Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 06 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Cùng với các địa phương trong cả nước, quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh trực thuộc Sở NN&PTNT, được thành lập theo Quyết định số 1567, ngày 3/8/2012 của UBND tỉnh. Quỹ chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10-2012, với mục tiêu chính là huy động các nguồn lực xã hội để BV&PTR, góp phần thực hiện thành công kế hoạch BV&PTR, cũng như cải thiện đời sống của người làm nghề rừng.
Với ý nghĩa đó, ngay sau khi được thành lập, Ban điều hành quỹ BV&PTR tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn. Ban điều hành quỹ đã tích cực phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cấp ngành, địa phương, đơn vị tư vấn thực hiện xây dựng Đề án chi - trả DVMTR tỉnh và đã được UBND tỉnh phê duyệt.
Phó giám đốc Quỹ BV&PTR tỉnh Bùi Việt Hà cho biết, DVMTR là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng những nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân. Năm 2012, tỉnh đã thông qua Đề án chi - trả DVMTR trên địa bàn tỉnh cho những đối tượng là chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường; tổ chức, hộ, cá nhân, cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước.
Số tiền DVMTR thu được sẽ trả cho các đơn vị chủ rừng và chi hỗ trợ các chương trình, dự án, công tác BV&PTR, chi hoạt động quỹ... Còn các đơn vị sử dụng DVMTR phải đóng tiền DVMTR gồm: Các cơ sở sản xuất thủy điện, sản xuất và cung ứng nước sạch, kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR...
Theo đó, trên địa bàn tỉnh hiện có 19 đơn vị chủ rừng sẽ được hưởng tiền DVMTR. Các đơn vị chủ rừng này được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, với tổng diện tích cung cấp DVMTR là 68.789 ha. Trong đó rừng tự nhiên 62.794 ha, rừng trồng 5.595 ha. Các đơn vị phải đóng tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh gồm: 6 đơn vị sản xuất thủy điện (4 đơn vị sử dụng DVMTR chung lưu vực và 2 đơn vị sử dụng lưu vực thuộc phạm vi hành chính của tỉnh); 3 đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch; 2 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch.
Cũng theo ông Hà, tiền DVMTR là nguồn thu lớn, bền vững và nếu thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR sẽ góp phần huy động các nguồn lực xã hội để BV&PTR, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác BV&PTR của những người được hưởng lợi từ rừng hoặc có các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến rừng.
Đặc biệt, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ giúp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Vì tính chất quan trọng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị UBND các tỉnh chỉ đạo tổ chức thành lập, kiện toàn nhân sự quỹ BV&PTR cấp tỉnh; đăng ký mở tài khoản, con dấu để tiếp nhận tiền chi trả DVMTR; rà soát xác định các cơ sở sử dụng DVMTR trong tỉnh; lập kế hoạch thu - chi và ký kết hợp đồng ủy thác DVMTR.
Theo ghi nhận của phóng viên, điểm nổi bật trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR thời gian qua là việc quỹ BV&PTR tỉnh đã trực tiếp làm việc với các đơn vị sử dụng DVMTR của tỉnh để tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về trình tự đăng ký, kê khai, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với quỹ BV&PTR trung ương, tỉnh theo đúng trình tự, thời gian quy định và nhận được sự đồng thuận cao.
Đến nay, quỹ BV&PTR tỉnh đã phối hợp với quỹ BV&PTR trung ương thực hiện ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với 5 đơn vị sản xuất thủy điện sử dụng DVMTR chung lưu vực. Quỹ đã trực tiếp thực hiện ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với 1 đơn vị sản xuất thủy điện, 3 đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch, 2 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch.
Để xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện, quỹ BV&PTR tỉnh đã chủ động tham mưu xây dựng kế hoạch thu - chi tiền DVMTR năm 2013; tham mưu hướng dẫn về trình tự nghiệm thu, thanh quyết toán tiền chi trả DVMT; tham mưu hướng dẫn quy trình lập kế hoạch thu - chi tiền DVMTR đảm bảo đúng quy định.
Trao đổi về các giải pháp thực hiện trong thời gian tới, Giám đốc Quỹ BV&PTR tỉnh Trần Văn Lộc cho biết: Năm 2013, quỹ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR đối với các đối tượng sử dụng, cung cấp DVMTR cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành về chính sách này.
Ban điều hành quỹ tăng cường vận động, thu tiền các đối tượng theo quy định của Chính phủ. Phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức xét duyệt, thẩm định các chương trình, dự án, phi dự án để hỗ trợ đầu tư khi có nguồn vốn thu được; tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, giám sát các đối tượng cung ứng DVMTR theo đúng quy định; thực hiện việc chi trả kịp thời, đúng tiến độ tiền chi trả DVMTR đến các chủ rừng… Báo Bình Phước 11/6) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Theo Sở NN và PTNT, đến nay tỉnh đã thu được gần 8 tỷ đồng tiền phí dịch vụ rừng của các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng các dịch vụ liên quan đến rừng. Hiện tỉnh đang tính toán mức chi trả nguồn phí này lại cho các đơn vị chủ rừng.
Được biết, theo quy định của Chính phủ, các nhà máy thủy điện, cơ sở cung ứng nước sạch, cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch, các cơ sở sản xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản… có lấy nước từ nguồn nước phải trả phí dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, hiện nay từ Trung ương đến các tỉnh, thành mới chỉ tiến hành thu phí của nhà máy thủy điện, các cơ sở cung ứng nước sạch và kinh doanh du lịch. (Đại Biểu Nhân Dân 11/6) đầu trang(
Kỳ lạ thay, ở những vùng quê cằn khô, bị chiến tranh tàn phá như Quảng Trị, vẫn tồn tại những khu rừng tốt tươi.
Người xưa có câu “làng bỏ, họ chê” để nói về hoàn cảnh bi đát, tồi tệ nhất mà người dân sống ở nông thôn có thể gặp phải. Tưởng chuyện chỉ còn trong quá khứ thì ngày nay người dân thôn Nhĩ Thượng (xã Gio Mỹ, H.Gio Linh, Quảng Trị) vẫn có “cơ hội” gặp lại “lệ cũ” khi ai đó dám đụng đến hai khu rừng thiêng của làng...
Nhĩ Thượng là ngôi làng nằm ở phía đông H.Gio Linh, đất ở đây chủ yếu là cát pha, không nặng mấy phù sa. Dù vậy người xưa khi đi khai khẩn đã khéo léo chọn thế “đắc địa” cho làng. Làng tựa lưng vào khu rừng trâm bầu thâm u, phía trước là trảng cát mênh mông nhưng đã có “cánh cung” rừng sác che chắn. Có lẽ vì vậy mà từ ngàn đời, người Nhĩ Thượng đã coi rừng là báu vật. Còn rừng còn người, hết rừng làng mạc cũng tan hoang...
Có lẽ, không nhiều làng mạc có ý thức giữ rừng bền lâu như Nhĩ Thượng. Chuyện kể rằng, từ mấy trăm năm trước, các bô lão đã họp lại và cử ra một “từ phu” (tương tự “thằng mõ” ở đồng bằng phía bắc) chuyên đi thông báo, nhắc nhở dân chúng việc làng, việc nước. Những ngày nắng ráo, “từ phu” sẽ loa rằng: “Cấm cồn, cấm kẹ, cấm rú, cấm sác, khô tươi cấm hết”. Lâu riết rồi thành quen, về sau khi đời sống đổi thay, anh “từ phu” bị “thôi việc”, chẳng ai đi nhắc nhở nữa nhưng cũng không mấy người trong làng dám cầm rựa vào rừng.
Ông Nguyễn Ngọc (62 tuổi), nguyên Trưởng ban điều hành làng văn hóa Nhĩ Thượng giới thiệu rằng khu rừng trâm bầu là rừng trên cát có diện tích trên dưới 100 ha, còn rừng sác chống ngập mặn cũng tròm trèm 5 ha chạy dọc theo cánh đồng làng.
“Thời trước chiến tranh, rừng trâm bầu rậm rạp lắm. Về sau, đây là nơi nuôi giấu bộ đội. Nhưng đến thời chống Mỹ, địch đã lập điểm cao 31 ngay giữa rừng và đốn nhiều cây to để biến nơi đây thành một mắt xích trong hàng rào điện tử McNamara. Cũng chính vì vậy mà thời đó, các bô lão đã đồng lòng gửi thư đến chính quyền cũ yêu cầu không được tàn phá khu rừng vì mục đích quân sự”, ông Ngọc nói.
Hiện nay, dưới lòng đất của cánh rừng trâm bầu vẫn còn nhiều công trình, sắt thép từ thời chiến tranh để lại. Hài cốt, mồ mã, qua thời gian đã “tan” trong đất thành “thiên táng” nhưng trong tâm tưởng người dân thì ở đó vẫn là chỗ có người “nằm”. Cách đây vài năm, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu đã đứng ra kêu gọi và xây dựng một công trình tưởng niệm ở điểm cao 31, người dân hiện vẫn hương khói đều đặn...
Riêng đối với khu rừng sác, sự ra đời và tồn tại của nó là một điều hết sức kỳ lạ mà đến những cụ cao niên cũng không giải thích được. Không lạ sao được khi chiều rộng chỉ được vài chục mét nhưng rừng sác lại kéo dài trên 3 km, uốn thành hình chữ S, ôm trọn cánh đồng làng. “Nếu không có khu rừng sác thì chắc chắn không có hạt lúa nào sinh sôi được trên đất này. Bởi rừng sác đã lấy thân mình chắn cát, ngăn mặn, chở che cho từng tất đất sản xuất”, một cụ già của làng Nhĩ Thượng chép miệng.
Hòa bình lập lại, như mọi miền quê, Nhĩ Thượng điêu tàn sau đạn bom, 2 cánh rừng của làng cũng rỉ máu. Tưởng ai cũng lo cuốc cày xây dựng cuộc sống, sẽ quên mất “báu vật” một thời. Nhưng người Nhĩ Thượng đã sớm bắt tay ngay vào việc, chỗ nào hoang hóa thì họ trồng lại, chỗ nào tươi tốt thì chăm bẵm thêm xanh. Tổ bảo vệ rừng của làng cũng lập tức được thành lập và người dân phải nộp mỗi người một kg thóc/ha/năm để trả công cho họ.
Đến năm 1995, làng Nhĩ Thượng được lựa chọn là một trong ba ngôi làng đầu tiên của tỉnh Quảng Trị xây dựng mô hình làng văn hóa. Hương ước của làng được phục dựng, trong đó các vị chức sắc của làng không quên chép lại nhiều “điều khoản” nhắc nhở cháu con về ý thức bảo vệ rừng. Điều nào ra điều đó, ai vi phạm lỗi nào cứ chiếu theo hương ước mà “phạt”... (Thanh Niên 10/6) đầu trang(
Nhiều địa phương đã khoanh vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để phối kết hợp với lực lượng kiểm lâm chủ động đối phó với “giặc lửa” vào đỉnh điểm mùa khô.
Thời tiết nắng nóng ngày càng diễn biến khốc liệt, sự tác động của con người vào các loại rừng luôn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng. Theo thống kê, 10 năm qua (2003-2012), toàn tỉnh xảy ra 74 vụ cháy rừng, thiêu rụi hơn 332ha. Đáng chú ý, gần đây “bà hỏa” thường tấn công các khu rừng trồng keo, bạch đàn, thông nhựa ở các huyện Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn, Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn.
Nguyên nhân cháy rừng được xác định là do ý thức chủ quan của con người như đốt nương làm rẫy, đốt than, phát đốt bờ ruộng, khai hoang, đốt ong, đốt đồng cỏ chăn nuôi gia súc, thắp hương mồ mả, xử lý thực bì để trồng rừng, vệ sinh rừng sau khai thác…
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cảnh báo, bắt đầu từ tháng 6 này, nhiều cánh rừng trên địa bàn tỉnh sẽ đứng trước nguy cơ cháy rừng rất cao do nhiều ngày không mưa, thời tiết hanh khô kéo dài. Các khu vực Tiên Phước, Hiệp Đức đang ở cấp IV rất nguy hiểm. Các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An, Bắc Trà My, Nam Trà My ở cấp nguy hiểm.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang đã ký quyết định phê duyệt phương án PCCC rừng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, có 107/222 xã thuộc 17/18 huyện, thành phố được công nhận là xã trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng và được phân theo mức độ xung yếu như sau: vùng ít xung yếu gồm 49 xã, vùng xung yếu có 40 xã và vùng rất xung yếu 18 xã.
Theo ông Từ Văn Khánh - Trưởng phòng Quản lý và bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh), việc định vị được khu vực nguy cơ cháy rừng trên bản đồ nhằm giúp chính quyền cơ sở có phương án chỉ đạo cán bộ lâm nghiệp xã và lực lượng PCCC rừng, kiểm lâm địa bàn thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát lửa rừng nhằm ngăn chặn người vào rừng trái phép và phát hiện lửa kịp thời để có biện pháp cứu chữa hiệu quả. (Báo Quảng Nam 11/6) đầu trang(
10/6, dưới sự chủ trì của ông Đinh Viết Hồng - Phó chủ tịch UBND tỉnh, UBND tỉnh Nghệ An làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các ngành liên quan để bàn giải pháp giải quyết một số vấn đề về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013.
Đến nay, diện tích đất có rừng trong toàn tỉnh trên 885.574ha. Kim ngạch xuất khẩu lâm nghiệp của tỉnh đã tăng mạnh theo từng năm, riêng năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng trong lĩnh vực lâm nghiệp đạt trên 84 triệu USD, chiếm 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp và 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó thì hiện nay vẫn còn những khó khăn, đó là thủ tục cấp phép rừng tự nhiên còn phải qua nhiều khâu nên đôi khi ảnh hưởng đến việc triển khai kế hoạch kịp thời vụ.
Các số liệu về quy hoạch, diễn biến tài nguyên rừng, tăng trưởng rừng, trữ lượng, sản lượng lâm sản … còn bất cập. Trong kinh doanh gỗ rừng nhiều nơi chưa hiệu quả, việc khai thác rừng non còn phổ biến. Cơ sở hạ tầng lâm nghiệp, đặc biệt là hệ thống giao thông vừa thiếu, vừa kém chất lượng. Khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm sơ chế.
Bên cạnh đó, năm 2013 là năm đầu tiên thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng bằng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế nhưng hiện vẫn chưa có hướng dẫn cuả cơ quan trung ương. Đặc biệt hiện vẫn chưa cân đối được nguồn kinh phí để trả lương cho lực lượng lao động hợp đồng tự trang trải thực hiện nhiệm vụ phát triển rừng tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng; công ty lâm nghiệp; Tổng đội thanh niên xung phong. Những khó khăn này đã được các ngành bàn bạc, đưa ra các giải pháp để tháo gỡ trong hội nghị sáng nay.
Kết luận tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đinh Viết Hồng yêu cầu: Sở NN& PTNT cần tham mưu thực hiện tốt công tác tuyên truyền nhằm hạn chế tình trạng khai thác rừng non hiện nay; xây dựng văn bản qui định rõ trách nhiệm của từng cấp, ngành trong công tác bảo vệ, phát triển rừng; tham mưu cho tỉnh kế hoạch khai thác rừng… Sở cũng cần phối hợp tốt với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước trong thực hiện kế hoạch tài chính cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đảm bảo đúng tiến độ. (Đài PT - TH Nghệ An 11/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Gần 40 tỉ đồng đã được chi ra cho công tác bảo vệ rừng nhưng rừng vẫn không an toàn, rừng vẫn chảy máu...
Kon Tum là tỉnh nằm ở cực Bắc Tây Nguyên, tổng diện tích tự nhiên gần 10.000 km2, có độ che phủ của rừng chiếm gần 65% diện tích tự nhiên của tỉnh; là địa phương có khởi nguồn của nhiều con sông lớn chảy về xuôi và là nơi đầu nguồn của nhiều công trình thủy điện lớn tầm quốc gia cùng hàng chục thủy điện vừa và nhỏ...
Vì lẽ đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Kon Tum đã thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) với nhiệm vụ thu nhận tiền tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) do các nhà máy thủy điện đi vào hoạt động đóng góp và ủy thác, sau đó chi trả cho các chủ rừng để làm nhiệm vụ bảo vệ rừng và điều hòa nguồn nước cho các công trình thủy điện hoạt động.
Theo báo cáo của ngành chức năng tỉnh Kon Tum, trong năm 2012 và quý I-2013, Quỹ BV&PTR tỉnh này đã nhận trên 160 tỉ đồng từ DVMTR; và trong quý IV-2012 và quý I-2013, Quỹ BV&PTR đã tạm ứng cho các chủ rừng và người dân tham gia BV&PTR gần 40 tỉ đồng.
Tuy nhiên, điều khiến dư luận quan tâm là khi đã có chủ rừng (tức là rừng đã được giao quản lý cho con người cụ thể, với trách nhiệm rõ ràng) và chủ rừng đã được hỗ trợ tiền trách nhiệm về DVMTR nhưng “rừng vẫn không an toàn” và “rừng vẫn tiếp tục chảy máu”?
Số liệu thống kê cho biết, trong năm 2012 các chủ rừng đã để người dân phá trên 100 ha rừng làm nương rẫy trái phép; lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh đã phát hiện và xử lý trên 1.000 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu gần 1.500 m3 rừng; lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh đã phát hiện và xử lý 321 vụ vi phạm lâm luật và tịch thu trên 840 m3 các loại. Trong quý I-2013, các chủ rừng đã để người dân phá hơn 50 ha gỗ trái phép.
Mâu thuẫn của “bài toán mất rừng” cần sớm có lời giải từ cơ quan chức năng tỉnh Kon Tum. Trước tiên cần tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân và chủ rừng về tầm quan trọng của rừng và trách nhiệm bảo vệ rừng. Mặt khác, cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng phá rừng; nhất là chế tài mạnh đối với các chủ rừng đã nhận tiền DVMTR nhưng lại để mất rừng, khai thác gỗ trái phép. (Dân Trí 11/6) đầu trang(
Thiếu cơ chế hưởng lợi, dân chẳng thiết giữ rừng
“Trên danh nghĩa phần lớn diện tích rừng đã được giao cho các chủ quản lý, sử dụng.Nhưng thực tế diện tích rừng có chủ rất thấp, dẫn đến tình trạng rừng chưa được bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả. Qua đánh giá của một số địa phương, hiệu quả sau giao rừng chỉ đạt 20%-30%”.
Ông Trần Mạnh Long, Cục Kiểm lâm phát biểu tại hội thảo Giao đất rừng tại Việt Nam: chính sách và thực tiễn, tổ chức ngày 7 và 8-6.
Ông Hoàng Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung, cho rằng cơ chế hưởng lợi từ rừng là yếu tố quan trọng nhất để người dân gắn bó và giữ rừng. Nhưng hiện nay chính sách quy định về đồng hưởng lợi, đồng quản lý chưa được quan tâm.
“Rừng tự nhiên giao cho cộng đồng đa phần đều là rừng nghèo. Hộ gia đình chẳng được hưởng lợi gì ngoài việc khai thác song, mây, lá nón, tre nứa, mật ong” - ông Nguyễn Văn Hùng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế dẫn chứng.
“Muốn bảo vệ, phát triển rừng thì phải có cơ chế chính sách phù hợp, mang lại lợi ích cho người nhận rừng. Phải xác định chủ rừng được hưởng những gì trong rừng, khi nào được hưởng, đơn vị nào chủ trì phân chia sản phẩm…” - ông Mai Văn Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên-Huế, kiến nghị. (Pháp Luật TPHCM 11/6) đầu trang(
Thời gian qua, một số doanh nghiệp (DN) từng thành đạt bậc nhất trong ngành giấy đã sụp đổ đột ngột, trong khi rất nhiều DN khác lại "sống khỏe", làm ăn phát đạt, đang ra sức mở rộng sản xuất. Những thành công và thất bại của DN trong thời gian qua để lại nhiều bài học, ông Vũ Ngọc Bảo - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, chia sẻ những trăn trở với Thời báo Kinh Doanh.
Ông Bảo cho biết về tình hình sản xuất - kinh doanh của ngành giấy trong 5 tháng đầu năm 2013: Năm 2013 là năm cực kỳ khó khăn đối với ngành sản xuất giấy. Do suy thoái kinh tế, nên tiêu dùng giấy trong 5 tháng đầu năm đã giảm gần 3% so với cùng kỳ năm trước. Tiêu thụ giấy in báo giảm mạnh nhất. Đặc biệt, tiêu dùng giấy cao cấp tráng phấn giảm tới 34,5%. Năm 2012, tiêu dùng giấy bình quân đầu người đạt 32kg, nhưng 5 tháng đầu năm chỉ đạt 12,5kg, quy ra mức 30kg/năm.
Mặc dù khó khăn như vậy, nhưng trong 5 tháng đầu năm 2013, toàn ngành vẫn sản xuất được trên 860.000 tấn giấy, tăng 4,68% so với cùng kỳ năm 2012, riêng giấy sản xuất bao bì tăng tới 8,17%. Trong đó, xuất khẩu (XK) gần 70.000 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ.
Đài Loan là thị trường tiêu thụ giấy vàng mã chính của Việt Nam; Mỹ là thị trường tiêu thụ vở tập, giấy văn phòng; Việt Nam cũng XK giấy tissue cuộn lớn sang thị trường Nhật Bản. Do chất lượng giấy nội địa ngày càng được cải thiện, nên lượng giấy nhập khẩu (NK) đã giảm tới 12% so với cùng kỳ năm ngoái, nhất là giấy in báo và giấy tráng phấn cao cấp.
Theo ông Bảo: Sản xuất bột kraft gỗ cứng tẩy trắng (BHK) chủ yếu từ gỗ keo trong 5 tháng đầu năm 2013 đạt 90.000 tấn, tăng 35% so với cùng kỳ. Hiện tổng công suất thiết kế bột BHK của các nhà máy trong nước đã đạt tới 210.000 tấn/năm, chủ yếu ở Công ty CP Giấy An Hòa trên dây chuyền hiện đại do Metso Paper cung cấp, công suất 130.000 tấn/năm; và ở TCT Giấy Việt Nam với tổng công suất 75.000 tấn/năm.
Như vậy, sản xuất bột BHK đã đáp ứng được trên 80% nhu cầu trong nước. Lượng bột BHK NK 5 tháng đạt gần 15.000 tấn, giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng bột BHK nội địa rất tốt, tương đương với bột NK. Sản xuất bột kraft gỗ cứng không tẩy (UHK) vẫn tiếp tục ở một số nhà máy tích hợp quy mô vừa, phục vụ cho nhu cầu nội bộ. NK bột kraft đã giảm mạnh, hầu như bột kraft gỗ mềm tẩy trắng (BSK) đã không được nhập. Sản xuất bột hóa nhiệt cơ (CTMP) đã ngừng hoàn toàn (do Nhà máy Giấy Tân Mai đã ngừng hoạt động để di dời), nên loại bột này tạm thời vẫn phải NK.
Nhận định về sự phát triển của ngành giấy những năm qua, ông Bảo cho biết: Bức tranh ngành giấy 2 năm qua có cả mảng xám của sự cạnh tranh khốc liệt và mảng sáng là sự mở rộng của nhiều DN. Rất nhiều công ty đã ngừng hoạt động tạm thời hoặc vĩnh viễn; có cả một cụm công nghiệp chuyên về giấy đã bị tê liệt. Điều đáng suy nghĩ là những công ty từng thành đạt bậc nhất lại sụp đổ đột ngột. Ngược lại, rất nhiều công ty "sống khỏe", làm ăn phát đạt, đang ra sức mở rộng sản xuất.
Những thành công và thất bại của DN trong thời gian qua để lại nhiều bài học. Các công ty thất bại là do lựa chọn sai nhà cung cấp trang thiết bị, hoặc tự mua cụm chi tiết rồi thuê lập bản vẽ lắp ráp; lựa chọn sai nhà thầu hoặc tự thi công nhà máy… dẫn đến thiết bị lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu, điện, than, chất lượng giấy thấp nên thua lỗ. Điểm chung nhất của các DN thành công là sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường, giá cả phù hợp, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực.
Cũng theo ông Bảo: Hàng chục dự án mới đầu tư vào sản xuất bột giấy và giấy đang được cấp tập triển khai từ đầu năm đến nay. Điển hình phải kể đến vào tháng 5 vừa qua, công ty sản xuất giấy bao bì lớn nhất thế giới là Nine Dragons
Paper (Holdings) đã công bố sẽ lắp đặt 1 máy xeo mới ở Công ty TNHH Giấy Chánh Dương (công ty con của Nine Paper) với công suất 350.000 tấn/năm. Một trong những công ty sản xuất bột giấy lớn nhất thế giới khác cũng đã có đề xuất nghiêm túc xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy ở khu vực miền Trung. Dự án sản xuất giấy của Lee&Man Paper Manufacturing Ltd đang được khẩn trương thực hiện ở tỉnh Hậu Giang…
Suốt 3 năm qua, Việt Nam liên tục là quốc gia XK dăm gỗ mảnh lớn nhất thế giới, với khối lượng XK lên tới 6 triệu tấn dăm gỗ trong năm 2012, tương đương 2,7 triệu tấn bột giấy. Nghịch lý ở chỗ mỗi năm lại phải NK hơn 1 triệu tấn bột giấy và giấy. Giá XK dăm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm vừa qua chỉ khoảng 110 - 120 USD/tấn, trong khi giá NK bột giấy ở mức trung bình 900 - 1.000 USD/tấn. Chính điều này khiến các DN nước ngoài đang dồn dập đổ vào Việt Nam để đầu tư sản xuất bột giấy.
Điểm mấu chốt nhất để các DN giấy đứng vững và phát triển hiện nay chính là công nghệ. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà máy xeo giấy đều sử dụng loại công nghệ lạc hậu. Chính vì vậy, các DN nội địa phải nhanh chóng đổi mới công nghệ sản xuất giấy. Vấn đề thứ hai là các DN nội phải tự tạo cho mình vùng nguyên liệu, cần phải ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm đối với người trồng rừng để có nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất thì sẽ đứng vững được. (Thời Báo Kinh Doanh 10/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tỉnh Bắc Giang trồng mới gần 4 nghìn ha rừng tập trung và hơn 679 nghìn cây phân tán, với các giống chủ lực là keo, thông và bạch đàn, vượt gần 200 ha so kế hoạch năm.
Trong đó các đơn vị trực thuộc Sở NN và PTNT trồng hơn 2.120 ha; người dân tự trồng hơn 1.340 ha; các doanh nghiệp đóng trên địa bàn trồng 515 ha. Có được kết quả trên là do các địa phương, đơn vị đã chủ động tuyên truyền, lập kế hoạch, tập trung các nguồn lực, cung ứng kịp thời vốn, cây giống và phân bón đến các hộ dân. (Đại Biểu Nhân Dân 10/6) đầu trang(
Sự gia tăng dân số cơ học ở huyện Mường Nhé trong những năm gần đây, đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng. Ổn định dân cư và giải bài toán giữ rừng ở Mường Nhé, tưởng chừng là hai việc rất khác nhau, nhưng lại có liên quan, ảnh hưởng tới nhau.
Huyện Mường Nhé có diện tích tự nhiên rộng gần 250.000 ha, trong đó có trên 120.000 ha rừng. Đất đai rộng lớn, nguồn tài nguyên dồi dào đã tạo nên sức hút mãnh liệt cho dân di cư tự do đến vùng đất biên cương xa xôi này. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở về đây, làn sóng di dân tự do tới Mường Nhé ngày càng phức tạp. Dân số gia tăng nhanh chóng cùng với nhu cầu về đất sản xuất và các nhu cầu khác đã tạo ra sức ép lớn đối với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương này.
Khu vực rừng phòng hộ do bản Mường Nhé, xã Mường Nhé được giao khoanh nuôi bảo vệ theo đề án 30a, đây là loại rừng hỗn giao với nhiều tầng cây khác nhau. Loài cây gỗ phổ biến nhất ở đây là cây dẻ đỏ. Ở khu vực này trong khoảng 1.000m2 có hàng trăm cây dẻ đỏ có độ tuổi từ 10 năm trở lên. Dẻ đỏ có tác dụng bảo vệ đất tốt do hệ rễ phát triển và tán lá dày, rậm. Đặc biệt đây là loài cây có khả năng tái sinh hạt và chồi mạnh, nên rất có triển vọng trong trồng phục hồi rừng, làm giàu rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Đối với các xã có số dân di cư đông ở Mường Nhé, công tác quản lý bảo vệ rừng thường rất khó khăn. Theo thống kê mới nhất của các cơ quan chức năng huyện, chỉ tính từ năm 2002 đến năm 2012, dân số của địa phương này đã tăng từ 26.000 dân lên trên 60.000 dân, trong đó có 980 trẻ sơ sinh. Trung bình mỗi năm Mường Nhé phải tiếp nhận gần 4.000 người di cư tới đây. Nhu cầu về đất ở, đất sản xuất tăng cao dẫn đến tình trạng rừng bị đốt phá bừa bãi, khó quản lý.
Tại vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, thuộc địa phận xã Nậm Kè nhiều năm nay, vẫn tồn tại 3 bản vốn là dân di cư tự do đến đây sinh sống, phát nương, làm rẫy. Mặc dù đã được vận động và có dự án hỗ trợ những nguời dân này di rời khỏi vùng lõi khu bảo tồn nhưng không hiểu vì sao các dự án này đến nay vẫn giậm chân tại chỗ. Trong 3 năm gần đây, mỗi năm huyện Mường Nhé xảy ra hàng chục vụ vi phạm lâm luật, trong đó có nhiều vụ phá rừng làm nương rẫy.
Theo thống kê của Hạt kiểm lâm huyện, năm 2010 trên địa bàn đã xảy ra 8 vụ phá rừng làm nương, năm 2011 là 4 vụ, năm 2012 là 3 vụ. Không chỉ có vậy, mùa khô năm nào Mường Nhé cũng xảy ra cháy rừng. Chỉ tính riêng các vụ việc được thống kê từ năm 2010 đến nay, cũng đã làm địa phương thiệt hại hàng nghìn ha rừng. Diện tích rừng toàn huyện trong những năm gần đây giảm đi đáng kể, từ 130.000 ha năm 2010 giảm xuống còn trên 122.000 ha năm 2012.
Công tác ổn định, sắp xếp dân cư ở huyện Mường Nhé hiện vẫn đang bị kéo dài. Từ năm 2009 đến năm 2012, thực hiện Đề án 141 của Chính phủ, huyện Mường Nhé đã sắp xếp, ổn định được 4/17 bản với gần 170 hộ dân. Tuy nhiên, con số này mới chỉ đạt hơn 24% số hộ cần sắp xếp.
Năm 2012, Chính phủ lại tiếp tục ban hành Quyết định 79/QĐ – TTg, bố trí sắp xếp, ổn định đời sống cho trên 10.870 hộ, hơn 62.000 nhân khẩu, thuộc 153 bản và 14 nhóm dân cư trên toàn huyện, trong đó có trên 830 hộ, 5.250 nhân khẩu dân tộc Mông, chưa có đất ở và đất sản xuất hiện đang cư trú trên địa bàn các xã Mường Nhé, Chung Chải, Leng Su Sìn. Muốn bố trí sắp xếp ổn định dân cư sẽ cần phải có các điều kiện cần thiết.
Để giải quyết được những yêu cầu cần thiết cho việc bố trí, sắp xếp dân cư ở Mường Nhé, thì khâu quy hoạch đất ở, đất sản xuất, rà soát, quy hoạch và quy chủ lại 3 loại rừng là khâu quan trọng cần làm trước tiên. Trong khi chưa có lực lượng đủ mạnh để bảo vệ tài nguyên rừng, thì việc thực hiện các quy hoạch này sẽ tạo thuận lợi đáng kể cho công tác quản lý bảo vệ rừng và ổn định đời sống nhân dân.
Đối với người dân vùng cao, rất nhiều nhu cầu sống khác nhau đều được rừng cung cấp. Bởi vậy quản lý, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, không chỉ là bảo vệ môi trường sinh thái mà còn bảo vệ nguồn sống lâu dài cho con người. Nhưng tình trạng di dịch cư tự do như ở Mường Nhé đã gây nhiều bất lợi cho công tác quản lý bảo vệ rừng và cũng đang triệt phá đi nguồn sống của chính con người. Bởi vậy, ổn định dân cư để bảo vệ rừng, cũng chính là vấn đề đang được đặt ra đối với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng ở địa phương này. (Đài PT - TH Điện Biên 9/6) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Thành Trí yêu cầu các đơn vị liên quan của tỉnh chuẩn bị hồ sơ để phản biện chủ đầu tư 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A
Tiếp theo các văn bản của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai kiến nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ cho dừng triển khai 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A vì những hệ lụy quá lớn, vào giữa tháng 5-2013, Ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới tỉnh Đồng Nai cũng đã gửi văn bản lên Thủ tướng Chính phủ với kiến nghị tương tự.
Lập tức, chủ đầu tư 2 dự án thủy điện trên là Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai có văn bản không thừa nhận sự thật là 2 dự án thủy điện này như một “nhát dao” đâm thẳng vào Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, “ăn” một phần VQG mà luôn cho rằng khoảng cách 25 km từ vị trí dự án đến trung tâm vườn thì “không gây ảnh hưởng”.
Chủ đầu tư tiếp tục cho rằng nếu 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A được xây dựng sẽ “điều tiết” nước tốt hơn, giúp cho khu đất ngập nước - Ramsar Bàu Sấu giữ nước ổn định hơn; việc chiếm dụng 137 ha rừng Cát Tiên (theo dự tính ban đầu) cũng không hề ảnh hưởng đến hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học của khu rừng ngàn năm tuổi này.
Đối với vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc bản địa, Tập đoàn Đức Long Gia Lai tiếp tục né tránh sự không đồng tình của người dân địa phương mà bám vào các lý lẽ việc xây dựng thủy điện, đồng thời cho rằng khi hạ tầng giao thông đi kèm dự án sẽ làm cho đời sống người dân được tốt hơn (?).
“Cãi” về tính pháp lý nếu triển khai 2 dự án thủy điện sẽ vi phạm Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Di sản văn hóa, Luật Tài nguyên nước…, chủ đầu tư không hề đề cập mà chỉ xoay quanh các quy hoạch phát triển thủy điện ban đầu (quy hoạch điện VI, quy hoạch điện VII) của Chính phủ.
Sau khi “tiếp nhận” các lập luận của Tập đoàn Đức Long Gia Lai, tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VNR) đã nêu một loạt phản biện, chỉ rõ sự lập lờ và ngây ngô của chủ đầu tư. VNR khẳng định dự án thủy điện Đồng Nai 6 làm ngập 171,36 ha, trong đó rừng phòng hộ Nam Cát Tiên ngập 77,9 ha, diện tích VQG Cát Tiên ngập 77,9 ha (tiểu khu 506); riêng thủy điện Đồng Nai 6A gây ngập vĩnh viễn 184,61 ha, chiếm dụng VQG Cát Tiên 50,55 ha (thuộc tiểu khu 497).
VNR còn cho biết có quá nhiều căn cứ để khẳng định chủ đầu tư 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A vi phạm các Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, chủ đầu tư còn vi phạm Công ước quốc tế về đa dạng sinh học, vi phạm Khung chiến lược của Khu Dự trữ sinh quyển MAP/UNESCO, vi phạm Nghị định của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững vùng đất ngập nước; ngoài ra, 2 dự án này cũng chưa được Quốc hội thông qua…
VRN cũng khẳng định diện tích rừng chắc chắn sẽ còn mất nhiều hơn nếu 2 dự án thủy điện này được xây dựng vì những ảnh hưởng trong suốt quá trình thi công và vận hành. “Đó là những lỗ hổng trong đánh giá tác động môi trường. Họ không hiểu hoặc cố tình để có một phương pháp tiếp cận sai lệch dẫn đến những đánh giá không trung thực, nhìn nhận trong phạm vi hẹp. Cả về các nhu cầu, giá trị sử dụng nước, tầm ảnh hưởng đối với đồng bào vùng hạ du, chủ đầu tư cũng chưa thể làm rõ” - TS Vũ Ngọc Long, đại diện VNR, nói. (Người Lao Động 10/6) đầu trang(
Trong những năm gần đây, Đảng Bộ và chính quyền xã Phương Độ luôn quan tâm đến công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng; thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân tham gia trồng rừng kinh tế nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và tạo ra nguồn thu nhập lâu dài cho nhân dân. Đến nay, nhiều hộ gia đình của xã Phương Độ đã có nguồn thu nhập cao từ chính những cánh rừng của gia đình mình.
Bà Vũ Thị Vân, Phó Chủ tịch UBND xã Phương Độ cho biết: “Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn xã Phương Độ đã có trên 65 % diện tích rừng kinh tế đang trong thời kỳ cho khai thác. Trong những năm qua, do chính quyền xã đã làm tốt công tác tuyên truyền trong công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng, nhất là vai trò của rừng đối với cuộc sống của người dân và sản xuất nông nghiệp”.
Từ đó đã nâng cao được ý thức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng của cán bộ và nhân dân trong xã. Sau hơn 7 năm trồng rừng kinh tế ( từ năm 2005 - 2012), hiện nay xã Phương Độ đã có 200 ha rừng đến thời kỳ cho thu hoạch. Với giá trị của một số loài gỗ như hiện nay thì trung bình người dân sẽ có thu nhập khoảng 100 triệu đồng/ha rừng.
Điển hình như các hộ gia đình ở các thôn vùng cao như gia đình ông Lý Văn Dồn, Bàn Văn Tuân, Bàn Văn Biền ở thôn Lùng Vài…có nguồn thu trên 150 triệu đồng mỗi năm; gia đình các ông Lý Văn Thăn ở thôn Nà Thác, ông Chương Văn Chéng ở thôn Khuổi My có nguồn thu từ 70 – 100 triệu đồng mỗi năm từ trồng rùng kinh tế….
Từ hiệu quả bước đầu của trồng rừng kinh tế, xã Phương Độ sẽ tiếp tục vận động các ban ngành, các đoàn thể và các hộ gia đình có điều kiện về đất đai đẩy mạnh công tác trồng và phát triển rừng. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn của thành phố hướng dẫn cho nhân dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. (Hội Nông dân VN 8/6) đầu trang(
Những ngày đầu hè “đổ lửa”, gió Lào rát bỏng thổi ràn rạt qua mé đông Trường Sơn cũng là lúc tổ chức phi chính phủ Global Witness (có trụ sở đóng tại London, Anh) công bố những cáo buộc nặng nề về các dự án đầu tư Việt Nam sang Lào, Campuchia khiến dư luận liên tưởng đến một “sườn tây” ngột ngạt.
Tổ chức này đưa ra kết luận điều tra của mình để cáo buộc các nhà đầu tư của Việt Nam sang các nước láng giềng phá rừng, lấn đất, đẩy người dân vùng dự án đến bần cùng hoá... PV Lao Động đã lên đường, đi tìm sự thật...
PV đến bản Hatxan (đơn vị hành chính tương đương với UBND xã, phường ở VN) - nơi mà tổ chức Global Witness đã đặc tả sự bần cùng hoá của người dân vùng dự án thuộc Tập đoàn HAGL. Nhưng PV không thể tìm đâu ra hình ảnh những “người đàn ông Lào, gầy guộc, đánh độc chiếc quần đùi, ngồi xổm trên khoảnh sân bé xíu trước túp nhà sàn dựng bằng phên nứa... Trước mặt anh là ba con thằn lằn bất động...” như họ nói. Thay vào đó là những dãy nhà mới xây khang trang với kiến trúc truyền thống của người Lào. Dưới những sàn nhà mới này, ôtô du lịch, xe bán tải đỗ choán cả khoảng sân.
Tơ (ở bản Hatxan) cho biết: “Chúng tôi được HAGL tuyển làm công nhân, nhưng phải tham gia một khóa học, cấp bằng, sổ công nhân thì mới được vào rừng. Mọi người rất vui, vì giờ đã trở thành công nhân rồi”.
Ông Kavon - Trưởng bản Hatxan, huyện Xaysettha, tỉnh Attapeu - cho biết, bản cũ có gần 300 gia đình, 100% sống dựa vào nghề săn bắt hái lượm. “Chúng tôi chỉ làm một mùa lúa nếp trên rẫy do canh tác lạc hậu, không có phân bón, nước tưới. Rừng trước đây còn nhiều, nhưng kiếm ăn chẳng được bao nhiêu, những cây gỗ lớn đã bị đốn hết từ sau ngày mới giải phóng, một phần bị người dân địa phương chặt phá lấy đất sản xuất” – ông Kavon nói.
Theo Kavon, người dân Lào được tự do vào chặt phá rừng để lấy gỗ hoặc làm rẫy. Nay, 115 hộ đã được HALG tuyển dụng vào làm công nhân, bỏ làng cũ vào ở khu nhà mới do công ty xây dựng, được ở miễn phí. Riêng gia đình Kavon có 8 người thì đã 4 khẩu làm công nhân, thu nhập 80-100 triệu kíp/năm, không còn lo thiếu đói như xưa.
Ông Kơn Xăn Bua Vông - Phó Bí thư huyện, Phó Chủ tịch huyện Ba Chiang, tỉnh Champasak - khẳng định: “Không có chuyện các doanh nghiệp VN phá rừng ở đất Lào. Người dân ở đây đã canh tác theo tập tục du canh hàng chục năm trước, nên giờ chỉ toàn là rừng tái sinh, nương rẫy cũ của dân chứ không còn là rừng nguyên sinh. Từ khi Cty Caosu Việt-Lào (Tập đoàn Cao su VN) thực hiện dự án, đã giúp người dân địa phương thay đổi phương thức sản xuất. Chúng tôi rất phấn khởi vì không còn phải thấy cảnh năm nào cũng phá rừng, đốt rẫy như trước nữa. Cây caosu đã giải quyết việc làm với thu nhập cao cho dân, đóng góp thuế cho chính quyền. Từ nguồn thu thuế này, huyện mới điều tiết cho các bản nghèo hơn”.
Ông Khăm Phăn - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư kiêm Tỉnh trưởng Attapeu rất bức xúc khi PV hỏi: “Ông nghĩ gì trước những cáo buộc của tổ chức phi chính phủ ở Châu Âu về việc quan chức nhà nước Lào câu kết với doanh nghiệp VN để phá rừng, cướp đất của dân?” và trả lời: “Khi Tập đoàn HAGL đặt vấn đề thuê đất, tỉnh đã mời 5 cơ quan của các bộ xuống khảo sát thực địa, xác định trên hàng chục nghìn hécta chỉ có một số mảng rừng vài chục hécta có gỗ, nhưng cũng chỉ là gỗ tạp... Vì vậy không thể nói Chính phủ Lào cấu kết, làm ngơ để các doanh nghiệp VN sang phá rừng được”.
Theo ông Khăm Phăn, đầu những năm 80, chính quyền các tỉnh phối hợp với Bộ Nông Lâm Lào, tiến hành một đợt quy hoạch các loại rừng. “Nhưng vì thiếu nhân lực, thiết bị lẫn công nghệ, nên quy hoạch chỉ mang tính định hướng. Thời điểm đó, khu vực dự án của HAGL quy hoạch là rừng sản xuất.
Theo nguyên tắc, rừng sản xuất là rừng kinh doanh, có thể khai thác gỗ và trồng bổ sung hằng năm, không được khai hoang - tức chuyển mục đích sử dụng. Nhưng thực tế, suốt những thập niên 80, 90, các công ty chỉ khai thác gỗ mà không trồng lại, người dân cũng tự do chặt phá làm nương rẫy. Tình trạng này kéo dài nên chỉ còn lại rừng le, cỏ lau, không thể khôi phục được.
“Vậy các dự án đầu tư VN có đẩy người dân địa phương ông đến bần cùng hóa?”. Trước câu hỏi này, ông Khăm Phăn chia sẻ: “Chúng tôi không thể cứ để dân sống cảnh du canh du cư, không có điện, đường, không được chăm sóc sức khoẻ, học hành... mãi được. Các dự án đầu tư từ VN đã giúp thay đổi hoàn toàn đời sống người dân. Chúng tôi đang rất vui thì lại bị phá hoại bởi những tổ chức nhân danh bảo vệ rừng, môi trường...”.
Tuy vậy, Tỉnh trưởng Khăm Phăn cũng thừa nhận những “lỗ hổng” quản lý hành chính khiến cho các tổ chức phi chính phủ có kẽ hở, lợi dụng để xuyên tạc. Đến khi HAGL khai hoang, bản đồ lâm nghiệp lập vẫn nguyên từ những năm 80, trong khi thực tế hiện trạng rừng đã khác. Lẽ ra phải lập bản đồ mới, trong đó thể hiện diện tích này không còn là rừng sản xuất, đủ tiêu chí để chuyển mục đích sử dụng”.
Ông Khăm Phăn cũng chỉ ra một số bất cập trong việc thực hiện dự án của Tập đoàn HAGL tại Attapeu, trong đó việc chậm hoàn tất hồ sơ, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Ông nói: “Chính phủ chúng tôi coi trọng niềm tin, vì vậy, với các doanh nghiệp VN và Trung Quốc, chúng tôi thường nói miệng với nhau là cứ làm đi, vừa triển khai, vừa hoàn tất thủ tục... trong khi các dự án chưa thông qua đánh giá tác động môi trường. Kể cả khi đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán London thì các thủ tục như giấy phép, báo cáo tác động môi trường... HAGL chỉ nói là được Chính phủ Lào đang làm, rồi sẽ có. Tất nhiên, các thủ tục pháp lý đó bây giờ đã hoàn tất, song nói với quốc tế như vậy là không ổn rồi. Chúng tôi cũng rút kinh nghiệm”.
Tổng Lãnh sự VN tại 4 tỉnh Nam Lào - ông Nguyễn Quang Tính cho biết, những cáo buộc của Global Witness mang thông tin một chiều, áp đặt và không chính xác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ láng giềng giữa 2 quốc gia. Vấn đề này không chỉ gói gọn phần trách nhiệm ở các doanh nghiệp VN, chính quyền các địa phương của Lào, vì vậy Tổng Lãnh sự đã có báo cáo chi tiết cho đại sứ, chính phủ hai nước để có giải pháp ứng xử hợp lý.
Theo ông Tính, hoàn toàn không có hiện tượng các nhà đầu tư VN sang Lào để phá rừng, cướp đất hay bần cùng hoá người dân vùng dự án... (Lao Động 10/6) đầu trang(
At, tiếng Lào có nghĩa là đóng. Attapeu là vùng đất đóng, tức con đường cụt. Và từ lâu, biên viễn Attapeu đã được xem là nơi xa xôi, hẻo lánh, nghèo khó và lạc hậu ở cực nam nước Lào.
Thế nhưng, từ khi có cửa khẩu (Phù Kưa - Bờ Y) nối thông thương với Việt Nam, ra biển… vùng đất này không còn “khép kín”, tụt hậu đúng theo mọi nghĩa. Đặc biệt, khi Chính phủ Việt Nam đầu tư, xây QL18 giúp Lào, hơn 100km nối từ Việt Nam sang đến thủ phủ Attapeu, tiếp nối QL13 của Lào, đã kéo theo hàng loạt các dự án đầu tư của Việt Nam với tổng vốn lên hàng tỉ USD. Vùng đất này đã thật sự cất cánh...
Ông Khăm Phăn - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư kiêm Tỉnh trưởng Attapeu - chia sẻ: “Tôi có hơn 20 năm làm giảng viên ở Học viện Chính trị quốc gia Lào, 2 nhiệm kỳ làm Bí thư kiêm Tỉnh trưởng tỉnh Sekong và Attapeu, hơn ai hết, tôi hiểu “vùng đất đóng” này cần gì. Nếu không có sự đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào đây, chắc chắn các tỉnh nam Lào chúng tôi vẫn còn nghèo.
Riêng Attapeu có diện tích hơn 10.300km2, nhưng dân số chưa đến 150.000 người. Càng về phía nam đất đai càng kém màu mỡ, dân cư thưa thớt, đời sống người dân càng khó khăn, hạ tầng gần như không có gì. Dù là vùng đất nông nghiệp, nhân dân sống dựa vào trồng lúa, làm rừng, rẫy, nhưng hiện nay cả tỉnh chưa xây dựng được hệ thống thuỷ lợi, quy hoạch đồng ruộng để canh tác thâm canh. Cả Sekong và Attapeu là nơi tập trung phần lớn các dân tộc thiểu số của Lào, có khoảng cách rất lớn với người Lào Lum về trình độ phát triển.
Nhưng Attapeu là vùng đất cách mạng, là quê hương của nhà Vua Xaysettha (thế kỷ 16), và quê của đương kim Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào kiêm Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào Choummaly Sayasone. Vì vậy, để phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân là ý chí, nguyện vọng, là khát khao của cả nước Lào. Ngược lại, Chính phủ cũng rất quan tâm, giám sát kỹ từng dự án, nhà đầu tư”.
Tỉnh trưởng Attapeu cũng nói rằng, có lúc tỉnh đã tính phương án bơm nước sông lên để trồng lúa, nhưng thu nhập từ lúa không đủ tiền điện nên lại thôi. Còn đầu tư làm thuỷ lợi thì nhà nước không có tiền, nên dân chỉ biết trông vào nước trời mỗi năm mấy tháng để trồng lúa. Nói chung là dân sống tự cung, tự cấp, không có sản xuất hàng hoá. Vòng lẩn quẩn đói nghèo trói buộc sự phát triển. Những năm trước 2004, từ huyện đến bản đều không có đường, huyện này sang huyện kia không có cầu, điện cũng không có, ngoài 100km do Chính phủ Việt Nam xây dựng trên QL18.
Từ khi có mặt tại Attapeu, Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đã đầu tư làm hàng trăm kilômét đường dây điện, hàng trăm kilômét đường giao thông, hàng chục cầu cống, xây bệnh viện 200 giường cho tỉnh... với tổng vốn “viện trợ không hoàn lại” khoảng 35 triệu USD. Mỗi hộ công nhân được cấp một căn nhà xây, diện tích 70m2, được tập huấn lao động, thu nhập bình quân khoảng 3-5 triệu kíp/người/tháng (trung bình 250USD/người/tháng). Từ đây, một bộ phận lớn người dân đã chuyển từ phương thức canh tác lạc hậu, săn bắt hái lượm sang lao động công nghiệp, sản xuất hàng hoá.
Ông Phan Thanh Thủ - Tổng Giám đốc Hoàng Anh Attapeu - cho biết: “Thực ra khi sang đây khảo sát, đầu tư, vùng dự án của chúng tôi chưa có đường đi, chưa có điện; vì vậy, việc đầu tiên là phải làm đường, bắc cầu, kéo điện. Hạ tầng cơ sở này trước mắt là phục vụ dự án, nhưng người dân hưởng lợi theo. Điện đi đến đâu, HAGL hạ thế đến đó, giúp cho các bản làng. Khi caosu, mía đường được trồng với hàng chục ngàn hécta, lao động phải tuyển dụng (85-90% người bản địa - theo quy định của Chính phủ Lào), chúng tôi phải làm nhà cho gia đình họ ở để tiện làm việc, gắn bó với Công ty.
Theo đó, các nhu cầu về trường học, bệnh viện và các tiện ích xã hội khác phát sinh. Vì vậy, HAGL đã xây tặng tỉnh bạn 1 bệnh viện hiện đại với quy mô 200 giường. Đây cũng là nơi chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho hàng chục ngàn công nhân của Công ty trong tương lai, vì nếu chưa có bệnh viện này, chúng tôi phải đưa họ về Việt Nam chữa trị, rất tốn kém”.
Còn Tỉnh trưởng Khăm Phăn cho rằng, thông thường khi có doanh thu, các nhà đầu tư mới tính đến việc hỗ trợ cơ sở hạ tầng, làm công tác từ thiện xã hội giúp địa phương, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã làm việc ngược lại. Đây không đơn thuần là đầu tư, kiếm lợi nếu không có một tình cảm, quan hệ đặc biệt giữa 2 dân tộc, 2 Chính phủ Việt - Lào.
Với vùng nguyên liệu caosu trên 30.000ha, vùng nguyên liệu mía 6.000ha trải khắp 5 huyện cùng hệ thống các nhà máy chế biến mủ caosu, nhà máy mía đường, nhà máy nhiệt điện 30MW, riêng các doanh nghiệp thuộc HAGL đã thu hút khoảng 15.000 lao động.
Từ khi người dân có thu nhập khá cao và ổn định, sức tiêu thụ các loại hàng hoá, dịch vụ tăng nhanh, từ đó lĩnh vực thương mại và dịch vụ của địa phương cũng rất phát triển. GDP của tỉnh Attapeu đã tăng bình quân 13% liên tiếp 3 năm trước. Riêng năm 2012, khi caosu HAGL có thu hoạch mủ, lập tức GDP tỉnh tăng trên 38%. Thu nhập bình quân đầu người từ 600USD năm 2010, đến năm 2012 đã là 1.340USD.
Dự kiến đến năm 2014, khi toàn bộ diện tích caosu đưa vào khai thác mủ, HAGL sẽ sử dụng khoảng 20.000 lao động. Nếu tính một lao động nuôi 2 người phụ thuộc, thì lúc ấy, các dự án của HAGL đã nuôi sống gần một nửa dân số của tỉnh Attapeu (hiện khoảng 130.000 người). Chưa kể các hoạt động dịch vụ thương mại khác sẽ phát triển theo vùng dự án, với mức đầu tư hàng tỉ USD ở vùng đất thưa dân như Attapeu.
Ông Kho Kẹo - phó bản Hatxan - kể, trước đây cả bản có 1.553 người/300 nhà, hơn 50% thiếu đói quanh năm. Cả bản chỉ có vài chiếc xe đạp. Dân sống tự cung, tự cấp. Cả huyện Xaysettha, Fuvông chưa có đường, điện, tất nhiên là chưa ai có tivi. Người Lào sống đơn giản, chỉ ăn xôi nếp quanh năm cùng với thịt thú rừng, cá sông suối, nên chẳng ai bon chen. Mỗi gia đình ít nhất từ 5-10 đứa con, nhưng ít được đi học, thường hay bệnh tật. Bây giờ có các nông trường caosu, mía đường, mọi người nhìn nhau mà làm việc, siêng năng hơn.
Bộ trưởng Nông Lâm Lào - ông Vylayvanh Phomke - cho biết, Chính phủ Lào rất tự hào về những đổi thay ở vùng đất nam Lào sau khi có các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào. “Có thể nói có cả ngàn doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Lào, nhưng phần lớn là khai khoáng, khai thác gỗ, làm thuỷ điện... Rất ít doanh nghiệp đầu tư nông lâm nghiệp - lĩnh vực có sức lan toả lớn cho cả cộng đồng dân cư, mang tính bền vững.
Các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ giúp đồng bào thay đổi phương thức sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, mà còn thay đổi cả cơ cấu kinh tế địa phương. Với việc áp dụng công nghệ tưới nước của Israel ở dự án của HAGL đã cho rừng caosu xanh tốt, khai thác được quanh năm với năng suất cao, năng suất mía 120-140 tấn/ha... là mơ ước của ngành nông nghiệp Lào”.
Những đóng góp to lớn của các nhà đầu tư Việt Nam tại Lào đã khiến Chính phủ Lào hết sức quan tâm đến những cáo buộc sai trái của tổ chức Global Witness. Bộ trưởng Vylayvanh nói: “Chính phủ Lào và Việt Nam sẽ có trách nhiệm trước những thông tin cáo buộc sai trái này. Hiện các bộ, ngành liên quan đang tập hợp hồ sơ báo cáo Chính phủ để có đối sách. Tôi cho rằng, đằng sau những cáo buộc này là có các ý đồ khác”.
Về các dự án của HAGL và Tập đoàn Caosu Việt Nam, ông Vylayvanh cho biết, trên thực tế chỉ có rừng không sản xuất được, mất chất lượng, không có cây cối đáng kể hoặc đồi núi trọc mới được Chính phủ phê duyệt, cho thuê. “Dự án của HAGL 100% là rừng không có cây cối đáng kể, hoàn toàn được khai hoang để trồng cây thay vào. Nếu HAGL không đến làm thì chúng tôi cũng sẽ dùng vào mục đích khác. Nói như vậy không phải chúng tôi không coi trọng rừng, mà vấn đề là phải sử dụng hợp lý”.
Về mặt thủ tục, các dự án đầu tư phải được Bộ KHĐT Lào xem xét, Bộ TNMT và chính quyền địa phương đi khảo sát bước đầu. Trên cơ sở đó, Chính phủ mới ký biên bản ghi nhớ, cho phép doanh nghiệp được khảo sát cụ thể, trình cấp thẩm quyền phê duyệt. “Chúng tôi làm rất chặt chẽ, đúng quy trình, đến mức các nhà đầu tư phải e ngại”.
Ông Phan Thanh Thủ - TGĐ Hoàng Anh Attapeu - cam đoan, từ lâu Tập đoàn HAGL đã xác định trồng caosu, mía đường, thuỷ điện và khai khoáng là “mũi nhọn” đầu tư, chế biến gỗ không còn là lĩnh vực ưu tiên. Vì thế, tập đoàn chưa hề đưa gỗ từ Lào về Việt Nam. Hồ sơ tại hải quan cửa khẩu Phù Kưa (Lào), Bờ Y, Đắc Ốc (Việt Nam) minh chứng rõ điều này. Thương hiệu của HAGL đã khẳng định rất thân thiện với Chính phủ và nhân dân Lào. (Lao Động 11/6) đầu trang(
Báo Tài nguyên & Môi trường số 824 ra ngày 23/5/2013 có bài: “Thanh Hóa - Ai tiếp tay cho “lâm tặc” chặt phá rừng”? và số 826 ra ngày 30/5/2013 có bài: “Phá cả rừng phòng hộ”, phản ánh việc tại 8 khoảnh tiểu khu 632 xã Xuân Hòa (huyện Như Xuân- Thanh Hóa) xảy ra hiện tượng hàng trăm “lâm tặc” ngang nhiên vào rừng chặt phá hàng chục hec-ta rừng phòng hộ và hàng trăm m3 gỗ.
Để rộng đường công luận, PV tiếp tục đi sâu tìm hiểu xung quanh vấn đề khuất tất ở Hạt Kiểm lâm Như Xuân xung quanh việc vận chuyển 2,8 m3 gỗ trái phép
Ngày 26/2/2013 Tổ tuần tra kiểm soát Đội CSGT và TTCĐ (Công an huyện Như Xuân) đã phát hiện và bắt xe ô tô BKS: 36M - 2787 chở 2,8m3 gỗ tại đoạn đường liên xã Thanh Hòa (huyện Như Xuân- Thanh Hóa). Tại thời điểm kiểm tra lái xe không xuất trình được giấy tờ liên quan đến số gỗ này vì vậy Công an huyện đã lập biên bản đưa số gỗ trên về để xác minh
Đến ngày 28/2/2013 (tức là 2 ngày sau) Hạt kiểm lâm Như Xuân mới cung cấp cho Công an Như Xuân giấy tờ liên quan đến số gỗ quý trên. Theo Hạt kiểm lâm Như Xuân thì số gỗ này là “gỗ thu hồi sau khai thác trái phép” và đang vận chuyển về Trạm kiểm lâm Xuân Quỳ?. Trước tình hình trên, ngày 2/4/2013. Công an huyện Như Xuân đã gửi Công văn số 32 cho Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đề nghị trả lời những quy định của luật pháp và việc tổ chức thu hồi gỗ khai thác trái phép của Hạt kiểm lâm Như Xuân.
Ngày 11/4/2013, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã có Công văn số 202/CCKL-TTrPCC cho rằng sở dĩ Hạt kiểm lâm Như Xuân chưa xuất trình được giấy tờ liên quan đến số gỗ khai thác trái phép trên là vì hôm đó Trạm trưởng và Trạm phó bận việc gia đình nên không có mặt để cung cấp hồ sơ!?.
Ngày 7/5/2013 Công an Như Xuân có Báo cáo số 121/BC-CANX, theo kết quả xác minh “vụ vận chuyển lâm sản trái phép” thì sau khi cung cấp hồ sơ cho cơ quan điều tra thì toàn bộ hồ sơ, giấy tờ vẫn thiếu bản nghiệm thu lần 1 tại rừng sau khi cắt khúc và xẻ xong theo phương án thu hồi, bảng kê lâm sản mà chỉ có bản báo cáo của anh Trương Văn Thủy, Cán bộ Trại giam Thanh Lâm, nhưng trên thực tế anh Thủy chỉ nghe thông báo lại chứ không có mặt để giám sát việc xẻ, kéo lết và bốc gỗ lên xe.
Biên bản kiểm tra vào ngày 8/12/2012 không có thành phần Ban chỉ đạo 12 là xã Xuân Hoà, nhưng vẫn có tên trong biên bản. Biên bản khai thác gỗ trái phép vào ngày 20/1/2013 không thực hiện ký tại hiện trường mà ký sau đó tại Hạt Kiểm lâm Như Xuân.
Ngoài ra, trong suốt quá trình từ khi phát hiện đến thu hồi gỗ sau khai thác trái phép ở Hạt kiểm lâm Như Xuân không phối hợp với Ban chỉ đạo 12 của huyện, không phân công cán bộ áp tải số gỗ trên và không có hồ sơ hợp pháp với số gỗ này. Trong khi cán bộ kiểm lâm địa bàn lại cho rằng: Hạt kiểm lâm Như Xuân không phân công cán bộ áp tải là do không thông báo trước việc vận chuyển gỗ cho Hạt kiểm lâm???
Trao đổi với Phóng viên Báo Tài nguyên & Môi trường, ông Lê Kim Du, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Như Xuân cho rằng: Sở dĩ hôm vận chuyển gỗ về Trạm không phân công cán bộ áp tải là do không thông báo trước việc vận chuyển gỗ cho Hạt kiểm lâm?. Khi được hỏi vì sao mãi đến 2 ngày sau Hạt kiểm lâm Như Xuân mới cung cấp hồ sơ, giấy tờ hợp lệ cho Công an thì ông Du nói: Hôm đó do Trạm trưởng Trạm Xuân Quỳ và cán bộ bận việc gia đình nên không có mặt để cung cấp được?!. Khi phóng viên yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan đến 2,8 m3 gỗ trái phép thì ông Du từ chối và nói vì ngại khi thông tin báo chí thì các cơ quan khác lại về điều tra!?.
Câu hỏi đặt ra: Nếu như đây là số gỗ khai thác trái phép đang chuyển về Hạt kiểm lâm Như Xuân để chờ xử lý thì tại sao lại không có dấu búa của kiểm lâm, tại sao sau khi bị Công an bắt giữ thì mãi 2 ngày sau Hạt kiểm lâm Như Xuân mới cung cấp hồ sơ, mà hồ sơ lại thiếu những giấy tờ quan trọng và tại sao Hạt Kiểm lâm Như Xuân lại không cung cấp hồ sơ cho báo chí? (Tài Nguyên&Môi Trường 7/6) đầu trang(
Lấy lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền vi phạm trình tự thủ tục giao đất nên TAND huyện Quỳnh Lưu đã bác đơn khởi kiện của ông nông dân Trần Xuân Lập đòi lại 36,5ha đất rừng mà UBND huyện Quỳnh Lưu quyết định giao cho ông từ năm 1993.
Như đã phản ánh, năm 2009, ông Trần Xuân Lập (75 tuổi, trú tại thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu) làm đơn khởi kiện ông Lê Duy Nguyên (nguyên Đại biểu Quốc hội khóa X, đoàn ĐB Nghệ An) ra Tòa án Nhân dân (TAND) huyện Quỳnh Lưu để đòi lại 36,5ha đất rừng bị ông Nguyên chiếm dụng. Sau khi bị TAND tỉnh Nghệ An hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm pháp luật tố tụng dân sự, ngày 31.5.2013, TAND huyện Quỳnh Lưu đưa vụ án "tranh chấp quyền sử dụng đất rừng" giữa ông Lập và ông Nguyên ra tái xử.
Tại phiên tòa lần này, ông Nguyên vẫn khăng khăng khẳng định là mình tự viết chữ Lập vào vị trí tên chủ hộ rồi nhận và chiếm giữ lâm bạ số 02 mang tên ông Lập là do “nhờ đứng tên”. Nhưng “Bản cam kết giao quyền quản lý sử dụng sản xuất kinh doanh đất trồng rừng” mà ông Nguyên đưa ra làm căn cứ đã được Phòng Giám định kỹ thuật hình sự Bộ Quốc phòng kết luận không phải của ông Lập.
Ngoài biên bản nói trên, anh Trần Xuân Nam (con trai và là người được ông Lập ủy quyền tham gia tố tụng) còn nộp cho HĐXX một "Giấy cam kết giao quyền sử dụng đất trồng rừng" được lập ngày 10.3.1993. Theo đó, 3 hộ gia đình (gồm cả ông Lập) thống nhất giao quyền quản lý, sử dụng đất rừng cho vợ chồng ông Lê Duy Nguyên. Giấy này được UBND xã Quỳnh Lập và UBND huyện Quỳnh Lưu xác nhận, đóng dấu.
Ông Nguyên đã nộp giấy cam kết trên cho Ban quản lý dự án công trình giao thông Nghệ An để làm căn cứ nhận bồi thường của dự án nối QL1A vào cảng Đông Hồi đi qua đất rừng đứng tên ông Lập. Điều đáng ngạc nhiên là, ông Nguyên đã ngang nhiên thừa nhận việc tự soạn biên bản trên và tự ký tên 3 chủ hộ trước HĐXX.
Theo anh Trần Xuân Nam, ông Nguyên còn có dấu hiệu tạo dựng nhân chứng giả và biên bản bàn giao đất giả. Ngày đi giao đất là ngày 22.1.1993 tức ngày 30.12 âm lịch (ngày 30 Tết). Xác nhận của Hạt Kiểm lâm ngày 26.1.1993 là ngày mùng 4 Tết Quý Mão. Ông Trần Sỹ Mỹ, người được ông Nguyên cho là đại diện Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu đi bàn giao đất thực địa cho ông thì thời điểm đó đang là Bí thư Chi bộ 13, Xóm trưởng xóm 13 Quỳnh Vinh.
Người được ông Nguyên cử đi nhận đất là bà Lê Thị Mậu thì đến tháng 8.1993 mới tham gia tổ hợp trồng rừng... Tuy nhiên, trước những "sự lạ" đã nêu, TAND huyện Quỳnh Lưu vẫn tuyên bác đơn khởi kiện của ông Trần Xuân Lập vì cho rằng cơ quan có thẩm quyền giao đất cho hộ gia đình ông Lập vi phạm trình tự thủ tục giao đất nên lâm bạ số 02 chưa hợp pháp.
Luật sư Lương Quang Tuấn (Văn phòng luật sư An Thái) bức xúc: "Việc cơ quan nhà nước giao sổ lâm bạ của chủ hộ này cho người khác ký giả chữ ký của chủ hộ để lấy lâm bạ là vi phạm pháp luật. Chủ hộ trong lâm bạ không có lỗi và càng không phải là nguyên nhân làm lâm bạ không có giá trị pháp lý. Theo phán quyết của TAND huyện Quỳnh Lưu thì 36,5ha rừng trong lâm bạ số 02 ai được phép sử dụng? Việc ông Nguyên sử dụng trái phép lâm bạ này nhiều năm qua để triển khai các dự án tiền tỷ của Nhà nước sẽ xử lý ra sao? Tôi cho rằng phán quyết này không có căn cứ pháp luật và đã bỏ lọt tội phạm". (Nông Thôn Ngày Nay 10/6) đầu trang(
Rượu bào thai hổ được cái đại gia cho là cách thể hiện đẳng cấp thượng thặng nhất. Được thêu dệt là “thập toàn đại bổ”, không phải cứ có tiền là mua được.
Theo phân tích của ông V, một đại gia ngành xuất nhập khẩu lâm sản và đồ mỹ nghệ, nếu phân cấp thì hà nàm hổ có hai loại là hổ bào thai và hổ sơ sinh. Quan niệm xưa thì bào thai có nhiều chất bổ hơn là hổ đã lọt lòng.
Tuy nhiên, việc bắt được hổ đang mang thai để moi hà nàm thì tựa như tầm kim đáy biển. Vì thế, dân chơi rượu lựa chọn “hổ nhi đồng” là chính. Để có được những “bộ cốt” có giá trị này, việc săn lùng cũng không phải đơn giản.
Trong số hàng trăm hũ rượu quý của ông V, bình rượu mà ông tâm đắc nhất chinh là “cốt ninh chu xạ dịch”. Đó là hũ rượu có một chú hổ con nằm lọt thỏm bên trong chum, mắt vẫn trợn tròn, miệng dương nanh há hốc như thể còn sống.
Đại gia này giới thiệu, hũ tửu hổ này được ông chưng cách nay hơn 6 năm, do một đối tác làm ăn biếu. Chỉ tính riêng chi phí con hổ bên trong cũng không dưới 200 triệu đồng. “Nếu ai yếu khoản giường chiếu chỉ cần nếm ly rượu này thì lúc lên giường sẽ như hổ bị bỏ đói lâu ngày vậy” - ông V. cười lớn.
Ngoài ông V, Minh, một tay chơi “đồ rừng” có tiếng ở Bù Đăng (Bình Phước) cũng tiết lộ: “Nếu ngâm rượu thì hổ có trọng lượng dưới 15kg là “đẹp” nhất. Vì ở độ tuổi này hổ chưa dứt sữa mẹ nên có rất nhiều chất bổ.
Điều quan trọng là phải giữ được hổ con còn sống đến khi cho vào bình, sau đó đổ rượu vào cho “ông ba mươi” chết ngạt. Có như thế những tinh chất từ trong cơ thể hổ mới tiết ra và hòa vào rượu”.
Trước đó, vào năm 2012, dư luận đã từng xôn xao vì thú ăn chơi tàn độc này của các đại gia. (Đất Việt 10/6) đầu trang(
Trung tâm Giáo dục thiên nhiên ngày 9.6 cho biết, lực lượng chức năng Thái Nguyên vừa bắt giữ một xe ôtô vận chuyển 23 cá thể tê tê (khoảng 58kg), không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.
Hiện số tê tê, phương tiện cùng hai đối tượng trên đã bàn giao cho kiểm lâm để xử lý theo thẩm quyền. (Lao Động 10/6) đầu trang(
Hơn 60 doanh nghiệp đến từ 14 quốc gia đã tham gia triển lãm thương mại quốc tế chuyên ngành sản phẩm kỹ thuật, máy móc, hoá chất sản xuất giấy và bột giấy (Paper VietNam 2013), khai mạc ngày 6/6 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội.
Triển lãm kéo dài đến ngày 8/6, trưng bày các sản phẩm thuộc các lĩnh vực máy móc và thiết bị dùng trong sản xuất giấy, nguyên phụ liệu, bột giấy, giấy thành phẩm, các sản phẩm từ giấy, hoá chất chức năng trong sản xuất giấy, các chất phụ gia, phẩm màu, chất làm dai bề mặt, chất kết dính (keo), hệ thống máy móc tự động hoá và hệ thống điều khiển lập trình bằng máy vi tính, thiết bị kỹ thuật, quy trình xử lý nhằm bảo vệ môi trường.
Triển lãm cũng nhận được sự ủng hộ tích cực từ các Hiệp hội ngành giấy đến từ Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc. (VietnamPlus.vn 9/6) đầu trang(
10.6, ông Nguyễn Văn Cang, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Ia Grai cho biết, số gỗ được phát hiện, trục vớt tại bến làng Tung, xã Ia Khai (Ia Grai, Gia Lai) hôm 6.6 không đủ để khởi tố vụ án.
Theo ông Cang, tổng số gỗ trục vớt tại hai bến là 40 khúc gỗ, trong đó có 1 lóng gỗ tròn. Tổng số lượng gỗ bị bắt giữ là hơn 16 m3.
Cũng theo ông Cang, số gỗ trên chưa đủ số lượng để tiến hành khởi tố vụ án theo quy định (20 m3 trở lên). Đơn vị này đã làm báo cáo gửi lên UBND H.Ia Grai cũng như Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai.
Ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, cho biết vẫn chưa nhận được báo cáo của cấp dưới.
Theo ông Nhĩ, vẫn chưa xác định được gỗ dưới lòng sông đã hết hay vẫn còn. Nếu tiến hành thăm dò, trục vớt, phải xin chủ trương của UBND tỉnh Gia Lai. Mặt khác, sự việc này cũng liên quan đến tỉnh Kon Tum nên cần sự phối hợp, bởi đây là vùng ranh giới của cả hai tỉnh. (Thanh Niên 10/6) đầu trang(
Ngày 9/6, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra làm rõ vụ vận chuyển, khai thác gỗ trái phép được phát hiện tại bãi tập kết ở bến sông làng Tung, xã Ia Khai, huyện Ia Grai, Gia Lai.
Trước đó, từ thông tin của quần chúng nhân dân và các cơ quan báo chí, cơ quan Kiểm lâm địa phương đã trục vớt được 36 phách gỗ lớn, xẻ hộp tại bến sông làng Tung, khu vực giáp ranh với huyện biên giới Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
Nhiều khả năng số gỗ này được khai thác trái phép từ phía Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Kon Tum chuyển sang bằng đường sông. (Công An Nhân Dân 10/6) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: 200 ha đất rừng củ Cty cao su Hương Sơn bị những hộ dân ở xã Hòa Hải xâm chiếm trái phép. (Nhân Dân 11/6) đầu trang(
Trưa 10-6, sau quá trình tìm kiếm, người nhà đã tìm thấy thi thể của chị Y Xuân (sinh năm 1975, trú buôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) tại suối gần khu vực Trạm kiểm lâm số 2, thuộc Vườn quốc gia Yok Đôn.
Được biết, trước đó vào sáng 9-6, Y Xuân cùng hai người bạn vào rừng của Vườn quốc gia Yok Đôn để thả trâu, đến buổi tối cả nhóm đi soi bắt tắc kè thì bị lực lượng Kiểm lâm trạm 2 truy đuổi; Y Môn và Y Zin bị kiểm lâm bắt giữ, còn Y Xuân bỏ chạy xuống suối. Sau khi Y Môn và Y Zin trở về buôn không thấy Y Xuân nên đã cùng người nhà Y Xuân trở lại khu vực Trạm kiểm lâm số 2 để tìm kiếm. Công an huyện Buôn Đôn tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật. (Quân Đội Nhân Dân 11/6; Kienthuc.net.vn 11/6) đầu trang(
10.6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Đào Xuân Liên đã ký công văn yêu cầu khẩn trương điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm các vi phạm về quản lý rừng trên địa bàn thời gian qua.
Công văn đề nghị cụ thể cần làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân của Ban quản lý rừng, Hạt kiểm lâm hai huyện Ia Grai, Chư Pah trong việc để xảy ra tình trạng khai thác gỗ trái phép trên địa bàn quản lý.
Trước đó, tháng 5.2013, trên địa bàn hai huyện này đã xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép tại các tiểu khu 244, 245, 273, 289 thuộc lâm phần quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ bắc Ia Grai và Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Ly.
UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu các cấp, ngành thực hiện ngay một số biện pháp: tăng cường tuần tra, kiểm tra diện tích rừng được giao; quản lý chặt chẽ việc đưa trái phép công cụ, phương tiện cơ giới vào rừng...
Công an tỉnh Gia Lai cũng được yêu cầu tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các đối tượng sử dụng xe độ chế, ô tô hết thời hạn lưu hành, xe không biển số vẫn hoạt động; xác định các đối tượng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn để có phương án xử lý hiệu quả. (Thanh Niên 11/6; Quân Đội Nhân Dân 11/6) đầu trang(
10/6, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho biết vừa phát hiện và thu giữ một số lượng gỗ lớn được đưa từ Lào về Việt Nam mà không có giấy tờ, xuất xứ.
Theo đó, 9/6, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm và chức vụ công an huyện Hướng Hóa đã tổ chức kiểm tra và phát hiện bắt giữ vụ vận chuyển 15 mét khối gỗ trái phép trên ôtô tải mang biển kiểm soát 74C - 004.05 do Lê Tuấn Anh, trú tại khu phố 5, phường 1, thành phố Đông Hà điều khiển tại địa điểm qua bản Ka Tăng, thị trấn Lao Bảo.
Cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị cho biết số gỗ trên thuộc gỗ hương nhóm 2A quý hiếm, khi kiểm tra không có giấy tờ, nguồn gốc và xuất xứ.
Theo khai nhận của lái xe thì những khối gỗ này được vận chuyển từ Lào về Việt Nam bằng xe gắn máy, sau đó tập kết lên xe ôtô tải để đưa ra miền Bắc tiêu thụ.
Hiện vụ việc đang được các cơ quan chức năng huyện tiếp tục điều tra làm rõ. (VietnamPlus.vn 11/6) đầu trang(
Cây mai dương, một trong những loài sinh vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thế giới, đang phát triển ồ ạt ở ĐBSCL trong khi vẫn chưa có giải pháp căn cơ để tiêu diệt tận gốc loại cây này.
Số liệu thống kê sơ bộ cho thấy diện tích đất ở ĐBSCL bị cây mai dương xâm lấn lên đến 6.000 ha, cây sinh sôi nảy nở tràn lan với mật độ dày đặc.
Theo ghi nhận của PV, cây mai dương thường mọc trải dài theo bờ các con sông rạch, khu công nghiệp bỏ hoang, đất nông nghiệp… Ở Khu đô thị mới Nam sông Cần Thơ, loài cây này có mặt khắp nơi. Đặc biệt, ở một số khu rừng miền Tây, cây mai dương đang phát triển dữ dội. Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim (H.Tam Nông, Đồng Tháp) phải hết sức khổ sở để chống chọi trước mức độ lây lan của loài cây được đặt ở ngưỡng báo động này.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim, cho biết: “Vào khoảng những năm 80 - 90 của thế kỷ trước, diện tích rừng bị cây mai dương xâm lấn chỉ khoảng 10 ha, nay đã lên đến hơn 2.000 ha (25% diện tích rừng), trong đó vài trăm héc ta cây mọc dày đặc”.
“Mặc dù lực lượng của Vườn quốc gia Tràm Chim thường xuyên ra quân chặt cây, đốt, cắt trái… nhưng cây mai dương vẫn tiếp tục phát triển nhanh, lấn át các loài thực vật bản địa. Kể cả cỏ trời, bãi năn của sếu cũng bị ảnh hưởng. Không chỉ xâm hại đến diện tích rừng tràm, loài cây này còn đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của nhiều loài chim, bò sát… Từ đó, phá vỡ đa dạng sinh học của Vườn quốc gia, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh, sinh kế của người dân”, ông Hùng lo lắng.
Các nhà khoa học đánh giá mai dương là loài cây nguy hại. Nếu không sớm tiêu diệt thì chỉ trong thời gian ngắn, Vườn quốc gia Tràm Chim có nguy cơ mất các loài động, thực vật quý hiếm. Hiện nay, mai dương không chỉ gây hại với Vườn quốc gia Tràm Chim mà đang là mối đe dọa đến đời sống của một số loài động, thực vật của vùng đồng bằng Nam bộ, Đông Nam bộ...
Tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Trường ĐH Cần Thơ), cho biết: “Giải pháp hữu hiệu nhất là tiêu diệt chúng ngay từ nhỏ bằng cách nhổ cả cây con. Các địa phương cần tổ chức đội ngũ chuyên môn để phổ biến rộng rãi cho cộng đồng biết về tác hại nguy hiểm của loại cây này”.
Theo Viện Bảo vệ thực vật (Bộ NN-PTNT), có 3 biện pháp cơ bản để diệt cây mai dương là thủ công, hóa học và sinh học; trong đó biện pháp sinh học đã được tiến hành ở Úc, Thái Lan... như thả mọt đục hạt, sâu đục thân, đục ngọn cây, nhưng đến nay, ở nước ta chưa được áp dụng. Còn theo nghiên cứu của Vườn quốc gia Tràm Chim, có 5 loại hóa chất diệt cây mai dương thích hợp theo từng chu kỳ sinh trưởng gồm: Glyphosate, Truyclopyr, Paraquat, Metsulfuronmethyl và 2,4D.
Ngoài ra, theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn, hạt của cây mai dương rơi xuống, theo nước trôi tới đâu sẽ mọc cây tới đó. Do vậy, cần phải tiêu diệt chúng trước mùa mưa để hạn chế sự nảy mầm, sinh sôi. Cần thiết có thể sử dụng hóa chất với nồng độ cho phép. Nếu không có giải pháp căn cơ, tiêu diệt kịp thời thì kinh phí Nhà nước bỏ ra để diệt trừ loại cây này về sau là rất lớn. (Thanh Niên 10/6) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Cảnh sát Thái Lan hôm nay tuyên bố họ phát hiện hơn 200 cá thể động vật hoang dã còn sống, trong đó có 14 con sư tử trắng, khi lục soát một căn nhà ở thủ đô Bangkok.
Hai người đàn ông Thái Lan, trong đó có một chủ cửa hàng vật nuôi ở chợ Chatuchak nổi tiếng, đã bị cáo buộc buôn bán động vật hoang dã trái phép. Nếu bị kết án, họ sẽ đối mặt với mức án có thể lên tới 4 năm tù và khoản tiền phạt 40.000 baht (1.300 USD).
"Chúng tôi đã nhận được lời phàn nàn từ những người hàng xóm về mùi khó chịu và sau khi lục soát, chúng tôi phát hiện thấy các con vật được giấu ở đây", đại tá cảnh sát Ek Ekasart nói.
Trong số hơn 200 cá thể động vật hoang dã còn sống, có nhiều con khỉ, rùa và đặc biệt là 14 con sư tử trắng. Ông Ekasart cho biết những con sư tử được cho là đã bị đưa vào Thái Lan bằng cách sử dụng giấy phép để bán cho các vườn thú. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng đã được chào bán cho những khách hàng tư nhân.
Hai nghi phạm phủ nhận sự dính líu tới việc buôn bán động vật hoang dã trái phép. Một trong hai người này từng bị kết án vì tội danh tương tự cách đây 4 năm.
Theo cảnh sát, sau khi thủ tục pháp lý được hoàn tất, một số con vật có thể sẽ được trả lại tự nhiên, trong khi một số khác sẽ được đưa vào các vườn thú.
Thái Lan được biết đến như một trạm trung chuyển của nạn buôn lậu động vật hoang dã quốc tế, nhằm đáp ứng nhu cầu đối với những động vật quý hiếm tại châu Á cũng như những vị thuốc dân gian được làm từ các bộ phận của những loài vật này. (Đất Viêt 11/6) đầu trang(
Các chuyên gia động vật hoang dã vừa đưa ra lời cảnh báo về nguy cơ một loại virus phát triển từ loài chó nhà gây chết hàng loạt đối với loài hổ châu Á.
Ông John Lewis, giám đốc Tổ chức Động vật hoang dã quốc tế, cho biết hiện nay đã có đủ bằng chứng cho thấy loài hổ quý hiếm Sumatra của Indonesia đang bị đe dọa bởi loài virus gây bệnh ở chó nhà.
Virus bệnh chó (CDV) lần đầu tiên được mô tả vào đầu thế kỷ 20, trong khoảng thời gian cách đây 30-40 năm, duy nhất chỉ ảnh hưởng đến loài chó. Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, loài virus này phát triển có khả năng gây ảnh hưởng đến nhóm động vật khác. Dữ liệu thu thập cho thấy nó đã góp phần gây tử vong ở loài hổ Tasmania.
Ngoài ra, trong những năm gần đây, nó thay đổi mô hình và có thể lây nhiễm sang các loài động vật biển có vú như loài hải cẩu và cả loài hổ Sumatra.
Virus này khiến loài hổ gặp phải một số vấn đề về thần kinh, chẳng hạn mất đi sự sợ hãi đối với người, hay lên cơn co giật. Tiến sĩ Lewis phát biểu trên BBC News: “Mối đe dọa lớn nhất của loài hổ là mất đi sinh cảnh và suy thoái, cũng như nạn săn bắt. Nhưng tôi nghĩ rằng mối đe dọa lớn thứ ba hiện nay là sự nhiễm bệnh, đặc biệt là nhiễm CDV”.
Trong tháng 9 tới, ông sẽ quay lại đảo Sumatra, huy động tất cả thú y từ tất cả các khu vực khác nhau để tiếp xúc với loài hổ nhằm loại bỏ các mẫu từ quần thể chó nhà, đưa ra chiến lược để giảm nhẹ mối nguy cơ. (Tuổi Trẻ 11/6) đầu trang(
Các công ty đa quốc gia đang thu lợi nhuận nhanh chóng từ các hoạt động lâm nghiệp trái phép tại Cộng hòa Dân chủ Công-gô, nơi hành động khai thác gỗ bất hợp pháp, gỗ không có nguồn gốc xuất xứ và sai sót trong việc cấp giấy phép khai thác gỗ khá phổ biến.
Các khu rừng của lưu vực Công-gô ở Trung Phi có diện tích khoảng 100 triệu ha (gần 250 triệu mẫu Anh) và được coi là lá phổi xanh lớn thứ hai trên hành tinh sau khu rừng nhiệt đới Amazon, nhưng rừng ở đây đang bị chặt phá ngang nhiên. Các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế cho rằng các nhà chức trách Công-gô đang hậu thuẫn cho các công ty khai thác gỗ trái phép.
Theo Tổ chức Giám sát khai thác tài nguyên thiên nhiên trụ sở tại Anh, mặc dù châu Âu có các quy định chặt chẽ đối với gỗ nhập khẩu từ châu Phi, việc xác minh tính hợp pháp của gỗ rừng nhiệt đới từ Công-gô gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là không thể.
Hiện nay, rừng nhiệt đới Côg-ngô đang ngày càng bị đe dọa bởi tác động từ con người. Hoạt động khai thác gỗ đã phá hủy nhiều vùng rừng rộng lớn. Việc canh tác nông nghiệp trên quy mô nhỏ cũng làm mất đi một phần diện tích của rừng, đặc biệt là khu vực gần những thành phố và thị trấn. Khai thác mỏ khiến những cánh rừng bị tàn phá, đồng thời, hoạt động đầu tư của các chủ trang trại và chủ đồn điền lớn càng khiến người ta quan ngại rằng phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa sẽ làm tình trạng phá rừng trở nên phổ biến hơn. (Agroviet 8/6) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa