành Chí (Công ty Thành Chí, tại TP Bảo Lộc) khai thác.
Hợp đồng không hề có quyết định khai thác rừng, không được phép của cơ quan nhà nước. Đến nay, Công ty Thành Chí đã khai thác khoảng 70% diện tích của 56ha rừng.
Còn các tiểu khu 390, 391, 395 (thuộc xã Lộc Bắc) cũng được Lâm trường Lộc Bắc giao cho Công ty Thành Chí khai thác gỗ. Tuy ba tiểu khu này có thẩm định báo cáo tác động môi trường nhưng là vào năm 2013.
Đến nay, sau ba năm báo cáo này đã hết thời hạn, còn Lâm trường Lộc Bắc không lấy lại được rừng, Công ty Thành Chí lại đứng ra thay mặt cho đơn vị quản lý rừng Lâm trường Lộc Bắc, hợp đồng để làm đánh giá tác động môi trường.
Dù chỉ có hợp đồng, chưa khảo sát đánh giá về rừng nhưng đã ra quyết định cho Công ty Thành Chí khai thác tận thu, khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên để trồng cây cao su.
“Qua điều tra ban đầu của C49B, hồ sơ mà Công ty Thành Chí được cấp phép khai thác rừng được cho là rừng nghèo nhưng ở đây không phải là rừng nghèo, mà là rừng nguyên sinh. Như vậy là vi phạm nghiêm trọng” - đại úy Đạt nói.
Có mặt tại bãi tập kết gỗ trái phép mà C49B phát hiện, đại tá Phan Thanh Chương - trưởng Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49) Công an tỉnh Lâm Đồng - cho biết tại hiện trường có nhiều cây gỗ các kích cỡ khác nhau, có cây đã được kéo ra bãi, có cây cũng có đóng búa của kiểm lâm, có cây không có đóng búa.
Xét về quy trình thì chưa đảm bảo. Hiện chờ kết quả đo đếm của kiểm lâm đối chiếu với sổ sách để biết chính xác sai phạm.
“Đối với chúng tôi, rừng như thế này mà để khai thác coi như rừng nghèo thì có vấn đề. Cả khu rừng xung quanh đều là rừng nguyên sinh nhưng bây giờ cho khai thác đất sản xuất thì cần phải xem lại toàn diện để có những đánh giá chính xác.
Đặc biệt khi chúng tôi kiểm tra thì dự án đến nay chưa nhận được đánh giá báo cáo tác động môi trường của cơ sở” - đại tá Chương nói. (Thanh Niên 11/7) đầu trang(
Sau phiên tòa sơ thẩm lần hai xử vụ án “buôn lậu gỗ trắc” tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh-Chủ tọa phiên tòa, thay mặt HĐXX, đã ký văn bản quyết định, nêu 11 nội dung yêu cầu điều tra làm rõ.
Phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai diễn ra ngày 5 và 6/5/2016 (lần thứ nhất cũng trả hồ sơ, diễn ra trong hai ngày 30 và 31/10/2014), xét xử theo cáo trạng của VKSNDTC.
Cũng như lần đầu, lần thứ hai cả 5 bị cáo có mặt, gồm: vợ chồng chủ công ty TNHH một thành viên Ngọc Hưng (Cty Ngọc Hưng) là ông Trương Huy Liệu và bà Trần Thị Dung bị truy tố tội buôn lậu; ba công chức hải quan (ông Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành ở Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị và Đỗ Danh Thắng ở Cục Hải quan Đà Nẵng) bị truy tố tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị, thành phố Đà Nẵng.
Theo cáo trạng, ngày 17/12/2011, Cty Ngọc Hưng nhận lô gỗ tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị), chở trong 13 xe từ Lào, khai báo hải quan và nộp thuế. Hai ngày sau, lô gỗ được đóng vào 22 container, xuất sang Hồng Kông, trên đường chở xuống tàu ở cảng Đà Nẵng thì bị bắt giữ và ngày 6/4/2012 khởi tố vụ án “buôn lậu”.
Cáo trạng cho rằng “ông Trương Huy Liệu chỉ đạo nhân viên Cty Ngọc Hưng làm giả hồ sơ, tài liệu, sau đó sử dụng bộ hồ sơ này để nhập khẩu, xuất khẩu 614,672 m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định của pháp luật, trị giá 63.619.706.500 đồng”. Bà Dung “có hành vi góp sức cho ông Trương Huy Liệu”. Còn ông Nhi và ông Thành được giao nhiệm vụ kiểm hoá lô hàng xuất khẩu “đã không làm đầy đủ trách nhiệm được giao”. Ông Thắng cũng “không làm hết trách nhiệm”.
Trong 11 nội dung yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ, có 3 nội dung liên quan doanh nghiệp ở Lào đã bán lô gỗ cho Cty Ngọc Hưng. Đó là Nhà máy chế biến gỗ nội thất Lào, có ông Khamfong Vorabout đã ký các hợp đồng bán gỗ. Theo kết luận điều tra thì ông Khamfong Vorabout là Phó giám đốc nên trong hợp đồng bán gỗ cho Cty Ngọc Hưng ký với tư cách giám đốc là hồ sơ giả mạo, nhằm che giấu hành vi buôn lậu của Cty Ngọc Hưng.
Thế nhưng, cùng thời gian, Nhà máy chế biến gỗ nội thất Lào còn bán gỗ cho hai doanh nghiệp khác của Việt Nam, đều do ông Khamfong Vorabout ký với chức danh giám đốc; lại được khẳng định là thật, không có hành vi buôn lậu. Hơn nữa, cũng theo điều tra, xác minh của Đoàn công tác liên ngành Trung ương tại Lào “xác định ông Khamfong Vorabout là giám đốc”.
Hội đồng xét xử yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ các nội dung còn mâu thuẫn ấy và “để đảm bảo tính khách quan của vụ án cần trưng cầu hội đồng giám định khác hoặc cơ quan giám định khác (chẳng hạn Cơ quan giám định của Bộ Quốc phòng) tiến hành việc giám định”.
Có 3 nội dung yêu cầu làm rõ liên quan việc giám định lô gỗ. Theo kết luận điều tra, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật đã được Cơ quan điều tra trưng cầu giám định nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng Viện “về tư cách pháp lý của họ là chưa đảm bảo để tham gia giám định lô hàng”. Bởi, để có đủ tư cách pháp lý “họ phải được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc”, nhưng ở vụ án này họ chưa được phép của Bộ Tư pháp.
Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra chỉ trưng cầu Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật giám định lô hàng, nhưng viện này lại “rủ” thêm cán bộ kiểm lâm Vùng 2 tham gia “là chưa đúng quy định tại Pháp lệnh giám định về tư pháp”. Giám định còn đưa ra hai con số khác nhau của lô gỗ, lần đầu là 453,104 m3, lần hai là 614,672 m3, “vì vậy phải tiếp tục điều tra làm rõ, cần thiết phải giám định lại”, Hội đồng xét xử yêu cầu.
Về phương pháp giám định, phải “làm rõ cơ sở nào cơ quan giám định dùng phương pháp cân trọng lượng, sau đó quy đổi ra mét khối với loại gỗ xẻ thanh, gỗ xẻ đẽo hộp?”. Bởi vì, theo quy định của Bộ NN&PTNT, “với gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ đẽo hộp thì phải dùng phương pháp đo để tính khối lượng”.
Có 2 nội dung liên quan việc bán lô gỗ được yêu cầu làm rõ. Đó là “làm rõ việc Quyết định xử lý vật chứng bán đấu giá lô hàng có đúng quy định pháp luật Tố tụng hình sự hay không?”. Sau khi bán xong, Cơ quan điều tra đã chi hơn 3 tỷ đồng là dựa vào cơ sở nào, vì “vụ án vẫn đang trong quá trình giải quyết”?
Thêm 2 nội dung liên quan việc áp dụng quy định pháp luật, nội dung cuối được yêu cầu làm rõ với nhiều câu hỏi: “Làm rõ việc gia đình của Trần Đình Quang có nộp các tờ di thư kèm theo tờ giấy có ghi nội dung Quang bị ép cung cho Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị hay không? Chữ viết trong các tờ giấy đó có phải của Trần Đình Quang hay không? Trên cơ sở đó làm rõ việc Trần Đình Quang có bị ép cung hay không? Ngày 20/5/2013, Cơ quan điều tra (C44, Bộ Công an) có lấy lời khai của Quang hay không? Nếu có thì vì sao không có biên bản ghi lời khai trong hồ sơ vụ án?”.
Tại phiên tòa lần thứ hai trả hồ sơ để điều tra bổ sung, những thông tin liên quan đến anh Trần Đình Quang (nhân viên Cty Ngọc Hưng) chiếm khá nhiều thời gian. Bởi những lời khai của anh Quang dẫn đến kết luận vợ chồng ông chủ Cty Ngọc Hưng là ông Liệu và bà Dung buôn lậu lô gỗ trắc.
Khi ông Liệu và bà Dung bác bỏ cáo buộc hành vi làm hồ sơ giả, Chủ tọa phiên tòa đọc lời khai của anh Quang với C44 là được ông Liệu chỉ đạo làm giả hồ sơ nhập khẩu. Ông Liệu khẳng định không đúng sự thật và khai thêm, anh Quang là cháu ruột của ông, bị C44 triệu tập ra Hà Nội làm việc vào ngày 20/5/2013, sau đó về nhà viết đơn kêu cứu và tiếp tục nhận được giấy triệu tập nên sợ hãi, đã treo cổ tự tử sáng 22/5/2013, để lại di thư viết rằng bị ép cung. Ông cung cấp di thư cho Hội đồng xét xử.
Di thư được một luật sư đọc tại tòa, mở đầu: “Mình (Quang-PV) đến Bộ Công an theo giấy triệu tập mà tâm trạng nặng trĩu, vừa ám ảnh từ lần ép cung trước, vừa sợ bị trả thù, vì đã gửi đơn kêu cứu. Mình lo vì mình đã tố cáo hành vi của Trần Đức Dũng thuộc P4- C44 và bây giờ P4- C44 lại triệu tập mình đến để làm rõ vấn đề đơn cầu cứu”.
Bà Dung khai, trước khi treo cổ tự tử, anh Quang để lại 3 di thư, ngoài di thư trên, còn lại di thư cho người yêu và người thân. Theo bà Dung, lúc đó Công an huyện Hướng Hóa có mặt và muốn thu giữ những di thư nhưng gia đình anh Quang và nhiều người dân có mặt phản đối. Sau hồi giằng co, bản chính được Công an huyện Hướng Hóa giữ nhưng gia đình đã photo lại các di thư với dòng chữ “giấy này được photo từ bản gốc ra, có gia đình và cơ quan cảnh sát huyện Hướng Hóa chứng nhận”, kèm chữ ký của đại diện gia đình và Công an huyện Hướng Hóa.
Ông Liệu nghẹn ngào: “Tôi mang tiền để mua cho mẹ cái giường chữa bệnh thì bị bắt tạm giam và quy tiền đó là tang vật vụ án”. Tòa hỏi, ông trình bày chi tiết: ngày 19/12/2012, điều tra triệu tập ông ra Hà Nội, không có tội nên ông mang theo 60 triệu đồng để tính mua chiếc giường chữa bệnh cho mẹ; ngờ đâu bị bắt và thu giữ tiền.
Trong quá trình điều tra, C44 cho bán lô gỗ ngày 10/1/2014 và Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản của Sở Tư pháp Hà Nội bán được hơn 63 tỷ đồng, theo ông Liệu là rẻ so với thời giá khoảng 250 tỷ đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm lần hai, Chủ tọa hỏi đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan, việc bán vật chứng là sai, vậy số tiền hơn 3 tỷ đồng trích cho ngành Hải quan (hơn 2 tỷ cho Hải quan Đà Nẵng, gần 1 tỷ cho Cục Điều tra) hiện ở đâu? Đại diện Cục Điều tra trả lời: đang giữ ở tài khoản của Cục Điều tra. Còn đại diện Hải quan Đà Năng khai: Đã quyết toán. (Công Lý 9/7) đầu trang(
Hơn 50 ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ tại tiểu khu (TK) 229, 225, 228 … thuộc địa phận xã Phú Gia, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) đang bị lâm tặc đốn hạ, đốt phá để lấy đất trồng keo.
Trong quá trình tác nghiệp, PV Báo Người đưa tin nhận được phán ảnh của một số người dân địa phương về tình trạng tàn phá hàng chục ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ trong một thời gian dài tại huyện miền núi Hương Khê (Hà Tĩnh) để lấy đất trồng keo. Nhờ sự chỉ dẫn của một người đi rừng, PV đã tìm cách xâm nhập, tiếp cận để mục sở thị tình trạng phá rừng nơi đây.
Từ trung tâm huyện Hương Khê, vượt qua hơn 20 km đường rừng quanh co, hiểm trở, PV đã có mặt tại TK 229, thuộc địa bàn xã Phú Gia, huyện Hương Khê. Khi mới bước chân vào cửa rừng, một khung cảnh hoang tàn hiện ra ngay trước mắt.
Mặc dù cách khá xa trung tâm huyện, địa hình đồi núi, nhưng sau khi triệt hạ những cánh rừng, lâm tặc đã đưa máy đào vào làm đường, múc mương, phân lô, cát cứ, đánh dấu 'lãnh địa' để trồng keo tràm.
Vượt qua 3 con suối, đi sâu vào rừng, những cây gỗ có đường kính từ 30 - 50 cm bị đốn hạ còn trơ lại gốc, một số gốc cây còn ‘ứa máu’ tươi. Để thuận lợi cho việc phá rừng và tiết kiệm thời gian đi lại, lâm tặc còn đóng lán, dựng trại và mang cưa xăng, xe lôi, trâu kéo vào đây để phá rừng.
Thời điểm PV có mặt tại rừng, cách đó không xa tiếng cưa xăng vẫn đang thi nhau gầm rú, một tốp 4 - 5 người dân vẫn ngang nhiên lao những chiếc xe máy ‘tự chế’ vào sâu trong rừng bất chấp sự có mặt của người lạ.
Qua tìm hiểu được biết, TK 229 trước kia thuộc sự quản lý của BQLRPH Sông Tiêm (xã Phú Gia, huyện Hương Khê). Năm 2015, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định cắt chuyển hơn 1000 ha (trong đó có TK 229) về cho xã Phú Gia quản lý, để thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đến tận tay người dân.
Tuy nhiên, trước khi cắt chuyển, chủ rừng chưa thanh lý xong hợp đồng với các hộ dân nhận giao khoán theo Nghị định 135 trước đây nên xảy ra tranh chấp, không đồng tình với phương án thanh lý hợp đồng và cho rằng rừng đó là của các hộ dân: Phạm Lê Huân, Phạm Mạnh Tường… đều trú tại huyện Hương Khê (Hà Tĩnh). Những hộ này đã không chịu bàn giao trên thực địa cho chính quyền địa phương.
Theo thống kê chưa đầy đủ tại TK 229, có khoảng gần 40 ha rừng tự nhiên đã bị lâm tặc ‘xẻ thịt’, trong khi những cánh rừng nơi đây có vai trò phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước... cần được khoanh nuôi và bảo vệ.
PV tiếp tục thâm nhập vào TK 225, thuộc địa phận thôn Phú Lâm, xã Phú Gia, huyện Hương Khê (thuộc sự quản lý của BQLRPH Sông Tiêm). Không khác khung cảnh tại TK 229, hàng chục cánh rừng nơi đây cũng bị lâm tặc tàn phá một cách không thương tiếc. Trên đường đi lên núi không khó bắt gặp những gốc cây lớn có đường kính khoảng 30 - 40 cm vừa bị chặt ra, rải rác những khúc gỗ tròn, gỗ xẻ bị bỏ lại giữa đường.
Thấy sự xuất hiện của PV, một người đàn ông lạ mặt tiến lại gần có thái độ đe dọa và giật máy quay khi chúng tôi đang tác nghiệp. Sau khi được giải thích, người này rút máy điện thoại gọi cho ai đó rồi bỏ đi, nhưng vẫn ném anh mắt hằm hè về phía PV.
