Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 05 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Hơn 150 người với 6 xe chữa cháy của lực lượng Cảnh sát PCCC và 1 xe cứu nạn cứu hộ, 1 xe tưới nước đã nỗ lực dập đám cháy rừng rừng phòng hộ Núi Minh Đạm, ở khu vực đường Suối Tiên, thuộc địa bàn khu phố Hải Hòa, thị trấn Long Hải (huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).
Theo Sở Cảnh sát PCCC tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, từ 13 giờ ngày 7-5-2015 đã xảy ra một số đám cháy tại rừng phòng hộ Núi Minh Đạm, ở khu vực đường Suối Tiên, thuộc địa bàn khu phố Hải Hòa, thị trấn Long Hải huyện Long Điền và đã được lực lượng Sở Phòng Cảnh sát PCCC BRVT điều động các đơn vị PCCC trong tỉnh cùng lực lượng kiểm Lâm dân quân, dân phòng, bộ đội đóng trên địa bàn huyện tập trung chữa cháy.
Do nắng nóng kéo dài và núi Minh Đạm ở sát biển nên khi gặp gió biển thổi mạnh khiến ngọn lửa bùng cháy tại nhiều điểm. Tại các điểm cháy địa hình dốc, rừng rậm nên rất khó khăn cho lực lượng chữa cháy. Với sự phối hợp của nhiều đơn vị PCCC các địa phương trong tỉnh, Cảnh sát PCCC đã kéo hơn 500m ống bơm nước tới các vị trí chữa cháy. Đến 24 giờ cùng ngày, đám cháy cơ bản đã được dập tắt trên toàn khu vực.. Tuy nhiên, do nắng hạn kéo dài, lớp cỏ bụi, lá khô có nơi dày hơn 30 cm và nằm giữa các khe đá nên tình trạng cháy âm ỉ dưới mặt đất vẫn xảy ra.
Đại tá Nguyễn Văn Hòa, Phó giám đốc Sở Cảnh sát PCCC tỉnh BRVT chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường cho biết sau khi dập tắt đám cháy lớn, Sở cảnh sát PCCC vẫn tiếp tục phân công 1 xe chữa cháy và Lực lượng Cảnh sát PCCC ở lại tại hiện trường trong đêm mồng 7 rạng ngày 8-5-2016 để bảo đảm ngăn chặn kịp thời khi đám cháy có dấu hiệu bùng phát. HiệnSở Cảnh sát PCCC tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu vẫn tiếp tục phân công lực lượng Cảnh sát PCCC trực tại chỗ. (Công An TP.HCM 8/5) đầu trang(
Khoảng 12h30 ngày 6/5, tại khu vực núi Hầm Vàng (phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) xảy ra cháy rừng, thiêu trụi nhiều ha keo trồng của người dân.
Sở Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy Đà Nẵng đã điều 3 xe chuyên dùng cùng nhiền chiến sĩ có mặt tại hiện trường, phối hợp với ngành chức năng khác tại để phướng để tiến hành chữa cháy.
Do địa hình đồi núi hiểm trở, không có đường công vụ, xe cứu hỏa không thể tiếp cận đám cháy, vì thế, các đơn vị phải cắt rừng, dùng phương tiện, thiết bị cầm tay dập lửa, đồng thời phát quang ngăn cháy lan. Đến chiều cùng ngày, đám cháy cơ bản mới được dập tắt.
Theo CQĐT, hàng chục ha keo trồng của người dân đã bị thiêu trụi; nguyên nhân vụ việc vẫn đang được làm rõ.
Theo ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng, tuy mới vào đầu mùa khô nhưng tình hình cháy rừng diễn biến khá phức tạp. Chỉ trong tháng 4 vừa qua, trên địa bàn TP liên tiếp xảy ra cháy rừng.
Trước đó, vào lúc 13h ngày 13/4 xảy ra cháy rừng tại Tiểu khu 41 (Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu,) trên diện tích khoảng 0,7ha cây bụi và lau lách.
13h ngày 20/4, lại xảy ra cháy rừng tại tiểu khu 51 (xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang TP Đà Nẵng). Đây là đoạn nằm ở Km2, đường lên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa. Theo thống kê ban đầu, khoảng 5ha rừng trồng của người dân bị thiệt hại. Gần đây nhất, vào lúc 14h ngày 24/4, xảy ra vụ cháy rừng thông tại đường số 1, Khu Công nghiệp An Đồn (phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà). (Pháp Luật Việt Nam 6/5; Thanh Niên 7/5) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh An Giang đang trong giai đoạn cao điểm của mùa khô, nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng cao nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn.
Do đó, công tác phòng, chống cháy rừng đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đặc biệt quan tâm, chỉ đạo quyết liệt nhằm ngăn ngừa và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Theo thống kê của ngành Kiểm lâm, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn hai huyện biên giới Tịnh Biên, Tri Tôn đã xảy ra nhiều vụ cháy, thiêu rụi gần 20 héc-ta rừng. Mới đây nhất, vào ngày 10-4, tại khu rừng tràm thuộc ấp Trung Bắc Hưng, xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên đã xảy ra vụ cháy lớn phải huy động hơn 200 cán bộ, chiến sĩ BĐBP, Công an, Kiểm lâm và dân quân huyện Tịnh Biên tham gia chữa cháy. Ngành Kiểm lâm An Giang cho biết, nguyên nhân các vụ cháy chủ yếu do người dân vào rừng mưu sinh (đốt than, bắt ong, săn chim...) đã bất cẩn khi sử dụng lửa.
Những ngày gần đây, tình hình cháy rừng tiếp tục diễn biến rất phức tạp do thời tiết khô hanh, nắng nóng kéo dài. Được biết, trong tổng số hơn 12.600 héc-ta rừng của tỉnh An Giang thì có 90% diện tích rừng, đồi núi đang ở mức dự báo cháy cấp 5 - cấp đặc biệt nguy hiểm. Đặc biệt, từ sau Tết Nguyên đán là thời gian diễn ra lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam nên rất đông du khách từ khắp nơi về vùng Bảy Núi viếng chùa, tham quan, trong đó còn nhiều khách hành hương có thói quen thắp nhang, đốt vàng mã ở các am, cốc, hoặc hút thuốc vứt tàn bừa bãi cũng tạo ra nguy cơ dẫn đến cháy rừng rất cao.
Trước tình hình khô hạn ngày càng gay gắt, bất lợi cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã xây dựng và triển khai phương án bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng cấp tỉnh. Theo đó, tỉnh đã bố trí trực lực lượng và kiểm tra thường xuyên 24/24 giờ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho 100% diện tích rừng trên địa bàn. Đồng thời, đảm bảo hoạt động tốt cho 132 máy chữa cháy, cấp đủ nước cho 600 bồn chứa, trang bị hơn 4.600 bình xịt, can đựng nước, dao, bàn đập... trải đều khắp các khu vực rừng.
Theo ông Lữ Cẩm Khường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, ngoài công việc thường xuyên của lực lượng Kiểm lâm, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh đã hỗ trợ trên 2 tỷ đồng cho công tác cảnh báo, phòng cháy cũng như tăng cường công tác kiểm tra để sớm phát hiện, ngăn ngừa cháy rừng. Bên cạnh đó, ngành còn tổ chức nạo vét một số kênh ở khu vực rừng, đảm bảo khi có sự cố xảy ra có đủ nước, phương tiện, lực lượng ứng phó kịp thời.
Theo ghi nhận của chúng tôi, hiện nay, tại các địa phương có nhiều diện tích rừng, khu du lịch, chùa miếu như Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn... chính quyền, cơ quan chức năng và nhân dân rất quan tâm đến công tác phòng, chống cháy rừng.
Được biết, lực lượng Kiểm lâm tỉnh An Giang đã cấm các hoạt động chặt hạ, tỉa thưa cây rừng trong cao điểm mùa khô; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền lưu động tại các cụm dân cư quanh vùng trọng điểm cháy; bố trí và có thể huy động khoảng 2.300 người sẵn sàng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng.
Hạt Kiểm lâm hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã xúc tiến nhiều biện pháp kỹ thuật như phối hợp với công an, dân quân tổ chức tuần tra, kiểm tra các khu vực trọng điểm, nơi đông người hành hương và du khách tham quan, địa bàn thường dọn cỏ trồng rẫy; hiệp đồng với lực lượng Sư đoàn 330, BĐBP, Hải quan, Đội K93... đóng quân trên địa bàn để sẵn sàng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ông Thái Văn Nhân, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tịnh Biên cho biết: "Trong công tác phòng, chống cháy rừng, chúng tôi luôn xác định "phòng là chính", chủ động chữa cháy rừng theo phương châm "4 tại chỗ" gồm: Chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Trước khi bước vào mùa khô, lực lượng Kiểm lâm kết hợp chính quyền các xã có rừng tổ chức hàng chục cuộc tọa đàm với dân để tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng trong cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung tuần tra, giám sát, bố trí lực lượng canh gác, túc trực ngày đêm ở các khu vực trọng điểm; đồng thời trang bị những dụng cụ, phương tiện chứa nước chữa cháy cơ động, xây dựng bồn chứa nước trên núi, thường xuyên cử lực lượng dọn dẹp, vệ sinh đường băng cản lửa nhằm hạn chế không để cháy lan, cháy lớn".
Một trong những khó khăn trong công tác phòng, chống cháy rừng ở An Giang hiện nay, đó là diện tích rừng khu vực đồi núi trải dài, số hộ tham gia nhận khoán nhiều, song bình quân không quá 1 héc-ta/hộ và phần lớn là đồng bào Khmer. Trong khi đó, thông thường vào mùa khô, các mô hình "sản xuất nông - lâm kết hợp" gần như bị gián đoạn, rừng dễ xảy ra hiện tượng vắng chủ.
Bên cạnh đó, tình trạng người bắt ong lấy mật, tìm kiếm cây thuốc nam trên núi vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Đây là những nguyên nhân phát sinh nhiều phức tạp làm ảnh hưởng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Vì vậy, việc tích cực tuyên truyền công tác bảo vệ rừng nhằm thay đổi hành vi của cộng đồng dân cư là rất cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Biên Phòng 6/5) đầu trang(
Tỉnh Phú Thọ có gần 200ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 55,38% diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất có rừng là hơn 183 nghìn ha, nằm phân tán trên địa bàn toàn tỉnh dễ xảy ra cháy rừng.
Nhiều năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều cơ chế, chính sách cụ thể trong công tác bảo vệ và phát triển rừng; các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương các cấp đã có sự phối hợp chặt chẽ để làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Nhằm làm tốt công tác bảo vệ rừng, PCCCR, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai công tác PCCCR trên địa bàn quản lý. Tỉnh đã tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra công tác bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR, chú trọng tại các khu rừng tự nhiên, các khu vực giáp ranh với các tỉnh: Sơn La, Yên Bái, Hoà Bình.
Các huyện cũng thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ rừng, PCCCR. Thông qua kiểm tra đã nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng, PCCCR, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Ngành NN&PTNT đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể mở lớp tuyên truyền, tập huấn về bảo vệ rừng và PCCCR cho lực lượng PCCCR cơ sở, các hộ nông dân, học sinh, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa nơi có nhiều diện tích rừng dễ xảy ra cháy.
Để nâng cao công tác cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Đài khí tượng thủy văn khu vực Việt Bắc, cơ quan Kiểm lâm vùng I, duy trì đều đặn dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng theo từng tháng, tuần và những ngày nắng nóng, hanh khô trên địa bàn tỉnh.
Phối hợp với Trường Đại học lâm nghiệp xây dựng và ứng dụng phần mềm dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh, chuyển tải kịp thời tới các Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, PCCCR cơ sở để thông báo rộng rãi đến các chủ rừng và nhân dân để chủ động xử lý khi có cháy rừng xảy ra.
Phối hợp với Báo Phú Thọ, Đài PT-TH tỉnh, Đài PT-TH huyện và chính quyền cơ sở thường xuyên đăng tải những bản tin, thông báo cấp dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng, phổ biến các quy định về PCCCR, bảo vệ rừng để các chủ rừng và các hộ gia đình chủ động trong công tác PCCCR.
Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm xây dựng quy chế phối hợp với cơ quan Kiểm lâm vùng I, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh giáp ranh; phối hợp với Công an, Quân đội xây dựng và ký quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng ở các cấp (tỉnh, huyện, xã). Ở một số xã trọng điểm đã xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp với các xã giáp ranh và đã xuất hiện hình thức bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng theo nhóm chủ hộ.
Đồng chí Phan Văn Sơn- Chủ tịch UBND xã Hương Cần (huyện Thanh Sơn) cho biết: “Trong những năm qua, xã luôn quan tâm phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa bàn xây dựng phương án PCCCR, tổ chức tuần tra, kiểm soát và hướng dẫn người dân làm tốt công tác PCCCR, vì vậy hàng chục năm nay trên địa bàn không xảy ra cháy rừng”.
Nhờ làm tốt công tác phối hợp, về cơ bản rừng được bảo vệ tốt, tình trạng đốt rừng làm nương rẫy giảm hẳn, số vụ cháy rừng năm sau ít hơn năm trước; hạn chế đến mức thấp nhất về số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra. Trong cả giai đoạn 2006-2015 đã xảy ra 48 vụ cháy rừng (giảm 30 vụ; 499,6ha so với giai đoạn 1997-2006).
Tuy nhiên, thời tiết những năm gần đây diễn biến phức tạp, nắng nóng, khô hạn kéo dài thường xuyên xảy ra trái với quy luật tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao.
Đồng chí Đỗ Ngọc Đoàn- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: “Thời gian tới,Chi cục tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đoàn thể, địa phương trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm và quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm tỉnh với Kiểm lâm vùng I, Kiểm lâm các tỉnh giáp ranh, chính quyền địa phương các khu vực giáp ranh và đặc biệt quy chế phối hợp các lực lượng trong chỉ đạo xử lý tình huống khi có cháy rừng xảy ra. Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng trong công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định về PCCCR của chính quyền địa phương, nhất là các chủ rừng”. (Báo Phú Thọ 7/5) đầu trang(
Hiện nay tình trạng nắng nóng khô hạn vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Các địa phương có diện tích rừng trồng thông nhựa thảm thực bì dày, nguy cơ rất xảy ra cháy rừng với tốc độ lan tràn lửa nhanh và có thể gây thiệt hại lớn về rừng, môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Trước tình hình này, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND yêu cầu các sở, ngành liên quan, UBND cấp huyện tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT tham mưu triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 03 ngày 14/4/2016 của BTV Tỉnh ủy về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Tổ chức kiểm tra phương án PCCCR của các địa phương và chủ rừng để chấn chỉnh bổ sung kịp thời những thiếu sót.
Đặc biệt là phương án bảo vệ các khu rừng gắn với khu di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của tỉnh, các khu rừng tự nhiên bị chết khô; Chỉ đạo phát dọn đường bằng trắng cản lửa, phát dọn thực bì trồng rừng, đốt trước vật liệu cháy, quản lý chặt chẽ việc phát đốt xử lý thực bì trồng rừng cũng như sản xuất nương rẫy tại các địa phương; Tham mưu phương án huy động lực lượng, phương tiện, chỉ huy, hậu cần chữa cháy rừng trong các trường hợp xảy ra cháy lớn.
UBND các huyện, thành, thị chỉ đạo thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân từ cơ sở thôn, bản, xã, phường, thị trấn đến huyện, thành, thị.
Đối với các địa phương có diện tích rừng có nguy cơ cháy rừng cao, UBND cấp huyện ban hành Chỉ thị tăng cường các biện pháp cấp bách PCCCR; Chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm, chủ rừng, UBND cấp xã thực hiện nghiêm chế độ thường trực canh phòng lửa 24/24h hàng ngày tại chòi canh lửa rừng, chuẩn bị tốt phương án 4 tại chỗ trong PCCCR để huy động lực lượng ứng cứu nhanh các tình huống cháy rừng xảy ra. Trong tình huống cháy rừng xảy ra trên địa bàn, UBND cấp huyện chỉ đạo việc huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật, hậu cần, trực tiếp chỉ huy chữa cháy rừng, xử lý nhanh, ngăn chặn kịp thời không để xảy ra cháy lớn.
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Cảnh sát PCCC tỉnh chỉ đạo các lực lượng chức năng trực thuộc của địa phương phối hợp với lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương  triển khai tốt phương án PCCCR trên địa bàn huyện, thành, thị; Tổ chức điều tra nguyên nhân, tội phạm gây ra cháy rừng do lỗi đốt rừng cố ý xảy ra trên địa bàn tỉnh để kịp thời xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục, phòng ngừa và răn đe.
Các cơ quan báo, đài phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tổ chức tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về công tác PCCCR. Chi cục Kiểm lâm tổ chức lực lượng thường trực chữa cháy rừng 24/24h hàng ngày tại văn phòng trực, các chòi canh lửa và các đội, trạm ở cơ sở; Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng lửa trong rừng và ven rừng… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Nghệ An 6/5) đầu trang(
Mới đây, trên địa bàn thị trấn Khánh Vĩnh và xã Sông Cầu (huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) xảy ra 2 vụ đốt dọn rác mía gây cháy lan sang diện tích rừng keo trồng của người dân địa phương. Tuy diện tích thiệt hại không lớn, nhưng đây là sự cố cảnh báo các chủ rừng cần hết sức đề phòng cháy rừng trồng trong cao điểm mùa khô năm nay.
Ông Phạm Quốc Kỳ - Đội trưởng Đội Quản lý, bảo vệ rừng Công ty TNHH một thành viên Lâm sản Khánh Hòa cho biết: “Liên tục nhiều tháng qua, trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh không có mưa, rải rác ở một số nơi đã xảy ra cháy mía lan sang cháy keo. Theo đó, nhiều diện tích rừng trồng trong khu vực lâm phận của công ty ở các xã: Khánh Phú - Sông Cầu, Khánh Thành, Cầu Bà, Khánh Thượng, Giang Ly, Sơn Thái…, với tổng diện tích hơn 8.000ha luôn đối diện với nguy cơ cháy rất cao”.
Trước tình hình đó, công ty đã vận động người dân ký cam kết trước khi đốt dọn nương rẫy; tiến hành duy tu bảo dưỡng đường ranh cản lửa, chòi canh lửa; bố trí lực lượng tuần tra, canh gác các khu vực trọng điểm dễ cháy; hợp đồng thêm lực lượng để quản lý, tuần tra, canh lửa; chuẩn bị, bố trí lực lượng, phương tiện, dụng cụ, hậu cần theo phương châm 4 tại chỗ…
Ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết: “Trong vòng 1 tháng trở lại đây, nguy cơ cháy rừng trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh luôn được cảnh báo ở cấp cực kỳ nguy hiểm. Chính vì vậy, hơn 12.000ha rừng tự nhiên và rừng trồng, nhất là rừng keo với diện tích lên đến hàng nghìn héc-ta đối diện với nguy cơ cháy cao; một khi xảy ra cháy sẽ thiệt hại nặng”.
Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), Hạt Kiểm lâm huyện cùng các công ty lâm nghiệp trên địa bàn, các chủ rừng trồng đã tổ chức đốt thực bì có điều khiển, duy tu hơn 47,5km đường ranh cản lửa và chủ động xây dựng kế hoạch ứng phó với các tình huống cháy có thể xảy ra. Đồng thời, các địa phương cũng chú trọng xây dựng lực lượng chữa cháy tại chỗ với 52 tổ đội PCCCR cấp xã với hơn 560 thành viên, cùng 19 tổ đội của các đơn vị chủ rừng nhà nước.
Trong khi đó, trên địa bàn huyện Cam Lâm có hơn 24.505ha rừng và đất có rừng; trong đó có 4.163ha rừng trồng… Qua kiểm tra của Hạt Kiểm lâm huyện Cam Lâm, có một số khu vực rừng trọng điểm dễ cháy như: tiểu khu 316, 313 với khoảng 340ha rừng trồng, thuộc địa bàn xã Cam Phước Tây; xã Cam An Bắc có khoảng 50ha rừng trồng ở tiểu khu 310; 160ha rừng trồng và lồ ô ở tiểu khu 299 (xã Cam Tân) và tiểu khu 306 (xã Sơn Tân); xã Suối Tân có 60ha rừng trồng ở tiểu khu 231; khu vực rừng ngoài lâm nghiệp ở núi Hòn Thẻ (giáp ranh xã Cam Hải Tây và xã Cam Hòa); xã Cam Hiệp Bắc có khu vực Bến Hai (tiểu khu 305)…
Ông Mang Sơn, người trồng rừng ở xã Sơn Tân cho biết: “Gia đình tôi có hơn 1ha keo trồng được 2 năm tuổi, keo chưa khép tán nên một khi xảy ra cháy sẽ thiệt hại hoàn toàn. Chính vì vậy, thời gian gần đây, ngày nào tôi cũng phải ra rẫy 4 - 5 lần để phòng cháy keo”.
Theo báo cáo của UBND huyện Vạn Ninh, trong số gần 1.500ha rừng trồng của địa phương có đến 2/3 diện tích được xác định trong vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao, chủ yếu là rừng keo, tập trung ở các xã: Vạn Hưng, Vạn Phú và Vạn Long. Nhiều ngày qua, thời tiết trên địa bàn huyện không có mưa, mức độ nguy hiểm đang ở mức cao, do vậy công tác PCCCR đang được huyện quan tâm triển khai đến các ban, ngành và xã, thị trấn.
Qua kiểm tra công tác PCCCR tại địa phương này, Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chỉ đạo huyện tập trung triển khai quyết liệt công tác bảo vệ rừng và PCCCR; phân công nhiệm vụ cho các tổ, đội trực cháy 24/24 giờ; chuẩn bị mọi phương tiện chữa cháy, nhân lực đảm bảo ứng phó khi có tình huống xấu.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện cần chủ động tổ chức tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng và kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng khai thác lâm sản trái phép, đốn củi đốt than và thường xuyên hướng dẫn các chủ hộ trồng rừng tham gia dọn thực bì, làm đường ranh cản lửa; hạn chế thấp các vụ cháy rừng trong thời tiết nắng nóng, khô hanh hiện nay.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra vụ cháy rừng nào trong đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, đã xảy ra 2 vụ cháy mía gây cháy lan sang một số diện tích keo của người dân trồng trên đất ngoài lâm nghiệp. Trước nguy cơ cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm như hiện nay, các địa phương, chủ rừng và người dân cần tiếp tục thực hiện những biện pháp PCCCR.
Chi cục đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm địa phương và đơn vị trực thuộc phải tiến hành kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng nhà nước, tư nhân trong việc triển khai phương án PCCCR; yêu cầu các hạt kiểm lâm phải trực PCCCR nghiêm túc, 24/24 giờ để kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ xảy ra. (Báo Khánh Hòa 8/5) đầu trang(
Các địa phương và ngành kiểm lâm đang tập trung mọi nguồn lực bảo vệ rừng và tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Mùa khô năm ngoái, ít nhất 8 vụ cháy rừng lớn nhỏ xảy ra trên địa bàn tỉnh với diện tích thiệt hại gần 60ha rừng trồng sản xuất, lại một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về nhiệm vụ giữ rừng trong lúc thời tiết nắng nóng kéo dài. Suốt 2 tuần liên tiếp, nhiều nơi có rừng phòng hộ xung yếu hầu như không xuất hiện cơn mưa nào.
Hạn hán cục bộ không chỉ gây khó khăn cho sản xuất, trồng trọt mà cả các cánh rừng cũng tiềm ẩn nguy cơ cháy rất cao. Bắt đầu từ tháng 3 đến nay, các chủ rừng phòng hộ, rừng trồng của nhân dân không thể yên tâm trước bất lợi của thời tiết. Ở các khu rừng phòng hộ Duy Sơn (Duy Xuyên) hay Phú Ninh vốn là nơi phát triển mạnh loại hình du lịch sinh thái, chính quyền địa phương cũng cắt cử lực lượng giúp du khách có ý thức sử dụng lửa trong rừng.
Tại rừng phòng hộ Phú Ninh, chủ rừng phối hợp cùng với lực lượng bảo vệ rừng các xã Tam Đại, Tam Thái, Tam Dân (Phú Ninh), Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh (Núi Thành) mở các chiến dịch tuần tra, tăng cường kiểm tra người dân vào rừng. Tương tự, tại huyện Duy Xuyên, chính quyền tập trung PCCCR ở “điểm nóng” các xã  Duy Sơn, Duy Phú. Huyện Duy Xuyên có 12.558ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 8.573ha, rừng đặc dụng là 1.081ha và 1.903ha rừng sản xuất.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Duy Xuyên, khu rừng qua xã Duy Sơn và Duy Phú có khu dân cư đông đúc, mật độ đi lại dày đặc nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng. Tình trạng đốt thực bì, học sinh tổ chức các buổi tham quan, dã ngoại, thắp hương, đốt giấy vàng mã tại các nghĩa trang nằm ngay dưới những khu rừng… là những nguyên nhân chủ quan dễ cháy rừng.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, diễn biến thời tiết khô hạn năm nay vô cùng phức tạp, nên nhiều khu rừng xung yếu rất dễ xảy ra cháy. Hiện đơn vị đưa ra một số quy định bắt buộc trong mùa nắng hạn như: khi sử dụng lửa để đốt nương làm rẫy, xử lý thực bì trồng rừng, phát quang đường giao thông, các tổ chức, đơn vị, người dân phải thực hiện nghiêm túc phương án PCCCR và phải đăng ký về thời gian, địa điểm với trưởng thôn, lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng và PCCCR, kiểm lâm địa bàn...
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh về PCCCR, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư về bảo vệ rừng và PCCCR; chỉ đạo các hạt kiểm lâm, UBND cấp xã thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy, đốt xử lý thực bì trồng rừng.
Đồng thời chỉ đạo các lực lượng chức năng ứng trực 24/24 giờ trong suốt mùa khô hanh; bố trí lực lượng canh phòng, kiểm soát chặt chẽ các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao; khi cấp dự báo cháy rừng ở cấp IV và cấp V (cấp nguy hiểm và cấp cực kỳ nguy hiểm), nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng lửa hoặc gây ra nguồn lửa, nguồn nhiệt có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy rừng; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định về PCCCR.
Hiện, kiểm lâm bố trí lực lượng giám sát các trường hợp có sử dụng lửa tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng. Nhiều nơi đã triển khai thường xuyên công tác PCCCR, như huyện Tây Giang ưu tiên hỗ trợ xây dựng chốt tại khu vực xã Lăng, huyện Tây Giang (vùng giáp ranh với xã Zuôih, Nam Giang) thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung để quản lý khu rừng lim xanh và giám sát lửa rừng ở khu vực này. Còn tại huyện Nam Giang, 18 bản quy ước tuyên truyền bảo vệ rừng, cùng 3 bảng báo hiệu cấp dự báo cháy rừng được xây dựng và lắp đặt ở các tuyến đường giao thông trên địa bàn quản lý.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh, các địa phương có rừng phải xem PCCCR là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong mùa khô hạn. Khẩn trương triển khai thực hiện dự án nâng cao năng lực PCCCR tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 nhằm nâng cao năng lực thực hiện công tác PCCCR các cấp, từ tỉnh đến huyện, xã ngay trong năm 2016. Trước mắt cần khảo sát đề xuất các khu vực và thời điểm cấm sử dụng lửa trong mùa khô năm 2016 để thông tin rộng rãi cho các tổ chức, cá nhân biết và chấp hành. ( Báo Quảng Nam 6/5) đầu trang(
Sáng 6-5, UBND huyện Hòa Vang tổng kết 5 năm (2011-2015) thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; triển khai phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020.
5 năm qua, trên lâm phận huyện Hòa Vang xảy ra 52 vụ cháy, gây thiệt hại 251,24ha rừng, trong đó 108ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng và lau lách cây bụi. Cơ quan chức năng đã xử lý 15 vụ, trong đó 2 vụ 6 đối tượng bị xử lý hình sự với mức 10 năm tù giam, 9 năm tù treo, buộc đền bù khắc phục hậu quả 1,5 tỷ đồng.
Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) giai đoạn 2016-2020, huyện Hòa Vang đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về công tác bảo vệ và PCCCR trong mọi tầng lớp nhân dân, tiến hành ký cam kết bảo vệ rừng hiệu quả cho 46 Ban nhân dân thôn có rừng, 2.088 hộ gia đình sinh sống cận rừng và hàng chục cơ quan, đơn vị đứng chân trên vùng rừng.
Chú trọng xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng đủ về quân số, mạnh về ý chí tinh thần, biên chế hợp lý; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong quản lý và bảo vệ rừng. Tăng cường tuần tra kiểm soát, quản lý bảo vệ rừng tại gốc, phát hiện ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, ngăn chặn triệt để tình trạng vận chuyển lâm sản và săn bắt động vật hoang dã trái phép. Các vụ vi phạm lâm luật xảy ra trên địa bàn, điều tra kịp thời, xử lý nghiêm minh theo pháp luật... (Báo Đà Nẵng 7/5) đầu trang(
Tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Krông Pa, Gia Lai chưa có dấu hiệu dừng lại, nhiều cánh rừng đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ.
Nhiều năm nay, Krông Pa luôn là “điểm nóng” của tỉnh Gia Lai về tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt, thời gian gần đây, hàng loạt vụ phát rừng qui mô lớn đã xảy ra xâm hại nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên rừng của địa phương.
Những ngày này, tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Krông Pa lại tiếp tục được “hâm nóng” với vụ phá rừng qui mô lớn diễn ra tại các cánh rừng của xã Ia Rmok, khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk. Suốt thời gian dài, lâm tặc làm đường đưa cưa lốc, rơ mooc vào rừng chặt gỗ đưa về điểm tập kết. Mãi đến khi gần trăm hộp gỗ vuông vắn với kích cỡ “khủng” nằm giữa rừng chờ vận chuyển thì lực lượng chức năng mới phát hiện tạm giữ.
Qua khu vực ba buôn của xã Chư Drăng, con đường dốc, đá cheo leo dài hàng chục km chính là con đường độc đạo để đến khu vực rừng này. Ngay trên đỉnh núi, hàng loạt hộp gỗ được xẻ vuông vắn nằm ngổn ngang, la liệt trải dài hàng trăm m2. Hầu hết các hộp gỗ đều có kích cỡ lớn, vuông từ 50cm đến 80cm, dài từ 3,5m đến 5m và nhiều lóng gỗ tròn đường kính trên 60cm.
Theo nhận định của phóng viên, tại đây có khoảng 80 hộp gỗ và lóng gỗ tròn và đây có thể là bãi tập kết gỗ của lâm tặc. Lâm tặc sau khi chọn đốn các cây gỗ lớn ở các khu vực rừng xung quanh rồi kéo về tập kết tại điểm cao này để dễ bề vận chuyển. Mặc dù không có một bóng người nhưng nhiều dấu vết để lại như lán trại, dây cáp, khung xe bò vàng, các vật dụng sinh hoạt…minh chứng đây là một vụ phá rừng khá quy mô, có tổ chức và đã diễn ra khá lâu.
Ông Trương Thanh Hà, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Krông Pa xác nhận, khu vực rừng bị phá trên thuộc địa phận xã Ia Rmok, huyện Krông Pa, nơi giáp ranh với xã Cư Klông, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk. Đây là địa bàn rộ lên tình trạng phá rừng trái phép ở cả hai tỉnh từ năm 2014 nhưng vụ phá rừng mới này được cho là vụ có khối lượng gỗ bị tàn phá nặng nề nhất.
Ông Hà xác nhận thêm: “Chúng tôi đã biết về vụ phá rừng này nhưng vì muốn ‘đánh rắn phải đánh dập đầu’ nên chúng tôi đã tiến hành mật phục ngày đêm ở rừng tuy nhiên vẫn không bắt được đối tượng nào. Hiện Hạt kiểm lâm vẫn đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan điều tra nên tạm thời chưa thể cung cấp thông tin cho báo chí được”.
Không những là “điểm nóng” về phá rừng lấy gỗ, Krông Pa còn là trọng điểm về phá rừng làm nương rẫy. Trên đường vào bãi tập kết gỗ, chứng kiến nhiều khoảnh rừng ở 2 xã Chư Drăng và Ia Rmok bị đốt phá rộng đến vài ha mà quá đỗi xót xa. Mặt đất ngổn ngang những cây gỗ to nhỏ cháy đen. Theo nhiều người dân sinh sống ở đây, do diện tích đất canh tác trước đây đã bạc màu và thiếu đất sản xuất nên họ đánh liều đốt rừng lấy đất mới trồng cây ngô, cây sắn để mưu sinh.
Để răn đe các đối tượng phá rừng, trung tuần tháng 4 này, Tòa án nhân dân huyện Krông Pa đã đưa 2 đối tượng ra xét xử lưu động về tội Hủy hoại tài nguyên rừng tại xã Krông Năng. Theo đó, vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 9/2015, Ka Sor Y Tet (sinh năm 1979) ở buôn Jú, xã Krông Năng sử dụng cưa xăng vào khu vực rừng sản xuất thuộc tiểu khu 1430 của xã Ia Dreh chặt phá, đốt cây rừng lấy đất làm rẫy với tổng diện tích rừng bị phá là 6.380 m 2 gây thiệt hại gần 340 triệu đồng. Đối tượng còn lại là Ksor Lớ (sinh năm 1979) cùng ở buôn Jú, xã Krông Năng tự ý dùng cưa xăng và dao quắm chặt hạ 7.690 m 2 rừng sản xuất thuộc tiểu khu 1430 của xã Ia Dreh quản lý để lấy đất làm rẫy từ tháng 2 đến tháng 5/2015.
Hành vi chặt phá rừng của Ksor Lớ gây thiệt hại về lâm sản trên 54 triệu đồng và gây thiệt hại về môi trường với tổng số tiền trên 160 triệu đồng. Hai đối tượng này cùng bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa tuyên phạt mỗi đối tượng 6 tháng tù giam. Đây là vụ án điểm và là động thái mạnh tay của ngành chức năng khi lần đầu tiên đưa ra xét xử hình sự một vụ phá rừng làm nương rẫy.
Hy vọng rằng, sự vào cuộc quyết liệt của ngành chức năng tỉnh Gia Lai sẽ mở ra cơ hội mới để các cánh rừng tự nhiên trên địa bàn huyện Krông Pa cũng như của tỉnh được phát triển bền vững trong tương lai. (Môi Trường Và Đời Sống 6/5) đầu trang(
Tại cuộc họp giao ban khối Đảng, Đoàn thể do Thành ủy Đà Nẵng tổ chức sáng 6/5, ông Cao Xuân Thắng, Bí thư Quận ủy Sơn Trà bày tỏ lo ngại, rừng ở Khu bảo tồn Thiên nhiên  Sơn Trà có nguy cơ bị xâm hại và cháy rừng rất cao từ hoạt động tham quan của khách du lịch  tự do.
Ông Cao Xuân Thắng cho rằng, rừng Sơn Trà hiện có nhiều loài động vật quí, trong đó có loài vọc chà vá quí hiếm.
Sau vụ phá rừng kéo dài nghiêm trọng vừa xảy ra tại đây, một số cán bộ liên quan đã đươc xử lý. Vừa qua, quận Sơn Trà cũng đã thành lập đoàn liên ngành gồm 15 thành viên đi kiểm tra, phát hiện nhiều bất cập trong quản lý. Trong đó, tình trạng khách du lịch tự do vào rừng tham quan, dã ngoại nhưng không có cơ quan nào giám sát. Nhiều nhóm người tự do vào dựng trại, nấu ăn trong rừng, nguy cơ xảy ra cháy và xâm hại rừng rất cao.
Ông Cao Xuân Thắng kiến nghị: “Đối với bán đảo Sơn Trà các công trình phòng thủ, liên quan đến an ninh quốc gia mà hiện nay du khách muốn đi đâu thì đi, họ lội khắp lên đến các công trình phòng thủ và không ai kiểm soát. Cho nên, tôi đề nghị đối với bán đảo Sơn Trà, thành phố cần có phương án cho du khách đi một cách có tổ chức, nếu có sự cố xảy ra thì khó lường”.
Ông Phùng Tấn Viết, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cho biết, theo Quyết định của Chính phủ về phân loại 3 loại rừng và giao rừng, phân cấp quản lý, đến nay thành phố đã giao 3.000 ha đất rừng sản xuất tại Sơn Trà cho địa phương quản lý, còn 2.000 ha thuộc rừng đặc dụng và phòng hộ đã giao cho lực lượng kiểm lâm quản lý. Sắp tới thành phố sẽ định vị lại đất rừng tại Sơn Trà, phân loại rừng cụ thể vị trí nào ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, khoanh vùng cấm người vào và có biện pháp quản lý chặt khách du lịch ra vào rừng.
Ông Võ Công Trí, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Đà Nẵng chỉ đạo quận Sơn Trà phối hợp với các cơ quan chức năng thành phố nghiên cứu, đề xuất phương án quản lý rừng bán đảo Sơn Trà tốt hơn.
”Hiện nay khách đi lại tự do trong đó, mình không quản lý được thì nên quản lý du khách. Mình không phải ngăn cấm hoàn toàn, không cho họ đi nhưng mà họ đi lối nào, hành trình nào mình phải quản lý được, thậm chí cấp phép số lượng cụ thể người vào. Cái này cần có khảo sát cụ thể để cấp phép”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 6/5) đầu trang(
Toàn huyện Bù Đăng có tổng diện tích rừng và đất rừng trong quy hoạch lâm nghiệp trên 59.600 ha; diện tích có rừng trên 3.200 ha.
Trong đó 1.575 ha rừng phòng hộ; trên 1.600 ha rừng sản xuất và 43 ha rừng trồng. Tài nguyên rừng thuộc huyện Bù Đăng quản lý chủ yếu dạng rừng da beo, phân bố rải rác trên lâm phần thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng trên 2.740 ha. Diện tích còn lại chủ yếu rừng khoanh nuôi trong các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trên lâm phần Nông lâm trường Nghĩa Trung.
4 tháng đầu năm 2016, địa bàn huyện xảy ra 2 vụ phá rừng, làm thiệt hại 1.200m2 rừng sản xuất, trạng thái là rừng lồ ô nghèo kiệt, tại Khoảnh 10, Tiểu khu 199; phát hiện 3 vụ mua, bán vận chuyển lâm sản trái phép; không xảy ra cháy rừng.
Trong năm 2016, Bù Đăng sẽ trồng rừng thay thế trên 2 dự án với gần 88 ha, cây trồng là keo lai, phương thức trồng tập trung. Toàn huyện có 22 dự án có rừng khoanh nuôi và bảo vệ với tổng trên 668 ha; 3 tổ chức nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng với trên 200 ha. (Báo Bình Phước 7/5) đầu trang(
Những năm gần đây, ở Tây Bắc mỗi năm có hàng nghìn ha rừng bị tàn phá. Trong khi đó, trồng rừng ở Tây Bắc đang là một nhiệm vụ khó thực thi. Nhiều tỉnh nhiều năm chỉ đạt vài chục phần trăm kế hoạch trồng rừng.
Rừng Tây Bắc ngoài vai trò là “mái nhà” che, đảm bảo an toàn sinh thái cho 3,7 triệu ha nội vùng Tây Bắc và cho cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, còn có vai trò phòng hộ vô cùng quan trọng cho các nhà máy thủy điện: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà… Những mùa khô gần đây, các hồ chứa nhà máy thủy điện luôn trong nguy cơ thiếu nước, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất điện và vùng hạ lưu.
Một đám cháy rừng lại bùng lên dữ dội vào trung tuần tháng 3 vừa qua. Người dân các bản sống quanh khu rừng thuộc xã Nậm Có, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái trở nên náo loạn suốt 2 ngày dập lửa cháy rừng lan rộng. Lửa tắt, để lại 50 ha rừng thông mấy chục năm tuổi bị thiêu rụi. Nguyên nhân gây cháy rừng nghe thật chua xót: Thủ phạm vì mâu thuẫn với trưởng bản nên đã đốt rừng của bản để trả thù.
Thống kê một cách tình cờ của tháng trước đó, trong 3 ngày liên tiếp, tại các tỉnh Tây Bắc là Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Điện Biên và Lai Châu có tới 4 vụ cháy rừng xảy ra, thiêu rụi hàng trăm ha rừng.
Cũng tại 5 tỉnh vừa nêu, tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra tới 76 vụ cháy rừng, gây thiệt hại gần 1.200 ha rừng. Và nguyên nhân cháy rừng đều chủ yếu là do ý thức bảo vệ rừng yếu kém của con người gây ra. Trong khi đó, việc cứu rừng thật không hề đơn giản.
Ông Lò Thế Thi, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La cho biết: “Nếu ở những khu vực, điểm có thể tiếp cận được thì sẽ dập trực tiếp. Nếu không, thường phải phát đường băng cản lửa để tổ chức đốt chặn, không để cháy lan ra diện rộn”.
Bên cạnh tình trạng gây cháy rừng, là tình trạng phá rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép. Và cũng có không ít chuyện thật như bịa. Cách đây hơn 1 năm, 131 hộ dân tại 5 bản của xã Mường Hung, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã  tổ chức phá rừng tập thể. Sau cuộc họp gồm đại diện của 5 bản: Lọng Tòng, Nà Nỏng, Nà Hựa, Bản Cát, Phiêng Lươn, một biên bản thống nhất phá rừng phòng hộ đã ra đời.
Hậu quả là chỉ trong một buổi sáng, hơn 20 héc ta rừng phòng hộ đã bị 131 hộ dân của 5 bản chặt phá tan hoang.  Rất may là lãnh đạo tỉnh Sơn La đã phát hiện và kịp thời chỉ đạo chính quyền cơ sở xử lý nghiêm vụ việc, cơ quan pháp luật nhanh chóng vào cuộc đưa những kẻ phá rừng ra truy tố trước pháp luật để răn đe.
Anh Cà Văn Cương, một hộ dân ở Bản Cát, xã Mường Hung cho biết: “Để đảm bảo cho đời sống, bà con nhân dân trong bản không nhận thức được hành vi của mình, tự ý đi phá khu rừng phòng hộ làm đất sản xuất”.
Đến thời điểm hiện tại, “điểm nóng nhất” về phá rừng Tây Bắc vẫn là huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Cách đây hơn 1 tháng sau khi chúng tôi phát bài “Nóng bỏng chuyện giữ rừng Mường Nhé”, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Thủ tướng Chính phủ), đã có chỉ đạo, yêu cầu UBND tỉnh Điện Biên kiểm điểm trách nhiệm cá nhân và tập thể. Nhưng rừng Mường Nhé vẫn tiếp tục bị xâm lấn, khiến diện tích rừng bị phá trong hơn 1 tháng vừa qua đã tăng từ 60 héc ta lên hơn 140 héc ta.
Theo lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé: Vấn nạn dân di cư tự do chậm được giải quyết đã dẫn đến mất rừng. Từ năm 2011 đến nay, có gần 400 hộ, với trên 2.000 nhân khẩu di cư đến Mường Nhé. Để có đất sản xuất, các hộ dân này đã cố tình phá rừng và bắt đầu tấn công rừng đặc dụng trên địa bàn.
Ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé cho biết: “Huyện đã tăng cường công tác chỉ đạo, thành lập các tổ công tác, rà soát và dự kiến các điểm nguy cơ bị xâm phạm rừng lớn để tổ chức tuyên truyền. Hai là xử lý các vụ việc, hiện tượng xâm hại rừng. Tuy nhiên, hiệu quả của công tác này chưa cao. Áp lực các hộ dân di cư tự do phá rừng chưa giảm”.
Rừng ở Tây Bắc đã “không cánh mà bay” mỗi ngày từ nhiều nguyên nhân, do cháy rừng, phá rừng làm nương, do khai thác gỗ trái phép…Tổng hợp riêng tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, năm 2015, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý gần 2.000 vụ, diện tích rừng bị mất hàng nghìn ha.
Như vậy, có thể thấy, rừng ở Tây Bắc đã và đang bị tàn phá ở mức báo động. Mất rừng, những năm gần đây, hạn hán, mưa bão, xoáy lốc, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất ngày càng gia tăng. Riêng năm 2015, số người thiệt mạng do thiên tai, bão lũ tại 5 tỉnh trọng tâm Tây Bắc là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên lên đến 42 người, ước tổng thiệt hại về kinh tế gần 1.200 tỷ đồng. Còn năm 2016, xin được nhắc lại, trong 4 tháng đầu năm trên địa bàn 5 tỉnh kể trên, đã có 76 vụ cháy rừng, gây thiệt hại gần 1.200 héc ta rừng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 8/5) đầu trang(
Sáng 6-5, hơn 100 học sinh lớp 4 và lớp 5 tại huyện Cư M’Gar, Đắk Lắk rất thích thú khi đến tham quan Bảo tàng Đắk Lắk.
Nhìn đầu một số con thú quý hiếm như bò tót, trâu, heo rừng... nhiều học sinh không biết đó là con gì. Hướng dẫn viên Bùi Thị Ngọc Thúy (nhân viên Bảo tàng Đắk Lắk) chỉ cho các em phân biệt từng con thú rừng và đặt câu hỏi: “Trước nạn săn bắt vô cùng gay gắt, nhiều con thú rừng đã bị tận diệt, nguy cấp, chúng ta phải làm gì hả các con?”. “Không được săn bắt thú rừng” - nhóm học sinh đồng thanh.
Cũng tại khu vực này, bảo tàng trưng bày hình ảnh những chiếc xe tải, xe máy chở những lóng gỗ quý, hình ảnh cây thủy tùng tại huyện Krông Năng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, ảnh một chú voi con bị săn bắt trái phép ở huyện Buôn Đôn, cảnh công an xử lý người phá rừng...
“Cây rừng giúp giữ nước và môi trường trong lành cho con người, nên chặt phá rừng như thế này là vi phạm pháp luật, các con nhé” - hướng dẫn viên nói.
Bà H’Loan Adrơng, quyền giám đốc Bảo tàng Đắk Lắk, cho biết bảo tàng được thiết kế thành ba không gian gồm: văn hóa dân tộc, lịch sử và đa dạng sinh học với bốn thứ tiếng là Việt, Pháp, Anh và Êđê.
Khu “chứng tích” phá rừng nằm trong không gian đa dạng sinh học, được mở liên tục nhằm giáo dục, tuyên truyền cho khách tham quan ý thức bảo vệ môi trường trước nạn phá rừng lấy gỗ, làm nương, săn bắt, tận diệt thú rừng. (Tuổi Trẻ 7/5) đầu trang(
Rừng phòng hộ thuộc hồ chứa nước Vạn Định (xã Mỹ Lộc, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) đang bị tàn phá nghiêm trọng. Tình trạng này diễn ra công khai, kéo dài, nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương lại không có biện pháp ngăn chặn.
Từ Quốc lộ 1A, đi dọc theo tuyến đường liên thôn dẫn về hồ Vạn Định (thôn Vạn Định, xã Mỹ Lộc), hàng chục khoảnh rừng tự nhiên xung quanh khu vực lòng hồ đã bị người dân đốn hạ công khai để trồng cây keo lai. Khu vực phía Tây Bắc và Tây Nam lòng hồ Vạn Định, hàng ngàn mét vuông rừng tự nhiên được thay thế bằng diện tích cây keo lai đã xanh lá.
Một cán bộ quản lý hồ Vạn Định lo lắng: Từ đầu tháng 11/2015 đến nay, mỗi ngày có khoảng 20-30 người ở thôn Vạn Định vào rừng phòng hộ chặt, đốn khai thác củi và đốt thực bì để trồng rừng kinh tế. Tình trạng này diễn ra công khai mà không hề có bất cứ sự ngăn chặn, kiểm soát nào của lực lượng chức năng cũng như chính quyền địa phương.
Ông Lê Văn Phi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ, cho hay: “Việc một số người dân thôn Vạn Định chặt phá rừng phòng hộ, lấn chiếm đất lâm nghiệp trong khu vực lòng hồ Vạn Định là có thật. Bước đầu, chúng tôi xác định có 18ha rừng phòng hộ bị chặt phá và đất lâm nghiệp thuộc tiểu khu 131 đã bị lấn chiếm trái phép. Trong đó, có 11,25ha rừng phòng hộ trạng thái IIA do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ và 6,75ha đất lâm nghiệp do UBND xã Mỹ Lộc quản lý”.
Để tìm hiểu vì sao một số người dân có thể ngang nhiên vào đốn rừng phòng hộ, chúng tôi đã gặp Chủ tịch UBND xã Mỹ Lộc, ông Phan Văn Nhanh. Trái ngược với sự lo lắng của cán bộ quản lý hồ Vạn Định, ông Chủ tịch UBND xã lại tỏ ra rất thờ ơ. “Chủ tịch thì đâu phải chuyện gì cũng ôm. Bây giờ, sổ sách, số liệu liên quan về chuyện này cán bộ chuyên môn nắm… Với lại, diện tích rừng bị phá luôn biến động, nên thời điểm khác tôi trả lời”.
Trong khi đó, ông Lê Văn Phi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ khẳng định: “Để xảy ra tình trạng này là do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ và UBND xã Mỹ Lộc chưa theo dõi, quản lý chặt chẽ. Khi phát hiện vụ việc, 2 đơn vị này lại phản ứng quá chậm; thậm chí, không có động thái ngăn chặn, khiến cho tình hình phá rừng càng thêm phức tạp”.
Khẳng định của ông Phi là hoàn toàn có cơ sở, bởi rừng phòng hộ thuộc hồ chứa nước Vạn Định bị chặt phá trái phép chỉ cách trụ sở UBND xã Mỹ Lộc khoảng 2km, nhưng người đứng đầu UBND xã Mỹ Lộc không nắm được thì rất lạ. Dư luận đang đặt câu hỏi: Liệu chính quyền địa phương chưa làm tròn trách nhiệm hay bao che, tiếp tay cho “lâm tặc” phá rừng?.
Đề nghị UBND huyện Phù Mỹ và tỉnh Bình Định sớm có biện pháp chỉ đạo xử lý dứt điểm tình trạng chặt phá rừng phòng hộ trái phép ở hồ Vạn Định; làm rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong vụ việc này để rộng đường dư luận. (Dân Tộc Và Phát Triển 7/5) đầu trang(
Trong 4 tháng đầu năm 2016, toàn huyện An Lão đã có hơn 58 ha rừng bị chặt phá trái phép và hàng chục vụ vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép bị lực lượng chức năng phát hiện, xử lý.
Trước hoạt động phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp đang diễn biến phức tạp trên địa bàn các xã, thị trấn của huyện An Lão, vừa qua, UBND huyện An Lão đã quyết định thành lập 10 tổ công tác chuyên biệt thực hiện việc tuần tra, truy quét và xử lý vấn nạn trên.
Theo ông Đoàn Văn Tá, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, lực lượng tham gia tổ công tác gồm: Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện, Ban quản lý rừng đặc dụng An Toàn, lãnh đạo UBND các xã, thị trấn cùng cán bộ địa chính, lâm nghiệp, công an, Ban Chỉ huy Quân sự và lực lượng Dân quân cơ động đang công tác tại 10 xã, thị trấn trong huyện.
Ông Bùi Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão, nhấn mạnh: “Các tổ công tác có nhiệm vụ lập kế hoạch, tổ chức các đợt kiểm tra, truy quét tình trạng phá rừng cũng như việc mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ở từng địa phương. Mỗi tổ công tác thực hiện nhiệm vụ này ít nhất một lần/tuần. Khi phát hiện các vụ vi phạm Luật Bảo vệ - Phát triển rừng, các tổ công tác phải lập biên bản và tham mưu cho các đơn vị, ngành chức năng có liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật”.
Thường thì thời điểm trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, các đối tượng khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép sẽ tích cực hoạt động. Do đó, việc thành lập các tổ công tác này sẽ góp phần ngăn chặn và giảm thiểu được số vụ vi phạm Luật Bảo vệ - phát triển rừng ở các địa phương.
Trước đây, báo Bình Định số ra ngày 18.4.2016 có đăng tải bài viết “Xã An Vinh (An Lão): Ngang nhiên chặt phá rừng tự nhiên”, phản ánh thực trạng nhiều diện tích rừng tự nhiên ở thôn 6, xã An Vinh bị chặt phá nghiêm trọng, nhưng chính quyền sở tại và lực lượng Kiểm lâm không có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời, gây bức xúc cho nhân dân.
Hạt đã cử cán bộ Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra thực tế hiện trường. Qua đo đạc cho thấy, có gần 13 ha rừng tại đây với chức năng phòng hộ, do UBND xã An Vinh quản lý, đã bị chặt phá trái phép, nâng tổng số diện tích rừng mới bị chặt phá trên địa bàn huyện lên đến gần 60 ha rừng. Đồng thời, thời gian qua, đã có hàng chục vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật ở địa phương bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ. Nạn “chảy máu” tài nguyên rừng ở địa phương này chưa có dấu hiệu thuyên giảm. (Báo Bình Định 8/5) đầu trang(
Trải qua hơn 3 giờ đồng hồ đi bộ, băng qua nhiều cánh rừng thuộc quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, huyện Tánh Linh (Bình Thuận), càng đi vào sâu số lượng cây bị lâm tặc đốn hạ càng nhiều.
Theo ghi nhận của phóng viên, khu vực rừng thuộc sự quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, số lượng cây bị đốn hạ lên tới hàng trăm cây, trong đó có những cây còn in dấu mới cưa, mùn cưa bỏ lại hiện trường còn tươi, phần ngọn cây ngổn ngang tại hiện trường lá vẫn còn xanh. Càng đi vào sâu, số lượng cây bị đốn hạ ngày càng nhiều. Theo một người dân địa phương, số lượng cây bị lâm tặc khai thác chiếm hơn 80% là gỗ căm xe, thuộc danh mục gỗ quý nhóm IIA.
Tại những khu vực rừng mà phóng viên đi qua, nhiều cây gỗ có đường kính gốc từ 40 - 80 cm, có cây đường kính ba người ôm đã bị các đối tượng “lâm tặc” cưa hạ sát gốc, phần ngọn, cành cây các đối tượng bỏ lại ngổn ngang. Không chỉ vậy, sau khi khai thác xong phần thân gỗ, các đối tượng phá rừng còn ngang nhiên quay lại để khai thác phần gốc. Cách vị trí cây bị chặt hạ không xa, trên một diện tích khá rộng, dọc theo triền núi giáp với địa giới hành chính của xã Đồng Kho cũng bị “lâm tặc” khai thác không thương tiếc.
Qua trao đổi với một cán bộ quản lý địa bàn thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà, vị cán bộ này cho biết: “Hiện tại được phân công quản lý các tiểu khu 341A, 342A, 336B, số lượng cây bị chặt hạ khoảng 1,4m3, chúng tôi tổ chức đi kiểm tra rừng để có những kiến nghị lên Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà có những biện pháp kịp thời nhằm bảo vệ rừng”.
Trước đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận đã có kết luận về một số sai phạm tại Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà “Lập khống danh sách hộ dân khoán bảo vệ rừng trong lưu vực cung ứng dịch vụ môi trường để trục lợi”. Ngoài ra, kết luận cũng chỉ ra hàng loạt sai phạm khác của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà như: Không làm hết trách nhiệm, thiếu chặt chẽ, sâu sát dẫn đến việc ông Phạm Minh Hoa lập khống danh sách 11 hộ đăng ký nhận khoán.
Việc triển khai ký kết hợp đồng, bàn giao rừng cho các hộ chậm thời hạn hợp đồng làm cơ sở thanh toán là không đúng thực tế. Việc giao khoán tiến hành đến nhóm hộ, nhưng trong quá trình thực hiện Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà thiếu chặt chẽ, chưa làm hết trách nhiệm của bên giao.
Thiếu kiểm tra, theo dõi, giám sát các hộ dân nên không kịp thời phát hiện 11 hộ không thực hiện việc tuần tra, bảo vệ rừng đầy đủ, không đúng theo danh sách đăng ký và hợp đồng đã ký kết để có biện pháp chấn chỉnh, thanh lý mà vẫn nghiệm thu đạt 100%... (Kinh Tế Nông Thôn 7/5) đầu trang(
Tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh Đắk Lắk đã có trên 33.500ha rừng bị phá hoại và lấn chiếm trái phép. Mỗi tháng tỉnh phải tiến hành giải tỏa hàng ngàn héc ta rừng bị người dân lấn chiếm làm nương rẫy và phát hiện hàng chục vụ vi phạm lâm luật.
Theo báo cáo gần đây của UBND tỉnh Đắk Lắk, toàn tỉnh hiện có 33.506 ha rừng bị phá và lấn chiếm, số diện tích cần giải tỏa lên tới 15.415 ha tập trung ở các huyện Ea Súp, Lắk, Krông Bông…
Chỉ tính riêng trong tháng 4 vừa qua, lực lượng chức năng đã tiến hành giải tỏa được hơn 536ha rừng bị lấn chiếm để làm nương rẫy và mục đích khác. Điển hình, tại huyện Lắk đã thu hồi được hơn 117ha và phá dỡ được 17 lán trại, chòi tạm; tại huyện Ea Súp phá hơn 1.500m hàng rào lấn rừng, tháo dỡ 96 lán trại trái phép và tịch thu cưa xăng, súng bắn bi hơi cồn…
Cũng trong tháng 4, tỉnh Đắk Lắk xảy 3 vụ cháy rừng thiệt hại 2,25ha, có 142 vụ vi phạm lâm luật, lực lượng chức năng tịch thu hơn 153m3 gỗ các loại và nộp vào ngân sách nhà nước 3,4 tỷ đồng. (Dân Trí 7/5) đầu trang(
Sau gần chín năm chờ đợi “phán quyết” của cấp có thẩm quyền, công trình Nhà máy thủy điện (NMTĐ) Đrăng Phôk cuối cùng đã được các bộ, ngành trung ương và UBND tỉnh Đác Lắc đồng ý cho phép triển khai.
Tuy nhiên, dư luận ở Đác Lắc hết sức quan tâm vì nó được xây dựng ngay trong vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn.
Công trình thủy điện Đrăng Phôk do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (TECCO) TP Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư, công suất 26 MW và là công trình thứ tám trên hệ thống bậc thang của chuỗi thủy điện nằm trên dòng sông Sê-rê-pốc. Mặc dù được xây dựng ngay trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đác Lắc), nhưng ngày 6-12-2007, UBND tỉnh Đác Lắc vẫn có Văn bản số 4670/UBND-CN đồng ý chủ trương cho TECCO tiến hành khảo sát, thu thập số liệu về công trình thủy điện này.
Ngày 14-2-2011, UBND tỉnh Đác Lắc tiếp tục có Văn bản số 599/UBND-CN cho phép TECCO lập dự án đầu tư xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk. Theo đó, NMTĐ Đrăng Phôk chiếm diện tích đất 308,7 ha; trong đó, diện tích sông, suối lòng hồ khoảng 217,8 ha và 28,88 ha đất rừng gồm đất sử dụng tạm thời là 5,3 ha và 23,58 ha rừng khộp thuộc các Tiểu khu 430, 431, 451 nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn bị chuyển đổi vĩnh viễn để xây dựng công trình.
Được biết, đây là khu vực có đa dạng sinh học cao, đặc biệt là hệ sinh thái rừng khộp liền dải trong khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Yok Đôn và là địa bàn sinh sống, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã, nhất là các loài thú lớn.
Đến thời điểm hiện tại, các thủ tục pháp lý của công trình này cơ bản đã hoàn thành, chỉ còn chờ báo cáo đánh giá tác động môi trường được thông qua là dự án sẽ khởi công xây dựng. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề được quan tâm và gây nhiều tranh cãi nhất của dự án này. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Liệu công trình thủy điện Đrăng Phôk có làm thay đổi hệ sinh thái ở đây hay không? Dự án mở ra có ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng quốc gia Yok Đôn không…? Dự án đang vấp phải sự phản đối của dư luận cũng như giới khoa học, các nhà quản lý và người dân địa phương.
Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban sông Mê Công Việt Nam nhận định: “Việc phá vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn để xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk sẽ là bài toán đánh đổi mà tổn thất gây ra rất nghiêm trọng. Bởi nguyên tắc là không được xây dựng gì trong khu vực vùng lõi Vườn quốc gia do đây là khu vực phải bảo tồn nghiêm ngặt với nhiều tài nguyên quý hiếm”.
Đồng tình với quan điểm này, Giáo sư Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho rằng: Không thể chấp nhận việc xây dựng công trình thủy điện trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn. Hiện, Tây Nguyên đang phải trả giá do ồ ạt xây dựng quá nhiều công trình thủy điện. Hạn hán ở Tây Nguyên cũng là do thủy điện tích hết nước các dòng sông trong khi thảm thực vật thì không còn.
Ngay sau khi dự án được khởi động lại, một ngày đầu tháng 5, chúng tôi cùng với lãnh đạo Vườn quốc gia Yok Đôn đã lặn lội băng rừng tìm đến khu vực dự kiến xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk nằm trong vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn giữa bốn bề là rừng nguyên sinh.
Trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 9 thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn Đặng Văn Quang cho biết: “Vị trí xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk nằm tại các Tiểu khu 430, 431, 451 thuộc vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn, chủ yếu là rừng nguyên sinh và là khu vực bảo vệ nghiêm ngặt. Theo đánh giá của Trung tâm Công nghệ - Môi trường, đây là khu vực rừng nghèo cần chuyển đổi là không chính xác. Nếu xây dựng NMTĐ ở đây sẽ tác động xấu và lâu dài đến Vườn quốc gia trên các lĩnh vực hệ sinh thái, động, thực vật, nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học… Bên cạnh đó sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, bởi phía hạ lưu NMTĐ sẽ cạn kiệt nguồn nước, lâm tặc sẽ lợi dụng ồ ạt tàn phá Vườn quốc gia Yok Đôn”.
Phó Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn Huỳnh Nghĩa Hiệp cho rằng: Không nên xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn bởi nhiều lý do. Thứ nhất, theo tiền lệ, chưa thấy có công trình thủy điện nào lại xây dựng trong vùng lõi Vườn quốc gia. Khi đưa con người, phương tiện, máy móc vào khai thác, làm đường sẽ tác động rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng vốn đã nhiều khó khăn, phức tạp.
Thứ hai, phát triển kinh tế phải nghiên cứu, gắn với bảo đảm tính bền vững, bảo vệ hệ sinh thái, động, thực vật và nguồn nước. Đáng chú ý, tại khu vực vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn là nơi sinh tồn và phát triển của nhiều loại thực vật quý hiếm như: Trắc, cà te, cẩm lai, giáng hương, gụ mật,… và nhiều loài thú nguy cấp, quý hiếm nằm trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới như voi châu Á, báo hoa mai, hổ, bò rừng, bò tót,… Vì vậy, việc chiếm dụng đất rừng vùng lõi của vườn quốc gia xây dựng thủy điện sẽ gây tác động lớn đối với các loài thực vật, động vật quý hiếm này”.
Không chỉ các nhà khoa học, các nhà chuyên môn và các nhà bảo vệ môi trường mà ngay cả chính quyền và người dân địa phương cũng không đồng tình với việc xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn.
Ông Y Nô H’Wing, Buôn phó buôn Đrăng Phôk, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn cho biết: “Ngay sau khi nghe thông tin sẽ xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn, Ban tự quản buôn đã nhiều lần tổ chức họp dân và hầu hết các hộ dân trong buôn đều không đồng ý xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn. Vì khi xây dựng thủy điện này sẽ gây sức ép lên vườn quốc gia, làm ngập đất sản xuất, ảnh hưởng đến đời sống của bà con”.
Chủ tịch UBND xã Krông Na Y Thong Khăm Niê Kdăm đề nghị: “Việc xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, nhất là tác động đến môi trường sinh thái và đời sống của người dân địa phương. Còn nhớ cách đây ba năm, trước khi xây dựng NMTĐ Sê-rê-pốc 4A, chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn cho rằng, xây dựng NMTĐ này không ảnh hưởng đến nguồn nước cũng như môi trường sinh thái trên sông Sê-rê-pốc đoạn qua các xã Ea Wer, Ea Huar và Krông Na, huyện Buôn Đôn. Nhưng kể từ khi NMTĐ này đi vào hoạt động từ năm 2014 đến nay đã khiến cho một đoạn sông Sê-rê-pốc dài 22 km ở phía hạ lưu qua địa bàn xã Krông Na bị cạn kiệt nguồn nước và trở thành “dòng sông chết”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan môi trường, sinh thái cũng như đời sống của bà con dân tộc sinh sống bao đời nay ở hai bên bờ sông”.
Cho đến nay, những hệ lụy của việc xây dựng NMTĐ Sê-rê-pốc 4A vẫn chưa được khắc phục thì dự án xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk lại tìm mọi cách “nhảy vào” vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn. Theo Phó Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn Huỳnh Nghĩa Hiệp, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Vườn quốc gia Yok Đôn vốn đã “nóng”, nay lại càng bức xúc hơn nếu các cấp, các ngành cho phép xây dựng NMTĐ Đrăng Phôk trong vùng lõi của vườn.
NMTĐ Đrăng Phôk có công suất thiết kế 26 MW, sản lượng điện bình quân hơn 114,23 triệu kW giờ/năm với tổng mức đầu tư gần 840 tỷ đồng. Nếu theo thiết kế ban đầu, sẽ có 63 ha rừng trong vùng lõi thuộc các Tiểu khu 430, 431 và 451 của Vườn quốc gia Yok Đôn phải chặt phá để xây dựng các hạng mục liên quan của công trình.
Tuy nhiên, theo quy định, chuyển đổi hơn 50 ha rừng phải xin ý kiến của Quốc hội cho nên chủ đầu tư đã làm lại thủ tục chuyển đổi dưới 50 ha rừng thay cho 63 ha rừng như hồ sơ thiết kế ban đầu. Hiện, dự án đang thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định phê duyệt. Dự kiến, nếu được thông qua, dự án sẽ khởi công xây dựng vào cuối năm 2016. (Nhân Dân 8/5) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện miền núi Quỳ Châu người dân ồ ạt kéo nhau vào rừng “tận thu” cây ba chạc. Mục đích để bán cho thương lái Trung Quốc, khiến cho an ninh rừng huyện Quỳ Châu đang bị đe dọa nghiêm trọng...
Sau cơn sốt mua con đỉa, củ ba mươi… được rất nhiều người dân “tận thu” bán cho thương lái người Trung Quốc, thời gian gần đây ở hầu hết các xã của huyện Quỳ Châu... lại nổi lên cơn sốt về thu mua cây ba chạc.
Mặc dù người dân không biết mục đích các thương lái Trung Quốc thu mua để làm gì, chỉ biết rằng có thể kiếm tiền là họ ồ ạt kéo nhau vào rừng. Rất nhiều người còn bỏ cả những công việc thường ngày để chạy theo cơn sốt này, hiện tại trên rừng từ cây lớn đến cây bé ba chạc bị chặt hạ tới mức gần như cạn kiệt.
Chúng tôi có mặt tại đỉnh dốc Pù Xen trong những ngày đầu tháng 5, dốc nối liền xã Châu Hạnh với xã Châu Phong của huyện Quỳ Châu. Cơn sốt “tận thu” cây ba chạc thể hiện rõ nét thông qua hàng chục xe máy của người dân được xếp gọn vào 2 bên đường, tiếng người gọi nhau í ới náo nhiệt cả một vùng rừng rộng lớn...
Phải mất gần một giờ chúng tôi mới “xâm nhập” và ghi nhận nhiều người dân đang tìm chặt cây ba chạc. Cả một vùng rừng lớn, rất nhiều cây ba chạc bị đốn hạ. Người dân chặt hạ cả cây to và cây nhỏ rồi cột lại thành từng bó để dễ dàng cho việc vận chuyển ra khỏi rừng. Việc chặt hạ nhiều cây ba chạc, có chỗ tan hoang một khoảng rừng.
Lân la dò hỏi, một người dân cho biết: “Gần một tháng rồi, thấy có người đến mua cây ba chạc nên chúng tôi vào rừng đi tìm cây chặt đêm về bán để kiếm thêm thu nhập. Chúng tôi cũng chẳng biết họ mua về làm gì, chúng tôi làm là kiếm miếng cơm manh áo cho con cái thôi. Có ngày cũng làm kiếm được vài trăm nghìn. Ngày nào cũng có thương lái từ dưới xuôi đánh xe tải lên thu mua, rồi bán lại cho người Trung Quốc”.
Được biết, cây ba chạc còn có tên gọi khác là chè đắng, chè cỏ, cây dầu dầu. Theo y học cổ truyền, ba chạc có tác dụng thanh nhiệt, chống ngứa, giảm đau… Lá và cành tươi nấu với nước để rửa các vết thương, vết loét, chốc đầu, chữa mẩn ngứa, ghẻ lở. Thân và rễ thái lá phơi khô, dùng làm thuốc bổ đắng, cho phụ nữ sau sinh ăn ngon, lợi sữa, dễ tiêu, điều kinh, chữa tê thấp, đau nhức xương khớp, dự phòng nhiễm cảm cúm… Cây mọc hoang ở nhiều nơi, trên các đồi, ở rìa rừng và trong rừng thưa, vùng đất núi và đồng bằng.
Việc người dân ồ ạt vào rừng khai thác cây ba chạc bán cho thương lái Trung Quốc không những làm mất đi độ che phủ, ảnh hưởng đến tài nguyên mà còn trực tiếp đe dọa đến an ninh rừng.
Trước thực trạng trên, chúng tôi có buổi làm việc với ông Lê Thế Cần, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳ Châu, ông cho biết: “Sự việc người dân ồ ạt kéo nhau vào rừng săn tìm cây ba chạc chặt về bán cho thương lái Trung Quốc, chúng tôi đã nắm được.
Chúng tôi đã cố gắng vào cuộc, tuy nhiên lại gặp rất nhiều khó khăn. Vì, hầu hết những nơi mà người dân đốn hạ cây ba chạc là thuộc đất rừng của người dân, được giao cho theo Nghị định số 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp. Chúng tôi cũng đã vận động và tuyên truyền để người dân  hiểu và không vào rừng chặt cây, ảnh hưởng đến tài nguyên rừng”.
Cũng nói về cơn sốt “tận thu” cây ba chạc, ông Ngô Đức Thuận, Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu cho biết: “Việc người dân chặt hạ bán cây ba chạc trên địa bàn huyện cũng chỉ mới xảy ra gần đây. Được biết, có một số hộ dân thu gom mua về rồi bán lại cho các thương lái Trung Quốc, chẳng rõ họ mang về để làm gì. Tuy nhiên, vì đây là một loại lâm sản nên huyện sẽ chỉ đạo bên kiểm lâm có biện pháp can thiệp kịp thời”.
Trước những sự việc trên, đề nghị lực lượng chức năng tỉnh Nghệ An, cùng các cơ quan có liên quan nhanh chóng vào cuộc làm rõ và xử lý dứt điểm tình trạng trên. (Thanh Tra 9/5) đầu trang(
Sau khi rộ tin đồn có người tìm được khúc trầm bán với giá 20 tỷ đồng, tại khu vực núi Đá Ông, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận bất ngờ xuất hiện nhiều người từ 2 tỉnh Khánh Hòa, Quảng Nam và một số tỉnh miền Trung đột nhập trái phép.
Hạt Kiểm lâm huyện Tuy Phong và chính quyền xã Phong Phú phát hiện nhóm đối tượng đầu tiên vào ngày 27/4. Nhóm này đi xe khách vào đến ngã ba Liên Hương, sau đó bắt xe ôm lên xã Phong Phú vào rừng đào trầm.
Ngày 29/4, Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phong giao cho Hạt Kiểm lâm của huyện thành lập đoàn tuần tra liên ngành gồm: kiểm lâm, công an, đơn vị chủ rừng và chính quyền xã Phong Phú.
Tối cùng ngày, đoàn tuần tra phát hiện 3 xe ô tô (gồm 41 người) của tỉnh Khánh Hòa mang dụng cụ đào bới vào rừng. Ngay lập tức, lực lượng tuần tra chốt chặn, đưa các đối tượng về Ủy ban nhân dân xã Phong Phú làm việc và giải thích rõ đây là khu vực rừng khộp, không có cây dó, không thể nào có trầm; và các đối tượng đã trở về trong đêm.
Những ngày sau đó, lại có thêm nhiều nhóm khác tiếp tục kéo đến rừng núi Đá Ông. Lực lượng tuần tra đã lập biên bản, yêu cầu các đối tượng quay trở về.
Ông Võ Đình Cấp, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận cho biết: “Từ ngày 30/4 đến ngày 6/5, chúng tôi đã truy đuổi tổng cộng 71 người ra khỏi rừng. Tình hình đến chiều 6/5 đã tạm ổn. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm tham mưu Ủy ban nhân dân huyện đã thành lập 2 chốt chặn đóng tại cửa rừng, để nếu có các đối tượng sẽ kịp thời truy đuổi, không cho vào địa bàn gây mất an ninh trật tự công cộng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 6/5) đầu trang(
Sáng 6/5, TAND thành phố Đà Nẵng khai mạc phiên sơ thẩm (lần hai) xét xử vụ án buôn lậu gỗ trắc xảy ra ở tỉnh Quảng Trị. Đây là vụ án gây nhiều tranh cãi có tội hay không trong nhiều năm qua, khởi tố ngày 6/4/2012. Lần này xét xử theo cáo trạng của Viện KSNDTC ngày 25/1/2016.
Hội đồng xét xử do Thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh làm chủ tọa. Cả 5 bị cáo có mặt, gồm vợ chồng chủ Cty TNHH MTV Ngọc Hưng (Cty Ngọc Hưng) là ông Trương Huy Liệu và bà Trần Thị Dung bị truy tố tội buôn lậu. Ba công chức hải quan bị truy tố tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: ông Đỗ Lý Nhi, Lê Xuân Thành ở Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị và Đỗ Danh Thắng ở Cục Hải quan Đà Nẵng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị, thành phố Đà Nẵng cùng hàng chục nhân chứng và 8 luật sư bào chữa cho các bị cáo có mặt.
Theo cáo trạng, ngày 17/12/2011, ông Liệu nhận lô gỗ chở trong 13 xe từ Lào tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị), khai báo hải quan và đóng thuế. Hai ngày sau, ông xuất nguyên lô gỗ (xếp vào 22 container) sang Hồng Công, trên đường chở xuống tàu ở cảng Đà Nẵng thì bị bắt giữ và khởi tố tội “buôn lậu”.
Cáo trạng cho rằng, “ông Trương Huy Liệu chỉ đạo nhân viên Cty Ngọc Hưng làm giả hồ sơ, tài liệu, sau đó sử dụng bộ hồ sơ này để nhập khẩu, xuất khẩu 614,672 m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định của pháp luật, trị giá 63.619.706.500 đồng”. Bà Dung “có hành vi góp sức cho Trương Huy Liệu”. Còn ông Đỗ Lý Nhi và Lê Xuân Thành được giao nhiệm vụ kiểm hoá lô hàng xuất khẩu “đã không làm đầy đủ trách nhiệm được giao”. Ông Đỗ Danh Thắng cũng “không làm hết trách nhiệm”, để tốn chi phí bốc lên, lưu bãi, kẹp chì hơn 25 triệu đồng.
Tại tòa, các bị cáo bác bỏ toàn bộ cáo trạng, thậm chí ông Nhi còn cho rằng “những người làm nên cáo trạng đã làm trái pháp luật”. Bởi lẽ, cáo trạng đã xác định lô gỗ nhập khẩu từ Lào, rõ nguồn gốc, xuất xứ. Đại diện Hải quan cửa khẩu Lao Bảo khẳng định, lô gỗ nhập từ Lào được kê khai đóng thuế đúng theo các quy định của pháp luật và đây là hàng hóa không cấm nhập khẩu, xuất khẩu. Không có gỗ lậu thì không có hành vi buôn lậu.
Về khối lượng lô gỗ, Cty Ngọc Hưng khai khi nhập cũng như xuất là 535,8 m3 gỗ trắc. Cáo trạng cho rằng lô gỗ 614,672 m3 và trong đó có 23,828 m3 gỗ giáng hương, việc khai khống này “vi phạm pháp luật”. Tại tòa, các bị cáo bác bỏ con số của cáo trạng, bởi cho rằng được làm ra không đúng luật. Vì đó là con số giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, trong khi Viện này không có tư cách pháp nhân về giám định tư pháp, phương pháp giám định cũng sai là cân gỗ lên để quy ra khối lượng.
Các cơ quan tố tụng còn đưa ra hai con số khối lượng gỗ. Ban đầu, Cục Điều tra chống buôn lậu khởi tố vụ án thì biên bản tạm giữ lô gỗ ghi chỉ gần 453 m3. Sau đó, hồ sơ chuyển sang Bộ Công an, Cơ quan CSĐT (C44) trưng cầu giám định ra hơn 614 m3. Trong quá trình điều tra, C44 ra quyết định bán lô gỗ ghi là theo kê khai hải quan của Cty Ngọc Hưng và biên bản tạm giữ, nhưng Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản của Sở Tư pháp Hà Nội lại tổ chức bán theo khối lượng của giám định. Luật sư hỏi đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu là có ý kiến gì về việc giám định và bán vật chứng?
Vị đại diện Cục Điều tra trả lời, bán vật chứng là sai, còn con số giám định và việc bán thì phải hỏi các cơ quan liên quan. Những cơ quan liên quan đã được các luật sư kiến nghị triệu tập ra tòa nhưng không có mặt nên không thể làm rõ.
Chiều tối cùng ngày, Chủ tọa Hội đồng xét xử Nguyễn Thị Cảnh tuyên dừng phiên tòa vì mới thẩm vấn đã có nhiều vấn đề không thể làm rõ tại tòa nên trả hồ sơ cho cơ quan điều tra làm rõ. Trong đó có yêu cầu giám định lại lô gỗ để xác định chính xác khối lượng và điều tra chứng cứ cung cấp tại tòa về dấu hiệu ép cung nhân chứng Trần Đình Quang.
Ngày 6/4/2012, Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT (C46) Bộ Công an. Hơn hai tháng điều tra, C46 có công văn kết luận: “Chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu” nên trả hồ sơ.Sau đó, hồ sơ chuyển sang C44 của Bộ Công an.
Ngày 10/1/2014, C44 quyết định bán lô gỗ vật chứng được 63 tỷ 920 triệu đồng, sau khi trừ các khoản cho phí còn 60 tỷ 801.217.688 đồng; theo ông Liệu là rẻ mất khoảng 250 tỷ đồng.
Ngày 7/5/2014, Viện KSNDTC có cáo trạng sau hai lần yêu cầu C44 điều tra bổ sung.
Ngày 30 và 31/10/2014, TAND thành phố Đà Nẵng xử sơ thẩm nhưng chưa đủ chứng cứ buộc tội nên trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Ngày 25/1/2016, Viện KSNDTC có cáo trạng sau hai lần yêu cầu C44 điều tra bổ sung. (Tiền Phong 7/5; Tuổi Trẻ 6/5) đầu trang(
Nghi ngờ anh Phùng Sơn Hải có liên lạc với "lâm tặc", Trạm trưởng Kiểm lâm rừng đặc dụng (Trạm Sơn Phú) đã hành hung và ... kiểm tra điện thoại.
Theo đơn đề nghị của anh Phùng Sơn Hải (sinh năm 1995) trú tại thôn Nà Mu xã Sơn Phú, huyện Nà Hang, Tuyên Quang gửi các cơ quan chức năng yêu cầu làm rõ vụ việc anh bị một cán bộ lãnh đạo Trạm Kiểm lâm hành hung vô lý.
Cụ thể, ngày 15/4/2016 khi anh Hải đang ở địa điểm tập kết máy xúc, để trông coi thuê cho đơn vị làm đường 279 gần nhà mình, thuộc thôn Nà Mu xã Sơn Phú, thì bị ông Nguyễn Xuân Hùng - Trạm trưởng Kiểm lâm rừng đặc dụng (Trạm Sơn Phú) vô cớ hành hung, bóp cổ dí súng vào mạng sườn dọa bắn và dùng còng số 8 dọa khóa tay. Đồng thời, vị cán bộ kiểm lâm này giật điện thoại của anh Hải để kiểm tra cuộc gọi.
Sau khi bị Trạm trưởng trạm Kiểm lâm hành hung, anh Hải đã phải nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nà Hang nằm điều trị chấn thương với quá trình điều trị kéo dài trong một tuần.
Ngày 5/5/2016, phóng viên Pháp luật Plus đã đến UBND xã Sơn Phú để tìm hiểu nguyên nhân sự việc. Tại đây, ông Bế Văn Huân trưởng Công an xã Sơn Phú xác nhận, trên địa bàn xã Sơn Phú đúng là có vụ việc va chạm giữa Kiểm lâm và người dân.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã đã tiến hành lập biên bản và hiện đang xác minh xem có hay không việc Kiểm lâm dùng súng và còng số 8 để khống chế người dân. Tuy nhiên, do Trạm trưởng Kiểm lâm Nguyễn Xuân Hùng về quê nên vụ việc chưa thể làm rõ được. - ông Huân cho biết thêm.
Tại Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng huyện Nà Hang, khi được hỏi có hay không việc Kiểm lâm dùng súng hành hung vô cớ người khác? Ông Khổng Văn Quang Hạt trưởng Hạt Kiểm rừng lâm đặc dụng cho biết: "Ngay khi nhận được thông tin sự việc, Hạt kiểm lâm đã yêu cầu cấp dưới viết bản tường trình, nhưng do Nguyễn Xuân Hùng phủ nhận không có việc hành hung, nên đành chờ kết luận bên công an xã, nếu có sẽ xử lý nghiêm. Quan điểm của lãnh đạo Hạt là không bao che dung túng cho bất kỳ cán bộ nào, nếu phát hiện vi phạm" - Ông Quang cho biết thêm.
Theo đại diện đơn vị thi công tuyến đường  279 cho biết có thuê anh Phùng Sơn Hải trông coi máy móc, việc anh Hải có mặt ở hiện trường vào giờ đó là đương nhiên, còn việc Kiểm lâm vô có đánh anh Hải thì đơn vị cũng đang cử người phối hợp với UBND xã Sơn Phú để làm việc.
Trao đổi với phóng viên Pháp luật Plus, anh Hải bức xúc cho biết: "Sự việc này đã xảy ra 20 ngày, nhưng ông Hùng không hề qua lại thăm hỏi, hay có ý định xin lỗi. Trong khi đó, dù gia đình anh Hải đã gửi đơn đến chính quyền xã Sơn Phú và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng nhưng cũng chưa nhận được phản hồi".
Anh Hải cũng cho biết thêm, việc ông Nguyễn Xuân Hùng Trạm trưởng Kiểm lâm rừng đặc dụng (Trạm Sơn Phú) không chỉ vô cớ đánh mình anh, mà trước đó còn có vài người khác cũng bị trường hợp tương tự.
Dư luận đang đặt câu hỏi có hay không việc kiểm lâm dùng súng, và còng số 8 uy hiếp người dân, tại thôn Nà Mu xã Sơn Phú huyện Nà Hang, Tuyên Quang, còn phải chờ kết luận phía cơ quan chức năng. (Pháp Luật + 7/5) đầu trang(
Chiều 6-5, Công an huyện Nhơn Trạch đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với 5 nhân viên bảo vệ rừng Long Thành (thuộc Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Long Thành) để điều tra về hành vi hủy hoại tài sản. Các quyết định này cũng đã được Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phê chuẩn.
Theo đó các ông: Lê Văn Lang (Trạm trưởng Trạm Rạch Tràm), Trương Văn Lớn (đội phó Đội bảo vệ rừng ngập mặn), Lê Ngọc Tuân (nhân viên Trạm Rạch Gốc), Phạm Đức Tú (nhân viên Trạm Long Thọ) và Phạm Văn Ẩn (nhân viên Trạm Tắc Hông) đều bị khởi tố về hành vi trên nhưng được cho tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
Kết quả điều tra ban đầu xác định, sau khi có thông tin phản ảnh bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc (34 tuổi, ngụ ấp Bà Trường, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch) là người đang làm đùng nuôi tôm trên đất thuộc Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Long Thành quản lý có dấu hiệu xây dựng trái phép, Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Long Thành đã phân công 11 nhân viên bảo vệ đến hiện trường để kiểm tra.
Tuy nhiên trong các ngày 26 và 27-2, dù hoàn toàn không có bất kỳ quyết định cưỡng chế nào của chính quyền địa phương cũng như sự chỉ đạo của cấp trên, nhưng các nhân viên bảo vệ rừng đến nơi được cho là bà Ngọc đã xây dựng trái phép đã xông vào chòi canh tôm của bà này đập phá công trình. Các nhân viên này còn bắt trói ông Nguyễn Văn Ni (cha bà Ngọc), ném khoảng 40 bao xi măng (trị giá khoảng 3,4 triệu đồng) của bà Ngọc xuống đùng tôm. (Báo Đồng Nai 6/5) đầu trang(
Các văn bản cho phép Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (TECCO) thực hiện dự án đều cho rằng khu vực làm NMTĐ Đrang Phôk là “rừng nghèo tái sinh”. Báo cáo của TECCO cũng cho thấy diện tích rừng của VQG Yok Đôn phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án là hết sức khiêm tốn.
Tuy nhiên, lãnh đạo VQG Yok Đôn và chính quyền địa phương cho rằng diện tích rừng bị mất sẽ lớn hơn nhiều so với báo cáo của Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới (TECCO). Nếu dự án được cho phép triển khai, quá trình thi công, vận hành cũng sẽ xuất hiện vô số tác động đến tài nguyên - môi trường và an ninh trật tự trên địa bàn.
Giữa cái nắng cháy da thịt những ngày cuối mùa khô Tây Nguyên, chúng tôi theo chân các cán bộ của Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn để đến điểm dự kiến xây dựng NMTĐ Đrang Phôk. Từ Tỉnh lộ 1, chúng tôi vật lộn với con ngựa sắt qua hơn 30km đường đất đỏ theo hướng về đồn Bộ đội Biên phòng 743 rồi bộ hành mấy ki-lô-mét đường rừng để ra bờ sông Srêpôk. Hai bên con đường mòn tuần tra, những cánh rừng khộp khô rụng lá khẳng khiu vẫn hiên ngang chống chọi với cái nắng, cái gió khô hanh đặc trưng của “chảo lửa” Buôn Đôn.
Gần tới bờ sông Srêpôk, những cây bằng lăng cổ thụ 2 - 3 người ôm hiện ra trước mắt chúng tôi. Rồi những cây lớn nằm sát bờ sông có đường kính cả mét xanh rười rượi. Bờ đối diện, một vạt rừng với vô số cây gỗ lớn chạy dài như vô tận theo dòng nước của sông Srêpôk.
Đứng bên bờ sông, hơi nước bốc lên mát rượi, anh Tạ Công Sinh - Trạm phó Trạm Kiểm lâm số 9 (Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn), vui vẻ kể: “Khu vực này nhiều chim muông, thú vật hoang dã lắm. Thích nhất là sáng sớm tuần tra qua đây, chim chóc ở hai bên bờ hót ríu rít, vang dài cả một khúc sông. Còn chiều đến chúng tôi cũng thường xuyên bắt gặp những đàn voi rừng ra bờ sông kiếm thức ăn rồi xuống sông tắm, uống nước”.
Thấy một người dân đang đánh cá ven sông, Nguyễn Hữu Tạo - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn, không giấu được cảm xúc: “Công tác ở vườn hơn 30 năm, tôi chứng kiến không ít cảnh người dân địa phương đánh bắt được cá lăng, cá mõm trâu... hàng chục ký trên sông Srêpôk. Đây là những loại cá quý có tên trong sách đỏ, chúng bơi ngược theo dòng Srêpôk từ nước bạn Campuchia về đây sinh sản. Gần đây thủy điện mọc lên nhiều, sông cũng ít cá dần nên phần lớn người dân xã Krông Na làm nghề chài lưới gặp phải nhiều khó khăn”.
Theo ông Phạm Tuấn Linh - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn, khu vực dự kiến xây dựng NMTĐ Đrang Phôk có 3 hệ sinh thái rừng là rừng thường xanh, rừng bán thường xanh (ven 2 bên bờ sông) và rừng khộp (chiếm đa số diện tích). Do có nhiều kiểu rừng nên hệ sinh thái nơi đây cũng rất phong phú, đa dạng. Không chỉ là “mái nhà” của nhiều loài động thực vật quý, khu vực này còn là nơi quy tụ nhiều loài động thực vật từ nơi khác đến kiếm ăn ở nhiều thời điểm trong năm.
Theo báo cáo của TECCO, tổng diện tích lấn chiếm của dự án NMTĐ Đrang Phôk là 308ha, trong đó diện tích lấn chiếm vĩnh viễn là 303,4ha. Ngoài 8ha đất nông nghiệp của người dân địa phương, dự án này sẽ chiếm 217,8ha đất lòng sông và 28,88ha đất rừng đặc dụng (23,58ha vĩnh viễn, 5,3ha tạm thời) của VQG Yok Đôn. Sở Công thương Đắk Lắk cho biết 28,88ha rừng đặc dụng chính là con số cuối cùng phải chuyển đổi mục đích sử dụng mà chủ đầu tư đã báo cáo trình các cấp phê duyệt mới đây.
Nhưng theo ông Kiều Thanh Hà - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, diện tích rừng bị mất thực tế trong quá trình thực hiện dự án sẽ lớn hơn nhiều so với con số TECCO báo cáo. “Muốn thi công công trình này thì phải làm đường để đưa vật liệu vào tập kết, phải xây dựng lán trại, nhà ở cho công nhân... Rồi khi dự án hoàn thành, thủy điện vận hành chắc chắn sẽ phải xây dựng khu nhà làm việc, trạm biến áp... Tất cả các công trình này đều cần rừng trong VQG Yok Đôn để xây dựng chứ không thể làm ở nơi khác” - ông Hà nói.
Cùng quan điểm trên, ông Phạm Tuấn Linh - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn, phân tích: “NMTĐ Đrang Phôk hoàn thành sẽ hòa vào lưới điện quốc gia, cụ thể sẽ đấu nối với đường dây của NMTĐ Srêpôk 4A nằm cách đó trên 30km. Chủ đầu tư nói xây dựng đường dây chỉ ảnh hưởng đến 8ha đất nông nghiệp của người dân, còn lại điện chạy phía trên, rừng ở phía dưới giữ nguyên là thiếu thực tế, chắc chắn sẽ phải chặt hết để đảm bảo hành lang an toàn. Nếu lấy hành lang tối thiểu 5 - 6m nhân với chiều dài trên thì diện tích rừng bị mất sẽ rất nhiều”.
Muốn thi công xây dựng NMTĐ Đrang Phôk, chủ đầu tư chắc chắn sẽ phải đưa người, máy móc vào vùng lõi - phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Yok Đôn để thi công. Theo dự báo của ENTEC, nếu được phê duyệt, TECCO sẽ cần khoảng 5 tháng để đền bù, giải phóng mặt bằng; thi công đường; tập kết vật liệu, máy móc; xây dựng lán trại và thi công tuyến đường dây tải điện. Thời gian thi công công trình cho đến khi nhà máy vận hành cũng sẽ không ít, có thể đến vài năm. Chủ đầu tư ước tính sẽ có 320 người, trong đó 260 lao động thường xuyên túc trực thi công tại khu vực này cho đến khi dự án hoàn thành.
Ông Phạm Tuấn Linh - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn, chia sẻ: “Việc hàng trăm người ở trong rừng sẽ khiến cho công tác QLBVR của đơn vị vốn đã khó khăn sẽ chồng chất thêm khó khăn. Bên cạnh đó, nhiều đối tượng xấu sẽ lợi dụng việc thi công để trà trộn vào rừng chặt phá gỗ hoặc lôi kéo người dân địa phương tham gia chặt phá rừng”.
Ông Lê Tiến Dũng - Phó Chủ tịch UBND xã Krông Na, thẳng thắn: “Krông Na là một xã biên giới, việc hàng trăm con người ngày đêm thi công trong rừng sẽ khiến cho tình hình an ninh trật tự trên địa bàn trở nên phức tạp. Trong khi đó, phần lớn người dân ở buôn Đrang Phôk (nơi dự án triển khai) sống bằng nguồn thủy sản trên sông Srêpôk và sinh kế gắn liền với rừng. Khi xây dựng NMTĐ, cá dưới sông không còn, người dân không có kế sinh nhai ắt sẽ gây áp lực lên tài nguyên rừng. Quan điểm của địa phương là hoàn toàn không ủng hộ dự án này!”.
Theo ông Kiều Thanh Hà - Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, nơi đặt NMTĐ Đrang Phôk là nơi tập trung nhiều loài động vật quý hiếm, đặc biệt là các loài thú lớn và đang được cả nước quan tâm bảo tồn như voi. Việc thi công bằng máy móc, nổ mìn sẽ khiến cho các loài động vật nói chung, nhất là loài có thính giác nhạy như voi hoảng sợ, bỏ đi nơi khác. “Không gian sinh tồn bị thu hẹp nên gần đây, đàn voi rừng thường xuyên kéo về trung tâm các huyện Ea Súp, Ea H’leo tàn phá cây trồng của các doanh nghiệp cũng như người dân địa phương. Chúng tôi rất lo ngại về việc thi công dự án này sẽ khiến cho xung đột giữa voi rừng và người ngày càng tăng cao” - ông Hà cho hay. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/5) đầu trang(
Nhiều cây thuốc quý đang bị người dân các tỉnh Tây Nguyên vào rừng khai thác để bán lại cho thương lái xuất sang Trung Quốc với giá rẻ mạt
Từ nhiều ngày qua, người dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum kéo nhau vào rừng săn lùng cây lông cu ly để bán cho thương lái xuất sang Trung Quốc. Trên tuyến đường NT18, nối từ Quốc lộ 14 vào khu vực cửa khẩu Bờ Y (huyện Ngọc Hồi), cây lông cu ly được chất thành đống, trải phơi khô kéo dài hàng trăm mét.
Theo một thương lái tên Hoàng, trung bình mỗi ngày ông mua được khoảng 10 tấn lông cu ly. Sau khi phơi khô, thái lát, ông Hoàng cho xe chở qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc để bán lại cho thương lái Trung Quốc. “Giá mua là 2.000 đồng/kg. Tính ra, 5 kg chỉ bằng… một ổ bánh mì. Sau khi thái lát, phơi khô, tôi cho xe đưa lên cửa khẩu phía Bắc bán cho thương lái Trung Quốc với giá 14.000 đồng/kg” - ông Hoàng nói.
Chị Lê Thị Tâm, một người được thương lái thuê phơi cây lông cu ly, cho biết: “Bà con ở đây chỉ biết cây lông cu ly là loại dược liệu để cầm máu thôi, chứ không biết họ mua để làm gì. Thấy dễ kiếm tiền nên nhiều người vào rừng chặt về bán”.
Ngoài cây lông cu ly, nhiều cây thuốc khác cũng bị người dân tận diệt để bán cho thương lái với giá rẻ mạt. Tại huyện Kon Rẫy và Đắk Glei (tỉnh Kon Tum), người dân vào rừng săn lùng cây huyết đằng (cây máu chó). Sau khi thu gom với giá 3.000 đồng/kg, các đầu nậu bán lại cho thương lái Trung Quốc với giá cao gấp 3 lần.
Tại huyện Tu Mơ Rông (tỉnh Kon Tum), thương lái lùng mua đinh lăng rừng (chữa đau lưng, mỏi gối, tê thấp), giá mua khô khoảng 800.000 đồng/kg. Riêng tại địa bàn huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, người dân vào rừng tìm chặt một loài cây dây leo, thường gọi là cây “rươi”, để bán cho thương lái với giá 3.500 đồng/kg.
Dù dược liệu được mua với giá rất thấp nhưng do không có công ăn việc làm nên người dân đổ xô vào rừng khai thác cây thuốc. Đáng lưu tâm là vì dễ dàng kiếm tiền nên thời gian qua, nhiều học sinh ở các tỉnh Tây Nguyên bỏ học để vào rừng chặt phá các loại dược liệu. Em Ksor Tuyn (học lớp 9; ngụ xã Ia Rmọk, huyện Krông Pa) bỏ học từ nhiều ngày nay để vào rừng chặt cây “rươi” về bán. Mỗi ngày em “thu hoạch” khoảng 60 kg, bán được 200.000 đồng. “Đó là số tiền lớn với gia đình em. Số tiền kiếm được, em đưa cho mẹ mua gạo, chỉ lấy một ít mua bánh kẹo” - em Tuyn bộc bạch.
Vấn đề là trong khi các loài dược liệu đang bị tận diệt, chính quyền địa phương các cấp, cơ quan chức năng chưa ngó ngàng tới. Ông Ksor Run, Chủ tịch UBND xã Ia Rmọk, cho rằng việc người dân vào rừng chặt cây dược liệu về bán, chính quyền vẫn chưa nắm được. Còn theo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei, cây máu chó được người dân khai thác trên địa bàn không thuộc danh mục cấm. Những hộ dân nhận khoán rừng có thể khai thác để kiếm thêm thu nhập.
Bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, thừa nhận việc người dân vào rừng khai thác cây dược liệu là rất khó kiểm soát. “Ngành kiểm lâm không quản lý con người. Trong khi đó, việc khai thác cây dược liệu phần lớn do người dân ở địa phương khác đến khai thác, chặt phá” - bà Hương phân trần.
Ông Nguyễn Thanh Hùng, Giám đốc Bệnh viện Y Dược cổ truyền - Phục hồi chức năng tỉnh Gia Lai, cho biết các lâm sản phụ mà người dân khai thác đều là những loài dược liệu, trong đó có một số dược liệu quý. Ví dụ như cây máu chó (hay huyết đằng, huyết rồng...) trị đau ruột, đau bụng, bế kinh, đau bụng kinh, phong thấp, đau nhức; cây lông cu ly (còn gọi là cẩu tích) có tác dụng bổ dương, bổ thận, chữa xương cốt, thoái hóa cột sống, đau lưng... (Người Lao Động 7/5) đầu trang(
Hiện nay, các khu bảo tồn đất ngập nước (RAMSAR) ở Đồng bằng sộng Cửu Long  (ĐBSCL) đang rơi vào tình trạng khô hạn, không còn nước.
Nhiều nơi trơ đáy, nứt nẻ làm cho hệ đa dạng sinh học đất ngập nước có nguy cơ mất cân bằng. Hầu hết các khu bảo tồn đất ngập nước đối mặt với cháy rừng cấp nguy hiểm. Việc cứu các loài thủy sản nước ngọt, bảo vệ chim đầm lầy trước nguy cơ thiếu nước đang là nhiệm. vụ cấp bách hiện nay của ngành kiểm lâm và chính quyền các địa phương.
Hiện tại các loài cá trắng  và chim chết khô đã xuất hiện ở một số nơi trong khu bảo tồn do thiếu nước uống và nguồn thức ăn chính của chim là các loai ốc, cá cũng không còn . Tình trạng này đang diễn ra tại Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (huyện Tân Hưng, tỉnh  Long An),Khu bảo tồn đất ngập nước Tràm Chim (huyện Tam Nông-Đồng Tháp) , khu bảo tồn đất ngập nước U Minh Thượng (Kiên Giang), U Minh Hạ (Cà Mau)…
Theo lãnh đạo Ban quản lý các khu bảo tồn đất ngập nước (RAMSAR) ở các tỉnh ĐBSCL, nguyên nhân gây ra khô hạn khốc liệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu bảo tồn đất ngập nước  là do hiện tượng biến đổi khí hậu  Elnino làm cho các khu bảo tồn đất ngập nước cạn kiệt, khô hạn sớm hơn hàng năm và kéo dài nhiều tháng, thậm chí đến đầu tháng 5/2016 vẫn chưa có trận mưa nào.
Bên cạnh đó, việc xây dựng các đập thủy điện ở đầu nguồn cũng  làm cho mực nước sông Tiền, sông Hậu ( nằm ở hạ lưu sông Mekong) xuống thấp hơn hàng năm từ 1 đến 2 mét, mặc dù trước đó các đập đầu nguồn sông Mekong đã xả nước nhưng lượng nước cũng chưa thắm vào đâu.
Tình trạng khô hạn sớm và kéo dài đã làm nhiều vùng đất ngập nước hàng trăm năm qua chưa bao giờ cạn kiệt nay bị khô hạn, nứt nẻ, không còn ngập nước như trước đây, dẫn tới nguy cơ mất cân bằng sinh thái ở những khu vực vốn giàu tính đa dạng sinh học này..
Ông Trương Thanh Sơn, giám đốc Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen cho biết: khu bảo tồn có gần 5.000 ha rừng tràm, đầm lầy ngập nước đều đang trong tình trạng khô hạn, trong đó có gần 1.500 ha rừng lỏi được đánh già ở tình trạng cực kỳ nguy cấp. Tại khu đầm sen trên 50 ha, mùa này năm ngoái nước ở chổ cao gò cũng gần nửa mét, chổ sâu gần một mét thì nay khô nẻ trơ cả đáy, sen trụi lá, cá , ốc chết hàng loạt.
Tại khu bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim  (huyện Tam Nông - Đồng Tháp) với diện tích trên 7.000 ha  cũng phải đối mặt với nguy cơ cháy rừng rất cao. Nước kiệt khô trơ cả gốc tràm hàng trăm năn tuổi, thảm cỏ năng, lúa ma (lúa trời) và các loài chim, cá quý hiếm cũng bị suy giảm đáng kể. Hiện chỉ có 4 cá thể sếu đầu đỏ bay về nhưng chưa biết chúng có ở hay chỉ thăm dò rồi đi.
Tỉnh Đồng Tháp đã huy động 100 %  lực lương kiểm lâm và cả quân đội tuần tra, bảo vệ các vùng trọng yếu nguy cơ xảy ra cháy rừng; đồng thời tranh thủ nước từ thượng nguồn sông Tiền đổ về bơm vào vùng lỏi dự trữ để có nước phục vụ phòng cháy chửa cháy kịp thời. (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 8/5) đầu trang(
Ngày 6/5, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng cho biết vừa giải cứu thành công một chú khỉ nằm trong sách đỏ, từ một quán cà phê ở trung tâm của thành phố để trả lại sinh sống trong môi trường thiên nhiên.
Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng cho biết, cá thể được cứu là khỉ vàng Rhesus (Macaca mulatta) đã 5 năm tuổi với trọng lượng khoảng 5kg.
Chú khỉ đực này được nuôi nhốt như vật nuôi tại nhiều năm tại quán cà phê nằm tại quận Hải Châu (TP Đà Nẵng).
Đây là loài linh trưởng nổi tiếng nhất và được liệt kê như là quan tâm nhất trong “Sách đỏ” của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) về các loài bị đe dọa cần được bảo vệ.
Theo một nhà sinh vật học thuộc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) cho biết, tại khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia ở bán đảo Sơn Trà, hiện đang có 300 chú khỉ sinh sống ở 50 đàn. Năm ngoái, Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng cũng đưa 1 chú khỉ họ Arctoides Macaca, được tặng bởi một người địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/5) đầu trang(
Khi mùa nắng hạn đến cũng là lúc thợ săn ở huyện Đăk Rông (Quảng Trị) luồn rừng trắng đêm đi săn kỳ nhông núi. theo chân thợ săn len lỏi khắp nẻo rừng, tôi mới thấy sự vất vả, nguy hiểm cùng với những lời tâm sự đến buốt lòng của những người trong nghề ở miền sơn cước này. Biết là vất vả, nguy hiểm, nhưng với nhiều người, họ không còn lựa chọn nào khác.
Thấy tôi gầy còm nên Hồ Văn Hùng (25 tuổi, ở xã Đăk Rông, huyện Đăk Rông) một tay săn kỳ nhông núi kỳ cựu ở đất này nói thẳng như tát nước vào mặt: “Tướng anh thế này không đi săn kỳ nhông núi được đâu! Nghề này nguy hiểm, vất vả lắm!”. Nhưng vì muốn được theo chân những người thợ săn bản địa vốn thoăn thoắt leo rừng, lội suối này, tôi phải tìm đủ cách nài nỉ, thậm chí phải được những trai làng ở đây thẩm định về khả năng băng rừng lội suối, mới được cùng theo chân thợ săn lên núi Đăk Rông trắng đêm đi săn kỳ nhông.
Vào thời điểm mùa khô ở miền tây Quảng Trị như lúc này, nhiều người dân không chỉ ở Đăk Rông mà nhiều nơi khác cũng tự chế bẫy rồi kéo nhau vào rừng đặt bẫy. Có người một ngày săn được hai, ba con thú, có người cả tuần trăng mới được một con, nhưng họ vẫn vào rừng.
Chiều nhập nhoạng cũng là lúc chúng tôi lên đường sau khi chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ thiết yếu cho cuộc săn. Rừng chiều xám một màu tro, mùi cỏ dại, lá mục ải nước ngai ngái ngất ngây đưa lại. Dừng chân ngồi bên ngôi lán bỏ hoang, Hùng bảo ngồi nghỉ ngơi chờ đến khi trời tối sậm, khi ấy kỳ nhông núi đã đi ngủ thì thợ săn mới được ra tay hành nghề.
Trong lúc chờ đợi đêm xuống Hùng cho biết: “Mùa này kỳ nhông núi có rất nhiều, chúng thường sống gần các khe đá, suối nước dọc theo triền rừng. Ban ngày chúng kiếm ăn xung quanh đó, đêm đến chúng ngủ vắt vẻo trên cành cây và đổi màu theo màu sắc của lá cây. Thợ săn kỳ nhông núi phải rất tinh mắt mới phát hiện ra chúng!”
Đêm rừng Đăk Rông đen bóng như sừng trâu, chúng tôi nối chân nhau theo ánh đèn pin vượt qua những lèn đá lởm chởm bám đầy rong rêu, trơn tuột. Thấy tôi trầy trật, “vồ ếch” suốt quãng đường, sau cái cười có phần thương hại lấp lóa qua ánh đèn pin, Hùng nói nửa thật, nửa đùa: “Anh tưởng nghề này nhàn hạ lắm hay sao lại cứ reo réo xin theo, bây giờ thấy thấm chưa? Giờ muốn quay lui thì cũng... không được nữa rồi!”.
Đi dọc theo khe đá sâm sấp nước, có cây cối, dây leo phủ kín hai bên, chừng non một tiếng đồng hồ thì Hùng mới soạn dụng cụ trong chiếc bao lưới ra để chuẩn bị hành nghề. Bởi theo kinh nghiệm mấy năm đi săn kỳ nhông núi, Hùng biết được nơi nào có nhiều kỳ nhông núi sinh sống.
Rọc vội cây tre dài gần 2m đốn được ở trên đường đi bằng dao quắm, Hùng dùng đoạn dây cước to bằng đầu bút bi néo từ ngọn cây xuống gốc. Ở trên đầu cây tre, Hùng thắt theo kiểu thòng lọng, đoạn cuối dây để lỏng thỏng, ngoéo vào cánh tay phải lực lưỡng của mình. Hùng nói, dụng cụ săn kỳ nhông núi chỉ đơn giản như thế này, nhưng rất hiệu quả. Ban đêm, khi dùng đèn pin soi chiếu, kỳ nhông núi lóa mắt không thấy gì, mình dùng thòng lọng tròng vào cổ chúng, giật thật mạnh để kéo xuống, chúng khó mà thoát được sức rút của vòng dây cước kia.
Và rồi bài học “lý thuyết cơ bản” về cách săn kỳ nhông núi mà Hùng giảng giải suốt dọc đường đi cuối cùng cũng đến lúc được mang ra thực hành. Trên một thân cây sung choãi nhánh ra khe đá, một chú kỳ nhông núi khéo léo đổi màu ngụy trang, bám mình dưới tán lá xanh rậm rịt và thăm thẳm đêm rừng.
Hùng phải đưa tay chỉ, pha đèn pin khá lâu tôi mới phát hiện ra nó. Hùng đưa đèn pin cho tôi pha lên vị trí chú kỳ nhông núi kia đang ẩn mình, còn anh chưa đầy hai phút đã nhẹ nhàng tròng giây vào cổ con vật. Sau một cú giật mạnh, chú kỳ nhông núi bằng cổ tay người lớn đã nằm gọn trong tay Hùng.
Chỉ tay vào bụng con vật đang cố sức vẫy vùng, Hùng “lật tẩy” chiêu bài ẩn mình của nó: “Khi gặp ánh đèn pin, kỳ nhông núi thường nằm im một chỗ. Phía dưới bụng của nó có màu nhạt hoặc đậm hơn lá cây một tý. Thợ săn kỳ nhông núi tinh mắt chỉ cần nhìn qua là biết!”.
Nhìn con kỳ nhông đang vùng vẫy, tôi thoáng chạnh lòng trước cuộc mưu sinh đầy bất trắc của những người thợ săn. Vì cuộc mưu sinh trong nghèo khó họ đã ra tay tàn sát các loài động vật hoang dã còn sót lại trong các cánh rừng này.
Nhốt chú kỳ nhông núi vào bao lưới mang theo, chúng tôi tiếp tục cuộc săn cho đến khi tiếng những con gà rừng đua nhau gáy ở bìa rừng phía xa. Lúc này chân tay ai nấy đều rã rời. Bởi ngước nhìn quá lâu lên cao nên bây giờ cổ ngắc qua, ngắc lại thấy đau rưng rức. Mỏi mệt. Chúng tôi ngã mình trên tảng đá đẫm sương nghỉ ngơi cho lại sức để luồn rừng trở về. Cũng chính lúc này, Hùng mới có thời gian tâm sự với tôi.
“Thợ săn kỳ nhông núi phải đi tối thiểu 2 người trở lên để thay nhau công việc, chứ đi một mình trong rừng gặp rắn rết cắn, ngã va đầu vào đá chết trong rừng không ai biết mà nhặt xác. Ở xã này cũng có nhiều người đi săn kỳ nhông núi, nhưng làm nghề này, như anh biết đấy, nguy hiểm, vất vả lắm. Nhưng mình không có nghề nghiệp ổn định, vợ con lại nheo nhóc, đành phải cắn răng, liều mình vào rừng thôi. Người ta thì làm ăn ban ngày, đêm đánh một giấc dài, còn mình ban đêm thui thủi trong rừng mưu sinh, lắm lúc cũng tủi thân...”.
Người đi đặt bẫy là những người dân quanh năm lam lũ với rẫy với rừng. Cứ đến mùa mưa là lại kéo nhau vào rừng bẫy thú để kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống gia đình. Họ cũng biết việc mình làm là hủy hoại thiên nhiên, môi trường sống nhưng biện minh rằng không đi bẫy thú thì cũng chẳng còn việc gì làm vào mùa này. Thành quả cuộc săn của chúng tôi tối hôm ấy gần 1kg kỳ nhông núi sống, chúng lớn từ ngón chân cái đến cổ tay người lớn, tất cả được Hùng nhốt kỹ trong bao lưới để sáng mai mang đi bán.
“Hồi đó thú rừng nhiều vô kể, ngày nào cũng có thịt rừng để ăn và bán lại cho các đầu nậu. Giá thú rừng lúc đó rất rẻ, không như bây giờ. Tiền bán được không đủ để mua dây làm bẫy, dây phải mua ở ngoài phố chứ ở trong này không có. Nghề này chỉ làm giàu cho các thương lái và lò mổ thôi, chứ còn anh em đi rừng thì có gì đâu. Miếng tôn mỏng che mái nhà còn chưa mua được, huống hồ gì mà giàu có!”, Hùng bộc bạch.
Ngưng một lát, Hùng với tay vặt một nắm lá rừng bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến, rồi lấy bã lá dịt vào vết thương đang rỉ máu do kỳ nhông núi cắn lúc nãy.  Rồi Hùng kể, nhiều trường hợp đi săn bị thú rừng tấn công phải bỏ mạng, leo rừng, leo dốc ngã gãy chân, gãy tay Nhưng ở cái nơi ít đất nhiều đá này, biết làm nghề gì ngoài vào rừng.
Dường như sợ tôi cướp lời, anh lại tiếp lời nhưng tầm mắt vẫn buông đi đâu: “Mỗi tuần tôi đi săn kỳ nhông núi hai lần, mỗi đêm như vậy bắt được tầm 1-2kg, bán cũng được năm đến bảy trăm nghìn đồng. Tiền bán được thì mua gạo nuôi vợ con. Sắp tới tôi sẽ bỏ nghề này để đi làm thuê cho người ta, dẫu cực nhưng vẫn sướng hơn nghề này nhiều!”.
Dứt lời Hùng mỉm cười, giục tôi xuôi rừng về bản Vùng Kho, nơi có căn nhà tồi tàn, dột nát của gia đình anh. Bình minh rực đỏ phía triền đông, chỉ có tiếng kêu thê thiết của những loài thú rừng vọng trong ánh nắng ngày mới mà nghe càng xót xa hơn.
Sau chuyến đi rừng đó,bẵng đi một thời gian, tôi nhận được điện thoại của Hùng. Anh hớn hở khoe: “Tôi đã bỏ nghề đi săn mấy hôm nay rồi, bây giờ đi làm cỏ sắn cho một gia đình trong xã, thu nhập cũng khá, vui, thoải mái lắm anh ơi. Đỡ sợ, đỡ lo mà có cái tiền mang về nuôi gia đình”. Nghe Hùng nói, tôi thấy mừng cho anh và cái ám ảnh khi nhìn những chú kỳ nhông giãy giụa trên tay người thợ săn cũng vơi bớt phần nào. (An Ninh Thủ Đô 8/5) đầu trang(
Trong chói chang của nắng, những cánh cò trắng lấp lóa một vùng. Yên bình và tĩnh mịch, chỉ những cánh cò chao liệng giữa bầu trời, trong cái ngút ngàn của màu xanh tre, nứa…
Rừng cò Ngọc Nhị - một báu vật giữa vùng đất thiêng Ba Vì nhưng không mấy ai biết chủ nhân rừng cò đang hằng ngày, hằng giờ vật lộn với cuộc mưu sinh khiến bài toán bảo tồn, phát triển đàn cò phải đối mặt với nhiều thách thức...
Không có tấm biển nào chỉ dẫn nhưng rừng cò Ngọc Nhị ở xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, đã nổi tiếng từ lâu. Tôi đến rừng cò vào một ngày đầu tuần. Xung quanh chỉ có tiếng xào xạc của lá cây, thỉnh thoảng mới có tiếng của một vài loài chim… Chiếc cổng dẫn vào rừng cò cũ kỹ rêu xanh. Phùng Đoài Học - ông chủ rừng cò Ngọc Nhị chỉ tay lên tán cây phía trên giải thích: Trên đầu chúng ta là vô số tổ cò.
Mùa này cò đang sinh sản nên chỉ có một con bay ra khỏi tổ, con còn lại "trông nhà"… Miên man câu chuyện về cò, chủ nhân rừng cò cho tôi một hình dung khá đầy đủ về quá trình phát triển của rừng.
Đã vài chục năm nay, cò chọn Đồi Đưng, thuộc thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh làm nơi trú chân. Ngày ấy, cò bị tận diệt, thậm chí trứng cò cũng bị người ta lấy. Nhìn cảnh ấy, ông xót đàn cò, nhưng cũng nhìn thấy cơ hội phát triển ở đó, thế là đầu tư công sức, vốn liếng, mua lại đất của 3 người ở Đồi Đưng. Thay bằng cây ngô, cây sắn, ông đã trồng hơn 3ha tre, nứa các loại. Tre lên phủ kín một vùng, do đó cò càng kéo về đông vì có nơi trú ngụ. Đàn cò phát triển ngày một nhanh, ông tiếp tục đầu tư, mở rộng thêm đất trồng tre, trúc. Diện tích rừng cò nay đã tăng lên đến hơn 10ha.
Ban đầu ông Học khai thác cò và phát triển đàn cò theo kinh nghiệm cá nhân. Sau này có nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu và ông đã học được nhiều điều bổ ích từ họ, trong đó có những kiến thức chuyên môn rất cơ bản về cuộc sống của loài cò. Từ đó, ông biết khai thác cò phải theo tỷ lệ, loài nào nhiều thì khai thác nhiều, loài nào ít thì hạn chế và đặc biệt với loài quý hiếm thì ông chỉ dụ đàn mà không khai thác. Cách bắt cò cũng phải áp dụng kiến thức khoa học, bắt cò nhưng không được làm động tổ, không được để cò bố, cò mẹ hoảng loạn.
Ông Học nói: Bằng kinh nghiệm chúng tôi biết con cò nào già, con nào non, con nào đang chập chững nơi đầu cành… Mùa cò làm tổ đẻ trứng, việc dọn rừng cũng phải hết sức cẩn trọng, nếu làm cò kinh động, chúng sẽ phá đàn bay đi… Ban đầu, rừng chỉ có cò bợ, cò trắng, nay ở đây đã có đến 9 loài cò như: cò trâu, cò ngàng… Đặc biệt, khoảng 5 năm gầy đây rừng có thêm loài cò nhạn. Đây là loài cò quý hiếm, nằm trong sách đỏ nên tôi tìm cách dụ đàn để mong chúng phát triển thêm...
Gia đình ông Học đã phải đầu tư công sức, tiền của để phát triển đàn cò và cũng dựa vào đó để phát triển việc kinh doanh ẩm thực. Dưới tán tre, ông Học cho xây những dãy lều làm nơi ăn, nghỉ cho du khách. Tất cả đều giản dị, mộc mạc. Những ngày nghỉ lễ, du khách từ rất nhiều nơi đổ về, có khi lên đến hàng trăm người.
Thấy tôi thắc mắc về việc không cắm biển chỉ dẫn đường đến rừng cò, ông Học giải thích: Gia đình tôi chỉ đáp ứng được lượng khách hiện tại, nếu đông hơn chúng tôi không kham nổi. Chúng tôi chỉ mở nhà hàng từ sáng đến chiều, tối đặc biệt không mở vì phải giữ không gian tĩnh mịch cho đàn cò.
Thừa nhận gia đình mình có bắt, có thịt cò làm các món "nhắm" cho thực khách, ông Học nói: Năm nào cơ sở của tôi cũng bị các cơ quan chức năng kiểm tra, lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi bắt, thịt động vật hoang dã. Tuy nhiên, chúng tôi ý thức được rất rõ việc giữ gìn đàn cò như giữ mạch sống cho gia đình.
Gia đình chúng tôi đã rất nhiều lần đề nghị cơ quan chức năng, nếu không cho gia đình bắt thịt cò thì Nhà nước cần có cơ chế trả lương, hỗ trợ cho các thành viên trong gia đình. Nếu không có người bảo vệ, giữ gìn, không thuê đất, trồng tre thì làm gì có được đàn cò như ngày hôm nay? Tôi cũng như bao người nông dân khác, phải lao động và được phép hưởng lợi từ thành quả lao động ấy…
Về câu hỏi hóc búa này, ông Vũ Văn Hà, Phó Chủ tịch UBND xã Cẩm Lĩnh cũng đồng cảm: Để rừng cò được như ngày hôm nay phải kể đến công sức của gia đình ông Học. Việc gia đình ông Học bắt, tỉa cò để kinh doanh ai cũng biết, rõ ràng là vi phạm quy định cấm săn bắt động vật hoang dã.
Nhưng, nếu ông Học không làm như vậy thì lấy đâu vốn liếng để tái đầu tư. Đã có rất nhiều cuộc họp của các ban ngành, các nhà khoa học… nhưng đều chưa đưa ra được cơ chế nào để vừa bảo đảm quyền lợi của người dân vừa bảo đảm yêu cầu bảo tồn đàn cò. Trong khi đó, đây không chỉ là vốn quý Cẩm Lĩnh, mà còn là thế mạnh về phát triển nghỉ dưỡng, du lịch…
Theo nhiều nhà khoa học, để đàn cò phát triển, cần có nhiều yếu tố, trong đó có 4 yếu tố quyết định, đó là: Cò phải có nơi trú ngụ tốt trong không gian tĩnh mịch với một vùng đệm xung quanh gồm ao hồ, đầm lầy và nhiều người tin rằng vùng đất ấy phải có một luồng khí đặc biệt mới hút được đàn cò.
Sự giàu có của rừng cò Ngọc Nhị đã được khẳng định khi nhiều nhà khoa học cho rằng đây là vạt rừng có quy mô và số lượng, chủng loại cò đa dạng, lớn nhất miền Bắc. Và đây là một trong những yếu tố giúp du lịch xanh ở Ba Vì có sức hấp dẫn hơn. Vậy, cơ chế nào để những vạt rừng mãi xanh, để quần thể cò được bảo tồn và phát triển bền vững?
Gìn giữ, bảo tồn, phát triển rừng cò Ngọc Nhị là việc làm thiết thực, mang nhiều ý nghĩa đối với một thành phố xanh - sạch - đẹp… Cò trú ngụ ở Đồi Đưng quả thật là của trời cho, nhưng nếu không có bàn tay con người thì đàn cò sẽ đi đâu, về đâu? Bài toán về cơ chế bảo tồn cò đã được đặt ra, nhưng lời giải dường như chưa có… (Hà Nội Mới 8/5) đầu trang(
Đó là lời khẳng định của bí thư chi bộ thôn Nhân Nam (xã Nhân Trạch, Bố Trạch) và các thợ lặn.
“Rạn san hô đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua. San hô là nhà của các loài thủy, hải sản biển. San hô chết, nhiều loài khác chết theo” - chiều 6-5, ông Hồ Văn Sơn, Bí thư chi bộ thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, buồn bã nói với chúng tôi.
Trưởng thôn Nhân Nam, ông Phạm Văn Khiển, cho biết thêm: Các ngư dân lặn biển phát hiện xác cá nằm dày đặc dưới đáy biển trước thôn. Lượng cá chết dạt vào bờ biển Quảng Bình trong ba đợt vừa qua cũng không nhiều bằng.
Để chứng minh thông tin trên, các thợ lặn ở thôn Nhân Nam đã mời một số PV ra vùng biển cách bờ khoảng 2-3 hải lý, nơi có rạn san hô khổng lồ phía dưới. Thợ lặn Phạm Văn Thùy nhảy ùm xuống nước, chừng ba phút sau đã đưa lên hơn chục xác cá đang phân hủy. “Đây chỉ là một lượng rất ít xác cá còn nguyên vẹn, số còn lại bị phân hủy nhiều. Tôi cũng thấy nhiều ốc biển, vẹm biển chết dưới đó” - anh Thùy mô tả.
Trên hành trình từ bờ ra tới khu vực lặn, chúng tôi đi qua nhiều vùng nước có mùi hôi thối rất khó chịu. Anh Thùy cho hay chưa bao giờ biển có mùi như vậy, ra tới đây thả lưới một lát là cá, tôm đầy ghe. Nhưng nay thả lưới xuống toàn dính xương cá hoặc cá chết, họa hoằn lắm mới được vài con cá chai, cá đục còn sót lại.
Ra cách chỗ lặn đầu tiên chừng 200 m, các thợ lặn xuống biển một lát rồi đưa lên nào nhím biển, vẹm biển, ốc biển, cá biển đủ loại và cả san hô đã chết, bốc mùi thối nồng nặc. Thợ lặn Phạm Văn Quy thở dài: “Cả vùng san hô rất rộng nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng một loài sinh vật biển nào còn hoạt động. Khung cảnh trông như một nghĩa địa khổng lồ dưới đáy biển”.
Ông Nguyễn Hơn, thôn Khối, xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, nói thêm rạn san hô này nằm cách bờ 1-6 hải lý, kéo dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh. Khu vực này trước kia nước trong vắt còn bây giờ có màu rất lạ, mùi nước thối và tanh, bùn cũng khác trước kia. Các nhà khoa học và cơ quan chức năng cần cho lấy mẫu nước ở đó để xét nghiệm nhằm có câu trả lời rõ ràng.
Đáng chú ý, nhiều ngư dân cho hay lưới đánh cá thả ở vùng rạn thường rất bẩn, đen sì. Nhưng vừa rồi, họ thả lưới xuống khu vực này chừng một đêm, khi kéo lên thì lưới trắng tinh như vừa được ngâm trong chất tẩy rửa (!?).
Trước những thông tin trên, ông Trần Công Thuật, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, cho biết đã chỉ đạo UBND tỉnh cho các đơn vị liên quan phối hợp với các cơ quan trung ương, các tổ công tác trung ương tiến hành lấy mẫu nước, sinh vật chết đem đi xét nghiệm để xác định nguyên nhân. Từ đó kịp thời có biện pháp vệ sinh tổng thể môi trường biển. (Pháp Luật TP.HCM 7/5) đầu trang(
Thời gian gần đây, người dân xã Ninh Tân (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) phát hiện một đàn khỉ tự nhiên với hàng chục cá thể xuất hiện gần khu dân cư để kiếm ăn, uống nước.
Theo người dân, đàn khỉ thường sinh sống trên núi Hòn Một, ở phía bắc xã Ninh Tân và thường di tản xuống khu dân cư để kiếm ăn. Khi người dân phát hiện đã dùng thùng nhựa, chai nhựa đánh gõ tạo âm thanh để xua đuổi nhằm hạn chế khỉ phá hoại cây trồng, hoa màu.
Ông Phan Thanh Hùng, cán bộ thôn Trung (xã Ninh Tân) kể, ông từng nhiều lần chứng kiến đàn khỉ xuất hiện vào sáng sớm tầm khoảng 5h và buổi trưa khoảng 11h. “Có thể do nắng hạn, trên núi không có nước nên chúng kéo xuống gần nhà dân để kiếm nước uống. Trong thôn có cái hố nước sâu hơn 2m nên đàn khỉ thường kéo đến đó tìm nước”, ông Hùng cho biết.
Theo người dân, khi đàn khỉ xuống nương rẫy, nếu không xua đuổi khỉ sẽ phá hoại trên diện rộng. Trong khi vùng dân cư đàn khỉ hay “lui tới” là vùng trồng nhiều mía, mì, bắp ngô… Đàn khỉ kéo xuống “nhộn nhịp” là khi Núi Một vào mùa khô, lá non chưa ra, cây rừng không có trái.
Ông Trần Đình Tài, một người dân thôn Trung (xã Ninh Tân) cho biết, đàn khỉ nói trên ước khoảng 70-80 con. “Có mía thì chúng gặm mía và siết ăn như trẻ em, còn với cây chuối thì chúng tách bẹ ra ăn phần lõi bên trong, có lần chúng còn kéo xuống tận trường học để hái xoài. Những hộ dân nào trồng chuối bị chúng quậy, trồng bắp thì phải canh buổi đêm”, ông Tài cho biết.
Hiện người dân xã Ninh Tân chỉ cho biết đây là khỉ tự nhiên sống trên núi và chưa biết là loài khỉ gì. Tuy nhiên, theo người dân đàn khỉ có đặc điểm là thân nhỏ, bình quân nặng chưa đến một kg/con, đuôi ngắn và sống trong hốc đá, hốc cây của núi Hòn Một, cách làng khoảng 300-500m.
Một ngày cuối tháng 4, từ sự hướng dẫn của ông Võ Ngọc Phi Vũ, Phó Chủ tịch UBND xã Ninh Tân, nhóm phóng viên chúng tôi theo chân người dân và một cán bộ kiểm lâm xã Ninh Tân ngược lên núi Hòn Một. Buổi chiều tối, khi chúng tôi đến khu vực chân núi thì phát hiện đàn khỉ bắt đầu xuất hiện, trong đó những con đầu đàn leo lên đến ngọn cây ngồi quan sát.
Thấy bóng người lạ đang tiếp cận ở chân núi, khỉ đầu đàn quan sát với dấu hiệu đề phòng, dừng “kế hoạch” kéo xuống làng kiếm ăn vào chiếu tối hôm đó. Người dân ở đây cũng cho biết, khi phát hiện khỉ xuống làng, họ chỉ xua đuổi chứ không hề làm hại đến khỉ.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Lê Phú Điệp, đảo trưởng đảo khỉ Nha Trang (Khánh Hòa), cho biết, việc ở vùng núi xã Ninh Tân xuất hiện đàn khỉ tự nhiên là dấu hiệu tốt về môi trường sống.
“Tôi cho rằng môi trường ở đó rất tốt nên mới có khỉ sống. Người dân khi xua đuổi cần cân nhắc các biện pháp phù hợp nếu không đàn khỉ sẽ bỏ đi nơi khác sinh sống. Việc cần làm lúc này là người dân cần ý thức bảo vệ động vật, không được săn bắt để giết thịt, nấu cao. Chính quyền và các cơ quan liên quan cũng nên có kế hoạch bảo vệ đàn khỉ”, ông Điệp chia sẻ. (Dân Trí 6/5) đầu trang(
Ngày 6/5, Chi cục kiểm lâm Tỉnh Quảng Ninh tổ chức tiếp nhận và thả 60 cá thể động vật hoang dã từ Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội về vườn Quốc Gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh.
60 động vật hoang dã được thả về Vườn Quốc gia Bái Tử Long bao gồm: Rắn hổ mang chúa, Khỉ đuôi dài,  Khỉ đuôi lợn, Khỉ mặt đỏ Khỉ vàng,  Cự đà,  Rồng đất,  Nhông úc, Rắn sọc khoanh. Đây là số động vật hoang dã được các cơ quan chức năng thu giữ trong quá trình công tác và người dân tặng từ tháng 6/2014 đến tháng 1/2016.
Việc thả động vật hoang dã trở lại môi trường tự nhiên sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Bái Tử Long. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 6/5) đầu trang(
Tổ công tác của Phòng Cảnh sát phòng, chống về môi trường (Công an tỉnh Đồng Tháp) vừa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp và Công an xã Mỹ Long (huyện Cao Lãnh) kiểm tra trại chăn nuôi động vật hoang dã của ông Phan Thanh Liêm (SN, ngụ ấp 3, xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh).
Tại đây, lực lượng chức năng phát hiện nhiều loại động vật hoang dã quý hiếm chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký nuôi. Tổ công tác đã lập biên bản bàn giao vụ việc cho Chi cục Kiểm Đồng Tháp xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 5/5, Tổ công tác phối hợp cùng Công an xã Trường Xuân (huyện Tháp Mười) kiểm tra việc mua bán động vật hoang dã tại chợ Trường Xuân. Tổ công tác phát hiện 3 hộ kinh doanh mua bán trên 40kg rắn và 15 con chim, cò các loại. Tổ công tác lập biên bản bàn giao vụ việc cho Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp xử lý theo thẩm quyền. (Báo Đồng Tháp 7/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai vừa ký Quyết định số 1273/QĐ - UBND ngày 29/4/2016 thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các đơn vị, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch không thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Căn cứ và lý do việc Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai quyết định thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các đơn vị, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch không thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Sa Pa là trong thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai đã phối hợp các đơn vị liên quan, tổ chức tuyên truyền phổ biến chính sách đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch thuộc đối tượng chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, thành lập các đoàn công tác đến trực tiếp các đơn vị tổ chức thương thảo ký kết hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định nhưng đến ngày 12/4/2016 mới có 35/108 cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Sa Pa ký kết hợp đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh những cơ sở có ý thức chấp hành tốt chính sách của nhà nước vẫn còn một số đơn vị cố tình trì hoãn không thực hiện chính sách theo quy định, do đó để đảm bảo thực hiện nghiêm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, UBND tỉnh Lào Cai ra quyết định thành lập đoàn kiểm tra liên ngành do đại diện Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Lào Cai làm trưởng đoàn , đồng thời ban hành kế hoạch kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các đơn vị, cá nhân cố tình trì hoãn không chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, thời gian kiểm tra từ ngày 9/5/2016  - 31/5/2016.
Qua đó sẽ xử lý nghiêm đối với các đơn vị, cá nhân hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện Sa Pa cố tình trì hoãn  không chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Đồng thời đoàn kiểm tra liên ngành cũng sẽ kiểm tra việc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật trong hoạt động, kinh doanh dịch vụ du lịch của các đơn vị được kiểm tra trong đợt này trên địa bàn huyện Sa Pa. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/5) đầu trang(
Thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành các kế hoạch để thực hiện việc cổ phần hóa 7/8 công ty lâm nghiệp của tỉnh. Việc cổ phần hóa này sẽ được thực hiện xong trong năm 2016.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Quảng Ninh, sau khi chuyển 8 công ty lâm nghiệp của tỉnh sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, dưới hình thức Công ty TNHH MTV, các công ty này đã ổn định về mặt tổ chức, quản lý việc sử dụng rừng và đất rừng đúng mục đích có hiệu quả, phát huy vai trò “bà đỡ” về các lĩnh vực hoạt động trong sản xuất lâm nghiệp tại địa phương. Hoạt động của các công ty này cũng đã năng động hơn, kinh doanh có hiệu quả hơn.
Cụ thể, từ năm 2012, sau khi chuyển đổi thành công ty TNHH MTV, đã có 7/8 doanh nghiệp làm ăn có lãi, với tổng lợi nhuận sau thuế trên 3.512 tỷ đồng. Đến năm 2014, do có những khó khăn khách quan khiến các doanh nghiệp này giảm lợi nhuận, nhưng vẫn có 7 doanh nghiệp trong số này làm ăn có lãi.
“Để tiếp tục đáp ứng được mục tiêu mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty lâm nghiệp; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; nâng cao quy mô sản xuất và sản xuất hàng hóa tập trung...  việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển các công ty lâm nghiệp của tỉnh đã, đang và sẽ là yêu cầu cấp thiết”, ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định.
Theo phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh đã được Bộ NN&PTNT đã duyệt, thì Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu, Công ty TNHH MTV Vân Đồn được chuyển thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần chi phối là 65%. Còn các công ty TNHH MTV lâm nghiệp Cẩm Phả, Uông Bí, Tiên Yên, Ba Chẽ, Hoành Bồ sẽ trở thành công ty cổ phần và Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối (bằng hoặc dưới 50%). Duy chỉ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, để thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
Về lộ trình cổ phần hóa đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt mới đây nhất theo Kế hoạch số 1441/KH-UBND, ngày 21/3/2016, đến ngày 31/7/2016, các công ty lâm nghiệp phải thực hiện xong việc tiến hành định giá giá trị doanh nghiệp và công bố công khai để làm cơ sở cho việc xây dựng phương án cổ phần hóa. Phương án này sẽ phải được hoàn thành để trình UBND tỉnh phê duyệt trước ngày 15/8/2016.
Đến ngày 30/10/2016, các công ty lâm nghiệp sẽ phải thực hiện xong phương án cổ phần hóa, bao gồm cả phương án chào bán cổ phần. “Đến ngày 31/12/2016, việc chuyển đổi các doanh nghiệp sang công ty cổ phần sẽ phải được thực hiện xong toàn bộ”, ông Nguyễn Văn Thành, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết.
Hiện tại, các doanh nghiệp lâm nghiệp đã sẵn sàng cho việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá, thậm chí, một số đơn vị đã sớm khởi động lộ trình, tiêu biểu như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên, Ba Chẽ, Cẩm Phả đã hoàn thành việc thuê tư vấn xác định ranh giới diện tích để hoàn thiện thủ tục cấp sổ đỏ quyền sử dụng đất. Hơn thế, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ còn tiến hành tuyên truyền, giải thích cho người lao động; chuẩn bị hồ sơ liên quan đến việc xác định diện tích, ranh giới để đánh giá rừng...
Trong Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh diễn ra ngày hôm 7/5, việc gọi vốn từ các nhà đầu tư vào các công ty lâm nghiệp của tỉnh được đánh giá là một nội dung quan trọng. (Đầu Tư 7/5) đầu trang(
Ngày 6-5, chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã ký văn bản giao các Sở, đơn vị xác minh vụ xây biệt thự trái phép trong rừng phòng hộ tại tiểu khu 59 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Cà Giây.
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận giao các Sở NN&PTNT, Xây dựng, UBND huyện Bắc Bình và các ngành, đơn vị liên quan kiểm tra, xác minh vụ việc trên.
Cụ thể, UBND tỉnh Bình Thuận nêu báo Tuổi Trẻ ngày 30-4 đăng bài “Trang trại cà phê, biệt thự trái phép giữa rừng phòng hộ” và ngày 3-5 đăng bài “Biệt thự trái phép trong rừng phòng hộ: Sai từ năm 2013”.
Các bài báo phản ánh tại khu vực rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 59 có trường hợp ông Nguyễn Hy ở tỉnh Lâm Đồng lấn chiếm trái phép khoảng 20 ha đất xây biệt thự và trồng cà phê.
Năm 2013, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cà Giây đã phát hiện sai phạm, lập biên bản nhưng không báo cáo với các cơ quan chức năng để xử lý vụ việc.
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận chỉ đạo các cơ quan chức năng làm rõ thông tin năm 2013, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cà Giây phát hiện sai phạm, lập biên bản nhưng không báo cáo cơ quan chức năng, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan và xử lý nghiêm hành vi vi phạm, báo cáo kết quả với UBND tỉnh trước ngày 20-5. (Tuổi Trẻ 6/5) đầu trang(
Theo Bộ NN&PTNT đánh giá: Hiện nay, tiến độ triển khai Dự án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020 còn chậm, kết quả trồng rừng ven biển đạt thấp so với mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Bộ NN&PTNT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố có rừng ven biển khẩn trương chỉ đạo Sở NN&PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan, đơn vị liên quan chỉ đạo, đôn đốc chủ đầu tư các Dự án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển khẩn trương hoàn thiện thủ tục dự án theo quy định; đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện, bảo đảm hoàn thành kế hoạch năm 2015 và 2016.
Đồng thời chỉ đạo chủ đầu tư các dự án đã được duyệt và dự kiến các dự án đề xuất mở mới lập kế hoạch thực hiện các hạng mục trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ven biển từng năm đến năm 2020. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 7/5) đầu trang(
Nhằm khắc phục tình trạng mất rừng, các tỉnh Tây Bắc đang tăng cường biện pháp giữ rừng; đẩy mạnh công tác trồng rừng bổ sung, thay thế. Thế nhưng việc trồng rừng lại không mấy hiệu quả, nhiều địa phương liên tục nhiều năm trồng rừng chỉ đạt vài chục phần trăm kế hoạch đề ra.
Năm 2015, tỉnh Điện Biên đặt mục tiêu trồng 1.300 ha rừng tập trung, bao gồm trên 1.200 héc ta rừng phòng hộ, 33 ha rừng thay thế. Kết thúc vụ trồng rừng, toàn tỉnh chỉ thực hiện đạt 24,4% kế hoạch trồng rừng phòng hộ. Đây không phải năm đầu tiên tỉnh Điện Biên trồng rừng không đạt kế hoạch đề ra. Năm 2014, thậm chí cả 2013, tỉnh cũng chỉ trồng đạt 30 đến 35% kế hoạch.
Lý giải nguyên nhân, bà Đặng Thị Thu Hiền, Phó Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp tỉnh Điện Biên cho biết, không ít lý do. Tuy nhiên, cơ bản nhất là do bất cập về cơ chế chính sách. Sự bất cập này thể hiện rõ nhất ở 2 nội dung rất quan trọng, nếu không nói là quyết định. Đó là vốn trồng rừng không bảo đảm và lợi ích từ trồng rừng không thuyết phục người trồng.
Hiện nay, tỉnh đang áp dụng việc hỗ trợ trồng rừng theo Quyết định 60 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, quy định đầu tư trồng 1 ha rừng phòng hộ là 15 triệu đồng. Trong khi đó, các Nhà máy thủy điện phả bỏ ra  khoảng 60 triệu đồng cho một ha trồng rừng thay thế thì rừng phòng hộ Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng một  phần tư để trồng rừng.
“Chi phí trồng rừng bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp là công của người dân làm, bao gồm xử lý thực bì, làm đất, tiền mua cây, đào hố, lấp hố trồng rừng. Sau khi trồng lại phát dọn thực bì, vun gốc cho cây…Theo từng công thức, đối với vùng xa có thể nhiều hơn một chút, hoặc đối với loài cây giá cao thì tiền cao hơn một chút, nhưng dao động trong khoảng từ 55 đến 60 triệu. Vậy nên quy định 15 triệu/ha là không thực hiện được”, bà Đặng Thị Thu Hiền nói.
Ngay ở Yên Bái có độ ẩm cao, một số huyện như Yên Bình, Trấn Yên giao thông đi lại dễ dàng, tạo nhiều lợi thế cho việc trồng rừng. Thế nhưng, theo tính toán của người trồng rừng, trồng 1 ha rừng, sau 7 - 8 năm cho thu hoạch cũng chỉ được 70 đến 80 triệu đồng, trừ chi phí thì cũng không được lãi là bao, so với trồng các cây khác cũng không có lợi gì hơn. Với nhiều hộ trồng rừng diện tích manh mún, nhỏ lẻ, chỉ vài nghìn mét vuông, thu nhập không đảm bảo được đời sống hàng ngày.
Anh Nguyễn Hùng Anh, thôn Đồng Tâm, xã Phú Thịnh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái cho biết: “Chúng tôi chưa được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, do làm manh mún. Muốn vay được vốn đó phải có hóa đơn chứng từ mua cây giống có nguồn gốc xuất xứ, mua phân bón cũng phải có hóa đơn thì mới tiếp cận được nguồn vốn. Về kỹ thuật chủ yếu chúng tôi tự làm không có kỹ thuật. Ngoài ra do không có vốn để quay vòng, từ 5 đến 7 năm chúng tôi đã khai thác rồi, nên giá trị về kinh tế rừng không cao”.
Không chỉ người dân khó tiếp cận vốn vay ưu đãi, mà đây cũng là vấn đề đau đáu của các doanh nghiệp tham gia trồng rừng. Vẫn tại Yên Bái – địa phương có nhiều rừng nhất trong khu vực, nhiều doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ gỗ rừng trồng cũng đang lao đao vì không được vay vốn ưu đãi; rừng nguyên liệu khi gặp thiên tai không được hỗ trợ khắc phục.
Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Việt Hưng có trụ sở tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từng tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác và chế biến gỗ rừng trồng từ hơn 40 năm nay là một thực tế.
Ông Lê Sỹ Hinh, Phó Giám đốc Công ty cho biết: “Công ty khó khăn nhất là vốn để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Từ năm 2004 đến nay, chúng tôi không được vay nguồn vốn ưu đãi mà ngân hàng hỗ trợ phát triển trồng rừng sản xuất, mà phải dùng vốn tự có để hoạt động. Do đặc thù sản xuất lâm nghiệp là sản xuất ngoài trời, năng suất chất lượng lao động phục thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là sâu bệnh và bão lũ.
Năm 2013, 2014 công ty bị dịch sâu bồ đề, thiệt hại đến trên 1 tỷ đồng, nhưng không được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước”.
Tại tỉnh Lai Châu, trước đây đã có rất nhiều doanh nghiệp hăng hái tham gia trồng rừng. Năm 2010 – 2011, 17 doanh nghiệp ở tỉnh này đã trồng trên 16.000 héc ta rừng. Nhưng sau đó, do không được vay vốn ưu đãi, đầu ra bấp bênh, nên đến nay họ đã bỏ không tham gia trồng rừng nữa.
Nói về những bất cập trong chính sách  dẫn đến các địa phương rất khó đạt mục tiêu trông rừng theo kế hoạch, ông Lê Trọng Quảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết: “Hiện nay Nghị định 75 của Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020 đã có rồi, nhưng đang thiếu thông tư hướng dẫn nên các tỉnh chưa triển khai được. Nếu triển khai nghị định này, chúng tôi kiến nghị với các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Tây Bắc suất đầu tư phải đảm bảo các chi phí thực tế mà người dân phải bỏ ra trồng rừng, có như vậy việc trồng rừng mới hiệu quả. Chứ chỉ hỗ trợ, thì việc trồng rừng ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh Tây Bắc rất khó thực hiện”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 9/5) đầu trang(
Thủy điện xây dựng ì ạch 10 năm chưa xong trong khi việc trồng rừng thay thế chậm trễ là thực tế tại thủy điện Đá Đen xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Thủy điện Đá Đen nằm trên địa bàn xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên được khởi công vào năm 2005 với công suất 9 MW. Dù đã được UBND tỉnh Phú Yên gia hạn 3 lần nhưng nhiều hạng mục của thủy điện vẫn đang được xây dựng dở dang.
Để xây dựng thủy điện này, chính quyền đã giao hơn 40 ha đất và rừng phòng hộ cho chủ đầu tư. Rừng đã mất nhưng thủy điện không thấy đâu.
Theo Nghị định 23 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, chủ đầu tư các nhà máy thủy điện phải có trách nhiệm trồng rừng mới thay thế diện tích rừng đã chuyển mục đích sử dụng.
Tuy nhiên, ở thủy điện Đá Đen, nếu xây dựng đúng tiến độ, đã có thể tiến hành trồng rừng thay thế nhưng cho đến lúc này, thủy điện chưa xong, trồng rừng thay thế cũng chẳng thấy đâu. (Cafef 7/5) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các cơ sở trong toàn tỉnh đã khai thác, chế biến và tiêu thụ 13.827 m3 gỗ rừng trồng, đạt 196,11 % so với cùng kỳ năm 2015.
Trong đó, các tổ chức khai thác, chế biến 829,4m3; hộ gia đình khai thác hơn 12.998 m3. Ngoài ra, việc khai thác lâm sản ngoài gỗ như: Tre, nứa, vầu của Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên đạt 150,71 tấn; khai thác nguyên liệu giấy của Công ty MDF Bảo Yên đạt 632,32 tấn.
Cùng với khai thác, chế biến, các tổ chức, cá nhân đã tiêu thụ hơn 13.827 m3 sản phẩm gỗ rừng trồng; hơn 150 tấn sản phẩm tre, nứa, vầu đạt; 632,32 tấn sản phẩm giấy đế.
Tổng doanh thu từ khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm của tổ chức và hộ gia đình đạt trên 16,7 tỷ đồng, trong đó, các tổ chức thu gần 1,2 tỷ đồng, hộ gia đình thu trên 15,5 tỷ đồng. (Báo Lào Cai 7/5)
Là một tỉnh miền núi diện tích rừng trồng hàng năm lớn nên vài năm trở lại đây trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở chế biến gỗ rừng trồng.
Tuy nhiên, có không ít cơ sở lợi dụng việc chế biến gỗ rừng trồng để tiêu thụ cả gỗ rừng tự nhiên gây khó khăn trong công tác quản lý. Đặc biệt với những loại gỗ tự nhiên mọc xen lẫn với gỗ rừng trồng, việc quản lý cũng như cấp phép hiện nay đang nảy sinh rất nhiều khó khăn cho chính người dân và các cơ quan quản lý nhà nước.
Theo chân lực lượng kiểm lâm kiểm tra tại một xưởng sản xuất gỗ bóc tại xã Yến Dương, huyện Ba Bể, mặc dù là xưởng sản xuất gỗ rừng trồng nhưng hầu hết gỗ tập kết tại xưởng đều là gỗ tự nhiên với số lượng lớn. Theo người dân, xưởng này mới đi vào hoạt động một thời gian ngắn nhưng rất cầm chừng và chủ yếu là chế biến gỗ keo mỡ để làm ván bóc. Tuy nhiên, cơ sở này vẫn “giúp” người dân tiêu thụ thêm gỗ rừng tự nhiên, chủ yếu là gỗ xử lý thực bì hoặc lẫn trong các cánh rừng trồng.
Hiện nay, ngoài đất rừng tự nhiên, đất rừng phòng hộ, hầu hết các diện tích đất rừng nghèo kiệt đều đã được thiết kế để trồng rừng theo quy định. Tuy nhiên, khi trồng rừng tập trung sẽ có lẫn không ít gỗ tự nhiên mọc trong diện tích rừng trồng. Đến khi xin cấp phép khai thác trắng, người dân đã tự ý khai thác toàn bộ gỗ tự nhiên để mang đi tiêu thụ mà không xin cấp phép.
Ngay cả các xưởng chế biến gỗ cũng thừa nhận có mua gỗ tự nhiên của người dân về chế biến, nhưng cũng rất khó từ chối bởi cả nể và người dân thường vận chuyển với số lượng rất nhỏ. Để tránh phiền hà, có những xưởng treo biển chỉ mua gỗ rừng trồng.
Ông Nguyễn Duy Ước - Cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Ba Bể cho biết: Mặc dù đã thường xuyên bám sát địa bàn, lực lượng kiểm lâm canh gác ở cửa rừng tuy nhiên do người dân có nhu cầu khai thác đồi mỡ hay keo có lẫn gỗ khác thì không xin phép, chờ  khi kiểm lâm rút người dân lại khai thác. Trước đây chỉ có vài người nhưng bây giờ có cả phụ nữ chở bằng xe máy nên đôi khi giằng co nhau rất khó xử lý, chúng tôi đã họp với xã để tìm hướng giải quyết.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn, việc khai thác trắng gỗ rừng trồng để trồng rừng mới đương nhiên phải khai thác toàn bộ gỗ tự nhiên mọc trong rừng trồng. Tuy nhiên trong các văn bản hướng dẫn của ngành hiện nay chưa quy định rõ cấp huyện hay xã là đơn vị đứng ra để cấp phép khai thác đối với loại gỗ rừng tự nhiên mọc trong rừng trồng.
Do vậy trước mắt để thuận tiện cho công tác quản lý, Chi cục đã đề nghị để cho huyện cấp phép vì hiện nay có nhiều cây gỗ tự nhiên rất to mọc trong gỗ rừng trồng với khối lượng tương đối lớn. Tuy nhiên khi áp dụng, người dân lại cho rằng với khối lượng chỉ vài cây thì việc làm các thủ tục cấp phép rất phức tạp, vì vậy họ chọn cách mang về làm củi hoặc bán với giá rẻ cho các xưởng chế biến.
Ông Võ Duy Nghĩa, Trưởng phòng QLBVR, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn cho biết: Để đảm bảo thực hiện quản lý khai thác đúng quy định việc khai thác gỗ rừng tự nhiên xen lẫn với gỗ rừng trồng thì trên cơ sở Thông tư 35 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn số 710 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đối với trường hợp này hiện nay việc khai thác đều được theo quy định, tuy nhiên việc phân cấp khai thác giữa huyện và xã cũng chưa rõ ràng.
Do vậy ngành cũng đề nghị các chủ rừng cần làm các thủ tục theo Thông tư 35 để UBND huyện cấp phép trước khi khai thác. Tuy nhiên một số văn bản nhà nước ban hành vẫn có những bất cập, Chi cục tiếp tục có văn bản đề nghị tổng cục lâm nghiệp bổ sung hoàn thiện các hồ sơ để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Việc quản lý khai thác gỗ tự nhiên lẫn trong gỗ rừng trồng không chỉ góp phần tận dụng tối đa nguồn lợi từ rừng mang lại mà còn góp phần kiểm soát các cơ sở chế biến lâm sản hiện nay, tránh việc lợi dụng để tiêu thụ gỗ tự nhiên ngoài những diện tích rừng trồng.
Về lâu dài cũng cần có những cơ chế cụ thể để khai thác gỗ tự nhiên trong diện tích rừng trồng một cách hợp lý, giảm các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân trong quá trình khai thác rừng trồng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 7/5) đầu trang(
Do từ trước tới nay vẫn phụ thuộc khá lớn vào nguồn gỗ nguyên liệu NK từ 70-90 thị trường trên thế giới nên khi bước vào hội nhập sâu, những yêu cầu khắt khe về nguồn gốc, xuất xứ gỗ nguyên liệu đến từ các thị trường lớn, “khó tính” như Mỹ, EU… đang đặt ra không ít thách thức cho ngành chế biến, XK gỗ Việt Nam.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest): Trong giai đoạn 2013-2015, cùng với việc gia tăng XK gỗ và sản phẩm gỗ, lượng gỗ nguyên liệu NK cũng có xu hướng tăng, khoảng trên 10%/năm. Trong năm 2015, lượng gỗ nguyên liệu NK lên tới 4,79 triệu m3 gỗ quy tròn, tăng 11,3% so với lượng NK của năm 2014 và 14% so với năm 2013.
Giá trị kim ngạch NK gỗ nguyên liệu ở mức cao, khoảng 1,5 – 1,7 tỷ USD /năm. Con số này tương đương với 20-25% của tổng kim ngạch XK hàng năm của Việt Nam đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm gỗ.
Điều đáng nói là, những năm gần đây đã có sự dịch chuyển đáng kể về chủng loại cũng như thị trường NK gỗ nguyên liệu. Về thị trường, nếu như những năm trước Lào thường giữ vị trí “quán quân” trong NK gỗ nguyên liệu thì dần dần kim ngạch NK từ thị trường này đã sụt giảm.
Trong năm 2013, kim ngạch NK gỗ và sản phẩm gỗ từ thị trường Lào đạt gần 459 triệu USD, tăng 60,86% so với năm 2012. Bước sang năm 2014, Lào tiếp tục là thị trường cung ứng gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất cho Việt Nam, đạt trên 600 triệu USD, tăng tới trên 31% so với năm 2013. Tuy nhiên, đến năm 2015, NK gỗ và sản phẩm gỗ từ Lào chỉ đạt trên 360 triệu USD, giảm tới trên 40% so với năm 2014.
Theo thống kê mới nhất của Bộ NN&PTNT, Campuchia và Lào vốn là thị trường NK gỗ và các sản phẩm từ gỗ truyền thống, nhưng NK từ 2 thị trường này trong quý I năm nay đã giảm mạnh. Cụ thể, giá trị NK từ Lào giảm 58,5% và giá trị NK từ Campuchia giảm 45,5% so với cùng kỳ năm trước.
Ngược lại, NK gỗ từ Hoa Kỳ và Trung Quốc có sự gia tăng tạo ra sự biến động tương đối lớn trong vị trí xếp hạng của các thị trường NK gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Hoa Kỳ từ một nước xếp thứ 4 trong các thị trường NK chính nay là thị trường NK lớn nhất chiếm tới 12,5%, tiếp theo là thị trường Trung Quốc với 12,1%. Bên cạnh đó, một số thị trường khác cũng có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2015 là Pháp (tăng 47,9%), Đức (tăng 30%).
Đánh giá chung về tình hình NK gỗ nguyên liệu của Việt Nam những năm gần đây, ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cho rằng: Thời gian qua đã có sự dịch chuyển khá rõ nét trong cơ cấu thị trường cũng như chủng loại gỗ NK. Việc chuyển dịch theo hướng chuyển từ NK các loại gỗ có giá trị cao gồm các loại gỗ quý, có nguồn gốc tự nhiên sang các loại gỗ phổ biến, có nguồn gốc từ rừng trồng, có giá trị thấp hơn.
Nguyên nhân của sự chuyển dịch bắt nguồn từ sự cạn kiệt dần nguồn nguyên liệu gỗ quý, sự giảm nhu cầu tiêu thụ các loài gỗ này đặc biệt là sụt giảm của thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, nguồn rừng trồng trong nước cũng đang từng bước đáp ứng được nhu cầu cho các DN, thay thế một phần nguyên liệu NK.
Theo ông Phúc, xu hướng dịch chuyển còn thể hiện rất rõ khi lượng NK các loài gỗ từ các quốc gia có tính hợp pháp của gỗ rất cao như Hoa Kỳ và EU dần tăng lên. “Quá trình hội nhập đòi hỏi gỗ nguyên liệu NK phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tuân thủ quy định về tính hợp pháp. Do đó, việc chuyển dịch cơ cấu NK như trên là một tín hiệu tương đối tốt, tạo nhiều cơ hội XK gỗ trong tương lai”, ông Phúc đánh giá.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Viforest cho rằng: Mặc dù việc NK gỗ nguyên liệu đang có những đổi thay để ngày một phù hợp, đáp ứng tốt hơn các quy định của quốc tế về nguồn gốc, xuất xứ gỗ, song thực tế vẫn tồn tại không ít thách thức. Các nhà NK của Mỹ, EU, Hàn Quốc yêu cầu Việt Nam phải sử dụng nguồn gốc gỗ hợp pháp để sản xuất đồ gỗ XK.
Từ trước tới nay, Việt Nam chủ yếu NK gỗ từ 70-90 quốc gia trên thế giới, trong số đó chỉ có khoảng 30 quốc gia có nguồn gốc hợp pháp. Thực tế này sẽ dẫn tới tình trạng nguồn cung giảm. Về chủng loại gỗ cũng đã có sự thay đổi đáng kể. Tại các thị trường như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc đều yêu cầu sử dụng các loại gỗ có xuất xứ từ rừng trồng tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, EU,...
Đây cũng là thách thức đáng kể đối với ngành chế biến, XK gỗ Việt Nam. Ông Quyền phân tích: Đối với gỗ trong nước, lượng gỗ khai thác từ rừng trồng đạt trên 20 triệu m3/năm, gỗ có đường kính lớn để sản xuất đồ mộc chỉ chiếm từ 10 -15%, chưa đáp ứng được yêu cầu XK.
Đưa ra giải pháp cho vấn đề làm thế nào để có thể kiểm soát rủi ro về nguồn gốc gỗ, theo ông Tô Xuân Phúc, bước quan trọng đầu tiên mà Việt Nam nên tiến hành là chuẩn bị danh sách tất cả các loại gỗ nguyên liệu được NK. Danh sách này cần có tên của các loại gỗ, bao gồm tên địa phương, tên tiếng Anh và tên La tinh. Danh sách cũng cần có thông tin về địa bàn khai thác của từng loại gỗ.
Việt Nam có thể yêu cầu sự trợ giúp của các cơ quan chức năng từ các quốc gia NK gỗ nguyên liệu nhằm cung cấp thông tin về địa bàn khai thác, tình trạng đất đai,… đối với từng loại gỗ NK. “Bên cạnh đó, thông tin trao đổi với các DN trực tiếp đang tham gia NK sẽ giúp cơ quan quản lý Nhà nước có một bức tranh hoàn thiện hơn về gỗ nguyên liệu NK, từ đó giúp cho việc xác định các cơ chế kiểm soát gỗ NK hiệu quả trong tương lai”, ông Phúc nói.
Không chỉ riêng vấn đề nguồn gốc gỗ nguyên liệu NK, nhìn nhận tổng thể các chính sách để phát triển ngành chế biến, XK gỗ, ông Nguyễn Tôn Quyền đưa ra đánh giá: Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã trở thành động lực đối với trồng rừng. Do có đầu ra ổn định và việc tiêu thụ nguyên liệu ngày càng lớn nên đến nay rừng trồng của Việt Nam đã được 3,6 triệu ha.
Đây là một thành tựu lớn, tuy nhiên giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ Việt Nam chưa cao. Vì vậy, Viforest đề nghị Nhà nước có chính sách tín dụng dài hạn để DN có nguồn vốn vay đầu tư thay đổi công nghệ và thiết bị để nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm. Ngoài ra, cần thúc đẩy phát triển trồng rừng gỗ lớn và mở rộng diện tích rừng trồng ở Việt Nam đến năm 2020 có trên 600.000 ha rừng được cấp các loại chứng chỉ rừng thế giới như chứng chỉ FSC, chứng chỉ PEFC.
“Về phía các DN cũng cần chủ động mở rộng các hình thức liên kết: Người trồng rừng với người trồng rừng, người trồng rừng với người chế biến gỗ, người chế biến gỗ và người chế biến gỗ. Đây là một giải pháp rất hữu hiệu để sử dụng nguồn nguyên liệu ổn định lâu dài và tăng được kim ngạch XK cũng như tăng thêm giá trị gia tăng cho toàn ngành”, ông Quyền nhấn mạnh. (Hải Quan 7/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một quỹ trồng rừng Quốc gia và một Quỹ trồng rừng Bang đang được thiết lập để khởi động chiến dịch trồng rừng chưa từng có ở Ấn Độ, Bộ trưởng Môi trường Ấn Độ gọi đây là một cơ chế pháp lý mang tính lịch sử, và đã giành được sự ủng hộ của các chính trị gia từ nhiều đảng phái khác nhau.
Theo Javadekar, đạo luật này dành số tiền lên đến 410 tỉ ru-pi (tương đương 6,2 tỉ USD) cho những vùng đất rừng và vẫn chưa được giải ngân.
Điểm nổi bật của chương trình trồng rừng này chính là sự tham gia của người dân, sự kiểm tra của xã hội và sẽ không có bất kỳ sự chuyển dịch cây cối nào. “Ngoài các loại cây ngoại lai, chúng tôi sẽ chú trọng vào các giống cây nội địa”, Javadekar phát biểu trong một cuộc họp báo.
Đạo luật này cũng đảm bảo rằng các quỹ hỗ trợ sẽ khuyến khích hoạt động trồng rừng đền bù. Quỹ quốc gia sẽ nhận khoảng 10%, và các bang sẽ nhận 90% còn lại của Quỹ.
Javadekar cho biết: “Các quỹ này sẽ chủ yếu được dành vào việc trồng rừng nhằm bù lại diện tích che phủ của rừng đã bị mất đi, tái tạo lại hệ sinh thái rừng, bảo tồn thiên nhiên và phát triển cơ sở hạ tầng”.
Tuy nhiên, Javadekar cũng nói rằng ngoài các quỹ theo đạo luật mới này, nên có thêm các quỹ khác để tạo ngân sách cho việc trồng rừng của các Bang. “Các Bang phải thường xuyên dành một phần ngân sách cho việc trồng rừng”.
Khi nhấn mạnh tầm quan trọng từ sự tham gia của người dân vào chương trình trồng rừng, Javadekar cho biết: “Ở đâu có sự tham gia của người dân, và ở đâu mà cuộc sống của người dân gắn liền với rừng, thì ở đó họ sẽ không để diễn ra nạn phá rừng bừa bãi”. (Cafebiz 7/5) đầu trang(
Đười ươi Borneo, heo vòi châu Á có khả năng bị xóa sổ dự kiến sẽ được Vinpearl Safari, Phú Quốc tiếp nhận và bảo tồn.
Hội thảo Bảo tồn loài heo vòi và đười ươi Borneo châu Á, do Hiệp hội vườn thú Đông Nam Á (SEAZA) tổ chức tại Vinpearl Safari ngày 4-5/5 có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý, bảo tồn hai loài động thuộc nhóm nguy cấp trong sách đỏ thế giới.
Trong số những loài động vật thuộc nhóm báo động đỏ, đười ươi Borneo và heo vòi châu Á được xếp vào phụ lục I, tức danh sách động, thực vật hoang dã nguy cấp của Công ước CITES. Vì vậy, đây được xem là hai loài động vật quý hiếm đang trên đà sụt giảm số lượng nghiêm trọng, cần có những chương trình bảo tồn ngay, ở quy mô toàn cầu.
Số lượng đười ươi Borneo nói chung giảm 50% trong hơn 60 năm trở lại đây. Môi trường sống của chúng bị thu hẹp đến 55% trong vòng 20 năm qua. Tương tự, cá thể của heo vòi châu Á cũng đang giảm mạnh dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng. Đây là một trong 5 loài heo vòi lớn nhất thế giới và cũng là loài heo vòi duy nhất xuất xứ từ châu Á.
Hội thảo bảo tồn loài heo vòi và đười ươi Borneo châu Á vừa diễn ra tại Vinpearl Safari Phú Quốc là hội thảo đầu tiên của Tiểu ban quản lý loài thuộc Hiệp hội vườn thú Đông Nam Á. Sự kiện này thu hút chuyên gia của nhiều trường đại học, các tổ chức cùng những vườn thú uy tín từ Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Philippines, Singapore, Đài Loan và Việt Nam.
Số lượng, tình hình sinh trưởng, mức độ nguy cấp của từng loài tại các quốc gia và những đề xuất thiết thực cho kế hoạch phát triển số lượng cá thể trong tương lai cũng được các chuyên gia báo cáo tại đây. Hiện Vinpearl Safari có kế hoạch từng bước tiếp nhận và bảo tồn đười ươi Borneo và heo vòi châu Á.
Tiến sĩ Kanako Tomisawa, Phó chủ tịch của Tiểu ban quản lý loài cho biết sẽ thực hiện những khóa huấn luyện về công tác quản lý số lượng loài cho các thành viên trong Hiệp hội vườn thú Đông Nam Á.
Công viên chăm sóc và bảo tồn động vật Vinpearl Safari được xem là vườn thú bán hoang dã có khu vực mở theo hình thức safari, thuộc quần thể dự án nghỉ dưỡng Vinpearl tại bãi Dài, Phú Quốc. Hoạt động từ tháng 12/2015, công viên này luôn nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo tồn động vật, đóng góp vào những mục tiêu chung của Hiệp hội vườn thú Đông Nam Á.
Vinpearl Safari đang có khoảng 140 chủng loài sinh sống, được sưu tầm, bảo tồn từ các động vật hoang dã quý hiếm địa phương, đồng thời quy tụ từ nhiều vùng địa sinh học đặc trưng trên thế giới như Nam Phi, châu Âu, Australia, Mỹ... như hổ Bengal, linh dương A Rập, linh dương sừng xoắn, vượn cáo trắng đen… (VnExpress 7/5; Người Lao Động 7/5) đầu trang(
Ngọn lửa cháy rừng khủng khiếp nhất trong lịch sử Canada vẫn tiếp tục hoành hành trong ngày thứ 7 liên tiếp hôm cuối tuần qua, khi giới chức nước này cảnh báo rằng gần 100.000 người chạy trốn khỏi khu vực này sẽ không thể trở về nhà sớm được.
Đám cháy rừng bắt đầu từ 18h00 hôm Chủ nhật tuần trước (giờ địa phương) gần thị trấn Fort McMurray ở phía Bắc thành phố Alberta, đã lan nhanh đến nỗi khiến cho 88.000 cư dân thị trấn này chỉ đủ thời gian để bỏ chạy trong hoảng loạn. Hiện nay, phần lớn của thị trấn này chỉ còn là đống tro tàn.
Giới chức Canada cho hay, dù ngọn lửa phần lớn đã quét qua Fort McMurray và đang lan rộng nhanh chóng về phía cánh rừng khô ở phía Đông bắc, nhưng thị trấn này vẫn còn quá nguy hiểm để trở về.
Hàng nghìn người sơ tán hiện đang phải lưu trú tạm tại các thị trấn lân cận và có rất ít cơ hội được sớm trở về nhà. Giới chức địa phương nói rằng, những người đi sơ tán tốt hơn là đến các thành phố khác để tạm trú. Ví như Calgary, cách đó 655 km về phía Nam, để có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Trong khi đó, một số người dân còn phàn nàn về việc thiếu thông tin từ thị trấn mà họ phải bỏ chạy.
Ngọn lửa dữ được gọi tên “ác thú” được dự đoán là sẽ trở thành thảm họa lớn nhất trong lịch sử của Canada. Một nhà phân tích ước tính rằng, tổn thất sau thảm họa cháy rừng có thể lên đến hơn 7 tỷ USD.
Thị trấn Fort McMurray được coi là trung tâm của khu vực dầu khí của Canada. Do cháy rừng, đến một nửa sản lượng dầu thô của khu vực này, tương đương 1 triệu thùng dầu mỗi ngày, đã bị cắt giảm, theo Reuters.
Một tuyên bố mà chính quyền thành phố Alberta đưa ra hồi cuối tuần qua cho biết, đám cháy rừng đã quét sạch khoảng diện tích 200.000 hecta và sẽ còn tiếp tục lan rộng. Đã có hơn 500 lính cứu hỏa, 15 trực thăng, 14 thùng chứa khí cùng 88 trang thiết bị khác được chính phủ nước này triển khai tới Fort McMurray để dập lửa.
Đám cháy dữ dội đến mức các đội lính cứu hỏa phải làm việc luân phiên cấp tập hơn bình thường. Một lính cứu hỏa nói với kênh truyền hình CBC rằng các thành viên thuộc đội của ông đã làm việc liên tục trong 40 giờ đồng hồ mà không được nghỉ ngơi. (Đại Đoàn Kết 9/5) đầu trang(./.