Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Đó là một trong những ý kiến chỉ đạo của ông Lê Trọng Quảng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu tại buổi kiểm tra tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp, chi trả dịch vụ môi trường rừng và xây dựng nông thôn mới tại 5 xã: Thèn Sin, Bản Giang, Bản Hon, Bản Bo, Sơn Bình (huyện Tam Đường), ngày 6/9.
Báo cáo tình hình thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, một số địa phương đã có cách làm hay, sáng tạo trong triển khai thực hiện như: chi trả theo nhóm hộ, theo hộ và theo cộng đồng để UBND tỉnh sớm có kế hoạch trong chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2013 và những năm tiếp theo; chi trả đúng đối tượng, diện tích đất rừng được khoanh nuôi bảo vệ… Nhờ đó, tỷ lệ che phủ rừng ở các xã ngày càng tăng, bà cùng nâng cao ý thức chăm sóc, bảo vệ rừng…
Kết thúc buổi kiểm tra, ông Lê Trọng Quảng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo: Về vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng, huyện Tam Đường cần khẩn trương rà soát lại các đối tượng được hưởng lợi; huyện cùng các xã nghiên cứu chính sách gắn chi trả dịch vụ môi trường rừng với sản xuất nông nghiệp như: trích tiền chi trả môi trường rừng để đầu tư mua cây, con giống cấp cho nhân dân hoặc làm nhà văn hóa xã, bản, đường giao thông thôn để người dân cùng được hưởng lợi… (Báo Lai Châu 7/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 5/9, Đoàn công tác của Bộ NN&PTNT do Phó Cục trưởng Cục phát triển rừng và Lâm nghiệp Triệu Văn Lực làm Trưởng đoàn đã làm việc với Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước về việc chuyển đổi sử dụng rừng sang làm thủy điện và công tác phòng chống cháy rừng, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng của tỉnh.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Bình Phước, diện tích rừng chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện từ năm 2006 đến nay là 672,703ha gồm 3 Nhà máy thủy điện Đắk Glun, thủy điện Đắk Ka và thủy điện ĐaM’Lo.
Sở NN&PTNT Bình Phước đã triển khai Chương trình bảo vệ và phát triển năm 2013 đến các dự án cơ sở. Theo kế hoạch năm 2013 tỉnh sẽ trồng 117ha nhưng chưa triển khai thực hiện được do chưa thu hồi, đền bù giải tỏa đất. Tỉnh đang tiếp tục thực hiện trồng 82ha rừng sản xuất. Tỉnh đã thực hiện giao khoán bảo vệ 7.450ha rừng phòng hộ, 25.618ha rừng đặc dụng và khoanh nuôi 115ha rừng tái sinh tự nhiên.
Cục trưởng Cục phát triển rừng và Lâm nghiệp Triệu Văn Lực nhấn mạnh: Đối với kế hoạch phát triển rừng và chỉ tiêu trồng rừng, Bình Phước cần tiếp tục đôn đốc kiểm tra, báo cáo cho Bộ NN&PTNTđể đánh giá tình hình thực hiện trong năm 2013. Các văn bản quản lý rừng phải được triển khai tới các cấp cơ sở để quản lý. Công tác kiểm lâm, bảo vệ rừng phải thường xuyên được kiểm tra. (Tài Nguyên&Môi Trường 6/9) đầu trang(
Tại buổi làm việc với huyện Ba Tơ ngày 6/9, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Võ Văn Thưởng yêu cầu lãnh đạo huyện làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng thông, kiên quyết xử lý các đối tượng cố tình vi phạm.
Đồng thời, huyện phải nâng cao việc tuyên truyền, quản lý, nhắc nhở người dân không vì cái lợi trước mắt mà tàn phá rừng thông để lấy đất trồng keo, bởi việc bảo vệ rừng thông ngoài lợi ích kinh tế còn góp phần tạo cảnh quan, môi trường sinh thái.
Trước đó, ông Huỳnh Thương - phó chủ tịch UBND huyện Ba Tơ cho biết, rừng thông ba lá ở các xã Ba Cung, Ba Động, Ba Thành với gần 90ha đã bị hư hỏng, chết chỉ còn trên 45ha. Do gần đây cây keo nguyên liệu có giá trị kinh tế nên người dân đã lấn chiếm trồng keo ở đất rừng thông và dưới tán rừng thông, khi cây keo lớn thì lén lút lột vỏ cho thông chết để lấy đất trồng keo. Diện tích đất rừng thông bị lấn chiếm trên 17ha. (Tuổi Trẻ 8/9; Báo Quảng Ngãi 6/9) đầu trang(
Ngày 6/9, tại xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa đã xảy ra một vụ cháy rừng phi lao phòng hộ ven biển, với hơn 3.000m2. Khu rừng bị cháy do hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp 2, phường 9 quản lý.
Ngay sau khi phát hiện đám cháy, nhân viên, xã viên của hợp tác xã cùng lực lượng kiểm lâm tham gia dập lửa. Khoảng 15 phút sau đám cháy được khống chế.
Ông Đặng Thanh Đoàn, Phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp 2, phường 9 cho biết, dù đám cháy đã lan rộng sang các khu vực xung quanh, nhưng nhờ ngọn lửa nhỏ, chỉ cháy phần thực bì mỏng rải rác trên mặt đất nên không gây thiệt hại lớn. (Báo Bình Định 7/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (Bifa) cho biết hãng đồ gỗ Mỹ Ashley đang muốn hợp tác với Bifa và các hiệp hội đồ gỗ khác để hợp tác kinh doanh và phân phối sản phẩm.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Bifa cho biết, mới đây hãng đồ gỗ có tiếng này của Mỹ đã đến làm việc với Bifa để đặt vấn đề hợp tác sản xuất các dòng đồ nội thất chất lượng cao với các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội.
Ông Thanh cho biết, Ashley không chỉ là một doanh nghiệp lớn về sản xuất mà còn là một trong những nhà phân phối sỉ và lẻ hàng nội thất có tiếng ở khu vực Bắc Mỹ. Hãng này từng đặt các doanh nghiệp đồ gỗ có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là Đài Loan, những đơn hàng đồ gỗ có số lượng lớn, lên đến hàng ngàn container. Hiện nay, Ashley muốn hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam.
Trong tháng 8, Tổng giám đốc (CEO) của Ashley cũng đã đến Việt Nam bàn về kế hoạch hợp tác với Phố Xinh, thương hiệu đang sở hữu chuỗi cửa hàng, showroom kinh doanh nội thất ở nhiều tỉnh, thành ở Việt Nam.
Đây không phải là thương hiệu sản xuất, phân phối đồ gỗ quốc tế đầu tiên đến đặt vấn đề hợp tác với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ Việt Nam. Trước đó, một thương hiệu nội thất của Thụy Điển đã ký hợp đồng gia công với một số doanh nghiệp Việt Nam nhưng có ít doanh nghiệp “trụ” lại sau một thời gian hợp tác, làm gia công cho thương hiệu này. Nguyên nhân là quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu gia công số lượng lớn, giá rẻ, và chất lượng ổn định mà đối tác đòi hỏi. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 8/9) đầu trang(
Ngày 7/9, tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên (Quảng Ninh), Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Tổ chức Phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản và Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức chương trình Giao lưu trồng rừng ngập mặn hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản.
Đây là chương trình nằm trong chuỗi hoạt động kỉ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản.
Với mục tiêu "Bảo vệ môi trường, hòa bình và hữu nghị, là biểu tượng cho tình cảm bền chặt giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Nhật Bản, là sức vươn lên vì một thế giới màu xanh", chương trình đã thu hút hàng trăm người tham gia; trong đó có hơn 60 tình nguyện viên đến từ Nhật Bản và các quốc gia khác cùng đông đảo người dân xã Đồng Rui. Dự kiến, trong 3 ngày từ 7 - 9/9, các thành viên tham gia chương trình sẽ trồng 3 hecta rừng ngập mặn tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên.
Từ năm 2007 đến nay, Tổ chức Phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản và Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã vận động, hỗ trợ trồng được 665 ha rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; trong đó, tại xã Đồng Rui đã trồng được 360 ha. Những chương trình phục hồi, trồng rừng ngập mặn đã góp phần giảm thiểu những tác động xấu đối với môi trường, xóa đói giảm nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn. (Thể Thao&Văn Hóa 7/9) đầu trang(
Nhiều doanh nghiệp mua cá sấu sống trên địa bàn TP.HCM cho biết hiện cá sấu sống được mua tại cơ sở nuôi có giá 160.000 đồng/kg, mức giá cao nhất từ trước đến nay và tăng hơn đầu năm khoảng 40.000 đồng/kg.
Theo ông Lâm Tùng Quế, giám đốc Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã TP.HCM (Chi cục Kiểm lâm TP), giá cá sấu sống tăng liên tục, kéo theo giá cá sấu giống tăng lên 400.000 đồng/con nhưng không có để bán.
“Tám tháng đầu năm nay, TP.HCM xuất chính ngạch sang Trung Quốc hơn 8.000 con cá sấu sống (tăng gấp bảy lần so với cả năm 2012)... Tuy vậy, người nuôi không nên phát triển ào ạt do thị trường cá sấu sống hiện phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, việc thương lái ép giá người nuôi có thể tái diễn nếu nguồn cung dư thừa” - ông Quế khuyến cáo. (Tuổi Trẻ 9/9) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện có 289 cơ sở nuôi cá sấu nước ngọt với tổng đàn trên 57.500 con. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp tăng cường kiểm tra các cơ sở nuôi động vật hoang dã trên địa bàn, nhằm đảm bảo an toàn cho con người, vật nuôi và môi trường xung quanh trước khi lũ về.
Các cơ sở, hộ nuôi cá sấu và cơ quan chức năng cần phối kết hợp kiểm tra kỹ rào chắn, chuồng nuôi, không để tình trạng cá sấu sổng chuồng. Thực tế, vào ngày 4/9 vừa qua, anh Tăng Thanh Hiền ở xã Phú Thành A, huyện Tam Nông (Đồng Tháp) khi đi thăm ruộng đã phát hiện 1 con cá sấu nằm dưới đường nước tưới ruộng. Con cá sấu này cân nặng 27 kg.
Được biết, cách nơi phát hiện cá sấu khoảng 3 km có cơ sở nuôi cá sấu nhưng không ai nhận. (Tamnhin.net 7/9; Thanh Niên 7/9) đầu trang(
Ngày 8.9, ông Trần Văn Thành, Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Yók Đôn cho biết, VQG đã đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk cân nhắc việc quy hoạch xây dựng thủy điện Đrăng Phốk ngay trong vùng lõi VQG này.
Theo ông Thành, ba tiểu khu 430, 431, 451, nơi dự kiến xây dựng thủy điện Đrăng Phốk, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nếu làm thủy điện sẽ ảnh hưởng mục tiêu bảo vệ rừng, môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học của VQG. Thủy điện Đrăng Phốk đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư, có công suất thiết kế 26 MW, sẽ chiếm dụng hơn 300 ha đất các loại; trong đó có 295,4 ha đất rừng thuộc VQG Yók Đôn.
Mới đây, UBND tỉnh Đắk Lắk có văn bản gửi các bộ, ngành liên quan cho biết, không nhất trí việc triển khai dự án thủy điện Ea Ktour công suất 5 MW tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Cư Yang Sin. (Thanh Niên 9/9; Nông Thôn Ngày Nay 9/9) đầu trang(
Vượt qua tất cả những luồng ý kiến phản đối, kiến nghị dừng triển khai, dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A tính đến thời điểm hiện nay đã đi được 7 năm trời. Trong suốt 7 năm ròng rã đó, chủ đầu tư tích cực công khai, minh bạch thông tin về dự án và cũng đã tốn kém không ít thời gian và tiền bạc.
Nhưng chính nhờ vào sự kiên trì đó, họ cũng dần chứng minh dự án không tác động lớn đến môi trường như một bộ phận dư luận phản ánh, đồng thời, chứng tỏ được vai trò, ý nghĩa của việc đầu tư hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đối với nền kinh tế đất nước nói chung, với nguồn điện quốc gia nói riêng.
Dù được phê duyệt hiệu chỉnh từ năm 2009 với sự thống nhất của lãnh đạo VQG Cát Tiên lúc bấy giờ (tháng 5/2009), nhưng đến năm 2011, dư luận mới bắt đầu dậy sóng sau khi bài báo đầu tiên thông tin về việc “VQG Cát Tiên mất 137ha” đăng trên báo Người lao động ngày 26/6/2011.
Từ đây những vấn đề xung quanh dự án được mổ xẻ cặn kẽ từ tính pháp lý đến vấn đề đa dạng sinh học, môi trường, an sinh xã hội. Từ đây, cũng bắt đầu nảy sinh hai luồng ý kiến phản biện nhau trong việc nên hay không nên xây dựng dự án. Thế nhưng, càng tìm hiểu sâu hơn về hai dự án này, đánh giá một cách cặn kẽ những tác động cũng như lợi ích từ dự án, dư luận đã bắt đầu có cái nhìn thiện chí hơn về Đồng Nai 6 và 6A, đặc biệt trước những cố gắng của nhà đầu tư trong việc điều chỉnh dự án theo hướng giảm thiểu tối đa ảnh hướng đến môi trường.
Ban đầu bậc thang thủy điện Đồng Nai 6 có công suất 180MW, diện tích chiếm đất tới 1.954 ha, trong đó có 732 ha thuộc VQG Cát Tiên. Nhưng sau đó, chủ đầu tư đã hiệu chỉnh thành hai bậc thang thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A với công suất 241 MW, diện tích chiếm đất chỉ còn 372,23 ha, trong đó, VQG Cát Tiên chỉ còn 137 ha thuộc vùng rìa phía Bắc khu Cát Lộc.
Theo đó, diện tích chiếm đất trung bình của hai dự án (thuộc loại thủy điện lớn trên 100 MW) là 1,34 ha/MW, thấp nhất so với nhiều dự án thủy điện khác hiện nay. Đồng thời, chủ đầu tư cũng tích cực nghiên cứu công nghệ tiên tiến, thay vì sử dụng loại tuabin Francis có cánh cố định thông thường, Tập đoàn Đức Long Gia Lai đã đầu tư vào loại tuabin Kaplan hướng trục, cột nước thấp, 2 tổ máy vận hành xả nước liên tục 24/24h có tác dụng điều hòa lại dòng chảy cho hạ du bị gián đoạn và dao động lớn do chế độ xả phát điện ngày không liên tục của thủy điện Đồng Nai 5 nằm ở phía trên.
Cùng với đó, những hiểu lầm xung quanh vị trí xây dựng, ảnh hưởng của dự án đến khu đất ngập nước Ramsar Bầu Sấu hay vấn đề đa dạng sinh học cũng dần được hé lộ. Trước đó, một số ý kiến vẫn khăng khăng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong vùng lõi VQG Cát Tiên, đây là khu vực rừng giàu có tính đa dạng sinh học cao, nhiều loài động thực vật quý hiếm.
Tuy nhiên, theo báo cáo khảo sát thực địa của nhà đầu tư cũng như nhiều Bộ ngành khác, Đồng Nai 6 và 6A thuộc về vùng Cát Lộc (Bắc Cát Tiên), hoàn toàn cách biệt với vùng lõi, hiện trạng rừng khu vực này đến nay chỉ còn là rừng lồ ô, tre nứa và bãi đất ven sông, nhiều diện tích đã bị người dân xâm canh trồng hoa màu, điều, cà phê…
Khu vực này cũng cách xa khu Ramsar Bầu Sấu gần 35 km, qua trung tâm huyện lỵ huyện Cát Tiên. Những luận điểm trước nay một số bộ phận dư luận cho rằng chủ đầu tư đưa ra để biện minh, thì qua 7 năm ròng rã, sự thật cũng dần được “phơi bày”. Thậm chí ngay trong báo cáo của tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) cũng khẳng định điều này…
Không dễ dàng gì đối với chủ đầu tư khi phải đối diện với những hiểu lầm trong suốt nhiều năm trời. Chủ đầu tư đã phải tổ chức họp báo nhằm công khai, minh bạch thông tin với hy vọng tự minh oan cho mình. Cùng với đó, chủ đầu tư nhiều lần gửi công văn mời các Bộ ngành tham gia các chuyến khảo sát thực địa tại vị trí xây dựng thủy điện để có cái nhìn thực tế làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của hai dự án.
Những cố gắng đó, cuối cùng cũng đưa lại nhiều kết quả, giá trị kinh tế hàng ngàn tỷ đồng và khả năng đóng góp hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho ngân sách nhà nước từ hai dự án cũng dần được ghi nhận. Từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên môi trường, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho đến các các nhà khoa học, giáo sư tiến sĩ nhiều lĩnh vực sau chuyến đi thực địa đều có cái nhìn khác hẳn với những nghi ngại của một bộ phận dư luận về hai dự án này.
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã có Công văn số 218/HMTg ngày 30/9/2011 gửi Quốc Hội và Chính phủ nhận định các tác động đến môi trường của hai dự án này là không lớn và đề nghị tiếp tục triển khai hai Dự án ĐN6 và ĐN6A.
Mới đây, GS.TS Nguyễn Ngọc Lung- Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng khẳng định :”Tôi đã trực tiếp đi khảo sát thực địa tại vị trí xây dựng hai dự án này, khu vực Cát Lộc nơi xây dựng hai dự án thủy điện ĐN6 và ĐN6A là khu vực rừng đã bị tàn kiệt, chủ yếu là tre nứa, đất trống đồi trọc, không còn nhiều cây lớn, trước đây được đưa vào VQG là để bảo tồmn tê giác. Tuy nhiên, hiện nay tê giác đã không còn, đa dạng sinh học rừng ở đây không còn giá trị như rừng đặc dụng. Vị trí hai dự án này lại còn cách xa 35 km và tách biệt với khu rừng Nam Cát Tiên của VQG Cát Tiên nằm ở tỉnh Đồng Nai”.
Sau chuyến đi thực địa đầu năm 2012, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát đã có công văn số 228/BNN-TCLN ngày 06/02/2012 báo cáo Thủ tướng nêu ”Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững của VQG Cát Tiên đã được phê duyệt tại Quyết định số 1535/QĐ-BNN-TCLN ngày 11/7/2011 của Bộ NN PTNT, trong đó đã dự kiến có thể chuyển đổi mục đích sử dụng đất và rừng của Vườn này để xây dựng hai công trình thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A nếu được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Quy hoạch này cũng phù hợp với Quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai tại Quyết định số 5117/Q Đ-BCT ngày 14/10/2010 của Bộ CôngThương và Kế hoạch sử dụng đất đai của các địa phương. Về tổng quát thì ảnh hưởng do xây dựng hai công trình thủy điện này không đến mức làm thay đổi tiêu chí, mục tiêu xác lập VQG cát Tiên nhất là khu vực đất ngập nước Bàu sấu và khu rừng phòng hộ Nam Cát Tiên”.
Bên cạnh đó, chính quyền và nhân dân 3 tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông và Bình Phước (Khu vực xây dựng dự án) đều thể hiện quan điểm đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao các hiệu ích kinh tế xã hội của hai dự án đối với địa phương và Quốc gia.
Ông Hoàng Sĩ Sơn – Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng đã công khai thể hiện quan điểm trên mặt báo: “Với góc độ là địa phương liên quan trực tiếp tới dự án, nhận thấy đây là một công trình thủy điện nên được tạo điều kiện để thực hiện đầu tư vì với công suất 241 MW, nhưng diện tích chiếm đất chỉ có 372 ha, trong đó chủ yếu là rừng trung bình, nghèo, hỗn giao, lồ ô, cây bụi, đất trống, là dự án được xây dựng theo cơ chế điều tiết ngày, do vậy, không tạo ra các hồ, đập lớn, không ảnh hưởng đáng kể đến việc xả lũ cũng như khô hạn ở vùng hạ du.
Dự án này có đóng góp đáng kể vào việc đảm bảo nguồn điện cho sản xuất, đời sống nhân dân, đóng góp quan trọng vào việc thu ngân sách, chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cát Tiên”.
Dù hiểu lầm đã được lý giải, giá trị kinh tế của dự án ngày càng cho thấy tính thuyết phục, các Bộ ban ngành lên tiếng ủng hộ, nhưng đến nay, sau 7 năm ròng rã, dự án vẫn chưa có được một “kết thúc có hậu”. Như thế nào mới là công bằng với nhà đầu tư khi họ đã đổ không biết bao nhiêu tiền bạc và công sức vào dự án này nhằm đảm bảo hài hòa bài toán đánh đổi giữa môi trường và phát triển kinh tế, được và mất sẽ cân nhắc ra sao còn chờ vào quyết định của Chính phủ. (Nhà Báo&Công Luận 7/9) đầu trang(
Một nguyên nhân dẫn tới lũ quét là hiện do rừng bị chặt, tàn phá nhiều thành đồi trọc, nên đã làm hạn chế việc giữ nước, làm tăng khả năng xảy ra lũ quét.
Bà Đặng Thanh Mai- Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn T.Ư cho biết, nguyên nhân dẫn đến lũ quét, sạt lở đất tại các tỉnh Tây Bắc trong mấy ngày qua là do mưa lớn diễn ra trong một thời gian dài đã làm lượng nước dồn về lớn, nhất là ở những điểm đã có tiền sử về lũ quét, đất đá đã bị bở rời, rất dễ tạo thành những trận lũ quét mới. Hơn nữa, do bà con lâu nay vẫn có thói quen xây nhà ở các vùng trũng, thấp thuận tiện cho đi lại, nhất là ở những điểm gần luồng chảy nên rất nguy hiểm.
Bà Mai cũng cho biết, đến nay chưa thể dự báo được lũ quét, mà chỉ có thể đưa ra được cảnh báo các điểm có thể xảy ra lũ quét. Một nguyên nhân nữa dẫn tới lũ quét, theo bà Mai là hiện do rừng bị chặt, tàn phá nhiều thành đồi trọc, nên đã làm hạn chế việc giữ nước, làm tăng khả năng xảy ra lũ quét. Do đó, khi xảy ra mưa lớn, bà con cần di chuyển ra khỏi nhà và có các biện pháp phòng tránh cần thiết để đối phó với lũ quét. (Nông Thôn Ngày Nay 7/9) đầu trang(
Việc hình thành, sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốc doanh (LTQD) là lâu dài, phức tạp và khá nhạy cảm. Địa bàn hoạt động của các LTQD rộng lớn, chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), biên giới; cơ sở hạ tầng yếu kém, đối tượng sản xuất là cây trồng phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên...
Vì lẽ đó, việc sắp xếp, đổi mới và phát triển các LTQD trong bối cảnh hiện nay, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường (NLT) quốc doanh phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chủ trương tái cơ cấu nền nông nghiệp.
Đồng thời phải gắn với xây dựng nông thôn mới; phải đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng, vườn cây lâu năm, gắn quyền lợi với trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai; hình thành các vùng sản xuất lâm sản tập trung, gắn chế biến với thị trường tiêu thụ; giải quyết cơ bản các vướng mắc tồn tại liên quan tới đất đai góp phần thực hiện chủ trương đổi mới quản lý, sử dụng đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.
Việc đổi mới đó cũng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp với người dân, góp phần xứng đáng vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tại các địa phương và sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, Nhà nước muốn giữ sự tồn tại của các NLTQD như một minh chứng cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với mong muốn đây vẫn là một “điểm sáng” của khu vực có nhiều khó khăn trong ịiệc phát triển kinh tế - xã hội, dẫn dắt người dân địa phương không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi nhu cầu đất đai sản xuất canh tác ngày càng gia tăng dưới sức ép của gia tăng dân số, việc khoanh nuôi rừng, cấm chặt phá rừng bị xem như “cắt cần câu cơm”, kế sinh nhai chính của cộng đồng dân cư tại khu vực đó. Do đó, tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa dân và NLT là sự tất yếu bởi họ không còn không gian kiếm sống.
Cũng theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, cơ chế khoán hiện nay đang được “tô vẽ” hiệu quả trong báo cáo còn thực tế, cơ chế giao khoán đang bị làm sai lệch, không đảm bảo “khoán hai chiều” nghĩa là dân bỏ công, bỏ sức, NLT phải bảo đảm quy trình sản xuất hiện đại, giống, phân bón…đáp ứng yêu cầu thực sự tương hỗ, bình đẳng trong giao khoán. Mặt bằng đất đai đang phức tạp, hiện tượng dân lấn chiếm, dân di cư, NLT lấy đất khoán chuyển nhượng cho người khác làm “méo mó” mặt bằng sử dụng đất của NLT… càng khiến cho quản lý hoạt động của các công ty lâm nghiệp hiện nay khó khăn.
Cũng theo ông Võ, nên chăng có thể xem việc giao đất cộng đồng là một trong những cơ chế, chính sách nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất rừng hiện nay.
GS.TSKH Đặng Hùng Võ đề xuất có thể tham khảo mối liên kết “4 nhà” (nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – nông dân) như trong nông nghiệp đối với lĩnh vực lâm nghiệp. Trong đó, mỗi công ty lâm nghiệp cần làm tốt quan hệ hợp tác với người dân, nhất là dân cư địa phương để tạo ra mối liên kết quản lý, sử dụng hiệu quả đất và rừng.
Tập trung tính bài toán các bên cùng có lợi (người dân có đất, canh tác sản xuất; công ty lâm nghiệp hướng dẫn quy trình cung cấp cây con giống, thuốc bảo vệ, phân bón và nhận nông sản đóng gói, dán thương hiệu chở thẳng đến siêu thị, lấy tiền trả lại cho bà con nông dân…). Mối liên kết 4 nhà chủ yếu là hai nhà (công ty lâm nghiệp – người dân) trong khi nhà khoa học chủ yếu liên quan tới các tiến bộ kỹ thuật, Nhà nước tập trung cho quản lý và điều chỉnh chính sách…
Theo TS Tô Xuân Phúc (đến từ tổ chức Forest Trends), cần phải phân biệt trong số gần 300 lâm trường hiện nay có 3 hình thức, bao gồm: (1) - quản lý diện tích rừng còn nhiều trữ lượng gỗ khai thác; (2) - quản lý đất rừng là đất sản xuất và diện tích trống trọc có khả năng trồng cây lấy gỗ; (3) - chuyên công tác dịch vụ (cây con giống, kỹ thuật…).
Về cơ bản, những mâu thuẫn giữa dân và lâm trường chủ yếu thuộc loại chuyển đối đất rừng sản xuất, cây lâm nghiệp ngắn ngày. Những mâu thuẫn này thực sự bùng phát mạnh trong thời điểm chuyển đổi khi người dân thấy đất rừng là “nguồn sống chính” để họ thoát nghèo, nhất là khi việc di dân, gia tăng dân số cao.
TS Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn và phát triển (CODE) trao đổi với chúng tôi, hiện, quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển LTQD vẫn còn duy ý chí. Nếu trước kia LTQD phải làm tốt hai chức năng khai thác và trồng rừng thì hiện nay, LTQD nên đóng vai trò là “mô hình điểm" trong chế biến, tìm đầu ra, cung cấp công nghệ khoa học kỹ thuật…
Bởi thế, cần xác định chi tiết và cụ thể về hiệu quả của LTQD hiện nay trong sản xuất kinh doanh (đầu tư và lợi nhuận) đồng thời thiết lập hệ thống cơ cấu tổ chức bộ máy có đủ năng lực quản lý diện tích lớn đất rừng một cách bền vững... (Cpv.org.vn 6/9) đầu trang(
Đây là ý kiến Bộ Tài chính trả lời văn bản của UBND tỉnh Đắk Nông về đề nghị hỗ trợ quy hoạch 3 loại rừng, với lý do để tránh lãng phí và trùng lắp trong công tác điều hành và quản lý lâm nghiệp.
Cụ thể, công việc này sẽ được lồng nghép trong quá trình triển khai dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013- 2016”.
Bộ Tài chính cho biết, ngày 15/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013- 2016”. Theo đó, từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2014 sẽ tổ chức triển khai dự án tại 13 tỉnh Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.
Với dự án, đối tượng được điều tra, kiểm kê rừng là toàn bộ hiện trạng rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp và hiện trạng rừng ngoài quy hoạch cho lâm nghiệp; các trạng thái thực bì trên đất chưa có rừng; diện tích đất có rừng được giao và cho thuê với mục đích phát triển rừng. (Thời Báo Tài Chính 7/9) đầu trang(
Ngày 5-9, tại Cam Lâm, Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức Hội thảo quy chế quản lý rừng ngập mặn và thảm cỏ biển trong đầm Thủy Triều.
Tại hội thảo, các đại biểu được nghe trình bày một số nội dung chủ yếu về quy chế quản lý, phục hồi rừng ngập mặn gắn với nuôi trồng và khai thác thủy sản khu vực đỉnh đầm; vùng đề xuất quản lý và bảo tồn rừng ngập mặn và thảm cỏ biển trọng điểm, vùng trồng rừng ngập mặn cho mục đích lọc sinh học để giảm thiểu ô nhiễm thủy vực do nguồn nước thải từ đất liền.
Tại đầm Thủy Triều chỉ còn khoảng 14ha rừng ngập mặn (trước đây hàng trăm héc-ta). Ngoài ra, thảm cỏ biển tại đầm Thủy Triều khá đa dạng với 8 loài được xác định. Tuy nhiên, hiện rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm bị suy thoái, nguồn lợi thủy sản trong đầm bị suy giảm nghiêm trọng. (Báo Khánh Hòa 7/9) đầu trang(
Khoảng 10 năm trở lại đây, nhờ biết phát huy thế mạnh đồi rừng nên cuộc sống của bà con nhân dân xã Trung Tâm (Lục Yên, Yên Bái) ngày càng khấm khá, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ trồng rừng kinh tế.
Là xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc Dao Trắng lớn (chiếm khoảng 70% dân số), Trung Tâm từng được biết đến là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, nhì huyện Lục Yên. Xã nằm cách trung tâm huyện gần 50km, trước đây đời sống kinh tế của người dân rất khó khăn, quanh năm chủ yếu tập trung vào trồng trọt và chăn nuôi mang tính tự cung, tự cấp.
Để từng bước thực hiện giảm nghèo bền vững trên địa bàn, những năm gần đây xã Trung Tâm đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phát huy những tiềm năng tự nhiên sẵn có, tuyên truyền vận động người dân đẩy mạnh trồng rừng kinh tế.
Ông Lý Văn Quy - Chủ tịch UBND xã Trung Tâm cho biết: "Từ khi Lâm trường Lục Yên chuyển giao rừng tới các hộ dân thì bà con nhân dân đã tập trung trồng rừng và đạt được những hiệu quả bước đầu. Đến nay cùng với cây chè, trồng rừng kinh tế là một trong những thế mạnh giúp nhân dân thoát nghèo và làm giàu".
Với 13 thôn bản, địa hình chủ yếu là đồi núi, chính quyền và nhân dân xã Trung Tâm đã tận dụng tối đa những diện tích rừng sẵn có để phát triển trồng rừng. Mặc dù nằm cách xa trung tâm xã nhất nhưng thôn Khe Hùm được biết đến là thôn có nhiều rừng, nhiều hộ giàu nhất nhờ phát triển trồng rừng kinh tế.
Anh Bàn Văn Báo- Trưởng thôn cho biết: Thôn có 74 hộ với trên 350 nhân khẩu, 100% người dân là dân tộc Dao Trắng, hiện nay toàn thôn đã mở rộng được trên 200ha rừng kinh tế chủ yếu tập trung ven hồ Thác Bà, với các loại cây trồng chính như keo, bồ đề, mỡ... Hộ ít cũng có 2-3ha rừng, hộ nhiều có tới 8 - 10ha...
Đi đầu trong phong trào trồng rừng ở thôn này là hộ ông Nguyễn Văn Các, với hơn 10ha rừng kinh tế. Qua 2 đợt bán gỗ, ông đã thu về trên 50 triệu đồng. Ông Các chia sẻ: "Tôi bắt đầu trồng rừng từ năm 2000. Hiện tôi thấy trồng rừng hiệu quả hơn hẳn so với trồng trọt và các cây trồng khác, chính từ rừng mà gia đình tôi đã khá giả hơn".
Theo khảo sát, mỗi năm từ trồng rừng kinh tế, hộ ít trong thôn cũng thu được khoảng 20 triệu đồng, hộ nhiều nhất được cả trăm triệu đồng. 8 tháng đầu năm 2013, nhân dân trong xã Trung Tâm đã trồng được trên 220ha rừng kinh tế. Các cây keo, bồ đề, quế tiếp tục là các "cây mũi nhọn" được bà con chọn trồng. (Nông Thôn Ngày Nay 7/9) đầu trang(
Với việc thực hiện đổi mới mô hình hoạt động từ lâm trường quốc doanh sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các công ty lâm nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển biến mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như góp phần quản lý bảo vệ rừng hiệu quả. Tuy nhiên, sau đổi mới có không ít doanh nghiệp (DN) lâm vào bế tắc, hoạt động không hiệu quả, phát sinh tranh chấp. Mâu thuẫn giữa người dân với công ty lâm nghiệp ngày càng phức tạp.
Theo quy định hiện hành, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc (Công ty Đông Bắc), Hữu Lũng, Lạng Sơn phải trả lại cho huyện Hữu Lũng 11.260ha đất lấn chiếm, đất lâm trường sử dụng không hiệu quả. Tuy nhiên, quy định này đã không triển khai được do diện tích này đang xảy ra tranh chấp, bị người dân lấn chiếm.
Công ty Đông Bắc được giao quản lý gần 22.000ha đất rừng, song nhiều năm nay nơi đây cũng là điểm nóng về tranh chấp, lấn chiếm. Theo báo cáo của UBND huyện Hữu Lũng diện tích đất mà Công ty thực sự quản lý hiện nay chỉ chiếm 19,64%, trong khi đó diện tích đất người dân lấn chiếm lên tới 56,36%.
Tân Thành và Thiện Kỵ là hai xã vùng 3 của huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là nơi định cư của 80% dân số là đồng bào Nùng và Cao Lan. Đáng chú ý, cả hai xã đều có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng trên 75% diện tích của xã nằm trong phần diện tích đã được giao cho công ty Đông Bắc. Không có đất sản xuất tỷ lệ hộ nghèo khá cao (45% xã Thiện Kỵ và 21% ở xã Tân Thành). Mâu thuẫn đất đai giữa Công ty và các hộ dân xảy ra ở tất cả các thôn nơi Công ty được giao đất Lâm nghiệp để sử dụng và quản lý.
Thống kê của công ty cho thấy, tổng diện tích đất bị các hộ dân lấn chiếm lên tới 17.095ha, chiếm 78,3% diện tích đất công ty hiện đang được giao quản lý. Chỉ tính riêng địa bàn thôn Cốt Cối, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) với khoảng 400 ha đất do Công ty Đông Bắc quản lý thì diện tích bị các hộ dân lấn chiếm là 272 ha (chiếm 68%), diện tích đất đang tranh chấp khoảng 70ha.
Theo ông Lăng Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành, mâu thuẫn về đất rừng giữa lâm trường và người dân diễn ra từ năm 2000 và đến năm 2005 ngày càng gay gắt.
Cũng theo ông Chiến căn nguyên của "cuộc chiến” trên là do nghịch lý "người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra”. Lâm trường "ôm” quá nhiều đất, quản lý không xuể trong khi đó người dân thì "đói” đất để sản xuất.Theo thống kê, diện tích đất lúa nước của mỗi hộ rất hạn chế, trung bình khoảng 1-2 sào/hộ. Trong khi đó, diện tích đất nương rẫy ngày càng ít đi, trung bình mỗi hộ chỉ có khoảng 0,3 đến 0,4 ha. Để duy trì cuộc sống, các hộ không còn cách nào khác là duy trì canh tác trên diện tích của công ty.
Ghi nhận tại địa phương cho thấy, đa số người dân đều phản ánh vì "đói” đất sản xuất nên mới làm vậy. Theo quy định, diện tích công ty Đông Bắc đang quản lý và sử dụng hiện nay được khai thác đến đâu thì sẽ dành lại giao khoán cho người dân đến đó. Công ty sẽ hỗ trợ cây giống, phân bón, kỹ thuật, người dân bỏ công trồng theo hướng dẫn và quy trình kỹ thuật của công ty.
Tuy nhiên, mức khoán quá cao (26m3 cây đứng/1ha, tương đương theo hợp đồng dân hưởng 30% còn lâm trường hưởng 70%). Với mức khoán này người dân chỉ nhận được khoảng 2-2,5 triệu đồng/ha/năm. Đây cũng là nguyên nhân khiến người dân bức xúc đẩy tranh chấp ngày càng cao.
Bà Lý Thị Hương, Trưởng thôn Cốt Cối cho biết, đa phần người dân trong thôn là công nhân lâm nghiệp, đã nghỉ hưu hoặc thôi việc, không có đất sản xuất, thiếu đất sản xuất. Phần đất hiện nay họ đang canh tác do công sức khai hoang và cải tạo từ lâu, nhưng trên giấy tờ vẫn thuộc quản lý của công ty lâm nghiệp. Vì thế mà phát sinh mâu thuẫn.
Không riêng gì Hữu Lũng mà ở nhiều địa phương cuộc tranh chấp giữa công ty lâm nghiệp với người dân ngày càng gay gắt và phức tạp. Theo Báo cáo tổng kết NQ28 ngày 6-1-2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích đất tranh chấp giữa lâm trường và người dân tính đến hết năm 2011 là 75.650ha.
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên & Môi trường tính đến đầu năm 2012, vẫn còn khoảng 132 nghìn ha đất rừng thuộc quyền quản lý của các lâm trường quốc doanh nhưng vẫn chưa được sử dụng. Ðối với một số ít địa phương đã rà soát thì quá trình thu hồi đất đai diễn ra rất chậm. Ðến năm 2010, mới thu hồi và giao lại cho địa phương được 490 nghìn ha, năm 2011 tăng lên 702 nghìn ha (chiếm 63% diện tích dự kiến thu hồi), song chủ yếu vẫn mới chỉ thực hiện ở bước thống kê, phân loại trên sổ sách.
Kết quả nghiên cứu Viện tư vấn Phát triển (Code) tại 4 tỉnh ( Lạng Sơn, Quảng Bình, Đắc Lăck, Lâm Đồng) cho thấy, thiếu đất sản xuất chính là nhân tố khiến mâu thuẫn giữa công ty lâm trường và người dân ngày càng gay gắt. Tại các địa bàn nghiên cứu phần lớn các hộ gia đình đều có diện tích đất lúa nước và đất màu hạn chế. Các hộ mới tách nếu không được bố mẹ chia đất thì không có đất canh tác. (Đại Đoàn Kết 7/9) đầu trang(
Ngày 5.9, đoàn công tác của Bộ NN-PTNT có buổi làm việc với Sở NN-PTNT Bình Phước về việc chuyển đổi sử dụng rừng sang làm thủy điện; công tác phòng chống cháy rừng và kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2013.
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Bình Phước, diện tích rừng chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện từ năm 2006 đến nay là 672,703 ha (rừng phòng hộ là 514,446 ha và rừng sản xuất là 158,257 ha) cho 3 nhà máy thủy điện gồm: nhà máy thủy điện Đắk Glun đã đi vào hoạt động với sản lượng điện thương phẩm bình quân là 75,8 triệu KW/năm; nhà máy thủy điện Đắk Kar và ĐaM’Lo đang trong quá trình triển khai dự án.
Đối với công tác phát triển rừng, theo kế hoạch năm 2013 sẽ trồng 117 ha, nhưng chưa triển khai được do vướng đền bù giải tỏa. Riêng việc trồng rừng sản xuất là 82 ha, hiện đang được triển khai. (Thanh Niên 6/9) đầu trang(
Công an huyện K’Bang (Gia Lai) vừa bắt tạm giam bốn tháng với bị can Nguyễn Đăng Hướng, đội phó Đội Quản lý Bảo vệ rừng của Công ty Lâm nghiệp Krông Pa và Nguyễn Đình Hạnh, nhân viên bảo vệ rừng, để điều tra về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Đầu năm 2013, Công an huyện K’Bang phối hợp với Công ty Lâm nghiệp Krông Pa thu giữ 61 thớt gỗ hương đã sơ chế (gần 24 m3) tại các khoảnh 3, 4, tiểu khu 83 nằm trên địa bàn xã Đắk Roong, huyện K’Bang, ước tính giá trị khoảng 1,6 tỉ đồng.
Công an xác định lâm tặc đã khai thác gỗ trái phép diễn ra trong thời gian dài, ngang nhiên vận chuyển gỗ ra khỏi rừng nhưng các cán bộ trên không phát hiện, không làm tròn trách nhiệm được giao, gây hậu quả nghiêm trọng… (Pháp Luật TPHCM 9/9; Công An Nhân Dân 6/9; Phụ Nữ TPHCM 9/9; VOV 8/9; Chinhphu.vn 8/9) đầu trang(
Rừng thông ở xã Đắk Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã bị triệt hạ không thương tiếc. Hàng ngàn mét khối gỗ thông bỗng chốc “bốc hơi”, các trụ tiêu nhanh chóng được thế vào. Lợi nhuận từ việc phá rừng có hệ thống này đã chảy vào túi ai?
Thời gian qua, nhiều người dân đã tố cáo việc ông Phạm Đức Linh, Kế toán trưởng BQL rừng phòng hộ Đắk Đoa (Mang Yang), thuê người phá rừng trồng để làm giàu. Theo đó, trên diện tích đất rừng bị phá, ông Linh đã trồng cây, 1ha tiêu, xây nhà kiên cố và đang kêu người bán lại với giá 300 triệu đồng/ha (không giấy tờ). PV đã làm việc với BQL rừng phòng hộ Đắk Đoa và lãnh đạo đơn vị này thừa nhận chuyện cán bộ Linh làm sai là có, vụ việc đã báo cáo về đơn vị quản lý, chờ xử lý.
Cụ thể, tại tiểu khu 496 - nơi được trồng cây sao đen, BQL rừng phòng hộ Đắk Đoa thống nhất giao khoán gần 30ha cho các cá nhân để trồng rừng trong thời gian dài và đã trồng cây trên diện tích này. Sau đó, các cán bộ tại BQL rừng gồm Phạm Đức Linh (kế toán trưởng); Hồ Văn Tư, Nguyễn Văn Yên (đều là cán bộ BQL) tự ý bàn với nhau “dọn sạch” 1ha đất rừng, dùng kinh phí mua trụ, mua giống dây tiêu về trồng ngay trên diện tích này.
Cũng tại diện tích đất nhận khoán, ông Linh tự ý xây dựng nhà, chuồng để chăn nuôi gia súc... Điều lạ là BQL rừng vẫn vô tư “ngó lơ” trước vụ việc.
Ông Hoàng Thi Thơ, Phó phụ trách BQL rừng phòng hộ Đắk Đoa, giải thích: “Khi biết được thì đoàn thanh tra tỉnh kiểm tra và việc trồng tiêu trên đất rừng là trái với chủ trương đã đề ra, đề nghị thanh lý. Tuy nhiên, để xử lý thì BQL không có kinh phí đền bù lấy lại đất, nhổ bỏ thì lãng phí, do vậy các hộ đã xin tiếp tục trồng để lấy giống bán nên hiện tại chưa thể giải quyết dứt điểm được”.
Trường hợp mua bán đất rừng của ông Trương Văn Biện, Chủ tịch UBND xã Đắk Djrăng, lại còn “ngây thơ” hơn. Năm 1999, ông Biện có mua lại một lô đất 5m x 50m tại thôn Tân Phú từ ông Hoàng Ngọc Cảnh (ông Cảnh cũng là người ký giấy tay sang nhượng lại cho rất nhiều hộ tại thôn Tân Phú). Sau đó, năm 2001, ông Biện lại bán lô đất này cho một cá nhân khác, việc mua bán được thôn, địa chính xã, và chủ tịch xã - ông Đinh Gônh xác nhận là đúng và đề nghị giải quyết.
Khi hỏi về nguồn gốc đất của mình có phải là đất rừng hay không thì ông Biện lại lý giải rằng: “Trước đó, lô đất đã được UBND xã K‘Dang xác nhận cho mua bán là đúng, còn đất rừng hay không tôi không biết”.
Theo tìm hiểu, ít nhất đã có 5 hộ được UBND huyện Mang Yang cấp sổ đỏ trên diện tích đất rừng thuộc tiểu khu 501. Các hộ trên gồm hộ ông Vương Ngọc Quang (theo chủ hộ thì sổ đỏ đã cầm cố ngân hàng), lô đất gần 1ha, đã trồng trên 1.000 trụ tiêu, cà phê cho thu hoạch; Chu Thị Tâm, số GCNQSDĐ H01029, diện tích 3.410m2; Nguyễn Quang Tuấn, số GCNQSDĐ H01028 với diện tích 14.136m2. Cả hai sổ đỏ này đều đang được sang nhượng cho các cá nhân khác và hồ sơ lưu tại UBND xã Đắk Djrăng.
Trường hợp thứ năm là ông Nguyễn Văn Kiếm, ông mua đất lại của các chủ khác cũng bằng giấy viết tay với diện tích đất 8.200m2. Mới đây, ông Kiếm đề nghị xã đo đạc để lập thủ tục cấp sổ đỏ và được UBND huyện cấp vào tháng 9-2012, số tiền nộp thuế gần 4 triệu đồng.
Hiện ông Kiếm đang trồng 1.400 trụ tiêu với tổng số tiền đầu tư trên 400 triệu đồng. Còn việc có phải đất rừng hay không thì ông cũng “không biết” dù đã sống 15 năm tại thôn Tân Phú. Ông Kiếm cũng cho biết thêm, ngoài lô đất của ông vừa được cấp sổ còn có nhiều hộ khác mới mua lại và cũng đã có sổ đỏ như ông.
Theo thông tin huyện Mang Yang cung cấp, đã có 37 đối tượng liên quan đến việc phá rừng thông với trên 309.000m2 (hộ nhiều nhất trên 23.000m2, ít 1.150m2). Ngoài 37 hộ chặt phá rừng thông ở vùng lõi, còn có 40 hộ lấn chiếm đất ở vùng ven với diện tích 77.000m2. Liên quan đến những “phi vụ” này còn có một số là cán bộ, cựu cán bộ chủ chốt của xã Đắk Djrăng.
Có thể điểm qua như: ông Nguyễn Ngọc Xính, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đắk Djrăng (1.687,5m2); ông Đỗ Văn Thinh, Chủ tịch Hội nông dân xã Đắk Djrăng (1.590m2); ông Trương Văn Cẩn, nguyên cán bộ địa chính xã Đắk Djrăng (1.721m2). Bên cạnh đó, còn có các đối tượng Nguyễn Hữu Hòa, Bùi Văn Tàu cùng trú thôn Tân Phú, xã Đắk Djrăng đã chặt phá, lấn chiếm trên 18.000m2 đất rừng thông sau đó sang nhượng trái phép, thu lợi bất chính...
Về việc này, ông Nguyễn Như Phi, Chủ tịch UBND huyện Mang Yang, cho biết: Các tiểu khu 496, 499 do BQL rừng phòng hộ Đắk Đoa quản lý có xảy ra phá rừng và đã xử lý một số cá nhân, riêng BQL chỉ báo cáo vụ việc cho huyện khi có đề nghị, nhưng trong báo cáo ngày 6-6-2013 chỉ một vài văn bản không xác định được ai phá, huyện cũng không thể xử lý được ai. Rừng tại các tiểu khu này phải do BQL chịu trách nhiệm, nhưng họ lại không làm. Nói huyện làm ngơ trước sự việc người dân phá rừng, trồng cây là không hề đúng, bởi huyện thường xuyên phối hợp, chỉ đạo xử phạt nhiều trường hợp.(Công an TPHCM 6/9) đầu trang(
Hàng chục hecta rừng thông huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) đang bị tàn phá để lấy đất trồng keo nguyên liệu.
Những cánh rừng thông 3 lá trên những vạt rừng chạy dọc theo Quốc lộ 24 qua địa bàn các xã Ba Cung, Ba Động, Ba Thành, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi), có diện tích hơn 89 héc –ta, được trồng cánh đây 30 năm, tạo ấn tượng về cảnh quan môi trường ở cửa ngõ của huyện. Thế nhưng, hiện nay, rừng thông này bị người dân địa phương tàn phá bằng cách cạo đi lớp vỏ dưới gốc khiến cây thông dần héo rũ, chết đứng để trồng keo nguyên liệu (nên gọi là thông “Từ Hải”). Diện tích thông bị tàn phá, lấn chiếm hơn 17 héc ta.
Theo ông Huỳnh Thương –Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Tơ, việc người dân tự ý cạo vỏ để cây thông chết đứng nhằm lấn chiếm đất trồng keo đã diễn ra từ nhiều năm nay nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa xử lý triệt để.
Nhiều cuộc họp dân được UBND các xã triệu tập để giải quyết nhưng bất thành. Trước thực trạng này, tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Ba Tơ, sáng 6.9, ông Võ Văn Thưởng – Ủy viên Trung ương Đảng – Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi khẳng định, phải quyết tâm bảo vệ, giữ gìn rừng thông để tạo nét đẹp về cảnh quan môi trường.
Do vậy, huyện Ba Tơ cần chỉ đạo các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương tuyên truyền, quản lý, nhắc nhở người dân không vì cái lợi trước mắt mà tàn phá thông để lấn đất trồng keo nguyên liệu. Đối với các trường hợp cố tình vi phạm phải xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời, sớm thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để tiến hành trồng lại rừng thông. (Lao Động 6/9) đầu trang(
Việc giao đất giao rừng cho cộng đồng thôn buôn ở tỉnh Đắk Lắk theo Quyết định 178 được triển khai từ năm 2001 (sau này là Chương trình 304) với mục đích giúp người dân có thể dựa vào rừng để cải thiện đời sống. Tuy nhiên, những năm gần đây, các cộng đồng thôn buôn đang lơ là dần công tác quản lý bảo vệ rừng, dẫn đến tình trạng rừng bị tàn phá, đất đai bị xâm chiếm trái phép ngày một diễn biến phức tạp cũng chỉ bởi những bất cập trong cơ chế hưởng lợi từ rừng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, đến nay, tổng diện tích đất rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn đã giao theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg và Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là trên 37.294ha cho 5.273 hộ quản lý, trong đó có 3.892 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, rất ít diện tích rừng trong số đã giao được quản lý, bảo vệ hiệu quả.
Điển hình như đối với diện tích giao gắn hưởng lợi trực tiếp sản phẩm từ rừng theo Quyết định 178, trong quá trình triển khai thực hiện đã gặp khá nhiều tồn tại, bất cập như: Các điều khoản về quyền lợi của các hộ nhận đất nhận rừng chưa phù hợp với thực tế, sản phẩm hưởng lợi từ rừng chưa được tính toán cụ thể.
Hầu hết các hộ nhận rừng không thể thực hiện các quyền lợi vì chưa có quy định đầy đủ của pháp luật, chưa xác định cụ thể thời điểm được phép khai thác chính cho từng kiểu rừng và từng trạng thái nên các hộ không biết thời gian bao lâu từ lúc nhận rừng thì được khai thác và hưởng lợi sản phẩm khai thác; chưa có đơn vị nào cụ thể có tư cách pháp nhân được thực hiện khai thác và thiết kế khai thác đối với rừng được giao; chu kỳ lâm nghiệp dài...
Đối với rừng giao theo Quyết định 304, quá trình triển khai cũng không mấy thuận lợi hơn bởi diện tích đất trống lâm nghiệp giao cho các cộng đồng dân cư, nhóm hộ và gia đình rất lớn nhưng người dân không thể sử dụng vào mục đích trồng rừng hoặc phát triển nông lâm kết hợp vì thiếu vốn đầu tư. Trong khi đó, Nhà nước lại chưa có chính sách hỗ trợ đầu tư khuyến nông khuyến lâm để tạo sản phẩm trong giai đoạn đầu khi rừng tự nhiên chưa được khai thác.
Bên cạnh đó, việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, một số huyện không thực hiện được do hiện trạng rừng bị biến động, người dân lấn chiếm đất rừng, diện tích rừng chồng lấn ngay từ khi mới giao... Những bất cập trên dẫn đến tình trạng ngoài diện tích đất trống đã giao cho các hộ dân được canh tác nông nghiệp theo quy định thì tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để làm nương rẫy, sản xuất nông nghiệp và trồng cây công nghiệp diễn ra khá phổ biến.
Ngoài diện tích bị phá, lấn chiếm, có địa phương người dân đã trả lại rừng vì không đủ khả năng tổ chức quản lý, bảo vệ cũng như không thể dựa vào rừng để mưu sinh. Điển hình như trên địa bàn huyện Ea Súp có 3.940ha rừng được giao cho các hộ, nhóm hộ theo quyết định 304, nhưng do diện tích rừng được giao quá xa, giao thông đi lại khó khăn nên năm 2008, một số hộ ở xã Ea Lê đã xin trả lại 342ha rừng đã nhận giao khoán trong năm 2007.
Còn tại huyện Krông Năng, năm 2010 đã xảy ra tình trạng nhiều hộ dân thiếu đất sản xuất kéo nhau vào khai phá đất rừng để làm rẫy, gây thiệt hại gần 50ha rừng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Krông Năng…
Chủ trương giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cộng đồng thôn buôn đã góp phần đáng kể trong việc hạn chế tình trạng phá rừng, nâng cao nhận thức cho người dân, cộng đồng cùng chung tay gìn giữ màu xanh của rừng. Thế nhưng, làm thế nào để người và rừng có thể “cộng sinh” thì đến nay vẫn chưa có cơ chế chính sách phù hợp.
Chính sách hưởng lợi từ rừng giao khoán theo Quyết định 178 và Chương trình 134 của Thủ tướng Chính phủ vẫn chưa thực sự tạo được điều kiện để người dân có thể gắn bó bền vững với rừng. Đời sống của những người nhận đất, nhận rừng vẫn gặp nhiều khó khăn vì những sản phẩm phụ từ rừng không đáng kể do những cánh rừng được giao chủ yếu là rừng thứ sinh trung bình hoặc rừng nghèo.
Lợi ích kinh tế có thể mang lại cho người nhận rừng chỉ có 2% giá trị gỗ khi đến chu kỳ khai thác, nhưng để có được 2% giá trị gỗ này, người dân phải đợi ít nhất là 10 năm. Chính với chu kỳ sản xuất của cây rừng dài, thời gian chờ đợi hưởng lợi phải mất từ 10 đến 15 năm (tùy theo trạng thái rừng lúc nhận), trong khi người dân thiếu vốn cũng như khó có thể tiếp cận với các nguồn tín dụng để có thể đầu tư, kinh doanh, sản xuất từ rừng nên đời sống vẫn gặp rất nhiều khó khăn.
Vì vậy, nhiều diện tích rừng không được quản lý, bảo vệ hiệu quả; ngay cả việc tận dụng diện tích đất trống từ rừng để sản xuất, lấy ngắn nuôi dài, người dân vẫn rất lúng túng vì thiếu sự hỗ trợ, hướng dẫn từ phía chính quyền địa phương.
Chính vì vậy, để người dân thực sự gắn bó với rừng giao khoán, có thể mưu sinh bằng nghề rừng thì rất cần những chính sách phù hợp, sát thực tế hơn từ các cơ quan chức năng liên quan… (Công An Nhân Dân 6/9) đầu trang(
Như Báo Pháp luật Việt Nam đã phản ánh, vụ tranh chấp đất rừng ở huyện Thanh Sơn tưởng chừng sẽ khép lại sau bản án phúc thẩm năm 2011, tuy nhiên, vụ việc lại rối ren thêm sau khi có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC).
Sau khi đưa vụ án ra xét xử, TAND huyện Thanh Sơn và TAND tỉnh Phú Thọ đều nhận định, việc các ông Nguyễn Xuân San, Đào Văn Quyết, Đào Xuân Trường và Đinh Văn Lưu (đều trú khu 2, xóm Chiềng, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn) không đồng ý trả lại diện tích đất rừng cho ông Phan Văn Chính đã được cấp sổ đỏ là không có căn cứ.
Bởi lẽ, căn cứ vào kết quả xác minh tại Phòng Tài nguyên Môi trường (TNMT) và UBND huyện Thanh Sơn thì hộ ông Chính được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) là căn cứ vào hồ sơ giao đất lâm nghiệp do Hạt kiểm lâm huyện Thanh Sơn lập, hồ sơ ban đầu từ đơn xin giao đất, biên bản giao nhận đất lâm nghiệp tại thực địa, vẽ bản đồ giao đất lâm nghiệp, quyết định của UBND huyện Thanh Sơn về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho tổ chức, gia đình và hộ cá nhân…
Căn cứ hồ sơ đã được Phòng TNMT thẩm định, hồ sơ của hộ ông Phan Văn Chính (khu 2, xóm Chiềng, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) có đủ điều kiện để cấp GCN đối với diện tích 13,2ha tại khu Đồi Đồng Nai, thửa số 07, tờ bản đồ F48-103-DA1. Và tại thời điểm cấp GCN cho ông Phan Văn Chính, Phòng TNMT huyện Thanh Sơn không nhận được đơn khiếu nại hay báo cáo của UBND xã Tất Thắng, cũng như phía ông San, Trường, Lưu và Quyết về diện tích đất có tranh chấp, nên Phòng TNMT huyện Thanh Sơn đã tham mưu để UBND huyện Thanh Sơn cấp GCN cho hộ ông Chính.
Bên cạnh đó, theo văn bản đề nghị của UBND xã Tất Thắng thì năm 2000, thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp ổn định cho hộ gia đình cá nhân, UBND xã Tất Thắng đã thông báo tới tất cả các khu hành chính và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất lâm nghiệp lên nhận đất và chỉ ranh giới của hộ mình.
Việc giao nhận đất lâm nghiệp đã thông báo rộng rãi được thực hiện giữa ban ngày, có đầy đủ các thành phần, lúc này không thấy hộ các ông Lưu, San, Quyết và Trường thắc mắc hay phản đối. Hồ sơ giao đất cho hộ ông Chính có chữ ký của đại diện UBND xã, đồng thời tại thời điểm này cũng không có một người nào có đơn xin cấp GCN đối với diện tích đất rừng đang sử dụng. Có nghĩa tại thời điểm này chỉ có hộ ông Chính được cấp GCN.
Cả hai cấp tòa đều xác định không có cơ sở xác định việc UBND huyện Thanh Sơn cấp GCN cho ông Phan Văn Chính có sự chồng tréo, vi phạm Luật Đất đai năm 1993 và từ khi được cấp GCN đến nay chưa có một văn bản pháp lý nào cho rằng việc ông Chính được cấp GCN là không hợp pháp…Như vậy, việc hai cấp tòa tuyên buộc các hộ ông San, Lưu, Trường, Quyết trả lại diện tích đất rừng cho hộ ông Phan Văn Chính hoàn toàn có cơ sở.
Mặc dù tại Bản án sơ thẩm ngày 24/12/2010 của TAND huyện Thanh Sơn và Bản án phúc thẩm số 48/2011/DS-PT ngày 15/7/2011 của TAND tỉnh Phú Thọ đều tuyên buộc các hộ ông San, Trường, Lưu, Quyết trả lại diện tích đất rừng cho hộ ông Phan Văn Chính…tuy nhiên, sau khi có kháng nghị của VKSNDTC và Quyết định giám đốc thẩm của TANDTC, TAND huyện Thanh Sơn đã thể hiện sự “chùn tay” ngay tại Bản án sơ thẩm số 04/2013/DS-ST ngày 28/3/2013 do ông Tạ Văn Thành làm chủ tọa.
Bản án tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Chính một cách khiên cưỡng, trái ngược với nhận định của chính TAND huyện Thanh Sơn trước đó và cho rằng, việc UBND huyện Thanh Sơn cấp GCN cho ông Chính khi đất đang có tranh chấp. Đây là nhận định thiếu cơ sở pháp lý bởi lẽ, ngày 20/3/2001 ông Chính đã được cấp GCN, mãi đến ngày 3/10/2001 các hộ nói trên mới có đơn kiến nghị giải quyết đất đồi rừng.
Ngoài ra TAND huyện Thanh Sơn còn áp dụng Điều 50 Luật đất đai năm 2003 để cho rằng việc cấp GCN cho ông Chính là trái pháp luật. Nhận định và áp dụng pháp luật của TAND huyện Thanh Sơn là hoàn toàn không có căn cứ, vì GCN của ông Chính đã được UBND huyện Thanh Sơn cấp năm 2001, năm 2003 Luật Đất đai mới được ban hành.
Không những vậy, phần quyết định của bản án sơ thẩm lại căn cứ khoản 1 Điều 36a Bộ luật tố tụng dân sự để xử hủy Quyết định số 419/QĐ-UB ngày 10/10/2000 của UBND huyện Thanh Sơn là không đúng pháp luật vì Bộ luật tố tụng dân sự không có điều 36a…
Một vấn đề quan trọng mà tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến là theo Quyết định số 02-QĐ-UB ngày 2/4/1997 của UBND xã Tất Thắng về việc tạm giao đất trồng rừng cho ông Đinh Văn Lưu tại khu đất đồi Đồng Nai 2 (phía trên) để trồng rừng với diện tích theo bản đồ 299 là 11,26ha vào mục đích trồng cây. Còn diện tích, vị trí đất ông Chính được cấp GCN tại thửa số 7, tờ bản đồ F48 – 103Da 1, có diện tích 13,2ha. Vậy diện tích đất giao cho nhóm hộ ông Lưu có phải nằm trong diện tích đất ông Chính được giao hay nằm ở đâu?
Ở đây PV chưa bàn đến nội dung kháng nghị cũng như quyết định giám đốc thẩm và sự tiền hậu bất nhất của Phòng TN&MT huyện Thanh Sơn, nhưng đã có không ít dư luận, cũng như hộ ông Chính cho rằng có điều gì đó khuất tất ở đây. (Pháp Luật Việt Nam 6/9) đầu trang(
Ngày 6/9, tại km 616, Quốc lộ 1A, đoạn qua địa phận xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, lực lượng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình đã phát hiện xe ô tô tải mang biển kiểm soát 73L-6560 do Cao Văn Hoài (25 tuổi), thường trú tại Chợ Cuồi, Tiến Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình điều khiển có dấu hiệu nghi vấn vi phạm pháp luật.
Lực lượng CSGT đã tiến hành dừng kiểm tra xe và phát hiện trên xe 73L-6560 cất giấu 53 hộp gỗ táu nhóm 2 và một số gỗ khác nhóm 5 với khối lượng 6,2m3. Tất cả số gỗ nói trên không có giấy tờ liên quan đến nguồn gốc xuất xứ.
Bước đầu, lái xe Cao Văn Hoài khai nhận, số lượng gỗ trên được vận chuyển từ Tiến Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình ra Hà Tĩnh tiêu thụ thì bị bắt giữ. Hiện Lực lượng CSGT Công an Quảng Bình đang tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển giao cho Đội kiểm lâm cơ động số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình tiếp tục xử lý. (Công An Nhân Dân 6/9; Gia Đình&Xã Hội 6/9; Thanh Niên 6/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, lực lượng chức năng tỉnh Gia Lai cũng đã liên tiếp bắt giữ được nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép với khối lượng lớn. Vào chiều 24/8, nhận được tin báo từ quần chúng về việc có một chiếc xe tải lớn chở gỗ lậu lưu thông theo hướng từ Krông Pa về thành phố Pleiku.
Ngày 25/8, lực lượng kiểm lâm đã mật phục, chặn dừng và tiến hành kiểm tra xe tải mang BKS 81C- 008.65 khi đang lưu thông đến địa phận thị xã Ajun Pa. Qua kiểm tra, lựu lượng chức năng đã phát hiện xe chở 7,7 m3 gỗ (nghi là gỗ trắc) và 16 ster gốc, rễ, cành gỗ trắc không có giấy tờ hợp pháp.
Đêm 3/9, các cán bộ, chiến sĩ Công an huyện Đức Cơ đã chặn bắt được 2 xe ôtô chở gỗ lậu hướng từ cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh về thành phố Pleiku.
Tại hiện trường, các đối tượng đã tháo chạy, bỏ lại hai xe ôtô mang BKS 72LD- 0068 và 51D- 007.16 (loại xe khách 16 chỗ ngồi) bị tháo hết ghế ngồi chở đầy gỗ. Ước tính số gỗ trong hai xe khoảng 8m3.
Trước đó, UBND tỉnh Gia Lai cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Phan Minh Thông (trú tại xã Chư Rcăm, huyện Krông Pa) số tiền 45 triệu đồng vì hành vi vận chuyển 4,3 m3 gỗ giáng hương (nhóm I), tịch thu toàn bộ tang vật và tước giấy phép lái xe thời hạn 6 tháng, xử phạt 75 triệu đồng; tịch thu toàn bộ tang vật và tước giấy phép lái xe thời hạn 6 tháng đối với ông Nguyễn Tấn (trú tại xã Ia Piơr, huyện Chư Prông) về hành vi vận chuyển 15,8 m3 gỗ cà chít và gỗ dầu (nhóm III- V).
Theo ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, tình trạng khai thác, vận chuyện lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang có dấu hiệu gia tăng dù các lực lượng chức năng đã tổ chức các đợt truy quét quyết liệt.
Các đối tượng lâm tặc thường sử dụng xe tải lớn để chở gỗ trái phép. Ngoài ra, các đối tượng vận chuyển lâm sản còn lập các hồ sơ giả với chữ ký và con dấu được làm tinh vi. Vì vậy, công tác đấu tranh loại trừ các trường hợp vận chuyển lâm sản trái phép đang gặp không ít khó khăn. (VietnamPlus 7/9; Quân Đội Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Tại Bình Định, cơ quan chức năng vừa bắt giữ một xe tải do tài xế Phạm Văn Dũng, trú tại tỉnh Gia Lai điều khiển vận chuyển 11m3 gỗ hương và 22 tấn gỗ trắc.
Đây là gỗ nhóm 1 thuộc dạng quý hiếm. Số gỗ trên được vận chuyển từ TP Ban Mê Thuột, tỉnh Đăk Lăk đến ga xe lửa Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định để chuyển ra phía Bắc tiêu thụ.
Trong chứng từ, hóa đơn, số gỗ lớn được vận chuyển cho doanh nghiệp tư nhân Lâm Dũng, trụ sở đăng ký tại TP Ban Mê Thuột. Tuy nhiên, đối chiếu con dấu thật và con dấu trên hóa đơn chứng từ, lực lượng chức năng thấy không trùng khớp. Cơ quan chức năng cho biết đây là vụ vận chuyển gỗ quý hiếm trái phép lớn nhất từ trước đến nay ở Bình Định.
Hiện Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đang phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ - Công an huyện Tuy Phước thực hiện các bước điều tra, xử lý theo luật định. (VTV 6/9) đầu trang(
8 tháng qua, lực lượng quản lý bảo vệ rừng tỉnh Bình Thận đã phát hiện và xử lý hơn 620 vụ phá rừng, giảm 30% so với cùng kỳ năm trước.
Các lực lượng chức năng đã thu 850m3 gỗ và 250 phương tiện dùng để phá rừng, nộp ngân sách nhà nước hơn 35 tỷ đồng.
8 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 44 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, 33 vụ cháy rừng.
Để thực hiện tốt công tác quản lý rừng, UBND tỉnh Bình Thuận đã yêu cầu các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tăng cường công tác kiểm tra giám sát tại các địa bàn trọng điểm, khu vực giáp ranh với các tỉnh lân cận. (Quân Đội Nhân Dân 7/9, tr4) đầu trang(
Ngày 8.9, CA huyện Quảng Ninh cho biết, đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam 3 tháng đối với Phạm Văn Phước (SN 1974, trú TP.Đồng Hới) vì tội xâm hại, lấn chiếm rừng trái phép.
Kết quả điều tra cho thấy, trong thời gian từ tháng 8-9.2012, Phước đã thuê một số người dân trên địa bàn xã Trường Xuân (H.Quảng Ninh) phát rừng, đốt rừng trái phép để trồng keo lai nhằm thu lợi cá nhân thuộc khoảnh 3 (tiểu khu 376) và khoảnh 6 (tiểu khu 540) xã Trường Xuân với tổng diện tích là 12,03ha. Trữ lượng gỗ rừng bị phá gần 200m3, thiệt hại ước tính gần 300 triệu đồng. (Lao Động 9/9; Nhân Dân 8/9; Nông Nghiệp Việt Nam 8/9) đầu trang(
Trên cơ sở quy hoạch phát triển cây cao su tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, ngày 29-8-2011, tỉnh đã ra quyết định chuyển đổi 517,7 héc-ta rừng và đất lâm nghiệp sang trồng cao su tại tiểu khu (TK) 192, 193 xã Hòa Hải (Hương Khê). Ngày 26-10-2012, Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê (Công ty CSHK) được UBND tỉnh Hà Tĩnh giao và cho thuê 324,5 héc-ta rừng và đất rừng ở TK 192 để trồng cao su.
Công ty CSHK đã tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết về giao nhận đất, rừng và phối hợp với các ngành, địa phương trong việc tuyên truyền, phổ biến, công khai phương án trồng cao su để người dân biết và kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án trên diện tích được giao. Công ty CSHK đã hoàn tất các khoản tài chính phải nộp theo quy định.
Dự kiến, khi dự án đi vào hoạt động, công ty sẽ tuyển khoảng 100 người dân địa phương vào làm công nhân, chưa kể số hợp đồng, ăn theo dịch vụ khác; đồng thời, tạo điều kiện để địa phương phát triển cao su tiểu điền hay liên kết góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho xã miền núi nghèo Hòa Hải.
Mọi việc tưởng chừng “thuận buồm”, nhưng đến ngày 22-11-2012, khi Công ty này đưa máy vào mở đường để trồng cao su tại khoảnh 11, TK 192 thì bốn công dân xóm 11 đã có hành động ngăn cản, đồng thời sẻ phát, bao chiếm một số diện tích đất rừng để trồng keo.
Trước tình hình trên, UBND xã đã mời các công dân này lên làm việc. Thế nhưng không lâu sau đó, ngày 5-12-2012, khi Công ty phối hợp với Công an huyện, xã và đồn Biên phòng bảo vệ khai hoang, thì có đến 13 hộ dân xóm 11 ra ngăn cản. Và theo báo cáo của UBND xã Hòa Hải, có thời điểm xuất hiện tới bốn đảng viên, ba CCB, 42 thành viên Hội Nông dân, 11 hội viên Hội Phụ nữ… vào lấn chiếm, sẻ phát đất rừng trái phép tại TK 192.
Theo đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản yêu cầu các ngành, địa phương liên quan và Công ty CSHK phối hợp đảm bảo an ninh trật tự và phát triển cao su tại xã Hòa Hải; đồng thời, chỉ đạo địa phương khẩn trương rà soát lại diện tích đất lâm nghiệp do xã quản lý, trên cơ sở nhu cầu chính đáng của người dân xây dựng phương án ưu tiên cho các hộ dân ở xóm 10, 11 được giao đất, rừng kịp thời để phát triển sản xuất.
Ngoài ra, huyện Hương Khê đã thành lập tổ công tác do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng đoàn cùng với địa phương và Công ty CSHK tổ chức tuyên truyền, vận động, đối thoại với nhân dân và xử lý vi phạm.
Nhưng việc thực thi không đơn giản. Phóng viên NDĐT đã vài lần “đột nhập” vào TK 192 và thấy tận mắt sự “bất lực” của địa phương và doanh nghiệp.
Phía ngoài, Công ty CSHK phối hợp với địa phương lập các chốt chặn trên các đường độc đạo vào TK 192 ngăn không cho người vào rừng sẻ phát trái phép, nhưng bên trong, dân làm lán tạm bên khe suối cùng các vật dụng xoong nồi, bát đĩa. Không chỉ tự ý lấn chiếm rừng và đất rừng có chủ, những hộ dân này còn “cả gan” đốt thực bì để trồng keo ngay trong thời điểm nắng nóng.
Quyền Tổng Giám đốc Công ty CSHK Trần Thanh Hà còn cho biết: “Ở những khu rừng keo nguyên liệu chuyển sang cao su, chúng tôi phải tập trung nhân lực vừa thu hoạch keo, vừa tiến hành đào lỗ và trồng cao su luôn đến đó. Chỉ cần để trống đất một vài ngày là người dân trồng keo, bất chấp luật pháp”.
Ngày 3-7-2013, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Lê Đình Sơn sau khi đi thực tế nắm tình hình và làm việc với lãnh đạo xã Hòa Hải (từ thôn trưởng trở lên), đã nêu rõ nguyên nhân chủ yếu là do sự non yếu của các cấp chính quyền của các cấp chính quyền địa phương, ngành chuyên môn.
Ông còn cho hay, việc để người dân ngang nhiên lấn chiếm đất, rừng trái pháp luật, vi phạm Luật đất đai, Luật bảo vệ rừng nhưng không kịp thời xử lý theo đúng quy định, thiếu biện pháp đồng bộ, hiệu lực thấp làm tình hình thêm phức tạp; sự phối hợp giữa các ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa tốt, nhất là chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong giải quyết các vướng mắc phát sinh. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp còn yếu kém, tồn tại kéo dài.
Để tạo sự đồng thuận của người dân xóm 11, UBND xã Hòa Hải cùng Tổ công tác của huyện phải tổ chức rất nhiều cuộc họp bàn, đối thoại, nhưng không có kết quả. Cuộc đối thoại với người dân vào tối ngày 13-8, không hiểu lý do gì mà tổ công tác của huyện không có ai dự.
Báo cáo của Công ty CSHK đã nêu rõ: Dù được thuê đất từ cuối năm ngoái nhưng đến nay, doanh nghiệp vẫn không thể tiến hành trồng cao su trên diện tích được cấp, Hiện nay, diện tích rừng bị dân lấn chiếm trái phép “da báo” tại TK 192 lên đến gần … 200 héc-ta.
Theo Q. Tổng giám đốc Công ty CS HK Trần Thanh Hà, Công ty phải chi 5,8 tỷ đồng cùng một khoản lớn đầu tư hạ tầng vào đây để... đối mặt với nguy cơ không hoàn thành kế hoạch và những hệ lụy đi kèm.
Bùng nhùng ở TK 192 còn tạo ra một tiền lệ xấu: một số người dân ở các địa phương khác “đua nhau” vào xâm chiếm hoặc tái xâm chiếm đất, rừng đã có chủ.
Điển hình như ngày 7-8, ông Trần Hà ở xóm Bình Trung, xã Hương Bình (Hương Khê) cùng bốn hộ dân ngang nhiên vào trồng cây trái phép tại khoảnh 11, TK 192. Mà theo "lý" của người vi phạm thì “Hòa Hải xâm lấn được thì chúng tôi cũng xâm lấn được(!)”
Ngày 17-8, Công ty đã phát hiện một số người dân ở xóm 5, xóm 6 (Hòa Hải) vào sẻ phát, trồng cây trái phép tại lô 6 (khoảnh 1) TK 179. Gần đây, nhiều hộ dân xã Hương Giang bị số đối tượng lôi kéo, tiếp tục vào sẻ phát, lấn chiếm đất, rừng trái phép tại TK 195 và TK 200 (xã Hương Giang). Xin được nói thêm, tại các tiểu khu này, cách đây ba năm, từng là “điểm nóng” đã xảy ra tranh chấp, đụng độ với lực lượng bảo vệ, chặt phá cây cao su…
Theo Hạt trưởng hạt kiểm lâm Hương Khê Nguyễn Sỹ Lương, sau sự kiện TK 192, việc xâm lấn đất rừng trái phép có chiều hướng gia tăng tại các khu vực thượng nguồn sông Ngàn Sâu, sông Tiêm, Công ty Chúc A... Một vấn đề khá phức tạp, là do đất, rừng đều đã có chủ, trong lúc một số hộ dân ở gần rừng có nhu cầu về đất để trồng rừng không được giải quyết nên đã xảy ra việc xâm lấn đất, rừng trái phép một cách âm ỉ và diễn ra khá lâu, lại không được các cấp chính quyền quan tâm giải quyết dứt điểm. Thậm chí có nơi, một số đối tượng còn lôi kéo người dân ồ ạt chiếm rừng trái phép, tự do sẻ phát, trồng cây, tiềm ẩn tạo ra những điểm nóng.
Trong lúc chờ giải pháp đồng bộ, Công ty CS HK đã chấp nhận hỗ trợ bằng tiền mặt với diện tích mà các hộ dân đã tự ý xâm lấn, sẻ phát, trồng keo trên diện tích mà công ty đã được UBND tỉnh cho thuê; hỗ trợ 50% kinh phí thuê tư vấn lập hồ sơ, thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho các hộ dân… phát sinh lên đến hàng tỷ đồng.
Cùng với đó, Công ty cam kết ưu tiên sử dụng lao động tại địa bàn; làm đường giao thông vào vùng sản xuất cho người dân; lồng ghép các dự án đầu tư xây dựng nông thôn mới trên địa bàn… Tất cả chỉ để đổi lại việc thi công khai hoang, trồng cao su trên diện tích 153,4 héc-ta, tại TK 192 (nằm ngoài diện tích mà các hộ dân đã sẻ phát, lấn chiếm), lo việc làm cho 134 công nhân ở Nông trường Hương Long (trong đó có nhiều công nhân là người dân trong vùng) cùng hàng chục vạn cây cao su giống đã quá lứa…
Hướng giải quyết vấn đề trên đã được tỉnh và huyện Hương Khê đề ra khá căn bản trong các văn bản chỉ đạo gần đây. Tuy nhiên, ngoài văn bản, tỉnh Hà Tĩnh cần chỉ đạo huyện Hương Khê cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả các giải pháp để giải quyết dứt điểm việc xâm lấn đất, rừng trái phép tại TK 192 không để phức tạp, kéo dài... (Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Bờ biển khu vực các tổ dân phố 4 và 5 phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, dài khoảng 200m, đang bị sóng biển xâm thực ăn sâu vào đất liền chừng 30 - 40m.
Trước đây, từ mép nước vào đến rừng phi lao là bãi cát, thanh niên địa phương vẫn thường đá bóng, thế mà nay, không chỉ bãi cát biến mất mà 12 hàng phi lao trồng chắn gió cũng đã bị sóng biển cuốn đi. Hiện tại, bờ biển đã lấn sát nhà ở của một số hộ dân.
Ông Nguyễn Bá Lượng, cán bộ quân đội nghỉ hưu, trú tổ 4, phường Hòa Hiệp Bắc, cho biết, tình trạng biển xâm thực vào đất liền ngày càng nghiêm trọng khiến người dân nơi này đang phải sống cảnh bất an. Tình trạng biển xâm thực xảy ra từ khi kho xăng dầu K83 triển khai dự án lấn biển, xây kè…
Trước tình hình trên, hiện UBND phường Hòa Hiệp Bắc đã có báo cáo gửi UBND quận Liên Chiểu, nêu rõ: Dự án xây dựng cải tạo kho xăng dầu K83 do Công ty TNHH một thành viên Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội làm chủ đầu tư, đã tiến hành san lấp mặt bằng lấn biển hơn 12.000m2, đoạn lấn biển xa nhất khoảng 100m, nay đã xây kè chắn sóng phía ngoài. Việc san lấp lấn biển này đã làm thay đổi dòng chảy gây nên tình trạng xâm thực sâu vào đất liền 30-40m tại các khu dân cư gần đó.
Mùa mưa bão sắp tới, tính mạng, tài sản của 60 hộ dân sinh sống ven biển tại 2 tổ dân phố 4 và 5 bị đe dọa nghiêm trọng. Do đó, đề nghị UBND quận Liên Chiểu khẩn trương khảo sát đề xuất chính quyền TP Đà Nẵng có giải pháp đầu tư xây dựng kè chắn sóng nối từ kho xăng dầu K83 đến khe Cầu Đen dài khoảng 600m. (Công An Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Sau khi Báo Sài Gòn Giải Phóng đưa tin khu vực rừng đầu nguồn phòng hộ Long Đại (Quảng Ninh, Quảng Bình) bị người dân vào đốn hạ để trồng keo lai, ông Nguyễn Văn Trị, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại cho biết, đã cử một phó giám đốc đến hiện trường bảo vệ rừng.
Ông Dương Công Luyện, Phó Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại, cho biết ông cùng lực lượng bảo vệ rừng trực chiến 24/24 để giữ rừng. Tuy nhiên, hiện giữ được chỗ này thì dân đi đốt chỗ khác, địa hình hiểm trở khó kiểm soát nổi. Dù đã trực chiến như thế, chốt chặn từ ngoài đường mòn dẫn vào rừng, người dân vẫn thủ diêm trong túi và tiếp tục đốt cháy 2ha rừng. Hiện lực lượng chức năng mỏng, lại yếu kém nên việc giữ rừng đầu nguồn đang rất cam go. (Sài Gòn Giải Phóng 7/9) đầu trang(
Nếu như trước đây gỗ trắc giao dịch trên thị trường bằng đơn vị tính tấc, khối với giá vài ba chục triệu đồng/khối thì hiện nay, gỗ trắc được mua bán bằng đơn vị tính kg với giá hàng triệu đồng/kg. Do đó, hoạt động khai thác, mua bán trái phép loại gỗ này đang tạo nên cơn sốt tại Bình Định.
Trong những ngày gần đây, đi đến đâu trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), PV cũng nghe dư luận kháo nhau thương vụ mua bán lô gỗ trắc được tháo ra từ 1 ngôi nhà công cộng có trị giá hàng trăm triệu, vừa vận chuyển trót lọt ra khỏi địa bàn thôn O2 thuộc xã Vĩnh Kim.
Thoạt nghe, PV lấy làm ngạc nhiên vì không biết lô gỗ của cả 1 ngôi nhà kia vận chuyển đường nào để đi ra khỏi làng O2. Bởi vì, làng O2 nằm heo hút trên núi cao thuộc xã Vĩnh Kim, hiện vẫn chưa có đường ô tô. Đường về làng O2 là con dốc cao, cao mãi; người đi sau chỉ cần cúi đầu xuống một tí là chạm vào gót chân người đi trước. Ấy vậy, lô gỗ trắc đi đường nào để ra khỏi làng O2?
Sau khi làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, PV hiểu ra, do đường xuống Vĩnh Thạnh quá trắc trở không thể chở bằng cả xe máy và xe ô tô, vận chuyển đường bộ thì không lọt được các trạm chốt chặn của ngành chức năng, do vậy lô gỗ này đã vượt núi, đi qua xã An Toàn thuộc huyện An Lão.
Ông Nguyễn Vinh Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vĩnh Thạnh, cho biết: “Cách đây hơn chục hôm, nhận được tin báo có lô gỗ trắc sắp được chuyển khỏi địa bàn làng O2 bằng đường núi để đi qua xã An Toàn, chúng tôi lập tức cử tổ công tác đi ngay về làng O2 để ngăn chặn. Thế nhưng đường về làng O2 xa và trắc trở, khi tổ công tác tiếp cận hiện trường thì không còn lô gỗ trắc như tin báo, chỉ bắt được mấy bao cành, nhánh, rễ cây trắc”.
Trong câu chuyện của ông Quang, PV được biết thêm, cách đây không lâu, có một lô gỗ trắc khác giá trị bạc tỷ đã đi khỏi huyện Vĩnh Thạnh một cách không bình thường. Đó là lô gỗ trắc của ngôi nhà rông làng K2 thuộc xã Vĩnh Sơn. Thấy giá gỗ trắc cao ngất ngưởng, người làng K2 quyết định tháo dỡ ngôi nhà rông bán để lấy tiền xây ngôi nhà rông khác bằng vật liệu kiên cố, mà rẻ hơn.
Làng K2 xin UBND huyện và Hạt Kiểm lâm Vĩnh Thạnh cấp giấy cho lô gỗ này được phép vận chuyển khỏi địa bàn. Thế nhưng khi trình xuống tỉnh, tỉnh cho rằng đây là gỗ không có nguồn gốc, bởi khi xây dựng nhà rông người làng cứ vào rừng chặt cây về làm chứ không xin phép gì. Do đó, tỉnh chỉ đạo huyện Vĩnh Thạnh phải chuyển lô gỗ này xuống Chi cục Kiểm lâm tỉnh xử lý theo quy định.
“Thế nhưng đây là tài sản chung của làng K2, nếu chuyển xuống tỉnh xử lý thì sẽ gây bất bình trong cộng đồng người dân làng này. Cuối cùng, tỉnh chỉ đạo huyện tùy nghi xử lý. Chúng tôi đành làm lơ để người mua chuyển ra khỏi địa bàn”, ông Nguyễn Vinh Quang bộc bạch.
Tìm hiểu thêm về lô gỗ vừa mới được vận chuyển khỏi làng O2, PV được Chủ tịch UBND xã Vĩnh Kim, ông Lê Công Chính, xác nhận: “Cách đây hơn chục ngày, làng O2 có bán một số gỗ trắc được tháo ra từ ngôi nhà công vụ trước đây được dựng lên để giáo viên về cắm làng dạy học làm nơi cư trú. Sau khi Nhà nước xây nhà công vụ kiên cố, ngôi nhà bằng gỗ giao cho làng quản lý, giờ họ dỡ ra bán. Còn chuyện bán cho ai, bao nhiêu, và vận chuyển đi đâu chúng tôi không biết”.
Làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, Hạt trưởng Nguyễn Thanh Sinh cho biết: “Chúng tôi có nhận được tin báo về lô gỗ trắc được chuyển từ huyện Vĩnh Thạnh sang xã An Toàn bằng đường núi gồm 6 cây cột có mặt 30 cm, dài trên 6 m và 4 cây ngắn hơn, trị giá lô gỗ này khoảng 600 - 700 triệu. Ngay sau đó chúng tôi thành lập tổ công tác chốt chặn tại An Quang. Thế nhưng chúng nắm được thông tin về chuyện phục kích của chúng tôi nên giấu hết những cây gỗ to, loại cột nhà. Cuối cùng chỉ bắt được mấy bao cành, nhánh. Hiện trong kho của cơ quan đang tạm giữ đến 5 tạ cây trắc loại nhỏ”.
Những ngày sau đó, PV i luôn luôn thắc mắc: Muốn vận chuyển số gỗ trắc nói trên từ xã An Toàn về xuôi chỉ có mỗi con đường độc đạo, lại phải đi qua Trạm Kiểm soát cửa rừng (Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn), Trạm Quản lý Bảo vệ rừng An Quang và Trạm Kiểm lâm An Quang, nhưng không hiểu sao lâm tặc vẫn đưa gỗ đi trót lọt? Trong khi đó, theo khẳng định của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão Nguyễn Thanh Sinh, Trạm Kiểm lâm An Quang có 3 kiểm lâm viên phụ trách và luôn có người trực!? (Nông Nghiệp Việt Nam 9/9) đầu trang(
Ngày 6/9, tại xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi, Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi đã mật phục và bắt quả tang xe ôtô tải BKS 76K-9651, chở 56 phách gỗ xẻ và 4 khúc gỗ tròn, với hơn 4m3, chạy từ hướng xã Ba Khâm, huyện Ba Tơ về huyện Đức Phổ.
Tuy nhiên, tài xế ôtô chở gỗ lậu đã nhanh chân bỏ trốn. Được biết, số gỗ chò, xoan đào… trên ôtô do “lâm tặc” khai thác ở khu vực rừng xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, giáp ranh huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Vụ việc đang được tiếp tục điều tra xử lý. (Công An Nhân Dân 7/9; An Ninh Thủ Đô 6/9) đầu trang(
Chiều 7/9, nguồn tin từ Phòng CSĐT tội phạm kinh tế (PC46) Công an tỉnh Phú Yên cho hay, cơ quan này đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và thực thi lệnh bắt tạm giam đối với Phùng Xuân Úy và Lê Quang Vĩnh, trú ở tỉnh Đắk Lắk về tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng theo phê chuẩn của cơ quan kiểm sát cùng cấp.
Trước khi bị bắt, Phùng Xuân Úy là Giám đốc Công ty TNHH Chung Úy có trụ sở tại nơi bị can thường trú. Kết quả điều tra bước đầu cho thấy, trong ba tháng đầu năm nay, Phùng Xuân Úy cùng anh vợ là Lê Quang Vĩnh đã “vẽ” ra hàng loạt chứng từ, tài liệu từ hợp đồng mua bán, vận chuyển lâm sản, lý lịch gỗ, hóa đơn, phiếu xuất kho và hồ sơ có con dấu giả mạo cơ quan kiểm lâm kiểm tra lâm sản… để hợp pháp hóa hơn 330 m3 gỗ hộp nhóm 2, nhóm 3 để vận chuyển từ Đắk Lắk về Phú Yên tiêu thụ, thu lợi bất chính. (Công An Nhân Dân 8/9; Pháp Luật TPHCM 8/9) đầu trang(
Đoàn kiểm tra do Sở NN&PTNT Bình Thuận thành lập vừa hoàn tất kiểm tra, xác minh diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép từ năm 2004 đến nay tại Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (thuộc địa bàn hai huyện Tánh Linh và Hàm Thuận Nam).
Qua kiểm tra, đoàn phát hiện có đến 2.218,73ha rừng bị tàn phá hoặc lấn chiếm trái phép. Đặc biệt tại các tiểu khu 343, 357, 360 rừng đã bị phá gần như toàn bộ vào những năm 2007 trở về trước và được chuyển sang rừng sản xuất. Đối tượng vi phạm hoặc hiện đang sử dụng diện tích rừng trái phép hầu như... không xác minh được.
Thậm chí một số diện tích rừng khác bị sang nhượng lại cũng không xác minh, làm rõ được đối tượng. Báo cáo nêu rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là vai trò, trách nhiệm của giám đốc khu bảo tồn, các trưởng trạm bảo vệ rừng còn buông lỏng, bộc lộ nhiều yếu kém. Hiện trạng phá rừng trên kéo dài nhưng không tích cực ngăn chặn hay báo cáo về cấp trên phối hợp giải quyết. Số vụ lập hồ sơ vi phạm còn thấp so với tình hình diễn ra.
Điều đáng lưu ý là một số cán bộ, công chức từ chính quyền địa phương các cấp đến cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng, công chức kiểm lâm đang sinh sống trên địa bàn ít nhiều còn ngại va chạm, sợ trả thù và bị đe dọa đến lợi ích của gia đình, bản thân nên đôi khi buông lỏng hoặc làm ngơ trước thực trạng diễn ra.
Đoàn kiểm tra kiến nghị trường hợp vi phạm còn thời hiệu xử lý hình sự thì củng cố hồ sơ, truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp đã hết thời hiệu xử lý hành chính thì áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Đồng thời kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông và các trạm bảo vệ rừng. (Tuổi Trẻ 8/9; Thanh Niên 8/9) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Tây Nguyên đang khiến người ta lo lắng. Rừng dần cạn kiệt. Những khu vườn quốc gia như Yok Đôn, Cát Tiên liên tục bị xâm hại, hàng loạt voi rừng bị giết và chỉ được phát hiện khi voi đã bị cắt ngà, cây to bị triệt hạ như chỗ không người.
Nhạc sĩ Linh Nga Niêk Đăm nói: Không gian văn hóa cồng chiêng sẽ mất nếu Tây Nguyên không còn rừng. Còn TS Phạm Từ - nguyên Phó Tổng cục trưởng Du lịch VN - lắc đầu sau chuyến khảo sát: Chẳng nhận ra nữa. Rừng núi trơ trụi như thế, du khách nào muốn đến Tây Nguyên.
Rốt cục, UBND tỉnh Đắk Lắk đã gửi công văn tới Văn phòng Chính phủ, Ban chỉ đạo Tây Nguyên, cho biết UBND tỉnh không thống nhất việc thực hiện dự án thủy điện Ea K’tour, vì “dự án thủy điện Ea K’tour ở xã Cư Pui, huyện Krông Bông với quy mô công suất lắp máy dự kiến 5MW sẽ chiếm diện tích 6ha đất của Vườn quốc gia (VQG) Chư Yang Sin có trạng thái rừng trung bình, được quy hoạch là rừng đặc dụng, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại VQG, đồng thời ảnh hưởng đến khu di tích lịch sử cách mạng hang Đắk Tour”.
Đáng nói là, trong thời gian từ 2005 đến nay, một số sở ngành của tỉnh này dường như cố tình nỗ lực cho dự án được tiếp tục, dù Ban chỉ đạo Tây Nguyên đã đề nghị tạm ngưng xây mới thủy điện ở Tây Nguyên, và lãnh đạo VQG cũng kịch liệt phản đối.
Chủ đầu tư dự án vô tư phát biểu: VQG Chư Yang Sin rộng hàng trăm ngàn hécta mà công trình chỉ chiếm 6ha là quá nhỏ... Hơn nữa, chim, thú rừng không sống ở VQG Chư Yang Sin thì sống nơi khác, có gì phải lo.
Cách đây chưa lâu, phóng viên đài truyền hình VN tại Mỹ phản ánh câu chuyện một làng dân tộc gốc Hà Lan chuyển sang sống ở Mỹ hơn 100 năm nay. Họ sống trong một cộng đồng chặt chẽ đến mức giữ nguyên được những phong tục, lễ nghi, hội hè của dân tộc mình, đồng thời từ chối dùng những sản phẩm của thế giới văn minh. Đó là kiểu phòng vệ tiêu cực. Nhưng, để chống lại sự xâm lấn đe dọa từ những người tham lam chỉ nhìn thấy lợi ích ngắn hạn, họ đã bảo thủ một cách hợp lý.
Trở lại với Việt Nam. Cứ thế này, có thể rừng núi rồi sẽ không thể dang tay nối lại biển xa được nữa. Những người rừng dù muốn cũng không thể quay về rừng. Cái giá phải trả cho lợi ích ngắn hạn là quá lớn và lâu dài.(Tiền Phong 8/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Các chuyên gia Nhật Bản đã thành lập một ngân hàng tinh trùng dành cho những động vật bị đe dọa tuyệt chủng bằng cách sử dụng công nghệ sấy thăng hoa. Họ hy vọng một ngày nào đó ngân hàng này giúp con người tái tạo “dân số” động vật trên các hành tinh khác.
Nhóm nghiên cứu ở Đại học Kyoto đã bảo quản thành công tinh trùng lấy từ hai loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng và một loài hươu cao cổ. Phó giáo sư Takehito Kaneko cùng các cộng sự đã dùng chất lỏng bảo quản đặc biệt và lưu giữ tinh trùng ở nhiệt độ 4oC.
Phó giáo sư Kaneko cho biết, dù công nghệ này chưa áp dụng với người, nhưng đó là khả năng mà họ muốn khảo sát trong tương lai. (Phụ Nữ TPHCM 6/9) đầu trang(
Một ngôi làng ở tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) có bệnh viện nổi dành cho rùa biển duy nhất trên thế giới để chăm sóc cho loài vật bị đe dọa tuyệt chủng này, theo hãng tin UPI.
Bệnh viện trên tọa lạc tại cảng Xincun, nơi có một ngôi làng nổi mà ở đó cư dân hiếm khi lên đất liền và sống trong những căn nhà gỗ nhỏ được dựng trên những dãy bè cá.
Bệnh viện được sáng lập bởi Fredericl C. Yeh, một người Mỹ gốc Trung Quốc đã tốt nghiệp Trường Y Đại học John Hopkins vào năm 2005.
Với kế hoạch ban đầu là trở thành bác sĩ, trong một chuyến về thăm Hải Nam vào năm 2007, Yeh phát hiện rùa biển bán để lấy thịt và mai tại các chợ ở địa phương.
Quyết định thay đổi đường hướng sự nghiệp, vào năm 2008, Yeh thành lập Sea Turtle 911, một tổ chức phi chính phủ chuyên giải cứu rùa biển tại Hải Nam.
Trong 4 năm qua, Yeh và một nhóm tình nguyện viên đã cứu hơn 150 con rùa, khoảng 2/3 trong số chúng đã được thả về biển.
Ngoài việc giải cứu rùa biển, nhóm của Yeh còn tổ chức các khóa huấn luyện giải cứu rùa biển, vận động trẻ em và các gia đình tham gia nỗ lực bảo vệ loài vật quý hiếm này. (Thanh Niên 5/9) đầu trang(
Báo cheetah của châu Phi không chỉ vận dụng tốc độ và sự nhanh nhẹn trong lúc săn mồi, mà còn dùng trí thông minh để phán đoán đường tẩu thoát của từng dạng con mồi khác nhau.
Các nhà khoa học thuộc Đại học Belfast của Nữ hoàng ở Bắc Ireland đã sử dụng dữ liệu GPS và gia tốc kế gắn trên báo cheetah, kết hợp với các phương pháp quan sát truyền thống, để tìm hiểu năng lực săn mồi của loài này.
“Nghiên cứu cho thấy trong khi báo cheetah có khả năng chạy ở tốc độ nhanh không tưởng, không thể nào dùng cách suy luận thông thường để kết luận rằng chúng bắt nhiều con mồi nhanh nhẹn hơn chỉ vì chạy nhanh hơn”, theo trang tin Science Codex dẫn lời nhà sinh học Michael Scantlebury.
Ông Scantlebury cho hay nếu các cuộc nghiên cứu trước đây nhấn mạnh vào tốc độ và khả năng tăng tốc ấn tượng của loài báo trên, báo cáo mới cho thấy kỹ năng săn mồi mới đáng chú ý, đặc biệt “cân đo” cho từng đối tượng con mồi.
Cách báo cheetah săn mồi bao gồm 2 giai đoạn chính: giai đoạn 1 là tăng tốc để nhanh chóng bắt kịp con mồi, kế đến là giai đoạn chậm dần, phán đoán hướng đào thoát của từng dạng con mồi.
Một số loài, như đà điểu, thỏ rừng, linh dương cố gắng chạy thoát bằng cách đột ngột thay đổi hướng di chuyển, trong khi các loài linh dương khác, như linh dương Nam Phi, chạy nhanh theo đường thẳng. (Thanh Niên 7/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa