|
Ngày 08 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã (ĐVHD) - Sở NN&PTNT Hà Nội, từ đầu năm đến nay, Trung tâm đã tổ chức phân loại, tiếp nhận cứu hộ ĐVHD 16 vụ.
Trong đó, tiếp nhận 12 vụ từ các đơn vị trong TP Hà Nội với 43 cá thể và 34,3kg rắn; tiếp nhận 4 vụ từ các địa phương ngoài TP với 11 cá thể. Ngoài ra, lãnh đạo Trung tâm cũng cho biết đã tiến hành nhập một đợt đàn ĐVHD sinh sản với 20 cá thể.
Ngoài ra, Trung tâm thường xuyên theo dõi chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh phòng dịch và tổ chức điều trị, tiêm phòng cho các cá thể động vật bị bệnh viêm đường tiêu hóa, viêm phổi, bệnh ngoại khoa như hổ, gấu, khỉ, chim các loại.
Trong 6 tháng đầu năm, Trung tâm phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thả về môi trường tự nhiên một đợt ĐVHD với 50 cá thể. (Kinh Tế & Đô Thị 8/8, tr10) đầu trang(
Đường dây nóng nhận tin báo của kiểm lâm liên tục trong tình trạng ".... hiện không liên lạc được". Vị Trưởng phòng Thanh tra, pháp chế của Chi cục Kiểm Lâm Gia Lai có nhiều hành vi "khó hiểu".
Với hơn 720.000 ha đất có rừng, tỉnh Gia Lai được đánh giá là địa bàn có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất khu vực Tây Nguyên, đứng thứ hai của cả nước. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng ở đây là “có vấn đề” khi mà số điện thoại đường dây nóng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai để tiếp nhận tin báo về các vi phạm, nhiều lúc ở trong tình trạng “thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được”...
Ngày 9/6/2014, PV Báo Pháp luật Việt Nam có buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai về một số nội dung liên quan đến công tác bảo vệ rừng, trong đó có nội dung hỏi về số điện thoại đường dây nóng của Chi cục để tiếp nhận nguồn tin về lâm sản trái phép.
Được sự phân công của lãnh đạo Chi cục, ông Trương Vũ Cường (Trưởng phòng Thanh tra - Pháp chế) trả lời như sau: “Nếu Báo Pháp luật Việt Nam phát hiện hoặc có nguồn tin về lâm sản trái phép, báo về số điện thoại 0935.666.679, gặp ông Cường. Ông Cường có trách nhiệm báo cáo cho lãnh đạo Chi cục biết để chỉ đạo xử lý ngay. Nội dung trên được thể hiện thành biên bản, có chữ ký tươi của ông Cường và con dấu đỏ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai.
Gần 2 tháng sau, qua nhiều ngày theo dõi, nhóm PV Báo Pháp luật Việt Nam phát hiện dấu hiệu tập kết gỗ ồ ạt trong đêm vào một kho gỗ trên địa bàn TP.Pleiku nên đã gọi vào số điện thoại mà ông Cường cung cấp để báo tin.
Các cuộc gọi được thực hiện vào lúc 23h10, 23h11 ngày 5/8/2014, 00h23 và 00h24 ngày 6/8/2014. Tuy nhiên, các cuộc gọi đều không kết nối được vì số điện thoại của ông Cường ở vào tình trạng “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được, xin quý khách vui lòng gọi lại sau”.
Không gọi được, phóng viên đã nhắn tin vào số điện thoại mà ông Cường cung cấp với nội dung: “Chào anh Trương Vũ Cường, Trưởng phòng Thanh tra - Pháp chế, Tôi là phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam. Lúc 23h10 và 23h11 ngày 5/8/2014, tôi có gọi điện vào số 0935.666.679 cho anh để báo tin về lâm sản trái phép nhưng điện thoại anh tắt, không liên lạc được.
Sau đó, lúc 00h23 và 00h24 ngày 6/8/2014, tôi tiếp tục gọi vào số trên nhưng vẫn không liên lạc được. Vậy anh cho tôi hỏi lần sau tôi muốn báo tin về lâm sản trái phép ở Gia Lai thì phải gọi cho ai, theo số điện thoại nào? Cảm ơn anh”. Tuy nhiên, tin nhắn đã không được ông Cường trả lời.
Ngày 6/8/2014, trao đổi qua điện thoại với Pháp luật Việt Nam về vấn đề này, ông Nguyễn Nhĩ - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai hỏi phóng viên gọi có đúng số không.
Phóng viên khẳng định đã gọi đúng số đường dây nóng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai (vì số điện thoại này do chính ông Cường cung cấp trong buổi làm việc chính thức với Báo Pháp luật Việt Nam, thể hiện bằng biên bản có chữ ký của ông Cường và con dấu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai).
Nghe xong, ông Nhĩ hứa: “Để anh coi lại thử”. Ngoài ra, ông Nhĩ cũng đưa ra nhận định ban đầu: “Có khi thằng Cường lâu nay nó bị bệnh, tim nó bị hồi hộp, ăn không ngon, ngủ không được, thần kinh ấy mà, nó có ý xin tạm nghỉ một thời gian... Nó đang khám sức khỏe lại, thế nên có khi là nó tắt máy hay thế nào đấy”.
Phóng viên đặt câu hỏi: Trường hợp không thể gọi cho số điện thoại đường dây nóng của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai thì người muốn báo tin phải gọi số nào? Ông Nguyễn Nhĩ trả lời: “Có gì cứ trao đổi với anh qua điện thoại hoặc cứ xuống cơ quan anh”.
Vì bảo vệ rừng luôn là vấn đề cấp bách nên trước mắt Báo Pháp luật Việt Nam cung cấp cho bạn đọc một số điện thoại đường dây nóng khác của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai để báo tin về lâm sản trái phép: 0903.503.882 (ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng).
Nếu có chuyện ông Trương Vũ Cường mỗi khi gặp vấn đề về sức khỏe lại tắt điện thoại đường dây nóng thì Báo Pháp luật Việt Nam đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai giao nhiệm vụ tiếp nhận tin báo về lâm sản trái phép cho một cán bộ khác, có đủ sức khỏe và trách nhiệm để thực hiện nhiệm vụ này.
Kết thúc buổi làm việc ngày 9/6/2014 với Báo Pháp luật Việt Nam, ông Trương Vũ Cường đưa về phía nhóm PV một chiếc phong bì (không biết trong đó chứa gì). Tuy nhiên, nhóm PV từ chối không nhận.
Ông Cường tiếp tục đề nghị: “Hay là anh em mình đi chơi đi”. Một là không có nhu cầu đi chơi, hai là nhìn đồng hồ thấy vẫn đang trong giờ hành chính nên nhóm PV cũng không nhận lời mời của ông Cường. Những diễn biến này đã được nhóm PV quay video lại. (Pháp Luật VN 8/8, tr9) đầu trang(
Bãi biển Quỳnh Bảng (huyện Quỳnh Lưu) là một trong những bãi biển đẹp của tỉnh Nghệ An. Người dân không hiểu vì sao bãi biển rộng 2,9ha này lại nghiễm nhiên trở thành “của riêng” của Cty TNHH Xuân Quỳnh (trụ sở tại P.Quỳnh Xuân, TX.Hoàng Mai)?
Sau khi được UBND xã Quỳnh Bảng “cấp đất” bằng... miệng, Cty này đã khởi công nhiều công trình nhà nghỉ, nhà hàng phục vụ kinh doanh. Ông Nguyễn Văn Đường - người dân xã Quỳnh Bảng - bức xúc: “Bãi biển đẹp như thế, đáng lẽ phải được quy hoạch, trở thành nơi vui chơi, giải trí cho khách du lịch, người dân thì cán bộ xã lại tự động cấp đất cho DN. Đây là đất thuộc rừng phòng hộ, nếu muốn xây dựng phải được các cấp thẩm quyền phê duyệt nhưng họ lại ngang nhiên chặt phá hết...”.
Năm 2000 – 2001, UBND xã Quỳnh Bảng có chủ trương “đổi đất lấy công trình”. Theo đó, ông Nguyễn Cảnh Doạt – GĐ Cty TNHH Xuân Quỳnh - sẽ làm cho xã một con đường dài 2km từ trụ sở UBND xã ra bãi biển, đổi lại, Cty được toàn quyền sử dụng 2,9ha đất của bãi biển Quỳnh Bảng.
Mặc dù chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), chưa được phê duyệt quy hoạch, giấy phép xây dựng nhưng ông Doạt đã cho xây dựng hàng loạt công trình gồm nhà nghỉ, nhà hàng, kiốt, khu vui chơi giải trí.
Không dừng lại ở việc xây dựng trái phép, xâm phạm đất rừng phòng hộ, Cty Xuân Quỳnh còn chuyển nhượng 1,1ha đất cho ông Nguyễn Khắc Hoàng. Năm 2012, ông Hoàng đã chuyển đổi được 4.000m2 (trong số 1,1ha) đất rừng phòng hộ thành đất lâm nghiệp và được cấp quyền sử dụng đất trong vòng 50 năm. Trong diện tích được cấp này, ông Hoàng xây nhà cửa kiên cố.
Trao đổi với báo chí, ông Hồ Đình Quỳnh - Chủ tịch UBND xã Quỳnh Bảng - thừa nhận: “Thực ra cho đến nay, chưa có một quy định nào cho phép địa phương được quyền “đổi đất lấy công trình”. Nhưng lúc đó, hệ thống hạ tầng của xã còn nghèo nàn nên khi anh Doạt đề nghị làm đường từ trung tâm xã ra bãi biển, địa phương đã đồng ý. Chuyện xảy ra cũng khá lâu, lúc đó tôi chưa làm chủ tịch xã nên bây giờ không biết xử lý ra sao”.
“Mặc dù anh Doạt là người sử dụng nhưng trên thực tế, đất này vẫn thuộc quyền quản lý của xã. Từ khi anh Doạt nhận đất đến nay, ngoài các kiốt, nhà nghỉ được xây dựng thì cũng chưa khởi công được một công trình gì trọng điểm. Nói chung, để quy hoạch, đưa khu du lịch này đi vào hoạt động, Cty TNHH Xuân Quỳnh còn nhiều việc phải làm” – Chủ tịch xã Hồ Đình Quỳnh cho biết thêm. (Lao Động 8/8, tr7) đầu trang(
Theo thống kê, từ 2011 đến nay, lực lượng Hải quan Hải Phòng phát hiện, bắt giữ 29 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa với tang vật là các loại động, thực vật và sản phẩm nằm trong Danh mục cấm buôn bán hoặc buôn bán, vận chuyển phải có giấy phép theo Công ước CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp).
Trong đó, có 10 vụ vi phạm liên quan đến mặt hàng ngà voi, với tổng trọng lượng gần 10 tấn ngà voi… Tuy nhiên, đến nay, các cơ quan chức năng chưa có phương án xử lí hiệu quả số tang vật này.
Ngà voi mammuth (xuất xừ từ châu Phi) nằm trong Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp) ban hành kèm theo Thông tư số 40/2013/TT-BNNPTNT ngày 5/9/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc hợp pháp của hàng hóa đã nêu khi nhập khẩu.
Việc buôn bán, vận chuyển qua biên giới các mặt hàng thuộc danh mục này phải có giấy phép của cơ quan quản lí CITES nước xuất khẩu cấp, có giấy phép đồng ý nhập khẩu của cơ quan quản lí CITES nước nhập khẩu. Liên quan đến xử lí tang vật vi phạm Công ước CITES, hiện cơ quan chức năng đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xử lý mặt hàng ngà voi.
Cụ thể, theo các chuyên gia, ngà voi là tang vật trong các vụ buôn lậu thường được xử lí theo 3 phương án: trả lại nước xuất khẩu hoặc tái xuất khẩu theo quy định của Công ước CITES; chuyển giao cho cơ quan khoa học, cơ sở đào tạo, giáo dục, môi trường, bảo tàng chuyên ngành, cơ quan quản lí chuyên ngành, trung tâm cứu hộ loài đó để làm tiêu bản và tiêu hủy trong trường hợp vật mang bệnh hoặc không xử lí được theo hai hình thức trên.
Tuy nhiên, theo lực lượng Hải quan, việc xử lí theo phương án thứ nhất không thực hiện được vì trước khi hàng về đến Việt Nam, các chủ hàng đều đưa lô hàng di chuyển theo một lộ trình phức tạp qua nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ nhằm xóa dấu vết hòng qua mắt cơ quan chức năng nên không xác định được nước xuất khẩu.
Việc phục vụ nghiên cứu, trưng bày chỉ cần số lượng ít, các cơ sở đáp ứng điều kiện nghiên cứu, trưng bày ở Việt Nam còn hạn chế, trong khi cơ quan chức năng đang thu giữ số lượng lớn tang vật này. Mặt khác, việc tiêu hủy hàng tấn ngà voi trị giá hàng triệu USD sẽ gây lãng phí lớn.
Theo cơ quan Hải quan, khi giám định sản phẩm thuộc nhóm 1, Công ước Cites mất rất nhiều thời gian, chi phí giám định lớn (từ 20-40 triệu đồng). Trong khi đó, việc giám định phải dùng kinh phí của đơn vị, không có kinh phí riêng cho việc này. Về xử lý tang vật, cơ quan chức năng hiện không định giá được sản phẩm hoang dã do đây là mặt hàng cấm nhập khẩu, buôn bán, lưu thông trên thị trường nên rất khó xác định được trị giá tang vật vi phạm làm cơ sở đưa ra mức định tội cụ thể.
Bên cạnh đó, hiện nay, chưa có nơi bảo quản chuyên biệt nên việc bảo quản tang vật này gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, chưa có quy định cụ thể khi bàn giao tang vật vi phạm cho các cơ quan chức năng. (Công An Nhân Dân 8/8; Sài Gòn Giải Phóng 8/8, tr6) đầu trang(
Tại các xã Sơn Lang, Kroong, Đắc Rong (huyện K’Bang) gỗ Hương trở thành “món hàng” được lâm tặc “ưu ái”.
Chúng đua nhau thuê nhân công vào xẻ thịt, đốn ngã vô tội vạ. Tại lâm phần Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa đã có 47 cây gỗ Hương khối lượng 140m3 trong 300 cây gỗ Hương bản tồn gene bị “mất tích”.
Từ tháng 3 đến tháng 4, mỗi ngày, trung bình lâm tặc hạ 2-3 cây gỗ Hương tại khu vực rừng K’Bang. Khi người dân báo cáo, chính quyền sở tại hối hả kiểm tra chỉ thấy cành, bìa, ngọn còn gỗ phách đã bị lâm tặc tẩu tán.
Báo cáo với thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên vấn đề quản lí, bảo vệ rừng ngày 6.8, UBND tỉnh Gia Lai cho hay: Trong 6 tháng đầu năm 2014, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra hơn 600 vụ vi phạm pháp luật về quản lý rừng. Xử lý vi phạm hành chính gần 530 vụ và xử lý hình sự 18 vụ. Tịch thu trên 1.200 m3 gỗ, thu giữ gần 100 xe vận chuyển gỗ, nộp ngân sách Nhà nước gần 10tỷ 300 triệu đồng.
Đầu tháng 8, CA huyện K’Bang cho biết, đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 5 đối tượng “lâm tặc” cùng một kiểm lâm viên về hành vi khai thác, vận chuyển 21m3 gỗ lậu.
Trước đó, ngày 13.6, Nguyễn Ngọc Quýnh (SN 1963, trú TT.K’Bang, huyện K’Bang) cưa 21m3 gỗ Bách Xanh (nhóm IIA), gỗ Sao Cát (nhóm III) và gỗ Tô Hạp (nhóm V) tại rừng K’Bang.
Để đưa số gỗ trên qua các trạm bảo vệ rừng, Quýnh tìm gặp Hồ Như Khôi (SN 1982, trú xã Đông, huyện K’Bang) - cán bộ kiểm lâm huyện K’Bang nhờ “bảo kê”. Khôi đồng ý, “giới thiệu” Quýnh đến gặp anh ruột là Hồ Văn Vĩnh (SN 1974) để thuê ô tô BKS 81C-01628 chở số gỗ với giá 30 triệu đồng. Quýnh thuê Nguyễn Cảnh Dinh (SN 1971), Phạm Văn Đạt (SN 1983) -cùng trú TT.K’Bang bốc gỗ, còn Vĩnh thuê Văn Hoàng Tùng (SN 1991, trú xã Đông) làm tài xế. Quýnh mua 4 tấn củ sắn tươi phủ lên toàn bộ gỗ trên xe để ngụy trang.
Chiều cùng ngày, Khôi mặc đồng phục kiểm lâm dùng xe máy đi trước dẫn đường. Tuy nhiên, khi đến trạm gác cửa rừng của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa (huyện K’Bang), đã bị nhân viên trạm kiểm tra, phát hiện số lượng gỗ lớn giấu phía dưới. Ngay sau đó, CA huyện K’Bang lập biên bản, đưa ô tô BKS 81C-01628 cùng toàn bộ số gỗ về trụ sở xử lý. (Lao Động 8/8, tr2; Sài Gòn Giải Phóng 8/8) đầu trang(
Công an Quảng Nam cho biết, rạng sáng 7-8, tại thôn Pà Dấu 2, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, Công an tỉnh đã phát hiện và bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ Sơn huyết trái phép với khối lượng lớn.
Đại tá Lê Văn Hồng, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh cho biết: Khi bị phát hiện, các đối tượng vận chuyển gỗ đã bỏ chạy. Lực lượng công an tiếp cận hiện trường, tiến hành lập biên bản, tạm giữ xe ô tải mang biển kiểm soát 43H-4631 và hàng trăm phách gỗ Sơn huyết (thuộc gỗ nhóm 1) với khối lượng hơn 10 m3 .
Qua điều tra, các cơ quan chức năng xác định, toàn bộ số gỗ này, do khai thác trái phép và được vận chuyển từ khu vực lòng hồ Thủy điện Sông Bung 4 qua khu vực lòng hồ Thủy điện Sông Bung 6 (thuộc địa phận huyện Nam Giang) và đang tiếp tục tìm cách vận chuyển về đồng bằng để tiêu thụ.
Vụ việc đang được các cơ quan chức năng của tỉnh phối hợp với huyện Nam Giang tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Nhân Dân 8/8) đầu trang(
6/8, Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã phối hợp với Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam và tổ chức Humane Society International tổ chức buổi toạ đàm tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền giảm nhu cầu sử dụng sừng Tê giác ở Việt Nam tại Hà Nội.
Buổi toạ đàm đã nhận được sự tham gia, hưởng ứng nhiệt tình của hơn 110 hội viên Liên hiệp Hội ở các tỉnh thành phía Bắc. Buổi toạ đàm còn có sự tham gia của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng.
Các hoạt động này được thực hiện trong khuôn khổ chiến dịch tuyên truyền giảm nhu cầu sử dụng sừng Tê giác được Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tổ chức Humane Society International phát động từ tháng 8/2013 và sẽ kéo dài đến năm 2016.
Hiện trên thế giới còn khoảng 28,000 cá thể tê giác trong tự nhiên. Hai trong số năm loài tê giác phân bố ở Châu Phi và ba loài còn lại phân bố ở Châu Á. Trong năm 2013, hơn 1,000 cá thể tê giác đã bị săn trộm ở Châu Phi, nơi có nhiều quần thể tê giác nhất sinh sống. Có hơn hai cá thể tê giác bị săn trộm mỗi ngày. Tê giác bị săn trộm để lấy sừng để phục vụ cho nhu cầu ở Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Mặc dù kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh, tuy nhiên vẫn có những lời đồn thổi về công dụng chữa bệnh ung thư hoặc hạ sốt. Một số người còn dùng sừng tê giác để giải rượu.
Sừng tê giác có cấu tạo bằng chất “keratine”, hoàn toàn giống với móng tay của con người. Để giúp tê giác không bị săn trộm, người ta đã tiêm các hoá chất độc hại vào sừng tê giác.
Ông Đỗ Quang Tùng, giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam cho biết: “Tuyên truyền một cách rộng rãi thông điệp về giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác có vai trò quan trọng để bảo vệ tê giác. Đây là một vấn đề cấp thiết mà cộng đồng toàn cầu cần phải giải quyết.
Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam hi vọng việc hợp tác với Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật sẽ giúp phổ biến, tuyên truyền thông điệp bảo vệ động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp như tê giác và voi, góp phần vào thực thi CITES hiệu quả ở Việt Nam.”
Bà Teresa Telecky, giám đốc Bộ phận Loài Hoang dã của HSI cho biết: “Tê giác đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do nhu cầu lấy sừng của chúng. Chúng tôi đánh giá cao sự tham gia của Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam để có thể cứu giúp tê giác khỏi bị tuyệt chủng”. (Đất Việt 7/8) đầu trang(
Từ lâu, với hệ thống rừng núi rộng khắp bao phủ, vùng đất Tây Nguyên ở nước ta được cho là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm nằm trong sách đỏ của thế giới,cần được bảo tồn và phát triển.
Tuy nhiên, cùng với sở thích sử dụng những sản phẩm động vật hoang dã đang khiến cho vùng đất này ngày càng vắng bóng những loài thú quý hiếm. Thế là, những gấu, khỉ, vượn, chim muông… đang ngày bị săn bắn nhiều hơn và chúng cũng ít còn xuất hiện ở rừng nữa mà thường xuyên được tìm thấy ở các nhà hàng, quán nhậu.
Có thể nhìn nhận ngay rằng, số lượng cũng như tổng số các loài động vật hoang ở Tây Nguyên đang giảm đi với tốc độ đáng báo động. Nguyên nhân đầu tiên chính là việc những cánh rừng già nguyên sinh, môi trường sống cố hữu của các loài động vật hoang dã đã bị khai thác, không còn nữa. Có thể nói, với điều kiện tự nhiên sẵn có, Tây Nguyên luôn được coi là vùng đất giàu có về số lượng động vật hoang dã bởi hầu hết các loài thú quý hiếm như hổ, báo, gấu, bò tót…đều sinh sống nhiều ở đây.
Cụ thể, theo thống kê, năm 1980, tổng diện tích rừng của Tây Nguyên có 3.868.400 ha, chiếm 70,66% tổng diện tích tự nhiên cả nước. Nhưng từ năm 1980 đến 1995, trung bình mỗi năm Tây Nguyên "xóa sổ" 120 nghìn ha rừng. Rừng giàu và trung bình giảm 75%, rừng nghèo tăng 109%.
Từ năm 1995 đến nay, mỗi năm không dưới 45 nghìn ha rừng bị phá. Ðiều dễ thấy trong những năm gần đây, khí hậu Tây Nguyên diễn biến bất thường: hạn hán, lũ quét, mùa khô đến sớm và kéo dài, nhiệt độ trung bình hằng năm tăng lên…
Vì thế, không có gì lạ khi những loài động vật hoang dã bị biến mất khỏi nơi đây bởi môi trường sống của chúng bị biến đổi hoặc phá hủy hoàn toàn. Đấy là chưa kể những biến đổi khí hậu khi rừng bị tàn phá cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh dưỡng của những loài động vật hoang dã kia.
Theo số liệu thống kê của một tổ chức bảo vệ môi trường thì ở Việt Nam, mỗi năm thị trường tiêu dùng cần khoảng 4.000 tấn thịt động vật hoang dã để làm thực phẩm, thuốc, mục đích trang trí… Có thể nói, với nhu cầu khổng lồ này, không có gì lạ khi hầu hết các loài động vật hoang dã ở nước ta đang bị tận diệt và Tây Nguyên chính là điểm nóng của tình trạng này.
Theo đó, hàng trăm vụ buôn bán vận chuyển trái phép các cá thể động vật hoang dã được phát hiên và xử lý nhưng trong thực tế, con số vi phạm còn lớn hơn rất nhiều lần. Và cũng từ ghi nhận thực tế, người ta không khó để tìm những món ăn có xuất xứ từ động vật hoang dã ở nơi đây, tại các trung tâm lớn như Buôn Mê Thuột, Bảo Lộc, Đà Lạt, Kon-Tum, Gia Lai… Theo đó, hàng trăm các nhà hàng đặc sản động vật hoang dã chính là nguyên nhân khiến những loài thú quý hiếm ở đây bị săn bắt bất kể ngày đêm.
Tác hại của việc săn bắt động vật hoang dã thì rất nhiều nhưng có thể nói, tình trạng này đã gián tiếp làm mất cân bằng hệ sinh thái môi trường sống của chính con người chúng ta. Theo đó, mỗi cá thể sống đều là một phần của mạng lưới phức tạp, cân bằng một cách tinh vi gọi là sinh quyển.
Ngược lại, sinh quyển của trái đất tạo nên bởi vô số các hệ sinh thái – bao gồm các loài động thực vật và môi trường sống tự nhiên của chúng. Nghĩa là, tất cả các loài đều nằm trong một chuỗi các hoạt động sống của nhau. Đặc biệt đối với các loài có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thì sự tuyệt chủng của chúng có thể dẫn đến những hậu họa khó lường.
Theo các báo cáo của một tổ chức về bảo vệ động vật hoang dã thì Tây Nguyên được cho là vùng đất giàu có động vật hoang dã nhất ở Việt Nam. Cụ thể, đây là nơi cư trú của hơn 150 loài thú có vú, 400 loài chim, 100 loài bò sát, cũng như côn trùng các loại.
Tuy nhiên, ngày nay, nhu cầu về động vật hoang dã và các sản phẩm làm từ động vật hoang dã tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng đã làm suy giảm nghiêm trọng sự đa dạng sinh học này. Thực tế, những thống kê về động vật hoang dã đang ngày càng bị giảm sút và người ta nhiều khi không biết chính xác những loài thú quý hiếm còn tồn tại hay đã bị tuyệt chủng vì môi trường sống của chúng quá kín đáo với những nhà nghiên cứu, thống kê.
Như đã nói, do nhu cầu sử dụng nên số lượng động vật hoang dã ngày càng giảm. Cụ thể, như loài bò xám là động vật cực kỳ quý với số lượng ít ỏi ở Đông Dương. Trước đây loại động vật này sống phổ biến trong rừng Yok Don (Đắk Lắk) và Chư Mom Ray (Kon Tum) nhưng ngày nay gần như đã không còn nữa. Nhiều người cho rằng, giá trị của bò xám chính là da và sừng của chúng với giá hàng trăm triệu đồng/con nên chúng bị săn bắt rất gắt gao.
Hậu quả, từ hơn 5 năm trở lại đây, chưa có bất cứ ghi nhận nào về sự xuất hiện của loài động vật to lớn này ở Tây Nguyên. Bên cạnh đó, loài heo vòi sau ngày giải phóng vẫn thấy xuất hiện tại khu rừng Chư Mom Ray, nhưng đến nay đã bị tuyệt chủng. Nguyên nhân là thịt của chúng cũng được nhiều người ưa chuộng, có giá rất cao nên chúng bị tìm diệt quá mức.
Một số trường hợp khác như nai Cà Tong trước đây sống khá phổ biến ở nhiều khu rừng, nay cũng biến mất khỏi Gia Lai và Kon Tum. Ở Đắk Lắk, nai Cà Tong chỉ còn số cá thể rất ít và số phận của loài động vật này đang tiếp tục bị đe dọa và cũng có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nhiều chuyên gia nghiên cứu cho rằng, nếu không có biện pháu hữu hiệu kịp thời thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa, loài nai quý hiếm này cũng biến mất khỏi địa bản Đắc Lắk như từng biến mất khỏi Gia Lai, Kon Tum vậy.
Nhưng số phận bi đát không chỉ dành cho những loài động vật mà ngay cả chim muông ở Tây Nguyên cũng bị chung số phận. Cụ thể, các loại chim quý như công, trĩ sao, gà lôi hồng tía, gà tiền, cao cát đã bị săn bắt nhiều. Một số loài hiện nay không thấy xuất hiện ở các khu rừng nguyên sinh.
Do tác động của con người và rừng bị thu hẹp, môi trường sống bị biến đổi, nhiều loài chim và động vật hoang dã đã di cư đến nơi khác. Đây chính là đặc thù của những loài động vật biết bay là có thể chúng biến mất khỏi địa bàn Tây Nguyên nhưng chưa chắc chúng đã tuyệt chủng. Và đó cũng được coi như hồi chuông cảnh báo sự hủy hoại môi trường sống của chúng để chúng ta tìm cách chung tay, đưa chúng trở về.
Nguyên nhân thì ai cũng biết và tác hại của việc cạn kiệt tài nguyên động vật hoang dã ra sao thì nhiều người cũng đã ý thức được nhưng do hám lợi trước mắt, nhiều tay súng vẫn thường xuyên vào rừng săn trộm các loại động vật hoang dã để cung cấp thực phẩm rừng tươi sống cho các nhà hàng, quán ăn, nhưng các cơ quan bảo vệ vẫn không xử lý được.
Trong số rất nhiều những giải pháp bảo tồn động vật hoang dã ở Tây Nguyên mà chính quyền địa phương đang áp dụng như cấm săn bắt, tuyên truyền phổ biến tác hại, lợi ích không đáng có của thịt thú rừng hay thành lập các khu Vườn quốc gia, bảo tồn môi trường sống, thả thú về rừng… thì việc gây nuôi sinh sản thành công một số loài động vật hoang dã không những có ý nghĩa về mặt kinh tế (mang lại thu nhập và việc làm cho người dân địa phương) mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn.
Người dân có thêm việc làm và tăng thu nhập, do vậy đã góp phần làm giảm áp lực vào rừng và cơ hội tồn tại của loài được gây nuôi sinh sản trong tự nhiên cũng cao hơn. Mặt khác, việc nghiên cứu tái thả lại tự nhiên một số loài quý hiếm như trăn và cá sấu sẽ có ý nghĩa to lớn đối với bảo tồn. Tại Vường Quốc Gia Cát Tiên (Lâm Đồng) một chương trình tái thả lại tự nhiên một số cá thể cá sấu đang được tiến hành và đó là cách để bảo tồn loài động vật quý hiếm nước ngọt này.
Có thể nói, vì một môi trường sống lành mạnh, hòa đồng và sự đa dạng hệ sinh thái cần thiết, việc bảo tồn, phát huy gìn giữ những loài động vật hoang dã là thực sự cần thiết với môi trường sống của chính con người chúng ta.
Vì vậy, hãy bắt đầu bằng việc hạn chế sử dụng những sản phẩm từ động vật hoang dã để giảm thiểu một cách ít nhất khả năng gây nguy hại những những sinh vật này. (Đời Sống & Pháp Luật 7/8) đầu trang(
Bảo vệ đa dạng sinh học là bảo vệ môi trường sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang dã, cũng chính là bảo vệ hệ sinh thái, môi trường sống của con người trong hiện tại và tương lai.
Tỉnh ta là một trong những địa phương may mắn có 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, một trong 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam.
Khu dự trữ sinh quyển này được đánh giá có những giá trị nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học và có ảnh hưởng lớn đến sự sống của nhân loại. Do vậy, công tác bảo vệ đa dạng sinh học được các cấp, các ngành của tỉnh tích cực phối hợp với Trung ương và các tổ chức quốc tế để thực hiện.
Tháng 12-2011, tiếp nhận sự tài trợ của Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA), Tổng cục Môi trường đã lựa chọn Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy là khu vực thí điểm triển khai dự án “Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia” nhằm hỗ trợ tỉnh ta phát triển và cập nhật vào hệ thống dữ liệu về đa dạng sinh học, giúp ngành chuyên môn nhân rộng phương thức xây dựng, vận hành, hoàn thiện và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc.
Dự án được triển khai đến hết năm 2013 và đã góp phần đào tạo cán bộ quan trắc và xây dựng thỏa thuận hợp tác giữa các đối tác, triển khai thực hiện thí điểm điều tra đa dạng sinh học giai đoạn II tại VQG Xuân Thủy. Kết quả điều tra đã khẳng định, VQG Xuân Thuỷ có 14 kiểu sinh cảnh, bao gồm các sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nhân tạo. Sinh cảnh có giá trị đa dạng sinh học cao nhất là các bãi bồi và rừng ngập mặn tự nhiên.
Tuy nhiên, tại VQG Xuân Thuỷ ghi nhận 8 loài chim bị đe doạ và sắp bị đe doạ ở mức toàn cầu, đó là: Cò thìa, Cò trắng Trung Quốc, Choắt lớn mỏ vàng, Mòng bể mỏ ngắn, Bồ nông chân xám, Rẽ mỏ thìa, Giang sen, Choắt chân màng lớn; ngoài ra còn là nơi tập hợp, trú chân quan trọng của nhiều loài chim nước phổ biến di cư trong mùa đông như Choắt mỏ thẳng đuôi đen, Choắt chân đỏ và Choắt mỏ cong lớn.
Công tác bảo vệ đa dạng sinh học của VQG Xuân Thuỷ còn nhiều hạn chế như: nguồn vốn đầu tư cho khu vực vẫn rất thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu trang thiết bị, việc đào tạo cán bộ hạn chế. Đặc biệt việc trồng rừng với mục đích cải tạo đất và phòng hộ bờ biển ở các bãi bồi có nguy cơ làm thay đổi cơ bản sinh cảnh tự nhiên và có thể khiến khu vực kiếm ăn của một số loài chim như Cò thìa, Mòng bể mỏ ngắn, Rẽ mỏ thìa… bị đe doạ.
Hơn nữa, các đảo cát trong VQG Xuân Thuỷ có các đầm nước mặn và các đụn cát cũng đang được trồng phi lao nhập nội sẽ làm thu hẹp các sinh cảnh tự nhiên trong khu vực. Ngoài ra, việc tăng cường đắp các đầm nuôi trồng thuỷ sản, việc khai thác hải sản không bền vững ở các khu vực thuỷ triều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp làm nhiễu loạn các loài chim và ảnh hưởng tới công tác bảo vệ đa dạng sinh học của VQG Xuân Thuỷ.
Thực trạng này nảy sinh do mật độ dân số cao ở các xã ven biển, nhất là các địa phương thuộc vùng đệm tăng cao, thiếu đất canh tác và các áp lực về đời sống kinh tế. Từ thực tế trên, để bảo vệ VQG Xuân Thuỷ phát triển bền vững, Dự án đã tập trung giải quyết 3 vấn đề bao gồm: tập trung tìm kiếm nguồn hỗ trợ và thực hiện chương trình đào tạo cho cán bộ của VQG Xuân Thuỷ; xây dựng kế hoạch quản lý hài hoà giữa các giá trị kinh tế, đa dạng sinh học và phòng hộ bờ biển của các sinh cảnh khác nhau trong khu vực, đồng thời tăng cường các hoạt động quản lý sử dụng đất bền vững về phương diện BVMT; giải quyết các vấn đề tài chính, hạn chế việc trồng rừng ngập mặn trên các bãi bồi vốn là sinh cảnh quan trọng của các loài chim đang bị đe dọa.
Cùng với việc thực hiện bảo vệ đa dạng sinh học của VQG Xuân Thuỷ, trong mọi hoạt động sản xuất, các ngành chức năng của tỉnh đều chú trọng thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao hiệu quả BVMT, giảm tối đa mức độ gây ô nhiễm, làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sống của các loài động, thực vật, hệ sinh thái tự nhiên.
Trong Tháng hành động bảo vệ nguồn lợi thủy sản năm 2014 (từ 24-3 đến 24-4-2014) Sở NN và PTNT đã chỉ đạo Thanh tra Sở phối hợp với các đồn, trạm kiểm soát biên phòng và các địa phương tổ chức kiểm tra về đăng ký, đăng kiểm và các vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các vùng nội đồng, các cửa sông và vùng biển của tỉnh để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các trường hợp khai thác đánh bắt mang tính hủy diệt như cố tình sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc khai thác thủy, hải sản, sử dụng ngư lưới cụ có kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định.
Kiểm tra các hoạt động nuôi trồng thủy sản bảo đảm bền vững, thân thiện với môi trường, góp phần BVMT và nguồn lợi thủy sản, giám sát môi trường tại vùng nuôi ngao Giao Thủy, Nghĩa Hưng. Kết quả, đã kiểm tra 35 lượt tàu cá khai thác thủy, hải sản trên biển và xử lý 6 trường hợp tàu cá vi phạm, phạt 10,5 triệu đồng, tịch thu 3 kích điện, môi trường nuôi được quản lý, giám sát chặt chẽ.
Chỉ đạo Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản phối hợp với Trung tâm Giống thủy đặc sản, Trung tâm Giống hải sản, Đoàn Thanh niên, Ban quản lý Cảng cá Ninh Cơ và các đơn vị trong ngành tiến hành thả 1 triệu con cá giống nước ngọt, bao gồm các loại mè trắng, mè hoa, trắm đen, cá chép, cá rói, cá trôi xuống sông Hồng; 1 triệu con tôm, cá giống mặn, lợ xuống cửa sông Ninh Cơ.
Ngay khi phát hiện nhiều tàu cá công suất từ 45-190CV sử dụng ống thổi kết hợp lưới kéo khai thác ngao, sò, ốc… tại vùng biển ven bờ xã Giao Xuân (Giao Thủy), Sở NN và PTNT đã yêu cầu Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tạm dừng việc cấp giấy phép khai thác thủy sản cho các tàu khai thác nhuyễn thể bằng phương pháp ống thổi kết hợp lưới kéo.
Tuyên truyền, vận động ngư dân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, đặc biệt là nghề khai thác ngao, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm về bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Phòng NN và PTNT các huyện ven biển phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, đặc biệt là tàu cá công suất trên 20CV đã được phân cấp quản lý theo Quyết định của UBND tỉnh.
Trước thực trạng thời gian gần đây, các tư thương Trung Quốc tổ chức thu mua các giống cây quý hiếm của Việt Nam ở nhiều địa phương trong tỉnh, làm thất thoát tài nguyên, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo tồn và duy trì các nguồn gen giống cây trồng quý hiếm, ngày 7-7-2014, Sở NN và PTNT đã ban hành Công văn số 425/SNN-CTr về việc tăng cường quản lý, bảo tồn nguồn gen các giống cây trồng quý hiếm trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Sở NN và PTNT đề nghị UBND các huyện, thành phố tập trung rà soát, thống kê danh mục cây quý hiếm trên địa bàn toàn tỉnh để quản lý. Đồng thời quan tâm chỉ đạo, thực hiện việc phối hợp, kiểm tra, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động thu mua, vận chuyển các giống cây trồng quý hiếm của các tư thương Trung Quốc; tuyên truyền nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc phát hiện, đấu tranh ngăn chặn âm mưu hoạt động của các tư thương Trung Quốc, gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp và làm thất thoát tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo vệ đa dạng sinh học, thời gian tới, các cấp, ngành chức năng, các địa phương sẽ tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học. Trong đó, chú trọng tuyên truyền để các ngành chức năng và nhân dân hiểu rõ tác động và các biện pháp phải thực hiện để bảo vệ đa dạng sinh học.
Bên cạnh đó, tỉnh triển khai các giải pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học; ứng dụng các giải pháp về kỹ thuật. Lồng ghép giữa hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học gắn với phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc thực hiện quy hoạch phát triển đô thị, kinh tế - xã hội theo hướng bảo tồn và sinh thái, quy hoạch phát triển du lịch sinh thái theo hướng tôn tạo cảnh quan và bảo tồn đa dạng sinh học.
Tăng cường triển khai lập quy hoạch sử dụng, khai thác tài nguyên một cách hợp lý và khoa học; phát triển cơ chế giám sát tổng hợp tài nguyên và môi trường. Trong đó, tập trung kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, đánh bắt thủy, hải sản mang tính hủy diệt.
Có chính sách đầu tư, tạo điều kiện cho ngư dân vay vốn, hỗ trợ lãi suất, khuyến khích ngư dân nâng công suất tàu để chuyển từ đánh bắt gần bờ sang đánh bắt xa bờ. Thực hiện các biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt quỹ đất rừng hiện có, đặc biệt là phát triển và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển.
Bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học VQG Xuân Thủy. Tiếp tục phục hồi và trồng rừng mới, phấn đấu đến năm 2020 quỹ đất rừng của tỉnh đạt 5.723ha; trong đó, rừng phòng hộ 2.592ha, rừng đặc dụng 3.121ha, tăng 1.472ha so với năm 2010.
Tại Khu Dự trữ sinh quyển liên tỉnh vùng châu thổ sông Hồng và VQG Xuân Thủy tăng cường phục hồi, tái tạo quần thể đàn đối với các loài thủy sản ở các vùng nước tự nhiên. Lập các chương trình, kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng ngập mặn, bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của Khu Dự trữ sinh quyển liên tỉnh vùng châu thổ sông Hồng.
Phối hợp với các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý Khu Dự trữ sinh quyển liên tỉnh vùng châu thổ sông Hồng theo Luật Đa dạng sinh học và các luật liên quan. (Báo Nam Định 7/8) đầu trang(
Trên tuyến đường ở xã Hiệp Thành (TP. Bạc Liêu), một đối tượng đang vận chuyển, rao bán con chồn mướp có trọng lượng trên 1kg với giá 1,3 triệu đồng.
Đối tượng này còn cho biết, gần đây, đã săn bắt khoảng 10 con chồn mướp và đang trong quá trình mua bán.
Ngành chức năng cần tăng cường kiểm tra, xử phạt với những hành vi trên để bảo tồn, phát triển các loài động vật hoang dã. (Báo Bạc Liêu 6/8) đầu trang(
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam vừa hoàn thành xuất sắc đề tài nghiên cứu “Xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền các loài động vật quý hiếm ở Việt Nam, phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học” với Bộ số liệu trình tự DNA, cơ sở dữ liệu các loài động vật hoang dã quý hiếm cho Việt Nam, trong đó có mối quan hệ tiến hóa, phân loại, đa dạng di truyền của một sô loài.
Qua đó, hình thành bộ mẫu cho nghiên cứu di truyền thuộc các loài động vật hoang dã quý hiếm ở Việt Nam. Cơ sở dữ liệu được xây dựng với các kết quả là: Bộ mẫu cho nghiên cứu di truyền thuộc các loài động vật hoang dã quý hiếm ở Việt Nam được lưu giữ ở Phòng Hệ thống học phân tử và Di truyền bảo tồn, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; Bộ số liệu trình tự DNA đã được đăng kí trên Genbank với mã hiệu JN709870-JN710011; cơ sở dữ liệu các loài động vật hoang dã quý hiếm cho Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chương trình MS Access 2003; 4 qui trình giám định các loài, nhóm loài động vật hoang dã quý hiếm, trong đó có quy trình giám định một số loại tiêu bản không được bảo quản trong điều kiện tiêu chuẩn; bộ các cặp mồi và điều kiện PCR cho nhân bản DNA thuộc các locus khác nhau được sử dụng cho các nhóm động vật nghiên cứu.
Đây là một bộ cơ sở dữ liệu quý phục vụ việc nghiên cứu, bảo tồn và duy trì các loài quý hiếm của Việt Nam. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/8, tr11) đầu trang(
Trong những năm gần đây, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Sơn có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn huyện có hơn 40 nghìn ha rừng được bảo vệ và phát triển tốt.
Mỗi năm huyện trồng mới hàng nghìn ha rừng, góp phần giữ ổn định tỷ lệ che phủ rừng. Ý thức bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân đã nâng lên, nhiều mô hình nông lâm nghiệp được áp dụng mang lại hiệu quả thiết thực. Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên những thay đổi đó là Thanh Sơn đã thực hiện phát triển rừng đi đôi với bảo vệ rừng.
Xác định để làm tốt việc bảo vệ rừng cần phải có sự tham gia của người dân ở khu vực có rừng, Hạt kiểm lâm Thanh Sơn đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về rừng cho các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức. Hạt kiểm lâm đã chỉ đạo bộ phận kỹ thuật và các trạm kiểm lâm địa bàn chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền ngay từ đầu năm.
Trong 6 tháng đầu năm Hạt Kiểm lâm đã tổ chức 2 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR tại xã Tân Lập với gần 80 người tham gia gồm: Cán bộ xã, trưởng khu dân cư, bí thư chi bộ và người dân; tổ chức 1 buổi tuyên truyền pháp luật cho 60 cơ sở sản xuất kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn huyện; phối hợp với đài truyền thanh huyện, xã thường xuyên tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng.
Ngoài ra còn sử dụng pa nô, áp phích kẻ vẽ các khẩu hiệu tuyên truyền. Ông Trần Quang Hưng - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn cho biết: “Để làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, lực lượng kiểm lâm huyện đã phối hợp với các ngành chức năng thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 12 và Chỉ thị số 08 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng”.
Đồng thời chỉ đạo bộ phận pháp chế, tổ kiểm lâm cơ động thường xuyên phối hợp với các lực lượng công an - quân đội kiểm tra, kiểm soát các tụ điểm trên địa bàn có kinh doanh vận chuyển mua bán lâm sản trái phép; hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân làm đầy đủ các thủ tục trong kinh doanh chế biến lâm sản và nuôi nhốt động vật hoang dã; tạo điều kiện thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân phát triển kinh tế ngành nghề theo đúng quy định của pháp luật.
Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các lực lượng chức năng xử lý 38 vụ vi phạm pháp luật về rừng. Với mục tiêu bảo vệ được hơn 40 nghìn ha rừng, giữ độ che phủ rừng trên 55%, Hạt kiểm lâm Thanh Sơn đã chỉ đạo các Trạm kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền các xã thực hiện tốt các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; chỉ đạo các Trạm tham mưu cho các xã rà soát phương án quản lý bảo vệ phát triển và PCCCR cấp xã và tổ chức thực hiện có hiệu quả; giám sát và hướng dẫn các chủ rừng trong việc khai thác gỗ và lâm sản theo Quyết định số 40 ngày 7-7-2005 của Bộ nông nghiệp và PTNT.
Với quan điểm trồng rừng phải đi đôi với bảo vệ rừng, Thanh Sơn không chỉ làm tốt công tác bảo vệ rừng mà còn chú trọng công tác phát triển rừng. Vụ xuân năm nay, trên địa bàn huyện đã trồng hơn 1.000 ha rừng, trong đó rừng trồng theo dự án bảo vệ và phát triển rừng là gần 500 ha, các công ty lâm nghiệp trồng khoảng 300 ha, các hộ dân tự trồng hơn 350 ha.
Ở xã Cự Thắng ngoài diện tích trồng rừng theo dự án Bảo vệ và phát triển rừng, người dân còn tự đầu tư vốn trồng rừng. Năm 2014, Cự Thắng trồng 78 ha rừng thuộc Dự án bảo vệ và phát triển rừng và 20 ha người dân tự trồng. Nếu trước đây chỉ trồng rừng, không có đầu tư chăm sóc thì đến nay người dân đã biết đầu tư từ khâu cuốc hố, trồng và chăm sóc theo đúng kỹ thuật.
Vì vậy năng suất, chất lượng rừng trồng tăng lên đáng kể. Ông Đặng Quốc Bảo - Phó Chủ tịch UBND xã Cự Thắng cho biết: “Xã luôn vận động tuyên truyền bà con nông dân trồng rừng phải gắn liền với bảo vệ và chăm sóc rừng. Trước đây trồng cây bạch đàn và các giống cây bản địa không được đầu tư chăm sóc, năng suất chỉ đạt 15m3/ha. Hiện nay trồng cây keo có đầu tư chăm sóc năng suất bình quân đạt 60-70m3/ha, có diện tích tốt đạt 100m3/ha”.
Trên địa bàn xã đã có những hộ làm giàu từ rừng như các ông Lê Văn Suối, Nguyễn Khắc Quang, Nguyễn Khắc Tuyên... có từ 20 ha rừng trở lên, mỗi năm thu vài trăm triệu đồng.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện Thanh Sơn cũng được quan tâm thường xuyên. Hạt đã chỉ đạo tổ kiểm lâm cơ động PCCCR và các Trạm Kiểm lâm địa bàn tăng cường tuần tra, kiểm tra các địa bàn trọng điểm, những nơi có nguy cơ dễ xảy ra cháy rừng đảm bảo quân số trực 100% trong những ngày khô hanh, nắng nóng. (Báo Phú Thọ 7/8) đầu trang(
Cùng với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), tỉnh đã là địa phương đầu tiên trong cả nước áp dụng kế hoạch hành động “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng cacbon rừng (REDD+)”.
Rừng được xem là một bể chứa carbon, giúp loại bớt khí thải nhà kính, tạo mảng xanh để ứng phó và thích nghi với biến đổi khí hậu (BĐKH). Nhận thức được việc bảo vệ rừng là hết sức cần thiết trong điều kiện BĐKH ngày càng gia tăng, những năm vừa qua, công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng đã được chính quyền và nhân dân trong tỉnh Điện Biên quan tâm coi trọng.
Ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên cho biết: Điện Biên là tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc, có diện tích tự nhiên 956.290 ha, chủ yếu là diện tích đồi núi, địa hình chia cắt phức tạp. Thực hiện chỉ 38/2005/CT–TTg của Thủ tướng Chính phủ về rà soát quy hoạch 3 loại rừng, tỉnh Điện Biên đã tổ chức rà soát và quy hoạch lại.
Theo đo, tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp là 761.783 ha đã được phân chia thành 3 loại rừng (trong đó rừng đặc dụng là 118.500 ha; rừng phòng hộ là 358.210 ha; rừng sản xuất là 285.060 ha). Để quản lý các khu rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tỉnh Điện Biên đã thành lập 3 Ban quản lý rừng phòng hộ, 2 Ban quản lý rừng đặc dụng, diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất được giao cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quản lý, bảo vệ và hưởng lợi theo cơ chế chính sách của Nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng mất rừng, suy thoái rừng vẫn diễn ra thường xuyên do việc chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp, canh tác nương rẫy, di dân tự do, tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác rừng lấy gỗ, củi và tình trạng cháy rừng vẫn còn phổ biến.
Chính vì vậy, tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XII nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể của ngành lâm nghiệp tỉnh trong giai đoạn 2011 -2020 cần tập trung phát triển rừng một cách bền vững, hiệu quả; rà soát, cắm mốc phân định rõ ranh giới quy hoạch 3 loại rừng tại thực địa; giao đất rừng gắn với thực hiện chính sách bảo vệ rừng và trồng rừng; khuyến khích đa dạng hóa các hình thức đầu tư trồng rừng sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nhằm từng bước làm cho lâm nghiệp có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhằm hạn chế việc rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng, đồng thời thực hiện quyết định số 799 ngày 27/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng cacbon rừng” cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế - JICA, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên ban hành quyết định số 379/QĐ-UBND, ngày 26/5/2014 về kế hoạch hành động REDD+.
Theo Kế hoạch hành động REDD+, tỉnh Điện Biên đã đặt ra các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 là: Tăng ròng cacbon hàng năm đạt 40.641 tấn CO2/năm; nâng độ che phủ của rừng lên 45%; thiết lập được 6.555 ha rừng thuộc 2 xã thực hiện thí điểm là Mường Phăng và Mường Mươn đủ điều kiện thực hiện REED+; bảo tồn các loại động, thực vật hiện có, ngăn chặn đà suy giảm đa dạng sinh học đối với 2 xã thí điểm REDD+.
Đến giai đoạn 2016 - 2020 là lượng cacbon tăng ròng hàng năm đạt 376.650 tấn CO2/năm; nâng độ che phủ của rừng lên 50% vào năm 2020; Thiết lập được 264.000 ha rừng đủ điều kiện tham gia thực hiện REDD+; tiếp tục bảo tồn các loài động thực vật, ngăn chặn đà suy giảm đa dạng sinh học trên địa bàn toàn tỉnh.
Ông Nguyễn Đình Kỳ - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết thêm: “Hiện nay, tình trạng phá rừng, mất rừng, suy thoái rừng ở Điện Biên đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Nếu không có biện pháp hữu hiệu, trong một vài năm tới, Điện Biên sẽ không còn rừng để mất. Đây chính là một trong những nguyên nhân để Điên Biên thực hiện xây dựng Kế hoạch hành động REDD+”. Tính đến thời điểm này, Điện Biên cũng là tỉnh tiên phong khi ban hành Kế hoạch hành động cấp tỉnh về hoạt động này.
Tuy nhiên, vì đây là hoạt động mới nên để đạt được các mục tiêu đề ra, trong thời gian tới Sở NN&PTNT tỉnh sẽ phối hợp chặt chẽ với JICA để thực hiện các hoạt động REDD+ tại hiện trường ở hai xã thí điểm. Đồng thời phấn đấu trong gian đoạn 2014 - 2016 sẽ triển khai việc giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu rừng, nâng cấp hệ thống theo dõi diễn biến rừng của tỉnh hoàn thiện hơn. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/8, tr8) đầu trang(
Mới đây, tại Hội trường UBND xã Hà Phú, TAND huyện Hà Trung đã mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thụ lý số 23/2014/HSST ngày 20/6/2014 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc Thái, sinh ngày 06/07/1986, trú tại thôn Trịnh Xá 5, xã Yên Ninh, huyện Yên Định.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Thái bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá truy tố về tội: “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” quy đinh tại Điều 240 Bộ luật Hình sự.
Theo đó, vào ngày 16/01/2014, Nguyễn Ngọc Thái lái máy xúc đất tại khu vực núi Voi, thuộc thôn 6, xã Hà Phú, Hà Trung. Đến 14 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn Thắng đến thay ca cho Thái. Thái bàn giao máy xúc cho anh Thắng rồi đi lên rừng cách vị trí máy xúc khoảng 10m ngồi nghỉ và hút thuốc lá. Khi hút được nửa điếu thuốc, Thái nhặt một chiếc lá tràm khô bên cạnh bật lửa đốt. Lúc này có một xe ô tô đến lấy đất, nên Thái đã thả chiếc lá đang cháy xuống đất và đi lại xe ô tô để chấm công.
Sau khi chấm công xong, Thái nhìn lên vị trí ngồi trước đó thì thấy đám lá cháy, gió thổi bay sang khe suối làm cháy đám thực bì. Thái chạy lên bẻ cành cây tràm để dập lửa, nhưng không được, Thái gọi anh Thắng lên giúp. Anh Thắng điều khiển máy xúc, dùng gầu cào đám cháy ra, nhưng gió thổi mạnh nên lửa bùng phát nhanh theo khe núi lên phía trên và lan rộng ra hai bên rừng. Khi không dập được đám cháy, Thái và anh Thắng gọi mọi người lên giúp dập lửa. Khoảng một giờ sau, đám cháy vẫn chưa được dập tắt và tiếp tục lan rộng sang khu vực rừng thuộc thôn 7, xã Hà Thái.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường, diện tích cháy thuộc lô 4, khoảnh 6A, tiểu khu 465 xã Hà Phú và lô 3, khoảnh 5, tiểu khu 465 thuộc địa giới hành chính xã Hà Thái. Trạng thái rừng là rừng trồng cây thông và cây keo lá tràm; đối tượng rừng là rừng phòng hộ. Diện tích bị cháy 82.617m2, trong đó diện tích có cây thông và keo 59.000m2, thảm thực bì 23.617m2. Số lượng cây thông bị cháy 2.670 cây, số lượng cây keo bị cháy 1.100 cây.
Ngày 25 tháng 4 năm 2014, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hà Trung kết luận: 2.670 cây thông trên 10 năm tuổi; 1.000 cây keo lá tràm 2 năm tuổi và 100 cây keo lá tràm loại B có giá trị 255.710.000đ (Hai trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm mười nghìn đồng). Với hành vi phạm tội như trên, Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 19/06/2014 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung đã truy tố Nguyễn Ngọc Thái về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo khoản 3, Điều 240 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ quyền công tố tại tòa đề nghị áp dụng khoản 3, Điều 240; Điều 33; điểm b, p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; điểm i, khoản 1, Điều 48; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại Lê Thị Xuyến, đại diện nguyên đơn dân sự và người làm chứng là anh Nguyễn Văn Thắng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận định giá tài sản đủ cơ sở khẳng định ngày 16/01/2014, Nguyễn Ngọc Thái đã làm cháy 82.617 m2 rừng phòng hộ, trong đó diện tích cháy rừng có trồng cây là 59.000 m2, diện tích cháy thảm thực bì là 23.617 m2.
Gây thiệt hại 2.670 cây thông trên 10 năm tuổi, 1.000 cây keo lá tràm 2 năm tuổi và 100 cây keo lá tràm loại B. Tổng gía trị tài sản bị thiệt hại là 255.710.000đ (Hai trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm mười nghìn đồng). Trong đó: Diện tích rừng bị cháy thuộc quyền quản lý của UBND xã Hà Phú là 54.167 m2, thiệt hại về tài sản là 1.770 cây thông cấp 3 và 1.000 cây keo lá tràm năm thứ 2 với tổng giá trị theo định giá là 170.810.000 đồng. Diện tích rừng bị cháy thuộc quyền quản lý của gia đình bà Lê Thị Xuyến ở xã Hà Thái là 28.450 m2, thiệt hại về tài sản là 900 cây thông 10 năm tuổi và 100 cây keo lá tràm loại B với tổng giá trị theo định giá là 84.900.000 đồng.
Theo điểm a, tiểu mục 5.5, mục 5, phần IV Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và theo quy định tại điểm c, khoản 7, Điều 16 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì với hậu quả gây cháy 82.617 m2 rừng phòng hộ tức bị cáo đã gây thiệt hại trên bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính (7.500m2), nên bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo Khoản 3, Điều 240 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù hành vi của bị cáo là vô ý do cẩu thả dẫn đến phạm tội, song hậu quả để lại rất nặng nề, không những gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân và tổ chức mà còn làm thiệt hại 82.617 m2 rừng phòng hộ, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và đất trên địa bàn bị cháy.
Mặt khác, bị cáo gây thiệt hại đến tài sản do UBND xã Hà Phú quản lý tức là đã xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm i, khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội ở bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, bị cáo cũng đã chủ động bồi thường một phần thiệt hại cho bà Lê Thị Xuyến 10.000.000 đồng, đây là những tình tiết cần được tòa xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bà Lê Thị Xuyến cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, điều 46 Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội do vô ý, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức dưới khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người tỏ rõ sự ăn năn hối cải.
Trên cơ sở hồ sơ, lời khai của bị cáo, nhân chứng, người bị hại và kết quả tranh tụng công khai tại tòa, TAND huyện Hà Trung đã quyết định:
Áp dụng khoản 3, Điều 240; Điều 33; điểm b, p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; điểm i, khoản 1, Điều 48; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thái 5 (năm) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 21/01/2014.
Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Điều 305; Điều 604, 605, 608 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Thái phải bồi thường cho UBND xã Hà Phú, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa giá trị tài sản bị thiệt hại là 170.810.000đ (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm mười nghìn đồng); Bồi thường cho bà Lê Thị Xuyến giá trị tài sản bị thiệt hại là 84.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được cho bà Xuyến 10.000.000 đồng, số còn lại 74.000.000đ (Bảy mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng) bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Xuyến.
Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án gồm: 01 bật lửa ga màu trắng đã qua sử dụng, 01 bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 16 điếu thuốc, 01 cành cây keo lá tràm.
Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 5, Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Thái phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm là 12.240.500đ (Mười hai triệu hai trăm bốn mươi nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vụ án đã khép lại, người phạm tội đã chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng tất cả những người có mặt tại phiên tòa đều cảm nhận được nỗi buồn và cả sự xót xa, thương cảm cho bị cáo, chỉ vì bất cẩn khi sử dụng lửa gây cháy rừng đã đưa bị cáo vào vòng lao lý, với thời gian 5 năm, bị cáo để lại cho mẹ già, con thơ ngày đêm đợi chờ và còn biết bao người khác hệ lụy cùng bị cáo.
Từ vụ án này mong rằng mỗi chúng ta khi làm một việc gì đó hãy cẩn trọng, để đừng bao giờ phải có những phiên tòa như ngày hôm nay. (Trang Thông Tin Điện Tử Kiểm Lâm Thanh Hóa 1/8; Kinh Doanh & Pháp Luật 6/8, tr18) đầu trang(
Câu chuyện anh Bình bắt được rắn khổng lồ ngày một lan rộng,những lời đồn thổi về rắn thành tinh trên đầu có chữ "thiên" khiến gia đình anh không ngày nào ngủ yên vì lo lắng.
Đối với một thợ săn thiện nghệ như anh Bình (trú xã Tiên Nguyên, Quang Bình, Hà Giang) thì việc bắt được rắn hay chiến đấu với những con thú khổng lồ không lấy gì làm lạ.
Nhưng kể từ hồi tháng 5 vừa qua, khi bắt được con rắn lớn có màu sắc kỳ lạ, gia đình anh đã phải đối mặt với những lời đồn khủng khiếp. Câu chuyện anh Bình bắt được rắn khổng lồ ngày một lan rộng, trở thành đề tài được nhiều người bàn tán. Vì thế, không khi nào nhà anh vắng khách.
Theo một số người dân, trên đầu 'con vật lạ' có chữ 'thiên' và là con rắn lớn nhất từng xuất hiện tại làng quê này. Anh Bình cho rằng đây là con trăn, nhưng dân làng lại quả quyết đó không phải là trăn thường vì khi đổ nước lên thì thân thể nó tỏa ra rất nhiều màu sắc kỳ lạ.
Anh Đặng Kim Hùng, người nhiều lần có cơ hội đụng độ với trăn rừng, một mực khẳng định: 'Nếu là trăn đá thì nó phải có màu hơi xanh chứ không đa màu sắc như thế này'.
Bên cạnh đó, trước khi anh Bình bắt được rắn, rất nhiều hộ gia đình mất lợn con, gà, chó một cách bí ẩn, mà theo họ dự đoán có thể là do 'rắn thần' đã bắt. Điều đáng nói, gia đình anh Bình muốn bán con rắn lấy tiền nhưng bị người dân kịch liệt ngăn cản.
"Người ta bảo rằng con rắn là điềm lành, nếu bán đi sẽ mang tai họa. Nghe họ nói mà gia đình tôi không tài nào ngủ được", anh Bình nói.
Chị Hoàng Thị Kèn (57 tuổi, vợ anh Bình) than thở vì chuyện: 'Hôm nào cũng có khách đến xem rắn, nên chúng tôi phải phân công người ở nhà trông coi, chứ nếu người ta lật xem rồi rắn bỏ đi thì phải tội tày đình'.
Theo quan niệm của người Dao áo dài vùng này, việc bắt được rắn lạ vừa là điềm lành và cũng có thể là bắt đầu cho tai họa. Từ khi bắt được rắn, dân làng không thấy có vấn đề gì nên cho đây là điềm may. Vì thế, họ phản đối thả rắn để may mắn không đi mất.
Nói về sự việc này, bà Lò Mùi Hàn, Chủ tịch UBND xã Tiên Nguyên, khẳng định: "Chuyện người dân đồn thổi những câu chuyện mê tín dị đoan về rắn hoàn toàn không có căn cứ. Bản thân tôi đã cùng với đoàn của bên kiểm lâm huyện lên xem, chính xác con vật mà anh Bình bắt được là con trăn, vì người dân ở vùng này ít khi bắt được trăn nên lầm tưởng đó là rắn lạ".
Bà Hàn cũng cho biết đã yêu cầu anh Bình không được phép bán con trăn này ra bên ngoài mà kết hợp với bên kiểm lâm huyện tổ chức thả trăn ra rừng tự nhiên. (Gia Đình VN 7/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Liệu ông Lê Đức Hải có thể “nuốt trôi” 100 triệu đồng tiền hối lộ, khi bên cạnh ông có đến cả một ê - kíp thực hiện nhiệm vụ, có liên quan tới sự việc.
Trong bản tường trình của mình gửi cơ quan chủ quan, các kiểm lâm viên trong tổ công tác (thuộc đội kiểm lâm cơ động số 1 - Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa) đều khẳng định rằng họ có bằng chứng ngoại phạm trước vụ việc “cán bộ kiểm lâm nhận hối lộ” (?)
Khoảng 21h ngày 31/7, đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy số 1 (Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa) nhận được tin báo xe ôtô 37C-06012 đang vận chuyển gỗ quý hiếm trái phép từ Nghệ An qua Thanh Hóa, lưu thông trên Quốc lộ 1A.
Không lâu sau đó, ông Lê Đức Hải làm tổ trưởng cùng 5 cán bộ khác gồm Nguyễn Xuân Vịnh, Lê Chí Thanh, Nguyễn Thế Vinh, Đỗ Đình Chung, Hà Lê Minh (lái xe) được phân nhiệm vụ theo dõi chiếc xe ô tô nói trên.
Đến 9 giờ 30 phút ngày 1/8, Tổ công tác do ông Lê Đức Hải làm Tổ trưởng phát hiện và yêu cầu chủ phương tiện điều khiển xe xe ôtô 37C-06012 dừng xe để kiểm tra ngay tại khu vực cầu sông Lý (huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa).
Quá trình kiểm tra, tổ tuần tra phát hiện ngoài có khoảng 1.5 m3 gỗ Giáng Hương không có trong hồ sơ lâm sản được phép vận chuyển. Tại thời điểm trên, ông Lê Đức Hải đã chỉ đạo lập biên bản hành vi vận chuyển gỗ trái phép đối với số gỗ Giáng Hương nói trên, đồng thời phân công cán bộ áp giải xe gỗ lậu đưa về đội kiểm lâm cơ động số 1. Tại đây, số gỗ Giáng Hương không rõ nguồn gốc đã được đưa vào kho chứa hàng để xử lý theo quy định.
Cùng thời điểm trên sau lập biên bản số gỗ nói trên, ông Lê Đức Hải đã đòi chủ hàng phải đưa 100 triệu đồng cho tổ công tác để “bỏ qua” lỗi vi phạm. Khi Hải đang nhận tiền của chủ hàng thì bị lực lượng Công an ập vào bắt quả tang.
Các kiểm lâm viên có liên quan tới vụ việc “cán bộ kiểm lâm nhận hối lộ 100 triệu” (gồm ông Nguyễn Xuân Vịnh, Lê Chí Thanh, Lê Nguyên Chất, Nguyễn Thế Vinh, Đỗ Đình Chung) đều cho rằng họ có bằng chứng ngoại phạm tại thời điểm xảy ra sự việc và hoàn toàn không biết ông Lê Đức Hải nhận tiền hối lộ: “Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ trước sự việc Công an ập vào trụ sở đội kiểm lâm cơ động số 1 để khống chế cán bộ”, một cán bộ kiểm lâm nói.
Theo đó, kiểm lâm Nguyễn Xuân Vịnh tường trình, tại thời điểm xảy ra sự việc, ông đang sắp xếp gỗ dưới kho : “Khi đó tôi nghe có tiếng ồn ào bên ngoài liền chạy ra xem, thì bất ngờ phát hiện rất nhiều người tập trung tại cầu thang. Khi chạy đến nơi thì bị Công an khống chế”, ông Vịnh tường trình.
Không lâu sau đó, ông Vịnh được Công an cho về phòng tắm giặt tại đội kiểm lâm cơ động số 1. Đến 2 giờ sáng ngày 2/8, cán bộ này được mời sang công đến cơ quan chức năng để lấy lời khai.
Trước sự việc có liên quan, kiểm lâm Đỗ Đình Chung cũng cho rằng, tại thời điểm xảy ra sự việc, ông không hề hay biết gì:“ Lúc tôi đang tắm thì Công an ập vào và yêu cầu ở yên tại chỗ. Một lát sau thì cơ quan chức năng gọi xuống phòng làm việc”, ông Chung tường trình.
Ngoài ra các kiểm lâm việc khác gồm ông Lê Chí Thanh, ông Lê Nguyên Chất cũng đưa ra bằng chứng ngoại phạm chứng minh mình không có liên quan tới sự việc. 2 cán bộ trên cho rằng lúc đó họ đang đi ra ngoài sân thì bắt gặp sự việc. Riêng ông Nguyễn Thế Vinh đang đi vệ sinh.
Cùng thời điểm, ông Lê Văn Hải (đội phó) tường trình, khi đó ông đang đi ra ngoài chỉ đạo các kiểm lâm viên khác xử lý xe khách chở động vật.
Cũng tại hiện trường vụ việc, sau khi ông Hải bị bắt giữ, lực lượng chức năng khám xét và phát hiện 10 triệu đồng cất giấu trong tủ đồ cá nhân của cán bộ này. Ngoài ra, cơ quan chức năng còn còn thu giữ tại chậu cây cảnh nằm phía ngoài phòng đội trưởng đội kiểm lâm cơ động số 1 số tiền 100 triệu đồng. Số tiền này được cơ quan chức năng cho rằng ông Lê Đức Hải đã nhận hối lộ của chủ lô gỗ trên xe 37C-060.12. Tuy nhiên khi bị phát hiện, cán bộ này đã cố tình tẩu tán.
Cần phải nói thêm rằng, trước thời điểm bị bắt quả tang, ông Lê Đức Hải đã báo cáo sự việc với ông Lê Văn Hải (đội phó) để xử lý vụ việc. Câu hỏi đặt ra là, liệu ông Hải có thể “nuốt trôi” số tiền hơn 100 triệu đồng khi bên cạnh ông có đến cả 1 ê kíp thực hiện nhiệm vụ? (Giáo Dục VN 7/8) đầu trang(
Sau một thời gian giảm, hiện nay giá cây keo lá tràm trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã tăng trở lại, được thương lái thu mua với giá khoảng 940.000 đ/ster tại vườn.
Ông Cao Văn Vũ, xã Khánh Bình, một người trồng keo cho biết: Với giá keo như hiện nay thì người trồng keo thu được từ 70- 80 triệu đồng/ha đối với rừng keo trồng 4 năm tuổi và khoảng 100 triệu đồng/ha đối với rừng trồng 5 năm tuổi, sau khi trừ tất cả chi phí người trồng lãi khá.
Được biết do cây keo có giá nên những năm gần đây, nhiều người đầu tư trồng keo, phá bỏ cây điều già cỗi. Đến nay toàn huyện có khoảng 8.000ha keo. (Nông Nghiệp Việt Nam 8/8) đầu trang(
Thử nghiệm một số giống cây xanh chịu mặn ven biển; Nghiên cứu sưu tập và gieo ươm một số loài cây gỗ bản địa quý của BR-VT và Nghiên cứu tuyển chọn một số loài cây thích hợp tạo cảnh quan cho Núi Lớn - Núi Nhỏ (TP.Vũng Tàu) là 3 đề tài nghiên cứu khoa học đã được Sở KH-CN thông qua và đang được ứng dụng có hiệu quả tại BR-VT.
Các đề tài này đã góp phần làm đa dạng sinh học cho vùng ven biển BR-VT trước điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Đề tài “Nghiên cứu, sưu tập và gieo ươm một số loại gỗ bản địa quý của tỉnh BR-VT” được thực hiện vào năm 2011. Từ đề tài này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng vườn ươm, tạo cây giống các loài đạt qui cách, phẩm chất cho trồng rừng, trồng vườn, qua đó, góp phần giới thiệu cho cả nước nguồn gen cây gỗ của tỉnh và nhân rộng các mô hình trồng rừng, trồng cây nhân dân từ các loài cây gỗ bản địa.
Trong thời gian thử nghiệm, nhóm nghiên cứu đề tài đã điều tra và sưu tầm được 20 loài cây gỗ thuộc 7 họ và 6 bộ có giá trị kinh tế và sinh thái cao của tỉnh BR-VT, điển hình như: Cẩm lai Bà Rịa, vên vên, dầu cát, dầu song nàng... Đồng thời, nghiên cứu đặc điểm sinh lý của hạt giống, xử lý gieo ươm, đặc điểm sinh trưởng cây con của 20 loài cây trên.
Theo Sở KH-CN, đây là đề tài nghiên cứu có ý nghĩa kinh tế, sinh thái cao nhằm nghiên cứu, sưu tầm và gieo ươm các loài cây gỗ bản địa quý của tỉnh. Sau khi nghiên cứu, thử nghiệm thành công, vài năm gần đây, Hội Sinh vật cảnh tỉnh đã tiếp tục xây dựng và thực hiện vườn mẫu sinh vật cảnh (tại xã Hòa Long, TP. Bà Rịa) để ươm trồng hơn 200 cây gỗ quý bản địa của BR-VT.
Ngoài việc bảo tồn đa dạng các loại cây gỗ bản địa quý, Sở KH-CN cũng đã nghiệm thu đề tài về các giống cây xanh có khả năng chịu mặn ven biển để tạo cảnh quan và giữ cát. Vũng Tàu là thành phố du lịch có nhiều bãi tắm tự nhiên rất đẹp nhưng gió biển mang theo muối đưa vào đất liền trong suốt 6 tháng mùa khô, đã làm cho các chủng loại cây xanh dọc theo bờ biển không thể phát triển tươi tốt.
Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu đề tài “Cây xanh chịu mặn ven biển”, trong số 36 giống cây và 3 giống cỏ ở các đảo ven biển trên thế giới mà tập trung là ở miền Nam Trung Mỹ có điều kiện tự nhiên như ở Vũng Tàu. Kết quả, sau khi thử nghiệm chỉ có 6 giống cây và 1 giống cỏ phù hợp trong điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu ở Bãi Sau. Đặc biệt, giống cỏ lông heo có khả năng chống chịu được điều kiện khắc nghiệt ở Bãi Sau, vừa tạo thành thảm phủ đất trống, làm đẹp cảnh quan vừa chống cát bay.
Bên cạnh vành đai ven biển thì Núi Lớn-Núi Nhỏ cũng được xem như tấm bình phong che chắn, bảo vệ cho cư dân TP. Vũng Tàu, tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho thành phố biển. Tuy nhiên, có đến hơn ½ diện tích Núi Lớn-Núi Nhỏ đất trọc trơ sỏi đá, không những làm mất vẻ mỹ quan mà còn không đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Vì vậy, “Nghiên cứu tuyển chọn một số loài cây thích hợp tạo cảnh quan cho Núi Lớn-Núi Nhỏ” với các loài cây trồng phủ xanh phổ biến như: keo lá tràm, keo tai tượng, bằng lăng, tếch, muồng đen, lim xẹt, gõ mật, giáng hương... đã che bớt những khiếm khuyết đó.
Bà Lê Thị Nga, Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh tỉnh cho biết, hiện nay địa phương cũng đã thử nghiệm thành công nhiều giống cây có khả năng chịu mặn ven biển như: Chiêu liêu, cẩm liên, cẩm lai Bà Rịa, vên vên, sến mù... Địa phương đang tiếp tục nghiên cứu và tuyển chọn các loại cây đáp ứng được tiêu chí đa dạng sinh học và nhanh chóng xác định tập đoàn cây phù hợp với thổ nhưỡng và khoa học của BR-VT cũng như những cây mang tính đặc hữu, đặc trưng địa phương.
Ngoài 25 chủng loại cây xanh có khả năng chịu mặn ven biển đã được nghiên cứu, ứng dụng, Hội Sinh vật cảnh tỉnh sẽ tiếp tục nghiên cứu 25 chủng loại nữa để phủ xanh các đồi cát, trong đó chọn ra 20 loài cây đặc trưng nhất của BR-VT để xuất khẩu sang thị trường Dubai.
Đặc biệt, Hội Sinh vật cây cảnh tỉnh đang xây dựng đề án “1 triệu cây xanh” nhằm ứng dụng rộng rãi 3 đề tài đã được nghiên cứu, bảo vệ môi trường của tỉnh, giảm thiểu ô nhiễm khí thải, tái tạo hệ sinh thái cây trồng ở các khu vực đất đai nghèo dinh dưỡng và chua mặn. (Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 6/8) đầu trang(
Gần đây, qua kiểm tra của cơ quan chức năng ở huyện Phú Lộc, đã phát hiện nhiều sai phạm buộc phải kiểm điểm trách nhiệm và sau đó xử lý kỷ luật cảnh cáo đối với ông Nguyễn Em, Chủ tịch UBND xã Lộc An.
Thực hiện chủ trương về giao đất rừng cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng vào mục đích trồng cây lâm nghiệp, năm 2003, các hộ Phạm Thanh Kiều, ông Trần Văn Minh và ông Lê Văn Long có đơn xin nhận đất, nhận rừng để quản lý bảo vệ sử dụng, được ông Trương Văn Bích - Chủ tịch UBND xã Lộc An ký xác nhận.
Ngày 20/2/2004, Hạt Kiểm lâm huyện đã đo đạc thiết kế bản đồ trồng rừng và được UBND huyện xác nhận (tại khoảnh 3, tiểu khu 1135b); đến ngày 7/4/2004, UBND huyện ban hành các Quyết định (số 754, 756, 760 ) giao đất, giao rừng cho 3 hộ trên với tổng diện tích 5 ha, trong đó ông Kiều 1,5 ha, ông Minh 2 ha và ông Long là 1,5 ha. Cùng ngày, Hạt Kiểm lâm huyện, UBND xã Lộc An và các hộ nhận đất, nhận rừng tiến hành giao nhận tại thực địa.
Các hộ thống nhất trồng rừng chung, rồi sau đó chia theo tỷ lệ diện tích thực nhận và giao cho ông Long thuê người trồng keo tai tượng, keo lai hạt và sử dụng từ đó đến nay.
Trong quá trình trồng rừng, ông Long và ông Nguyễn Minh (thôn Nam Phổ Cần, Lộc An là người có đất tiếp giáp chưa được cấp sổ đỏ) đã thỏa thuận miệng, là từ mép chân đồi núi Vàng trở lên đỉnh do ông Long trồng cây, còn từ mép chân đồi trở xuống thuộc ông Minh sử dụng. Khi ông Long, ông Minh chuyển công tác đi nơi khác còn ông Kiều ở xa, nên ông Minh thấy khu đất này không có cây gì và tiến hành trồng cây.
Đến năm 2010, ông Minh đã khai thác rừng trồng, tiếp tục trồng cây keo và chuyển nhượng cho ông Nguyễn Em một phần thửa đất và cây (bằng Giấy chuyển nhượng viết tay ngày 15/9/2010). Sau đó, ông Em trồng dặm, chăm sóc cây trồng.
Đến ngày 30/9/2012, ông Em viết giấy chuyển nhượng lại cho ông Trần Đình Dưỡng (xã Lộc Hòa) với diện tích 10.160m2 đất rừng.
Ông Dưỡng thuê xe san lấp các hố đào đãi vàng và làm luống để tiếp tục trồng rừng và biết được một số diện tích (5.100m2) đã trồng rừng lấn sang diện tích của hộ ông Kiều, ông Minh và ông Long; đã được UBND huyện Phú Lộc giao đất, giao rừng vào năm 2004.
Việc ông Em chuyển nhượng cho ông Dưỡng trong khi thửa đất này chưa được cấp sổ đỏ là không đúng theo quy định. UBND huyện chỉ đạo UBND xã Lộc An tiến hành kiểm điểm trách nhiệm cá nhân ông Em, Chủ tịch UBND xã Lộc An về sai phạm nêu trên.
Trước đó, qua kiểm tra việc chấp hành pháp luật một số nội dung trong quản lý, sử dụng ngân sách tại xã Lộc An, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy và Thanh tra huyện Phú Lộc đã chỉ ra nhiều sai phạm như: Tiền thu mặt bằng chợ hơn 49,6 triệu đồng không nộp vào ngân sách, trong đó cho tạm ứng công tác gần 12 triệu đồng chưa hoàn ứng. Tiền thu hồi vốn từ Dự án Nuôi trâu nái, tiền đền bù Nhà máy Gạch Tuy- nen…
Cụ thể, tại Dự án “Mua trâu nái sinh sản hỗ trợ cho cộng đồng người dân thôn Phước Trạch, Lộc An” nhằm nâng cao thu nhập đời sống dân sinh đã xảy ra nhiều sai phạm. Với số lượng 16 con trâu nái sinh sản được tài trợ, trị giá mỗi con là 5 triệu đồng, được triển khai thực hiện tháng 7/2006; đến năm 2008, xã phát hiện có 6 hộ nhận nuôi đã tự ý bán trâu mà không xin phép Ban Quản lý (BQL) dự án, riêng hộ ông Hồ Thía có báo cáo việc bán trâu và nộp lại 5 triệu đồng cho ông Hồ Đắc Tá, Phó trưởng BQL.
Theo báo cáo của UBND xã, đã thu của 8 hộ nuôi trâu với số tiền 40 triệu đồng, sau đó gửi ngân hàng lấy lãi được 4 triệu đồng; nhưng qua kiểm tra ông Tá thu tổng cộng là 43,6 triệu đồng, chênh lệch 3,6 triệu đồng. Năm 2009, ông Nguyễn Em làm Chủ tịch UBND xã, nhưng không kiện toàn BQL để quản lý chặt nguồn vốn do Tổ chức CECI (Hoa Kỳ) tài trợ.
Ngày 27/8/2013, cơ quan thanh tra phát hiện hộ ông Lê Kiếm và Hồ Dũng tự ý bán trâu không hoàn trả lại nguồn vốn. Riêng 6 hộ nhận trâu còn lại đến nay chưa thực hiện chuyển giao theo nội dung dự án. Nghị quyết HĐND xã năm 2013 đã chấp thuận đưa vào nguồn thu ngân sách xã từ 29 triệu đồng của dự án nuôi trâu nái là không đúng quy định.
Tháng 3/2008, Nhà máy Gạch Tuy-nen đền bù thiệt hại cho 12 hộ dân với số tiền 97 triệu đồng, UBND xã chỉ chi 87 triệu đồng, còn lại hơn 10 triệu đồng không nộp ngân sách mà mang gửi tiết kiệm lấy lãi cho đến khi bị phát hiện. Năm 2011- 2012, UBND xã thu tiền cho thuê đồng Lạc Túc hơn 109 triệu đồng, nhưng chỉ nộp ngân sách 102,5 triệu đồng.
Thanh tra huyện đã quyết định thu hồi 69,4 triệu đồng do UBND xã Lộc An không nộp ngân sách Nhà nước, đồng thời Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đã ra quyết định cảnh cáo về mặt Đảng, UBND huyện có quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về mặt Nhà nước đối với ông Nguyễn Em. (Thanh Tra 7/8) đầu trang(
So với các địa phương khác, thành phố Bảo Lộc hiện có diện tích rừng và đất rừng ít hơn. Thành phố hiện quản lý 2.334ha rừng và đất rừng.
Trong đó, rừng phòng hộ xung yếu là 1.096ha, đất rừng sản xuất là 1.238ha. Diện tích có rừng là 1.284,2ha; tập trung tại 3 xã Lộc Châu, Đại Lào và Đam Bri. Diện tích rừng và đất rừng hiện đã giao cho Hạt Kiểm lâm, 2 doanh nghiệp và 29 gia đình nhận khoán quản lý, bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng.
Từ năm 2011 đến nay, thành phố Bảo Lộc đã triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng cho những tổ chức và cá nhân nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng và những hộ đã nhận đất lâm nghiệp để trồng rừng.
Theo đánh giá của UBND thành phố Bảo Lộc, qua 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã có những tác động tích cực đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương.
Số vụ vi phạm và rừng bị thiệt hại giảm dần (Năm 2011: 10 vụ, thiệt hại hơn 9ha; năm 2012: 5 vụ, thiệt hại 3,9ha; năm 2013: 5 vụ, thiệt hại 0,52ha). (Báo Lâm Đồng 8/8) đầu trang(
7.8, tại nhà khách Hà An, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Ông Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ chủ trì Hội nghị. Cùng dự có lãnh đạo Sở NN&PTNT, các ban, ngành của tỉnh và đại diện các chủ rừng, nhà máy thủy điện, cơ sở cấp nước trên địa bàn tỉnh.
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã và đang có những tác động tích cực tới đời sống xã hội, được nhân dân đồng tình ủng hộ, góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững. Đến năm 2013, tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng được hưởng tiền DVMTR là 256.300,3ha; số hộ tham gia bảo vệ rừng có cung ứng DVMTR là 77.102 hộ gia đình, trung bình mỗi hộ quản lý, bảo vệ 3,3ha rừng/năm.
Tổng số tiền chi trả DVMTR trong 3 năm là trên 28 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập từ cung ứng DVMTR của hộ gia đình còn rất thấp (146.000 đồng/ha/năm); công tác thu còn gặp nhiều khó khăn, chưa có chế tài xử lý các đơn vị sử dụng DVMTR không ký hợp đồng ủy thác, chậm hoặc không nộp tiền dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết; việc rà soát, xác định ranh giới diện tích rừng, chủ rừng có nơi chưa rõ ràng; ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng chưa cao…
Tại Hội nghị các đại biểu đã cùng nhau thảo luận, trao đổi những khó khăn và kinh nghiệm thực tế trong quá trình chỉ đạo, tổ chức, thực hiện chính sách chi trả DVMTR nhằm đề ra giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
Kết luận tại Hội nghị, ông Nguyễn Minh Tiến ghi nhận và đánh giá cao kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Đồng thời nhấn mạnh, trong thời gian tới, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cần chủ động phối hợp với các địa phương thực hiện rà soát các đối tượng sử dụng, đối tượng cung cấp DVMTR để lập hồ sơ chi trả DVMTR; tiếp tục thực hiện các chính sách chi trả DVMTR có hiệu quả; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao vai trò, ý thức của người dân; các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với việc chi trả DVMTR.
Đối với các huyện, thành phố thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, giám sát đảm bảo việc chi trả DVMTR đúng mục đích, có hiệu quả; khẩn trương triển khai quản lý cưa xăng…(Báo Hà Giang 7/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt danh sách các đơn vị chủ rừng và các tổ chức được giao trách nhiệm quản lý rừng thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm 2015 trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, chủ rừng là tổ chức gồm có 14 đơn vị là các ban quản lý rừng phòng hộ A Vương, Khu bảo tồn loài Sao la, rừng phòng hộ Sông Kôn, Vườn quốc gia Bạch Mã, rừng phòng hộ Sông Tranh, rừng phòng hộ Đăk Mi, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, rừng phòng hộ Phú Ninh, rừng phòng hộ nam Sông Bung và rừng phòng hộ bắc Sông Bung.
Các đơn vị nêu trên quản lý hơn 259ha. Các tổ chức không phải chủ rừng được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý hơn 24,5ha, gồm Hạt Kiểm lâm các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Đại Lộc, Nông Sơn. (Báo Quảng Nam 7/8) đầu trang(
Được Nhà nước giao đất, giao rừng, những người dân thuộc cộng đồng làng Đê Tar, làng Klăh (xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai) trở thành những người chủ thực thụ trong việc trực tiếp tham gia quản lý và bảo vệ rừng.
Nhận tiền chi trả từ diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng là thành quả lao động của người dân ở 2 làng này khi diện tích rừng nhận giao khoán được giữ gìn và bảo vệ tốt.
Mặc cho cơn mưa rừng ngoài trời vẫn còn nặng hạt, nhưng người dân làng Đê Tar và làng Klăh đã có mặt bên trong Hội trường UBND xã từ rất sớm-ai nấy đều cùng một tâm trạng háo hức, chờ đợi.
Ông Bơi-Ttrưởng thôn Đê Tar-cho biết: Cộng đồng làng Đê Tar có 70 hộ dân tham gia quản lý và bảo vệ gần 2.222 ha diện tích rừng nhận giao khoán. Tổng số tiền nhận được từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chi trả cho người dân trong đợt này là 317,6 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận được 4,5 triệu đồng. Đây là một khoản tiền lớn giúp họ trang trải trong cuộc sống lúc khốn khó nên ai nấy cũng đều phấn khởi.
Theo Trưởng thôn Bơi, sau khi nhận rừng giao khoán, làng đã tổ chức họp dân, thông báo rằng đây là diện tích rừng mà làng Đê Tar đã nhận chăm sóc, quản lý và bảo vệ. Do vậy, dân làng phải cùng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng; không được chặt phá cây rừng, lấn đất rừng làm nương rẫy, lúc đó Nhà nước sẽ hỗ trợ tiền cho bà con.
Khi dân làng ai nấy đều đồng tình, với tư cách là trưởng thôn ông đã chia những hộ dân này ra thành từng tổ, nhóm thường xuyên vào rừng kiểm tra, kiểm soát phần diện tích rừng mà làng đã nhận khoán, kịp thời thông báo với chính quyền khi phát hiện rừng bị xâm phạm.
Cùng trong tâm trạng vui mừng, ông H’Ngếch-Trưởng thôn Klăk-chia sẻ: Làng Klăh có 91 hộ đều tham gia nhận khoán quản lý, bảo vệ 389 ha rừng. Do diện tích rừng nhận khoán ít nên tiền chi trả DVMTR nhận được ít hơn làng Đê Tar, trung bình mỗi hộ chỉ được 611.000 đồng.
Ngoài việc có thêm khoản thu nhập để cải thiện cuộc sống, người dân làng Klăk còn được hưởng lợi từ rừng, đó là những lâm sản phụ như: củi đốt, nấm, măng rừng, mật ong… Chính vì vậy nên người dân trong làng đều động viên nhau cùng tham gia giữ rừng, không để rừng bị xâm canh hay lấn chiếm đất rừng làm rẫy. Hàng tuần, hàng tháng, người dân làng Klăh đều phân công các tổ, nhóm (3-4 người) thường xuyên kiểm tra diện tích rừng nhận khoán.
Ông Nguyễn Thanh Kính-Chủ tịch UBND xã Kon Chiêng-chia sẻ: Tổng diện tích rừng được giao khoán quản lý và bảo vệ rừng của 2 làng Đê Tar, Klăh là trên 2.610 ha với tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả là 371,3 triệu đồng. Đây là tiền dịch vụ môi trường rừng của các năm 2011, 2012, 2013 được chi trả cho cộng đồng dân cư ở 2 làng này-những người trực tiếp tham gia quản lý và bảo vệ rừng, với tư cách là những chủ rừng.
Trên cơ sở phê duyệt của UBND tỉnh về phương án bảo vệ rừng giai đoạn 2013-2017 đối với phần diện tích rừng của xã Kon Chiêng, UBND xã đã rà soát danh sách các hộ khoán, hồ sơ đảm bảo đủ điều kiện ký cam kết quản lý, bảo vệ rừng với xã. Từ đó, xã lập kế hoạch chi trả gửi về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổng hợp chung trong kế hoạch thu, chi tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR.
Bên cạnh đó, UBND xã Kon Chiêng tổ chức thành lập tổ công tác gồm 16 thành viên với lực lượng nòng cốt là lực lượng công an, dân quân xã thường xuyên phối hợp cùng kiểm lâm địa bàn, trưởng thôn, tổ tự quản ở các làng hướng dẫn bà con tuần tra, canh gác trên diện tích rừng được giao khoán. Tuy nhiên, khó khăn hiện nay là số hộ dân ở làng Đê Tar tăng hơn so với trước (do tách thêm hộ mới). Hiện tại có đến 115 hộ nhưng trong số này chỉ có 70 hộ nhận khoán rừng và được chi trả tiền DVMTR.
Vì vậy xã đang xin chủ trương điều chỉnh mở rộng đối tượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng cũng như đối tượng được hưởng chính sách chi trả từ DVMTR. Giải quyết được điều này thì mọi thắc mắc của bà con sẽ không còn, khi đó rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn, chất lượng rừng được nâng cao, tăng thu nhập góp phần từng bước ổn định đời sống người dân ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. (Báo Gia Lai 7/8) đầu trang(
Các ý kiến tại Hội thảo Kinh tế Việt Nam và Triển vọng kinh doanh ngành gỗ 2014 tổ chức ngày 7-8 tại TP.HCM cho rằng ngành gỗ và mỹ nghệ Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức song hành.
Theo báo cáo của Vụ Công nghiệp nhẹ - Bộ Công Thương, năm 2013 kim ngạch XK đồ gỗ đạt mức 5,7 tỉ USD, tăng 19% so với năm 2012, nếu cộng cả đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ song, mây, tre thì kim ngạch XK năm 2013 của ngành đạt xấp xỉ 6 tỉ USD.
Năm 2014, kim ngạch XK đồ gỗ dự kiến đạt 6,5 tỷ USD, hàng thủ công mỹ nghệ ước đạt trên 2 tỷ USD. Bên cạnh việc đẩy mạnh XK, việc tiêu thụ đồ gỗ, nội thất trong nước trong 5 năm gần đây cũng được đẩy mạnh với doanh thu tiêu thụ thường xuyên đạt mức 2,5 tỷ USD.
Ông Phan Chí Dũng - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ Bộ Công Thương nhận định thị trường tiêu thụ đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay có rất nhiều tiềm năng. Hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 150 tỷ USD cho đồ gỗ và mỹ nghệ, riêng thị trường Mỹ tiêu thụ khoảng 40 tỷ USD, Nhật Bản tiêu thụ 13 tỷ USD và Đức là thị trường lớn nhất khối EU với khoảng 9 tỷ USD.
Cùng với đó nhu cầu về tiêu dùng đồ gỗ trên thị trường nội địa ngày càng tăng, bình quân tiêu dùng đồ gỗ thị trường nội địa trong 5 năm gần đây chiếm khoảng 40% tổng giá trị thương mại của đồ gỗ Việt Nam, với giá trị khoảng 2,25 tỷ USD. Cơ cấu sản phẩm đồ gỗ tham gia thị trường nội địa là: 40% cho công trình xây dựng, 60% cho tiêu dùng của dân cư.
Ông Doãn Anh Tuấn – Giám đốc Phát triển kinh doanh khối DN vừa và nhỏ của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VP bank) cho biết, hiện cả nước có khoảng 3.000 DN sản xuất chế biến gỗ trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ 59,7% còn lại là DN thuộc các tỉnh Tây Nguyên, Bình Định, Quảng Ngãi.
Trong đó, trên 90% tổng số DN quy mô nhỏ và vừa, DN đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 10% về số lượng nhưng chiếm đến 35% về kim ngạch XK. Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 6 thế giới về XK sản phẩm gỗ, thứ 2 châu Á sau Trung Quốc và thứ nhất khu vực Đông Nam Á. Đồ gỗ XK của Việt Nam hiện có mức tăng trưởng trung bình trên 15%/năm. Thị trường ngày càng được mở rộng với 120 nước trong đó thị trường châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật (chiếm gần 80% tổng kim ngạch).
“Do suy thoái thị trường châu Âu nên nhiều nhà máy chế biến gỗ trên thế giới tại Ý, Đức, Mỹ phải đóng cửa, sản phẩm gỗ Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá. Đây chính là cơ hội cho XK gỗ Việt Nam. Cùng với đó, khi Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết thuế suất cắt giảm sẽ mở ra nhiều cơ hội cho đồ gỗ của Việt Nam thâm nhập các quốc gia trong TPP”, ông Doãn Anh Tuấn nhận định.
Nhận định về những hạn chế của ngành gỗ, ông Phan Chí Dũng cho rằng mặc dù ngành sản xuất đồ gỗ nói chung và đồ gỗ mỹ nghệ nói riêng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, có kim ngạch XK lớn nhưng lợi nhuận và giá trị gia tăng của sản phẩm đồ gỗ chưa cao do chi phí đầu vào ở trong nước tăng mạnh, nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu là NK, giá trị gia tăng của sản phẩm XK thấp.
Trên thực tế 80% thị phần đồ gỗ, nội thất trong nước đang thuộc về các DN FDI, DN nội chỉ chiếm 20%, do đó tại thị trường trong nước, ngành gỗ Việt Nam lại đang bị lấn át bởi sản phẩm đồ gỗ NK hoặc sản phẩm sản xuất theo mẫu mã từ nước ngoài.
Bên cạnh đó theo ông Phạm Minh Đức – chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới (WB), đa phần các DN Việt Nam trong ngành sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có quy mô vừa và nhỏ, sản xuất với quy mô gia đình, vốn ít nên rất nhạy cảm với sự thay đổi của thị trường và kinh tế vĩ mô. Chi phí đầu vào trong sản xuất tăng nhanh, lãi vẫn còn cao, việc tiếp cận vốn vay của các Ngân hàng còn nhiều khó khăn.
Năng suất lao động thấp, trung bình một nhân công Việt Nam sản xuất được 1,9 sản phẩm ghế/ngày so với 4,5 sản phẩm ghế/ngày của Trung Quốc. Nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ XK đang thiếu trầm trọng, hàng năm phải nhập 80% gỗ nguyên liệu, chiếm tới 37% giá thành sản phẩm. Việt Nam cũng đang phải đối mặt với Đạo luật Lacey kiểm soát nguồn gốc gỗ nguyên liệu của Mỹ và các Luật Flegt, VTA, FSC của EU.
Để khắc phục những tồn tại của ngành gỗ, ông Phan Chí Dũng kiến nghị đối với Nhà nước cần xây dựng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và vùng nguyên liệu để làm căn cứ cho các DN có định hướng trong đầu tư phát triển. Ngoài ra, cần tạo điều kiện cho các DN, làng nghề, hộ gia đình chế biến gỗ được tiếp cận với nguồn vốn vay để đầu tư thiết bị hiện đại và đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Có biện pháp để giảm chi phí cho các DN nhất là điện, nước, vận tải và phí XNK...
Đối với các DN gỗ cần chủ động xây dựng thương hiệu sản phẩm để người tiêu dùng biết tới, đồng thời tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp thị hiếu thị trường. Đẩy mạnh việc tiếp thị, quảng bá sản phẩm của DN, xây dựng hệ thống phân phối để tiêu thụ sản phẩm. (Hải Quan 8/8; Pháp Luật TPHCM 8/8; Quân Đội Nhân Dân 7/8; Người Lao Động 8/8, tr12) đầu trang(
Đây là số tiền tỉnh Sơn La còn dư từ những năm trước, Bộ Tài chính yêu cầu tỉnh sử dụng để thực hiện Chương trình bảo vệ và phát triển rừng năm 2014.
Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Quốc hội phương án bổ sung kinh phí cho tỉnh Sơn La thực hiện Chương trình bảo vệ và phát triển rừng năm 2013, 2014, trên cơ sở báo cáo của tỉnh Sơn La và phương án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Cụ thể, năm 2013 tỉnh Sơn La được nhận số tiền 85,8 tỷ đồng, trong đó 36,811 tỷ đồng là vốn đầu tư, 48,99 tỷ đồng là vốn sự nghiệp. Số tiền này đã bao gồm cả kinh phí trợ cấp gạo cho hộ nghèo nhận chăm sóc, bảo vệ rừng, nhận rừng và đất trồng rừng sản xuất trong thời gian chưa tự túc được lương thực thuộc Chương trình 30a về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại 61 huyện nghèo.
Năm 2014, tỉnh Sơn La được nhận số tiền 30,1 tỷ đồng, trong đó 20 tỷ đồng là vốn đầu tư, 10,1 tỷ đồng là vốn sự nghiệp. Còn kinh phí trợ cấp gạo cho hộ nghèo nhận chăm sóc, bảo vệ rừng, nhận rừng và đất trồng rừng sản xuất trong thời gian chưa tự túc được lương thực thuộc Chương trình 30a được bố trí từ nguồn vốn sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Trong đó năm 2014, tỉnh Sơn La nhận được số tiền 121,051 tỷ đồng để thực hiện chương trình này.
Tuy nhiên, hết năm 2013, tỉnh Sơn La mới giải ngân được 75,8 tỷ đồng, còn dư 10 tỷ đồng chưa thực hiện. Năm 2014, tỉnh Sơn La mới phân bổ 11,767 tỷ đồng, còn 18,3 tỷ đồng chưa phân bổ.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề nghị tỉnh Sơn La chủ động sử dụng nguồn tiền của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (nguồn thu của tỉnh Sơn La khoảng 110 tỷ đồng/năm) để chi trả cho các đối tượng kịp thời. (Thời Báo Tài Chính VN 7/8) đầu trang(
Theo ông Vũ Minh Khôi, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh vừa phê duyệt kế hoạch và giao cho các đơn vị là chủ đầu tư dự án nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh phải trồng tổng cộng 1.912,9 ha rừng.
Nguyên nhân là do trong thời gian qua, các chủ đầu tư đã thu hồi, sử dụng diện tích rừng tương ứng để xây dựng các dự án thủy điện. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và PTNT đã xác định được 2.006,4 ha đất trống, đồi trọc để bàn giao cho các chủ đầu tư thủy điện trồng rừng.
Một số dự án thủy điện phải trồng rừng nhiều gồm Dự án nhà máy Thủy điện Đắk R’tíh; Dự án nhà máy Thủy điện Đồng Nai 3; Dự án nhà máy Thủy điện Buôn Tua Srah; Dự án nhà máy Thủy điện Đray H’linh II…(Báo Đắc Nông 6/8) đầu trang(
Nghị quyết số 129/2014/NQ-HĐND thông qua tại kỳ họp thứ 11, khóa XVI, Hội đồng nhân dân tỉnh về điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An sau khi điều chỉnh là 1.160.242,4 ha, trong đó: Diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng phòng hộ: 365.414,2 ha; diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng: 172.361,7 ha; diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch rừng sản xuất: 622.466,5 ha.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XVI, Kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 16 tháng 7 năm 2014 và có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày được thông qua.
Bãi bỏ các Nghị quyết sau đây của Hội đồng nhân dân tỉnh: Nghị quyết số 174/2006/NQ-HĐND ngày 15 tháng 12 năm 2006 thông qua kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Nghệ An, Nghị quyết số 89/2013/NQ-HĐND ngày 17 tháng 7 năm 2013 điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An và Nghị quyết số 113/2013/NQ-HĐND ngày 13 tháng 12 năm 2013 thông qua kết quả điều chỉnh 3 loại rừng huyện Tân Kỳ và Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. (Báo Nghệ An 4/8) đầu trang(
Đó là đánh giá của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ sau khi tham quan Cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp của doanh nghiệp tư nhân Tài Nguyên và nghe doanh nghiệp này báo cáo về Dự án đầu tư cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp công nghệ cao tại xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa vào ngày 5.8.
Dự án được triển khai với diện tích đất xây dựng 30.000m2, công suất dự kiến 9 triệu cây giống/năm, với tổng vốn đầu tư hơn 7,8 tỷ đồng. Dự án này khởi công xây dựng trong quý 3 năm 2014, đến quý 1 năm 2015 hoàn thành và đưa vào hoạt động.
Đây là dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp công nghệ cao chủ yếu bằng phương pháp nuôi cấy mô. Cây giống được sản xuất theo công nghệ bầu treo.
Theo đó, các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng được kiểm soát tự động; đảm bảo cây giống phát triển tốt nhất. Bước đầu sản xuất hai loại giống cây chính đó là keo và bạch đàn với nhiều dòng có nguồn gốc khác nhau như các giống keo lai tự nhiên, keo lai nhân tạo. Ngoài ra, dự án còn nghiên cứu, sản xuất một số cây dược liệu quý như: Sâm Ngọc Linh, Ba Kích, hoa phong lan, hoa đồng tiền, quế Trà Bồng…
Mục tiêu của Dự án là nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp nhằm đưa năng suất rừng trồng từ 20 tấn/ha/năm lên 30 tấn/ha/năm và giảm chu kỳ sản xuất chỉ còn 4-5 năm. (Báo Quảng Ngãi 7/8) đầu trang(
Ông Trần Anh Vũ, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến, trụ sở tại xã Phước Tiến (huyện Bác Ái) cho biết, đơn vị vừa nhập về 25.000 cây hoa lan Dendro (giống Thái Lan) để trồng thí điểm theo mô hình hoa lan thương phẩm.
Được biết, đây là giống lan nhiệt đới rất dễ trồng, có màu sắc đẹp và tuổi thọ của hoa khi nở dài hơn so với các giống lan khác. Tại các tỉnh phía Nam như Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh…mô hình lan Dendro đang được triển khai rộng và cho hiệu quả cao.
Trong đợt trồng thí điểm này, Công ty TNHH MTV Tân Tiến đã đầu tư khoảng 500 triệu đồng để xây dựng mô hình với diện tích 1 sào trên lâm phần cạnh khu vực công ty.
Trong đó, có 20.000 cây lan Dendro tím (tên khoa học: Earsakul) và 5.000 cây Dendro trắng ( tên khoa học: 5N White), dự kiến sẽ phục vụ cho thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. (Báo Ninh Thuận 5/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Phước Thanh vừa ký Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND quy định nhiệm vụ và quyền hạn của người làm công tác lâm nghiệp tại các xã có rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, người làm công tác lâm nghiệp xã tham mưu chủ tịch UBND xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp xã và được bố trí nơi làm việc, hỗ trợ một số trang bị làm việc cần thiết tại UBND xã, được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; người làm công tác lâm nghiệp xã được hưởng chế độ theo quy định tại Quyết định số 24/2103/QĐ-UBND ngày 21.8.2013 của UBND tỉnh về bố trí nhân sự và hỗ trợ kinh phí cho người kiêm nhiệm làm công tác lâm nghiệp đối với các xã có rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Quảng Nam 6/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF - World Wild Fund) vừa cảnh báo các nước ASEAN đang phải đối mặt với một mối đe dọa phi truyền thống liên quan đến an ninh khu vực là mất đa dạng sinh học.
WWF cho rằng sự tương tác giữa tất cả các loài động thực vật trong môi trường nhất định, cộng đồng của các sinh vật sống trong thiên nhiên và các gia đình, cộng đồng, quốc gia cũng như các thế hệ tương lai đều phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này. Đa dạng sinh học mất đi cũng có nghĩa là an ninh lương thực bị đe dọa và con người sẽ phải đối mặt với hạn hán, nạn đói, thậm chí có thể dẫn đến chiến tranh về nguồn nước giữa các vùng lãnh thổ.
Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), ASEAN là khu vực có sự đa dạng sinh học rất phong phú. Mặc dù chỉ chiếm 3% diện tích bề mặt Trái Đất, nhưng khu vực này là nơi trú ngụ của 18% các loài động thực vật trên thế giới.
IUCN cho rằng tuy ASEAN đã có Công ước về Đa dạng sinh học và thực hiện nhiều biện pháp trong khuôn khổ này như tuyên bố về các hệ sinh thái khác nhau hay tổ chức bảo vệ các khu bảo tồn ven biển, song điều này chưa đủ.
Bộ trưởng Lâm nghiệp Indonesia Belinda Aruwarnati Margano cho biết, trong những năm gần đây, nhiều diện tích rừng của các nước trong khu vực đã bị mất đi một cách đáng lo ngại: Indonesia mất tới 840.000 ha rừng (năm 2012), rừng Malaysia bị thu hẹp 353.000 ha (2011); Campuchia bị mất khoảng 7% diện tích rừng trong vòng 12 năm (2001-2013); còn Philippines đang mất khoảng 50.000 ha rừng mỗi năm.
IUCN cũng đã cảnh báo về tình trạng mất đa dạng sinh học ở Đông Nam Á bởi hiện nay đây là khu vực có tỷ lệ mất rừng ngập mặn cao nhất thế giới (26%) trong 25 năm trở lại đây, đồng thời cũng dẫn đầu về tỷ lệ tổn thất các rạn san hô. (Chính Phủ 7/8; VietnamPlus 7/8) đầu trang(
Mỗi năm, hoạt động buôn bán trái phép các sản phẩm từ động vật hoang dã quý hiếm mang lại nguồn lợi nhuận phi pháp lên đến hơn 10 tỷ USD, sau buôn bán ma túy, hàng giả, buôn người và buôn lậu xăng dầu.
Tại hội nghị liên chính phủ được tổ chức tại Geneva (Thụy Sĩ) hồi đầu tháng 7 vừa qua, các đại biểu bày tỏ sự lo ngại về nạn buôn lậu ngà voi tại Thái-lan, sừng tê giác ở châu Phi và một số khu vực khác.
Theo tổ chức Traffic thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quổc tế (WWF), sừng tê giác được bán trên thị trường "chợ đen" là 60 nghìn USD/kg, cao hơn cả giá vàng. Mật gấu hoặc bột làm từ mật gấu bán ở Nhật Bản nhiều hơn cocaine ở châu Á. Một chiếc mật gấu có giá bán cao gấp gần sáu lần so cocaine.
Nhu cầu của tầng lớp trung lưu tăng nhanh ở châu Á đang đẩy một số loài động vật quý hiếm tới bờ vực tuyệt chủng do bị săn bắt ráo riết. Sau khi nhà chức trách nhiều nước đẩy mạnh bảo vệ động vật quý hiếm, nguồn cung sừng tê giác, ngà voi, mật gấu... giảm khiến giá tăng vọt. Điều này càng làm cho các nhóm tội phạm lao vào buôn bán các sản vật hoang dã quý hiếm.
Nhu cầu về sừng tê giác, chân và mật của gấu đen châu Á, xương hổ và nhung hươu tăng mạnh vì nhiều người tin rằng chúng có khả năng chữa bệnh. Thí dụ như uống bột từ sừng tê giác được cho là chữa bệnh đau đầu, tăng cường sức khỏe cho nam giới... Hiện nhiều nhà khoa học đã lên tiếng bác bỏ chức năng chữa bệnh của sừng tê giác.
Tháng 2-2014, 42 nước, trong đó có Trung Quôc, Nhật Bản và các nước Liên hiệp châu Âu (EU), đã ký một tuyên bố chống buôn bán trái phép các sản vật hoang dã. Tại Trung Quốc và Thái-lan, những ai mua và tiêu thụ động vật hoang dã quý hiếm có thể bị phạt tù 5-10 năm tù giam.
Tại Nam Phi, một trong những nơi được xem là "nguồn cung" sừng tê giác và ngà voi lớn nhất thế giới, chính phủ nước này đã tiến hành nhiều biện pháp quyết liệt ngăn chặn các băng nhóm tội phạm săn bắn trộm tê giác và ngà voi; đẩy mạnh quá trình hợp tác đấu tranh và ngăn chặn việc buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sừng tê giác, ngà voi...(Thời Nay 7/8, tr22) đầu trang(
Một con voi trong khu vực bảo tồn động vật hoang dã đã tiến tới gần ô tô và “hỏi thăm” khiến hai khách du lịch được một phen hoảng sợ.
Những hình ảnh đáng kinh hãi được chụp lại bằng máy ảnh của anh Armand Grobler, 21 tuổi, một hướng dẫn thực địa và quản lý nhà nghỉ tại Vườn Quốc gia Pilanesburg ở Nam Phi.
Đang đi thăm thú trong chiếc xe VW Polo, hai người khách du lịch “khiếp vía” khi bất ngờ một con voi to lớn cúi xuống và cọ sát vào trần ô tô và nắp ca-pô của xe. Anh Armand cho biết: "Tôi đã từng nghiên cứu về hành vi của động vật, vì vậy tôi có những hiểu biết cơ bản trong tình huống này”.
Đây là hành động của voi đực khi nồng độ testosterone của nó tăng lên gấp 60 lần so với bình thường và nó đã “quyết định” giải tỏa bằng cách tiếp cận với chiếc ô tô. "Tuy nhiên, ngay cả khi nó đang rơi vào tình trạng này, nó cũng không có dấu hiệu tấn công hay làm ai hoảng sợ mà ngược lại tâm trạng của con voi còn vui tươi hơn".
Những con voi thường xuyên sử dụng các cây nhỏ và đá để “gãi ngứa” hoặc loại bỏ các ký sinh trùng - nhưng những chiếc xe ô tô trong vườn quốc gia cũng là một lựa chọn tuyệt vời.
Anh Armand nói thêm: "Chúng tôi không chắc chắn mình phải làm gì trong tình huống con voi tiến gần tới chiếc xe và khi chiếc xe tưởng như sắp sửa bị “nghiền nát”, chúng tôi lo sợ cho người lái xe và hành khách nhưng những gì chúng tôi có thể làm là rất hạn chế”.
May mắn, hai hành khách trong xe, một nam và một nữ, khoảng 20 đến 30 tuổi, không bị thương, toàn thân chỉ bị rung lắc nhẹ khi chú voi “hỏi thăm” chiếc xe. Cả hai đều bị sốc nhưng cảm thấy may mắn khi vẫn còn sống.
"Chiếc xe thì không may mắn như vậy. Từ những gì chúng tôi có thể nhìn thấy và nghe thấy, tất cả các cửa sổ bị vỡ, trần bị sứt mẻ và toàn bộ phần trên của xe bị đập vỡ. Tất cả bốn lốp xe đã bị lộ và khung".
Còn chú voi sau khi gây ra “thảm kịch” thì thản nhiên bỏ đi và khiến tất cả mọi người được một phen hoảng hốt. (Thời Báo Đông Nam Á 7/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||