Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) vừa có công văn số 10100-BNN-TCLN về việc triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2016-2017 gửi UBND các tỉnh, thành phố.
Hiện nay, các tỉnh khu vực phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung bộ bắt đầu thời kỳ cao điểm về cháy rừng. Hầu hết những diện tích rừng của các địa phương có nguy cơ cháy rất cao, thường xuyên ở cấp IV, cấp V (cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm). Thực tế cháy rừng đã xảy ra ở một số địa phương thuộc các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Giang, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bình Định,…
Trước diễn biến bất thường của thời tiết và theo dự báo trong thời gian tới, thời tiết khô hanh kéo dài tại nhiều địa phương thuộc khu vực phía Bắc, Tây Nguyên và Nam Trung bộ, vì vậy, nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy lớn rất cao.
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, Bộ NN&PTNT đề nghị UBND các tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng và chính quyền các cấp chủ động triển khai thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng; Chỉ thị số 568/CT- BNN ngày 20/1/2016, văn bản số 5480/BNN-TCLN ngày 29/6/2016 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về tăng cường công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Bên cạnh đó, kiện toàn và ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo về Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp, nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại các địa phương. Rà soát phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng của các cấp và chủ rừng. Trong đó, xác định cụ thể các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao để bố trí các nguồn lực phù hợp theo phương châm “bốn tại chỗ”, đảm bảo ngăn chặn và xử lý kịp thời các tình huống mới phát sinh, không để xảy ra cháy rừng và cháy lớn.
Về công tác tuyên truyền, chỉ đạo cơ quan phát thanh, truyền hình và báo địa phương tăng thời lượng đưa tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. Ngoài ra, cần tăng cường lực lượng, phương tiện ứng trực tại các địa bàn trọng điểm về cháy rừng. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 5/12) đầu trang(
Vào hồi 18 giờ ngày 4/12, tại khu vực tổ 10, phường Sông Bằng (Thành phố) xảy ra vụ cháy 1 ha rừng trồng vừa khai thác xong.
Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hoàng Phượng Vỹ, sau khi nhận được tin báo của nhân dân về vụ cháy rừng tại địa điểm trên, Chi cục đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Thành phố nhanh chóng tập trung lực lượng, có mặt để khắc phục hậu quả. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, đám cháy cơ bản đã được khống chế và dập tắt. Ước tính thiệt hại 1 ha rừng cỏ tranh, cây bụi, thực bì.
Nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Báo Cao Bằng 6/12) đầu trang(
Khoảng 14h (6/12), tại tiểu khu 102 giáp ranh phường Hà Trung và Hà Lầm, TP Hạ Long đã xảy ra vụ cháy rừng.
Thông tin từ Hạt kiểm lâm TP. Hạ Long, vị trí cháy thuộc khu rừng trồng keo đã được quy hoạch thành rừng sản xuất thuộc khu vực giáp ranh 2 phường Hà Trung và Hà Lầm, TP. Hạ Long. Ngay sau khi phát hiện đám cháy, lực lượng kiểm lâm, Công an PCCC và nhân dân địa phương đã huy động dùng quạt gió và các biện pháp thủ công để tổ chức dập lửa.
Tuy nhiên, khu vực rừng cháy có thực bì rậm, dốc cao gặp gió đã khiến đám cháy lan nhanh. Đặc biệt, vị trí cháy nằm trên cao, không có đường để phương tiện xe cứu hỏa của Công an PCCC di chuyển đến. Dù đã huy động 3 xe cứu hỏa nhưng mãi đến 16 giờ cùng ngày Công an PCCC mới đưa nước tiếp cận được vị trí các đám cháy. (Giao Thông 7/12) đầu trang(
Chiều ngày 5/12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh chủ trì cuộc họp công bố quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam trên cơ sở hợp nhất các Hạt Kiểm lâm: Núi Thành, Tam Kỳ, Phú Ninh, Tiên Phước; trực thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam.
Theo Quyết định số 3959 /QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc thành lập Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam trực thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam quy định: Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam (dưới đây gọi tắt là Hạt Kiểm lâm) là cơ quan hành chính trực thuộc Chi cục Kiểm lâm; chịu sự quản lý, điều hành của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân  các huyện, thành phố: Núi Thành, Tam Kỳ, Phú Ninh, Tiên Phước (sau đây gọi tắt là UBND cấp huyện).
Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để giao dịch. Trụ sở của Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam đóng tại xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Hạt Kiểm lâm có chức năng tham mưu giúp Chủ tịch UBND cấp huyện, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thực hiện quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn các huyện, thành phố: Núi Thành, Tam Kỳ, Phú Ninh, Tiên Phước.
Phát biểu tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho biết: Đây là đơn vị đầu tiên được thành lập từ việc sáp nhập Hạt Kiểm lâm các huyện, thuộc đề án kiện toàn Chi cục Kiểm lâm tỉnh; là cơ sở để tiến tới thành lập Hạt Kiểm lâm Bắc Quảng Nam và Trung Quảng Nam trong thời gian tới. Đồng chí Lê Trí Thanh cũng đề nghị Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ được giao để sớm hoàn thành đề án kiện toàn Chi cục Kiểm lâm; củng cố, sắp xếp lại bộ máy, thực hiện điều chuyển lực lượng trẻ, có năng lực, tâm huyết đến công tác ở những khu vực xung yếu.
Góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời giao Chi cục Kiểm lâm khẩn trương thành lập các trạm Kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam; phối hợp với huyện Phú Ninh thành lập Chi bộ Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Nam 5/12, Tài Nguyên Và Môi Trường 6/12) đầu trang(
Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam, Chi Cục kiểm lâm tỉnh vừa phối hợp với MTTQ và Hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu tổ chức Hội nghị tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng cho 150 là lãnh đạo và các tố chức đoàn thể các xã, thị trấn, các bản và các chủ rừng điển hình trên địa bàn huyện.
Tại hội nghị các đại biểu được tập huấn những nội dung cơ bản về Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng cháy chữa cháy và một số Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; về sử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; phòng cháy và chữa cháy rừng. Các Thông tư qui định về hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản.
Về nghiệp vụ công tác Mặt trận các đại biểu được hướng dẫn một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn năm 2007; Kỹ năng hòa giải ở cơ sở.
Sau hội nghị này, mỗi đại biểu là một tuyên truyền viên về phổ biến kiến thức về Luật bảo vệ và phát triển rừng cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy sức mạnh của quần chúng trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 5/12) đầu trang(
Trong khi vụ khai thác hàng trăm khối gỗ trái phép tại tiểu khu 1133, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung đang được Công an huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) khởi tố điều tra, thì chính tại tiểu khu này, lâm tặc lại tiếp tục triệt hạ hàng chục khối gỗ du sam.
Điều đáng nói là người và phương tiện vận chuyển số gỗ trái phép ra khỏi rừng lại do chính Công an huyện Đắk Song thuê để chở số gỗ tang vật của vụ án trước đó.
Trong quá trình tuần tra mới đây tại tiểu khu 1133 - thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, lực lượng kiểm lâm của đơn vị này đã tạm giữ một xe máy cày độ chế của Nguyễn Trọng Hùng (trú tại xã Đắk N’Drung, huyện Đắk Song) đang vận chuyển gần 2m3 gỗ du sam ra khỏi rừng. Qua điều tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện chủ gỗ và phương tiện chở gỗ này do Công an huyện Đắk Song thuê để chở gỗ tang vật của vụ án phá rừng khác đã được khởi tố trước đó.
Mở rộng kiểm tra tại tiểu khu 1133 và 1132, kiểm lâm còn phát hiện có 10 cây gỗ (đường kính từ 40 - 70cm) bị đốn hạ khoảng đầu tháng 11 vừa qua, trong đó có 8 cây gỗ du sam và hai cây gỗ dầu gió, với khối lượng hơn 33m3.
Ông Đặng Xuân Lộc, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, cho biết: “Chưa thể khẳng định việc chủ xe lợi dụng vận chuyển gỗ tang vật để khai thác và chở gỗ lậu. Nhưng việc ông Nguyễn Trọng Hùng vận chuyển số gỗ không phải tang vật của vụ án là điều chắc chắn. Sau khi bị tạm giữ tang vật và phương tiện, Công an huyện Đắk Song đã có văn bản xác nhận cả xe và người do công an thuê để chở tang vật vụ án và đề nghị trả phương tiện nên chúng tôi đã thả xe, còn gỗ khai thác trái phép phải thu giữ để báo cáo cơ quan chức năng xử lý”.
Trung tá Phạm Quốc Lập, Trưởng Công an huyện Đắk Song, xác nhận: “Chiếc xe chở gỗ lậu bị tạm giữ vừa qua là một trong số phương tiện do cơ quan này thuê để chở gỗ tang vật của vụ án phá rừng trước đó. Trong quá trình vận chuyển đều có các cơ quan chức năng giám sát; còn vụ chở gỗ trái phép vừa qua là do lúc đó cơ quan giám sát vào chưa kịp nên họ bốc nhầm giữa gỗ tang vật vụ án và gỗ của lâm tặc khai thác để ngay giữa đường đi, chứ không có chuyện lợi dụng chở gỗ tang vật để vận chuyển gỗ trái phép”.
Tình trạng phá rừng, khai thác gỗ du sam trái phép tại tiểu khu 1133 đã diễn ra trong thời gian dài. Vừa qua, Công an huyện Đắk Song đã khởi tố vụ án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” xảy ra tại tiểu khu 1133. Đồng thời, UBND tỉnh Đắk Nông cũng đã thành lập một tổ công tác đặc biệt, giao Sở NN-PTNT tỉnh chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra xử lý vụ việc. Vì thế, ông Đặng Xuân Lộc bức xúc: “Khi vụ án đã được khởi tố và hàng chục cán bộ của các lực lượng chức năng đang túc trực ngày đêm trong rừng thì rất khó có thể xảy ra việc lâm tặc dám làm liều. Có điều gì đó khuất tất, chưa rõ ràng nên tôi đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra xử lý nghiêm mới góp phần ngăn chặn nạn phá rừng như hiện nay”.
Ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở NN-PTNT Đắk Nông, cho biết sở kiên quyết đeo bám vụ việc đến nơi đến chốn, hiện đã báo cáo và tham mưu UBND tỉnh xử lý vụ việc với phương châm không có vùng cấm để chấn chỉnh lại công tác quản lý bảo vệ rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 6/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều thông tin phản ánh về tình trạng người dân địa phương dùng trâu vận chuyển gỗ lậu từ rừng men theo Khe Cớ về bản Quang Phúc, xã Tam Đình, huyện Tương Dương, Nghệ An.
Chiều 5/12, theo chân một người dân bản địa, PV Báo Giao Thông đã tiếp cận và ghi lại cảnh hàng chục con trâu được người dân sử dụng để vận chuyển các bê gỗ ra khỏi rừng.
Theo quan sát của PV, gỗ sau khi bị đốn hạ, được người dân tập kết tại bìa rừng. Sau đó, họ dùng trâu vào kéo lần lượt từ 1-2 bê gỗ, lao nhanh trên những con đường mòn men theo Khe Cớ ra ngoài. Theo ghi nhận, mỗi bê gỗ có kích thước hình chữ nhật, dài 2-3 m, rộng 30-60cm.
Hầu hết, các con đường đất dọc theo Khe Cớ đã tạo thành lối mòn hoằn sâu, có nơi từ 60 – 70 cm. Điều này chứng tỏ, việc người dân sử dụng trâu để kéo gỗ ra khỏi rừng đã diễn ra trong thời gian dài.
Tuy nhiên, sau gần hai giờ PV tiếp cận hiện trường, không hề thấy sự xuất hiện của lực lượng chức năng.
Tiếp tục bám theo đoàn trâu kéo gỗ ra khỏi rừng, chúng tôi bất ngờ phát hiện tại bản Quang Phúc có hai xưởng cưa đang hoạt động. Theo quan sát, các xưởng cưa này đang tiến hành xẻ những tấm gỗ rừng, rồi đóng thành các sản phẩm (quan tài, bàn, ghế …) để mang ra thị trường tiêu thụ.
Trao đổi về vấn đề này, ông Võ Sỹ Lâm - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết: "Sau khi nhận được thông tin phản ánh của PV, chúng tôi đã cử cán bộ kiểm tra tại 4 hộ gia đình thuộc bản Quang Phúc, xã Tam Đình, phát hiện 8 bê gỗ không rõ nguồn gốc. Sáng 6/12, Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền địa phương cùng các chủ rừng, đang vào rừng kiểm tra, vị trí diện tích bị chặt phá". (Giao Thông 6/12) đầu trang(
Ngày 6/12, Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết vừa thực hiện bắt giữ một xe tải lớn chở gỗ lậu.
Cụ thể, trưa ngày 5/12, tại km 335 quốc lộ 1A, thuộc địa bàn xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương, lực lượng phòng CSGT đã phát hiện, bắt giữ xe container biển kiểm soát 61C-14120 rơ mooc 61R-01787 do Hà Văn Long (SN 1980, ở xã Triệu Thành, huyện Triệu Sơn) điều khiển đang vận chuyển khối lượng lớn gỗ lậu.
Số gỗ lậu nói trên được ngụy trang bên ngoài rất kín bằng bánh kẹo và bim bim. Tại thời điểm kiểm tra, lái xe không xuất trình được hóa đơn, giấy tờ chứng minh hợp pháp.
Bước đầu, lái xe khai nhận vận chuyển số gỗ trên cho một công ty từ Quảng Bình ra Hà Nội.
Hiện lực lượng CSGT đã lập biên bản và bàn giao phương tiện, số gỗ trên cho đội kiểm Lâm cơ động số1 (Chi cục kiểm lâm tỉnh) để xử lý theo thẩm quyền. (Tiền Phong 6/12) đầu trang(
Ngày  6.12, Phó Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Gia Lai - Phan Quang Thái cho biết, Tỉnh ủy Gia Lai đã thi hành quyết định kỷ luật khiển trách Chủ tịch huyên K'Bang - Võ Văn Phán do buông lỏng trách nhiệm quản lí, bảo vệ rừng mà Báo Lao Động phản ánh.
Việc thi hàng quyết định được xem là động thái kiên quyết của tỉnh Gia Lai khi rừng liên tục bị phá. Đồng thời, là lời cảnh tỉnh của tỉnh Gia Lai nhằm răn đe các Chủ tịch huyện khác có dấu hiệu tiếp tay, buông lỏng trách nhiệm quản lí, bảo vệ rừng.
Liên quan đến vụ việc, Tỉnh ủy Gia Lai đã kiểm điểm Bí thư Huyện ủy K'Bang - Trương Văn Đạt.
Trước đó, Báo Lao Động số 255 ra ngày 26.9 đã đăng bài "Chủ tịch huyện không thể vô can", phản ánh Huyện K'Bang do ông Võ Văn Phán làm Chủ tịch huyện đã để lâm tặc khai khác trái phép 30,166m3 gỗ hương.
Việc xử lí kỷ luật tuân theo chỉ thị 2565, mà tỉnh Gia Lai đưa ra: "Huyện nào để xảy ra nạn phá rừng thì Chủ tịch huyện đó phải chịu trách nhiệm". (Lao Động 6/12) đầu trang(
Ngày 6-12, HĐND tỉnh Gia Lai khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021 đã khai mạc Kỳ họp lần thứ hai. Kỳ họp cũng sẽ xem xét, thảo luận, quyết định 39 dự thảo Nghị quyết do Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh trình với nhiều nội dung quan trọng về KT-XH.
Trong đó là công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn sẽ được mổ xẻ kỹ, bởi theo thống kê từ năm 2005 đến nay, diện tích rừng tỉnh Gia Lai giảm gần 135.000ha, số vụ vi phạm lâm luật hơn 6.800 vụ (tính từ năm 2011 đến nay). Dù có nhiều nguyên nhân khách quan nhưng đặt ra nhiều câu hỏi về trách nhiệm của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Bên cạnh đó, công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giao đất, giao rừng triển khai chậm, còn 39% diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao quản lý, việc phân giới cắm mốc còn hạn chế... Trong buổi khai mạc kỳ họp, các đại biểu đã bỏ phiếu bầu ông Đặng Phan Chung, Chánh án TAND tỉnh Gia Lai giữ chức  Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và ông Nguyễn Trung Kiên, Phó trưởng phòng Kinh tế TP Pleiku giữ chức Phó trưởng ban Kinh tế - Ngân sách tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021. (Công An TP.Đà Nẵng 7/12) đầu trang(
Sơn Động có diện tích rừng lớn, giáp ranh với hai tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn nên công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác này, Hạt Kiểm lâm huyện đã khắc phục khó khăn về người, phương tiện, triển khai thực hiện nhiều biện pháp giữ rừng hiệu quả.
Huyện Sơn Động có khoảng 65 nghìn ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên hơn 31 nghìn ha. Địa bàn rộng, nhiều diện tích rừng giáp ranh với các huyện: Ba Chẽ, Hoành Bồ (Quảng Ninh), Đình Lập (Lạng Sơn) nên công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn. Để thực hiện hiệu quả công tác này, thời gian qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Xuất phát từ quan điểm giữ rừng phải dựa vào người dân nên ngay từ đầu năm, Hạt Kiểm lâm huyện tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn về các xã; củng cố hàng chục tổ, đội quần chúng bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở. Cán bộ kiểm lâm địa bàn phối hợp với trưởng thôn, bản, người có uy tín ở địa phương đến từng hộ tuyên truyền, vận động không đốt phá rừng làm nương rẫy, không tiếp tay cho lâm tặc.
Nhờ vậy, ý thức giữ rừng của người dân nâng lên, tích cực cùng cán bộ kiểm lâm tham gia giữ rừng. Cùng với công tác tuyên truyền, cán bộ kiểm lâm địa bàn chủ động tham mưu, phối hợp với chính quyền xã giữ rừng tận gốc, xây dựng kế hoạch bảo vệ, phát triển vốn rừng; phối hợp với các tổ, đội bảo vệ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát các vùng trọng điểm ở khu vực giáp ranh; cùng nhân dân nắm bắt thông tin, phát hiện kịp thời các tụ điểm chặt phá rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép.
Bằng những giải pháp trên, từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý 99 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu hơn 64,7 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách hơn 1,1 tỷ đồng, giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm ngoái.
Ông Nguyễn Văn Hiệu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động cho biết: “Để ngăn chặn tình trạng đốt, phá rừng, bên cạnh huy động sự vào cuộc của người dân, ngay từ đầu năm, đơn vị xây dựng, triển khai các kế hoạch kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm. Chỉ đạo các trạm kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương, chủ rừng triển khai lực lượng tuần tra, truy quét tại các vùng trọng điểm và chốt chặn những tuyến đường ra vào rừng".
Qua ghi nhận, trên địa bàn huyện không còn điểm nóng về phá rừng, số vụ vi phạm giảm qua các năm. Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ rừng còn gặp không ít khó khăn, nhất là ở địa bàn giáp ranh với các tỉnh bạn, trong khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng, có cán bộ kiểm lâm phải phụ trách địa bàn hai xã. Cùng đó, một số chính quyền cơ sở chưa làm tốt chức năng quản lý và bảo vệ rừng.
Để giữ rừng hiệu quả, thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện tiếp tục phối hợp với chính quyền, các đoàn thể địa phương tuyên truyền tới nhân dân công tác bảo vệ, phát triển rừng; nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy cho các chủ rừng, tổ đội quần chúng bảo vệ ở các xã; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng ở địa phương, trước hết là các cá nhân, tổ chức được giao rừng. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát lâm sản ở những khu vực trọng điểm gồm các xã: An Lạc, Tuấn Mậu, Tuấn Đạo, An Bá, Bồng Am. (Báo Bắc Giang 6/12) đầu trang(
Thời gian qua, trước tình trạng khai thác vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn có diễn biến phức tạp, lực lượng Công an huyện Chư Păh, Gia Lai đã tập trung lực lượng đấu tranh, ngăn chặn. Với địa bàn rừng núi hiểm trở trong khi các đối tượng lâm tặc ngày càng manh động, liều lĩnh đã khiến công tác đấu tranh gặp nhiều khó khăn.
Sau một thời gian tích cực điều tra, xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Păh đã xác định được 3 đối tượng gồm Hồ Ngọc Lý, Nguyễn Hải Đăng và Siu Tuân là thủ phạm khai thác vận chuyển hơn 30m3 gỗ từ nhóm III đến Nhóm V tại tiểu khu 321, thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Păh đã tiến hành bắt, tạm giam 3 đối tượng trên để tiếp tục mở rộng điều tra vụ án.
Tại cơ quan điều tra, đối tượng Siu Tuân khai báo:" Tôi được đồng bọn thuê vào rừng cắt gỗ, mỗi khối gỗ chúng trả cho tôi 400 ngàn đồng, sau 5 ngày cắt gỗ thì biết lực lượng Công an huyện truy quét nên chúng tôi bỏ trốn."
Được biết, ngày 25-11-2016, Công an huyện Chư Păh phát hiện tịch thu hơn 70 m3 gỗ các loại tại khu vực rừng thuộc xã Hòa Phú và xã Chư Đăng Ya huyện Chư Păh. Trong đó, đã xác định được hơn 30m3 gỗ do nhóm đối tượng Lý, Đăng, Tuân khai thác trái phép, 40m3 còn lại được phát hiện vắng chủ tại một bãi đất trống thuộc xã Chư Đăng Ya.
Địa bàn rừng núi hiểm trở, giáp ranh với tỉnh Kon Tum và nhiều huyện của tỉnh Gia Lai, mặt khác các đối tượng lâm tặc thường vận chuyển gỗ vào ban đêm, có đồng bọn cảnh giới nên công tác đấu tranh, ngăn chặn gặp không ít khó khăn.
Thiếu tá Trần Văn Linh – Phó trưởng Công an huyện Chư Păh cho biết: " Mặc dù công tác đấu tranh ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép gặp nhiều khó khăn nhưng lãnh đạo đơn vị đã thường xuyên quán triệt và động viên cán bộ chiến sỹ phải chủ động khắc phục để đấu tranh ngăn chặn với hành vi này. Đồng thời, Công an huyện đã tập trung công tác nắm tình hình, thực hiện nhiều đợt truy quét tại các khu vực rừng trên địa bàn để ngăn chặn, qua đó đã phát hiện nhiều vụ khai thác gỗ, tuy nhiên việc phát hiện bắt các đối tượng gặp nhiều khó khăn."
Được biết, từ đầu năm đến nay, lực lượng Công an huyện Chu Păh đã thực hiện hơn 10 đợt truy quét, ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trên địa bàn, qua đó phát hiện 5 vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, lập biên bản tạm giữ gần 100 m3 gỗ các loại, 4 xe ô tô, 2 xe máy kéo và nhiều tang vật khác liên quan.
Với tinh thần cương quyết đấu tranh, ngăn chăn hành vi khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, Công an huyện Chư Păh đã và đang góp phần quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên rừng.  (ANTV 5/12) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều vụ vi phạm về lâm luật được lực lượng chức năng phát hiện, xử lý, thậm chí là khởi tố hình sự. Điều này cũng đang đặt ra sự cần thiết trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trong quản lý bảo vệ rừng.
Xã Châu Thôn – huyện Quế Phong có diện tích tự nhiên lên đến 6.000ha, trong đó diện tích có rừng 3.400ha. Vì vậy, 100% các hộ dân đều gắn bó, lấy rừng làm nguồn thu nhập chính. Bởi vậy, bảo vệ được rừng, nghĩa là cái ăn, nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của gia đình được đảm bảo.
Ông Vi Văn Chín - Chủ tịch UBND xã Châu Thôn cho hay: Đảng, Nhà nước đã giao rừng cho bà con trông coi, bảo vệ, nên bà con ý thức được rằng đó là trách nhiệm. Nắm rõ như vậy, nên quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn thực hiện rất tốt. Riêng xã Châu Thôn không còn tình trạng phát rừng làm rẫy, còn diện tích đất trống, đồi trọc bằng cách là trồng mới rừng.
Huyện Quế Phong hiện có 194 bản là người dân tộc thiểu số, chiếm đến 93% dân số toàn huyện. Để người dân tiếp cận và nắm được những văn bản liên quan đến công tác giao đất, quản lý bảo vệ rừng là vấn đề rất khó khăn.
Vì vậy, cách hiệu quả nhất đang được huyện Quế Phong thực hiện, đó là xây dựng giải pháp tuyên truyền sát với thực tế. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm lâm địa bàn còn thực hiện đúng phương châm: sát dân, bám bản, nói đi đôi với làm, giúp người dân nhận thức và hiểu đúng lợi ích của việc bảo vệ rừng. Theo ông Vi Văn Việt - Trưởng bản Chàm, xã Hành Dịch, huyện Quế Phong, lợi ích mang lại cho người dân rất nhiều, thứ nhất là có nước để làm ruộng, thứ hai là có thêm lâm sản phụ, như măng, nấm, củi khô.
Ông Hoàng Quốc Việt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm khẳng định: Nhiều thôn, bản trên địa bàn huyện đã được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Một số vấn đề khác chúng tôi đang tham mưu, làm sao đó có cơ chế phù hợp đối với người dân sống gần rừng để có trách nhiệm bảo vệ rừng, nhưng cũng sống được từ rừng.”
Bên cạnh tuần tra, quản lý, phát hiện người vi phạm, theo đại diện hạt kiểm lâm Quế Phong, cần phải có giải pháp căn cơ giúp người dân miền núi có được cuộc sống ổn định, bằng sinh kế ngay trên đất rừng.
Ông Nguyễn Tiến Hùng - Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm Quế Phong cho biết: Thứ nhất là Nhà nước quy định về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ, đồng nghĩa với đó là quyền hưởng lợi của bà con; Gắn được quyền lợi của bà con đối với diện tích rừng được bảo vệ, thì đã giải quyết hài hòa giữa quyền lợi của nhà nước với quyền lợi của người nhận rừng.
Người dân miền núi sinh ra, lớn lên đều dựa vào rừng. Do đó, khi triển khai, áp dụng Luật bảo vệ phát triển rừng và các chủ trương của nhà nước về nghiêm cấm khai thác rừng trái phép, các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần chú trọng hơn đến cuộc sống, nhu cầu mưu sinh của người dân miền núi. Đây mới là những vấn đề căn cơ, lâu dài, góp phần quản lý diện tích rừng tự nhiên một cách bền vững. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 6/12) đầu trang(
Tính đến hết tháng 11 năm 2016, Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với các đơn vị chức năng phát hiện và xử lý 94 trường hợp vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, thu giữ gần 150 mét khối gỗ các loại.
Trong 94 vụ vi phạm có 01 vụ phá rừng trái phép, 01 vụ khai thác rừng trái phép; 18 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 48 vụ cất giữ lâm sản trái phép và 07 vụ vi phạm các quy định khác về khai thác quản lý và bảo vệ rừng.
Qua đấu tranh cơ quan chức năng đã làm rõ 46 đối tượng có hành vi vi phạm khai thác, bảo vệ rừng; tịch thu giữ 19 xe mô tô, 01 xe ô tô, gần 150 mét khối gỗ, 80 kg động vật hoang dã; tổ chức thả về rừng 08 cá thể, thu nộp Ngân sách Nhà nước sau xử lý vi phạm gần 460 triệu đồng. (ANTV 5/12) đầu trang(
Các vấn đề liên quan đến Khu bảo tồn Hòn Cau đã làm nóng nghị trường kỳ họp thứ 3, HĐND tỉnh Bình Thuận.
Các vấn đề liên quan đến Khu bảo tồn biển Hòn Cau (đề xuất cắt giảm hơn 1.000 ha cho nhiệt điện và đổ hơn 1,5 triệu m3 thải nạo vét cách khu vực này hơn 500 m) đã làm nóng kỳ họp thứ 3, HĐND tỉnh Bình Thuận ngày 6-12.
Khi thấy Thường trực HĐND tỉnh không đưa các vấn đề trên vào nội dung chất vấn tại kỳ họp này, đại biểu (ĐB) Nguyễn Toàn Thiện (Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bình Thuận) đã bày tỏ sự không đồng lòng và đề nghị đưa chuyện Hòn Cau ra chất vấn. Ông Thiện cho rằng nếu không làm như thế dư luận sẽ nghĩ không tốt về Bình Thuận. Trước sự quyết liệt đó, ông Trương Quang Hai, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận, cho rằng các ĐB nên nghiên cứu nhưng chỉ đưa vụ Hòn Cau vào thời gian thảo luận vì thời gian có hạn.
Tuy nhiên, bày tỏ quan điểm cá nhân, ông Nguyễn Ngọc Hai, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, cho rằng phải chất vấn tới cùng vấn đề này. Ông Ngọc Hai cũng cho hay UBND tỉnh đã có văn bản trả lời cho các ĐB về việc vì sao tỉnh đề xuất cắt giảm diện tích Khu bảo tồn biển Hòn Cau.
Phát biểu bổ sung, ĐB Thiện đặt vấn đề: “Hòn Cau có trước nhiệt điện Vĩnh Tân, nếu chồng lấn diện tích thì tại sao lại bắt “người bị lấn” giao biển cho “người lấn”? Như thế là quá vô lý”. Theo ông Thiện, biển, nhất là Khu bảo tồn Hòn Cau có giá trị vĩnh cửu. Giá trị này cần phải được bảo vệ. “Bộ NN&PTNT đã có văn bản không đồng ý cắt giảm diện tích Khu bảo tồn biển Hòn Cau là đúng, chính xác. Các nhà khoa học cũng nói rất rõ rồi, thế nhưng cơ sở nào tỉnh lại tiếp tục có văn bản đề nghị điều chỉnh để giao mặt biển cho Vĩnh Tân?” - ĐB Thiện gay gắt.
Giải trình vấn đề này ngay phiên thảo luận tại hội trường, ông Mai Kiều, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết việc hình thành Khu bảo tồn biển Hòn Cau, Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân và cảng tổng hợp Vĩnh Tân đều thuộc thẩm quyền của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương. UBND tỉnh Bình Thuận đề nghị điều chỉnh phạm vi Khu bảo tồn biển Hòn Cau là do hai dự án nêu trên đã chồng lấn vào diện tích của khu bảo tồn biển. “Tuy nhiên, hiện nay do Bộ NN&PTNT chưa đồng ý nên cần có ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề này” - ông Kiều nói.
Liên quan đến việc nhiệt điện Vĩnh Tân xin phép đổ 1,5 triệu m3 thải nạo vét xuống vùng biển cách Khu bảo tồn Hòn Cau 500 m, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận Nguyễn Ngọc Hai cho biết UBND tỉnh vô cùng quan tâm đến vấn đề xả thải, đến ô nhiễm môi trường ở Vĩnh Tân. Vì đây là bức xúc, là nỗi lo của người dân Bình Thuận cũng như dư luận của cả nước.
Theo ông Ngọc Hai, tỉnh đã làm việc với Bộ TN&MT, nếu cấp phép cho đổ vật liệu sau nạo vét xuống biển phải hết sức cẩn trọng. Tỉnh cho rằng cần phải thuê đơn vị tư vấn độc lập đánh giá toàn diện để không ảnh hưởng đến đời sống người dân, cũng như Khu bảo tồn biển Hòn Cau và ảnh hưởng đến vùng nuôi tôm tốt nhất cả nước. “Cho đến nay tỉnh không có chủ trương nào để quyết làm cho bằng được việc này. Tôi hoan nghênh báo chí đã liên tục phản ánh, giúp cho tỉnh xem xét toàn diện vấn đề hơn” - ông Hai bày tỏ.
Người đứng đầu chính quyền Bình Thuận cũng cho hay ông vừa làm việc với một thứ trưởng Bộ Công Thương và thống nhất tới đây sẽ có đoàn giám sát, thẩm tra việc này bởi đổ vật liệu nạo vét sát với khu bảo tồn biển là rất nguy hiểm.
Ông Ngọc Hai cho biết đối với việc luồng hàng hải dẫn vào cảng tổng hợp Vĩnh Tân, dứt khoát phải tìm luồng khác, chọn hướng khác để không ảnh hưởng đến san hô, đến môi trường sinh thái. “Quan điểm của tỉnh là không vì kinh tế mà đánh đổi môi trường. UBND tỉnh sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân, không để ảnh hưởng đến môi trường biển, đến đời sống người dân” - ông Hai khẳng định.
Bế mạc phiên thảo luận, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận, cho biết vấn đề liên quan đến việc đổ vật liệu nạo vét hay cắt giảm diện tích Hòn Cau, các cơ quan trung ương sẽ quyết định, tỉnh chỉ tham gia và HĐND tỉnh sẽ giám sát. “Làm thế nào để không ảnh hưởng đến đời sống người dân, đến vùng nuôi tôm giống, đến Hòn Cau, tôi đề nghị UBND tỉnh sớm tổ chức họp báo về vấn đề này để thông báo rộng rãi cho nhân dân biết được quan điểm của tỉnh” - ông Hùng kết luận.
Theo văn bản của UBND tỉnh Bình Thuận, khối lượng nạo vét của Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 là 1.569.524 m3 và khối lượng nạo vét duy tu hằng năm là 268.615 m3. Việc đổ vật liệu nạo vét xuống biển sẽ có những tác động nhất định đến hệ sinh thái biển, ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, hoạt động sản xuất tôm giống, nuôi trồng thủy sản của địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động giao thông thủy. Đặc biệt hoạt động đổ vật liệu nạo vét của cảng Vĩnh Tân 1 sẽ gây tác động lớn đến Khu bảo tồn biển Hòn Cau.
Do đó, quan điểm của Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh là sẽ kiến nghị Bộ TN&MT cho đánh giá lại tác động, ảnh hưởng tổng thể của việc nạo vét và đổ khối lượng nạo vét của các dự án tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, trong đó có dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1. Đồng thời mời các nhà khoa học, chuyên gia phản biện trước khi Bộ TN&MT xem xét việc cấp phép nhận chìm cho chủ dự án bến chuyên dùng phục vụ Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1. (Pháp Luật TP.HCM 7/12) đầu trang(
Hội nghị song phương lần thứ hai về "Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học và phối hợp thực thi pháp luật trong phòng chống tội phạm buôn bán động vật hoang dã giữa Campuchia và Việt Nam" vừa được tổ chức tại thị trấn Saen Monorom, tỉnh Mondulkiri, Campuchia.
Tham gia hội nghị có hơn 40 đại diện các cơ quan thực thi pháp luật như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm từ 4 tỉnh liên quan Mondulkiri, Kratie (Campuchia) và Đắk Nông, Bình Phước (Việt Nam), Ban quản lý một số vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG & KBT) cùng với đại diện từ các tổ chức bảo tồn động vật hoang dã (ĐVHD) cấp quốc gia ở cả hai nước.
Tỉnh Mondulkiri và Kratie có chung đường biên giới dài khoảng 400km với các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng phía Đông của Campuchia và sườn Tây Nam Trường Sơn, Việt Nam. Khu vực này là sinh cảnh của rất nhiều loài động vật quý hiếm được pháp luật hai nước bảo vệ và nằm trong Sách đỏ IUCN: Voi, bò tót, hổ, chà vá chân đen, vượn má vàng… Đa dạng sinh học của vùng này đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ từ những hoạt động của con người: Chặt phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, săn bắt và buôn bán trái phép lâm sản….
Trong tháng 1/2015, đại diện các cơ quan chức năng và khu bảo tồn của các tỉnh biên giới liên quan đã gặp mặt, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, những khó khăn thách thức trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng và thống nhất 10 hoạt động ưu tiên cần thực hiện trong thời gian tới.
Tại cuộc họp, các báo cáo của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) về một số kết quả khảo sát cho thấy tình trạng buôn bán ĐVHD bất hợp pháp rất phổ biến và công khai tại các tỉnh Mondulkiri, Kratie, trong đó thị trấn Sen Monorom và Snoul là hai địa điểm quan trọng trong mạng lưới thu gom và buôn bán ĐVHD cho các chợ nội địa Campuchia và sang Việt Nam. Bà Sarah Brook – Cố vấn kỹ thuật của WCS tại Campuchia cho biết thêm, ngoài các đường mòn lối mở trái phép, Lộc Ninh, Hoàng Diệu (Bình Phước) và Đắk Puer (Đắk Nông) là những cửa khẩu quan trọng nằm trong tuyến đường vận chuyển ĐVHD trái phép vào Việt Nam.
Về tình hình thực hiện 10 hoạt động ưu tiên đã đề ra trong năm 2015 và việc xây dựng hoạt động cho năm 2017, các bên cho rằng cần có sự quan tâm, tham gia và chỉ đạo mạnh mẽ của các cấp chính quyền từ trung ương xuống địa phương, phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng đơn vị. Chính quyền địa phương cũng đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư hài hòa với các mục tiêu bảo tồn động thực vật hoang dã.
Đại biểu của hai nước thống nhất một số ưu tiên cần thực hiện trong năm 2017 như đề xuất điều tra, xác minh và xử lý nghiêm các cán bộ thực thi pháp luật có liên quan đến các hoạt động buôn bán lâm sản trái phép;Tổ chức các khóa đào tạo cho các kiểm sát viên và thẩm phán tăng cường kiến thức và kỹ năng xử lý vi phạm trong ngành lâm nghiệp; Khóa tập huấn cho cán bộ thực thi pháp luật về thu thập thông tin và xây dựng hồ sơ vi phạm hiệu quả; Phối hợp khảo sát đa dạng sinh học và theo dõi tình hình biến động, di chuyển của một số loài quan trọng vùng biên giới.
Dự kiến cuộc họp song phương lần thứ ba sẽ được tổ chức ở Việt Nam trong năm 2017. (Báo Đắk Nông 6/12) đầu trang(
TS. Nguyễn Văn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường vừa dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 13 của các bên tham gia Công ước đa dạng sinh học (COP13), cuộc họp lần thứ 8 của các bên tham gia Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học (CP-MOP8) và cuộc họp lần thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen (NP-MOP2).
Các cuộc họp này diễn ra từ ngày 04 đến ngày 17/12/2016 tại Cancun, Mexico với sự tham gia của khoảng mười nghìn đại biểu. Bao gồm đại diện của các nước thành viên, các nước không phải là thành viên, các tổ chức quốc tế và các tổ chức tham gia COP13, CP-MOP8 và NP-MOP2.
Nội dung các Hội nghị lần này nhằm đàm phán các vấn đề trong khuôn khổ của Công ước và các Nghị định thư về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học cũng như việc thực hiện Kế hoạch chiến lược đa dạng sinh học giai đoạn 2011 - 2020 và mục tiêu Aichi.
Được biết, trước khi diễn ra COP13, trong 2 ngày (2-3/12/2016) đã có gồm 50 Bộ trưởng, 40 Thứ trưởng, 42 Trưởng đoàn, 250 lãnh đạo và đại diện của các tổ chức quốc tế, quốc gia tham dự cuộc họp cấp cao (HLS). Chủ đề của HLS năm nay là “Lồng ghép đa dạng sinh học vì sự thịnh vượng”, nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành nông nghiệp, du lịch, lâm nghiệp, thuỷ sản trong bảo tồn đa dạng sinh học và sự cần thiết lồng ghép các yêu cầu về bảo tồn đa dạng sinh học trong các hoạt động của các ngành này.
Theo ông Erik Solheim, Tổng thư ký của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và du lịch là những ngành quan trọng mà các hoạt động của ngành cần cân nhắc các vấn đề bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học một cách toàn diện nhất. Vì vậy, các quốc gia đã có cam kết đạt được các mục tiêu Aichi về đa dạng sinh học cần đưa những tuyên bố này thành các hành động ở cấp quốc gia.
Tại các phiên thảo luận chuyên đề, đại diện lãnh đạo từ các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã thảo luận và báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như nỗ lực của quốc gia trong việc thực hiện lồng ghép nội dung đa dạng sinh học trong các ngành. Đồng thời, đề xuất giải pháp để các ngành nông nghiệp, du lịch, lâm nghiệp, thuỷ sản có sự tham gia và đóng góp quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.
HLS cũng thảo luận mối liên hệ giữa các hành động về bảo tồn đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu cũng như tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Đoàn Việt Nam đã chia sẻ các thông tin về lồng ghép các cân nhắc về đa dạng sinh học trong các ngành, cụ thể là những thành tựu trong bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thủy sản nói riêng, đồng thời khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với tuyên bố Cancun.
Cuộc họp cấp cao đã thông qua Tuyên bố Cancun về lồng ghép bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vì sự thịnh vượng. Trong đó, nhấn mạnh việc thúc đẩy các hành động cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu Aichi trong khuôn khổ Liên minh Cancun và các cam kết tăng cường việc thực thi Công ước. Tại hội nghị, nhiều nước đã có tuyên bố mạnh mẽ và cam kết thực hiện Tuyên bố Cancun. Kết quả của HLS sẽ được báo cáo tại phiên toàn thể của COP13. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/12) đầu trang(
Những cánh rừng đại ngàn mang tính đặc trưng của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, đan xen trong đó là các cánh rừng xanh tươi và rừng bụi với nhiều loại cây gỗ quý. Yok Đôn đang là điểm đến lý tưởng, hấp dẫn của những du khách thích phiêu lưu mạo hiểm, khám phá thiên nhiên.
Hoàng hôn dần buông vào chiều đầu đông trời se se lạnh, tôi có dịp theo chân đoàn cán bộ Vườn quốc gia Yok Đôn cùng nhóm du khách đến tham quan, khám phá Vườn quốc gia.
Yok Đôn sở hữu hệ sinh thái rừng khộp lớn nhất nước, với vô số loại động – thực vật quý hiếm đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Vượt qua dòng sông Sêrêpốk hiền hòa đang mùa nước lớn trên cây cầu xây kiên cố, chúng tôi chạm cửa rừng đúng lúc mặt trời dần khuất núi, cây cỏ đang khép mình chuẩn bị yên giấc sau một ngày tỏa hương khoe sắc, trên cây những chú chim …bay lượn hót liếu lo khiến cả khu rừng náo loạn hẳn.
Anh Trần Đức Phương, Phó giám đốc Trung tâm giáo dục Môi trường và Dịch vụ Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết: Thời điểm này cây cối trong rừng đang xanh mơn mởn, rất thích hợp để ngắm hoa thưởng ngoạn, bởi không lâu nữa, cả khu rừng sẽ trụi lá trơ thân đương đầu với nắng hạn. Nhưng chỉ cần một cơn mưa đầu mùa xuất hiện, chúng sẽ hồi sinh đâm chồi nảy nở khoác lên màu xanh tươi vốn có của rừng -  đây là kiểu rừng khộp rụng lá theo mùa, mà Yok Đôn là nơi duy nhất ở Việt Nam bảo tồn loại rừng đặc biệt này.
Trước khi màn đêm dần buông xuống, chúng tôi ghi lại những bức ảnh kỷ niệm làm tư liệu. Xa xa xuất hiện tiếng động lạ, bằng kinh nghiệm nhiều năm, anh Phương trấn an: “Heo rừng đó, không sao đâu”.
Anh Huy, Đội Kiểm lâm cơ động góp chuyện: "Anh em kiểm lâm đi tuần tra, giám sát đa dạng sinh học… thỉnh thoảng nhìn thấy những chú nai, hươu…và những loài chim quý. Trong thời gian gần đây voi xuất hiện rất nhiều và tập trung thành từng đàn với nhiều cá thể, Trâu, bò rừng thì hơi hiếm rất khó gặp, riêng loài bò xám, hổ thì chưa thấy, nhưng các chuyên gia nghiên cứu khoa học vẫn chưa đưa ra kết luận về sự vắng mặt của chúng trong khu rừng này. Loài thú rất tinh, gặp người là chúng cắm đầu bỏ chạy, mình muốn ghi hình cũng khó. Khách vào đây ban ngày ngắm cây cỏ, lan rừng là chủ yếu, còn muốn xem thú thì phải mắc võng ngủ trong rừng, đợi đến đêm khuya ta đi vào sâu trong rừng soi đèn xuyên qua những tán cây mới thấy được chúng".
Băng rừng lội bộ hơn ba giờ, đoàn phượt quyết định dừng chân bên dòng suối Đắk Lau nghỉ ngơi, chuẩn bị đồ ăn tối. Mỗi người một việc, người xuống suối câu cá, người tìm củi nhóm lửa nướng cơm lam. Một tiếng sau, bữa cơm tối giản dị đậm chất của núi rừng đã hoàn tất. Đoàn phượt bảy người quây quần bên bếp lửa bập bùng, lấy lá rừng làm đĩa đựng thức ăn, cây tre le thay đũa thưởng thức hết các món ăn do chính tay mình làm ra. Đêm trong rừng âm u tĩnh mịch, không điện, không sóng điện thoại, thứ ánh sáng duy nhất soi sáng khu rừng chính là ánh trăng lúc mờ lúc tỏ, làm thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau hơn.
Anh Nguyễn Văn Long, Giám đốc Trung tâm giáo dục Môi trường và Dịch vụ Vườn quốc gia Yok Đôn cho hay: Việc mở các tuor du lịch sinh thái gắn với rừng Yok Đôn, nhằm mục đích tạo môi trường gần gũi giữa thiên nhiên với con người qua đó truyền đi thông điệp bảo vệ rừng. Trung tâm không đặt nặng vấn đề nguồn thu được bao nhiêu mà coi đây là kế hoạch truyền thông lâu dài để thực hiện mục tiêu bảo tồn khu rừng này.
Khách đến đây được trải nghiệm nhiều dịch vụ thú vị như: Câu cá giải trí, quan sát chim, thú, tìm hiểu các loài thực vật, cây thuốc bản địa, ngắm cảnh thác nước và đắm mình dưới dòng suối mát. Bên cạnh đó, khách cũng có cơ hội tìm hiểu phong tục, tập quán sinh hoạt của các tộc người Êđê, M’nông và Lào định cư lâu đời, học nấu các món ăn của người bản địa: Món canh cà đắng, lẩu lá rừng, cơm lam,… dưới sự hướng dẫn của gia chủ và tham gia giao lưu cồng chiêng, cùng các chàng trai, cô gái Êđê, M’nông múa những điệu xoang Tây Nguyên tình tứ bên ánh lửa bập bùng khi trong không khí lâng lâng men rượu cần của núi rừng.
Hàn thuyên một lúc lâu, trời kéo mây đen che lấp các vì sao, đoàn phượt nhanh chóng trở về trung tâm hành chính tránh mưa, ngủ một giấc lấy sức chuẩn bị cho hành trình đi tìm voi trong rừng vào sáng hôm sau.
Đứng trước báo động cao thực trạng voi  Đắk Lắk đang suy giảm nghiêm trọng. Vườn quốc gia Yok Đôn mở tour “Học cách điều khiển voi” tạo môi trường thân thiện gần gũi để con người có cơ hội chăm sóc, hiểu biết thêm về loài động vật có kích thước khổng lồ này. Khách du lịch phải thức dậy từ sáng sớm, theo chân người điều khiển voi (nài voi) lội bộ trong rừng vài cây số lần theo dấu xích, phân voi, vết ăn... tìm voi thả kiếm ăn từ tối qua. Sau đó đưa voi về tắm mát, bắt đầu ngày mới.
Sớm tinh mơ khi mặt trời vừa ló dạng, những hạt sương vẫn còn đọng trên cây lá, chúng tôi theo chân nài voi Y Mức Byă (50 tuổi) người gắn bó với công việc điều khiển voi hơn 30 năm, tiến vào rừng khoảng 5 km tìm chú voi có tên Y Tul ông thả từ chiều tối qua, để voi tự kiếm ăn trong rừng. Hành trình tìm kiếm gặp chút khó khăn do cơn mưa rừng đêm qua đã xóa hết các vết chân voi để lại. Kiên trì đi bộ hơn 1 giờ trong rừng, Y Mức tinh ý phát hiện dấu vết voi đi qua. Ông đoán  đi khoảng 1 km sẽ tìm được voi.
Càng đi, dấu vết của voi càng hiện rõ, nhiều bụi cây bị quật ngã trụi lá, dấu chân to in nặng xuống đất tạo ra các vũng cạn. Đang ăn, thấy người lạ, Y Tul thoáng đứng yên đưa mắt dò xét. Nài voi liền cất tiếng gọi “Y Tul, Y Tul”, nghe giọng quen, chú voi vẫy tai, đuôi chào. Ông tháo dây xích cho voi rồi ra lệnh cho voi đi về. Hiểu ý chủ, Y Tul ngoan ngoãn đi theo nhưng thi thoảng vẫn dừng lại vươn vòi vơ cỏ. Trung bình mỗi ngày, một con voi cần 150kg thức ăn chủ yếu là các loại cỏ, cây lá nhỏ tươi. Mùa khô, khan hiếm thức ăn, voi phải ăn vỏ cây.
“Nhiều lần voi cứng đầu, không theo lệnh, tôi khó chịu lắm, nhưng không bao giờ đánh nó. Tôi gắn bó với voi từ năm 1990, khi nó còn nhỏ nên tôi luôn thương yêu, chăm sóc như người thân của mình.  Ngày thường Y Tul rất nghe lời, chỉ khi vào mùa động đực nó mới dở chứng ương bướng, tôi phải tìm cách vỗ về, thả vào rừng sâu cả tháng để voi tự do yêu đương, nhưng chờ mãi vẫn không có tin vui nào” – Y Mức trải lòng. Vừa ra hiệu cho voi đi nhanh, ông vừa kiểm tra phân voi.
Ông chỉ cần nhìn phân voi có thể đoán được tuổi đời và  tình hình sức khỏe. Nếu voi thải phân đặc, mịn, chứng tỏ tuổi đời còn trẻ, khỏe mạnh. Ngược lại phân voi còn nguyên nhiều cây cỏ báo hiệu voi đã già yếu, hoặc phân có mùi chua thì cần theo dõi chăm sóc đặc biệt. Tuổi đời của loài voi thông thường dao động từ 50 - 70 năm,  nặng 3-5 tấn. Khi voi chết đi sẽ được chôn cất đúng theo phong tục của người bản địa.
Y Mức tiết lộ: Trong rừng có loại cây giống cây me có vỏ màu trắng, người đồng bào gọi là chùm ruột rừng rất kỵ với loài voi. Nếu cột voi vào cây lập tức voi bị điên, người hành nghề săn bắt voi mang cây về nhà đốt cũng hóa điên, nên gặp cây này tốt nhất cho voi tránh xa.
Vừa đến sông Sêrêpốk, voi rảo bước nhanh xuống dòng nước trong mát, tự do bơi lội. Nài voi dùng tay xoa nhẹ vào lưng, khiến voi càng phấn khích, đảo mình liên tục. Hành trình “Học cách điều khiển voi” kết thúc, mỗi du khách đều cảm thấy thú vị, hiểu hơn về loài động vật khổng lồ, nhưng rất thân thiện, gần gũi với con người.
Yok Đôn hiểu theo tiếng M’Nông: Yok là núi, đôn là đảo. Yok Đôn là tên của ngọn núi cao 482m, đứng một mình như hòn đảo giữa biển rừng Buôn Đôn, được dùng làm tên chung cho Vườn. Vườn quốc gia Yok Đôn có diện tích 115.545 ha thuộc hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông do Tổng cục Lâm nghiệp quản lý.
Vườn có 858 loài thực vật, trong đó có 120 loài cho gỗ quý và 64 loài làm dược liệu. Hệ động vật trong Vườn rất phong phú, với 89 loài thú, 305 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài ếch nhái, 50 loài cá và khoảng trên 437 loài côn trùng. Nhiều loài trong số này được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Đặc biệt là loài voi Châu Á. (Dân Sinh 6/12) đầu trang(
20 cá thể Voọc Chà Vá sấy khô, thuộc loài động vật quý hiếm vừa được tổ công tác liên ngành gồm Đội QLTT số 33, Chi cục QLTT Hà Nội  phối hợp với Đội Cảnh sát môi trường, Công an quận Bắc Từ Liêm phát hiện và bắt giữ.
Tại hiện trường, lái xe Đinh Văn Soái không xuất trình được hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ số hàng. Căn cứ vào các hành vi vi phạm, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và ra quyết định tạm giữ toàn bộ số hàng hoá, phương tiện trên để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ.
Tiến hành kiểm tra hành chính xe ô tô mang BKS 11K – 4164 do tài xế Đinh Văn Soát điều khiển đang dừng đỗ tại khu vực ngã 4 đường Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội lực lượng chức năng phát hiện trên xe chứa 20 cá thể động vật đã được sấy khô gồm 10 cá thể Voọc Chà Vá chân nâu; 5 cá thể Voọc Chà Vá chân xám và 5 cá thể Voọc Chà Vá chân đen.
Đây là những loài Voọc nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. Ngoài ra, tổ công tác phát hiện 600 bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất. (ANTV 5/12) đầu trang(
Lần đầu tiên tại Việt Nam, những nàng voi nhà vốn quanh năm chở khách, sống buồn bã đơn độc ở các buôn làng tại Đắk Lắk được chọn và đi... siêu âm, mở ra cơ hội được làm mẹ.
​Quá 12g. Nắng rát rạt xuyên qua đám rừng cây dầu rừng khộp ở Bản Đôn (Đắk Lắk). Từ xa, voi H’Tuk - sống trong khu du lịch sinh thái cầu treo Bản Đôn - cõng trên cổ nài voi đi về.
Các bác sĩ thú y của Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cùng tiến sĩ Willem - chuyên gia voi đến từ Hà Lan - đã đợi sẵn, chuẩn bị siêu âm buồng trứng cho H’Tuk, đánh giá khả năng sinh nở của cô voi cái này. Trước đó, H’Tuk đã được thử máu và làm các xét nghiệm khác. (Tuổi Trẻ 6/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 6/12 tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Liên minh đất rừng (FORLAND) tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 sửa đổi.
Thực tế cho thấy luật Bảo vệ và phát triển rừng ban hành năm 2004 đã có tác động tích cực đến việc bảo vệ và phát triển rừng  cũng như đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng đã bộc lộ một số điểm cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những diễn biến thực tế hiện nay.
Thời gian qua, TCLN đã được Chính phủ ủy quyền xây dựng dự thảo Luật (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua vào cuối năm 2017 để thay thế Luật cũ đang hiện hành. Hiện, dự thảo (lần 2) của luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) đã được TCLN xây dựng xong, chuẩn bị trình Bộ Tư pháp và Chính phủ cho ý kiến vào cuối năm 2016 trước khi trình Quốc hội xem xét.
Xuất phát từ thực tế đó, Liên minh đất rừng FORLAND đã tiến hành nhiều nghiên cứu, tham vấn cộng đồng về tình hình thực thi luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng.  Mục tiêu của các nghiên cứu, tham vấn này là nhằm thu thập các bằng chứng từ cộng đồng để xây dựng các khuyến nghị chính sách gửi đến TCLN và các nhà hoạch định chính sách nhằm điều chỉnh, bổ sung cho dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Ngoài ra, bên cạnh FORLAND thì cũng có rất nhiều tổ chức, chuyên gia như RECOFTC, PanNature… đã và đang xây dựng các khuyến nghị chính sách cho dự thảo Luật.
Theo TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, trong bối cảnh hiện nay, cần nhìn nhận việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong một chuỗi giá trị của ngành lâm nghiệp, việc bảo vệ và phát triển rừng chỉ là một trong các khâu của cả chuỗi gồm: trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm từ rừng và lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học, giá trị môi trường của rừng… Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật  bảo vệ và phát  triển rừng 2004 cần tập trung để đảm bảo sự phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.
Đa số các ý kiến phát biểu tại Hội thảo như GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; TS Trương Quang Hoàng, Đại học Nông lâm Huế; ông Phan Đình Nhã, Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á; ông Lương Quang Hùng, Trung tâm vì con người và rừng (RECOFTC Việt Nam), GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; TS Hứa Đức Nhị, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn… đều đồng tình cao với việc đề xuất cần thiết phải đổi tên Luật thành Luật Lâm nghiệp vừa ngắn gọn, vừa có phạm vi bao quát các nội dung liên quan tới ngành lâm nghiệp nói chung, trong đó có nội dung bảo vệ và phát triển rừng.
Các đại biểu cũng nhất trí luật Bảo vệ và phát triển rừng là một luật rất quan trọng trong đời sống xã hội, liên quan tới phát triển kinh tế lâm nghiệp, yêu cầu bảo vệ môi trường ở tầm quốc gia và quốc tế cũng như thực thi xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây cũng là luật ảnh hướng tới sử dụng đất rừng có hiệu quả và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Tôi cho rằng, việc sửa đổi Luật cần xác định quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với lợi ích của chủ rừng, của cộng đồng và của chính nhà nước. Đặc biệt, rừng thuộc sở hữu tư nhân cần phải được phân biệt thật sự rõ ràng. Hơn nữa, cũng cần làm rõ nội hàm của “ quyền sử dụng rừng” và chuyển sang khái niệm “quyền hưởng dụng rừng” cũng như các quy định cụ thể về quản trị rừng, về nâng cấp các công cụ quản lý gồm: pháp lật, quy hoạch tài chính và hành chính liên quan tới rừng nói riêng và lâm nghiệp nói chung” – GS.TSKH Đặng Hùng Võ nhấn mạnh.
Theo ông Cao Chí Công, Hội chủ rừng Việt Nam, việc sửa đổi, bổ sung cần làm thế nào để người sống ở rừng thực sự được hưởng lợi từ rừng và gắn bó với rừng.
“Sau 12 năm thực hiện, luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 hiện nay đã trở thành “cái áo quá chật” với thực tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Do đó, đề nghị xem xét chi tiết kết cấu, bố cục cũng như nhìn nhận trong mối quan hệ với các luật khácnhư luật Đất đai, luật Bảo vệ môi trường, luật Đầu tư cùng các luật có liên quan để luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 sửa đổi thực sự đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới"– ông Công nói. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 6/12) đầu trang(
Thực hiện tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ hai - Quốc hội khóa XIV, ngày 6/12, tại xã Châu Hội, huyện Quỳ Châu, đoàn ĐBQH gồm các ông/ bà: Phan Đình Trạc - Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Mong Văn Tình - cán bộ Huyện đoàn Quế Phong và Nguyễn Thị Thảo - Bác sỹ bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An đã có buổi tiếp xúc với cử tri của 03 xã Châu Bình, Châu Hội và xã Châu Nga.
Sau khi nghe báo cáo kết quả kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, cử tri 3 xã đã có 23 kiến nghị liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Do thiếu tư liệu sản xuất tại 3 xã Châu Nga, Châu Hội, Châu Bình, cử tri của 03 xã mong muốn các ĐBQH và các cấp ngành trung ương, tỉnh huyện có giải pháp đối với các Lâm trường trên địa bàn huyện, cần giao một phần đất của Lâm trường cho người dân sản xuất để phát triển kinh tế.
Về vấn đề giao đất, giao rừng cho người dân là một chủ trưởng lớn của Đảng, Nhà nước, ông Phan Đình Trạc khẳng định: Việc tiến hành rà soát, kiểm tra đất nông nghiệp, lâm nghiệp trên địa bàn sử dụng không có hiệu quả cần thu hồi lại để tiến hành điều tra, khảo sát giao lại  cho hộ dân, tổ chức thực sự cần đất để sản xuất, phát triển kinh tế từ rừng mục đích là xóa đói giảm nghèo bền vững cho người dân, tránh chuyển nhượng đất trái phép, không có hiểu quả.
Những ý kiến khác của cử tri được các vị ĐBQH ghi nhận và tổng hợp trình HĐND tỉnh, Quốc hội trong thời gian sớm nhất. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 6/12) đầu trang(
Chiều 6/12, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và đoàn công tác đã đi thăm một số cơ sở, mô hình sản xuất tại huyện Nghĩa Đàn.
Cùng dự, về phía Trung ương có các đồng chí: Võ Kim Cự - Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam; Lương Quốc Đoàn - Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí: Nguyễn Đắc Vinh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh; Nguyễn Xuân Sơn - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Thái Thanh Quý - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chánh văn phòng Tỉnh ủy; Đinh Viết Hồng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Hội Nông dân, Liên minh HTX tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nghệ An và một số sở, ngành, lãnh đạo hyện Nghĩa Đàn.
Đoàn công tác cũng đã đến khảo sát tại Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An, thuộc Công ty Cổ phần Lâm nghiệp tháng Năm tại khu công nghiệp Nghĩa Đàn. Đây là nhà máy có tổng vốn đầu tư 300 triệu USD với các dây chuyền sản xuất gỗ ván thanh và ván sợi MDF.
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cũng đã trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An. (Báo Nghệ An 6/12) đầu trang(
Sáng 6/12, HĐND tỉnh Kon Tum (khóa XI) tiến hành Kỳ họp thứ 3. Kỳ họp tiến hành trong 3 ngày (từ 6 đến 8/12).
Ngoài việc nghiên cứu, xem xét các báo cáo hằng năm của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, UBND, TAND, VKSND, Cục Thi hành án Dân sự theo quy định; các đại biểu còn xem xét, thảo luận và quyết định một số vấn đề quan trọng khác thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh, trong đó có những nội dung dài hạn, có tầm ảnh hưởng đến cả giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của địa phương như: Nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ chi thường xuyên và phương án phân cấp ngân sách Nhà nước tỉnh giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 tỉnh; Kế hoạch đầu tư công và kế hoạch vay, trả nợ công năm 2017; xem xét nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác; Đề án phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh; Đề án giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều tỉnh giai đoạn 2016-2020...    (Đại Đoàn Kết 7/12) đầu trang(
Hằng năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum (Quỹ) đã phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra, nghiệm thu, đánh giá kết quả quản lý bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn.
Trên cơ sở đó, Quỹ thực hiện việc chi trả tiền DVMTR cho các đơn vị chủ rừng là tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất, giao rừng một cách chính xác, đúng quy định.
Trong gần 5 năm qua (từ năm 2012 đến nay), khi chính sách chi trả DVMTR được triển khai thực hiện tại tỉnh Kon Tum, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum là đơn vị được giao tham mưu cho UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh; đồng thời chịu trách nhiệm quản lý, triển khai thực hiện chính sách; phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành nhiều văn bản, tài liệu hướng dẫn thực hiện, đảm bảo việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn đúng theo quy định của pháp luật.
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã tích cực, chủ động tổ chức làm việc, xúc tiến đàm phán và ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với các đơn vị sử dụng DVMTR có lưu vực nội tỉnh. Ngoài việc thu tiền DVMTR từ các đơn vị sử dụng dịch vụ có lưu vực nội tỉnh, Quỹ tỉnh còn tiếp nhận tiền DVMTR từ các đơn vị sử dụng DVMTR có lưu vực liên tỉnh do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam điều phối theo tỷ lệ được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.
Từ nguồn tiền DVMTR thu được, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum tiến hành chi trả cho các chủ rừng trên cơ sở số lượng và chất lượng rừng của các chủ rừng theo thông báo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với chủ rừng là tổ chức); xác nhận của Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố (đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất, giao rừng).
Để việc chi trả tiền DVMTR cho các đơn vị cung ứng dịch vụ môi trường được chính xác và công bằng, hằng năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Đoàn công tác liên ngành (Chi cục Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố, các đối tượng sử dụng DVMTR) để tiến hành nghiệm thu diện tích, chất lượng rừng cung ứng DVMTR cho các chủ rừng là tổ chức.
Đề nghị Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố tổ chức xác nhận, nghiệm thu diện tích rừng do các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn quản lý, gửi kết quả cho Quỹ tỉnh đúng thời gian quy định.
Đối với diện tích rừng được nghiệm thu, đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng sẽ được thanh toán 100% giá trị. Đối với diện tích rừng bị tác động (gồm khai thác, chặt phá, xâm lấn, bị cháy, chuyển mục đích sử dụng trái phép, bị thiệt hại do thiên tai bất khả kháng…), không còn khả năng cung ứng dịch vụ môi trường rừng sẽ không được nghiệm thu và không được thanh toán.
Quá trình tiến hành nghiệm thu, đối với chủ rừng là tổ chức (các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các Công ty Lâm nghiệp, các doanh nghiệp, tổ chức khác), đoàn liên ngành sẽ tiến hành kiểm tra tối thiểu bằng 10% diện tích rừng cung ứng DVMTR của chủ rừng; đối với chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố sẽ tổng hợp từ kết quả kê khai của người dân (do thôn, xã tổng hợp báo cáo lên), trường hợp có thắc mắc của người dân hoặc trong một số trường hợp cần thiết khác sẽ kiểm tra 100% diện tích rừng cung ứng DVMTR của chủ rừng, đối chiếu với hồ sơ về hiện trạng khu rừng để công nhận kết quả.
Anh Vũ Văn Tình - Phó Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, thành viên trong đoàn kiểm tra, nghiệm thu rừng cung ứng DVMTR năm 2016 cho biết: “Công tác kiểm tra, nghiệm thu rừng cung ứng DVMTR được các cơ quan liên quan trong tỉnh phối hợp thực hiện hàng năm theo hướng dẫn tại Thông tư 20/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dựa trên biến động về rừng để tính diện tích nghiệm thu. Vị trí rừng nghiệm thu sẽ được đoàn kiểm tra chọn ngẫu nhiên, theo nhiều hướng khác nhau để đảm bảo khách quan và độ chính xác cao nhất”.
Từ kết quả kiểm tra, nghiệm thu diện tích rừng cung ứng DVMTR của các chủ rừng trên địa bàn những năm qua cho thấy, diễn biến diện tích rừng, trạng thái rừng, số đơn vị cung ứng DVMTR năm sau tăng hơn so với năm trước. Tiền DVMTR được chi trả hàng năm cũng tăng lên đáng kể, nên nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của người dân sống trong rừng và gần rừng. Với việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR như vậy chắc chắn sẽ góp phần rất lớn trong việc bảo vệ rừng hiệu quả và phát triển rừng bền vững trong những năm tới. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/12) đầu trang(
Những năm qua, việc triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã từng bước cải thiện và góp phần nâng cao thu nhập cho những đối tượng trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng, xã hội hóa công tác bảo vệ phát triển rừng, góp phần bảo vệ diện tích rừng hiện có.
Diện tích tự nhiên của tỉnh Điện Biên là 954.125,06ha, trong đó, diện tích có rừng là 367.469,51ha, độ che phủ rừng là 38,5%. Đa số diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Điện Biên đều được chi trả DVMTR. Việc hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR không chỉ giúp người dân nâng cao hiệu quả kinh tế, mà còn trực tiếp giúp cho các cán bộ cơ quan chuyên môn nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng.
Để huy động nguồn thu cho việc thực hiện chính sách, UBND tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo các sở, ban, ngành lên quan, Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh phối hợp với các đơn vị sử dụng DVMTR trong toàn tỉnh tổ chức thực hiện tốt việc ký kết hợp đồng ủy thác. Tính đến hết năm 2015, đã ký kết 13 hợp đồng ủy thác, trong đó: Thủy điện 10 hợp đồng với 12 cơ sở kinh doanh điện; nước sạch 2 hợp đồng với 7 cơ sở kinh doanh nước; 1 hợp đồng với đơn vị kinh doanh du lịch.
Tính từ năm 2011 đến hết 2015, đã thu được 421,52 tỷ đồng, đạt 104% so với kế hoạch. Lũy kế đến ngày 30/6/2016, tỉnh Điện Biên đã phê duyệt 23 phương án trồng rừng thay thế của 23 dự án có diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác. Đối với một số dự án không có điều kiện trồng rừng, UBND tỉnh cho phép nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên. Tính đến nay, tổng số tiền đã nộp để thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2016 gần 12 tỷ đồng, tương ứng với diện tích 180,09ha rừng.
Tại những khu vực được hưởng chính sách chi trả DVMTR đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ rừng, các bộ phận nhận khoán bảo vệ rừng với chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm trong công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững; phòng chống các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, hạn chế đáng kể tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép... Nâng số hộ tham gia trực tiếp bảo vệ rừng từ 33.997 hộ (năm 2013) lên 41.292 hộ (năm 2015); đồng thời còn huy động được một nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên.
Ghi nhận tại huyện Điện Biên, năm 2016, huyện Điện Biên đã thực hiện chi trả DVMTR cho 8 xã, tổng diện tích được chi trả là 13.626,37ha, cho 273 chủ rừng với số tiền trên 3,8 tỷ đồng.
Ông Bùi Hải Bình, Phó Chủ tịch UBND huyện Điện Biên chia sẻ: Nhờ chính sách chi trả DVMTR, ý thức bảo vệ rừng của những người dân được hưởng lợi từ chính sách đã có những chuyển biến tích cực. Qua đó, gắn được trách nhiệm và lợi ích của người dân đối với rừng, từ đó có những biện pháp ngăn chặn hành vi xâm hại tài nguyên rừng. Nguồn thu nhập từ DVMTR góp phần ổn định đời sống, giảm thiểu tệ nạn xã hội, tình trạng mất trật tự an ninh trên địa bàn. Đồng thời, bảo vệ được diện tích rừng hiện có, rừng được phục hồi làm tăng khả năng phòng hộ, đảm bảo cân bằng sinh thái, giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế cháy rừng. Độ che phủ rừng của huyện Điện Biên tương đối cao với 49,7%.
Từ khi được hưởng chính sách chi trả DVMTR, nhiều hộ dân, chủ rừng đã cam kết bảo vệ tốt diện tích rừng đã được giao, tiếp tục khoanh nuôi tái sinh rừng, đăng ký trồng mới rừng tại các khu đất trống đồi trọc, nương rẫy... Đây là những hiệu quả thiết thực mà chính sách chi trả DVMTR mang lại.
Ông Quàng Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Nà Nhạn cho biết: Năm 2016, xã Nà Nhạn đã tổ chức trồng mới được 40ha, trong đó có 4,6ha rừng trồng thay thế. Đến nay trên 2.400ha rừng của xã Nà Nhạn đủ tiêu chuẩn để hưởng chính sách chi trả DVMTR.
Có thể thấy, chính sách chi trả DVMTR là một chính sách có hiệu quả phát triển kinh tế rừng bền vững, nhằm thu hút, tạo thêm điều kiện để người dân được hưởng thụ khi sinh sống bằng nghề rừng và tham gia bảo vệ rừng, góp phần tích cực vào xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Để nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR, trong thời gian tới, tỉnh Điện Biên sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giúp người dân hiểu được vai trò của chính sách chi trả DVMTR, từ đó nâng cao nhận thức của người dân trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp, ngành trong việc kiểm tra, giám sát, thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Đồng thời, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng để trước mắt giữ diện tích rừng hiện còn và tăng độ che phủ rừng trong thời gian tới. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/12) đầu trang(
Sau khi được tỉnh giao lại một phần diện tích đất rừng thuộc Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Võ Nhai (viết tắt là Công ty Lâm nghiệp), các cấp chính quyền của huyện Võ Nhai đã tích cực rà soát để giao lại cho các hộ dân quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sản xuất.
Việc làm này góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội tại những vùng còn nhiều khó khăn của địa phương phát triển.
Diện tích rừng do Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai quản lý là hơn 1.300ha, thuộc địa bàn 2 xã Dân Tiến và Tràng Xá. Trong đó, tại xã Dân Tiến có hơn 1.000ha, còn lại là ở xã Tràng Xá. Từ năm 2000, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên phần diện tích 1.300ha rừng của doanh nghiệp này không còn hiệu quả, đời sống của cán bộ, công nhân không được bảo đảm. Do vậy, phần lớn diện tích rừng đã được Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai giao khoán cho người dân trồng rừng.
Trước tình trạng hoạt động kém hiệu quả của Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai, ngày 17-9-2013, UBND tỉnh đã có Quyết định số 1810/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất lâm nghiệp của Công ty tại 2 xã Dân Tiến, Tràng Xá để giao cho UBND huyện quản lý. Sau khi nhận bàn giao, UBND huyện Võ Nhai đã phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan của tỉnh để xây dựng phương án sử dụng đất, đồng thời đề ra các giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn.
Ông Phạm Việt Tiến, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: Sau khi có quyết định của tỉnh giao lại diện tích đất rừng cho địa phương quản lý, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với chính quyền các xã tiến hành rà soát lại toàn bộ hồ sơ giao khoán của Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai để làm căn cứ xác định, đo đạc ranh giới lô, khoảnh rừng  giao lại cho các hộ dân phát triển rừng sản xuất.
Đến nay, tại xã Dân Tiến đã có 600 hộ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn gần 150 hộ do bị nhầm lẫn tên tuổi nên đề nghị được cấp lại. Đối với diện tích rừng tại xã Tràng Xá hiện vẫn chưa hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân do còn vướng mắc về hợp đồng giao khoán trước đây và trong diện tích đất của Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai quản lý có Di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh.
Vì vậy, huyện Võ Nhai đang tích cực hoàn thiện việc quy hoạch, xây dựng xong Khu di tích để giao cho một đơn vị quản lý nhất định. Sau đó, huyện sẽ giao cho người dân quản lý một số diện tích đất lâm nghiệp dựa trên các hợp đồng giao khoán với Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai…
Tại xã Dân Tiến, diện tích rừng của Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai thuộc 3 xóm Làng Mười, Làng Chẽ và Đồng Quán, trong đó có gần 700ha thuộc xóm Làng Mười. Hiện tại, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp của Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai ở đây đã được giao cho người dân.
Ông Nguyễn Văn Thiện, một người dân xóm Làng Mười cho biết: Từ khi được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, gia đình tôi tiến hành trồng rừng, đến nay, rừng đã sắp được cho khai thác. Nếu như trồng giao khoán như trước kia thì không thể phát triển được kinh tế, bởi trồng khoán mình chỉ được hưởng lợi 40% khi khai thác và 3 năm đầu được hỗ trợ gạo.
Ở Làng Mười, 70% các hộ dân sống dựa vào trồng rừng, hộ nhiều nhất là khoảng 20ha, hộ ít nhất cũng khoảng 3ha. Mặc dù được trồng khoán cho Công ty Lâm nghiệp Võ Nhai nhưng đời sống không bảo đảm nên việc quản lý, bảo vệ của các hộ dân không được chặt chẽ, rừng thường xuyên bị cháy hoặc chặt trộm.
Còn ông Triệu Văn Hiền, Trưởng xóm Làng Mười chia sẻ: Trong xóm có 174 hộ dân, với 80% là đồng bào dân tộc Dao, đời sống của người dân chủ yếu dựa vào trồng rừng. Từ khi các hộ dân được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, việc quản lý, phát triển rừng ở đây rất tốt.
Tuy nhiên, do  giao thông vào xóm vẫn còn khó khăn nên người trồng rừng thường bị thương lái ép giá. Vì vậy, chúng tôi mong muốn Nhà nước sớm đầu tư xây dựng khoảng 5km đường từ xóm Thịnh Khánh vào đến xóm để giá trị kinh tế đem lại từ rừng lớn hơn...
Việc huyện Võ Nhai khẩn trương giao đất lâm nghiệp cho các hộ dân quản lý sau khi Công ty Lâm nghiệp huyện hoạt động kém hiệu quả đã góp phần bảo vệ, quản lý và phát triển rừng hiệu quả hơn. Đây cũng là việc làm cần thiết để người dân ở những khu vực có rừng sản xuất được hưởng lợi thực sự từ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo tại các địa phương. (Báo Thái Nguyên 6/12) đầu trang(
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường vừa có Chỉ thị số 10278/CT-BNN-TCLN ngày 6/12 về việc phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Đinh Dậu năm 2017.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”, phong trào trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng của cả nước trong những năm qua đã không ngừng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên cả nước. Thông qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phát huy tác dụng phòng hộ, cải thiện môi trường, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Năm 2016, mặc dù thời tiết có những diễn biến bất lợi, rét đậm, rét hại, khô hạn kéo dài, bão lũ liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi; ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống người dân. Dù vậy, các địa phương trong cả nước đã trồng được 205 nghìn ha rừng tập trung và trên 50 triệu cây phân tán; khoán quản lý, bảo vệ 6,2 triệu ha rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 360 nghìn ha. Tuy nhiên, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng và trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng khác chưa đạt kế hoạch đề ra; tình trạng phá rừng, cháy rừng vẫn còn xảy ra ở một số địa phương.
Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn, đồng thời tích cực chuẩn bị tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” trong dịp Tết Nguyên đán xuân Đinh Dậu năm 2017, Bộ NN&PTNT đề nghị các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về mục đích, ý nghĩa của “Tết trồng cây”; động viên các cấp, các ngành và nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng qua đó, nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò, tác dụng, giá trị của rừng và công tác trồng cây, trồng rừng gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Việc tổ chức “Tết trồng cây” cần thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, trường học, lực lượng vũ trang và mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng. Thời điểm tổ chức “Tết trồng cây” đối với các tỉnh phía Bắc tiến hành vào đầu xuân năm mới Đinh Dậu, đối với các tỉnh phía Nam tiến hành vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác 19/5.
Các địa phương, đơn vị cần xây dựng kế hoạch trồng cây, trồng rừng gắn với triển khai thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2017 theo Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 26/8/2016. Xác định cụ thể địa điểm trồng cây, trồng rừng, trong đó ưu tiên, bố trí trồng ở những khu vực nơi đất trống trong các cơ quan, khu công nghiệp, đơn vị, trường học, bệnh viện, quanh nhà, quanh vườn,…
Nâng cao quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp, lựa chọn loài cây trồng phù hợp, chuẩn bị cây giống chất lượng tốt và tăng tỷ lệ sử dụng giống mô, hom, tranh thủ thời vụ và thời tiết thuận lợi để cây trồng có tỷ lệ sống cao. Tổ chức tốt việc chăm sóc, quản lý bảo vệ cây trồng, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô hanh, phân công trách nhiệm quản lý cụ thể để đảm bảo cây trồng, rừng trồng phát triển tốt. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 7/12) đầu trang(
Trồng rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, giảm xói mòn đất. Hiệu quả của rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ đã được khẳng định.
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang, phát triển thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng từ cung xấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, từng bước giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu hiện nay. Ngoài ra sản xuất kinh doanh rừng gỗ lớn cũng giảm bớt số lần khai thác, trồng rừng lại. Do đó, giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác rừng gây ra. Rừng gỗ lớn còn có khả năng hấp thụ cacbon, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu.
Lợi ích của trồng rừng gỗ lớn là vậy, tuy nhiên trên thực tế việc đầu tư phát triển trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh lại đang gặp khá nhiều khó khăn. Diện tích rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu là rừng ngắn ngày nên chất lượng gỗ không cao, hầu hết được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy.
Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Yên Sơn hiện đang quản lý trên 3.000 ha rừng, trong đó có trên 2.400 ha rừng sản xuất, tuy nhiên diện tích rừng trồng gỗ lớn lại chiếm một con số rất nhỏ khoảng trên 10 ha. Ông Hoàng Trung Xuân, Giám đốc công ty cho biết: Giá trị của trồng rừng gỗ lớn là có, tuy nhiên chu kỳ rừng gỗ lớn lại tương đối dài, ít nhất là từ 12 năm trở lên thậm chí trên 20 năm.
Với chu kỳ lâu như vậy nếu doanh nghiệp đầu tư trồng thì trong khoảng thời gian đó doanh nghiệp không biết lấy đâu tiền để trả lương cho công nhân và người lao động. Do vậy để lấy ngắn nuôi dài, giải pháp của doanh nghiệp hiện nay vẫn phải là trồng rừng nguyên liệu kết hợp với trồng rừng gỗ lớn.
Không chỉ có doanh nghiệp khó khăn, nhiều hộ dân ở các địa phương cũng đang gặp khó khăn trong việc đầu tư trồng rừng gỗ lớn. Theo những hộ trồng rừng thì chính nguồn vốn là vật cản để họ phát triển trồng rừng gỗ lớn. Nếu như trồng rừng nguyên liệu, chỉ 4 đến 5 năm cùng lắm là 6 đến 7 năm được khai thác, còn trồng rừng gỗ lớn để gỗ có giá trị đòi hỏi thời gian chăm sóc, bảo vệ dài gấp đôi thậm chí gấp ba lần. Vì vậy dẫn đến quá trình được khai thác thu hồi vốn đầu tư lâu, đó là chưa kể đến độ rủi ro về thị trường tiêu thụ.
Nâng cao giá trị kinh tế rừng, trong đó nâng cao giá trị khai thác từ 60 – 70 m3/chu kỳ lên 100 m3/chu kỳ, tỉnh cũng đã bước đầu xây dựng các mô hình trồng rừng gỗ lớn tại các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực lâm nghiệp. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, trên địa bàn tỉnh đã có 5 doanh nghiệp thực hiện trồng rừng gỗ lớn với quy mô trên 40 ha.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, tiếp tục thực hiện nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, trong đó có rừng cây gỗ lớn, ngành cũng đang xây dựng hoàn thiện Đề án nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng trồng giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn tỉnh, trình UBND tỉnh phê duyệt. Có 12 nhóm giải pháp, giải pháp đã được tính đến để triển khai. Đó là quy hoạch và quản lý đất lâm nghiệp; triển khai các cơ chế chính sách; ứng dụng khoa học và công nghệ; tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quản lý giống và tái sản xuất kinh doanh rừng; giải pháp tài chính… (Môi Trường Và Đời Sống 6/12) đầu trang(
Với mục tiêu bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng, những năm qua, bên cạnh triển khai, thực hiện chương trình, dự án trồng rừng của Chính phủ và của tỉnh, Chi cục Kiểm Lâm Vĩnh Phúc đã làm tốt công tác tham mưu, tổ chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lâm nghiệp; đẩy mạnh bảo vệ và phát triển rừng; chủ động phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 33.000ha, trong đó có hơn 16.000ha rừng và đất rừng được quy hoạch là rừng đặc dụng. Trong những năm qua, cùng với việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng luôn được Vĩnh Phúc đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Năm 2016, tỉ lệ che phủ rừng của Vĩnh Phúc đạt hơn 25%; Kinh tế đồi rừng đã trở thành thế mạnh về phát triển kinh tế của nhiều hộ dân ở các xã: Lãng Công, Đồng Quế, Hải Lựu huyện Sông Lô; xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên. Bên cạnh đó, với mục tiêu trồng rừng để có thể giảm bớt thiên tai lũ lụt, các cấp chính quyền đã vận động người dân tái tạo rừng, góp phần tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái, điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 6/12) đầu trang(
Với nguồn vốn hỗ trợ của Khuyến nông Quốc gia năm 2016, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh đã triển khai mô hình trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn tại xã Canh Tân, huyện Thạch An.
Mô hình được thực hiện tại 3 xóm là Nà Cốc, Pác Mỉai, Đông Muổng trên diện tích 16ha với 10 hộ tham gia. Đây là những hộ có diện tích đất đồi dốc, canh tác các loại cây màu không đạt hiệu quả, phù hợp với trồng cây lâm nghiệp. Sau hơn 9 tháng triển khai mô hình, được cán bộ khuyến nông tập huấn chuyển giao kỹ thuật và được cấp cây giống, phân bón, các hộ đều đã tiến hành trồng theo đúng thời vụ.
Đến nay tỷ lệ cây sống đạt khoảng gần 90%, cây mỡ sinh trưởng phát triển tốt, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nơi đây; một số diện tích bà con chăm sóc tốt cây cũng đã mọc cao từ 60cm - 70cm.
Mặc dù mới chỉ là năm đầu tiên, thế nhưng qua kết quả ban đầu cho thấy việc đưa cây mỡ vào trồng trên đất dốc, khô cằn đã góp phần đa dạng hóa cây trồng phủ xanh đất trống đồi trọc và tương lai sẽ giúp nông dân có thêm thu nhập từ nghề trồng rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cao Bằng 5/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một nhóm các kiểm lâm viên và nhà bảo tồn đang cất công bảo vệ một loại cây hoang dã và vô cùng quý hiếm thoát khỏi thảm họa diệt chủng, đó là nhân sâm Mỹ.
Jim Corbin nhoài đầu ra khỏi chiếc xe công vụ trước một tiệm tạp hóa tại thành phố nhỏ Sylba ở Appalachian. Tháng 9 hàng năm, có khá đông người đến Sylva tìm Jim Corbin để ông ký giấy tờ cho phép họ bán một món từ lòng đất: sâm Mỹ.
Loài thảo mộc hoang dã này đã suy giảm trong nhiều năm qua, nhưng sức ép khai thác trộm vẫn không ngừng gia tăng từ nhu cầu của các thầy lang y học cổ truyền đến từ Trung Quốc đại lục. Hiện giá sâm Mỹ đã tăng vọt lên hơn 1.000 USD/cân Anh (0,45 kg).
Năm 1975, cây sâm Mỹ (Panax quinquefolius) đã được liệt kê trong bản Phụ lục II của CITES, nhưng đã sớm rơi vào guồng máy khai thác triệt để. Bất chấp gia tăng mức án phạt và giới hạn thời kỳ khai thác, lợi nhuận từ sâm Mỹ làm mờ mắt những kẻ tham lam.
Jim Corbin thừa nhận: “Tôi cá là rất ít số nhân sâm được khai thác tại Mỹ đi theo con đường hợp pháp”. Một hướng đi nhằm đảm bảo giữ vững nguồn gene sâm quý, theo bà Jeanine Davis - một nhà sinh học tại Đại học công Bắc Carolina - “kẻ thù lớn nhất của nhân sâm là con người”.
Thế giới có tổng cộng 11 loài nhân sâm, được nhiều nền văn hóa sử dụng cho các mục đích khác nhau. Nhân sâm được ca ngợi là diệu dược để chữa lành mọi căn bệnh từ yếu sinh lí cho đến các chứng rối loạn cương dương.
Nhiều loài sâm gốc Á châu ngày nay đã tuyệt chủng hoặc đang đối mặt với nguy cơ bị đe dọa. Việc khám phá ra sâm Mỹ từ thập niên 1700 bởi các linh mục dòng Tên để ngày hôm nay, truyền thống khai thác sâm hoang dã vẫn được duy trì trên khắp vùng Appalachia.
Maggie Bowers là người chuyên lùng mua sâm nói rằng mình làm cái nghề này từ hồi còn trẻ. “Cha mẹ tôi chuyên săn sâm, tiền thu về để trang trải mọi chi phí”. Maggie được biết đến với biệt danh “Maggie Sâm”, đến với Jim Corbin để thúc đẩy việc kinh doanh. Lúc lớn lên, bà thấy nhiều thành viên trong gia đình ngâm sâm trong rượu, uống một thìa rượu sâm vào mỗi buổi sáng. “Nó chữa nhiều thứ bệnh lắm”.
Trước khi Jim Corbin ký vào giấy phép chấp thuận cho Maggie mua 36,2 kg sâm, ông đã kịp thời kiểm tra chất lượng mặt hàng sâm đó. Trong cốp chiếc Toyota của Maggie, lộ ra vài chiếc túi nhựa trong suốt chứa đầy cộm những cái rễ cây nhỏ màu kem, mỗi củ sâm có kích cỡ như một ngón tay.
Corbin rọi đèn pin lên mỗi cái túi, tìm kiếm sự phản xạ của một thứ bột huỳnh quang vốn được cánh kiểm lâm sử dụng tại Vườn quốc gia Rặng núi Đại khói sương (Great Smoky Mount) nhằm theo dõi dấu vết nhân sâm (nếu nó bị săn trộm).
Bột huỳnh quang sẽ nói lên củ nhân sâm có được “luộc” từ đất của chính phủ không. Maggie Bowers nói: “Tôi tin mình làm việc đường hoàng, danh chính ngôn thuận, và tin chắc vào những người thợ đào sâm”.
Theo nhà sinh học thực vật James McGraw của Đại học Tây Virginia – từng nhiều năm nghiên cứu về sâm Mỹ - chỉ có khoảng 6% nhân sâm được khai thác ngay trong lãnh thổ Mỹ hội tụ đủ quy định về độ tuổi sâm, thời điểm và địa điểm thu hoạch.
Luật liên bang Mỹ cấm khai thác sâm tại vườn quốc gia và các cánh rừng nguyên sinh, nhưng một số quần thể sâm quý nhất có thể được tìm thấy trong khoảng diện tích 109.669ha của Vườn quốc gia cạnh Rừng quốc gia Pisgah.
Cách đây 20 năm, Jim Corbin đã cùng các kiểm lâm viên phát triển hệ thống theo dấu nhân sâm (GMS) nhằm cho phép nhanh chóng tìm ra số sâm khai thác là nguồn hợp pháp hay bất hợp pháp. Bí mật của lớp bột nhiều màu là nó phát sáng như “lửa hộp quẹt” dưới ánh sáng đen.
Tháng 8 hàng năm, trước khi bước vào vụ thu hoạch sâm, các kiểm lâm viên và tình nguyện viên sẽ tỏa đi vào vườn quốc gia, tìm ra những cây sâm, phủi sạch đất bám quanh rễ củ rồi thoa bột nhận dạng vào gốc sâm.
Nhưng vườn quốc gia quá rộng lớn, địa hình gồ ghề và hẻo lánh, không phải củ sâm nào cũng được bôi bột nhận dạng. Nhiều tay săn trộm thừa kinh nghiệm, lẩn như chạch trong rừng nhiều ngày trời. Ý tưởng “bảo tồn thông qua trồng trọt” là một trong số ít các ý tưởng có giá trị tiềm năng nhằm giúp tăng số lượng nhân sâm càng nhiều càng tốt.
Chỉ cần vượt qua 2 làn xe chạy với hàng tá các hẻm là Sara Jackson đã đến “kho báu” của mình. Chỉ về phía nơi bà và bạn trai Martin đang gieo những cái hạt trong suốt nhiều năm qua, Sara nói: “Đây là giấc mộng ngông cuồng của người săn sâm. Họ sẽ thèm rỏ dãi khi nhìn thấy nó”.
Sara kiên nhẫn giải thích về những loài cây mà thế nào cũng có cây sâm mọc cạnh bên, đó là cây tầm ma và cây thường xuân: “Mấy người săn sâm rành mấy loài cây này lắm, thế nên mình phải có kế hoạch bảo vệ chúng thôi”.
Sara đi tới một cây dương xỉ lớn tán ôm lấy cây sâm 4 lá, ước lượng từ 8 đến 10 tuổi. Không giống như đám săn sâm chuyên dùng xẻng để đào củ sâm càng nhanh càng tốt, Sara Jackson lại dùng tay trần và một cái tuốc-nơ-vít nhỏ để nới lỏng đám rễ cây và lôi rễ ra khỏi đá.
Sara chậm rãi phủi sạch lớp đất bẩn bám quanh rễ sâm, làm lộ ra 3 cái thùy rất đặc biệt, mỗi thùy lại có một số sợi lông dài. Sara Jackson nói, trong y học cổ truyền Trung Quốc, hình dáng củ sâm tương ứng với nhu cầu sử dụng nó:
Củ sâm nhìn như một bà mẹ bế em bé được dùng cho chức năng sinh sản, trong khi nếu củ sâm có hình dáng người đàn ông đang chạy thì sẽ dùng để làm nước tăng lực. Gốc sâm càng hoàn hảo thì càng đắt tiền, bởi vậy Sara cố gắng tránh làm tổn hại củ sâm.
Trồng sâm từ hạt cực kỳ khó. Năm 1991, trên tờ tạp chí Sinh thái, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ có từ 1% đến 15% hạt sâm nảy mầm thành cây con, và từ 85 đến 31% số cây con này sống đến tuổi trưởng thành, chỉ có 4 cây sâm sống đến lúc thu hoạch củ.
Sara thừa nhận: “Thật sự tôi chưa bao giờ bị “thó” sâm, nhưng vấn đề là thời gian”. Một vấn đề trăn trở khác là thị trường dường như không quan tâm nguồn gốc sâm là khai thác hợp pháp hay bất hợp pháp. Tuy vậy, ý thức của lớp người trẻ ở Trung Quốc đã không ngừng tăng lên, mang đến một sự hứa hẹn.
Sara Jackson đang muốn tạo ra một thị trường nhân sâm có đạo đức. Nhưng với cả hai ông Jim Corbin lẫn Joe Pond  thì đều không giấu vẻ bi quan: “Tôi nghĩ rằng những cây sâm sẽ tồn tại, song củ nó ngày càng nhỏ, và sẽ sống đâu đó nơi hẻo lánh, rất khó đào”... (Pháp Luật Việt Nam 7/12) đầu trang(./.