Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 04 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 14-1-2008, Thủ tướng ban hành Nghị định số 5/2008 về Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng, sau đó ngày 24-9-2010 ban hành Nghị định số 99/2010 về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ðến nay, sau một thời gian triển khai thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần kịp thời tháo gỡ, nhằm huy động cao nhất nguồn lực đầu tư xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.
Ðể tìm hiểu về hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chúng tôi lên Yên Bái, một tỉnh miền núi phía bắc, nơi có hơn 250 nghìn ha rừng nằm trong lưu vực có cung cấp DVMTR, bao gồm 160 nghìn ha rừng tự nhiên và gần 90 nghìn ha rừng trồng, đồng thời cũng là địa phương có lưu vực của ba con sông Hồng, sông Ðà và sông Chảy đi qua, nên dự báo có nhiều tiềm năng về nguồn thu DVMTR từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn và trong lưu vực liên tỉnh.
Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Yên Bái Kiều Tư Giang cho biết: Ðể bảo đảm cho việc chi trả tiền DVMTR đúng đối tượng, cùng với việc thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, tỉnh Yên Bái còn thành lập Ban chi trả tiền DVMTR trên địa bàn các huyện, xã. Ðồng thời tổ chức điều tra, xác định một cách chi tiết diện tích rừng trong lưu vực có cung cấp DVMTR, các đối tượng phải chi trả, cũng như được chi trả tiền DVMTR.
Theo đó, toàn tỉnh có 22 chủ rừng là các tổ chức, doanh nghiệp quản lý hơn 114 nghìn ha; hơn 24.300 chủ rừng là cộng đồng dân cư, nhóm hộ và hộ gia đình cá nhân quản lý hơn 45 nghìn ha, còn lại khoảng 90 nghìn ha rừng chưa có chủ quản cụ thể được giao cho UBND tám huyện quản lý.
Về đối tượng sử dụng DVMTR, chưa kể nguồn thu từ các Nhà máy thủy điện Thác Bà, Hòa Bình và Sơn La do Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Trung ương điều tiết, toàn tỉnh còn có 23 dự án, với 28 nhà máy thủy điện đã hoạt động, đang xây dựng và đã được UBND tỉnh chấp nhận chủ trương, cấp giấy chứng nhận đầu tư, với tổng công suất phát điện hàng trăm triệu kW giờ mỗi năm. Ðây chính là nguồn thu DVMTR chủ yếu của tỉnh.
Tuy nhiên, theo Giám đốc Tư Giang, đến thời điểm này, mới có 17 nhà máy thủy điện được các chủ đầu tư thực hiện, trong đó có bảy nhà máy đã phát điện, với tổng sản lượng điện ước đạt gần 340 triệu kWh/năm; các nhà máy dự kiến phát điện năm nay là Văn Chấn, Ngòi Hút II và Trạm Tấu, nhưng hiện đều chậm tiến độ. Ngoài ra còn có bảy nhà máy thủy điện khác có tổng công suất thiết kế gần 60 MW mà theo báo cáo của chủ đầu tư sẽ phấn đấu hoàn thành đưa vào phát điện giai đoạn từ năm 2014-2015... trở đi.
Do đó đến hết năm 2012 quỹ mới ký được sáu hợp đồng ủy thác DVMTR với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện và kinh doanh nước sạch và tổng số tiền thu được trong hai năm 2011-2012 là hơn 26 tỷ 225 triệu đồng (trong đó có 26 tỷ do quỹ trung ương trực tiếp thu và chuyển tạm ứng cho quỹ). Quỹ tạm chi trả cho các đối tượng có cung ứng DVMTR hơn 12 tỷ 333 triệu đồng.
Mặc dù việc chi trả DVMTR ở Yên Bái chưa được như mong muốn, nhưng theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Xuân Nguyên, bước đầu đã hạn chế tình trạng chặt phá, cháy rừng, nâng độ che phủ rừng của tỉnh hiện nay đạt 60%.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, Yên Bái chỉ là một trong số hơn 20 địa phương đã thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng và triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, với tổng thu của các quỹ lên đến hàng trăm tỷ đồng. Trong đó các tỉnh ký được nhiều hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR là Lâm Ðồng (40 hợp đồng), Lào Cai (19 hợp đồng), Quảng Nam, Ðăk Nông,... Tuy nhiên bên cạnh những mặt được, quá trình triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR bộc lộ nhiều khó khăn bất cập.
Một là, các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương ban hành chưa kịp thời và đồng bộ. Ngay năm 2012 vừa qua, vẫn còn hai thông tư phải ban hành ngay, đó là Thông tư hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR và Thông tư hướng dẫn nguyên tắc và phương pháp xác định diện tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả DVMTR, nhằm giúp các địa phương có cơ sở giải ngân đến chủ rừng, nhưng chưa được ban hành kịp thời.
Do đó, hầu hết các tỉnh chưa hoàn thành việc xác định diện tích rừng đến từng chủ rừng và chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế quản lý sử dụng tiền DVMTR, cho nên tiến độ giải ngân thanh toán tiền DVMTR đến các chủ rừng rất chậm, chủ yếu vẫn là tạm ứng! Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, đến cuối năm 2012, cả nước mới giải ngân được gần 110 tỷ đồng, trên tổng số gần 600 tỷ đồng thu được trong kỳ từ DVMTR, chiếm 17,83%.
Hai là, các địa phương chậm thành lập và đưa Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng vào hoạt động. Nghị định 05 được ban hành từ năm 2008, nhưng đến đầu năm 2012, cả nước mới có chín địa phương thành lập quỹ và đến nay sau năm năm Nghị định được ban hành, mới có hơn 25 quỹ hoạt động, chủ yếu tập trung tại một số khu vực có tiềm năng về thủy điện như Tây Bắc, Tây Nguyên và miền trung.
Hiện vẫn còn nhiều địa phương có rừng đứng ngoài cuộc. Chưa kể một số tỉnh đã thành lập quỹ, nhưng "năm cha ba mẹ" với sự tham gia của đủ các ban, ngành từ UBND tỉnh, đến các sở: Nông nghiệp, Tài chính, Kế hoạch, Kho bạc, Cục thuế và Chi cục Lâm nghiệp... Do hoạt động kiêm nhiệm vì vậy khi đi vào vận hành thiếu cán bộ có đủ năng lực, trình độ để xây dựng các kế hoạch, cụ thể hóa chính sách cho phù hợp điều kiện thực tế của địa phương.
Ba là, công tác triển khai ký hợp đồng ủy thác, kê khai, thu nộp DVMTR ở các quỹ khó khăn, nhất là đối với các doanh nghiệp không thuộc địa phương quản lý. Một số doanh nghiệp viện dẫn nhiều lý do để chậm nộp, hoặc chưa thực hiện chi trả tiền ủy thác DVMTR. Thậm chí có doanh nghiệp còn cho rằng đã nộp thuế tài nguyên nước, trách nhiệm trả tiền DVMTR thuộc người mua điện!
Thí dụ như tại Yên Bái, ngoài Nhà máy thủy điện Văn Chấn, công suất 57 MW mặc dù đã ký hợp đồng ủy thác DVMTR với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Yên Bái từ năm 2012, nhưng do công trình bị chậm tiến độ, đến nay đã hết quý I-2013 nhà máy này vẫn chưa thể phát điện cho nên Quỹ chưa thu được tiền sử dụng DVMTR của doanh nghiệp này. Bốn nhà máy thủy điện khác là Mường Kim, Nậm Ðông III, IV và Hồ Bốn đến nay chưa ký hợp đồng ủy thác với quỹ, mặc dù trong số này có những nhà máy đã đi vào hoạt động từ năm 2008.
Theo tính toán của Tổng cục Lâm nghiệp nguồn thu DVMTR từ thủy điện rất lớn, mỗi năm có thể đạt cả nghìn tỷ đồng. Riêng năm nay, chưa kể thủy điện nhỏ, khả năng thu từ các nhà máy thủy điện có thể đạt gần 800 tỷ đồng. Nếu so sánh với số tiền hơn 1.200 tỷ đồng là nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho ngành lâm nghiệp năm 2012 thì số thu này quả là không nhỏ.
Vì vậy với trách nhiệm quản lý ngành, Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam cần khẩn trương chỉ đạo các công ty mua bán điện, ký lại hợp đồng với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện nhằm bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp trong việc hạch toán sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ chi trả DVMTR đã được kết cấu trong giá bán điện theo các Thông tư mà Bộ Công thương đã ban hành, đồng thời chuyển số tiền DVMTR các năm 2011, 2012 để các doanh nghiệp này chi trả ủy thác cho các quỹ.
Về phía các địa phương có rừng, cần triển khai kịp thời, đồng bộ các giải pháp, nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện chính sách chi trả DVMTR, trong đó tập trung vào việc kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động của các quỹ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách chi trả DVMTR trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo sự đồng thuận của các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân trong việc triển khai thực hiện. Nhất là các đơn vị, doanh nghiệp thủy điện, nước sinh hoạt cần phối hợp chặt chẽ với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng trong việc ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR.
Các Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cần tăng cường kiểm tra, giám sát kế hoạch thu, chi DVMTR đối với các đối tượng sử dụng DVMTR và các chủ rừng, bảo đảm sự công khai, minh bạch, không để tồn đọng vốn tại quỹ. Chủ động đề xuất chế tài xử lý đối với các đơn vị có sử dụng DVMTR nhưng chưa nộp, hoặc chậm nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR, vừa bảo đảm sự công bằng trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, vừa góp phần huy động nguồn lực đầu tư xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Nhân Dân 10/4) đầu trang(
Doanh nghiệp nông, lâm nghiệp tuy được ưu đãi nhiều đất đai sau khi chuyển đổi từ các nông trường quốc doanh nhưng hoạt động không hiệu quả trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
Theo ông Vũ Duy Hưng, chuyên gia của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ kết quả điều tra mới nhất về hoạt động của các doanh nghiệp này cho thấy trong hoạt động sản xuất-kinh doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp đạt thấp ở hầu hết các ngành.
Cụ thể trong tổng lợi nhuận 12.416 tỉ đồng năm 2011 của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp có tới 11.619 tỉ đồng do ngành cao su đóng góp. Doanh nghiệp trong lĩnh vực này cũng đóng góp ngân sách không đáng kể, trong tổng số 3.840 tỉ đồng nộp ngân sách có 3.296 tỉ đồng của ngành cao su.
Hầu hết các doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, quy mô vốn hiện tại nhỏ, bình quân 73,9 tỉ đồng/đơn vị. Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu đầu tư chiều sâu như trồng mới cây nông nghiệp, chế biến, xúc tiến thương mại… Giá trị tài sản thấp, chu kỳ sản xuất dài, cơ chế vay vốn ngân hàng khó khăn.
Ngoài ra các doanh nghiệp này hiện có khả năng trả nợ thấp, mức tổng nợ phải trả trên 22.000 tỉ đồng, bằng 50% tổng giá trị tài sản. “Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nông-lâm nghiệp nhà nước hình thành sau sắp xếp đổi mới nông-lâm trường quốc doanh chưa có chuyển biến rõ nét, chưa thu hút được nhiều lao động, thu nhập của người lao động còn thấp. Những vấn đề phức tạp về đất đai chưa được giải quyết dứt điểm”, ông Hưng, nhận xét.
Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng khác như trong lĩnh vực đất đai, tình trạng tranh chấp còn phổ biến do ranh giới đất đai giữa doanh nghiệp và người dân, các địa phương chưa rõ ràng. Ranh giới giữa các loại rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất chưa rõ ràng, chưa được rà soát cụ thể trên thực địa. Người dân di cư tự do ( ở khu vực Tây Nguyên) và đồng bào tại chỗ chiếm đất của doanh nghiệp làm nương rẫy đã gây khó khăn trong việc quản lý đất đai và đầu tư phát triển sản xuất.
Theo Ban Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp của Chính phủ, hiện số lượng doanh nghiệp nông, lâm nghiệp sau khi chuyển đôi từ các nông lâm trường là 160 doanh nghiệp. Trong số này có 86 doanh nghiệp trực thuộc trung ương và 74 doanh nghiệp ở địa phương. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 10/4)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Nghị quyết 44/NQ-CP về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của TP Hải Phòng.
Theo quy hoạch, đến năm 2020 tổng diện tích đất tự nhiên của TP Hải Phòng là 152.338 ha, trong đó: Đất nông nghiệp có diện tích 69.839 ha, Đất phi nông nghiệp có diện tích 82.249 ha, Đất đô thị có diện tích 36.256 ha, Đất khu du lịch có diện tích 20.537 ha, Đất khu bảo tồn thiên nhiên 9.000 ha và Đất chưa sử dụng có diện tích 250 ha.
Trong đất phi nông nghiệp, cơ cấu đất được phân bổ như sau: Đất phát triển hạ tầng có diện tích 20.785 ha, Đất khu công nghiệp có diện tích 9.548 ha, Đất ở đô thị có diện tích 5.583 ha, Đất quốc phòng có diện tích 2.916 ha, Đất nghĩa trang, nghĩa địa 1.281 ha,…(Chinhphu.vn 9/4)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), tính đến ngày 8/4, nhiều khu vực thuộc 17 tỉnh, thành trên cả nước đã nhiều ngày không có mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm và cấp nguy hiểm.
Cụ thể, nhiều khu vực thuộc 10 tỉnh đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh gồm: Khu vực Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang); Khu vực Bù Đăng, Lộc Ninh, Phước Long (Bình Phước); Khu vực Long Điền, Tân Thành, Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu); Khu vực Bắc Bình, Hàm Thuận Nam, Tuy Phong (Bình Thuận); Khu vực Tuần Giáo (Điện Biên); Khu vực Chư Păh, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Mang Yang, Krông Pa, TX. Ayun Pa (Gia Lai); Khu vực Mường Tè (Lai Châu); Khu vực Quế Phong, Quỳ Châu, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp (Nghệ An); Khu vực Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác ái (Ninh Thuận) và toàn tỉnh Đồng Tháp.
Tại 7 tỉnh khác cũng có nhiều khu vực được cảnh báo thuộc diện nguy cơ cháy rừng ở cấp IV, cấp nguy hiểm, gồm: Khu vực An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn (Bình Định); Khu vực Ea Kar, Krông Bông, M'drắk (Đăk Lăk); Khu vực Long Thành, Nhơn Trạch, Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu (Đồng Nai); Khu vực Khánh Sơn, TX. Cam Ranh (Khánh Hoà); Khu vực Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên Huế) và toàn tỉnh Phú Yên, Tây Ninh.
Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu, UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Đảng Cộng Sản VN 9/4)đầu trang(
Nhằm chủ động, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, UBND tỉnh Nghệ An yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị xã, thủ trưởng các đơn vị chủ rừng, thủ trưởng các cơ quan có liên quan thực hiện nghiêm túc một số nhiệm vụ cấp bách sau đây:
Theo đó, UBND cấp huyện chỉ đạo Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR huyện, thành phố, thị xã, Hạt Kiểm lâm, chủ rừng, UBND xã, phường, thị trấn xây dựng và tổ chức thực hiện phương án PCCCR năm 2013. Trong đó, đẩy mạnh tuyên truyền “Luật bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Thủ tướng quy định về phòng cháy, Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách bảo vệ và phát triển rừng” bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó chú trọng tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thực hiện cảnh báo nguy cơ cháy rừng, cấp dự báo cháy rừng để mọi tổ chức cá nhân biết thực hiện các biện pháp PCCCR; Tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR huyện đối với các đơn vị chủ rừng và UBND cấp xã, nhằm vận hành có hiệu quả, đồng bộ các biện pháp PCCCR; Xây dựng và triển khai quy chế phối hợp bảo vệ rừng và ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR trong cộng đồng dân cư.
Các huyện chuẩn bị phương án 4 tại chỗ trong PCCCR: Lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Duy trì chế độ thường trực PCCCR trong những ngày nắng nóng cấp dự báo cháy rừng từ cấp 3 trở lên, tổ chức lực lượng thường trực 24/24h tại Văn phòng Ban chỉ huy phòng cháy rừng các cấp để nhận thông tin xử lý thông tin, tổ chức lực lượng chữa cháy rừng.
Sở NN&PTNT tổ chức các đoàn kiểm tra đôn đốc việc xây dựng và thực hiện phương án PCCCR tại các địa phương và chủ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nhằm phát hiện sớm những thiếu sót, tồn tại trong việc xây dựng và thực hiện phương án để có bước điều chỉnh bổ sung kịp thời. Sau khi xẩy ra cháy rừng phải khẩn trương phối hợp với các cơ quan chuyên môn xác định thiệt hại, điều tra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp khắc phục hậu quả và xử lý trách nhiệm của tập thể cá nhân có liên quan theo đúng quy định pháp luật.
Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ chỉ huy Bộ Đội Biên phòng tỉnh giao nhiệm vụ Ban chỉ huy Quân sự cấp huyện, các đơn vị đóng quân trên địa bàn tỉnh chủ động làm tốt công tác PCCCR năm 2013; Chuẩn bị phương án đảm bảo lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật và hậu cần sẵn sàng ứng phó trong trường hợp xẩy ra cháy rừng. (Đài PT - TH Nghệ An 10/4)đầu trang(
Hiện nay, tình trạng nắng nóng làm tăng nguy cơ cháy rừng tại nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Đồng Tháp.
Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp vừa có cảnh báo cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm tại 10 khu vực trên địa bàn toàn tỉnh – trong đó tập trung chủ yếu ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, vì khu vực này là rừng tràm và bạch đàn tiếp giáp với đất sản xuất nông nghiệp, khu dân cư và nhiều nơi không giữ nước cho mùa nắng nên khả năng cháy lớn lan ra bất cứ lúc nào… (Công An Nhân Dân 9/4)đầu trang(
Mùa khô đang diễn biến rất gay gắt, đe dọa đến hàng chục ngàn héc-ta rừng ở ĐBSCL, trong đó, có 360ha rừng ở vườn chim Bạc Liêu. Trước tình hình này, Bạc Liêu đã triển khai nhiều phương án phòng chống cháy rừng ở khu vực vườn chim.
Theo Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu, từ các nguồn kinh phí khác nhau, đơn vị đã nạo vét mới gần 3km kênh mương trữ nước phòng cháy; mua 3 máy chữa cháy công suất lớn, hàng trăm can nhựa, bàn dập lửa. Ngoài việc phun nước vườn chim mỗi tuần 3 lần để tăng độ ẩm, giảm nhiệt, Ban quản lý còn phân công 25 cán bộ trực phòng cháy 24/24 giờ, huy động thêm 40 người ở các xã lân cận sẵn sàng tham gia bảo vệ rừng.
Để nâng cao ý thức phòng chống cháy rừng trong người dân, Ban quản lý Vườn chim phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền cho các hộ dân sinh sống giáp ranh vườn chim. Những hộ dân sống quanh khu vực vùng đệm vườn chim được tập huấn chữa cháy, phát tờ rơi bảo vệ rừng và ký cam kết không đốt lửa. Trước tình hình dự báo cháy lên cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm và có khả năng xảy ra cháy rừng cao nhất, tỉnh đã quyết định tạm thời đóng cửa rừng, ngừng đón khách tham quan vườn chim.
Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy vườn chim Bạc Liêu (gồm hơn 110 người). Đồng thời thành lập 4 đội phòng chống cháy rừng tại các vùng đệm. Với 80 thành viên, những đội phòng chống cháy rừng này sẽ hỗ trợ tích cực trong công tác tuần tra, ứng cứu chữa cháy. (Báo Bạc Liêu 8/4)đầu trang(
Trong năm qua, cùng với việc làm tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng, ngăn chặn các tệ nạn phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) luôn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Tà Xùa ..
Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Tà Xùa được tỉnh giao quản lý 38.740 ha đất tự nhiên trên địa bàn 4 xã: Tà Xùa, Háng Đồng (Bắc Yên) và Suối Tọ, Mường Thải (Phù Yên), trong đó 26.880 ha diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp và có 13.563 ha rừng đặc dụng, 3.283 ha rừng phòng hộ.
Bước vào mùa khô hanh năm 2012-2013, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Tà Xùa đã đẩy mạnh tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nghị định của Chính phủ, những hướng dẫn cụ thể của Bộ NN&PTNT, các văn bản của tỉnh, huyện liên quan đến công tác PCCCR, sản xuất nương rẫy...
Hình thức tuyên truyền sâu rộng thông qua hội nghị cấp xã, bằng lồng ghép các cuộc họp trong dân đến các bản được gần 1.900 lượt người tham gia; thành lập mới 4 đội và củng cố 34 tổ đội quản lý bảo vệ rừng cấp bản; mở 8 hội nghị tổng kết và hội nghị chuyên đề về công tác quản lý bảo vệ rừng tại 4 xã trong địa bàn có rừng đặc dụng.
Đồng thời, xây dựng phương án PCCCR trên địa bàn theo phương châm “Phòng là chính, chữa cháy phải khẩn trương, cương quyết, kịp thời và triệt để”. Hạt đã chỉ đạo các tổ từ văn phòng đến các tổ công tác tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện công tác PCCCR ở tất cả các xã; kiện toàn các ban chỉ huy, ban PCCCR cấp xã, duy trì hoạt động 34 tổ đội quản lý bảo vệ rừng, PCCCR cấp thôn bản; tăng cường công tác kiểm tra và hướng dẫn thực hiện quy chế của UBND tỉnh đối với những người được hợp đồng làm công tác bảo vệ rừng 5 tháng mùa khô 4 xã; phân trực 24/24 giờ trong ngày vào thời điểm nắng nóng khô hanh dự báo cháy rừng ở cấp cao... (Báo Sơn La 9/4) đầu trang(
Cuộc thi viết: “Không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động, thực vật hoang dã nguy cấp, các bộ phận và dẫn xuất của chúng góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học ở Việt Nam” do Ban Tuyên giáo Trung ương phát động từ ngày 10-1.
Sau 3 tháng kể từ ngày phát động, cuộc thi đã thu hút được sự tham gia của đông đảo cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nhiều tổ chức, cá nhân có nguyện vọng được kéo dài cuộc thi, đồng thời Ban tổ chức (BTC) cũng mong muốn có thêm nhiều tác phẩm dự thi có chất lượng cao. Do đó, BTC quyết định gia hạn cuộc thi đến hết ngày 30-6-2013 (thay vì đến 31-5-2013 như trước đây). Đồng thời bổ sung thể lệ cuộc thi.
Cụ thể: Bài dự thi có thể sử dụng các tác phẩm báo chí đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống trong thời gian diễn ra cuộc thi. Các cá nhân, tổ chức có thể gửi bài tham gia dự thi với các thể loại báo chí như: Tin, bài phỏng vấn, phóng sự xã hội, phóng sự điều tra, ký sự, bài phản ánh, bài bình luận, phóng sự ảnh.
Ban tổ chức sẽ trao hai giải đặc biệt, mỗi giải một chuyến đi tham quan một số khu bảo tồn ở Cộng hòa Nam Phi; một giải nhất trị giá 7 triệu đồng; hai giải nhì, mỗi giải 5 triệu đồng; hai giải ba mỗi giải ba triệu đồng; 7 giải khuyến khích mỗi giải một triệu đồng. (Biên Phòng 10/4)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND TP Cần Thơ vừa có chỉ thị về việc vận động trồng cây xanh phân tán trên địa bàn TP. Theo đó, trong năm nay TP phấn đấu trồng mới 1,1 triệu cây xanh để độ che phủ của TP đạt 20% vào năm 2020.
Các loại cây được chú trọng phát triển trong thời gian tới như sao, dầu, xà cừ, bằng lăng... Địa điểm trồng là các tuyến dân cư nông thôn, tuyến đê bao, khu dân cư, trường học... (Tuổi Trẻ 10/4)đầu trang(
Ban quản lý vườn chim Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu) cho biết đang kết hợp với Ban quản lý dự án GIZ (Đức) ươm gần 150.000 cây giống các loại như gõ biển, cóc trắng, giá... để đến tháng 7 tiến hành trồng dặm ở rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu. (Tuổi Trẻ 10/4)đầu trang(
Khi mới thành lập, trên địa bàn tỉnh ngoài văn phòng Chi cục gồm 4 phòng, đội, ở cấp huyện có 5 hạt kiểm lâm gồm: Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Phù Ninh và 4 trạm kiểm lâm trực thuộc hạt với tổng số vài chục cán bộ, nhân viên được tuyển chọn từ ngành lâm nghiệp và những quân nhân đã hoàn thành nhiệm vụ chuyển ngành.
Quá trình 40 năm xây dựng tuy Chi cục Kiểm lâm nhiều lần thay đổi đầu mối quản lý, nhưng nhiệm vụ không thay đổi, đặc biệt tổ chức lực lượng và chất lượng đội ngũ không ngừng nâng lên. Hiện nay Chi cục Kiểm lâm là đơn vị trực thuộc Sở NN&PTNT với 5 phòng chuyên môn; 1 đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng; 12 hạt kiểm lâm cấp huyện, 29 trạm kiểm lâm địa bàn tổng biên chế trên 200 cán bộ, công chức. Trong đó số người có trình độ trên đại học chiếm 2,8%;đại học , cao đẳng gần 70 %, còn lại có trình độ trung cấp.
Suốt 40 năm qua, lực lượng kiểm lâm luôn luôn đóng vai trò chủ đạo trong công tác tham mưu giúp Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở NN&PTNT xây dựng các chính sách phục vụ cho công tác thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Phát huy những kết quả đã đạt được trong 40 năm xây dựng và trưởng thành, cán bộ công chức lực lượng kiểm lâm Phú Thọ nỗ lực phấn đấu, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, đưa độ che phủ của rừng đạt trên 52% vào năm 2015, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng trên quê hương Đất Tổ. (Báo Phú Thọ 9/4)đầu trang(
Anh Trần Đức Hùng, trú tại tổ 6, thị trấn K’Bang, tỉnh Gia Lai đã từng phải lĩnh án 27 tháng tù giam vì tội “chống người thi hành công vụ” và “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Tưởng chừng cuộc đời của một “lâm tặc” sẽ phải khép lại sau cánh cổng trại giam, nhưng với ý chí và khát vọng “trả lại những gì mình đã lấy từ rừng”, sau khi mãn hạn tù, anh Hùng đã xây dựng được một cơ ngơi hoành tráng, khiến nhiều người mơ ước.
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo, tuổi thơ đầy biến cố đã đẩy anh phiêu bạt vào Nam rồi lên Tây Nguyên. Và rồi cái duyên với mảnh đất K’Bang heo hút giữa đại ngàn đã gắn anh Hùng với nó như một định mệnh. “Tháng 2/1993, sau những chuyến phiêu bạt từ Bắc vào Nam , tôi đến K’Bang. Lúc đấy rừng ở K’Bang còn nhiều lắm, không có việc làm nên nghề rừng trở thành nghề chính dù biết là phạm pháp” – anh Hùng tâm sự.
27 tháng thụ án trong trại giam đã cho anh Hùng ý niệm về một cuộc sống tự do bên vợ con. Và cũng chính khoảng thời gian thụ án trong trại giam đã làm thay đổi cách nghĩ và hành động của anh. Lúc ra trại, anh đã thực hiện việc “trả lại những gì anh đã lấy đi của rừng”, đó là bắt tay vào… trồng rừng.
Để thực hiện ước mơ trồng những khoảng rừng xanh tốt, nhờ sự giúp đỡ của gia đình bên vợ, hai vợ chồng anh vay mượn được 1 tỷ đồng và bắt tay vào làm trang trại chăn nuôi lợn, số tiền còn lại anh mua đất, tiến hành trồng rừng. Nhưng có lẽ, số phận không cho anh thực hiện ước nguyện đó khi lứa lợn đầu hơn 1.700 con mà vợ chồng anh nuôi đã bị lỗ hơn 1 tỷ đồng. Ôm gánh nợ 1 tỷ đồng, anh khăn gói sang Campuchia làm lò gạch.
Hai năm sau (cuối năm 2009) anh quyết định trở về K’Bang tiếp tục… trồng rừng. Cùng với số tiền chắt chiu sau hai năm làm lụng vất vả và số tiền vợ anh ở nhà buôn bán, dành dụm được, anh tiếp tục gây dựng lại trang trại và thuê thêm đất để trồng rừng. Lần này, anh chuyển sang nuôi hươu, trâu, bò và dê. Đàn hươu, dê, trâu, bò ngày một lớn và cho anh thu nhập ổn định, những mảng rừng anh trồng cũng xanh tốt mơn mởn. Có vốn, anh tìm mua đất, thuê những diện tích đất xấu không thể sản xuất và đổ vốn vào trồng rừng.
“Sau khi có vốn từ những đàn dê, trâu, bò và hươu, hễ ở đâu có đất bán, đất cho thuê, tôi đều mua và thuê hết. Nghề trồng rừng với tôi không phải là thu nhập mà tôi muốn trả lại cho cuộc sống này những diện tích rừng xanh tươi như trước đây – những diện tích rừng mà tôi đã lấy đi” – anh cho biết.
Với sự quyết tâm ấy, đến nay trong tay anh đã có một cơ ngơi hàng tỷ đồng. Hơn 200 ha rừng keo của anh Hùng đã được từ 4-5 năm tuổi. Dù rừng keo này đã đến tuổi cho thu hoạch, song anh Hùng chưa muốn bán và nếu bán vào thời điểm này anh cũng có cả chục tỷ đồng. Ngoài ra, hơn 2 ha trang trại với 50 con hươu mỗi năm cho anh Hùng thu nhập từ 600 – 700 triệu đồng; hơn 100 con dê cùng đàn trâu, bò vài chục con cũng cho thu nhập vài chục triệu đồng/năm. Anh còn có cổ phần một lò gạch lớn ở Campuchia.
Kinh tế vững vàng, anh Hùng còn giúp đỡ những thanh niên từng có thời “lầm lỡ như anh”. Khu trang trại của anh đã tạo công ăn việc làm ổn định cho 10 – 15 công nhân với mức thu nhập 3,5 – 4,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, anh còn giúp đỡ vốn, kỹ thuật và hướng làm ăn cho hàng chục thanh niên, trong đó có những người đi cải tạo về. Nhiều người đã giàu lên từ nghề trồng rừng như anh. (Theo TTXVN 10/4)đầu trang(
8/4, Trường Cán bộ quản lý NN-PTNT II (Bộ NN-PTNT) đã cùng lúc khai giảng 2 khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ kiểm lâm, ngạch kiểm lâm viên chính (KLVC) khóa 11/2013 và Khóa nghiệp vụ quản lý kinh tế kỹ thuật chuyên ngành BVTV, thú y khóa 6/2013.
Theo TS.Đinh Công Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường cán bộ quản lý NN-PTNT II, đề án đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công chức kiểm lâm (giai đoạn 2011-2015) đến nay đã tổ chức được 10 khóa, với khoảng trên 500 học viên KLV đến từ các tỉnh phía Nam.
Khóa 11 KLVC khai giảng với 50 học viên là công chức kiểm lâm của các tỉnh khu vực phía Nam. Khóa học gồm 3 phần, các học viên khóa KLVC và khóa BVTV-TY sẽ được trang bị những kiến thức về quản lý nhà nước nói chung và quản lý trong lĩnh vực bảo vệ rừng, hay BVTV-TY; đồng thời trang bị những kỹ năng nghiệp vụ cần thiết của công chức kiểm lâm ngạch KLVC, ngành BVTV-TY.
Khóa học kéo dài đến tháng 8/2013 sẽ kết thúc, các học viên sẽ được cấp chứng chỉ, đủ điều kiện để tham gia thi nâng ngạch chính theo các ngành đào tạo. (Nông Nghiệp VN 9/4)đầu trang(
Theo Bộ NN-PTNT, từ năm 2005 - 2012, bình quân mỗi năm vùng Tây nguyên giảm hơn 25.000 ha rừng; trong đó chuyển rừng sang các mục đích sử dụng khác chiếm 78% (chủ yếu để trồng cao su, xây dựng thủy điện, thủy lợi, làm nương rẫy, khu công nghiệp); khai thác rừng trồng theo kế hoạch 4%; bị chặt phá trái phép 6%...
Theo báo cáo của các tỉnh, tổng diện tích rừng của Tây nguyên là 2,85 triệu ha, độ che phủ 51,3%; nhưng kết quả giải đoán ảnh viễn thám năm 2012 cho thấy diện tích rừng có trữ lượng chỉ còn 1,8 triệu ha, độ che phủ 32,4%. Trong khi đó, kết quả phát triển rừng trồng đạt thấp. Từ năm 1998 - 2011, bình quân mỗi năm các tỉnh Tây nguyên trồng được 14.000 ha; riêng năm 2012 chỉ trồng được 8.367 ha rừng, đạt 45,6% kế hoạch. (Thanh Niên 9/4)đầu trang(
Ngày 4/4, Trưởng CA xã Hưng Phúc cùng với Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Hưng Nguyên dẫn PV đến kiểm tra xem tình hình đàn chồn nhung đen của ông Thái Doãn Đệ (trang trại nuôi chồn nhung đen lớn nhất tại Nghệ An) sau khi ông Đoàn Việt Châu dừng mua hiện ra sao?
Cả trang trại không một bóng người, thi thoảng lại nghe tiếng ngỗng kêu khi thấy có người đứng phía ngoài cổng. Gọi điện cho ông Đệ và chờ mãi đến gần 1 giờ đồng hồ thì chị Trần Thị Hà (người làm thuê) mới lật đật trở về.
Trong khi ngồi chờ người giúp việc về, Trưởng CA xã Hưng Phúc nói: đàn chồn nhung đen của ông Đệ hiện giờ ít ra cũng phải trên dưới 2.500 con. Thế nhưng, khi chị Hà mở khóa 2 dãy chuồng cho chúng tôi vào xem đàn chồn, thì trái lại. Trong tiếng kêu chí chóe đòi ăn thưa thớt của chúng, tôi đoán số lượng ít nhất đã giảm mất ½ so với thời điểm tôi đến thăm mô hình này vào tháng 11/2012.
Chị Hà phân trần: nếu được chăm sóc cẩn thận như khi mới nhập đàn về (1.000 con), số lượng chồn nhung giờ ít ra cũng trên ba nghìn con. Nhưng do không bán được con chồn giống nào cho ông Đoàn Việt Châu, cũng không mở rộng được thị trường nên công việc chăm sóc, nuôi dưỡng bị sao nhãng hẳn.
Sau Tết người làm thuê cho ông Đệ trước đây đã xin nghỉ việc nên tôi mới được thuê đến làm tiếp. Hàng ngày tôi vẫn cắt cỏ cho chúng ăn và quét dọn chuồng trại sạch sẽ như mọi khi nhưng do thuốc men có hạn nên đàn chồn chết dần chết mòn. Những ngày trời mưa, cỏ cắt về có nước mưa, cho chồn ăn chúng lăn ra chết hàng loạt có ngày 15 đến 20 con. Có bữa cao điểm lên tới 30 con. Thế là ngày nào tôi cũng phải vào nhặt và điện thoại báo với ông chủ sau đó mang toàn bộ đi chôn.
Còn nhớ giữa tháng 11/2012, khi ông Nguyễn Văn Nhạc, Chủ tịch Hội Nông dân phường Vinh Tân dẫn tôi đến xem mô hình này, ông Đệ đã “nổ” như pháo. Rằng bản hợp đồng ký tay đôi giữa ông và ông Đoàn Việt Châu sẽ thu hút 327 lao động quanh vùng. Với mức bình quân mỗi lao động nuôi 10 con thì riêng quy mô của hợp đồng này ông Đoàn Việt Châu có nghĩa vụ phải cung cấp cho ông xấp xỉ 3.300 đôi chồn giống.
Ông Thái Doãn Đệ sẽ thay mặt ông Đoàn Việt Châu bao thầu việc cung cấp con giống cho các hộ tham gia mô hình và mua lại đàn chồn con cho ông Đoàn Việt Châu... Vào thời điểm đó, trang trại của ông Thái Doãn Đệ mới được ông Đoàn Việt Châu cung cấp cho 500 đôi (với giá 4 triệu đồng/đôi) và ông Đệ đã trả cho ông Châu 800 triệu đồng và hai bên đang cam kết đến cuối năm 2012 sẽ cung cấp đủ 1.000 đôi (ông Đệ được nợ ½ và trừ lùi vào các lứa chồn con tiếp theo).
Lúc đó, tôi đã cảnh báo ông Đệ rằng đây là một mô hình kinh doanh đa cấp, người nuôi cần phải cảnh giác kẻo khi ông Đoàn Việt Châu dừng mua thì những người tham gia mô hình sẽ lâm vào cảnh tiền mất tật mang, không hoàn vốn được, đàn chồn không biết tiêu thụ ra sao. Ông Đệ cười, cho rằng không bao giờ có tình huống đó xảy ra. Và nếu có ông sẽ thu mua lại của dân với giá thị trường rồi mở một nhà hàng đặc sản cho mọi người cùng thưởng thức. Biết đâu lãi còn lớn hơn (!?).
Thế nhưng, sau đó một thời gian hình như ông Đệ cũng nhận ra bản chất “canh bạc” này nên đã kịp dừng lại. Bản thân người dân xứ Nghệ mặc dù rất “máu” làm giàu nhưng việc bỏ ra bình quân 80 đến 100 triệu đồng (để mua con giống và chuồng nuôi) không phải ai cũng làm được khiến mô hình không được nhân rộng thêm. Bởi thế, vai trò làm “tổng đại lý” cho ông Đoàn Việt Châu tại Nghệ An của ông Thái Doãn Đệ cơ bản thất bại.
Chị Trần Thị Hà cho biết thêm: Đàn chồn nhung giống ban đầu cộng với gần 500 con chồn con do chúng đẻ ra mấy lứa liền đã chết dần chết mòn cả chồn bố mẹ lẫn chồn con giờ chỉ còn lại chừng đó nữa thôi (khoảng vài trăm con). Hàng ngày tôi vẫn phải chăm sóc, quét dọn chuồng trại và cắt cỏ cho chúng ăn với mức lương 3 triệu đồng/tháng. Đàn chồn do ăn uống, chăm sóc kém nên chẳng thấy đẻ nữa, mặc dù chồn cái và chồn đực vẫn được nuôi nhốt chung với nhau như mọi khi. (Nông Nghiệp VN 9/4)đầu trang(
Hàng loạt các hộ dân ở xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên đã ngang nhiên xây dựng nhà kiên cố trên đất lâm nghiệp mà không có sự nhắc nhở nào từ phía chính quyền địa phương.
Chỉ đến khi có tố cáo, UBND xã Ngọc Thanh mới “ngã ngửa” ra, nhưng vẫn ngó lơ, mặc cho người dân vượt luật.
Anh Vũ Văn Thành, một người dân ở đây cho biết: Suốt thời gian qua, hàng loạt các hộ dân ở đây ngang nhiên xây dựng nhà trái phép mà chẳng có ai xử lý. Điển hình như hộ bà Lưu Thị Mai, con gái ông Lưu Văn Tư, là bí thư chi bộ thôn Ngọc Quang; hộ Lâm Văn Thành còn táo tợn hơn, xây cả căn nhà hai tầng kiên cố, hay hộ Trần Văn Tình, Nguyễn Văn Hải cùng trú ở thôn Đồng Đầm ngang nhiên chiếm đất, đóng cọc để chăn nuôi với diện tích lên đến cả ngàn m2 mà không có ai nhắc nhở, cấm đoán.
Qua điều tra, được biết: hầu hết cá khu vực bị lấn chiếm tại đây đều là đất nằm trong dự án của Công ty Sân gôn Ngôi sao Đại Lải. Các khu đất này đều đã được UBND Tỉnh ra quyết định giao đất để đầu tư vào sân gôn, hòng biến cả một vùng sỏi đá khôn cằn toàn trồng bạch đàn, keo, thông chuyển sang kinh doanh du lịch, dịch vụ, mang lại doanh thu cho địa phương.
Tuy nhiên, trong quá trình đầu tư, tiến hành triển khai dự án, doanh nghiệp chưa kịp rào lại các khu đất đã được cắm cho mình thì một số hộ dân “tranh tối, tranh sáng” đã xà xẻo, chiếm đất. Khi được hỏi về giấy tờ cũng như giấy phép xây dựng các căn nhà kiên cố này, các hộ dân đều không chứng minh được tính hợp pháp. Bất bình trước việc đất được giao mà bị các hộ dân ngang nhiên chiếm đoạt trái phép, phía Công ty sân gôn Đại Lải đã liên tục làm công văn gửi tới UBND xã Ngọc Thanh, UBND thị xã Phúc Yên đề nghị can thiệp. Tuy nhiên có một thực tế là các căn nhà và các khu đất vẫn ngang nhiên tồn tại.
Năm 2003, trước lời gọi mời đầu tư của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, hàng loạt các doanh nghiệp đã ồ ạt đổ vào Vĩnh Phúc là dự án với hy vọng là một môi trường được đánh giá cao. Công ty Sân gôn Đại Lải cũng vậy, đầu tư vào đây với mục đích kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho địa phương. Sau khi được sự chấp thuận đầu tư của UBND tỉnh Vĩnh Phúc với giấy chứng nhận đầu tư cho phép thu hồi gần 300 ha đất lâm nghiệp làm dự án sân gôn.
Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, dự án sân gôn mới thu hồi được khoảng 170 ha, vẫn còn khoảng 120 ha đất chưa được GPMB. Trong đó có khoảng 60 ha là của Trung tâm nghiên cứu Đông Bắc Bộ, còn lại là của người dân thuộc hai thôn là Ngọc Quang và Đồng Dè với khoảng 80 hộ dân sinh sống. Lý do các hộ dân này chây ì không chịu chuyển đi là do họ “chê” đơn giá đền bù quá thấp, chưa thỏa mãn. Bởi vậy các hộ kiên quyết không chịu di dời.
Để phục vụ cho dự án, phía UBND thị xã Phúc Yên đã cho triển khai một dự án tái định cư để nhằm di dân ra đây, tuy nhiên một số hộ dân “cứng đầu” không chịu di chuyển. Bởi vậy mới có chuyện bi hài ở đây, cả khu đất rộng mênh mông, phục vụ cho tái định cư, nay thành bãi chăn thả trâu bò.
Ông Lê Văn Lãng, Phó chủ tịch UBND thị xã Phúc Yên cho biết: việc người dân xây nhà là hoàn toàn có thật. Hầu hết các hộ đều xây nhà không phép, gây bức xúc xã hội. Hiện UBND Thị xã Phúc Yên đã yêu cầu UBND xã Ngọc Thanh kiên quyết xử lý các hộ dân và báo cáo lên UBND thị xã Phúc Yên ngay trong tháng 4 này. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này. (Dân Trí 9/4)đầu trang(
Phó Chủ tịch tỉnh Nguyễn Hữu Hải vừa có các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các cá nhân A Mê, A Ngọc, A Đroa (trú tại xã Măng Cành, huyện Kon Plông) có hành vi phá rừng sản xuất trên lâm phần do UBND xã Măng Cành quản lý.
Đồng thời, quyết định xử phạt ông A Thom và bà Y Nhêl (trú thị trấn Đăk Glei, huyện Đăk Glei) có hành vi phá rừng sản xuất trên lâm phần do lâm trường Đăk Pô Kô thuộc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei quản lý.
Ở vụ việc này, tổng cộng diện tích bị phá lên tới hơn 20.000m2. Tỉnh đã xử phạt mỗi người 40 triệu đồng và buộc phải trồng lại rừng trên diện tích đã bị phá.
Thời gian qua, Kon Tum là một trong những địa bàn nóng về chuyện phá rừng làm nương rẫy. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/4; Quân Đội Nhân Dân 9/4) đầu trang(
UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, UBND tỉnh vừa có văn bản cho phép Công ty TNHH thương mại và sản xuất Lộc Phát (xã Phú Lộc, huyện Krông Năng) tiếp tục thực hiện dự án trồng rừng tại tiểu khu 106, xã Ea Hiao, huyện Ea H'leo và không phải chặt bỏ 48,178ha càphê đã trồng trái phép trên đất rừng.
Theo UBND tỉnh, Cty Lộc Phát tự ý trồng càphê trên đất được thuê để trồng rừng là sai quy định, nhưng nếu buộc chặt bỏ toàn bộ diện tích càphê này sẽ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp. (Lao Động 9/4)đầu trang(
Chiều qua, Công an và Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Trị tổ chức buổi báo cáo kết quả điều tra, khám phá vụ án “giết người; cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, xảy ra ngày 23.3 tại khu vực biên giới Việt - Lào.
Ngoài những thông tin về 3 bị can: Hồ Văn Công, Hồ Văn Thành, Hồ Văn Nguyên (tên Lào là La Khon - đều đã bị bắt và bị khởi tố) và về diễn biến vụ án mà Thanh Niên đã thông tin, đại tá Trần Đức Việt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Phó giám đốc Công an tỉnh Quảng Trị, đã nhắc đến một người liên quan là Hồ Văn Dực - anh trai của Nguyên (cùng trú bản Ta Poong, H.Sepon, Lào).
Theo thông tin ban đầu, ngày 21/3, do Công, Thành, Nguyên nói đi vào rừng bắt rùa nên Dực dẫn 2 con chó xin đi theo. Trên đường đi, nghe cả 3 nói lại việc đi vào rừng để cướp thì Dực cũng đồng ý tham gia. Tuy nhiên, trưa 22.3, khi nhóm Công, Thành, Nguyên nghe tiếng người, áp sát và trói 3 anh Nguyễn Thanh Liêm, Hoàng Lê Dũng, Trần Minh Tuấn (cùng trú H.Quảng Trạch, Quảng Bình) bằng dây phanh, cướp 1 điện thoại thì Dực ở ngoài giữ đồ. Sau khi nhóm anh Liêm chạy thoát do dây phanh tuột ra, nhóm Công, Thành, Nguyên lục lọi lán của nhóm anh Liêm rồi quay lại tìm Dực nhưng không thấy, nên ngủ lại tại lán của nhóm anh Liêm đến trưa 23.3 thì gặp nhóm thợ rừng xấu số.
Cũng theo đại tá Việt, hiện còn nhiều nhiệm vụ trọng tâm cần giải quyết trong vụ án này trong thời gian tới, đặc biệt là việc củng cố thủ tục tố tụng đúng pháp luật VN và hiệp định tương trợ tư pháp với nước bạn Lào; khai quật, giám định tử thi; đấu tranh với các bị can, sớm đưa tội phạm ra truy tố trước pháp luật...
Tại buổi họp, ông Nguyễn Đức Cường, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, đã biểu dương, chúc mừng thành công bước đầu của ban chuyên án; đồng thời thay mặt UBND tỉnh tặng thưởng cho ban chuyên án 50 triệu đồng. (Thanh Niên 10/4)đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết: Trong quý I năm 2013, lực lượng kiểm lâm cùng chính quyền địa phương và cơ quan chức năng các cấp của tỉnh đã phát hiện 165 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 42 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó: Phá rừng trái pháp luật 40 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 45 vụ; mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của Nhà nước 58 vụ; khai thác lâm sản trái pháp luật 9 vụ; vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng 5 vụ; vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng 3 vụ; vi phạm thủ tục hành chính 5 vụ.
Cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý hành chính 151 vụ, khởi tố vụ án 1 vụ, đồng thời thu giữ trên 538m3 gỗ các loại. (Thanh Tra 9/4)đầu trang(
Tính đến chiều 8.4, tại lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc đã có hơn 32.000 cây sao và cây dầu trồng từ năm thứ 2 đến năm thứ 5 bị chết khô.
Ngoài ra, khoảng 6,5ha cây keo cũng bị chết khô hoàn toàn. Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc - ông Hoàng Đình Long cho biết: Hàng chục ngàn cây rừng trồng bị chết khô do năm nay nắng nóng kéo dài. Để hạn chế thiệt hại, Ban Quản lý đã tận dụng toàn bộ phương tiện và lực lượng hiện có để cứu cây.
Cụ thể như tận dụng hết các máy hút, máy bơm, xe bồn kéo nước... để tưới cây. Tuy nhiên, tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng đang xảy ra nên dù nỗ lực cũng chỉ cứu được khoảng 4.000 cây sao và cây dầu... (Nông Thôn Ngày Nay 9/4)đầu trang(
Tình trạng khai thác thiếc trái phép đã và đang tàn phá rừng đầu nguồn ở H.Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước sinh hoạt của hàng ngàn hộ dân.
Khai thác thiếc lậu xuất hiện tại huyện miền núi Khánh Vĩnh từ hai năm nay, tập trung chủ yếu ở các xã Khánh Phú, Khánh Thành. Có thời điểm, những khu rừng đầu nguồn Khánh Vĩnh có đến hàng ngàn người khắp mọi miền đổ về khai thác thiếc, tàn phá rừng không thương tiếc. Việc ồ ạt khai thác thiếc không chỉ khiến rừng phòng hộ đầu nguồn “hấp hối”, mà còn đang “giết” luôn những dòng suối trực tiếp đưa nước về xuôi - nguồn nước sinh hoạt của hàng ngàn hộ dân Khánh Vĩnh.
Ông Đỗ Quốc Bình, Chủ tịch UBND thị trấn Khánh Vĩnh, lo lắng: “Hơn 1.000 hộ dân nơi đây đều dựa vào nguồn nước từ các con suối chảy qua trên địa bàn. Hiện nay, dù nước lấy từ suối đã qua hệ thống lọc, nhưng vẫn rất nhiều tạp chất, đục ngầu vì các nhà máy nước không thể lọc sạch nguồn nước quá đục. Vì thế, từ nhiều tháng qua người dân thị trấn chủ yếu mua nước đóng chai để uống, rất tốn kém. Chúng tôi lo lắng tình hình này kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống nhân dân”.
Trước thực trạng trên, tỉnh Khánh Hòa đã chi trên 2,3 tỉ đồng hỗ trợ các lực lượng chức năng tổ chức truy quét, xử lý những nhóm khai thác thiếc lậu. Tuy nhiên, theo ông Trần Hòa Nam, Chủ tịch UBND H.Khánh Vĩnh, đến đầu tháng 4.2013 tình hình khai thác thiếc lậu trên địa bàn huyện vẫn còn căng thẳng, do lợi nhuận từ khai thác thiếc lậu quá cao nên “thiếc tặc” vẫn lộng hành, đồng thời địa bàn rừng núi rộng nên công tác ngăn chặn khai thác thiếc trái phép rất khó khăn.
Trong thời gian tới, UBND H.Khánh Vĩnh chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương tiếp tục tổ chức lực lượng truy quét, quyết liệt ngăn chặn tình trạng này, nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn… (Thanh Niên 10/4)đầu trang(
Vừa qua, dư luận vô cùng bức xúc trước vụ việc ông Lưu Minh Thành, giám đốc vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tự ý mang 11 sổ đỏ của di sản thế giới này đi cầm cố để "chạy" dự án.
Tại báo cáo gửi UBND tỉnh Quảng Bình ngày 29/3/2013, ông Lưu Minh Thành trình bày, đầu năm 2010, dự án 661 kết thúc đầu tư cho chương trình bảo vệ và trồng mới 5 triệu ha rừng.
Tại thời điểm đó, vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang gặp khó khăn về công tác quản lý, bảo vệ rừng. Có nguy cơ không có nguồn vốn để trả công cho lực lượng lao động và gần 100 người dân đang hợp đồng bảo vệ rừng.
Đầu tháng 4/2011, bà Trần Thị Trường với tư cách là Giám đốc Công ty TNHH phát triển hạ tầng lâm nghiệp Việt Nam (địa chỉ thường trú tại số 20 đường Thuận Lý, Tiểu khu 4, phường Nam Lý, TP. Đồng Hới, Quảng Bình) và ông Dương Văn Thùy, Giám đốc Công ty Lâm Trạch (tại 137 đường Trần Hưng Đạo, TP. Đồng Hới) đến liên hệ và hứa sẽ giúp Vườn tìm kiếm nguồn vốn với mức đầu tư 25 - 30 triệu đồng/ha.
Hai người này ra điều kiện phải cho họ mượn sổ đỏ của vườn Quốc gia để chứng minh với nhà tài trợ, trong vòng 60 ngày sẽ hoàn trả. Ông Thành trình bày: "Do quá tin tưởng vào người địa phương và có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp nên ngày 19/4/2011 tôi đã giao toàn bộ 11 bìa sổ đỏ cho bà Trần Thị Trường và ông Dương Văn Thùy (sau khi giao sổ đỏ, tôi có báo cáo lại với các đồng chí trong Ban quản lý biết).
Quá thời hạn 60 ngày theo thỏa thuận, tôi đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu bà Trường, ông Thùy hoàn trả hồ sơ, nhưng tôi chỉ nhận được những lời hứa sẽ trả, kể cả họ viết giấy cam kết cuối tháng 3/2013 là hạn chót sẽ trả lại hồ sơ lại cho vườn.
Đặc biệt, giấy giao nhận hồ sơ (sổ đỏ của di sản thiên nhiên thế giới) cũng rất sơ sài. Nội dung giấy giao nhận, bà Trường không hề ghi chức vụ, và cả hai bên đều không đóng dấu của cơ quan.
Giải thích điều này, ông Thành nói: "Họ là người con em Quảng Bình, có nhà cửa đàng hoàng, với lại họ không đòi chi phí ban đầu nên không có chuyện lừa đảo đâu". "Tôi thấy có lỗi với lãnh đạo tỉnh trong quản lý hồ sơ, giấy tờ của đơn vị còn sơ hở, để cho kẻ xấu lợi dụng - Ông Lưu Minh Thành nói.
Tuy vậy, đến thời điểm này, sau 2 năm cầm cố 11 sổ đỏ của vườn Quốc gia để "chạy" dự án, ông Thành cho biết, vườn vẫn chưa nhận được một đồng nào từ phía đối tác...
Ngày 4/4, liên quan đến vụ 11 sổ đỏ của vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bị mang đi cầm cố để "chạy" dự án, trao đổi với PV của một tờ báo, ông Nguyễn Hữu Hoài, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình khẳng định: "Dù có mang được sổ đỏ về thì ông Lưu Minh Thành, Giám đốc vườn Quốc gia cũng sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật.
Ông Hoài cho biết, ngày 3/4, ông Lưu Minh Thành đã mang 11 sổ đỏ của vườn Quốc gia về UBND tỉnh báo cáo. Theo đó, ông Thành cho rằng, mình đã thu hồi đầy đủ 11 sổ đỏ về cho vườn Quốc gia theo yêu cầu của lãnh đạo tỉnh.
Tuy nhiên, ông Hoài cũng không khẳng định đó là 11 sổ đỏ thật hay giả, vì đã bị thất lạc quá lâu nên cần có sự giám định của cơ quan chức năng, mà trước hết là sở Tài nguyên&Môi trường.
Trong khi đó, tại văn bản báo cáo của ông Lưu Minh Thành lên UBND tỉnh, ông Thành thừa nhận toàn bộ hành vi sai trái của mình và thành khẩn nhận lỗi: "Tôi thấy có lỗi với lãnh đạo tỉnh trong quản lý hồ sơ, giấy tờ của đơn vị còn sơ hở, để cho kẻ xấu lợi dụng. Kính báo cáo UBND tỉnh và xin kính đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan điều tra công an tỉnh, điều tra thu hồi lại sổ đỏ cho vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng".
Theo ông Trương An Ninh, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình, hành vi của ông Thành là trái nguyên tắc quản lý Nhà nước khi giao sổ đỏ cho người khác mà không hỏi ý kiến UBND tỉnh Quảng Bình.
Ông Hoài khẳng định: Hành vi của ông Thành cần được xử lý, kiểm điểm. Tuy nhiên, ông Thành là cán bộ thuộc Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nên Tỉnh ủy sẽ xem xét xử lý trước về mặt đảng, sau đó chính quyền sẽ thực hiện các bước tiếp theo.
Chuyên mục “Thử tài tranh tụng” nêu ra vụ việc trên đây để bạn đọc cùng trao đổi. Với hành vi cầm cố sổ đỏ di sản thiên nhiên ông Thành có vi phạm pháp luật không?
Trên số báo này, báo Người đưa tin giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hiếu (Hà Nội) nêu quan điểm, muốn truy cứu trách nhiệm đối với ông Thành, cơ quan chức năng cần phải làm rõ một số vấn đề.
Hiện nay dư luận đang quan tâm vụ việc Giám đốc vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng giao sổ đỏ di sản văn hóa cho một cá nhân không liên quan. Xung quanh vấn đề này còn nhiều điều uẩn khúc, cơ quan chức năng cần nhanh chóng giám định số sổ đỏ được coi là đã bị cầm cố.
Để quy trách nhiệm với các cá nhân, pháp nhân có liên quan cần phải làm rõ các vấn đề: Mục đích chính xác của việc cầm cố sổ đỏ? Những người có liên quan như ông Thành, bà Trường đã làm gì với những sổ đỏ đó trong suốt thời gian qua (từ tháng 4/2011). Bà Trường là nhân vật như thế nào mà có thể "chạy" được dự án? Lợi ích của các cá nhân và hậu quả của việc cầm cố trái phép số sổ đỏ của di sản?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Di sản văn hóa quy định các điều cấm trong đó cấm lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện những hành vi trái pháp luật. Trước đó, UBND Quảng Bình đã có sự cảnh báo đối với hành vi lừa đảo liên quan đến hoạt động cầm cố sổ đỏ với các hộ trồng rừng tỉnh này. Việc ông Thành tự ý mang sổ đỏ giao cho cá nhân không liên quan chiếm hữu trong thời gian dài trước hết là vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ di sản.
Hơn ai hết, ông Thành phải nêu rõ quy định nào cho phép cá nhân ông có thể mang sổ đỏ giao cho người không có liên quan chiếm hữu? Ông đã có báo cáo với tập thể lãnh đạo khu di sản này chưa? Quy định nào làm căn cứ cho việc muốn thu hút đầu tư vào di sản này cần phải xuất trình sổ đỏ như ông Thành nói? Bà Trường có tư cách gì để được ông Thành trao sổ?
Nếu xác định động cơ mục đích của việc giao sổ đỏ trên để nhằm trục lợi cá nhân, xác định được hậu quả nghiêm trọng của việc này thì cần xem xét trách nhiệm của ông Thành trong quan hệ pháp luật nghiêm trọng hơn. BLHS đã có quy định đối với các trường hợp cố tình vi phạm các quy định về quản lí di tích, danh lam thắng cảnh dẫn đến hậu quả nghiêm trọng tại Điều 272.
Theo đó, người nào vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm; Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Như vậy, để xem xét trách nhiệm pháp lý với ông Thành ở mức độ nào: Kỷ luật của cơ quan, trách nhiệm hành chính hay hình sự cần phải làm rõ những điều còn vướng mắc trên đây. (Người Đưa Tin 10/4)đầu trang(
UBND TP Hạ Long vừa yêu cầu UBND các phường và các phòng, ban, đơn vị có liên quan tổ chức tuyên truyền, khuyến cáo cho nhân dân phòng ngừa các phương thức, thủ đoạn của một số tổ chức, cá nhân với danh nghĩa các cơ quan nhà nước để lập dự án xin hỗ trợ trồng rừng nhằm mục đích lừa đảo.
Theo khuyến cáo của Bộ NN&PTNT, thời gian qua, một số tổ chức, công ty và cá nhân tự giới thiệu là người của Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ NN&PTNT… tổ chức giới thiệu môi giới cho các doanh nghiệp và cá nhân thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp để lập dự án xin hỗ trợ vốn trồng rừng nhằm mục đích lừa đảo.
Để ngăn chặn hành vi lừa đảo trên, ngày 8-3-2013, UBND tỉnh đã có văn bản số 1045, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương phòng ngừa các hành vi lừa đảo, kịp thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật. (Báo Quảng Ninh 10/4)đầu trang(
Hơn 20ha rừng (rừng tái sinh) đã bị chặt hạ tại rừng phòng hộ đầu nguồn Khuổi Khe thuộc thôn Khuổi Ít, xã Kim Lư, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có diện tích gần 1.700ha trên tổng số hơn 2.000ha rừng phòng hộ của xã Kim Lư.
Từ năm 2006 đến năm 2009, huyện Na Rì đã được phê duyệt và tiến hành xây dựng hồ Khuổi Khe. Sau khi hồ được xây dựng xong, việc đi lại từ đầu hồ đến cuối hồ vất vả hơn vì người dân phải đi bằng mảng hoặc bằng xuồng. Lợi dụng việc này, một số lô, khoảnh rừng ở phần gần cuối hồ đã bị các hộ dân của thôn Khuổi Ít và ở nơi khác đến khai thác trồng cây thạch đen và chè.
Nhân dân trong xã lo ngại việc phá rừng sẽ dẫn đến nguy cơ thiếu nước vì đây là rừng phòng hộ đầu nguồn, có ý nghĩa về môi trường sinh thái quan trọng không chỉ riêng với xã Kim Lư mà toàn huyện Na Rì.
Ông Hoàng Minh Giáp – phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Kim Lư cho biết, sau khi phát hiện số rừng phòng hộ đầu nguồn Khuổi Khe bị chặt phá, chính quyền địa phương đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể trong xã xuống thôn Khuổi Ít tuyên truyền, vận động các hộ gia đình ký cam kết không chặt phá rừng tại Khuổi Khe.
Đến tháng 10/2012 qua kiểm tra hiện trường, chính quyền địa phương lại phát hiện tình trạng chặt phá rừng tái diễn, chia làm nhiều đám, nhiều điểm, mỗi điểm khoảng 300-500m2.
Sau nhiều nỗ lực của chính quyền địa phương nhưng không có hiệu quả, ngày 17/10/2012, Ủy ban Nhân dân xã Kim Lư đã có công văn báo cáo Ủy ban Nhân dân huyện, đề nghị các cơ quan, ban, ngành chức năng của huyện giúp địa phương giải quyết dứt điểm tình trạng này.
Ngay sau đó, ngày 18/10/2012, Ủy ban Nhân dân huyện Na Rì đã có công văn yêu cầu Ủy ban Nhân dân xã Kim Lư tăng cường các biện pháp kiểm tra, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng phòng hộ, tiếp tục tổ chức họp dân để tuyên truyền, nghiêm túc kiểm điểm Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Khuổi Ít và các cá nhân liên quan; giao Công an huyện và Hạt Kiểm lâm khẩn trương phối hợp với Ủy ban Nhân dân xã Kim Lư xác minh các đối tượng trực tiếp tham gia chặt phá rừng phòng hộ, đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật…
Đến cuối tháng 2/2013, Ủy ban Nhân dân xã Kim Lư tiếp tục có văn bản gửi đến Thường trực Ủy ban Nhân dân huyện Na Rì với nội dung việc phá rừng chỉ tạm dừng, khi gần Tết Nguyên đán, tình trạng trên lại xuất hiện.
Từ thực tế việc tuyên truyền, vận động chưa thực sự đem lại hiệu quả, việc hỗ trợ kinh phí cho việc tuần tra gặp nhiều khó khăn… chính quyền địa phương mong muốn Ủy ban Nhân dân huyện Na Rì và ngành chức năng có biện pháp để giải quyết dứt điểm tình trạng trên. (TTXVN 9/4)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Rừng ở xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước bị chặt phá để lấy đất trồng keo. (Nhân Dân 10/4)đầu trang(
Từ những con đường dẫn vào thôn xóm, hai bên chất đầy gỗ lậu, trong nhà người dân gỗ nhiều không đếm xuể. Đó là thực tế tồn tại ở nhiều ngôi làng trên địa bàn huyện Đô Lương (Nghệ An). Để rồi những ngôi làng ấy được gắn với tên “làng buôn gỗ lậu”.
Trong vai những người đi buôn gỗ, PV đã có dịp mục sở thị nhiều ngôi làng với bạt ngàn gỗ lậu tại huyện Đô Lương (Nghệ An). Mặc dù là huyện thuộc khu vực đồng bằng, không có rừng nguyên sinh đặc dụng, nhưng tại địa bàn một số xã ở đây tồn tại thực trạng gỗ lậu đủ các loại quy hiếm từ nhóm 1 tới nhóm 8 như: Sến, Táu, Trai, Lim, Săng Lẻ, Bộp,…được tập kết, bày bán công khai. Vì sao có thể khẳng định tất cả đều là gỗ lậu? bởi tất cả đều không có dấu búa Kiểm lâm chứng thực, không có giấy tờ theo quy định.
Về xã Đặng Sơn (Đô Lương), PV tìm đường về một thôn nằm ven sông Lam. Đặt chân về tới đầu địa bàn xã, chỉ cần hỏi người dân mua gỗ ở đâu thì được chỉ đường về thôn 1. Lâu nay không chỉ người dân trong xã mà cả người dân các xã khu vực lân cận cũng đã từng từng được kể về ngôi làng buôn gỗ lậu chính vì thế khách tìm đến mua gỗ gán cho cái tên “Làng buôn gỗ lậu”.
Men theo con đường nhỏ vào ngôi làng, dọc hai bên đường PV ghi nhận được cảnh tượng gỗ bạt ngàn. Gỗ được chồng chất thành từng đống lớn nhỏ nhiều vô kể. Trong nhà người dân, nhà nào cũng có gỗ, gỗ được chất từng đống lớn, chật kín, bao quanh nhà. Mặc dù việc mua bán gỗ diễn ra khá nhiều với số lượng lớn, tuy nhiên gỗ ở ngôi làng này dường như chẳng bao giờ hết. Bởi cứ sau một chuyến ngược miền núi vài ngày thì gỗ lại được tuồn về nhiều vô kể với đủ các chủng loại theo nhu cầu.
Nằm sát bên cạnh xã Đặng Sơn, là xã Bắc Sơn, xã Bắc Sơn cũng tồn tại những ngôi làng buôn gỗ lậu bao đời nay, chẳng thua gì so với xã Đặng Sơn. Điển hình tại thôn 6, gỗ lậu cũng ngập đường làng, ngõ xóm. Song song với những đống gỗ lậu đó là những xưởng cưa mọc lên nhan nhản để thực hiện việc xẻ gỗ, gia công thô rồi chuyển đi các địa phương để bán. Tính sơ qua dọc ven sông Lam tại khu vực nói trên chúng tôi ghi nhận được có tới gần 10 xưởng cưa máy loại lớn.
Những ngôi làng nằm dọc ven bờ sông Lam tại huyện Đô Lương (Nghệ An), lâu nay thay vì công việc nhà nông, nhiều người dân trở thành những chủ đầu nậu gỗ lậu, những ngôi làng bỗng nhiên trờ thành những bãi tập kết gỗ lậu quy mô lớn. (Pháp Luật&Xã Hội 8/4)đầu trang(
Từ những ngôi làng buôn gỗ lậu, lộ rõ một cung đường gỗ lậu lớn lâu nay vẫn ngầm diễn ra. Rừng tại nhiều nơi trên địa bàn miền tây xứ Nghệ bị xẻ thịt nghiêm trọng. Gỗ rừng vẫn được các đầu nậu tuồn về miền xuôi ồ ạt…
Trò chuyện với một chủ đầu nậu lâu năm ngược xuôi dòng sông Lam với hàng trăm chuyến bè chờ đầy gỗ lậu, trú tại xóm 1, xã Đặng Sơn, anh ta cho biết: “ Toàn bộ gỗ được thu gom từ nhiều mối hàng tại các huyện miền tây Nghệ An về như Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn. Vì đường bộ nó (Kiểm lâm – PV) làm gắt quá nên đành phải chạy bằng đường sông. Dạo này gỗ cũng ít đi đấy, ngày trước thì tha hồ mà chọn, vì một số nơi bị ngăn dòng để xây dựng thủy điện, cái nữa nó làm luật cao quá lời lãi chẳng được mấy nên cũng ngại đi,…”.
Mang theo những gì đã ghi nhận được, cũng như sự băn khoản về sự việc PV đã gõ cửa từng cơ quan có trách nhiệm để tìm hiểu rõ hơn về sự việc này. Tuy nhiên, cũng chỉ nhận được sự đùn đẩy trách nhiệm và những lời nói trong công tác quản lý kiểu chung chung rằng “vì lực lượng quá mỏng”.
Trước hết về địa bàn quản lý tại huyện Đô Lương thì do lực lượng Hạt Kiểm lâm huyện đảm nhiệm, chuyên trách. Có thể khẳng định việc quản lý đã có những “lỗ hổng”, khi mà những năm qua mặc dù trên địa bàn huyện có tồn tại những ngôi làng gỗ lậu quy mô lớn, gỗ lậu được tập kết, vận chuyển, chế biến và bày bán công khai, trắng trợn, nhưng vẫn không được xử lý dứt điểm, không có sự vào cuộc bài trừ quyết liệt.
“ Việc này chúng tôi cũng đã biết, cũng đã nhiều lần cùng với các đơn vị liên quan thực hiện việc truy quét, xử lý. Tuy nhiên vẫn không thể kiểm soát hết. Lực lượng quá ít, chúng tôi không thể bố trí người chuyên trách kiểm soát tại các địa bàn đấy được.”. – Ông Nguyễn Hữu Thắng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đô Lương bày tỏ.
Nói như vậy không có nghĩa là phía Hạt Kiểm lâm “phủi” trách nhiệm quản lý về sự việc nêu trên, phía Hạt vẫn nhìn nhận đúng trách nhiệm quản lý địa bàn, tuy nhiên “lực bất tòng tâm”.
Còn UBND huyện Đô Lương, sau khi trao đổi nội dung cụ thể với phóng viên báo PLXH, ông Ngọc – Phó chủ tịch huyện, nói: “UBND huyện xin tiếp nhận thông tin phản ánh của các đồng chí, sẽ thực hiện việc phối kết hợp kiểm tra và xử lý.”. Một sự việc dường như đã trở thành một vấn nạn nhức nhối bấy lâu nay đã và đang diễn ra trên địa bàn huyện, sau hàng loạt câu hỏi, PV cũng chỉ nhận được sự trả lời “ngắn gọn, súc tích” như thế từ UB huyện Đô Lương. Công tác quản lý phải chăng đã và đang hết sức bị buông lỏng, về điều này chúng tôi xin nhường lại sự suy ngẫm cho độc giả cũng như các cơ quan liên quan.
Về trách nhiệm quản lý tuyến đường trên sông Lam, được biết, phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An đã giao cho Đội Kiểm lâm cơ động số 1 trực tiếp quản lý, kiểm soát.
Việc gỗ lậu vẫn được các chủ đầu nậu tuồn về xuôi bằng đường sông như vậy liệu Đội kiểm lâm cơ động số 1 có biết? trách nhiệm của họ trong công tác nêu trên được bày tỏ thế nào? Rừng miền tây xứ Nghệ bị tàn phá ra sao?.. (Pháp Luật&Xã Hội 10/4) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Diễn đàn quốc tế lần thứ 10 của Liên hợp quốc về rừng (UNFF-10) đã khai mạc ngày 8/4 tại thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ.
Diễn đàn thu hút sự tham gia của đại diện nhiều quốc gia thành viên Liên hợp quốc, các chuyên gia nổi tiếng thế giới về rừng và kinh tế rừng, nhằm thảo luận các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng, cũng như việc sử dụng có hiệu quả nhất những lợi ích từ rừng.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Ngô Hồng Ba, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách về kinh tế và xã hội, đã bày tỏ quan ngại trước thực tế diện tích rừng trên Trái Đất tiếp tục bị thu hẹp để lấy đất phục vụ sản xuất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác.
Ngoài ra, rừng còn tiếp tục bị khai thác bừa bãi, không có kế hoạch, và những điều đó đã đã tác động rất xấu đến môi trường, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội không chỉ ở một quốc gia hay một khu vực riêng biệt, mà nó đã mang tính toàn cầu.
Vì thế, theo ông Ngô Hồng Ba, để giải quyết những vấn đề trên, cần có những chính sách và những thỏa thuận không chỉ ở từng quốc gia riêng biệt, mà phải ở cấp khu vực và toàn cầu, nơi đưa ra những chính sách chung để bảo vệ, phát triển rừng và khai thác tài nguyên thiên nhiên rừng một cách có lợi nhất trên mọi khía cạnh.
Nhân dịp này, Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) cũng công bố báo cáo, đánh giá cao những giá trị to lớn của rừng, một báu vật do thiên nhiên ban tặng, nơi mỗi năm mang lại khoảng 468 tỷ USD cho con người và liên quan tới cuộc sống của 1,6 tỷ người trên thế giới.
Với tổng diện tích khoảng 4 tỷ hécta, rừng đang che phủ 31% bề mặt Trái Đất, nếu được bảo vệ, phát triển hợp lý, rừng luôn là nguồn cung cấp vô tận về nước, năng lượng, gỗ,v.v... cho con người, và có những đóng góp to lớn vào việc bảo vệ môi trường sống, góp phần ngăn chặn những thảm họa thiên nhiên, như bão gió, lũ lụt,v.v....
UNFF được Liên hợp quốc thành lập năm 2000 với chức năng hỗ trợ các hoạt động của FAO, và diễn đàn lần này sẽ kéo dài tới 19/4 tới. (VietnamPlus.vn 9/4)đầu trang(
Giới chức phụ trách động vật hoang dã Ấn Độ ngày 8/4 tuyên bố sử dụng các máy bay không người lái (UAV) giám sát một công viên thiên nhiên ở đông bắc nước này, nhằm bảo vệ loài tê giác một sừng khỏi các tay săn bắt có vũ trang.
Các máy bay UAV này sẽ làm nhiệm vụ trên bầu trời Vườn Quốc gia Kaziranga (bang Assam) theo lịch trình thường xuyên, với quyết tâm ngăn chặn tình trạng săn bắt ngày càng tràn lan.
Các UAV được trang bị camera và có sự giám sát của các nhân viên an ninh, vốn là những người đã phải thừa nhận là khó bảo vệ chắc chắn toàn bộ khu bảo tồn rộng 480km vuông này.“Các chiến dịch thường xuyên bằng UAV sẽ bắt đầu sau khi chúng tôi nhận được sự phê chuẩn của Bộ Quốc phòng”, ông Rokybul Hussain, Bộ trưởng Lâm nghiệp và Môi trường của bang Assam, cho biết.
Các UAV cũng hữu dụng trong mùa mưa hàng năm, khi phần lớn Vườn Quốc gia Kaziranga bị ngập lụt do lũ từ sông Brahmaputra và 3 con sông khác chảy qua khu bảo tồn này.
Ông Hussain cho biết thêm, Văn phòng Điều tra Trung ương Ấn Độ sớm điều tra về sự gia tăng đột biến tình trạng săn bắt tê giác trong năm nay. Các tay săn bắt trang bị súng trường đã bắn chết 22 con tê giác hồi năm ngoái, nhưng chỉ trong hơn 3 tháng đầu năm nay, đã có 16 con bị giết.
Sừng tê giác được tìm mua với giá cao ở Trung Quốc và Đông Nam Á, nơi chúng được tin là có nhiều đặc tính y khoa.
Một cuộc khảo sát được thực hiện ở Kaziranga cách đây 2 tuần cho thấy “dân số” tê giác ở đây tăng từ 2.290 con trong năm 2012 lên 2.329 trong năm nay.
Trong những tuần gần đây, cơ quan phụ trách động vật hoang dã triển khai 300 nhân viên vũ trang để bảo vệ tê giác ở Kaziranga, nhưng lực lượng này không thể so bì với các băng nhóm săn bắt có tổ chức vốn hoạt động ngày càng thường xuyên hơn. (Phụ Nữ TPHCM 10/4) đầu trang(
Sau năm năm trì hoãn, cuối cùng chính phủ liên bang đã đề xuất để bảo vệ hơn 739 dặm của môi trường sống quan trọng cho những con rùa quản đồng (loggerhead sea turtles) bị đe dọa làm tổ trên bãi biển dọc bờ biển Đại Tây Dương và vùng Vjnh của Mỹ.
Những con rùa biển này phải đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng cho sự tồn tại lâu dài của chúng để khỏi chết đuối trong lưới đánh cá, mất các bãi làm tổ do sự phát triển ven biển và mực nước biển dâng.
Đề xuất mở rộng từ Bắc Carolina tới Mississippi và bao gồm 84% của tất cả các khu vực làm tổ được biết đến.
Việc lấy ý kiến công chúng sẽ kéo dài đến ngày 24/5/2013, với sự bảo vệ cuối cùng dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2014. (Theo Agroviet 10/4)đầu trang(
Tuần này, các nhà bảo tồn sẽ cùng gặp gỡ và thảo luận nhằm nghiên cứu những biện pháp tốt nhất cứu một số loài hoang dã khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Các nhà bảo tồn tin rằng việc tạo ra một thế hệ mới các sinh vật tổng hợp có thể ngăn chặn được các mối đe dọa. Đó là các bệnh nấm đang tàn phá quần thể ếch khắp thế giới cũng như nhiều bang ở Hoa Kỳ. Thêm vào đó, các nhà bảo tồn cũng hy vọng các sinh vật tổng hợp cũng khắc phục được tình trạng ở các đại dương chết do sự xâm lấn của các loài rong.
Kent Redford, nhà sinh học bảo tồn, người chủ trì hội thảo Sinh học và bảo tồn tổng hợp tại Cambridge cho biết: “Đây là thời điểm thích hợp để khoa học lên tiếng. Chúng ta đang đối mặt với một tương lai mất mát nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và chúng tôi cho rằng giải pháp tốt nhất phải là sử dụng tất cả các công nghệ khác nhau bao gồm cả sinh học tổng hợp”.
Sinh học tổng hợp là một công nghệ thiết kế và tạo nên các thiết bị sinh học từ các vết xước. Giáo sư Paul Freemont làm việc tại Trung tâm Sinh học tổng hợp (Đại học Hoàng gia Luân Đôn) khẳng định: “Đây là công nghệ vượt trội bằng cách thêm một hoặc hai gene lạ vào các ADN của sinh vật. Chúng ta có thể tổng hợp một tập hợp rộng rãi các ADN cho phép thiết kế hệ thống sinh học từ vết xước tương tự như các kỹ sư thiết kế và chế tạo một phần thiết bị từ các vật liệu cơ bản”.
GS Freemont cũng đề cập đến ý tưởng sử dụng các sinh vật tổng hợp để giải quyết các vấn đề do các loài rong biển thông qua việc sản xuất phân bón nitơ nhuộm đỏ từ các trang trại đến các dòng suối và các đại dương, nơi chúng kích thích các loài rong phát triển thành một tấm thảm nặng. Các loài rong này chính là nhân tố chủ đạo liên quan tới sự thiếu hụt ô xy trong nước, gây tử vong đối với cá và các loài sinh vật biển
Ông nói: “Một ý tưởng là tạo nên một loại rong tổng hợp có thể tạo ra các dạng nhiên liệu sinh học. Các loài hoa có thể sinh lợi và khai thác. Nhờ đó, nguồn nước được làm sạch nhờ tác động của nhiên liệu sinh học do rong biển tạo nên”.
Các nhà khoa học cũng khẳng định có thể tạo ra các vùng đất ngập nước nhân tạo để khắc phục các nguồn nước ô nhiễm thay thế cho việc sử dụng các quy trình xử lý công nghiệp tốn kém đều đầu tư cẩn thận. Jim Haseloff (Đại học Cambridge) phát biểu: “Chúng ta có thể làm mọi quy trình một cách tự nhiên hơn”.
Một số ý tưởng khác được đề xuất bao gồm tạo ra các sinh vật có thể bảo vệ động vật trước sự tấn công của nấm. Tại thời điểm hiện nay, có hai loại dịch bệnh từ nấm đang đe dọa các loài hoang dã. Nấm Chytrid (Batrachochytrium dendrobatidis) đã được ghi nhận khi gây bệnh trên loài ếch tại Costa Rica vào năm 1987. Giờ nó cũng tấn công hơn 2.800 loài lưỡng cư. Tương tự, hội chứng nấm mũi trắng cũng đã giết chết gần bảy triệu cá thể dơi Hoa Kỳ kể từ năm 2006. (Nhân Dân 10/4)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa