Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 05 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 6-5, UBND thành phố ban hành văn bản yêu cầu UBND các quận, huyện có rừng chuẩn bị tốt các điều kiện cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô năm 2016, tuyên truyền PCCCR bằng nhiều hình thức, chỉ đạo tăng thời lượng phát các bản tin dự báo cháy rừng trên hệ thống phát thanh, truyền thanh của địa phương; kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, các chính sách liên quan đến quản lý bảo vệ rừng, PCCCR và phát triển rừng trên địa bàn.
Đồng thời, tổ chức lực lượng trực 24/24 giờ trong những ngày nắng nóng, khô hạn; phối hợp với lực lượng Kiểm lâm canh phòng, kiểm soát chặt chẽ người vào khu vực rừng có nguy cơ cháy cao, tạm dừng các hoạt động xử lý thực bì vào những ngày nắng nóng, khô hạn khi có cảnh báo của Chi cục Kiểm lâm. Mọi trường hợp xử lý thực bì trong mùa khô phải được sự đồng ý của Chủ tịch UBND phường xã, thông báo cho lực lượng Kiểm lâm và cử cán bộ của phường xã cùng lực lượng Kiểm lâm theo dõi, giám sát.
Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Công an thành phố, Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy thành phố phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, thường xuyên tổ chức các hoạt động kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, kiên quyết xoá bỏ các điểm nóng về chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép; khi có cháy rừng kịp thời triển khai lực lượng cơ động chữa cháy rừng theo lệnh điều động của cấp có thẩm quyền.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tổ chức lực lượng trực 24 giờ trong ngày, phối hợp với chính quyền địa phương các cấp tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát tại các khu vực rừng trọng điểm về phá rừng, nguy cơ cháy rừng cao để có biện pháp ngăn chặn kịp thời; kiểm tra, xử lý nghiêm những vi phạm quy định PCCCR theo quy định pháp luật và rà soát bổ sung tiến hành lắp đặt các biển báo cấm lửa tại các khu vực có nguy cơ cháy cao để các tổ chức, cá nhân biết và chấp hành; thường xuyên theo dõi thời tiết ban hành các Bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn gửi đến các cơ quan, đơn vị liên quan. Phối hợp với Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy thành phố tổ chức kiểm tra các chủ rừng về phương án PCCCR; yêu cầu các chủ rừng chuẩn bị các phương tiện để sẵn sàng tham gia chữa cháy và chỉ huy chữa cháy rừng khi có cháy xảy ra.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc quản lý các đơn vị đang kinh doanh các hoạt động du lịch sinh thái rừng, yêu cầu các đơn vị phải có phương án quản lý bảo vệ rừng, PCCCR được cơ quan thẩm quyền phê duyệt. Khi triển khai các hoạt động du lịch trong rừng, ven rừng phải cảnh báo và nghiêm cấm du khách không được sử dụng lửa trong mọi hoạt động vui chơi, giải trí.
Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường khi tiến hành khảo sát thực địa phục vụ công tác quy hoạch và giao đất cho các dự án trên đất lâm nghiệp phải đảm bảo an toàn trong công tác PCCCR và có sự tham gia của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh Truyền hình thành phố đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều hình thức phù hợp về chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, kế hoạch, biện pháp, tình hình PCCCR - bảo vệ rừng, các thông tin dự báo thời tiết, công tác xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tuyên truyền cho nhân dân các biện pháp PCCCR. (Cổng Thông Tin Điện Tử TP.Đà Nẵng 9/5) đầu trang(
Khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau là thời gian đỉnh điểm của mùa khô, do vậy nguy cơ cháy rừng là rất cao nên huyện Chợ Đồn đang tăng cường công tác phòng chống cháy rừng.
Hiện nay, huyện Chợ Đồn có nhiều diện tích rừng dễ cháy, chủ yếu là rừng trồng các loài cây như thông, mỡ, keo, quế, diện tích rừng tự nhiên tái sinh đang trong thời kỳ phục hồi và diện tích rừng tự nhiên trên núi đá có nhiều gỗ quý hiếm. Để chủ động trong công tác phòng, chống cháy rừng, ngay từ đầu mùa khô năm 2015 - 2016, Hạt kiểm lâm địa phương đã phối hợp với các xã tổ chức tập huấn cho người dân các biện pháp phòng chống cháy rừng.
Song song với đó, thông qua các cuộc họp thôn, bản tổ chức tuyên truyền đến nhân dân Luật bảo vệ và phát triển rừng. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn, từ tháng 9 năm 2015 đến nay, 80% thôn, bản trên địa bàn huyện đã tổ chức họp thôn tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng các văn bản về phòng chống cháy rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 9/5) đầu trang(
Những bất cập về chính sách, di cư tự do, về nhận thức và trách nhiệm yếu kém của nhiều người dân và chính quyền khiến hàng ngàn hecta rừng bị tàn phá mỗi năm.
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến phá rừng ở Tây Bắc, phải kể đến sự gia tăng của dân di cư tự do. Đây chính là “vấn đề” của Tây Bắc, không chỉ góp phần quan trọng vào tình trạng phá rừng, mà còn ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
Theo thống kê của Ban chỉ đạo Tây Bắc, 10 năm qua, tại các tỉnh vùng Tây Bắc có 14.950 hộ, trên 76.600 khẩu di cư tự do. Để có đất sản xuất, các hộ này đã ngang nhiên phá rừng nơi họ đến, bất chấp luật pháp và sự quản lý, xử lý của các cơ quan chức năng.
Nhằm giải quyết tình trạng dân di cư tự do, ngày 28/3 mới đây, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 2048 yêu cầu UBND các tỉnh có dân di cư đến địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên sau thời điểm 30/4/2011, khẩn trương có kế hoạch làm việc cụ thể với Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 8476/VPCP - KTN ngày 16/10/2015. Tuy nhiên, đến nay chưa có tỉnh nào thực hiện.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên đề nghị: “Đúng theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ thì các tỉnh có bà con di cư vào tỉnh Điện Biên sẽ đón dân mình trở về và sắp xếp nơi ở và bố trí đất canh tác. Tỉnh Điện Biên đã có văn bản đề nghị các tỉnh và mong muốn các tỉnh thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ”.
Một nguyên nhân cơ bản khác liên quan đến lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng là kiểm lâm nhân dân. Theo Nghị định số 119 năm 2006 của Chính phủ, mỗi kiểm lâm viên được quy định phụ trách 1.000 hecta rừng. Tuy nhiên, tại các tỉnh Tây Bắc hiện nay, nhiều kiểm lâm viên đang phải phụ trách 2.000 đến 3.000, thậm chí 4.000 hecta rừng.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu, ông Nhữ Văn Cường, nói: “Lực lượng kiểm lâm Lai Châu hiện nay rất mỏng, mới đạt được 50% theo quy định. Từ năm 2012 đến giờ chúng tôi chưa bổ sung thêm được biên chế nào, kể cả cán bộ nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác trống chỗ”.
Đối chọi lại tình trạng phá rừng, thì việc giữ rừng và trồng rừng có vai trò quyết định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc đầu tư trồng rừng phòng hộ với mức 15 triệu đồng/hecta là quá thấp đối với đặc thù Tây Bắc. Về định mức giao khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên cũng vậy, các địa phương khu vực Tây Bắc hiện đang áp dụng theo Quyết định số 60 ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ là 200.000 đồng/hecta rừng/năm. Theo các hộ dân, mức này quá ít, không khuyến khích được họ gắn bó với rừng, càng không thể làm giàu từ rừng.
Tây Bắc có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc cao, nhiều vùng sinh thái và xa trung tâm phát triển, tình trạng di dân tự do rất đáng lo ngại. Số huyện nghèo tại 5 tỉnh vùng trung tâm Tây Bắc là Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái chiếm tới 1/3 tổng số các huyện nghèo nhất của cả nước. Tây Bắc cũng là vùng khó khăn nhất về kinh tế, cơ sở hạ tầng: đường bộ kém phát triển, đường sắt không có, đường thủy hạn chế.
Xấp xỉ 90% diện tích rừng Tây Bắc là rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng nghèo, không có nguồn thu. Trong khi đó, trình độ nhận thức, việc tiếp thu khoa học công nghệ của người dân vào sản xuất còn hạn chế. Thực tế đó cho thấy, cần có cơ chế, chính sách đặc thù đối với Tây Bắc về phát triển rừng.
Ông Trương Xuân Cừ, Phó Ban chỉ đạo Tây Bắc nói: “Rừng là một trong những thế mạnh. Nhưng để có thể nuôi sống được đồng bào thì phải có chính sách đặc thù và thiết thực, phù hợp với từng loại rừng, từng vùng miền. Ví dụ như chính sách khoanh nuôi thì không thể áp dụng chung cho tất cả các vùng, mà phải tùy từng tỉnh, tỉnh này có thể 1 hecta cao hơn, tỉnh kia 1 hecta thấp hơn… phải như thế, chứ ra đồng loạt là rất khó”.
Xin được nhắc lại, rừng Tây Bắc ngoài vai trò là “mái nhà” che, đảm bảo an toàn sinh thái cho 3,7 triệu hecta nội vùng Tây Bắc và cho cả vùng đồng bằng sông Hồng, còn có vai trò phòng hộ vô cùng quan trọng cho các nhà máy thủy điện: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà… Những mùa khô gần đây, các hồ chứa nhà máy thủy điện luôn trong nguy cơ thiếu nước, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất điện và vùng hạ lưu châu thổ Sông Hồng. Thời điểm này, chuẩn bị bước vào mùa trồng rừng 2016, nhiều tiếng nói lại vang lên, đừng để “mất bò mới lo làm chuồng”, mà cần quyết liệt cứu, giữ và phục hồi rừng Tây Bắc.
Những bất cập về chính sách, về vấn nạn dân di cư tự do, về nhận thức và trách nhiệm yếu kém của một bộ phận không nhỏ người dân và cán bộ chính quyền, đã dẫn đến hàng ngàn hecta rừng bị tàn phá mỗi năm, trong khi trồng rừng thay thế chỉ đạt trên dưới 1/3 yêu cầu; Và hệ lụy là sự cuồng nộ ngày càng tăng của thiên nhiên, với lũ ống, lũ quét, bão, lốc, hạn hán, sạt lở đất, cũng như nguy cơ thiếu nước luôn luôn hiện hữu vào mùa khô của các hồ chứa các nhà máy thủy điện Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà. Đó là bức thông điệp đang phát đi từ đại ngàn Tây Bắc. Thông điệp đó không thể làm ngơ đối với tất cả chúng ta. (VOV Giao Thông 9/5) đầu trang(
Cát tặc không chỉ công khai ăn cắp cát tại các bãi lộ thiện Trường Xuân và Thọ Lộc (Tịnh Hà), mà còn tận dụng triệt để cơ hội và thời gian đục khoét vào diện tích rừng. Cụ thể, vườn cây trồng hơn 15 năm nay của ông Trần Ngọc Thạch bị cát tặc khai thác trái phép, làm phần lớn diện tích vườn cây bị ngã đổ, gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Toàn xã Tịnh Hà có khoản 100ha đất bãi bồi ven sông Trà, nếu cải tạo sẽ trồng cây lâu năm, cây chắn lòng nước… tạo vùng đất màu mỡ, phù sa; tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương vốn dĩ đang thiếu trầm trọng đất nông nghiệp để sản xuất.
Tháng 6/1994, UBND xã có tờ trình về việc sử dụng vùng bãi cát bồi Thọ Lộc - Trường Xuân để giao cho các hộ dân trồng cây lâm nghiệp, cây lâu năm và được UBND huyện Sơn Tịnh phê duyệt.
Ngày 10/7/1994, UBND xã và đại diện thôn Trường Xuân lập biên bản giao mốc giới cho ông Thạch với diện tích 29,66ha đất thuộc tờ bản đồ số 8 Tịnh Hà trong đó đất trồng dâu 6,36ha, còn lại trồng cây lâu năm là 23,2ha .
Là người địa phương đã từng tham gia bám trụ trong kháng chiến, giữ chức Xã đội Trưởng rồi Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã Tịnh Hà (trước khi nghỉ hưu là Phó Chánh Thanh tra Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất), ông Thạch am hiểu từng bến sông, bãi đất. Ông mạnh dạn đứng ra nhận đất bãi bồi và trồng được 15ha với gần 300 ngàn cây keo lá tràm, bạch đàn.
Trong quá trình sử dụng đất, tranh thủ cả thời gian sớm tối, ngày nghỉ, ông Thạch miệt mài gắn bó với bãi bồi và chăm sóc rừng cây gồm hàng trăm ngàn cây giống ngày càng cao to, rợp màu xanh ngát trên bãi bồi vốn dĩ nóng rát thuở nào... Rừng cây của ông chạy dài 600m từ cầu Trường Xuân lên xóm Vạn (thôn Thọ Lộc Tây). Tỷ lệ cây sống là 7ha và đã từng được ngành chứng năng kiểm định, đánh giá mức đầu tư, chăm sóc lên đến 7 tỷ đồng đền bù thiệt hại, nếu thu hồi đất để giao quyền khai thác cát cho đơn vị khác.
Dẫn chúng tôi ra thăm vườn cây, ông Thạch đau xót khi chứng kiến cảnh tài sản của mình nhưng bị người khác “cướp” một cách trắng trợn giữa ban ngày.
Cát tặc đã mở cùng lúc 5 con đường chạy xuyên vào giữa rừng cây và mỗi ngày có hàng chục xe tải ngang nhiên vào đây xúc cát. Trước mắt chúng tôi, hàng trăm cây cao lớn bị ngã trơ gốc bên các cây khác đã khô trơ trụi cành lá. Bên cạnh đó, cát tặc còn đào khoét nhiều hố âm đến 2 - 3m chạy quanh các gốc cây để lấy cát, làm cây ngã đổ la liệt. Có những cây trơ trọi gốc trên nỗng cát nhỏ, chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua nó sẽ ngã bật ngay tức thì.
Ngoài cái chòi tạm nằm ven mép sông thấp thoáng bóng một vài phụ nữ với vai “chủ bãi” thường xuyên túc trực ở đây để thu tiền “bến” của các xe tải kiếm lợi vài triệu đồng/ngày. Còn diện tích rừng cây của ông Thạch, ngày càng bị gặm nhấm, xói lở và ngã dần, hiện nay chỉ còn gần 1,5ha.
Thấy 6 - 7 người cả nam lẫn nữ đang hì hục dùng xẻng móc sâu vào gốc cây gỗ to để đưa cát lên xe, ông Thạch dậm chân hò la khản cả cổ yêu cầu dừng lại vì cây sắp bị ngã nhưng người xúc cát vẫn tỉnh bơ: “Cho xin một xe đổ nền nhà mới xây rồi thôi…”. Hơn 1 giờ sau, chúng tôi thấy chính chiếc xe biển kiểm soát này tiếp tục chạy vào vườn cây của ông Thạch “ăn cát”, như là “chốn không người”.
Ông Nguyễn Thanh Đình, Phó Chủ tịch UBND xã Tịnh Hà than thở: “Hằng ngày xe tải ra vào lấy cát công khai trong vườn cây của ông Thạch như bươm bướm, phá nát vườn cây cao to của ông mà chính quyền không biết cách nào ngăn chặn. Đành rằng, ngân sách không thu được đồng nào mà xe chở cát còn phá nát đường giao thông xóm Vạn, Thọ Lộc Tây xuống đến Trường Xuân…”.
Một cán bộ tổ nông dân Thọ Lộc Tây cho biết: Không chỉ khai thác trộm cát mà họ còn dã tâm đến mức khi thấy cây to của ông Thạch bị ngã, đã dùng xe tải kéo ra sông chặt bỏ cành lá, cắt thành nhiều khúc rồi dùng ghe đẩy gỗ về bán cho các xưởng cưa lấy tiền. Trong khu vực vườn cây của ông Thạch cũng từng có người tử vong khi đi lấy củi khô, không may cây to bị khoét quanh gốc bất ngờ bật rễ đè lên người, nhưng họ cứ phớt tỉnh làm liều… Hậu quả nhãn tiền về vườn cây ông Thạch hầu như chính quyền địa phương đều biết!
Đầu năm 2015, lãnh đạo xã Tịnh Hà đã họp bàn và nhận định: Gần đây, một số người dân bất chấp luật pháp, tự ý đào bới trong khu vực diện tích trồng cây của ông Thạch đầu tư trồng năm 1993, nay bị hư hại, tổn thất lớn đến tài sản cá nhân. Cuộc sống cư dân bị xáo trộn phát sinh biểu hiện tệ nạn xấu trong địa phương. Thời gian qua, có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng không hiệu quả, tình trạng khai thác cát bừa bãi tại đây xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng hơn…
Thay vì có giải pháp tối ưu để xử lý triệt để vấn nạn cát tặc thì lãnh đạo xã lại lựa chọn: “Do nạn khai thác cát bừa bãi vài năm đến nay không chấm dứt, xâm hại việc phát triển rừng cây gây tổn thất nặng; nên cần có biện pháp khẩn trương, hữu hiệu hơn nhằm giải quyết hợp lý tình trạng xấu diễn ra, xã đề nghị cấp thẩm quyền đồng ý chuyển khu vực bãi bồi này, trong đó đưa phần diện tích trồng cây của ông Thạch đang sử dụng để tổ chức đấu giá khai thác cát đúng quy định; nhằm lập lại trật tự và đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người sử dụng…”.
Cũng từ đây, tình trạng khai thác cát trái phép diễn ra rầm rộ, trắng trợn cả ngày lẫn đêm, dù chỉ nằm cách trụ sở UBND xã Tịnh Hà chưa đầy 3 km và cách các cơ quan công quyền của huyện Sơn Tịnh 5 km nhưng chính quyền vẫn “bó tay” trước cát tặc. Quyền lợi chính đáng của ông Thạch bị xâm phạm dài dài…
Chia tay chúng tôi, ông Thạch ngậm ngùi: “Gần 20 năm lăn lộn, gắn bó và tự đầu tư vốn trồng vườn cây bãi bồi Thọ Lộc - Trường Xuân cao lớn, rồi DNTN Ngọc Đá của gia đình cũng tự nguyện bỏ ra hơn 500 triệu đồng làm đường giao thông cho người dân xóm Vạn, nay thành quả gần như công cốc…”.
Trước thực trạng vấn nạn cát tặc xâm phạm đến tài nguyên của đất nước và tài sản công dân ở Tịnh Hà, dư luận mong sớm nhận được câu trả lời của chính quyền huyện Sơn Tịnh và tỉnh Quảng Ngãi. (Thanh Tra 10/5) đầu trang(
Sau những ngày cơ cực, nhiều hiểm nguy, chúng tôi đã lọt dược vào dại công trường “phá rừng, khai thác than trái phép, xâm hại rừng quốc gia Yên Tử”! Những phản ánh của người dân về kỹ nghệ “đào mỏ” bán lậu than nguyên khai ra ngoài đã dần hé lộ...
Theo nguồn tin của ông Đ, một người dân sống tại Uông Bí, Quảng Ninh cho biết: “Nhiều năm nay, ở rừng quốc gia Yên Tử đang diễn ra tình trạng khai thác than trái phép. Trong đó, có Công ty TNHH MTV 91 (Công ty than 91) - thuộc Tổng Công ty Đông Bắc đã mở một hầm lò than “bất hợp pháp” nằm trong rừng quốc gia Yên Tử.
Không chỉ có vậy, Công ty này còn “móc ngoặc” với đơn vị quản lý lâm trường, kiểm lâm để chặt cây rừng, san ủi gần chục ha đồi rừng để khai thác trên 100.000 tấn than lộ thiên trái phép bán ra ngoài, chia chác cho nhau...”.
Lo lắng trước việc rừng quốc gia Yên Tử bị xâm hại, chúng tôi quyết định hành trình đi tìm sự thật. Tuy nhiên, hành trình trước mắt chúng tôi đầy hiểm nguy! Con đường độc đạo dài gần 5km vào khu vực khai thác than trái phép rất hiểm trở, với nhiều trạm bảo vệ nghiêm ngặt. Người lạ nếu qua mặt được đội “chim lợn” và các trạm bảo vệ đeo băng đỏ, thì cũng khó tìm ra điểm khai thác than trái phép nằm sâu trong rừng.
Sau nhiều ngày đeo bám những đoàn xe “hổ vồ” vào “ăn” than rồi chở ra khu vực Cảng Điền Công, cũng có lúc chúng tôi phải đóng vai thành những công nhân mở thực thụ, mới tìm được những điểm khai thác than trái phép theo phản ánh.
Khoảng l0h30’, trong vai người dân đi hái măng rừng, nhóm Phóng viên chúng tôi đã có mặt tại một cửa lò than không có số hiệu nằm trong khu vực rừng quốc gia Yên Tử và đã tận mắt chứng kiến hoạt động khai thác than ở đây. Những toa xe chở than cứ đều đặn, ì ạch cõng than trong hầm lò ra đổ xuống một sườn đồi dốc thẳng đứng.
Theo ghi nhận của chúng tôi, cửa hầm lò này không có bảng biển thông báo thông tin. Chúng tôi hỏi chuyện những công nhân đang làm việc ở đây thì biết được một số thông tin: Lò than này có tên là cửa lò 265, cách chùa Đồng (Yên Tử) 2km và lò than cũng đã đào được 2km (!). Cửa lò than bí hiểm này lúc nào cũng đóng kín, nó chỉ mở cửa khi có những gông than chạy từ trong đổ than xuống, rồi lại đóng lại khi những gòng sắt không quay trở vào.
Thông tin trên khiến cho chúng tôi lo ngại! Liệu cái lò than của Công ty than 91 này có “ăn” thẳng về chùa Đồng hay không? Nếu mà đi thẳng về chùa Đồng thì Yên Tử, chốn tâm linh và sinh thái, báu vật vô giá của tạo hóa và lịch sử dân tộc trao tặng cho Quảng Ninh đang bị xâm hại nghiêm trọng?
Bí mật chụp một số ảnh làm tư liệu, chúng tôi tiếp tục sang một đại công trường khai thác than lộ thiên trái phép cách đó chừng lkm.
Tranh thủ giờ nghỉ trưa, băng qua một con suối nhỏ đi về hướng đông nam, chúng tôi bất ngờ phát hiện cả một khu đồi rừng Yên Tử rộng lớn mênh mông đang bị băm vằm, san ủi mặt bằng để tạo khai trường khai thác một vỉa than lộ thiên rất lớn. Nhiều quả đồi đã bị xẻ thịt. Mầu đất đỏ lạc lõng nằm trơ giữa rừng xanh Yên Tử.
Đi sâu vào bên trong khai trường, chúng tôi ghi nhận được chiếc máy múc hiệu Volvo và xe tải mang lô gô của Công ty than 91 nằm cạnh ngọn núi đã bị bóc mất một nửa! Tiến sát vào ngọn núi, chúng tôi thấy một vỉa than đen bóng ánh kíp lê đang bị khai thác dở. Vỉa than lộ ra này ước tính có chiều dài hơn 30m, chiều rộng khoảng 3m. Lớp đất đá, cây rừng phủ phía trên vỉa than chỉ khoảng 1,5 đến 2 mét.
Quả đúng như phản ánh của người dân: theo quy định, Công ty than 91 chi chuyên khai thác than hầm lò, không được khai thác than lộ thiên. Nhưng với chiêu bài “xin” nắn, hạ độ dốc mở đường tránh vào khu mỏ 300 và việc hoàn nguyên bãi sạt lở, doanh nghiệp này đã bốc hót hàng ngàn mét khối đất đá để khai thác trên 100.000 tấn than lộ thiên trái phép bán cho các cá nhân, doanh nghiệp bên ngoài, núp bóng dưới hình thức bán xít than. Ban ngày, Công ty 91 cho thiết bị chuyên dùng để đào than lộ thiên, ban đêm tổ chức cho doanh nghiệp, tư nhân, gồm: ông Đông, ông Nhạc, ông Sáng, ông Hạnh, ông Nghĩa, ông Tâm, ông Đạt, ông Dũng ở Uông Bí và Đông Triều cho xe tư nhân vào lấy than chở xuống cảng Đền Công và một bãi tập kết than trái phép tại một vạt rừng vắng cạnh khu chế biến than của Công ty than Uông Bí, trên địa bàn xã Hoàng Quế, huyện Đông Triều... rồi bán lậu cho bên ngoài.
Bám theo những chuyến xe chở than, theo chỉ dẫn của người dân, nhóm phóng viên chúng tôi đã tận mục sở thị một bãi tập kết than trái phép rất lớn tại xã Hoàng Quế, Đông Triều lúc nào cũng có một xe máy múc than và gần chục bảo vệ mặc quần áo rằn ri, tay đeo băng đỏ. Khi phát hiện những chiếc xe lạ xuất hiện cùng máy quay camera, các bảo vệ này lập tức lấy vải bạt che 2 đống than lớn lại để cảnh giới...
Để xác minh thông tin lò than 265 của Công ty than 91 có được cấp phép hay không, chúng tôi đã có buổi làm việc với Ban quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử. Sau khi chúng tôi đưa ra thông tin có một cửa lò than của Công ty than 91 nằm ở rừng quốc gia Yên Tử, ông Phạm Văn Dược -Phó Giám đốc Ban quản lý cho biết: “Đấy đúng là cửa lò than 265 là của Công ty than 91. Cửa lò này theo như Công ty cho biết là được “cấp phép”. Tuy nhiên, theo ông Dược, để biết chắc chắn phải làm việc với Công ty than 91”.
Tạm gác lại việc cửa lò 265 có được phép hay không, chúng tôi đặt vấn đề về việc cửa lò than này có nằm vào khu vực bảo vệ cảnh quan rừng quốc gia Yên Tử không? Ông Dược thừa nhận: “Điểm lò 265 nằm cách đỉnh Yên Tử 2km và nằm trong khu bảo tồn cánh quan cần được bảo vệ của Yên Tử”.
Chúng tôi hỏi ông Dược “Thông tin cho biết lò than 265 của Công ty than 91 đã đào lò khai thác được 2km, liệu có đào vào khu vực thân núi chùa Đồng hay không? Và với giấy phép khai thác thời hạn 15 năm đã được cấp, có ảnh hưởng đến độ an toàn cho khu di tích Yên Tử không?”, ông Dược cho biết: “Việc này chúng tôi sẽ đề nghị cơ quan chức năng kiểm tra cụ thể về hiện trạng thực tế họ đã khai thác được bao nhiêu km hầm lò, sản lượng than đã khai thác? Hướng khai thác trong những năm tiếp theo sẽ là thế nào(?)... mới xác định được. Việc đảm bảo tuyệt đối an toàn cho khu cảnh quan Yên Tử phải đặt lên hàng đầu...”
Cũng theo ông Dược, có nhiều đơn vị xin khai thác than ở khu di tích Yên Tử nhưng không được cấp phép. Năm 2008, Công ty than 91 có xin mở một cửa lò cách cửa lò 265 hiện nay lkm, nhưng Ban quản lý phản đối nên phải dừng lại vì nằm sâu trong khu di tích...
Vậy lò than 265 của Công ty than 91 có được phép hay không? Và có ảnh hưởng đến rừng quốc gia Yên Tử hay không? Nhóm phóng viên chúng tôi đã trực tiếp gặp ông Khảm — Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty than 91 và Đại tá Bảo Anh — Phó tổng Giám đốc Tổng công ty than Đông Bắc nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu với đề nghị “bỏ qua không viết phê bình, chỉ “xin” được viết về mặt tốt của doanh nghiệp quân đội này...”.
Tại buổi làm việc với Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Đông Triều, ông Nguyễn Văn Thành - Tổng giám đốc Công ty cho biết: “Hai tháng trước đây, chúng tôi đã kiểm tra, lập biên bản về việc san gạt mặt bằng, làm đường tránh nhưng chưa có hồ sơ thủ tục của Công ty than 91, nhưng họ không ký văn bản. Đến nay, Công ty 91 cũng chưa chuyển các văn bản có được phép khai thác than lộ thiên cho chúng tôi. Đồng chí Mạnh - Phó Giám đốc Công ty 91 nói với chúng tôi là chỉ xin mở đường tránh vào khu vực khai thác than (điểm 300) của họ chứ không có hoạt động khai thác than lộ thiên ở đây. Việc phá núi của Công ty than 91 là sai vì không được cấp có thẩm quyền cho phép. Nhưng việc làm sai này của Công ty than 91, chúng tôi cũng không lập biên bản mà chỉ nhắc nhở bằng mồm. Theo ước tính diện tích đất rừng bị Công ty than 91 san gạt là khoảng 5ha...”..
Khi phóng viên đưa ra những bằng chứng về việc khu vực san gạt mặt bằng của Công ty than 91 có than lộ thiên, ông Thành lúng túng và nói sẽ phối hợp với Kiểm lâm để đi kiểm tra ngay.
Làm việc với Hạt Kiểm Lâm thị xã Đông Triều, ông Nguyễn Văn Triển - Hạt trưởng cũng nói chẳng khác nào ông Thành - Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều. Hóa ra là hai ông này “vi hành” cùng nhau! Cho nên, ông Hạt trưởng thị xã Đông Triều cũng luôn miệng khẳng định Công ty than 91 san gạt đồi để làm đường đi cho đỡ trơn trượt chứ không hề khai thác than lộ thiên. Rằng, diện tích bị san gạt khoảng 5ha, việc làm của Công ty than 91 là sai, nhưng ông cũng chỉ nhắc nhở bằng miệng!
Sau khi chúng tôi đưa ra tài liệu thể hiện có việc Công ty than 91 xẻ thịt đồi núi để lấy than lộ thiên, ông Triển mới “hạ giọng” quy trách nhiệm cho cấp dưới. “Nếu công ty than 91 tổ chức khai thác than lộ thiên như vậy là hoàn toàn trái phép. Hành vi đó ngoài việc sẽ bị xử lý nghiêm theo Luật lâm nghiệp còn bị xử lý theo Luật Khai thác khoáng sản. Vậy mà các cán bộ Trạm kiểm lâm Bình Khê của chúng tôi ở đấy không thấy phát hiện, báo cáo gì?”.
Khi chúng tôi cho ông Triển xem ảnh chụp một cán bộ kiểm lâm đang cưỡi xe máy đứng cạnh vỉa than lộ thiên trong rừng, thì ông Triển nhận ngay ra đó là ông Nhã – Kiểm lâm viên đang chuẩn bị được kết nạp Đảng của Trạm kiển lâm Bình Khê. Trước những thông tin và hình ảnh khá “sốc” này, ông Triến đã khẳng định với Phóng viên là sê bố trí lịch đi kiểm tra hiện trường sau 3 ngày nghỉ giỗ tổ Hùng Vương...”. (Bảo Vệ Pháp Luật 10/5) đầu trang(
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến phá rừng ở Tây Bắc, phải kể đến sự gia tăng của dân di cư tự do. Đây chính là “vấn đề” của Tây Bắc, không chỉ góp phần quan trọng vào tình trạng phá rừng, mà còn ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
Theo thống kê của Ban chỉ đạo Tây Bắc, 10 năm qua, tại các tỉnh vùng Tây Bắc có 14.950 hộ, trên 76.600 khẩu di cư tự do. Để có đất sản xuất, các hộ này đã ngang nhiên phá rừng nơi họ đến, bất chấp luật pháp và sự quản lý, xử lý của các cơ quan chức năng.
Nhằm giải quyết tình trạng dân di cư tự do, ngày 28/3 mới đây, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 2048 yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh có dân di cư đến địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên sau thời điểm 30/4/2011, khẩn trương có kế hoạch làm việc cụ thể với UBND tỉnh Điện Biên theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 8476/VPCP – KTN ngày 16/10/2015. Tuy nhiên, đến nay chưa có tỉnh nào thực hiện.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên đề nghị: “Đúng theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ thì các tỉnh có bà con di cư vào tỉnh Điện Biên sẽ đón dân mình trở về và sắp xếp nơi ở và bố trí đất canh tác. Tỉnh Điện Biên đã có văn bản đề nghị các tỉnh và mong muốn các tỉnh thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ”.
Một nguyên nhân cơ bản khác liên quan đến lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng là kiểm lâm nhân dân. Theo Nghị định số 119 năm 2006 của Chính phủ, mỗi kiểm lâm viên được quy định phụ trách 1.000 héc ta rừng. Tuy nhiên, tại các tỉnh Tây Bắc hiện nay, nhiều kiểm lâm viên đang phải phụ trách 2.000 đến 3.000, thậm chí 4.000 héc ta rừng.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu, ông Nhữ Văn Cường, nói: “Lực lượng kiểm lâm Lai Châu hiện nay rất mỏng, mới đạt được 50% theo quy định. Từ năm 2012 đến giờ chúng tôi chưa bổ sung thêm được biên chế nào, kể cả cán bộ nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác trống chỗ”.
Đối chọi lại tình trạng phá rừng, thì việc giữ rừng và trồng rừng có vai trò quyết định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc đầu tư trồng rừng phòng hộ với mức 15 triệu đồng/ha là quá thấp đối với đặc thù Tây Bắc. Về định mức giao khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên cũng vậy, các địa phương khu vực Tây Bắc hiện đang áp dụng theo Quyết định số 60 ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ là 200 ngàn đồng/ ha rừng/ năm. Theo các hộ dân, mức này quá ít, không khuyến khích được họ gắn bó với rừng, càng không thể làm giàu từ rừng.
Tây Bắc có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc cao, nhiều vùng sinh thái và xa trung tâm phát triển, tình trạng di dân tự do rất đáng lo ngại. Số huyện nghèo tại 5 tỉnh vùng trung tâm Tây Bắc là  Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái chiếm tới 1/3 tổng số các huyện nghèo nhất của cả nước. Tây Bắc cũng là vùng khó khăn nhất về kinh tế, cơ sở hạ tầng: đường bộ kém phát triển, đường sắt không có, đường thủy hạn chế. Xấp xỉ 90% diện tích rừng Tây Bắc là rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng nghèo, không có nguồn thu. Trong khi đó, trình độ nhận thức, việc tiếp thu khoa học công nghệ của người dân vào sản xuất còn hạn chế.
Thực tế đó cho thấy, cần có cơ chế, chính sách đặc thù đối với Tây Bắc về phát triển rừng.
Ông Trương Xuân Cừ, Phó Ban chỉ đạo Tây Bắc nói: “Rừng là một trong những thế mạnh. Nhưng để có thể nuôi sống được đồng bào thì phải có chính sách đặc thù và thiết thực, phù hợp với từng loại rừng, từng vùng miền. Ví dụ như chính sách khoanh nuôi thì không thể áp dụng chung cho tất cả các vùng, mà phải tùy từng tỉnh, tỉnh này có thể 1 ha cao hơn, tỉnh kia 1 ha thấp hơn… phải như thế, chứ ra đồng loạt là rất khó”.
Xin được nhắc lại, rừng Tây Bắc ngoài vai trò là “mái nhà” che, đảm bảo an toàn sinh thái cho 3,7 triệu ha nội vùng Tây Bắc và cho cả vùng đồng bằng sông Hồng, còn có vai trò phòng hộ vô cùng quan trọng cho các nhà máy thủy điện: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà…
Những mùa khô gần đây, các hồ chứa nhà máy thủy điện luôn trong nguy cơ thiếu nước, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất điện và vùng hạ lưu châu thổ Sông Hồng. Thời điểm này, chuẩn bị bước vào mùa trồng rừng 2016, nhiều tiếng nói lại vang lên, đừng để “mất bò mới lo làm chuồng”, mà cần quyết liệt cứu, giữ và phục hồi rừng Tây Bắc.
Những bất cập về chính sách, về vấn nạn dân di cư tự do, về nhận thức và trách nhiệm yếu kém của một bộ phận không nhỏ người dân và cán bộ chính quyền, đã dẫn đến hàng ngàn héc ta rừng bị tàn phá mỗi năm, trong khi trồng rừng  thay thế chỉ đạt trên dưới 1/3 yêu cầu; Và hệ lụy là sự cuồng nộ ngày càng tăng của thiên nhiên, với lũ ống, lũ quét, bão, lốc, hạn hán, sạt lở đất, cũng như nguy cơ thiếu nước luôn luôn hiện hữu vào mùa khô của các hồ chứa các nhà máy thủy điện Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà. Đó là bức thông điệp đang phát đi từ đại ngàn Tây Bắc. Thông điệp đó không thể làm ngơ đối với tất cả chúng ta. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 10/5) đầu trang(
Tình trạng mở đường, đốt phá tràn lan đất rừng sản xuất trên địa xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương (Nghệ An) khiến nhiều diện tích rừng do địa phương quản lý ngày một suy kiệt, môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Thanh Hà là một xã thuộc phía Tây Nam của huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp với tỉnh Bolikhamxai của Lào, phía Bắc giáp các xã Võ Liệt, Thanh Thủy và Thanh Long, phía Đông giáp dòng sông Lam và phía Nam giáp xã Thanh Tùng (được ngăn cách bằng một con sông nhỏ).
Thanh Hà là xã vùng cao, đời sống nhân dân là thuần nông, đa số cuộc sống còn khó khăn. Những năm trở lại đất việc việc phủ xanh đất trống, đồi trọc bằng các loại cây gỗ rừng trồng sau đó khai thác như nguồn gỗ keo, bạch đàn trên địa bàn nên đời sống của bà con có phần được cải thiện hơn.
Ngoài số diện tích đã được giao cho các hộ dân, một số diện tích được UBND xã Thanh Hà quản lý; tuy nhiên sự buông lỏng quản lý của chính quyền khiến cho một số diện tích rừng sản xuất khác của địa phương quản lý bị khai thác triệt để để làm gỗ củi một cách trái phép?
Những ngày đầu tháng 04/2016, phóng viên Báo điện tử Tầm nhìn liên tiếp nhận được các phản ánh của người dân ở hai xóm 14 và 15, xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương (Nghệ An) về tình trạng một số hộ dân tổ chức làm đường lên núi rồi phát sẻ khai thác gỗ củi ở địa bàn khu vực Động Cao và Giáp Chương Cố Thoạt, Già Vàu, Thung Lụa, Đỉnh Cờn Trò… cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 3 – 4 km đi bộ đường rừng về phía Tây.
Cảnh tượng mà chúng tôi có mặt tại hiện trường là nhiều diện tích rừng bị đốt phá tràn lan, phát sẻ và khai thác rầm rộ. Các chủ rừng thuê máy móc mở đường “chằng chịt” lên tận đỉnh đồi để chở gỗ củi xuống núi.
Trước tình trạng mở đường, chặt phá, phát sẻ rừng sản xuất tràn lan trên địa bàn, ngày 31/03/2016; UBND xã Thanh Hà đã có thông báo cho các hộ dân có rừng về việc ngừng phát sẻ, xử lý thực bì để trồng rừng; trong nội dung thông báo của địa phương số diện tích rừng cũng được địa phương xác nhận trong thông báo thuộc diện tích đất Lâm nghiệp thuộc tiểu khu 1003, tờ bản đồ số 02 thuộc rừng “Khoanh nuôi bảo vệ” (trạng thái rừng sản xuất 1C– PV).
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, tại quyết định số 48/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An ngày 15/08/2014 thì số liệu thống kê hiện tại trên địa bàn xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương có 2.711,90 (ha) đất rừng sản xuất. Chủ yếu rừng sản xuất trạng thái 1B, số hộ dân UBND huyện Thanh Chương giao đất và cấp bìa theo nghị định 163 của Chính phủ vào năm 2006.
Tại buổi làm việc với chính quyền địa phương sở tại, khi phóng viên đặt câu hỏi tình trạng mở đường, đốt phá rừng tràn lan trên địa bàn địa phương có nắm được không? Thì được ông Hoàng Cao Phơn – Chủ tịch UBND xã Thanh Hà trả lời “không à, vừa rồi lâm nghiệp họ về kiểm tra nhưng không phát hiện được ai đốt”.
Để tìm hiểu rõ vấn đề, phóng viên đã chủ động liên hệ với anh Trần Sỹ Mỹ, trú tại xóm 14, xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương, Nghệ An (là một trong những hộ dân tham gia khai thác gỗ củi trên địa bàn xã Thanh Hà) thì được biết: “Rừng ở đó do rất nhiều người làm (tức là đốt, chặt phá – PV), việc đốt phá là có một số người đi bắt ong, kéo gỗ tiện tay thì người ta châm lửa (?).
Đem vấn đề này trao đổi với ông Trần Phi Hùng – Trường phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, huyện Thanh Chương (Nghệ An) thì được biết: “Khu vực đó thuộc UBND xã Thanh Hà quản lý và đất ở đây cũng chưa được giao cho ai cả”.
Câu hỏi mà chúng tôi đặt ra ở đây là tại sao UBND xã Thanh Hà ra thông báo mà lại không biết được tình trạng mở đường, đốt phá rừng sản xuất tràn lan trên địa bàn, hay đây là câu trả lại mang tính chất “đối phó” của địa phương trong khi xã lại đang quản lý số diện tích rừng đó? (Tầm Nhìn 9/5) đầu trang(
Sau gần 19 tháng kể từ ngày Tòa án nhân dân (TAND) TP. Đà Nẵng tuyên hoãn phiên tòa để cơ quan điều tra điều tra bổ sung thì mới đây, ngày 6/5, TAND TP. Đà Nẵng đã đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án "buôn lậu gỗ trắc" xảy ra ở tỉnh Quảng Trị.
Mặc dù vụ án không có nhiều những tình tiết phức tạp nhưng cũng đã kéo dài gần 5 năm và qua 2 lần xét xử vẫn chưa đưa ra được quyết định cuối cùng…
Theo bản cáo trạng của VKSNDTC do ông Nguyễn Duy Giang, Kiểm sát viên VKSNDTC - Vụ trưởng ký ngày 25/1/2016, truy tố hai vợ chồng ông Trương Huy Liệu - Giám đốc Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng (Công ty Ngọc Hưng - có trụ sở tại tỉnh Quảng Trị) và bà Trần Thị Dung (vợ ông Liệu) về tội “buôn lậu”; các bị cáo Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành (Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị) và Đỗ Danh Thắng (Cục Hải quan TP. Đà Nẵng) bị truy tố tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo cáo trạng, ngày 17/12/2011, Công ty Ngọc Hưng nhận lô gỗ chở trong 13 xe từ Lào tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Sau khi làm thủ tục khai báo hải quan và đóng thuế, Công ty tiếp tục vận chuyển lô gỗ này về cảng Cửa Việt làm thủ tục tái xuất sang Hồng Công (Trung Quốc)
Hai ngày sau, Công ty Ngọc Hưng xếp lô gỗ này vào 22 container đưa vào cảng Đà Nẵng để xếp xuống tàu chờ thủ tục xuất cảng. Tại đây, toàn bộ lô gỗ bị Cục điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) bắt giữ. Bản thân ông Liệu bị khởi tố và vị cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) bắt tạn giam về hành vi “buôn lậu”. Hơn 1 năm bị bắt giam, ông Liệu mới được cho tại ngoại.
Cáo trạng đã viện dẫn, “ông Trương Huy Liệu chỉ đạo nhân viên Công ty Ngọc Hưng làm giả hồ sơ, tài liệu, sau đó sử dụng bộ hồ sơ này để nhập khẩu, xuất khẩu 614,672 m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định của pháp luật, trị giá 63.619.706.500 đồng”.
Bà Dung “có hành vi góp sức cho Trương Huy Liệu” nên cũng bị khởi tố cùng chồng về hành vi trên. Riêng các bị cáo khác như công Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành được giao nhiệm vụ kiểm hoá lô hàng xuất khẩu “đã không làm đầy đủ trách nhiệm được giao”; ông Đỗ Danh Thắng cũng “không làm hết trách nhiệm” và bị truy cứu trách nhiệm hình sự…
Tại phiên tòa, các bị cáo bác bỏ toàn bộ cáo trạng và cho rằng cơ quan ban hành cáo trạng đã làm trái pháp luật. Các bị cáo Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành và Đỗ Danh Thắng đều kêu oan và cho rằng mình đã làm tròn trách nhiệm bổn phận của công chức, viên chức. Bị cáo Đỗ Lý Nhi nói: “Tôi đã làm đúng, làm tròn nhiệm vụ do cấp trên giao. Chính những người buộc tội cho tôi mới làm trái pháp luật”.
Thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh làm chủ tọa phiên tòa đã cho các bị cáo, người đại diện các cơ quan liên quan trả lời rõ những quan điểm của mình trong vụ án. Ông Phạm Văn Minh - Đội phó Đội chống buôn lậu miền Trung (đại diện cho Cục điều tra chống buôn lậu- Tổng cục Hải quan) cho rằng các bị cáo đã phạm tội như cáo trạng đã công bố.
Đáp lại, đại diện lãnh đạo các cơ quan như Chi cục hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, Chi cục hải quan Cửa Việt, Cục hải quan Quảng Trị đều cho rằng, Công ty Ngọc Hưng và bản thân ông Liệu đã làm đúng pháp luật.
Ông Lưu Viết Hưng- đại diện Cục hải quan tỉnh Quảng Trị cho rằng Công ty Ngọc Hưng đã làm tờ khai hải quan đúng với số lượng gỗ đã nhập về và đã làm thủ tục nộp thuế hơn 3,2 tỷ đồng. Toàn bộ hồ sơ, hàng hóa đều hợp pháp”.
Ông Trương Quảng Long - đại diện Chi cục hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo cũng khẳng định: “Lô gỗ nhập từ Lào về của Công ty Ngọc Hưng được kê khai đóng thuế đúng theo các quy định của pháp luật. Đây là hàng hóa không cấm nhập khẩu, xuất khẩu nên không thể xem là lậu được”.
Khai trước Tòa, bị cáo Trương Huy Liệu tha thiết: “Không có gỗ lậu thì làm sao có hành vi buôn lậu Như vậy thì oan sai cho tôi quá”.
Trong vụ án này, việc xác định khối lượng gỗ của Công ty Ngọc Hưng cũng đã rất khó khăn.
Công ty Ngọc Hưng lập tờ khai hải quan nhập khẩu cũng như xuất khẩu là 535 m3 (làm tròn số) gỗ trắc. Cáo trạng cho rằng lô gỗ 614 m3 (làm tròn số) và trong đó có 23 m3 (làm tròn số) gỗ giáng hương. Sở dĩ có con số khác biệt này là do cơ quan điều tra đã yêu cầu Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, giám định khối lượng.
Tranh luận về việc này, bị cáo Liệu cho rằng: “Theo quy định của Bộ Tư pháp thì Viện này không có tư cách pháp nhân về giám định tư pháp. Mặt khác, phương pháp giám định của Viện này cân gỗ lên để quy ra khối lượng là không tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm đó. Do vậy, việc kiểm định này là không có căn cứ”.
Điều đẩy các cơ quan tham gia tố tụng trong vụ án này vào thế khó chính là việc cơ quan CSĐT đã ra quyết định bán toàn bộ lô gỗ vật chứng vụ án này.
Mặc dù vụ án đang trong giai đoạn điều tra nhưng ngày 10/1/2014, cơ quan CSGGT (C44 - Bộ Công an) quyết định bán lô gỗ vật chứng. Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản của Sở Tư pháp Hà Nội bán được gần 64 tỷ đồng, sau khi trừ các khoản chi phí còn 60,8 tỷ đồng;. Nói về việc số gỗ tang vật bị bán, ông Trương Huy Liệu cho rằng: “Tại thời điểm dó, theo giá thị trường thì lô gỗ trắc này bán được hơn 300 tỷ đồng”.
Do lô gỗ đã bị bán đi nên việc xác định khối lượng, dấu búa kiểm soát của nước sở tại…, sẽ khó mà thực hiện được.
Trước đó, vào ngày 7/5/2014, VKSNDTC có cáo trạng truy tố các bị cáo với các tội danh như đã nêu ở trên và chuyển hồ sơ sang TAND TP. Đà nẵng để xét xử.
Ngày 30 và 31/10/2014, TAND TP. Đà Nẵng xử sơ thẩm. Trong qía trình xét xử thấy không đủ chứng cứ để buộc tội các bị cáo nên đã hoãn phiên tòa và trả hồ sơ để cơ quan CSĐT điều tra bổ sung. Cho đến bây giờ phiên tòa mới được mở lại.
Sau một ngày xét xử, chiều cùng ngày, Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cảnh tuyên hoãn phiên tòa và trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung những vấn đề cần được làm rõ.
Một số vấn đề cần được cơ quan CSĐT làm rõ như: Yêu cầu giám định lại lô gỗ để xác định chính xác khối lượng; giám định rõ dấu búa của cơ quan kiểm lâm sở tại; tính hợp pháp của việc bán lô gỗ vật chứng vụ án; có hay không ép cung nhân chứng Trần Đình Quang (một người liên quan đến vụ án) làm người này phải tự tử…
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn Tới (nguyên Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị tại thời điểm xảy ra vụ án) thẳng thắn cho biết: “Tổng cục Hải quan cần có cái nhìn khách quan hơn để xử lý vụ việc này. Trước đó cơ quan hải quan đã nghiêng về nhận định lô gỗ được khai thác ở Việt Nam, nhưng không thể chứng minh được lại quay sang hướng điều tra doanh nghiệp làm giả hồ sơ để buộc tội. Như vậy là không có tính khách quan. Không nên hình sự hóa một việc hành chính dể đẩy doanh nghiệp vào thế phá sản”. (Bizlive 10/5) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn vừa cho biết, cơ quan chức năng đã bàn giao vụ việc bắt giữ khối lượng lớn gỗ nghi là Gù hương sang cơ quan điều tra, Công an tỉnh Bắc Cạn để làm rõ.
Trao đổi với PV Pháp luật Plus, ông Hoàng Văn Hải, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn cho biết, sau khi xảy ra sự việc, cơ quan chức năng đã lấy mẫu gỗ đi giám định để xác định chủng loại, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có kết quả. Do vụ việc có dấu hiệu hình sự nên hiện cơ quan Công an đã vào cuộc điều tra. Trách nhiệm của các cơ quan liên quan còn phụ thuộc vào quá trình điều tra, nếu có tính chất hình sự thì cơ quan công an sẽ triệu tập những người có liên quan, kể cả từ cấp xã đến cấp tỉnh.
Trước đó, như Pháp luật Plus đã thông tin, vào cuối tháng 2, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1, thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành kiểm tra xe ô tô mang BKS 20C - 078.08.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện trên xe có chở một gốc cây gỗ rừng tự nhiên khoảng 6 mét khối.
Ông Nguyễn Chí Nghĩa, trú tại phường Đức Xuân, TP Bắc Kạn đã nhận là chủ của số lâm sản trên. Đồng thời, xuất trình một bộ giấy tờ, hồ sơ gỗ do UBND huyện Bạch Thông cấp cho chủ rừng, là ông Ma Văn Thành ở xã Lục Bình, huyện Bạch Thông.
Theo bảng kê, số gỗ trên xe là 3,926m3 gỗ tròn thương phẩm, có đóng dấu búa của hạt Kiểm Lâm huyện Bạch Thông.
Tại thời điểm kiểm tra, cơ quan chức năng đã phát hiện một số sai phạm về hồ sơ vận chuyển lâm sản, bảng kê lâm sản do chủ gỗ lập nhưng không ghi ngày, tháng cụ thể, tên lâm sản và không có xác nhận của chính quyền xã theo quy định.
Theo hồ sơ cấp phép khai thác lâm sản thì đây là gỗ kháo nhóm VI, còn gỗ trên xe là một gốc cây có mùi (dầu gù hương) nghi là gỗ gù hương thuộc nhóm IIA (nhóm gỗ hạn chế khai thác và sử dụng). Ngoài ra, khối lượng gỗ trên xe không phù hợp với hồ sơ vận chuyển lâm sản.
Cũng liên quan đến tình trạng khai thác gỗ trái phép tại Bắc Kạn, mới đây, trong vai một người buôn gỗ lậu, PV Pháp luật Plus đã tiếp cận địa bàn thôn Nà Bó, xã Liêm Thủy, huyện Na Rì (Bắc Kạn), nơi được cho là đang diễn ra tình trạng công khai khai thác gỗ trái phép.
Theo quan sát của PV, có rất nhiều ngựa thồ và đoàn xe máy không biển số chất đầy gỗ nghiến, phóng thục mạng ra vào nhiều chuyến trong ngày. Việc vận gỗ chuyển trót lọt ra khỏi rừng ngay giữa “thanh thiên bạch nhật” mà không hề thấy bóng dáng cơ quan chức năng. (Pháp Luật + 9/5) đầu trang(
“Mỗi khi có gỗ, ông chủ đã huy động một lượng lớn công nhân nhanh chóng xẻ gỗ, cưa ngắn lại rồi đóng thành từng hộp đưa lên xe container ngay trong đêm, sau đó chở đi các tỉnh Đông Nam Bộ và miền Tây tiêu thụ ngay trong ngày hôm sau”, một công nhân cho biết.
Cuối tháng 4-2016, sau khi Cục Chống buôn lậu - Bộ Công an phát hiện, bắt giữ hàng trăm mét khối gỗ lậu tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi đã có mặt tại xưởng gỗ của DNTN Quốc Triệu do ông Phạm Thanh Nghĩa làm chủ (đóng trên địa bàn thôn 1B, xã Quảng Sơn - nơi phát hiện chứa hàng trăm mét khối gỗ lậu). Xưởng gỗ này nằm ngay khu dân cư đông đúc và chỉ cách trung tâm xã chưa đầy 1km.
Xưởng gỗ Quốc Triệu có diện tích rộng gần 1ha, được chia thành 3 khu vực. Xung quanh xưởng được bao bọc, che chắn bởi bức tường bằng ván và tôn khá tạm bợ. Đi sâu vào trong xưởng là cả một đại công trường gỗ đủ kích cỡ nằm ngổn ngang. Bên cạnh hàng trăm khúc gỗ đã được xẻ vuông, rọc phách được xếp gọn gàng là những cây gỗ có đường kính cả mét đang được chuẩn bị đưa lên mâm cưa.
Bên dưới nền xưởng, lưỡi cưa xẻ loại lớn bị vứt rải rác khắp nơi. Nhiều đường dây điện đấu nối từ điểm này sang điểm khác tạm bợ, vắt vẻo, sà xuống cả nền đất. Trong xưởng lúc này chỉ còn vài ba người ở lại để trông coi, còn một lượng lớn công nhân đã được chủ doanh nghiệp “sơ tán” đi nơi khác.
Một số người dân sống gần xưởng gỗ cho biết, xưởng này chỉ hoạt động rầm rộ vào ban đêm trong khoảng thời gian từ 1h đến 4h sáng, còn ban ngày thì gần như “án binh bất động”. Vào thời điểm hoạt động rầm rộ, mỗi đêm có cả hàng chục xe chở gỗ ra vào liên tục. Doanh nghiệp đã “lo” các loại giấy tờ, hóa đơn chứng từ và “biến” gỗ lậu thành gỗ hợp pháp.
Mặc dù hoạt động trong nhiều năm qua nhưng xưởng rất ít để xảy ra tình trạng tồn đọng gỗ có số lượng lớn như vừa bị phát hiện, bắt giữ. “Mỗi khi có gỗ, ông chủ đã huy động một lượng lớn công nhân nhanh chóng xẻ gỗ, cưa ngắn lại rồi đóng thành từng hộp đưa lên xe container ngay trong đêm, sau đó chở đi các tỉnh Đông Nam Bộ và miền Tây tiêu thụ ngay trong ngày hôm sau”, một công nhân cho biết.
Cơ quan điều tra Bộ Công an cũng phát hiện tại bãi đất trống thuộc bon Rbút, xã Quảng Sơn có 28 lóng gỗ tròn, 1 hộp gỗ đã xẻ và tại địa bàn thôn 3A, có tới 163 lóng gỗ tròn, 29 hộp gỗ đã xẻ từ nhóm III đến VII với số lượng kiểm kê lên đến hơn 217 m³.
Qua kiểm đếm, toàn bộ số gỗ này đều không có dấu búa bài cây cũng như dấu búa kiểm lâm. Điều đáng nói là số gỗ trái phép “vô chủ” này lại nằm sát với ranh giới của một số xưởng mộc tư nhân hoạt động chuyên nghiệp trong nhiều năm qua trên địa bàn xã.
Trao đổi với phóng viên, ông Đinh Minh Tuấn, Trưởng Công an xã Quảng Sơn cho biết: “Từ trước tới nay, lực lượng Kiểm lâm chưa bao giờ phối hợp với lực lượng Công an xã tiến hành tuần tra bắt giữ gỗ lậu”.
Còn ông Đỗ Ngọc Hiếu, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn cho lại cho rằng, lực lượng Kiểm lâm trên địa bàn chưa làm tốt công tác phối hợp với chính quyền địa phương cũng như làm hết trách nhiệm của mình. “Cụ thể như nhiều vụ việc phá rừng, vận chuyển, tàng trữ gỗ trái phép được người dân báo qua đường dây nóng, cán bộ kiểm lâm không tập trung tiếp nhận thông tin, xử lý vụ việc mà lại quay qua điều tra về người báo tin tên gì, sinh sống ở đâu...
Điều này đã gây tâm lý hoang mang cho người báo tin, dẫn đến tình trạng người dân biết nhiều vụ việc nhưng lại sợ không dám báo”, ông Hiếu cho biết thêm. Người dân sinh sống trên địa bàn xã Quảng Sơn họ đều cho rằng, hàng trăm mét khối gỗ chở rầm rầm trong đêm mà lực lượng chức năng không hề hay biết thì làm sao không có chuyện tiếp tay của cán bộ kiểm lâm được.
“Cơ quan chức năng cần điều tra cụ thể, quy trách nhiệm đối với các cấp, các ngành và các cá nhân liên quan một cách rõ ràng. Nếu phát hiện có cán bộ liên quan đến vụ việc, chúng tôi đề nghị xử lý thật nghiêm”, ông Đỗ Ngọc Hiếu, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn cho hay.
Theo một số đầu nậu buôn gỗ trên địa bàn xã thì toàn bộ số gỗ lậu bị bắt giữ này đều được khai thác ở huyện Krông Nô, nơi có Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung sau đó chở về qua tỉnh lộ 4.
“Tuy nhiên, việc vận chuyển gỗ từ huyện Krông Nô về địa bàn xã Quảng Sơn là không hề dễ. Bởi quá trình vận chuyển phải qua một quãng đường dài, qua nhiều trạm kiểm soát của các lực lượng chức năng. Nếu như không có sự “chung chi” thì khó mà lọt qua được”, một đầu nậu thông tin.
Khi chúng tôi liên hệ làm việc với Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong để làm rõ về vụ việc trên thì ông Nguyễn Trí Ngụ, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện đã từ chối trả lời báo chí vì chưa được phép của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông.
Liên quan đến vụ việc trên, vừa qua, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông đã có quyết định đình chỉ công tác đối với các ông: Đỗ Ngọc Trai, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong; Trần Đình Quang, Hạt phó phụ trách Trạm Kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn; Nguyễn Tuấn Anh, Trạm phó Trạm Kiểm lâm xã Quảng Sơn và Lê Xuân Trường, kiểm lâm viên, Phó Ban lâm nghiệp xã Quảng Sơn để điều tra làm rõ việc DNTN Quốc Triệu cất giữ trái phép gỗ lậu và hàng trăm mét khối gỗ vô chủ tại địa bàn thôn 3A và bon Rbút trong khi đơn vị, cá nhân không kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn kịp thời. (Công An Nhân Dân 9/5) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Đăk Glei (Kon Tum) và Đồn biên phòng Đăk Long (Bộ đội biên phòng Kon Tum) vừa phát hiện và lập biên bản thu giữ 85 hộp gỗ xẻ tương đương gần 16m3 gỗ tại bãi đất trống ở làng Đăk Ak xã Đăk Long.
Tất cả số gỗ nói trên không có búa kiểm lâm và không có tổ chúc, cá nhân đứng ra nhận là chủ gỗ. (Thanh Niên 9/5) đầu trang(
Sau hơn 1 tuần ở trong nhiều khu rừng của tỉnh Đăk Lăk, phóng viên đã tìm thấy bí quyết để những tên lâm tặc ngang nhiên đốn hạ gỗ đó là luật rừng.
Đăk Lăk đang trải qua mùa khô hạn nhất trong lịch sử thế nhưng ở sâu trong những cánh rừng, những tên lâm tặc lại đang tất bật "xẻ thịt" những cây gỗ, vốn mang trong mình trọng trách điều hoà không khí và giữ nước cho đất. Sau hơn 1 tuần ở trong nhiều khu rừng của tỉnh Đăk Lăk, phóng viên đã tìm thấy cách để những tên lâm tặc ngang nhiên đốn hạ những cây gỗ. Đó là luật rừng, thứ quy ước bất thành văn nhưng kẻ buôn gỗ nào cũng phải nắm được.
Luật rừng là tờ giấy vụn với vài ký tự nhưng có giá lên đến vài triệu đồng, tờ giấy thông hành để lâm tặc được tự do vào rừng đốn hạ cây. Luật rừng cũng được tạo nên ngay bãi tập kết gỗ ngoài bìa rừng. Muốn mua gỗ trót lọt bắt buộc phải qua đây và lẽ đương nhiên phải có tiền lót tay.
Để được "cò" mách nước bước đi cho mình, lái buôn gỗ sẽ tiếp tục phải mất thêm vài triệu đồng. Sau khi qua các "cò", những chiếc xe tải từ 2,5 – 5 tấn tất bật bốc gỗ xuyên đêm để sáng sớm hôm sau những chiếc xe chở gỗ đã được xếp đầy. (Đài Truyền Hình Việt Nam 9/5) đầu trang(
Sau khi phản ánh về tình trạng người dân nườm nượp vận chuyển gỗ nghiến ra khỏi khu rừng tại thôn Nà Bó, xã Liêm Thủy, PV Pháp luật Plus tiếp tục thâm nhập vào trong rừng để ghi nhận thực trạng gỗ nghiến bị “xẻ thịt” tại đây.
Theo giới thiệu của Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm Bắc Kạn, PV đã liên lạc với ông Hoàng Minh Xuân - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì đang có mặt tại chốt ngã ba xã Liêm Thủy. Tại đây, ông Xuân nói rằng chỉ cần trao đổi thông tin tại trạm chốt, chứ đi vào rừng thì rất xa, mất tới 4 giờ đồng hồ, cần phải mang theo cơm và đi từ rất sớm.
Nơi mà ông Xuân nói là khu vực Pò Kheo là nơi giáp ranh giữa huyện Na Rì, Bắc Kạn với huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.
Khi hỏi về khu vực người dân “tận thu” gỗ nghiến trong mấy ngày gần đây, một số cán bộ tại chốt ngã ba xã Liêm Thủy cũng nói sẽ phải đi rất xa, nếu vào đó thì phải đến 20h tối cùng ngày mới ra khỏi rừng (thời điểm đó là 15h30). Đồng thời không quên dặn mọi người chuẩn bị đèn pin theo và đề phòng thú dữ.
Không ngần ngại, PV Pháp luật Plus quyết định vào rừng để thâm nhập thực tế. Thấy người lạ xuất hiện, những người dân thôn Nà Bó tỏ ra rất cảnh giác. Khi PV hỏi chuyện, nhiều người chỉ lắc đầu rồi quay đi.
Con đường dẫn lên rừng có nhiều đoạn trải trên những tấm gỗ nghiến phẳng lì, đã được khai thác từ lâu, có những đoạn hố sâu, leo trên vách đá tai mèo.
Ngoài đường này, còn có một con đường khác dành cho ngựa cũng dẫn thẳng vào phía trong rừng sâu được cho là các “lâm tặc” dùng để vận chuyển gỗ sau khi cưa xẻ.
Cánh rừng không xa so với thôn Nà Bó, và cũng không cần phải mất vài tiếng đồng hồ để tiếp cận hiện trường như Hạt Kiểm Lâm huyện Na Rì nói.
Chỉ sau khoảng 10 phút đi bộ từ trong làng, xiên qua con đường mòn với những vách đá cheo leo, hiểm trở, một “đại công trường” xẻ gỗ đã hiện ra. Hoàn toàn không cách xa như những gì lãnh đạo và cán bộ kiểm lâm Na Rì “phủ đầu” phóng viên.
Những khúc gỗ nghiến, những thảm mùn cưa và bìa gỗ còn đỏ au nằm la liệt trên đường đi. Theo quan sát, những nhát cắt cưa máy phẳng phiu và chưa hề bị mốc, cũ, chứng tỏ mới được xẻ cách đây không lâu.
Càng đi vào phía trong, càng nhiều bãi mùn cưa, đoạn gỗ nghiến lần lượt hiện ra trên đường đi. Có những đối tượng lâm tặc có vẻ "tinh vi" hơn, xẻ thịt gỗ phía sau những bụi rậm ven đường hoặc dùng lá phủ lên hòng che dấu vết.
Chỉ tính riêng một đoạn dài khoảng 1 cây số tính từ bìa rừng, đã có tới hàng chục điểm được cho là nơi các lâm tặc tập kết, cưa xẻ, bỏ lại hiện trường những mảnh vụn, bìa gỗ. Những đoạn gỗ nghiến không thể sử dụng được nữa, vứt lăn lóc trên những “thảm đỏ” mùn cưa.
Theo ghi nhận, sau hơn 1 giờ đi bộ trong rừng, PV đã phát hiện hàng chục điểm được các lâm tặc tập kết gỗ, sau đó xẻ ngay dưới chân núi. Phải chăng lãnh đạo Kiểm lâm huyện Na Rì và chốt Kiểm lâm xã Liêm Thủy đang có dấu hiệu che giấu và ngăn cản PV tác nghiệp khi tiếp cận địa bàn? (Pháp Luật + 10/5) đầu trang(
Thời gian qua, các cơ quan chức năng tỉnh Kon Tum bằng nhiều biện pháp đã tổ chức tuyên truyền, vận động người dân không tiếp tay cho hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất hàng giả... bước đầu đã có những kết quả tích cực.
Người dân đã quan tâm, tìm hiểu về cách nhận biết và cảnh giác đối với hàng giả, hàng kém chất lượng, cũng như các hành vi gian lận thương mại. Tuy nhiên, công tác đấu tranh, tố giác hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả của người dân địa phương vẫn chưa thật sự mạnh mẽ.
Theo Ban chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tỉnh, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh, trong tháng 4-2016, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả trên tuyến biên giới vẫn diễn biến phức tạp. Trên tuyến biên giới Việt - Lào, nạn buôn lậu qua biên giới, chủ yếu là gỗ vẫn nổi cộm. Địa bàn trọng điểm được xác định là Kon Tum, Đăk Nông, Gia Lai...
Trong tháng 3 và tháng 4-2016, lực lượng biên phòng đã bắt 299m3 gỗ các loại dọc tuyến biên giới Việt - Lào. Đơn cử lúc 22 giờ 30 ngày 27-3, tại xã Bờ Y (huyện Ngọc Hồi, Kon Tum), BĐBP tỉnh Kon Tum phát hiện Đỗ Ái Quốc điều khiển ôtô BS: 81 C-028.32 chở 33 hộp gỗ có tổng khối lượng 26,5m3 trái phép. Một ngày sau, cũng tại khu vực trên, Đoàn 2 - Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm BĐBP phối hợp với Đồn Biên phòng Bờ Y (Kon Tum) bắt giữ 2 ôtô, 1 máy cày “độ” cùng 7 đối tượng đang vận chuyển 47,6m3 gỗ lậu các loại.
Lúc 9 giờ 10 ngày 3-4, tại QL14C gần Đồn biên phòng Tờ Rơi (Kon Tum), Đoàn 2 - Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm BĐBP phối hợp với Đồn biên phòng Rờ Kơi bắt giữ ôtô BS: 82C-016.80 do Đinh Thanh Hoài điều khiển, trên xe chở khoảng 25m3 gỗ. Tại thời điểm kiểm tra, tài xế không xuất trình được giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của số gỗ trên. Vụ việc đang được cơ quan chức năng làm rõ.
Để ngăn chặn tội phạm buôn lậu và các hành vi vi phạm về gian lận thương mại, hàng giả, công tác tuần tra, kiểm soát chặt chẽ khu vực biên giới Việt - Lào, nhất là các khu vực cửa khẩu, đường mòn, khu tập kết hàng hóa gần biên giới đã được các cơ quan chức năng chú ý tăng cường. Cạnh đó, việc phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trong việc trao đổi thông tin, phát hiện, bắt giữ, xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa trên địa bàn biên giới cũng đặc biệt được chú trọng. (Công An TP.HCM 7/5) đầu trang(
Với đồng bào các dân tộc Lào Cai, bên cạnh nét văn hóa độc đáo liên quan đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nhà ở, trang phục, lễ hội; thường có các nghi lễ truyền thống gắn với bảo vệ rừng, môi trường sống. Vì thế, những cánh rừng thiêng, khu rừng cấm tồn tại như một sự linh thiêng, răn dạy con cháu gìn giữ, bảo vệ giá trị cổ xưa, lưu truyền cho muôn đời sau.
Theo những người già, có uy tín kể lại, từ thuở khai thiên, lập bản đến nay, chưa năm nào đồng bào Hà Nhì ở xã Y Tý (Bát Xát) bỏ qua nghi lễ cúng rừng vào ngày Thìn tháng Giêng. Đây là nghi lễ dựa trên triết lý, rừng là sự sống, thể hiện sự biết ơn “thần rừng” luôn che chở cho dân bản. Ông Ly Giờ Có, Bí thư Đảng ủy xã Y Tý cho biết: Người Hà Nhì luôn quan niệm, mỗi cây rừng mọc lên đều có linh hồn của thần, của tổ tiên, nên không cho phép một ai được chặt phá.
Nếu ai vào rừng chặt cây thì người đó sẽ trở thành người bất kính với “thần rừng”, với tổ tiên... Do vậy, hằng năm, người dân cùng nhau bàn luật tục giữ rừng và thống nhất trong lễ cúng rừng thiêng dịp đầu năm. Luật tục này vừa thể hiện ý chí của cả cộng đồng, vừa mang sức mạnh của thần linh, trở thành mệnh lệnh linh thiêng buộc cả cộng đồng tuân thủ.
Cũng là nghi lễ cúng rừng, người Mông ở xã Sín Chéng (Si Ma Cai) lại chọn ngày 6/6 âm lịch hằng năm để tổ chức. Đây là một trong những lễ hội độc đáo và quan trọng nhất trong năm đối với người Mông xã Sín Chéng. Sau phần lễ, dân bản tập trung ở khu đất trống ở cửa rừng để nghe cán bộ thôn, cán bộ kiểm lâm xã triển khai quy ước bảo vệ và phát triển rừng; cam kết không thả rông gia súc, không đốt rừng, chặt phá cây rừng…
Còn đồng bào Nùng Dín ở huyện Mường Khương, nghi lễ cúng rừng được tổ chức vào tháng Bảy âm lịch hằng năm. Cũng là một nghi lễ mang tín ngưỡng dân gian, nên lễ cúng có luật tục riêng. Trong đó quy định, những người có vợ mới đẻ chưa đầy tháng, bố mẹ, anh chị em chết chưa đầy 1 năm, không được tham gia lễ cúng. Đến tham gia lễ cúng chỉ có con trai đại diện cho các hộ trong thôn, phụ nữ không được tham gia. Người tham gia lễ cúng, đầu phải đội mũ hoặc quấn khăn, không được để đầu trần và chỉ nói tiếng Nùng.
Sau lễ cúng, trong 3 ngày liên tiếp, mọi người trong bản không được đội mũ ra, vào thôn, không được chặt cây, bổ củi, cắt cỏ, cắt rau xanh. Đặc biệt, cấm phụ nữ ra, vào khu rừng cấm trong suốt thời gian tiến hành nghi lễ cúng và suốt thời gian cấm rừng. Nếu người nào hoặc gia đình nào vi phạm, bị dân làng phát hiện và bắt giữ thì phải tự bỏ tiền mua gà, vịt, lợn làm lại nghi lễ cúng rừng, nhằm tạ lỗi với thần linh.
Chính những quy ước bảo vệ rừng của cộng đồng thôn, bản trở thành thiết chế quan trọng trong việc bảo vệ rừng, có vai trò rất lớn để điều chỉnh mọi hành vi của con người. Ông Dương Tuấn Nghĩa, Trưởng Phòng Di sản, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết: Từ lễ hội cúng rừng đã tạo ra những luật tục ở mỗi đồng bào dân tộc, nhắc nhở mọi người quan tâm bảo vệ rừng hiệu quả, bền vững.
Đơn cử như dân tộc Hà Nhì không bao giờ chặt cây tươi về làm củi. Họ quy định, mỗi tuần chỉ mở cửa rừng 1 ngày ở khu rừng trồng, tất cả các hộ gia đình đều được vào lấy củi, nhưng chỉ được lấy củi khô, không được chặt cây tươi… Đặc biệt, theo luật tục của người Hà Nhì, còn có điều khoản: Ai thấy rừng cháy mà không dập lửa,  không thông báo kịp thời cho dân làng biết để cứu rừng cũng sẽ bị phạt nặng bởi sự thờ ơ, vô trách nhiệm với rừng.
Ngày nay, nghi lễ cúng rừng trong những ngày đầu năm mới của một số đồng bào dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Phù Lá… không bó buộc trong phạm vi sinh hoạt văn hóa của bản, mà còn được phát triển, mở rộng, mang tính cộng đồng, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, gắn liền với Tết trồng cây đầu xuân. Năm nay, lễ cúng rừng của đồng bào Dao đỏ ở xã Gia Phú (Bảo Thắng) được tổ chức tôn nghiêm vào đúng Rằm tháng Giêng.
Đây là nét đẹp văn hóa truyền thống với ý nghĩa tri ân “thần rừng”. Sau lễ cúng, đồng bào Dao đỏ cùng nhau tham gia trồng cây, nhằm giáo dục thế hệ trẻ tích cực bảo vệ, phát triển rừng, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, phục vụ sản xuất và đời sống, cầu mong mùa màng tươi tốt, bội thu.
Không chỉ lễ cúng rừng của người Dao đỏ ở xã Gia Phú, mà hầu hết sau nghi lễ cúng rừng của một số dân tộc Mông, Phù Lá, Nùng Dín…, bà con trong bản cùng nhau trồng nhiều cây xanh để cảm tạ “thần rừng” và ký cam kết bảo vệ rừng. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lào Cai luôn tin rằng, trong rừng có “thần rừng” cai quản và che chở, phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, “thần rừng” được sùng kính như đối với ông bà, tổ tiên. Hiện nay, ở các bản vùng cao hầu hết đều có khu rừng cấm với những quy định “bất khả xâm phạm”.
Phát huy giá trị “rừng vàng”, không chỉ bảo vệ rừng, giờ đây đồng bào vùng cao đã biết phát triển kinh tế rừng theo hướng hiệu quả, bền vững. Những cánh rừng cứ thế ngát xanh bởi cộng đồng luôn ứng xử nhân văn với rừng. Bên cạnh gìn giữ, bảo tồn những cánh rừng nguyên sinh, cổ thụ, thì trồng rừng kinh tế và những mô hình phát triển cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng cũng được nhiều địa phương chú trọng.
Mới đây, ngành nông nghiệp đã triển khai dự án bảo vệ rừng gỗ nghiến, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học rừng tự nhiên gắn với bảo tồn văn hóa cúng rừng của người Mông xã Nậm Chảy (Mường Khương). Trong đó, có mục tiêu cải thiện thu nhập cho người dân Nậm Chảy thông qua các mô hình phát triển sinh kế và chia sẻ lợi ích trong cộng đồng. Mô hình thành công, khẳng định hiệu quả việc gắn bảo vệ rừng với bảo tồn bản sắc văn hóa…
Mỗi dân tộc thiểu số ở Lào Cai đều có những quan niệm về rừng khác nhau theo tín ngưỡng riêng, có những nghi lễ khác nhau, tổ chức vào những thời điểm khác nhau trong năm, nhưng tựu chung lại, tất cả đều thể hiện được ý nghĩa của việc bảo vệ rừng gắn với bảo tồn văn hóa bản sắc dân tộc; vừa mang giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường, vừa có ý nghĩa giáo dục, giữ gìn phong tục của cha ông, hướng tới cuộc sống no ấm. (Báo Lào Cai 9/5) đầu trang(
Xã Liêm Thuỷ (Na Rì) có 6 thôn bản, trong đó có 3 thôn là Nà Bó, Bản Cải, Lũng Danh giáp danh với các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), xã Tân Hoà, Thiện Long huyện Bình Gia (Lạng Sơn).
Đây là khu vực có rừng nghiến rộng khoảng 1.000ha. Do công tác quản lý, bảo vệ rừng của các cấp, ngành địa phương yếu, nên thời gian qua tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến đã xảy ra, gây bức xúc dư luận.
Theo phản ánh của người dân, thời gian qua, tình trạng khai thác gỗ nghiến vẫn diễn ra theo chiều hướng công khai hơn, gây dư luận bức xúc ở địa phương. Để tìm hiểu cặn kẽ vấn đề này, nhóm phóng viên đã trực tiếp làm việc với chính quyền xã Liêm Thuỷ và cơ quan chức năng của huyện.
Trao đổi với phóng viên, đồng chí Hà Văn Kỳ- Chủ tịch UBND xã Liêm Thuỷ khẳng định: Thời gian qua trên địa bàn xã, đặc biệt là khu vực thuộc thôn Nà Bó xảy ra tình trạng khai thác gỗ trái phép. Tuy nhiên đây chỉ là việc người dân khai thác bắp bìa lén lút từ các cây nghiến đổ từ trước kia, hoàn toàn không có khai thác cây đứng. Xã cũng phủ nhận thông tin cho rằng mỗi ngày có hơn 10m3 gỗ nghiến được vận chuyển ra ngoài.  Lãnh đạo xã Liêm Thuỷ cũng cho biết, trước đây trên địa bàn đã có tổ chốt của lực lượng kiểm lâm. Đặc biệt từ khi có Chỉ thị số 08 của Tỉnh uỷ, công tác này càng được tăng cường hơn.
Với những thông tin đó, nhóm phóng viên đã trực tiếp cùng kiểm lâm địa bàn, trưởng thôn Nà Bó vào rừng Liêm Thuỷ.
Ghi nhận đầu tiên, khi bắt đầu vào lối mòn lên núi đã nghe thấy rõ tiếng cưa xăng nổ rền trên rừng. Tuy nhiên khi thấy có người lạ, tiếng máy vụt tắt. Tiếp tục men theo lối mòn đầy đá lởm chởm để lên núi, cứ từ 15 đến 20 mét lại xuất hiện một điểm khai thác gỗ. Qua quan sát, đây hầu hết là các gốc cây, thân cây nghiến đã bị chặt hạ từ lâu. Tại khu vực Lũng Nọi, qua kiểm tra tại tất cả các điểm khai thác không phát hiện cây mới bị chặt hạ. Thực tế hiện nay, cũng chưa xác định được cụ thể khối lượng gỗ bị các đối tượng khai thác.
Cả khu vực này, số lượng cây nghiến có đường kính trên dưới 1 mét chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để xảy ra tình trạng khai thác kiểu tận thu vậy, theo giải thích của cán bộ kiểm lâm là do địa bàn quá rộng, trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, khó quản lý hết được.
Để có cái nhìn khách quan hơn, nhóm phóng viên cùng các cán bộ địa phương đã đi tới tất cả các điểm nghi ngờ có khai thác gỗ trái phép, thuộc khu vực rừng núi đá thôn Nà Bó, khu vực Lũng Vài... chỉ thấy các điểm khai thác gốc, gỗ nằm, không phát hiện cây nghiến nào mới bị chặt hạ.
Điều khẳng định là tình trạng khai thác gỗ nghiến trên địa bàn thôn Nà Bó là có thật. Chính quyền địa phương và cơ quan chức năng của huyện Na Rì còn lơi lỏng, thiếu kiên quyết trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Nguyên nhân chính vẫn được cho là lực lượng kiểm lâm mỏng, địa bàn rộng.
Mặc dù từ năm 2015 đến nay, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn xã Liêm Thuỷ đã xử lý 51 vụ. Trong đó, khai thác 5 vụ, cất giữ 24 vụ, thu giữ 18 xe máy, trên 25m3 gỗ nhóm 2A, 25 cưa xăng... chuyển hồ sơ lên cấp trên xử lý. Tuy nhiên, việc khai thác gỗ nghiến trái phép bùng phát thời gian qua đã làm thất thoát nguồn tài nguyên, ảnh hưởng tới an ninh trật tự trên địa bàn.
Tại cuộc làm việc với lãnh đạo huyện Na Rì và các cơ quan chức năng, chính quyền các thôn của xã Liêm Thuỷ mới đây, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành của huyện Na Rì cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện nghiêm Chỉ thị 08 của Tỉnh ủy. Đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng kiểm lâm cần điều chuyển, hoán đổi liên tục, nếu đồng chí nào có biểu hiện tiêu cực, tiếp tay cho lâm tặc cần xử lý nghiêm.
Ngày 04/5/2016, UBND huyện Na Rì đã ban hành Quyết định số 2019/QĐ-UB, thành lập Tổ công tác liên ngành để chốt chặn, kiểm tra, truy quét xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép tại xã Liêm Thuỷ. Tổ gồm các lực lượng: Công an huyện, phó trưởng công an xã, chỉ huy trưởng quân sự xã, lực lượng kiểm lâm, chính quyền xã.
Nhiệm vụ của tổ là chốt chặn 24/24h tại khu vực thôn Nà Pì; xây dựng kế hoạch kiểm tra rừng đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tổ chức ký cam kết và phát động quần chúng nhân dân tố giác tội phạm khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Dư luận mong đợi những giải pháp nói trên của huyện Na Rì phát huy tác dụng, nhằm chặn đứng tình trạng khai thác gỗ quý trái phép như thời gian qua tại Liêm Thủy. (Báo Bắc Kạn 9/5) đầu trang(
Thời gian qua, việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Krông Pa và huyện Kbang tiếp tục xảy ra với mức độ rất phức tạp.
Trước tình hình này, UBND tỉnh Gia Lai có Công văn số 1746/UBND-NL chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chức năng ở huyện Kbang điều tra, xử lý vụ vận chuyển lâm sản xảy ra vào ngày 16-4-2016 theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với UBND huyện Krông Pa chỉ đạo các lực lượng chức năng tổ chức tuần tra, truy quét việc khai thác lâm sản trái phép dọc theo khu vực ranh giới giữa huyện Krông Pa và tỉnh Đak Lak, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng xảy ra trên địa bàn; xử lý hoặc tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn. (Báo Gia Lai 9/5) đầu trang(
Chiếc vỏ lãi lướt trên đồng sen đưa du khách tới bến sông, nơi những chiếc xuồng ba lá đang chờ sẵn, tiếp tục hành trình mới chậm rãi "đi" trên "con đường" xanh mướt màu bèo non.
Cuộc dạo chơi trong rừng giữa rộn ràng tiếng chim, tiếng vạc. Thỉnh thoảng ngước nhìn, du khách sẽ thấy những con chim non trong tổ chồm ra như đón chào người khách lạ. Ở đó, du khách quên rằng mình đi giữa vùng hạn của xứ Bảy Núi đang nóng hừng hực…
Như bao vùng khác, mùa này xứ Bảy Núi An Giang đang nóng hực bởi nhiệt độ lên cao, nước trên kênh rạch xuống thấp. Xe đưa du khách đến trước khu du lịch Trà Sư. Bước ra khỏi ô tô, nắng như hơi nóng của chảo dầu phả vào mặt rát bỏng. Vậy mà chỉ vài phút đi bộ qua cây cầu sắt, không khí hoàn toàn thay đổi. Tứ bề mênh mông là tràm. Tràm bạt ngàn một màu xanh. Bên dưới là nước ngả màu vàng như hổ phách. Rừng tràm Trà Sư (huyện Tịnh Biên, An Giang) mùa này vẫn mát rượi dù ngoài kia nhiệt độ có hôm lên trên 35 độ C.
Tại trạm tiếp đón, du khách có thể thuê những chiếc xe đạp đôi để tận hưởng thú vui cưỡi xe đạp thăm rừng tràm. Đoạn đường này chỉ dài khoảng 5-6 cây số. Phía trên là màu xanh của ngọn tràm, bên dưới mương nước thỉnh thoảng nghe tiếng cá vẫy đuôi tạo nên những âm thanh là lạ.
Đến khi con kênh dài với dòng nước mát lành và dãy rừng tràm ngút ngàn ngăn ngắt màu xanh hiện ra trước mắt, du khách sẽ không đi bằng xe đạp được nữa mà phải dùng vỏ lãi, ghe, xuồng nhỏ để dễ dàng len lỏi giữa các con rạch, khám phá khu rừng.
Sau khi được sắp xếp yên vị trên chiếc vỏ lãi, du khách bắt đầu hành trình khám phá rừng tràm mênh mông nước, chẳng khác gì ở giữa mùa lũ dù đang trong vùng hạn. Đang bon bon lướt trên mặt nước, bất thình lình chiếc vỏ lãi giảm tốc độ, mũi rẽ vào nhánh phải. Trước mặt mênh mông là sen. Sen như bít lối đi. Chiếc vỏ lách uốn éo trên dòng nước cong queo đi ngang qua ruộng sen. Người lái vỏ giảm tốc độ để lướt chầm chậm cho khách ngắm cảnh, chụp ảnh.
Thỉnh thoảng, anh chỉ về hướng những con chim, con cò đang "đi dạo" trên đám cỏ, đám bèo nổi bồng bềnh trên mặt nước. Có những con chim to, có khi là chim giang sen, đậu trên đọt cây tràm ngơ ngác nhìn chiếc vỏ đang lù lù tới gần rồi bất chợt bay vút vào rừng sâu. Mùa sen nở, đồng sen thêm mênh mông. Điểm xuyến trên nền xanh của lá và bèo là những bông hoa khoe sắc hồng nõn nà lắc lư trong gió.
tràm ngập nước đã tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú, lưu giữ nhiều giống, loài quý hiếm. Đây là rừng trẻ, tràm chỉ 10-15 năm tuổi, nên hệ sinh thái ở rừng tràm Trà Sư không phong phú bằng rừng U Minh Thượng hay U Minh Hạ vùng bán đảo Cà Mau.
Nhưng với vùng khô hạn ở địa hình bán sơn địa Bảy Núi, rừng tràm là một hệ sinh thái độc đáo, hiếm có. Chỉ có khoảng 70 loài chim, nhưng có cả chim cổ rắn, chim điên điển và cò lạo Ấn Độ được ghi vào Sách Đỏ. Chưa kể 11 loài thú và nguồn cá phong phú cư trú và sinh sản quanh năm dưới cánh rừng này.
Tuyệt vời nhất là du ngoạn trên xuồng ba lá- loại phương tiện phổ biến của cư dân sông nước miền Tây. Du khách phương xa thích thú khi ngồi trên xuồng lướt nhẹ dưới tán rừng. Các cô gái áo bà ba xanh, khăn rằn quấn cổ và đội nón lá duyên dáng đưa khách vào vùng lõi, qua những sân chim. Khu vực này là nơi cư ngụ của những đàn chim lớn nên không có một phương tiện cơ giới nào được vào.
Ngay cả du khách cũng được dặn dò không gây ồn ào, ảnh hưởng đến sinh hoạt của chim. Nhờ sự yên ắng đó mà du khách dễ dàng bắt gặp các loài chim đang đùa giỡn cách xuồng không xa lắm, những con chim cỡ to đang phơi mình trên nhánh tràm hay những chú chim non bước ra khỏi tổ đứng trên cành cao chấp chới tập bay.
Các cô bơi xuồng cũng là hướng dẫn viên của rừng, rành rọt tên từng loài chim, bản năng sinh hoạt của chúng. Khi khách đang thưởng thức không gian xanh mát của rừng, các cô lại đưa mắt tìm các loài chim đang đi lại, sinh hoạt gần đó để giới thiệu cho khách.
Cánh rừng rộng 850 ha này được bao quanh bởi đê bao khép kín, giữ được nước mùa hạn và thu nhận nước khi có lũ về. Lũ về, rừng có thêm cá từ dòng Mekong về cư ngụ và sinh sản. Khi đó, số lượng chim đến cũng nhiều hơn. Nhiều đàn di trú từ nơi khác tới. Gần đây, một đàn dơi quạ, cùng loài với dơi sinh sống ở chùa Dơi (Sóc Trăng) rủ về đây cư ngụ, bổ sung vào danh mục loài cho hệ sinh thái rừng tràm Trà Sư. Cuối hành trình, du khách được đưa lên một tháp canh để ngắm toàn cảnh rừng tràm và bao quát cả vùng Bảy Núi.
Từ rừng tràm Trà Sư, chỉ cần di chuyển 10-20 cây số là tới các khu du lịch tâm linh nổi tiếng vùng An Giang, như: Núi Cấm, chùa Bà Chúa Xứ Núi Sam, các thánh đường của đồng bào Chăm soi bóng dòng sông Hậu… Xa hơn một chút, khoảng 80 cây số là tới được biển Tây của Kiên Giang với những địa danh Hà Tiên, Kiên Lương nổi tiếng với Chùa Hang, Hòn Phụ Tử, Mũi Nai, Đá Dựng và cả những hòn đảo xa bờ được mệnh danh là Hạ Long phương Nam. (Tin Tức Du Lịch 9/5) đầu trang(
Mới đây, trong quá trình theo dõi trinh sát, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an TP Nam Định đã bắt quả tang đối tượng Phạm Văn Tú đang vận chuyển 4 cá thể hổ con đông lạnh trái phép đi tiêu thụ.
Cơ quan công an cho biết đối tượng là Phạm Văn Tú (26 tuổi), trú tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh là một thành viên nằm trong đường dây chuyên buôn bán trái phép chất ma túy và động vật hoang dã quý hiếm từ Hà Tĩnh ra các tỉnh phía Bắc để tiêu thụ.
Tại cơ quan công an, Phạm Văn Tú khai nhận 4 xác cá thể hổ con đông lạnh được Y mua từ một người quốc tịch Lào, tại Hà Tĩnh với giá 2 triệu đồng. Sau khi rao bán trên mạng, Tú đã đồng ý bán lại 4 xác cá thể hổ con với giá 8 triệu đồng, đang trên đường vận chuyển ra TP Nam Định để tiêu thụ thì bị Công an bắt giữ.
Hiện cơ quan chức năng tỉnh Nam Định đang tiếp tục điều tra, mở rộng vụ án. (Pháp Luật + 10/5; Tiền Phong 9/5; Nông Nghiệp Việt Nam 9/5) đầu trang(
Trong thời gian dài không có thêm ghi nhận dấu hiệu về hổ tự nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng loài này ở Việt Nam không còn tồn tại, ngay cả trong khu bảo tồn thiên nhiên hoặc vườn quốc gia.
Báo cáo điều tra khảo sát năm 2011 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tại 6 tỉnh Quảng Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Điện Biên, Kon Tum và Đăk Lăk cho thấy, quần thể hổ hoang dã còn khoảng từ 27 đến 47 cá thể. Nhưng theo nhóm nghiên cứu, số lượng này bao gồm cả hổ ở Campuchia và Lào, bởi khu vực phát hiện hổ đều ở khu rừng đặc dụng có chung biên giới với hai quốc gia này. Điều này cho thấy, số lượng hổ ở ba nước Đông Dương rất thấp và ở mức cực kỳ nguy cấp.
Một năm sau Việt Nam chỉ còn 30 cá thể hổ. Con số này vào năm 2015 ước tính là dưới 5 theo Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN). "Việt Nam đã mất đi tê giác cuối cùng, liệu hổ có nối gót?", đại diện Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) cảnh báo và cho biết Campuchia tuyên bố hổ tại quốc gia này đã tuyệt chủng.
Đến nay dù không có thêm khảo sát, nhưng nhiều nhà khoa học tin rằng Việt Nam không còn hổ hoang dã. Lý giải về điều này, một chuyên gia cho biết để thực hiện được các nghiên cứu và khảo sát thì cần có dấu hiệu về sự xuất hiện của hổ ở một địa phương nhất định. Theo giám đốc một Vườn quốc gia, lâu lắm rồi ông và đồng nghiệp không nhận được thông báo về vết chân hay những lần gia súc bị loài này ăn thịt như trước.
"Hổ hoang dã Việt Nam có thể đã biến mất. Nếu có thì chúng thường phân bố ở khu vực giáp biên giới với Lào và Campuchia, từ Nghệ An đến Quảng Nam; Chư Mon Ray (Kon Tum); Bù Gia Mập (Bình Phước), nhưng tần suất xuất hiện của loài rất ít và gần như không có", ông nói.
Ông Thomas Gray, Giám đốc về loài của WWF-Greater Me Kong cũng đồng tình quan điểm trên. "Hiện không có số liệu cập nhật về sự xuất hiện của hổ tại Việt Nam, khả năng cao loài này đã tuyệt chủng", ông nói.
Trường hợp hổ còn tồn tại thì cũng chỉ rất ít và nằm rải rác tại các khu rừng nên không có khả năng tái tạo sinh sản và dần dần sẽ tuyệt chủng. "Đó là cảnh báo đối với ngành bảo tồn động vật có vú lớn tại Việt Nam khi tê giác đã tuyệt chủng; hổ có thể đã tuyệt chủng và voi thì bên bờ tuyệt chủng nếu như không có hành động bảo tồn mạnh mẽ", đại diện của WWF nói.
Theo giới chuyên gia, số lượng hổ ngày càng suy giảm và đi đến tuyệt chủng là do bị con người săn bắt, buôn bán trái phép. Từ năm 2008 đến nay có hàng trăm vụ buôn bán trái phép hổ được phát hiện và xử lý.
Việc phá rừng, chuyển đổi đất cũng là lý do đẩy loài thú lớn như voi, tê giác, hổ đến tuyệt chủng vì thiếu thức ăn và nơi cư trú. Hổ phân bố rải rác thành các quần thể nhỏ, không có sự giao lưu, trao đổi di truyền cũng có thể dẫn đến hiện tượng suy thoái nguồn gene.
Sắp tới Campuchia có chương trình tái thả hổ về khu vực đồng bằng phía đông, đại diện WWF cho rằng đây sẽ là cơ hội cho Việt Nam nếu thực hiện công tác bảo tồn tốt, bởi "hổ ở nước bạn sẽ qua lại khu biên giới". (VnExpress 9/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dự án Le Mont BaVi Resort & Spa hồi đầu tháng 3 mới đây bị báo chí 'dập' cho te tua, để rồi mọi người đều nghĩ rằng nó đã vi phạm nghiêm trọng về xây dựng trái phép trong khu rừng quốc gia Ba Vì đặc dụng... Tuy nhiên sự việc tưởng vậy nhưng không hẳn vậy.
Trong dịp Chính phủ tổ chức Hội nghị đối thoại trực tuyến giữa Thủ tướng với doanh nghiệp (DN) có chủ đề: "Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát triển kinh tế của đất nước" vào sáng 29.4, tôi thấy rất tâm đắc trước lời phát biểu chân tình của ông khi nhắc lại và chia sẻ trước hiện tượng thực tế lâu nay mà DN không hài lòng về môi trường đầu tư ở nước nhà. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ: Các tỉnh, thành cả nước cần trải thảm thật sự để đón nhà đầu tư "chứ không phải trên thì trải thảm, dưới lại rải đinh".
Tôi hiểu, Thủ tướng nói vậy không chỉ là sự chia sẻ mà đó còn là lời nhắc nhở các ngành, các địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi thực sự cho DN hoạt động và không được làm khó DN.
Hôm 4.5, tôi có theo dõi trên báo Xây dựng của Bộ Xây dựng thì đã thấy rõ thêm nhiều về tính pháp lý qua "sự kiện" Dự án Le Mont BaVi Resort & Spa hồi đầu tháng 3 mới đây bị báo chí "dập" cho te tua, để rồi mọi người chúng ta nghĩ rằng nó đã vi phạm nghiêm trọng về xây dựng trái phép trong khu rừng quốc gia Ba Vì đặc dụng (thuộc TP.Hà Nội)...
Trước đó, tôi cũng có đọc trên một tờ báo, họ đã đăng nhiều kỳ về vụ này thì quả thực cũng thấy bức xúc. Nhưng rồi chính tờ báo đó sau này cũng đã đăng giải trình của DN nọ thì tôi mới vỡ lẽ, tưởng vậy nhưng không hẳn vậy.
Chính tác giả của bài viết này, do thấy bức xúc nên cũng từng viết một bài báo vào thời điểm đó. Bài viết cũng trên tinh thần phê phán dự án này (do một tờ báo họ đặt tôi viết để kịp tính "thời sự") mà chủ quan, chưa tìm hiểu thấu đáo ngọn ngành...
Sau đó, tôi đã cất công tìm hiểu kỹ hơn câu chuyện trên, kết hợp với việc vừa được đọc bài viết của một tờ báo chuyên ngành nói trên nhìn nhận về góc độ pháp lý trong xây dựng. Tôi đã vỡ ra nhiều điều cho chính mình, một người có gần bốn chục năm cầm bút nhưng chỉ chủ quan một chút vẫn có thể mắc phải vì thiếu khách quan.
Thực ra, việc đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trong rừng quốc gia nói chung đã được Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển. Chủ trương này được nêu rõ trong Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 1.6.2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Theo đó, tại Khoản 1, Điều 10 có nêu rất rõ: “Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng”. Như vậy đủ để thấy Chính phủ ta đã ban hành một chủ trương rất đúng và trúng. Và đương nhiên, với nhà đầu tư, đây là thứ rất quan trọng để họ tự tin bỏ vốn đầu tư hợp tác thiệt lòng với Nhà nước, không còn gì phải lăn tăn.
Ở khía cạnh luật pháp, căn cứ theo quy định tại luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 2004) thì: “Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gien sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường”.
Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14.8.2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng cũng nêu: “Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho bảo vệ rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái”.
Vậy thì còn gì đáng phải lo nữa? Bản thân Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sau đó cũng đã ban hành Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT hướng dẫn Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng. Theo đó, tại Khoản 2, Điều 8 có nêu: “Ban quản lý khu rừng đặc dụng tự tổ chức hoặc liên kết với các tổ chức, cá nhân khác để kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí”. Phải chăng do cách nghĩ giản đơn, thủ tục cuối cùng lúc này chỉ còn là vấn đề thời gian nên DN này đã tiến hành đồng thời?
Ấy thế nhưng với các nhà đầu tư, chặng đường để tới đích thật là trần ai. Câu chuyện của Công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD dù đã được Nhà nước cho cơ chế rất thuận lợi với cả "rừng" văn bản, từ luật định cho đến nghị định, nghị quyết, thông tư này nọ và đầy đủ đến như thế, nhưng rồi các công đoạn thực hiện ở cấp phê duyệt lại có tiến độ rất chậm.
Các nhà đầu tư dự án cũng rất biết việc họ chấp nhận sẽ đổ hàng trăm tỉ đồng xây khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tại các khu rừng đặc dụng theo chủ trương đã được Nhà nước cho phép nói trên không phải chỉ dành riêng một vườn quốc gia nào mà là chủ trương chung, trong đó có Vườn quốc gia Ba Vì. Chính vì thế, trong khi chờ quyết định ban hành, dự án Le Mont BaVi Resort & Spa đã âm thầm triển khai khi chưa có quyết định ban hành. Theo bà Nguyễn Thị Mai Hiên, Chánh văn phòng Công ty CFTD thì đúng là do DN đã có phần chủ quan nóng vội khi thực hiện.
"Trong khi dự án chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt mà công ty đã chủ động triển khai một phần thì đúng là có lỗi. Song, hãy đặt mình vào tình thế như chúng tôi, khi tiến độ dự án bị chậm trễ và không còn kiên nhẫn nổi nên mới có chuyện đáng tiếc này. Người ta cũng đã hiểu nó xuất phát từ đâu mà nên nỗi và rất mong rằng dư luận có sự sẻ chia với chúng tôi...", bà Mai Hiên nói.
Tôi có để ý tìm hiểu thêm thì do nguồn kinh phí bảo vệ rừng nói chung của ngành lâm nghiệp hiện rất khó khăn. Như Vườn quốc gia Ba Vì chẳng hạn thì ngân sách không thể nuôi nổi nguồn nhân công làm vệ sinh môi trường dù có chút nguồn thu từ phí vào cổng của du khách.
Một khi đã vậy thì hàng trăm nền biệt thự hoang phế gần thế kỷ nay vô tình biến thành nơi phóng uế của khách thập phương. Vì thế, càng cần thiết có nhà đầu tư để có điều kiện vừa chăm sóc rừng vừa giữ gìn và tôn tạo cảnh quan vốn rất đẹp, phục vụ môi trường du lịch sinh thái làm sao cho tốt hơn.
Do nhận thức, dự án khi đi vào hoạt động, không những góp phần nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch khu rừng đặc dụng Ba Vì sẽ thêm bội phần khang trang, tạo môi trường sinh thái thân thiện, mà còn thu hút được lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước khi đến với quần thể Vườn quốc gia Ba Vì nói chung nên họ đã âm thầm triển khai chưa đúng nguyên tắc, dù chỉ là khôi phục lại các ngôi nhà trên nền biệt thụ hoang phế từ năm 1937 của thực dân Pháp đã đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng dành cho sĩ quan và công chức Pháp này.
Rất có thể là CFTD đã không thể lường trước việc dự án phải kéo dài đến 8 năm và chờ đợi mòn mỏi trong muôn vàn khó khăn khi vốn đầu tư đã tập trung vào mà không được vận hành chính thức...
Họ đã buộc phải kêu cứu lên Chính phủ trong dịp cuối năm 2015. Trong khi đó, tiền thuê đất 50 năm thì cũng đã hoàn thành nghĩa vụ nhưng rồi hợp đồng thỏa thuận hợp tác giữa CFTD với Ban Quản lý Vườn quốc gia Ba Vì vẫn chưa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định thực hiện mặc dù đây là những gì đã nằm trong khuôn khổ pháp lý, đều không hề có gì sai phạm...
Cũng có luồng ý kiến cho rằng tiền thuê đất rừng trong dự án này quá rẻ. Tôi xin không đề cập ở đây vì dù nó có đắt rẻ ra sao thì cũng do biểu giá thuê đất rừng của Nhà nước chúng ta đang được áp dụng chung. Hơn nữa, tuy được giao đất rừng như vậy nhưng nhà đầu tư vẫn phải bảo tồn cây rừng nguyên trạng, họ đâu có quyền khai thác nó, lại không có nguồn nước máy đưa lên mà sẽ phải dùng nước suối tự nhiên hoàn toàn...
Căn cứ văn bản số 1847/BNN-KL ngày 1.7.2008 về việc liên doanh, liên kết đầu tư phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Ba Vì, ngày 22.8.2008, Vườn quốc gia Ba Vì đã ký hợp đồng liên kết kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với CFTD trên tổng diện tích 60,14 ha tại khu vực cốt 400 m, 600 m, 700 m, 800 m.
Toàn bộ diện tích dự án nằm trong phân khu hành chính dịch vụ I của Vườn quốc gia Ba Vì. Vấn đề này cũng được nêu rõ tại quy hoạch phân khu 1/2.000 của Thủ tướng Chính phủ. Thực tế, mật độ xây dựng sau này cũng rất thấp, chỉ 1,8% trên tổng quỹ đất rừng được Nhà nước giao trong khi quy định cho phép tác động đến 20%.
Theo báo Xây dựng, sau khi quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Ba Vì giai đoạn 2010 - 2015, định hướng phát triển đến năm 2020 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, ngày 6.5.2010, Công ty CFTD đã có công văn số 281/CV-CFTD-DABV, công văn số 223/CV-CFTD-DABV ngày 15.12.2010 và công văn số 229/CV-CFTD-DABV ngày 29.12.2010 đề nghị được gia cố, tôn tạo, sửa chữa 13 công trình (nhà gỗ lắp ghép) trên cơ sở các công trình phế tích cũ của Pháp để làm chỗ ở cho nhân viên, chuyên gia phát triển dự án.
Quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ I sau đó cũng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt tại Quyết định số 1254/QĐ-BNN-TCLN, ngày 6.6.2014, theo hướng chỉ đạo để Công ty CFTD lập dự án đầu tư và báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án. Trước thực tế nêu trên, ngày 25.6.2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Quyết định số 1641/QĐ-BTNMT về việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động tài nguyên môi trường, Sở Cảnh sát PCCC TP.Hà Nội cũng có văn bản chấp thuận giải pháp PCCC đối với hồ sơ thiết kế cơ sở của dự án.
Để đảm bảo cho dự án được triển khai, hoàn thiện đúng tiến độ, ngày 26.6.2015, Vườn quốc gia Ba Vì đã có tờ trình gửi Tổng cục Lâm nghiệp xin triển khai dự án. Trong khi chờ ý kiến Tổng cục, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty CFTD có văn bản đề nghị được cải tạo, sửa chữa các công trình trên để phù hợp với công năng theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Đề xuất này sau đó đã được Vườn quốc gia Ba Vì chấp thuận dựa trên nền tảng cho cải tạo sửa chữa từ 13 công trình phế tích cũ.
Bằng đó những văn bản và hồ sơ mang tính pháp lý cùng với luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án trên, nó đã cho thấy DN này họ không phải không tuân thủ quy trình. Song, sức ì của bộ máy chúng ta đã khiến họ thiếu bình tĩnh hơn.
Có thể khẳng định Le Mont BaVi Resort & Spa đã có đầy đủ các cơ sở pháp lý để đầu tư xây dựng, việc nói dự án hoàn thiện khi chưa được sự đồng ý của các đơn vị chủ quản là không đúng. Mặt khác, việc cải tạo, sửa chữa 13 công trình phế tích cũ của Vườn quốc gia là do nhu cầu bức bách về nhà ở của các cán bộ, công nhân viên. Bởi xét theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14.8.2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng, tại Điểm c Khoản 1 Điều 14 cũng đã có nêu rất rõ: “Phân khu dịch vụ - hành chính là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí”...
Xét từ thực tế nêu trên, việc đầu tư xây dựng dự án Le Mont BaVi Resort & Spa cho thấy nó đều đã phù hợp với các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc để các công trình làm nhà ở khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt là trách nhiệm và đáng trách của cả hai phía, trong đó có cả trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước.
Theo Nghị định 180/NĐ-CP của Chính phủ thì dự án phải được đình chỉ xây dựng để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ cũng là đúng. Hi vọng các cơ quan có thẩm quyền cần sớm xem xét, phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh và quyền lợi cho phía nhà đầu tư.
Chúng ta không nên quá kéo dài để làm khó cho các DN. Phải làm sao để phía dưới thảm đỏ kia không hề có đinh cài. Như thế mới có thể hấp dẫn các nhà đầu tư khác nếu họ muốn tiếp tục tham gia... như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng bày tỏ.
Tôi mong rằng sau sự cố này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ có một cuộc cách mạng trong thủ tục cải cách hành chính để một ngày không xa, những vườn quốc gia khác trên cả nước cũng sẽ là những mảnh đất đầu tư hấp dẫn cho các dự án có liên quan đến việc mở mang cải tạo, nâng cấp khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng khác nữa trên cơ sở vẫn bảo tồn rừng đặc dụng như rừng quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế), rừng quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc)..., nơi cũng đã từng có nhiều nền biệt thự hoang phế từ thời Pháp hiện còn để lãng phí, mất vệ sinh... (Thanh Niên 9/5) đầu trang(
Câu chuyện Dự án Le Mont Ba Vì Resort and Spa xây dựng khi chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý làm nóng dư luận suốt thời gian qua. Không thể phủ nhận những sai sót của chủ đầu tư, nhưng qua sự việc này cũng cho thấy thủ tục hành chính trong việc triển khai dự án bất động sản quá rườm rà, kéo dài.
Trao đổi với phóng viên Đầu tư Bất động sản, chủ đầu tư Dự án Le Mont Ba Vì Resort and Spa khẳng định, đã thực hiện đúng chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng, đảm bảo bảo tồn phát triển Vườn Quốc gia Ba Vì.
Theo đó, dự án du lịch nghỉ dưỡng này được xây dựng trên nền phế tích biệt thự thời Pháp trong Vườn Quốc gia Ba Vì và đã khởi động từ năm 2008. Đến nay, cơ quan có thẩm quyền vẫn chậm trễ trong việc phê duyệt mà không nêu rõ những hồ sơ, thủ tục cần bổ sung.
Theo báo cáo giải trình của chủ đầu tư - Công ty TNHH Phát triển công nghệ (CFTD) gửi Đoàn Thanh tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Dự án khu dịch vụ du lịch sinh thái này đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương, theo đúng quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Ba Vì.
Được biết, từ năm 2008, Vườn Quốc gia Ba Vì có tờ trình gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xin chủ trương hợp đồng liên kết khoán quản, hoạt động du lịch sinh thái tại vườn. Sau đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có văn bản số 1847 giao Vườn Quốc gia xây dựng đề án cụ thể.
Tháng 8/2008, giữa Vườn Quốc gia Ba Vì và Công ty CFTD đã ký hợp đồng liên kết. Vườn Quốc gia Ba Vì giao cho CFTD 53 ha diện tích rừng, đất lâm nghiệp và các công trình hạ tầng ở cốt 600 - 700 và 3,5 ha ở cốt 800 trong Phân khu dịch vụ hành chính.
CFTD được phép tác động, đầu tư theo quy hoạch chung, các hoạt động kinh doanh gồm: Du lịch và nghỉ dưỡng, bán hàng lưu niệm; Tổ chức các hoạt động cắm trại, các hoạt động văn hóa, tổ chức sự kiện, vui chơi giải trí, các hoạt động thể thao, vật lý trị liệu, kinh doanh hoa, cây cảnh, để cho khách tham quan; Khai thác rừng CFTD trồng mới; Khai thác công trình do CFTD xây dựng hoặc được bàn giao khi liên kết...
Hợp đồng liên kết này theo đúng chủ trương phát triển rừng đặc dụng, tuân thủ đúng quy chế quản lý rừng, theo đó, Phân khu hành chính dịch vụ - để xây dựng công trình làm việc, sinh hoạt của Ban Quản lý, các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
Những năm tiếp theo, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều quyết định, văn bản chỉ đạo nhằm làm cụ thể hóa chủ trương đầu tư xây khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tại các khu vực nhất định của rừng đặc dụng.
Chẳng hạn như Quyết định số 1181/2010/QĐ-BNN “Phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Ba Vì giai đoạn 2010-2015”; Quyết định số 2455/2011/QĐ-BNN phê duyệt nội dung đề cương, dự toán kinh phí lập dự án Quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ I Vườn Quốc gia Ba Vì; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg “Về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020”; Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết mặt bằng tổng thể phân khu hành chính dịch vụ I - Vườn Quốc gia Ba Vì vào năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…
Các văn bản này đều ghi nhận Phân khu hành chính dịch vụ I được quy hoạch khu bảo tàng, nhà hội thảo, công viên hoa, vườn sưu tập, nhà nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái…
Để đảm bảo cho dự án được triển khai, hoàn thiện đúng tiến độ, ngày 26/6/2015, Vườn Quốc gia Ba Vì đã có tờ trình gửi Tổng cục Lâm nghiệp xin triển khai dự án. Trong khi chờ ý kiến Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty CFTD có văn bản đề nghị được cải tạo, sửa chữa các công trình trên để phù hợp với công năng theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Đề xuất này sau đó đã được Vườn Quốc gia Ba Vì chấp thuận dựa trên nền tảng cho cải tạo sửa chữa từ 13 công trình phế tích cũ.
Trao đổi với phóng viên, bà Nguyễn Thị Mai Hiên, Chánh văn phòng CFTD cho hay, hợp đồng được ký kết từ năm 2008, trong 8 năm qua, DN đã thực hiện nhiều hạng mục công việc từ việc bảo vệ rừng, tổ chức đội tuần tra ngăn chặn người dân khai thác rừng bừa bãi, khôi phục các đường đi bộ giữa các phế tích thời Pháp, trồng bổ sung cây rừng, cây ven đường; gia cố kết cấu đường chống sạt lở, phục chế một phần phế tích..., với chi phí hàng chục tỷ đồng.
Bà Hiên cho biết, CFTD đã đề nghị Đoàn Thanh tra xem xét những nội dung Công ty đã làm đúng, làm được, ghi nhận những hồ sơ, thủ tục đã hoàn thành và hướng dẫn những thủ tục còn thiếu để Công ty hoàn thiện. Đồng thời, kiến nghị cơ quan thanh tra sớm kết luận để tránh ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN, cũng như công ăn việc làm của hơn 300 người lao động.
Câu chuyện Dự án Le Mont Ba Vì Resort and Spa bị chậm trễ hoàn tất thủ tục nhiều năm không phải trường hợp cá biệt, trước “thế bí” dự án bị kéo dài do thủ tục đầu tư chưa xong, vốn đầu tư bị chôn, khách hàng giục tiến độ, không ít trường hợp chủ đầu tư đành phải tặc lưỡi, vừa xây vừa xin.
Chẳng hạn như trường hợp một dự án hỗn hợp văn phòng, trung tâm thương mại, căn hộ cao cấp tại quận Nam Từ Liêm (Hà Nội), do phải điều chỉnh quy hoạch chi tiết nên thời gian thực hiện dự án bị kéo dài. Lo ngại tiến độ dự án không đúng theo cam kết với khách hàng, chủ đầu tư đã tiến hành xây dựng khi chưa có giấy phép bổ sung.
Giám đốc một doanh nghiệp môi giới bất động sản có tiếng ở Việt Nam chia sẻ, để một dự án bất động sản có thể đi đến giai đoạn khởi công, chủ đầu tư có thể mất vài năm, những dự án cả chục năm chưa xong không phải hiếm.
Theo Luật sư Bùi Quang Thu (Đoàn Luật sư Hà Nội), việc các dự án đầu tư xây dựng kéo dài do thủ tục hành chính có thể nói là rất phổ biến. Có rất nhiều thủ tục hành chính cho một dự án bất động sản, từ xin chấp thuận chủ trương đầu tư, xin phê duyệt quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, xin cấp phép đầu tư, lập quy hoạch chi tiết xây dựng, thủ tục giao đất, thuê đất, cấp phép xây dựng công trình… Mỗi khâu đều có thể bị kéo dài thời gian thẩm định, yêu cầu hoàn thiện hay bổ sung hồ sơ.
“Mặc dù cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm và được coi là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, nhưng khi thực thi ở từng sự việc cụ thể, thời gian ký duyệt hồ sơ vẫn đang bị kéo dài”, Luật sư Bùi Quang Thu nói.
Việc để các công trình làm nhà ở khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt là trách nhiệm của cả hai phía, trong đó có cả trách nhiệm của nhà quản lý. Trong trường hợp Dự án Le Mont Ba Vì Resort and Spa, đề cập đến việc chậm trễ thủ tục hành chính khi cấp phép dự án không phải là cái cớ để chủ đầu tư bao biện việc đặt mọi sự vào “việc đã rồi”. Bản thân ông Lương Ngọc Anh, Giám đốc CFTD cũng đã thừa nhận thiếu sót vì chưa xong thủ tục đã xây dựng dự án.
Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã chỉ đạo Vườn Quốc gia Ba Vì yêu cầu các chủ đầu tư đình chỉ ngay việc thi công xây dựng công trình trái phép tại vườn quốc gia.
Vấn đề hiện tại là các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có kết luận, xử lý theo đúng quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư, tránh để vụ việc rơi vào im lặng quá lâu. (Đầu Tư Chứng Khoán 9/5) đầu trang(
Hoạ sĩ Thành Chương, chủ nhân của Việt Phủ Thành Chương chia sẻ, dù có nhiều thông tin cho rằng khu đất rộng 8000m2 mà ông xây dựng Việt Phủ Thành Chương nằm trong khu đất của rừng đặc dụng và việc xây dựng chưa được cấp phép nhưng bấy lâu vợ chồng ông không lên tiếng vì nghĩ việc lên tiếng không giúp ích được gì.
Mới đây, Việt phủ Thành Chương đã tổ chức kỷ niệm 15 năm ra đời. Hàng chục Đại sứ các nước như: Thụy Điển, Mỹ, Anh, Úc, Canada, Israel, Áo, Hy Lạp, Urugoay v.v…. cùng phu nhân, tham tán văn hóa các nước tại Hà Nội, các nghệ sĩ, họa sĩ hàng đầu và bạn bè đã đến chúc mừng vợ chồng họa sĩ Thành Chương nhân sự kiện này.
Việt Phủ Thành Chương là công trình tư nhân do họa sĩ Thành Chương tự gầy dựng nên từ năm 2001. Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km, thuộc địa phận xã Hiền Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội), nhiều năm qua không gian lưu trữ văn hóa này trở thành điểm đến yêu thích của nhiều bạn bè trong nước và quốc tế.
Điểm nổi bật trong quần thể kiến trúc ở đây là những ngôi nhà được thiết kế, xây dựng với nhiều phong cách, hình dáng khác nhau từ ngôi nhà sàn của dân tộc Mường đến nhà ngôi nhà mô phỏng theo lối kiến trúc nhà 3 gian của người dân đồng bằng Bắc Bộ… Mỗi nhà có một tên gọi riêng gắn liền với giá trị lịch sử mà chủ nhân muốn truyền tải như nhà Tường Vân là gian nhà cổ có từ thời nhà Nguyễn, nhà Đại Khoa được dựng lên dựa trên khuôn viên của nhà cổ khu vực Bắc Ninh, nhà hát Long Đình được trang trí công phu. Bộ sưu tập của Việt phủ Thành Chương hiện chia thành hai phần, đó là bộ sưu tập đồ sứ thuộc các triều đại phong kiến Việt Nam, Lý - Trần - Lê - Nguyễn và sưu tập các đồ văn hóa đời sống, sản xuất, tâm linh.
Tính đến thời điểm hiện tại, không gian Việt phủ Thành Chương đã có hơn 2.000 linh vật “100% thuần Việt”, do chính tay họa sĩ Thành Chương tự “mày mò” sưu tập.
Theo GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính thì đây là những sưu tập đồ cổ, thiên về tiêu chí cổ, hiếm, đẹp. Không hiểu bằng công sức cùng tiền của nào mà họa sĩ Thành Chương đã phát hiện và thu gom về đây cả một khối lượng ghê gớm những tài sản văn hóa như thế.
Tuy nhiên, cách đây không lâu, có nhiều thông tin cho rằng công trình này xây dựng trái phép trên diện tích 800m2 thuộc khu đất rừng đặc dụng. Ngay khi thông tin này rộ lên, vợ chồng họa sĩ Thành Chương vẫn chưa có bất kỳ phát ngôn chính thức nào về điều này. Theo bà Ngô Hương, phu nhân họa sĩ Thành Chương kiêm Giám đốc điều hành Việt Phủ Thành Chương thì thời điểm đó công trình đang xây dựng và đều đã có giấy tờ hợp pháp nên vợ chồng bà không muốn nói gì trên báo mà tập trung cho việc xây dựng.
Nhân sự kiện mừng 15 năm ra đời của Việt Phủ Thành Chương, họa sĩ Thành Chương chia sẻ rằng: “Về thông tin Việt Phủ Thành Chương xây dựng trái phép trên khu đất rừng đặc dụng trước nay chúng tôi không có ý thanh minh gì nhưng hôm nay tôi sẽ thông báo chính thức luôn: khu đất của Việt Phủ Thành Chương hiện tại không phải là đất rừng và thông tin nói Việt Phủ Thành Chương xây dựng trên đất rừng đặc dụng là không chính xác. Đây là vùng đất, nằm giữa ranh giới rừng đặc dụng với đất thổ cư.
Ngay phía sau khu đất của Việt Phủ là rừng và phía trước mặt là đất thổ cư, còn khoảng đất của Việt Phủ chính là khoảng đất lưu không, hoang hoá… Nếu ai xem các ảnh chụp lại thời kỳ đầu Việt Phủ xây dựng thì hoàn toàn là một vùng đồi hoang trọc, không phải rừng cũng không phải thổ cư. Trước đây, chính quyền có vận động người dân phủ xanh đồi trọc hoang hóa như thế này.
Tuy nhiên, theo quy định máy móc và cứng nhắc của chính quyền là chỉ được trồng keo và bạch đàn cho nên bao nhiêu năm trời vùng đất này vẫn hoang hoá, trồng hai giống cây này không mang lại nhiều lợi ích kinh tế nên người dân không trồng. Và đã từ lâu rồi, đất này đã được Nhà nước chuyển đổi thành đất vườn quả chứ không còn là đất rừng nữa. Khi đã chuyển đổi thành đất vườn quả thì đất hoang hóa này không bắt dân trồng cây keo và cây bạch đàn nữa. Người dân có thể tự trồng những thứ cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.
Nói chúng tôi xây dựng trái phép cũng xin thưa rằng, ở những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, bán sơn địa… thì không đâu bắt buộc phải xin phép khi xây dựng nhà cấp 3, cấp 4 như thế này. Việc đó bấy lâu nay ở đây chưa hề có tiền lệ phải xin cấp phép xây dựng”.
Mặc dù nhiều năm qua, Việt Phủ Thành Chương là điểm đến hấp dẫn của đông đảo người dân trong và ngoài nước nhưng có một điều rất lạ là ông chủ Việt phủ Thành Chương lại không dám nhận đây là một bảo tàng tư nhân. Theo họa sĩ Thành Chương, để biến một nơi vốn trước đó chỉ được xây dựng nhằm mục đích tạo nên không gian riêng của gia đình trở thành bảo tàng tư nhân có vô số những vấn đề nan giải.
Đơn cử, theo qui định hoạt động hiện nay phải có hướng dẫn thuyết minh vốn là yêu cầu cơ bản nhất của mỗi bảo tàng. Bởi mục đích ban đầu của Việt phủ Thành Chương khi mở cửa cho du khách tham quan đó là để mọi người tự cảm nhận các giá trị văn hóa. Hay việc kêu gọi đầu tư với gia đình họa sĩ Thành Chương cũng là một sự cân nhắc khá kỹ lưỡng. Năm 2009, khi mở cửa bán vé, Việt phủ đã gặp không ít ý kiến băn khoăn và cả sự chê trách.
Về điều này, họa sĩ Thành Chương cho rằng Việt phủ chỉ nhằm mục đích tự nó nuôi nó, thay vì được gia đình “nuôi”. Vì thế nên dù có kêu gọi đầu tư, nhưng họa sĩ Thành Chương cho biết sẽ không dễ dãi trong việc tiếp nhận sự chung tay. Mà ở đây phải là sự hợp tác của các tổ chức văn hóa, các cá nhân có nguồn lực mạnh về kinh tế nhưng cùng tiếng nói và sự hiểu biết về tầm quan trọng của giá trị văn hóa với tinh thần người Việt.
Trước câu hỏi của phóng viên về việc thu vé vào cửa, nhạc sĩ Anh Quân, người em thân thiết của vợ chồng họa sĩ Thành Chương nhanh chóng đỡ lời rằng, anh nhiều lần nói chuyện với họa sĩ Thành Chương nên hiểu được công trình này ngay từ đầu không phải là công trình để kinh doanh nhưng xuất phát từ nhu cầu của chính những người đến tham quan nên mới mở cửa đón khách.
Cũng theo nhạc sĩ Anh Quân, ông chủ của công trình này thậm chí đã phải đào một cái hầm để có không gian cho riêng mình khi nó trở thành một điểm du lịch. Và đến nay cái hầm đó cũng phải biến thành điểm tham quan vì khách nào đến cũng tò mò vào xem. Thấy bất tiện chủ nhà đã biến không gian này thành điểm tham quan rồi quay lại nội thành sống trong một căn hộ chung cư khác. Bởi những lí do đó mà cho đến bây giờ nơi đây vẫn chưa xác định được tên gọi chính xác hoặc chủ nhân không muốn đăng ký thành bảo tàng tư nhân.
Ca sĩ Mỹ Linh cho hay, Việt phủ Thành Chương là cố gắng đơn độc của vợ chồng Thành Chương. Tuy nhiên, trên đường dài đi một mình sẽ có lúc họa sĩ oải vì không thể một mình để duy tu công trình này được. Nhưng không vì thế mà vợ chồng họa sĩ Thành Chương dễ dãi chấp nhận những điều kiện không hợp lý để được đầu tư.
Trong bài phát biểu nhân dịp sinh nhật 15 năm của Việt Phủ Thành Chương, bà Camila Mellander - Đại sứ Thụy Điển đã có những chia sẻ đầy xúc động thể hiện sự trân trọng và sự yêu mến của bà đối với công trình lưu giữ văn hóa có một không hai này. Bà nói, Việt Phủ Thành Chương là điểm đến mà bà thường giới thiệu với bạn bè từ Thụy Điển tới Hà Nội. Thực tế, địa điểm này đã được đưa vào giới thiệu trang tour du lịch Việt Nam và một số ấn phẩm du lịch khác của Thụy Điển.
Bà cũng nhắc lại kỷ niệm đã trở thành dấu ấn trong lịch sử của Việt Phủ Thành Chương, khi hơn chục năm trước đây, Hoàng hậu Thụy Điển và phái đoàn Hoàng Gia đã trở thành vị khách quốc tế cao cấp đầu tiên xông đất Việt Phủ. Và sau này trở thành địa chỉ tham quan văn hóa Việt yêu thích của những người nước ngoài làm việc tại Hà Nội. Bà luôn muốn quay lại nơi này và bày tỏ sự cảm ơn trân trọng vì những gì họa sĩ và vợ ông đã làm để mọi người có thể được thưởng thức một công trình văn hóa di sản tuyệt vời như thế. (Dân Trí 9/5) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng mới 8000 ha rừng trong năm nay, các huyện, thành phố trong tỉnh đã chủ động chuẩn bị các loại giống cây lâm nghiệp, phát dọn thực bì tạo mặt bằng và nguồn nhân lực để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng.
Theo đó, tính đến hết tháng 4, toàn tỉnh đã trồng mới 2.940 ha rừng tập trung, đạt gần 37% kế hoạch, tăng 517 ha so với kỳ trước.
Các địa phương có tiến độ trồng rừng nhanh là: huyện Lạc Thuỷ đã trồng trên 5.70 ha, Kim Bôi 520 ha, Lạc Sơn 424 ha, Lương Sơn trên 400 ha, Đà Bắc 370 ha, Cao Phong gần 200 ha. (Báo Hòa Bình 9/5) đầu trang(
Ngày 22-1-2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 120/2015/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020.
Theo đó, trong 5 năm tới, các tỉnh, thành phố ven biển phải bảo vệ được hơn 310 nghìn ha rừng ven biển hiện có, khôi phục 9.600 ha rừng kém chất lượng và trồng mới hơn 46 nghìn ha (trong đó có 29.500 ha rừng ngập mặn, 7.500 ha rừng chắn gió, chắn cát ven biển và hơn 9.000 ha rừng sản xuất kết hợp phòng hộ.
Ngoài ra, trồng mới 23,5 triệu cây phân tán ven biển. Nâng tổng diện tích rừng ven biển đến năm 2020 lên gần 357 nghìn ha và độ che phủ rừng từ 16,9% (năm 2014) lên 19,5% vào năm 2020. Mặc dù đã có mục tiêu cụ thể, nhưng năm đầu triển khai thực hiện Đề án, các địa phương ven biển mới tổ chức trồng mới được gần 2.000 ha rừng, trong đó có hơn 1100 ha rừng ngập mặn; 300 ha rừng chắn gió, chắn cát và gần 570 ha rừng sản xuất kết hợp phòng hộ.
Đồng thời, tổ chức khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh và phục hồi được hơn 1.100 ha rừng, trong đó có 763 ha rừng ngập mặn và 343 ha rừng chắn gió, chắn cát. Nếu so với mục tiêu của Đề án thì kết quả trồng rừng ven biển thời gian qua đạt quá thấp. Trong khi biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều địa phương ven biển còn lúng túng trong việc rà soát, lập các dự án đầu tư, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng rừng ven biển, cũng như thu hồi những diện tích đất thuộc hành lang an toàn bảo vệ đê biển; hoặc khu quy hoạch trồng rừng ven biển bị các tổ chức, cá nhân lấn chiếm, sử dụng trái phép, không đúng mục đích, kém hiệu quả.
Năng lực của một số ban quản lý Dự án còn hạn chế, thậm chí không do cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp làm chủ đầu tư, quản lý cho nên việc tổ chức thực hiện tổng hợp, báo cáo thiếu khoa học, làm ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng, thẩm định và phê duyệt các Dự án trồng rừng ven biển. Vì vậy cũng dễ hiểu khi cả năm 2015, ngành lâm nghiệp mới rà soát, xây dựng, thẩm định kỹ thuật được 42 dự án trồng rừng, thuộc Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu.
Việc bảo vệ và phát triển rừng ven biển nhằm phát huy chức năng phòng hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, góp phần bảo vệ hệ thống đê biển, cơ sở hạ tầng, bảo tồn đa dạng sinh học ven biển. Vì vậy các tỉnh, thành phố có rừng ven biển cần khẩn trương rà soát về hiện trạng diện tích rừng ven biển hiện có, từ đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng ven biển cụ thể từng năm, cả giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Trong đó, cần phân loại cụ thể diện tích ngập mặn và diện tích trên cạn cần khôi phục hoặc trồng mới để chuẩn bị đủ vật tư, cây giống, bảo đảm số lượng và chất lượng phù hợp với mục tiêu nhằm chống cát trôi, cát nhảy, hay để chắn sóng, ngăn mặn, bảo vệ hệ thống đê biển... Nhanh chóng kiện toàn Ban quản lý dự án, bảo đảm đủ năng lực, trình độ chuyên môn điều hành các Dự án bảo vệ và phát triển rừng ven biển.
Gắn kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với các Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu; Chương trình củng cố, nâng cấp đê điều… để tranh thủ các nguồn vốn, cũng như thông qua hình thức xã hội hóa kết hợp xây dựng các mô hình phát triển kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, hợp tác xã gắn với bảo vệ và phát triển rừng ven biển bền vững.
Cuối cùng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp trong xã hội về vai trò, chức năng của rừng ven biển, từ đó vận động nhân dân và các thành phần kinh tế tích cực tham gia trồng rừng nói chung và quản lý, bảo vệ, phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng. (Nhân Dân 9/5) đầu trang(
Với mục tiêu nâng cao độ che phủ của rừng ven biển, những năm qua, Thái Bình đã và đang triển khai nhiều dự án phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Trồng rừng ngập mặn hiện đang là nội dung ưu tiên của nhiều chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu tại các địa phương ven biển. Cùng với các giải pháp như xây dựng, nâng cấp đê sông, đê biển, hệ thống ngăn mặn thì trồng và phục hồi rừng ngập mặn là giải pháp mang tính bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, khi mực nước biển dâng cao.
Thái Bình có 54km đê biển với 5 cửa sông đổ ra biển tạo thành vùng bãi triều 25.653ha. Năm 2015, tỉnh đã hoàn thành công tác kiểm kê rừng, theo đó đã xác định diện tích đất lâm nghiệp là 9.617ha, trong đó có 3.709ha rừng, tập trung tại hai huyện ven biển Tiền Hải, Thái Thụy. Diện tích rừng trồng chủ yếu là cấp tuổi 3 (967ha), cấp tuổi 5 (859ha), cấp tuổi 4 (794ha), cấp tuổi 2 (645ha), còn lại cấp tuổi 1 (là diện tích rừng mới trồng được từ 3 - 4 năm trở lại đây).
Các loại cây chủ yếu là bần, trang, sú, mắm; phi lao diện tích không đáng kể, chỉ trồng tại các bãi cát, ven đê biển. Theo đánh giá của các ngành chức năng, hiện nay hệ thống rừng ngập mặn ven biển tại Thái Bình có kết cấu nhiều tầng, có tác dụng hạn chế tác hại do biến đổi khí hậu gây ra, hạn chế xâm nhập mặn, bảo vệ đê biển, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, lập lại cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường.
Những năm qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai và phối hợp với các địa phương, đơn vị trong tỉnh thực hiện nhiều chương trình, dự án có liên quan tới việc phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển như: Chương trình 327, Dự án trồng rừng ngập mặn, phòng ngừa thảm họa thiên tai, Dự án 661, Dự án trồng cây chắn sóng ven biển huyện Tiền Hải…
Trong quá trình triển khai thực hiện, UBND tỉnh đã có quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020, đồng thời quy hoạch chi tiết cho việc nuôi trồng thủy sản, vì vậy việc lấn chiếm vào đất rừng đã được hạn chế, diện tích bãi bồi đáp ứng yêu cầu để trồng rừng ngập mặn còn khá lớn. Công tác bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn đã được các cấp, các ngành quan tâm làm cho người dân ven biển hiểu và nhận thức được vai trò, tác dụng của hệ thống rừng ngập mặn.
Việc trồng và phục hồi rừng ngập mặn ven biển đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động, đặc biệt là những hộ nghèo và các đối tượng không có khả năng tài chính, nhân lực để tham gia nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo. Qua đó, đời sống của nhân dân ổn định hơn, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng trong khu vực.
Ông Đinh Hải Lục, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết: Biến đổi khí hậu, triều cường, nước biển dâng, bão lớn, bão trái mùa đã làm cho người dân ven biển nhận thức được vai trò, tác dụng hết sức quan trọng của hệ thống rừng ngập mặn, từ đó có những chuyển biến tích cực trong việc tham gia trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.
Bên cạnh đó, kỹ thuật trồng rừng ngập mặn ven biển đã có nhiều cải tiến, tỷ lệ cây sống sau trồng thành rừng ngày càng cao. Vừa qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục khởi động Dự án phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Thái Bình.
Theo đó, Dự án được thực hiện trong 10 năm (2015 - 2024) tại các xã: Thụy Xuân, Thụy Hải (Thái Thụy), Đông Long, Đông Hoàng (Tiền Hải) nhằm phục hồi, trồng mới và quản lý bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình; nâng cao nhận thức, năng lực về phục hồi, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ngập mặn; bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu, cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. (Báo Hòa Bình 9/5) đầu trang(
Ngày 10.5, UBND huyện Tây Giang (Quảng Nam) tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận rừng Cây Di sản VN đối với quần thể Pơ mu quý hiếm còn sót lại ở đây. “Vương quốc Pơ mu” quý hiếm với nét đẹp ban sơ của rừng nguyên sinh được kỳ vọng khai mở hướng phát triển du lịch ở vùng biên này.
Huyện núi cao Tây Giang còn có những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn với hơn 60% diện tích, với nhiều cánh rừng nguyên sinh hoang dã.
Đặc biệt, với quần thể rừng Pơ mu nguyên sinh quý hiếm hơn 1.400 cây, khu vực này được mệnh danh là “vương quốc” pơ mu, trải rộng trên hai xã A Xan và Tr’Hy.
Đây được đánh giá là một trong những rừng cây gỗ quý hiếm nhất còn sót lại ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Quần thể cây Pơ mu có độ tuổi khoảng 300 đến trên 1.000 tuổi, thuộc khu vực núi Zi’liêng, độ cao trên 1.500 mét so với mực nước biển, trải dài trên điện tích 250 ha, cách huyện lỵ Tây Giang khoảng 40 km về phía tây. Cây pơ mu lớn nhất có đường kính gần 3 mét, cao 22 mét, ước tính 5 m3.
Trong số đó, 725 cây Pơ mu nguyên sinh tại đỉnh núi Zi’liêng vừa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VN công nhận là Cây Di sản VN và được hưởng các điều kiện ưu đãi theo quy định của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VN.
Rừng cây pơ mu không chỉ có giá trị về sinh thái mà còn rất ý nghĩa trong tâm linh của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây.
“Văn hóa tộc người Cơ Tu, những cánh rừng rừng nguyên sinh ở độ cao trên 2 nghìn mét so mực nước biển, cảnh sắc tự nhiên ban sơ chính là tiềm năng du lịch rất lớn của Tây Giang. hoàn toàn có khả năng khai mở hướng đi du lịch cho mảnh đất vùng biên này”, ông Bh’riu Liếc - Bí thư huyện ủy Tây Giang chia sẻ. (Lao Động 9/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Có bằng cử nhân ngôn ngữ và kinh doanh thành công ở châu Phi, một phụ nữ Trung Quốc từng là tấm gương về lập nghiệp. Giờ đây bà phải ra tòa vì cáo buộc buôn lậu ngà voi quy mô lớn.
Giới chức Tanzania cáo buộc Yang Feng Glan - một phụ nữ Trung Quốc, điều hành một trong những đường dây buôn lậu ngà voi lớn nhất ở châu Phi. Theo họ, đường dây của Yang đã vận chuyển hơn 700 ngà voi – có giá trị lên tới 2,5 triệu USD ra khỏi lãnh thổ Tanzania, BBC cho hay.
Phiên xử Yang diễn ra tại Dar es Salaam, thành phố lớn nhất tại Tanzania, từ ngày 9/5. Người phụ nữ 66 tuổi phủ nhận mọi cáo buộc.
Vậy Yang Feng Glan, người mà giới truyền thông gắn cho biệt danh "Nữ hoàng ngà voi", là ai và những tội danh bà sắp đối mặt là gì?
Lớn lên tại thành phố Bắc Kinh, Yang tới Tanzania lần đầu trong thập niên 70. Bà là một trong những sinh viên Trung Quốc đầu tiên tốt nghiệp ngành ngôn ngữ Swahili (ngôn ngữ phổ biến tại nhiều nước ở phía đông nam châu Phi như Tanzania, Kenya, Uganda, Rwanda, Burundi, Mozambique, Congo). Bà làm phiên dịch viên tiếng Swahili cho dự án đường sắt nối Zambia với Tanzani. Chính phủ Trung Quốc viện trợ cho dự án này.
China Daily cho biết, sau khi dự án đường sắt kết thúc vào năm 1975, Yang quay trở lại Bắc Kinh để làm trong Bộ Ngoại thương của chính phủ. Đến năm 1998, bà quyết định lập hai doanh nghiệp ở Tanzania. Nữ doanh nhân thuê một tòa nhà hai tầng ở trung tâm thành phố Dar es Salaam để mở nhà hàng Trung Quốc ở tầng trệt và lập một công ty đầu tư mang tên Beijing Great Wall Investment ở tầng trên.
Nhà hàng kinh doanh rất thuận lợi, song vào năm 2014, Yang nói vớiChina Daily: “Giờ đây tôi không dựa vào nhà hàng để kiếm tiền. Thay vào đó, tôi thấy một nơi mà mọi người từ Trung Quốc và Tanzania có thể giao tiếp, kết thêm bạn và trao đổi thông tin”.
Vào năm 2012, Yang là Tổng thư ký Hội đồng Kinh doanh Trung Quốc – châu Phi tại Tanzania.
“Tôi biết tôi nên nghỉ hưu, nhưng mỗi khi nghĩ tới lợi thế về ngôn ngữ và mạng lưới quan hệ, tôi nhận thây tôi có thể giúp nhiều người Trung Quốc và Tanzania tăng cường quan hệ và niềm tin. Vì thế tôi không muốn nghỉ. Bản thân tôi là biểu tượng của mối quan hệ Trung Quốc – Tanzania”, bà từng tuyên bố như vậy vào năm 2014.
Song các nhà điều tra Tanzania khẳng định Yang là nhân vật cộm cán trong một thế giới ngầm giữa Trung Quốc và Tanzania. Đó là thế giới của những kẻ buôn lậu ngà voi. Họ khẳng định bà là cầu nối giữa những kẻ săn voi ở Đông Phi và người mua ngà voi ở Trung Quốc trong hơn một thập kỷ qua.
Cơ quan điều tra trọng án Tanzania theo dõi Yang trong hơn một năm. Họ bắt bà trong một cuộc rượt đuổi xe hơi tốc độ cao hồi tháng 10/2015. Các công tố viên đưa bà ra tòa vì tội buôn lâu ngà voi từ năm 2000 tới năm 2014.
Bọn săn voi và buôn ngà đang đe dọa sự tồn vong của voi ở Trung Phi và Đông Phi. Số lượng voi ở Tanzania giảm hơn 60% trong khoảng thời gian từ năm 2009 tới năm 2014.
Những người săn lùng ngà voi ở Trung Quốc là nhân tố chính trong sự sụt giảm số lượng voi ở châu Phi. Ở Trung Quốc, nhu cầu đối với ngà voi rất lớn, bởi người dân chế tác ngà thành đồ trang sức hoặc làm thuốc.
Phần lớn những phần tử buôn lậu sa lưới chỉ thuộc hạng “tép riu”. Vì thế vụ bắt Yang Feng Glan là tin vui đối với các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã.
“Đó là tin mà chúng tôi chờ đợi nhiều năm. Chúng ta phải chấm dứt sự lộng hành của những kẻ mà pháp luật khó động tới nếu chúng ta muốn cứu loài voi”, Andrea Crosta, người đồng sáng lập Liên minh Hành động vì voi tai Mỹ, phát biểu.
Liên minh Hành động vì voi cáo buộc Yang có mối liên hệ với nhiều công ty Trung Quốc ở nước ngoài, cũng như người Hoa sống và làm việc tại Tanzania.
“Khi nói về trùm tội phạm, chúng ta thường nghĩ tới một kẻ như Al Capone (tên tội phạm khét tiếng tại Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 19). Nhưng bà trùm ngà voi lại là một kẻ thuộc giới tinh hoa của Trung Quốc, có quan hệ với những người có tiền và vị thế xã hội cao”, Crosta nói.
Nếu tòa án Tanzania kết luận Yang phạm tội, mức án dành cho "Nữ hoàng ngà voi" có thể lên tới 30 năm tù. (Zing News 9/5) đầu trang(
Bộ các tình trạng khẩn cấp Nga đã đề nghị điều các máy bay phun hóa chất dập lửa để giúp Canada đối phó với vụ cháy rừng khủng khiếp đang diễn ra ở tỉnh Alberta.
Lời đề nghị được người đứng đầu Bộ các tình trạng khẩn cấp Nga Vladimir Puchkov đưa ra ngày 8/5. Theo đó, Nga sẽ cử các máy bay vận tải có khả năng phun được 42 tấn hóa chất dập lửa xuống những đám cháy. Ngoài ra, Moscow cũng sẵn sàng cử các nhân viên cứu hộ, chuyên gia và các trạm thiết bị cần thiết tới hỗ trợ công tác trên mặt đất.
Trong lúc này, các đám cháy rừng ở tỉnh Alberta đang có xu hướng chậm lại. Các lực lượng cứu hộ đã sơ tán an toàn 25.000 cư dân thành phố Fort McMurray ra khỏi khu vực ảnh hưởng bởi hỏa hoạn. (Đài Truyền Hình Việt Nam 9/5) đầu trang(
Nghiên cứu mới nhất cho thấy vùng phân bố toàn cầu dành cho loài báo đã giảm nghiêm trọng trong 250 năm qua. Các nhà nghiên cứu cho biết vùng phân bố đã giảm chỉ còn 25% do nạn săn bắn thể thao. Đây là thực trạng đáng buồn cho chín phụ loài báo ở một số nơi trên thế giới.
Andrew Jacobson, chuyên gia bảo tồn thuộc Hiệp hội vườn thú Luân Đôn và là trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi phát hiện diện tích vùng phân bố của loài báo đã giảm 75% và con số này lớn hơn nhiều lần so với dự đoán trước đây. Mục tiêu của chúng tôi là nâng cao nhận thức về loài báo và phải thực hiện các biện pháp bảo tồn trong thời gian dài”.
Nghiên cứu đã tập trung vào mức độ phân bố trên toàn cầu của loài báo. Jacobsons và các nhà nghiên cứu đã phát hiện vùng phân bố rộng khoảng 35m2 trong vòng 1 km xuyên qua châu Phi, Trung Đông và châu Á. Nhưng sau nhiều thế kỷ bị xâm lấn và bị con người săn bắn, vùng phân bố chỉ đạt 8,5m2 trong 1km.
Quần thể báo ở châu Á có tình trạng nguy cấp nhất với sáu vùng bị suy giảm hơn 95% diện tích và theo nhóm nghiên cứu “dường như không còn đất sống”.
Chuyên gia Jacobsons khẳng định có mối liên hệ mật thiết giữa sự phát triển kinh tế ở châu Á và sự suy giảm quần thể báo bởi: “Đông Nam Á và Trung Quốc đã phát triển trong một thời gian dài và làm giảm nơi sinh sống trong nhiều thập kỷ. Chúng tôi quan ngại điều này sẽ tiếp diễn ở châu Phi trong những thập kỷ tới khi kinh tế đang tăng trưởng”.  Các dữ liệu cho thấy ở châu Phi, vùng phân bố đang suy giảm 99% ở Bắc Phi, 95% ở Tây Phi nhưng chỉ suy giảm 51% ở miền Nam châu Phi.
Báo là loài thú nổi tiếng sống ẩn dật nhưng dễ thích nghi, sống về đêm và có lượng con mồi nhiều hơn các loài khác. Chúng cũng có mật độ xuất hiện nhiều hơn so với các loài mèo lớn thông qua việc thích nghi với những thay đổi môi trường do con người. Dẫn chứng đặc sắc nhất chính là các quần thể báo sống ở ngoại ô Mumbai và Johannesburg.  Mặc dù chưa có số liệu đáng tin cậy song các chuyên gia cho rằng có khoảng 100.000 cá thể báo ở châu Phi và dưới 10.000 cá thể ở châu Á.
Chuyên gia Jacobson cho rằng quần thể báo sẽ phục hồi: “Tôi nghĩ rằng báo có thể phục hồi. Đây là loài thú dễ thích nghi và chúng ta cần triệt tiêu sức ép của săn bắn và đe dọa. Chúng là loài mèo lớn và mang vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên”.
Nhưng chuyên gia này cũng cho rằng cần phải thực hiện các nỗ lực bảo tồn để loài thú này không chịu thảm cảnh như những loài thú khác. Ông khẳng định: “Khi nghĩ về các loài thú nguy cấp, mọi người thường nhắc tới hổ, voi, tê giác. Thật may là loài báo không nằm trong nhóm các loài trên. Nếu chúng ta chủ động hơn trong bảo tồn, chúng ta có thể giúp báo thoát khỏi tình trạng như các loài thú khác”.
Nghiên cứu trên tập trung vào tình trạng, phân bố của loài báo Panthera pardus trong vùng phân bố với 6.000 dữ liệu tại 2.500 điểm từ 1.300 nguồn thông tin về loài báo từ năm 1750 đến nay.
Báo tên khoa học là Panthera pardus thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Cộng đồng quốc tế đã cấm buôn bán loài báo vì mục đích thương mại. (Nhân Dân 9/5)đầu trang(./.