|
Ngày 10 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang, cho biết: Tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng nằm trong khu vực lưu vực hai nhà máy thủy điện Tuyên Quang và Chiêm Hóa, với diện tích rừng là 130.000 ha. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, nhất là việc xác định chính xác ranh giới, chủ rừng, trữ lượng, chất lượng rừng, lưu vực thủy điện, rừng ngoài thực địa của cá nhân, tổ chức.
Ngoài ra, chi trả dịch vụ môi trường là chính sách mới, vì vậy việc thực hiện còn lúng túng. Bên cạnh đó, kinh phí xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án, dự án liên quan như: Dự án điều tra, phân loại, thống kê các đối tượng thuộc bên cung ứng dịch vụ và các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng; xác định phạm vi, ranh giới, diện tích các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng; đề án giao đất, giao rừng; đề án khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh… còn nhiều khó khăn, nên tiến độ thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu.
Thời gian tới, tỉnh Tuyên Quang sẽ tập trung rà soát, xác định diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức không phải là chủ rừng; chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định. (Tin Tức 9/9) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010 của Chính phủ triển khai kịp thời tại Quảng Nam đã giúp cộng đồng dân cư xem rừng được giao khoán như tài sản quý cần gìn giữ, bảo vệ. Thế nhưng, nhiều đơn vị có trách nhiệm “trả nợ” rừng vẫn cố tình chậm chi trả.
Năm 2012, để việc chi trả DVMTR đúng tiến độ, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã giúp cho các thôn A Đền, A Dớ, A Zal, Trờ Gung, Tà Rèng (xã Ma Cooih, huyện Đông Giang) có nhiều kiến thức, xác định ranh giới rừng. Ngoài ra, đơn vị này cũng hỗ trợ thành lập quỹ cấp thôn để phát triển sinh kế lâu dài cho đồng bào; tổ chức giao khoán rừng trên thực địa cho nhóm hộ.
Dự án đã chuyển giao bộ ảnh viễn thám để điều tra tài nguyên rừng, xây dựng bản đồ vùng thí điểm phục vụ cho việc lập kế hoạch phát triển rừng cấp tỉnh. Theo đó, có 27 nhóm hộ gồm 303 hộ đã nhận giao khoán gần 7.000ha rừng.
Trước đó, tổ chức Winrock đã giúp chính quyền Đông Giang xác định vùng ưu tiên thực hiện thí điểm chi trả DVMTR; rà soát diện tích rừng và đất lâm nghiệp; các phương án cho thuê, giao khoán rừng và giao đất lâm nghiệp; xây dựng cơ chế chi trả và quy chế quản lý lao động. Chuyển biến rõ nét là hàng trăm hộ sau khi nhận rừng giao khoán đã thành lập tổ, nhóm canh gác, tuần tra nên đã phát hiện, ngăn chặn nhiều đối tượng xâm hại rừng.
Theo lãnh đạo Quỹ Phát triển – bảo vệ rừng, hiện 7 đề án chi trả DVMTR tại các lưu vực hồ thủy điện gồm thủy điện A Vương - Za Hung, Sông Tranh - Tà Vi - Trà Linh 3, Đắk Mi 4, Khe Diên, Sông Côn 2, An Điềm - An Điềm 2 và Phú Ninh đã được UBND tỉnh phê duyệt với tổng diện tích tự nhiên hơn 319.574ha, diện tích có rừng 181.172ha. Trong đó, diện tích thuộc các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng là 160.000ha, còn lại do UBND các xã quản lý.
Ông Huỳnh Đức – Giám đốc Quỹ Phát triển - bảo vệ rừng nhận xét, nguồn hỗ trợ của các dự án Winrock, ADB đã tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị có điều kiện tổ chức thí điểm và rút kinh nghiệm để thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, đặt biệt là khâu giao khoán rừng theo phương pháp tiếp cận cộng đồng nhóm hộ.
Khó khăn nhất khi chi trả DVMTR ở Quảng Nam là hầu hết diện tích rừng có cung ứng DVMTR là rừng tự nhiên lâu nay chưa lập hồ sơ giao khoán cho các hộ dân bảo vệ; kinh phí giao khoán rừng cũng khá lớn nhưng chưa có nguồn để bố trí vốn. Trong khi đó, đơn giá giao khoán bảo vệ rừng các lưu vực chênh lệch nhau khá lớn nên thu nhập của các hộ dân sẽ không được công bằng, khiến tâm lý người nhận giao khoán so bì quyền lợi.
Thêm vào đó, một số nhà máy thủy điện và các công ty cấp thoát nước dù đã đàm phán nhưng kéo dài việc ký kết hợp đồng ủy thác và chậm chi trả DVMTR. Qua tìm hiểu, chúng tôi biết, chi phí DVMTR chưa được hạch toán vào giá thành sản xuất của các đơn vị có nghĩa vụ “trả nợ” rừng, nhất là các nhà máy thủy điện không thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý.
Còn nhớ cách đây gần 2 tháng, UBND tỉnh đã công bố danh sách 6 doanh nghiệp sản xuất thủy điện chưa chịu “trả nợ” rừng. Trong đó, yêu cầu các công ty Cơ khí áp lực Mạnh Nam (chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Tà Vi, huyện Bắc Trà My) và Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ Duy Sơn 2 (chủ Nhà máy thủy điện Duy Sơn 2, Duy Xuyên) phải ký kết hợp đồng, nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR trước ngày 10.8.
Bốn doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng ủy thác nhưng chưa nộp tiền DVMTR gồm Công ty CP Sông Ba (Nhà máy thủy điện Khe Diên, Nông Sơn), Công ty CP Xây dựng 699 (Nhà máy thủy điện Trà Linh 3, Nam Trà My), Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn (Nhà máy Thủy điện Sông Kôn 2) và Công ty CP Thủy điện Sông Vàng (Nhà máy thủy điện An Điềm 2, cùng huyện Đông Giang).
Thế nhưng, theo báo cáo của Quỹ Phát triển – bảo vệ rừng, đến tháng 9 này, Công ty CP Thủy điện Sông Vàng vẫn chưa nộp tiền 3 năm liền (2011-2013). Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn chưa nộp tiền năm 2013, chỉ chi trả 50% tiền của năm 2012. Công ty CP Xây dựng 699 đã có văn bản cam kết sẽ nộp đủ tiền của năm 2011, 2012 chậm nhất vào ngày 30.12.2013. Công ty CP Sông Ba chưa thực hiện chi trả trong năm 2013.
Một bất cập khác, trước đây Bộ Công Thương đã có văn bản về tiền DVMTR đối với các nhà máy thủy điện có công suất từ 30MW trở xuống có một số nội dung chưa phù hợp với Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR nên các nhà máy thủy điện Za Hung, An Điềm II vin vào văn bản này đã không nộp tiền ủy thác năm 2011 và 2012. Cạnh đó, việc thu tiền gặp khó khăn do các nhà máy thủy điện dây dưa.
Tính đến hết quý 2/2013, Quỹ Phát triển – bảo vệ rừng thu được gần 23 tỷ đồng (gồm thu nợ năm 2012, thu trồng rừng thay thế, thu nạp chậm, thu lãi suất ngân hàng), chỉ đạt 22,5% kế hoạch năm. (Báo Quảng Nam 10/9) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Huyện Nà Hang hiện có trên 16.500 ha rừng phòng hộ; 21.000 ha rừng đặc dụng; 16.000 ha diện tích rừng trồng và nhiều diện tích đất lâm nghiệp khác. Những năm gần đây việc khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn đã giảm đáng kể, người dân đã có ý thức tốt hơn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Ông Hà Quang Huy, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nà Hang cho biết: Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung và công tác quản lý, khai thác, vận chuyển lâm sản rói riêng, ngay từ đầu năm, lực lượng kiểm lâm đã xây dựng kế hoạch, thường xuyên phối hợp 3 lực lượng: Công an, quân đội, kiểm lâm và các ban, ngành, đoàn thể, UBND các xã, thị trấn triển khai quyết liệt công tác tuần tra, kiểm tra, truy quét, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng chức năng của huyện đã phát hiện 13 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 20 vụ cất giữ lâm sản trái phép, 5 vụ khai thác rừng trái phép và một số vụ vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng khác, thu giữ nhiều tang vật và phương tiện khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản, chuyển các cơ quan chức năng khởi tố 1 vụ với 2 đối tượng.
Nhằm kiểm soát tốt công tác khai thác và vận chuyển gỗ và các loại lâm sản, Hạt Kiểm lâm Nà Hang đã thành lập 2 trạm kiểm soát lâm sản đặt tại các xã Yên Hoa và Năng Khả. Riêng ở “điểm nóng” xã Năng Khả, hạt đã thành lập thêm 2 chốt đóng tại vị trí ra vào các cửa rừng, mỗi chốt có 2 cán bộ kiểm lâm, 2 cán bộ tuần rừng phối hợp với 1 cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ làm công tác tuần tra, ngăn chặn các hoạt động khai thác lâm sản.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Nà Hang cũng có 6 trạm kiểm soát tại các xã có rừng đặc dụng và 11 chốt đóng ở những khu vực trọng điểm, những điểm ra vào các cánh rừng; nhờ đó, đã góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm lâm luật.
Lực lượng kiểm lâm huyện cũng thường xuyên tổ chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn. Vận động các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp kinh doanh chế biến lâm sản ký cam kết không vi phạm pháp luật về quản lý lâm sản. Hạt Kiểm lâm huyện tham mưu với UBND huyện và UBND các xã, thị trấn cấp phép khai thác lâm sản cho các gia đình. 8 tháng 2013, UBND huyện và các xã trên địa bàn đã cấp phép khai thác cho 242 hộ gia đình với tổng số trên 1.600 m3 khối gỗ các loại như: Xoan ta, mỡ, gạo, lát hoa, keo, bồ đề...
Cùng với đó, lực lượng kiểm lâm và các cấp, ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Không ngừng nâng cao nhận thức của người dân trong việc giữ rừng, chung tay, chung sức tham gia quản lý bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Tuyên Quang 9/9) đầu trang(
Ngày 9/9, tại bãi biển xã Hải Khê (Hải Lăng, Quảng Trị), Sở NN&PTNT Quảng Trị phối hợp với chính quyền địa phương đã tổ chức thả 1 cá thể rùa biển (vích) có trọng lượng gần 10 kg về với đại dương.
Trước đó, ngư dân Trần Minh Hùng, ngụ thôn Trung An, xã Hải Khê (huyện Hải Lăng) đã bắt được rùa biển này khi đang đánh bắt trên ngư trường có độ sâu khoảng 15m. Nhận được tin báo của anh Hùng, Sở NN & PTNT đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành lập biên bản tiếp nhận và xác định đây là cá thể vích đặc biệt quý hiếm, cần thả về lại môi trường thiên nhiên.
Con vích được thả có chiều dài khoảng 60cm, chiều ngang hơn 40cm, nặng khoảng 10kg. Đây là một trong năm loài rùa biển quý hiếm có mặt tại Việt Nam. Theo Công ước CITES, vích là loài động vật đặc biệt quý hiếm, thuộc nhóm nguy cấp trong danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển.
Những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã phát hiện 5 loài rùa biển quý hiếm nằm trong sách Đỏ của thế giới gồm: rùa da, rùa quản đồng, đồi mồi dứa, đồi mồi và vích. Để bảo tồn những giống rùa quý hiếm này, từ năm 2006 đến nay, Sở NN & PTNT Quảng Trị đã mở nhiều lớp tập huấn cho ngư dân các vùng ven biển nhằm giáo dục người dân không tham gia mua bán, vận chuyển trái phép các loài rùa biển quý hiếm này.
Vì thế, ngư dân ở các huyện ven biển đã phát hiện và thả về đại dương hơn 20 cá thể rùa biển, trong đó nhiều loài có tên trong sách Đỏ của thế giới. (Phụ Nữ TPHCM 10/9; Báo Quảng Trị 10/9) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có văn bản gửi Thủ tướng về việc thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A. Theo đó, Bộ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công thương xem xét, rà soát lại quy hoạch đối với hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A nói riêng và quy hoạch thuỷ điện trên lưu vực sông Đồng Nai nói chung.
Theo phân tích của Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc thực hiện các dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A trên thượng nguồn sông Đồng Nai sẽ gây ra những tác động bất lợi đến môi trường sinh thái, đặc biệt là tác động đến sự toàn vẹn của Vườn Quốc gia Cát Tiên, khu ngập nước Bàu Sấu.
Việc quyết định đầu tư các dự án này cần được xem xét trên cơ sở cân nhắc hài hoà các yếu tố lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và di sản thiên nhiên. Khi vận hành, thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ sản xuất ra 929 triệu kWh điện và nộp thuế cho Nhà nước khoảng 300 tỷ đồng mỗi năm.
Theo phương án đưa ra, hai dự án thuỷ điện trên sẽ được thiết kế xây dựng cống xả đáy và sử dụng tuabin Kaplan để điều hoà dòng chảy sau khi qua công trình thuỷ điện Đồng Nai 5. Tuy nhiên, nếu xây dựng, hai dự án trên sẽ tác động đến hàng loạt những vấn đề môi trường và đa dạng sinh học của cả một vùng.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường , việc thực hiện hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ làm mất vĩnh viễn 327,23ha đất rừng, trong đó đặc biệt có 128,37ha đất ở khu vực Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Tiên. Trong báo cáo tác động môi trường có cam kết trồng rừng bồi hoàn diện tích rừng bị tổn thất do thực hiện các dự án, nhưng lại chưa nêu được vị trí cụ thể và phương án trồng rừng thay thế.
Bên cạnh đó, hai dự án thuỷ điện trên cách khu ngập nước Ramsar Bàu Sấu 55km theo đường sông. Tuy nhiên báo cáo tác động môi trường lại chưa đánh giá được đầy đủ sự tổn thất về đa dạng sinh học trong vùng ngập và khu vực xây dựng công trình đầu mối trong mối quan hệ với tính nguyên vẹn, giá trị đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Cát Tiên và hệ sinh thái bản địa của khu vực. Một số biện pháp giảm thiểu tác động đến đa dạng sinh học của báo cáo tác động môi trường còn thiếu tính khả thi, không đề ra biện pháp bảo vệ, bảo tồn loài cá chình hoa quý hiếm.
