|
Ngày 08 tháng 05 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam chịu trách nhiệm quản lý hơn 6.800 ha rừng trên địa bàn 4 xã: Tơ Tung, Kông Lơng Khơng, Kông Pla và Lơ Ku (huyện Kbang). Trong đó, 2 tiểu khu 160 và 162 luôn là vùng trọng điểm cháy xung yếu.
Đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong công tác giữ rừng, đặc biệt là nhiệm vụ phòng-chống cháy rừng trong mùa khô, việc chủ động ứng phó với những tình huống xấu nhất luôn được đặt lên hàng đầu.Theo số liệu kiểm kê rừng thì tổng diện tích đất có rừng do Ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam quản lý là 6.812 ha, trong đó có 6.340 ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng tập trung. Diện tích rừng có nguy cơ cháy chiếm hơn 4.640 ha.
“Đây là áp lực rất lớn cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam khi lực lượng cán bộ, nhân viên chỉ có 14 người. Công tác quản lý rừng và phòng-chống cháy rừng phải huy động thêm từ chính quyền địa phương và nhân dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại chỗ, đặc biệt tại 2 điểm nóng của tình trạng cháy rừng là tiểu khu 160 và 162”-ông Cao Văn Tư-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam chia sẻ.
Nằm trên địa bàn xã Tơ Tung, tiểu khu 160 và 162 được xác định là vùng trọng điểm cháy rất xung yếu bởi phía Bắc giáp rừng tự nhiên hỗn giao gỗ, tre nứa rất dễ cháy lan; phía Nam 2 tiểu khu này giáp với vùng trọng điểm cháy của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc An Khê có nguy cơ phát sinh nguồn lửa và cháy lan; phía Đông giáp với khu vực canh tác nương rẫy của bà con dân tộc Bahnar ở 3 làng: Stơr, Toòng Từng và làng Tung rất dễ phát sinh nguồn lửa vào mùa khô. Tại 2 tiểu khu này có đến 174 ha rừng trồng thông rất dễ cháy do đã hết thời gian chăm sóc, vật liệu cháy nhiều: thảm lá thông dày, lau lách, bụi le, nứa rậm rạp…
Trong khi đó, khu vực này lại có địa hình đồi núi độ cao 800-1.200 mét so với mực nước biển; có nhiều dông núi, khe suối chia cắt hiểm trở rất khó khăn cho lực lượng chữa cháy rừng di chuyển, tiếp cận đám cháy và dập tắt ngọn lửa. Hệ thống suối vùng trọng điểm cháy đều nằm trong lưu vực sông Ba, bao gồm suối lớn Ka Tung nằm xa vùng trọng điểm cháy khoảng 2 km, suối nhỏ Hnhơl cách khu vực trọng điểm cháy 0,5 km. Mùa khô, 2 con suối này vẫn có nước nhưng lưu lượng không nhiều, các khe suối nhỏ khác đa phần cạn nước, không thuận lợi cho công tác cứu rừng khi xảy ra cháy.
Một trong những khó khăn không nhỏ trong công tác chữa cháy rừng là vùng trọng điểm cháy cách xa khu dân cư 3,5-6 km. Do vậy, khi có sự cố xảy ra cháy rừng, công tác tiếp cận để dập tắt đám cháy sẽ rất mất thời gian, di chuyển vất vả. Thời gian dễ xảy ra các vụ cháy rừng được xác định là từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, trong đó cao điểm là từ tháng 3 đến tháng 6.
“Để chủ động phòng-chống cháy rừng tại đây, ngoài lực lượng chữa cháy là các cán bộ thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam, chúng tôi đã xây dựng thêm rất nhiều lực lượng chữa cháy rừng với quân số hàng trăm người.
Cụ thể, lực lượng chữa cháy rừng trực tiếp bao gồm 4 tổ với 150 thành viên, trong đó, có 1 tổ bao gồm lực lượng chính quyền địa phương, nòng cốt là công an viên, dân quân tự vệ với tổng số 30 người và tổ ở làng: Stơr 60 người, Toòng Từng 60 người. 2 tổ lực lượng tham gia chữa cháy rừng gián tiếp tại làng Tung 31 người và làng Đê Bar 60 người.
Lực lượng tham gia chữa cháy dự phòng thay thế lực lượng chữa cháy rừng trực tiếp ở sơ sở với 3 tổ tại làng Đầm 49 người, làng Klếch 54 người, làng Cao Sơn 39 người; lực lượng tăng cường sẵn sàng tham gia phối hợp chữa cháy tại xã Kông Lơng Khơng 10 người và lực lượng tham gia chữa cháy rừng của huyện bổ sung khi có cháy lớn là 3 tổ (Hạt Kiểm lâm huyện, Công an huyện và Ban Chỉ huy Quân sự huyện Kbang)”-ông Tư cho biết.
Trong thời gian qua, trên lâm phần quản lý của Ban Quản lý Rừng phòng hộ xã Nam chưa xảy ra vụ cháy rừng lớn nào. Tuy nhiên, mùa khô là thời điểm mùa người dân phát nương làm rẫy, đốt thực bì, lấy củi, lấy mật ong… nên rất dễ xảy ra cháy rừng.
“Ngoài việc thường xuyên tuần tra, kiểm soát 24/24 giờ tại các vùng trọng điểm cháy vào mùa khô cũng như tuyên truyền cho người dân nâng cao ý thức phòng-chống cháy rừng, chúng tôi còn phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức cho người dân có nương rẫy gần bìa rừng ký cam kết an toàn lửa rừng. Cái khó trong công tác chữa cháy rừng hiện nay là hầu hết vẫn áp dụng phương pháp cứu cháy thô sơ với bàn dập lửa, dao, cuốc, xẻng, can đựng nước… hoặc phương pháp gián tiếp như đốt trước hoặc làm đường băng trắng cản lửa.
Các biện pháp này chỉ phát huy tác dụng và giảm thiểu thiệt hại ở chừng mực nào đó. Hơn nữa, với đặc thù người dân làm nương rẫy nên khi đám cháy xảy ra vào thời điểm ban ngày sẽ khó tập trung lực lượng cứu rừng”-ông Tư nhận định.(Báo Gia Lai 8/5, Đoàn Viên)đầu trang(
Mường Tùng là một trong những xã có diện tích rừng lớn của huyện Mường Chà, với trên 6.300ha rừng tự nhiên và gần 130ha rừng trồng.
Để chủ động công tác phòng chống cháy rừng, đầu mùa khô hàng năm, UBND xã Mường Tùng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tổ chức cho người dân, các chủ rừng ký cam kết phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); góp phần hạn chế cháy rừng, giảm thiệt hại đến môi trường sinh thái.
Ông Lò Văn Hùng, Chủ tịch UBND xã Mường Tùng, cho biết: Vào mùa khô hanh, người dân thường đốt nương trồng ngô, lúa. Trong khi diện tích rừng trên địa bàn xã có thảm thực vật dày, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng.
Vì vậy, hàng năm ngay từ đầu mùa khô hanh, UBND xã Mường Tùng đã lập phương án, kế hoạch PCCCR; xây dựng quy chế phối hợp giữa công an xã, Ban Chỉ huy Quân sự xã và kiểm lâm địa bàn. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương kiện toàn Ban Chỉ huy PCCCR cấp xã, với trên 60 thành viên và phân công phụ trách các bản trong toàn xã.
Thành viên Ban Chỉ huy phụ trách địa bàn thường xuyên xuống cơ sở tuyên truyền công tác bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR; đôn đốc các tổ đội kiểm tra, tuần tra khu vực được giao để nắm tình hình, ngăn chặn phá rừng, cháy rừng.
Hiện nay, 15 bản trên địa bàn xã được giao đất, giao rừng quản lý và người dân được hưởng tiền chi trả DVMTR. Ban Chỉ huy PCCCR xã đã kiểm tra, khoanh vùng các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao để chỉ đạo và hướng dẫn người dân ở các bản thực hiện nghiêm túc công tác PCCCR. Các tổ, đội PCCCR ở 15 bản thường xuyên tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng có nguy cơ xảy ra cháy; hướng dẫn bà con phát, dọn nương phải làm đường băng cản lửa, đốt nương theo đúng thời gian quy định.
Vì vậy, người dân trong xã đã nâng cao ý thức và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Năm 2017, xã đã tổ chức cho hơn 740 hộ dân tại 15 bản ký cam kết công tác bảo vệ PCCCR; vận động trên 300 người dân tham gia kiện toàn 15 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, PCCCR. Để phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng này, Ban Chỉ huy PCCCR xã đã tổ chức tập huấn nhằm trang bị kiến thức cơ bản về PCCCR cho các thành viên về cách phát dọn thực bì và xử lý các vật liệu dễ cháy tại những khu vực xung yếu, cách xử lý và dập tắt các đám cháy nhỏ.
Đồng thời, tuyên truyền cho các thành viên nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong công tác PCCCR, thực hiện nghiêm túc các quy định về PCCCR. Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, Ban Chỉ huy PCCCR luôn chủ động tuần tra, kiểm tra công tác PCCCR và theo dõi tình hình thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng để kịp thời chỉ đạo, triển khai hiệu quả các biện pháp PCCCR phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Khi có cháy xảy ra, Ban huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng và quần chúng trên địa bàn với phương châm “4 tại chỗ”, gồm: lực lượng, phương tiện, vật tư, hậu cần tại chỗ và khi có cháy rừng xảy ra, tất cả mọi người đều phải tham gia dập lửa.
Với những kết quả chính quyền và người dân xã Mường Tùng đã đạt được, ông Nguyễn Mạnh Toàn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà đánh giá: Diện tích rừng trên địa bàn xã Mường Tùng khá rộng, giao thông đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt. Song, chính quyền và người dân xã đã thực hiện rất tốt công tác quản lý, bảo vệ; PCCCR trên địa bàn.
Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp PCCCR, trong 4 năm (từ năm 2014 đến nay), trên địa bàn xã Mường Tùng không xảy ra cháy rừng; góp phần giữ vững hệ thống sinh thái rừng tại địa phương và trở thành điểm sáng trong công tác PCCCR trên địa bàn huyện. (Báo Điện Biên 5/5, Quang Hưng)đầu trang(
Hôm qua, 4/5, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải cùng lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND huyện U Minh có chuyến kiểm tra công tác ứng trực phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ và tìm hiểu hoạt động của Công ty CP Đầu tư Thúy Sơn tại xã Khánh Thuận, huyện U Minh.
Hiện tại toàn bộ diện tích rừng của Vườn Quốc gia U Minh Hạ quản lý đang bắt đầu khô cạn, dự báo cháy cấp cao và nguy hiểm. Đơn vị đã triển khai nhiều tổ máy bơm cùng lực lượng ứng trực tại những khu vực có nguy cơ cháy cao từ hơn một tháng nay, công tác trực thông tin, quan sát, luồn rừng được thực hiện thường xuyên.
Các giải pháp PCCCR: Kiểm tra, khởi động máy chữa cháy; phát dọn đường băng, nạo vét lại một số tuyến kênh bị cạn được thực hiện theo kế hoạch đề ra.
Kiểm tra tại một số khu vực rừng bị cạn nước, có nguy cơ cháy cao và thăm các chốt trạm bảo vệ rừng, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tiến Hải đã biểu dương những nỗ lực và cố gắng của chủ rừng và cho rằng, thời tiết năm nay có nhiều thuận lợi, tuy nhiên không vì thế mà chủ quan trong phòng, chống cháy rừng.
Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Vườn Quốc gia U Minh Hạ đẩy mạnh tuyên truyền người dân sống xung quanh khu vực vùng đệm nâng cao nhận thức PCCCR; phân công lực lượng ứng trực trên các chòi canh lửa, thường xuyên tuần tra, luồn rừng và xử lý nghiêm những hành vi vào rừng ăn ong, bắt cá trái phép; kiểm tra máy móc, dụng cụ chữa cháy rừng để sẵn sàng dập lửa khi có cháy xảy ra.
Cùng ngày, Đoàn đến tìm hiểu hoạt động của Công ty CP Đầu tư Thúy Sơn. Hiện Công ty đang thuê hơn 1.000ha đất để trồng rừng keo lai. Đây là Công ty duy nhất được tổ chức quốc tế cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC). Việc cấp chứng chỉ rừng đã làm tăng giá trị cho các sản phẩm từ rừng, đồng thời là điều kiện để tiếp cận với thị trường toàn cầu.
Ngoài ra, Công ty còn trồng thử nghiệm thành công nấm linh chi và cây đinh lăng dưới tán rừng rừng keo lai. Nấm linh chi là loại dược thảo quý hiếm, cây đinh lăng cũng là loại cây có thể chế biến thành một số loại thuốc chữa bệnh.
Dự kiến thời gian tới, Công ty sẽ mở rộng diện tích trồng xen canh để phục vụ cho nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Công ty cũng kiến nghị tỉnh tạo điều kiện hỗ trợ Công ty xây dựng thương hiệu và bảo hộ sản phẩm nấm linh chi Cà Mau.
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tiến Hải ghi nhận những nỗ lực của Công ty trong việc làm giàu từ rừng; xây dựng được mô hình kinh tế hiệu quả ngay dưới tán rừng và cho biết sẽ chỉ đạo các sở, ngành, địa phương có liên quan phối hợp cùng Công ty nghiên cứu về cách thức tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế và đầu ra cho sản phẩm để có hướng nhân rộng mô hình trên ở đất rừng U Minh Hạ trong thời gian tới. (Báo Đất Mũi 5/5, Ngọc Trâm)đầu trang(
Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cảnh báo, hiện nay, khu vực các huyện: An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn (Bình Định), khu vực Sơn Động (Bắc Giang) có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp 5 (cấp cực kỳ nguy hiểm); Khu vực các huyện: Lục Nam, Lục Ngạn (Bắc Giang), khu vực các huyện: Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Qùy Hợp (Nghệ An) và toàn tỉnh Phú Yên đang có nguy cơ xảy ra cháy rừng cấp bốn (cấp nguy hiểm).
Cục Kiểm lâm yêu cầu chính quyền các địa phương nêu trên và các chủ rừng khẩn trương thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định.(Nhân Dân 7/5)đầu trang(
Tại tỉnh Quảng Ngãi, do nắng nóng gay gắt kéo dài, nhiều địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ xảy ra cháy cao gồm: TP Quảng Ngãi, các huyện: Nghĩa Hành, Đức Phổ, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Mộ Đức, Bình Sơn và các xã khu Đông huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long, Sơn Tây, Tây Trà, Trà Bồng và khu Tây huyện Ba Tơ, Sơn Hà.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phân công các kíp trực 24/24 giờ trong những tháng trọng điểm mùa khô; duy trì phương châm bốn tại chỗ, xuyên suốt từ tỉnh xuống huyện, xã; sẵn sàng ứng cứu, hỗ trợ chữa cháy rừng khi xảy ra vượt tầm kiểm soát của địa phương. (Nhân Dân 7/5)đầu trang(
Ngày 5/5, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp và Trung tâm Tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á/Việt Nam (Trung tâm CIRUM) tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).
Dự hội thảo có hơn 50 đại biểu đại diện các sở, ngành liên quan, cộng đồng dân cư và các chủ rừng; đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm 5 tỉnh Tây Nguyên, các chuyên gia, nhà khoa học ở Trung ương và địa phương.
Theo chương trình xây dựng luật của Quốc hội khóa XIV, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 sửa đổi sẽ được Quốc hội thảo luận và thông qua vào cuối năm 2017.
Đến thời điểm đầu tháng 3/2017, dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã hoàn thành dự thảo 5, Chính phủ đã trình Quốc hội thẩm tra và thảo luận vào kỳ họp thứ 3, dự kiến diễn ra vào tháng 5/2017 và dự kiến thông qua vào tháng 10/2017. Do vậy, việc tổ chức hội thảo lần này nhằm lấy ý kiến đóng góp bổ sung của các chuyên gia, các nhà khoa học, cơ quan quản lý chuyên ngành lâm nghiệp, các chủ rừng và các bên liên quan cho dự thảo Luật.
Tại hội thảo, các đại biểu chia thành 3 nhóm tiến hành thảo luận. Nhiều ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật liên quan đến các nhóm vấn đề như: chức năng của lực lượng nòng cốt trong thực thi pháp luật và trong quản lý, bảo vệ rừng; vấn đề giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, đặc biệt là đối với hộ và cộng đồng dân cư; vấn đề công khai, minh bạch và động viên sự tham gia của người dân vào giám sát trong quá trình thực hiện các chính sách trong quản lý rừng; chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng…
Các đại biểu tin tưởng, với tính sát thực, phù hợp khi Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) được thông qua và có hiệu lực sẽ khắc phục được những tồn tại, hạn chế trong ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm chất lượng rừng tự nhiên, lấn chiếm đất rừng, góp phần gìn giữ, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng…(Báo Kon Tum 5/5, Kon Tum)đầu trang(
Dù hiện tượng thác vàng sa khoáng, đá quý trên địa bàn một số xã đã tái diễn phức tạp nhưng Hạt kiểm lâm Thường Xuân khẳng định không phát hiện có hiện tượng khai thác mới. Còn huyện Thường Xuân kết luận, các nhóm người do các băng nhóm bảo kê đã mua đất rừng sản xuất của các hộ dân, thuê người, dùng máy dò kim loại để tìm vỉa vàng sa khoáng, đá qúy.
Sau khi báo chí phản ánh về tình trạng khai thác lâm sản trái phép và các đối tượng đào xới trong rừng để khai thác đá quý, Hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân (Thanh Hóa) đã tiến hành kiểm tra, xác minh. Theo đó, đơn vị này đã thành lập 3 tổ kiểm tra trên 3 tuyến, qua kiểm tra phát hiện có 13 cây gỗ tại một số vị trí thuộc rừng sản xuất và rừng phòng hộ bị khai thác với trữ lượng gần 10m3.
Còn về hiện tượng rừng bị các đối tượng đào xới tung tóe để khai thác đá xanh, qua kiểm tra và báo cáo, Hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân cho biết, không phát hiện hiện tượng khai thác mới. Các bãi khai thác cũ là từ những năm trước đây.
Trong khi đó, theo kết luận của UBND huyện Thường Xuân, dựa trên báo cáo của các ngành chức năng, trong đó có cả lực lượng kiểm lâm, trong thời gian vừa qua, tình hình khai thác vàng sa khoáng, đá quý (gọi tắt là khai thác khoáng sản) trên địa bàn các xã Xuân Chinh, Xuân Lẹ đã tái diễn phức tạp. Thủ đoạn của các đối tượng khai thác ngày càng tinh vi, cách thức ngày càng hiện đại để tránh sự truy quét và ngăn chặn của các cấp chính quyền và lực lượng chức năng.
Các nhóm người do các băng nhóm bảo kê đã mua đất rừng sản xuất của các hộ dân, thuê người, dùng máy dò kim loại để tìm vỉa vàng sa khoáng, đá quý, tiến hành khai thác nhỏ lẻ vào ban đêm, chuyên chở bằng xe ô tô bán tải để đi đãi ở nơi khác. Tình trạng trên đã làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống nhân dân, nhất là làm ảnh hưởng tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Huyện Thường Xuân đã thành lập đoàn công tác thực hiện việc rà soát, kiểm tra, tổng hợp số hầm, hố của các đối tượng đào khai thác vàng trái phép. Huyện yêu cầu Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) xác định rõ hiện trạng, nguồn gốc đất đai tại các điểm có hầm, hố đào vàng, đề xuất biện pháp quản lý đất đai, nếu sai phạm đề nghị xử lý theo quy định. Lập phương án thu hồi đối với các trường hợp cá nhân, hộ gia đình không quản lý, sử dụng đất có hiệu quả, hoặc chuyển nhượng đất rừng sản xuất trái pháp luật, để xảy ra tình trạng khai thác vàng, đá quý trên diện tích được giao.
Đồng thời, tham mưu văn bản đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, cơ quan chuyên môn về khảo sát, đánh giá trữ lượng để có phương án khai thác tận thu, hỗ trợ nghiệp vụ và lực lượng để quản lý các đối tượng khai thác vàng, đá quý,hỗ trợ kinh phí để huyện thực hiện.
Huyện Thường Xuân cũng giao Công an huyện nắm chắc các đối tượng ra vào khu vực các xã có mỏ vàng và đá quý, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, xác minh, mai phục, bắt giữ các đối tượng, thu giữ phương tiện liên quan đến khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép. Đặc biệt, duy trì lực lượng hỗ trợ cùng với các địa phương chốt trực trong các ngày nghỉ lễ, ngăn chặn và chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép.
Huyện yêu cầu Hạt kiểm lâm kiểm tra, xác minh hiện trạng rừng tại các khu vực thường xảy ra khai thác khoáng sản trái phép, nếu là diện tích rừng nghèo kiệt thì tham mưu cho UBND huyện đề xuất tỉnh, Sở NN&PTNT cho cải tạo rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện và xử lý việc khai thác khoáng sản trái phép.
Mặc dù thời gian qua, tình hình khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn các xã Xuân Chinh, Xuân Lẹ đã tái diễn phức tạp, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống nhân dân, nhất là làm ảnh hưởng tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tuy nhiên, cấp ủy chính quyền và các lực lượng từ cán bộ thôn, cán bộ chuyên môn của hai xã Xuân Chinh và Xuân Lẹ chưa kịp thời phát hiện để báo cáo với chính quyền và cơ quan chức năng, chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả trong phạm vi thẩm quyền quản lý, chưa báo cáo UBND huyện và các ngành chức năng để xử lý vụ việc kịp thời.
Do đó, UBND huyện Thường Xuân yêu cầu cấp ủy, chính quyền hai xã nêu trên, đặc biệt là người đứng đầu, nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cá nhân từ thôn đến xã có liên quan và tập thể trong việc quản lý lỏng lẻo đất đai để xảy ra tình trạng các hộ dân chuyển nhượng đất rừng sản xuất không đúng quy định của pháp luật, cho các đối tượng đào, đãi vàng và đá xanh.
Đồng thời, để một số người dân và lâm tặc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, cải tạo rừng tự nhiên không đúng quy định; không kiểm tra, kiểm soát được các loại xe của các đối tượng ra vào vận chuyển quặng trái phép trên địa bàn; không kiểm tra và ngăn chặn các hộ dân tự ý cho các đối tượng kéo điện lưới vào các khu vực đào hầm vàng và đá xanh.
Ngoài ra, không tăng cường kiểm tra để các đối tượng đào nhiều tuyến hầm tìm các vỉa vàng sa khoáng trên địa bàn trong khoảng thời gian dài mà không báo cáo với UBND huyện và cơ quan chức năng; để báo chí phản ánh nhiều nội dung mà cấp ủy, chính quyền địa phương không hay biết.
Liên quan đến thực trạng nêu trên, UBND huyện Thường Xuân cũng đã có báo cáo gửi UBND tỉnh Thanh Hóa về hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn xã Xuân Chinh, Xuân Lẹ.
UBND huyện Thường Xuân kiến nghị UBND tỉnh Thanh Hóa giao Sở TN-MT phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan kiểm tra tình hình thực tế tại địa phương, tham mưu cho UBND tỉnh lập hồ sơ trình Bộ TN-MT xin cấp phép khảo sát, đánh giá trữ lượng khoáng sản (vàng sa khoáng và đá quý) trên địa bàn xã Xuân Chinh và Xuân Lẹ.
Tỉnh giao Sở Công Thương chỉ đạo các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có đủ điều kiện và năng lực giúp huyện sử dụng vật liệu nổ đánh sập các hố, hầm đào vàng sa khoáng và đá xanh trái phép.
Đồng thời, chỉ đạo Công an tỉnh Thanh Hóa tăng cường công tác đấu tranh, trấn áp tội phạm đối với các đối tượng trong và ngoài tỉnh có hành vi bảo kê hoặc tiếp tay cho việc khai thác, vận chuyển khoáng sản trên địa bàn huyện.
UBND huyện Thường Xuân cũng đã đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa giao Sở Tài chính xem xét hỗ trợ một phần kinh phí cho huyện trong công tác quản lý tài nguyên khoáng sản chưa khai thác. (Dân Trí 7/5, Trần Lê)đầu trang(
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, tỉnh Quảng Trị hiện có 254.336,2 ha rừng (rừng tự nhiên 143.328,4 ha và rừng trồng 111.007,8 ha), độ che phủ rừng đạt 49,6 %.
Diện tích rừng phân theo chủ quản lý gồm chủ rừng là các đơn vị nhà nước (Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ và các công ty lâm nghiệp) là 127.908,2 ha (chiếm 50,3%); chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác là 54.550,5 ha (chiếm 21,4%); UBND xã quản lý 71.877,6 ha (chiếm 28,3%).
Thời gian qua, Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh cũng như các cấp, ngành, lực lượng chức năng đã thực hiện tốt việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp nên diện tích rừng, độ che phủ rừng ngày càng tăng; chú trọng công tác bảo vệ rừng với việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR); tập trung kiểm tra, kiểm soát nhằm ngăn chặn các hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản và phát hiện xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản; việc chi trả dịch vụ môi trường được thực hiện kịp thời tạo nên hiệu quả tốt trong công tác bảo vệ rừng tại các vùng được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường; rừng và đất rừng được giao, khoán cho người dân quản lý, trồng và bảo vệ để hưởng lợi đã tạo việc làm, tăng thu nhập giúp người dân ổn định cuộc sống; rừng trồng đang chuyển dần từ quảng canh sang thâm canh ngày càng tăng đã tạo ra giá trị gia tăng lớn; các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã quan tâm hơn đến công tác bảo vệ rừng và PCCCR; các chủ rừng đã từng bước thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng…
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khai thác trái phép lâm sản vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương.
Một số nơi vẫn còn xảy ra “điểm nóng” mà chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời, triệt để. Chất lượng rừng tự nhiên cũng như tính đa dạng sinh học của rừng có chiều hướng giảm sút; quy hoạch 3 loại rừng qua thực hiện nhiều năm đến nay bộc lộ nhiều điểm không phù hợp làm ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Việc thống kê số liệu về lâm nghiệp còn nhiều bất cập. Công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp ở cấp huyện còn thiếu thống nhất (một số huyện thiếu cán bộ chuyên trách lâm nghiệp).
Việc điều hành chữa cháy rừng của một số địa phương cũng như chủ rừng còn chủ quan như việc thông tin liên lạc, triển khai lực lượng chậm và chưa phối hợp nhịp nhàng nên lúng túng khi có cháy rừng xảy ra. Việc điều tra, xác minh nguyên nhân, truy tìm thủ phạm gây cháy rừng chưa kịp thời.
Hiện nay, số lượng nhà máy chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh tương đối nhiều nhưng chế biến ra sản phẩm hoàn thiện chiếm tỷ lệ thấp. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp chưa chủ động được nguồn giống, phải nhập từ các tỉnh bạn nên phụ thuộc nhiều vào thị trường và không chủ động trong lựa chọn nguồn giống có chất lượng (đặc biệt là giống cây bản địa). Việc khảo sát, thiết kế và thẩm định các công trình đầu tư lâm nghiệp, công trình lâm sinh còn chậm làm ảnh hưởng đến công trình...
Để tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng, trong thời gian tới Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh cũng như các cấp, ngành, lực lượng chức năng đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực. Trong công tác quản lý rừng sẽ tiến hành rà soát, đánh giá diện tích đất trống và rừng trồng sản xuất có khả năng trồng theo hướng thâm canh để kinh doanh gỗ lớn; dự báo tình hình phá rừng, lấn rừng, cháy rừng để kịp thời chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, chủ rừng và người dân thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, PCCCR; tổ chức kiểm tra các khu vực trọng điểm dễ cháy, các tuyến đường giao thông vào rừng, các điểm tiếp nước cũng như lực lượng, phương tiện để bổ sung vào phương án PCCCR sát đúng với tình hình thực tế; tăng cường chỉ đạo lực lượng chuyên trách sẵn sàng lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra theo phương án đã xây dựng; tập trung chỉ đạo các đơn vị thực hiện quản lý rừng theo chất lượng, trữ lượng rừng; hướng dẫn các chủ rừng xây dựng các phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng FSC.
Đối với công tác phát triển và sử dụng rừng sẽ tiến hành việc đôn đốc các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế hoàn thành kế hoạch thiết kế trồng rừng và các hạng mục lâm sinh khác; tăng cường kiểm tra công tác thiết kế, thẩm định, trồng rừng đảm bảo đúng tiến độ và lịch thời vụ; rà soát lại quỹ đất trống phục vụ cho trồng rừng và xây dựng kế hoạch trồng rừng đến năm 2025; thực hiện một số mô hình trồng rừng cung cấp gỗ lớn bằng giống tốt và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để rừng cho năng suất, chất lượng cao; tiến hành thu thập số liệu xây dựng đề án giống cây trồng lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020; tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức tập huấn cũng như khuyến cáo đến các đơn vị sản xuất về các nguồn giống tốt, giống có chất lượng để đưa vào sản xuất nhằm cung cấp cho người trồng rừng.
Đối với việc bảo vệ rừng, tiến hành xây dựng phương án, kế hoạch tuần tra, kiểm soát lâm sản tại rừng nhằm xác định vùng trọng điểm về phá rừng, xâm lấn rừng để có các biện pháp mạnh nhằm xử lý triệt để; kiểm tra, kiểm soát và có biện pháp xử lý các tụ điểm, các tuyến đường thường xảy ra tình trạng tập kết, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép…; triển khai thực hiện các quy chế phối hợp đã ký kết giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội cũng như các lực lượng chức năng khác tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng và kiểm tra, truy quét các tổ chức, cá nhân xâm hại rừng; xử lý nghiêm minh các đối tượng có hành vi vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản; điều tra, khởi tố các vụ vi phạm về pháp luật bảo vệ rừng nếu có dấu hiệu tội phạm; làm tốt công tác PCCCR để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra; tiến hành khảo sát, thu thập số liệu để xây dựng đề án hệ thống lực lượng bảo vệ rừng cơ sở trình phê duyệt và đưa vào thực hiện nhằm giúp các chủ rừng và chính quyền các xã thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng tại chỗ; hướng dẫn xây dựng phương án cũng như tổ chức giao rừng đạt kế hoạch; rà soát lại diện tích rừng tự nhiên do UBND xã quản lý để tổ chức giao, cho thuê nhằm đảm bảo rừng có chủ; tổ chức thực hiện công tác giao khoán bảo vệ rừng cho các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng; tăng cường kiểm tra hoạt động của lực lượng được giao bảo vệ rừng ở các đơn vị cơ sở và kiểm tra rừng của cộng đồng, hộ gia đình sau khi được giao rừng… (Báo Quảng Trị 5/5, AP)đầu trang(
Gỗ lậu được tập kết trái phép ở các bãi gần lối mở dẫn vào cửa khẩu Lệ Thanh rồi được phù phép để bán ra thị trường một cách công khai.
Thông qua đường dây nóng, Tòa soạn Phapluatplus.vn nhận được thông tin phản ánh của bạn đọc về tình trạng mua bán gỗ lậu tại cửa khẩu Lệ Thanh thuộc huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai được hợp thức hóa có dấu búa của kiểm lâm, ngang nhiên chở giữa thanh thiên bạch nhật, qua mặt hàng loạt cơ quan chức năng của tỉnh Gia Lai.
Để xác minh thông tin bạn đọc phản ánh, nhóm phóng viên Pháp luật Plus đã vượt hàng trăm cây số để mục sở thị tới cửa khẩu Lệ Thanh nơi được người dân nơi đây gọi là đại công trường tập kết gỗ lậu.
Trong vai người đi mua gỗ, nhóm phóng viên Phapluatplus.vn phải rất khó khăn mới có thể thâm nhập vào được bãi tập kết gỗ ở sông Sê San cách cửa khẩu Lệ Thanh không xa.
Con đường mòn dẫn vào bãi tập kết gỗ bị các xe tải cày nát với màu đất đỏ ba dan đặt trưng của Tây Nguyên.
Khi gần vào đến cửa khẩu Lệ Thanh, các bãi tập kết đều có bảng ghi tên các doanh nghiệp được cấp phép nhập khẩu, mỗi bãi gỗ có đủ loại xe phục vụ cho việc kéo, cẩu và chở gỗ đi.
Theo quan sát và ghi nhận của phóng viên, mỗi bãi gỗ có đến hàng nghìn mét khối gỗ các loại, nhưng chủ yếu là gỗ tròn, phần lớn đã được đóng dấu búa của Kiểm lâm.
Gỗ tròn có đường kính từ 40 – 120cm, dài từ 4m – 20m; gỗ hộp vuông từ 30 – 60cm, được vận chuyển cả ngày lẫn đêm về các xưởng gỗ ở Chư Prông…
Sông Sê San chỉ rộng khoảng 300m, các bãi gỗ đều nằm sát bờ sông và có bến vận chuyển gỗ. Theo một số người dân địa phương cho biết, khi vào các bến ấy phải đi qua một chốt biên phòng, họ kiểm tra ngặt lắm, nhưng điều làm cho phóng viên khá bất ngờ là chốt vắng tanh không có một bóng người, cũng không thấy một bóng dáng kiểm lâm nào làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát gỗ như thường lệ.
Khi vào gần đến các bãi tập kết gỗ phải trả qua một quãng đường dài khó đi toàn ổ trâu ổ gà, chúng tôi đang dừng xe nghỉ ngơi thì có mấy thanh niên đến hỏi: Các anh mua gỗ gì thì bọn em bán cho, gỗ bọn em tự làm rẻ hơn nhiều, mà mua lại tại bãi, còn nếu mua gỗ tại bến bên kia bọn em cũng có thể kết nối bán cho anh.
Nhóm phóng viên tiếp tục ngỏ ý muốn mua gỗ với số lượng lớn và muốn gặp ông chủ ở bến này thì gặp ai?
Lúc này một thanh niên tự xưng tên H nhanh nhẩu cho biết: “Cái này không phải ai cũng biết được đâu, phải người làm lâu và có thâm niên trong giới gỗ mới biết được ông trùm ở đây.
Anh cứ nhìn sang phía bên kia sông là bãi gỗ lớn của ông chủ tên là Khôn. Ông Khôn là ông trùm cầm đầu cả khu vực cửa khẩu Lệ Thanh này, ông rất ít khi xuất hiện ở đây.
Các chủ khác ở đây đều mua qua ông Khôn, rồi tự khai thác đưa gỗ về làm giấy tờ hợp thức hóa rồi chuyển đi các nơi khác”.
Để rộng đường dư luận và xác minh những thông tin trên, nhóm phóng viên Phapluatplus.vn đã liên hệ làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai.
Tại buổi tiếp phóng viên, bà Đoàn Thị Minh Hiếu, Chuyên viên văn phòng UBND tỉnh Gia Lai chuyên phụ trách về mảng công tác báo chí cho biết.
“Hôm nay các vị lãnh đạo người thì kín lịch họp, người thì đi công tác, anh Thuyên Phó chủ tịch UBND tỉnh thì đi công tác Campuchia, Chánh văn phòng thì hiện tại đang bị đau họng phải nằm viện tại TP HCM, 3 phó chánh thì một phó chánh mới chuyển công tác còn hai phó chánh hiện tại đang rất là bận nên PV cứ cho nội dung làm việc kèm theo số điện thoại tôi sẽ báo cáo lại với lãnh đạo. Khi nào sắp xếp được lịch sẽ liên lạc lại sau”.
Phóng viên ngỏ ý được làm việc vào buổi chiều thì bà Hiếu cho hay: “Hôm nay đã là thứ 6 ngày cuối tuần nên rất khó để sắp xếp được lịch làm việc, vì chiều nay lãnh đạo UBND tỉnh đã kín lịch nên hẹn anh em (Tức –PV) sang đầu tuần tới.
Trước tình trạng buôn bán và tập kết gỗ lậu với số lượng lớn tại cửa khẩu Lệ Thanh nhưng không hiểu vì lý do gì mà số gỗ này vẫn có dấu búa của kiểm lâm và ngang nhiên được các chủ gỗ cho xe chở quá tải với số lượng lớn lưu thông cả ngày lẫn đêm, vượt mặt hàng loạt cơ quan chức năng như kiểm lâm, cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông….Vậy trách nhiệm thuộc về ai?(Pháp Luật Plus 7/5, Đình Quyết - Quang Thuận)đầu trang(
Đồng chí Phan Văn Hồi - đảng viên thuộc Chi bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Động Châu, Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng số 5 Ban Quản lý rừng phòng hộ Động Châu (Lệ Thuỷ, Quảng Bình) - là một cán bộ công đoàn mẫu mực, cán bộ quản lý năng nổ, nhiệt tình, hết lòng vì công việc.
Là ủy viên BCH LĐLĐ huyện, được phân công phụ trách khối công đoàn sự nghiệp, đồng chí Hồi phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình và cùng với BCH công đoàn cơ sở các đơn vị trong khối luôn gương mẫu chỉ đạo công đoàn cơ sở các đơn vị trong khối hoàn thành tốt nhiệm vụ của LĐLĐ huyện giao. Nhiều năm qua công đoàn trong khối sự nghiệp luôn đạt danh hiệu CĐCS vững mạnh và ngày càng nhiều tập thể, cá nhân trong khối nhận bằng khen, giấy khen của tổ chức công đoàn.
Trên cương vị là trạm trưởng một trạm bảo vệ rừng xa nhất của huyện (từ nhà đến trạm cách 71km), đường sá xa xôi, không có điện lưới, không sóng điện thoại, địa bàn Trạm bảo vệ giáp ranh với tỉnh Quảng Trị địa hình hiểm trở nên tình hình khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép diễn biến khá phức tạp.
Đặc biệt, vào mùa khô, thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng luôn ở mức rất cao. Trước tình hình đó, đồng chí đã cùng với lãnh đạo cơ quan triển khai nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ rừng, chống lấn chiếm đất rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng có hiệu quả.
Bên cạnh đó, đồng chí cũng đã thay mặt Trạm phối hợp tốt với các đơn vị như Kiểm lâm huyện, Đồn Biên phòng Làng Ho đẩy mạnh tuyên truyền các văn bản pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Do đó, đã hạn chế đáng kể tình trạng vi phạm lâm luật và cháy rừng. Đồng chí Hồi luôn bám sát địa bàn, địa hình chỉ đạo anh em trong đội chốt chặn, túc trực tham gia đầy đủ quân số cả ngày lễ, ngày nghỉ.
Lương cán bộ bảo vệ rừng thấp, với thời gian công tác trên 31 năm, lương chưa đầy 4,5 triệu đồng, không phụ cấp chức vụ, đặc biệt từ tháng 10.2016 đến nay 21 nhân viên hợp đồng bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ Động Châu chưa có lương; một mình được hưởng lương viên chức cùng chung sống với 5 anh em bảo vệ rừng là cán bộ hợp đồng, đồng chí chia sẻ đồng lương ít ỏi của mình hỗ trợ thêm đời sống để động viên anh em vượt lên khó khăn, đảm bảo đủ bữa để anh em yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hơn 2.000 hécta rừng nguyên sinh. (Lao Động 7/5)đầu trang(
Qua kiểm tra, hạt Kiểm lâm xác định khoảng rừng thông rộng hàng trăm m2 ở xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vừa mới bị đốn hạ là đúng quy định về thủ tục khai thác gỗ rừng trồng.
Trước đó, báo Người Đưa Tin đã phản ánh về việc khoảng rừng thông rộng hàng trăm m2 ở xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vừa mới bị đốn hạ, trong đó có nhiều gốc to, đường kính 30 – 40cm. Sau khi tiếp nhận thông tin, UBND huyện Thanh Chương đã chỉ đạo hạt Kiểm lâm huyện này vào cuộc xác minh.
Qua kiểm tra, hạt Kiểm lâm xác định diện tích thông mà ông Nguyễn Văn Khánh, trú tại địa phương, tiến hành khai thác là rừng sản xuất thuộc lô 1, khoảnh 1, tiểu khu 987I, xã Ngọc Sơn.
Diện tích trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Khánh. Số cây khai thác được xác định là thông rai (do gia đình tự chăm sóc và bảo vệ), một số diện tích thông đã cháy và các loại cây bụi nhỏ. Tổng diện tích khai thác là 0,1ha.
Đại diện lãnh đạo hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương cho biết, tại thời điểm kiểm tra, ông Khánh đã xuất trình được tờ trình về việc xin khai thác thông cháy và xử lý thực bì thông rai; bảng kê lâm sản khai thác; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy đề nghị cấp phép khai thác. Vì vậy, hạt Kiểm lâm xác định “chủ rừng là ông Khánh đã thực hiện đúng quy định về thủ tục khai thác”.
Trước đó, trao đổi về quy trình được phép khai thác rừng, ông Phan Văn Hoàng, Hạt phó hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương cho hay, khi có nhu cầu, người dân phải viết đơn nêu rõ mục đích, lập bảng chủng loại gỗ, khối lượng… rồi gửi cho chính quyền xã, có sự xác nhận của cán bộ kiểm lâm khu vực. Sau đó, UBND xã chứng nhận rồi tiếp tục gửi lên UBND huyện. Lúc này, UBND huyện sẽ chỉ đạo hạt Kiểm lâm kiểm tra lần nữa, xem nên khai thác bao nhiêu, khai thác như thế nào để hướng dẫn cho hộ gia đình.
Tuy nhiên, lãnh đạo UBND huyện Thanh Chương cũng cho hay, vào ngày 27/3 vẫn chưa nhận được tờ trình khai thác nào từ xã Ngọc Sơn gửi lên (?!). Tại thời điểm xảy ra, hạt Kiểm lâm huyện cũng thừa nhận chưa hề thẩm định về việc trên.
Ông Thái Văn An, Chủ tịch UBND xã Ngọc Sơn cho biết, diện tích rừng này vốn do lâm trường huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An trồng. Tuy nhiên, khi giao đất vùng rừng, chính quyền xác định đây là một phần đất của xã Ngọc Sơn nên đã giao cho ông Nguyễn Văn Khánh quản lý từ năm 2002 đến nay.
Ông An thông tin thêm: “Khu vực này từng xảy ra cháy rừng nhiều lần, ông Khánh đã xin ý kiến chặt hết. Xét thấy đề xuất hợp lý nên chính quyền xã đã đồng ý, sau đó tiếp tục gửi lên các cơ quan liên quan xin ý kiến”. Tuy nhiên, ông An cũng xác nhận, UBND huyện và đơn vị quản lý là hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương chưa đồng ý phê duyệt đề xuất của ông Khánh.
Như vậy, các giấy tờ trên chỉ mới chứng minh ông Nguyễn Văn Khánh có gửi hồ sơ cho xã, nhưng khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan chức năng thì đã tiến hành khai thác.
Theo quan sát của phóng viên tại hiện trường, diện tích cây rừng bị chặt ước tính lên đến hàng trăm m2, trong đó nhiều cây lá đã héo, nhựa ứa đen sẫm, chứng tỏ thời gian khai thác không còn mới.
Đặc biệt, nhiều gốc thông to vừa bị chặt, sờ vào nhựa còn dính tay, có đường kính khoảng 30 – 40cm, với tuổi đời hàng chục năm.
Về việc này, ông Khánh đã từng thừa nhận, ngoài những cây to bị cháy, “có thể” thợ đã chặt nhầm vài cây to khác (?!). Rõ ràng ông Khánh đã lấy lý do tận thu các cây thông bị cháy, để tiến hành khai thác các cây khác.
Việc làm của ông Khánh đã diễn ra từ rất lâu trước khi bị phát hiện, tuy nhiên chủ nhân quản lý khu rừng hiện đang làm cán bộ địa chính của xã Ngọc Sơn, nên người dân e ngại rằng, nếu có phản ánh lên cấp trên thì “đâu rồi cũng vào đó”. Và với kết luận của hạt Kiểm lâm thì sự sợ hãi của người dân có cơ sở. Vì vậy, dư luận hi vọng một sự kiểm tra toàn diện về việc này, tránh việc cả khu rừng bị chặt phá tan hoang. (Người Đưa Tin 6/5, Anh Ngọc)đầu trang(
Tại tỉnh Thừa Thiên - Huế, gần 100 cây thông trên 60 năm tuổi do Nhà nước quản lý đã bị đốn hạ, chặt phá.
Trong những ngày gần đây, rất nhiều người dân bức xúc khi một số đối tượng có hành vi phá hoại rừng thông đặc dụng hàng chục năm tuổi tại đồi Thiên An, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh TT - Huế.
Gần 100 cây thông trên 60 năm tuổi do Nhà nước quản lý đã bị đốn hạ, chặt phá. Thậm chí, các đối tượng này còn khoan thân cây và sử dụng hóa chất làm cây nhanh chết; nhóm lửa đốt quanh gốc làm những cây thông này dù lâu năm vẫn bị úa vàng. Đối với những gốc cây thông, các đối tượng dùng xe múc đào gốc, nhằm che đậy hành vi phá hoại. Dù đã bị chính quyền địa phương nhắc nhở và lập biên bản nhiều lần nhưng nhóm người này có thái độ bất hợp tác với cơ quan chức năng.
Tiếp tục thực hiện các hành vi phá hoại, các đối tượng còn sử dụng xe cơ giới phá vỡ hạ tầng giao thông, gây ảnh hưởng đến việc đi lại hàng ngày của người dân địa phương và công tác phòng cháy chữa cháy. Người dân đang mong chờ cơ quan chức năng sớm có biện pháp cứng rắn, ngăn chăn hành vi phá rừng và xử lý nhóm đối tượng nói trên theo qui định.(Đài Truyền Hình VN 7/5)đầu trang(
Hơn 100 cây thông được trồng hơn 30 năm tại khu vực rừng thông thuộc xã Ia Der, H.Ia Grai (Gia Lai) bị ken gốc, bơm thuốc diệt cỏ dẫn đến rũ lá, chết hàng loạt.
Số thông này được trồng ken dày, là điểm vui chơi dã ngoại của người dân trong những ngày cuối tuần, dịp lễ, tết… Nhưng khoảng một tháng gần đây, nhiều cây bỗng dưng rũ lá rồi chết đồng loạt. Hầu hết các gốc thông này bị vạt tróc vỏ. Kẻ xấu đã lợi dụng sự lơi lỏng trong quản lý của cơ quan chức năng để khoan sâu vào thân, sau đó bơm thuốc diệt cỏ khiến cây chết dần. Tại hiện trường, nhiều cây thông đã chết hẳn. Nhiều cây đang rũ lá chết dần. Nhiều cây khác thì bị những vết chặt nham nhở.
Đây là khu vực được tỉnh Gia Lai quy hoạch xây dựng công viên văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai. Từ khi có thông tin này, giá đất ở đây tăng lên chóng mặt. Ngày 5.5, ông Đặng Lương Minh Điệp, Phó chủ tịch UBND xã Ia Der, cho biết: “Ngay khi biết tin xảy ra tình trạng thông bị chết hàng loạt do kẻ xấu phá hoại, chúng tôi đã báo cáo lên chủ rừng, đồng thời vận động bà con trong xã không được phá thông để chiếm đất vì như vậy là vi phạm pháp luật”.
Theo ông Nguyễn Đức, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ bắc Biển Hồ (đơn vị phụ trách quản lý rừng thông nói trên), một số hộ dân đã tiến hành rào khu vực đất có thông bị chết với mục đích chiếm dụng đất. Đơn vị quản lý đã vận động người dân tháo dỡ hàng rào.
Đến hôm qua, cơ quan chức năng vẫn chưa xác định rõ danh tính những kẻ phá hoại rừng thông. Ban Quản lý rừng phòng hộ bắc Biển Hồ cho biết sẽ trình lên cấp trên phương án bán thanh lý số cây thông đã bị bức tử và tiến hành trồng lại để hoàn trả cảnh quan. (Thanh Niên 7/5, Trần Hiếu)đầu trang(
Rừng Cần Giờ là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” ngập mặn đẹp nhất Đông Nam Á...Trước năm 1975, rừng Cần Giờ là “vùng đất chết” bởi chất khai quang rải xuống.
Nhưng nhờ bàn tay, khối óc và quyết tâm của hàng vạn con người với hơn 30 năm tái tạo, khu rừng giờ là lá phổi xanh của thành phố Hồ Chí Minh, là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” ngập mặn đẹp nhất Đông Nam Á. Và nay, rừng đang trả công những hộ dân “liều mình” ra nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng gần 30 năm trước.
Theo chân các anh kiểm lâm Cần Giờ, chúng tôi tìm đến nhà bà Đinh Thị Hồng (Ba Hồng), năm nay 68 tuổi, ở phân khu 3, tiểu khu 4B, phòng hộ Cần Giờ. Bà là 1 trong trong số hàng vạn thanh niên bỏ tuổi xuân đi tái tạo rừng Cần Giờ những năm 1980. Và sau đó, năm 1990, bà lại là 1 trong số 10 hộ đầu tiên ra Cần Giờ nhận khoán, chăm sóc, giữ rừng.
Trong ngôi nhà xây khang trang giữa rừng, bà Hồng nhớ lại: “Không có bút nào tả hết nỗi cực khổ thời đi trồng rừng. Hồi đó, mỗi chuyến đi từ 10 ngày đến nửa tháng. Tôi nhận rừng, rồi thuê nhân công. Trước khi trồng rừng, việc đầu tiên là dựng chòi. Vì tất cả đều bị ngập khi nước lên nên mọi người phải lấy đất đắp cao, sau đó trải vải nhựa xuống, rồi dựng chòi. Ăn uống kham khổ, sinh hoạt thiếu thốn, mỗi chuyến đi về, kiểu gì cũng vài người bệnh".
Nói về quyết định dắt đàn con vào rừng sống năm 1990, bà Hồng cho biết: “Tôi đi bởi những cánh rừng này do chính tôi gieo hạt. Nhiều năm sống, ăn ngủ trong rừng, tôi quen rồi. Lúc đó tôi lo nhất là vào đó các con sống ra sao. Nhưng mấy đứa nhỏ động viên, bảo nếu mẹ muốn đi thì tụi con ủng hộ".
Nhớ những ngày đầu làm “người rừng”, bà Hồng kể tiếp: “Hồi mới vào, cực khổ lắm chú ơi, điện không có, đêm phải đốt đèn dầu, nước ngọt thì phải chèo ghe trên sông Lòng Tàu đi mấy tiếng mới mua được. Hôm nào gặp gió ngược thì đi nửa ngày không đến nơi, sóng hơi lớn chút mà chèo bất cẩn, lật ghe như chơi".
Cách nhà bà Ba Hồng vài cây số là nhà bà Nguyễn Kim Hoàng (Tư Hoàng), người đã gần trọn đời sống với rừng. Nhìn dáng cao gầy, nước da hồng hào, săn chắc, ít ai nghĩ năm nay bà Tư Hoàng đã 69 tuổi. “Tôi mới thôi hợp đồng giữ rừng cách đây 2 năm. Tôi còn khỏe, vẫn muốn làm tiếp, nhưng mấy ảnh nói tôi già rồi, làm chi cho cực”, bà Tư Hoàng cười bảo.
Hiện bà Hoàng đã “nghỉ hưu”, giao lại hợp đồng chăm sóc 245,7ha rừng cho người con trai thứ 4 là Nguyễn Thành Trung. Anh Trung cho biết, mỗi năm, tiền khoán giữ rừng khoảng 280 triệu. Ngoài ra, anh còn có 2 ao nuôi cá, cuộc sống khá tốt.
Nghe tôi hỏi: “Đàn bà chân yếu tay mềm, làm sao dì ngăn được những người phá rừng?”, bà Tư Hoàng nói: “Lúc đầu cũng sợ lắm. Mình đàn bà, sức yếu. Nhưng nếu không cản thì mình mất rừng. Nghĩ hoài, cuối cùng cũng có cách".
Đó là mỗi khi thấy họ phá rừng, bà giả bộ hét to “mấy anh kiểm lâm ơi, tụi nó phá ở đây nè”, tụi nó nghe vậy, tưởng kiểm lâm đến nên bỏ chạy. Đấy là với tụi đàn ông.
Còn nhiều trường hợp người nghèo, phụ nữ, mấy đứa nhỏ lên chặt cây về bán mua gạo ăn qua ngày thì bà không sợ, mà còn thương. Không nỡ làm lớn chuyện.
Hiện nay, có gần 150 hộ dân và 14 cơ quan, đơn vị nhận khoán chăm sóc, bảo vệ hơn 37 ngàn ha rừng Cần Giờ. Điều đáng mừng là những người được giao rừng đã và đang hưởng lợi từ rừng, việc giữ rừng vì thế càng tốt hơn. Gia đình bà Ba Hồng hiện đang nhận chăm sóc 191ha rừng, mỗi năm được nhà nước trả hơn 220 triệu đồng.
Ngoài ra, anh Trần Minh Tùng, con trai bà Hồng còn nuôi thêm ốc len, mỗi năm cũng thu được hơn trăm triệu. “So với ngày xưa mới vào, thế là tốt lắm rồi chú ạ. Tôi có 3 đứa con, 2 đứa đã tốt nghiệp cao đẳng ở thành phố. Cháu út hiện đang học ở xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ”, anh Tùng phấn khởi nói.
Chị Nguyễn Thị Loan ở phân khu 1 bảo vệ hơn 122,6ha rừng do ba chị nhận năm 1992, giao lại, nói: “Tụi em được tập huấn kỹ thuật nuôi ốc nên thu nhập thêm mỗi mùa 4-5 triệu đồng nữa. Còn bảo vệ rừng thì mình tuyên truyền và giám sát các hộ nơi khác đến để họ không chặt phá rừng, chỉ bắt cua, có ghe vào đặt bung thì yêu cầu lỗ lưới không được rộng 2 phân để không bắt cá nhỏ. Chỗ nào điểm nóng, có cây ngon thì theo nước ra đó mình canh giữ rừng”.
Hiện nay, chị Loan còn có thêm thu nhập khác từ việc tổ chức du lịch sinh thái cho du khách. Còn anh Đặng Văn Thành ở phân khu 5, tổ trưởng tổ tự quản 6 hộ nhận khoán 415ha rừng cho biết, các anh thường xuyên được tập huấn về các nội dung như phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn, biến đổi khí hậu, hướng dẫn viên văn hóa bản địa…
Một hộ gắn bó lâu đời nhất nhì ở phân khu III là ông Nguyễn Văn Thu, tâm sự: "Gần 30 năm giữ rừng, tôi trở thành “người rừng” luôn rồi. Người rừng không phải là lạc hậu, hay kiểu “ăn lông ở lỗ”, mà là người gắn bó, không thể rời xa rừng. Tôi về thành phố 1 ngày là thấy khó chịu, muốn về với rừng ngay. Rừng bảo vệ mình thì mình phải yêu nó, rừng không phụ lòng người đâu”.
Từ sự gắn bó đến tình yêu rừng còn có một giá trị đặc biệt đối với những hộ giữ rừng, đó là rừng đã giúp họ nuôi dạy con cái, được học hành tới nơi, tới chốn.
Bà Nguyễn Kim Chưởng, hộ giữ rừng phân khu III thẽ thọt: “Từ ngày giữ đất giữ rừng tới giờ thì con cái ăn học ngon hé. Năm 2013, UBND TP.HCM đã quyết định điều chỉnh tăng thêm 100 ngàn đồng tiền công khoán bảo vệ rừng phòng hộ từ 1.156 ngàn đồng lên 1.256 ngàn đồng/ha/năm, tụi tôi mừng lắm”. (Nông Nghiệp VN 5/5, Phúc Lập)đầu trang(
Là người trăn trở với vùng đất U Minh Hạ, Cà Mau, ông Trần Văn Hiếu - Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ (Cty Lâm nghiệp) hiểu rất rõ đời sống của người dân nơi đây.
Chính vì vậy, tại cuộc họp tổng kết công tác PCCC rừng năm 2016 vừa được tổ chức tại Cà Mau, ông nêu lên một thực trạng đời sống của cư dân trong rừng U Minh Hạ. Rừng tràm kinh tế, cả rừng keo lai hiện nay rất khó cháy, bởi gần đây người dân trồng theo phương pháp kê liếp, siêu thâm canh không trồng lan như xưa.
Để công tác quản lý, bảo vệ và PCCC rừng ngày càng tốt hơn, ông Trần Văn Hiếu đề xuất tỉnh sớm đầu tư xây dựng hạ tầng trên lâm phần rừng tràm để phục vụ công tác PCCC rừng và phục vụ phát triển KTXH của cư dân. Ông Hiếu khẳng định: “Khi đời sống của người dân dưới tán rừng phát triển thì công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và PCCC rừng sẽ tốt hơn và bền vững hơn. Họ yêu cây tràm, cây keo thì không lý do gì họ phá rừng, phá nồi cơm của chính mình”.
Dẫu vậy điều ông trăn trở là thực tế hiện nay sau khai thác, việc vận chuyển lâm sản đến nơi có đường cho xe tải trọng trên 10 tấn lưu thông hoặc đường thủy có tàu lớn bình quân chi phí chiếm đến 37% giá trị sản phẩm. Tổng chi phí người dân bỏ ra từ khai thác lâm sản tăng thêm do vận chuyển từ rừng ra ngoài trên 85 tỉ đồng/năm.
Con số này sẽ vô cùng lớn khi mà những sản vật vùng U Minh Hạ được vận chuyển từ trong rừng đến bàn ăn gấp nhiều lần giá trị thật. Nếu giao thông thuận tiện thì phần chênh lệch này người dân sẽ được thụ hưởng. Điều này chắc chắn sẽ nâng cao thêm đời sống của người dân. Cà Mau có tổng diện tích đất lâm nghiệp 110.451ha, trong đó có 94.224ha rừng tập trung, bao gồm 52.656ha rừng sản xuất, 18.226ha đặc dụng và 23.341ha rừng phòng hộ. Cà Mau có 3 vùng sinh thái đất rừng ngập mặn 66.539ha, đất rừng ngập lợ (rừng U Minh Hạ) 43.195ha và đất rừng trên đảo 716ha.
Diện tích rừng sản xuất của tỉnh này cũng đang vào giai đoạn khai thác. Một DN trồng rừng tại xã Khánh Lâm, huyện U Minh tính toán: “Nếu đường thông thương, không phải lụy những con đập thì giảm chi phí đến 30% sau khai thác”.
Thời gian gần đây, đất rừng U Minh Hạ dần được hồi sinh bằng việc “cởi trói” những cơ chế kìm hãm sự phát triển trên đất lâm phần mà suốt thời gian dài tồn tại. Những doanh nghiệp, người dân đã đầu tư vào mảnh đất này để trồng tràm, trồng keo lai, trồng chuối, trồng thảo dược… với quy mô lớn. Mảnh đất U Minh Hạ dần được đổi thay. Tuy nhiên, hệ thống thủy lợi nơi đây chưa được đầu tư khiến cho các mặt hàng nông sản này muốn ra khỏi rừng phải đội chi phí quá cao. Đó là chưa kể, từ mảnh đất cuối trời Nam này muốn xuất khẩu phải vận chuyển đến các cảng biển cách xa hàng trăm cây số.
Ông Lê Văn Sử - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, người trước đây là Bí thư Huyện ủy U Minh, rồi Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau hiểu rất rõ điều này. Trước phát biểu thẳng thắn của ông Hiếu và cái khó của doanh nghiệp và người trồng rừng ông đã có động thái chỉ đạo ngay cho ngành NNPTNT sớm rà soát, quy hoạch lại hệ thống thủy lợi trong lâm phần rừng tràm để thuận lợi trong việc vận chuyển lâm sản sau khai thác.
Mở đường cho sản vật rừng U Minh Hạ phát triển sẽ không dừng lại ở lợi ích kinh tế.(Lao Động 6/5, Nhật Hồ)đầu trang(
Ngày 5.5, UBND tỉnh Gia Lai cho biết, đã ra văn bản nhấn mạnh, địa phương nào để xảy ra phá rừng thì Chủ tịch huyện nơi đó phải chịu trách nhiệm.
Trong bối cảnh rừng địa phương liên tục bị tàn phá, thu hẹp, tỉnh Gia Lai kiên quyết: Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác, lấn chiếm rừng; giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình mà không xử lý kịp thời thì Chủ tịch UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh.
Để giữ rừng hiệu quả, UBND tỉnh Gia Lai cũng đề nghị các sở ngành, Công an, Viện trưởng Viện KSND, Chánh án TAND tỉnh xử lý triệt để, nghiêm minh đối với các băng nhóm tội phạm vi phạm quy định pháp luật bảo vệ rừng.
Mới đây, tại huyện Chư Pah (Gia Lai) do ông Đặng Công Lâm làm Chủ tịch huyện, lâm tặc đã công khai đốn hạ 54 cây gỗ chò xót, cắt xẻ thành 73 lóng. Lợi dụng sự buông lỏng của cơ quan chức năng, các đối tượng đã xông vào bãi tập kết lấy đi 45 lóng gỗ tang vật. Đáng nói, đối tượng chủ mưu phá rừng và lấy gỗ vẫn đang mất dấu.
Trước đó, huyện K'Bang (Gia Lai) đã để 18 lâm tặc xông vào khoảnh 6, tiểu khu 90 lâm phần Cty LN Krông Pa, đốn hạ 2 cây gỗ hương khối lượng 30,166m3. Ngay sau đó, Chủ tịch huyện Võ Văn Phán phải chịu hình thức khiển trách khi buông lỏng trách nhiệm.
Tại huyện Ia Grai (Gia Lai), Bộ đội biên phòng phát hiện 5 xe tải "nối đuôi" vận chuyển trái phép 74,6m3 gỗ. Quá trình bị vây bắt, các đối tượng cán 3 xe máy của cán bộ, cướp lại gỗ, bất chấp bộ đội biên phòng nổ súng. Vụ việc đã được chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra Hình sự khu vực II - Bộ đội Biên phòng (trụ sở TP.Đà Nẵng) xử lý. Đồng thời, cơ quan chức năng cũng đang truy tìm nguồn gốc số gỗ và hướng đi của đoàn xe tải. (Lao Động 5/5, Đình Văn)đầu trang(
Hành vi phá rừng đặc dụng của Công ty TNHH MTV 91 (Tổng công ty than Đông Bắc) bị UBND thị xã Đông Triều xử phạt hành chính 50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu phục hồi nguyên trạng ban đầu, trồng lại rừng. Tuy nhiên, quyết định này đang bị cho là đã xử phạt trên báo cáo sai sự thật, hoặc hậu xử phạt, Công ty TNHH MTV 91 đã tái diễn hành vi phá rừng đặc dụng…
Theo Báo cáo số 02/BC-TrBK ngày 10/3/2016 của Trạm Kiểm lâm Bình Khê thì ngày 10/3/2016, tổ công tác đã phát hiện 1 máy múc và 3 ô tô đang hoạt động đào, bốc, san lấp đất đá có màu đen; diện tích san lấp khoảng 700 m2. Toàn bộ diện tích trên, theo Quyết định 2668/QĐ ngày 14/11/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh, thuộc quy hoạch rừng đặc dụng; chủ rừng là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đông Triều.
Tiếp đó, ngày 21/4/2016, Hạt Kiểm lâm thị xã Đông Triều có Báo cáo số 86/BC-KL cho biết: Công ty TNHH MTV 91 (Công ty 91) đã san gạt, hạ cấp độ dốc đường vận chuyển than của mỏ khai thác hầm lò, độ cao 300 m của Công ty 91 đã gây thiệt hại phá rừng đặc dụng trái pháp luật. Diện tích vi phạm phá rừng trái pháp luật là 700 m2 - trồng cây keo, thuộc loại rừng đặc dụng.
Từ các báo cáo trên, ngày 06/5/2016, UBND thị xã Đông Triều đã ra Quyết định số 739/QĐ-UBND về việc xử phạt hành chính Công ty 91 là 50 triệu đồng, bởi hành vi: San gạt, mở đường phá rừng đặc dụng trái pháp luật (diện tích 700 m2), tại khoảnh 5, tiểu khu 9, xã Tràng Lương. Đồng thời, yêu cầu Công ty 91 phục hồi nguyên trạng ban đầu, trồng lại rừng.
Tuy nhiên, các số liệu và quyết định xử phạt nêu trên lại hoàn toàn mâu thuẫn với Báo cáo của UBND xã Tràng Lương, được ban hành 1 tuần sau đó. Cụ thể, tại Báo cáo của UBND xã Tràng Lương số 33 BC-UB ngày 12/5/2016 nêu: “Ngày 11/5/2016, tổ công tác của UBND xã Tràng Lương đã tổ chức kiểm tra đất lâm nghiệp tại tiểu khu 9, xã Tràng Lương.
Tại thời điểm kiểm tra nhận thấy, tại lô 3, khoảnh 5 - tiểu khu 9, xã Tràng Lương, có 1 điểm bị san gạt diện tích khoảng 2 ha, xung quanh hiện trường khu đất san gạt là rừng trồng keo, đất trống lâm nghiệp kiểu IB. Toàn bộ phần đất san gạt nói trên, nằm trong gianh giới quản lý rừng và đồng trồng rừng của Công ty Lâm nghiệp Đông Triều. Phần đất san gạt trên nằm trong gianh giới quản lý tài nguyên của Công ty 91”.
Theo nội dung trên, câu hỏi được đặt ra: Hoặc Trạm Kiểm lâm Bình Khê và Hạt kiểm lâm Đông Triều đã báo cáo sai sự thật - diện tích phá rừng đặc dụng chỉ 700 m2 (trong khi sai số quá lớn so với báo cáo của UBND xã Tràng Lương là hơn 2 ha), hoặc hậu xử phạt, Công ty 91 tiếp tục phá rừng lên đến trên 2 ha? Mục đích của việc báo cáo sai sự thật (nếu có) là gì?
Để cập nhật tình hình thực hiện trồng mới, rừng đặc dụng mà Công ty 91 đã phá rừng trái pháp luật, hành vi tái phá rừng của Công ty 91 (nếu có), cơ sở xác định diện tích 700 m2 rừng đặc dụng bị hủy hoại, hành vi san gạt đường trên đất rừng đặc dụng của Công ty 91 có được các cấp thẩm quyền cho phép hay không..., nhóm PV đã liên hệ làm việc với một số cơ quan chức năng.
Đối với Hạt Kiểm lâm thị xã Đông Triều, ông Phạm Văn Triển, Hạt trưởng cho biết: UBND thị xã Đông Triều đã quán triệt (bằng miệng) quy chế tiếp báo chí theo hình thức tập trung. Những cơ quan báo chí liên hệ làm việc với các đơn vị thuộc thị xã đều phải thông qua UBND thị xã. Sau đó, UBND thị xã sẽ xếp lịch và giao việc cho các đơn vị liên quan làm việc với báo chí.
Tuy nhiên, đến nay, hơn 1 tuần trôi qua, UBND thị xã Đông Triều chưa có phản hồi về lịch làm việc mà nhóm PV đã liên hệ đối với các nội dung nêu trên?
Trong khi ông Tạ Văn Mai, Chủ tịch UBND xã Tràng Lương nói: Anh em đi kiểm tra về báo cáo cho biết, khoảng hơn 1 tháng nay, Công ty 91 đã trồng mới, phủ kín hết bằng cây bạch đàn, keo với diện tích khoảng 1 ha trên diện tích rừng đã bị phá; còn con số chính xác, cụ thể phải đo mới biết được.
Khi PV đề nghị được tiếp cận hiện trường, ông Mai bảo: "PV hãy liên hệ với Hạt Kiểm lâm thị xã Đông Triều - đơn vị quản lý để được biết thực tế"...
Đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan kiểm tra thực trạng rừng đặc dụng, đã bị Công ty 91 hủy hoại (nếu có) để có phương hướng xử lý khách quan, đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật. (Thương Hiệu & Công Luận 5/5, PV)đầu trang(
Trần Thị Tẩy (62 tuổi, trú TP Hải Phòng) và Phí Văn Thành (41 tuổi, trú huyện Đắk Mil, Đắk Nông) bị bắt tạm giam để điều tra vụ làm giả giấy tờ, mua bán và vận chuyển trái phép 24 m3 gỗ lậu qua biên giới.
Ngày 6-5, ông Trần Viết Cự, Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức (Đắk Nông), cho biết công an huyện này vừa khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam hai nghi can Tẩy và Thành.
Theo điều tra ban đầu, vào ngày 18-12-2016, Thành đưa bà Tẩy đến bãi gỗ đang được tập kết tại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, thuộc địa phận quản lý của Đồn biên phòng 767 (xã Đắk Bu Sor, Tuy Đức).
Sau khi thỏa thuận bằng miệng mua bán số gỗ trên với giá 195 triệu đồng, bà Tẩy đưa trước cho Thành 40 triệu đồng để lo phương tiện bốc gỗ và giấy tờ hợp thức hóa số gỗ nói trên. Theo kế hoạch, số gỗ trên sẽ được vận chuyển bằng đường bộ về TP.HCM và sau đó vận chuyển bằng đường thủy ra TP Hải Phòng.
Đến ngày 23-12-2016, bà Tẩy đã thuê container đầu kéo mang biển số 51C-781.51 chở số gỗ nói trên về TP.HCM. Khi xe chở gỗ chạy đến địa bàn xã Đắk Bu Sor thì bị Công an huyện Tuy Đức phát hiện, bắt giữ.
Cùng ngày 23-12, Phí Văn Thành cũng mua hơn 24 m3 gỗ tạp của bà Nguyễn Thị Thủy (Phó Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất, Thương mại và Dịch vụ Thu Hà, tỉnh Bình Phước) hóa đơn mua hàng mang tên Trần Thị Tẩy (Xí nghiệp Thương binh 22-12, TP Hải Phòng) kèm theo hóa đơn, bảng kê lâm sản của Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng (Bình Phước).
Thành làm hợp đồng mua gỗ với Công ty Thu Hà để vận chuyển về TP Hải Phòng bằng xe tải biển số 47C-055.47 nhưng lại vận chuyển số gỗ trên về tỉnh Đắk Lắk để bán. Thành nói dối xe tải biển số 47C-055.47 bị hỏng và yêu cầu bà Thủy lập lại bảng kê lâm sản thay đổi phương tiện vận chuyển gỗ sang container đầu kéo biển số 51C-781.51.
Bà Thủy đã làm tờ trình gửi Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng làm lại bảng kê lâm sản mới như yêu cầu của Thành. Thành sử dụng hóa đơn và bảng kê lâm sản mới này để hợp thức hóa lô gỗ bán cho bà Tẩy tại huyện Tuy Đức. (Pháp Luật TPHCM 6/5, Đại Dũng)đầu trang(
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực.
Tuy nhiên tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chống người thi hành công vụ có nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt là tình trạng khai thác gỗ quý hiếm (gỗ nhóm II, IIA) ở một số khu vực thuộc rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt, gây thất thoát tài nguyên quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, phá hủy rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên là do cấp ủy, chính quyền cơ sở ở một số nơi còn chưa xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước trên địa bàn, còn thụ động, chưa quyết liệt, thiếu kịp thời, chưa thực sự vào cuộc, né tránh sợ va chạm, chưa chủ động triển khai các biện pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ở tại gốc.
Một số cán bộ thuộc các lực lượng chức năng, chính quyền sở tại trách nhiệm chưa cao, chưa quyết liệt; thậm chí còn có cán bộ thoái hóa biến chất, tiếp tay cho lâm tặc làm mất lòng tin với nhân dân. Đường biên giới dài, hiểm trở; công tác quản lý qua lại biên giới còn chưa bao quát toàn diện. Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng đã được tăng cường nhưng nội dung và hình thức tuyên truyền còn hạn chế; nhận thức của một bộ phận người dân, nhất là người dân nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng rừng, hoặc có nhận thức nhưng do đời sống khó khăn nên vẫn tiếp tục phá rừng hoặc tiếp tay, làm thuê cho “đầu nậu”.
Lực lượng Kiểm lâm chậm đổi mới, năng lực tham mưu cũng như tổ chức thực hiện, sự chủ động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng Công an, Quản lý thị trường, Kiểm lâm, Biên phòng… còn thiếu chặt chẽ. Để khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đảm bảo kỷ cương pháp luật, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các ngành, các địa phương nghiêm túc thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm: Sở NN – PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tập trung xử lý các điểm nóng về phá rừng, khai thác mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép; rà soát, thống kê và điều tra, xử lý dứt điểm các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng gắn với tuyên truyền, vận động để giáo dục, răn đe phòng ngừa; phân công cán bộ Kiểm lâm phụ trách địa bàn nắm chắc diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn quản lý, hướng dẫn cơ sở tổ chức các tổ, đội quản lý bảo vệ rừng phối hợp ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
Thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động lực lượng bảo vệ rừng của các Trạm; kiên quyết đưa ra khỏi lực lượng những viên chức vi phạm pháp luật, thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu, làm ngơ, tiếp tay cho các hành vi vi phạm. Khen thưởng các cá nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào, đầu ra của các cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản, xử lý nghiêm các cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản nhập, xuất lâm sản trái pháp luật. Công an tỉnh chỉ đạo thực hiện công tác điều tra, làm rõ đối tượng, hành vi vi phạm để xử lý các vụ việc đã khởi tố vụ án hình sự, các vụ chống người thi hành công vụ xảy ra trên địa bàn tỉnh thời gian qua; rà soát, thống kê các đối tượng “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái pháp luật, kẻ chủ mưu, thuê, kích động xúi giục người dân phá rừng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự xã hội để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; kiên quyết xử lý các phương tiện xe gắn máy, xe ô tô tự chế, xe hết niên hạn lưu hành dùng để vận chuyển lâm sản trái phép.
Bộ CHQS, Bộ đội Biên phòng chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho các đơn vị đóng quân trên địa bàn phối hợp hỗ trợ và tham gia cùng lực lượng Kiểm lâm kiểm tra, kiểm soát phát hiện kịp thời các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng để xử lý theo quy định của pháp luật; xử lý nghiêm đối với các cán bộ, chiến sỹ tiếp tay cho lâm tặc khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trong khu vực biên giới. UBND các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương.
Đẩy mạnh công tác kiểm tra các cơ sở chế biến gỗ; xử lý nghiêm, đúng quy định pháp luật đối với cơ sở chế biến gỗ không đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp trên địa bàn quản lý; giám sát chặt chẽ đối với tổ chức và cá nhân khai thác tận dụng rừng; bố trí lực lượng chốt chặn tại các lối mòn lên biên giới (đối với các huyện biên giới).
Các cơ quan Báo, Đài PT – TH và các sở, ban, ngành căn cứ chức năng nhiệm vụ của đơn vị tăng cường công tác tuyên truyền những điển hình tốt về bảo vệ phát triển rừng, đưa tin kịp thời khách quan về các vụ phá rừng, phê phán các hành vi phá rừng, hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật và hành vi chống người thi hành công vụ.
Có kế hoạch, biện pháp chỉ đạo, tuyên truyền vận động cán bộ và nhân dân, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Hà Giang 6/5, PV)đầu trang(
Theo Cục Hải quan thành phố Hải Phòng, mới đây, Đội Kiểm soát Hải quan phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực 3 đã phát hiện một lô gỗ giáng hương Tây Phi có trị giá rất lớn.
Qua nghiên cứu thông tin về địa bàn, tuyến vận chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và người có liên quan tại cảng Nam Hải Đình Vũ, lực lượng hải quan thuộc Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã phát hiện một doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa là gỗ Giáng Hương có nguồn gốc từ Tây Phi. Số lượng hàng bắt giữ gồm 37 container.
Loại gỗ giáng hương này có tên khoa học là Pterocarpus Erinaceus, thuộc danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Đội Kiểm soát Hải quan đang tiếp tục triển khai các biện pháp nghiệp vụ để xác minh, làm căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, Tổng cục Hải quan vừa chỉ đạo các Cục Hải quan tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời hành vi gian lận thương mại trong việc nhập khẩu hàng hóa nêu trên. (Tin Tức 6/5, Minh Phương)đầu trang(
Hơn 180 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp chiếm hơn một nửa diện tích đất tự nhiên, diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh ta giáp ranh với các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình và Tuyên Quang. Một số địa bàn giáp ranh có diện tích rừng tự nhiên lớn như: Huyện Đà Bắc (Hòa Bình), Phù Yên (Sơn La) tiếp giáp với huyện Tân Sơn, Thanh Sơn; huyện Văn Chấn (Yên Bái) tiếp giáp với huyện Yên Lập.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp các khu vực rừng giáp ranh thường ở vùng sâu, vùng xa, địa hình đồi dốc cao, đi lại hiểm trở, đồng bào sinh sống chủ yếu là dân tộc ít người, có trình độ dân trí không đồng đều ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Cùng với đó quỹ đất phục vụ sản xuất nông nghiệp của đồng bào tại khu vực giáp ranh ít, gây áp lực lớn lên rừng và đất lâm nghiệp như nạn phá rừng, phát nương làm rẫy trái phép…
Nhận thức được những khó khăn, thách thức đó trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khu vực giáp ranh. Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm, ưu tiên nguồn vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản như điện, đường, trường, trạm, hệ thống kênh mương, thủy lợi… chính sách xóa nhà tạm, khuyến khích bà con trồng lúa nước, phát triển kinh tế đồi rừng đảm bảo được lương thực cung cấp cho gia đình và phục vụ phát triển chăn nuôi, từ đó từng bước đảm bảo sinh kế, góp phần giảm áp lực tác động vào rừng.
Đối với lực lượng Kiểm lâm, công tác quản lý, bảo vệ rừng giáp ranh được cụ thể hóa bằng quy chế phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ với từng Chi cục Kiểm lâm các tỉnh bạn có diện tích rừng giáp ranh.
Nội dung phối hợp được thể hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng gồm: Phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các trường hợp lấn, chiếm rừng, phá rừng, khai thác rừng, hủy hoại rừng, gây cháy rừng; vận chuyển, mua bán, cất giữ, kinh doanh lâm sản, săn, bắt động vật hoang dã trái quy định của pháp luật...
Quy chế phối hợp cũng quy định rõ việc cần phải thường xuyên trao đổi thông tin; định kỳ sơ, tổng kết giữa lãnh đạo cấp Chi cục, lãnh đạo cấp Hạt để kịp thời nắm bắt tình hình vùng giáp ranh và triển khai thực hiện. Ngoài ra, Quy chế phối hợp cũng phân định cơ quan Kiểm lâm nào sẽ chủ trì trong việc kiểm tra, truy quét, lập hồ sơ xử lý khi có đối tượng của địa phương này sang xâm hại, có hành vi vi phạm lâm luật đối với rừng và đất lâm nghiệp của địa phương kia.
Để bảo vệ tốt diện tích rừng khu vực giáp ranh, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng được cấp ủy, chính quyền địa phương khu vực giáp ranh luôn quan tâm, chú trọng. Tính từ năm 2016 đến hết quý I năm nay, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái đã tổ chức thực hiện hơn 150 buổi tuyên truyền tại các thôn, bản cho hơn 15.200 lượt người dân; tổ chức phát hơn 50.000 tờ rơi, 1.500 tranh cổ động, 1.000 đĩa tuyên truyền về văn bản, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Việc tổ chức tuyên truyền, cấp phát tờ rơi, tờ gấp, tranh cổ động được ưu tiên tại các thôn, bản, khu dân cư tập trung đồng bào dân tộc ít người; ở các khu vực rừng giáp ranh.
Để quản lý tốt khu vực địa bàn rừng giáp ranh, lực lượng Kiểm lâm cũng đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền đồng thời chủ động phối hợp với Chi cục Kiểm lâm các tỉnh có diện tích rừng giáp ranh và các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ cùng UBND xã Trung Sơn phối hợp với Hạt Kiểm lâm Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tổ chức kiểm tra khu vực giáp ranh giữa xã Trung Sơn và xã Nghĩa Tâm về tình trạng phá rừng tự nhiên theo phản ánh của Đài truyền hình Việt Nam; Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ tổ chức kiểm tra tình trạng xâm canh, lấn chiếm, phát nương làm rẫy đối với đất rừng phòng hộ tại khu vực giáp ranh của xã Yên Sơn huyện Thanh Sơn với xã Tân Minh huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Hạt Kiểm lâm Tân Sơn, VQG Xuân Sơn phối hợp với Hạt Kiểm lâm Phù Yên, tỉnh Sơn La tổ chức kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại khu vực Suối Gà, khu Han 4, khu Han 5 xã Mường Bang huyện Phù Yên…
Qua công tác phối hợp kiểm tra, các lực lượng và cơ quan chức năng liên quan đã nắm bắt được tình hình thực tế tại các khu vực giáp ranh cũng như kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ vi phạm xâm hại đến rừng. Từ năm 2016 đến nay, đã phát hiện và xử lý 2 vụ vi phạm thủ tục hành chính trong vận chuyển lâm sản, 6 vụ vi phạm mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 1 vụ săn bắn, giết động vật hoang dã tại địa bàn các khu vực giáp ranh.
Thực tế cho thấy, Quy chế phối hợp tạo thuận lợi rất lớn để lực lượng kiểm lâm phát huy vai trò nòng cốt trong bảo vệ rừng, tham mưu với cấp ủy, chính quyền, nhất là phối hợp với cơ sở, vùng giáp ranh để ngăn chặn, xử lý vi phạm kịp thời, hiệu quả. Nhờ thực hiện tốt quy chế phối hợp mà số vụ phá rừng làm nương rẫy, khai thác, mua bán lâm sản trái phép, nhất là cháy rừng đã giảm hẳn. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện quản lý, bảo vệ rừng bền vững. (Báo Phú Thọ 5/5, Nguyễn Thanh Tuấn)đầu trang(
Nhiều người dân trên địa bàn huyện Ngân Sơn bất chấp khuyến cáo, ngăn chặn của lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương, ham lợi trước mắt nên đã khai thác nhựa thông khi chưa đến tuổi. Hậu quả là cây chết, không phát triển được, rừng thông trở nên nghèo kiệt.
Các xã phía bắc huyện Ngân Sơn đa số là đồi, núi cao, mùa đông nhiệt độ xuống thấp nên không thể trồng được cây gì ngoài cây thông. Những năm qua, bằng các chương trình, dự án, huyện Ngân Sơn hỗ trợ nhân dân trồng thông để phủ xanh đất trống, đồi trọc. Đối với rừng sản xuất, trồng thông sau 20- 25 năm sẽ khai thác lấy gỗ, giá gỗ thông trên địa bàn huyện từ 800 nghìn đồng đến hơn một triệu đồng/ khối tuỳ loại.
Tuy nhiên, do ham lợi trước mắt, nhiều người dân địa phương chích nhựa khi chưa đến tuổi làm cho rừng thông không phát triển được. Đức Vân là một trong những xã trồng nhiều thông nhất ở huyện Ngân Sơn, vào nhiều khu rừng thông chỉ mới hơn mười năm tuổi, thấy nhiều cây thông mình đầy thương tích, bị đẽo vỏ để lấy nhựa. Tại khu vực Bản Tặc, người dân địa phương dùng dao, dìu đẽo vỏ chung quanh cây thông, từ gốc lên một mét, dùng xô, chậu hứng ở phía dưới để lấy nhựa.
Chủ tịch UBND xã Đức Vân Lương Văn Luận cho biết: Đến nay trên địa bàn xã có gần 300 ha rừng thông dưới 15 năm tuổi. Đối với những khu vực xung yếu, đầu nguồn, rừng thông có chức năng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, những khu vực khác là rừng kinh tế đều cần được bảo vệ.
Theo quy định, chỉ được khai thác nhựa đối với những cây thông từ 20 năm tuổi trở lên, hoặc khai thác nhựa khi thực hiện quy trình tỉa thưa rừng thông. Nhưng do giá nhựa thông luôn ở mức cao, người dân khi thì công khai, lúc lén lút khai thác nhựa thông khi chưa đến tuổi làm cho cây không phát triển được, sau ba, bốn năm là cây chết.
Mùa khai thác nhựa thông bắt đầu từ tháng ba đến tháng chín hằng năm. Năm nay mới bắt đầu vào mùa khai thác nhựa, nhưng đến các khu rừng thông ở các thôn Bản Chang, Bản Tặc, chúng tôi thấy nhiều cây thông bị vạc vỏ, người dân đặt xô, chậu phía dưới để hứng lấy nhựa bán.
Hiện nay, giá nhựa thông ở mức cao, từ 38 đến 40 nghìn đồng/ kg, chỉ cần vạc vỏ khoảng 20 cây, mỗi ngày cũng thu được ba, bốn kg nhựa, bán được hơn một trăm nghìn đồng. Rừng thông lại ở xa, địa hình hiểm trở, lực lượng mỏng, không tuần tra, truy quét được thường xuyên nên tình trạng khai thác nhựa thông non trên địa bàn xã Đức Vân nói riêng và huyện Ngân Sơn nói chung đang có xu hướng lan rộng.
Ông Lương Văn Luận cho biết thêm: Năm nào xã cũng tổ chức tuyên truyền hậu quả của việc khai thác nhựa thông non tại các thôn, bản. Đồng thời tổ chức truy quét tình trạng khai thác nhựa thông non, phá xô, chậu hứng nhựa, nhưng kết quả mang lại không như mong muốn. Khi lực lượng chức năng đi khỏi người ta lại đặt xô, chậu hứng nhựa. Kiểm lâm huyện Ngân Sơn bắt một số vụ buôn bán, vận chuyển nhựa thông trên địa bàn, nhưng đều xử lý hành chính mà không thể xử lý hình sự được nên không có tính răn đe, giáo dục.
Hậu quả của tình trạng khai thác nhựa thông non đến nay đã hiện hữu, nhiều khu rừng thông trên địa bàn xã Đức Vân, những cây thông bị khai thác nhựa quá mức, sau ba, bốn năm lá chuyển màu đỏ, rụng và chết, trơ thân và cành khô; những cây không chết thì còi cọc, không phát triển được.
Nếu không thường xuyên tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân, không truy quét thường xuyên, liên tục việc khai thác, buôn bán nhựa thông thì tình trạng khai thác nhựa thông non sẽ diễn ra trên diện rộng ở huyện Ngân Sơn, gây thiệt hại lớn về kinh tế. (Nhân Dân 5/5, Thế Bình)đầu trang(
Dù là một tỉnh có diện tích đất rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) lớn nhất khu vực Tây Nguyên nhưng người dân lại không thể sống được bằng nghề rừng.
Dọc theo quốc lộ 24 từ tỉnh Kon Tum đi tỉnh Quảng Ngãi, hai bên đường, nhiều khoảnh rừng bị người dân chặt phá, cây đổ ngổn ngang chờ ngày dọn sạch nhường chỗ cho cây sắn, cây bắp, lúa rẫy của người dân. Nhiều quả đồi đã bị phá trắng.
Dọc theo đường Trường Sơn Đông, cảnh tượng những cánh rừng bị phá không kém phần thê thảm. Cá biệt có những khoảnh rừng vừa mới bị chặt phá nằm giữa 2 trạm quản lý bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Nham, tỉnh Kon Tum.
Hoặc trên tuyến đường cắt rừng từ xã Mang Cành, huyện Kon Plông đi đường Trường Sơn Đông, nhiều khoảnh rừng bị tàn phá vẫn còn nguyên hiện trạng. Điều đáng nói là điểm rừng bị phá chỉ cách Trạm quản lý bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Thạch Nham chừng nửa cây số.
Theo người dân tại xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum các cây gỗ sau khi được cắt ngắn với chiều dài khoảng 2 m, sẽ được vận chuyển bằng xe máy độ chế về tập kết tại khu vực bãi đất trống cạnh mỏ đá ở xã Đắk Nông. Sau đó sẽ có xe tải của các đầu nậu vào chuyển đi tới nơi tiêu thụ. Căn nguyên của việc người dân chặt phá rừng nguyên sinh theo tìm hiểu của PV, do họ không có kế sinh nhai.
Theo lời kể của người dân xã Đăk Nông, tiền giao khoán quản lý bảo vệ rừng quá thấp, (trung bình mỗi năm chỉ giao động khoảng mấy trăm nghìn đồng/ha), không những thù lao cho người bảo vệ rừng thấp, mà mức chi trả còn rất bấp bênh. Vì vậy, dân làng không tích cực đi bảo vệ rừng, thậm chí nhiều người đang xin trả lại rừng không quản lý.
Điều đáng nói, tại Kon Tum hiện nay, không chỉ nạn chặt phá rừng tự nhiên diễn ra như “cơm bữa” mà thậm chí, người dân có đất rừng trồng cũng đều bỏ hoang hóa. Theo tìm hiểu của PV, hiện nay tại Kon Tum có hơn 60.000 ha đất trống đồi trọc, con số này còn lên tới hàng trăm ngàn ha theo như nguồn tin riêng từ một cán bộ Sở NN – PTNT tỉnh Kon Tum cho biết. Không ít người dân tại huyện Đắk Glei tỉnh Kon Tum cho biết, mặc dù trung bình mỗi hộ dân tại đây đều có ít nhất 1 - 2 ha đất rừng trồng, nhưng đều bỏ hoang hóa bởi lẽ, họ không biết trồng cây gì và tiêu thụ ở đâu?
Mang câu chuyện thực tế tại Kon Tum chia sẻ với nhiều chuyên gia lâm nghiệp, họ đều khẳng định, căn nguyên của vấn đề không chỉ do cơ chế chi trả thù lao không thỏa đáng mà điều quan trọng là phải có mô hình làm thực tế để người dân hiểu được lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng. Để làm được điều này, Kon Tum cần phải mở cơ chế hút DN vào đầu tư phát triển rừng trồng và chế biến lâm sản. Vì vậy, việc tìm giải pháp để thu hút nhà đầu tư trong lĩnh vực này đang là đòi hỏi bức thiết của tỉnh Kon Tum hiện nay.
Trên thực tế, việc phát triển kinh tế lâm nghiệp tại Kon Tum còn gặp nhiều khó khăn. Các cơ chế, chính sách nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp và bảo vệ rừng tại tỉnh còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, khó thực hiện, chưa phù hợp, chưa khuyến khích, tạo điều kiện hỗ trợ cho nông dân trồng rừng, phát triển các DN do nông dân và nhóm hộ quản lý để phát triển kinh doanh, thiếu đầu tư vào công nghiệp chế biến… từ đó dẫn đến giá trị kinh tế trên 1 ha rừng trồng còn thấp, chất lượng và khả năng cạnh tranh chưa cao. Trong khi đó, tại các tỉnh miền núi phía Bắc trồng rừng và phát triển các sản phẩm gỗ và ngoài gỗ cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu đã trở thành phương thức sản xuất hiệu quả, đang giúp hàng triệu hộ nông dân ở các vùng rừng núi thoát nghèo, cải thiện đời sống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, đặc biệt ở các vùng miền núi, các vùng khó khăn.
Chuyên gia lâm nghiệp Vũ Long khẳng định phải bảo đảm tất cả diện tích rừng có chủ quản lý cụ thể. Đồng thời, việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp tại Kon Tum cần phải được thực hiện theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Theo đó, DN tạo đầu vào cho người dân, liên kết, hỗ trợ người dân, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ cũng như tìm đầu ra cho sản phẩm lâm nghiệp, phát triển kinh tế lâm nghiệp. Do đó, DN phải được đặt vào vai trò trung tâm của liên kết chuỗi sản xuất lâm nghiệp tại Kon Tum. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 8/5, Nhật Minh)đầu trang(
Ngày 6.5, đại diện UBND huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông) cho biết, Công an huyện vừa bắt tạm giam các đối tượng Trần Thị Tẩy (62 tuổi, trú xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo, TP.Hải Phòng) và Phí Văn Thành (41 tuổi, trú xã Đắk Rla, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) để điều tra vụ làm giả giấy tờ, mua bán, vận chuyển trái phép 24m3 gỗ lậu (nhóm V) qua biên giới.
Theo điều tra, tháng 12.2016, đối tượng Thành đưa bà Tẩy đến bãi gỗ (gỗ xẻ hộp dài 3m, đường kính từ 22 - 43cm và khối lượng khoảng 25m3, được khai thác từ Campuchia) đang được tập kết tại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, thuộc địa phận quản lý của Đồn Biên phòng 767 (còn gọi Đồn Biên phòng Tuy Đức, tại xã Đắk Bu Sor, huyện Tuy Đức).
Sau khi thỏa thuận bằng miệng mua bán số gỗ trên với giá 195 triệu đồng, bà Tẩy đưa trước cho Thành 40 triệu đồng để lo phương tiện bốc gỗ và hợp thức hóa giấy tờ số gỗ trên.
Theo đó, số gỗ trên sẽ được vận chuyển bằng đường bộ về TPHCM và sau đó vận chuyển bằng đường thủy từ TPHCM đến Hải Phòng.
Ngày 23.12.2016, bà Tẩy thuê xe Container BKS 51C-78151 chở số gỗ nói trên về TPHCM. Khi chiếc xe Container chở gỗ lậu chạy đến địa bàn xã Đắk Bu Sor, thì bị Công an huyện Tuy Đức phát hiện và bắt giữ.
Cùng trong ngày 23.12.2016, Phí Văn Thành mua hơn 24m3 gỗ tạp của bà Nguyễn Thị Thủy (Phó Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất -Thương mại - Dịch vụ Thu Hà, ở tỉnh Bình Phước) với người mua hàng mang tên Trần Thị Tẩy (Xí nghiệp thương binh 22-12, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) kèm theo hóa đơn, bảng kê lâm sản của Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Thành làm hợp đồng mua gỗ với Công ty Thu Hà để vận chuyển về Hải Phòng bằng xe tải BKS 47C-05547, nhưng lại vận chuyển số gỗ trên về tỉnh Đắk Lắk để bán.
Thành nói dối xe tải BKS 47C-05547 bị hỏng và yêu cầu bà Thủy lập lại bảng kê lâm sản thay đổi phương tiện vận chuyển gỗ sang xe container đầu kéo BKS 51C-78151.
Sau đó, bà Thủy làm tờ trình gửi Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng làm lại bảng kê lâm sản mới như yêu cầu của Thành. Thành sử dụng hóa đơn và bảng kê lâm sản mới này hợp thức hóa lô gỗ bán cho bà Tẩy tại huyện Tuy Đức. (Lao Động 7/5, H.Long)đầu trang(
Mấy ngày nay, đêm nào ông Nguyễn Văn Thi và người dân ở ấp 4 (xã Thanh Sơn, huyện Định Quán) cũng thức trắng vì đàn voi rừng lại về phá rẫy.
Chuyện voi về kiếm ăn, phá rẫy với người dân xã Thanh Sơn không còn là chuyện lạ. Năm nào cũng xảy ra chuyện voi về phá rẫy, nhất là khi vào mùa thu hoạch. Chỉ từ cuối tháng 2 đến nay đã có cả chục lần đàn voi rừng ra khu vực rẫy của dân để kiếm ăn.
“Mấy “ông Bồ” đi thành đàn đâu khoảng chừng 9-10 con, tiếng bước chân của mấy ổng rầm rập nghe mà thất kinh. Bao nhiêu chuối, mía, xoài trên rẫy mấy ổng đạp, quật ngã đổ hết, sau khi mấy ổng rút đi, rẫy tan hoang như bãi chiến trường, người dân chỉ còn nước ngồi khóc.
Trước đây, tụi tôi thấy mấy “ổng” về thì gõ xoong nồi, thùng phuy, kẻng cho mấy ổng rút, riết rồi mấy ổng cũng quen không còn sợ tiếng động, tụi tôi phải chuyển qua đốt lửa, tự bảo vệ mình là chính chớ cũng không ngăn được mấy ổng phá rẫy. Mà lóng rày mấy ổng về nhiều hơn hồi trước, chắc tại năm nay thời tiết kỳ cục quá, rừng thiếu thức ăn nên mấy ổng đói. Ông bà mình nói “Đói ăn vụng, túng làm liều”. Voi cũng vậy thôi, tội nghiệp… ”.
Mà tội nghiệp thiệt. Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, cho biết theo khảo sát của ngành kiểm lâm, trước năm 2000 đàn voi ở Đồng Nai có khoảng 20 con với 3 con đực, 3 con cái, 4 con nhỏ và một số voi nhỡ.
Mới đây qua điều tra khảo sát bằng đặt bẫy ảnh, xác định đàn voi hiện còn khoảng 14 con, trong đó có 2 con voi ngà lệch nổi tiếng. Bầy voi chia thành 2 đàn, một đàn 6 con, một đàn 7 con, có một con voi ngà lệch bên phải thường đi một mình.
“Cả nước chỉ còn 3 khu vực có số lượng voi đủ lớn là: Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai với khoảng dưới 200 cá thể. Riêng tại Đồng Nai, đàn voi được đánh giá cơ cấu đàn tốt, có khả năng sinh sản cao vì trong đàn có voi con, voi bán trưởng thành và voi trưởng thành, đặc biệt có 2 voi con sinh trong năm 2016. Tuy nhiên, đàn voi quý hiếm này đang đối mặt nhiều nguy cơ, nếu không có những biện pháp bảo tồn tích cực và hữu hiệu thì có thể sẽ bị tuyệt chủng” - ông Dũng nhấn mạnh.
Rừng ngày càng thu hẹp, trong khi vùng hoạt động của voi rất rộng, một voi cái trưởng thành cần diện tích khoảng 6 ngàn hécta, một con voi đực cần khoảng 20 ngàn hécta để di chuyển kiếm thức ăn. Mùa khô hiếm nước và thức ăn, một ngày voi có thể di chuyển tới hơn 30km trên diện tích khoảng 40 ngàn hécta.
Sinh cảnh rừng cũng xuống cấp khiến voi thiếu thức ăn và muối khoáng, dẫn đến voi phải đến khu vực có người sinh sống, sản xuất để tìm thức ăn, từ đó gây ra xung đột giữa người và voi. Chỉ trong vòng 4 năm đã có 1 người chết, 2 người bị thương do voi rừng gây ra. Ngược lại, đã có 9 cá thể voi rừng bị sát hại; hàng ngày voi rừng vẫn ra phá hoại mùa màng gây thiệt hại về vật chất hàng tỷ đồng/năm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, tinh thần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng chục ngàn người dân sống ven rừng...
Sống trong khu vực voi thường hoạt động kiếm ăn, như xã Phú Lý, xã Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu), xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), xã Tà Lài (huyện Tân Phú) phần lớn là nông dân nghèo, sinh sống chỉ biết dựa vào cây trồng trên rẫy. Voi kiếm ăn, phá rẫy là phá luôn nồi cơm của dân, bởi vậy dân có nhiều lý do để “ghét” voi khi bao nhiêu mồ hôi, công đổ ra hàng mấy tháng trời bị voi phá nát chỉ trong một đêm.
Vì vậy, có người đã đầu độc voi để “trả thù” bằng cách cho thuốc trừ sâu vào chuối, mía, mà con voi bị chết vì nhiễm độc vào năm 2010 (bộ xương đang lưu giữ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai) là bằng chứng. Rồi bản thân con voi cũng “có giá”, nhất là cặp ngà, trở thành đối tượng bị săn bắn ráo riết…
Chuyện di dời đàn voi rừng sang khu vực khác là hoàn toàn không thể thực hiện, bởi trong nước không có các diện tích rừng khác đủ lớn và phù hợp cho đàn voi sinh sống, kinh phí để di dời một đàn voi cũng không nhỏ.
Trước đây, rừng liền mạch từ dãy Nam Trường Sơn đến Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông, như: Bình Phước, Bình Dương, Lâm Đồng, Đồng Nai, giờ thì rừng bị “phân lô” từng đoạn, một số địa phương không giữ được rừng nên địa bàn để voi di chuyển ngày càng hiếm hoi.
Còn nhớ, 2 đợt di dời voi từ Đồng Nai lên Đắk Lắk trước đây vào năm 1993 và 1999 đều thất bại thảm hại, vừa tốn kém tiền của, công sức, nhân mạng (một chuyên gia Thái Lan bị voi quật chết) vừa không đạt hiệu quả mong muốn vì đàn voi sau khi bị di dời đã chết gần hết do không thích nghi được với môi trường mới, số còn sống sót cũng “dạt” trở lại địa bàn cũ.
Và tại sao phải di dời khi đàn voi hiện tại là tài sản quý hiếm của Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung, có thể trở thành tiền đề để phát triển ngành du lịch?
Di dân ra khỏi vùng voi hoạt động cũng không phải là biện pháp khả thi vì voi luôn mở rộng phạm vi hoạt động đến các địa bàn dân cư khác. Hay nói cách khác, khó có thể xác định được giới hạn vùng hoạt động của voi, bởi voi đâu có chịu “định canh định cư”.
Chính vì vậy, Đồng Nai chọn giải pháp voi và người “chung sống hòa bình” bằng cách lập hàng rào điện để ngăn đàn voi vào khu dân cư. Nguyên tắc chung của hàng rào điện là dùng nguồn điện có dòng ampe thấp (< 12mA) gây giựt, gây hoảng sợ nhưng không làm chết voi, thú rừng và ngay cả con người.
Bản năng của voi là không đi qua các khu vực đã ngăn chặn và đã từng bị điện giật, do vậy việc áp dụng hàng rào điện chặn hướng voi về tấn công phá hoại mùa màng là biện pháp được đánh giá là tích cực.
Song song đó, đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013-2020” của Đồng Nai cũng hướng đến các hoạt động tuyên truyền người dân vùng có voi rừng hoạt động có ý thức bảo tồn voi, không trồng các loại cây voi thích ăn (mía, chuối, xoài…) để hạn chế việc voi phá rẫy; khôi phục, cải tạo và mở rộng sinh cảnh tự nhiên có quần thể voi; cải thiện sinh cảnh sống tự nhiên để đảm bảo môi trường sống ổn định bền vững cho các quần thể voi; xác định diện tích trồng cây thức ăn, cây thuốc trị bệnh bổ sung cho voi; bổ sung điểm cung cấp khoáng chất cho voi…
Nếu đề án được thực hiện, con voi sẽ… sướng như tiên. Xung đột giữa người và voi xem như đã có biện pháp giải quyết, nhưng con voi đã thật sự “yên” chưa?
Ông Lê Việt Dũng cho biết, đàn voi ở Đồng Nai cũng đang đối mặt với nguy cơ có thật khác, đó là tình trạng đồng huyết, cận huyết do sự giao phối hẹp trong bầy. Để hạn chế vấn đề này, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã đề xuất phương án “lấy chồng ngoại” cho voi bằng giải pháp mượn của Thái Lan 2 con voi đực để giao phối với voi cái bản địa, hoặc mượn voi từ Sơn La đưa vào. Phương án này cho đến nay được các chuyên gia đánh giá là khả thi nhất, bởi voi mượn đều có nguồn gốc là voi châu Á, bảo tồn được gen loài voi bản địa. (Báo Đồng Nai 5/5, Hà Nam)đầu trang(
Ngày 5-5, lực lượng của Hạt Kiểm lâm TP. Biên Hòa phát hiện một nhóm đối tượng buôn bán động vật quý hiếm tại khu phố 4, phường Tân Hòa.
Khi phát hiện lực lượng chức năng các đối tượng bỏ chạy để lại tang vật gồm nhiều động vật quý hiếm.
Theo đó, trong 4 cá thể động vật các đối tượng bỏ lại có 3 cá thể thuộc danh mục động vật quý hiếm cần được bảo vệ cấp, gồm: 1 cá thể culi nhỏ nặng 0,15kg (có tên khoa học là Nyctucebus pygmaeus) thuộc loài động vật quý hiếm nhóm 1B là nhóm động vật cực kỳ quý hiếm trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng.
2 cá thể thuộc loài động vật quý hiếm nhóm 2B gồm 1 cá thể Cheo Cheo có trọng lượng 1,7kg (có tên khoa học là Tragulusjavanicus) 1 cá thể Kỳ Đà Vân có trọng lượng 0,7kg (có tên khoa học là varanus nebulosus) cùng một cá thể Chồn bạc má nam.
Lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản thu giữ 4 cá thể động vật trên. Đồng thời phối hợp với Khu Bảo tồn thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai tiến hành thả 4 cá thể động vật về môi trường rừng tự nhiên trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu vào chiều cùng ngày.
Được biết, nếu không được lực lượng kiểm lâm phát hiện, bắt giữ kịp thời 4 động vật trên sẽ được đưa vào nhà hàng để tiêu thụ cách đó không xa. (Sài Gòn Giải Phóng 5/5, Duy Thành) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Cần phải nói ngay, cho đến thời điểm này, dù gọi là “Rừng cấm” hay “Khu bảo tồn thiên nhiên” thì Quyết định 41-TTg ngày 24.1.1977 của Thủ tướng Chính phủ vẫn là văn bản pháp luật cao nhất về bán đảo Sơn Trà.
Quyết định 41-TTg đưa Sơn Trà vào danh mục 10 khu rừng cấm quốc gia và quy định rõ: “Việc quản lý, bảo vệ và xây dựng các khu rừng cấm phải theo những nguyên tắc sau đây: Không được làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của rừng cấm. Muốn xây dựng các công trình lớn trong khu vực rừng cấm phải được phép của Thủ tướng Chính phủ; Không được khai thác, chặt hạ, săn bắn, gây tiếng ồn hoặc làm bất cứ công việc nào khác có hại đến điều kiện sinh sống và phát triển bình thường của các loài động vật, thực vật trong rừng cấm; Không được đốt lửa hoặc làm ô nhiễm môi trường trong các khu rừng cấm.
Những trường hợp cần thiết phải chặt hạ cây cối, săn bắt lấy tiêu bản động vật, thực vật hoặc đốt lửa dùng cho sinh hoạt trong khu rừng cấm phải do Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp xét và quyết định. Bộ Lâm nghiệp phải có kế hoạch trồng thêm cây và gây thả phục hồi số lượng các loài chim, thú trong các khu rừng cấm”.
Về ranh giới, Quyết định 41-TTg xác định tổng quát “khoảng 4.000ha”, gồm “toàn bộ bán đảo Sơn Trà và vùng xung quanh chân núi kéo dài ra 500 mét”, đồng thời giao cho Bộ Lâm nghiệp và UBND tỉnh “chịu trách nhiệm xác định ranh giới cụ thể, đóng bảng mốc, tổ chức quản lý, bảo vệ chặt chẽ mọi sinh vật và tài nguyên”.
Trên cơ sở đó, theo đề nghị của UBND tỉnh QN-ĐN, ngày 2.10.1992, Bộ Lâm nghiệp đã ra Quyết định số 447/LN-KL phê duyệt luận chứng kinh tế kinh tế kỹ thuật về Sơn Trà với tên gọi mới là “Khu bảo tồn thiên nhiên” với diện tích được xác định rõ là 4.439ha.
Quyết định 41-TTg và Quyết định 447/LN-KL là 2 quyết định pháp lý tạo lập và xác định ranh giới Rừng cấm-Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Chúng tôi xin lưu ý bạn đọc là, cho đến thời điểm này, chưa có một quyết định hợp pháp nào của cấp tương đương hoặc cao hơn thay đổi 2 quyết định nói trên.
Từ đó đến nay, chưa kể những Quyết định trái luật của UBND thành phố Đà Nẵng, đã có thêm 3 Quyết định của Chính phủ có liên quan đến Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà là Quyết định số 45/QĐ-TTg do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ký ngày 8.1.2014, Quyết định số 1976/QĐ-TTg cũng do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ký ngày 30.10.2014, và Quyết định số 2163/QĐ-TTg do Phó thủ tướng Vũ Đức Đam ký ngày 9.11.2016. Tuy nhiên, những quyết định đó chưa đủ hiệu lực pháp lý làm thay đổi diện tích Khu bảo tồn được xác định bởi 2 quyết định tạo lập. Vì sao vậy?
Đối với Quyết định 45/QĐ-TTg, là quyết định “phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, kèm theo các phụ lục, trong đó xác định diện tích của Sơn Trà là 3.871ha thuộc khu “dự trữ thiên nhiên”. Quyết định này ra đời để thi hành Luật Đa dạng sinh học 2008 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật.
Đối với Quyết định 1976/QĐ-TTg, là quyết định “phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng của cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, kèm theo các phụ lục, trong đó xác định diện tích của Sơn Trà là 2.591,1ha, cũng thuộc khu “dự trữ thiên nhiên”. Quyết định này ra đời nhằm thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 và Nghị định 117/2010/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Có thể thấy, trong vòng chưa đầy 10 tháng, với 2 Quyết định của Chính phủ được ký bởi cùng một Phó thủ tướng, rừng cấm Sơn Trà đã “mất” gần 1.300ha. Không thể nói 2 Quyết định trên là sai luật, người ta chỉ thắc mắc về những con số liên quan đến Sơn Trà. Con số 3.871ha được lấy đâu ra chúng tôi chưa biết, nhưng nó không thấp quá xa so với con số 4.439ha được xác lập đầu tiên, có lẽ do đã trừ đi phần đệm. Nhưng con số 2.591,1ha thì có vấn đề. Đó chính là con số lấy từ Quyết định số 6758/QĐ-UBND ngày 20.9.2008 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc “phê duyệt quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008 – 2020”. Đây vẫn là một quyết định phê duyệt quy hoạch, đương nhiên không có hiệu lực pháp lý làm thay đổi mục đích sử dụng của 4.439ha Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Riêng đối với Quyết định số 2163/QĐ-TTg “phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà”, là quyết định theo đề nghị của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, không căn cứ vào các văn bản pháp luật liên quan đến rừng và khu bảo tồn thiên nhiên. Quyết định này tuy thừa nhận bán đảo Sơn Trà có diện tích 4.439ha, nhưng lại lấy 1.056ha của khu bảo tồn để quy hoạch làm du lịch.
Có thể khẳng định hai quyết định đầu của Chính phủ (45/QĐ-TTg và 1976/QĐ-TTg) chỉ là việc phê duyệt quy hoạch, chưa chuyển mục đích sử dụng đất rừng, chúng chỉ đưa ra những con số chưa chính xác và mâu thuẫn, những con số này có thể dễ dàng điều chỉnh sau khi rà soát lại cơ sở pháp lý và diện tích thực của Khu bảo tồn. Còn Quyết định số 2163/QĐ-TTg, tuy cũng là phê duyệt quy hoạch nhưng lại có vấn đề lớn về tính khả thi, bởi vì muốn khả thi thì Thủ tướng Chính phủ phải quyết định thu hẹp diện tích khu bảo tồn để chuyển mục đích sử dụng tới 1.056ha, nói trắng ra là phải cho phá 1.056ha rừng cấm. Chúng tôi tin là Thủ tướng có thừa sáng suốt để không làm chuyện đó.
Rừng cấm – Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà là do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Quyết định 41-TTg quy định rõ “Muốn xây dựng các công trình lớn trong khu vực rừng cấm phải được phép của Thủ tướng Chính phủ”. Khoản 2, Điều 28 Luật Bảo vệ và phát triển rừng cũng quy định: “Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần khu rừng do Thủ tướng Chính phủ xác lập”.
Bởi vậy, cho đến thời điểm này, chưa có một quyết định hợp pháp nào của cấp có thẩm quyền làm giảm đi diện tích 4.439ha của khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Điều cần lưu ý là Quyết định 6758/QĐ-UBND quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, riêng đối với quận Sơn Trà, quyết định này xác định chỉ có một loại rừng duy nhất là rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.591,1ha, đó chính là diện tích rừng đặc dụng của bán đảo Sơn Trà. Diện tích này chỉ chiếm hơn 58% tổng diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Với việc quy hoạch như thế, ngoài 2.591,1ha rừng đặc dụng, toàn bộ diện tích còn lại của quận Sơn Trà, bao gồm hơn 41% diện tích của khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà không được ghi nhận có bất cứ loại rừng nào, điều đó có nghĩa là nếu nếu có rừng thì có thể phá sạch để làm chuyện khác.
Quyết định 6758/QĐ-UB tuy không có giá trị pháp lý làm thay đổi diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, nhưng là quyết định mở đường cho chính quyền thành phố Đà Nẵng hợp pháp hóa việc giao đất giao rừng phi pháp tại rừng cấm.
Đó là mấu chốt của những vấn đề “nóng” trên bán đảo Sơn Trà hiện nay. (Một Thế Giới 6/5, Hoàng Hải Vân)đầu trang(
Nhiều hộ trồng rừng ở Quảng Bình đã chọn trồng các loại giống cây gỗ rừng bản địa thay vì các giống keo, tràm... Với cách làm này, họ có thu nhập tiền tỷ và bảo vệ tốt môi trường, bảo tồn được nhiều giống cây rừng bản địa quý hiếm.
Ở bản Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) có một cánh rừng rộng chừng 4ha được trồng toàn những giống cây gỗ rừng quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên như: Sưa, lim, huỵnh, vàng tâm, trầm hương… Cánh rừng này là thành quả cả đời người của lão nông Đinh Xuân Diễn, năm nay đã 78 tuổi.
Ông Diễn kể, năm 1997, sau nhiều năm làm “lâm tặc”, ông quyết định bỏ nghề vì hằng ngày phải chứng kiến những cánh rừng tự nhiên tưởng chừng như vô tận bị chính ông và những người dân khác khai thác đến cạn kiệt.
Cùng thời điểm đó, Nhà nước có chính sách kêu gọi người dân khai hoang, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, ông Diễn quyết định nhận vùng đất hoang vu, đầy bom đạn còn sót lại từ thời chiến tranh sát cạnh hang Lèn Hà (nơi đóng quân của bộ đội Trường Sơn, nay là một điểm di tích lịch sử cấp quốc gia-PV) để trồng rừng và làm trang trại.
Có điều, khác với mọi người, ông Diễn không trồng các loại cây như keo, bạch đàn mà chú trọng trồng các loại cây gỗ rừng bản địa, trong đó có nhiều loài gỗ quý như sưa, lim, vàng tim, huỵnh…
Nhưng thời điểm đó, những giống cây rừng bản địa này chưa có người ươm giống được, nguồn giống chủ yếu đều được lấy từ rừng. Thế là trong suốt nhiều năm sau đó, ông Diễn lại cơm đùm, gạo bới lầm lũi vào rừng để tìm cây giống về trồng…
Sau hàng chục năm vất vã, kiên trì trồng rừng với các giống cây bản địa, đến thời điểm này trong khu rừng rộng hơn 4ha của ông Diễn có hơn 2.000 cây lim, 500 cây sưa, 500 cây vàng tâm và 5.000 cây trầm dó cùng nhiều cây gỗ bản địa quý hiếm khác.
Riêng gỗ lim, hiện ông Diễn là người duy nhất ở Quảng Bình sở hữu một rừng lim lớn đến vậy. Những cây lim được ông Diễn lượm lặt từ rừng về trồng, chăm sốc hàng chục năm qua bây giờ đã cao hàng chục mét, đường kính thân 50cm. Nhiều cây trong số đó nếu khai thác đã cho hơn 5m3 gỗ. Với giá gỗ lim hiện nay khoảng 20 triệu đồng/m3, mỗi cây gỗ lim có thể cho ông Diễn thu hơn 100 triệu đồng. Nhưng hiện ông Diễn chưa nghĩ đến việc khai thác gỗ rừng để bán.
Nhiều năm qua, gia đình ông cũng đã sống khỏe từ việc thu sản phẩm phụ của khu rừng như nấm lim (giá 2 triệu đồng/kg) và những loài cây ăn quả như bưởi, cam, mít chuối… Năm 2014, sau khi tạo trầm hương từ rừng dó, gia đình ông Diễn đã thu hoạch được 600 triệu đồng. Hiện hàng ngàn cây trầm dó khác của ông Diễn cũng đã có thể tạo được trầm, có thể khiến ông trở thành tỷ phú bất cứ lúc nào!
Không chỉ một mình ông Đinh Xuân Diễn, những năm qua ở Quảng Bình đã có nhiều hộ gia đình chọn hướng trồng rừng bằng các giống cây gỗ rừng bản địa như: huỵnh, lim, gõ, sưa…
Đặc biệt hiện nay nhiều giống cây rừng bản địa đã được nhiều nông dân ở Quảng Bình gieo ươm thành công như giống huỵnh, giống sưa, trầm gió, vàng tim… nên việc trồng rừng bằng các giống cây bản địa này trở nên dễ dàng hơn. Nhiều hộ dân trước đây chủ yếu trồng rừng kinh tế bằng các giống keo, tràm nay đã chuyến hướng sang giống cây gỗ rừng như ông Nguyễn Xuân Thiết (xã Hương Hóa, huyện Tuyên Hóa) đã chuyển đổi 15ha trong tổng số 30ha đất rừng được giao, chuyển từ trồng tràm nguyên liệu sang trồng các cây gỗ bản địa như: Gỗ lim, gỗ huỵnh… Bước đầu rừng cây đã mang về cho gia đình những khoản thu lên tới hàng trăm triệu mỗi năm.
Nhiều hộ dân khác như ông Ngô Văn Dũng, Ngô Tuấn Anh… (xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch) hiện sở hữu những cánh rừng trồng cây huỵnh, dẽ rộng hàng trăm ha với giá trị kinh tế có thể lên đên hàng chục tỷ đồng…
Ông Nguyễn Tri Phương – Trưởng phòng NNPTNT huyện Tuyên Hóa cho biết, trồng rừng cây bản địa thì thời gian có thể khai thác thường dài gấp đôi rừng trồng nguyên liệu, tuy nhiên hiệu quả kinh tế lại gấp vài chục lần. Trồng rừng cây bản địa không chỉ mang lại nguồn thu nhập khá, lâu dài cho bà con mà còn góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn nhiều giống cây rừng quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. (Dân Việt 6/5, Phan Phương)đầu trang(
Tỉnh Cà Mau đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phát triển trồng rừng nguyên liệu thâm canh ở U Minh Hạ từ 18.000 - 20.000 ha, trong đó keo lai và keo lá tràm chiếm khoảng 60%, còn lại là tràm cừ.
Keo lai được xác định là một trong 6 ngành hàng được ưu tiên trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh đã xây dựng kế hoạch phát triển ngành hàng keo lai, xem đây là mô hình kinh tế hiệu quả mở ra một hướng đi mới, góp phần giải quyết sinh kế, nâng cao đời sống của người dân.
Hiện nay, diện tích rừng keo lai đã trồng tập trung thay thế rừng tràm hiện có của tỉnh là 7.400 ha, chủ yếu tập trung ở huyện U Minh, trong đó, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ trồng 3.446 ha, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trồng 2.820 ha, diện tích còn lại do các đơn vị vũ trang và hộ gia đình trồng là 1.134 ha.
Theo ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, tỉnh sẽ tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp thuê rừng sản xuất trồng thâm canh cây keo lai. Đồng thời, tỉnh hỗ trợ cho người dân vay vốn để phát triển trồng rừng thâm canh keo lai nhằm tạo nguồn nguyên liệu ổn định và nâng cao đời sống của người dân vùng rừng U Minh Hạ.
Cơ quan chức năng tỉnh còn phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để đẩy mạnh tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào việc cải thiện về năng suất, chất lượng giống cây lâm nghiệp, chất lượng rừng trồng, các mô hình sản xuất hiệu quả; quy hoạch mạng lưới sản xuất cây giống lâm nghiệp, đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất giống tại các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung...
Theo ông Dư Bé Ba, Chủ tịch UBND huyện U Minh, mô hình trồng keo lai đang khẳng định về mặt giá trị kinh tế. Do thời gian trồng, thu hoạch keo lai rút ngắn được một nửa so với trồng tràm nên nguồn thu được nâng cao.
Bình quân trồng 1 ha keo lai cho nguồn thu trên 200 triệu đồng, trong khi trồng 1 ha tràm cho nguồn thu chỉ 150 -160 triệu đồng nhưng chu kỳ khai thác kéo dài từ 7 năm trở lên.
Huyện cũng đã xin chủ trương của UBND tỉnh cho phép chuyển đổi khoảng 840 ha đất nông nghiệp giao khoán trong dân sản xuất không hiệu quả để chuyển sang trồng rừng thâm canh, đặc biệt là phát triển rừng keo lai có đường kính lớn để nâng cao hơn về giá trị gỗ.
Dự kiến đến năm 2020, có trên 20% sản phẩm gỗ keo lai được khai thác từ rừng trồng tại huyện U Minh có đường kính trên 15 cm cung cấp cho chế biến gỗ lớn.
Tuy nhiên, trước khó khăn nhiều hộ dân trên địa bàn không có vốn để đầu tư cải tạo trồng rừng keo lai, UBND huyện chỉ đạo chính quyền địa phương vận động cũng như khuyến khích người dân trên địa bàn nên hợp tác với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ triển khai mô hình trồng rừng keo lai theo hình thức ‘‘ăn chia’’.
Thời gian tới, huyện sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc tìm thị trường và tiếp thị sản phẩm; đa dạng hóa các sản phẩm từ keo lai, tìm kiếm thị trường xuất khẩu tiềm năng để tạo dựng đầu ra ổn định lâu dài cho ngành hàng keo lai trên vùng đất U Minh Hạ, ông Dư Bé Ba cho biết thêm.
Để giải quyết đầu ra ổn định cho cây keo lai, UBND tỉnh Cà Mau khuyến khích các doanh nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu gỗ xây dựng các cơ sở chế biến liên kết với vùng nguyên liệu.
Đồng thời, tạo nguồn nguyên liệu có chất lượng phục vụ cho chế biến, áp dụng khoa học và kỹ thuật tiên tiến vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu các thị trường, xúc tiến thương mại, giới thiệu mặt hàng gỗ rừng trồng...
Trong thời gian qua, do việc trồng keo lai chưa có quy hoạch và định hướng cho sản phẩm nên chủ yếu sản phẩm keo lai là loại gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ...
Do vậy, trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉnh Cà Mau đã ưu tiên phát triển cây keo lai nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng theo hướng tạo nguồn nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, gắn mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. (Tin Tức 6/5, Kim Há)đầu trang(
Theo kế hoạch, chiều 12.5, tại TP Quy Nhơn sẽ diễn ra Lễ khai mạc “Hội chợ Ðồ gỗ, Lâm sản và Thương mại (ÐG - LS - TM) Bình Ðịnh - 2017”.
Hội chợ không chỉ là dịp để các doanh nghiệp (DN) ngành G-LS giới thiệu sản phẩm, trao đổi với các đối tác, mở rộng thị trường, mà còn góp phần quảng bá hình ảnh ÐG-LS Bình Ðịnh đến với thị trường trong và ngoài nước. PV Báo Bình Ðịnh đã phỏng vấn ông Man Ngọc Lý, Giám đốc Sở Công Thương, Trưởng Ban tổ chức Hội chợ, về vấn đề này.
Hội chợ ĐG-LS-TM Bình Định - 2017 sẽ diễn ra tại khu vực Quảng trường Trung tâm Thương mại (đường Nguyễn Tất Thành - TP Quy Nhơn). Hội chợ do UBND tỉnh, Sở Công Thương chỉ đạo và do Trung tâm Xúc tiến thương mại (XTTM) tỉnh phối hợp với Công ty cổ phần Nam Việt Galaxy tổ chức.
Với chủ đề “LS Bình Định hội nhập và phát triển”, mục đích của Hội chợ là nhằm khuếch trương, quảng bá hình ảnh ĐG-LS Bình Định trên thị trường trong nước và quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi để các DN, nhà sản xuất, kinh doanh giới thiệu sản phẩm, trao đổi với các đối tác trong, ngoài nước, nhằm tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ. Đồng thời, Hội chợ cũng nhằm giới thiệu những thành tựu đạt được về khoa học - công nghệ, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực ĐG-LS; tạo cơ hội để DN học tập kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ và thiết bị mới trong sản xuất, chế biến ĐG-LS.
Bên cạnh đó, Hội chợ còn tạo sự liên kết giữa các nhà quản lý - nhà khoa học- DN nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm ĐG-LS Bình Định. Ngoài ra, Hội chợ sẽ góp phần mở rộng quan hệ hợp tác, tôn vinh những sản phẩm lâm sản chất lượng cao, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hội chợ ĐG-LS-TM Bình Định - 2017 có quy mô gần 5.000m2 với gần 350 gian hàng của 120 DN, cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh. Đây là những DN, cơ sở chuyên sản xuất, xuất khẩu ĐG-LS Việt Nam và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh các mặt hàng ĐG-LS; các DN sản xuất, kinh doanh hàng tiêu dùng và các làng nghề truyền thống trong và ngoài tỉnh; các tổ chức, DN sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng.
Cụ thể, Hội chợ sẽ trưng bày, giới thiệu các ngành hàng như: đồ gỗ nội thất trang trí, đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, dệt may, da giày, hàng tiêu dùng, đồ gia dụng, gốm sứ, nguyên vật liệu, các sản phẩm trang trí nội, ngoại thất, bưu chính - viễn thông, hàng may mặc, thời trang, lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa, dịch vụ khác.
Ngoài ra, Hội chợ còn có nhiều chương trình hoạt động phong phú khác, như: Giới thiệu, mua, bán các sản phẩm hàng hóa đặc trưng; ký kết các hợp đồng kinh tế, biên bản ghi nhớ hợp tác, đầu tư; chương trình ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật.
Ngay từ giữa tháng 3.2017, Ban tổ chức (BTC) đã phát hành và gửi thư mời tham gia Hội chợ của UBND tỉnh đến các cơ sở, DN, Trung tâm XTTM, Trung tâm Khuyến công các tỉnh, thành phố trong cả nước; đồng thời, tuyên truyền, quảng bá về Hội chợ trên các phương tiện truyền thông, báo, đài Trung ương, địa phương, các website của Sở Công Thương và Trung tâm XTTM. Bên cạnh đó, BTC còn cho thiết kế, in ấn 1.000 brochue thông tin về Hội chợ và gửi đến các sở, ngành, đơn vị, DN của các tỉnh, thành phố trong nước, nhằm tuyên truyền, quảng bá và vận động các đơn vị, DN tham gia Hội chợ.
Đáng lưu ý, BTC còn có chính sách hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng đối với các DN, cơ sở làng nghề trên địa bàn tỉnh; đồng thời hỗ trợ 100% kinh phí thuê 1 gian hàng cho Trung tâm XTTM, Trung tâm Khuyến công các tỉnh, thành phố trong nước.
Kết quả, tính đến thời điểm này đã có gần 100 DN đăng ký tham gia Hội chợ, với khoảng 200 gian hàng tiêu chuẩn và gần 2.800m2 đất dành để trưng bày đồ gỗ. Trong số này có những DN uy tín, như: Công ty cổ phần Phú Tài; Công ty TNHH Đồ gỗ Lộc Phát; Công ty TNHH Đồ gỗ mỹ nghệ nội thất Vinh; Đồ gỗ nội thất Nhà Xinh; DNTN Gia Minh Lâm; Đồ gỗ Đông Sài Gòn; Mỹ nghệ gốc cây An Khê, Đồ gỗ nội thất Minh Lam; Mỹ nghệ Thái Hồng Sơn…
Có thể nói, mọi công tác chuẩn bị cho Hội chợ ĐG-LS-TM Bình Định - 2017 đã được tiến hành khẩn trương, bài bản và cơ bản hoàn thành. Hội chợ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các DN, nhà sản xuất, kinh doanh giới thiệu sản phẩm, trao đổi với các đối tác trong, ngoài nước, nhằm tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần để ngành chế biến ĐG-LS Bình Định hội nhập, phát triển. (Báo Bình Định 5/5, Viết Hiền)đầu trang(
Doanh nghiệp ngành gỗ ngập đơn hàng
Hội nhập, cạnh tranh tốt đang đem về nhiều đơn hàng cho ngành gỗ. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng dịch chuyển sang VN. Các doanh nghiệp dự tính doanh số tăng gấp đôi 2016.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ và mỹ nghệ TP.HCM (HAWA), ngành chế biến gỗ VN đang có lợi thế khi hội nhập, được thế giới đánh giá cao. Nhiều doanh nghiệp ngành này đang không ngừng đầu tư mở rộng nhà xưởng để đón cơ hội.
Những ngày này, xưởng sản xuất gỗ của bà Nguyễn Thị Vân, giám đốc doanh nghiệp tư nhân Vân Nguyễn ở Bình Dương, hoạt động nhộn nhịp, công nhân được khuyến khích làm tăng ca. Bà Vân vui vẻ nói xưởng đang gia công hàng gỗ nội thất để xuất đi thị trường châu Âu và Anh.
Sau một năm khó khăn vì đơn hàng giảm sút, những tháng đầu năm 2017 tình hình đã sáng sủa hơn. “Chúng tôi nhận được đơn hàng nhiều trở lại, giá tốt” - bà Vân nói.Tương tự, Công ty Scansia Pacific - doanh nghiệp liên kết giữa Anh và Na Uy chuyên sản xuất gỗ xuất khẩu, có trụ sở chính đặt tại Khu công nghiệp Tân Tạo (TP.HCM) - cũng bước vào năm 2017 với kế hoạch đầu tư mở rộng dãy xưởng thứ 2, vốn bị đình lại từ nhiều năm qua do sụt giảm đơn hàng.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, tổng giám đốc Scansia Pacific, nhận định sau nhiều năm u ám, bức tranh xuất khẩu gỗ 2017 đã hoàn toàn khác, ngay từ tháng 2-2017 đơn hàng cho cả năm của Scansia Pacific đã đủ công suất, doanh nghiệp phải đầu tư thêm máy móc, thiết bị, đồng thời tuyển thêm nhân công mới có thể đáp ứng nhu cầu mới.
Phần lớn doanh nghiệp chế biến gỗ VN ở Bình Dương, Đồng Nai đều đang hoạt động hết công suất. Ông Huỳnh Văn Hạnh, phó chủ tịch HAWA, cho biết khoảng một năm gần đây những đơn hàng gỗ lớn đều được gom về VN, ngay cả nhiều nhà máy của doanh nghiệp Trung Quốc cũng dịch chuyển sang VN vì chi phí sản xuất ở Trung Quốc tăng cao trong khi nhân công VN dồi dào, có kỹ năng.
Điều này dẫn đến nhu cầu đầu tư máy móc của các doanh nghiệp VN tăng mạnh, ít nhất gấp đôi so với trước. Các doanh nghiệp đều đang kỳ vọng tăng 50% doanh số cho năm 2017.
“Khách hàng các nước đều đang dồn sự chú ý vào VN, vì họ xác định VN là quốc gia sản xuất đồ gỗ chứ không phải làm dịch vụ như Singapore, Philippines... chỉ chuyên nhận đơn hàng rồi đặt các nước khác. Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng ngành sẽ đạt hơn 20%” - ông Hạnh nói.
Thời gian tới, nhu cầu sản phẩm gỗ ở từng thị trường có thể tăng giảm khác nhau, nhưng doanh số xuất khẩu gỗ ở VN ít sụt giảm vì hầu như các thị trường đều rộng cửa chào đón, nhất là thị trường Mỹ.
Ông Lê Xuân Bắc, chủ tịch Thịnh Việt Furniture, cho biết nhờ đầu tư thiết kế, trang thiết bị và tìm kiếm thị trường mới nên doanh nghiệp này đầu tư mở rộng nhà máy thứ hai và tuyển thêm 300 công nhân cho mùa sản xuất mới. Tuy nhiên, ông Bắc cho biết lại vấp phải một khó khăn mới là... chưa tuyển được người.
Bà Nguyễn Thị Vân cũng cho biết tuyển mới nhân công cho ngành gỗ, mỹ nghệ không hề dễ. Nhiều doanh nghiệp ngành gỗ, mỹ nghệ đang chung nỗi lo khi nguồn nhân lực đáp ứng chưa tương xứng đang cản trở quá trình mở rộng sản xuất của không ít doanh nghiệp. Trong khi đó, nhân lực có kỹ năng phần lớn lại đang muốn đi xuất khẩu lao động.
Theo ông Điền Quang Hiệp - giám đốc Công ty Mifaco, xây dựng được tiêu chuẩn sản xuất, đảm bảo năng suất lao động vẫn là thách thức với nhiều doanh nghiệp VN. Đặc biệt, dù đang thuận lợi nhưng hiện số doanh nghiệp gỗ của VN đạt quy mô lớn vẫn khá ít.
Theo các chuyên gia, nếu có chính sách hỗ trợ bài bản về nhân lực, thuận lợi hơn cho xuất nhập khẩu, ngành gỗ có thể phát triển mạnh hơn.
“Hiện phần lớn doanh nghiệp chế biến gỗ VN có quy mô nhỏ cả về số lượng lao động lẫn vốn đầu tư. Số lượng doanh nghiệp gỗ VN có lao động trên 1.000 người hay doanh số trên 500 tỉ đồng khá ít, chỉ khoảng 2,5%” - ông Hiệp nói. (Tuổi Trẻ 8/5)đầu trang(./.
|
|||