|
Ngày 07 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
6.8, UBND tỉnh cho biết đã xử phạt vi phạm hành chính 75 triệu đồng đối với bà Trương Thị Bảo Khánh (SN 1973, ở xã Đại Minh, huyện Đại Lộc) vì đã có hành vi vi phạm mua bán hạt ươi với trọng lượng 847kg. Bà Khánh cũng bị tịch thu 847kg hạt ươi để sung vào ngân sách nhà nước.
Như vậy, kể từ đầu tháng 7.2014 đến nay, đây là trường hợp thứ 4 bị UBND tỉnh Quảng Nam xử phạt do mua bán hạt ươi trái phép.
Trước đó, ngày 10.7, ông Nguyễn Lân (43 tuổi, trú thôn Mỹ Hảo, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) đã bị xử phạt hành chính 150 triệu đồng và tịch thu 1.215kg hạt ươi.
Ngày 15.7, bà Trịnh Thị Tú Linh (SN 1965, trú TP. HCM) bị phạt 75 triệu đồng và tịch thu 830kg hạt ươi. Ngày 22.7, bà Nguyễn Thị Ngọc Thạch (SN 1973, trú Quảng Nam) bị phạt 150 triệu đồng và tịch thu 2.050kg hạt ươi. (Nông Thôn Ngày Nay 7/8, tr2) đầu trang(
Sau gần 2 tháng được lực lượng chức năng phát hiện bị vứt bỏ bên đường, hai cá thể hổ đang sống khỏe mạnh tại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã - Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An).
Trung tuần tháng 6/2014, trong lúc làm nhiệm vụ trên QL1A đoạn qua huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), lực lượng chức năng đã phát hiện chiếc xe tải khả nghi không mang biển kiểm soát thùng bịt kín chạy theo hướng Bắc - Nam. Khi lực lượng chức năng ra tín hiệu yêu cầu dừng kiểm tra, tài xế xe tải bất ngờ nhấn ga bỏ chạy.
Trên đường tháo chạy, những người ngồi trên xe tải liên tục vứt các vật cản ra đường khiến lực lượng chức năng gặp khó trong việc truy bắt. Chạy đến xã Quỳnh Hồng (huyện Quỳnh Lưu), người điểu khiển xe vi phạm bất ngờ đánh lái rẽ vào đoạn đường liên thôn, bỏ lại hai cá thể hổ rồi tẩu thoát.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng xác định hai cá thể động vật là 2 con hổ đã bị tiêm thuốc gây mê. Ngay sau đó, lực lượng liên ngành đã dùng xe đặc chủng chuyển hai cá thể hổ về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã - Vườn Quốc gia Pù Mát đóng tại địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An để chăm sóc, chữa trị.
Ông Lưu Trung Kiên, Trưởng phòng Khoa học cứu hộ động vật hoang dã - Hợp tác Quốc tế Vườn Quốc gia Pù Mát cho biết, hai cá thể hổ gồm đực và cái. Thời điểm được giải cứu, hổ đực bị thương chi trái trước, trong quá trình vận chuyển bị trói nên phù nề 4 chân. Hổ cái bị thương ở đầu, vết rách 1,5x3 cm. Cả hai cá thể đều trong tình trạng hôn mê sâu do bị gây mê liều nặng.
Thời điểm được giải cứu, cá thể hổ đực có trọng lượng 90 kg, cá thể cái nặng 75 kg. Theo cán bộ chăm sóc, sau gần 2 tháng được chăm sóc, chúng đã tăng trọng lượng lên nhiều. Sau gần 2 tháng được chăm sóc, cả hai cá thể hổ này đều khỏe mạnh, chạy nhảy tốt. Chế độ ăn hàng ngày là 1,36 triệu đồng/cá thể. Chuồng trại nuôi được thiết kế đảm bảo sự vận động của vật nuôi và giữ được sự an toàn cho người xung quanh.
“Hiện chúng tôi đang làm đề xuất tỉnh Nghệ An xin giữ lại để nuôi 2 cá thể hổ trên để nuôi nhốt và xin thành lập Trung tâm cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển động vật hoang dã. Tuy nhiên, việc này rất khó kinh phí thành lập trung tâm là rất lớn. Nếu không thể thực hiện được, chúng tôi sẽ chuyển 2 cá thể hổ cho trung tâm cứu hộ khác để nuôi”, ông Kiên cho biết thêm. (Theo Zing.vn 7/8) đầu trang(
Khơi mào và thúc đẩy cơ quan điều tra vào cuộc, làm sáng tỏ vụ ánphá rừng Khe Diên, ở huyện Quế Sơn (nay là huyện Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam được bắt đầu từ… báo chí.
Trong đó, Lao Động là một trong những tờ báo đầu tiên (năm 2007) vào cuộc và theo đuổi sự vụ cho đến khi có kết quả cuối cùng. Kết cục, nhiều quan chức của huyện và tỉnh có mặt trong số 9 bị cáo hầu toà nhưng... rừng đã bị phá.
Đáng lưu ý là, dù báo viết hoàn toàn đúng nhưng lúc đầu vẫn bị chính quyền địa phương phản ứng quyết liệt.
Năm 2005, khi dự án xây dựng thủy điện Khe Diên mới bắt đầu triển khai, UBND tỉnh Quảng Nam chỉ mới giao đất cho chủ dự án (Cty CP Sông Ba Hạ) trên bản đồ, nhưng chỉ với “giấy phép khai quang, tận thu, tận dụng gỗ lòng hồ thuỷ điện Khe Diên", Cty TNHH xây dựng Ngọc Sơn đã "thần tốc" phá cả ngàn hécta rừng nguyên sinh.
Từ đơn thư tố cáo, PV từ Đà Nẵng đã lặn lội hàng trăm cây số đến Nông Sơn để điều tra. Theo chân những nông dân bản địa vào hiện trường, chúng tôi ai cũng sốc trước cảnh rừng nguyên sinh bị đốn hạ, vận chuyển công khai như một đại công trường. Dẫu chỉ với kinh nghiệm, người dân vẫn khẳng định đây là âm mưu hợp thức hóa giấy tờ để phá rừng. Dù niềm tin của dân là có cơ sở, nhưng do chưa đủ tư liệu, PV cũng chỉ viết được vài bài đề cập đến việc phá rừng theo dạng nghi vấn.
Đến năm 2006, khi thủy điện Khe Diên hoàn tất việc xây dựng thân đập, tích nước đến đỉnh cao trình, lúc này, việc phá rừng trái phép, (ngoài diện tích ngập nước lòng hồ theo chủ trương cho tận thu) mới lộ diện. Thế nhưng, phải nhờ sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn, PV bóc tách các bản đồ mới chứng minh được lâm tặc đã móc nối với một đơn vị thiết kế, thay đổi đường đồng mức để tăng diện tích ngập nước ảo trên bản đồ, khai thác cả ngàn hécta rừng nguyên sinh sâu tận đầu nguồn sông Thu Bồn.
Ngoài hàng chục bài báo phản ánh diễn biến điều tra, báo Lao Động còn loạt 3 phóng sự điều tra “Vụ phá rừng lớn nhất Quảng Nam từ trước nay: Lợi dụng thuỷ điện, phá rừng công khai” gây chấn động dư luận với những chứng cứ điều tra độc lập.
Sau khi báo đăng, chính quyền Quảng Nam đã có những phản ứng tiêu cực, thậm chí có công văn phản bác báo Lao Động. Tuy nhiên, cơ quan thanh tra tỉnh cũng đồng thời vào cuộc. Sau thời gian, thấy có dấu hiệu tội phạm, thanh tra tỉnh chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh thụ lý. Ròng rã 2 năm điều tra, vụ án đã kết thúc với việc khởi tố 9 bị can, trong đó có nhiều quan chức từ cấp huyện đến tỉnh.
Trong loạt bài điều tra kéo dài hơn 3 năm, nhớ nhất là kỷ niệm với “nhân vật chính” của vụ phá rừng là ông Sáu Ngọc. Ông Ngọc là trùm khai thác gỗ rừng Khe Diên đã khét tiếng ở Quảng Nam. Người khai thác thuê, trâu kéo, xe chuyển gỗ... của Sáu Ngọc về xuôi, đi lại nghênh ngang trên đường được nghiễm nhiên xem là hợp pháp.
Kiểm lâm không hỏi, chính quyền làm ngơ, người dân khiếp sợ. Nhưng để có lá bùa hộ mệnh, do cùng quê với nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, ông Ngọc luôn rêu rao mình là em họ của ông Phúc.
Chỉ đến khi đặt bút viết loạt phóng sự điều tra, PV điện thoại, phỏng vấn trực tiếp Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Ông Phúc cho biết cũng nghe thông tin và rất bức xúc sự mạo danh này. Ông Phúc đề nghị báo chí điều tra quyết liệt, viết bài thẳng thắn dù Quế Sơn, Quảng Nam là quê hương của ông.
Chính sự quyết liệt, thẳng thắn của ông Nguyễn Xuân Phúc đã tạo điều kiện cho PV rất nhiều và góp phần bóc trần được vụ phá rừng lớn nhất Quảng Nam này. (Lao Động 7/8) đầu trang(
6.8, Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh (Cục Hải quan TP.HCM) cho biết đã bắt giữ một lô hàng trong đó chứa ba khúc ngà voi châu Phi.
Cụ thể, qua công tác thu thập, sàng lọc thông tin và kiểm tra tuyến trọng điểm từ Pháp về, bằng biện pháp nghiệp vụ, nghi vấn có mặt hàng cấm nhập khẩu, lãnh đạo Chi cục quyết định tiến hành kiểm tra một kiện hàng, trọng lượng 15,6 kg từ Pháp gửi về Việt Nam cho người nhận ngụ tại Đà Nẵng, khai báo khi làm thủ tục là hàng mẫu.
Kết quả kiểm tra đã phát hiện ba vật màu trắng ngà có hình dáng ngà voi, trọng lượng cân đuợc 14,6 kg. Số hàng này được Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam giám định là ngà voi châu Phi.
Hiện số ngà voi trên đã được Chi cục niêm phong, tạm giữ và đang điều tra, xử lý tiếp theo quy định. (Thanh Niên 7/8, tr2; Tin Tức 7/8; Quân Đội Nhân Dân 7/8, tr4; Sài Gòn Giải Phóng 7/8, tr) đầu trang(
Cả nhóm di chuyển lên khu vực Núi Tà Năng ở xã Phước Đại, tỉnh Ninh Thuận từ ngày 16/7 để đào tìm trầm.
Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Sắt phối hợp với Hạt Kiểm lâm, công an huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận vừa bắt giữ nhóm đối tượng khai thác trầm tại tiểu khu 76A trong khu vực di tích lịch sử núi Tà Năng huyện Bác Ái.
Tại cơ quan chức năng, 19 đối tượng đào trầm bị bắt cho biết, cả nhóm đều cùng quê ở Quảng Nam đi xe vào Ninh Thuận, sau đó di chuyển lên khu vực Núi Tà Năng ở xã Phước Đại từ ngày 16/7, để đào tìm trầm cho đến ngày bị phát hiện. Đây là lần đầu tiên nhóm đối tượng này đến đào tìm trầm ở địa phương.
Hạt kiểm lâm huyện Bác Ái và Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Sắt, tỉnh Ninh Thuận đã lập biển bản, tịch thu dụng cụ, phương tiện và cho các đối tượng làm cam kết không tái phạm hành vi xâm hại tài nguyển rừng và yêu cầu rời khỏi địa phương. (VOV 6/8) đầu trang(
Thời gian qua, tính trạng đầu nậu đứng ra thu mua các loại nông sản, dược liệu thậm chí là cây hoang, cỏ dại diễn ra tràn lan, Quảng Ninh không phải là ngoại lệ.
Dù các cấp ngành, đoàn thể đã khuyến cáo người dân cảnh giác trước những chiêu dụ mua gom của thương lái, song, hoạt động này vẫn thường xuyên diễn ra, đe doạ nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng tự nhiên, tạo nguy cơ tiệt chủng các loài thảo mộc, dược liệu quý hiếm.
Tại các huyện vùng núi của Quảng Ninh, hết đinh lăng, lá muôi, phất du..bị săn lùng, giờ thì đến loài lan kim tuyến đang đứng trước nguy cơ bị khai thác theo kiểu tận diệt. Sở dĩ có chuyện này bởi xuất hiện những tin đồn truyền tai: Lan kim tuyến có thể chữa bệnh ung thư và chỉ có ở núi rừng Bình Liêu, một huyện miền núi giáp giới với Trung Quốc.
Trên thực tế, việc mua bán loài cây rừng này đã và đang diễn ra, người dân cũng thừa nhận đã một đôi lần bán cây cho thương lái với giá rất cao. Thời gian đầu giá mua vào của đầu mối từ 150.000-170.000đ/kg tuỳ theo độ tươi của cây. Cũng có lúc nghe tin giá lên đến tiền triệu cho mỗi kg không phân biệt lá, thân, củ rễ.
Vì hám lợi, không ít người dân vùng cao đã bỏ cả ruộng nương để vào rừng tìm cây kim tuyến. Ở khu vực xung quanh cửa khẩu Hoành Mô, các hàng quán cũng đã bắt đầu xuất hiện các tụ điểm thu mua, xuất lậu loài cây này sang Trung Quốc theo các lối mở, đường mòn.
Khi loại lan hoang dã ở Bình Liêu bị khai thác cạn kiệt, người dân đã được các thương lái chỉ dẫn tìm nguồn khai thác ở những cánh rừng nguyên sinh, độ cao trên 500m trở lên như Yên Tử (Uông Bí), Đồng Sơn - Kỳ Thượng (Hoành Bồ)…
Tuy không rầm rộ như phong trào khai thác kỳ nam, trầm hương ở các tỉnh miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế), nhưng tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ninh, tình trạng nông dân rủ nhau bỏ việc vào rừng tìm lan giờ không còn là chuyện lạ.
Thông tin mới nhận được, Hạt Kiểm lâm huyện Bình Liêu đã phát hiện và xử lý vụ việc mua bán trái phép trên 2kg lan kim tuyến. Hiện toàn bộ số lan này đang được đơn vị chức năng trồng, chăm sóc.
Trong khi đó, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh cho biết, cách đây 3 năm số vụ vi phạm liên quan đến khai thác trái phép cây rừng bản địa quý lên đến hàng chục vụ mỗi năm, riêng các vụ vận chuyển trái phép cây rừng quý còn nhiều hơn. Nhưng trong 3 năm trở lại đây, bằng nhiều giải pháp quyết liệt hơn, tình trạng khai thác, mua bán cây rừng quý cũng đã giảm. trong 3 năm qua chỉ phát hiện chưa được 10 vụ vi phạm.
Trên thực tế, việc quản lý cây rừng, dược liệu tự nhiên không hề dễ, bởi rừng chiếm 3/4 diện tích các huyện miền núi, nhân lực hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của bà con nông dân (đa số là dân tộc thiểu số) rất hạn chế, việc kiểm tra, phát hiện được dã là rất khó thì nói gì đến ngăn chặn hiệu quả.
Chính vì vậy, không chỉ riêng gì lan kim tuyến bị săn lùng, nhiều loại cây khác vốn sinh trưởng tự nhiên bao đời nay trên vùng rừng núi Quảng Ninh như lan hài, lan một lá, cây tuế, cây bình vôi, nhội, huyết giác, chè vàng, dâu da đất, hoàng dương… cũng đang bị khai thác, buôn bán trái phép.
Được biết hiện nay một số quy định về công tác quản lý, xử lý các trường hợp vi phạm liên quan đến cây rừng quý còn bất cập. Theo quy định tất cả tang vật trong các vụ vi phạm loại này đều chuyển giao về tỉnh giải quyết với thời gian trong 30 ngày, trong khi đó không ít tang vật là các cá thể thực vật tươi sống, cần phải có hướng giải quyết ngay. Đấy là chưa nói do một số cây có kích thước rất nhỏ, không thể định giá trị kinh tế để đối chiếu với tính chất, mức độ vi phạm, số lượng tang vật thu được không đáng để chuyển về tỉnh giải quyết.
Vấn đề ở đây không phải là tang vật lớn hay nhỏ, giá trị kinh tế ra sao mà là chiến lược bảo vệ các nguồn gen tảo mộc quý hiếm. Chẳng hạn với cây lan kim tuyến, do số lượng ít, mọc rải rác và còn bị khai thác quá nhiều (với hình thức khai thác chặt cả cây) nên cây đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 2007 theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1a,c,d và bị cấm khai thác sử dụng mục đích thương mại.
Nhưng cơ sở để triển khai quản lý và xử lý vi phạm theo nghị định này thì ngành kiểm lâm chưa quán triệt, các ngành chức năng khác cũng vậy, hầu như cũng chưa thực sự tỏ tường quản lý và xử lý ra sao.
Đây chính là bất cập rất lớn trong công cuộc chống nạn khai thác, buôn bán vận chuyển thảo dược, nguồn giống quý hiếm đang đứng trước nguy cơ ngày càng cạn kiệt. (Công An Nhân Dân 5/8) đầu trang(
Những năm gần đây, nhiều loại lan rừng quý hiếm bị khai thác một cách nghiêm trọng, dẫn đến nguy cơ xóa sổ nguồn gen thực vật này.
Tại tỉnh Lâm Đồng, lan rừng được bày bán rất nhiều ở chợ Đà Lạt. Theo các nhà khoa học nhiều giống lan rừng đã bị thất thoát ra nước ngoài. Trong khi đó, ngành sản xuất hoa lan được đánh giá là có khả năng đem lại giá trị thương mại to lớn.
Hơn 20 năm qua, chương trình bảo tồn thực vật Việt Nam đã tổ chức gần 50 đợt khảo sát thực địa. Kết quả cho thấy, cách khai thác, sử dụng lan rừng đã đẩy loài thực vật này đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, nhất là đối với những giống lan quý hiếm. (VTV9 6/8) đầu trang(
Do ươi được giá nên xuất hiện cơn sốt săn trái ươi đã lan từ các tỉnh miền Trung đến Tây Nguyên khiến người dân ào ạt vào rừng thu lượm trái ươi. Song, điều đáng nói là người dân khai thác theo kiểu tận diệt.
Ươi là loại cây có giá trị kinh tế cao, quả được dùng làm thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng rất cao. Loài cây này mọc phổ biến trong thiên nhiên tại các khu rừng nhiệt đới thuộc các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các địa phương phía Đông của nước bạn Lào. Thời gian qua, do ươi được giá nên xuất hiện cơn sốt săn trái ươi đã lan từ các tỉnh miền Trung đến Tây Nguyên khiến người dân ào ạt vào rừng thu lượm trái ươi.
Song, điều đáng nói là người dân khai thác theo kiểu tận diệt. Nếu như những năm trước, người dân chỉ nhặt những quả ươi đã rụng; thì năm nay, nhiều người đi thành từng nhóm từ 3 - 7 người mang theo cưa máy, cưa tay vào rừng đốn hạ cây ươi, thậm chí hạ cả những cây to vài người ôm…
Một người đi khai thác ươi ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam) “vô tư” cho biết, cây ươi cao nên muốn hái cho nhanh thì phải hạ cây xuống chứ lượm theo kiểu truyền thống thì bao giờ mới được 1 kg . Nếu hạ cây xuống, mỗi người kiếm cũng được trên dưới chục kg; nếu được giá thì thu nhập cũng được vài triệu đồng/ngày/người.
Nhưng thu hoạch theo kiểu này thì năm sau coi như đói, vì khi đã hạ cây xuống rồi thì phải 10 năm sau cây mới lên lại. Đó là chưa nói đến việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Cũng từ việc thu hoạch ươi theo kiểu tận diệt như thế này, ở Quảng Nam đã có trường hợp bỏ mạng do bị cây đè.
Trước tình hình chặt cây ươi lấy quả như vừa qua, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 29/5/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý cây ươi trên địa bàn.
Thực hiện chỉ thị này, Phòng PC46 - Công an tỉnh Quảng Nam đã tập trung lực lượng trinh sát, nắm tình hình để kịp thời xử lý những hành vi vi phạm. Đến ngày 10/7/2014, Phòng PC46 đã lập biên bản xử phạt vi phạm 9 đối tượng về hành vi khai thác, vận chuyển ươi trái phép, phạt tiền 895 triệu đồng, tịch thu 10,074 tấn quả ươi. Tổng số tiền xử phạt và tiền bán tang vật nộp vào ngân sách nhà nước hơn 1,784 tỷ đồng…
Tuy nhiên, để giải quyết được gốc rễ của vấn đề thì cần phải có sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng. Ngay từ địa phương, chính quyền và các đoàn thể cần làm tốt công tác hướng dẫn người dân khai thác ươi một cách hợp lý, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ cây ươi. Các đơn vị kiểm lâm chủ động làm tốt công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức bố trí lực lượng bảo vệ tại các vùng có cây ươi phân bố nhiều.
Công an địa phương cần phối hợp với quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra và xử lý tình trạng mua bán, tàng trữ, kinh doanh hạt ươi trái phép, góp phần ổn định tình hình trật tự xã hội ở các địa phương… Có như thế mới mong bảo vệ được loài cây giá trị này trước nạn khai thác kiểu tận diệt....(Thời Báo Ngân Hàng 6/8, tr12) đầu trang(
Mới đây, tại UBND xã Nghĩa Kỳ, UBND huyện Tư Nghĩa tổ chức hội nghị trực báo đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR trong tháng 07 và triển khai kế hoạch tháng 08/2014.
Ông Lê Trung Thành – thường vụ huyện ủy – PCT UBND huyện chủ trì cuộc họp; lãnh đạo công an huyện, Hạt kiểm lâm huyện; Cơ quan quân sự huyện; trưởng ban chỉ huy bảo vệ rừng và PCCCR của 06 xã cánh tây của huyện.
Báo cáo nêu rõ: Trong thời gian qua thời tiết nắng nóng, khô hanh tiếp tục kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất cao. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo kịp thời của Chi cục kiểm lâm Tỉnh, UBND huyện Tư Nghĩa, cùng với sự phối hợp đồng bộ của lực lượng công an, cơ quan quân sự với Hạt kiểm lâm huyện trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Đồng thời BCĐ bảo vệ rừng và PCCCR của huyện Tư Nghĩa đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cho BCĐ bảo vệ rừng và PCCCR của các xã cánh tây đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng và PCCCR, từ đó người dân đã ý thức và có trách nhiệm trong công tác PCCCR.
Về kết quả thực hiện công tác PCCCR tháng 7/2014: Ban chỉ đạo các xã đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ PCCCR cho các hộ trồng rừng liền kề được 03 lớp có 179 hộ tham gia; cấp phát trên 250 tờ rơi về công tác BVR &PCCCR; 02 xã Nghĩa Sơn và Nghĩa Thọ tích cực tuần tra truy quét các đối tượng phá rừng phòng hộ đầu nguồn; hiện nay nhiều huyện miền núi người dân đã khai thác quả ươi và quả xay trái phép, tuy nhiên tại huyện Tư Nghĩa vẫn chưa phát hiện; kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND các xã kiểm tra gỗ rừng trồng để các chủ rừng được phép khai thác trên 1.600 mét khối gỗ; UBND huyện tổ chức cấp giấy chứng nhận QSDĐ rừng cho nhân dân 02 xã Nghĩa Sơn và Nghĩa Thọ…
Về nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 08/2014: Tiếp tục đẩy mạnh công tác BVR&PCCCR trong nhân dân; Kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND các xã có rừng, chủ rừng tiếp tục thực hiện tốt phương án PCCCR giai đoạn 2011 – 2015 đã được phê duyệt, hướng dẫn đôn đốc các thôn, bản thực hiện tốt quy ước bảo vệ rừng và phát triển rừng; xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra công tác PCCCR tại các khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng; các xã có rừng cần phối hợp với công an huyện tổ chức tuyên truyền lồng ghép giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR cho nhân dân; kiểm lâm địa bàn phải tham mưu cho Ban chỉ đạo các xã nắm chắc toàn bộ danh sách tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, chủ rừng tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR; Kiểm lâm địa bàn phối hợp với địa chính xã thống kê những hộ có diện tích rừng trồng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ để có kế hoạch phối hợp với Phòng TN&MT huyện có kế hoạch cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ trồng rừng.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác BVR&PCCCR trên địa bàn huyện vẫn còn một số tồn tại như: Một số người dân, chủ rừng vẫn tự ý đốt nương làm rẫy, đốt rừng sau khi khai thác gỗ nhưng không báo cáo cho chính quyền địa phương.
Sau khi nghe báo cáo của Ban chỉ đạo quản lý BVR&PCCCR của huyện, các địa phương có diện tích rừng, ông Lê trung Thành – Thường vụ huyện ủy – PCT UBND huyện – Trưởng ban chỉ đạo BVR&PCCCR của huyện ghi nhận sự cố gắng của các xã có diện tích rừng thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR trong thời gian qua và phát biểu chỉ đạo: Các địa phương phải kiên quyết xử lý những chủ hộ tự ý đốt thực bì để trồng cây lâm nghiệp nhưng không xin phép chính quyền địa phương; cần phải quản lý tốt việc khai thác mây tránh tình trạng xảy ra cháy rừng; các xã có rừng giáp ranh với những huyện lân cận thì cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tuần tra, truy quét để hạn chế tối đa việc phá rừng; UBND các xã phải thống kê toàn bộ diện tích đất rừng đã được cấp giấy chứng nhân QSDĐ và chưa được cấp giấy, để làm cơ sở cho Phòng TN&MT huyện tham mưu với UBND huyện chỉ đạo tổ chức cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ có diện tích rừng.
Công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại các xã có rừng là cơ sở giúp cho UBND huyện và BCĐ bảo vệ rừng và PCCCR của huyện triển khai những biện pháp cụ thể và sát thực hơn trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR đạt hiệu quả cao hơn. (UBND Huyện Tư Nghĩa 5/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Để đảm bảo các hoạt động, nhiệm vụ hằng ngày tại Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 (sau đây gọi tắt là Đội số 1), Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã tăng cường cán bộ hỗ trợ nghiệp vụ cho đội này trong thời gian số cán bộ, kiểm lâm phục vụ công tác điều tra nghi án nhận hối lộ.
Chiều 6/8, trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Vân - Trưởng phòng Thanh tra, pháp chế (Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa) cho biết: Ngày 1/8, sau khi xảy ra sự việc công an khống chế, bắt giữ kiểm lâm Lê Đức Hải, khám xét, thu giữ tài liệu tại Đội số 1, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã có những cuộc làm việc trực tiếp tại Đội số 1.
Theo đó, ngoài việc chỉ đạo cán bộ, kiểm lâm viên sẵn sàng hợp tác với cơ quan công an để phục vụ điều tra làm rõ sự việc, lãnh đạo chi cục cũng chỉ đạo toàn bộ lực lượng trong Đội số 1 đi làm bình thường, đảm bảo nhiệm vụ hằng ngày.
Trước đó, ngày 5/8, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã ký quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ông Lê Đức Hải và Lê Chí Thanh trong thời gian 15 ngày để phục vụ công tác điều tra của cơ quan công an.
Ngoài ra, cũng trong ngày 5/8, tám cán bộ, kiểm lâm viên tại Đội số 1 cũng đã nhận được giấy triệu tập của Bộ Công an, về Hà Nội để hỏi về việc xử lý xe vi phạm 37C- 06012. (Tiền Phong 7/8, tr13) đầu trang(
Liên quan đến vụ cán bộ kiểm lâm Thanh Hóa bị công an bắt quả tang vì nhận hối lộ, bên cạnh việc lên án và đề nghị phải xử lý nghiêm kiểm lâm viên vi phạm, dư luận cũng băn khoăn tình tiết người đưa hối lộ có bị xử lý không?
Luật sư Lê Quốc Hiền (Văn phòng Luật sư Lê Quốc Hiền - Thanh Hóa) sẽ chia sẻ ý kiến về vấn đề này.
Như tin đã đưa, sau khi bắt xe gỗ BKS 37C-060.12 và được Đội kiểm lâm cơ động số 1 đưa về Đội để tiến hành lập biên bản thì một người tên Nguyên xưng chủ hàng đến để làm "luật" hòng bỏ qua tội phạm.
Trong lúc đang đưa tiền cho cán bộ kiểm lâm Lê Đức Hải thì lực lượng Cảnh sát điểu tra phòng chống tội phạm tham nhũng (C48 -Bộ Công an) ập vào bắt quả tang. Hiện vụ việc đang được cơ quan điều tra xác minh làm rõ.
Liên quan tới sự việc trên, trao đổi với phóng viên, Luật sư Lê Quốc Hiền cho biết, phải chờ kết quả của cơ quan điều tra mới có thể kết luận đúng, sai. Tuy nhiên, về trực quan, sau khi xem thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng thì có thể nói hành vi của kiểm lâm viên Lê Đức Hải vi phạm Khoản 3 Điều 279 Bộ luật Hình sự về tội nhận hối lộ.
Nhận hối lộ có giá trị từ 50 triệu đồng cho đến dưới 300 triệu đồng sẽ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Hình phạt bổ sung có thể: "Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến ba năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hổi lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Luật sư Hiền cho biết thêm, đối với chủ hàng tên Nguyên, nếu hành vi của chủ hàng mà do công an tự theo dõi và phát hiện ra hành vi đưa hối lộ sẽ vi phạm Khoản 3 Điều 289 về tội đưa hối lộ và có thể bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm. Đưa hối lộ có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng thì hình phạt bổ sung có thể: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ".
Trường hợp hành vi của chủ hàng Nguyên mà khai báo trước sẽ được áp dụng như sau: "Người bị ép buộc đưa hổi lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ".
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ."Sẽ áp dụng Điều 25 về miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự” - Luật sư Hiền cho biết. (Pháp Luật VN 6/8, tr2) đầu trang(
Trong đợt tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII của ĐBQH tỉnh, nhiều cử tri đề nghị: Chính phủ xem xét điều chỉnh biên chế đối với lực lượng quản lý bảo vệ rừng cho các ban quản lý rừng phòng hộ từ 1 biên chế/1.000ha rừng lên thành 2 biên chế/1.000ha rừng phòng hộ; đồng thời, đề nghị xem xét phân bổ chỉ tiêu 1 biên chế/1.000ha rừng sản xuất (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng từ vốn ngân sách nhà nước).
Trên cơ sở ý kiến của cử tri, Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Yên đã có văn bản đề nghị Bộ Nội vụ xem xét giải quyết. Vấn đề trên, Bộ Nội vụ có Công văn số 2868 ngày 29/7/2014 trả lời cụ thể như sau:
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 "Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020’’; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thành hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Theo đó, từ nay đến năm 2016, cơ bản không tăng thêm biên chế (trừ trường hợp lập thêm tổ chức hoặc phát sinh nhiệm vụ mới).
Thực hiện các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ thực hiện việc quản lý chặt chẽ biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ngày 16/7/2014, Bộ Nội vụ đã có Văn bản số 2665/BNV-TCBC báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc sửa quy định hiện hành về định mức biên chế công chức kiểm lâm để phù hợp với quy định về quản lý biên chế công chức tại Luật Cán bộ, công chức, các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tế quản lý, bảo vệ rừng hiện nay. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với Bộ NN-PTNT tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm. (Báo Phú Yên 7/8) đầu trang(
6-8, Công an TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng cho hay vừa xử phạt hành chính công ty thành viên thuộc Tập đoàn Rừng Toàn Cầu (viết tắt là RTC, trụ sở tại TP.HCM). Công ty này đã tổ chức hội nghị, quảng cáo nhưng không được cấp giấy phép.
Theo cơ quan chức năng, chiều 5-8 tại làng biệt thự Osaka (P.3, Đà Lạt), đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an Đà Lạt bất ngờ kiểm tra Công ty cổ phần đầu tư phát triển kinh tế Rừng bền vững toàn cầu, là công ty thành viên RTC (viết tắt JSC, trụ sở tại Hà Nội) đang tổ chức hội nghị triển khai xây dựng dự án vườn ươm, con giống, vật nuôi giai đoạn 2013-2020 nhưng không có giấy phép từ cơ quan chức năng.
Sáng cùng ngày, tại trụ sở Công an Đà Lạt, ông Bùi Văn Giới - tổng giám đốc JSC - giải thích trước khi tổ chức hội nghị trên, đơn vị đã gửi văn bản báo cáo tại Công an P.3 và Sở Thông tin - truyền thông tỉnh Lâm Đồng.
Tuy nhiên, ông Giới thừa nhận cơ quan chức năng chưa đồng ý cho phép tổ chức hội nghị nhưng đơn vị vẫn tiến hành do thời gian gấp rút. Ngoài ra, đại diện JSC cũng chưa chỉ ra được tổ chức phi chính phủ nào tài trợ cho dự án, việc sử dụng vốn chưa rõ ràng...
Cơ quan chức năng đã lập biên bản sai phạm, phạt hành chính JSC với lỗi vi phạm tổ chức hội nghị, quảng cáo không có giấy phép. (Tuổi Trẻ 7/8, tr18) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 5500/UBND-NN&MT, ngày 04/8 về triển khai Công văn số 1129/TCLN-KL, ngày 28/7 của Tổng cục Lâm nghiệp, về việc đẩy nhanh thực hiện dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016.
Nhằm đánh giá kết quả công tác điều tra, kiểm kê rừng theo đúng quy định tại Quyết định số 594/QĐ-TTG ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016”; UBND tỉnh có ý kiến như sau: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh, khẩn trương hoàn thành công việc theo Nội dung Công văn nêu trên, tham mưu UBND tỉnh.
Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh báo cáo kết quả điều tra, kiểm kê rừng của tỉnh theo mẫu đính kèm, đúng nội dung và thời gian quy định. (Daklak.gov.vn 6/8) đầu trang(
Hiện tiết trời ở các huyện miền núi, rẻo cao có mưa nên khá thuận lợi cho công tác trồng rừng.
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các địa phương trong tỉnh Nghệ An đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vụ thu, chủ yếu là trồng rừng tập trung, trồng dặm, trồng cây phân tán đúng với kế hoạch được giao.
Thời điểm này đang rộ mùa trồng rừng, các vườn ươm của các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ… đã đầu tư đáp ứng nhu cầu cây giống phục vụ các địa phương. Tại vườn ươm của Ban Quản lý RPH Yên Thành những ngày này người vào lấy giống cây khá nhộn nhịp.
Ông Nguyễn Ngọc Ánh - Phó Giám đốc Ban Quản lý RPH Yên Thành cho biết: Những năm trước thường xảy ra tình trạng “cháy” giống cây. Nay nhờ chủ động cải tạo, mở rộng vườn ươm (hiện có 3 vườn ươm) được đầu tư trên 1 tỷ đồng nên trong năm 2014, ban đã chủ động sản xuất được 1,5 triệu cây giống các loại, bảo đảm chất lượng, đủ cung cấp cho các đơn vị trồng mới trên 400 ha rừng của Dự án trồng rừng WB3, rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Ngoài ra, ban còn phục vụ cây giống cho bà con trồng trên 500 ha rừng sản xuất trên địa bàn huyện Yên Thành. Xác định giống đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của việc trồng cây, ban đã tập trung lựa chọn những giống cây bản địa và ngoại nhập chất lượng tốt như bạch đàn, keo tai tượng, trám, lim xanh, lát hoa, mỡ… để ươm gieo.
Riêng keo nhập hạt từ Úc đã gieo ươm được gần 700.000 cây. Theo ông Ánh thì bình thường chỉ có 4 công nhân quản lý 3 vườn ươm, tuy nhiên để phục vụ kịp thời cây giống cho bà con chúng tôi phải thuê thêm trên 30 lao động thời vụ vừa đảo bầu, vừa chọn lựa cây giống cho khách hàng.
Thời điểm này tại Đô Lương cũng là mùa cao điểm trồng rừng, bà con khắp nơi đang đổ về Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương để lấy giống. Ông Trần Nam ở Bài Sơn - Đô Lương cho biết: Trước đây, chúng tôi lấy nguồn giống cây keo ở các cơ sở gia đình tự sản xuất không có giấy phép đăng ký. Giá giống rẻ nhưng chất lượng cây không đảm bảo thường bị còi cọc, phát triển chậm.
Bây giờ lấy cây giống tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương yên tâm hơn về chất lượng và nếu bị rủi ro về cây giống vẫn có thể được “bảo hành”. Được biết Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương sản xuất được trên 1,3 triệu cây giống các loại, trong đó sản xuất trên 70.000 cây keo nhập hạt từ Úc, trên 50.000 cây keo “nội” dâm hom, số còn lại là cây bản địa.
Hiện công ty đã xuất bán được trên 80.000 cây giống các loại, phục vụ đảm bảo giống trồng mới cho trên 600 ha rừng của Đô Lương và một số diện tích rừng của các huyện lân cận. Sản xuất giống cây tại đây luôn được chú trọng về chất lượng, được thực hiện đúng quy định, làm tờ trình nghiệm thu, kiểm tra và cấp chứng chỉ lô cây giống trước khi xuất để trồng rừng, người trồng rừng yên tâm về chất lượng cây giống.
Địa bàn tỉnh hiện có 32 tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp được cấp giấy phép hoạt động. Trong đó có 10 công ty lâm nghiệp; 19 đơn vị là các Ban Quản lý RPH, các Tổng đội TNXP, 1 hợp tác xã lâm nghiệp và 2 hộ gia đình. Đến thời điểm này đã tạo được 25.201.912 cây giống các loại, trong đó các đơn vị lâm nghiệp đã tạo giống được 20.819.866 cây.
Hiện tại các đơn vị đang tiếp tục tạo giống đảm bảo cho trồng rừng vụ thu thực hiện kế hoạch trồng 15.000 ha rừng. Ông Nguyễn Tiến Lâm - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết: Vụ trồng rừng năm nay các đơn vị lâm nghiệp đã tạo đủ nguồn giống cây đáp ứng nhu cầu trồng rừng trên toàn tỉnh, không để xảy ra tình trạng thiếu giống, “cháy” giống cây trồng.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất giống đều thực hiện đúng quy định, làm tờ trình nghiệm thu, kiểm tra và cấp chứng chỉ lô cây giống trước khi xuất để trồng rừng. Một số cây trồng lâm nghiệp chính được quản lý chất lượng theo chuỗi hành trình như keo các loại (keo lai dâm hom, keo hạt), bạch đàn.
Để nâng cao chất lượng giống cây trồng, Sở NN&PTNT tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, trong đó đặc biệt quan tâm đến nguồn gốc các lô giống đưa vào sản xuất. Kiên quyết không cho phép sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc.
Ngành Lâm nghiệp đang tập trung đầu tư phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao gắn với nâng cấp, sửa chữa các vườn ươm giống ở các Ban quản Quản lý RPH, các Công ty TNHH-MTV lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, Sở NN&PTNT thành lập đoàn kiểm tra thường kỳ tại các đơn vị sản xuất giống. Cụ thể là kiểm tra hồ sơ giống, nguồn gốc hạt giống, kiểm kê công tác gieo ươm, trước khi xuất vườn được kiểm kê đánh giá chất lượng.
Ngoài ra, công nghệ sản xuất, lưu giữ các loại giống gốc, nhân giống bằng mô - hom đối với các loài cây nguyên liệu cũng đang từng bước được áp dụng, nhằm cung ứng nguồn giống đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng trên địa bàn tỉnh.
Anh Vi Tuấn ở bản Bãi Xa (Tam Quang – Tương Dương) cho biết: Trong năm 2014, gia đình tôi đăng ký trồng 2,2 ha rừng, nhưng trồng vụ xuân tiết trời khô hanh không hiệu quả nên ngay từ ngày 20/6, chúng tôi đã chuẩn bị đủ các điều kiện để tập trung trồng rừng vụ thu.
Đến thời điểm này đã trồng được khoảng 1,8 ha rừng, do tiết trời âm u, có mưa nên bước đầu cây sinh trưởng tốt. Theo anh Tuấn thì những năm qua cây keo lai khó tiêu thụ nên 2,2 ha đất gia đình chủ yếu trồng hỗn giao xoan, lát để sau này dễ tiêu thụ.
Theo cơ chế, Nhà nước sẽ hỗ trợ bằng nguồn vốn của Chương trình 30a là 5 triệu đồng/ha trồng rừng, tuy đến thời điểm này chương trình mới cấp được đủ giống, nhưng bà con đều tự bỏ kinh phí để trồng rừng. Được biết bản Bãi Xa có 11 hộ tham gia trồng rừng với 11,1 ha, đến thời điểm này đã trồng được 10 ha, dự định khoảng 5 ngày tới sẽ trồng xong.
Ông Hồ Viết Sơn - Chủ tịch UBND xã Tam Quang cho hay: Thực tế hầu hết diện tích đất rừng của Tam Quang đã được phủ xanh đất trống, đồi trọc. Trong năm 2014 chỉ tiêu huyện giao trồng 77 ha rừng, sau khi rà soát, xã đã đăng ký trồng 113,2 ha rừng, chủ yếu ở những diện tích điều kiện giao thông khó khăn, nằm cách xa khu dân cư.
Mặc dù gặp không ít khó khăn như thiếu vốn, địa hình hiểm trở, phức tạp nhưng tranh thủ thời tiết thuận lợi, đến thời điểm này bà con đã trồng được trên 100 ha rừng. Trong đó, nhiều bản đã trồng xong diện tích được giao như bản Sơn Hà trồng được 22,2 ha, bản Tam Bông trên 30 ha… Bên cạnh đó bà con còn tự bỏ vốn trồng được khoảng trên 40 ha mét dọc sông Lam và khe suối. Chủ yếu trồng rừng hỗn giao theo tiêu chuẩn 450 cây lát và 595 cây xoan/ha.
Ông Lô Văn Thanh - Phó phòng nông nghiệp Tương Dương cho biết thêm: Theo chỉ tiêu của tỉnh, năm 2014 Tương Dương được giao trồng trên 1.300 ha rừng, ngay từ vụ xuân huyện đã triển khai trồng trên 30% diện tích, do thời tiết bất lợi nên 70% diện tích còn lại tập trung trồng trong vụ thu.
Đến thời điểm này toàn huyện đã trồng được trên 1.000 ha rừng, trong đó nhiều xã đã thực hiện trồng rừng đạt trên 90% diện tích như xã Tam Đình, Nga My, Xiêng My, Yên Hòa… Để trồng rừng đạt hiệu quả, chất lượng, ngoài thực hiện tốt công tác quy hoạch, thiết kế, các xã trồng rừng đều có từ 2-3 cán bộ kỹ thuật phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông huyện “cắm” ở cơ sở để giám sát, hướng dẫn cho bà con quy trình trồng rừng.
Đặc biệt, để tạo thuận lợi cho đầu ra cây nguyên liệu, vụ trồng rừng năm 2014, Tương Dương chủ yếu đưa vào trồng các loại cây như xoan, lát. Bà con được khuyến cáo bón các loại phân phù hợp trước khi trồng, tăng cường bảo vệ cây trồng chống trâu, bò phá hoại. Diện tích trồng rừng trên 1.300 ha đều được hỗ trợ 5 triệu đồng/ha từ Chương trình 30a.
Tại huyện Con Cuông, các xã đều đang khẩn trương tập trung trồng rừng. Theo chỉ tiêu của tỉnh, Con Cuông sẽ trồng gần 1.500 ha rừng, trong đó 500 ha rừng trồng theo Dự án 147, diện tích còn lại là do dân tự bỏ vốn trồng. Đến thời điểm này huyện đã trồng được trên 1.000 ha, trong đó 500 ha thuộc Dự án 147.
Nét mới trong trồng rừng năm nay là số diện tích trồng theo Dự án 147 chủ yếu là giống keo nhập ngoại (keo Úc) do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông ươm. Trồng keo Úc có lợi thế là cây to, được giá và dễ tiêu thụ, trong khi “keo nội” hiện tại khó tiêu thụ, tính ra bị lỗ.
Theo bà Mai Thị Bình - Phó phòng Nông nghiệp huyện Con Cuông thì trồng loại keo Úc (keo tai tượng) để đạt hiệu quả huyện đã hướng dẫn bà con cần áp dụng đúng quy trình: Như đất trồng keo tai tượng cần được phát dọn sạch thực bì quanh hố với đường kính 1 - 1,2 m.
Trường hợp trồng rừng tập trung nên phát dọn toàn bộ diện tích là tốt nhất. Hố trồng cây có kích thước 40 x 40 x 40 cm. Lấp 2/3 hố bằng lớp đất mặt tơi nhỏ + phân bón, lượng phân bón từ 2 - 5 kg phân chuồng hoai mục hoặc 0,2kg NPK/hố, trộn đều phân với lớp đất mặt, sau đó lấp đầy hố bằng hỗn hợp đó theo hình mâm xôi để trồng cây. Trồng dặm lại những cây bị chết sau khi trồng 8 - 10 ngày. Con Cuông đang phấn đấu đến hết tháng 8/2014 sẽ trồng xong diện tích trên.
Tính đến thời điểm này toàn tỉnh trồng rừng tập trung đạt trên 9.222 ha/15.000 ha đạt 61,5% kế hoạch giao, trồng cây phân tán được 4,3 triệu cây/5 triệu cây, đạt 86% kế hoạch. Trong đó doanh nghiệp và hộ dân tự bỏ vốn trồng được 6.103 ha/9.360 ha, đạt 65,2%. Nhiều huyện thực hiện tốt chỉ tiêu như Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp…
Điểm khác biệt của trồng rừng năm nay là Sở NN&PTNT đã chỉ đạo trồng tăng diện tích keo nhập ngoại (keo Úc) nhằm hạn chế keo dăm, tăng cường keo gỗ lớn để tăng thêm giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích.
Theo các nhà chuyên môn, giống keo nhập hạt từ Úc có ưu điểm vượt trội: Bộ rễ khỏe ăn sâu giữ độ ẩm cho đất tốt, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng sinh khối lớn, sau một chu kỳ 5 - 7 năm đạt 100 - 120 khối/ha, không làm đất bạc màu, giá cây giống phù hợp, thị trường tiêu thụ gỗ keo thuận lợi.
Gỗ keo nếu được sơ chế thành các sản phẩm gia dụng theo các đơn đặt hàng thì giá trị có thể tăng gấp đôi, gấp ba, như vậy sẽ tạo điều kiện để các địa phương phát triển thêm ngành nghề chế biến lâm sản. Dự định kết thúc vụ trồng rừng toàn tỉnh sẽ trồng được khoảng trên 6.000 ha keo nhập ngoại (keo Úc).
Đối với nguồn vốn đầu tư tại Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 15/1/2014 đến nay các dự án đã thực hiện được 2.162,9 ha/2.640 ha, đạt 82% kế hoạch. Tuy nhiên, có một số đơn vị triển khai quá chậm như Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn (kết quả trồng rừng đặc dụng mới thực hiện được 6 ha/50 ha, đạt 12% kế hoạch).
Dự án WB3 đã thực hiện được 956,2 ha/1.800 ha kế hoạch, đạt 53,6%, vẫn ở mức trung bình, chỉ riêng huyện Yên Thành đạt tỷ lệ cao nhất 196 ha/280 ha, đạt 70% kế hoạch, huyện Thanh Chương, thực hiện 215 ha/530 ha, đạt 40,5%.
Khó khăn đặt ra hiện nay là riêng Dự án JICA2 trong năm 2014 kế hoạch trồng 800 ha rừng phòng hộ tại 3 huyện Tương Dương, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, đã qua 7 tháng nhưng công tác trồng rừng của dự án vẫn chưa triển khai được.
Tại Ban Quản lý RPH Tương Dương, Dự án JICA2 được thực hiện 300 ha nhưng có 221 ha tại bản Huồi Pai, xã Yên Tĩnh người dân không nhận khoán, Sở NN&PTNT chỉ đạo Ban Quản lý RPH Tương Dương rà soát lại và có phương án xin chuyển vùng, tuy nhiên kết quả thiết kế điều chỉnh chỉ đáp ứng được 110 ha/300 ha, đạt 37%.
Tại Ban Quản lý RPH Tân Kỳ một số diện tích trong quy hoạch trồng rừng của Dự án JICA2 chưa đạt yêu cầu của dự án. (Báo Nghệ An 6/8) đầu trang(
Trong thời gian qua, Quảng Ninh đã rất nỗ lực trong việc trồng mới và hồi sinh những cánh rừng ngập mặn (RNM).
Tuy nhiên, trước những biến đổi của khí hậu ngày càng trở nên phức tạp, ô nhiễm môi trường... thì việc khôi phục và trồng lại RNM là vô cùng khó khăn, tốn kém.Trên thực tế cho thấy, có những khu vực tỉ lệ cây sống thành rừng chỉ đạt từ 50-60%.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển thành công một số loài cây giống trồng rừng chịu mặn chủ yếu trên ruột bầu hữu cơ nhẹ của 2 kỹ sư Đỗ Thanh Vân và Trần Văn Sáng (Trung tâm KH&SX Lâm nông nghiệp Quảng Ninh), đang được coi là giải pháp kỹ thuật tháo gỡ được một phần bài toán về kinh phí và tăng nguồn gen trong bảo tồn đa dạng sinh học loài.
Chia sẻ về ý tưởng giải pháp trên, kỹ sư Đỗ Thanh Vân cho biết: “Năm 2008, trong một chuyến đi học tập, nghiên cứu tại Trung Quốc, khi tham quan thực tế mô hình sản xuất bầu siêu nhẹ đối với cây giống bạch đàn giống U6, Quảng Lâm 9, PN13... chúng tôi đã đặt vấn đề tại sao ta lại không sản xuất cây bầu hữu cơ nhẹ cho cây trồng RNM.
Đến năm 2010- 2011, Quảng Ninh hợp tác với JICA sản xuất thành công bầu giá thể nhẹ để tạo cây giống Rhizophora stylosa; Kandelia candel; Aegiceras corniculatum; Avicennia marina... mang ra trồng tại Vụng Ba Cửa trên Vịnh Hạ Long. Các giá thể hữu cơ nhẹ này được thải ra từ trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi nhưng do nhập từ Nhật Bản về lên giá thành rất đắt. Tại sao không dùng các giá thể nhẹ ngay tại địa phương để sản xuất cây giống chịu mặn trên ruột bầu hữu cơ? Và ý tưởng của chúng tôi đã ra đời”.
Được biết, ngay sau khi có ý tưởng trên, kỹ sư Đỗ Thanh Vân và Trần Văn Sáng đã quyết định đầu tư 30-40 triệu đồng để tiến hành điều tra, khảo sát địa điểm vườn ươm, thu thập hạt giống. Vườn ươm thực hiện tại khu vực bãi triều phường Tuần Châu (TP Hạ Long) với diện tích 3.000m2, được đắp đê bao, chống triều cường mạnh; hạt giống được thu hái, tuyển chọn đúng tiêu chuẩn, tại cây trội vùng RNM xã Đồng Rui (huyện Tiên Yên) và rừng trồng bảo vệ đê biển Hoàng Tân (TX Quảng Yên).
Qua nhiều lần tiến hành khảo nghiệm, thực hiện tạo bầu hữu cơ nhẹ và đối chứng thực tế cho thấy, với tỷ lệ 40% vỏ trấu hun, 40% lõi ngô, 20% phân hữu cơ đã cho hiệu quả cao, hoàn toàn phù hợp với sự phân huỷ, tạo chất dễ tiêu cho cây trồng trong môi trường hiếm khí và nước.
Sau khi thực hiện thành công, giải pháp đã được 2 tác giả ứng dụng ngay trong hợp đồng kinh tế với tổ chức JICA tại Quảng Ninh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình và Công ty Sản xuất dịch vụ sản phẩm nông nghiệp Công nghệ cao Yên Hưng. Các đơn vị trên đánh giá cao giải pháp khi không khai thác sử dụng đất ngập mặn làm ruột bầu từ tự nhiên, không phá vỡ môi trường đất ngập mặn và môi trường cư trú của động vật, cho tỷ lệ cây sống đạt trên 95%.
Công tác vận chuyển cây không mất nhiều chi phí do cây giống giảm được trọng lượng bầu từ 30-50% khi xuất vườn. Đồng thời, giúp người nông dân tăng thu nhập từ phế thải nông nghiệp, chăn nuôi…
Quan trọng hơn cả là giá thành sản xuất cây giống bằng giá thể bầu hữu cơ nhẹ thấp hơn rất nhiều so với việc nhập giá thể từ nước ngoài. Trung bình 1kg giá thể nhẹ nhập từ Nhật về sẽ mất khoảng 80-90 USD/kg, trong khi đó việc tận dụng những nguyên liệu trên ngay tại địa phương chỉ mất khoảng 7.000-10.000 đồng/kg, nên việc sản xuất cây giống ngập mặn đủ tiêu chuẩn cũng chỉ mất từ 4.300-5.500 đồng/cây. Quá trình chăm sóc cây tại vườn ươm cũng khá đơn giản, người dân chỉ cần theo dõi và phòng chống sâu bệnh, nhặt rác trôi đè vào cây giống...
Mặc dù, tính ưu việt của giải pháp đã được chứng minh, tuy nhiên, theo kỹ sư Đỗ Thanh Vân, do nguồn kinh phí hạn hẹp nên hiện nay ông vẫn chưa đầu tư được hệ thống vườn ươm cứng có diện tích rộng và việc đóng bầu vẫn bằng thủ công.
Nếu được tỉnh tạo điều kiện giao mặt bằng bãi triều từ 2-3ha để xây dựng 2 vườn cây nước lợ và nước mặn; đầu tư máy đóng bầu… thì vườn ươm có thể cho sản lượng cây giống chịu mặn chất lượng cao từ 500.000-1.000.000 cây giống/năm. Đồng thời cũng là nơi chuyển giao, học tập công tác tạo cây giống chịu mặn cho người dân, doanh nghiệp có nhu cầu.
Có thể thấy, khả năng sử dụng bầu hữu cơ nhẹ sẽ thay thế giá thể bầu đất truyền thống là một hướng đi mới trong ngành tạo cây giống phục vụ trồng cây chịu mặn đại trà trong tỉnh, tăng nguồn gen trong bảo tồn đa dạng sinh học loài. Các cấp ngành cần sớm có sự quan tâm đầu tư để giải pháp phát huy hết hiệu quả. (Báo Quảng Ninh 6/8) đầu trang(
Đó là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm tại buổi làm việc với đại diện các sở, ngành; các huyện, thị xã để xem xét tiến độ thực hiện một số dự án chuyển đổi rừng theo Kế hoạch số 49/KH-UBND, ngày 28-2-2014 của UBND tỉnh về thực hiện các dự án theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, được tổ chức sáng 5-8.
Theo kế hoạch của UBND tỉnh, 6 dự án chuyển đổi rừng được tiếp tục triển khai thực hiện với tổng diện tích 3.033,9 ha phải hoàn thiện hồ sơ và thực hiện xong dự án trong năm 2014.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, một số dự án chỉ đang trong giai đoạn hoàn thiện hồ sơ và một số chưa triển khai thực hiện. Nguyên nhân do địa hình thực hiện các dự án có độ dốc lớn; hiện trạng rừng trong khu dự án không còn phù hợp, do đó chủ đầu tư phải hợp đồng với đơn vị tư vấn thực hiện điều tra đánh giá lại hiện trạng rừng.
Đối với 4 dự án định canh, định cư, cấp đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và dân địa phương không có đất sản xuất với tổng diện tích 365 ha, đến nay đã hoàn thiện hồ sơ và được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Đồng thời, các chủ dự án đã lập hồ sơ thiết kế khai thác tận thu lâm sản và hồ sơ đánh giá tác động môi trường, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Riêng dự án trên địa bàn huyện Đồng Phú, do sai sót trong quy hoạch vị trí nên đến thời điểm hiện tại đang thực hiện.
Đối với 7 dự án còn lại có tổng diện tích 5.761 ha, đến nay có 3 dự án đã hoàn thiện hồ sơ đánh giá hiện trạng rừng. Đó là: Dự án giao Bộ Tư lệnh Binh đoàn 16; dự án giao Công an tỉnh Bình Dương; dự án trồng cao su phục vụ cho dự án bảo tồn căn cứ Bộ chỉ huy Miền Tà Thiết.
Riêng dự án trồng cao su tạo quỹ đất làm đường đoạn An Lộc - Hoa Lư đã thực hiện xong việc điều tra, đánh giá hiện trạng rừng và đang hoàn thiện hồ sơ báo cáo. 3 dự án còn lại chưa triển khai thực hiện, gồm dự án chăn nuôi tập trung, phục vụ du lịch sinh thái Bù Gia Mập; dự án giao doanh nghiệp kinh tế Đảng tỉnh Bình Phước và dự án tạo quỹ đất ổn định dân cư, cấp đất sản xuất cho các hộ dân không có đất trên địa bàn các huyện.
Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo: Đối với diện tích có độ dốc lớn tại Nông lâm trường Bù Đốp, chủ dự án phải khảo sát và đánh giá lại địa hình. Về dự án cấp đất sản xuất cho các hộ dân thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Đồng Phú phải chỉnh sửa vị trí sao cho đúng tọa độ địa lý.
Bên cạnh đó, các chủ dự án cần nhanh chóng hoàn thành việc khảo sát đánh giá, hoàn thiện hồ sơ để các dự án hoàn thành đúng thời gian dự kiến. (Báo Bình Phước 6/8) đầu trang(
Chiều 6/8, UBND tỉnh tổ chức buổi làm việc với đoàn công tác của Ban quản lý các dự án phát triển lâm nghiệp T.Ư về dự án phát triển lâm nghiệp ở Hoà Bình sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Đức.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì buổi làm việc. Tham dự buổi làm việc có lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh, các sở, ngành: NN&PTNT, KH&ĐT, Tài Chính, KH&ĐT.
Nguồn vốn ODA đầu tư vào lâm nghiệp tại tỉnh ta có dự án phát triển lâm nghiệp (Kfw7) do nước Cộng hòa liên bang Đức đầu tư vốn vay và vốn viện trợ không hoàn lại. Dự án Kfw7 được thực hiện từ tháng 5/2007 đến nay trên địa bàn thành phố Hòa Bình và các huyện: Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Sơn, Kỳ Sơn.
Dự án được thực hiện với 4 hợp phần chính là thiết lập rừng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng địa phương, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng. Đến hết tháng 7, dự án đã trồng mới được 2.595,61 ha, đạt 99,22%; khoanh nuôi tái sinh được 2.552,96 ha, đạt 132,27%; đã mở được 2.536 tài khoản tiền gửi cho các hộ dân và 33 tài khoản tiền gửi cho cộng đồng tham gia khoanh nuôi tái sinh, quản lý rừng cộng đồng với số tiền trong tài khoản trên 21 tỉ đồng.
Các hợp phần khác cũng được thực hiện đảm bảo tiến độ đề ra. Ngoài 4 hợp phần chính, dự án còn triển khai các chương trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ dự án các cấp và người dân; tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo chuyên đề, các chuyến tham quan học tập trao đổi kinh nghiệm về quản lý và thực hiện dự án.
Ban QLDA các huyện tổ chức 145 lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và KNTS rừng cho các hộ dân tham gia dự án. Đến nay, dự án đã giải ngân được 78.247 triệu đồng, trong đó vốn vay KfW 52.652 triệu đồng; vốn đối ứng của tỉnh 24.746 triệu đồng.
Tại buổi làm việc, Ban quản lý dự án Kwf7 đã nếu ra những khó khăn như quỹ đất đã quy hoạch cho dự án tại các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, TPHB bị thu hẹp nên không triển khai trồng rừng được; vốn đối ứng năm 2014 của tỉnh còn thiếu 6,8 tỉ đồng; việc cấp sổ đỏ riêng cho các hộ dân khó thực hiện...
Do đó BQL dự án Kfw7 đề nghị UBND tỉnh cấp đủ vốn đối ứng chi trả cho các hoạt động năm 2014, chỉ đạo Sở TN&MT hướng dẫn các huyện vùng dự án thực hiện trích lục giao đất, cấp sổ đỏ đối với diện tích trồng rừng. Đề nghị BQL dự án T.Ư xây dựng điều chỉnh kế hoạch tổng thể cho phù hợp thực tế, trong đó bổ sung nguồn vốn để thực hiện hợp phần phát triển cộng đồng cho huyện Lạc Sơn.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao và ghi nhận dự án Kfw7 được triển khai trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo chuyển biến trong cải thiện môi trường và đời sống của người dân vùng dự án.
Ông khẳng định sẽ ứng ngân sách để có vốn đối ứng với nhà tài trợ phấn đấu hoàn thành dự án theo đúng kế hoạch đề ra. Đồng thời giao Sở Tài chính và Sở Kế hoạch Đầu tư tổng hợp cân đối các nguồn vốn đối ứng ODA của các dự án theo tiến độ hàng năm báo cáo UBND tỉnh. (Báo Hòa Bình 6/8) đầu trang(
Bắc Hà, Lào Cai: Trồng mới 950 ha rừng
Theo kế hoạch, năm 2014, huyện Bắc Hà sẽ trồng mới 950 ha rừng (250 ha rừng phòng hộ, 700 ha rừng sản xuất).
Đến nay, huyện Bắc Hà đã cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập thiết kế trồng rừng, trình cơ quan chức năng thẩm định, phê duyệt.
Hiện, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bắc Hà đã chuẩn bị 2,5 triệu cây giống (quế, sa mộc, thông mã vĩ…); trồng mới được 56 ha rừng sản xuất. Huyện Bắc Hà phấn đấu hoàn thành công tác trồng rừng năm 2014 vào cuối tháng 11.
Được biết, diện tích trồng rừng mới năm 2014 của huyện Bắc Hà tăng 450 ha so với năm 2013. (Báo Lào Cai 6/8) đầu trang(
6/8, Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên cùng đại diện các bộ, ban ngành Trung ương đã có buổi làm việc về giám sát công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Gia Lai. Nhiều vấn đề nóng liên quan đã được nêu ra, mổ xẻ để tìm nguyên nhân.
Trong sáu tháng đầu năm 2014, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra hơn 600 vụ vi phạm luật Bảo vệ - Phát triển rừng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính gần 530 vụ và xử lý hình sự 18 vụ.
Qua đó, tịch thu khoảng 420 mét khối tròn, 815 mét khối gỗ xẻ từ nhóm 1 đến nhóm 5, thu giữ gần 100 chiếc xe các loại dùng để vận chuyển gỗ. Tổng số tiền thu, nộp vào Kho bạc Nhà nước gần 10 tỷ 300 triệu đồng.
Đáng chú ý, mặc dù tại Gia Lai không còn chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên, nhưng hiện vẫn còn rất nhiều cơ sở chế biến gỗ được cấp phép hoạt động, nhiều cơ sở nằm ở trong hoặc sát với rừng tự nhiên. Đây là một bất cập, khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp nêu thực tế qua quá trình giám sát tại địa phương: “Gia Lai là tỉnh có nhiều cơ sở chế biến nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên. Tới 276 cơ sở chế biến lấy gỗ từ rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên.
Trong khi đó, trồng rừng của tỉnh Gia Lai là thấp nhất trong 5 tỉnh. Rừng tự nhiên thì đóng cửa rồi, chế biến lâm sản bây giờ không trồng rừng sản xuất thì lấy gỗ ở đâu ra. Đây là câu chuyện bất cập.”
Một vấn đề quan trọng khác được đoàn giám sát của Ban chỉ đạo Tây Nguyên và đại điện các bộ, ngành nêu ra đó là công tác chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã không đi đúng hướng. Theo chủ trương của Chính Phủ, hai mục tiêu chính của chuyển đổi rừng nghèo để phục vụ tạo sinh kế và tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là người dân bản địa.
Tuy nhiên, cả hai mục tiêu này đều chưa thực hiện được. Việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai hiện nay mới chủ yếu phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp tư nhân. Đây là vấn đề cần phải được xem lại.
Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng vụ nông nghiệp nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương nói: “35-36 nghìn ha rừng chuyển đổi mà chỉ giải quyết việc làm cho 986 lao động người đồng bào dân tộc tại chỗ là quá ít. Trong kiểm tra giám sát theo yêu cầu của thường trực Ban bí thư về chuyển rừng nghèo sang trồng cao su, chúng tôi rất không đồng tình là toàn bộ diện tích chuyển rừng nghèo sang trồng cao su là giao cho các doanh nghiệp ở Đồng Nai, Bình Dương và các doanh nghiệp tư nhân họ vào làm mà không gắn với việc giải quyết đất ở, đất sản xuất và tranh chấp đất ở, đất sản xuất giữa đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với các công ty này rất nhiều.”
Không chỉ có vấn đề trong quản lý - bảo vệ rừng và chuyển đổi rừng sang trồng cao su, Gia Lai còn yếu kém trong công tác phát triển rừng, khi suốt hơn 1 năm nay, tỉnh không trồng rừng phòng hộ, với lý do là thiếu kinh phí.
Sau khi nắm bắt tình hình tại địa phương, ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng, Gia Lai nên học tập kinh nghiệm trồng rừng của Kon Tum, tỉnh liền kề, có điều kiện kinh tế eo hẹp hơn: “UBND tỉnh Kon Tum trồng rừng sản xuất với mức 43,7 triệu đồng/ha, trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với mức 36,3 triệu đồng/ha. Họ triển khai từ tháng 3 và tháng 6 năm 2013.
Chính mức này đã làm cho việc giao khoán rừng và trồng rừng ở các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp và giao rừng cho cộng đồng tốt hơn. Rồi, người dân trước đây từ chỗ lấn chiếm đất rừng, nhưng nay có chính sách này, người ta quay lại hợp tác với công ty lâm nghiệp để góp phần trồng rừng.”
Đối với việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, ông Trần Việt Hùng đề nghị UBND tỉnh Gia Lai rà soát lại để giải quyết những tồn tại, đảm bảo chủ trương chuyển đổi rừng nghèo của Chính phủ đạt các mục tiêu đề ra là phục vụ tạo sinh kế, phát triển đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
Về vấn đề đã xác định được các đầu nậu gỗ nhưng không thể xử lý, đây là điều bất cập khi tỉnh có cả một hệ thống các cơ quan chức năng có đủ thẩm quyền. Đây là bất cập lớn mà Gia Lai cần khắc phục trong thời gian tới. (VOV 6/8) đầu trang(
Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã chỉ đạo như thế tại hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 11/2014 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành, khai thác công trình thủy điện do bộ này chủ trì, diễn ra sáng 6-8. Hội nghị có sự tham dự của Bộ NN&PTNT, Xây dựng, KH&ĐT, TN&MT cùng 38 tỉnh, TP có dự án thủy điện.
Tại cuộc họp này, ông Đặng Huy Cường, Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), cho biết hiện đang có 204 dự án đang thi công và dự kiến từ nay đến năm 2017 sẽ vận hành phát điện (cùng với 284 công trình thủy điện với công suất lắp máy trên 14.698,10 MW đang vận hành).
Bên cạnh đó, có 250 dự án đang nghiên cứu đầu tư và 78 dự án chưa nghiên cứu đầu tư, chưa có nhà đầu tư đăng ký. Theo ông Cường, cho đến nay qua rà soát, Bộ Công Thương đã loại khỏi quy hoạch 12 dự án thủy điện nhỏ vì hiệu quả thấp. Trước đó, vào năm 2013, Thủ tướng đã đồng ý loại khỏi quy hoạch 405 dự án đầu tư thủy điện, trong đó có 403 dự án đầu tư nhỏ. Như vậy sẽ có 415 dự án thủy điện nhỏ bị loại khỏi quy hoạch.
Trong số các thủy điện vừa và nhỏ, ông Cường cho rằng phần lớn chủ đầu tư là doanh nghiệp tư nhân, chuyên môn về thủy điện còn hạn chế nên quản lý dự án chưa chặt chẽ. “Nhiều đơn vị tư vấn mới thành lập thiếu kinh nghiệm, nhà thầu thi công thiếu thiết bị và nhân lực. Trong quá trình đầu tư xây dựng, thậm chí có một số chủ đầu tư tự ý điều chỉnh quy mô, thay đổi thiết kế bán vẽ so với hồ sơ được duyệt” - ông Cường nêu thực tế.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Tiến, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, cho biết Lâm Đồng có 83 dự án thủy điện vừa và nhỏ, qua khảo sát đã đề nghị loại bỏ 46 dự án vì không hiệu quả do liên quan đến đất rừng, vấn đề môi trường.
“Quan điểm của tỉnh là đối với các dự án thủy điện nhỏ, tác động nhiều diện tích đất rừng và không có hiệu quả thì tiếp tục kiến nghị bỏ, trừ khu vực vùng sâu, vùng xa cần giải quyết nhu cầu về điện cho đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ Công Thương nên lưu ý đến các đơn vị ngoài ngành điện để đảm bảo hiệu quả chung” - ông Tiến cho biết.
Qua lắng nghe ý kiến địa phương, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng yêu cầu các tỉnh phải siết chặt hơn nữa các khâu từ khảo sát, thiết kế đến thi công và giám sát công trình. Nếu phát hiện những nhà đầu tư thiếu năng lực, thiếu chuyên môn về ngành điện thì dứt khoát loại bỏ.
Cùng với những hạn chế trên, tại cuộc họp, nhiều địa phương cũng phản ánh tình trạng nhiều dự án thủy điện không trồng rừng thay thế như cam kết. Ông Tiến tiếp tục cho biết việc trồng rừng thay thế ở các dự án thủy điện rất khó triển khai. Lâm Đồng có tám đơn vị đăng ký trồng rừng thay thế thì hai đơn vị xin đất trồng, còn lại xin nộp tiền và cam kết nhưng chưa ai thực hiện. “Vậy chế tài nào để ép người ta thực hiện. Mình không có quyền yêu cầu ngừng phát điện. Đây là vướng mắc về cơ chế” - ông Tiến bày tỏ.
Chia sẻ thêm, ông Lê Trọng Quảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu, nói: “Hiện tỉnh gặp khó khăn trong việc bố trí đất cho các chủ đầu tư trồng rừng thay thế. Hơn nữa, nếu để các chủ đầu tư tự trồng thì khả năng cao là “10 cây chết, một cây gật gù”, bởi chủ đầu tư không có chuyên môn về trồng rừng”.
Theo ông Quảng, thay vì để chủ đầu tư trồng rừng thì chuyển bằng tiền cho địa phương và địa phương sẽ hỗ trợ cho các gia đình có đất nương rẫy chuyển sang trồng rừng, cho phép trồng cả các cây kinh tế như cao su, mắc cao, cây ăn quả… “Nếu cứng nhắc phải có đất thì mới trồng rừng thì chắc chắn sẽ vướng” - ông Quảng kiến nghị.
Bên cạnh trồng rừng thay thế thì câu chuyện chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng được các địa phương nêu ra. Ông Quảng cho hay trong năm 2014, tỉnh thu hơn 200 tỉ đồng nhưng có một số nhà máy (không thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam) việc đôn đốc thu hồi rất khó. Do vậy lãnh đạo tỉnh Lai Châu đề xuất cần có chế tài xử lý các trường hợp chậm trả phí môi trường rừng.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng khẳng định vấn đề trồng bồi thường rừng, Bộ Công Thương đã có văn bản đôn đốc việc này. Tuy nhiên, do văn bản yêu cầu hơi gấp nên trong điều kiện các đơn vị chưa trồng bồi thường rừng ngay được thì cấp giấy phép tạm thời trong một năm. Sau thời gian đó nếu không trồng bù rừng thì xem xét rút giấy phép chủ đầu tư. (Pháp Luật TPHCM 7/8) đầu trang(
Oan khiên ập xuống bất ngờ khiến bà Đào Thị Hồng (1967, trú Hải Thượng, H. Hải Lăng) rơi vào tận cùng tuyệt vọng.
Là người tài, sắc, được biết đến là tỷ phú buôn rừng trồng tại Quảng Trị nhưng trớ trêu thay, trong phút chốc bà thành nghi phạm trộm rừng và bị VKSND H. Hải Lăng phê chuẩn lệnh bắt giam.
Kỳ án thu hút sự quan tâm của dư luận đã được tòa hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên không phạm tội trộm cắp tài sản, VKSND H. Hải Lăng cũng công khai xin lỗi, bồi thường oan sai. Những tưởng đã bình yên đã tìm lại, ai ngờ tháng 4-2014, bà tiếp tục tham gia phiên tòa với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì nó “dính” một phần nội dung quan trọng của án oan năm nào.
Sau nhiều thăng trầm nhưng người phụ nữ đối diện với PV dù không hề điểm chút phấn son nào vẫn đậm nguyên nét đẹp đằm thắm. Nếu trở lại thời điểm khi chưa bị bắt, lúc ấy bà càng rạng rỡ gấp bội phần. Giàu có, chăm chỉ làm ăn, hai đứa con ngoan, khỏe mạnh và có mối tình lâu năm khăng khít sau khi ly hôn khiến bà lúc nào cũng căng tràn sức sống.
Theo lời bà, lúc mới ngoài 20 tuổi, bà đã lập gia đình. Trái ngọt của cuộc hôn nhân ấy là 2 công chúa xinh xắn. Vì nhiều lý do, sau đó vợ chồng chia tay nhưng họ vẫn là những người bạn tốt cho đến tận bây giờ, những đứa con của bà vẫn ấm áp trong tình cha. Sau một thời gian, bà được người quen giúp đỡ, bắt đầu bén duyên với nghề khai thác rừng trồng từ cuối thập niên 90 (thế kỷ trước).
Những năm đầu, làm ăn suôn sẻ, nhanh chóng khấm khá, có ngày bà thu lãi giá trị cả lượng vàng. Chỉ chuyên kinh doanh rừng trồng, nhu cầu thị trường ổn định, lại làm ăn uy tín nên bà chưa bao giờ rơi vào khủng hoảng.
Trước khi gặp ông Hoàng Trọng Độ (1962) và trao tình cho người này thì bà đã nổi tiếng trong giới làm ăn, giao hảo rộng rãi. Kể từ năm 2003, giữa hai người bắt đầu qua lại và tình cảm gắn bó. Người tình khiến bà Hồng cảm nhận được trọn vẹn chân tình. Tuy không danh phận nhưng bà bằng lòng với hoàn cảnh này, mặn nồng cũng kéo dài hơn 7 năm.
Hai người chung sống với nhau như vợ chồng và khăng khít hơn trong các cuộc làm ăn. Có nhiều hợp đồng mua rừng, giữa họ không có riêng tư, ông Độ đứng tên hoặc bà Hồng đều không thành vấn đề. Vào gần cuối năm 2007, bà Hồng và người tình đi coi rừng trồng và mua của nhóm hộ ông Hồ Thanh Xuân, Lê Cương, Nguyễn Bặm (gọi tắt là nhóm hộ ông Xuân) tại xã Hải Thượng. Ngày 25-12-2007, sau khi coi rừng về, hai bên tiến hành giao dịch bán rừng với giá 350 triệu đồng, có mặt cả bà Hồng và ông Độ.
Ông Độ xin bớt lại 10 triệu đồng để ủi đường khai thác và đặt cọc trước 50 triệu đồng. Sáng 31-12-2007, ông Xuân nhận được điện thoại của bà Hồng đến trả thêm tiền. Theo như lời bà Hồng, vừa vay ngân hàng xong (có tài liệu chứng minh) là báo ông Xuân ngay. Lúc giao thêm 250 triệu đồng có bà Hồng và ông Độ.
Tháng 8-2009, ông Độ và nhóm hộ ông Xuân lập giấy mua bán rừng, với sự xác nhận của UBND xã. Nhưng việc này ông Độ giấu bà Hồng và cũng không ghi tên bà Hồng vào. Nhóm hộ ông Xuân đã giao cho ông Độ đầy đủ một bộ hồ sơ để phục vụ việc khai thác rừng. Hay tin này, bà Hồng choáng váng và nhận ra người tình đã đổi thay.
Ngày 5-9-2009, bà Hồng yêu cầu nhóm hộ ông Xuân xác nhận quá trình đi mua bán rừng có bà đi chung và được đồng ý. Sau đó, bà Hồng đứng ra làm xong thủ tục khai thác và mở cửa rừng. Ngày 18-9-2009, khi chuyến xe chở hơn 21m3 gỗ đầu tiên ra khỏi rừng thì kiểm lâm tạm giữ vì thiếu thủ tục là giấy vận chuyển gỗ.
Cũng ngày hôm đó, ông Độ đến báo án tại CAH Hải Lăng, rừng mình mua bị bà Hồng khai thác trộm. Đến phút này, chuyện tình của họ cũng chính thức chấm hết. CA vào cuộc điều tra, số lượng diện tích mà bà Hồng cho khai thác là 4ha, trị giá gần 33 triệu đồng.
VKSND H. Hải Lăng phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt để tạm giam đối với bà Hồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (tạm giam từ ngày 23-1-2010, đến 13-4-2010 thì được tại ngoại). 81 ngày bị bắt giam, bà Hồng đã có lần tự vẫn nhưng khi đến lằn giới mong manh của sự sống chết, hình ảnh 2 đứa con và nỗi oan chưa được gột rửa khiến bà bừng tỉnh. Trong thời gian khủng hoảng tinh thần này, chính những cán bộ CA tại nhà tạm giữ đã khuyên giải bà và “canh giữ” bà khỏi ý nghĩ dại dột.
Quá trình giải quyết án, nhóm hộ ông Xuân đều khẳng định họ nghĩ cặp đôi trên là một nên ý của họ là bán cho cả hai người. Bà Hồng khẳng định đi mua rừng của nhóm hộ ông Xuân là đi chung với ông Độ và tiền mua rừng do bà bỏ ra. “Thương con còn nhỏ dại nhưng tôi phải đành gác tình mẫu tử lại để đấu tranh đòi công lý đến tận cùng” - bà Hồng nghẹn ngào khi chúng tôi gợi nhớ đến ngày tháng khó khăn mà bà bị đẩy vào lao lý. Khi chưa có phán quyết cuối cùng, bà chịu bao điều tiếng, tủi nhục.
Ngày 30-8-2010, TAND H. Hải Lăng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án. Người tình ngồi ở vị trí bị hại, còn bà đứng ở vành móng ngựa. Ông Độ cho rằng số tiền bỏ ra mua rừng nhóm hộ ông Xuân là của mình và nhóm hộ này chỉ bán riêng cho ông kèm giấy tờ chứng minh. Bà Hồng thì khẳng định ngược lại kèm theo giấy tờ vay ngân hàng cùng một số giấy tờ liên quan.
“Đứng ở vành móng ngựa vừa run sợ, vừa ê chề và đau đớn tinh thần, nhưng tôi không thể gục ngã” - bà Hồng nói kiên quyết. Kết thúc phiên xét xử, Tòa tuyên bị cáo Đào Thị Hồng không phạm tội trộm cắp tài sản. Ông Độ kháng cáo và VKSND H. Hải Lăng có kháng nghị về phán quyết của tòa, không chấp nhận bị cáo vô tội.
Ngày 18-11-2010, TAND tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm và tuyên y án sơ thẩm. Theo đó, việc khai thác lô rừng của bị cáo Hồng là công khai, không phải lén lút và không có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hồ sơ vụ án cũng chưa chứng minh được tài sản đang tranh chấp là của một hay nhiều chủ sở hữu nên không có yếu tố chiếm đoạt tài sản của người khác. Tòa Hình sự TAND Tối cao cũng đã có ý kiến đây là một vụ án dân sự tranh chấp về mua bán rừng, không phải vụ án hình sự.
Tháng 1-2013, TAND tỉnh Quảng Trị mở phiên xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”.
Kết thúc phiên xét xử, Tòa yêu cầu VKSND H. Hải Lăng công khai xin lỗi bà Hồng và bồi thường hơn 680 triệu đồng cho bà. Nỗi oan được gột rửa, niềm tin trở lại với bà, nhưng đùng một cái, bà lại “dính” án. Điều kỳ cục gì xảy ra? (Công An TP Đà Nẵng 7/8) đầu trang(
Tháng 5 vừa qua, các sở, ngành liên quan đã cùng tiến hành bàn giao 4.745ha đất rừng đã thu hồi của Công ty CP Đầu tư và Phát triển kinh tế trang trại thuỷ hải sản Thành Tín (gọi tắt Công ty Thành Tín) cho 2 xã Hải Lạng và Hà Lâu của huyện Tiên Yên, sau hơn 7 tháng UBND tỉnh ra quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp này.
Điều đáng nói là một sự việc hành chính tưởng như đơn giản này lại chưa thể thực hiện được bởi lý do không xác định được ranh giới trên thực địa. Như vậy người muốn giao thì không giao được, người cần đất, muốn nhận cũng không nhận được.
Đáng buồn hơn là từ sự việc giao đất thu hồi của doanh nghiệp Thành Tín cho 2 xã của huyện Tiên Yên này đã bộc lộ những bất cập rất căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Công ty Thành Tín được UBND tỉnh giao 5.225,8ha (trong đó có 1.648,6ha đất rừng tự nhiên, còn lại là đất trống) từ năm 2004 tại xã Hải Lạng và Hà Lâu để khoanh nuôi bảo vệ và trồng tre lấy măng làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu.
Tuy nhiên, đến thời điểm thu hồi, đơn vị này mới trồng được 602,8ha tre Bát độ, tiến độ quá chậm so với quy định. Chính bởi vậy cuối tháng 10-2013, UBND tỉnh đã có quyết định thu hồi 4.745ha đất rừng của doanh nghiệp này giao lại cho 2 xã của huyện Tiên Yên là Hải Lạng và Hà Lâu, trong đó xã Hà Lâu là 4.534,4ha, Hải Lạng là 210,6ha.
Để thuận lợi cho huyện Tiên Yên triển khai tiếp các thủ tục giao đất giao rừng cho người dân phát triển sản xuất sau khi nhận lại diện tích đất thu hồi của Thành Tín, các đơn vị chức năng đã thống nhất phương án bàn giao diện tích đất này tại thực địa, giao đến đâu tiến hành phát đường băng, cắm mốc giới đến đó.
Tại cuộc làm việc giữa đại diện Sở Tài nguyên - Môi trường (TN-MT), Sở Tài chính, Chi cục Kiểm lâm và huyện Tiên Yên vào tháng 5 các đơn vị đã dành hẳn một ngày để leo rừng, đi thực địa diện tích rừng trên địa bàn xã Hải Lạng, tuy nhiên, cuối cùng các đơn vị vẫn không thể xác định được ranh giới diện tích rừng cần được bàn giao cũng như mốc giới diện tích đất đã thu hồi ngoài thực địa, do đó việc bàn giao đất rừng này đã không thực hiện được như dự tính ban đầu.
Thực tế đến thời điểm này Sở TN-MT, đơn vị chủ trì việc giao đất từ doanh nghiệp Thành Tín cho huyện Tiên Yên không thể xác định được 4.745ha rừng cần giao này nằm ở đâu trên tổng thể đất rừng 2 xã Hà Lâu và Hải Lạng; diện tích này tiếp giáp với diện tích đất rừng cũng như các diện tích đất khác của đơn vị nào; hiện trạng rừng ra sao...
Ngay cả diện tích hơn 600ha Công ty Thành Tín đã trồng tre trong khuôn khổ tổng diện tích đơn vị này được giao, thậm chí diện tích 210,6ha cần giao cho xã Hải Lạng cũng không xác định được ranh giới.
Lý giải về thực tế trên, ông Vũ Trọng Tuấn, Trưởng Phòng Kế hoạch, Sở TN-MT cho biết: Do thời điểm giao đất cho Công ty Thành Tín theo phương pháp giao theo lô, khoảnh và xác định vị trí trên bản đồ nên giờ xác định ranh giới tại thực tế là khó khăn và phải có thời gian...
Còn ông Nguyễn Văn Tiến, cán bộ một đơn vị tư vấn được Sở TN-MT mời tham gia để hỗ trợ Sở cho biết thêm: Nếu khoanh vùng diện tích này trên bản đồ thì rất dễ, rất rõ nét, thế nhưng ở thực tế thì toàn bộ diện tích rừng quá mông lung, rộng lớn, thực sự đối với người làm chuyên môn chúng tôi cũng cần phải có thời gian, thậm chí là thời gian dài...
Có thể thấy ở vụ việc bàn giao đất rừng từ doanh nghiệp Thành Tín cho huyện Tiên Yên, chỉ vì không thể xác định được ranh giới diện tích rừng cần được bàn giao cũng như mốc giới diện tích đất đã thu hồi ngoài thực địa nên phía Sở TN-MT, đơn vị có nhiệm vụ giao đất thì không giao được, phía huyện Tiên Yên, nơi được nhận đất cũng không nhận được.
Đáng buồn là hiện nay không chỉ có đất rừng của doanh nghiệp Thành Tín mà hầu hết diện tích đất rừng của các doanh nghiệp và một số chủ rừng lớn khác trên toàn tỉnh đều nằm trong tình trạng không xác định được ranh giới cụ thể. Các diện tích này đều được giao theo lô, khoảnh và xác định vị trí trên bản đồ chứ không khoanh vùng, cắm mốc ngoài thực địa. Được biết, đến thời điểm này mới chỉ có một phần diện tích thuộc số ít các dự án đất rừng được giao tổ chức quản lý của nhà nước đã được cắm mốc giới.
Đơn cử như Khu bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng; rừng đặc dụng cảnh quan môi trường TP Hạ Long; rừng Quốc gia Yên Tử; rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn, Yên Lập… Tuy nhiên, số lượng mốc giới ở đây ít và cũng đã được triển khai từ cách đây trên dưới 20 năm; trong những năm qua ít được bổ sung nên đã “chỗ còn, chỗ mất”.
Thực trạng này là một khó khăn rất lớn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhất là trong điều kiện hiện nay có không ít dự án trồng rừng chậm triển khai có nguy cơ bị thu hồi và một diện tích lớn đất rừng của các công ty lâm nghiệp đang đề nghị trả lại tỉnh.
Tất cả diện tích này sẽ đều được bàn giao cho địa phương để tiến hành giao đất giao rừng cho người dân phát triển sản xuất. Như vậy, việc bàn giao đất rừng đã thu hồi cho địa phương không dừng lại ở diện tích đất của Công ty Thành Tín với 4.754ha mà còn nhiều hơn nữa.
Và việc này sẽ thật sự rất khó để giải quyết, trong khi đó nhu cầu về đất rừng để sản xuất của người dân ngày càng trở nên bức thiết. (Báo Quảng Ninh 6/8) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, từ đầu năm đến nay, các cơ quan, đơn vị chức năng, hộ gia đình, cá nhân đã trồng mới được hơn 800 ha rừng, phần lớn là rừng sản xuất.
Trong số đó, có 379 ha được các tổ chức, đơn vị trồng theo mục tiêu, kế hoạch do UBND tỉnh đề ra; 271 ha được các hộ gia đình, cá nhân trồng theo dự án Flitch do nước ngoài tài trợ vốn; 150 ha do các doanh nghiệp thuê đất và các công ty lâm nghiệp trồng.
Ngoài ra, các hộ gia đình, cá nhân cũng trồng được 14.896 cây phân tán. Hầu hết diện tích rừng trồng đều phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt hơn 93%.
Dự kiến, từ nay đến cuối năm, các đơn vị chức năng và hộ gia đình, cá nhân sẽ tiếp tục trồng khoảng hơn 380 ha rừng tại các địa bàn như Tuy Đức, Đắk Glong, Đắk Song, Krông Nô…(Báo Đắc Nông 6/8) đầu trang(
Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền huyện Như Thanh đã có nhiều giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo để nhân dân phát triển kinh tế đồi rừng, đưa kinh tế đồi rừng trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế của địa phương.
Nhờ vậy, kinh tế của huyện có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân được cải thiện, nhiều hộ gia đình thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Đến thăm mô hình kinh tế đồi rừng của gia đình bác Lê Khả Luyện, ở thôn Đồng Nghiêm, xã Mậu Lâm, được biết: Trước đây, kinh tế gia đình rất khó khăn, thuộc hộ nghèo của xã. Năm 1995, gia đình bác đã mạnh dạn nhận 3 ha đồi rừng, trong đó đầu tư trồng 2 ha cây keo nay đã đến tuổi cho thu hoạch, diện tích còn lại trồng mía nguyên liệu, đồng thời chăn nuôi thêm lợn, gà, ếch, cá, mỗi năm trừ chi phí thu lãi gần 70 triệu đồng, tạo việc làm cho 3 lao động.
Còn gia đình chị Lò Xuân Hòa, ở thôn Xuân Tiến, xã Xuân Khang trước đây cũng là hộ nghèo, nhưng được tuyên truyền, vận động, gia đình chị đã nhận 11 ha đất bãi, đất đồi để cải tạo, sản xuất, vươn lên thoát nghèo. Hiện nay, với 3 ha trồng mía, 3 ao cá, 8 ha trồng keo... bình quân mỗi năm sau khi trừ chi phí gia đình chị thu từ 100 đến 120 triệu đồng. Hàng năm, vào vụ trồng hoặc thu hoạch mía, chị còn tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 10 lao động là phụ nữ trong xã.
Trao đổi với PV, bà Lê Thị Dung, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Như Thanh, cho biết: Mặc dù có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế đồi rừng, nhưng thu nhập của người dân từ đồi rừng trên địa bàn huyện trước đây còn thấp.
Nguyên nhân là do cơ cấu các loại cây trồng chưa phù hợp, đa số giá trị kinh tế không cao; kỹ thuật trồng rừng của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa mang tính bền vững; việc chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ rừng vẫn còn thô sơ...
Trước thực trạng đó, huyện đã có nhiều giải pháp trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trồng mới trên diện tích đồi rừng đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất ổn định lâu dài; khuyến khích nhân dân chuyển nhanh từ trồng rừng truyền thống sang trồng rừng kinh tế theo hướng thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đưa các loại giống mới, có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.
Huyện cũng chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể phù hợp với cơ sở để tổ chức thực hiện. Mặt khác, thực hiện lồng ghép các chương trình khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ cây, con giống, vật tư phục vụ sản xuất từ nguồn ngân sách huyện và chương trình mục tiêu quốc gia; tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển đối với các hộ nông dân; đồng thời tạo điều kiện cho bà con được tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi phát triển sản xuất.
Vì vậy, ngày càng có nhiều mô hình trang trại đồi rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp nhiều hộ gia đình vươn lên thoát nghèo, từng bước làm giàu. Đến nay, toàn huyện có gần 100 trang trại nông - lâm kết hợp, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Cây lâm nghiệp, công nghiệp tiếp tục phát huy thế mạnh, huyện đã trồng được 14.000 ha rừng các loại (chủ yếu là keo tai tượng), 3.600 ha mía, 742 ha cao su... Tổng giá trị nông-lâm-thủy sản 6 tháng đầu năm 2014 đạt trên 200 tỷ đồng.
Những kết quả từ phát triển kinh tế đồi rừng của huyện Như Thanh thời gian qua đã thể hiện chủ trương, chính sách đúng đắn của đảng bộ, chính quyền, sự nỗ lực vào cuộc của các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là đồng bào các dân tộc nơi đây.
Đây là bước đột phá, tạo chuyển biến đáng kể cho nền kinh tế - xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. (Báo Thanh Hóa 6/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trước tình trạng buôn bán ma túy và động vật hoang dã xuyên quốc gia đang ngày càng khó kiểm soát, đe dọa đến an ninh khu vực và thế giới, Chính phủ Mỹ đã hối thúc các quốc gia Tây Phi tăng cường hợp tác đối phó với vấn nạn này.
Phát biểu với báo giới ngày 5/8 bên lề Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-châu Phi lần thứ nhất tại Washington, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề thực thi pháp luật và chống ma túy quốc tế - ông William Brownfield - nhấn mạnh cuộc chiến chống ma túy và buôn bán động vật hoang dã đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của chính quyền Mỹ trong bối cảnh các tổ chức tội phạm buôn bán, vận chuyển ngà voi hoặc sừng tê giác từ châu Phi thường kiêm vận chuyển ma túy, vũ khí và buôn người.
Ông Brownfield nêu rõ Washington đã đẩy mạnh các biện pháp đối phó với vấn nạn này, trong đó có việc treo thưởng lên tới 5 triệu USD cho những người cung cấp thông tin hữu ích, giúp bắt giữ các đối tượng đầu sỏ, triệt phá các mạng lưới buôn bán động vật hoang dã.
Ngoài ra, các cơ quan chức năng Mỹ cũng đang tăng cường năng lực của các nước Tây Phi trong cuộc chiến chống nạn rửa tiền và tội phạm tài chính.
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Brownfield cũng cho biết vấn đề mở rộng hợp tác trong cuộc chiến chống ma túy và buôn bán trái phép động vật hoang dã sẽ là một trong những nội dung thảo luận chính trong cuộc họp với giới chức Tây Phi sẽ diễn ra vào ngày 8/8 tới.
Từ năm 2011, Mỹ và 15 quốc gia thành viên thuộc Cộng đồng Kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS) cùng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Bồ Đào Nha, Colombia và Brazil đã đẩy mạnh hợp tác trong cuộc chiến chống tội phạm ma túy.
Chương trình hợp tác này phác thảo các điều luật và quy định cũng như chia sẻ thông tin tình báo về tài chính... nhằm ngăn chặn tình trạng buôn bán, vận chuyển ma túy từ Nam Mỹ qua Tây Phi để tuồn vào Tây Âu.
Mỹ đã cung cấp 100 triệu USD cho các chương trình hỗ trợ đào tạo các quan chức thực thi pháp luật, thành lập các đơn vị chống ma túy và thực hiện các chiến dịch an ninh đa phương tại khu vực Tây Phi.
Theo báo cáo của Công ước Quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES), riêng trong năm ngoái đã có hơn 20.000 con voi châu Phi bị săn bắn trộm và khoảng 1.000 con tê giác bị giết hại, khiến số lượng những loài động vật này sụt giảm nghiêm trọng. (VietnamPlus 6/8) đầu trang(
Sinh ra ở vùng Đông Nam Á, nhưng những con trăn Myanmar bắt đầu xuất hiện thường xuyên ở Nam Florida cách đây từ hơn 15 năm.
Có vẻ như những con trăn này được nhập khẩu về làm thú cưng hoặc đã xổng chuồng, hoặc được phóng thích vào môi trường hoang dã, sau đó chúng yêu thích khí hậu nhiệt đới của Sunshine State (tên gọi khác của Florida).
Ngày nay chúng có thể phát triển nhiều tới 100.000 con trăn Myanmar đang sống giữa những khu vực đầm lầy ở Nam Florida, mặc dù không mấy ai thực sự biết được điều này.
Một cuộc săn kéo dài suốt một tháng do chính quyền bang tài trợ năm 2013, gần 1.600 tình nguyện viên đã phát hiện và chỉ bắt được 68 con trăn. Các nhà khoa học đã liên hệ với sự sút giảm động vật hữu nhũ nhỏ tại Công viên quốc gia Everglades của Florida vì những con trăn. Chúng có thể đẻ mỗi lần 100 trứng và phát triển lớn dài tới 2,1m trong hai năm đầu tiên.
Không riêng gì loài trăn Myanmar, gần như tại mỗi vùng biên giới, nước Mỹ đang nằm dưới sự xâm lược sinh học. Một phần tư đời sống hoang dã ở Nam Florida đang chịu đựng những diễn tiến kịch tính hơn bất kỳ nơi nào khác ở quốc gia này. Nơi đây đang trở thành một trong những khu vực có con số cao nhất sinh vật xa lạ xuất hiện trên thế giới. Chúng trở thành hiểm họa của toàn nước Mỹ.
Ước tính đã có hơn 50.000 sinh vật lạ du nhập vào Mỹ, cạnh tranh với động vật bản xứ, ăn thực vật và động vật đang có sẵn ở Mỹ. Cuộc xâm lấn này có thể gây thiệt hại tới 12,9 tỷ USD mỗi năm.
Ở Caribbean, loài cá sư tử (lionfish) đã lùng sục phá hoại các rặng san hô; ở Texas, loài heo rừng hoành hành trên những cánh đồng của nhà nông; ở Northeast, những con bọ cánh cứng phá hoại cây cối; ở Great Lakes, con trai vằn (zebra mussel) bám vào các ống dẫn nước và vòi, làm chết thực vật. Năm 2012, chính phủ liên bang đã chi phí 2,2 tỷ USD để phòng chống, kiểm soát và tiêu diệt những sinh vật xâm nhập.
Con số sinh vật “lạ” này hiện nay đã phát triển lên tới gần gấp triệu lần so với trước kia. Chúng đang sinh sôi lan rộng và không có dấu hiệu ngừng lại, dần dần trở nên thích nghi với môi trường sống mới và thay thế, thậm chí gây tuyệt chủng sinh vật địa phương. (Công An TPHCM 7/8) đầu trang(
Thông cáo báo chí của Ban Thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho biết ngày 5/8 tại thủ đô Nay Pyi Taw của Myanmar, ASEAN và Hàn Quốc đã cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực lâm nghiệp với việc ký kết gia hạn Hiệp định hợp tác lâm nghiệp giữa chính phủ các nước thành viên ASEAN và Hàn Quốc (AFoCo).
Trong AFoCo mới được gia hạn, ASEAN và Hàn Quốc cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác để góp phần mở rộng độ che phủ của rừng, đẩy mạnh nghiên cứu về rừng và phục hồi rừng, nâng cao năng lực đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu.
AFoCo được ký ngày 18/11/2011 tại Bali, Indonesia nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực lâm nghiệp và đối thoại hướng tới việc thành lập Tổ chức hợp tác lâm nghiệp châu Á. Theo hiệp định này, các bên nhất trí tiến hành các hoạt động nhằm tăng cường quản lý rừng bền vững, xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức công chúng, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển thông qua chuyển giao công nghệ và chia sẻ thông tin kỹ thuật về các sản phẩm gỗ và lâm nghiệp, đối phó với tác động của biến đổi khí hậu.
Một hội đồng quản trị, bao gồm các quan chức cấp cao về lâm nghiệp từ mỗi quốc gia thành viên ASEAN và Hàn Quốc, và một ban thư ký đã được thành lập để giám sát việc thực hiện AFoCo.
Hai bên cũng đạt được một thỏa thuận để thực hiện Chương trình cột mốc AFoCo trong thời gian 10 năm với ngân sách được phân bổ 15 triệu USD, bao gồm 4 dự án “Thành lập Trung tâm đào tạo và giáo dục khu vực”, “Phát triển các chương trình đào tạo và giáo dục cho xây dựng năng lực”, “Phục hồi các khu vực rừng bị suy thoái” và “Phát triển các hoạt động bảo vệ rừng”. (VietnamPlus 6/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||