Ngoài TK 229, 225 tại các TK khác như 228 … vẫn xảy ra tình trạng người dân bất chấp quy định của pháp luật chặt hạ, đốt phá rừng để trồng keo một cách bất hợp pháp. (Người Đưa Tin 10/7) đầu trang(
Chiều 8/7, Công an tỉnh Ninh Thuận cho biết, nghi can đâm chết anh Lê Đình Tuệ, cán bộ lâm nghiệp Vườn quốc gia Núi Chúa vào tối hôm 7/7 đã ra đầu thú.
Theo ghi nhận ban đầu, nghi can tên là Nguyễn Hậu (30 tuổi, cư ngụ tại khu phố 10, phường Văn Hải, TP.Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận), đã dùng vật nhọn đâm chết anh Lê Đình Tuệ (34 tuổi), cán bộ lâm nghiệp thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa.
Theo lời khai: Thường ngày vợ chồng Hậu chuyên đi bắt trùn biển tại khu vực rừng ngập mặn thôn Mỹ Hòa, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận để bán lại cho các thương lái.
Ngày 7/7, Vườn quốc gia Núi Chúa tổ chức lực lượng đi tuần tra, không cho đào bắt trùn, Hậu đã cự cãi và rình chờ cán bộ trên đường về làng lấy xe, để đâm chết. Sau khi gây án, Hậu bỏ trốn và đến trưa 8/7 thì đến Cơ quan Công an tỉnh Ninh Thuận đầu thú.
Trước đó, sau khi tuyên truyền giải thích, vận động người dân không được đào bới gây hại cây rừng, đến chiều tối, lực lượng tuần tra ra về.
Riêng anh Tuệ cùng với một công an thôn về thôn Mỹ Hòa để lấy xe máy đã gửi khi vào rừng, thì một thanh niên cầm vật nhọn chạy từ phía sau đến đâm trúng anh Tuệ, làm anh Tuệ tử vong trên đường đi cấp cứu. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 9/7) đầu trang(
Bản chất của rừng tự nhiên luôn phong phú và đa dạng về lâm đặc sản, nhưng đã có không ít trong số đó dần dần trở thành những cánh rừng nghèo kiệt. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do con người.
Bằng cách nào đó, với nhiều động cơ khác nhau, những cánh rừng tự nhiên bị ngó lơ để lâm tặc khai thác. Và dĩ nhiên đến một mức độ nào đó, sự phong phú và giàu có của rừng trự nhiên sẽ trở nên nghèo kiệt. Cái logic ấy chỉ là bước đầu tiên trong mục tiêu chuyển đổi đất rừng sang mục đích sử dụng khác. Thực trạng này đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương có rừng.
Khu vực rừng bị phá thuộc tiểu khu 162, vùng giáp ranh giữa 2 địa phương là thị xã Hương Thủy và thị xã Hương Trà.Theo ghi nhận tại hiện trường, không chỉ đốn hạ nhiều diện tích rừng, các đối tượng còn châm lửa đốt cả thực bì.
Những dấu vết để lại cho thấy, vụ phá rừng không phải mới xảy ra. Những kẻ phá rừng mở hẳn một con đường dài gần 200 mét, rộng 3 mét này nhưng cũng chỉ được phát hiện khi nó đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Qua tìm hiểu, tiểu khu 162 có khoảng 66 hecta rừng tự nhiên, hiện do UBND xã Dương Hòa làm chủ rừng từ năm 2014. Dư luận đặt câu hỏi: Vậy, đơn vị quản lý ở đâu, khi liên tục để xảy ra những vụ việc tương tự?
Ông Lê Văn Thức, Phó chủ tịch UBND xã Dương Hòa, Thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế cho biết, tiểu khu này rất xa, trong quá trình truy quét gặp nhiều khó khăn, do giáp ranh xã Hương Thọ, xã Bình Thành, chính vì vậy trong quá trình đi tuần tra không được thường xuyên nên các đối tượng lợi dụng chặt phá. Với lại cán bộ địa chính được giao quản lý rừng phải làm nhiều việc khác, chỉ có 2 người
Mặt khác, UBND xã Dương Hòa cũng khẳng định đây chủ yếu là rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế không cao.
Thực tế đã chứng minh, bản chất của rừng tự nhiên luôn phong phú và đa dạng về lâm đặc sản, nhưng đã có không ít trong số đó dần dần trở thành những cánh rừng nghèo kiệt, mà nguyên nhân chính là do con người.  Đến đây, câu hỏi đặt ra là, vậy phải chăng, những cánh rừng tự nhiên này bỗng dưng trở nên nghèo kiệt?
Bằng cách nào đó, với nhiều động cơ khác nhau, những cánh rừng tự nhiên rất có thể đã bị ”ngó lơ” để lâm tặc khai thác. Và dĩ nhiên đến một mức độ nào đó, nó sẽ trở nên” nghèo kiệt”. Cái logic ấy chỉ là bước đầu tiên trong mục tiêu chuyển đổi đất rừng sang mục đích sử dụng khác. (ANTV 10/7) đầu trang(
Khi những giọt sương mai còn vương trên lá, đã nghe bước chân của họ, những người con của núi rừng nam Tây Nguyên, giữa mênh mông đại ngàn. Những năm qua, cộng đồng người Cơ Ho là lực lượng chủ chốt, góp phần giữ bình yên cho những cánh rừng, thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Bi-ang.
“Rừng chở che buôn làng, cho con thú chỗ trú, cho con chim chỗ đậu, rừng giữ nước cho con suối... Mình phải bảo vệ rừng như bảo vệ danh dự của dòng họ, buôn làng” - Già K’Rế khảng khái. Tuổi đời hơn 76 mùa rẫy, già K’Rế có 20 năm gắn bó với núi rừng Lang Bi-ang, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng). Nhiều thanh niên trong buôn làng “vận động” già nghỉ ngơi, việc quản lý, bảo vệ rừng để cho lớp trẻ, nhưng già bảo “không vào rừng, buồn lắm”.
Để thỏa ước nguyện của già K’Rế, Ban quản lý Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đã tạo điều kiện để già nhận quản lý, bảo vệ rừng ở gần nhà; làm tổ trưởng của bảy thành viên, quản lý hơn 200 ha rừng phía chân núi Bà.
Xuôi dòng ký ức, già K’Rế kể, từ năm 1995, già bắt đầu nhận khoán và bảo vệ rừng thuộc Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, phụ trách ba tiểu khu, khoảng 3.000 ha, quản lý 11 tổ bảo vệ rừng. “Xưa, rừng là của chung, khó bảo vệ lắm. Giờ khác rồi, rừng đã được giao khoán bảo vệ; rừng đã có chủ, phải bảo vệ rừng như giữ chiêng, ché nhà mình” - Già K’Rế thổ lộ.
Nam Tây Nguyên vào mùa mưa, vơi đi nỗi lo cháy rừng. Song, những người con của núi vẫn miệt mài tuân thủ kế hoạch tuần tra bảo vệ rừng. Họ bắt đầu chuyến tuần tra khi trời chưa tỏ mặt người, đến khi nghe tiếng con chim Tôu Wôu gọi bầy giữa trưa, nhóm bảo vệ rừng của “thủ lĩnh” Ha Pấc (xã Đa Nhim, Lạc Dương, Lâm Đồng) mới dừng chân nghỉ ngơi.
Trong rừng, hơn chục người trong đội tuần tra của Ha Pấc bắt đầu với bữa trưa vội vã. “Nhóm mình gồm 13 hộ dân ở xã Đa Nhim. Ba năm nay, nhóm hợp đồng với Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà nhận bảo vệ gần 300 ha rừng. Nhờ vậy, đời sống của bà con được nâng lên, đồng thời giữ được mầu xanh của rừng” - Ha Pấc tâm sự.
Công việc của nhóm là tổ chức kiểm tra, nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, dọn dẹp thực bì và phòng, chống cháy rừng. Ha Pấc cho biết: “Mình còn phân công các thành viên luân phiên phối hợp lực lượng kiểm lâm theo dõi, ngăn chặn được nhiều vụ phá rừng. Vui hơn là bảo vệ được những cây pơ mu quý trong khu vực rừng được giao khoán”. Vừa xong bữa cơm ăn vội giữa đại ngàn, anh Ha Tông góp chuyện: “Từ lúc nhận khoán bảo vệ rừng đến nay, nhóm mình chưa để xảy ra vụ chặt hạ gỗ trái phép, hoặc cháy rừng nào. Cả nhóm quyết tâm giữ vững thành tích này”.
Cũng như nhiều người Cơ Ho ở buôn làng Đa Nhim, hàng chục năm trước, cộng đồng người Cơ Ho tại các xã Đạ Sar, Đạ Chais, xã Lát (huyện Lạc Dương)… sống nhờ khai thác sản vật của rừng. Giờ đây, khi nhận thức được tầm quan trọng của rừng, họ đã chủ động nhận quản lý, bảo vệ rừng và được nhận tiền từ dịch vụ chi trả môi trường rừng hằng năm.
Có thể nói, họ đã chăm lo và bảo vệ rừng bằng phương pháp khác, khoa học và hiệu quả hơn. Già Ha Thanh (xã Đạ Sar, Lạc Dương), bộc bạch: “Ngày xưa nghèo khó, chỉ biết vào rừng hạ gỗ, tìm cây thuốc đem bán. Giờ nhà mình được giao khoán bảo vệ 30 ha rừng, đời sống ổn định rồi. Phải bảo vệ rừng như bảo vệ danh dự của dòng họ mới được”.
Khi người dân tham gia vào quá trình quản lý, bảo vệ rừng, sẽ hình thành nên mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa chủ rừng và cộng đồng. Bảo đảm quyền lợi cộng đồng, thực thi hiệu quả các chính sách của Nhà nước, thì việc quản lý bảo vệ rừng mới bền vững.
Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Lang Bi-ang, được giao quản lý hơn 70 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, diện tích rừng đặc dụng hơn 56,4 nghìn ha, rừng phòng hộ khoảng 13,6 nghìn ha. Hiện vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đã khoán 58.058 ha rừng cho 1.482 hộ đồng bào dân tộc thiểu số để bảo vệ, được chia thành nhiều nhóm, với kinh phí chi trả hằng năm hơn 20 tỷ đồng, từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng.
“Chúng tôi cho rằng, muốn giữ rừng phải dựa vào cộng đồng, “văn hóa rừng” của người bản địa, trên cơ sở chia sẻ lợi ích, để kết nối bảo tồn và phát triển, phải bảo vệ rừng bằng văn hóa mới bền vững” - Giám đốc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà Lê Văn Hương chia sẻ.
Lâm Đồng có 532 nghìn ha đất có rừng, độ che phủ rừng đạt 52,5%. Năm 2015, tỉnh đã giao khoán quản lý, bảo vệ rừng đối với hơn 337 nghìn ha, tổng kinh phí đã chi trả dịch vụ môi trường rừng là 163,5 tỷ đồng, với 17.073 hộ tham gia; trong đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 79%. Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Lâm Đồng Võ Đình Thọ cho biết: “Diện tích nhận khoán bình quân từ 20 đến 25 ha mỗi hộ. Thu nhập bình quân mỗi hộ từ tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ 9 đến 11 triệu đồng/năm (lưu vực sông Đồng Nai), và từ 7 đến 9 triệu đồng đối với lưu vực sông Sê-rê-pốc”.
Sự khác biệt của tỉnh Lâm Đồng với các tỉnh khác, là khoán rừng cho các hộ theo dịch vụ môi trường rừng, được thực hiện từ năm 1993. Tiền tồn quỹ được sử dụng để bù những khu vực có đơn giá chi trả khoán bảo vệ rừng thấp hơn 400 nghìn đồng/ha/năm. “Ngoài các dự án, tỉnh chi ngân sách để giao khoán rừng, nâng cao đời sống nhân dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, tạo sự gắn kết giữa người dân với rừng, hạn chế tình trạng phá rừng" - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng Lê Văn Minh chia sẻ.
Nam Tây Nguyên, mùa con chim Tôu Wôu cất tiếng. Mưa mênh mang núi đồi. Giữa lòng núi mẹ, những người con cao nguyên Lang Bi-ang ở đó để bảo vệ rừng, gìn giữ những miền xanh huyền thoại. (Nhân Dân 10/7) đầu trang(
Từ ngày các phương tiện ghe thuyền của người dân qua lại lòng hồ thủy điện Sông Bung 4 xuất hiện dày đặc, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã “mất ăn mất ngủ” canh giữ khu rừng lim hiếm hoi còn sót lại giữa đại ngàn Trường Sơn.
Do đặc thù công việc, hơn 2 năm nay nhiệm vụ tuần tra hằng ngày của lực lượng kiểm lâm thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung (Nam Giang) bằng đường thủy nhiều hơn đường bộ. Tổ công tác gồm 8 kiểm lâm, nhân viên bảo vệ rừng thường xuyên đi làm nhiệm vụ bằng thuyền. Khu vực thường xuyên kiểm tra là rừng lim cổ thụ nằm ở thượng nguồn con suối Lăng.
Trước đây khu vực này rất cách trở, nhưng khi lòng hồ thủy điện Sông Bung tích nước để phát điện thì vô tình trở thành con đường huyết mạch cho lâm tặc đưa gỗ lậu về xuôi. Kiểm lâm viên Nguyễn Thành Long cho hay, vận chuyển gỗ bằng đường thủy rất khó phát hiện.
Nếu không kiểm soát chặt chẽ ở vòng ngoài thì rừng lim quý này đến bây giờ không còn nguyên vẹn đâu. Theo cán bộ kiểm lâm, quần thể lim nơi đây trải rộng khắp với mật độ dày đặc, nhiều cây có đường kính 2m. Sở dĩ tài nguyên rừng này may mắn chưa bị tác động bởi con người bởi nằm ở chốn thâm sâu cùng cốc, đường giao thông chưa tiếp cận.
“Vương quốc” lim nằm giữa vùng giáp ranh giữa 2 huyện Nam Giang và Tây Giang. Lo sợ trước nguy cơ bị tàn phá, chính quyền huyện Tây Giang đã khẩn cấp lập tờ trình kiến nghị cấp trên cần có cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt. Với quyết tâm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, lãnh đạo huyện Tây Giang từng đề xuất UBND tỉnh xem xét, dừng ngay dự án mở đường từ xã Zuôih (Nam Giang) qua xã Lăng (Tây Giang) đi xuyên khu rừng qua địa bàn huyện.
Chủ tịch UBND huyện Tây Giang - ông Bhling Mia cho biết, tuyến đường giao thông nối xã Zuôih với xã Lăng dài 32km khởi công từ năm 2012. Tuyến đường này đã thi công hoàn thành giai đoạn 1 với chiều dài 8km qua địa phận huyện Nam Giang. Giai đoạn 2 nếu tiếp tục triển khai qua địa phận huyện Tây Giang sẽ tác động nghiêm trọng đến cánh rừng lim.
Cho nên, chính quyền địa phương kiến nghị điều chỉnh mở lại tuyến đường theo hướng khác, tránh ảnh hưởng đến rừng lim. Việc chính quyền huyện Tây Giang lo xa là hoàn toàn có cơ sở, bởi còn nhớ năm 2012, khi xây dựng thủy điện Sông Bung 2, lâm tặc đã triệt hạ hơn 120m3 gỗ lim tại khu vực đầu nguồn xã Zuôih. “Chúng tôi sẽ vận động đồng bào mở con đường lâm sinh vào rừng lim nhằm đồng hành với các cơ quan chức năng giữ rừng bền vững” - ông Bhling Mia nói.
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung, nhiều lần các đối tượng xin vào khai thác củi mục, tìm nấm lim xanh nhưng lực lượng kiểm lâm tuyệt đối “cấm cửa”, đề phòng mọi tình huống xấu xảy ra. Mấy năm nay, khu vực lòng hồ thủy điện Sông Bung nổi lên như “điểm nóng” nhưng những cánh rừng lim nơi đây vẫn bình yên. Đầu năm nay, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh đã thị sát và chỉ đạo ngành nông nghiệp có phương án, kế hoạch bảo vệ đặc thù. (Báo Quảng Nam 8/7) đầu trang(
Trong một thời gian dài do buông lỏng công tác quản lý và chuyển đổi rừng, đất lâm nghiệp sang trồng các loại cây công nghiệp, làm thủy điện, bị chặt phá, lấn chiếm trái phép…, diện tích rừng ở Tây Nguyên giảm mạnh.
Việc đóng cửa rừng tự nhiên và khôi phục rừng bền vững ở Tây Nguyên đang là đòi hỏi cấp bách, không chỉ trả lại mầu xanh cho “đại ngàn”, mà còn ứng phó biến đổi khí hậu.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), tính đến ngày 31-12-2014, tổng diện tích rừng tự nhiên vùng Tây Nguyên còn 2,253 triệu ha, giảm 273.000 ha so với năm 2010. Trữ lượng rừng ở Tây Nguyên trong 5 năm qua cũng giảm hơn 57 triệu m3.
Lý giải về diện tích rừng ở Tây Nguyên giảm mạnh, Bộ NN-PTNT cho rằng: Theo chủ trương của Chính phủ, từ năm 2009-2020, Tây Nguyên sẽ trồng mới 100.000 ha cao-su. Thế nhưng, các tỉnh trong khu vực lại chuyển đổi rừng một cách ồ ạt để trồng cao-su, cho nên đến cuối năm 2015, diện tích cao-su toàn vùng đã lên tới 164.000 ha. Nhiều diện tích rừng xanh tốt bỗng nhiên bị xếp vào diện “rừng nghèo” để chuyển sang trồng cao-su.
Đơn cử vào năm 2010, Công ty TNHH thương mại - dịch vụ - xuất nhập khẩu Hoàng Gia Phát được tỉnh Đác Lắc giao 977 ha đất lâm nghiệp ở Tiểu khu 134, 138 thuộc xã Ea Jlơi, huyện Ea Súp để khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng cao-su; trong đó có hơn 193 ha rừng nghèo được cải tạo để trồng cao-su. Mặc dù được xếp vào loại “rừng nghèo”, nhưng trên thực tế, mật độ cây rừng ở đây khá dày, cây rừng có đường kính từ 15 đến 60 cm và rừng ở khu vực thực hiện dự án thuộc hệ sinh thái rừng khộp.
Tại tỉnh Đác Nông, đến nay đã có 48 doanh nghiệp, đơn vị được tỉnh giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp thực hiện 49 dự án đầu tư sản xuất nông - lâm nghiệp với tổng diện tích hơn 51.157 ha, bao gồm cho thuê đất 40.740 ha và giao rừng 9.417,24 ha.
Tuy nhiên, qua kiểm tra, rà soát mới đây, các ngành chức năng đã phát hiện nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã buông lỏng quản lý dẫn đến rừng tự nhiên bị chặt phá với diện tích lớn, gây tổn thất lớn đến tài nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sinh thái.
Điển hình, năm 2006, UBND tỉnh Đác Nông có quyết định cho Công ty cổ phần chế biến lâm sản và xuất khẩu Thăng Long (gọi tắt là Công ty Thăng Long) có trụ sở tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đác Lắc thuê 516 ha đất rừng để thực hiện dự án bảo vệ, phát triển rừng và trồng rừng nguyên liệu tại xã Trường Xuân, huyện Đác Song. Sau khi thuê đất, Công ty Thăng Long không triển khai thực hiện dự án, xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), đã để hơn 400 ha rừng bị xóa sổ hoàn toàn.
Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên Trần Việt Hùng cho biết, nguyên nhân lớn nhất khiến diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên giảm mạnh là do một số địa phương, cơ sở chưa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm QLBVR, quản lý đất lâm nghiệp, vẫn để tồn tại những tụ điểm phá rừng nghiêm trọng.
Việc xử lý các vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu kiên quyết, phối hợp thiếu chặt chẽ, thiếu trách nhiệm, thậm chí tiêu cực, tiếp tay cho những đối tượng phá rừng. Công tác giao đất, giao rừng ở Tây Nguyên thực hiện chậm và còn nhiều bất cập…
Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, đến nay rừng ở Tây Nguyên vẫn chủ yếu được giao cho các tổ chức quản lý. Cụ thể, tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao quản lý, sử dụng là hơn 2,9 triệu ha, trong đó giao cho hộ gia đình, cá nhân QLBVR chỉ là 75.770 ha, chiếm 3,1%; giao cho cộng đồng quản lý 29.926 ha, chiếm 0,9% và UBND xã quản lý 367.881 ha, chiếm 20,7%, còn lại do các tổ chức, đơn vị quản lý... Tuy nhiên, do công tác giao đất, giao rừng và khoán QLBVR còn hạn chế, bất cập, cho nên diện tích rừng và đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép lên đến hàng chục nghìn ha.
Chỉ riêng tại tỉnh Đác Lắc, đến nay toàn tỉnh đã giao rừng, đất lâm nghiệp với diện tích 37.294,6 ha cho 5.273 hộ dân quản lý, bảo vệ. Mới đây, Sở NN-PTNT tỉnh Đác Lắc rà soát trên toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao khoán QLBVR thì phát hiện có đến 10.610 ha rừng bị phá, lấn chiếm trái phép.
Trong khi đó, việc trồng rừng ở Tây Nguyên thực hiện chậm. Cụ thể, giai đoạn 2011-2015, các tỉnh Tây Nguyên trồng được 48.543 ha rừng, chiếm 4,4% tổng diện tích rừng được trồng trong cả nước trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, tổng diện tích phải trồng rừng thay thế của các tỉnh Tây Nguyên là 21.879 ha, nhưng tính đến ngày 30-5-2016, chỉ mới trồng được 4.860 ha, đạt 22%.
Tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra nghiêm trọng. Năm 2015, các ngành chức năng của năm tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện và xử lý 16.034 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng, tăng 463 vụ so với năm 2014…
Mới đây, tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 do Bộ NN-PTNT tổ chức, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo các địa phương phải đóng ngay cửa rừng tự nhiên… Đồng thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, các tổ chức, cá nhân bao che, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, lợi dụng chủ trương cải tạo, chuyển đổi rừng nghèo để trục lợi và các đối tượng chống người thi thành công vụ…
Trao đổi với chúng tôi, Chủ tịch UBND tỉnh Đác Lắc Phạm Ngọc Nghị cho biết: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Đác Lắc đang triển khai nhiều giải pháp tích cực để thu hồi gần 51.000 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép, trồng lại rừng.
Tổ chức huy động tất cả các lực lượng và nguồn lực để thực hiện mục tiêu bảo vệ rừng hiện có và trong thời gian tới phải ngăn chặn được nạn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép và các vi phạm pháp luật khác trong QLBVR trên phạm vi toàn tỉnh. Ngoài ra, tỉnh đang tích cực huy động các nguồn lực để đầu tư khôi phục, phát triển rừng, phấn đấu đưa độ che phủ từ 38,7% hiện nay lên 40,4% vào năm 2020 và 42,1% vào năm 2030.
Tại Đác Nông, công tác quản lý, bảo vệ và khôi phục, phát triển rừng cũng đang được UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện. Chủ tịch UBND tỉnh Đác Nông Nguyễn Bốn khẳng định: Ngoài việc đóng cửa rừng tự nhiên theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành trong tỉnh đang nỗ lực tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Tỉnh đang rà soát, chấn chỉnh công tác giao và cho thuê rừng, đất rừng để tất cả diện tích đất lâm nghiệp đều có chủ quản lý; khẩn trương thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông - lâm nghiệp; quy hoạch sắp xếp dân cư, nhất là dân di cư tự do.
Triển khai có hiệu quả công tác trồng rừng tập trung, trồng rừng thay thế, trồng rừng nông - lâm kết hợp và trồng cây phân tán nhằm từng bước nâng cao độ che phủ của rừng…
Cùng với sự nỗ lực của các tỉnh Tây Nguyên, Bộ NN-PTNT cũng phối hợp các bộ, ngành và địa phương xây dựng, triển khai Dự án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020, với nguồn vốn lên tới 8.927 tỷ đồng. Mục tiêu mà Bộ NN-PTNT đặt ra là từ nay đến năm 2020 sẽ khôi phục và phát triển rừng ở Tây Nguyên đạt 2,71 triệu ha và nâng độ che phủ rừng lên 49,8%.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, các tỉnh Tây Nguyên kiến nghị Bộ NN-PTNT tham mưu cho Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách về tài chính, chi phí, cơ chế hưởng lợi trong giao khoán QLBVR hợp lý, thật sự bảo đảm ổn định sản xuất và nâng cao đời sống của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực để đồng bào gắn bó với rừng; nghiên cứu sửa đổi các quy định về quyền hạn, chế độ chính sách đối với các lực lượng tham gia QLBVR, thống nhất mô hình lực lượng QLBVR; nâng mức hỗ trợ đầu tư trồng rừng cho phù hợp với thực tế hiện nay. (Nhân Dân 10/7)
Đó là vấn đề cốt lõi được đề cập đến trong hầu hết báo cáo tham luận của các nhà khoa học trình bày tại hội thảo “Giải pháp xanh hướng tới kinh tế xanh”, do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), thông qua chương trình “Rừng ngập mặn cho tương lai”, phối hợp với Viện Tài nguyên và môi trường biển Việt Nam, Viện hải dương học Nha Trang tổ chức ngày 8.7.
Chúng ta đã và đang chứng kiến những thay đổi quan trọng của môi trường biển dưới tác động của cả tự nhiên và con người. Đó là các tác động của biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương với các biểu hiện “cực đoan” như gia tăng bão biển, lũ lụt vùng ven biển, nước biển dâng, axit hóa nước biển, ô nhiễm và các sự cố môi trường,…xảy ra dầy hơn, khốc liệt hơn và bất quy luật.
Quá trình phát triển kinh tế biển và thái độ ứng xử của con người với các hành vi hủy hoại môi trường đã làm suy thoái tài nguyên biển, đặc biệt là sự suy thoái và mất dần các hệ sinh thái biển, ven biển…Ngoài ra, hoạt động khai thác hải sản mang tính hủy diệt của con người trong khu vực Biển Đông đã gây ra suy thoái hệ sinh thái và nguy cơ tuyệt chủng của một số loài.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, ĐH Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Thiên nhiên và môi trường biển Việt Nam, phân tích: “Hệ lụy là nguồn vốn tự nhiên biển và trữ lượng hải sản khu vực quần đảo Trường Sa và phía tây Biển Đông giảm khoảng 16% so với trước năm 2010. Việc tiêu diệt các quần thể trai tai tượng ở các bãi cạn trong các quần đảo ở Biển Đông cộng với khai thác khối lượng lớn các loại vỏ sinh vật từ bề mặt bãi cạn này dẫn tới “nhiễu loạn sinh thái” kéo dài, tiêu diệt nhiều loài sinh vật đáy,…”
Tại hội thảo, các nhà khoa học cũng đã thảo luận những bài học kinh nghiệm về giải pháp xanh trong công tác bảo vệ môi trường biển, tài nguyên biển tại Việt Nam, như nuôi trồng thủy sản đa canh kết hợp với bảo vệ rừng ngập mặn tại Bến Tre, Trà Vinh; áp dụng chi trả dịch vụ môi trường tại các tỉnh duyên hải miền Trung, sử dụng đèn led trong đánh bắt thủy sản ở Ninh Thuận, lặn thân thiện với môi trường ở Nha Trang, mô hình đồng quản lý nuôi sò ở Bình Thuận…
Đặc biệt, chương trình Rừng ngập mặn cho tương lai (MFF) là một sáng kiến dựa trên hợp tác khu vực nhằm đầu tư vào hệ sinh thái vùng bờ và phát triển bền vững. Thời gian đầu, sáng kiến bao gồm 6 nước thành viên tại châu Á, sau đó đã mở rộng lên 11 thành viên, trong đó có Việt Nam.
Sáng kiến chọn rừng ngập mặn làm hệ sinh thái tiên phong ghi nhận tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong việc giảm thiểu tác động của thảm họa sóng thần Ấn Độ dương năm 2004, cũng như các tác động tiêu cực do suy thoái rừng ngập mặn gây ra đối với sinh kế người dân ven biển.
Trong thực tế, MFF cũng  quan tâm đến toàn bộ các hệ sinh thái ven biển, bao gồm rặng san hô, cửa sông, đầm phá, đất ngập nước, bãi biển và thảm có biển. (Lao Động 8/7) đầu trang(
UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Quyết định số 1954 về việc thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát.
Như vậy, đến nay tỉnh Lào Cai có ba khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 64.544 ha, hướng đến mục tiêu xây dựng Khu dự trữ sinh quyển thế giới Hoàng Liên Sơn.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát có tọa độ địa lý từ 22023’ đến 22037’ vĩ  độ Bắc và từ 103031’ đến 103043’ kinh độ Đông; thuộc phần đầu của dãy núi Hoàng Liên Sơn, trên địa giới hành chính 5 xã của huyện Bát Xát: Y Tý, Dền Sáng, Sàng Ma Sáo, Trung Lèng Hồ và xã Nậm Pung, với tổng diện tích 18.637 ha, bao gồm 20 tiểu khu. Trong đó: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 14.868 ha, phân khu phục hồi sinh thái 3.613 ha, phân khu hành chính, dịch vụ 156 ha.
Giai đoạn 2016-2020, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát tập trung thực hiện các dự án ưu tiên: Bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng khu bảo tồn; nghiên cứu khoa học và đào tạo.
Tổng mức đầu tư được xác định là 102,6 tỷ đồng, bao gồm: Nguồn ngân sách 71,3 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 55,9 tỷ đồng, ngân sách tỉnh 15,4 tỷ đồng); nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng 21,2 tỷ đồng; nguồn vốn khác 10,1 tỷ đồng.
Để Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát sớm ổn định tổ chức, đi vào hoạt động và triển khai thực hiện các chương trình, dự án đầu tư đã được phê duyệt, Sở Nông nghiệp và PTNT đang phối hợp  với các sở, ngành và UBND huyện Bát Xát xây dựng đề án thành lập Ban Quản lý, Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.
Đồng thời, UBND huyện Bát Xát tăng cường chỉ đạo UBND các xã: Dền Sáng, Sàng Ma Sáo, Y Tý, Trung Lèng Hồ, Nậm Pung tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng và thực hiện hiệu quả các biện pháp ngăn chặn sự xâm hại đến Khu Bảo tồn.
Ông Nguyễn Hữu Hạnh, Phó Chi cục trưởng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Việc thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát khẳng định quyết tâm của chính quyền và nhân dân tỉnh Lào Cai trong công tác bảo tồn hệ sinh thái rừng nguyên sinh núi cao và các loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm, đặc hữu đặc trưng cho khu vực vùng núi Hoàng Liên Sơn.
Đặc biệt là bảo vệ và phát triển bền vững 15.000 ha rừng tự nhiên, bao gồm 940 loài thực vật bậc cao có mạch (trong đó có 44 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới), 157 loài động vật có xương sống (trong đó có 31 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới); tạo lá chắn che chở hết sức quan trọng khu vực vành đai biên giới, đảm bảo công tác quốc phòng, an ninh. (Báo Lào Cai 10/7) đầu trang(
Đội kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng) phát hiện xe ô tô BKS 88C-076.38 do anh Nguyễn Tiến Cương (SN 1984, trú tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) điều khiển đến khu vực mốc 916, xóm Đông Cầu, xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính vào ngày 7/7.
Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện số lượng lớn rắn hổ mang với tổng trọng lượng 483kg đang chuẩn bị xuất lậu sang Trung Quốc.
Ngay sau đó, tổ công tác đã lập biên bản, tạm giữ toàn bộ số rắn trên và hoàn tất hồ sơ bàn giao cho Chi Cục kiểm lâm tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật. (Đời Sống Và Pháp Luật 9/7, Công Lý 8/7) đầu trang(
Sau nhiều lần liều mình chặn đường voi đi vẫn không trả được voi con cho đàn voi hoang dã, nhóm cán bộ nhân viên Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk trở thành bảo mẫu cho chú voi lạc mẹ. Một trưa hè đầy hoa nắng dưới tán rừng khộp ở Trạm Cứu hộ voi rừng, phóng viên vừa trải nghiệm việc cho voi bú sữa, vừa nghe các bảo mẫu dũng cảm kể chuyện chăn voi...
Đó là lời nhắn nửa đùa, nửa nghiêm túc của ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Voi Đắk Lắk (sau đây viết tắt là Trung tâm) với phóng viên báo Tiền Phong, khi nghe tôi hỏi sao nhìn Gold có vẻ gày thế.
Đặt tên cho voi con lạc mẹ là Gold, hẳn Trung tâm quý nó như Vàng. Tuy nhiên, chú voi độ 6 tháng tuổi này còn lâu mới mọc đủ răng để ăn được cây lá, nên từ nay tới khi đó, riêng việc ứng tiền mua sữa bột trẻ em pha cho Gold uống mỗi ngày, vốn không có trong dự trù tài chính của năm, cũng khiến Trung tâm lo vàng mắt.
Tiếp phóng viên trong gian nhà tuềnh toàng gắn tấm biển nhỏ “Trạm cứu hộ voi” nằm lẫn trong màu xanh cây lá của dải rừng khộp bạt ngàn thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, anh Cao Xuân Ninh (30 tuổi), “bảo mẫu” của voi Gold, và anh Phan Phú (27 tuổi), “bảo mẫu” của voi June, kể cho tôi nghe bao nỗi nhọc nhằn, nguy hiểm mà những người làm công tác bảo tồn voi phải trải qua, khi bất đắc dĩ rước Gold về.
Là nhân viên Phòng Voi hoang dã, nhà lại ở xã Ea Lê, huyện Ea Súp, nơi voi rừng hay về phá rẫy tìm thức ăn, nên về nhà cuối tuần, Ninh vẫn tranh thủ theo dõi tình hình voi trên địa bàn. Thứ Bảy ngày 28/3/2015, Lâm trường Chư M’lanh báo về Trung tâm: có một voi con lọt xuống giếng. Ninh cùng 2 cán bộ của Trung tâm phóng xe máy tới nơi lúc 10 giờ sáng, thấy dưới lòng giếng cạn đường kính khoảng mét rưỡi trồi lên mảng đầu chú voi con ngoi ngóp ngập trong bùn, trông rất tội nghiệp.
Nhóm cứu hộ ôm cây, cành thả xuống, voi con hiểu ý, dẫm lên, trồi dần. Có thêm mấy nông dân tới giúp, Ninh lội xuống giếng luồn dây qua bụng voi, trên miệng giếng, 6 người nắm các đầu dây hò nhau kéo. Voi con được lôi lên bờ nằm rũ rượi, lấm lem. Ninh chạy đi múc nước khe suối vào can nhựa đem về rửa sạch bùn đất quanh vòi, cho nó uống nước, chờ Trung tâm thuê xe càng lùi vô chỗ trũng, ôm voi con ủn lên xe, ước lượng nó nặng hơn nửa tạ. Ninh ngồi trên rơ mooc giữ voi, lắc lư nảy xóc 6 cây số mới về tới Trạm quản lý bảo vệ rừng của lâm trường…
Có tiếng voi rống. Đã đến giờ nó uống sữa. Ninh lại chiếc kệ chất đầy hộp sữa bột Dielac loại dành cho trẻ em 6 tháng tuổi, cỡ hộp 900 gr. Ninh cho biết, bây giờ, mỗi ngày Gold uống gần hết 3 hộp. Chưa kể công chăm sóc, tiền sữa, tiền chuối chín, nước dừa, nước trái cây vào bụng Gold mỗi ngày lên tới gần bạc triệu. Ninh đong sữa bột vào ca nhựa, cân cẩn thận rồi pha, chế đầy 2 bình gắn núm vú to dài, đưa tôi một bình, mời tôi ra chuồng voi cùng cho Gold bú.
Tại chuồng voi, Ninh và Phú kể tiếp. Trưa hôm đó, Ban giám đốc và cán bộ Trung tâm kéo vào Trạm, chỉ dẫn cách bơm nước lên tắm rửa, cách pha sữa cho voi con khoảng 3 tháng tuổi bú bình. Nhận được tin báo đàn voi rừng có quay lại chỗ giếng cạn tìm voi con, ông Huỳnh Trung Luân chỉ đạo ngay trong đêm phải chở voi con về trả lại cho mẹ nó.
Chín giờ tối, cho voi con bú thêm một bình sữa nữa, rồi Phú, Ninh và thạc sĩ thú y Phạm Văn Thịnh, người từng sang Srilanka học tập kỹ năng cứu hộ voi,  cùng leo lên xe cày giữ voi con, quay vào gần chỗ giếng nước, lùa voi vào một chiếc cũi gắn kết lỏng lẻo bỏ lại giữa rừng, để nếu mẹ nó trở lại sẽ dễ phá cũi dẫn con đi.
Sau giấc ngủ mê mệt, 5 giờ sáng Ninh đã bật dậy để cùng anh Đỗ Viết Thụ, Trưởng Phòng bảo tồn voi hoang dã của Trung tâm, phóng xe máy vào chỗ đặt cũi voi. Cũi vẫn còn đó, voi chẳng thấy đâu. Hơn nửa tiếng sau, đồng bào chạy tới báo tin có con voi nhỏ thẩn thơ một mình trên lán rẫy...
Ngồi trên xe cày xóc mệt gấp nhiều lần đi bộ, nên lần này, Phú đem dây tới cột voi, lếch thếch dắt bộ voi 6 cây số về Trạm. Giám đốc bảo chuyển voi con đến điểm cứu hộ đặt tạm sau trụ sở Vườn Quốc gia Yok Đôn cách Trạm hơn 30 km, nơi voi June đang được các chuyên gia điều trị vết thương. Đường dài, thùng xe hàng rộng, hai người thay nhau giữ voi mệt hết hơi. Về nơi ở mới, voi con được đặt tên là Gold. Vì nó chưa mọc răng, chưa ăn gì được, Trung tâm phải hỏi ý kiến nhiều chuyên gia về loại sữa, lượng sữa pha cho Gold bao nhiêu thì vừa, để bảo đảm Gold đủ dinh dưỡng mà không sợ bị đau bụng.
Hai ngày sau, Lâm trường Chư M’lanh báo tin phát hiện một đàn voi rừng. Giám đốc Luân động viên anh em chịu khó thêm lần nữa để voi con được gặp voi mẹ.
Ba anh em Phú-Tân-Thịnh dựng lều giữa rừng gần chiếc cũi nhốt Gold để tiện chăm sóc nó, đợi đàn voi đi qua. Đêm thứ hai, khoảng 20 giờ, vọng về tiếng rống của đàn voi hoang dã. Nhóm người leo tót lên cây cao im lặng quan sát. Đàn voi di chuyển rất nhanh đến gần, rồi tràn qua, khuất hẳn. Phú tuột xuống kiểm tra thì thấy toàn bộ chiếc lều cùng mọi vật dụng đã bị đàn voi dẫm đạp, xé nát, nhưng chiếc cũi có Gold đứng im lìm trong đó cách chừng một trăm mét thì vẫn còn nguyên.
Mệt nhoài, chẳng còn lều che sương gió, cả nhóm lăn ra ngủ giữa những bụi cây. Sáng hôm sau, chuyên gia voi Jack Highwood (người Anh) bay sang hỗ trợ. Phương án mới được đưa ra là để voi dễ nhập bầy, không nhốt Gold vào cũi nữa.
Đêm đó, Phú và Tân đứng giữ Gold giữa rừng. Phú kể: “Nói thật, tụi em vừa hồi hộp vừa sợ hãi, nhưng ai cũng muốn voi Gold được về với bầy đàn, nên phải cố tỏ ra cứng cỏi. Hai mươi mốt giờ đêm, đàn voi kéo tới, vừa hú vừa bẻ cành, đạp cây gẫy răng rắc. Chờ đàn voi cách khoảng 20 mét, hai đứa mới lia đèn pin, thả Gold ra. Phú băng rừng, Tân chạy men đường cái, hy vọng voi mẹ tìm thấy Gold sẽ không truy đuổi hai thằng người.
Nhưng chẳng biết trong đàn có voi mẹ không, mà trong khi chúng ào ạt vượt qua, Gold vẫn lẽo đẽo bám theo Tân ra đường cái. Tân xô nó quay lại, rồi cắm đầu chạy miết. Vừa về tới Trạm bảo vệ rừng Chư M’lanh, điện thoại đã reo, dân gọi báo thấy một chú voi con đang rượt theo một chiếc xe máy ngoài đường.
Lần thứ tư, đích thân ông Jack cùng Ninh và Phú dẫn Gold về gần cái giếng, xế chiều gặp đàn voi rừng cách chỉ 15 mét mới thả Gold, lên ô tô phóng đi, mặc đàn voi rống ầm ĩ phía sau. Hơn nửa tiếng quay lại không thấy Gold đâu, cả nhóm mừng rỡ nghĩ phen này Gold đã về với đại ngàn hoang dã. Ngờ đâu hôm sau, người ta lại gặp nó lang thang gần hồ Ea Súp Thượng, cách chỗ thả hơn 3 km.
Đến nước này thì Trung tâm chịu thua việc voi Gold không thể nhập bầy, đành làm cho nó một cái chuồng êm ấm. Tổ chăn voi 5 người được giao trách nhiệm chăm lo, nuôi dạy cả 2 chú voi đực lạc đàn June và Gold, gồm: Cao Xuân Ninh - trung cấp Kế toán, Võ Nhật Tân - trung cấp Lâm nghiệp, Phan Phú - cao đẳng Công nghệ sinh học, và 2 thạc sĩ thú y Phạm Văn Thịnh, Lê Võ Thị Anh Đào.
Sau một khóa bồi dưỡng 3 tuần về kỹ năng chăm sóc, dạy dỗ voi không dùng roi vọt do bà Erin Luise Ivory (người Mỹ), chuyên gia huấn luyện động vật, trực tiếp hướng dẫn, Ninh chính thức trở thành “bảo mẫu” cho bé Gold. Vuốt ve dỗ Gold chịu há miệng lớn ra, Ninh chỉ cho tôi xem trong góc hàm nó nhú ra hai gốc răng sữa trắng bóng.
Gần đó, Phú vo cơm thành từng nắm to trộn bột canxi thơm bọc kín 10 viên thuốc kháng sinh ở giữa, dỗ cho voi June ăn, rồi rửa chân, xức thuốc cho nó để vết mổ lấy cọng kẽm rỉ sét ra khỏi chân hồi tháng trước mau lành. Được Trung tâm cứu June khi đang sập bẫy đầy mình thương tích hồi tháng 2/2015, khi đó nó mới nặng khoảng 5 tạ.
Dù phải trải qua nhiều đợt điều trị đau đớn, thương tật vẫn chưa lành, nay June nặng gần 1 tấn. Với cặp ngà cân đối, đôi mắt sáng láu lỉnh, nếu vòi không sứt, chân không què do dính bẫy bọn “voi tặc” độc ác, hẳn June sẽ là một chàng voi khỏe đẹp, dũng mãnh.
Dù nghỉ trưa hay nghỉ đêm, 2 chàng bảo mẫu độc thân cũng thường mắc võng nằm cạnh chuồng voi, để mỗi khi tỉnh giấc, June và Gold không hốt hoảng lồng lên đi tìm. Sau mỗi bữa ăn, June và Gold lại được bảo mẫu đưa đi dạo chơi, chạy nhảy đùa nghịch.
Nơi Trạm cứu hộ đang chăm sóc June và Gold đã được tỉnh khoanh vùng 200 ha dành riêng cho voi. Trong một vài năm tới, dưới tán rừng khộp xòe lá rộng tuyệt đẹp bên hồ Đắk Minh trong xanh bát ngát, sẽ lần lượt mọc lên Bệnh viện Voi, khu chăn thả bán hoang dã, và trụ sở chính của Trung tâm Bảo tồn Voi Đắk Lắk. Rất có thể June và Gold sẽ được ghi danh như những “công dân đặc biệt” đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm. (Tiền Phong 9/7) đầu trang(
Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam chọn ngày 9/7 là ngày Quốc tế Sao La.
Sáng nay, tại TP HCM, Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam chính thức ra mắt dự án "Cứu Sao La – đứa em cùng Đất Mẹ" - một chiến dịch cộng đồng giúp nâng cao nhận thức và sự tham gia sâu rộng của xã hội nhằm bảo tồn loài động vật quý hiếm này, một niềm tự hào của thiên nhiên Việt Nam đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng. Đồng thời, ngày 9/7 hàng năm cũng được WWF - Việt Nam chọn là ngày Quốc tế Sao la.
Được mệnh danh Kỳ Lân châu Á, Sao La là một trong những loài thú quý hiếm nhất trên thế giới. Loài sao la đến nay chỉ được các nhà khoa học ghi nhận hình ảnh trong tự nhiên vài lần, kể từ khi được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1992 bởi một nhóm khảo sát khoa học của WWF và Bộ Lâm nghiệp Việt Nam (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Gần đây nhất vào tháng 7/2013, hệ thống bẫy ảnh cảm biến nhiệt của WWF ghi lại hình ảnh của Sao La trong rừng núi hiểm trở vùng Trường Sơn, dấy lên niềm hy vọng mới cho sự sống còn của loài này.
Bị đe doạ bởi nạn đặt bẫy trộm và môi trường sống bị phá hủy do nạn khai thác gỗ trái phép và các dự án phát triển không bền vững, Sao La hiện chỉ còn vài trăm, thậm chí chỉ vài mươi cá thể, theo phỏng đoán của các nhà khoa học. Năm 2006, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xác định tình trạng loài động vật ở mức "Cực kỳ nguy cấp". Các chuyên gia Sao La trên thế giới đang thúc giục Chính phủ Việt Nam và Lào, các nhà bảo tồn, doanh nghiệp, cùng hợp sức và cam kết bảo vệ loài này.
Là một trong những nỗ lực đầu tiên nhằm chống lại các mối đe dọa trên, những khu Bảo tồn Sao la được thành lập tại Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam vào năm 2010 và 2011, với sự hỗ trợ từ WWF - Việt Nam. Nằm trong khuôn khổ dự án Dự trữ carbon và Bảo tồn đa dạng sinh học (CarBi), các khu bảo tồn này hiện được kết nối, tạo nên một vùng sinh cảnh liền mạch quan trọng cho Sao La, bao phủ hơn 200.000 héc ta rừng Trường Sơn dọc biên giới Việt - Lào.
Đến cuối năm 2015, các cán bộ bảo vệ rừng do WWF tuyển chọn từ cộng đồng địa phương đã giúp tháo gỡ hơn 75.000 bẫy các loại và triệt phá trên 1.000 khu trại bất hợp pháp của các nhóm khai thác gỗ và săn trộm. (VnExpress 9/7) đầu trang(
Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều đối tượng thông qua in-tơ-nét, sử dụng các trang mạng xã hội công khai thực hiện hành vi buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD). Đây là một loại tội phạm mới, rất nguy hiểm cần được ngăn chặn kịp thời.
Trong vai một khách hàng có nhu cầu mua răng nanh hổ để “yểm bùa”, tôi gọi đến số điện thoại của một người có nickname (tên, biệt danh) Hongcuong Kieu tại Hà Nội. Ông ta cho biết, nếu muốn mua thì đến xem hàng và tùy theo chất lượng răng hổ, giá bán cao nhất là 80 triệu, thấp nhất là 1,5 triệu đồng/chiếc.
Người này cũng là thành viên của Hội mua bán nanh hổ (nhóm công khai), với sự tham gia của 8.733 thành viên. Trên trang mạng Hội mua bán cày vòi hương và các loại thú rừng cũng công khai các cuộc mua bán.
Tại đây, nếu có nhu cầu, khách hàng có thể gọi điện thoại trực tiếp hoặc gửi tin nhắn riêng cho người bán. Sau khi có độ tin cậy nhất định, người bán hẹn người mua đến địa điểm giao dịch do người bán chủ động lựa chọn. Tìm trên các trang mạng xã hội, người có nhu cầu sử dụng ĐVHD dễ dàng lựa chọn bởi chúng được rao bán khá nhiều, quảng cáo rùm beng với giá bán cụ thể…
Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, trong 5 năm qua có 5.376 vụ vi phạm việc quản lý và bảo vệ ĐVHD quý hiếm trên cả nước, bình quân mỗi năm xảy ra hơn một nghìn vụ. Số ĐVHD và nguy cấp, quý hiếm tịch thu từ các vụ vi phạm bị phát hiện lên tới gần 60.000 con các loại. Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, trong vài năm trở lại đây, loại tội phạm về ĐVHD trên in-tơ-nét gia tăng với tốc độ nhanh chóng.
ENV đã ghi nhận vi phạm quảng cáo ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD trên in-tơ-nét đầu tiên vào năm 2008. Tính đến tháng 6-2016, đã phát hiện 1.551 vụ việc vi phạm. Mới đây, Công an TP Hà Nội đã giải cứu kịp thời 40 cá thể động vật hoang dã đang bị hai đối tượng vận chuyển từ Lạng Sơn về Hà Nội. Sự việc được lực lượng chức năng phát hiện trên in-tơ-nét.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc phụ trách chương trình Chính sách - Pháp luật của ENV nhận định, mặc dù các đối tượng sử dụng mạng xã hội để buôn bán công khai ĐVHD, tuy nhiên, do bản chất mạng in-tơ-nét là một môi trường ảo, các đối tượng thường xuyên thay đổi tài khoản, thông tin đăng tải có thể thay đổi và dỡ bỏ nhanh chóng cho nên việc xác định lai lịch đối tượng và thu thập chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn.
Nhằm đối phó với loại tội phạm mới này, ENV cùng các tổ chức xã hội đã kêu gọi sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật cùng vào cuộc. Kết quả là nhờ thông báo vi phạm từ người dân qua đường dây nóng miễn phí và qua các chiến dịch loại bỏ vi phạm về ĐVHD trên in-tơ-nét, các cơ quan chức năng đã xử lý 1.130 trong tổng số 1.551 vụ vi phạm về ĐVHD trên mạng, gỡ bỏ nhiều đường link (kết nối) vi phạm cũng như hỗ trợ cơ quan bảo vệ pháp luật tịch thu nhiều cá thể ĐVHD còn sống. Qua hợp tác đấu tranh, đến nay đã có 19 website lớn như chotot.vn, rongbay.vn, vatgia.com, muare.vn... hưởng ứng việc không cho khách hàng rao bán ĐVHD.
Tháng 6 vừa qua, Tòa án Nhân dân quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt đối tượng Phan Huỳnh Anh Khoa hay còn gọi là Khoa Xì Trum (sinh năm 1993, cư trú tại quận Gò Vấp) 5 năm tù, phạt bổ sung 50 triệu đồng vì hành vi buôn bán trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tuy nhiên Khoa chỉ là một trong rất nhiều đối tượng nằm trong tầm ngắm của lực lượng chức năng đã và đang công khai quảng cáo rao bán ĐVHD trên in-tơ-nét thời gian qua.
Để đấu tranh với loại tội phạm mới về buôn bán ĐVHD trên in-tơ-nét, cần tăng cường quản lý việc đăng ký và nội dung các website về buôn bán, diễn đàn; Ban quản trị các trang mạng cũng cần có những quy định về bảo tồn ĐVHD vào website và thường xuyên theo dõi các chủ đề liên quan, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi pháp luật về bảo tồn ĐVHD...
Đồng thời cần phổ biến, tuyên truyền hiệu quả để cộng đồng nhận thức về mối nguy hại khi sử dụng ĐVHD, nhằm ngăn chặn triệt để nạn rao bán công khai trên mạng in-tơ-nét đang diễn ra phổ biến, công khai như hiện nay. (Nhân Dân 9/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Một loạt bất cập kéo dài nhiều năm từ việc áp dụng thu phí môi trường rừng ở tỉnh Lào Cai, khiến hàng chục đơn vị du lịch ở tỉnh này hết sức bức xúc.
Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực từ 1.1.2011. Ngày 3.8.2012, UBND tỉnh Lào Cai ban hành quyết định 1938/QĐ-UBND để thu 1,5% doanh thu trong kỳ thanh toán đối với cá nhân, đơn vị du lịch hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Quyết định này ban hành sau Nghị định 99 gần 2 năm nhưng thời điểm có hiệu lực là 1.1.2011, vì vậy một số doanh nghiệp đã bị truy thu tiền trả dịch vụ môi trường rừng như Cty cổ phần DL Cao Su Hàm Rồng, gây khó cho việc hạch toán kế toán.
Ngày 22.5.2014, UBND tỉnh Lào Cai tiếp tục ra quyết định 15/2015/QĐ-UBND thay thế QĐ 1938 giữ nguyên mức thu trên. Tuy nhiên, nhiều đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch ở Sa Pa có kiến nghị, chưa đồng tình với cách áp thu 1,5% doanh thu theo kiểu “đổ đồng một mớ” khi kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành, lưu trú, khách sạn… là như nhau.
Ông Nguyễn Đức Minh (thuộc một đơn vị kinh doanh dịch vụ lữ hành ở Sa Pa) cho biết, dịch vụ lữ hành là người môi giới, tổ chức, gom các dịch vụ lưu trú, vận tải, thăm quan… để cung cấp cho khách du lịch, lấy phần trăm tiền công tổ chức. Lợi nhuận có khi không được 1,5% doanh thu, như vậy là lỗ. Việc áp phí dịch vụ môi trường rừng với đơn vị lữ hành ở Sa Pa là chưa công bằng bởi nếu đơn vị du lịch ở Hà Nội, hay tỉnh thành khác – đưa tới 90% lượng khách lên Sapa - thì không phải đóng phí này.
“Ngoài ra, khi vào rừng đã phải mua vé, trả tiền cho khách, như vậy chúng tôi bị tính 2 lần tiền dịch vụ môi trường rừng? Khi chúng tôi tổ chức tour đi biển nhưng doanh thu thu được vẫn bị áp tính phí môi trường rừng chỉ vì đơn vị có trụ sở ở Sa Pa” – ông Đức nói.
Bà Minh Tâm (hộ kinh doanh lưu trú) cho biết: "Chúng tôi rất ủng hộ đóng tiền môi trường rừng, nhưng cụ thể là chúng tôi được hưởng cái gì, giá trị như thế nào từ môi trường rừng, đơn giá thành tiền ra sao thì chưa cơ quan nào trả lời được?  Một số đơn vị du lịch lớn như khách sạn Victoria, Amaxing, Châu Long... cũng kiến nghị làm rõ mức độ hưởng môi trường rừng tại địa bàn thị trấn Sa Pa ra sao".
Sự việc dùng dằng hơn 4 năm cho tới nay, một số doanh nghiệp đã phải đặt bút ký vào hợp đồng ủy thác chi trả tiền môi trường rừng cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai nếu muốn được đưa khách vào rừng, leo Fansipan hoặc cấp vé thắng cảnh để bán cho khách du lịch.
Hiện Sở VHTTDL Lào Cai chưa trả lời các kiến nghị của những đơn vị du lịch. Trước sự bức xúc của các đơn vị du lịch tại Sa Pa, Chủ tịch UBND tỉnh đã giao Quỹ Bảo vệ và Phát triển môi trường rừng của tỉnh chủ trì phối hợp với sở làm việc và trả lời các đơn vị du lịch ở Sa Pa và đề xuất phương án giải quyết, báo cáo UBND tỉnh trong tháng 3.2016.
Thế nhưng, ông Đặng Đình Sáu - Phó chủ tịch Hiệp hội du lịch Sapa - cho rằng, trong buổi làm việc mà Quỹ Bảo vệ và Phát triển môi trường rừng chủ trì, các cá nhân, đơn vị nhận được một bản tổng kết có sẵn, không ghi nhận ý kiến hiệp hội, như thế còn họp bàn làm gì nữa?
Trên 50 đơn vị kinh doanh trên địa bàn huyện Sa Pa đã ký kiến nghị, việc áp dụng nghị định đối với các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn thị trấn Sa Pa là chưa phù hợp, chưa đúng đối tượng, gây khó khăn trong hạch toán kinh doanh. Trong đó, chưa phân định rõ đơn vị kinh doanh hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ môi trường rừng.
Từ kiến nghị của các đơn vị, ngày 8.10.2014, Tổng cục Du lịch (Bộ VHTTDL) đã có văn bản số 1068/TCDL-LH chỉ ra những bất cập khi áp dụng Nghị định 99 của UBND tỉnh Lào Cai. Theo đó, Tổng cục Du lịch cho rằng, việc áp dụng mức phí 1,5% trên tổng doanh thu đối với các doanh nghiệp dịch vụ du lịch (lữ hành, khách sạn...) trên địa bàn tỉnh Lào Cai là chưa hợp lý vì các doanh nghiệp này có nhiều nguồn thu khác nhau.
Trong khi đó, Luật Thuế doanh thu đã được thay thế bằng Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN... Cùng quan điểm, trong lĩnh vực lữ hành, doanh nghiệp chỉ thay mặt khách hàng để trả tiền các dịch vụ trong chuyến đi.
Hơn nữa, khách du lịch đến thăm vườn quốc gia Hoàng Liên cũng phải mua vé thăm quan, trong đó có phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Như vậy, khi doanh nghiệp lữ hành tại Sa Pa lại phải trả phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng dựa trên tổng doanh thu có nghĩa là phí chồng phí.
Ngoài ra, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23.11.2011 hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó quy định rất rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, phương pháp xác định hệ số K cho từng lô trạng thái rừng để tính mức chi trả dịch vụ môi trường rừng...
Do đó, Tổng cục Du lịch đề nghị UBND tỉnh Lào Cai xác định rõ ranh giới các khu rừng theo phạm vi, không gian, và khu vực trung tâm tính từ trung tâm rừng và xác định đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng cũng như mức thu phù hợp... Thế nhưng, hai năm sau, những vấn đề mà Tổng cục Du lịch nêu ra vẫn chưa được sở, ban, ngành liên quan của tỉnh giải quyết thấu đáo.  (Lao Động 9/7) đầu trang(
Trên quốc lộ 19, đoạn qua xã Đak Ta Ley (huyện Mang Yang, Gia Lai, thuộc dự án nâng cấp, mở rộng QL19, do Tổng Công ty 36, Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư) có đoạn mương bê tông bị nắn cong chỉ với mục đích… giữ lại 1 cây muồng.
Người dân rất ngạc nhiên vì để làm con đường này, đã có không ít cây rừng bị chặt phá. Trong khi cây muồng với giá trị thấp, thường chỉ được trồng để chắn gió quanh rẫy, rừng trồng giai đoạn kiến thiết nhưng không hiểu sao lại “chễm chệ” trên nền bê tông và còn phải nắn mương.
Về vấn đề này, đại diện Cty BOT 36.71 trả lời ngắn gọn, do phía Ban Quản lý rừng phòng hộ Mang Yang không cho phép chặt cây này (?). Chưa hết, phía bắc quốc lộ 14 (đoạn Pleiku-Kon Tum) cũng có 1 cây gạo cổ thụ đáng lý ra phải bị chặt bỏ theo kế hoạch song đơn vị thi công không những đã giữ lại mà còn nắn đường.
Ông Nguyễn Ngọc Báu, giám đốc hiện trường BQL dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua Gia Lai-Kon Tum thừa nhận, theo thiết kế ban đầu, cây gạo sẽ bị chặt hạ để làm đường. Tuy nhiên, nhiều người dân sống quanh đây đã bày tỏ sự nuối tiếc vì cây gạo này đã gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức họ từ bao đời nên Ban đã đồng ý chỉnh tim đường, né qua một khoảng cách ngắn để... giữ lại cây cổ thụ. (Nông Nghiệp Việt Nam 8/7) đầu trang(
Ngày 7-7-2016, UBND tỉnh Thái Bình ban hành Công văn số 2388/UBND-NNTNMT về việc triển khai trồng rừng bảo đảm mùa vụ trước khi thực hiện điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công dự án giảm sóng ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển 5 và 6 của tỉnh.
Theo đó, UBND tỉnh giao: Sở NN&PTNT triển khai trồng ngay 46,2 ha rừng tại xã Nam Thịnh (huyện Tiền Hải) bảo đảm mùa vụ trồng rừng năm 2016, song song với việc triển khai trồng rừng, tiến hành lập điều chỉnh, bổ sung thiết kế bản vẽ thi công.
Sau đó, Sở NN&PNT điều chỉnh dự án đầu tư công trình giảm sóng ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển 5 và 6 tỉnh Thái Bình, gửi cấp có thẩm quyền thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt. Đồng thời, Sở NN&PTNT cần giám sát, kiểm tra việc triển khai, thực hiện giải phóng mặt bằng thuộc phạm vi trồng rừng ngập mặn của  UBND huyện Tiền Hải theo quy định.
UBND huyện Tiền Hải chỉ đạo, đôn đốc UBND các xã khẩn trương thực hiện giải phóng mặt bằng (thuộc phạm vi trồng rừng ngập mặn) đối với diện tích nhân dân đang khai thác ngao tự nhiên.
Một số diện tích nhân dân đang nuôi ngao phải khẩn trương thu hồi tài sản, thu dỡ vây và chòi canh để trả lại mặt bằng theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 837/UBND-NNTNMT ngày 24/3/2016. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thái Bình 8/7) đầu trang(
Thực hiện theo chủ trương của tỉnh về tăng cường công tác phát triển trồng các loại cây bản địa, cây lâm nghiệp đa mục tiêu và cây lâm sản ngoài gỗ, ngành Kiểm lâm đã tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác quản lý sản xuất kinh giống cây trồng đảm bảo theo chuỗi hành trình giống cây lâm nghiệp.
UBND tỉnh phê duyệt đơn giá giống cây trồng phục vụ các chương trình, dự án trồng rừng theo quy hoạch, kế hoạch của tỉnh với 75 loài cây; phê duyệt danh mục giống cây lâm nghiệp khuyến khích sử dụng để trồng và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La với trên 60 loài cây.
Kết quả, 6 tháng đầu năm các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã gieo ươm trên 12,5 triệu giống cây các loại. Trong đó, chủ yếu là các loại cây phù hợp với điều kiện khí hậu và phát triển của các địa phương như: Thông, bạch đàn; sơn tra, lát hoa, keo, luồng, giổi… Công tác trồng cây phân tán cũng được chú trọng, 6 tháng đầu năm các huyện thành phố và các cơ quan đơn vị đã trồng được trên 31.000 cây.
6 tháng cuối năm, ngành Kiểm lâm tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp, tổ chức kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc giống cây trồng lâm nghiệp. Phấn đấu đến hết năm 2016, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt trên 5.000 ha, số lượng cây phân tán đạt 1 triệu cây. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 8/7) đầu trang(
Xác định công tác trồng rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, huyện Pác Nặm đã và đang nỗ lực triển khai các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả vụ trồng rừng năm 2016.
Những ngày này trên các diện tích rừng đã được thiết kế cho vụ trồng rừng mới năm 2016, người dân đang tích cực thực hiện các bước cho việc trồng rừng như xử lý thực bì, cuốc hố và trồng mới. Theo báo cáo của ban quản lý dự án 147 huyện Pác Nặm thì đến thời điểm này toàn huyện đã thiết kế được 276,68ha, người dân các địa phương đã tiến hành xử lý thực bì được 250ha và trồng mới được trên 191ha, trong đó có 8,6ha rừng phòng hộ.
Ban quản lý dự án 147 huyện cũng đã tổ chức cấp cây giống cho các hộ dân đăng ký trồng rừng đã được thiết kế với trên 576.000 cây, bao gồm: Mỡ, Keo, Soan, Lát và Thông. Toàn bộ số cây giống phục vụ trồng rừng năm 2016 đều được gieo ươm tại địa phương nên việc vận chuyển, cấp phất được dễ dàng thuận lợi hơn, đảm bảo được chất lượng cây giống khi đem trồng.
Ông Lê Xuân Diệu - Hạt trưởng hạt kiểm lâm, phó ban QLDA 147 huyện Pác Nặm cho biết: Để đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng trồng rừng thì Ban QLDA đã chỉ đạo cán bộ hàng ngày phải xuống địa bàn đi từng hộ gia đình đã được cấp cây giống kiểm tra xem các hộ dân có chăm sóc bảo quản đúng kỹ thuật hay không. Đối với các hộ đã trồng thì phối hợp với ban phát triển rừng các thôn đi kiểm tra từng diện tích, nếu xảy ra cây chết hay kém chất lượng thì có phương án cấp phát bổ sung cây giống để trồng dặm kịp thời.....
Vụ trồng rừng năm nay huyện Pác Nặm là địa phương được giao chỉ tiêu kế hoạch thấp nhất của tỉnh với 260ha trong đó có 250ha rừng sản xuất tập trung và 10ha rừng phòng hộ. Để đảm bảo việc trồng rừng được theo đúng kế hoạch và đảm bảo chất lượng cũng như kỹ thuật thì Ban quản lý dự án 147 huyện đã chỉ đạo các cán bộ phụ trách địa bàn phối kết hợp chặt chẽ với UBND các xã tổ chức rà soát các diện tích đã được thiết kế, vận động người dân khẩn trương xử lý thực bì.
Tiến hành hướng dẫn kỹ thuật cuốc hố trồng cây cho từng hộ tham gia trồng rừng ngay tại thực địa. Nhất là đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nhờ đó các diện tích rừng đã trồng đều đảm bảo kỹ thuật.
Ông Chu Thanh Tường - Cán bộ hạt kiểm lâm huyện Pác Nặm cũng cho biết: Nhiều hộ dân có thói quen trồng dày nên nếu không kịp thời kiểm tra hướng dẫn và nhắc nhở thì sẽ dẫn tới tình trạng thiếu cây giống so với diện tích thiết kế cũng như chất lượng rừng trồng sẽ bị giảm.
Mặc dù vậy, quá trình triển khai trồng rừng năm 2016 ở Pác Nặm cũng còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt tình trạng thời tiết hạn hán kéo dài trong thời gian qua đã làm cho kế hoạch xuất cây giống đem trồng bị chậm lại so với kế hoạch. Nhiều diện tích trồng rừng nằm cách xa với đường giao thông nên việc vận chuyển cây giống của người dân cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các hộ ít nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, với sự vào cuộc tích cực và quyết liệt của mình, huyện Pác Nặm hi vọng sẽ hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016 trong thời gian sớm nhất, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ và chỉ tiêu giao. Góp phần cùng cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 9/7) đầu trang(
Năm 2015, độ che phủ rừng tỉnh Điện Biên chỉ đạt 38,5%, một con số đáng báo động về thực trạng quản lý và bảo vệ rừng khu vực đầu nguồn.
Nhiều chính sách, chương trình, dự án trồng rừng được tỉnh Điện Biên đề ra nhưng hiệu quả không cao. Song, vẫn còn có những tấm gương âm thầm trồng rừng, giữ rừng trong "hành trình" trả lại màu xanh cho đất. Tuy nhiên cũng phải thắng thắn một điều, để có được tỷ lệ che phủ rừng vượt con số 40% thì Điện Biên sẽ phải nỗ lực nhiều.
Vay của rừng... Ai là người trả? Câu hỏi được đặt ra trong bối cảnh Điện Biên mất rừng dường như là quá muộn. Nhưng dẫu muộn cũng còn hơn không. Song để chỉ mặt đặt tên ai là người phải đứng ra chịu trác nhiệm "trả nợ rừng" thì e là quá khó, khi mà người ta đã đua nhau "vay nợ" từ rừng.
Từ các công trình thủy điện, thủy lợi với quy mô lớn, nhỏ mọc lên như nấm cho đến những nhát dao thô sơ của đồng bào "trảm rừng" để lấy đất gieo, trồng canh tác. Ai sẽ là người "trả nợ" cho rừng? Rất khó để quy trách nhiệm rõ ràng đen - trắng. Song khoản "vay" trên đã đến lúc phải có người đứng ra lo "trả". Không ai khác, ngoài chính quyền địa phương tỉnh Điện Biên, đã đến lúc cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên trả lại màu xanh cho đất, cho rừng.
Với kiến tạo địa hình, Điện Biên có trên 70% diện tích đất có độ dốc cao, nên rừng của địa phương này giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết nước vùng hạ du, duy trì dòng chảy ngăn chặn sự bồi lấp cho các lòng hồ, sông, suối. Hiện toàn tỉnh có khoảng 814.000ha đất lâm nghiệp, bao gồm 367.469,51ha đất có rừng. Trong đó, 153.341,74ha rừng phòng hộ đầu nguồn.
Riêng huyện Điện Biên với diện tích rừng hiện có là 81.521,58ha. Trong đó, 51,2% là rừng phòng hộ đầu nguồn cung cấp nước cho các hồ chứa Pa Khoang, Pe Luông, hồ Hồng Sạt... và dòng sông Nậm Rốm phục vụ tưới tiêu cho trên 140km2 của cánh đồng Mường Thanh, đem lại mùa màng bội thu, cây cối tốt tươi phục vụ sản xuất nông nghiệp cho địa phương này.
Không chỉ thế, Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn của cả nước: sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông. Riêng lưu vực sông Đà chạy qua các địa phận huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và TX. Mường Lay có diện tích khoảng 5.300km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Điện Biên. Sông Đà có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng.
Năm 1994, Nhà máy Thủy điện Hoà Bình có công suất 1.920 MW với 8 tổ máy được vận hành và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam. Chính vì ở vị trí đầu nguồn nên rừng của Điện Biên góp phần hết sức quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và điều tiết dòng chảy cho các vùng hạ du....
Việc hệ thống các công trình thủy điện chạy dọc theo các lưu vực sông Đà, sông Mã, sông Mê Kông đã chứng minh việc con người chinh phục thiên nhiên. Bắt thiên nhiên ra sức phục vụ lợi ích của con người; hàng triệu nóc nhà có nguồn điện chiếu sáng, sản xuất nhiệt điện phục vụ ngành công nghiệp nặng, nhẹ khác nhau trong khu vực và vĩ mô toàn quốc.
Không thể phủ nhận những nỗ lực, cố gắng của con người trong việc chinh phục thiên nhiên. Song không thể phủ định việc những con đập được dựng lên, theo đó là những cánh rừng cũng “vơi” đi và ngập trong biển nước. Từ đó, mà hệ lụy “vay - trả” được hình thành. Ngay cả khu rừng đầu nguồn suối Nậm Khẩu Hú (khoảnh 9, tiểu khu 686) thuộc địa bàn xã Huổi Un, xã Mường Pồn; nơi giáo ranh với 3 xã: Mường Pồn, Nà Nhạn, Nà Tấu (huyện Điện Biên) – cách TP. Điện Biên Phủ khoảng hơn 30km cũng phải "đổ máu" vì mục tiêu của công trình.
Nhưng đó là những câu chuyện của ngày đã qua, hiện Điện Biên chỉ còn một giải pháp duy nhất để cứu hàng nghìn héc – ta đất không bị sa mạc hóa, đó là phải "trả nợ" cho rừng. Trong tương lai, Điện Biên rất cần một lộ trình rõ ràng trong việc phát triển, bảo vệ và trồng rừng. Để làm được điều này, ngoài chiến lược thì không thể thiếu đi lòng quyết tâm và nghị lực của cả hệ thống chính trị, toàn bộ quân và dân tỉnh Điện Biên.
Đứng trước nguy cơ sa mạc hóa đất đồi và rất nhiều hệ lụy, hậu quả từ việc mất rừng, Điện Biên cần có một giải pháp đủ mạnh về thể chế, coi nhiệm vụ giữ rừng, trồng rừng là một trong những mục tiêu có tính chiến lược lâu dài và quyết liệt.
Hiện nay, Điện Biên có 13 công trình phải trồng rừng thay thế, với diện tích 395,959ha, gồm Dự án Công trình Thủy điện Sơn La; thủy điện Lai Châu; Dự án đầu tư xây dựng công trình 500KV Sơn La – Lai Châu; Dự án Nậm Núa; Dự án Thủy điện sông Đà đang triển khai ngăn dòng sông Mã tại địa phận xã Phì Nhừ, huyện Điện Biên Đông... và còn nhiều dự án quy mô nhỏ khác nhau. Song địa phương này cũng đưa vào lộ trình 6 tháng cuối năm 2016, mục tiêu trồng mới 474,02ha. Trong đó, 441ha rừng phòng hộ, 33,02ha rừng trồng thay thế.
Trên thực tế đã có không ít các doanh nghiệp không thực hiện trồng bù rừng như đã cam kết. Điều này đã khiến không ít địa phương, gian nan trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch trồng bù rừng tại các vị trí mà dự án công trình đã lấy đi rừng của họ. Chia sẻ điều này, ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, chua sót: "Sa mạc hóa đang trở thành mối hiểm họa đối với tỉnh Điện Biên. Vấn đề đặt ra là khắc phục tình trạng này như thế nào? Không có cách nào khác là con người lấy đi của tự nhiên những gì thì phải trả lại cho tự nhiên thứ đó."
Theo kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 – 2020 đặt ra mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 41,5% vào năm 2020. Đây là bài toán khó cho các cấp các ngành quản lý bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên. Song, khó không có nghĩa là không làm được.
Để đạt được mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 41,5% vào năm 2020, yêu cầu bắt buộc tỉnh Điện Biên phải tìm ra những giải pháp thiết thực và hiệu quả triển khai thực hiện các cơ chế chính sách hiện hành về thu hút đầu tư đối với các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp. Cùng với đó, thay đổi cơ chế, chính sách về suất đầu tư trồng rừng. Khẩn trương giao đất giao rừng cho các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc đụng để làm cơ sở giao kế hoạch trồng rừng hàng năm...
Ngoài ra, Điện Biên phải làm tốt công tác tuyên truyền bảo vệ và phát triển rừng tới người dân. Song song với đó, thực hiện tốt việc chi trả dịch vụ môi trường rừng để người dân thấy được lợi ích từ rừng, sống được nhờ rừng.... Bên cạnh đó, Điện Biên có chế tài đối với các doanh nghiệp chây ỳ không thực hiện phương án trồng bù rừng như đã cam kết.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Điện Biên (trong buổi làm việc ngày 16/6/2016) xây dựng chương trình riêng về nông nghiệp, lâm nghiệp; chương trình bảo vệ rừng coi đấy là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của chính quyền các cấp mới có thể tạo được chuyển biến. Trên cơ sở Quyết định 07 của Thủ tướng Chính phủ triển khai giao trách nhiệm quản lý Nhà nước tới các cấp, các ngành.
Rõ ràng vai trò của những người đứng đầu trong các bộ máy quản lý nhà nước của tỉnh Điện Biên trong việc chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát từ khâu lập kế hoạch cho đến khâu thực hiện là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, đối với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong việc giữ rừng và bảo vệ rừng. Trước mắt, Điện Biên cần nhân rộng các mô hình nông, lâm kết hợp để người dân tham gia và thấy được lợi ích hiệu quả từ rừng. Sẽ không quá khó nếu tất cả những người ngồi trên ghế trách nhiệm gỡ khó thay vì chỉ biết kêu khó thì không bao lâu rừng Biện Biên sẽ phủ trống đất đồi.
Trong khi nhiều diện tích rừng ngày càng bị hủy hoại, nhiều đề án trồng rừng không đem lại hiệu quả, người dân không mặn mà với việc trồng rừng vì suất đầu tư quá thấp. Điện Biên vẫn còn những con người yêu đất, yêu rừng. Nếu vỡ hoang đất là niềm vui của đời cha thì tận thu lâm sản niềm hãnh diện của đời con.
Họ chẳng cần đến những dự án gieo bay, bay gieo ngốn hàng trăm tỷ đồng của Nhà nước. Họ cũng chẳng phải là những nhà khoa học, hoạch định kinh tế vĩ mô... Họ đã biết yêu đất từ nỗi nhọc nhằn mà làm nên kỳ tích, thay đổi chính cuộc đời mình.
Anh Lò Văn Miên, bản Ten, xã Hua Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. chia sẻ: Gia sản của mình không có gì ngoài mấy chục héc – ta rừng. Cách đây khoảng 16 năm, mình nhận 45ha rừng để khoanh nuôi, bảo vệ và trồng xen canh các giống cây gỗ trồng quý, có giá trị kinh tế cao. Mình dành 10ha để quy hoạch phát triển trang trại, trồng cây ăn quả, lấy nước khe đào ao thả cá.
Mình tính phải trồng cây ăn quả ngắn ngày để "lấy sức" nuôi rừng dài ngày. Trồng rừng thì không thể ăn sổi. Giờ thì đỡ rồi... mình thuê 10 lao động ở bản lên phụ giúp rồi mình trả họ công. Đấy, việc chỉ có thế thôi. - Anh Miên kể.
Câu chuyện của anh Miên đúng là chỉ có thế. Nhưng chúng tôi hiểu sau câu chuyện ấy là cả một quyết tâm, nghị lực vượt khó và anh đã biết gửi ước mơ và tình yêu vào đất, vào rừng cho thế hệ mai sau. Điện Biên không thiếu những gương trồng rừng như hộ anh Miên và cả những tập thể chăm sóc, bảo vệ rừng rất tốt. Xã Nà Tấu, huyện Điện Biên là một điển hình.
Ông Lò Văn Khụt, Trưởng bản Hua Luống, xã Nà Tấu, cho biết: Năm 2015, bản Hua Luống đã trồng được trên 11ha rừng. Năm 2016, bản tiếp tục nhận trồng khoảng 15ha. Toàn bộ diện tích trên đều nằm vị trí xung yếu, có vai trò phòng hộ đầu nguồn. Nhận thấy được việc mất rừng gây lại những hậu quả nghiêm trọng, toàn thể bà con trong bản đã tích cực trong việc trồng và chăm sóc rừng. Một phần là để hạn chế lũ lụt gây xói mòn, rửa trôi đất, một phần cũng là để duy trì nguồn nước để sản xuất nông nghiệp.
Còn ông Quàng Văn Sơn, Chủ tịch xã Nà Nhạn, chia sẻ: Từ khi có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thì người dân đã nhận thức được lợi ích, vai trò của việc chăm sóc bảo vệ rừng. Năm 2015, xã Nà Nhạn đã tổ chức trồng được trên 28ha rừng phòng hộ; năm 2016 trồng được 40ha (trong đó có 4,6ha rừng thay thế của công trình tuyến đường Nà Nhạn- Mường Phăng). Đến nay, trên 2.400ha rừng của Nà Nhạn đủ tiêu chuẩn để chi trả dịch vụ môi trường rừng. Độ che phủ rừng đạt 49%. Nà Nhạn trở thành xã dẫn đầu trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Điện Biên.
Điểm qua vài câu chuyện ngắn trồng rừng tại Điện Biên cho thấy người dân đã nhận thức phần nào vai trò và trách nhiệm cũng như lợi ích từ việc chăm sóc, bảo vệ rừng. Các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là động lực quan trọng để các tập thể, cá nhân tham gia trồng rừng, giữ rừng.
Song có một điều rất phũ nhưng mà thật: Người dân chỉ yêu rừng khi họ thấy được lợi ích từ rừng và sống được nhờ rừng. Trong tương lai, dẫu chủ rừng là hộ cá nhân, cộng đồng hay tập thể thì chính quyền các cấp của tỉnh Điện Biên cũng đừng để họ “đơn phương” trong cuộc chiến giữ rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 10/7) đầu trang(
Trước sự biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, huyện Năm Căn đã và đang tích cực thực hiện công tác trồng và bảo vệ rừng. Trong 10 năm qua, diện tích rừng của huyện Năm Căn tăng trên 3.000 ha, đạt tỷ lệ che phủ trên 33%.
Hơn nửa đời người sinh sống trên đất Tam Giang, ông Trần Văn Lành, 65 tuổi, ấp Lung Ngang, luôn xem rừng như của quý. “Gần 4 ha mặt nước nuôi tôm được những tán rừng che chắn, tôm không bị nhiễm mặn, nguồn nước ít nhiễm phèn, tôm phát triển tốt. Mặc dù được quy hoạch là rừng sản xuất, nhưng việc trồng rừng xem như của để dành, trồng cây nào, tôi cũng muốn giữ cây đó”, ông Trần Văn Lành cho biết.
Ngoài việc chăm sóc rừng, ông Trần Văn Lành dành nhiều thời gian giáo dục con cháu của mình cách trồng và bảo vệ rừng.
Từ nhiều năm qua, người dân huyện Năm Căn luôn ý thức hơn lợi ích từ rừng mang lại. Bà Trương Thị Cảnh, ấp Lung Ngang, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, bộc bạch: “Mình là nông dân, chữ nghĩa không nhiều nhưng thấy mặt đất mà không cây là giống như sa mạc rồi, làm sao sinh sống được. Ở đất Tam Giang này, không chỉ bà con xóm này mà hiện nay, mọi người xem việc trồng rừng và bảo vệ nó là mục đích chung vừa đem lại nguồn lợi kinh tế, vừa góp phần giữ khí hậu ôn hoà”.
Ông Nguyễn Văn Ðổng, nhân viên Tiểu khu 4, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển, huyện Năm Căn, cho biết: “Từ nhiều năm qua, chúng tôi rất chú trọng tuyên truyền, phát động người dân trồng và bảo vệ rừng. Cùng với giá trị kinh tế rừng ngày càng lớn nên người dân tự giác trồng rừng và giữ rừng khá tốt”.
Trong nhiều năm qua, huyện Năm Căn tích cực tìm giải pháp phù hợp, ứng phó một cách linh hoạt trước diễn biến phức tạp của thời tiết. Mô hình sản xuất thuỷ sản kết hợp trồng rừng: rừng - tôm được khuyến khích phát triển. Ðến nay, huyện Năm Căn có trên 8.350 ha rừng - tôm.
Cùng với đó là diện tích khu rừng phòng hộ trên 2.570 ha, rừng sản xuất 1.000 ha của xã Tam Giang Ðông. Ðây được xem là hình mẫu thành công của phương châm “lấy rừng nuôi rừng”. "Sắp tới, sẽ có thêm khoảng 40 ha rừng đước được trồng mới theo dự án chống biến đổi khí hậu ở xã bãi ngang Tam Giang Ðông, từ đó sẽ hình thành những đai rừng kiên cố”, ông Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Giang Ðông, cho biết. (Báo Cà Mau 10/7) đầu trang(
Từ năm 2015, UBND tỉnh cho phép triển khai thực hiện thí điểm trồng rừng sản xuất theo phương thức hỗ sau đầu tư đối với hai huyện Bảo Yên, Bảo Thắng và 2 xã Tân An, Tân Thượng (huyện Văn Bàn).
Theo đó, sau một năm thực hiện, đã có 2.674 hộ dân tham gia và 1 doanh nghiệp (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên làm chủ đầu tư, có 1. 114 hộ gia đình tham gia); đến nay, đã đăng ký và trồng được trên 3.425 ha/3.090 ha kế hoạch giao thực hiện (bao gồm các loại cây: quế, keo, mỡ, trẩu, xoan…). (Báo Lào Cai 10/7) đầu trang(
Năm 2016, do nhu cầu người dân tự đầu tư trồng rừng tăng cao nên số vườn ươm trên địa bàn huyện Chợ Đồn không đáp ứng đủ nhu cầu giống keo và quế cho người trồng rừng.
Tại một số vườn ươm của huyện Chợ Đồn như: Vườn ươm Bình Trung, vườn ươm thuộc lâm trường huyện Chợ Đồn và các vườn ươm nhỏ trong dân, mặc dù nhiều diện tích người dân tự đầu tư trồng rừng đã đăng ký gieo ươm cây giống từ trước, các vườn ươm cũng chủ động gieo ươm thêm 10-15 vạn cây giống nhưng vẫn không đủ giống cung cấp.
Chị Lý Thị Hương, Chủ Vườn ươm thôn Nà Đon, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn cho biết: Năm nay, rất nhiều người dân trong xã tự đầu tư trồng rừng. Vườn ươm của chị gieo ươm 15 vạn cây mà không đủ giống phục vụ người dân trồng rừng.
Theo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn cho biết: Năm nay, diện tích do người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng tại huyện Chợ Đồn đã đăng ký là trên 150ha, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam của huyện gồm các xã Bình Trung, Đại Sảo, Nghĩa Tá. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 10/7) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2016, số liệu về trồng rừng và khai thác gỗ tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong khi đó số liệu về chăm sóc rừng trồng, trồng cây phân tán, khoanh nuôi tái sinh có xu hướng giảm nhưng không nhiều.
Cụ thể, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 86,7 nghìn ha, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 2,7 ngàn ha, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 84 ngàn ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.844 nghìn m3 , tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tại miền Bắc, các địa phương đang ở giai đoạn trồng rừng chính vụ. Đến ngày 20/6, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 83.651 ha rừng, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Bắc Trung Bộ có tiến độ trồng rừng nhanh nhất đạt 15.287 ha, tăng 35,5% so với cùng kỳ năm trước, Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 12.870 ha  tăng 11,7%, Trung du và miền núi phía Bắc trồng đạt 55.494 ha, (giảm 11,1%).
Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Quảng Ninh đạt 12.000 ha (tăng 11,9%), Phú Thọ đạt 7.550 ha (tăng 16,9%), Nghệ An đạt 7.420 ha (tăng 22%). Bên cạnh công tác trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, giao khoán bảo vệ và tiến hành chăm sóc diện tích rừng trồng các năm trước.
Tại các tỉnh miền Nam đã bắt đầu triển khai công tác trồng rừng. Đến ngày 20/6, các địa phương trồng đạt 3.083 ha. Trong đó Quảng Nam trồng đạt 2.300 8 ha (Cùng kỳ năm trước chưa trồng), Kiên Giang trồng đạt 420 ha (Cùng kỳ năm trước chưa trồng), Đồng Tháp trồng đạt 100 ha (Cùng kỳ năm trước chưa trồng).
Bên cạnh công việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục chuẩn bị hiện trường, thiết kế kỹ thuật trồng rừng, gieo ươm và chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2016. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng trồng các năm trước.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trong 6 tháng đầu năm do thời tiết diễn biến phức tạp rét đậm ở nhiều tỉnh trung du và vùng núi phía Bắc nên thiệt hại hàng nghìn ha rừng bị chết khô khi gặp thời tiết hanh khô nắng nóng là tác nhân gây ra nhiều vụ cháy.
Để chủ động tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 10/CT-TTg ngày 30/3/2016 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhiều tỉnh tại Trung du và miền núi phía Bắc đã xảy ra cháy rừng với diện tích lớn. Diện tích rừng bị cháy trong cả nước là 1.955 ha, tăng gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm trước.
Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Điện Biên 969 ha; Sơn La 452 ha; Yên Bái 194 ha; Hà Giang 156 ha. Phá rừng: Diện tích rừng bị phá trong 6 tháng đầu năm là 644 ha, tăng 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có diện tích rừng bị chặt phá nhiều như Bình Định 180 ha; Điện Biên 175 ha; Quảng Nam 56 ha. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 8/7)
Chế biến gỗ là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, nhưng nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên trong nước chỉ đáp ứng 10% nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Ngành chế biến gỗ phải nhập phần lớn nguyên liệu nên giá trị kinh tế không cao, ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh. Trước thực trạng này, trồng rừng để tạo vùng nguyên liệu là phương thức duy nhất để phát triển kinh tế rừng bền vững.
Thủ tướng Chính phủ vừa ra lệnh đóng toàn bộ các cửa rừng tự nhiên trên cả nước, kể cả rừng nghèo kiệt. Phú Yên có 3/4 diện tích rừng và đất rừng, trong đó có nhiều diện tích đất trống đồi trọc cần được phủ xanh bằng rừng trồng, khai thác hợp lý để phát triển bền vững.
Từ sau ngày tái lập tỉnh, lãnh đạo tỉnh đã kêu gọi đầu tư vào các dự án trồng rừng. Những năm 90 của thế kỷ trước, nhiều rừng trồng ở khu vực đèo Cả và một số nơi trong tỉnh đã đem lại hiệu quả tốt. Hiện nay, toàn tỉnh có 12 dự án trồng rừng của 10 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 1.168 tỉ đồng, tổng diện tích gần 41.968ha.
Tuy nhiên, trên thực tế, tổng vốn thực hiện tính đến tháng 6/2016 khoảng 458 tỉ đồng, diện tích rừng trồng chỉ 10.225ha. Tuy chỉ đạt 25% kế hoạch nhưng chính sách đầu tư và khai thác trồng rừng kinh tế của Phú Yên đã đi vào cuộc sống.
Trong những năm qua, toàn tỉnh có các doanh nghiệp thực hiện các dự án trồng rừng kinh tế trên địa bàn tỉnh: DNTN Bảo Châu, Công ty TNHH Bình Nam, Công ty CP Trường Thành Xanh, Công ty TNHH sản xuất và Thương mại Nam Long, Công ty TNHH Trang Lâm, Công ty TNHH Cao Nguyên Lâm, Công ty TNHH Loan Thu, Công ty TNHH Cây Xanh…
Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán về thực hiện nhiệm vụ quản lý, sử dụng đất trồng rừng đối với các dự án trồng rừng kinh tế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ngày 4/2/2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên ban hành Quyết định 501-QĐ/TƯ thành lập đoàn kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất trồng rừng đối với các dự án đầu tư trồng rừng kinh tế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ngày 11/4/2016, Ban cán sự Đảng, UBND tỉnh có báo cáo về kết quả kiểm tra. Bên cạnh một số khó khăn, báo cáo đã đánh giá cao những mặt thuận lợi của việc triển khai các dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh.
Trước hết về chủ trương, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 1819/QĐ-UBND ngày 2/11/2011 phê duyệt quy hoạch và phát triển rừng trên địa bàn toàn tỉnh giai đoạn 2011-2020 và Quyết định 107/QĐ-UB ngày 20/1/2014 sửa đổi, bổ sung Quyết định 1819/QĐ-UBND. Các cơ quan từ tỉnh đến cơ sở ủng hộ chủ trương trồng rừng, tạo điều kiện thuận lợi về giải phóng mặt bằng, quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng có hiệu quả.
Công tác khảo sát, điều tra thực địa, chọn loại cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của từng vùng nên cây trồng sinh trưởng tốt, bảo đảm độ che phủ, phát triển bền vững. Các vùng quy hoạch trồng rừng gắn với trục đường liên thôn, liên xã thuận lợi giao thông, vận chuyển, phòng cháy, chữa cháy rừng. Các doanh nghiệp có tiềm năng về vốn, kỹ thuật nên triển khai khá tốt. Mặt khác giá trị gỗ rừng trồng, có hiệu quả kinh tế; kích thích các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn đầu tư.
Về lĩnh vực chế biến tinh chế gỗ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 1658/2011 ban hành quy định một số chính sách ưu đãi nguyên liệu gỗ tròn khi khai thác, tỉa thưa rừng trồng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho doanh nghiệp chế biến tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh.
Chính sách ưu đãi nguyên liệu của UBND tỉnh đối với các doanh nghiệp chế biến tinh chế gỗ trên địa bàn là “bà đỡ” để hình thành các cơ sở chế biến tinh chế gỗ thành phẩm, tạo hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay, trong toàn tỉnh có nhiều cơ sở chế biến gỗ, trong đó có 7 cơ sở được đầu tư thiết bị hiện đại, đồng bộ để chế biến tinh chế gỗ thành phẩm. Đó là Công ty Sản xuất Thương mại Bảo Châu, Công ty CP Trường Thành Xanh, Công ty Đặng Gia Nghĩa, Công ty Phúc Quang Khang, Công ty TNHH Hoàng Sơn, Công ty TNHH Cao Nguyên Lâm, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Lâm Bình Phú.
Chính sách đó của UBND tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phát huy nội lực, hình thành nền công nghiệp biến gỗ hiện đại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong các đơn vị kinh tế tham gia trồng rừng và chế biến gỗ rừng trồng, DNTN Bảo Châu có 3 dự án trồng rừng hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao, xây dựng vùng nguyên liệu hơn 200ha ở huyện Sơn Hòa, Phú Hòa và TX Sông Cầu.
Cùng với việc trồng 2.000ha rừng nguyên liệu sắp đến tuổi khai thác, doanh nghiệp này còn đi đầu trong hội nhập bằng việc dồn sức trồng rừng theo kiểu cuốn chiếu, chuẩn bị cho hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu gỗ.
Doanh nghiệp đã đầu tư hai nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn, công nghệ hiện đại tại KCN An Phú và KCN Đông Bắc Sông Cầu.
Về vấn đề thị trường đầu ra của sản phẩm, Giám đốc DNTN Bảo Châu Trần Đăng Khoa đã làm việc với nhiều đối tác trên thế giới và nhận được sự ủng hộ, liên kết trong làm ăn. Các thị trường Nhật và châu Âu rất khó tính, đối tác đòi hỏi sản phẩm không chỉ có chất lượng cao mà còn bảo đảm về nguồn gốc xuất xứ gỗ hợp pháp.
Doanh nghiệp này cùng các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn muốn đứng vững trong thời hội nhập thì phải chủ động nguồn nguyên liệu và phương thức sản xuất hiện đại theo quy trình khép kín thì mới có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của khách hàng.
Các doanh nghiệp tham gia trồng rừng và chế biến gỗ rừng trồng đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương trong vùng nguyên liệu, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số, góp phần cải thiện đời sống một cách bền vững.
Trong bối cảnh rừng tự nhiên đã đóng cửa 100% thì trồng rừng, phát triển kinh tế rừng, khai thác chế biến gỗ rừng trồng là hướng đi phù hợp của một tỉnh như Phú Yên khi có 3/4 diện tích đất rừng. Lợi ích của trồng rừng và khai thác kinh tế rừng trồng có ý nghĩa lớn về kinh tế, đời sống, đảm bảo môi sinh, môi trường và cả an ninh quốc phòng để phát triển bền vững.
Phú Yên chưa có cảng biển phục vụ xuất khẩu gỗ nhưng có doanh nghiệp vẫn tạo được yếu tố cạnh tranh để phát triển bền vững. Chính sách phát triển kinh tế rừng trồng của tỉnh đã phát huy hiệu quả trong công cuộc đổi mới và hội nhập của quê hương Phú Yên.
Ngoài phát triển kinh tế rừng, các doanh nghiệp còn tích cực tham gia công tác xã hội từ thiện. Màu xanh rừng trồng Phú Yên đã và đang ngày một trải rộng, kinh tế rừng đã bắt đầu cất cánh. (Báo Phú Yên 11/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm, tổng số giấy phép khai thác lâm sản đã được cấp trên địa bàn tỉnh là gần 1.500 giấy phép.
Trong đó, giấy phép khai thác gỗ các loại là hơn 1.300 giấy với trên 26.000m3, lâm sản khác 149 giấy phép. Nhìn chung, các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác lâm sản thực hiện và tuân thủ đúng theo các cam kết trong quá trình khai thác. Bên cạnh đó, công tác quản lý, giám sát cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản và nuôi động vật hoang dã trong những tháng đầu năm cũng được đẩy mạnh.
Hiện toàn tỉnh có hơn 250 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, trong đó có 19 công ty, 25 doanh nghiệp, 8 hợp tác xã, gần 200 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động. Toàn tỉnh cũng có hơn 120 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã với số lượng trên 4.000 cá thể, gồm: Nhím, dúi, lợn rừng, hươu sao, trĩ đỏ, rắn hổ mang, rắn ráo, cầy vòi hương, gà lôi... Qua kiểm tra, theo dõi, tất cả các cơ sở đều thực hiện đúng quy định. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 8/7)
Để ngăn chặn tình trạng phá rừng tự nhiên và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương, UBND huyện An Lão đã ban hành kế hoạch phá bỏ những diện tích cây trồng trái phép. Theo đó, huyện An Lão chọn xã An Tân làm điểm.
Cụ thể, từ ngày 2 - 3.6, UBND xã An Tân phối hợp với lực lượng kiểm lâm và ngành chức năng huyện An Lão triển khai phá bỏ 20 ha cây lâm nghiệp (chủ yếu là keo lai) trồng trái phép tại lô 3 và lô 5, khoảnh 6, tiểu khu 22, xã An Tân. Tuy nhiên, khi lực lượng chức năng phá bỏ được 6,5 ha thì vấp phải sự ngăn cản, chống đối của một số đối tượng nên tạm ngưng.
Theo kế hoạch, trong 2 ngày 16 và 17.7, xã An Tân sẽ cùng lực lượng chức năng của huyện An Lão tiếp tục thực hiện phá bỏ 13,5 ha cây lâm nghiệp trồng trái phép còn lại tại vị trí này.
Để đảm bảo an toàn cho lực lượng làm nhiệm vụ, Chủ tịch UBND huyện An Lão đề nghị Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan của huyện tổ chức tuyên truyền để nhân dân biết việc phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp là vi phạm pháp luật. Các đối tượng có hành vi ngăn cản, chống đối lực lượng chức năng sẽ bị xử lý theo pháp luật. (Báo Bình Định 9/7) đầu trang(
Từ cuối năm ngoái đến đầu năm nay, giá gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh Bình Định luôn ở mức cao, gỗ keo bán tại nhà máy 1,35 triệu đồng/tấn và gỗ bạch đàn khoảng 1,1 triệu đồng/tấn.
Tuy nhiên, từ tháng 4 đến nay, giá gỗ rừng trồng liên tục giảm. Hiện gỗ keo được thu mua với giá khoảng 1 triệu đồng/tấn, gỗ bạch đàn còn 900.000 đồng/tấn.
Gia đình ông Văn Thành Công (51 tuổi, thôn Thuận Ninh, xã Bình Tân, H.Tây Sơn, Bình Định) trồng 10 ha rừng đang đến thời kỳ khai thác. Do giá gỗ rừng trồng xuống thấp nên trong tháng 5 ông chỉ bán 3 ha keo lai với giá 1,18 triệu đồng/tấn, còn lại chờ giá lên. Tuy nhiên, qua đến tháng 6, số rừng còn lại thương lái chỉ trả hơn 1 triệu đồng/tấn.
“Giá gỗ keo, bạch đàn ngày càng tụt dốc. Bây giờ mà tôi muốn bán thì cũng chẳng biết có ai mua không. Hầu hết các nhà máy chế biến dăm gỗ ở Bình Định gần như đã dừng thu mua gỗ nguyên liệu, thương lái vì thế cũng chẳng thu mua gỗ keo, bạch đàn. Trồng rừng phải mất 5 - 7 năm mới đến kỳ khai thác, vậy mà gặp ngay lúc gỗ rừng trồng rớt giá thê thảm, người trồng rừng sẽ gặp nhiều khó khăn”, ông Công nói.
Ông Hồ Đức Lâm (40 tuổi, ở thôn Thuận Hòa, xã Bình Tân), một người chuyên thu mua gỗ rừng trồng bán lại cho các nhà máy chế biến dăm gỗ, cho biết do giá gỗ rừng trồng rớt quá nhanh nên không thương lái nào dám đi thu mua, sợ lỗ nặng. Thậm chí, nhiều thương lái đã ứng tiền mua rừng trồng của nông dân cũng không dám khai thác vì giá bán gỗ thấp và các nhà máy thu mua với số lượng rất hạn chế.
Theo ông Võ Vạn Toàn, Phó giám đốc Công ty TNHH Sông Kôn (đơn vị chuyên băm dăm gỗ xuất khẩu, ở TP.Quy Nhơn, Bình Định), trên địa bàn tỉnh hiện đang có gần 20 nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, tổng công suất khoảng 1,2 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, đầu ra của mặt hàng này lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc nên khi các doanh nghiệp Trung Quốc dừng thu mua là các nhà máy chế biến dăm gỗ đều gặp khó khăn, phải dừng hoạt động.
Trong 3 tháng đầu năm 2016, Công ty TNHH Sông Kôn xuất khẩu sang Trung Quốc gần 10.000 tấn dăm khô. Từ tháng 4 đến nay, công ty này không xuất thêm được lô hàng nào nên đang tồn kho hàng chục ngàn tấn dăm khô và phải dừng thu mua nguyên liệu là gỗ keo, bạch đàn...
“Đầu năm 2016, giá dăm xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc ở mức 132 USD/tấn dăm khô nhưng hiện chỉ còn 123 USD/tấn và các doanh nghiệp của Trung Quốc đang ngừng thu mua mặt hàng này. Dăm gỗ xuất khẩu không có đầu ra thì các nhà máy chế biến dăm gỗ phải dừng sản xuất. Gỗ rừng trồng của nông dân vì thế cũng giảm giá và không có nhiều người thu mua”, ông Toàn nói.
Theo ông Nguyễn Thế Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Định, Bình Định đang có hơn 111.000 ha diện tích rừng trồng, trong đó có khoảng 55.000 ha do nông dân trồng.
“Trồng rừng bây giờ đâu phải chỉ cắm cây giống xuống rồi phó mặc cho trời như trước đây, mà còn phải đầu tư bón phân, chăm sóc rất bài bản nên tốn nhiều công sức và tiền bạc. Vì vậy, với giá gỗ rừng trồng thấp như hiện nay thì người trồng rừng sẽ không có lãi”, ông Dũng nhận định. (Thanh Niên 9/7) đầu trang(
Tình hình xuất khẩu gỗ của cả nước nói chung, tại Bình Dương nói riêng khá bình lặng trong 6 tháng đầu năm 2016. Nhiều thị trường giảm nhập khẩu khiến cho việc sản xuất gỗ của các doanh nghiệp (DN) chậm lại so với cùng kỳ năm 2015.
Tuy vậy, các DN gỗ của Bình Dương cũng đã có nhiều nỗ lực và đạt được kết quả khả quan.
Theo thống kê, tính đến tháng 6-2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ của cả nước đang có chiều hướng giảm ở các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ (giảm 3,95%), Nhật Bản (giảm 6,1%), Trung Quốc (giảm 10,66%), Anh (giảm 8,1%) so với cùng kỳ...
Trong khi đó, các DN trong nước mới tiếp cận lại thị trường có tăng trưởng như Hàn Quốc (tăng 3,23%), Úc (tăng 19,96%), Đài Loan (tăng 21,91%)… so với cùng kỳ. Theo các DN, nguyên nhân chính dẫn đến tình hình xuất khẩu của các DN gỗ trong 6 tháng qua gặp những khó khăn là do chịu tác động cạnh tranh từ Trung Quốc, Indonesia và Thái Lan.
Ông Lưu Phước Lộc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) cho biết, trong 6 tháng qua, các DN gỗ của Bình Dương có mức tăng trưởng 10% so với cùng kỳ năm 2015 và đạt 48% kế hoạch sản xuất năm 2016. Các thành viên của BIFA hoàn toàn có thể vượt kế hoạch xuất khẩu trong năm 2016, bởi các đơn hàng hiện nay đều tập trung vào những tháng cuối năm.
Ông Lộc cũng cho rằng, các DN gỗ của Bình Dương có chiến lược riêng là chỉ tập trung mở rộng khách hàng ở thị trường truyền thống. Tuy vậy, những khó khăn gần đây buộc các DN cần phải có sự điều chỉnh hợp lý. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất bắt đầu tăng trở lại do giá xăng dầu tăng, cùng với đó là chi phí bảo hiểm xã hội, tiền lương cho người lao động cũng tăng theo...
Khó khăn còn ở trong khâu mua nguyên liệu, do giá cả không ổn định và biến động liên tục theo từng ngày. Chính vì thế, nhiều hội viên BIFA chú trọng giữ vững thị trường truyền thống và khai thác khách hàng mới ở thị trường này là việc làm hết sức cần thiết.
Đánh giá từ sự kiện nước Anh rời Liên minh châu Âu (EU), lãnh đạo BIFA cho biết, phải 2 - 3 năm nữa xuất khẩu gỗ của các DN trong nước vào EU mới có biến động, vì những cam kết ràng buộc trước đó.
Điều này ít ảnh hưởng tới tình hình xuất khẩu của các DN trong nước, bởi chúng ta có đủ thời gian để thích nghi với thị trường truyền thống này khi Anh rời khỏi EU. Trong khi đó, thị trường Mỹ vẫn hứa hẹn nhiều đơn hàng hấp dẫn. Mỹ chính là thị trường nguyên liệu lẫn thị trường tiêu thụ lớn nhất của các DN gỗ Bình Dương.
Hội đồng xuất khẩu gỗ cứng Hoa Kỳ (AHEC) cho biết, hiện Việt Nam là thị trường nhập khẩu gỗ từ Hoa Kỳ đứng thứ hai thế giới (sau Trung Quốc). AHEC cũng lưu ý thị trường Mỹ đang yêu cầu nhà sản xuất áp dụng khoa học - công nghệ trong ngành công nghiệp gỗ, khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ hợp lý và bảo đảm môi trường.
Theo ông Lộc, Mỹ vẫn là thị trường giàu tiềm năng, nhất là khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được các nước tham gia, trong đó có Việt Nam và Mỹ ký kết, lộ trình mở cửa cho sản phẩm gỗ vào nước này càng có nhiều thuận lợi. Trước mắt, BIFA sẽ tiến hành rà soát lại tổng thể ngành công nghiệp phụ trợ sản xuất gỗ tại Bình Dương, xem còn thiếu những gì để có bước điều chỉnh nhằm giảm giá thành sản xuất.
Trong khi đó, việc xúc tiến hoàn thành xây dựng khu công nghiệp (KCN) riêng cho ngành gỗ tại KCN Tam Lập sẽ được tiến hành trong thời gian sớm nhất. KCN này sẽ giúp các DN kiểm soát được nguồn nguyên liệu hợp pháp, lẫn đáp ứng những yêu cầu khắt khe về công nghệ sản xuất và môi trường của thị trường Mỹ.
Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ cho người lao động trong lĩnh vực sản xuất gỗ cũng cần được BIFA khẩn trương thực hiện, bởi không riêng gì ở Bình Dương, nhân lực trong ngành công nghiệp gỗ của cả nước đang được đánh giá là kém năng suất và chất lượng so với các nước Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia... (Báo Bình Dương 11/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Quỹ đối tác các hệ sinh thái quan trọng (CEPF) đã đưa ra lời kêu gọi đề xuất mới cho các dự án tài trợ nhỏ tại Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, các bộ phận của miền Nam Trung Quốc và các dự án tài trợ lớn ở Myanmar.
CEPF là nhà lãnh đạo toàn cầu trong việc giúp xã hội dân sự tham gia và hưởng lợi từ việc bảo tồn một số hệ sinh thái quan trọng nhất của thế giới bằng cách cung cấp các khoản tài trợ cho các tổ chức để giúp bảo vệ các điểm nóng đa dạng sinh học, các khu vực bị đe dọa chưa giàu sinh học cao nhất của Trái đất. Đây là sáng kiến ​​chung của Cơ quan phát triển Pháp, Liên minh châu Âu, Quỹ Môi trường toàn cầu, Chính phủ Nhật Bản, Quỹ MacArthur và Ngân hàng Thế giới.
Năm 2013, Đội khu vực thực hiện CEPF tại Indo-Burma tức Indonesia - Myanmar (RIT) - gồm IUCN, Mạng Phục hồi chức năng - Bảo tồn Môi trường Myanmar dẫn đầu giai đoạn hai trong công việc của CEPF ở khu vực Indo-Burma. Họ đã đầu tư 10,4 triệu USD trong 5 năm tập trung vào bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc trao khoản tài trợ nhỏ và lớn cho các tổ chức xã hội dân sự.
Lời kêu gọi mới nhất đối với đề xuất cho các dự án tài trợ nhỏ dành cho các tổ chức phi chính phủ, nhóm cộng đồng, công ty tư nhân và tổ chức xã hội dân sự khác ở Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và một số khu vực của miền Nam Trung Quốc. Đồng thời, kêu gọi đề xuất cho các dự án tài trợ lớn là mở cửa cho các tổ chức quốc gia và quốc tế, các nhóm và các công ty của Myanmar.
Khoản tài trợ nhỏ trao cho các dự án ở tất cả các nước trong điểm nóng Indo - Burma phải giải quyết một hoặc nhiều trong những ưu tiên đầu tư của CEPF. Trong đó, tập trung vào hai nội dung chính là trao quyền cho cộng đồng địa phương tham gia vào việc bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học; Tăng cường năng lực của xã hội dân sự để làm việc về đa dạng sinh học, các cộng đồng và sinh kế ở cấp độ khu vực, quốc gia, địa phương và cơ sở.
Trước hết, để trao quyền cho cộng đồng địa phương tham gia vào bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học phải thực hiện: nâng cao nhận thức về pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học giữa các nhóm đối tượng tại các khu ưu tiên; thí điểm và mở rộng rừng cộng đồng, thủy sản cộng đồng và các khu vực được cộng đồng quản lý; xây dựng cơ chế đồng quản lý cho các khu vực được chính thức cho phép sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và quản trị; hỗ trợ mở rộng mạng lưới khu bảo tồn ở Myanmar.
Để tăng cường năng lực của xã hội dân sự cần hỗ trợ hoạt động cho phép phản ứng xã hội dân sự tập thể và các mối đe dọa đang nổi lên mạng; cung cấp hỗ trợ cốt lõi cho sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự trong nước; thiết lập cơ chế thanh toán bù trừ để phù hợp với tình nguyện viên cho đến nhu cầu đào tạo, tổ chức xã hội dân sự.
Ngoài ra, ưu tiên đầu tư của hướng chiến lược tham gia lồng ghép đa dạng sinh học, cộng đồng và sinh kế trong quy hoạch phát triển các hành lang ưu tiên. Cụ thể là hỗ trợ những nỗ lực của xã hội dân sự để phân tích chính sách phát triển, kế hoạch cũng như các chương trình, đánh giá tác động của đa dạng sinh học, cộng đồng và sinh kế; đồng thời, đề xuất các kịch bản phát triển thay thế, các biện pháp giảm nhẹ thích hợp khi cần thiết.
Bên cạnh đó, tích hợp những dịch vụ giá trị đa dạng sinh học, hệ sinh thái của hành lang ưu tiên vào các kế hoạch sử dụng đất và phát triển chính quyền các cấp; phát huy hiệu quả thực hiện, theo dõi các kế hoạch. Xây dựng các dự án trình diễn cho phục hồi sinh thái, cải thiện hiệu quả hoạt động đa dạng sinh học cho các chương trình của chính phủ trong lâm nghiệp và các lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên khác.
Tham gia các phương tiện truyền thông như một công cụ để nâng cao nhận thức và thông báo cho cuộc tranh luận công khai về đa dạng sinh học lồng ghép vào quy hoạch phát triển; mô hình thí điểm sản xuất đa dạng sinh học thân thiện, bao gồm chứng nhận và nhãn hiệu sinh thái…(Tài Nguyên Và Môi Trường 9/7) đầu trang(./.