Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 05 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
5-5, Hạt Kiểm lâm Biên Hòa phối hợp với Tổ trật tự đô thị phường Tân Hòa (TP.Biên Hòa) tuần tra khu vực giáp ranh với huyện Vĩnh Cửu và phát hiện một nhóm đối tượng buôn bán động vật quý hiếm trên địa bàn phường.
Khi phát hiện lực lượng chức năng, các đối tượng đã để lại tang vật gồm nhiều động vật quý hiếm và nhanh chóng lên xe bỏ chạy. Tại hiện trường, các đối tượng bỏ lại 4 cá thể động vật, trong đó có 3 cá thể thuộc danh mục động vật quý hiếm, cần được bảo vệ cấp.
Cụ thể, lực lượng chức năng đã thu giữ 1 cá thể Cu li nhỏ nặng 0,15kg (có tên khoa học là Nyctucebus pygmaeus thuộc loài động vật quý hiếm nhóm 1B là nhóm động vật cực kỳ quý hiếm trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng) và 2 cá thể thuộc loài động vật quý hiếm nhóm 2B gồm 1 cá thể Cheo Cheo (có trọng lượng 1,7kg, có tên khoa học là Tragulusjavanicus), 1 cá thể Kỳ đà vân (trọng lượng 0,7kg, có tên khoa học là varanus nebulosus) cùng một cá thể Chồn bạc má nam thuộc danh mục động vật thông thường.
Sau khi lập biên bản thu giữ 4 cá thể động vật trên, ngay trong ngày 5-5, lực lượng Kiểm lâm Biên Hòa phối hợp với Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai tiến hành thả về môi trường rừng tự nhiên tại khoảnh 3, M6, trạm Kiểm lâm Suối Trau (thuộc địa bàn huyện Vĩnh Cửu).
Trước đó, ngày 4-5, Hạt Liểm Lâm Biên Hòa cũng đã tiếp nhận 1 cá thể Cu li nhỏ từ một người dân thuộc phường Tân Biên (TP.Biên Hòa) và tiến hành thả về môi trường rừng tự nhiên.( Báo Đồng Nai 5/5) đầu trang(
Thông qua đường dây nóng, Tòa soạn Phapluatplus.vn nhận được thông tin phản ánh của bạn đọc về tình trạng mua bán gỗ lậu tại cửa khẩu Lệ Thanh thuộc huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai được hợp thức hóa có dấu búa của kiểm lâm, ngang nhiên chở giữa thanh thiên bạch nhật, qua mặt hàng loạt cơ quan chức năng của tỉnh Gia Lai.
Để xác minh thông tin bạn đọc phản ánh, nhóm phóng viên Pháp luật Plus đã vượt hàng trăm cây số để mục sở thị tới cửa khẩu Lệ Thanh nơi được người dân nơi đây gọi là đại công trường tập kết gỗ lậu.
Trong vai người đi mua gỗ, nhóm phóng viên Phapluatplus.vn phải rất khó khăn mới có thể thâm nhập vào được bãi tập kết gỗ ở sông Sê San cách cửa khẩu Lệ Thanh không xa.
Con đường mòn dẫn vào bãi tập kết gỗ bị các xe tải cày nát với màu đất đỏ ba dan đặt trưng của Tây Nguyên.
Khi gần vào đến cửa khẩu Lệ Thanh, các bãi tập kết đều có bảng ghi tên các doanh nghiệp được cấp phép nhập khẩu, mỗi bãi gỗ có đủ loại xe phục vụ cho việc kéo, cẩu và chở gỗ đi.
Theo quan sát và ghi nhận của phóng viên, mỗi bãi gỗ có đến hàng nghìn mét khối gỗ các loại, nhưng chủ yếu là gỗ tròn, phần lớn đã được đóng dấu búa của Kiểm lâm.
Gỗ tròn có đường kính từ 40 – 120cm, dài từ 4m – 20m; gỗ hộp vuông từ 30 – 60cm, được vận chuyển cả ngày lẫn đêm về các xưởng gỗ ở Chư Prông…
Sông Sê San chỉ rộng khoảng 300m, các bãi gỗ đều nằm sát bờ sông và có bến vận chuyển gỗ.
Theo một số người dân địa phương cho biết, khi vào các bến ấy phải đi qua một chốt biên phòng, họ kiểm tra ngặt lắm, nhưng điều làm cho phóng viên khá bất ngờ là chốt vắng tanh không có một bóng người, cũng không thấy một bóng dáng kiểm lâm nào làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát gỗ như thường lệ.
Khi vào gần đến các bãi tập kết gỗ phải trả qua một quãng đường dài khó đi toàn ổ trâu ổ gà, chúng tôi đang dừng xe nghỉ ngơi thì có mấy thanh niên đến hỏi: Các anh mua gỗ gì thì bọn em bán cho, gỗ bọn em tự làm rẻ hơn nhiều, mà mua lại tại bãi, còn nếu mua gỗ tại bến bên kia bọn em cũng có thể kết nối bán cho anh.
Nhóm phóng viên tiếp tục ngỏ ý muốn mua gỗ với số lượng lớn và muốn gặp ông chủ ở bến này thì gặp ai?
Lúc này một thanh niên tự xưng tên H nhanh nhẩu cho biết: “Cái này không phải ai cũng biết được đâu, phải người làm lâu và có thâm niên trong giới gỗ mới biết được ông trùm ở đây.
Anh cứ nhìn sang phía bên kia sông là bãi gỗ lớn của ông chủ tên là Khôn. Ông Khôn là ông trùm cầm đầu cả khu vực cửa khẩu Lệ Thanh này, ông rất ít khi xuất hiện ở đây.
Các chủ khác ở đây đều mua qua ông Khôn, rồi tự khai thác đưa gỗ về làm giấy tờ hợp thức hóa rồi chuyển đi các nơi khác”.
Để rộng đường dư luận và xác minh những thông tin trên, nhóm phóng viên Phapluatplus.vn đã liên hệ làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai.
Tại buổi tiếp phóng viên, bà Đoàn Thị Minh Hiếu, Chuyên viên văn phòng UBND tỉnh Gia Lai chuyên phụ trách về mảng công tác báo chí cho biết.
“Hôm nay các vị lãnh đạo người thì kín lịch họp, người thì đi công tác, anh Thuyên Phó chủ tịch UBND tỉnh thì đi công tác Campuchia, Chánh văn phòng thì hiện tại đang bị đau họng phải nằm viện tại TP HCM, 3 phó chánh thì một phó chánh mới chuyển công tác còn hai phó chánh hiện tại đang rất là bận nên PV cứ cho nội dung làm việc kèm theo số điện thoại tôi sẽ báo cáo lại với lãnh đạo. Khi nào sắp xếp được lịch sẽ liên lạc lại sau”.
Phóng viên ngỏ ý được làm việc vào buổi chiều thì bà Hiếu cho hay: “Hôm nay đã là thứ 6 ngày cuối tuần nên rất khó để sắp xếp được lịch làm việc, vì chiều nay lãnh đạo UBND tỉnh đã kín lịch nên hẹn anh em (Tức –PV) sang đầu tuần tới.
Trước tình trạng buôn bán và tập kết gỗ lậu với số lượng lớn tại cửa khẩu Lệ Thanh nhưng không hiểu vì lý do gì mà số gỗ này vẫn có dấu búa của kiểm lâm và ngang nhiên được các chủ gỗ cho xe chở quá tải với số lượng lớn lưu thông cả ngày lẫn đêm, vượt mặt hàng loạt cơ quan chức năng như kiểm lâm, cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông….Vậy trách nhiệm thuộc về ai? (Phapluatplus 7/5) đầu trang(
Chủ đề Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học năm 2017 là “Đa dạng sinh học và Du lịch bền vững”.
Với các tiềm năng về đa dạng sinh học và du lịch của tỉnh Quảng Ninh, cũng như sự kiện Vườn quốc gia Bái Tử Long được công nhận là “Vườn Di sản ASEAN”, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học (22/5/2017), Ngày Chim di cư Thế giới (10/5/2017), Lễ trao danh hiệu Vườn di sản ASEAN cho Vườn quốc gia Bái Tử Long và Hội thảo về Đa dạng sinh học và Du lịch bền vững.
Thời gian tổ chức các sự kiện từ 7h00 sáng ngày 19/5/2017 tại Hội trường A, Trung tâm tổ chức hội nghị tỉnh Quảng Ninh.
Từ năm 1993, Ban thư ký Công ước Đa dạng sinh học đã thống nhất lựa chọn ngày 22/5 là Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học để kêu gọi các quốc gia, tổ chức, cộng đồng cùng hành động để bảo tồn đa dạng sinh học. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia hướng dẫn và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức hưởng ứng Ngày Quốc tế về Đa dạng sinh học.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan Trung ương của các ban, ngành, đoàn thể; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về hưởng ứng Ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2017 với chủ đề “Đa dạng sinh học và Du lịch bền vững”. (Bộ TNMT 8/5) đầu trang(
Hưởng ứng Ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2017 theo đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại công văn số 1970/BTNMT-TCMT ngày 24/4/2017, Chủ tịch UBND tỉnh vừa có văn bản giao Sở Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu nội dung công văn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phối hợp với các Sở ngành, đơn vị liên quan và UBND các huyện, thành phố lựa chọn, xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động phù hợp, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm để hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2017 (22/5/2017) với chủ đề “Đa dạng sinh học và Du lịch bền vững” trên địa bàn tỉnh.
​Tại công văn số 1970/BTNMT-TCMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các cơ quan, địa phương chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân, đặc bi​ệt là giới trẻ, các doanh nghiệp biết được tầm quan trọng về giá trị, vai trò của đa dạng sinh học, bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch bền vững đối với phát triển kinh tế - xã hội; tuyên truyền thực hiện quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học; huy động cộng đồng cùng tham gia vào các hoạt động bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, phát triển du lịch sinh thái, du lịch bền vững.
Đồng thời, tổ chức phát động các phong trào như: bảo vệ môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên; trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh; bảo vệ nguồn nước; lồng ghép các hoạt động thúc đẩy việc thực hiện các mô hình du lịch bền vững.
Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể, các cơ quan tiến hành các hoạt động truyền thông thích hợp như mít tinh kỷ niệm Ngày quốc tế đa dạng sinh học; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, triển lãm, xây dựng phim, phóng sự với chủ đề về đa dạng sinh học và phát triển kinh tế -xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch bền vững...; treo áp phích, tranh cổ động, in tờ rơi và các hoạt động tuyên truyền khác tại cơ quan, địa phương. (Quangngai.gov.vn 8/5) đầu trang(
Trước tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng đã ra thông tin cảnh báo cháy rừng cấp III để người dân chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, cũng như tổ chức tuần tra tại các khu vực có nguy cơ cháy cao.
Theo đó, những địa bàn trọng điểm được xác định dễ cháy gồm khu vực Nam đèo Hải Vân và đường cao tốc phía Nam hầm Hải vân, khu vực vành đai khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà Núi chúa, rừng tại bán đảo Sơn trà lần lượt trên các phường Hòa Hiệp bắc, quận Hải Liên Chiểu, xã Hòa Phú và xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang và phường Thọ Quang, quận Sơn Trà.
Trước tình hình đó, Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy thành phố chỉ đạo các địa phương tăng cường thực hiện nhiều biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức cho các cấp, các ngành người dân trong việc phòng chống cháy rừng. Đồng thời, Chi cục kiểm lâm thành phố cũng tổ chức tăng cường tuần tra, kiểm soát các khu vực có nguy cơ cháy cao vào mùa khô, thực hiện các biện pháp phòng chống theo phương châm 4 tại chỗ. Bên cạnh đó, chi cục cũng thành lập 3 tổ phản ứng nhanh phòng chống cháy rừng tại 3 hạt kiểm lâm : Hòa vang, Liên Chiểu, Sơn Trà. Cùng với đó khuyến cáo người dân thành phố phải cảnh giác không được nấu nướng khi tham quan, không được xử lý thực bì để đảm bảo an toàn về phòng chống cháy rừng. (Đài PTTH Đà Nẵng 8/5) đầu trang(
Thời điểm này, bắt đầu vào thời kỳ cao điểm của đầu mùa khô cùng với việc vận động bà con tích cực trồng rừng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng (BVR) đang được các cấp, ngành của thị xã Ba Đồn tăng cường triển khai, thực hiện nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Theo báo cáo của thị xã Ba Đồn, địa phương có trên 4.521 ha rừng nằm ở 09/16 xã, trong đó rừng phòng hộ 1.028 ha và rừng sản xuất 3.493 ha. Năm 2016, thị xã đã trồng mới 57 ha rừng chủ yếu cây keo và khai thác 25,7 ha rừng trồng với khối lượng 1.028 ste. Năm 2017, thị xã có trên 2.200 ha rừng trồng cần xử lý thực bì, đến nay đã xử lý được trên 1.133 ha. Hiện nay, tình hình thời tiết hanh khô kéo dài nên nguy cơ xảy ra cháy rừng ở thị xã Ba Đồn là rất cao.Vì rừng trên địa bàn thị xã phần lớn trồng bằng các loại cây thông, keo có chứa nhiều tinh dầu, khi gặp thời tiết hanh khô kéo dài rất dễ bén lửa gây cháy và thảm thực bì dày làm gia tăng vật liệu gây cháy. Ngoài ra, thời điểm này, các chủ rừng đang khai thác, dọn dẹp đất rừng để trồng rừng vụ Xuân thường đốt thực bì, lá khô hoặc các hộ dân sống ven rừng đốt nương làm rẫy… tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Để chủ động các biện pháp PCCCR, ngay từ đầu mùa hanh khô, Ban Chỉ huy PCCCR thị xã xây dựng kế hoạch, phương án để thực hiện công tác PCCCR và BVR; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mỗi tổ chức, cá nhân để hiểu và tự giác tham gia bảo vệ, phát triển rừng bằng nhiều hình thức như: Tổ chức hội nghị từ thị xã đến xã, phường; tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh vào buổi sáng và chiều tối; phối hợp với Ban Giám hiệu các trường học để phát tờ rơi truyên truyền và tổ chức nói chuyện chuyên đề về nội dung PCCCR và BVR; cử cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn đến từng hộ dân tuyên truyền, vận động người dân sử dụng lửa an toàn trong rừng và vùng ven rừng, đặc biệt vào mùa hanh khô…
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm thị xã tiến hành ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với các chủ rừng và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn; thông tin kịp thời dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng từ cấp III trở lên cho các cơ quan chức năng và chủ rừng. Bên cạnh đó, với những khu vực trọng điểm cháy, Hạt yêu cầu chủ rừng phát dọn thực bì trước mùa khô và đem ra khỏi rừng để xử lý có kiểm soát; hướng dẫn các chủ rừng lớn xây dựng và thực hiện phương án PCCCR và BVR mùa khô năm 2016-2017.
Ngoài ra, Hạt triển khai tu sửa, làm mới các hạng mục, công trình PCCCR hiện có và mua sắm thêm các trang thiết bị gồm: Máy thổi gió, máy cắt thực bì, dao phát, bàn dập lửa, đèn pin, giày vải, mũ cứng và vận động các chủ rừng tự bỏ vốn xây dựng đường băng cản lửa, mua sắm các trang thiết bị tại chỗ để phục vụ PCCCR và BVR.
Tuy nhiên, công các PCCCR và BVR trên địa bàn thị xã Ba Đồn hiện đang gặp nhiều khó khăn do địa bàn rộng, lực lượng kiểm lâm mỏng, khả năng huy động lực lượng tại chỗ của một số chủ rừng còn hạn chế; nhiều hộ sống xen lẫn trong rừng, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu; phương tiện, dụng cụ, kinh phí phục vụ PCCCR và BVR còn thô sơ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Ngoài ra, hệ thống đường giao thông để vào rừng nhỏ hẹp, nhiều khu vực không có đường đi lại…
Hiện, các phương án PCCCR, BVR đang được các cấp, ngành thị xã Ba đồn triển khai quyết liệt. Tuy nhiên, thời điểm này đang là cao điểm của mùa hanh khô nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Vì vậy, để bảo vệ rừng, hạn chế xuống mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, ngoài sự nỗ lực của các cơ quan chức năng, người dân trên địa bàn thị xã Ba Đồn, đặc biệt là các chủ rừng cũng cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động các biện pháp PCCCR và ý thức của người tham gia BVR. (Quangbinh.gov.vn 8/5) đầu trang(
Vào 21h ngày 7/5, tại km29 thôn Vạt xã Việt Lâm huyện Vị Xuyên, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 – Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang đã phát hiện và bắt giữ vụ vận chuyển lâm sản trái phép. Sau khi lập biên bản, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 đã đưa toàn bộ tang vật và phương tiện về Chi cục Kiểm lâm tỉnh để xác minh, làm rõ vụ việc.
Cụ thể, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, về việc xe ô tô 4 chỗ nhãn hiệu ALTIS mang biển kiểm soát 20L2897 di chuyển theo hướng từ thị trấn Vị Xuyên đi Bắc Quang có vận chuyển lâm sản. Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 đã theo dõi đến 21h khi phương tiện đang di chuyển lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra, làm rõ vụ việc. Tại thời điểm kiểm tra chủ hàng kiêm chủ phương tiện là ông Vũ Mạnh Hà sinh năm 1983 trú tại xã Hỏa Thượng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ.
Sau khi lập biên bản Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 đã tạm giữ, đưa toàn bộ tang vật và phương tiện về Chi cục Kiểm lâm tỉnh để xác minh, làm rõ vụ việc. Qua kiểm đếm, lực lượng kiểm lâm đã xác định tại cốp và khoang ghế sau của xe có cất giữ có 19 khúc gỗ nghiến nhóm 2A đã được sơ chế với tổng khối lượng là 0,223m3. Toàn bộ số gỗ trên được chủ hàng khai nhận là mua tại thị trấn Vị Xuyên với số tiền là 4 triệu đồng, đang trên đường đưa sang tỉnh Thái Nguyên để tiêu thụ. Hiện tại, lực lượng chức năng đang tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc theo quy định của pháp luật. (Đài PTTH Hà Giang 8/5) đầu trang(
Liên quan tới dự án xây dựng công viên nghĩa trang tại Tam Đảo, tại văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho hay, hiện nay “tỉnh Vĩnh Phúc đang làm các thủ tục để điều chỉnh quy hoạch khu vực này ra khỏi diện tích rừng phòng hộ để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh...”. Vậy vì sao Vĩnh Phúc lại kiên quyết trong vấn đề này đến vậy?
Sau khi bài báo “Vĩnh Phúc: Chặt rừng phòng hộ làm nghĩa trang hay đào khoáng sản" đăng tải ngày 4.2.2017 trên Báo điện tử Một Thế Giới, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, yêu cầu UBND tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, làm rõ những vấn đề mà báo nêu, báo cáo Thủ tướng trước ngày 10.3.2017.
Ngày 7.3.2017, ông Vũ Chí Giang, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ký bản báo cáo số 38/BC-UBND gửi Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 5.4.2017, Văn phòng Chính phủ tiếp tục có văn bản số 3294/VPVP-NN yêu cầu UBND tỉnh Vĩnh Phúc trả lời Báo điện tử Một Thế Giới về sự việc.
Tại báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ dài 5 trang nói trên, ông Vũ Chí Giang khẳng định rằng việc xây dựng công viên nghĩa trang tại khu vực núi Ngang là phù hợp với phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong quy hoạch này, Vĩnh Phúc có 2 nghĩa trang được quy hoạch tại xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo và xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, mỗi nghĩa trang quy mô 100 ha.
Ngoài ra, Vĩnh Phúc cũng báo cáo không có chuyện phá rừng làm dự án cũng như không có chủ trương cho các đối tượng lợi dụng dự án khai thác khoáng sản.
Trao đổi với PV Báo điện tử Một Thế Giới, ông Nguyễn Văn Trì, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc khẳng định: “Việc này hoàn toàn đúng quy hoạch, thứ hai nữa là hiện vẫn chưa làm gì cả mà mới chỉ đang bàn kế hoạch. Sau này còn phải thực hiện các bước lấy ý kiến của nhân dân rồi thì xin ý kiến các cấp chính quyền địa phương và cả trung ương”.
Trao đổi với PV qua điện thoại, ông Bùi Minh Hồng, Chánh văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Phúc xác nhận: Vĩnh Phúc bảo lưu quan điểm xin Thủ tướng được tiếp tục làm công viên nghĩa trang tại núi Ngang. Thủ tướng quyết sao thì Vĩnh Phúc làm vậy.
Trở lại bản báo cáo số 38 nói trên, Vĩnh Phúc khẳng định diện tích rừng 153 ha tại khu vực triển khai dự án công viên nghĩa trang trên núi Ngang “không phải rừng phòng hộ đầu nguồn quan trọng, không phải vùng đệm quan trọng của rừng quốc gia Tam Đảo như báo nêu”.
Tuy nhiên cũng ngay tại bản báo cáo này, bản thân ông Vũ Chí Giang cũng cho rằng "hiện nay, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đang làm thủ tục để điều chỉnh quy hoạch khu vực này ra khỏi rừng phòng hộ để phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội".
Trong khi đó, ông Nguyễn Việt Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc từng khẳng định: tổng số diện tích rừng phòng hộ của Vĩnh Phúc là 4.100 ha, trong đó, tại huyện Tam Đảo có 485 ha. Rừng phòng hộ tại Tam Đảo có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn đối với toàn bộ vùng hạ lưu.
Rừng phòng hộ tại Tam Đảo chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn và một phần rừng phòng hộ môi trường. Cụ thể, rừng phòng hộ đầu nguồn tại Tam Đảo chiếm tới 3/4 tổng số diện tích rừng phòng hộ tại đây.
Phân bố rừng phòng hộ đầu nguồn tại Tam Đảo, theo ông Hùng thì nằm tại xã Đạo Trù, xã Bồ Lý và một phần tại xã Vinh Quang. Trong đó, rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Bồ Lý là khoảng 150 ha, toàn bộ nằm trên núi Ngang.
Cũng chính vì vậy, dư luận không thể không đặt ra câu hỏi phải chăng việc Vĩnh Phúc xin "điều chỉnh quy hoạch khu vực này ra khỏi rừng phòng hộ" như chính ông Vũ Chí Giang nêu chỉ là để không vướng việc phải xin Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư?
Trước quan điểm nhất quán của Đảng và Chính phủ là không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế, thiết nghĩ, đây là vấn đề Vĩnh Phúc rất nên làm rõ với công luận.
Cũng tại báo cáo này, ông Giang cho hay, hiện nay Tỉnh ủy đã đồng tình dừng nghiên cứu quy hoạch, chỉ đạo UBND tỉnh giao các cơ quan chuyên môn của tỉnh nghiên cứu phương án tối ưu nhất để thực hiện quy hoạch và đầu tư các nghĩa trang tập trung, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của tỉnh...
Cũng theo ông Giang, hiện nay tỉnh đã giao Công an Vĩnh Phúc điều tra, làm rõ việc mấy trăm người ký đơn gửi Thủ tướng, xác định rõ bản chất sự việc. Lãnh đạo tỉnh cũng liên hệ và làm việc với Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về việc báo chí đưa tin không chính xác gây ảnh hưởng tới việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, tiềm ẩn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Đồng thời, ông Giang cũng cho hay, lãnh đạo Tỉnh ủy cũng làm việc và báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương về các thông tin báo chí nêu. (Một Thế Giới 8/5) đầu trang(
4.5, sau nhiều lần né tránh, ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Phó GĐ Sở NNPTNT tỉnh Khánh Hòa - đã chính thức xin lỗi các phóng viên thường trú một số tờ báo tại Khánh Hòa về phát ngôn “lâm tặc chở nhà báo vào rừng quay phim, chụp ảnh” với đoàn Đại biểu Quốc hội ngày 11.4.
Ông Kiệt thừa nhận: “Trước tiên, tôi xin cảm ơn các nhà báo đã thông tin kịp thời về vụ việc phá rừng đầu nguồn ở xã Khánh Phú (huyện Khánh Vĩnh). Sau nữa, từ tận đáy lòng mình, tôi thành thật xin lỗi các nhà báo về phát ngôn của mình. Tôi khẳng định, phát ngôn của tôi là không chính xác và không có cơ sở thực tế. Tôi mong các nhà báo bỏ qua và vẫn tiếp tục hỗ trợ thông tin cho sở, để chúng tôi hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình”.
Trước đó, ngày 6.3, nhiều phóng viên các tờ báo đã chạy xe máy vào tiểu khu 205, rừng phòng hộ đầu nguồn ở xã Khánh Phú, chụp ảnh và quay phim về tình trạng phá rừng nghiêm trọng xảy ra tại đây. Sau đó, các phóng viên đã cung cấp hình ảnh, video cho Chi cục Kiểm lâm (Sở NNPTNT), lúc đó đơn vị này mới biết có tình trạng phá rừng lấy gỗ trái phép tại đây. Tuy nhiên, trong buổi làm việc với Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển ngày 11.4, ông Kiệt nói rằng, do bị kiểm lâm phát hiện, thu giữ gỗ khai thác trái phép nên lâm tặc chở nhà báo lên rừng để quay phim, chụp ảnh.
Sau đó, các phóng viên đã nhiều lần đề nghị gặp ông Kiệt để trao đổi về phát ngôn của ông, nhưng ông Kiệt không phản hồi. Ngày 25.4 các phóng viên đã gửi kiến nghị Thanh tra Sở TTTT tỉnh Khánh Hòa, căn cứ Luật Báo chí và Nghị định số 159/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, xem xét xử phạt ông Nguyễn Tuấn Kiệt, buộc ông Kiệt phải xin lỗi. (Lao Động 6/5) đầu trang(
Lãnh đạo Chính phủ vừa chỉ đạo tập trung xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, chế biến, mua, bán trái phép cây hương giáng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và tình trạng phá rừng, xâm lấn đất rừng trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu UBND tỉnh Quảng Bình chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, chế biến, mua, bán trái phép cây hương giáng trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời thường xuyên kiểm tra, xử lý việc khai thác, mua, bán, vận chuyển gỗ rừng tự nhiên trái phép theo đúng các quy định của pháp luật.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chức năng xác định tên khoa học cây hương giáng, làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Bình khẳng định, thời gian qua, việc khai thác trái phép cây hương giáng đã xảy ra tại một số khu vực vùng núi đá vôi thuộc lâm phần Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và các xã vùng đệm của Vườn Quốc gia.
Ngay khi sự việc xảy ra và có sự phản ánh, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, chính quyền địa phương triển khai các biện pháp ngăn chặn, xử lý tình trạng khai thác, mua, bán cây hương giáng trái phép; hướng dẫn lập hồ sơ, xử lý hành vi khai thác, mua, bán, vận chuyển trái pháp luật cây hương giáng; tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn không vào rừng khai thác trái phép cây hương giáng; tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét lâm tặc, ngăn chặn khai thác trái phép cây hương giáng; kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến mộc mỹ nghệ và các điểm trưng bày, bán sản phẩm mộc mỹ nghệ...
Cây hương giáng (người dân địa phương còn gọi là hang giáng hoặc săng giáng) là cây gỗ nhỡ, phân bố rải rác hoặc mọc thành cụm trên sườn núi đá vôi khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. Loài này hiện vẫn chưa xác định được tên khoa học và không có trong bảng phân loại nhóm gỗ. Gỗ hương giáng có mùi thơm nhẹ, bền, chắc, dễ cháy…
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng yêu cầu UBND tỉnh Phú Yên chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng, xâm lấn đất rừng trên địa bàn tỉnh.
Trước đó, báo Người Lao động ra ngày 8/3/2017 có bài: "Công khai phá rừng phòng hộ" và báo Lao động ra ngày 9/3/2017 có bài: "Gần 200 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái quy định".
Theo phản ánh, người dân phát hiện HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Hòa Hiệp Bắc (huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên) ngang nhiên chặt cây trong rừng phòng hộ giữa ban ngày rồi chở đi.
Trên cơ sở báo cáo của UBND tỉnh Phú Yên về việc xử lý vấn đề báo chí nêu trên, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Phú Yên chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng, xâm lấn đất rừng trên địa bàn tỉnh; tổ chức kiểm điểm trách nhiệm người đứng đầu và xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân và tổ chức kinh tế phá rừng, xâm lấn đất rừng và khai thác trái phép rừng phòng hộ theo đúng quy định của pháp luật. (Nhân Dân 9/5; Tin Tức + VOV 8/5) đầu trang(
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên vừa tiếp xúc cử tri là nguyên lãnh đạo tỉnh này. Tại buổi tiếp xúc, các cử tri bày tỏ bức xúc, yêu cầu tăng cường giám sát các dự án đầu tư và làm rõ trách nhiệm trong quá trình triển khai 2 dự án dậy sóng dư luận gồm phá hàng trăm hécta rừng tự nhiên nuôi bò thịt (huyện Sông Hinh) và rừng phòng hộ làm sân golf, khách sạn (TP. Tuy Hòa).
Giải trình với cử tri, ông Hoàng Văn Trà - Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên - cho biết, lãnh đạo tỉnh có thiếu sót trong quá trình triển khai các dự án trên. Hiện có 4 đoàn công tác đang thanh tra, kiểm tra hai dự án này. Đó là Tổng cục Lâm nghiệp, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm môi trường (Bộ Công an) và Thanh tra Chính phủ.
Theo ông Trà, tỉnh sẽ báo cáo với các đoàn thanh, kiểm tra trung thực, đầy đủ, có trách nhiệm về tất cả việc xảy ra vừa qua. “Sau khi có kết luận, tỉnh xem xét trách nhiệm để sửa chữa sai sót. Tỉnh cũng làm rõ trách nhiệm từng đơn vị, cá nhân liên quan. Nếu khuyết điểm, trách nhiệm đến mức nào thì phải xử lý nghiêm túc” - ông Trà khẳng định. (Lao Động 8/5) đầu trang(
Nhà máy giấy ở Quảng Ngãi phá 50ha rừng dừa nước, đặt ống đường ống xả thải ngầm ra biển có đúng pháp luật không?
Tình trạng phá rừng làm dự án nhà máy bột giấy, đặt ống xả thải ra biển lại xuất hiện ở Quảng Ngãi.
UBND tỉnh Quảng Ngãi mới đây đã chấp nhận thu hồi gần 50ha rừng dừa nước ở xã Bình Phước (huyện Bình Phước) để xây hồ chứa nước cho nhà máy bột- giấy VNT19 trên địa bàn.
Đây là dự án do Công ty cổ phần Bột - Giấy làm chủ đầu tư, đang trong giai đoạn xây dựng và lắp đặt thiết bị tại mặt bằng trên diện tích khoảng 117ha.  Dự án này cũng đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt báo cáo tác động môi trường từ tháng 9/2015. Mặt bằng dự án ban đầu là 70ha, tới giai đoạn sau sẽ là 130 ha.
Để nhà máy giấy đi vào hoạt động, công ty sẽ phải có nguồn cung cấp nước và UBND tỉnh Quảng Ngãi đã cho phép phá 50ha rừng dừa nước để làm hồ chứa này.
Ông Nguyễn Thế Nhân, Chủ tịch UBND xã Bình Phước cho biết, rừng dừa nước có giá trị lịch sử, che bộ đội du kích trong kháng chiến. Đây cũng là mảnh đất kiếm kế sinh nhai cho nhiều gia đình. Việc pháo hủy tới 50ha/ 70ha diện tích dừa nước ở đây khiến người dân tiếc nuối.
Ông Nhân cho biết, ngày nay, ít người còn sử dụng dừa nước nhiều như trước, nên rừng dừa Cà Ninh không còn hiệu quả kinh tế như trước. Rừng dừa Cà Ninh trở thành “lựa chọn” cho xây dựng bể chứa nước phục vụ Nhà máy Bột-Giấy.
Bà Hà Thị Anh Thư, Bí thư Huyện ủy Bình Sơn (Quảng Ngãi), xác nhận trên Báo Thanh niên :“Quan điểm của huyện là ủng hộ chủ trương của tỉnh trong việc thu hồi đất để làm dự án. Tuy nhiên, không thể đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế. Do vậy, nhà đầu tư cần phải trồng lại diện tích rừng thay thế nhằm đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái trong khu vực”.
Cũng theo bà, Sở NN-PTNT Quảng Ngãi yêu cầu nhà đầu tư phải nộp cho quỹ phát triển rừng của tỉnh khoảng 500 triệu đồng/ha để trồng lại rừng dừa nước.
Ông Nguyễn Thế Nhân cho rằng qua các lần tổ chức họp, người dân đồng ý phá rừng dừa nước để làm hồ chứa nước nhưng nhiều người băn khoăn, lo lắng về vấn đề môi trường.
“Khoảng 20 ha rừng dừa nước nằm ngoài phạm vi hồ chứa nước thuộc sở hữu của người dân, cơ quan chức năng cần lấy tiền đền bù của chủ đầu tư mua lại để chuyển thành rừng phòng hộ, giữ môi trường sinh thái trong vùng”, ông Nhân kiến nghị.
Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường, thì vị trí xả thải của Dự án tại vịnh Việt Thanh (thôn Lệ Thủy, xã Bình Trị, huyện Bình Sơn) cách bờ biển khoảng 500m - 1,5 km. Và với vị trí xả thải này, thì chủ đầu tư Dự án sẽ phải lắp đặt ống ngầm dưới nước, giống như trường hợp của nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh.
Song  lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi băn khoăn, đó là “vấn đề này có đảm bảo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam hay không?”
Thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ngãi, vì lo ngại điều này, ngay từ năm 2011, lãnh đạo tỉnh đã đề nghị chủ đầu tư trong quá trình thiết kế, xây dựng nhà máy, phải xây dựng một hồ nuôi cá bằng nước thải của nhà máy trước khi thải ra biển nhằm kiểm nghiệm tiêu chuẩn nước thải trước khi thải ra môi trường.
Tuy nhiên, trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án vào tháng 9/2015 lại không nhắc tới vấn đề này.
Do vậy, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét yêu cầu chủ đầu tư xây dựng hồ chỉ thị sinh học để kiểm chứng chất lượng nước thải sau khi xử lý trước khi xả thải ra môi trường, hoặc có ý kiến chính thức về vấn đề này.
Khi chấp thuận dự án, tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu chủ đầu tư phải sử dụng công nghệ tiên tiến, máy móc, thiết bị hiện đại, đồng bộ, quy trình công nghệ khép kín, đáp ứng điều kiện về các chỉ tiêu kinh tế và đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, trên thực tế Công ty CP bột - giấy VNT19 không lắp đặt máy móc thiết bị mới mà nhập khẩu máy móc, thiết bị cũ, đã qua sử dụng.
Hiện, tỉnh Quảng Ngãi đã đề nghị Bộ KH-CN hỗ trợ kiểm tra, giám sát việc thẩm định, giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ dự án Nhà máy bột - giấy VNT19. (Đất Việt 8/5) đầu trang(
8/5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh tống đạt Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND tỉnh Tây Ninh đối với 3 đối tượng
Các đối tượng này là: Đoàn Thân Minh Trí, sinh 1995 (ngụ ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Đông, huyện Tân Châu); Đặng Bích, sinh 1951 (ngụ ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, huyện Tân Châu) và Liêu Văn Tài, sinh 1974 (ngụ ấp Tân Trung, xã Tân Thành, huyện Tân Châu), tỉnh Tây Ninh.
Tổng số tiền phạt dành cho 3 đối tượng này là 441 triệu đồng về hành vi khai thác, mua bán lâm sản trái phép xảy ra tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, huyện Tân Châu, Tây Ninh.
Trước đó, vào ngày 11/3/2017 Hạt Kiểm lâm huyện Tân Châu tuần tra tại khoảnh 6, tiểu khu 51, thuộc Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng phát hiện đối tượng Đoàn Thân Minh Trí đang cắt hàng cây xà cừ, là cây rừng trồng năm 2001, mô hình XK1 (xà cừ xen cây keo).
Cơ quan chức năng đã lập biển bản bắt quả tang về hành vi khai thác rừng trồng trái pháp luật đối với Trí và tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm gồm: 48 lóng gỗ xà cừ (khối lượng 12,766 m3), một máy cày hiệu ISEKT TS 2205, một máy cưa hiệu STIHL MS 381.
Qua điều tra xác minh, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Châu ghi nhận, diện tích rừng trồng kể trên được Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng ký hợp đồng với ông Đặng Bích nhận khoán để chăm sóc, bảo vệ. Thay vì phải bảo vệ khu rừng nhận khoán của nhà nước, ông Bích lại lén lút bán cho Liêu Văn Tài một số cây lớn nhất ở hàng bìa khu rừng với giá 47 triệu đồng.
Sau khi mua được hàng xà cừ do ông Bích bán, Tài liên hệ với Đoàn Thân Minh Trí để bán sang tay hàng gỗ xà cừ kể trên với giá 65 triệu đồng.
Khi thương lượng xong với Trí, ngày 7/3/2017, Tài đưa Trí đến nhà ông Đặng Bích để làm lại hợp đồng mua bán trực tiếp giữa ông Bích và Trí. Sau đó Trí trả cho ông Bích đủ số tiền 47 triệu đồng theo thỏa thuận và đưa cho Tài 18 triệu đồng tiền sang tay, hưởng chênh lệch.
Từ những hành vi sai trái kể trên, UBND tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử phạt ông Đặng Bích 150 triệu đồng về hành vi khai thác gỗ trái pháp luật và mua bán gỗ trái quy định của nhà nước; buộc ông nộp lại 47 triệu đồng do bán cây rừng trái phép mà có và trồng lại 20 cây xà cừ đã bị khai thác theo hướng dẫn của Ban quản lý Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng. Tổng số tiền phạt đối với ông Bích là 197 triệu đồng.
Về hành vi đưa dụng cụ, phương tiện cơ giới để khai thác, mua bán cây rừng trái phép, tổng mức phạt được áp dụng đối với Đoàn Thân Minh Trí là 151 triệu đồng. Liêu Văn Tài cũng bị phạt 75 triệu đồng về hành vi mua bán lâm sản trái phép và phải nộp lại số tiền 18 triệu đồng làm trung gian, hưởng chênh lệch. Tổng số tiền Tài phải nộp phạt là 93 triệu đồng.
Ngoài ra, số tang vật vi phạm gồm 12,766 m3 gỗ tròn xà cừ và một máy cưa hiệu STIHL MS381 của Đoàn Thân Minh Trí cũng bị tịch thu theo quy định của pháp luật. (Bnews 8/5) đầu trang(
Vận chuyển gỗ bất hợp pháp từ Campuchia vào Việt Nam tăng mạnh trong những tháng gần đây bấp chấp lệnh cấm xuất khẩu nhằm chống lại nạn phá rừng ở một trong những quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á.
Reuters trích dẫn một báo cáo của Cơ quan Điều tra Môi trường (Environmental Investigation Agency - EIA) có trụ sở tại London, Anh, cho biết ước tính có hơn 300.000 m3gỗ đã được tuồn trái phép ra khỏi biên giới Campuchia bắt đầu từ tháng 11 năm ngoái.
“Đây là hoạt động buôn lậu gỗ tròn có quy mô lớn nhất nhiều năm trở lại đây”, ông Jago Wadley - chuyên gia của EIA, cho hay.
Campuchia từ lâu đã cấm nhập khẩu gỗ tròn để bảo vệ rừng và những giống cây quý hiếm chuyên cho các loại gỗ có chất lượng, như gỗ hồng sắc Thái Lan.
Tuy nhiên, các chính sách lâm nghiệp tại Campuchia nói chung bao gồm cả chính sách có liên quan đến xuất khẩu gỗ nguyên liệu nói riêng không nhất quán, khiến cho gỗ tròn của Campuchia tiếp tục được xuất khẩu sang các nước, bao gồm cả Việt Nam.
Đầu năm ngoái, Thủ tướng Campuchia Hun Sen kêu gọi một nỗ lực lớn hơn nữa để ngăn chặn việc khai thác gỗ bất hợp pháp và tuyên bố cho phép cảnh sát nổ súng vào những kẻ buôn lậu nếu cần thiết. (Báo Hà Tĩnh 8/5) đầu trang(
Sau khi Tổng cục Du lịch có giấy mời Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng Huỳnh Tấn Vinh ra Hà Nội để họp giải quyết các vấn đề xung quanh bán đảo Sơn Trà, ông Vinh đã không ra và ký công văn phúc đáp nói Tổng cục nếu cần thì vào Đà Nẵng họp.
Theo đó, ngày 5.5, ông Hà Văn Siêu, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (Bộ VHTT&DL) đã ký giấy mời trực tiếp ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch TP.Đà Nẵng ra Hà Nội ‘dự họp, trao đổi, thống nhất và ký kết biên bản làm việc tại trụ sở Bộ’ liên quan đến kiến nghị của Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng trong bức tâm thư gửi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về quy hoạch Tổng thể Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025, định hướng 2030.
Theo giấy mời thì cuộc họp do Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Huỳnh Vĩnh Ái chủ trì vào 14 giờ ngày 9.5 tại phòng họp của Bộ VH-TT-DL.
Tuy nhiên, ông Vinh đã có công văn phúc đáp nhằm từ chối việc ra Hà Nội theo lời mời này.
Theo đó ngày 8.5, ông Vinh đã ký công văn gửi Tổng cục Du lịch và Bộ VH-TT-DL. Ông Vinh cho rằng: “ngày 21.3.2017, Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng đã gửi công văn kiến nghị số 21-3/CTHHDLĐN đến Thủ tướng về việc ‘xem xét lại quy hoạch tổng thể khu du lịch quốc gia Sơn Trà, TP.Đà Nẵng và cho đến nay đã có gần 11.000 người đồng thuận ký tên ‘giải cứu Sơn Trà’”.
“Thứ hai, ngày 28.4.2017 tại Đà Nẵng đã có hội thảo ‘giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà’ do Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh và nhóm nghiên cứu – giảng dạy môi trường và tài nguyên sinh vật thuộc Đại học Đà Nẵng cùng phối hợp”.
“Ban tổ chức đã có lời mời Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch – tác giả của quy hoạch tổng thể Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, nhưng rất tiếc quý cơ quan đã không tham dự”.
Do đó, ông Vinh cho rằng: “Nếu Tổng cục Du lịch có thông tin phản hồi về kiến nghị trên vui lòng gửi cho Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng để tham khảo. Nếu cần thiết tổ chức cuộc họp xin đề nghị tổ chức tại Đà Nẵng với các thành phần bao gồm: Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, Hội Cựu chiến binh…và các bên liên quan để trao đổi, thu thập ý kiến rộng rãi của công luận đang quan tâm đến bán đảo Sơn Trà trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ”.
“Hôm trước mình có hỏi anh Siêu, người ký giấy mời này: Anh đã thấy Voọc Chà vá chân nâu bao giờ chưa? Ảnh trả lời chưa. Mình nghĩ sao các anh ấy không tổ chức họp ở Đà Nẵng và nhân thể đưa gia đình cùng đi thăm Sơn Trà ngắm Voọc Chà vá chân nâu, biết đâu các cháu sẽ yêu quý Sơn Trà và bản quy hoạch mới sẽ có nhiều màu xanh hơn?”, ông Vinh nói. (Một Thế Giới 8/5) đầu trang(
Giấy mời của lãnh đạo Tổng cục Du lịch mời Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng ra Bộ VH-TT-DL họp về kiến nghị liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà không chỉ mắc lỗi chính tả mà còn có nhiều yếu tố chưa hợp lý!
8/5, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cho hay, ông vừa nhận được giấy mời số 09/GM-TCDL do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu ký ngày 5/5, mời ông dự họp giải quyết các kiến nghị của Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng có liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, TP Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Infonet đã đưa tin).
Theo đó, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ VH-TT-DL, Tổng cục Du lịch mời ông Huỳnh Tấn Vinh lúc 14g chiều 9/5 tới dự trao đổi, thống nhất và ký kết biên bản làm việc tại trụ sở Bộ VH-TT-DL về kiến nghị nêu trên. Cuộc họp sẽ được tổ chức tại phòng họp C2, Bộ VH-TT-DL (số 51 – 53 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Tuy nhiên giấy mời không ghi rõ thành phần tham dự họp nên ngoài Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Huỳnh Vĩnh Ái được ghi là người chủ trì cuộc họp và ông Huỳnh Tấn Vinh là người được mời dự họp thì không rõ còn có những thành phần nào tham dự cuộc họp này.
Không rõ thành phần được mời tham dự họp, nội dung trao đổi chưa được nêu cụ thể nhưng như đã nêu trên, trong giấy mời đã đề cập việc “thống nhất và ký kết biên bản làm việc về kiến nghị của Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, TP Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Ngoài ông Huỳnh Tấn Vinh, nơi nhận giấy mời này cũng được ghi là Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL Nguyễn Ngọc Thiện, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Huỳnh Vĩnh Ái và Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch để báo cáo. Thế nhưng giấy mời này lại phạm lỗi sơ đẳng là sai chính tả, khi viết “ký kết biên bản” thành “ký kiết biên bản”!
Tuy nhiên ông Huỳnh Tấn Vinh cho rằng đó chỉ là sơ suất nhỏ. Điều đáng nói là ông từng hỏi Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu (người ký giấy mời) rằng “Anh đã thấy Voọc chà vá chân nâu bao giờ chưa?”. Theo ông Huỳnh Tấn Vinh cho biết thì ông Hà Văn Siêu trả lời: “Chưa thấy!”.
Từ đó, ông Huỳnh Tấn Vinh đặt vấn đề: “Sao các anh ở Tổng cục Du lịch không tổ chức họp ở Đà Nẵng và nhân thể đưa gia đình cùng đi thăm Sơn Trà, ngắm Voọc chà vá chân nâu. Biết đâu các cháu sẽ yêu quý Sơn Trà và bản quy hoạch mới sẽ có nhiều màu xanh hơn?”.
Ông Huỳnh Tấn Vinh cũng cho hay, trên tinh thần “không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, gây ảnh hưởng cuộc sống bình yên của người dân” mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng nhiều lần nhấn mạnh, ngày 28/4, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) và Nhóm nghiên cứu - Giảng dạy Môi trường & Tài nguyên sinh vật (DN-EBR) thuộc Đại học Đà Nẵng đã phối hợp tổ chức hội thảo “Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng”.
Cuộc hội thảo nhằm tìm giải pháp cho phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà, khai thác những giá trị kinh tế từ lợi thế đặc biệt không nơi nào có được nhưng vẫn bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái tại bán đảo này nên đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng. Đông đảo các nhà khoa học, nhà quy hoạch, kiến trúc sư, nhà nghiên cứu chính sách, nghiên cứu lịch sử, các vị lãnh đạo, các văn nghệ sĩ và những người yêu quý Sơn Trà đã đến dự và tham gia ý kiến.
Như Infonet đã đưa tin, Ban tổ chức hội thảo đã gửi thư mời ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng tham dự. Do sáng 28/4 Thường trực Thành ủy Đà Nẵng có chương trình công tác quan trọng không thể hoãn nên ông Nguyễn Xuân Anh có thư bày tỏ rất lấy làm tiếc vì không tham dự được và đề nghị Ban tổ chức hội thảo tổng hợp những ý tưởng hay, những hiến kế tâm huyết, những tham luận có cơ sở khoa học, thiết  thực và khả thi, gửi lãnh đạo TP Đà Nẵng để nghiên cứu, tiếp thu, cùng với các nhà khoa học và nhân dân TP có giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà.
Trong khi đó, theo ông Huỳnh Tấn Vinh, Ban tổ chức cũng gửi giấy mời ông Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch (đơn vị trực tiếp thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, TP Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030) tham dự hội thảo nêu trên. “Chúng tôi không chỉ gửi giấy mời mà còn trực tiếp gọi điện mời họ tham dự cuộc hội thảo đó, nhưng họ từ chối!” – ông Huỳnh Tấn Vinh cho hay. (Infonet 8/5) đầu trang(
Liên quan đến chuyện khai thác bền vững bán đảo Sơn Trà, KTS Hoàng Sừ - Nguyên Chủ tịch Hội KTS Quảng Nam đã có bài viết phân tích, bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề này. Để rộng đường dư luận và đảm bảo tính khách quan, đa chiều của thông tin, Đất Việt đăng tải toàn bộ bài viết của ông.
Hội thảo “Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) và Nhóm nghiên cứu - Giảng dạy Môi trường & Tài nguyên sinh vật (DN-EBR) thuộc Đại học Đà Nẵng tổ chức ngày 28/04/2017 tại Đà Nẵng, với mục tiêu tìm giải pháp cho phát triển bền vững Bán đảo Sơn Trà nhằm khai thác những giá trị kinh tế từ lợi thế đặc biệt không nơi nào có được nhưng vẫn bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái tại bán đảo này đã được cộng đồng dân cư đặc biệt quan tâm.
Riêng cá nhân tôi, thực sự lo lắng cho những biến động có thể ảnh hưởng lớn đến phát triển bền vững của hệ sinh thái cũng như các loài động vật quý hiếm trên khu bao tồn thiên nhiên Sơn Trà, tôi đã tham gia hội thảo với tham luận : “NHỮNGVẤN ĐỀ CẤP THIẾT TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN BÁN ĐẢO SƠN TRÀ” với mong muốn cùng với mọi người yêu quý Sơn Trà hòa vào những hồi chuông cảnh báo về tương lai của khu bảo tồn thiên nhiên độc nhất vô nhị này.
Sau hội thảo, có nhiều ý kiến đồng tình đồng thời cũng có một số ý kiến trái chiều. Trên Infornet, ngày 05 /5/2017 có đăng tải bài “NÓI CHO RÕ VỀ SƠN TRÀ” của KTS Bùi Huy Trí với nhận định một số thông tin trong hội thảo thiếu chính xác. Cụ thể 2 vấn đề:
Thứ nhất: Con số 41% là ở đâu ra?
Thứ hai: Với số 6758/QĐ-UBND, theo KTS Hoàng Sừ “là một quyết định trái thẩm quyền vì thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng từ đất rừng đặc dụng sang loại khác là của Thủ tướng chứ không phải của UBND TP Đà Nẵng”.
Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về những biến động trên Sơn Trà tôi đăng tải những ý kiến làm rõ luận cứ của mình như sau:
Thứ nhất: Con số 41% rừng Sơn Trà bị cắt giảm ở đâu ra?
Có 2 căn cứ để xác định:
1- Căn cứ vào Quyết định số 447/LN - KL
Quyết định số 447/LN - KL do Bộ Lâm nghiệp ban hành ngày 02/10/1992, xác định cụ thể khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có tổng diện tích là 4.439 ha.
Quyết định số 6758/QĐ - UBND ngày 20/9/2008, UBND TP phê duyệt quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn Đà Nẵng giai đoạn 2008 - 2020.Trong quyết định này Sơn Trà chỉ có duy nhất một loại rừng đặc dụng, diện tích 2.591,1 ha bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống và đồi núi trọc.
Căn cứ 2 QĐ trên thì rừng Sơn Trà bị cắt giảm là: 4.439 ha - 2.591,1 = 1847,9ha chiếm 41,6% tổng diện tích khu bảo tồn.
2- Căn cứ Quyết định số 41-TTg, ngày 24/01/1977
- Nếu tính theo Diện tích rừng trong Quyết định số 41-TTg ,Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 24/01/1977. Sơn Trà là rừng cấm có diện tích khoảng 4.000 ha , thì diện tích rừng đặc dụng Sơn Trà bị cắt giảm sau QĐ số 6758/QĐ - UBND ngày 20/9/2008 là: 4000 ha – 2591,1 ha = 1408,9 ha chiếm 35,2% tổng diện tích rừng Sơn Trà
Thứ hai: Xác định thẩm quyền phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng trên cả nước
- Căn cứ pháp lý xác định thẩm quyền phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng: Thực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, ngày 05/12/2005 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 38/2005/CT – TTg về việc rà soát, quy hoạch 3 loại rừng trên cả nước. TTg CP giao các địa phương:
+ Bảo đảm việc rà soát, quy hoạch 3 loại rừng :
Phải hoàn thành trong quý II năm 2006, Bộ NNPT-NT tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước tháng 8 năm 2006.
Giao Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp chỉ đạo và kiểm tra, giám sát việc quy hoạch 3 loại rừng thuộc địa phương.
+ Quy hoạch rừng đặc dụng: rà soát lại diện tích rừng đặc dụng hiện có, lựa chọn những diện tích rừng điển hình, đặc trưng, thực sự đáp ứng đầy đủ các tiêu chí thì quy hoạch là rừng đặc dụng; không mở rộng thêm diện tích các khu rừng đặc dụng (trừ những trường hợp đặc biệt Bộ NNPT-NT báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định).
Những diện tích đã được quy hoạch là rừng đặc dụng, nếu thực sự không đảm bảo tiêu chí thì đưa ra khỏi rừng đặc dụng, chuyển thành rừng sản xuất.
Như vậy có thể khẳng định 2 điểm sau:
A. Những diện tích đã được quy hoạch là rừng đặc dụng, nếu thực sự không đảm bảo tiêu chí thì đưa ra khỏi rừng đặc dụng, chỉ được chuyển thành rừng sản xuất.
B. Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng thuộc Thủ tướng Chính phủ.
Thứ ba: Về QĐ 675 / QĐ - UBND ngày 20/9/2008 phê duyệt quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008 – 2020:
Quyết định số 6758/QĐ - UBND ngày 20/9/2008, UBND TP phê duyệt quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn Đà Nẵng giai đoạn 2008 - 2020.
Trong quyết định này Sơn Trà chỉ có duy nhất một loại rừng đặc dụng, diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà giảm xuống chỉ còn 2.591,1 ha bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống và đồi núi trọc. (Đối chiếu trên bản đồ rà soát quy hoạch 3 loại rừng trên Sơn Trà thì phần đất bị cắt bỏ được ghi chú là đất các dự án du lịch và đất khác). (Đất Việt 9/5) đầu trang(
Nhắc đến Sơn Trà, các phương tiện truyền thông, cả “lề phải” lẫn “lề trái”, đều nhất mực ngợi ca Voọc chà vá chân nâu và chùa Linh Ứng bãi Bụt. Trên truyền thông chưa thấy ai đề cập đến sự tương phản của hai “điểm nhấn” đó.
Chúng tôi không mô tả về Chà vá chân nâu, vì người ta đã viết rất kỹ và chụp hình, quay phim rất rõ về loài động vật đặc biệt quý hiếm đang xếp vào danh mục cực kỳ nguy cấp này. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm đọc và chiêm ngưỡng chúng trên mạng với đủ kiểu, đủ dáng, đủ mọi góc nhìn, góc chụp, góc quay.
Chỉ xin lưu ý là chúng chỉ ăn lá và hoa quả của những loài cây đặc hữu, là những loài cây chỉ có ở Sơn Trà, chỉ hít thở và sinh con đẻ cái trong hệ sinh thái của rừng nguyên sinh nơi đây. Chúng không ăn rặt một vài thứ như những con vật mà chúng ta nuôi, mà mùa nào, giờ nào chúng ăn những thứ gì trong những loài cây đặc hữu đó chúng ta không biết, không thể biết và không cần phải biết.
Trong thiên nhiên, sự phát tán cây rừng thông qua 3 kẻ gieo trồng: gió, chim và thú hoang ăn cây cỏ. Gió đẩy hạt đi xa, chim và thú ăn quả rồi thải hạt và mầm cây theo phân từ nơi này qua nơi khác. Nhiều hạt mầm cây đặc hữu gió không thể đưa đi xa, chim không ăn, còn thú ăn cỏ thì không với tới. Do chỉ ăn cây đặc hữu và chuyền như chim, nhanh như gió, nên một mình Chà vá có thể làm thay nhiệm vụ của cả 3 kẻ gieo trồng. Chính chúng giữ vai trò chính trong việc bảo tồn cây đặc hữu trong rừng nguyên sinh.
Và chúng nhất định không muốn làm bạn với chúng ta, dù chúng ta suốt ngày mến yêu tôn vinh chúng. Chúng chỉ là biểu tượng của rừng cấm Sơn Trà, không phải là biểu tượng của bất cứ thứ gì khác. Biến chúng thành biểu tượng để “xưng bá” cho ngành Du lịch chính là cách nhanh nhất đẩy chúng đến con đường tuyệt diệt.
Tôi vẫn còn nhớ gần 30 năm trước, khi nói về dự án Vườn quốc gia Sơn Trà-Hải Vân, ông Hoàng Đình Bá bảo đây sẽ là nơi thu hút các nhà khoa học, các giáo sư và sinh viên các viện nghiên cứu và các trường đại học trên toàn thế giới đến nghiên cứu về lâm sinh, động thực vật học, y dược, thổ nhưỡng, môi trường và các lĩnh vực liên quan. Bởi vì, như đã nói, ở đây có gần đủ mọi loài thực vật trên hành tinh, có rất nhiều loài thực vật và động vật mà các nước khác không có.
Ý tưởng đó giờ đây càng trở nên sáng rõ. Đây không phải là ý tưởng hy sinh lợi ích trước mắt (là du lịch) cho lợi ích căn bản lâu dài mà vẫn bảo đảm cho cả lâu dài và trước mắt. Khách du lịch dĩ nhiên đông hơn giới nghiên cứu, nhưng không phải ai cũng có nhu cầu đến Sơn Trà, trong khi giới nghiên cứu có liên quan thì có thể thu hút được phần lớn, và họ sẽ phải bỏ ra những chi phí rất cao và tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt để được tiếp cận Chà vá chân nâu cũng như những thứ quý hiếm khác.
Ở đây, khách hàng không phải là “Thượng đế”. “Thượng đế” là Chà vá chân nâu, là cây là con, là không khí, là suối mát, là nắng gió Sơn Trà. Tiền chúng ta thu được không những không kém thua tiền thu từ du lịch mà còn lớn hơn nhiều nếu chúng ta biết cách tổ chức. Dĩ nhiên khách du lịch vẫn có thể đến, nếu họ chấp nhận chi phí cao theo tỉ lệ thuận với mức độ tiếp cận và tuân thủ các quy định dành cho giới nghiên cứu.
Xin lỗi các bạn yêu mến Sơn Trà hàng ngày đi chụp hình Chà vá chân nâu đưa lên Facebook. Lẽ ra các bạn phải bỏ ra một số tiền rất lớn để có thể lấy được một giấy phép đến nơi chúng ở, và muốn chụp hình chúng, các bạn lại phải bỏ thêm ra một khoản tiền lớn nữa, nếu như thời gian qua Chà vá chân nâu thật sự được bảo vệ. Giờ thì có thể bọn lâm tặc không dám bắt Chà vá chân nâu đem đi nấu cao, nhưng để ai cũng có thể tiếp cận chúng thì mức độ nguy cấp càng tăng lên. Yêu mến chúng thì đừng đem chúng lên “nấu cao” trên mạng xã hội!
Nhưng dù có được bảo vệ nghiêm ngặt đến đâu đi chăng nữa thì cũng trở nên vô nghĩa khi đủ các thứ “nhóm lợi ích” thi nhau xâu xé Khu bảo tồn. Trước khi nói về các dự án được cấp phép và giao đất trái pháp luật, hãy nhìn một công trình đồ sộ đang hiện hữu giữa rừng cấm, đó là chùa Linh Ứng nằm trên bãi Bụt.
Đà Nẵng có tới 3 chùa Linh Ứng, người ta gọi chùa này là chùa Linh Ứng bãi Bụt, là ngôi chùa to nhất thành phố, với tượng Đức Quan Thế Âm Bồ tát cao 63 mét, đường kính tòa sen 35 mét, to nhất Việt Nam. Ngôi chùa với rất nhiều công trình hoành tráng được xây trên một diện tích hơn 20ha, theo sự ca ngợi trên truyền thông thì “không những được xem là một công trình in đậm dấu ấn phát triển của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI mà còn là nơi hội tụ của linh khí đất trời và lòng người”. Nhiều người còn gọi đây là “cõi Phật giữa chốn trần gian”, là ngôi chùa “cầu gì được nấy”…
Chúng tôi không mô tả về Chà vá chân nâu, vì người ta đã viết rất kỹ và chụp hình, quay phim rất rõ về loài động vật đặc biệt quý hiếm đang xếp vào danh mục cực kỳ nguy cấp này. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm đọc và chiêm ngưỡng chúng trên mạng với đủ kiểu, đủ dáng, đủ mọi góc nhìn, góc chụp, góc quay.
Chỉ xin lưu ý là chúng chỉ ăn lá và hoa quả của những loài cây đặc hữu, là những loài cây chỉ có ở Sơn Trà, chỉ hít thở và sinh con đẻ cái trong hệ sinh thái của rừng nguyên sinh nơi đây. Chúng không ăn rặt một vài thứ như những con vật mà chúng ta nuôi, mà mùa nào, giờ nào chúng ăn những thứ gì trong những loài cây đặc hữu đó chúng ta không biết, không thể biết và không cần phải biết.
Trong thiên nhiên, sự phát tán cây rừng thông qua 3 kẻ gieo trồng: gió, chim và thú hoang ăn cây cỏ. Gió đẩy hạt đi xa, chim và thú ăn quả rồi thải hạt và mầm cây theo phân từ nơi này qua nơi khác. Nhiều hạt mầm cây đặc hữu gió không thể đưa đi xa, chim không ăn, còn thú ăn cỏ thì không với tới. Do chỉ ăn cây đặc hữu và chuyền như chim, nhanh như gió, nên một mình Chà vá có thể làm thay nhiệm vụ của cả 3 kẻ gieo trồng. Chính chúng giữ vai trò chính trong việc bảo tồn cây đặc hữu trong rừng nguyên sinh.
Và chúng nhất định không muốn làm bạn với chúng ta, dù chúng ta suốt ngày mến yêu tôn vinh chúng. Chúng chỉ là biểu tượng của rừng cấm Sơn Trà, không phải là biểu tượng của bất cứ thứ gì khác. Biến chúng thành biểu tượng để “xưng bá” cho ngành Du lịch chính là cách nhanh nhất đẩy chúng đến con đường tuyệt diệt.
Tôi vẫn còn nhớ gần 30 năm trước, khi nói về dự án Vườn quốc gia Sơn Trà-Hải Vân, ông Hoàng Đình Bá bảo đây sẽ là nơi thu hút các nhà khoa học, các giáo sư và sinh viên các viện nghiên cứu và các trường đại học trên toàn thế giới đến nghiên cứu về lâm sinh, động thực vật học, y dược, thổ nhưỡng, môi trường và các lĩnh vực liên quan. Bởi vì, như đã nói, ở đây có gần đủ mọi loài thực vật trên hành tinh, có rất nhiều loài thực vật và động vật mà các nước khác không có.
Ý tưởng đó giờ đây càng trở nên sáng rõ. Đây không phải là ý tưởng hy sinh lợi ích trước mắt (là du lịch) cho lợi ích căn bản lâu dài mà vẫn bảo đảm cho cả lâu dài và trước mắt. Khách du lịch dĩ nhiên đông hơn giới nghiên cứu, nhưng không phải ai cũng có nhu cầu đến Sơn Trà, trong khi giới nghiên cứu có liên quan thì có thể thu hút được phần lớn, và họ sẽ phải bỏ ra những chi phí rất cao và tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt để được tiếp cận Chà vá chân nâu cũng như những thứ quý hiếm khác.
Ở đây, khách hàng không phải là “Thượng đế”. “Thượng đế” là Chà vá chân nâu, là cây là con, là không khí, là suối mát, là nắng gió Sơn Trà. Tiền chúng ta thu được không những không kém thua tiền thu từ du lịch mà còn lớn hơn nhiều nếu chúng ta biết cách tổ chức. Dĩ nhiên khách du lịch vẫn có thể đến, nếu họ chấp nhận chi phí cao theo tỉ lệ thuận với mức độ tiếp cận và tuân thủ các quy định dành cho giới nghiên cứu.
Xin lỗi các bạn yêu mến Sơn Trà hàng ngày đi chụp hình Chà vá chân nâu đưa lên Facebook. Lẽ ra các bạn phải bỏ ra một số tiền rất lớn để có thể lấy được một giấy phép đến nơi chúng ở, và muốn chụp hình chúng, các bạn lại phải bỏ thêm ra một khoản tiền lớn nữa, nếu như thời gian qua Chà vá chân nâu thật sự được bảo vệ. Giờ thì có thể bọn lâm tặc không dám bắt Chà vá chân nâu đem đi nấu cao, nhưng để ai cũng có thể tiếp cận chúng thì mức độ nguy cấp càng tăng lên. Yêu mến chúng thì đừng đem chúng lên “nấu cao” trên mạng xã hội!
Nhưng dù có được bảo vệ nghiêm ngặt đến đâu đi chăng nữa thì cũng trở nên vô nghĩa khi đủ các thứ “nhóm lợi ích” thi nhau xâu xé Khu bảo tồn. Trước khi nói về các dự án được cấp phép và giao đất trái pháp luật, hãy nhìn một công trình đồ sộ đang hiện hữu giữa rừng cấm, đó là chùa Linh Ứng nằm trên bãi Bụt.
Đà Nẵng có tới 3 chùa Linh Ứng, người ta gọi chùa này là chùa Linh Ứng bãi Bụt, là ngôi chùa to nhất thành phố, với tượng Đức Quan Thế Âm Bồ tát cao 63 mét, đường kính tòa sen 35 mét, to nhất Việt Nam. Ngôi chùa với rất nhiều công trình hoành tráng được xây trên một diện tích hơn 20ha, theo sự ca ngợi trên truyền thông thì “không những được xem là một công trình in đậm dấu ấn phát triển của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI mà còn là nơi hội tụ của linh khí đất trời và lòng người”. Nhiều người còn gọi đây là “cõi Phật giữa chốn trần gian”, là ngôi chùa “cầu gì được nấy”…(Một Thế Giới 9/5) đầu trang(
Có một thời, người dân tìm cách chặt phá rừng phòng hộ để có chỗ nuôi thủy sản. Nhưng khi không còn rừng, tôm, cá cũng chẳng giữ được, bị sóng đánh trôi hết ra biển.
Nay nhờ chính sách giao khoán đất rừng, người dân nuôi trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Dưới tán rừng giờ đây là tôm cá, cơm áo, gạo tiền, là cuộc sống của họ.
Kiên Giang nằm trải mình bên vịnh Thái Lan thuộc vùng biển Tây, với hơn 200 km bờ biển. Để giữ đất liền trước cuồng phong của biển cả, thiên nhiên ban tặng cho Kiên Giang những cánh rừng phòng hộ, với 2 loại cây chủ lực là đước và mắm. Thông thường, rừng phòng hộ lấn ra biển khoảng 100 mét, còn ở những bãi bồi, dễ có đến vài trăm mét. Rừng không chỉ chắn sóng, mà còn là nơi tôm, cá trú ngụ, sinh sản.
Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, cuộc sống nghèo khó, người dân bám riết vào rừng để tồn tại. Khai thác tôm, cá tự nhiên dưới tán rừng có, chặt phá cây rừng hầm than, bán gỗ cũng có. Vì vậy, rừng cứ mỏng dần dưới bàn tay con người.
Tôi theo chân cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ An Biên – An Minh ra tận mép biển. Ông Quách Văn Kin, ấp Xẻo Quao, xã Thuận Hòa, huyện An Minh, năm nay 70 tuổi nhưng đã có hơn 50 năm sống dưới tán rừng. Năm 18 tuổi, từ nông dân chuyên làm ruộng ở Xẻo Bần, anh Kin lập gia đình rồi tìm về vùng Xẻo Quao sinh sống.
“Hồi đó, rừng xanh bao phủ, tôm, tép, cá biển rất nhiều. Chỉ cần chọn chỗ bãi bồi, phát dọn cây rừng rồi lên vuông, chờ con nước lên, mở đập cho tôm cá theo vào, khi nước rút ra thì chặn bắt. Cứ vậy, ở đây ai cũng bám lấy rừng để sống”, ông Kin nhớ lại.
Tương tự, ông Hai Bảo, 65 tuổi cũng chọn vùng rừng ngập mặn ven biển ở Xẻo Quao để sống mấy chục năm qua. Trước đây người dân nghèo lắm. Sống dựa vào rừng, khai thác tôm, tép tự nhiên nên thu nhập không đáng là bao. “Mỗi tháng bắt được hai đợt tôm cá theo con nước lớn dịp rằm và 30, chỉ việc mở đập cho tôm, cá từ biển vào vuông, khi nước rút ra dùng đó, đục để chặn bắt. Ít thì để ăn, nhiều đem bán”, ông Hai Bảo chia sẻ cuộc sống trước kia.
Đến khi thực hiện mô hình kinh tế tập thể theo tập đoàn, rừng mắm, đước ven biển bị chặt phá rất nhiều. Ông Hai Bảo cho biết: “Phá rừng có hai nhóm người. Một là dân địa phương, họ thường chặt cây làm nhà, đốt than hoặc lấy chà chất bắt cá ngoài biển, số lượng không nhiều. Hai là dân nơi khác đến, mang theo ghe lớn, mỗi lần chặt phá rất nhiều. Chẳng bao lâu những vạt rừng đước, mắm loại lớn, dùng làm cột nhà bị san phẳng”.
Mất rừng phòng hộ che chắn phía ngoài, mùa mưa bão sóng đánh thẳng vào bờ gây sạt lở. Đời sống người dân vốn khó khăn ngày càng túng quẫn hơn. Không còn rừng che chắn nên đến mùa gió bấc (khoảng tháng 9 đến tháng Giêng, tháng 2 năm sau), mưa bão, sóng đánh bể nát bờ vuông, tôm, cá trôi hết ra biển. Năm nào cũng vậy, cứ đến mùa này dân phải di cư nơi khác tìm kế sinh nhai”, ông Hai Bảo nhớ lại.
Thấy được những bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, năm 1997, UBND tỉnh Kiên Giang triển khai việc giao khoán đất rừng cho các tổ chức, cá nhân quản lý theo Nghị định 01/CP, ngày 4 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ. Và sau này, áp dụng Quyết định 178/2001/QĐ –TTg ngày 12/11/2001 giúp dân có nguồn thu nhập từ rừng ổn định cuộc sống.
Theo đó, đối với rừng sản xuất, khi đã trồng đạt 100% diện tích và đến tuổi khai thác, hộ nhận khoán sẽ được khai thác từ 10-15%/năm. Còn đối với rừng phòng hộ, người nhận khoán phải đảm bảo trồng và phát triển đạt 70% diện tích rừng, còn lại 30% thu từ nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng.
Nhờ chính sách này mà nhiều vạt rừng bị chặt phá nay được người dân trồng lại. Khi giao khoán, hộ ông Quách Văn Kin được nhận 15 ha. “Gọi là đất rừng nhưng gần như là bãi trống, cán bộ quản lý yêu cầu phải tiến hành trồng rừng lại, khi nào đạt 70% diện tích mới được múc vuông nuôi thủy sản. Thấm thoát giờ đã thành rừng đước trên 20 năm tuổi.
Với 15 ha đất rừng nhận khoán, gia đình ông Kin có gần 5 ha mặt nước nuôi thủy sản. Từ năm 2.000 trở lại đây, ông Kin tập trung nuôi sò huyết dưới tán rừng. Ngoài ra, còn nuôi ghép thêm tôm sú, cua biển, lấy ngắn nuôi dài. Mỗi năm, mô hình này mang lại cho gia đình ông hằng trăm triệu đồng, cuộc sống ngày càng phát triển.
“Sò huyết nuôi phải từ 10 – 12 tháng mới cho thu hoạch, mỗi năm thu vài tấn sò (giá bán khoảng 80 – 95 triệu đồng/tấn, tùy lớn nhỏ) là sống khỏe. Còn tôm, cua thả xen thì chỉ 3 – 4 tháng là có thu hoạch, bắt lai rai lấy tiền trang trải cuộc sống hàng ngày”, ông Kin chia sẻ.
Tương tự, hộ ông Hai Bảo nhận khoán 6 ha đất rừng. Sau thời gian ra sức trồng lại rừng đước, ông bắt đầu lên vuông để nuôi sò huyết, tôm, cua... Sò huyết giống (sò cám – nhỏ như hạt cám) bắt từ biển về, được người dân nơi đây ương dèo trước mặt nhà. Khi đạt trọng lượng 1.000 con/kg bắt đầu thả vào vuông nuôi dưới tán rừng. Nếu không tự dèo giống được thì mua lại với giá 130.000 đồng/kg 1.000 con để thả nuôi.
Vừa lội xuống xúc sò, ông Hai Bảo vừa chia sẻ: “Nuôi sò nặng vốn đầu tư ban đầu (mua giống, xử lý môi trường nước), công chăm sóc nhưng bù lại không lo thức ăn. Nếu nuôi đạt tỷ lệ sống 50 – 60% thôi là “1 vốn 3, 4 lời” rồi. Cứ mỗi tấn sò thương phẩm là bỏ túi vài chục triệu. Vậy nên ai cũng ra sức giữ rừng để che chắn, bảo vệ nồi cơm nhà mình”.
Đời sống người dân sống bám nhờ rừng nay đã khá lên nhiều. Bộ mặt nông thôn thay đổi, có điện lưới, đường bê tông xe ô tô về đến tận nhà, điều mà chỉ cách đây hơn chục năm không ai dám nghĩ. Nguyện vọng của người dân là được vay vốn ngân hàng. Vì là đất rừng nhận khoán, không có sổ đỏ nên không có gì thế chấp. “Nếu có vốn vay ngân hàng đầu tư làm ăn, chắc chắn đời sống sẽ nâng cao hơn chứ không phải chỉ ở mức khá như hiện nay”, ông Hai Bảo khẳng định. (Nông Nghiệp VN 9/5) đầu trang(
Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã (SVW) cho biết, đêm 6/5, Trung tâm cùng Vườn quốc gia Cúc Phương tiến hành tái thả 53 con tê tê Java (Manis javanica) về với tự nhiên.
Đây là đợt tái thả thứ hai trong vòng hơn một tuần qua kể từ ngày 28/4 đến ngày 6/5, tổng số cho hai đợt tái thả này là 93 con.
Những động vật này được cứu hộ từ vụ tịch thu 113 cá thể tê tê Java với tổng trọng lượng 513 kg, do Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49), thuộc Công an tỉnh Hòa Bình tiến hành vào đầu tháng 4 vừa qua. Sau hơn một tháng được chăm sóc tại Trung tâm, có 93 con tê tê khỏe mạnh đã được lựa chọn để được tái thả về tự nhiên. Đây cũng là đợt cứu hộ và tái thả lại tự nhiên lớn nhất từ trước đến nay.
Tê tê là loài một trong những loài động vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao ở Việt Nam. Mặc dù tê tê bị cấm buôn bán thương mại trên toàn thế giới, nhưng số lượng tê tê bị săn bắt phục vụ nhu cầu con người vẫn đang diễn ra. Chỉ vì sự tò mò hay thói quen muốn được thưởng thức “của ngon vật lạ” của những kẻ có tiền, hay niềm tin mù quáng vào giá trị chữa bệnh của vẩy tê tê mà con người đang đẩy loài động vật này vào nguy cơ tuyệt chủng.
Ông Nguyễn Văn Thái, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã cho biết: Tê tê là một loài thú đặc biệt, chỉ ăn kiến và mối ngoài tự nhiên. Chúng là một trong những loài thú khó cứu hộ nhất trên thế giới.
Trong 8 tháng qua, Trung tâm đã cứu hộ hơn 400 con tê tê từ buôn bán trái phép, trong đó 304 con đã được tái thả về tự nhiên an toàn. Có những lúc số lượng tê tê ở Trung tâm lên đến 139 con. Với số lượng đó, mỗi ngày Trung tâm phải cung cấp gần 40 kg thức ăn với số tiền lên tới 300 triệu một tháng.
Đây là một sự nỗ lực rất lớn để có thể tái thả số lượng lớn tê tê về với tự nhiên.
Theo ông Trần Quang Phương, Quản lý Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê: “Gần đây Trung tâm đã nhận được nhiều sự phối hợp từ các cơ quan chức năng liên quan trong công tác bảo tồn tê tê. Đây là tín hiệu tốt nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều áp lực cho nhân viên của Trung tâm hơn bởi số lượng tê tê cứu hộ được ngày càng tăng.
Trung tâm đã tiến hành thành lập nhóm phản ứng nhanh, nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng tiến hành chăm sóc và cứu hộ kịp thời những con tê tê bị buôn bán trong phạm vi cả nước. Đồng thời đã thiết lập đường dây nóng (0978 331 441) phục vụ công tác cứu hộ tê tê và tư vấn cho các cơ quan chức năng liên quan đến loài động vật đáng thương này”. (Bnews 8/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Xã Hồng Kim nằm ở phía Bắc của huyện A Lưới, đơn vị hành chính gồm có 04 thôn và 01 làng Việt Tiến, tổng dân số của toàn xã là 1.978 người với 531 hộ. Là một xã vùng cao, tập trung chủ yếu là đồng bào dân tộc Pa Cô sinh sống với điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, cuộc sống của đại đa số bà con chủ yếu phụ thuộc vào lâm nghiệp.Tổng diện tích đất rừng tự nhiên trên địa bàn xã là: 4.089  ha, trong đó diện tích được giao cho 6 cộng đồng thôn quản lý bảo vệ là: 403,26 ha.
Trước đây, để quản lý, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên được Nhà nước giao, các cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn. Tuy việc tổ chức quản lý, bảo vệ rừng vẫn được các cộng đồng thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao, còn mang tính hình thức do bà con chưa có nguồn lực để thực hiện. Do vậy, áp lực cho công tác quản lý, bảo vệ rừng lên chính quyền địa phương và kiểm lâm địa bàn là rất lớn.
Từ khi có Nghị định 99 về thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cụ thể từ năm 2014 đến nay, các cộng đồng trên địa bàn xã đã nhận được hơn 700 triệu đồng tiền chi trả DVMTR. Điều này đã tạo nên động lực mạnh mẽ cho các cộng đồng thôn tham gia nhận quản lý, bảo vệ rừng. Trong công tác tổ chức thực hiện, được sự quan tâm của UBND huyện, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, chính quyền xã Hồng Kim đã tổ chức nhiều cuộc họp từ cấp xã, đến thôn, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp để chính sách sớm đi vào thực hiện tại địa phương.
Việc thực hiện Chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn được cụ thể hóa thông qua các Nghị quyết của HĐND xã, kế hoạch hành động của UBND xã. Đã phân công cán bộ chuyên trách thực hiện Chính sách chi trả DVMTR tại địa phương. Tại mỗi cộng đồng thôn, đã tổ chức họp để bình bầu, kiện toàn các Ban quản lý rừng cộng đồng, Ban Kiểm soát đồng thời các thôn xây dựng Quy chế sử dụng tiền DVMTR được UBND xã phê duyệt.
Chính sách chi trả DVMTR là chính sách mới, do đó chính quyền xã đã phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm huyện, Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tuyên truyền Chính sách chi trả DVMTR đến từng cộng đồng thôn bằng nhiều hình thức đa dạng như họp thôn, in ấn phát tờ rơi, xây dựng Pano tuyên truyền, tham gia Hội thi tìm hiểu Chính sách chi trả DVMTR. Chính vì thế, đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của rừng, về Chính sách chi trả DVMTR.
Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của UBND xã, các Ban quản lý rừng cộng đồng đã chủ động hơn trong việc thiết lập thủ tục, hồ sơ chi trả DVMTR, xây dựng kế hoạch tuần tra, bảo vệ rừng, kế hoạch sử dụng tiền chi trả với sự tham gia của các thành viên trong thôn. Điều này đã tạo nên sự hưởng ứng nhiệt tình của bà con bằng việc tự nguyện tham gia các tổ, nhóm thực hiện luân phiên tuần tra cũng như cung cấp những thông tin kịp thời cho chính quyền xã, kiểm lâm địa bàn khi có tình trạng chặt phá rừng trái phép, xâm chiếm rừng xảy ra.
Bình quân hàng năm, 06 cộng đồng thôn trên địa bàn xã nhận được gần 250 triệu đồng tiền chi trả DVMTR. Đây là nguồn lực quan trọng để các ban quản lý rừng cộng đồng tập trung tổ chức thực hiện tuần tra, bảo vệ với mức chi là từ 100.000 - 150.000đ/ngày công đi tuần tra, canh gác rừng. Bên cạnh đó, các cộng đồng đã tự chủ động trang bị thêm các dụng cụ phục vụ tuần tra rừng như áo quần, mũ, dép rọ, rựa,..; có thôn còn dùng để tu sửa lại hệ thống loa đài để phục vụ tốt hơn cho việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước nói chung và Chính sách chi trả DVMTR nói riêng.
Chi trả DVMTR đã tạo cơ hội gắn kết hơn giữa các thành viên trong thôn, giữa các cộng đồng dân cư thôn, bản với chính quyền xã, Hạt Kiểm lâm. Bà con không những đã có ý thức trách nhiệm hơn trong việc tham gia quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng của thôn mình mà còn là kênh thông tin quan trọng cho các cơ quan quản lý về lâm nghiệp khi có sự việc bất thường xảy ra ở các khu vực rừng giáp ranh. Bên cạnh đó, việc sử dụng tiền chi trả DVMTR luôn được các Ban quản lý rừng cộng đồng công khai định kỳ 3 tháng/lần trước bà con trong thôn, với sự kiểm tra giám sát của chính quyền xã. Do đó, đã tạo nên sự đồng thuận cho việc triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại cộng đồng thôn.
Từ khi được chi trả DVMTR đến nay, độ che phủ rừng trên địa bàn xã không những được giữ vững mà chất lượng rừng có sự thay đổi tích cực. Từ nguồn tiền chi trả DVMTR, cũng như từ hỗ trợ của các chương trình, dự án trên địa bàn, các cộng đồng đã làm giàu rừng, phát triển rừng bằng cách trồng các loài cây bản địa, trồng Mây. Kết quả sau 3 năm (2014-2016) đã trồng thêm hơn 2 vạn cây bản địa như cây: lim, gõ, sến tại 170 ha rừng ở các cộng đồng thôn 3, thôn 4, thôn 5, thôn 6. Đến nay, số cây này đã phát triển khá tốt, trung bình cây đã cao hơn 1m. Ngoài ra, đã trồng được hơn 22 vạn cây mây tại rừng cộng đồng các thôn: 1,2,3,4,5,6 với diện tích là: 137,5 ha, trung bình trồng 1660 cây/ha.
Qua đó, không chỉ giúp bà con ở các cộng đồng có thêm nguồn thu nhập trong thời gian tới mà còn góp phần tăng trữ lượng tài nguyên rừng lên đáng kể. Các khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của các cộng đồng ôm trọn các khe suối tạo nên thác A Nô nước chảy quanh năm. Đây là một địa điểm đẹp phục vụ du lịch sinh thái, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao giá trị cảnh quan của rừng.
Sau hơn 3 năm được nhận tiền chi trả DVMTR (2014-2016), công tác quản lý, bảo vệ rừng của các cộng đồng thực sự đã có chuyển biến tích cực, bà con đã có trách nhiệm hơn trong việc giữ rừng, giữ nguồn nước, giữ sinh kế của mình. Giờ đây, trên những khu rừng của xã Hồng Kim đã có chủ thực sự, đã góp phần để chính quyền xã thực hiện tốt hơn công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương. Ghi nhận những thành tích đạt được trong công tác thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tại Hội nghị tổng kết 06 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh (2011-2016), UBND xã Hồng Kim đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tặng bằng khen. (Quỹ Bảo Vệ & Phát Triển Rừng TT-Huế 8/5) đầu trang(
Tỉnh Cà Mau đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phát triển trồng rừng nguyên liệu thâm canh ở U Minh Hạ từ 18.000 - 20.000 ha, trong đó keo lai và keo lá tràm chiếm khoảng 60%, còn lại là tràm cừ.
Keo lai được xác định là một trong 6 ngành hàng được ưu tiên trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh đã xây dựng kế hoạch phát triển ngành hàng keo lai, xem đây là mô hình kinh tế hiệu quả mở ra một hướng đi mới, góp phần giải quyết sinh kế, nâng cao đời sống của người dân.
Hiện nay, diện tích rừng keo lai đã trồng tập trung thay thế rừng tràm hiện có của tỉnh là 7.400 ha, chủ yếu tập trung ở huyện U Minh, trong đó, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ trồng 3.446 ha, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trồng 2.820 ha, diện tích còn lại do các đơn vị vũ trang và hộ gia đình trồng là 1.134 ha.
Theo ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, tỉnh sẽ tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp thuê rừng sản xuất trồng thâm canh cây keo lai. Đồng thời, tỉnh hỗ trợ cho người dân vay vốn để phát triển trồng rừng thâm canh keo lai nhằm tạo nguồn nguyên liệu ổn định và nâng cao đời sống của người dân vùng rừng U Minh Hạ.
Cơ quan chức năng tỉnh còn phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để đẩy mạnh tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào việc cải thiện về năng suất, chất lượng giống cây lâm nghiệp, chất lượng rừng trồng, các mô hình sản xuất hiệu quả; quy hoạch mạng lưới sản xuất cây giống lâm nghiệp, đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất giống tại các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung...
Theo ông Dư Bé Ba, Chủ tịch UBND huyện U Minh, mô hình trồng keo lai đang khẳng định về mặt giá trị kinh tế. Do thời gian trồng, thu hoạch keo lai rút ngắn được một nửa so với trồng tràm nên nguồn thu được nâng cao.
Bình quân trồng 1 ha keo lai cho nguồn thu trên 200 triệu đồng, trong khi trồng 1 ha tràm cho nguồn thu chỉ 150 -160 triệu đồng nhưng chu kỳ khai thác kéo dài từ 7 năm trở lên.
Huyện cũng đã xin chủ trương của UBND tỉnh cho phép chuyển đổi khoảng 840 ha đất nông nghiệp giao khoán trong dân sản xuất không hiệu quả để chuyển sang trồng rừng thâm canh, đặc biệt là phát triển rừng keo lai có đường kính lớn để nâng cao hơn về giá trị gỗ.
Dự kiến đến năm 2020, có trên 20% sản phẩm gỗ keo lai được khai thác từ rừng trồng tại huyện U Minh có đường kính trên 15 cm cung cấp cho chế biến gỗ lớn.
Tuy nhiên, trước khó khăn nhiều hộ dân trên địa bàn không có vốn để đầu tư cải tạo trồng rừng keo lai, UBND huyện chỉ đạo chính quyền địa phương vận động cũng như khuyến khích người dân trên địa bàn nên hợp tác với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ triển khai mô hình trồng rừng keo lai theo hình thức ‘‘ăn chia’’.
Thời gian tới, huyện sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc tìm thị trường và tiếp thị sản phẩm; đa dạng hóa các sản phẩm từ keo lai, tìm kiếm thị trường xuất khẩu tiềm năng để tạo dựng đầu ra ổn định lâu dài cho ngành hàng keo lai trên vùng đất U Minh Hạ, ông Dư Bé Ba cho biết thêm.
Để giải quyết đầu ra ổn định cho cây keo lai, UBND tỉnh Cà Mau khuyến khích các doanh nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu gỗ xây dựng các cơ sở chế biến liên kết với vùng nguyên liệu.  Đồng thời, tạo nguồn nguyên liệu có chất lượng phục vụ cho chế biến, áp dụng khoa học và kỹ thuật tiên tiến vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu các thị trường, xúc tiến thương mại, giới thiệu mặt hàng gỗ rừng trồng...
Trong thời gian qua, do việc trồng keo lai chưa có quy hoạch và định hướng cho sản phẩm nên chủ yếu sản phẩm keo lai là loại gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ...
Do vậy, trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉnh Cà Mau đã ưu tiên phát triển cây keo lai nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng theo hướng tạo nguồn nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, gắn mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. (Tin Tức 6/5) đầu trang(
Ông Nguyễn Tuấn Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, sau khi sắp xếp, đổi mới hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, Đắk Lắk vẫn còn nhiều vướng mắc về công tác lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cắm mốc thực địa và bản đồ địa chính của các đơn vị. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý đất đai ở các công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp, đổi mới hoạt động.
Thực tế, việc xác định ranh giới ngoài thực địa, đo đạc, cắm mốc ranh giới đất của các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn còn nhiều phức tạp. Nhất là các công ty lâm nghiệp, do địa hình đồi núi, tình hình tranh chấp, lấn chiếm đất đai, giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn.
Một số trường hợp cắm mốc ranh giới sử dụng đất giữa các công ty lâm nghiệp phải phát quang rừng (phải làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng rừng).
Công tác hiệp thương với người dân, chính quyền địa phương vẫn còn vướng mắc do đường ranh giới giao đất trước đây không xác định được trên thực địa và có tranh chấp đất với người dân.  Nhiều công ty lâm nghiệp trước đây buông lỏng quản lý đất đai trong thời gian dài để diện tích đất bị lấn chiếm, cho thuê, mượn, chuyển mục đích, chuyển nhượng đất trái pháp luật còn phổ biến nên làm chậm tiến độ việc đo đạc cắm mốc, lập bản đồ địa chính. Hiện vẫn còn hàng chục công ty chưa có tài liệu, bản đồ cơ bản để hoàn thiện phương án sử dụng đất theo quy định.  Mặt khác, hầu hết các Công ty lâm nghiệp chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên phương án sử dụng đất đều đề xuất phê duyệt kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng nghèo kiệt không còn khả năng phục hồi đưa vào cải tạo rừng, trồng cây công nghiệ, phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có cơ sở pháp lý để tỉnh phê duyệt nội dung này.
Nguyên nhân là do điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, rà soát quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt. Đặc biệt là phải thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, không được chuyển rừng tự nhiên hiện còn sang mục đích khác theo Thông báo số 191 của Văn phòng Chính phủ.
Tỉnh Đắk Lắk hiện có 6 Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp được duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty lâm ghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Tỉnh Đắk Lắk cũng đã phối hợp với các nhà đầu tư thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở trên đối với 8 công ty lâm nghiệp và 1 công ty nông nghiệp.
Đắk Lắk đã chỉ đạo các Công ty nông, lâm nghiệp sau khi chuyển đổi chủ động phối hợp với các đơn vị chức năng, chính quyền địa phương xử lý dứt điểm đối với quỹ đất bị lấn chiếm đưa vào phương án sử dụng đất theo đúng quy định.
Các đơn vị chức năng hướng dẫn Công ty TNHH MTV, 2 thành viên cần sử dụng hồ sơ ranh giới sử dụng đất của các công ty đã cắm mốc và bản đồ địa chính nghiệm thu, phê duyệt năm 2016. Đồng thời, liên kết với bản đồ hiện trạng rừng tại thời điểm phù hợp, hoặc sử dụng tài liệu bản đồ đề đất đai, hiện trạng rừng có tính pháp lý gần nhất để lập, thẩm định, phê duyệt phương án sử dụng đất kịp thời đi vào hoạt động.
Tỉnh Đắk Lắk cũng kiến nghị các Bộ, ngành chức năng như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm báo cáo Thủ tướng Chính phủ có giải pháp tháo gỡ các vướng mắc nêu trên để tỉnh thuận lợi trong việc phê duyệt, thực hiện phương án sử dụng đất, tổ chức sản xuất kinh doanh tại các Công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp đổi mới theo Nghị quyết30 của Bộ Chính trị.
Đồng thời đề nghị Chính phủ sớm hỗ trợ kinh phí (78,5 tỷ đồng) để tỉnh hoàn thành nhiệm vụ lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các Công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn…(Tin tức 8/5) đầu trang(
19-5 tới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các sở, ngành, UBND các quận, huyện phát động phong trào trồng cây nhớ ơn Bác Hồ, nhân kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Người.
Theo kế hoạch, thành phố sẽ trồng mới một triệu cây xanh, phấn đấu đến năm 2020 sẽ có thêm hơn 1.200 ha rừng quy đổi, đưa tỷ lệ cây xanh che phủ lên 40,3% tổng diện tích thành phố.
TP Hồ Chí Minh là đô thị đông dân, nhiều nắng, mật độ giao thông đông đúc, lại có nhiều khu công nghiệp tập trung. Việc trồng thêm cây xanh, tạo bóng mát, cải thiện môi trường không khí luôn được Ðảng bộ, chính quyền, tổ chức đoàn thể các cấp, đơn vị, doanh nghiệp, trường học và các tầng lớp nhân dân quan tâm. Cùng với bảo vệ diện tích rừng, cây xanh hiện hữu, mỗi năm các cấp, các ngành, nhân dân các địa phương trong thành phố còn trồng mới hàng triệu cây xanh các loại, góp phần tăng thêm diện tích mảng xanh trong thành phố.
Theo số liệu tổng kết của UBND thành phố, giai đoạn 2011 – 2015, toàn thành phố trồng được hơn năm triệu cây các loại, tương đương 1.217 ha cây xanh quy đổi, trong đó, các tổ chức, gia đình và cá nhân tự túc kinh phí trồng hơn 3 triệu cây các loại, có diện tích hơn 410 ha quy đổi. Chủng loại cây trồng trong thành phố khá đa dạng, vừa phù hợp đặc điểm sinh trưởng của cây vừa gắn kết với các khu di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan của thành phố. Hàng nghìn cây gỗ quý được trồng tại khu Công viên Lịch sử - Văn hóa dân tộc; Ðền tưởng niệm Chiến khu An Phú Ðông; 600 cây bàng quần đảo Trường Sa được trồng trong các trường học; hàng trăm nghìn cây dừa nước, tràm nước, gõ nước... được trồng ven kênh, rạch...
Thực tế cũng cho thấy, công tác trồng cây xanh của thành phố những năm qua vẫn còn những hạn chế cần được lưu ý, khắc phục. Cây xanh do người dân, tổ chức tự bỏ kinh phí trồng, tuy số lượng nhiều nhưng chủ yếu là cây cảnh, bonsai, không tạo bóng mát, diện tích quy đổi thấp, tác dụng không nhiều trong việc cải thiện môi trường không khí. Các quận nội thành chật hẹp, diện tích bê-tông hóa, đường phố nhiều, không có nhiều diện tích để trồng thêm cây xanh. Nhiều địa phương, chú trọng trồng cây nhưng công tác bảo vệ cây chưa được coi trọng tương xứng, dẫn đến cây bị phá hoại, khô héo. Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, trên các tuyến kênh, rạch, tỷ lệ cây trồng sống những năm qua chưa tới 60%.
Thành phố thuộc vùng khí hậu có hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm cao, là điều kiện tốt để cây xanh phát triển. Việc tổ chức, phát động trồng cây vào mùa mưa hằng năm là rất phù hợp. Ðể đạt chỉ tiêu mỗi năm trồng thêm ít nhất một triệu cây xanh, công tác tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa của phong trào trồng cây rất quan trọng. Từ đó, vận động các cơ quan, đơn vị và người dân tích cực trồng thêm cây xanh ở khuôn viên cơ quan, trường học, chung quanh nơi ở; nâng cao ý thức bảo vệ cây trồng, bảo vệ rừng. Công tác trồng cây nên thực tế, tránh phô trương, hình thức, trồng nhưng thiếu chăm sóc, bảo vệ. Ngoài các đợt phát động cao điểm, việc trồng cây nên được thực hiện thường xuyên, lựa chọn loại cây có đặc điểm sinh trưởng phù hợp khí hậu.
Một trong những nguyên nhân làm cho công tác trồng và giữ gìn bảo vệ cây xanh chưa tốt, là giá trị sử dụng của cây trồng chưa cao do chu kỳ khai thác dài, chưa có nhiều loại cây gỗ quý. Khắc phục được điều này sẽ khuyến khích, tạo động lực cho người dân bỏ vốn trồng cây, trồng rừng. Trên đường phố, nơi công cộng, tùy theo đặc điểm của từng nơi, các cơ quan chức năng cần chọn lựa những loại cây phù hợp, không quá cao, tán rộng, khó đổ ngã, bộ rễ không ảnh hưởng đến vỉa hè, mặt đường, công trình ngầm. Ngành nông nghiệp cần nghiên cứu ươm trồng cây giống cung cấp cho người có nhu cầu. Các cơ quan chức năng cần truy tìm, xử lý nghiêm những trường hợp cố tình phá hoại cây xanh để thành phố ngày càng xanh hơn, đẹp hơn. (Nhân Dân 8/5) đầu trang(
Rừng vàng, biển bạc. Nếu biết đầu tư và khai thác hợp lý, rừng sẽ cho giá trị kinh tế rất cao, là nguồn sinh kế cho hàng trăm ngàn hộ dân sống dưới tán rừng.
Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong đó chú trọng rừng sản xuất đã và đang góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo ở đất mũi.
Vùng đất U Minh (Cà Mau) từ lâu đã được nhiều người biết đến với “bốn bề là tràm”. Tuy nhiên, suốt thời gian dài những hộ dân sống dưới tán “rừng vàng” vẫn nghèo khó. Nguyên nhân do cơ chế quản lý bất cập, chưa phân định rõ giữa rừng bảo tồn và rừng kinh tế dẫn đến thiếu đầu tư. Trong khi đó, rừng tràm ngập nước tự nhiên cho giá trị kinh tế thấp, chu kỳ khai thác lên tới gần 20 năm. Vì vậy, người dân chủ yếu sống dựa vào nguồn cá đồng và khai thác ong mật.
Thấy được những bất cập này, đầu những năm 2000, tỉnh Cà Mau thí điểm chuyển đổi qua rừng sản xuất và bắt đầu đưa cây keo lai vào trồng. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ. Nhiều người cho rằng cây keo lai sẽ “xâm thực” cây tràm bản địa. Một số lãnh đạo tỉnh thậm chí bị kỷ luật.
Ông Tô Quốc Bình, Bí thư Chi bộ ấp 13, xã Khánh An, huyện U Minh tâm sự: “Toàn ấp có 410 ha đất rừng, với 115 hộ dân, tính ra mỗi hộ được nhận khoán tới 4 - 5 ha. Vậy mà suốt thời gian dài người dân cứ sống trong cảnh đói nghèo, lỗi đó là do cách quản lý của chúng ta”.
Theo ông Bình, dù là chủ rừng nhưng người dân không được quyết định chọn loại cây trồng có giá trị kinh tế cao để canh tác. Vì khi giao khoán, tỉnh vẫn chủ trương giữ cây tràm nước bản địa, lại không được đầu tư ứng dụng KHKT nên kém hiệu quả. Các chương trình trồng rừng lúc bấy giời chỉ áp dụng biện pháp quảng canh truyền thống, cây giống gieo từ hạt, mức độ đầu tư thấp, chu kỳ sinh trưởng cả chục năm...
Đời sống của người làm lâm nghiệp ở Cà Mau chỉ thật sự thay đổi khi phương pháp trồng rừng mới được áp dụng. Đó là mô hình trồng rừng thâm canh trên mặt liếp, với 2 cây chủ lực là tràm và keo lai. Ông Tô Quốc Bình đánh giá, trồng rừng thâm canh nếu được đầu tư đúng mức thì cả cây tràm truyền thống, cũng như cây keo lai đều sinh trưởng và phát triển rất tốt.
Với phương pháp thâm canh trên mặt liếp, thay vì trồng trên mặt ruộng với mấy tháng ngập nước trong mùa mưa đã giúp rút ngắn thời gian trồng rừng, trung bình keo lai chỉ khoảng 4 - 5 năm, còn cây tràm 5-7 năm. Điều quan trọng hơn là giá trị kinh tế rừng trồng thâm canh cao gấp 3 - 4 lần so với trồng rừng quảng canh truyền thống trước đây.
Muốn bảo vệ và phát triển tốt rừng thì quan trọng nhất là phải đảm bảo sinh kế cho người dân. Mặc dù việc trồng rừng thâm canh đã giúp rút ngắn rất nhiều nhưng 5 – 7 năm vẫn là quá dài với những hộ nông dân nghèo. Do đó, trong khi chờ rừng tới chu kỳ khai thác, người dân nên chọn giải pháp lấy ngắn nuôi dài.
Sau khi lên liếp trồng rừng, mương nước còn lại khá nhiều, có thể nuôi cá đồng hoặc khai thác cá tự nhiên, kết hợp trồng bông súng bán. Quanh bờ mương, trồng thêm chuối để lấy bắp (hoa), buồng...
Bí thư Chi bộ ấp 13 Tô Quốc Bình khẳng định: “Với 4 - 5 ha đất rừng nếu chịu đầu tư khai thác thì làm giàu không khó. Chỉ riêng bông súng giá 6 - 7 ngàn đồng/kg, mỗi ngày cũng kiếm được vài chục ký. Chuối thu hoạch mỗi tháng 3 - 4 lần, vừa bán buồng vừa bán bắp. Cá đồng năm thu hoạch một đợt. Còn rừng chu kỳ khai thác doanh thu khoảng 200 triệu đồng/ha, chia ra mỗi năm cũng thu 40 – 50 triệu đồng/ha. Với nguồn thu như vậy là cao so với nhiều loại cây trồng khác”.
Chủ tịch UBND xã Khánh An Quách Văn Hợp cho biết, toàn xã có 16.000 ha, với 18 ấp, trong đó 10 ấp sản xuất theo mô hình lúa – tôm, 8 ấp là rừng – lúa – cá kết hợp. Tuy nhiên, giá trị kinh tế rừng đóng góp tới 70%, còn lại 30% là nông nghiệp. Rừng sản xuất ở Khánh An hiện nay chủ yếu là cây keo lai và rừng tràm.
“Trồng thâm canh trên liếp, cây tràm chỉ mất khoảng 7 năm, keo lai 4 - 5 năm là cho thu hoạch. Cây tràm 2 năm trở lại đây thị trường đầu ra rất tốt, giá bán làm cừ móng nhà từ 50 – 55 ngàn đồng/cây (cừ lóng 5). Còn keo lai giá 800 – 1.000 đồng/kg. Tính ra doanh thu 150 -200 triệu đồng/ha/chu kỳ khai thác”, ông Hợp nhẩm tính.
Mỗi hộ dân ở Khánh An được giao khoán khoảng 5 ha đất rừng, với doanh thu như hiện nay là sống khỏe. Hiện mức thu nhập trung bình của người dân trong xã đã đạt 35 triệu đồng/người/năm, cao hơn nhiều so với những vùng nông thôn khác. Cũng chính nhờ kinh tế rừng mà xã Khánh An đã sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới cách đây hơn 2 năm. (Nông Nghiệp VN 8/5) đầu trang(
Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh đang phát triển mạnh, kéo theo đó là sự gia tăng không ngừng của các cơ sở chế biến gỗ ván bóc. Tuy nhiên, việc tìm nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm đang là khó khăn đối với các cơ sở này.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn, hiện toàn tỉnh có trên 300 cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản được cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có gần 100 cơ sở sản xuất gỗ ván bóc. Thời gian qua, các cơ sở này đã góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho hàng nghìn lao động địa phương. Tuy nhiên, các cơ sở kinh doanh mặt hàng này cũng đang gặp không ít khó khăn do thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ ván bóc khá bấp bênh, không ổn định, trong khi đó nguồn nguyên liệu không đủ khiến nhiều cơ sở kinh doanh phải thu gom từ các địa phương khác.
Bên cạnh đó, trong khi chi phí cho nguyên liệu đầu vào tăng thì giá bán sản phẩm lại giảm. Nếu như trước năm 2016, sản phẩm ván bóc có giá khoảng 2,3triệu đồng/1m3, thì thời điểm hiện tại chỉ còn khoảng 2 triệu đồng/1m3.
Thị trường đầu vào lẫn đầu ra đều thiếu ổn định, song nếu như dừng hoạt động thì các chủ cơ sở kinh doanh sẽ phá sản, người lao động cũng mất việc làm, do vậy làm thế nào để các cơ sở chế biến gỗ ván bóc phát triển bền vững đang là bài toán đặt ra cho các cấp ngành, địa phương của tỉnh ta hiện nay. (Đài PTTH Bắc Cạn 8/5) đầu trang(
Báo Xây dựng nhận được đơn của Công ty TNHH XD và TM Thái Thế (có trụ sở tại thôn Nội Hải, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) tố cáo việc bị chủ kho bãi là Công ty TNHH Minh Tuấn (đóng tại xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) chiếm đoạt trên 2,4 tỷ đồng và một lượng lớn gỗ đang còn lưu gửi tại đây.
Theo đơn, ngày 19/6/2014, Công ty TNHH XD &TM Thái Thế (Công ty Thái Thế) đã nhập từ Lào về một lô gỗ với khối lượng 273,990m3 gồm: gỗ hương, gỗ mun, gỗ lim, gỗ gõ đỏ, gỗ gõ lau, gỗ cẩm xe, gỗ kiền kiền…
Số gỗ trên được mua từ Công ty Say phau Luoang Furniture Factory (Lào) do ông Am Phau Buon Nha Lat làm Giám đốc và được vận chuyển về Việt Nam bằng ô tô qua Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo (Quảng Bình).
Lô hàng này đã được Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch kiểm tra, xác nhận nguồn gốc và làm thủ tục nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước huyện Minh Hóa với số tiền 444 triệu đồng, tương đương 10% giá trị lô gỗ nhập về.
Vì không có kho bãi nên Công ty Thái Thế đã ký hợp đồng thuê kho bãi của Công ty TNHH Minh Tuấn tại xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình (sau đây gọi là Công ty Minh Tuấn) để gửi.
Sau khi nhập về, Công ty Thái Thế đã xuất bán cho các thương lái ở các tỉnh Nghệ An, Huế và Đồng Nai một khối lượng nhỏ. Thấy vậy, Giám đốc Công ty Minh Tuấn là ông Nguyễn Đình Bích, cho bà Nguyễn Thị Tâm (Phó Giám đốc) đại diện đứng ra đàm phán và ký kết hợp đồng mua 35,610m3 gỗ gõ lau, 74,430m3 gỗ lim, 19,721m3 gỗ gõ đỏ với tổng trị giá là 2.445.450.040 đồng. Quá trình xuất bán gỗ đều được Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch kiểm tra, xác nhận về chủng loại và số lượng.
Lúc này số gỗ mà Công ty Thái Thế còn lại trong kho là 18,444m3 gỗ hương; 1,574 m3 gỗ gõ đỏ xẻ; 0,475m3 gỗ gõ đỏ tròn; 5m3 gỗ cẩm lai và 4,390m3 gỗ mun. Tổng toàn bộ số gỗ này có trị giá hơn 600 triệu đồng.
Tuy nhiên, sau khi thực hiện các hợp đồng mua bán xong, Công ty Minh Tuấn đã lật lọng không chịu thanh toán tiền cho Công ty Thái Thế. Số gỗ còn lại trong kho, Công ty TNHH Minh Tuấn cũng chiếm giữ, không chịu trả lại.
Sau nhiều lần gặp trực tiếp và gửi thông báo đòi tiền không được, Công ty Thái Thế đã làm đơn tố cáo gửi lên cơ quan Công an tỉnh Quảng Bình.
Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Thái, Giám đốc Công ty Thái Thế cho biết: “Quá trình nhập khẩu lô gỗ, chúng tôi đã thực hiện tất cả các thủ tục và nộp thuế đầy đủ theo quy định của pháp luật, không nợ nần gì của ai cả”.
“Sau khi làm hợp đồng mua bán xong, chúng tôi đòi tiền thì ông Nguyễn Đình Bích không chịu trả mà còn bảo sang bên Lào đòi ông Tam, rồi còn chiếm luôn số gỗ còn lại của chúng tôi gửi trong kho. Trong khi đó, rõ ràng lô gỗ này là tài sản hợp pháp của công ty chúng tôi, được khẳng định bằng các thủ tục pháp lý của nhà nước chứ không liên quan gì đến ông Tam nào đó cả”, ông Thái bức xúc.
Để thông tin được đa chiều, chúng tôi đã tìm đến Công ty Minh Tuấn. Trao đổi với PV, ông Nguyễn Đình Bích cho rằng ông không biết ông Thái, Giám đốc Công ty Thái Thế là ai nên không có chuyện mua bán, nợ nần gì.
PV đặt vấn đề là nếu không quen biết, tại sao ông Thái lại có đầy đủ hợp đồng thuê kho bãi cùng với hợp đồng mua bán lô gỗ với Công ty Minh Tuấn, ông Bích lại chống chế: “Ông này chỉ là người làm dịch vụ thôi, chúng tôi không phải mua gỗ của ông đâu. Cái này là do ông ấy dựng chuyện lên. Còn những vấn đề đó tôi sẽ giải thích với các anh một dịp khác”.
Khi PV hỏi là ông có giấy tờ gì để chứng minh lô gỗ này được mua của người khác, việc tố cáo của ông Thái là sai sự thật thì ông Bích nói: “Giấy tờ thì tôi có, nhưng tôi chỉ cung cấp cho cơ quan công an chứ không cung cấp cho ai cả”.
Trao đổi với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bố Trạch, ông Phạm Văn Tân cho biết: “Sau khi thỏa thuận làm hợp đồng thuê kho bãi của Công ty Minh Tuấn xong, Công ty Thái Thế phải đưa Hợp đồng, hồ sơ Hải quan và các chứng từ nhập khẩu đầy đủ thì Hạt Kiểm lâm Bố Trạch mới kiểm tra và cho nhập kho lô gỗ trên theo đúng quy định”.
Cũng theo ông Tân, sau khi nhập kho xong, quá trình xuất bán cho các cá nhân ở Nghệ An, Huế và Đồng Nai cũng được Công ty Thái Thế thông báo cho Hạt Kiểm lâm Bố Trạch để xác nhận chủng loại và nguồn gốc gỗ được chuyển đi. Số lưu kho còn lại thì phía Công ty Minh Tuấn phải có trách nhiệm quản lý, bảo vệ cho bên thuê gửi.
Trưởng Phòng Cảnh sát điều tra (CSĐT) về Kinh tế Công an tỉnh Quảng Bình, đại tá Phạm Quang Du cho biết: “Về vụ việc ông Phạm Thái, Giám đốc Công ty Thái Thế tố cáo ông Nguyễn Đình Bích, Giám đốc Công ty Minh Tuấn mua gỗ nhưng không chịu trả tiền thì chúng tôi đã nhận được đơn và sẽ tiến hành điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện vụ việc đang trong quá trình điều tra nên theo quy định, chúng tôi chưa thể cung cấp được thông tin gì thêm khi chưa có kết luận”.
Thời gian khiếu kiện kéo dài đã 03 năm. Việc Công ty TNHH Minh Tuấn có bội tín buộc Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Thái Thế phải làm đơn gửi các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh Quảng Bình yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thiết nghĩ, các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Bình sớm có kết luận để trả lại niềm tin cho doanh nghiệp, bảo vệ kỷ cương pháp luật. (Xây Dựng 8/5) đầu trang(
Ngành chế biến gỗ đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của VRG. Tuy nhiên, hiện nay các công ty gỗ vẫn chưa quan tâm đúng mức đến thương hiệu, cạnh tranh, thị trường và hội nhập.
Để phát triển ngành chế biến gỗ cao su bền vững, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh thì yếu tố quyết định là phải xây dựng được thương hiệu, trình độ công nghệ thiết bị, nguồn nguyên liệu ổn định, trình độ lao động. Do đó, các giải pháp nhằm xây dựng thương hiệu gỗ cao su VN dựa trên lợi thế củủa VRG và nguồn lực của các công ty là hết sức cấp thiết và quan trọng trong tình hình hiện nay.
Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây nhưng ngành chế biến gỗ cao su có nhiều bứt phá về doanh thu và lợi nhuận. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ sản xuất, chế biến và thương hiệu, ngành chế biến gỗ của VRG (ngoại trừ sản phẩm gỗ MDF) hầu như 100% các sản phẩm, như: gỗ phôi, gỗ ván ghép, gỗ tinh chế không mang thương hiệu của công ty mà mang thương hiệu của khách hàng. Với cách làm gia công này, giá trị gia tăng của ngành gỗ không cao và không ổn định.
Tất cả mẫu thiết kế đơn hàng các công ty gỗ nhận được đều do đối tác cung cấp. Các công ty gỗ đều không có sản phẩm mang thương hiệu riêng khi đưa ra thị trường. Mặt khác, với khả năng của mình, các công ty gỗ hầu như không thể xây dựng được thương hiệu vì thiếu nhiều yếu tố: bộ phận nghiên cứu, phát triển mẫu mã sản phẩm, marketing, nguồn nguyên liệu ổn định… mà đặc biệt là nguồn tài chính. Do đó, Tập đoàn cần xây dựng thương hiệu gỗ cao su mang thương hiệu VRG, với vai trò chủ đạo Công ty mẹ VRG.
Ông Trần Minh – Trưởng Ban Công nghiệp VRG, nhận xét: “Từ lúc tạo ra sản phẩm đến tay người tiêu dùng, sản phẩm trải qua nhiều khâu trung gian. Theo thống kê sản phẩm tinh chế của các công ty gỗ như Thuận An hay Dầu Tiếng, sản phẩm tinh chế gia công theo đơn hàng có lợi nhuận từ 4-6% trên doanh thu. Đối với bộ phận trung gian, sau khi trừ chi phí thì lợi nhuận bộ phận này đạt từ 7-10% (chi phí như: thiết kế mẫu mã, rủi ro, chi phí vận chuyển, lưu kho, nhân viên bán hàng, shop bày bán…). Năm 2016, doanh thu gỗ tinh chế các công ty đạt khoảng 460,7 tỷ đồng, nhà thương mại trung gian lợi nhuận đạt khoảng 40-46 tỷ đồng. Do đó, nếu xây dựng được thương hiệu, Tập đoàn không những có được thương hiệu riêng, tăng lợi nhuận mà còn tăng sản lượng gỗ tinh chế nhiều hơn so với hiện nay”.
Ngoài ra, VRG có 6 công ty được đầu tư thiết bị tinh chế với tổng công suất thiết kế đạt 22.420 m3 gỗ tinh chế/năm, nếu phát huy hết 100% công suất nhà máy, có thể doanh thu đạt khoảng 1.053 tỷ đồng, lợi nhuận đạt được kỳ vọng (10% nếu có thương hiệu, giảm trung gian) là hơn 100 tỷ đồng. Nếu có được đơn hàng gia công đạt 50% khối lượng gỗ cao su thanh lý hàng năm (400.000 m3) để sản xuất gỗ tinh chế, với mức lợi nhuận 5% trên doanh thu thì lợi nhuận có thể đạt 900 tỷ; nếu có 25% khối lượng gỗ thanh lý dùng để gia công hàng tinh chế và 25% sản xuất và tiêu thụ mang thương hiệu riêng thì lợi nhuận dự kiến có thể đạt mức 1.200 tỷ đồng.
Việc xây dựng thương hiệu gỗ cao su VN phải lấy vai trò của Công ty mẹ VRG làm chủ đạo; tạo mối quan hệ với Cục xúc tiến thương mại VN, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN tại TP.HCM để nắm bắt thông tin và cơ hội đưa sản phẩm gỗ của VRG ra thị trường quốc tế. Công ty mẹ VRG phải chủ trì hoặc hỗ trợ tài chính cùng công ty gỗ tham gia các hội chợ thương mại, hội chợ xúc tiến ngành gỗ, thông qua phương tiện truyền thông, pa-nô… để quảng bá, tiếp cận với khách hàng, thăm dò thị hiếu người tiêu dùng. Song song đó, các công ty gỗ phải có bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và bộ phận marketing.
VRG với lợi thế có các văn phòng đại diện ở nước ngoài có thể tìm khách hàng. Đối với thị trường trong nước cần định hướng phân khúc cạnh tranh với các thương hiệu đồ gỗ nổi tiếng. Ngoài ra, VRG cần có cơ chế các công ty trong ngành phải sử dụng dịch vụ của nhau, tạo điều kiện cho các công ty gỗ có thể cung cấp sản phẩm cho các công ty trong ngành.
Công ty mẹ VRG là yếu tố nòng cốt để tập trung nguồn lực ngành sản xuất gỗ đang bị phân tán như hiện nay. VRG phải có chiến lược và lộ trình cụ thể để phát triển sản phẩm gỗ mang thương hiệu riêng; trong đó yếu tố “đầu tư đúng mức” mang tính quyết định. Tăng phân bổ sản lượng vườn cây thanh lý cho các công ty, đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định xuyên suốt trong năm, cho phép các công ty thanh lý rải vụ, trồng loại giống cây cao su cho lượng gỗ lớn, chất lượng tốt.
Đa số các công ty gỗ thuộc VRG hiện nay là các công ty nhỏ, năng lực sản xuất chưa đáp ứng đơn hàng lớn. Trong sản xuất, từng công ty chuyên môn hóa từng khâu, từng công đoạn của sản phẩm để phát huy tối đa khả năng. Bên cạnh đó, VRG tiếp tục xúc tiến việc công nhận chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm CoC, chứng chỉ quản lý rừng bền vững F.M. Ngoài các sản phẩm đơn thuần là gỗ cần nghiên cứu thêm các sản phẩm kết hợp gỗ và các chất liệu khác trong các sản phẩm nội thất. Tạo sản phẩm riêng và đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở phù hợp với đặc tính nguyên liệu gỗ cao su. Mở rộng các thị trường xuất khẩu, nơi mà VRG đã có văn phòng đại diện ở Nga, Trung Quốc, châu Âu…
TGĐ VRG Trần Ngọc Thuận chỉ đạo: “VRG phải chuẩn hóa, đồng đều về chất lượng gỗ phôi, gỗ ghép, gỗ tinh chế của tất cả các công ty trong ngành. Ban Công nghiệp VRG ban hành tiêu chuẩn cơ sở về quy trình chế biến, tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật gỗ phôi, gỗ ghép tấm, gỗ tinh chế. Qua đó, các công ty tự rà soát điều chỉnh kỹ thuật sản xuất phù hợp với mặt bằng chung. VRG sẽ thường xuyên tổ chức hội nghị, hội thảo để các công ty trao đổi thông tin, khoa học kỹ thuật, tự điều chỉnh hoàn thiện sản xuất.
Việc nghiên cứu bố trí lại dây chuyền sản xuất là cần thiết, đảm bảo tất cả các khâu sản xuất theo dạng dòng chảy, giảm thời gian sản xuất từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm; giảm quãng đường vận chuyển, tăng năng suất lao động… Bên cạnh đó, các công ty gỗ cần xây dựng cơ chế thưởng rõ ràng và công tác khen thưởng cho các cá nhân có đóng góp cải tiến được diễn ra thường xuyên, định kỳ, tạo không khí hăng say cải tiến; từ đó việc cải tiến.
Để xây dựng thương hiệu gỗ VRG cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ Tập đoàn, bên cạnh sự nỗ lực từ phía các công ty gỗ, ngành chế biến gỗ Tập đoàn sẽ phát triển vững mạnh, tạo được thương hiệu góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho VRG. (Tạp Chí Cao Su 8/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Để nhiều loài động vật hoang dã không phải bỏ mạng vì tai nạn giao thông, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện các dự án xây thêm cầu, đường dành riêng cho các loài động vật hoang dã.
Theo đó những dự án này được xây dựng nhằm đảm bảo an toàn cho cả người và động vật hoang dã. Nhờ vậy, mỗi năm hàng nghìn sinh mệnh đã được cứu sống.
Những cây cầu, con đường dành cho động vật đầu tiên được xây dựng tại Pháp vào những năm 1950. Sau đó, rất nhiều quốc gia khác như Mỹ, Hà Lan, Canada… cũng đã xây dựng các cây cầu bắc qua đường cao tốc. Hiện nay, cây cầu dài nhất dành cho động vật có tên Natuurbrug Zanderij Crailoo, nằm ở Hà Lan và có chiều dài 804m. Dưới đây là những cây cầu dành cho động vật hoang dã trên thế giới. (Đời Sống & Pháp Luật 6/5) đầu trang(
Chính quyền hạt Pasco tại Florida buộc phải di tản một khu bảo tồn thiên nhiên và đóng cửa các tuyến đường cao tốc ở vùng vịnh Tampa vì cháy rừng nghiêm trọng. (Thanh Niên 8/5)đầu trang(./.