Ngoài ra, do không chuyển dòng chảy, nên tổng lượng nước chảy về hồ Trị An hầu như không thay đổi. Trong khi hồ chứa của thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A là điều tiết ngày nên các hồ chứa này sẽ tác động đến nhu cầu sử dụng nước phía hạ du đập thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A.
Mặt khác, báo cáo tác động môi trường cũng chưa phân tích rõ vai trò của dòng chảy có đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước gia tăng theo quá trình phát triển kinh tế - xã hội phía hạ du, môi trường sống cho hệ sinh thái thuỷ sinh, đặc biệt đoạn sông ngay sau đập thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A và khu ngập nước Bàu Sấu.
Bộ Tài nguyên và Môi trường dẫn giải, theo Luật Di sản văn hoá quy định, “Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường, sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hoá – thông tin”. Ở thời điểm hiện nay, trong hồ sơ báo cáo tác động môi trường của hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A chưa có văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về văn hoá – thông tin.
Ngoài ra, "xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn” là hành vi bị nghiêm cấm. Căn cứ hồ sơ thì hai dự án nêu trên đều có một phần diện tích nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Cát Tiên. Do vậy, việc xây dựng các công trình thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A là vi phạm quy định trên.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá, trường hợp nếu các dự án trên được triển khai sẽ phải xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ, đường dây truyền tải, đường giao thông tiếp cận…. Việc thực hiện các hạng mục này sẽ gây ra những tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội khu vực diễn ra các hoạt động thi công tạo cơ hội thuận lợi cho các hành vi xâm hại Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Một tác động khác mà Bộ lo ngại đó là tác động đến sinh kế của người dân sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt cá vùng hạ du, đặc biệt là các dân tộc ít người như: Châu Ro, Châu Mạ, STiêng , MNông… Hơn nữa, nếu được triển khai, hai dự án trên sẽ gây bất lợi đến quá trình xem xét công nhận di sản thiên nhiên thế giới đối với Vườn Quốc gia Cát Tiên. (Tin Tức 10/9) đầu trang(
Ngày 9-9, Sở Công thương Đắk Lắk cho biết, vừa tổ chức đoàn đi kiểm tra và có báo cáo đề nghị tỉnh cho phép chủ đầu tư tiếp tục thực hiện dự án nhà máy thủy điện Đrang Phốk, công suất 28MW, nằm ngay trong vùng lõi Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn.
Theo báo cáo, dự án thủy điện này chiếm 295,4ha đất của VQG Yok Đôn (trong đó đất rừng phải chuyển đổi là 28,88ha) và đến nay đã chậm tiến độ 14 tháng. Sở đề nghị không thu hồi chủ trương lập dự án đầu tư, tiếp tục để chủ đầu tư lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trình Bộ Tài nguyên - Môi trường thẩm định, phê duyệt.
Bên cạnh đó, Sở Công thương Đắk Lắk cũng đề nghị UBND tỉnh có văn bản đề nghị Bộ Tài nguyên - Môi trường khi phê duyệt ĐTM của dự án cần xem xét các yếu tố nhạy cảm như: Dự án nằm cách đường biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 4,2km, dự án thuộc lưu vực sông Mekong (cần phải có ý kiến của Ủy ban Quốc gia sông Mekong - PV), dự án nằm ngay trong vùng lõi VQG Yok Đôn…
Tại cuộc họp ngày 10-5, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Hoàng Trọng Hải cũng đã đồng ý cho chủ đầu tư tiếp tục thực hiện dự án thủy điện Đrang Phốk nhưng yêu cầu chủ đầu tư phải cam kết tiến độ thực hiện bằng văn bản, nếu không thực hiện như cam kết thì sẽ chấm dứt chủ trương, thu hồi dự án. (Sài Gòn Giải Phóng 10/9) đầu trang(
Ông Trần Văn Thành, Quyền Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn, đã khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với Báo Sài Gòn Giải Phóng về dự án thủy điện Đrang Phốk (công suất 28MW, nằm trong vùng lõi VQG Yok Đôn). Theo ông Thành, nếu dự án được thực hiện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến VQG Yok Đôn.
Nói về những ảnh hưởng đến VQG Yok Đôn khi thực hiện dự án thủy điện này, ông Thành cho hay: Dự án này nằm ngay trong vùng lõi của VQG Yok Đôn, vì thế nó sẽ tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và công tác bảo vệ rừng của vườn. Trước hết, nó làm mất hơn 59ha rừng đặc dụng. Mất rừng, các loại thú, chim chóc, voi rừng… ở khu vực này sẽ phải di chuyển đến khu vực khác sinh sống.
Tiếng ồn từ con người và máy móc thi công công trình cũng sẽ làm các loài thú trong khu vực sợ hãi bỏ đi. Khi nhà máy thủy điện chặn dòng, môi trường sống của các loài thủy sinh sống trên sông Srêpốk cũng sẽ bị biến đổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sinh tồn của chúng. Còn về lâu dài, dự án thủy điện này sẽ gia tăng áp lực giữ rừng cho VQG Yok Đôn.
Các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk cho rằng khu vực làm thủy điện chủ yếu là rừng nghèo và đa dạng sinh học thấp, vì thế không ảnh hưởng nhiều đến VQG Yok Đôn. Theo ông, đánh giá như vậy có đúng không? Trả lời câu hỏi này, ông Thành cho rằng, đánh giá như thế rất phiến diện và chưa hiểu hết về VQG Yok Đôn. Hệ sinh thái VQG Yok Đôn chủ yếu là rừng khộp, vì thế không thể lấy tiêu chuẩn rừng thường xanh để đánh giá đây là rừng nghèo. Chúng ta không nên vì năng lượng mà đánh đổi những cánh rừng khộp quý giá này.
Về việc vừa qua, Sở Công thương Đắk Lắk đã có báo cáo đề nghị UBND tỉnh tiếp tục cho thực hiện dự án này, theo ông Thành, Sở Công thương Đắk Lắk đã báo cáo không trung thực về dự án này. Trong khi diện tích rừng đặc dụng của vườn phải chuyển đổi làm thủy điện lên tới hơn 59ha, sở lại báo cáo chỉ chuyển đổi có 28,88ha. Dự án đã chậm tiến độ tới 14 tháng, nhưng không hiểu sao sở vẫn đề nghị UBND tỉnh cho chủ đầu tư tiếp tục thực hiện dự án(?).
Ông có nói rằng “Nếu làm thủy điện này, tôi sẽ từ chức”. Liệu ông có dám từ chức khi dự án này được thực hiện hay không? Trả lời câu hỏi này, ông Thành quả quyết: Trong các cuộc họp với lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk, tôi đã nhiều lần đề nghị UBND tỉnh không nên cho thực hiện dự án thủy điện này. Tôi khẳng định, nếu làm thủy điện này trong VQG Yok Đôn, tôi sẽ từ chức. Bao nhiêu năm làm công tác bảo vệ rừng, tôi rất hiểu những giá trị rừng mang lại cho con người. Vì thế, tôi rất buồn nếu họ tiếp tục cho làm thủy điện này trong vùng lõi của VQG Yok Đôn. (Sài Gòn Giải Phóng 10/9) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn - Đắk Lắk có diện tích lớn nhất nước với hệ sinh thái phong phú, đa dạng, nhưng tỉnh Đắk Lắk và Bộ NN-PTNT lại cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO (TPHCM) lập dự án Thủy điện Đrang Phốk ngay giữa vùng lõi của VQG Yok Đôn. Hàng chục hécta rừng đặc dụng sẽ biến mất và hệ sinh thái của vườn sẽ biến đổi khi dự án thủy điện này đi vào hoạt động.
Năm 2009, tỉnh Đắk Lắk đồng ý cho TECCO lập dự án Nhà máy thủy điện (NMTĐ) Đrang Phốk với công suất 28MW tại tiểu khu 430, 431 và 451, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Yok Đôn. Dự kiến, diện tích rừng đặc dụng phải chuyển đổi làm NMTĐ này là 59,88ha, trong đó diện tích chuyển đổi vĩnh viễn 49,88ha trải dài theo 9km bờ sông Srêpốk và diện tích chuyển đổi tạm thời 10ha. Theo địa phương, rừng đặc dụng khu vực này làm thủy điện không ảnh hưởng nhiều đến VQG Yok Đôn vì chủ yếu là rừng nghèo và đa dạng sinh học thấp?
VQG Yok Đôn có diện tích 115.000ha, nơi đây rất giàu về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Vì thế, khi chuyển đổi rừng đặc dụng ở vùng lõi làm thủy điện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến VQG Yok Đôn.
Theo ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc VQG Yok Đôn, nếu dự án NMTĐ Đrang Phốk thực hiện sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của VQG. Sau khi nhà máy vận hành, nước hồ dâng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển lâm sản bằng đường thủy. Ngoài ra, trong quá trình thi công có nổ mìn, phá đá sẽ gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn từ nổ mìn sẽ làm động vật hoang dã của vườn bỏ đi nơi khác. Khi nhà máy chặn dòng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, sinh sản, môi trường sống của các loài thủy sinh trên dòng sông Srêpốk.
“Hệ sinh thái VQG Yok Đôn chủ yếu là rừng khộp, vì thế không thể đem tiêu chuẩn rừng thường xanh để đánh giá đây là rừng nghèo. Mỗi loại rừng đều có hệ sinh thái riêng và chức năng riêng. Vì thế, không thể nói rừng khộp là rừng nghèo hay không nghèo để chuyển đổi làm thủy điện bằng mọi giá”, ông Trần Văn Thành bức xúc.
Còn PGS-TS Bảo Huy (Khoa Nông lâm Đại học Tây Nguyên) cảnh báo: “VQG Yok Đôn là quần thể sinh thái phong phú và đa dạng về sinh học, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của vùng đất Tây Nguyên. Vì thế chúng ta không nên có những tác động tiêu cực vào đây. Nếu cứ đánh đổi rừng đặc dụng để xây dựng thủy điện, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ chẳng còn VQG”.
Ngoài dự án thủy điện Đrang Phốk, VQG Yok Đôn hiện đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các dự án khác như: Thủy điện Srêpốk 4A, đường tránh quốc lộ 14C, hồ thủy lợi Buôn Triết… Nếu dự án NMTĐ Đrang Phốk tiếp tục được thực hiện cũng đồng nghĩa với việc VQG Yok Đôn lâm nguy. (Sài Gòn Giải Phóng 9/9) đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh Đắk Lắk lại cho phép xây dựng Nhà máy Thủy điện Đrang Phốk trong Vườn Quốc gia Yok Đôn trước sự ngỡ ngàng của lãnh đạo vườn quốc gia vốn phải luôn được bảo vệ nghiêm ngặt này
Trong khi dư luận đang lo ngại việc Bộ Công Thương vẫn quyết tâm cho chủ đầu tư thực hiện dự án Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor nằm trong vùng lõi Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin (tỉnh Ðắk Lắk) thì cũng tại địa phương này, một dự án thủy điện khác xây dựng trong VQG Yok Ðôn đang được chủ đầu tư xúc tiến.
Năm 2007, Công ty CP Ðầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (TECCO, đóng tại TP HCM) đã có công văn xin khảo sát, lập dự án đầu tư Nhà máy Thủy điện Ðrang Phốk và đã được UBND tỉnh Ðắk Lắk đồng ý chủ trương cho TECCO khảo sát, thu thập số liệu để làm cơ sở xem xét quyết định đầu tư. Tiếp đó, năm 2009, UBND tỉnh Ðắk Lắk có công văn đề nghị Bộ NN&PTNT cho chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng; đề nghị Bộ Công Thương xem xét phê duyệt bổ sung dự án này vào quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Sêrêpốk và đã được chấp thuận.
Sau nhiều lần điều chỉnh, mới đây, cơ quan chức năng đã đồng ý cho chủ đầu tư điều chỉnh quy mô dự án xuống còn 26 MW, tổng diện tích bị ảnh hưởng hơn 300 ha, trong đó có 8 ha đất nông nghiệp, 295 ha đất thuộc VQG Yok Ðôn. Tuy nhiên, do phần lớn là lòng hồ nên diện tích phải chuyển đổi mục đích sử dụng giảm còn 28,88 ha rừng đặc dụng.
Những ngày đầu tháng 9-2013, phóng viên Báo Người Lao Ðộng đã được các cán bộ kiểm lâm VQG Yok Ðôn đưa vào khu vực dự kiến xây dựng Nhà máy Thủy điện Ðrang Phốk. Ðây là dự án thủy điện cuối cùng trong hệ thống thủy điện bậc thang trên dòng sông Sêrêpốk, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 5 km.
Dự án nằm ở tiểu khu 431, 451 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Yok Ðôn. Nhờ vậy, khu vực rừng này hiện còn khá nguyên vẹn. Dọc sông Sêrêpốk nơi sẽ là lòng hồ thủy điện, cây cối mọc um tùm, mật độ cây cổ thụ khá dày. Cách dòng sông khoảng 100 m, mật độ cây thưa hơn nhưng đặc trưng của hệ sinh thái rừng khộp với nhiều loại cây quý hiếm.
Ông Hoàng Vinh - Trạm phó Trạm Kiểm lâm số 9, Hạt Kiểm lâm VQG Yok Ðôn cho biết: Do nằm ở trung tâm vườn, gần khu vực biên giới lại cách xa khu dân cư, được bảo vệ tốt nên rừng ở đây còn khá nguyên vẹn với nhiều loài cây quý hiếm như: cẩm, hương, căm xe… Hệ động vật ở đây cũng khá phong phú, là nơi cư ngụ của nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng.
Thực ra, năm 2011, cơ quan chức năng đã đồng ý cho TECCO xây dựng Nhà máy Thủy điện Ðrang Phốk với công suất 28 MW, tổng diện tích rừng phải chuyển đổi là 63 ha. Trong đó, theo chủ đầu tư thì 53 ha chuyển đổi vĩnh viễn, 10 ha chuyển đổi tạm thời, sau khi xây dựng xong sẽ hoàn trả.
Trước sự phản ứng của lãnh đạo VQG Yok Ðôn, mới đây, chủ đầu tư điều chỉnh diện tích rừng chiếm dụng còn 28,88 ha. Tuy nhiên, dù diện tích rừng thiệt hại giảm bao nhiêu đi nữa, việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Ðrang Phốk ngay giữa trung tâm VQG Yok Ðôn sẽ như nhát dao chọc vào "trái tim" VQG này, phá vỡ hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học và gây khó khăn cho công tác bảo vệ vườn.
Ông Trần Văn Thành, quyền Giám đốc VQG Yok Ðôn, cho biết: "Ðến giờ, tôi cũng không hiểu vì sao cơ quan chức năng lại đồng ý cho chủ đầu tư xây dựng thủy điện ngay trung tâm vườn. Ðiều này sẽ để lại những hậu quả nặng nề trong việc bảo tồn VQG Yok Ðôn".
Ông Thành phân tích: Những tác động trước mắt như sẽ xóa sổ gần 30 ha rừng thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nơi có nhiều loài cổ thụ quý hiếm; tiếng ồn trong quá trình xây dựng và ô nhiễm môi trường sẽ làm cho các loài thú quý hiếm bỏ đi nơi khác…
Về lâu dài, khi nhà máy đưa vào sử dụng sẽ để lại những hệ lụy mà chúng ta không thể lường hết như: nước hồ dâng cao tạo điều kiện cho lâm tặc dễ dàng vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông; kẻ xấu trà trộn vào đội ngũ xây dựng để phá rừng, săn bắn thú. Ðó là chưa kể tới việc khi có người đến sinh sống sẽ kéo theo việc mua bán, vận chuyển lương thực, thực phẩm, săn bắn thú làm thức ăn, phá rừng làm nhà, lấy củi làm chất đốt…
"Với trách nhiệm là người đứng đầu VQG Yok Ðôn, dù bất cứ giá nào, tôi cũng phản đối đến cùng việc xây dựng thủy điện trong vùng lõi vườn" - ông Thành quả quyết. (Người Lao Động 10/9) đầu trang(
Bất chấp phản ứng, cảnh báo của các nhà hoạt động môi trường và lãnh đạo các vườn quốc gia, hai dự án thủy điện Đrăng Phốk (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk - nằm hoàn toàn trong vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn), dự án thủy điện Ea K’Tuor (nằm trong Vườn quốc gia Chư Yang Sin) của tỉnh Đắk Lắk vẫn đang được triển khai...
Lãnh đạo hai vườn quốc gia nói trên ví hai dự án thủy điện này là những “quả bom” hủy diệt, với tác hại vô cùng lớn, không chỉ đối với môi trường mà còn đối với những “giá trị Tây Nguyên”.
Dự án thủy điện Đrăng Phốk là bậc thang - “khúc ruột” cuối cùng trên sông Sêrêpốk. Mặc dù đã “trốn” trong vùng lõi Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn - nơi được bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng “khúc ruột” này cũng khó tránh khỏi nguy cơ bị băm nát…
Theo thiết kế, thủy điện Đrăng Phốk gồm 1 đập dâng cao gần 20m, rộng 5m, dài 1,25km và kênh dẫn bêtông cốt thép rộng 8m, dài gần 4km. Đập này chặn ngang dòng chính Sêrêpốk, tạo nên mặt hồ 250ha, đủ nước cho nhà máy thủy điện công suất 26MW. Công trình chiếm dụng vĩnh viễn hơn 300ha đất các loại, trong đó 295,4ha thuộc vùng lõi VQG Yok Đôn.
Anh Đỗ Phạm Nguyên - kiểm lâm viên ở Trạm kiểm lâm Đrăng Phốk lo lắng nói: “Chỉ trong giai đoạn thi công, thủy điện này cũng đủ làm chúng tôi khổ rồi. Hàng nghìn công nhân sẽ náo loạn VQG trong vài năm, kéo theo nhu cầu bao nhiêu gỗ, củi, thức ăn trong tự nhiên. Trạm chỉ 16 người quản lý gần 17.000ha rừng, sức đâu mà kiểm soát từng ấy con người, ai dám chắc lâm tặc không trà trộn vào.
Rồi máy móc ầm ầm suốt ngày đêm, lại nổ mìn phá đá suốt mấy năm, chẳng con thú nào dám ở đây nữa. Đến khi làm xong, lại một hồ nước 250ha, đó là điều kiện lý tưởng nhất cho lâm tặc xâm nhập rừng từ mọi phía. Chúng giấu gỗ dưới lòng hồ thì có trời biết, rồi tha hồ vận chuyển bằng phương tiện thủy”.
Ông Trần Văn Thành - Giám đốc VQG Yok Đôn cho biết: “Tác hại của thủy điện Đrăng Phốk là vô cùng lớn, chưa từng có tiền lệ trên đất nước này. Vừa rồi công luận phản đối thủy điện Đồng Nai 6 và 6A rất kịch liệt, tôi từng là giám đốc VQG Cát Tiên nhiều năm, tôi khẳng định thủy điện Đrăng Phốk này khốc hại hơn. Bởi Đồng Nai 6 và 6A cũng làm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt ngoài bìa; trong khi Đrăng Phốk là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt nằm sâu trong ruột VQG Yok Đôn, do vậy mức độ lan tỏa tác hại lớn hơn nhiều.
Trong cuộc họp với UBND tỉnh Đắk Lắk hồi đầu năm, Chủ tịch tỉnh nói, nếu ý kiến của vườn như thế thì nên xem xét lại dự án thủy điện Đrăng Phốk, đồng chí phó chủ tịch cũng bảo nếu chủ đầu tư đã bỏ tiền khảo sát, thiết kế thì địa phương sẽ xem xét hoàn trả. Tôi mừng như khóc được. Sau cuộc họp đó, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Công Thương chủ trì một đoàn kiểm tra, khi đoàn vào tôi cũng nêu quan điểm như thế. Bây giờ họ đã báo cáo UBND tỉnh, nhưng không gửi cho vườn nên chúng tôi không biết họ tham mưu thế nào”.
Theo tìm hiểu của PV, trong báo cáo gửi Thủ tướng, Bộ Công Thương nói Bộ NNPTNT đã xác nhận khu vực trên “là rừng nghèo tái sinh sau khai thác kiệt, có thể chuyển mục đích sử dụng ra khỏi rừng đặc dụng”. Nhưng khảo sát của đơn vị chuyên ngành mới đây cho thấy có cả rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo, trong đó rừng trung bình chiếm diện tích lớn nhất.
Mặt khác - theo ông Thành, khái niệm giàu hay nghèo chỉ áp dụng đối với rừng sản xuất để tính trữ lượng, chất lượng gỗ. Còn rừng bảo tồn là tổng hòa các yếu tố tự nhiên, trong đó sông suối, đầm lầy, bãi cỏ thú ăn cũng là rừng.
Ông Thành nói: “Đối với rừng bảo tồn, một cây gỗ chết khô cũng không được chặt. Phải để đó nuôi con kiến, con mối, rồi con kiến, con mối sẽ nuôi con chim con chóc, con chim con chóc đó sẽ gieo hạt phát triển rừng. Như vậy mới gọi là bảo tồn thiên nhiên, dạng sinh học. Ở đây cứ bảo rừng ít gỗ, không có con thú lớn bán được nhiều tiền thì được phá, sau này khoa học phát hiện con mối, con kiến có giá trị bảo tồn gene, bào chế thuốc chữa được bệnh ung thư thì ai đền nổi?”.
Ông Thành cũng cho rằng, ban đầu diện tích rừng đặc dụng bị ảnh hưởng bởi thủy điện Đrăng Phốk là hơn 63ha. Đến khi có nghị quyết quy định chuyển đổi rừng đặc dụng từ 50ha trở lên phải báo cáo Quốc hội, họ liền điều chỉnh xuống 49ha, trong đó có 10ha chuyển đổi tạm thời để lách luật. Ông Thành phân tích: “Khái niệm chuyển đổi tạm thời là do chủ đầu tư đặt ra, chẳng có quy định nào của pháp luật nói như vậy cả. Mặt khác, khi lập dự án bao giờ họ cũng xin ít, sau đó lấy cớ phát sinh để xin thêm, xin thêm nữa...”.
Rồi ông Thành so sánh: “Hôm rồi, Đài Truyền hình Việt Nam đưa tin UBND tỉnh Đắc Đắk Lắk nêu quan điểm không thống nhất làm thủy điện Ea K’Tuor trong VQG Chư Yang Sin. Dự án đó có 5MW, ảnh hưởng có 6ha rừng đặc dụng mà bị dừng thì theo tôi, không có lý do gì để không dừng thủy điện Đrăng Phốk công suất 26MW, chiếm dụng hơn 300ha đất VQG Yok Đôn này”. Nhưng ông Thành không biết, câu chuyện Chư Yang Sin vẫn chưa kết thúc, dừng “quả bom” thủy điện Đrăng Phốk ở Yok Đôn còn khó hơn nhiều. (Lao Động 9/9) đầu trang(
Lãnh đạo Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin chưa kịp vui vì UBND tỉnh Đắk Lắk ra văn bản không thống nhất việc xây dựng thuỷ điện Ea K’tuor thì Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương - đã tuyên bố sẽ chỉ đạo chủ đầu tư thực hiện dự án đến cùng.
Đây là thuỷ điện nằm ở vị trí nhạy cảm nhất của VQG Chư Yang Sin nên thật đáng buồn cho dòng chữ viết to trên tấm pano sừng sững trước cổng VQG Chư Yang Sin, bên quốc lộ 27: “Hãy giữ lấy Chư Yang Sin, nơi lưu giữ giá trị Tây Nguyên”. Một đồng nghiệp của PV thở dài: Nên đổi là “Phải cứu Chư Yang Sin”!
Sự việc bắt đầu từ quyết định phê duyệt quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ của UBND tỉnh Đắk Lắk, cũng như văn bản của tỉnh gửi Bộ Công Thương đề nghị cho Cty TNHH Hoàng Nguyên - ông chủ của nhiều nhà máy thuỷ điện ở Tây Nguyên - đầu tư thuỷ điện Ea K’tour.
Theo dự kiến, thuỷ điện Ea K’tour được xây dựng tại các tiểu khu 1196, 1200, 1214 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia (VQG) Chư Yang Sin. Vị trí chặn dòng lấy nước là nơi giao nhau giữa suối Đắc Tour với một chi lưu, thượng nguồn một thác đẹp. Từ đây, toàn bộ lưu lượng nước được gom vào một đường ống, dẫn xuống nhà máy phát điện đặt bên dưới.
Như vậy, có khoảng 5 - 6km suối Đắc Tour bị khô kiệt, gây ra những biến đổi tiêu cực về chế độ thuỷ văn, hệ sinh thái trong khu vực. Theo lãnh đạo VQG Chư Yang Sin, đây là kiểu rừng chuyển tiếp giữa rừng lá rộng thường xanh với rừng lá kim, với các loài cây đặc trưng như thông 5 lá, đỉnh tùng, bách xanh... thuộc nhóm 12 loài lá kim quý hiếm.
Khi suối Đắc Tour kiệt nước, kiểu rừng này sẽ chết, các loài thuỷ sinh đặc hữu như cá nai, cá đuôi xanh - vốn chỉ sống trong môi trường nước lạnh, sạch, chảy xiết - cũng sẽ tuyệt chủng. Việc mở đường, xây dựng, vận hành thuỷ điện cũng sẽ gây tiếng ồn, xua đuổi các loài thú vốn rất đa dạng ở khu vực suối Đắc Tour.
Ngoài các loài thú có tên trong sách Đỏ Việt Nam như voọc chà vá chân đen, vượn đen má hung, beo lửa... và các loài mang tên Chư Yang Sin - chỉ có ở Chư Yang Sin, lưu vực suối Đắc Tour còn 8 loài chưa xác định được tên, nhiều khả năng là các loài mới cho khoa học.
Nhưng tất cả sẽ biến mất khi làm thuỷ điện tại đây. Đó là chưa kể, thuỷ điện còn mở đường cho lâm tặc lên lưng chừng mây để khai thác pơ mu - thứ gỗ quý có mùi thơm đặc trưng của rừng đặc dụng Chư Yang Sin. Cũng có khả năng, với cớ giao thông thuận lợi, một số buôn đồng bào dân tộc thiểu số sẽ quay lại vùng lõi vườn quốc gia sinh sống.
Ông Tống Ngọc Chung - Giám đốc VQG Chư Yang Sin cho biết: “Từ năm 2007, Cty Hoàng Nguyên đã xin 70ha rừng đặc dụng để làm thuỷ điện Ea K’tour với công suất 12MW, bẻ dòng chảy suối Đắc Tour về xã Hoà Phong nhưng không được chấp thuận. Bẵng đi một thời gian, tưởng họ bỏ rồi nên chúng tôi mừng quá, ai ngờ họ điều chỉnh quy mô để quay lại quyết làm. VQG Chư Yang Sin không có thẩm quyền cho phép làm thuỷ điện hay không cho làm, nhưng trên quan điểm bảo tồn, chúng tôi đã có văn bản kiến nghị UBND tỉnh và các ngành chức năng xem xét dừng việc triển khai dự án này”.
Còn theo PGS-TS Bảo Huy - Phó trưởng khoa Nông Lâm, Đại học Tây Nguyên - thì khu vực Ea K’tuor hình thành bởi các dạng địa hình từ núi thấp đến núi cao, trong đó có đỉnh Chư Yang Sinh cao 2.442m nên có các kiểu rừng chuyển tiếp. Do tập trung nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới, Ea K’tuor là khu vực quan trọng nhất của VQG Chư Yang Sin.
“Là người chủ trì, tham gia quy hoạch các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ở Tây Nguyên, tôi hiểu rõ Chư Yang Sin đã bị tác động quá nhiều rồi. Tôi đã nhiều lần kiến nghị không làm thêm thuỷ điện nào nữa, nhưng họ vẫn cố làm, tôi thực sự không hiểu” - PGS-TS Bảo Huy nói.
Thêm một lo ngại khác là thuỷ điện Ea K’tour được xây dựng trong khu vực hang đá Đắc Tour - di tích lịch sử cấp quốc gia đã được Bộ VHTT công nhận vào năm 1991.
Cụ Huỳnh Văn Cần - nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk cho biết: “Từ năm 1966 - 1975, đây là trung tâm đầu não của Tỉnh uỷ, nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng và 3 kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh, từ đó lãnh đạo quân dân Đắk Lắk giành thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ. Do vậy Sở VHTTDL tỉnh đã lập dự án đầu tư tôn tạo, phát huy giá trị của di tích”.
Vậy mà theo thiết kế, đập thuỷ điện Ea K’tour chỉ cách hang đá Đắc Tuor dưới 1km, ống áp lực đi qua cửa hang, nhà máy chồng lên Hội trường Tỉnh uỷ. Ông Y Ben Buôn Yă - Giám đốc Trung tâm Quản lý di tích tỉnh Đắk Lắk cũng cho rằng, di tích sẽ bị tàn phá nếu xây dựng thuỷ điện tại đây.
Ông Đỗ Xuân Dũng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp, Sở NNPTNT Đắk Lắk- nói, đơn vị có tham gia đoàn công tác do Sở Công Thương chủ trì, nhưng về sở ấy báo cáo thế nào ông không biết. Tuy nhiên, trước cả Sở Công Thương, ngành NNPTNT Đắk Lắk đã đề nghị UBND tỉnh cho Cty Hoàng Nguyên lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, nếu ảnh hưởng ít mới cho làm.
Nhưng thực tế, cái “bùa hộ mệnh” của các thuỷ điện đã làm chính quyền địa phương, đơn vị quản lý rừng mất niềm tin nhiều rồi. Ông Trần Văn Thành - Giám đốc VQG Yok Đôn - cho biết: “Nhà nước, xã hội phải bỏ kinh phí đánh giá tác động môi trường mới đảm bảo khách quan, chứ đơn vị tư vấn lấy tiền của chủ đầu tư thì sao dám nói ngược. Sau khi cấp thẩm quyền phê duyệt, có ai giám sát thực hiện các yêu cầu nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không? Rồi chủ đầu tư quốc lộ 14C có trồng lại rừng cho VQG Yok Đôn sau khi mở đường qua vùng lõi của vườn không? Cấp thẩm quyền phê duyệt có biết không?”.
Khi PV đến tìm hiểu sự việc, ông Võ Thanh - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Các anh cứ liên hệ với Sở Thông tin và Truyền thông, khi nào họp báo họ sẽ gọi chúng tôi lên trả lời, giờ có quy định rồi dễ lắm. Về thuỷ điện Ea K’tuor thì hiện nay chưa có thông tin gì, khi nào có chúng tôi cung cấp liền”.
Nói “chưa có thông tin gì”, nhưng thật ra trước đó, Sở Công Thương đã tham mưu UBND tỉnh có văn bản đề nghị Bộ Công Thương cho điều chỉnh công suất thuỷ điện Ea K’tuor xuống 5MW, chỉ đạo chủ đầu tư tiếp tục thực hiện.
Ngày 1.9, UBND tỉnh Đắk Lắk có văn bản không thống nhất với dự án thuỷ điện này do ảnh hưởng đa dạng sinh học của VQG Chư Yang Sin và di tích lịch sử cách mạng hang đá Đắc Tuor.
Văn bản của tỉnh chưa ra đến Hà Nội thì trong cuộc họp báo của Bộ Công Thương ngày 3.9, lãnh đạo Tổng cục Năng lượng tuyên bố sẽ phối hợp với tỉnh chỉ đạo chủ đầu tư điều chỉnh công suất, tiếp tục thực hiện dự án Ea K’tuor. Còn với thuỷ điện Đrăng Phốk trong VQG Yok Đôn, sau khi chủ trì đoàn kiểm tra, Sở Công Thương Đắk Lắk đã tham mưu UBND tỉnh không thu hồi và được tỉnh chấp thuận. Nghĩa là họ vẫn làm. (Lao Động 10/9) đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn các xã Đồn Đạc, Minh Cầm (Ba Chẽ) có tình trạng một số hộ dân tự ý xâm chiếm đất rừng. Đến nay, các vụ việc này cơ bản đã được giải quyết. Tuy nhiên, qua đó cũng rút ra được nhiều bài học về công tác quản lý tài nguyên rừng ở cơ sở.
Có nhiều vụ việc xâm chiếm đất rừng trên địa bàn huyện trong vài năm gần đây, điển hình là vụ hàng chục hộ dân ở xã Minh Cầm xâm hại 100,9ha rừng và đất rừng. Đầu tháng 5-2012, lãnh đạo huyện nhận được thông tin có nhiều người dân xã Minh Cầm rủ nhau tự ý đi phát rừng để trồng cây. Thường trực Huyện uỷ đã chỉ đạo các ngành hữu quan vào cuộc. Huyện thành lập đoàn kiểm tra đến xã để xác minh sự vụ. Khối Nội chính họp bàn nghe các ngành báo cáo tình hình và đề ra hướng xử lý.Qua kiểm tra tại các tiểu khu 133 và 134 thì diện tích đất rừng bị xâm hại lên tới 100,9ha.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện, đây là rừng tái sinh, rừng nghèo, giá trị kinh tế thấp, ước tính sơ bộ thiệt hại ban đầu là 11 triệu đồng/ha. Theo kết luận sơ bộ của các cơ quan chức năng, đến ngày 10-7-2012 có khoảng 150 người dân, hầu hết là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại 3 thôn: Đồng Tán, Đồng Doong và Khe Tum (Minh Cầm) nhận xâm hại 20,47ha. Trong đó có 24 hộ dân đã được giao đất, giao rừng với diện tích 201,88ha, trong đó đất đã trồng rừng là 133,7ha. Số hộ dân chưa được giao đất, giao rừng là 10 hộ (do mới tách hộ) và 2 hộ của xã Đồn Đạc, xã Lương Mông.
Minh Cầm có diện tích tự nhiên 3.364,7ha, trong đó đất rừng là 3.047,8ha. Xã có 116 hộ với 519 nhân khẩu, người dân tộc thiểu số chiếm 94%; trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo chiếm tới 46%. Từ bao đời nay, người dân chủ yếu sống dựa vào rừng.
Thời gian gần đây, nhiều hộ dân trong xã được giao đất, giao rừng đã phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh này, nhờ đó đã đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Nhu cầu về đất để trồng rừng ngày càng tăng cộng với hiểu biết về pháp luật của một số hộ dân còn hạn chế, nên đã tự ý phát rừng với mục đích trồng cây, phát triển kinh tế.
Đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về lâm nghiệp của xã hầu hết là người dân tộc thiểu số, năng lực, kinh nghiệm quản lý còn yếu. Cán bộ của xã đa số là người địa phương có mối quan hệ họ hàng, dòng tộc dẫn đến tâm lý nể nang, ngại va chạm, thiếu cương quyết trong xử lý vụ việc.
Theo kết quả điều tra của đoàn kiểm tra huyện, từ năm 2008, có tới 72 hộ dân trong xã phát rừng trái phép, nhưng UBND xã chỉ xử phạt hành chính từ 50-500 ngàn đồng/hộ, không thu hồi mà lại hợp thức hoá cho các hộ này sử dụng diện tích đã xâm lấn. Trong các tháng 1, tháng 2-2012, có hộ dân phát xâm lấn 0,2ha, nhưng cũng không được xử lý cương quyết, báo cáo kịp thời. Ở thời điểm này, Chủ tịch UBND xã còn có biểu hiện bưng bít thông tin. Việc này đã dẫn đến nhiều người dân trong vùng tự ý phá rừng, trồng cây trên diện rộng. Mặc dù vậy, xã cũng không báo cáo, mà phải qua công tác nắm tình hình, đến tháng 5-2013 huyện mới nhận được thông tin.
Huyện xác định đây là vụ việc xâm hại đất rừng tự phát, không có tổ chức, với mục đích là để phát triển kinh tế, nhưng lại liên quan đến nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thường trực Huyện uỷ đã báo cáo Thường trực Tỉnh uỷ để xin ý kiến chỉ đạo. Ngày 17-9-2012, Thường trực Tỉnh uỷ đã có Thông báo kết luận về “Xử lý tình trạng xâm lấn rừng và đất rừng tại xã Minh Cầm, huyện Ba Chẽ”.
Thông báo chỉ rõ, việc xảy ra tình trạng một số người dân địa phương xâm lấn 100,9ha rừng là nghiêm trọng. Huyện Ba Chẽ đã tích cực chỉ đạo, có nhiều biện pháp điều tra, ngăn chặn, phòng ngừa, khắc phục hậu quả, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân liên quan. Tuy nhiên, việc xử lý còn chưa toàn diện, triệt để, thiếu tính bền vững.
Quan điểm chỉ đạo của Thường trực Tỉnh uỷ là: Việc xử lý cần xác định mục tiêu cao nhất là ổn định cuộc sống, sinh hoạt cho nhân dân, đảm bảo ANTT, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội phù hợp của địa phương, tạo thế trận lòng dân vững chắc. Cùng với đó, Thường trực Tỉnh uỷ cũng chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp để ổn định tình hình trên địa bàn xã.
Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Tỉnh uỷ, huyện Ba Chẽ đã xây dựng các phương án, kế hoạch để triển khai một cách thận trọng, hợp tình, hợp lý, nhằm tạo sự đồng thuận cao nhất của nhân dân đối với công tác quản lý rừng và đất rừng. Xã tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân có liên quan. Tập thể Đảng uỷ xã nhận hình thức khiển trách. 5 cán bộ chủ chốt của xã do thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý, lúng túng trong xử lý, không báo cáo kịp thời nên để xảy ra vụ xâm lấn rừng, đất rừng nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, làm giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, bị các hình thức kỷ luật.
Cùng với đó, Huyện uỷ, UBND huyện đã chỉ đạo triển khai đồng bộ các biện pháp từ điều tra, xử lý vi phạm hành chính các đối tượng một cách công tâm, đúng người, đúng hành vi; yêu cầu các hộ dân ký cam kết không tái phạm; thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng đã xâm lấn để tổ chức hoàn nguyên, đồng thời hoàn chỉnh Đề án bảo vệ, quản lý và phát triển rừng bền vững trên địa bàn huyện.
Đại tá Nguyễn Văn Cường, Trưởng Công an huyện cho biết: Đến nay, qua nắm bắt tình hình, những người dân trước đây vào phá rừng đã nhận thức được hành vi sai trái của mình. Người dân trên địa bàn thêm tin tưởng vào chính quyền. Vụ việc này là bài học cho cơ sở cần phải tăng cường hơn nữa chức năng quản lý nhà nước đối với rừng và đất rừng; nhất là phải cương quyết trong xử lý các sai phạm ngay từ đầu, tránh tình trạng để lan trên diện rộng. (Báo Quảng Ninh 7/9) đầu trang(
Những năm gần đây, nghề nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) ở quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) phát triển mạnh, tạo được việc làm cho nhiều nông dân, góp phần hoàn thành mục tiêu an sinh xã hội.
Trại nuôi heo rừng của ông Nguyễn Hữu Chỉnh nằm ngay dưới chân núi Đà Sơn, thuộc tổ 159, phường Hòa Khánh Nam. Khi chúng tôi đến, ông Chỉnh đang tất bật trộn chuối với cám, môn rừng rồi đổ vào máng cho heo ăn. Đàn heo rừng ăn rất khỏe, con nào con nấy đen trũi, chắc nịch. Ông Chỉnh nuôi heo rừng từ năm 2009, với phương pháp kết hợp nuôi chuồng và thả rông.
“Heo rừng nái mỗi năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa 8-12 con, heo con 2 tháng tuổi nặng khoảng 10kg, hiện có giá bán 1,5 triệu đồng/con, thương lái đến tận nơi mua”, ông Chỉnh bộc bạch.
Bà Nguyễn Thị Kim Thành ở tổ 32, phường Hòa Khánh Bắc cũng nổi tiếng với mô hình nuôi kỳ đà. Bà xây dựng chuồng trại với nhiều hang hốc, gốc cây, mô đá, phù hợp với điều kiện sống tự nhiên của kỳ đà. Bà Thanh cho biết, kỳ đà thường ăn các loại trái cây, các loại vật nhỏ như ếch, nhái và thịt động vật tươi sống. Bình quân, mỗi quý, bà bán 15 con kỳ đà, mỗi con từ 1-1,2 triệu đồng, được một chủ doanh nghiệp ở Hà Nội nhận tiêu thụ sản phẩm dài hạn.
Theo quy định, nuôi ĐVHD phải làm thủ tục đăng ký và khi bán phải xin giấy phép của cơ quan chức năng. Ông Nguyễn Thanh Bê, Chủ tịch Hội Nông dân quận Liên Chiểu cho hay: Chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân phát triển nghề nuôi các loại ĐVHD thông thường như nhím, kỳ đà, heo rừng, chim trĩ và đây là hướng phát triển mới cho nông dân, nhất là các hộ trong diện quy hoạch, giải tỏa.
Chi hội Nuôi ĐVHD thông thường quận Liên Chiểu được thành lập ngày 25/7/2003, bước đầu có 28 hội viên tham gia. Chi hội trưởng Trần Văn Thưởng cho hay, hội viên được hỗ trợ về thủ tục vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm; hội viên có đề án khả thi sẽ được giải quyết cho vay vốn ưu đãi để phát triển quy mô chăn nuôi. Cụ thể như ông Phan Công Lễ, chủ trang trại nuôi heo rừng ở Hòa Hiệp Bắc, đã được hỗ trợ thủ tục vận chuyển 50 con heo rừng vào bán tại TP.Hồ Chí Minh với giá 300.000 đồng/kg, cao hơn gấp đôi giá bán tại chỗ.
Ở Liên Chiểu, có hộ cùng lúc nuôi nhiều loại ĐVHD nhằm tăng hiệu quả kinh tế. Chẳng hạn, ông Nguyễn Ngọc Lan ở tổ 7, phường Hòa Hiệp Nam vừa nuôi nhím, vừa nuôi heo rừng, đạt thu nhập khá cao. Kết hợp nuôi heo rừng với nuôi cá và trồng rừng, ông Lễ tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động và tích cực đóng góp cho các hoạt động vì người nghèo của địa phương.
Nhằm giúp nông dân phát triển nghề nuôi ĐVHD, Hội Nông dân quận Liên Chiểu đã xây dựng đề án phát triển sinh sản, sinh trưởng trong chăn nuôi ĐVHD. Theo đó, nuôi ĐVHD thực hiện theo quy trình 5 bước: Xây dựng chuồng trại tốt, chọn giống tốt, chăm sóc-nuôi dưỡng tốt, vệ sinh phòng dịch tốt, thức ăn đảm bảo số lượng và chất lượng. Theo Đề án này, Hội Nông dân quận phối hợp với các cơ quan chức năng giúp các hộ nuôi ĐVHD tăng cường năng lực công tác thú y và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để có thu nhập cao hơn. (Kinh tế Nông thôn 9/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Công Vân, Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận) cho biết, nhóm đề tài nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò lai F1 giữa bò tót (Bos gaurus) và bò nhà (Bos taurus) tại vùng giáp ranh Ninh Thuận - Lâm Đồng, đang chuẩn bị các bước để phối giống bò lai.
Viện Công nghệ sinh học giám định di truyền 8 bò tót lai F1, 5 mẫu bò bản địa và 1 mẫu vật bò tót hiện có tại xã Phước Bình bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Teaction) đã khẳng định đàn bê lai là những cá thể thực thụ lai giữa bò tót và bò nhà.
Hiện nhóm đề tài đã dựng chuồng trên diện tích 1 ha và trồng cỏ voi để chăm sóc, giám sát quá trình sinh trưởng, động dục đàn bò tót lai.
Đàn 8 bò tót lai F1 (4 con cái và 4 đực) được thả sinh hoạt chung với 10 bò cái nhà lai zê bu ngay trong khuôn viên chuồng trại.
Để tạo ra bò tót lai F2, có 3 phương pháp lai tạo. Dùng bò đực lai bò tót F1 cho nhảy trực tiếp với đàn bò (lai zê bu) để tạo ra đàn bò lai bò tót F2; sử dụng tinh đông khô của các giống bò thịt Brahman, Red Angus để thụ tinh nhân tạo cho đàn cái lai bò tót F1, tạo ra đàn bò lai bò tót F2; cho bò đực lai F1 phối trực tiếp với bò cái lai F1 để tìm cá thể F2 mang tính trội của bò tót.
Theo ông Nguyễn Công Vân, việc sử dụng bò lai bò tót F1 để tạo ra đàn bò lai F2 có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa nguồn gen quý từ động vật hoang dã vào vật nuôi nhằm cải thiện năng suất, chất lượng, khả năng chống chọi với bệnh tật và đáp ứng với điều kiện chăn nuôi quảng canh, kém thuận lợi.
Được biết, từ cuối năm 2008 đến nay, tại Vườn quốc gia Phước Bình xuất hiện bò tót đực nặng gần 1 tấn tách bầy, thường xuyên về sống chung với đàn bò nhà của người dân xã Phước Bình, H.Bác Ái và cho ra đời hơn 10 bê lai có thể trọng cao to, khác hẳn bò nhà. (Thanh Niên 9/9) đầu trang(
Tỉnh Quảng Nam sử dụng nguồn vốn ODA hơn 164 tỷ đồng để triển khai dự án trồng rừng sản xuất quy mô hộ gia đình, dự án KFW (Ngân hàng tái thiết Đức) chăm sóc rừng trồng tại các huyện trung du, miền núi; thực hiện trong giai đoạn 2013 - 2015. (Thanh Niên 9/9) đầu trang(
Năm 2013, huyện Đầm Dơi được giao chỉ tiêu trồng mới 20 ha rừng và 4.000 cây phân tán; ngoài ra còn phải trồng thêm 50 ha rừng sau khai thác. Đến thời điểm này, công tác trồng rừng trên địa bàn huyện đang được đẩy nhanh tiến độ.
Ban quản lý rừng phòng hộ Đầm Dơi là đơn vị có diện tích trồng rừng nhiều nhất huyện với 15 ha rừng trồng mới và 50 ha rừng trồng sau khai thác. Hạt Kiểm lâm huyện Đầm Dơi cũng được giao trồng mới 5 ha rừng và 4.000 cây phân tán, diện tích trồng rừng năm nay tập trung chủ yếu ở hộ dân.
Ngay từ đầu mùa vụ, các chủ rừng đã xây dựng kế hoạch trồng rừng, phân công cán bộ xuống địa bàn để hỗ trợ kỹ thuật và vận động nhân dân trồng rừng. Hộ dân trồng rừng sản xuất mới năm nay còn được hỗ trợ 3 triệu đồng/ha từ nguồn hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Thủ tướng để ban bờ, mua trái giống và thuê nhân công.
Khó khăn nhất vẫn là khâu ban gạt bờ để tạo mặt bằng trồng rừng với giá thành gần 20 triệu đồng/ha, nhiều hộ dân có diện tích trồng rừng lớn không có khả năng thuê phương tiện cơ giới. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và những hỗ trợ kịp thời của các chủ rừng, nên đến thời điểm này công tác trồng rừng trên địa bàn huyện Đầm Dơi đã cơ bản hoàn tất. (Đài PT - TH Cà Mau 9/9) đầu trang(
Được sự hỗ trợ từ các chương trình, dự án BCC, Lâm nghiệp Cộng đồng, VIRI, nguồn ngân sách vốn 30a, từ đầu năm đến nay, huyện Đakrông đã thực hiện trồng một số mô hình phát triển lâm sản ngoài gỗ gồm 50 ha cây bời lời đỏ, 33 ha cây mây nước và 5 vườn ươm cây mây với quy mô 20.000 cây/ vườn.
Hiện tại, nhu cầu thu mua nguồn nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn tỉnh để phục vụ cho việc phát triển một số ngành nghề như đan lát, làm hương là rất lớn. Vì vậy, huyện Đakrông đã định hướng chú trọng phát triển ngành lâm nghiệp cũng như lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn, lựa chọn phát triển những loại cây phù hợp, cho giá trị kinh tế cao. Đồng thời tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm cây mây nước và bời lời nhằm duy trì bền vững sự phát triển của loài cây lâm sản ngoài gỗ, giúp nâng cao đời sống cho các hộ dân sống gần rừng. (Báo Quảng Trị 10/9) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh đã có văn bản giao Sở Tài nguyên và Môi trường khẩn trương lập dự án trồng mới 100 ha và phục hồi 30 ha rừng ngập mặn ven biển xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn.
Dự án trên có tổng mức đầu tư khoảng 24 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, dự kiến sẽ triển khai thực hiện trong năm 2014-2015. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/9; Quangngai.gov.vn 10/9) đầu trang(
Từ nay đến năm 2022, Kon Tum sẽ phấn đấu trồng được từ 800 đến 1.000ha sâm Ngọc Linh, chia thành 3 giai đoạn, với tổng kinh phí đầu tư trên 567 tỉ đồng.
Ngày 9/9, tin từ UBND tỉnh Kon Tum cho biết, tại buổi làm việc mới đây giữa tỉnh với đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ bàn biện pháp triển khai dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh”, đã thống nhất kế hoạch từ nay đến năm 2022, Kon Tum sẽ phấn đấu trồng được từ 800 đến 1.000ha sâm Ngọc Linh, chia thành 3 giai đoạn, với tổng kinh phí đầu tư trên 567 tỉ đồng.
Theo đó, từ nay đến năm 2022, dự án sẽ đầu tư khoa học, công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống, tạo ra số lượng cây giống lớn, dự kiến từ 4 -5 triệu cây giống/năm.
Được biết, dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh” được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt chủ trương đầu tư vào tháng 6/2013. (Công An Nhân Dân 10/9; Tiền Phong 10/9) đầu trang(
Tại hội thảo “Quy hoạch môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học trong đánh giá tác động môi trường” do Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam và Hiệp hội Đánh giá Tác động Môi trường Hàn Quốc phối hợp tổ chức, các chuyên gia nước ngoài cho rằng hiện ở Việt Nam, hầu hết các báo cáo đánh giá tác động môi trường rất ít chú ý đến tác động tiềm tàng của dự án đến đa dạng sinh học, do vậy các tác động chủ yếu đến đa dạng sinh học hầu như bị bỏ qua trong quy trình đánh giá tác động môi trường hiện nay.
Việt Nam xếp ở vị trí thứ 16 về đa dạng sinh học trên toàn thế giới đồng thời được xem là một trong 12 trung tâm giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới, mức độ đa dạng sinh học của hệ cây trồng ở Việt Nam cũng khá cao. Tuy nhiên, diện tích rừng, hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất đã giảm từ 72% (năm 1909), xuống 43% (năm 1941) và 28% (năm 1995).
Trong gần 5 thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn đã giảm 80%, khoảng 96% các dải san hô bị đe dọa hủy hoại nghiêm trọng, các giống loài động vật và thực vật ở Việt Nam do nơi cư trú bị tàn phá, nguồn nước bị cạn kiệt và khai thác quá mức nhất là nạn săn bắt đã làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái trầm trọng. (Sài Gòn Giải Phóng 9/9) đầu trang(
Hiện nay, ở khu vực Trạm Kiểm lâm số 7 của Vườn quốc gia Yok Đôn và vùng rừng xã Cư M’Lan thuộc huyện Ea Súp (Đắk Lắk) thường xuyên xuất hiện một đàn voi rừng, với 20 cá thể voi về cư trú, tìm kiếm thức ăn. Tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị chức năng tăng cường bảo vệ, tránh xung đột giữa người với voi rừng.
Tỉnh chỉ đạo Vườn quốc gia Yok Đôn, các Ban Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao hoặc cho thuê rừng, đất rừng quản lý, sử dụng được xác định là nơi có voi rừng thường xuyên cư trú, tìm kiếm thức ăn, hành lang di chuyển của voi có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chuyên môn về bảo tồn voi để giám sát, quy hoạch, bảo tồn các sinh cảnh, xây dựng nguồn thức ăn, nước uống cho voi.
Tỉnh cũng nghiêm cấm và xử lý nghiêm các cá nhân, tập thể cố tình săn bắn trái phép, gây hại cho voi rừng. Các đơn vị chức năng tổ chức hướng dẫn các tổ, đội bảo vệ và các hộ gia đình sinh sống gần rừng sử dụng các loại vật dụng có tiếng kêu to, đánh trống, gõ kẻng, đốt đất đèn... để xua đuổi đàn voi rừng mỗi khi về phá hoại hoa màu của người dân. Các địa phương cấm người dân vào rừng ban đêm hoặc ngủ lại nương rẫy ở những khu vực có voi rừng về tìm kiếm thức ăn thường xuyên.
Theo Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, trên địa bàn tỉnh hiện chỉ còn từ 80 đến 110 con voi rừng, giảm từ 440 đến 470 con so với năm 1980. Chỉ riêng từ năm 2009 đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã có 17 con voi rừng bị chết do nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó, có nhiều con voi rừng bị bắn, bẫy chết do săn trộm lấy ngà. (VietnamPlus.vn 9/9; Tamnhin.net 9/9) đầu trang(
Chất keratin và các thành tố khác có trong sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh mà còn có thể gây độc cho con người. Thông tin này khiến nhiều người tin vào tác dụng chữa bệnh của sừng tê giác phải giật mình.
Ông Trần Việt Hưng, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam cho biết, sừng tê giác do chất keratin (chất sừng) tạo ra, tương tự như thành phần cấu tạo của móng tay. Không có bất kỳ bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng, sừng tê giác có thể chữa được bệnh ung thư hay các bệnh khác như nhiều người vẫn lầm tưởng. Hơn thế nữa, theo các bác sĩ Đông y, hầu hết sản phẩm được cho là sừng tê giác đang có mặt trên thị trường đều là "hàng giả".
Đồng quan điểm này, bà Trần Thanh Lan, Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã WWF cũng khuyến cáo, sừng tê giác chủ yếu được cấu tạo bởi chất sừng, cũng như thành phần của tóc và móng tay con người. Tuy nhiên, lâu nay nhiều người châu Á vẫn tin sừng tê giác dạng bột có thể chữa bất cứ bệnh gì từ đau đầu tới bệnh gút...
Thực tế từng có người bị nhiễm độc da dị ứng do uống sừng tê giác. Bệnh nhân uống sừng tê giác để chữa nhiệt miệng lâu ngày. Sau khi uống hai hôm, chị bắt đầu thấy xuất hiện các nốt mụn mủ và ban đỏ ở mặt, ngứa và đau rát, sau đó lan ra hai cánh tay, sốt nhẹ.
Bà Lan cho biết, năm 1983, WWF và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) công bố kết quả của nghiên cứu dược lý mà các nhà khoa học đã tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Công ty Dược phẩm Hoffmann-LaRoche. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào chứng tỏ sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh dù là bệnh dễ nhất như hạ sốt. Sừng tê giác về bản chất hoá học giống như chiếc móng tay, được làm bằng tóc kết bó lại với nhau.
Việc cho rằng, sừng tê giác có khả năng hạ sốt, chống viêm, giảm đau, chống co thắt... là hoàn toàn bịa đặt. Có chăng là tâm lý của người sử dụng, tự cho rằng nó có tác dụng nên cũng tự huyễn hoặc mình. "Không phải vì muốn bảo tồn loài tê giác mà tôi nói thế. Nhận thức của nhiều người cần thay đổi để bảo vệ sức khoẻ của mình", bà Lan nhận định.
Theo ông Trần Việt Hưng, sừng tê giác được nhiều người sử dụng, tuy nhiên ít ai biết thành phần cụ thể của nó là gì. Sừng tê giác có nhiều thành phần khá phức tạp với nhiều loại hoạt chất có nguồn gốc xa lạ với con người, nên sừng tê giác hoàn toàn có nguy cơ gây các phản ứng dị ứng và nhiễm độc. Vì vậy, người dân cần thận trọng khi sử dụng. Niềm tin vào công dụng chữa bách bệnh và thể hiện đẳng cấp khi sở hữu sừng tê giác khiến nhu cầu về sản phẩm này của người Việt ngày càng tăng dẫn đến tình trạng nhập lậu vào Việt Nam ngày càng lớn.
Ông Trần Vĩnh Hải, Hội Đông y Hà Nội cho biết, người ta thường dùng sừng tê giác bằng cách mài trong nước đun sôi để nguội bằng dụng cụ sành sứ ráp cho tới khi nước mài trở thành dịch trắng đục như sữa để uống hay tán thành bột mịn uống. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng đến nay chưa thấy có công trình nghiên cứu khoa học nào được công bố về vấn đề này.
Khoa học ngày nay cũng mới chỉ xác định được một số chất chứa trong sừng như keratin, canxicarbonat, canxiphotphat, axit amin. Nước chiết có phản ứng alcaloid, chưa phát hiện được hoạt chất tác dụng. Xét về y học hiện đại thì không có cơ sở để nói sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh.
Cũng theo ông Trần Vĩnh Hải, tác dụng trong đông y của sừng tê giác cũng chỉ đúc rút từ kinh nghiệm truyền miệng của các thầy thuốc. Việc sừng tê giác gây ngộ độc, dị ứng cho người sử dụng là rất dễ hiểu vì các chất chứa trong sừng tê giác ngoài thành phần chính là chất sừng thì có nhiều thành phần không rõ tác dụng. Chất sừng, hay canxi này đi vào cơ thể nó cũng sẽ giống mọi loại chất khác, sẽ bị đào thải qua đường tiêu hóa. Trường hợp người nào đó có hệ tiêu hóa nhạy cảm thì rất dễ dị ứng và nhiễm độc. Việc tin vào khả năng chữa bệnh của sừng tê giác là không có cơ sở. (Khoa Học&Đời Sống 10/9) đầu trang(
Mục đích chuyển đổi rừng để trồng cây cao su phát triển kinh tế, người dân có việc làm nhưng cả hai giả định này đều sai. Trong khi có thể khẳng định những vùng rừng khai thác chuyển đổi để trồng cao su đó không phải là rừng nghèo kiệt. Nhiều nơi rừng còn tốt, gỗ đường kính cao đã bị phá.
Thạc sĩ Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE) đã chia sẻ như vậy sau thông tin dư luận đặt vấn đề về sự phù phép biến rừng giàu thành rừng nghèo để chuyển đổi, trồng cây công nghiệp.
Mấy ngày gần đây, báo chí liên tục lên tiếng về việc lợi dụng danh nghĩa trồng rừng hoặc chuyển đổi rừng nghèo để khai thác gỗ. Các tỉnh Tây Nguyên đã chuyển đổi hàng trăm ngàn hécta rừng để trồng cao su theo chủ trương này. Ông có bất ngờ với thông tin này không và vì sao? Thạc sĩ Phạm Quang Tú cho biết: Tôi không bất ngờ. Thực ra chính sách chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang rừng kinh tế, đặc biệt là trồng cao su ở Tây Nguyên đã được triển khai từ mấy năm nay.
Thứ hai là chính sách đó đã có rất nhiều các ý kiến khác nhau. Người làm kinh tế thì cho rằng rừng nghèo không có tác dụng, chuyển sang trồng cao su cho có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên có 2 vấn đề nảy sinh ở đây. Thứ nhất là khi chuyển sang cao su, quy hoạch cao su ở Việt Nam đến đâu? Bởi vì ở Việt Nam có rất nhiều trường hợp cả nhà lập định chính sách lẫn người dân mỗi khi thấy sản phẩm giá trị tăng lên là ồ ạt nhảy vào mà không đánh giá đầy đủ mối quan hệ cung cầu của thị trường thế giới.
Chúng ta đang tham gia sâu hơn vào cuộc chơi toàn cầu và một trong nguyên tắc bất di bất dịch là phải hiểu được quy luật của cung cầu thế giới.
Chúng ta với tư cách của một anh tiểu nông không tìm hiểu thị trường thế giới như thế nào mà chỉ thấy một sản phẩm nào đó trong một giai đoạn nhất định nào đó giá tăng lên là cả nhà nước và người dân ồ ạt nhảy vào. Dẫn đến hiện tượng phá vỡ cung cầu trên thị trường. Điển hình là câu chuyện cafe giai đoạn 1995-1998 chúng ta đã tưởng rằng cafe Việt Nam có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới nên đã ồ ạt trồng cafe.
Chính sự tăng trưởng quá nóng về sản lượng cafe Việt Nam chỉ chú ý số lượng mà không chú ý chất lượng đặc biệt là chế biến sau sản phẩm nên sản phẩm cafe Việt Nam bị rơi vào suy thoái.
Thứ hai là cái mà người ta gọi là rừng nghèo kiệt và người ta cho rằng rừng đó không có tác dụng phòng hộ, bảo tồn nữa nên phải loại bỏ đi là quan điểm sai. Bản chất của Việt Nam là đới nhiệt đới nên cần phải giữ rừng tự nhiên. Do quá trình phát triển có thể chặt phá đi dẫn đến nghèo kiệt nhưng bản chất của rừng nhiệt đới là khả năng phục hồi rất cao. Nên nói đó là rừng nghèo rồi phá đi thì chưa chắc đã là đúng.
Hơn nữa doanh nghiệp, các công ty lợi dụng ở chỗ cho rằng rừng này nghèo kiệt, buộc phải chuyển đổi rồi hợp lý hóa bởi các cơ quan chính quyền. Nhưng thực tế diện tích rừng đó không hề nghèo kiệt. Chưa kể đến là có một số doanh nghiệp lợi dụng giấy phép chuyển đổi rồi lan sang vùng giàu hơn và mục tiêu lớn nhất là khai thác gỗ.
Về vấn đề phá rừng ở Tây Nguyên để trồng cao su, cafe.... Viện Tư vấn Phát triển đã có những nghiên cứu gì và cho kết quả ra sao?- Thạc sĩ Phạm Quang Tú cho biết: Thực ra chúng tôi chưa nghiên cứu nhiều về vấn đề này. Nhưng từng có nghiên cứu việc chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su và quản lý tranh chấp đất lâm trường thì thấy rằng có những vấn đề cần báo động.
Báo động thứ nhất là hiệu quả kinh tế của phá rừng trồng cao su tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trên một diện tích đất nhưng thực tế kết quả đạt được chưa hẳn đã là cao. Thứ hai là khi làm chính sách chuyển đổi rừng trồng cao su, mục tiêu là tạo công văn việc làm cho người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Thế nhưng cả hai giả định này ở rất nhiều trường hợp đã không xảy ra và không đi theo đúng cái mà người làm chính sách mong muốn.
Chất lượng, giá cao su không tốt không mang lại hiệu quả kinh tế còn người dân tộc thiểu số thì vẫn khó khăn và không có việc làm.
Ở Lộc Bảo, Lộc Bắc, Bảo Lâm... tỉnh Lâm Đồng có 16-17 công ty cao su ở các nơi đến để trồng cao su. Các công ty này chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước lên và mang theo người thân, quen để trồng.
Trong trường hợp chính sách bị lợi dụng biến báo thành mục đích phá rừng, ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm đầu tiên? Theo Thạc sĩ Phạm Quang Tú: Đây là chủ trương chung và sau đó được sự hưởng ứng của rất nhiều tỉnh. Mặc dù các nhà khoa học đã cảnh báo rất nhiều.
Thế nhưng ở góc độ người nghiên cứu thì tôi không loại trừ lợi ích của các nhóm, đặc biệt là những doanh nghiệp móc ngoặc với nhà quản lý ở địa phương. Và thực tế như thế nào thì phải hỏi ngay từ chính những dự án được cấp phép. Ví dụ như một xã ở Lâm Đồng có 15 công ty trồng cao su thì phải hỏi là tại sao?
Trách nhiệm ở đây nếu không cẩn thận sẽ bị đẩy từ trên xuống. Tôi nghĩ rằng trách nhiệm cao nhất vẫn là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tham mưu cho Chính phủ chuyển đổi hơn 100.000 ha đất rừng sang trồng cao su. Do vậy bộ này phải lĩnh trách nhiệm trước hết.
Tiêu chí ở đâu ra mà duyệt 100.000 ha và khi phân bổ chỉ tiêu xuống các tỉnh thì dựa trên cơ sở nào?
Thứ hai rồi mới đến chính quyền địa phương là cơ quan thẩm định, cấp phép. Bởi UBND tỉnh chịu trách nhiệm cấp phép, các sở, chi cục là cơ quan tham mưu liên đới.
Thạc sĩ Phạm Quang Tú cảnh báo: Nguy cơ Việt Nam mất những cánh rừng tự nhiên là rất cao. Để nói đến một lúc nào đó Việt Nam không còn một hecta rừng tự nhiên nào thì còn xa. Thế nhưng nguy cơ Việt Nam cạn kiệt rừng tự nhiên là rất lớn và đã quá rõ ràng.
Do vậy tôi cho rằng, Việt Nam phải bằng mọi cách giữ những cánh rừng tự nhiên hiện nay. Nếu chúng ta vẫn làm và dễ dãi chuyển đổi rừng đặc dụng, phòng hộ sang rừng trồng như hiện nay thì chúng ta chắc chắn gặp hệ lụy trong tương lai. (Đất Việt 10/9) đầu trang(
Nhằm đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các lâm trường, tháng 3 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định yêu cầu các công ty lâm nghiệp trên cả nước tiếp tục chuyển đổi thành các công ty TNHH nhà nước một thành viên lâm nghiệp.
Tuy nhiên, sau chuyến đổi có không ít các đơn vị lâm bế tắc, hoạt động sản xuất cầm chừng. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Yên Bình, tỉnh Yên Bái (Công ty Yên Bình) là một ví dụ điển hình.
Bắt tay thực hiện Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị, tỉnh Yên Bái đã chuyển đổi, sắp xếp 4 lâm trường quốc doanh thành 4 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gồm: Yên Bình, Thác Bà, Việt Hưng, Ngòi Lao.
Theo báo cáo của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Yên Bái, dư nợ của Công ty Yên Bình đến ngày 19-8-2011 là gần 4 tỷ đồng; trong đó nợ gốc là 2,74 tỷ, nợ lãi hơn 1,2 tỷ.
Ông Phạm Đăng Hân - Giám đốc Công ty Yên Bình thừa nhận: Khi chuyển từ mô hình lâm trường quốc doanh sang công ty TNHH một thành viên, vốn điều lệ của công ty là hơn 3,5 tỷ đồng, nhưng vốn thực tế để hoạt động là không có, trong khi còn phải "ôm” khoản nợ lên tới hơn 6 tỷ đồng. Bởi thế, công ty đã nhiều lần buộc phải khai thác rừng non 4 - 5 tuổi (chưa đến tuổi khai thác) với giá trị thấp, hoặc thế chấp cây trồng trước kỳ thu hoạch.
"Nếu khai thác rừng keo và bạch đàn từ 8 - 10 tuổi thì sản lượng sẽ đạt từ 100 - 150m3/ha, giá bán từ 70 - 100 triệu đồng. Còn khai thác ở thời điểm mới 4 - 6 tuổi thì sản lượng chỉ đạt 30 - 60%/ha và giá bán chỉ ở mức 15 - 30 triệu đồng. Dù biết rõ bán non là thiệt hại rất lớn nhưng vì "đói” vốn nên vẫn phải cắn răng bán”- Ông Hân nói.
Theo báo cáo của công ty, trước đây Lâm trường Yên Bình hoạt động theo vốn ngân sách nhà nước, được bao tiêu sản phẩm và quản lý 4.442ha. Nhưng đến năm 2006, sau khi sắp xếp lại nông, lâm trường quốc doanh, Công ty Yên Bình chốt sổ diện tích quản lý cuối cùng là 1.800ha. Nhưng đến nay, Công ty Yên Bình chỉ quản lý được hơn 600ha, diện tích còn lại người dân đang khai thác, sử dụng.
Để tháo gỡ khó khăn, Công ty Yên Bình đã tiến hành cơ chế khoán trên cơ sở cả 2 bên đều có lợi, thậm chí tạo sự chủ động, tâm lý thoải mái cho người dân nhận khoán.
Đó là, khoán 50/50 trên cơ sở công ty hỗ trợ đất, giống, phân bón còn người nhận khoán chăm sóc và bảo vệ, hưởng lợi ích ngang nhau sau khi thu hoạch. Riêng đối với diện tích ở những khu vực khó khăn, công ty chỉ hưởng lợi 40%, còn lại 60% dành cho người nhận khoán. Hình thức thứ hai là giao khoán thẳng, công ty nhận về 20 - 25% và chỉ làm công tác tư vấn về giống, kỹ thuật và kiểm tra, còn lại khoán toàn bộ cho người nhận khoán. Với hình thức này, người nhận khoán phải đặt cọc một khoản nhất định với công ty để bảo đảm không bỏ đất và rừng giữa chừng.
Mặc dù đã tiến hành giao khoán, song việc "vực dậy” đối với công ty Yên Bình không đơn giản. Nguyên nhân theo ông Huân hiện công ty lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng. Từ năm 2004 trở lại đây, nhà nước không cho vay vốn, muốn duy trì hoạt động, công ty phải huy động toàn bộ vốn từ người dân và thậm chí từ chính cán bộ, công nhân viên công ty với hình thức vay lương của họ. Không có vốn dẫn tới tình trạng trì trệ trong sản xuất, hệ quả là đất bị người dân chiếm ngày càng gia tăng. Theo báo cáo, hiện đất do Công ty Yên Bình quản lý đã bị người dân bản địa lấn chiếm hơn 80% diện tích.
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Đại Đồng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, hiện công ty Yên Bình không đủ sức quản lý, dẫn tới tình trạng dân lấn chiếm đất rừng sản xuất, nhất là khi phần lớn hộ dân trong xã chủ yếu sống dựa vào trồng rừng, còn diện tích đất nông nghiệp rất ít (chỉ có 66ha).
Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng căn bản nhất vẫn là tiềm lực không có, dẫn đến việc tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên cầm chừng. Ngoài các yếu tố như nguồn vốn, thì sự thiếu năng động, khả năng tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh… của các công ty lâm nghiệp còn yếu và hạn chế, khiến khối kinh tế vốn đầy tiềm năng và thế mạnh này không đạt được kết quả như mong muốn. Do đó, đã đến lúc phải tìm ra giải pháp, cơ chế cho những công ty lâm nghiệp. Và khi giải quyết được bài toán này thì tất nhiên mâu thuẫn, tranh chấp giữa người dân với công ty lâm nghiệp cũng được giải quyết.
Theo ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE), trước kia, các nông-lâm trường được Nhà nước bao cấp, nay phải tự chủ, nên đã rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính. Để tháo gỡ khó khăn nêu trên đồng thời để quản lý đất nông - lâm trường hiệu quả, ông Tú cho rằng việc cần thiết là bóc tách các phần diện tích tranh chấp, lấn chiếm trả lại cho chính quyền địa phương làm cơ sở giao cho các hộ dân đảm bảo diện tích canh tác.
Mặt khác, ông Tú cũng đề xuất khi đã thực hiện các bước trên, đối với phần quỹ đất còn lại của lâm trường, tổ chức cần tiến hành thực hiện cho thuê đất trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng, nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng. (Đại Đoàn Kết 9/9) đầu trang(
Ngày 9-9, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đăk Nông đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hồ Hữu Hiển, trú tại tỉnh Bình Phước, là Giám đốc Công ty TNHH Vinh Hiển, trụ sở tại Huyện Bù Đăng về hành vi hủy hoại rừng.
Theo kết quả điều tra, năm 2010, Công ty TNHH Vinh Hiển và Công ty TNHH Kiến Trúc Mới đã ký kết hợp đồng triển khai thực hiện dự án khai thác quản lý và bảo vệ rừng. Theo đó, Công ty TNHH Kiến Trúc Mới đồng ý giao cho Công ty TNHH Vinh Hiển nhận khai hoang, thiết kế trồng mới 600 ha cao su đại điền tại các Tiểu khu 1528, 1534, thuộc địa giới hành chính xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông trên diện tích 600 ha do Công ty TNHH Kiến Trúc Mới quản lý.
Tuy nhiên sau khi ký kết hợp đồng, với cương vị là Giám đốc, Hiển đã đứng ra tổ chức, thuê người chặt phá trái phép 38 ha rừng khoanh nuôi bảo vệ, gây thiệt hại với tổng trị giá ước tính khoảng gần 10 tỷ đồng. Sau khi gây án, Hồ Hữu Hiển bỏ trốn khỏi địa phương cho đến nay.
Ngày 22-8, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đăk Nông cũng đã ra quyết định truy nã đặc biệt đối với Hồ Hữu Hiển về tội hủy hoại rừng theo điều 189 của Bộ Luật hình sự, đồng thời kêu gọi Hiển sớm ra đầu thú để hưởng khoan hồng của pháp luật. (Nhân Dân 10/9) đầu trang(
Lợi dụng chủ trương của UBND tỉnh Quảng Bình cho chuyển đổi một số diện tích rừng nghèo kiệt thuộc rừng phòng hộ Long Đại sang trồng rừng kinh tế, thời gian qua hàng trăm người dân ở hai bản Đá Chát và Bến Đường của xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh ồ ạt kéo nhau lên “xẻ thịt” rừng phòng hộ. Ngay cả những phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt cũng bị chặt phá.
Từ cầu Đá Chát, thuộc nhánh Tây đường Hồ Chí Minh, qua trung tâm xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, leo lên con dốc dựng đứng là cánh rừng già trên núi đá, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại. Rừng ở đây tan hoang với ngổn ngang cây bị đốn hạ chỉ còn trơ gốc, thậm chí người ta còn phóng hỏa đốt rừng sau khi “thanh toán” xong cây cổ thụ.
Từ khi cây keo lai lên giá (50 triệu đồng/1ha), người dân thi nhau phá rừng dành đất để trồng keo lai mà không hề có sự quản lý, giám sát của chính quyền cũng như chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại. Trước đây, đất rừng còn nhiều, các hộ chỉ khai hoang ở những khu vực rừng nghèo kiệt phía ngoài để trồng keo lai nên mới có kiểu rừng đan xen dạng da báo. Hết đất rừng nghèo kiệt, họ quay sang xâm hại rừng già, vừa bán gỗ lấy tiền, vừa có đất trồng rừng.
Qua tìm hiểu được biết, có khoảng 50 hộ dân ở hai bản nói trên vào phá rừng giành đất, với gần 100 ha, trong đó có 20 ha rừng đã được “khai hoang” hoàn tất. Cạnh đó, thêm 100 ha rừng trong dự án phục hồi đã 20 năm nay cũng được người dân phát luống, chia ranh giới chờ khai tử.
Được biết, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại bố trí 7 cán bộ và nhân viên “trấn giữ “ cách nơi phá rừng không xa, phía ngoài còn có Trạm Kiểm lâm Trường Sơn, thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh, nhưng hình như việc dân phá rừng họ không hề hay biết.
Ông Nguyễn Văn Trị, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Đại lúc đầu vẫn bao biện, cho rằng khu vực đó là rừng nghèo kiệt, không có cây to. Nhưng trước những bằng chứng mà phóng viên cung cấp, cuối cùng ông cũng thú nhận là đã 2 năm nay ông không vào rừng được, do đau yếu. Lực lượng của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại mỏng, dân lại lén lút phá, đốt rừng vào ban đêm nên gặp rất nhiều khó khăn. (Tiền Phong 9/9) đầu trang(
Chỉ trong một thời gian ngắn, gần một trăm héc ta đất rừng tại tiểu khu 229 và 236A thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) Sông Tiên huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) quản lý đã bị người dân chặt phá, lấn chiếm trái phép.
"Chỉ mới 2 tuần mà gần trăm héc ta rừng quanh đập sông Tiêm đã bị chặt phá. Đập sông Tiêm có ý nghĩa rất quan trọng, là nguồn nước tưới tiêu cho hàng trăm héc ta ruộng của người dân nơi đây, nếu tình trạng chiếm đất phá rừng cứ tiếp tục diễn ra với tốc độ như thế này, chẳng bao lâu nữa đập Sông Tiêm sẽ thiếu nước. Đến khi đó không biết sẽ có những hệ lụy gì sẽ kéo theo" – một người dân sống gần đó dẫn đường cho biết.
Ông Nguyễn Hữu Thinh – Phó Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm - cho biết: "Đầu tháng 8/2013, chúng tôi phát hiện sự việc người dân tự ý lên chặt phá, lấn chiếm đất rừng (thuộc đối tượng rừng 1C) và đất lâm nghiệp trái phép. Chúng tôi đã phối hợp với các lực lượng tiến hành các biện pháp để ngăn chặn. Đến thời điểm này, chúng tôi đã xác định được gần 40 hộ dân ở các xã Gia Phố, Hương Vĩnh lên phá rừng, chiếm đất với tổng diện tích lên tới 75 héc ta".
"Hiện chúng tôi đang triển khai lực lượng xác định lại vùng trọng điểm, phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương kiểm tra, rà soát, xác định đúng diện tích, đối tượng vi phạm, lập hồ sơ xử lý".
Điều đáng buồn là có một số cán bộ trong Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm cũng tham gia vào việc phá rừng, chiếm đất trong đó có cả ông Nguyễn Tất Hảo – Trưởng ban Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm.
Ông Nguyễn Sỹ Lương - Hạt trưởng hạt Kiểm Lâm huyện Hương Khê cho biết, nguyên nhân dẫn tới việc tranh chấp phá rừng là do công tác tuyên truyền còn hạn chế, mặt khác trong quá trình giao đất, giao rừng còn nhiều bất cập, thiếu minh bạch.
"Hạt kiểm lâm huyện cũng đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền huyện chỉ đạo cơ quan chức năng, các xã tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người hiểu, chấp hành đồng thời huy động lực lượng ngăn chặn kịp thời các các đối tượng lấn chiếm rừng trái phép trên địa bàn. Chúng tôi cũng đang cho kiểm tra, ra soát cụ thể diện tích bị chặt phá, xâm chiếm, rà soát lại những diện tích rừng đã được giao, số diện tích bị xâm lấn, chặt phá, đồng thời, sẽ xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm" - ông Lương nói. (Dân Trí 7/9) đầu trang(
Huyện miền núi Sông Hinh (Phú Yên) là một trong những địa phương diễn ra phức tạp nạn phá rừng làm nương rẫy, gây thiệt hại hàng nghìn hecta rừng tự nhiên. UBND huyện này đang chỉ đạo các ngành chức năng và địa phương kiểm tra, thống kê số hộ và diện tích đất rừng bị lấn chiếm trái phép để xử lý.
Những năm gần đây, tình trạng phá rừng làm rẫy trên địa bàn huyện Sông Hinh diễn ra khá phức tạp, “xóa sổ” nghìn hecta rừng tự nhiên. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2013, các ngành chức năng của huyện phát hiện lập biên bản trên 10 vụ phá rừng với diện tích gần 5ha, bằng 50% diện tích rừng bị phá làm nương rẫy của cả tỉnh năm 2012.
Tại xã Đức Bình Đông và các khu vực Dốc Phường, Suối Biểu, Núi Lá thuộc xã Sơn Giang, đã có nhiều khu rừng, đất lâm nghiệp bị khai thác và lấn chiếm trái phép. Trong khi đó, ở xã Sông Hinh, nạn phá rừng làm rẫy đang diễn ra phức tạp tại các tiểu khu 316, 314 và khu vực suối Pháp, suối Ma Đói…
Tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Sông Hinh ngày càng trở nên trắng trợn. Lâm tặc không chỉ liều lĩnh tấn công lại lực lượng chức năng, mà còn tổ chức phá rừng với quy mô lớn, nhiều người.
Theo Trạm quản lý bảo vệ rừng Hòn Cồ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, từ đầu năm 2013 đến nay, đơn vị này đã phát hiện 93 người ở buôn Thinh, xã Ea Trol tham gia chặt phá rừng trồng từ năm 1992 tại tiểu khu V7.14 để lấy đất sản xuất, chủ yếu là các loại cây dầu, sao, bạch đàn. Còn theo Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh, từ trước đến nay, diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị phá, lấn chiếm trái phép để trồng sắn, mía lên đến gần 2.500ha; trong đó nặng nhất là các xã Sơn Giang (1.500ha), Đức Bình Đông (920ha), Sông Hinh (80ha).
Ông Võ Trọng Bình, Phó giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh cho biết: “Đơn vị được giao quản lý và bảo vệ hơn 19.630ha rừng, trong đó đất có rừng gần 17.390ha (gần 16.600ha rừng tự nhiên và khoảng 790ha rừng trồng). Do lực lượng bảo vệ rừng quá mỏng, lại không có đường tuần tra bảo vệ nên gặp rất nhiều khó khăn; trong khi đó lâm tặc hoạt động ngày càng tinh vi, hung hãn, sẵn sàng chống trả nhân viên bảo vệ rừng.
Đơn vị đã đề nghị UBND huyện, Sở NN-PTNT Phú Yên và các cơ quan chức năng hỗ trợ, phối hợp ngăn chặn tình trạng phá rừng tại tiểu khu V7.14; đồng thời đề nghị chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng đến người dân và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Mặt khác, đơn vị cũng đang phối hợp kiểm tra hiện trạng đất, rừng để bàn giao hơn 2.349ha đất cho địa phương quản lý. Sau đó, địa phương triển khai phương án sử dụng đất, giao đất cho các hộ dân thiếu đất sản xuất”.
Ông Trần Thanh Định, Phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh cho biết thêm, ngoài thành lập các tổ bảo vệ rừng thuộc xã, huyện cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng kiên quyết xử lý nặng các trường hợp phá rừng và chủ rừng thiếu trách nhiệm, không chủ động kiểm tra, ngăn chăn kịp thời. (Tài Nguyên&Môi Trường 8/9) đầu trang(
Ngày 6/9, trả lời PV Dân trí về việc vùng rừng lâu năm giao cho cộng đồng quản lý ở thôn Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền bị phá mà kiểm lâm không biết, ông Mai Chiến, Hạt trưởng Kiểm lâm Phong Điền cho biết, kiểm lâm đã không làm tròn trách nhiệm.
“Kiểm lâm địa bàn là người sai đầu tiên, tiếp đến là lãnh đạo kiểm lâm như chúng tôi. Kiểm lâm viên ở địa bàn, sống với rừng, với dân mà không biết phá rừng là không được. Điều này nói lên lòng tin của người dân với kiểm lâm không có. Dân biết phá rừng phản ánh lên báo mà không báo cho kiểm lâm viên thì kiểm lâm ở địa bàn đó phải xem lại mình” – ông Chiến nói.
Từ khi báo phát hiện việc rừng lâu năm tại Thanh Tân bị phá, ủy ban huyện Phong Điền và Hạt kiểm lâm huyện này đã họp nhiều lần và kiểm điểm các thành viên, cơ sở liên quan. Ngoài ra, công an và viện kiểm sát nhân dân địa phương cũng đã vào cuộc, triển khai ráo riết để tìm ra thủ phạm phá rừng và các bên liên quan nếu có.
Lãnh đạo huyện cũng đã nhóm họp với tất cả 13 cộng đồng các xã có rừng được giao quản lý (với diện tích 3.300 hecta) và đi kiểm tra lại các vùng rừng cộng đồng có cây lâu năm để xem có việc phá rừng đang diễn ra hay không.
Theo ông Chiến, sau lúc báo thông tin về phá rừng, kiểm lâm đã vào hiện trường và thu giữ được 25 súc gỗ với trọng lượng khoảng 7m3. Số gỗ này chủ yếu thuộc nhóm 7,8 nhiều nhất là gỗ trám bạc.
“Đây là bài học kinh nghiệm cho cá nhân tôi, người đứng đầu có trách nhiệm trong kiểm lâm Phong Điền và cũng như các anh em trẻ. Riêng trạm kiểm lâm Phong Sơn, nơi đã xảy ra sự việc, đã bị chúng tôi kiểm điểm gắt gao và đang tìm ra thiếu sót và sự thiếu trách nhiệm của các nhân viên đã để lâm tặc vào phá rừng” - ông Chiến trao đổi.
Riêng Chi cục Kiểm lâm tỉnh TT-Huế đã có công văn gửi huyện Phong Điền đề nghị các ban ngành phải làm ráo riết, tìm ra thủ phạm phá rừng nhằm xử phạt nghiêm minh để răn đe. (Dân Trí 7/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, ông Nguyễn Vũ Huy (trú xã Tây Giang, huyện Tây Sơn) lợi dụng việc phát rẫy trồng keo để thực hiện hành vi phát thực bì, lấn chiếm gần 3 ha đất lâm nghiệp do UBND xã Bình Thành (huyện Tây Sơn) quản lý.
Nhiều hộ dân ở thôn Phú Lạc (xã Bình Thành) phản ánh: Khoảng đầu tháng 6.2013, ông Nguyễn Vũ Huy tìm đến thôn Phú Lạc mua rẫy của một số người dân địa phương, sau đó phát thực bì để trồng keo. Tuy nhiên, không chỉ phát thực bì trong phạm vi đất rẫy đã mua, ông Huy đã lấn chiếm nhiều diện tích đất lâm nghiệp do UBND xã Bình Thành quản lý.
Nói về việc này, ông Cao Văn Mùi, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Thành, cho biết: Nhận được đơn báo cáo của người dân thôn Phú Lạc về việc phá hoại, lấn chiếm đất lâm nghiệp, ngày 26.8, địa phương đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Tây Sơn tiến hành kiểm tra thực tế tại hiện trường.
Qua kiểm tra, đo đếm tại 14,86 ha, tổ công tác xác định ông Huy đã khai thác, chặt phá 11,98 ha rừng mua của các ông Nguyễn Văn Cần, Nguyễn Văn Gần và Từ Thanh Hậu (cùng trú thôn Phú Lạc) để trồng cây keo lai. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng sản xuất do các bên tự thực hiện bằng hợp đồng viết tay chứ không có chứng nhận của cấp thẩm quyền.
Ngoài diện tích 11,98 ha nói trên, ông Huy còn thực hiện việc chặt phát, lấn chiếm 2,88 ha đất lâm nghiệp tại lô 6, khoảnh 6, tiểu khu 261 có trạng thái thực bì 1C do UBND xã Bình Thành quản lý. Đối với việc làm này, ngày 29.8.2013, UBND xã Bình Thành đã lập biên bản vi phạm hành chính về đất đai; đồng thời, ban hành quyết định đình chỉ việc lấn chiếm đất lâm nghiệp, chặt phát thực bì trồng keo trái phép của ông Huy.
“UBND xã sẽ làm việc với ông Huy yêu cầu cung cấp các giấy tờ có liên quan đến việc mua bán đất lâm nghiệp. Nếu các giấy tờ liên quan đến việc chuyển nhượng không đúng với các quy định của pháp luật, chúng tôi sẽ xem xét và đề nghị cấp thẩm quyền thu hồi lại toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp ông Huy đã mua để giao cho các hộ dân tại địa phương có nhu cầu canh tác, sử dụng. Riêng việc chặt phá, lấn chiếm 2,88 ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu 261 mà ông Huy đã thực hiện, chúng tôi sẽ có biện pháp xử lý đúng pháp luật và nghiêm minh”, ông Mùi cho biết. (Báo Bình Định 8/9) đầu trang(
Từ đầu tháng 6 đến nay, trên địa bàn Mỹ Hiệp (Phù Mỹ - Bình Định) rộ lên tình trạng một số hộ dân lấn chiếm đất lâm nghiệp, chặt phá rừng khu vực xung quanh hồ chứa nước Đại Sơn. Trong khi người dân địa phương bức xúc thì chính quyền và các ngành chức năng vẫn lúng túng, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau!
Tình trạng người dân đổ xô chặt, đốn rừng để lấn chiếm đất lâm nghiệp rộ lên từ tháng 6/2013, khi ông Năm Tươi (tên thật là Trần Văn Hùng, ở thôn Bình Tân, xã Mỹ Hiệp) khai thác rừng tại khu vực mà ông lấn chiếm trước kia khiến nhiều người khác cùng hùa theo chặt phá, đốt rừng. Mỗi ngày có khoảng 20 - 30 người ở các thôn Bình Tân, Đại Sơn, Hòa Nghĩa… mang theo dụng cụ vào rừng chặt phá, khai thác củi để bán và đốt thực bì để trồng rừng.
Theo ông Phạm Thanh Liêm, Phó chủ tịch UBND xã Mỹ Hiệp, năm 2006, hộ ông Trần Văn Hùng từng bị UBND xã phát hiện lấn chiếm 8.700m2 rừng tại khu vực gần hồ Đại Sơn, xã đã lập hồ sơ trình UBND huyện Phù Mỹ để ra quyết định xử phạt hành chính và yêu cầu khắc phục lại hiện trạng rừng. Tuy nhiên, ông Hùng không chấp hành quyết định của UBND huyện.
Mới đây, huyện Phù Mỹ có quyết định cho phép ông Hùng khai thác gỗ tại khu vực rừng mà ông lấn chiếm để trồng rừng trước đây, nhằm thu tiền nộp vào ngân sách và bàn giao đất để thực hiện dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ (gọi tắt là Dự án JICA 2) do Chính phủ Nhật Bản tài trợ.
Cũng theo ông Liêm, khu vực xung quanh hồ Đại Sơn thuộc tiểu khu 192 được xác định là đất lâm nghiệp trạng thái từ IB đến IC (đất có cây bụi, cây gỗ tái sinh rải rác, độ che phủ của tán chưa nhiều) được giao cho UBND xã Mỹ Hiệp quản lý. Mới đây, UBND huyện Phù Mỹ có quyết định giao khu vực này cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện tiến hành quản lý, khai thác nhưng UBND xã Mỹ Hiệp chưa tiến hành làm thủ tục chuyển giao.
“Để ngăn chặn tình trạng người dân vào rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp, đốt rừng trái phép tại tiểu khu 192, địa phương liên tục mở các đợt truy quét, ngăn chặn. Chúng tôi đã phát hiện, lập hồ sơ một số trường hợp vi phạm nhưng chưa biết xử lý thế nào bởi Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cho rằng các hộ dân có phát, đốt thực bì nhưng chưa trồng rừng nên chưa thể gọi là hành vi xâm hại rừng! Hiện UBND xã Mỹ Hiệp chưa thống kê được tổng số diện tích đất lâm nghiệp bị xâm hại”, ông Liêm nói.
Trong khi đó, ông Trương Văn Châu, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Mỹ Hiệp cho rằng: “Tình trạng phá rừng tại tiểu khu 192 là do một số người tung tin sẽ tiến hành thực hiện dự án JICA 2 tại khu vực này. Nhiều người dân nghe thông tin nếu ai có diện tích trong vùng dự án sẽ được Nhà nước giao đất, cấp sổ đỏ để trồng và bảo vệ rừng. Do vậy, nhiều hộ dân đổ xô vào phá rừng để lấn chiếm đất lâm nghiệp đón đầu dự án”.
Còn theo ông Lê Văn Phi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ, nguyên nhân xảy ra phá rừng là do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ tự tiến hành họp dân, bàn việc trồng rừng theo dự án JICA 2; trong khi UBND huyện và Hạt Kiểm lâm, UBND xã Mỹ Hiệp không hay biết gì về dự án này.
Cách đây 2 năm, Trung ương có đề án triển khai dự án JICA 2 tại 3 xã của huyện Phù Mỹ, riêng xã Mỹ Hiệp sẽ chính thức triển khai vào năm 2014. Tuy nhiên, nếu dân cứ xâm hại rừng, lấn chiếm đất thì dự án có thể không thực hiện tại địa phương được, lúc đó thì cả người dân và chính quyền đều không được hưởng lợi. (Kinh tế Nông thôn 9/9) đầu trang(
Sáng 7/9, Thượng tá Nguyễn Minh Đức, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Nhâm, đóng tại huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế, cho biết, đã làm thủ tục tiếp nhận và xử lý theo pháp luật đối với Lê Văn Xây (trú xã Hồng Bắc, A Lưới) từ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sê-Kông, nước bạn Lào, cùng tang vật là 1 khẩu súng CKC và 4 viên đạn.
Trước đó, Xây mang số vũ khí trên vượt biên trái phép sang Lào săn bắn thú thì bị lực lượng tuần tra thuộc Đại đội Bảo vệ biên giới Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sê-Kông bắt giữ. Thượng tá Đức cho biết thêm, qua sự việc, đơn vị còn vận động 2 đối tượng Hồ Văn Pháo (trú xã Hồng Quảng) và Hồ Văn Xíu (trú xã Hồng Bắc) giao nộp 2 khẩu súng CKC cùng 8 viên đạn.
Những khẩu súng này được các đối tượng lưu giữ từ thời chiến tranh để phục vụ cho hoạt động săn bắn thú rừng trái phép. (Công An Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý Kinh tế và chức vụ, Công an Quảng Bình chiều 9/9, cho biết: Trong ngày 8/9, lực lượng đã phối hợp với phòng cảnh sát giao thông bắt giữ xe ô tô chở hơn 5 tấn gỗ trắc thuộc diện đặc biệt quý hiếm đi qua địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Theo đó, ngày 8/9, trên tuyến quốc lộ 1A, đoạn qua thị trấn Quán Hàu (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) phòng cảnh sát giao thông phối hợp với phòng cảnh sát kinh tế, công an Quảng Bình đã phát hiện và bắt giữ xe ô tô mang biển số 77C-00471 do Nguyễn Đăng Khánh (quê Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị) điều khiển theo hướng Nam - Bắc chở hơn 5 tấn gỗ trắc (thuộc nhóm 1) không có giấy tờ nguồn gốc hợp pháp.
Lái xe Nguyễn Đăng Khánh cho biết, số gỗ trên là của ông Vũ Đức Tuấn (trú Kbang, tỉnh Gia Lai) thuê chở từ Gia Lai đưa ra Hưng Yên tiêu thụ.
Cũng trong ngày 8/9, trên quốc lộ 1A đoạn qua huyện Bố Trạch, Quảng Bình, lực lượng cảnh sát giao thông công an Quảng Bình cũng đã bắt giữ xe ô tô mang biển số 78A-00118 do Ngô Văn Tình (trú Hiệp Hoà, Bắc Giang) điều khiển chở 5 khúc gỗ trắc không có giấy tờ nguồn gốc hợp pháp.
Sau khi thu giữ tang vật và tiến hành lập biên bản xử phạt, số gỗ quý hiếm trên đã được lực lượng cảnh sát kinh tế giao cho lực lượng kiểm lâm Quảng Bình tiếp tục điều tra và xử lý theo pháp luật. (Tin Tức 10/9; Thanh Niên 9/9; Người Lao Động 10/9; Công An Nhân Dân 9/9) đầu trang(
Ông Trần Ðức Ðại, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Krông Pa, tỉnh Gia Lai cho biết, thời gian gần đây, việc thu mua gốc và rễ trắc trở nên "sốt nóng" trên địa bàn.
Người dân chủ yếu khai thác ở các xã như Ia Rsai, Chư Rcăm và Krông Năng. Việc nghiêm cấm hay bắt giữ là rất khó bởi chủ yếu là gốc, rễ và khi bị phát hiện, họ sẵn sàng vứt để chạy. Với giá từ 20.000 đến 200.000 đồng/kg trắc tùy vào đường kính gỗ, mỗi thợ rừng kiếm được trên dưới 1 triệu đồng/ngày, nếu tìm được gốc lớn thì có thể kiếm được vài triệu đồng.
Chỉ trong tháng 8-2013, Hạt Kiểm lâm Krông Pa đã bắt giữ 2,1 tấn gốc và cành trắc. Mới đây, hạt xử phạt hành chính 6,5 triệu đồng đối với Nguyễn Văn Vinh (ở phường An Bình, thị xã An Khê) về hành vi "vận chuyển lâm sản trái phép". Trước đó, hạt bất ngờ kiểm tra ô tô do Vinh điều khiển, phát hiện trên xe có 250 kg trắc (cành, ngọn). Theo lời khai của Vinh, số trắc này được Vinh mua từ người dân.
Ông Trần Ðức Ðại cũng cho biết, không hiểu sao gốc, rễ trắc lại được mua với giá cao như vậy trong khi cành và rễ nhỏ không thể dùng được vào việc gì; rất có thể bị thương lái Trung Quốc "thổi giá" để gây rối loạn thị trường. (Người Lao Động 10/9) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Cảnh sát ở Kuwait đã được phen nháo nhào khi nhận được 999 cuộc gọi cấp báo từ dân chúng về một chú sư tử đi dạo trong thành phố.
Một người đàn ông đã gọi cho cảnh sát sau khi nhìn thấy một con sư tử đang chạy rong ở khu vực Bayan. Nhiều người dân tỏ ra hoảng sợ và tìm cách tránh né “con mèo cỡ bự” này.
Các nhà chức trách đã khuyến cáo người dân tránh làm chú sư tử hốt hoảng. Ngay sau đó, con sư tử đã bị bắt và nhốt vào ghế sau của xe cảnh sát.
Hiện tại, sư tử con được nhốt vào chuồng và đang chờ để được đưa tới Công viên động vật hoang dã của Kuwait.
Được biết, chú sư tử này được một người đàn ông nuôi như là thú cưng tại nhà. Hiện chủ nhân của nó đang phải đối mặt với các cáo buộc từ phía nhà điều tra. (Người Đưa Tin 10/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||