|
Ngày 10 tháng 06 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng dăm gỗ.
Theo dự thảo, mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng dăm gỗ thuộc nhóm 44.01 tại Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế tăng từ 0% lên 5%.
Việc Bộ Tài chính đưa ra dự kiến điều chỉnh mức thuế suất xuất khẩu nêu trên xuất phát từ kiến nghị của Bộ Công Thương và đề nghị của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (cổ đông chính của Công ty cổ phần Giấy An Hòa) về việc có biện pháp hạn chế xuất khẩu dăm gỗ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thu mua nguyên liệu để sản xuất bột giấy.
Theo Bộ Công Thương, năm 2012, ngành giấy cần khoảng 822.000 tấn bột giấy nguyên liệu để sản xuất, trong đó có trên 50 nhà máy sản xuất bột giấy với lượng sản xuất khoảng 480.000 tấn bột giấy/năm, còn lại phải nhập khẩu.
Năm 2013 dự kiến sản xuất trong nước khoảng 500.000 tấn bột giấy/năm (tương đương với 2 triệu tấn gỗ nguyên liệu).
Ngoài ra, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam phản ánh, hiện nay các nhà máy giấy phía Bắc gặp rất nhiều khó khăn trong thu mua nguyên liệu gỗ, dăm gỗ để sản xuất bột giấy do hoạt động xuất khẩu dăm gỗ của nước ta phát triển mạnh. (Hải Quan 8/6) đầu trang(
Đó là nhận định của nhiều chuyên gia tại Hội thảo “Giao đất rừng ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn” do Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung, Trường ĐH Nông lâm Huế và Liên minh hoạt động trong lĩnh vực về đất rừng tổ chức ngày 7.6.
Giao đất giao rừng là một chủ trương lớn của Nhà nước, là bước chuyển quan trọng từ nền lâm nghiệp thuần túy nhà nước sang nền lâm nghiệp xã hội với sự tham gia thực sự của toàn xã hội, trong đó vai trò của hộ gia đình và cộng đồng được đề cao và chú trọng.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT), có 11,4 triệu ha diện tích rừng đã giao, chiếm 84,4% diện tích rừng toàn quốc (13,5 triệu ha). Trong đó, diện tích rừng giao cho hộ gia đình và cộng đồng là 3,809 triệu ha, chiếm 28,18% diện tích đất lâm nghiệp toàn quốc (tính đến 31.12.2011).
Tuy nhiên, ông Trần Ngọc Bình – Vụ Kế hoạch tổ chức, Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá: “Hiện nay việc giao đất rừng và rừng vẫn mang tính hình thức, phong trào, giao trên bản đồ và sổ sách. Tỷ lệ diện tích rừng do các doanh nghiệp nhà nước, UBND các cấp quản lý chiếm rất cao, khoảng 50%, trong khi đó tỷ lệ diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân thấp, làm giảm hiệu quả xã hội của chính sách giao rừng, cho thuê rừng của Nhà nước và chưa huy động được nguồn lực to lớn trong dân”.
Đồng tình với quan điểm đó, ông Tô Đình Mai - chuyên viên cấp cao của Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng: “Một số nơi chính sách giao khoán rừng bị lợi dụng để chiếm đoạt quyền sử dụng đất đai đang do các lâm trường quốc doanh quản lý một cách bất hợp pháp”.
Nhiều ý kiến nhận định, việc thực thi các chính sách và giải pháp quản lý, sử dụng đất và rừng trong các lâm trường quốc doanh còn chậm chạp và hiệu quả thấp. Cơ chế quản lý đất đai của các lâm trường còn quá lỏng lẻo, mang tính chất quản lý tài nguyên nhiều hơn là quản lý tài sản.
Tại hội thảo, Cục Đăng ký thống kê, Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, tính đến 26.5.2013, đã có trên 1,8 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các chủ rừng, với 9,7 triệu ha đất lâm nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đạt 83,6% tổng diện tích đất lâm nghiệp cần cấp chứng nhận (12 triệu ha).
Về vấn đề này, ông Trần Ngọc Bình đánh giá: “Việc cấp giấy chứng nhận vẫn chậm, chưa được quan tâm ở nhiều địa phương do diện tích đất rừng bị tranh chấp lấn chiếm, kinh phí để đo đạc xác định phạm vi ranh giới không có... nên không cấp được giấy chứng nhận”.
Để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, ông Nguyễn Văn Chiến – Phó Cục trưởng Cục Đăng ký thống kê, Tổng cục Quản lý đất đai cho rằng: “Các địa phương cần tiếp tục đầu tư kinh phí, chỉ đạo rà soát các trường hợp tồn đọng, xét và cấp giấy chứng nhận đối với các hồ sơ đủ điều kiện cấp hoàn thành hồ sơ địa chính đất lâm nghiệp và xây dựng cơ sở dữ liệu đất lâm nghiệp thống nhất trong cơ sở dữ liệu đất đai tại địa phương”.
Về định hướng lâu dài thiết thực, phù hợp cho tất cả các tỉnh thành, theo ông Trần Mạnh Long – Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp): “Tổng cục Lâm nghiệp đã yêu cầu các địa phương tổng kết đánh giá về kết quả giao rừng cho thuê rừng, những tồn tại của giao đất giao rừng trong thời gian qua, đánh giá các chính sách xem vướng mắc gì, vướng mắc đến đâu để có giải pháp khắc phục cụ thể. Sau khi có tổng kết đánh giá này, phía Cục Kiểm lâm sẽ cố gắng tham mưu đề xuất những chính sách phù hợp hơn cho các địa phương”. (Nông Thôn Ngày Nay 9/6)đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của 3 tỉnh Đắk Lắk, Nghệ An và Điện Biên.
Với 1.312.537 ha diện tích đất tự nhiên, đến năm 2020 tỉnh Đắk Lắk sẽ có khoảng 1.167.031 ha đất nông nghiệp, chiếm 88,91% diện tích đất toàn tỉnh. Trong đó nhiều nhất là đất rừng sản xuất với 353.558 ha, tiếp đến là đất trồng cây lâu năm 318.370 ha, đất rừng đặc dụng 219.132 ha, đất trồng lúa 60.162 ha, đất nuôi trồng thủy sản 3.604 ha. Cả thời kỳ 2011-2020 sẽ có 17.279 ha đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp.
Đến năm 2020 tỉnh Nghệ An sẽ có khoảng 1.438.701 ha đất nông nghiệp, chiếm tới 87,23% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, đất trồng lúa là 95.770 ha; đất rừng sản xuất 581.841 ha; 392.024 ha đất rừng phòng hộ; đất nuôi trồng thủy sản 9.030 ha;... Từ năm 2011- 2015 sẽ có 149.636 ha đất chưa sử dụng được sử dụng làm đất nông nghiệp.
Còn theo quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Điện Biên thì đến năm 2020, tỉnh này có 423.113 ha đất rừng phòng hộ; 257.413 ha đất rừng sản xuất; 57.340 ha đất trồng lúa;.... Diện tích đất phi nông nghiệp của tỉnh Điện Biên là 34.652 ha. (Chinhphu.vn 8/6) đầu trang(
Lâu nay, việc đảm bảo nguồn lợi cho người dân từ nghề trồng và bảo vệ rừng của huyện Văn Chấn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn đề ý thức của người dân trong bảo vệ rừng. Nghị định số 99 về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được ban hành và đi vào thực tiễn sẽ góp phần giúp người trồng rừng, bảo vệ rừng ổn định cuộc sống.
Lần chi trả đầu tiên này, toàn huyện Văn Chấn có 21 xã, thị trấn có diện tích rừng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Số tiền được chi trả lần này là gần 470 triệu đồng cho gần 1.700 hộ gia đình và 70 nhóm hộ thôn, bản đang quản lý và bảo vệ trên 17.800ha rừng. Mỗi ha người dân sẽ được tổ chức hưởng lợi từ diện tích rừng đó như công trình nước sạch, thủy điện chi trả 33.000 đồng. Đây là một chủ trương đúng, khuyến khích người dân vùng cao phát triển kinh tế rừng, từng bước góp phần ổn định kinh tế, xã hội.
Ông Vũ Trọng Huân – Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn cho biết thêm: “Mức độ chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa lớn nhưng lại là động lực rất lớn để người dân yên tâm chăm sóc, bảo vệ rừng. Mặt khác cũng để người dân nhận thấy sự quan tâm của các đơn vị được hưởng lợi từ rừng”.
Ông Cứ A Sùng, chủ tịch UBND xã Sùng Đô cho biế,t 279 hộ gia đình trong xã khi biết được nhận tiền hỗ trợ thì phấn khởi lắm. Các thủ tục giấy tờ cũng vì thế mà được giải quyết nhanh hơn. Từ giờ bà con có thêm nguồn lợi ích kinh tế từ rừng, số tiền tuy không lớn nhưng sẽ góp phần không nhỏ giúp bà con nhân dân bớt khó khăn, yên tâm trồng và bảo vệ rừng.
Ông Cứ A Sùng – Chủ tịch UBND xã Sùng Đô nói: “Trước đây bà con chưa có ý thức trong việc chăm sóc và bảo vệ rừng, có năm diện tích rừng còn bị thu hẹp. Nhưng nay được nhận hỗ trợ chi trả dịch vụ môi trường rừng rồi, bà con và xã sẽ có thêm phần trách nhiệm. Lợi ích đầu tiên đó chính là ý thức của người dân sẽ được nâng lên rất nhiều”. (Yenbai.gov.vn 6/6)đầu trang(
Hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới, tỉnh Kon Tum triển khai nhiều hoạt động bảo vệ môi trường. Là địa phương có nhiều rừng, trong khuôn khổ của bài viết này, phóng viên đã đề cập đến vấn đề bảo vệ rừng nhìn từ dịch vụ môi trường rừng.
Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2011 của Bộ NN&PTNT, tỉnh Kon Tum có 711.520,21 ha rừng và đất lâm nghiệp (diện tích có rừng là 631.953,87 ha, diện tích đất trống đồi núi không có rừng là 79.566,34 ha), độ che phủ của rừng chiếm 64,6% diện tích tự nhiên của tỉnh. Điều đáng nói là rừng ở tỉnh Kon Tum là đầu nguồn của nhiều công trình thủy điện lớn Ya Ly, Sê San, Plei Krông… của quốc gia và nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ khác đã và đang được đầu tư xây dựng, đấu nối vào mạng lưới điện quốc gia.
Với việc rừng bảo vệ và điều hòa nguồn nước cho các công trình thủy điện hoạt động, sau khi thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh Kon Tum, hàng năm Quỹ này nhận hàng trăm tỷ đồng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) do các nhà máy thủy điện đi vào hoạt động đóng góp và ủy thác theo quy định của Thủ tướng.
Trong năm 2012 và quý I/2013, Quỹ BV&PTR tỉnh đã nhận trên 160 tỷ đồng từ DVMTR. Đó là một nguồn thu không nhỏ đối với ngân sách địa phương. Theo đó, trong quý IV/2012 và quý I/2013, Quỹ BV&PTR đã tạm ứng cho các chủ rừng và người dân tham gia BV&PTR gần 40 tỷ đồng.
Điều đáng nói là nhận tiền DVMTR, nhưng nhiều chủ rừng chưa làm tròn trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ rừng. Theo số liệu thống kê, trong năm 2012, các chủ rừng đã để người dân phá hơn 100 ha rừng làm nương rẫy trái phép; lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh đã phát hiện và xử lý trên 1.000 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu gần 1.500 m3 các loại.
Trong quý I/2013, các chủ rừng đã để người dân phá hơn 50 ha rừng; lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh đã phát hiện và xử lý 321 vụ vi phạm lâm luật và tịch thu trên 840 m3 gỗ trái phép. Việc các chủ rừng nhận tiền DVMTR nhưng không làm tốt trách nhiệm bảo vệ rừng, nhất là để khai thác gỗ, phá rừng làm nương rẫy trái phép trên quy mô lớn cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo nhiều chuyên gia, trong tình hình các chủ rừng chưa thực hiện tốt trách nhiệm bào vệ rừng, Quỹ BV&PTR cần phải đẩy mạnh tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng và có chế tài đối với các chủ rừng để xảy mất rừng, khai thác gỗ trái phép. Không thể các chủ rừng được nhận tiền DVMTR, nhưng lại không chịu trách nhiệm về những cam kết bảo vệ rừng với Quỹ BV&PTR. (Kontum.gov.vn 8/6) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong những ngày qua, khu vực An Lão, Hoài Nhơn, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, Phù Mỹ, thời tiết khô hanh kéo dài, đến ngày 1.6, nguy cơ cháy rừng ở các địa phương nói trên đang ở cấp IV- cấp nguy hiểm.
Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa, tốc độ lây lan nhanh, hậu quả rất khó lường. Chi cục Kiểm lâm đề nghị UBND các cấp và chủ rừng ở các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng, để hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.
Trong năm 2012, toàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 132,59 ha rừng, chủ yếu là rừng trồng bạch đàn, keo, phi lao tại các huyện Tuy Phước, Hoài Nhơn, Vân Canh, Hoài Ân, Phù Mỹ, TP Quy Nhơn. Nguyên nhân gây cháy rừng là do người dân bất cẩn trong việc đốt thực bì, đốt vàng mã, hút thuốc lá không dập tàn thuốc… (Báo Bình Định 7/6)đầu trang(
Hơn 20 năm nay, vợ chồng ông Bé, bà Gái sống cùng vườn cò ở khu đất hẻo lánh, tù úng bên dòng sông Cầu. Họ chấp nhận một cuộc đời kham khổ dưới mái nhà cũ kỹ, dột nát, xiêu vẹo để giữ cho đàn cò có nơi trú ngụ, sinh sôi…
Nơi ở của ông Ngô Văn Bé và bà Vũ Thị Gái (thôn Vụ Nông, xã Bắc Lý, Hiệp Hòa, Bắc Giang) là một doi đất rộng vài ha cạnh bờ đê sông Cầu. Bốn bề là thùng vũng, ao chuôm lổm nhổm bên những lò gạch đổ nát. Cả khu chỉ có vài nếp nhà thấp lè tè nép dưới màu xanh rì của cơ man cây cối. Chủ nhà kể, nhà ông được 3 người con trai. Chỉ có một người con ở trong làng còn lại hai đứa ở hai đầu vườn cò. Ba nhà sống quần tụ cùng bầy cò ríu ran suốt ngày.
Hơn 20 năm về trước, nơi đây là một khu đất hoang sơ, ngoài một số ít bụi tre, trúc thì phần lớn là các loại cây cỏ cao ngang bụng người. Mùa đông, gió gào rít quẩn quanh mái tôn bạc thếch. Mùa hè, nước lũ ngập nửa vườn. Thế mà không biết tự bao giờ, những đàn cò đã về đây trú ngụ. Cứ vào khoảng trung tuần tháng Ba hàng năm là hàng nghìn con di cư về làm náo động cả vùng quê yên ả. Lúc đầu, vườn cò được giao cho Hợp tác xã nông nghiệp địa phương quản lý nhưng rồi cha chung không ai khóc, vườn cò gần như bỏ hoang.
Hợp tác xã đành phải tính đến việc đấu thầu vườn cò để cho hộ gia đình quản lý. Nhìn thấy hàng nghìn con cò chao lượn nơi đây, ông bà Bé đã mê tít cộng với lúc ấy, cũng chả có mấy người bỏ thầu vụ làm ăn thiếu thực tế này nên hai ông bà trúng thầu trở thành chủ vườn cò từ đó cho đến nay. Có người bảo, ông bà có gàn dở mới bỏ làng ra đây. Rồi chẳng mấy lúc mà lại phải bỏ về thôi. Thế mà đến bây giờ, cả vườn cò của ông rộng hơn 2 ha, mỗi năm có hàng vạn con cò bay về quấn quít với vợ chồng ông.
Theo ông Bé, hiện có khoảng gần 1 vạn con cò đang sinh sống ở đây với đủ loại: cò bợ, cò hương, cò ốc, cò trắng, cò mỏ đỏ, cò nghênh… Có cả một số con vạc cũng về đây sinh sống. Giống cò tinh lắm, thấy động là chúng nháo nhác bay lên, kêu inh ỏi thông báo cho nhau. Nghe nhiều, bây giờ ông Bé, bà Gái có thể phân biệt được đâu là tiếng cò gọi nhau, đâu là tiếng cò báo có chim cắt đến phá tổ, đâu là tiếng cò hoảng loạn khi có người đến săn bắn…
Ngoài khu vườn trồng tre, trúc cho cò làm tổ, ông bà Bé còn trồng hẳn một khu vườn bạch đàn để làm sân chơi cho lũ cò. Đây là nơi cò đến rỉa lông, rỉa cánh, nghỉ ngơi sau một ngày kiếm ăn mệt nhọc. Cành khô của cây được cò tận dụng để làm tổ.
Hơn 20 năm trông giữ vườn cò nhưng ông Bé cho biết, đến nay ông chưa nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào của các cơ quan chức năng. Chính quyền địa phương cũng chưa giao hẳn đất cho ông mà vẫn để ông đấu thầu 10 năm một lần.
Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm nhiều lắm đến điều đó. Việc khiến ông đau đầu nhất là làm sao ngăn chặn được những người luôn có dã tâm giết hại những con cò vô tội. Những đêm mưa gió, ông phải huy động cả mấy người con trai ra để canh giữ vườn cò bởi kẻ xấu thường lợi dụng lúc này để đến bắt cò con. (Tiền Phong 8/6)đầu trang(
Rừng Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt nhưng liên tiếp nhiều năm qua, rừng ở đây bị tàn phá mạnh. Các cơ quan chức năng, ngành chủ quản đã có nhiều cuộc họp đề ra các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng Tây Nguyên nhưng thực sự vẫn không đem lại hiệu quả cao...
Hầu như ngày nào rừng Tây Nguyên cũng bị tàn phá. Điều này thể hiện qua những con số báo cáo vụ việc của các cơ quan chức năng phát hiện hàng năm. Dư luận ở Tây Nguyên đang thu hút những vụ phá rừng rất “nóng” tại xã Quảng Sơn, huyện Ðác Glong, Đắk Nông, do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý. Rừng ở đây được phá bằng nhiều hình thức hết sức tinh vi để tận diệt lấy đất sản xuất, buôn bán, xây dựng trái phép chờ nhận tiền đền bù.
Nạn phá rừng cũng liên tục diễn ra ở Đắk Nông như tại địa bàn xã Ðác Ngo, Quảng Trực... Mới đây nhất là vụ phá rừng tại Dự án sản xuất nông - lâm nghiệp của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Kiến Trúc Mới, nằm trên địa bàn xã Quảng Trực, huyện Tuy Ðức.
Năm 2009, doanh nghiệp được UBND tỉnh Ðắk Nông giao 1.678ha đất để thực hiện dự án sản xuất nông-lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng tại các Tiểu khu 1.528, 1.534 xã Quảng Trực. Tuy chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt dự án khai khoang nhưng công ty này đã hợp đồng với Công ty Vinh Hiển triển khai dự án khai hoang sản xuất nông - lâm nghiệp, tổng diện tích rừng thiệt hại ban đầu khoảng 70ha, trong đó có 38ha diện tích đất rừng khoanh nuôi bảo vệ, cấm khai thác.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ðắk Nông báo cáo trong 4 tháng đầu năm 2013, ở Đắk Nông đã mất 105ha rừng tự nhiên.
Tại Gia Lai, hàng chục hécta rừng ở huyện Mang Yang đang được tàn phá công khai. Cụ thể tại tiểu khu 499 thuộc địa phận làng Đê Rơn, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, nhiều diện tích rừng đã chặt phá để lấy đất trái phép.Tại tiểu khu 501 gần 176ha là nơi trồng thông gần 30 năm tuổi thuộc quyền quản lý của xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang đã bị tàn phá, san bằng từ nhiều năm qua.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang tại đây có hơn 43 ha rừng thông và đất lâm nghiệp bị 80 hộ lấn chiếm, nhưng lực lượng Kiểm lâm bất lực. Nhiều lần UBND tỉnh Gia Lai chỉ đạo xử lý dứt điểm việc phá rừng ở Mang Yang, nhưng đến nay chuyện đó vẫn chưa xong.
Tại Đắk Lắk, Kon Tum... rừng ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn cũng bị lâm tặc tàn phá từng ngày. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng trồng mới và rừng tái sinh của Tây Nguyên không bù lại được diện tích rừng mất đi mỗi năm ở đây. Năm 2012, 5 tỉnh Tây Nguyên trồng được 8.367ha, bằng 45,6% kế hoạch năm.
Giai đoạn 2008-2012, các tỉnh Tây Nguyên phát hiện đến những 9.000 vụ phá rừng. Trong đó, nổi cộm là các địa phương Tuy Đức, Đak Song, Đak Ngo của tỉnh Đắk Nông; Đạ Huoai của Lâm Đồng; Kon Plông của Kon Tum; Krông Năng, Ea Hleo, Ea Súp của Đắk Lắk; Mang Yang, Kbang của Gia Lai. Giai đoạn 2005-2012, bình quân mỗi năm Tây Nguyên mất hơn 25.700ha rừng. Hiện tại, tỷ lệ che phủ của rừng của cả khu vực Tây Nguyên chỉ đạt 32,4%.
Tây Nguyên có 56 Công ty Lâm nghiệp nhà nước với tổng diện tích đất lâm nghiệp được giao quản lý là 998.523ha, nhưng trong tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh còn nhiều lỏng lẻo, kém hiệu quả, việc giao khoán đất và rừng không hợp lý để lại nhiều hậu quả đến nay rất khó giải quyết… Trong đó đa số các BQL rừng phòng hộ và một số BQL rừng đặc dụng không đủ năng lực bảo vệ rừng được giao… Đánh giá này được cơ quan chủ quản nhìn nhận thẳng thắn tại Hội nghị bảo vệ và phát triển rừng vừa qua tại Tây Nguyên.
Theo nhiều địa phương có diện tích rừng bị tàn phá thì phải hạn chế được dân di cư tự do từ các nơi khác đến bất hợp hợp pháp thì mới hạn chế được nạn phá rừng. Bên cạnh đó, lực lượng Kiểm lâm phối hợp với ngành chức năng, chính quyền các địa phương, các đơn vị chủ rừng cương quyết cưỡng chế giải tỏa những điểm lấn chiếm đất rừng, phá rừng, buộc các đối tượng phá rừng phải trồng lại rừng và xử lý hình sự theo quy định những trường hợp vi phạm nghiêm trọng.
Tuy nhiên, các Công ty Lâm nghiệp cho rằng, không thể giữ rừng được bởi không có vốn hoạt động mà toàn bộ kinh phí của đơn vị là sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Do tư cách pháp lý chưa rõ ràng, chưa được cấp GCNQSDĐ nên việc vay vốn để trồng rừng là không khả thi, việc đầu tư sản xuất kinh doanh, chế biến, phát triển rừng càng khó hơn. Các nhân viên Công ty Lâm nghiệp không có trang phục, phương tiện, thiết bị... để thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Trước thực trạng, Tây Nguyên là vùng trọng điểm về vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tình trạng suy giảm diện tích rừng còn diễn ra ở mức độ cao (bình quân giảm là 25.737ha/năm), rừng có trữ lượng gỗ có diện tích rất thấp (1.772.744ha), đạt độ che phủ là 32,4%, diện tích còn lại chủ yếu là rừng chưa có trữ lượng hoặc trữ lượng thấp…
Chính phủ đã yêu cầu, công tác bảo vệ và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên phải tập trung rà soát diện tích rừng hiện có để xác định rõ lâm phần ổn định của từng tỉnh và địa phương làm cơ sở xây dựng chính sách phù hợp trong bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo phát triển bền vững… nhằm nâng độ che phủ rừng ở Tây Nguyên lên 55% vào năm 2020. Chính phủ củng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần khẩn trương hoàn thành đề án quản lý và khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên, chuẩn bị tốt các điều kiện để dừng khai thác rừng tự nhiên trong một thời gian kể từ năm 2014 trở đi.
Nhiều ý kiến cho rằng để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của lực lượng Kiểm lâm và cán bộ quản lý bảo vệ rừng thì phải đảm bảo cuộc sống vật chất cần thiết cho họ, nhưng mặt khác, trước hết phải làm trong sạch từ đội ngũ này. Về lâu dài phải nghiên cứu tổ chức lực lượng Cảnh sát lâm nghiệp để tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Trước mắt, các tỉnh Tây Nguyên phải có trách nhiệm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, kiểm tra các cơ sở chế biến gỗ và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm (Công An Nhân Dân 8/6) đầu trang(
Mặc dù nổi tiếng từ rất lâu, nhưng sản phẩm chè Suối Giàng chất lượng chưa xứng với danh tiếng, do cơ chế quản lý và chế biến. Cục Sở hữu trí tuệ vừa cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu cho sản phẩm chè Suối Giàng, đồng nghĩa với việc cây chè nơi đây đã được bảo hộ...
Hơn chục năm nay vùng chè Suối Giàng luôn bị thả nổi. Bám quanh cây chè ngoài HTX Suối Giàng, Cty CP Chè Văn Hưng có hàng chục cơ sở chế biến quanh xã Suối Giàng tới thu mua và chế biến, chất lượng không ai kiểm soát, nhiều cơ sở đấu trộn chè Shan mua ở các xã lân cận: Sùng Đô, Phình Hồ, Suối Bu... thậm chí họ trộn cả chè trồng công nghiệp rồi lấy tên chè Suối Giàng.
Với diện tích đông đặc khoảng 300 ha, sản lượng chừng 500 tấn chè búp tươi, nếu chế biến đảm bảo quy trình thì mỗi năm sản phẩm chè Suối Giàng 70 - 80 tấn. Chưa thống kê đầy đủ, các cơ sở chế biến bán ra thị trường vài trăm tấn chè gắn tên Suối Giàng. Chè đặc sản Suối Giàng bị mất uy tín từ đó.
Để bảo hộ cho vùng chè cổ thụ Suối Giàng, từ năm 2010 Sở KH-CN tỉnh Yên Bái đã xây dựng dự án "Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận chè Suối Giàng" cho sản phẩm chè Suối Giàng, huyện Văn Chấn.
Sau hơn 2 năm triển khai dự án, ngày 31/5/2013 tỉnh Yên Bái đã tổ chức lễ công bố và trao giấy chứng nhận nhãn hiệu chè Suối Giàng do Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Sở KH-CN Yên Bái. HTX Suối Giàng là cơ sở chế biến chè đầu tiên được sử dụng nhãn hiệu này.
Sau khi công bố nhãn hiệu chè Suối Giàng, một số công ty đã đăng ký chế biến theo Bộ tiêu chuẩn quy định cho sản phẩm chè Suối Giàng. Như vậy, cây chè Suối Giàng đã được đặt đúng vị trí và giá trị của nó, đồng thời tạo cơ hội cho người dân bảo vệ tốt hơn rừng chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi. (Nông Nghiệp VN 7/6) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cảnh báo, bắt đầu từ tháng 6 này, nhiều cánh rừng trên địa bàn tỉnh sẽ đứng trước nguy cơ cháy rừng rất cao do nhiều ngày không mưa, thời tiết hanh khô kéo dài.
Các khu vực Tiên Phước, Hiệp Đức đang ở cấp IV rất nguy hiểm. Các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An, Bắc Trà My, Nam Trà My ở cấp nguy hiểm.
Theo thống kê, 10 năm qua (2003-2012), toàn tỉnh xảy ra 74 vụ cháy rừng, thiêu rụi hơn 332ha. Đáng chú ý, gần đây “bà hỏa” thường tấn công các khu rừng trồng keo, bạch đàn, thông nhựa ở các huyện Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn, Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn.
Nguyên nhân cháy rừng được xác định là do ý thức chủ quan của con người như đốt nương làm rẫy, đốt than, phát đốt bờ ruộng, khai hoang, đốt ong, đốt đồng cỏ chăn nuôi gia súc, thắp hương mồ mả, xử lý thực bì để trồng rừng, vệ sinh rừng sau khai thác…
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang đã ký quyết định phê duyệt phương án PCCC rừng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, có 107/222 xã thuộc 17/18 huyện, thành phố được công nhận là xã trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng và được phân theo mức độ xung yếu như sau: vùng ít xung yếu gồm 49 xã, vùng xung yếu có 40 xã và vùng rất xung yếu 18 xã. (Báo Quảng Nam 7/6)đầu trang(
Nắng nóng gay gắt kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở TP Đà Nẵng đang ở mức rất nguy hiểm (báo động cấp V). Những ngày này, lực lượng Kiểm lâm, chính quyền các địa phương có rừng và các chủ rừng đang triển khai quyết liệt các biện pháp, với quyết tâm không để rừng bị cháy.
Ông Lê Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, đơn vị quản lý hơn 30 nghìn ha rừng, cho hay: Hạt đã tăng cường lực lượng tuần tra, liên tục bám rừng suốt mấy tuần qua, canh trực trên lâm phận; kịp thời xử lý, nhắc nhở các đối tượng vào rừng rà sắt phế liệu, làm nương rẫy, chặt củi... không sử dụng lửa trên vùng rừng.
Qua đó cũng đã phát hiện một hộ ở thôn Trường Định xử lý thực bì gây cháy lan, triển khai chữa cháy kịp thời... Đồng thời cấm các chủ rừng xử lý thực bì trong giai đoạn nắng nóng. Hạt đã xử phạt 6 vụ xử lý thực bì sai quy định với số tiền 11,5 triệu đồng, trong đó một vụ gây cháy lan sang rừng trồng hộ khác, buộc phải đền bù 26 triệu đồng.
Ông Hùng nhấn mạnh, quan trọng vẫn là nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng trong nhân dân. Để làm được điều này Hạt đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ký cam kết phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR). Sử dụng ôtô có gắn loa phóng thanh, chạy đến các khu dân cư thông báo về nguy cơ cháy rừng, các giải pháp cần triển khai; phối hợp với Đài Truyền thanh huyện Hòa Vang liên tục phát các bản tin về PCCCR, vừa lồng ghép tuyên truyền tại các cuộc họp khu dân cư…
Từ thực tế cháy rừng các năm qua, cơ quan Kiểm lâm và chính quyền các địa phương có rừng ở TP Đà Nẵng xác định: Con người là tác nhân chủ yếu gây nên cháy rừng. Qua đó, các giải pháp đều tập trung vào việc nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác PCCCR nên tình trạng cháy rừng đã giảm đáng kể. (Công An Nhân Dân 8/6)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ năm 2010-2015, 16 khu bảo tồn biển sẽ được đưa vào hoạt động, ít nhất 0,24% diện tích vùng biển nằm trong các khu bảo tồn và khoảng 30% diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt.
Hơn 300 đại biểu là các nhà quản lý, nhà khoa học đã thảo luận tại Diễn đàn Thương hiệu biển lần thứ V có chủ đề “Khu bảo tồn biển với việc phát triển bền vững tài nguyên môi trường biển, đảo”.
Đây là một trong những hoạt động trong chuỗi sự kiện của Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam 2013 diễn ra từ 1-8/6 với chủ đề “Chung tay hành động vì biển đảo quê hương”.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển, trong những năm gần đây, hệ sinh thái biển đang có dấu hiệu suy giảm nhanh chóng, đặc biệt là đối với các khu biển ven bờ mà nguyên nhân chủ yếu là do sự khai thác quá mức, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng.
Tại Diễn đàn, các đại biểu cũng thảo luận để hướng đến mục tiêu thiết lập các khu bảo tồn để duy trì các quá trình sinh thái quan trọng. Đồng thời, đảm bảo việc sử dụng lâu bền các loại sinh vật và hệ sinh thái, giúp cho nhiều loài sinh vật biển tránh sự hủy diệt. Nỗ lực duy trì các nguồn gen để sử dụng trong công nghệ sinh học nhằm tạo ra những giống loài sinh vật biển có năng suất và chất lượng cao góp phần phát triển kinh tế biển, cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân các địa phương ven biển.
Diễn đàn thương hiệu biển Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 6/2009 tại TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, và đã trở thành sự kiện quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về biển, hải đảo và là sự kiện được Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức thường niên, thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu biển Việt Nam trong nước cũng như trên thế giới. (Chinhphu.vn 8/6)đầu trang(
Chiều 7-6, tại buổi tiếp Đại sứ Việt Nam Ngô Anh Dũng, Phó Thủ tướng Campuchia Yim Chay Ly đã lên tiếng bác bỏ cáo buộc của tổ chức Global Witness cho rằng doanh nghiệp của Việt Nam đã “phá rừng” khi đầu tư tại Campuchia.
Ông Yim cho biết: “Họ không chỉ nói xấu doanh nghiệp Việt Nam mà còn nhiều nước khác đầu tư tại Campuchia. Chúng tôi đã tiến hành điều tra và sự thật không phải như thế”.
Phó thủ tướng Campuchia cũng cho biết các hình ảnh chặt phá rừng được sử dụng để cáo buộc trên một số trang tin là hình ảnh xảy ra từ thời… Khmer đỏ.
“Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Campuchia đã góp phần cải thiện tình hình lao động ở nước chúng tôi, nhiều người có việc làm. Ngoài ra, các doanh nghiệp cao su Việt Nam còn xây dựng hệ thống điện, đường, trường, các cơ sở y tế… góp phần tích cực phát triển đất nước Campuchia” - Phó Thủ tướng Yim Chay Ly đánh giá.
Ông Yim Chay Ly cho biết đã giao cho Bộ Nông nghiệp, Bộ Môi trường phối hợp với các địa phương giải quyết vụ việc và có biện pháp bảo vệ các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn tại Campuchia. (Pháp Luật TPHCM 8/6; Thanh Niên 8/6; Sài Gòn Giải Phóng 8/6) đầu trang(
Đó là nhận định của các nhà quản lý, chuyên gia tại hội thảo “Giao đất giao rừng ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn” do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, Viện Tư vấn phát triển, liên minh đất rừng… tổ chức ở Huế ngày 7.6.
Đại diện Cục Kiểm lâm, ông Trần Mạnh Long, cho biết chủ trương giao đất giao rừng đã có từ năm 1983, khi Ban Bí thư T.Ư Đảng đã có Chỉ thị 29 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Tuy nhiên, đến nay trong tổng số hơn 16 triệu ha đất lâm nghiệp, các hộ gia đình, cộng đồng mới được giao quản lý 3,8 triệu ha, số còn lại do Ban quản lý rừng, DN nhà nước, UBND các cấp… quản lý.
Ông Long đánh giá: “Nhiều DN nhà nước quản lý diện tích rừng lớn nhưng không có khả năng kinh doanh”. Theo ông, tình trạng trên làm giảm hiệu quả xã hội của chính sách, chưa huy động được nguồn lực to lớn trong dân.
Bà Lê Thị Diên, giảng viên Đại học Huế, cũng cho rằng khi giao lại rừng tự nhiên các đơn vị quản lý cũng giao loại rừng nào nghèo, hiệu quả khai thác kém, phải mất 20 năm người dân mới có thể khai thác kinh tế được.
Điển hình Lâm trường Tân Lạc (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình), vì chỉ có 8 nhân viên mà quản lý hơn 2.000 ha đất rừng, nên trả lại khoảng 1.000 ha rừng cho người dân. Ông Bùi Văn Phư, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tân Lạc, thừa nhận số đất trên phần lớn là đất đồi núi, đất xấu. Tương tự, Lâm trường Long Đại (xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) đã giao lại 1.900 ha đất cho người dân nhưng diện tích đất này lại sát biên giới, xa khu dân cư từ 20-25 km, không có đường đi và chất lượng đất quá kém, người dân không thể canh tác.
Theo ông Phạm Quang Tú, Phó viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), năm 2003 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 28 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới nông lâm trường quốc doanh nhằm quản lý sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và rừng, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương. Tuy nhiên, quá trình này không đạt được mục tiêu đề ra, lâm trường quản lý không xuể khi mỗi nhân viên “quản” từ 300 - 500 ha rừng và đất rừng, còn dân thì lại thiếu đất sản xuất.
Ông Tô Đình Mai, hiện công tác tại Trung tâm môi trường và phát triển cộng đồng, đề nghị cần mạnh dạn giao lại cho dân đất canh tác tốt. Phú Thọ là một tỉnh trước đây hoàn toàn là đồi trọc, đất sỏi nhưng đến nay đã phủ xanh toàn bộ. Tỉnh vẫn để dân ở trong rừng đặc dụng nhưng rừng vẫn giữ được còn đời sống người dân ngày càng khấm khá do khai thác được các nguồn lợi từ rừng. Trước tình trạng trên, ông Phạm Quang Tú cho rằng nhà nước cần tổng điều tra, đánh giá lại hiệu quả sử dụng đất của các nông lâm trường, công ty để có phương án đảm bảo khai thác hiệu quả. (Thanh Niên 8/6)đầu trang(
Ngày 8.6, tại hội thảo “Giao đất giao rừng ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn” ở Huế, do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, Viện Tư vấn phát triển, liên minh đất rừng… tổ chức, ông Trần Ngọc Bình, Tổng cục Lâm nghiệp, cho biết hiện đã có hơn 2,6 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) được cấp cho các chủ rừng, với hơn 10 triệu ha đất lâm nghiệp, đạt khoảng 63,8%.
Đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia đều cho rằng khi đã giao đất rừng cho dân, nhà nước cần cấp GCN để họ yên tâm sản xuất. Hiện nay, mặc dù nhiều nơi đã giao đất, giao rừng cho dân quản lý, sử dụng và khai thác nhưng việc cấp GCN còn rất chậm. Nhiều nơi giao đất cho dân sau 3 - 4 năm vẫn chưa cấp GCN, chỉ tập trung cấp giấy (chủ yếu đất chưa có rừng) cho các dự án của nước ngoài hỗ trợ đầu tư trồng rừng. Chính vì vậy, tỷ lệ đất lâm nghiệp được giao đưa vào sử dụng chỉ đạt từ 20 - 30%.
Một số chuyên gia khuyến nghị Chính phủ cần chỉ đạo UBND các tỉnh, TP trực thuộc T.Ư tổ chức, thực hiện công tác giao đất, giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với cấp GCN trên địa bàn đạt kết quả cao nhất. (Thanh Niên 9/6)đầu trang(
Thời gian gần đây, diện tích, chất lượng rừng tự nhiên Tây Nguyên đã và đang suy giảm nhanh chóng, trong khi đó các giải pháp quản lý, bảo vệ dường như không phát huy được hiệu quả. Một trong những nguyên nhân chính là mô hình quản lý cũng như chính sách lâm nghiệp chưa phù hợp...
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa ở huyện Kong Chro, tỉnh Gia Lai hiện đang quản lý gần 17 nghìn ha rừng tự nhiên. Sau gần mười năm kể từ khi thành lập (năm 1994) đến nay, công ty này đã trải qua ba lần chuyển đổi tên gọi tương ứng với các mô hình quản lý, từ một đơn vị sự nghiệp (lâm trường quốc doanh) chuyển sang công ty nhà nước như hiện nay.
Mỗi lần chuyển đổi tên gọi, mô hình quản lý được hy vọng là mang hiệu quả mới cho công tác quản lý, bảo vệ cũng như sản xuất, kinh doanh nguồn tài nguyên rừng, đất rừng của đơn vị. Tuy nhiên, thực tế cho kết quả ngược lại. Cứ mỗi lần đổi tên, chuyển mô hình là mỗi lần diện tích và chất lượng rừng của đơn vị lại giảm đi.
Ông Trần Ngọc Anh, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa cho rằng, việc chuyển đổi chỉ mang tính hình thức theo kiểu "bình" mới "rượu" cũ, tức là chỉ chuyển đổi tên gọi, còn chức năng và nhiệm vụ vẫn giữ nguyên; những tồn đọng, khó khăn, vướng mắc vẫn còn đó. Diện tích rừng thì lớn mà kinh phí cho công tác quản lý, bảo vệ rất hạn chế.
"Thực ra bây giờ gọi là công ty nhưng hoạt động thì không khác gì đơn vị sự nghiệp. Do không có một nguồn thu nào (từ năm 2010 đến nay), toàn bộ kinh phí hoạt động trông vào sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, nên chúng tôi rất khó chủ động xoay xở"- ông Anh phân trần.
Khó khăn của Công ty Lâm nghiệp Ia Pa cũng là vấn đề chung của 56 công ty lâm nghiệp đang quản lý gần một triệu ha, chiếm hơn 1/3 diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên. Các công ty này không có đủ các yếu tố của một công ty nhà nước như vốn, nhân lực, quản trị... do đó hoạt động không đúng theo Luật Doanh nghiệp. Tư cách pháp lý chưa rõ ràng và cũng chưa đơn vị nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên ngay cả việc vay vốn để trồng rừng đã là không khả thi, việc đầu tư sản xuất, kinh doanh, chế biến, phát triển rừng càng trở nên xa vời.
Khó khăn càng chồng chất khó khăn khi cuối năm ngoái Chính phủ có chủ trương tạm dừng khai thác rừng tự nhiên trên toàn quốc, nguồn thu chủ yếu của các đơn vị này không còn. Nhiều đơn vị hiện không có tiền trả lương cho nhân viên. Một số đơn vị chủ động đề xuất liên doanh, liên kết với tư nhân để trồng rừng, trồng cao-su, nhưng mãi không thực hiện được. Ngoài ra, các công ty lâm nghiệp đang gặp khó như đội ngũ của các công ty mỏng, diện tích quản lý lại rất lớn, sự bất cập đó dẫn đến việc không quản lý được rừng Nhà nước giao cho, rừng tiếp tục bị xâm hại nghiêm trọng.
Theo ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, đây là hình thức hợp thức hóa tài sản nhà nước cho tư nhân, cho nên UBND tỉnh kiên quyết không cho triển khai. Vấn đề là phải tìm ra mô hình quản lý phù hợp cho các công ty này. Song, đó là mô hình nào? Là chủ rừng nhưng các công ty lâm nghiệp không được quyền kiểm tra, kiểm soát hay tạm giữ đối tượng phá rừng trên lâm phần quản lý; các nhân viên công ty lâm nghiệp không có trang phục, phương tiện, thiết bị và các công cụ cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ... Sự bất hợp lý dẫn đến tình trạng anh em tự bảo vệ mình trước các đối tượng phá rừng đã rất khó, nói gì đến việc bảo vệ rừng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ðác Nông cho biết: Ðến nay, tỉnh vẫn chưa thống kê chính xác diện tích rừng bị mất tại 15 công ty lâm nghiệp trên địa bàn. Chỉ biết rằng, diện tích cũng chiếm một phần không nhỏ trong số khoảng 30 nghìn ha rừng của tỉnh bị mất từ 2004 đến nay. Ðiều cần triển khai ngay trước mắt là sớm có cơ chế quản lý phù hợp hơn cho các công ty lâm nghiệp.
Mất rừng không kiểm soát được khiến vấn đề sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp sao cho hiệu quả trở nên cấp thiết. Vì thế, trong chuyến công tác tại một số tỉnh Tây Nguyên mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, nhấn mạnh: Các địa phương trong khu vực cần nghiên cứu, đề xuất giải pháp thích hợp cho vấn đề công ty lâm nghiệp. Ðối với các đơn vị đã có rừng sản xuất, làm kinh tế được, những mô hình nào còn phù hợp, tự trang trải kinh phí được thì để. Những mô hình nào không còn phù hợp thì chuyển thành ban quản lý sự nghiệp có thu...
Một phần ba diện tích rừng Tây Nguyên đang lên tiếng. Ðể bảo vệ, phát triển những cánh rừng còn lại, giải quyết vấn đề của các công ty lâm nghiệp trên địa bàn hiện nay càng trở nên cấp thiết. (Nhân Dân 7/6) đầu trang(
Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012 của Ban QLDA tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam tỉnh Điện Biên cho thấy: Trong năm Dự án được triển khai tại 8 bản thuộc 4 xã: Huổi Lèng (huyện Mường Chà); Nà Nhạn, Núa Ngam, Mường Pồn (huyện Điện Biên). Tổng kinh phí thực hiện trong 2 năm (2012 – 2013) là 154.790 Euro (trong đó, ngân sách đối ứng của tỉnh 15.390 Euro).
Ban QLDA đã phối hợp với tư vấn Trung ương tiến hành điều tra, khảo sát thể chế, kinh tế xã hội và hiện trạng sinh thái, hiệu suất thực hiện các chương trình, dự án khác tại các địa bàn triển khai dự án. Đồng thời triển khai hỗ trợ mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ, bếp đun tiết kiệm củi nhằm tăng thu nhập từ rừng cho người dân, giảm thiểu tác động có ảnh hưởng lâu dài đến các sản phẩm từ rừng hoặc các sản phẩm từ những khu rừng nghèo kiệt được giao khoán. Cung cấp hỗ trợ máy tính, máy in, các thiết bị internet và một số thiết bị khác liên quan để các xã thực hiện dự án cập nhật thông tin…
Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2013 tổ chức ngày 4/6, Ban QLDA tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh cho biết: Năm 2013, Dự án tiếp tục thực hiện thiết kế kỹ thuật lập dự toán chuẩn bị đất, cây giống để trồng mây nếp tại 2 điểm bản Huổi Toóng II (xã Huổi Lèng) và bản Nậm Hẹ (xã Núa Ngam); hỗ trợ địa phương hoàn thiện quy ước, quy chế quản lý sử dụng quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng; hỗ trợ bếp đun tiết kiệm củi cho người dân vùng dự án… (Báo Điện Biên 8/6)đầu trang(
7-6, ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng nhóm tình nguyện viên quan sát và bảo vệ rùa biển xã Nhơn Hải, TP Quy Nhơn (Bình Định) cho biết, 3-6, tại khu vực bãi Ngòi, thôn Hải Giang, xã Nhơn Hải có một con rùa biển với chiều dài khoảng 1,2m, chiều ngang 0,9m bò lên bờ đẻ được một ổ trứng với hơn 120 trứng.
Nhận được tin báo, nhóm tình nguyện viên quan sát và bảo vệ rùa biển xã đã khoanh vùng khu vực ổ trứng và báo cáo cho Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bình Định biết để có biện pháp theo dõi, bảo vệ ổ trứng.
Trong năm 2012, tại khu vực đảo Hòn Khô, xã Nhơn Hải, rùa biển lên bãi đẻ được 6 ổ trứng, tuy nhiên số trứng trên đã bị hư hại hoàn toàn. Trong đó, 4 ổ trứng đã bị dập, bể và hư hại do ảnh hưởng gió Tây Nam, sóng biển lớn xô dập vào bờ làm sạt lở hư hại. 2 ổ trứng còn lại được nhóm tình nguyện viên quan sát và bảo vệ rùa biển của xã di dời đến nơi khác để ấp nở nhưng không thành công. (Sài Gòn Giải Phóng 7/6) đầu trang(
Năm 2013, theo kế hoạch tỉnh Lai Châu trồng 1.877 ha rừng. Các địa phương đang tích cực chuẩn bị đất, cây giống để hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra.
Khác với các năm trước, kế hoạch trồng rừng năm nay được phê duyệt từ quý IV năm 2012. Do đó, các doanh nghiệp và người dân đã lên kế hoạch chuẩn bị trước cây giống cũng như đất để chủ động cho việc trồng rừng.
Diện tích trồng rừng được chia làm 2 loại rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Năm nay, tỉnh ta sẽ trồng 990 ha rừng phòng hộ và 887 ha rừng sản xuất. Đến thời điểm này, các huyện đã phát dọn thực bì được gần 550 ha. Trong đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Sìn Hồ đã phát được 70 ha, huyện Phong Thổ phát được 56,6 ha.
Để phục vụ kế hoạch trồng rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ các huyện Than Uyên, Tân Uyên, Tam Đường, Phong Thổ và Sìn Hồ tiến hành gieo ươm cây giống. Số lượng cây giống đã gieo ươm là trên 2,5 triệu cây với các giống chủ yếu là mỡ, lát hoa, tống quá sủ, keo tai tượng, gối thuốc, sơn tra... (Theo Laichau.gov.vn 9/6)đầu trang(
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của rừng trong phát triển kinh tế, những năm qua, xã Thạch Kiệt, huyện Tân Sơn có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo động lực cho kinh tế lâm nghiệp phát triển bền vững.
Đến nay, độ che phủ rừng ở Thạch Kiệt đã đạt trên 90%. Năm 2012, xã trồng mới 253 ha rừng, năm 2013 diện tích rừng trồng mới là 130ha. Hiện nay, tất cả diện tích rừng trồng ở Thạch Kiệt đều phát triển tốt, một số diện tích đã bắt đầu cho khai thác, bước đầu cho thấy hiệu quả từ kinh tế rừng. Năm 2012, với 180ha diện tích rừng khai thác, bình quân cho thu nhập 50 triệu đồng/1ha, tổng doanh thu từ kinh tế rừng là 9 tỷ đồng. Nhiều diện tích rừng đã trồng ở chu kỳ thứ hai.
Cùng với trồng rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được địa phương đặc biệt quan tâm. Hàng năm, trong triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xã lồng ghép, giao nhiệm vụ về kế hoạch trồng và bảo vệ rừng đến từng thôn ngay từ đầu năm; đồng thời thành lập ban bảo vệ và phát triển rừng, mỗi thôn có một ban gồm 7 đến 8 thành viên. Các thành viên tích cực tuyên truyền Luật bảo vệ và phát triển rừng đến từng hộ dân; vận động các gia đình thực hiện cam kết trồng, bảo vệ và phát triển rừng; giám sát việc thực hiện quy ước bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng của thôn, bản… (Báo Phú Thọ 8/6)đầu trang(
Bên cạnh những lợi ích to lớn cho cộng đồng xã hội, internet cũng đang góp phần không nhỏ làm "biến mất" những loài động vật hoang dã (ĐVHD) quý hiếm, bởi hành vi giao dịch, mua bán trái phép trên các diễn đàn, các trang mạng đang bùng nổ thời gian qua. Thế nhưng, các cơ quan chức năng lại chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này.
Sử dụng internet để quảng cáo, mua bán ĐVHD trở thành một trào lưu không chỉ xuất hiện trên thế giới mà đã xâm nhập vào nước ta trong khoảng 5-6 năm trở lại đây. Lợi dụng sự không biên giới và khó kiểm soát của internet, thời gian qua đã xuất hiện hàng loạt những diễn đàn, website về nuôi thú, mua bán các mẫu vật ĐVHD, tập trung phần lớn ở TPHCM và Hà Nội… Internet đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho hoạt động này sống và là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm số lượng động vật quý hiếm.
Đại diện Hiệp hội Bảo tồn ĐVHD (WCS) nhận định, tại Việt Nam, internet là phương thức phổ biến để quảng cáo, buôn bán mẫu vật các loài ĐVHD trái phép như sừng tê giác, mật gấu, ngà voi và nhiều loài nhập lậu để làm thú nuôi cảnh, làm thuốc và thực phẩm… Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài của Việt Nam bị buôn bán chiếm tới 68%, 32% còn lại là các loài ngoại nhập.
Qua thống kê các giao dịch trên mạng, có tới 84% vụ mua bán ĐVHD là để nuôi làm cảnh; 9% dùng để chế biến thực phẩm; 7% còn lại cho các mục đích làm đồ dùng, vật trang trí và làm thuốc. Trong số 108 loài ĐVHD xuất hiện trong các giao dịch buôn bán trực tuyến, 24% là loài được pháp luật Việt Nam bảo vệ, 24% được Công ước quốc tế CITES (Cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) bảo vệ, 17,6% số loài bị đe dọa trên toàn cầu.
Các chuyên gia của CITES Việt Nam cho biết, trước sự phát triển tràn lan các giao dịch mua bán ĐVHD trên mạng, một số quốc gia đã thực hiện các chương trình, kiểm soát, đồng thời nghiêm cấm rao bán trái phép các loài hoang dã; thỏa thuận với các website không rao bán các loài trong danh mục được CITES bảo vệ; thực hiện các chương trình tuyên truyền, xử phạt các vi phạm về quảng cáo trên internet.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng thừa nhận, việc kiểm soát hoạt động này rất khó khăn. Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn đến việc bảo tồn các loài ĐVHD, nhưng cơ chế, chính sách quản lý còn thiếu, chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm trên còn thiếu tính răn đe.
Theo ông Lê Đức Anh (Cục Thương mại điện tử - Bộ Công thương), việc ngăn chặn và xử lý tình trạng này rất phức tạp. Thứ nhất, hầu hết các đối tượng đưa thông tin và hình ảnh ĐVHD lên internet thường chỉ có tính chất minh họa nên cơ quan chức năng rất khó phát hiện các hành vi vi phạm. Thứ hai, nếu kiểm tra các vụ mua bán này cũng không thể xử lý được đối tượng vi phạm vì không có tang vật. Để giải quyết được vấn đề này, mấu chốt vẫn là phải kiểm soát được nguồn gốc thông tin và có chế tài theo hướng tăng mức xử phạt.
Nhiều ý kiến khác cho rằng, cần tăng cường tuyên truyền, vận động để mỗi người dân thấy được sự nguy hại từ việc buôn bán này, từ đó có hành động thiết thực nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo tồn và phát triển các loài động vật quý hiếm. Cụ thể, vận động người dân không sử dụng các loại thực phẩm cũng như không mua bán các loại đồ vật trang trí, đồ dùng có nguồn gốc từ ĐVHD; xử phạt nghiêm các tổ chức, cá nhân buôn bán các sản phẩm liên quan đến ĐVHD; phải xác định việc bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của cả quốc gia và là hành động không biên giới.
TS Scott Roberton, Giám đốc WCS tại Việt Nam cảnh báo, phương thức mua bán qua internet sẽ còn gia tăng trong 5-10 năm tới nếu không có các biện pháp quản lý, kiểm soát khi mà số người Việt Nam sử dụng internet gia tăng. Nhằm hạn chế tình trạng này, WCS kiến nghị cần tăng cường quản lý việc đăng ký cũng như nội dung của các website và diễn đàn; ban quản trị trang mạng cần xem xét việc đưa quy định, luật về bảo tồn ĐVHD vào website và thường xuyên theo dõi các chủ đề về buôn bán ĐVHD; tăng cường hợp tác giữa ban quản trị website và các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi pháp luật về bảo tồn ĐVHD… (Hà Nội Mới 10/6)đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn được giao nhiều đất nhưng do việc sử dụng chưa có hiệu quả, để đất trống nhiều, quản lý kém, trong khi đó người dân địa phương thiếu đất sản xuất.
Các lâm trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trực thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn được giao hơn 15.900 ha đất lâm nghiệp để sử dụng vào việc trồng, phát triển rừng kinh tế. Tuy nhiên, đến nay, dự án trồng rừng sản xuất và khoang nuôi tái sinh được hơn 7.100 ha rừng, số còn lại còn gần chín nghìn ha là rừng nghèo kiệt, lau lách không có giá trị kinh tế, cần phải cải tạo để trồng rừng mới thì đất lâm nghiệp mới được sử dụng có hiệu quả.
Tuy nhiên, việc trồng rừng của các lâm trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua gặp rất nhiều khó khăn, mỗi năm chỉ trồng chưa được một nghìn ha. Nguyên nhân chủ yếu là do không có vốn, không tiếp cận được với nguồn vốn vay ưu đãi của ngân hàng. Thiếu vốn, thiếu nhân lực, việc trồng rừng của các lâm trường chủ yếu phải liên kết với nhân dân địa phương. Song, cơ chế hưởng lợi của của người dân địa phương hợp tác trồng rừng thời gian vừa qua có nhiều bất cập, người dân cho rằng mình có nhiều thua thiệt.
Đất trống, rừng lau lách, nghèo kiệt nhiều, mốc giới không rõ ràng, quản lý không được. Trong khi đó, nhân dân ở nhiều địa phương lại không có đất sản xuất dẫn đến tình trạng người dân sử dụng đất lâm trường. Điển hình như nhân dân các xã Quang Thuận, Dương Phong, Đôn Phong thuộc huyện Bạch Thông đã sử dụng khoảng 350 ha đất của lâm trường để trồng cây cam, quýt.
Thực tế, nhân dân sử dụng đất của lâm trường để trồng cam, quýt, mỗi năm mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng/ha. Nếu nhân dân không trồng cây ăn quả thì lâm trường cứ “ôm” đất rồi ... để đấy. Rõ ràng, việc thu hồi đất ở những nơi lâm trường sử dụng không hiệu quả để giao cho dân là cần thiết.
Tuy nhiên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn còn đề nghị huyện Bạch Thông “không triển khai dự án trồng cây cam, quýt” với mục đích ngăn chặn tình trạng người dân xâm lấn đất lâm trường. Đồng thời, công ty này cũng đề nghị các cơ quan chức năng ngăn chặn tình trạng người dân xâm lấm đất lâm trường.
Về vấn đề này, lãnh đạo các cơ quan chức năng và huyện Bạch Thông cho rằng: Mặc dù người dân đã trồng cam, quýt trên đất lâm trường nhưng không thể thu hồi lại diện tích này để trả lại cho lâm trường được. Do đó, việc lâm trường “đòi” lại đất là không khả thi. Tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các cơ quan chức năng làm các thủ tục thu hồi đất của lâm trường tại những diện tích đã trồng cam, quýt để giao cho dân.
Nhân dân địa phương cũng đề nghị, đất lâm nghiệp phải được sử dụng có hiệu quả để tránh lãng phí. Chính quyền địa phương cần rà soát lại đất lâm nghiệp tại vùng trồng cam, quýt, nếu lâm trường sử dụng không có hiệu quả, để đất trống thì cũng nên thu hồi để giao cho dân trồng cây ăn quả thì giá trị kinh tế thu được sẽ cao hơn gấp nhiều lần, góp phần tích cực khai thác tiền năng lợi thế của vùng trồng cây ăn quả, đẩy nhanh tiến trình xoá đói giảm nghèo ở địa phương.
Tuy nhiên, với lý do không có kinh phí nên thời gian vừa qua Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn chưa tích cực hợp tác với các cơ quan chức năng và chính quyền huyện Bạch Thông trong việc đo đạc, trích lục bản đồ để “cắt” đất cho dân. Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn Ngô Văn Viện cho biết: Tỉnh chưa thu xếp được kinh phí nên đã chỉ đạo Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Cạn ứng kinh phí để cùng với các cơ quan chức năng đo đạc, trích lục bản đồ, cắm mốc... sau đó sẽ trừ vào tiền thuê đất hằng năm mà công ty phải nộp.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng ở tỉnh Bắc Kạn cần sớm kết thúc việc rà soát, đo vẽ, trích lục bản đồ địa chính, xác định rõ diện tích thu lại của lâm trường để giao cho dân sản xuất. Sau đó cắm mốc rõ ràng, đâu là đất giao cho dân, đâu là đất của lâm trường thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Làm như thế, nhân dân sẽ yên tâm đầu tư sản xuất lâu dài, đồng thời sẽ có điều kiện giám sát việc sử dụng đất của lâm trường sao cho có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhà nước và doanh nghiệp. (Nhân Dân 7/6) đầu trang(
Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai cho rằng, trong số 372 héc ta diện tích sử dụng xây hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A thì chỉ có 1,16% là rừng giàu, còn lại trên 98% là rừng nghèo. Tuy nhiên, khái niệm về rừng nghèo của Đức Long Gia Lai áp dụng trong trường hợp này đã bị chuyên gia phản bác.
Khẳng định trên của Đức Long Gia Lai được nêu tại văn bản gửi Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai ngày 25-5 vừa qua sau khi Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai có văn bản kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội về việc loại hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A khỏi quy hoạch hồi đầu tháng 5-2013.
Tuy nhiên, khái niệm về rừng nghèo của Đức Long Gia Lai áp dụng trong trường hợp này đã bị chuyên gia phản bác.
Trao đổi về khái niệm rừng nghèo mà Đức Long Gia Lai đề cập cho hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, ông Trần Văn Thành, nguyên giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho rằng, việc đánh giá rừng giàu, rừng nghèo chỉ áp dụng đối với rừng thông thường căn cứ trên trữ lượng lâm sản, còn đối với rừng đặc dụng như Vườn quốc gia Cát Tiên được đánh giá dựa trên hệ sinh thái thì dùng khái niệm rừng nghèo là không đúng.
Trong văn bản gửi Khu bảo tồn thiên nhiên - văn Hóa Đồng Nai cuối tháng 5-2013, Đức Long Gia Lai cho rằng vị trí bậc thang thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nằm ở rìa phía bắc khu Cát Lộc của Vườn quốc gia Cát Tiên. Toàn bộ nhà máy, đường giao thông, đường dây đấu nối, khu thi công đều nằm ngoài phạm vi Vườn quốc gia Cát Tiên thuộc vùng đệm khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
Theo Đức Long Gia Lai, diện tích rừng phạm vi của dự án đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước phúc tra, thẩm định. Trong số 372,23 héc ta diện tích rừng sử dụng của đất các dự án này thì hiện trạng rừng có 4,32 héc ta (1,16%) là rừng giàu, còn lại trên 98% là rừng nghèo, lồ ô, hỗn giao, đất trống và bãi đá.
Về hiệu quả kinh tế, Đức Long Gia Lai cho rằng tổng sản lượng điện hàng năm của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A gần 1 tỉ kWh/năm, giá trị sản lượng điện hàng năm gần 1.000 tỉ đồng, đóng các loại thuế là 323 tỉ đồng mỗi năm.
Tuy nhiên, dường như các lợi ích về kinh tế từ hai dự án thủy điện 6 và 6A của chủ đầu tư vẫn chưa làm chuyên gia về môi trường yên tâm bởi các nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn của hai dự án chưa thể đánh giá hết được.
Theo báo cáo về tác động của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A được Ban Quản lý khu dự trữ sinh quyền Đồng Nai gởi Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội cuối tháng 5 vừa qua, việc xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ làm xâm nhập mặn vào sâu hơn, tăng khả năng ô nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai, ảnh hưởng lớn trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của cả Đồng Nai và TPHCM.
Theo nhận định của Ban Quản lý khu dự trữ sinh quyền Đồng Nai, ngoài việc lấn chiếm 137,5 héc ta diện tích rừng của Vườn quốc gia Cát Tiên, hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A còn làm thay đổi dòng chảy tự nhiên, gây ngập úng mùa mưa và thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô cho vùng hạ lưu, làm biến dạng hình thái của sông, bàu.
Một khi dòng chảy trái với quy luật tự nhiên sẽ gây nhiều hậu quả khó lường như xói mòn đất, sạt lở bờ sông, lũ quét… Việc chặn dòng sông Đồng Nai sẽ làm thay đổi môi trường sinh thái dẫn đến các loài sẽ khó thích nghi với môi trường mới, hạn chế khả năng sinh sản và làm thay đổi chất dinh dưỡng trong nước, nước sông có nguy cơ bị ô nhiễm nặng.
Ban Quản lý khu dự trữ sinh quyền Đồng Nai kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội xem xét không triển khai hai dự án này, đồng thời loại bỏ khỏi quy hoạch thủy điện bậc thang sông Đồng Nai hai bậc 6 và 6A. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 9/6)đầu trang(
7/6, TAND huyện Tân Phú (Đồng Nai) mở phiên tòa lưu động tại Trung tâm học tập cộng đồng xã Đắc Lua để xét xử 14 bị cáo về tội vi phạm các quy định quản lý bảo vệ rừng.
Hơn 1.000 người dân dự khán phiên tòa bởi đa số các bị cáo sinh sống tại địa phương.
Với vai trò là người khởi xướng vụ chặt hạ cây gõ đỏ (loài cây bị đe dọa ở mức nguy cấp theo tiêu chuẩn của IUCN) tại đồi đá C9 thuộc Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, Bùi Trung Sơn (SN 1986, trú tại Đắc Lua) bị phạt 2 năm tù.
Các bị cáo khác lãnh từ 6 – 16 tháng tù, trong đó có 8 người án treo. Tổng mức án đối với 14 bị cáo là 15 năm 4 tháng tù và số tiền phải bồi thường cho VQG Cát Tiên là 150 triệu đồng. (Tiền Phong 8/6) đầu trang(
Chiều 7-6, sau hai ngày cấp cứu, em Lầu Bá Nênh (13 tuổi, trú bản Nậm Khiên 1, xã Nậm Càn, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An) đã qua cơn nguy kịch, sức khỏe đang bình phục dần.
Theo ông Mùa Bá Bì, công an xã Nậm Càn, cho biết sáng 5-6, bố mẹ Nênh đi làm, Nênh và Lầu Bá Thông (trú xã Nậm Càn) mang hai cây súng của gia đình lên rừng săn thú. Thông và Nênh chia làm hai ngã để săn, khi Nênh đang núp trong lùm cây thì Thông tưởng là thú rừng nên đã nhắm vào nổ súng. Sau tiếng súng nổ, Thông mới biết mình bắn nhầm vào Nênh. Thông cùng người dân đã đưa Nênh đi cấp cứu.
Được biết, hai khẩu súng mà Nênh và Thông mang đi săn là súng kíp tự chế và Thông hiện chưa đủ 14 tuổi. (Pháp Luật TPHCM 8/6) đầu trang(
UBND TP.Hội An (Quảng Nam) vừa có văn bản gửi các cơ quan trực thuộc, doanh nghiệp trên địa bàn, cảnh giác việc một số cá nhân giả danh đại diện “Tổ chức Môi trường xanh thế giới” vừa đến Hội An để “hỗ trợ không hoàn lại cho dự án trồng rừng của khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm với tổng số tiền tài trợ lên đến 1.114,38 tỉ đồng và yêu cầu lãnh đạo địa phương cung cấp hồ sơ pháp lý, hồ sơ pháp nhân của dự án, đồng thời yêu cầu trích thưởng môi giới với tổng số tiền 48,896 tỉ đồng...”.
Công an TP.Hội An đã xác minh không có tổ chức nào có tên gọi như trên; các đối tượng đều có nhân thân, lai lịch không rõ ràng và có những biểu hiện đáng ngờ. Trước tình hình trên, UBND TP.Hội An đã đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương cảnh giác. (Thanh Niên 8/6) đầu trang(
Sự việc đất rừng Sóc Sơn bị “băm nát” bằng các công trình kiên cố mọc trên đất lâm nghiệp, trong đó, công trình không phép được dư luận quan tâm nhất vẫn là phủ Thành Chương và dinh cơ của ca sĩ Mỹ Linh.
Trước những sai phạm nêu trên, UBND TP Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương làm rõ, nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có kết luận cuối cùng.
Chỉ cần gõ vào trang tìm kiếm Google với nội dung “bán đất rừng Sóc Sơn” là cho ta hàng triệu kết quả với những lời chào bán đất rừng nhan nhản như: Bán đất chính chủ thôn Lâm Trường, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn 2013. Đường vào 5m, diện tích 2.880m2 (khoảng 34mx96m), mặt giáp đường rộng 34m hướng Đông – Nam. Đây là khu có hàng xóm xung quanh, là quan chức cao cấp, doanh nhân, nghệ sỹ nổi tiếng (nhiều người đã xây biệt thự, nhà nghỉ cuối tuần cho gia đình hoặc đã ở cố định như gia đình ca sĩ Mỹ Linh - Anh Quân).Thửa đất cách khu nhà gia đình Mỹ Linh 3 thửa. Khu vực này thoáng rộng, cảnh quan đẹp, không khí trong lành, an ninh tốt.
Khu đất cách Việt phủ Thành Chương khoảng 2km, cách Trung tâm chăm sóc người cao tuổi khoảng 500m. Bán đất chính chủ tại xã Hiền Ninh, diện tích 3000m2, giáp mặt đường rộng 20m, lô đất có “sổ đỏ” gốc, vị trí đẹp, giao thông thuận tiện. Giá bán: 100 triệu/sào. Bán đất chính chủ Phú Thịnh, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn. Địa chỉ, thôn Phú Thịnh, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Diện tích mặt bằng 800m2, mặt tiền 23m, đất vuông vắn, gần dự án khu du lịch sinh thái và nhà nghỉ dưỡng lão, khu dân trí cao, an ninh tốt, nằm giữa khu lâm trường và trường học, ô tô vào nhà, giao thông đi lại thuận tiện, cách trung tâm Hà Nội 35km, “sổ đỏ” chính chủ, giá bán 2.8 triệu/m2…
Việc mua bán, chuyển nhượng trái phép đất rừng tràn lan đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trong kết luận của Thanh tra Sở TN-MT cũng đã chỉ rõ những sai phạm. Cụ thể: UBND huyện Sóc Sơn cấp “sổ đỏ” cho 229 hộ gia đình, cá nhân trên diện tích của Cty TNHH Nhà nước MTV Đầu tư và phát triển nông lâm nghiệp Sóc Sơn (Cty Sóc Sơn). Trong đó, có 123 trường hợp cấp “sổ đỏ” vượt hạn mức lên tới 4.000m2 hộ gia đình do cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 50 “sổ đỏ”. Số “sổ đỏ” đã thu hồi do đã có thông báo hủy “sổ đỏ” và do chuyển nhượng toàn bộ diện tích là 32 sổ…
Việc UBND huyện Sóc Sơn tự ý cấp “sổ đỏ” đất rừng cho hàng trăm trường hợp vượt hạn mức và đến nay, những trường hợp cấp sai này vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để.
Theo kết luận của Thanh tra Sở TN-MT: Cty Sóc Sơn, tiền thân là Lâm trường Sóc Sơn được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, xây dựng và phát triển vốn rừng, trồng rừng và chăm sóc rừng… Tuy nhiên, thay vì quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thì ban lãnh đạo Cty đã tự ý ký hợp đồng cho một doanh nghiệp thuê hàng nghìn m2 bến bãi, ngoài ra, do buông lỏng quản lý hay “làm ngơ” để cho nhiều cá nhân xây dựng hàng loạt công trình trái phép trên đất rừng.
Cty Sóc Sơn đã ký hợp đồng không đúng quy định của pháp luật trong việc cho Cty CP Cờ Đỏ thuê 2.200m2 nhà xưởng và sân bãi trên diện tích đất khu văn phòng Cty Sóc Sơn để sản xuất, kinh doanh lắp ráp cụm bánh xe máy.
Đồng thời, Cty Sóc Sơn thiếu sâu sát, chưa chặt chẽ trong công tác quản lý đất lâm nghiệp, đã để khu dân cư lâm nghiệp xây dựng nhà văn hóa, sân thể thao trên diện tích 3.000m2 đất rừng, tại khu làng lâm nghiệp thuộc xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn. Ngoài ra, để tình trạng các hộ gia đình mua bán chuyển nhượng đất lâm nghiệp, tự chuyển đổi mục đích sử dụng và xây dựng công trình nhà ở, sân, hàng rào kiên cố. Thanh tra Chính phủ có kết luận số 754/TTCP ngày 17-4-2006, sau khi có kết luận, Cty Sóc Sơn có phối hợp với UBND huyện Sóc Sơn và các đơn vị liên quan xử lý một số trường hợp xây dựng trái phép.
Ngoài những sai phạm mà Thanh tra Sở TN-MT “điểm mặt” thì một thực trạng đang diễn ra tại Cty này là: Lãnh đạo Cty Sóc Sơn đã tự ý san lấp khu ao treo số 2 với diện tích hơn 3.000m2, khu ao trước cửa văn phòng làm việc. Các ao này để phục vụ tưới tiêu, đặc biệt là phòng, chống cháy rừng, điều hòa trong mùa hè, giảm nhiệt cho rừng. Nhưng, đã bị san lấp để… chuyển mục đích, bán trái phép cho chủ dự án gần đó. Ngoài ra, những người lao động tại Cty Sóc Sơn còn “tố” thêm tình trạng không minh bạch về thu chi tài chính của ban lãnh đạo Cty này…
Ngoài những sai phạm về cấp “sổ đỏ” vượt hạn mức cho phép, tự ý san lấp khu ao treo số 2 và cho thuê hàng nghìn m2 trái phép của Cty Sóc Sơn, thì dư luận cũng thật sự quan tâm đến hướng giải quyết của các cơ quan chức năng đối với hai công trình không phép của ca sĩ Mỹ Linh và Việt phủ Thành Chương sẽ bị xử lý thế nào?
Trao đổi về hướng xử lý đối với công trình của họa sỹ Thành Chương và ca sĩ Mỹ Linh, ông Nguyễn Văn Chính- Trưởng phòng TN-MT huyện Sóc Sơn cho biết: “Vừa rồi, UBND huyện Sóc Sơn đã hoàn tất báo cáo nhưng Thanh tra TP về làm việc và yêu cầu UBND huyện phải bổ sung, điều chỉnh và làm rõ một số nội dung, sau đó nộp báo cáo trước ngày 20-6-2013”.
Trả lời về hướng giải quyết của UBND huyện Sóc Sơn đối với công trình của ca sĩ Mỹ Linh và họa sỹ Thành Chương, ông Chính cho hay: “Hôm trước UBND huyện Sóc Sơn làm việc với Thanh tra TP, nhưng Thanh tra TP vẫn chưa có ý kiến gì đối với hai trường hợp này, mà chỉ yêu cầu báo cáo toàn cảnh về đất rừng Sóc Sơn sau kết luận 754 của Thanh tra Chính phủ, UBND huyện Sóc Sơn đã làm được những việc gì”.
Ông Chính cho biết thêm: Hiện nay UBND huyện Sóc Sơn vẫn chưa có hướng xử lý đối với công trình của ca sĩ Mỹ Linh và họa sỹ Thành Chương, mà chỉ làm báo cáo tổng thể về đất rừng sau đó gửi Thanh tra TP xem xét, sau đó Thanh tra TP sẽ báo cáo với UBND TP Hà Nội quyết định”. (Pháp Luật&Xã Hội 7/6) đầu trang(
Chiều 8.6, Công an Q.Hà Đông (Công an TP.Hà Nội) cho biết, đã bắt được nhóm trộm gỗ sưa, gồm Nguyễn Ngọc Thắng (ở TP.Hà Nội), Lương Vũ Đại (ở tỉnh Nam Định) và Trần Tiến Đạt (ở TP.Hà Nội).
Liên quan tới vụ việc, Công an Q.Hà Đông tạm giữ 1 ô tô mang BKS 29C-201.10, 1 lưỡi cưa và 2 cưa tay là tang vật vụ án để điều tra làm rõ. Tại trụ sở công an, Thắng, Đại và Đạt khai ngày 7.6, lợi dụng đêm tối mưa gió nhóm này đã dùng cưa và ô tô để thực hiện hành vi trộm một cây sưa đỏ có đường kính khoảng 30 cm tại vỉa hè bên ngoài hàng rào khu vực cổng Trường đại học Kiến trúc. Tuy nhiên, khi vừa cưa đổ cây sưa thì bị người dân phát hiện nên cả nhóm bỏ trốn khỏi hiện trường. Tới 12 giờ ngày 8.6, khi cả nhóm đang lẩn trốn thì bị lực lượng công an bắt giữ. (Thanh Niên 9/6)đầu trang(
Chiều ngày 7/6, ông Nguyễn Nhĩ- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết: Ngày 6/6, lực lượng chức năng gồm lãnh đạo huyện Ia Grai và hạt kiểm lâm huyện Ia Grai tổ chức vào kiểm tra tình hình gỗ lậu tại bến làng Tung, đã phát hiện một điểm tập kết gỗ lậu tại làng Tung (xã Ia Khai, huyện Ia Grai, nằm cạnh bờ hồ thủy điện Sê San 3A).
Tại hiện trường xuất hiện nhóm người có biểu hiện đe dọa đoàn kiểm tra khi biết đoàn đã phát hiện nhiều gỗ nằm dưới sông Sê San. Lực lượng của Chi cục đã được tăng cường để giữ hiện trường từ khi phát hiện vụ việc.
Trong ngày, Kiểm lâm đã trục vớt được 8 khúc gỗ vào bờ, số còn lại nằm ở ngoài xa và sâu nên Chi cục đang phải chờ thuê người lặn vớt. (Nông Nghiệp VN 8/6) đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo-Cục Hải quan Quảng Trị cho hay, đơn vị vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tịch thu toàn bộ số gỗ vận chuyển về Việt Nam, không có giấy tờ hợp lệ.
Ngày 30-5, qua công tác kiểm tra xe tải biển kiểm soát 74C 008.59, lực lượng Hải quan thuộc Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đã phát hiện 574 kg gỗ trắc, 0,23 m3 gỗ hương cất giấu dưới đá thạch cao, không có giấy tờ hợp lệ. Tổng trị giá số gỗ trên ước tính hơn 40 triệu đồng.
Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với lái xe là ông Nguyễn Hữu Hải (trú tại Đông Lương, TP. Đông Hà, Quảng Trị) 2 triệu đồng về hành vi vận chuyển hàng hóa không có giấy tờ hợp pháp, đồng thời tịch thu toàn bộ số hàng hóa trên. (Hải Quan 8/6) đầu trang(
Thời hoàng kim, 1cc mật gấu có giá cả chỉ vàng. Bây giờ, giá mật gấu xuống chỉ bằng hai lạng thịt lợn. Nuôi gấu không được hút mật, không được bán trong khi chi phí nuôi lại quá lớn. Người dân biết làm thế nào để duy trì một việc quá khó khăn như vậy? Thế nên mới có chuyện, hàng trăm hộ dân đòi bán gấu cho Nhà nước.
Trong khi đó, pháp luật không công nhận gấu thuộc quyền sở hữu của người dân, cũng không thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Số phận của 3 nghìn con gấu nuôi tại Việt Nam vẫn đang chờ được phán xét.
Cách đây hơn 10 năm, nuôi gấu lấy mật trở thành một nghề làm giàu của nhiều nông dân. Một nhà làm giàu, cả xã làm theo. Phong trào nuôi gấu trở nên rầm rộ và sôi động. Người ta sang tận Lào để “săn” gấu giống về bán. Một con gấu giống có giá từ 70 đến xấp xỉ 100 triệu đồng, nông dân chấp nhận cắt đất bán lấy tiền mua gấu.
“1 lô đất ngày đó bán có 70 triệu, nhà tôi phải bán mấy lô mới mua được vài con gấu ngựa về nuôi. Năm 1999, tính ra mỗi con gấu ngựa bằng 20 cây vàng. Mỗi cc mật gấu lúc đó có giá trị bằng 1 chỉ vàng” - anh Cấn Như Tùng, ở thôn Tây, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội hồi tưởng lại thời hoàng kim.
Nhà nhà nuôi gấu ngựa lấy mật khiến cho xã Phụng Thượng thời đó như một vương quốc gấu khi có hàng nghìn con gấu sống trong nhà dân. Nhiều ông chủ đã xuất hiện và giàu lên nhanh chóng từ việc hút mật gấu bán.
Năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có quy chế quản lý gấu nuôi, việc hút mật gấu bị cấm hoàn toàn, không khai thác được lợi ích từ việc hút mật gấu ngựa để bán, hàng trăm con gấu ở Phụng Thượng bị đối xử hoàn toàn trái ngược như trước đây.
Mới đây, PV quay lại “vương quốc gấu” một thời nổi tiếng ở phía Bắc. Ngay mặt đường quốc lộ 32, nhiều tấm biển quảng cáo “Trại gấu” được để ra tận mép đường như mời chào. Trại gấu nào cũng kê sẵn một dãy lồng sắt ở ngay ngoài cửa vào, bên trong những chiếc lồng chật chội là những chú gấu béo ních đang nằm ngửa lim dim ngủ. Mùi tanh nồng của những chú gấu ít được tắm xộc lên thật khó chịu.
Khi còn hoàng kim, gấu được chủ quý như người, tắm rửa hàng ngày, chăm sóc chế độ ăn đặc biệt. Nhưng nay thì hoàn toàn khác. Người ta cho gấu ăn chỉ để cầm chừng, duy trì sự sống.
Ghé vào một cửa hàng có gấu ngựa sinh sản, chúng tôi hỏi mua mật gấu. Lúc đầu, nhân viên cười trừ kêu “không có”. Nhưng sau vài phút, người này đã hỏi: “mua nhiều không?”. Giá của mật gấu ngựa ở đây rẻ đến bất ngờ: 20.000đ/1cc. Nếu mua nhiều thì giảm mỗi cc 3.000đ. Chúng tôi tỏ ý băn khoăn về chất lượng mật và nguy cơ dịch bệnh, người này khoát tay: “Yên tâm, chúng tôi ăn ở với chúng hàng ngày có sao đâu. Đấy, các chị xem, chúng đều khỏe mạnh cả”.
Anh V., chủ một cơ sở nuôi gấu ngựa ngay trên mặt đường QL32 cho biết: “Nói thật, vẫn phải hút trộm mật để có thu nhập mà nuôi nó chứ. Một số còn giết mổ bán, sau đó kêu với Kiểm lâm là đã chết”.
Biển giới thiệu trại gấu trên quốc lộ 32 (đoạn thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội) nhằm mục đích thương mại?
Có một nghịch lý là việc nuôi gấu hút mật khi chưa bị cấm thì chẳng thấy nhà nào kêu muốn bán cho Nhà nước, nay “hết thời” thì lại đòi bán cho Nhà nước với giá 100 triệu đồng/con.
Chủ trang trại gấu Liên Tùy ở thôn Tây, xã Phụng Thượng bày tỏ: “Giờ nuôi gấu chán lắm rồi. Quỹ bảo tồn thiên nhiên nhiều lần vận động chúng tôi hiến gấu cho Nhà nước. Nói thật nếu hiến thì không bao giờ có. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đồng ý với điều kiện bán lại cho Nhà nước với giá 100 triệu một con”.
Dẫn chúng tôi đi tham quan trang trại gấu của mình, ông chủ này phân trần: “Mỗi ngày tiền ăn của 27 con gấu này hết 500 đến 700 nghìn. Khó khăn lắm, nhưng bảo hiến cho nhà nước thì không thể bởi chúng tôi đã đổ ra một số tiền quá lớn vào chúng rồi”.
Ông nhẩm tính: tiền mua gấu giống thời điểm năm 1999 xấp xỉ 100 triệu/con. Hơn 10 năm nuôi và nhân giống, giờ đây có 27 con gấu ngựa, mỗi con nặng trên 2 tạ. Khi gấu còn được hút mật, chế độ chăm sóc chúng được ông chủ thực hiện rất đặc biệt: cho uống sữa, mật ong, trứng vịt lộn, gà, vịt… Nhưng nay tất cả những thứ này bị cắt giảm hết, gấu được ăn uống cầm chừng vì nguồn thu không có.
“Ở xã này trước đây có nhà nuôi 60 con gấu ngựa, nhưng giờ nhiều nhà không có tiền nuôi nó, bệnh tật và chết cũng nhiều. Cả sản nghiệp gia đình đổ vào gấu, tôi còn nợ ngân hàng hơn 1 tỷ đồng nên lo lắm. Loại này hay bị bệnh về đường tiêu hóa và viêm phổi nên truồng trại phải luôn sạch sẽ. Nó mà ốm còn lo hơn người” – ông chủ cơ sở Liên Tùy lo lắng.
Nằm sâu trong thôn Đông, cơ sở nuôi gấu của vợ chồng chị Khuất Thị Tuân hiện còn 8 con gấu ngựa, mỗi con nặng trên dưới hơn 2 tạ. Tiền thức ăn cho 8 con gấu này cũng không hề nhỏ.
“Chúng ăn cháo ninh xương, cá, bí đỏ, mật ong. Mỗi tháng hết gần chục triệu chứ ít đâu. Chẳng biết tương lai thế nào, cứ cố mà nuôi thôi” – chị Tuân cho biết.
Khi được hỏi anh chị tính thế nào về số gấu này, có định hiến cho nhà nước hay không? Chị Tuân than thở: “Nhà nước mua lại thì chúng tôi bán, nhưng phải 150 triệu/con. Còn nếu vẫn để cho dân nuôi thì nhà nước nên xem xét hỗ trợ mỗi con 500 nghìn/tháng”.
Không chỉ ở Phụng Thượng, nhiều hộ nuôi gấu ngựa ở Quảng Ninh, Nghệ An, Hải Phòng cũng đòi bán gấu cho nhà nước. Hiện nay, chi phí để nuôi 3.000 chú gấu ngựa trong dân đang là quá lớn. Việc không có nguồn thu để nuôi những chú gấu này (hầu hết các hộ nuôi là nông dân) nên hành vi hút trộm mật gấu để bán vẫn lén lút diễn ra.
Buôn bán gấu để xẻ thịt, thậm chí còn đưa khách du lịch đi tham quan trại gấu, xem quá trình hút mật. Những hình ảnh gây tổn thương đến loài động vật hoang dã thuộc nhóm IB này đã gây phản cảm và phẫn nộ trong cộng đồng. Gấu nuôi đã được ngành kiểm lâm gắn chíp và quản lý theo từng hộ từ năm 2008.
Theo ông Hoàng Văn Lan, Phó Chủ tịch UBND xã Phụng Thượng thì ở xã này hiện còn 38 hộ nuôi gấu với 259 con. Ô nhiễm môi trường từ việc nuôi gấu trong dân cũng rất lớn. Nhiều hộ gia đình vay mượn, thậm chí vay ngân hàng để nuôi gấu giờ thua lỗ cũng không hề nhỏ. Để bảo tồn loài động vật hoang dã quý hiếm này trong dân là rất khó.
Ông Lan thừa nhận việc hút trộm mật gấu trong dân là có nhưng bắt quả tang là rất khó. Xã thường xuyên gửi tờ rơi đến từng nhà nuôi gấu, nghiêm cấm hút, bán mật gấu. Ông Lan đề xuất “Để tránh tình trạng hút trộm mật gấu, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ cho người dân để họ có điều kiện chăm sóc và bảo tồn tốt hơn”. (Công An Nhân Dân 7/6)đầu trang(
Hà Nội, Nghệ An, Bình Dương, Quảng Ninh… là những địa bàn có nhiều gấu nuôi nhốt nhất trên cả nước. Những cá thể gấu nuôi trong các trang PV chúng tôi nhận thấy, các cơ quan chức năng đang lúng túng trong giải quyết số gấu nuôi nhốt đang tồn tại hiện nay. Cần có hướng giải quyết cụ thể đối với số phận những con gấu sống lẫn trong khu dân cư hiện nay.
Cũng giống như mục đích nuôi gấu lấy mật bán ở xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ Hà Nội, nhưng tại Quảng Ninh, một số chủ trại gấu chọn cách bán mật bằng công nghệ du lịch. Họ kết hợp với hướng dẫn viên du lịch đưa khách nước ngoài vào trại gấu, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm từ gấu. Từ khoảng năm 2000, “du lịch trại gấu” đã là cụm từ hấp dẫn khách du lịch Hàn Quốc khi tới tham quan di tích Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Trong những chuyến du lịch tới Hạ Long, khách được đến thăm trại gấu, chứng kiến cảnh chích hút mật gấu, nếm rượu mật gấu và được mời mua các sản phẩm trái phép từ gấu.
Chứng kiến cảnh các cá thể gấu bị hành hạ, nhiều người không khỏi ái ngại, thậm chí là phẫn nộ trước hành vi của những người khai thác dịch vụ từ loài động vật hoang dã này. Dù các cơ quan chức năng, các tổ chức quốc tế đều nỗ lực tuyên truyền, xử lý, thế nhưng, đầu năm 2013, Công an tỉnh Quảng Ninh vẫn phát hiện tuor du lịch trại gấu ở Hạ Long.
Gần đây nhất, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm Môi trường, Công an tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Thanh tra Sở VH-TT&DL, Công an phường Đại Yên kiểm tra điểm nuôi nhốt gấu tại khu Minh Khai, phường Đại Yên, do ông Nguyễn Thanh Nhượng làm chủ.
Tại thời điểm kiểm tra đã phát hiện anh Vũ Công Hiển, hướng dẫn viên của Công ty Du lịch Âu Lạc, có trụ sở tại Nhân Chính, TP Hà Nội đang dẫn một đoàn khách Hàn Quốc gồm 15 người đi xe ôtô khách 45 chỗ đến tham quan trái phép tại trại nuôi gấu trên. Công an tỉnh Quảng Ninh đã bàn giao cho Thanh tra Sở VH-TT&DL xử lý và tới đây sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm.
Ông Trần Việt Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, các tổ chức phi chính phủ đang nỗ lực tuyên truyền dưới nhiều hình thức để làm thay đổi nhận thức của từng người dân, đặc biệt là người nuôi động vật hoang dã với mục đích kinh doanh. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các sản phẩm từ gấu nói riêng và động vật hoang dã nói chung có thể gây nhiều nguy cơ cho sức khỏe con người chứ không phải là “thần dược” như nhiều người đã lầm tưởng.
Các hoạt động tuyên truyền được đưa đến nhiều địa phương, đặc biệt là những điểm nóng về nuôi nhốt động vật hoang dã. Gần đây nhất, từ ngày 13 đến 19/5, ENV đã triển khai các hoạt động kêu gọi bảo vệ loài gấu tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hơn 200 em học sinh đã ký cam kết nói không với mật gấu và các sản phẩm làm từ gấu. Gần 100 em đã chia sẻ ý kiến của mình phản đối ngành công nghiệp mật gấu, trong đó 21 em cho biết đã tận mắt nhìn thấy cảnh chích hút mật gấu.
Tiếp theo, một triển lãm về bảo vệ gấu được tổ chức tại chợ Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu đã thu hút người dân tham gia tìm hiểu, ký cam kết không sử dụng mật gấu và đọc các tài liệu giáo dục. Bên cạnh đó, các cán bộ ENV cũng gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo của huyện Quỳnh Lưu và 7 xã trong huyện để thảo luận về các biện pháp tăng cường quản lý gấu nuôi nhốt, tiến tới xóa bỏ nạn gấu nuôi nhốt trong địa bàn huyện.
Hiện nay trên cả nước có gần 3.000 cá thể gấu nuôi nhốt trong các trại gấu. Địa phương có số gấu nhiều nhất là ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; huyện Phúc Thọ, Hà Nội; TP Hồ Chí Minh, Bình Dương; Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng… Phần lớn các cá thể gấu nuôi lẫn trong khu dân cư, không đảm bảo vệ sinh chuồng trại, ảnh hưởng lớn đến môi trường và sự an toàn cho cư dân địa phương. Đã từng xảy ra rất nhiều vụ việc đáng tiếc khi người nuôi không đảm bảo không gian an toàn khiến gấu gây sát thương cho người.
Theo Quy chế quản lý gấu nuôi (Ban hành kèm theo Quyết định số 95/2008QĐ-BNN), trại nuôi gấu theo phương thức nuôi nhốt phải có nhà đặt chuồng cũi, xung quanh trại có tường xây dày tối thiểu 20cm, cao 1,8m; đảm bảo vững chắc, an toàn, gấu không thể thoát ra ngoài. Thế nhưng, quá trình thâm nhập thực tế tại một số cơ sở nuôi nhốt gấu, chúng tôi nhận thấy hầu hết người dân chỉ đóng cũi sắt đặt trong không gian nhà mình như sân, vườn, thậm chí là ngay mặt quốc lộ.
Trước thực trạng nuôi nhốt và sử dụng sản phẩm của nhiều loại động vật hoang dã, đã có ý kiến cho rằng, việc gây nuôi động vật hoang dã trước nguy cơ tuyệt chủng là tốt và nên làm. Tuy nhiên, các nhà bảo tồn lại cho rằng, đối với loài động vật hoang dã thuộc nhóm IB, cần phải tịch thu các cá thể nuôi nhốt trái phép và xử phạt nghiêm khắc để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
Hiện nay, lực lượng kiểm lâm là cơ quan quản lý các cơ sở nuôi động vật hoang dã. Đối với các cá thể gấu, việc quản lý dựa trên chíp điện tử gắn trên gấu và quản lý bằng hồ sơ. Quy trình xử lý gấu chết, gấu nhiễm bệnh đã được quy định chặt chẽ từ việc chủ nuôi báo cáo đến Hạt Kiểm lâm hoặc Chi cục Kiểm lâm, lập biên bản, tổ chức tiêu hủy, quá trình tiêu hủy phải đảm bảo các yêu cầu về khử trùng, vệ sinh môi trường và không để lây lan dịch bệnh… Dù vậy, tình trạng lén lút chích hút mật gấu vẫn diễn ra, thậm chí người dân vẫn truyền miệng về giá bán thịt gấu, chân, tay gấu.
Công tác truyền thông vận động người dân không sử dụng mật gấu đã thu được kết quả khá tốt, nên phong trào sử dụng mật gấu làm thuốc chữa bệnh đã giảm đáng kể. Người nuôi gấu lao đao khi đầu tư quá nhiều kinh phí để nuôi và duy trì sự sống cho gấu. Bởi vậy, các cơ quan chức năng cần phải hoàn thiện quy chế xử lý số gấu nuôi đang tồn tại thực tế này. Nếu thả ra môi trường tự nhiên, số gấu này sẽ chết. Còn để trong dân cư, nó gây nhiều nguy cơ về sự an toàn, môi trường, bệnh tật và không có giá trị bảo tồn. Vậy nên chăng, chúng ta hãy xem xét đề nghị hỗ trợ phần nào kinh phí để các hộ nuôi gấu giao nộp lại cho Nhà nước.
Bộ NN&PTNT đang soạn thảo một Thông tư mới thay thế Quyết định số 95/2008QĐ-BNN quản lý gấu nuôi. Hy vọng các chuyên gia sẽ đưa ra những quy định hợp lý để vừa đảm bảo công tác bảo tồn, vừa thực hiện cam kết xóa sổ tình trạng nuôi nhốt gấu. Ông Lê Minh Tuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội nói: “Những hộ không có đủ điều kiện nuôi gấu thì giao nộp lại cho Nhà nước, chúng tôi sẽ tiếp nhận”. Đó là cách làm trước mắt để giải quyết tình trạng gấu nuôi nhốt đang bức xúc hiện nay. (Công An Nhân Dân 8/6)đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn huyện Yên Khánh diễn ra tình trạng người dân săn bắt các loại chim hoang dã, coi đây là kế mưu sinh.
Họ dùng nhiều hình thức như giăng lưới, đánh bẫy, thuốc dính, dụng cụ phát sóng siêu âm... để bắt các loại chim, bán cho người nuôi chim cảnh và các nhà hàng đặc sản. Từ chim sẻ, chim ri đến những loại chim quý như chim ngói, chim cu… đều bị người dân săn bắt. Tình trạng này xảy ra phổ biến ở xóm 6, xã Khánh Mậu và một số xã lân cận.
Các dụng cụ được người dân sử dụng chủ yếu là lồng sập, lưới, bẫy dính, loa phát âm thanh… Một số người trong xóm cho biết, trước đây khi chim còn nhiều thì chỉ việc giăng lưới cá nhỏ lên cánh đồng là có thể bắt được. Tuy nhiên, vài năm nay số lượng chim ít hơn nên nhiều người nghĩ ra cách thu âm tiếng các loài chim, cò, vạc, cuốc… để dụ chim đến. (Báo Ninh Bình 8/6)đầu trang(
Vào năm 2006, Công ty CP Nông lâm nghiệp Khải Vi (trụ sở tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long, Đắk Nông) được UBND tỉnh Đắk Nông cho thuê hơn 2.700ha đất lâm nghiệp (trong đó có hơn 2.400ha đất rừng tự nhiên) tại các tiểu khu 1694, 1695 và 1696 của xã Quảng Sơn để đầu tư trồng rừng, trồng cây công nghiệp.
Trong tổng số diện tích được thuê, công ty phải đầu tư quản lý bảo vệ rừng hơn 1.887ha, đầu tư cải tạo làm giàu rừng hơn 262ha và đầu tư cải tạo trồng rừng, trồng cây công nghiệp hơn 550ha.
Nhưng sau đó, công ty đã tự ý khai hoang 94ha rừng tự nhiên (trong khu vực hơn 262ha rừng tự nhiên quy hoạch cải tạo làm giàu rừng) để trồng 18,3ha cao su vào năm 2008 và trồng 76,1ha keo lai vào năm 2012. Khi cao su và keo lai đã xanh tốt, đến ngày 15-3-2013, ông Nguyễn Hoàng Thụy (Giám đốc công ty) mới làm tờ trình gửi Sở NN-PTNT Đắk Nông xin hướng dẫn làm thủ tục khai hoang hơn 262ha rừng tự nhiên nói trên để trồng rừng. Khi đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh Đắk Nông đến khu vực xin khai hoang để làm hồ sơ cải tạo rừng, mới phát hiện công ty đã tự ý khai hoang hơn 94ha rừng tự nhiên trồng keo lai và trồng cao su từ lâu rồi.
Trước hành vi tự ý khai hoang hơn 94ha đất rừng trái phép của Công ty Khải Vi, UBND tỉnh Đắk Nông đã vào cuộc xử lý. Tháng 5 vừa qua, UBND tỉnh Đắk Nông đã có công văn giao Sở NN-PTNT Đắk Nông đề xuất tỉnh có biện xử lý trách nhiệm theo pháp luật việc công ty này tự ý khai hoang đất rừng trái phép; xử lý trách nhiệm các cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát đối với dự án này. (Sài Gòn Giải Phóng 8/5) đầu trang(
Sau 5 năm thực hiện việc chuyển đổi rừng trồng cao su ở Tây Nguyên, các doanh nghiệp (DN) chưa mang lại hiệu quả kinh tế bao nhiêu nhưng đã để lại nhiều hệ lụy cho địa phương trong vùng dự án. Vì thế, đã đến lúc các tỉnh Tây Nguyên cần phải rà soát quy hoạch trồng cao su và đánh giá lại hiệu quả của chủ trương này để tìm ra con đường phát triển bền vững.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT cho biết: Về quy hoạch trồng cao su, nhiều tỉnh trong khu vực chưa chú ý khai thác các loại quỹ đất không có rừng, đất nông nghiệp và loại đất khác kém hiệu quả để trồng cao su, mà chủ yếu chuyển từ đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 79%).
Trong khi đó, một số DN được giao đất lâm nghiệp trồng cao su không thực hiện đầy đủ công tác đền bù đã gây ra tình trạng tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Một số dự án mới chỉ ở giai đoạn khảo sát nhưng các DN đã vội vàng cho người khai hoang, chặt phá rừng. Có nhiều DN chỉ lập dự án với mục đích chiếm đất chứ không có năng lực tài chính, không thực hiện dự án đúng tiến độ, lập dự án không đúng quy hoạch…
Để xảy ra những hệ lụy nói trên là một số tỉnh cho phép DN tư nhân thực hiện việc khảo sát, xây dựng nhiều dự án trồng cao su trên cùng một địa bàn, cùng một thời điểm (như huyện Chư Sê, Chư Pưh - Gia Lai có từ 4 - 7 dự án ở một xã).
Trong khi đó, các tỉnh chưa có giải pháp, chính sách hỗ trợ phù hợp để khuyến khích các DN sử dụng đất hoa màu, đất cây công nghiệp kém hiệu quả, đất trống để trồng cao su. Một số địa phương không sàng lọc kỹ các chủ đầu tư vì thế có những DN không đủ năng lực tài chính và kỹ thuật vẫn được khảo sát, xây dựng dự án để trồng cao su.
Ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) cho hay: Việc mất rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của Tây Nguyên. Khi rừng bị mất, kéo theo việc mất nguồn nước, suy thoái đất đai, giảm sự đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Việc chuyển đổi rừng phòng hộ như sang trồng cao su chỉ đem lại lợi ích phát triển kinh tế trước mắt, chúng ta chưa tính đến hậu quả lâu dài tới môi trường. Rừng cao su chỉ phù hợp với vùng khác chứ không phù hợp với Tây Nguyên vì rừng cao su không có khả năng giữ nước. Vì thế, cần đánh giá lại hiệu quả việc chuyển đổi rừng trồng cao su ở Tây Nguyên.
Trong cuộc họp về công tác bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên vào ngày 14-3-2013 tại TP Buôn Ma Thuột, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu các địa phương và bộ ngành liên quan xem lại quy hoạch phát triển cao su của Tây Nguyên.
Trước đó, tháng 9-2011, Chính phủ cũng đã có chỉ thị tạm dừng chủ trương này, tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều địa phương vẫn âm thầm cho các DN chuyển đổi rừng trồng cao su. Vì vậy, dù muốn tiếp tục hay dừng lại việc chuyển đổi rừng trồng cao su, Tây Nguyên cũng cần phải đánh giá lại tính hiệu quả và những “được, mất” của chủ trương này để tìm ra hướng phát triển bền vững cho khu vực.
Theo ông Nguyễn Hồng Nam, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT tỉnh Gia Lai: Việc chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở một mức độ nhất định là cần thiết. Tuy nhiên, việc cấp đất rừng cho DN tư nhân cần rất thận trọng, vì họ chỉ ưu tiên lợi nhuận mà chưa chú ý đúng mức đến việc đảm bảo đời sống cho bà con và an sinh xã hội.
Thay thế những cánh rừng nghèo vì mục đích kinh tế, song đời sống của người dân địa phương, những người từng sống phụ thuộc vào rừng không được cải thiện, thì không nên đánh đổi làm gì. Vì thế, để đạt được mục tiêu đề ra, việc triển khai chuyển đổi đất rừng trồng cao su cần được giám sát chặt chẽ hơn nữa.
Ông Lê Khả Liễm, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cao su Kon Tum cho rưangf: Các tỉnh Tây Nguyên đã giao quá nhiều dự án trồng cao su cho các DN tư nhân không có kinh nghiệm trồng cao su và để xảy ra nhiều hệ quả đáng tiếc. Bởi thế, cần phải rà soát các dự án trồng cao su và giao lại cho những đơn vị có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. (Sài Gòn Giải Phóng 8/6)đầu trang(
Ngày 9/6, lực lượng Công an và Kiểm lâm huyện Buôn Đôn đã tiến hành kiểm tra hiện trường để làm rõ nguồn gốc bãi tập kết gỗ lậu trong khu rừng sinh thái Bản Đôn, do Công ty Cổ phần Thương mại-Du lịch Bản Đôn quản lý và bảo vệ, đóng trên địa bàn buôn Ea Ma, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk).
Tại hiện trường, qua kiểm đếm có tổng cộng 60 lóng gỗ tròn, chủ yếu là các loạ i gỗ như chiu liêu, cẩm sừng, căm xe, cà chít... Đường kính bình quân của các lóng gỗ từ 30-35cm, dài 4m; với tổng khối lượng 10m3.
Cũng tại hiện trường, cách vị trí tập kết gỗ lậu không xa phát hiện nhiều gốc, cành ngọn những cây gỗ mới đốn hạ, một số cây mới bị cưa đổ, chưa kịp cắt khúc vận chuyển ra khỏi hiện trường.
Theo nhận định của các thành viên đoàn kiểm tra, để khai thác, vận chuyển (công khai) một khối lượng gỗ lớn như vậy ra khỏi địa bàn, bọn lâm tặc phải sử dụng cưa máy và các phương tiên cơ giới cùng lực lượng “hùng hậu” mới có thể thực hiện được.
Hiện các cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản, tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (VietnamPlus.vn 10/6)đầu trang(
Báo Nhân Dân đăng bài "Mượn thăm dò khoáng sản để phá rừng" phản ánh rừng A Đăng, thuộc xã Tà Rụt, huyện Đakrông (Quảng Trị) có độ che phủ lớn, với nhiều loại gỗ quý, bị tàn phá một cách không thương tiếc kể từ khi Công ty cổ phần khoáng sản Đông Trường Sơn được cấp phép thăm dò khoáng sản ở đây.
Sau khi Nhân Dân đăng bài, UBND tỉnh Quảng Trị đã có văn bản số 1678/UBND-NN "Về việc kiểm tra mở đường thăm dò khoáng sản khai thác rừng trái phép" có nội dung như sau:
Công ty cổ phần khoáng sản Đông Trường Sơn dừng ngay các hoạt động khai thác rừng, mở đường khi chưa hoàn thành các thủ tục liên quan, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ rừng (trong phạm vi quản lý). Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm phải kịp thời báo cáo với chính quyền địa phương và cấp có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý các vấn đề phát sinh.
Công ty cổ phần khoáng sản Đông Trường Sơn khẩn trương hoàn thành các thủ tục về chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác rừng, thuê đất theo đúng quy định trước khi tiếp tục các hoạt động thăm dò.
Giao các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương và các đơn vị có liên quan theo chức năng chỉ đạo, kiểm tra, hỗ trợ huyện Đakrông trong công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ rừng, chỉ đạo, hướng dẫn Công ty cổ phần khoáng sản Đông Trường Sơn thực hiện các thủ tục liên quan đến hoạt động thăm dò khoáng sản như thủ tục về chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác tận dụng rừng tự nhiên để chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
UBND huyện Đakrông tiếp tục chỉ đạo các ban, ngành có liên quan của huyện và xã Tà Rụt tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ rừng trên địa bàn, thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động thăm dò của Công ty cổ phần khoáng sản Đông Trường Sơn để hướng dẫn, xử lý theo quy định. (Nhân Dân 10/6)đầu trang(
Khoảng một tháng nay, đàn voi rừng thường xuyên xuất hiện tại xã Thanh Sơn, huyện Định Quán (Đồng Nai) phá hoại nhà cửa, hoa màu của nhân dân.
Đã có 3 ngôi nhà, 1 xe gắn máy, một số vật dụng và nhiều diện tích xoài, chuối của nhân dân bị đàn voi làm hư hỏng.
Theo người dân địa phương, đàn voi rừng gồm 6 con trưởng thành và một voi con, thường xuất hiện vào khoảng 20 giờ đến 4 giờ sáng hôm sau. Chúng gầm rú, phá phách khiến nhân dân hoang mang, lo sợ. Chính quyền xã đã tổ chức lực lượng xua đuổi nhưng không hiệu quả; đàn voi vẫn xuất hiện làm đảo lộn cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của nhân dân. (Quân Đội Nhân Dân 10/6)đầu trang(
Chừng 20 lâm tặc cùng nhiều ống tuýp, mã tấu đến để uy hiếp, bố ráp đoàn, một tên xông vào cướp máy ảnh của PV.
6/6, nhóm phóng viên có mặt tại hồ thủy điện Sê San 3A thuộc huyện Sa Thầy (Kon Tum) và bến làng Tung, xã Ia Khai, huyện Ia Grai, chứng kiến gỗ nằm la liệt cả trên bờ sông Pô Cô lẫn dưới nước, theo quan sát có hàng chục phách gỗ được xẻ vuông vức dài từ 2,5 mét đến 4 mét, đường kính mặt nhỏ thì khoảng chừng gần hai gang tay người lớn, to thì đến cả ba, bốn gang tay.
Theo phản ánh của người dân địa phương, điểm tập kết này đã hoạt động chừng một năm nay. Trước đây, bãi này thuộc một người tên Đ. Sau đó, ông Đ. bỏ thì có hai người nhảy vào “xí phần” và hoạt động cho đến nay.
Theo điều tra, Bến làng Tung hoạt động mạnh trong vòng 4 tháng qua, ngày trời khô ráo thì khoảng 6 xe, mỗi xe chở từ 20 đến 30 hộp gỗ xẻ tùy loại lớn hay nhỏ, ngày trời mưa thì chở chừng 3-4 xe.
Tại điểm tập kết gỗ, để xe chở gỗ được dễ dàng, nhóm lâm tặc này thuê dài hạn 2 chiếc xe gạt và xe lu để mở đường đến tận bến sông. Tại bến, chúng có một đội quân cửu vạn trên mình đầy hình xăm đã đóng trại để bốc vác gỗ khi xe vào ăn hàng. Không chỉ thế, để đưa được gỗ lên xe thì chúng còn dùng chiếc xe reo độ cẩu gỗ lên xe vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ.
Một người dân địa phương cho biết các đầu nậu đã “bao” hết rồi nên mới chở gỗ đi được dễ dàng. Còn tôi đi lấy gỗ làm nhà, chở 30 cây nhỏ thôi thì đã bị tịch thu 20 cây.
Làm việc với cơ quan chức năng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai Nguyễn Văn Cang quả quyết tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tương đối ổn, không có các vụ lớn xảy ra, từ đầu năm đến giờ chỉ bắt được vài vụ lẻ tẻ không đáng kể.
Ông Cang dẫn chứng, từ ngày 20/4-20/5, liên ngành phát hiện 4 vụ, tạm giữ hơn 6m3 gỗ nhóm III-V. Xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 4 vụ, tịch thu 10,5 m3 gỗ, 2 xe Toyota…
Ông Nguyễn Trường Hải-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Ia Grai cũng khằng định, tình hình quản lý bảo vệ rừng tương đối tốt, chỉ có vài vụ phá rừng làm nương rẫy nhưng đã được phát hiện và xử lý. Khi bị chất vấn về tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn xã Ia Khai thuộc địa phận quản lý của đơn vị thì ông này khẳng định "không hề có chuyện đó".
Sau khi đề nghị với chủ tịch UBND H.Ia Grai và yêu cầu tăng cường lực lượng hỗ trợ đến hiện trường, nhưng khi đoàn công tác đến nơi bãi tập kết gỗ cũng bốc hơi, không còn dấu vết.
Một phóng viên đã trực tiếp cởi áo quần lặn xuống sông để kiểm tra và phát hiện hàng chục lóng gỗ đã được giấu sâu dưới mặt nước. Đúng lúc đó, gần 20 lâm tặc kéo đến đòi xử phóng viên: “Nhà báo mà ngon à? Tao chặt đầu thằng chụp hình, giết thằng lặn tìm gỗ".
Người này ôm một đống ống tuýp sắt cùng mã tấu trên xe quẳng loảng xoảng xuống đất. Một người khác nhào đến giựt máy chụp hình của chúng tôi. Khi chúng tôi cố leo lên xe, một người trong nhóm này còn cố leo lên theo để giành máy ảnh trước sự chứng kiến của 4 kiểm lâm viên gần đó.
Sáng 7.6 đoàn liên ngành tiếp tục làm việc để trục vớt số gỗ tang vật nói trên lên bờ. Khi chúng tôi đến nơi, gỗ đã được lực lượng kiểm lâm vớt lên, chỉ còn được 8 khúc gỗ lớn, quá ít so với số lượng gỗ mà chúng tôi ghi nhận được tối 6.6.
Chúng tôi, một lần nữa, “lột đồ” lao xuống nước và phát hiện hàng loạt phách gỗ vẫn còn nằm y nguyên dưới lòng hồ. Lúc này, ông Cang cho rằng kiểm lâm không biết bơi, lặn. (Thanh Niên 8/6; Đất Việt 9/6)đầu trang(
Ngày 8-6, Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai) cho biết, vừa phát hiện một bãi tập kết gỗ “lậu” tại bến đò làng Tung, xã Ia Khai (huyện biên giới Ia Grai). Theo đó, “lâm tặc” di chuyển gỗ quý từ miệt rừng Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) về tỉnh Gia Lai qua đường sông Sê San. Tại đây, gỗ nằm la liệt cả trên bờ sông Pô Cô lẫn dưới nước, hàng chục phách gỗ được xẻ vuông vức dài 2,5m - 4m, đường kính 40cm - 70cm.
Trong ngày 8-6, lực lượng chức năng huyện Ia Grai đã trục vớt được gần 40 phách gỗ lớn tại bến sông làng Tung. Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai đang đo đạc, xác định chủng loại, số lượng gỗ bị phát hiện và làm rõ nguồn gốc, chủ sở hữu của số gỗ nói trên. (Sài Gòn Giải Phóng 9/6)đầu trang(
Đề phòng sự cố về điện trong mùa mưa bão, điện lực tỉa nhánh cây để tránh tai nạn, thế nhưng thay vì tỉa cành, nhân viên điện lực hạ luôn hàng chục cây gỗ quý là giáng hương thuộc loại gỗ nhóm I.
Ngày 9.6, sau khi khiếu nại việc nhân viên điện lực chặt hạ cây, việc thỏa thuận bồi thường cho bà Lê Thị Phượng (SN 1970, ngụ KP Tân Liên, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước) của Điện lực Đồng Phú vẫn nhùng nhằng.
Vụ việc xảy ra vào ngày 16.3, tại khu vực này có xảy ra sự cố đứt dây điện hạ thế 110kV gây mất điện cho khu vực cả ngày. Vì vậy, Điện lực Đồng Phú đi khảo sát, lên kế hoạch tỉa ngọn, tỉa nhánh cây. Tuy nhiên khi đến khu phố Tân Liên, thay vì thông báo cho chủ nhà có vườn cây cần tỉa nhánh thì nhân viên ngành điện lại đi thông báo cho… người khác.
Đến cuối tháng 5.2013, Điện lực Đồng Phú cử người tới cắt cây cũng không thông báo, điều bất thường là khi chủ nhà đi vắng đã ghi số điện thoại di động viết bằng sơn rất to trên cổng nhà. Nhân viên điện lực đã chặt cây, càng kỳ lạ hơn là số gỗ quý cũng được chuyển đi đâu mất.
Nhận tin báo của hàng xóm, bà Phượng từ trong rẫy ở huyện Bù Đăng, cách nhà khoảng 100km chạy về nhà thì nhiều cây gỗ quý trong vườn nhà đã bị chặt mang đi đâu mất. Sau khi thống kê, bà Phượng cho biết có tổng cộng 19 cây trồng gần 20 năm, đường kính mỗi cây từ 20cm – 30cm, cao từ 15m - 20m bị thiệt hại. Trong đó có 10 cây giáng hương thuộc gỗ quý hiếm.
Theo ông Lê Tấn Sỹ, Phó Giám đốc điện lực Đồng Phú, trước đây đường dây này do một người dân là ông Quảng đầu tư, sau giao lại cho điện lực cải tạo, nâng cấp. Vì vậy khi liên lạc, nhân viên chỉ liên lạc với ông Quảng vì nghĩ ông này còn làm trưởng khu phố. Khi hạ cây, nhân viên điện lực nghĩ đã thông báo cho ông Quảng là đúng thủ tục thì chặt hạ. Phía ngành điện có cái sai là chặt cây cao quá, cưa gần hết phần thân cây, tất nhiên những nhân viên liên quan phải bỏ tiền ra bồi thường.
Trong khi đó, ông Bùi Văn Hiệp- hiện là Trưởng khu phố Tân Liên- cho biết, việc điện lực cắt cây, khu phố hoàn toàn không biết. Được biết, giáng hương là một trong những loại cây gỗ quý hiếm, thuộc nhóm I, có giá khoảng 50 triệu đồng/m3. (Lao Động 9/6)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Khi lâm tặc đốn cây, điện thoại thông minh trong rừng sẽ phát hiện âm thanh từ cưa hoặc dao và lực lượng bảo vệ rừng sẽ phát hiện vị trí của chúng ngay lập tức.
Rainfores Connection - một tổ chức phi chính phủ - muốn hỗ trợ những người bảo vệ rừng tại Indonesia trong cuộc chiến chống lâm tặc. Rừng tại Indonesia rất rộng nên lâm tặc có thể xâm nhập rồi chặt hàng nghìn cây trước khi các vệ tinh nhân tạo hoặc máy bay của nhà chức trách phát hiện hành vi của chúng, NBC đưa tin.
"Lực lượng bảo vệ rừng Indonesia cần một hệ thống thiết bị có khả năng phát hiện âm thanh của máy cưa - công cụ mà bọn lâm tặc dùng để đốn cây", Topher White, người sáng lập Rainfores Connection, phát biểu.
Ý tưởng của Rainfores Connection là cài điện thoại thông minh ở khắp nơi trong rừng. Những điện thoại này lấy điện từ những tấm pin mặt trời để hoạt động liên tục. Nhân viên bảo vệ rừng sẽ bật sẵn microphone của điện thoại. Nếu bọn trộm gỗ cưa cây tại một vị trí trong rừng, âm thanh của máy cưa hoặc dao sẽ vang tới các điện thoại gần đó. Nhà chức trách sẽ dựa vào vị trí của điện thoại để xác định vị trí của lâm tặc, nhờ đó lực lượng kiểm lâm sẽ tiết kiệm được thời gian khi tới hiện trường.
White sẽ sử dụng những điện thoại Android trong đợt đầu tiên tại khu bảo tồn Air Tarusan trên đảo Sumatra. Ông cũng kêu gọi công chúng quyên góp điện thoại cho Rainfores Connection. Những người quyên góp sẽ sử dụng một phần mềm để biết chiếc điện thoại của họ đang nằm trong khu rừng nào tại Indonesia.
"Chúng tôi muốn mọi người cảm nhận rằng họ đang tham gia vào những chiến dịch trên mặt trận bảo vệ môi trường", ông nói với Newscientist. (Vnexpress 7/6) đầu trang(
Cơ quan bảo vệ động vật hoang dã Thái Lan lên kế hoạch cấp thẻ nhận dạng như chứng minh nhân dân cho những con khỉ hoang tại nước này, nhằm hạn chế những vụ khỉ tấn công khách du lịch.
Trong một thông cáo, Cơ quan Quản lý công viên quốc gia và động vật hoang dã Thái Lan cho biết, việc quản lý yếu kém các con khỉ sống tại các sở thú, đền chùa và rừng khiến nhiều người dân và du khách gặp rắc rối, theo tờ Thời báo Hoàn Cầu ngày 7.6.
Cơ quan này cho biết, thẻ nhận dạng giúp phân loại các loại khỉ để du khách tránh những con khỉ nguy hiểm tấn công.
Bà Dee Darwell, một du khách Anh, hồi năm 2010 đã bị thương sau khi bị một bầy khỉ tấn công dữ dội tại một khu du lịch.
Hồi tháng 3.2013, chính quyền tỉnh Krab, Thái Lan đã phải đặt những biển cảnh báo tại các địa điểm du lịch, bãi biển, và đảo khỉ, cảnh báo du khách tránh xa những con khỉ.
Trước đó, vào năm 2009, tỉnh Nakhon Pathom ở Thái Lan phải đối diện với làn sóng "tội phạm" khỉ hoang do không có thức ăn đã tấn công người dân địa phương, xông vào nhà dân cướp bóc thức ăn, theo RIA Novosti. (Thanh Niên 8/6)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||