|
Ngày 06 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Từ ngày 7 đến 11-12, thời tiết miền bắc khô hanh, nguy cơ cháy rừng tăng cao.
Theo Cục Kiểm lâm, một số khu vực ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang và Phú Thọ nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp IV, cấp nguy hiểm. Vì vậy, các tỉnh cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Nhân Dân 6/12) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc 13 cây gỗ dổi có đường kính từ 36cm đến gần 80cm/cây (tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định) đã bị lâm tặc đốn hạ mà báo điện tử Dân Việt từng có bài viết phản ánh, cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định được 9 đối tượng tham gia phá rừng.
Chiều 5.12, trao đổi với phóng viên Dân Việt, ông Lê Văn Đẩu- Phó chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định) cho biết: “Đến nay, cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định được 9 đối tượng tham gia chặt hạ 13 cây gỗ dổi lớn thuộc tiểu khu 183 (tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh). Hiện tại, chúng tôi đang đấu tranh khai thác với người chủ mưu phá rừng, phía sau vụ việc này còn đối tượng nào thì vẫn đang điều tra”.
Theo ông Đẩu, 9 đối tượng tham gia phá rừng đều là người đồng bào dân tộc thiểu số.
“Cơ quan chức năng đang xin chủ trương để chuẩn bị khởi tố các bị can có liên quan. Khi nào, anh em kết thúc điều tra tôi sẽ thông tin sau”- ông Đẩu cho hay.
Liên quan đến vụ việc trên, UBND tỉnh Bình Định đã chỉ đạo Công an tỉnh, Công an huyện Vĩnh Thạnh cùng ngành chức năng có liên quan quyết liệt xử lý vụ án. Ngoài việc hủy hoại rừng, cần làm rõ có hay không sự việc liên kết giữa lực lượng bảo vệ rừng với lâm tặc(?).
Trong khi đó, ngày 25.11, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định) đã khởi tố vụ án “hủy hoại rừng” xảy ra tại tiểu khu 183 rừng phòng hộ thuộc xã Vĩnh Hảo.
Theo ông Đặng Bá Quang- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, Trung tâm Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn (Sở NN&PTNT Bình Định) đã thông báo kết quả giám định về việc 13 cây gỗ dổi, nhóm III bị lâm tặc đốn hạ tại khoảnh 2, khoảnh 4, tiểu khu 183, xã Vĩnh Hảo (huyện Vĩnh Thạnh). Theo kết quả giám định thì 13 cây gỗ dổi bị chặt phá có tổng khối lượng gỗ là 44,9m3.
Trước đó, ngày 9.11, báo điện tử Dân Việt đã đăng tải bài viết: “Chảy máu” rừng, công an vào cuộc điều tra phản ánh vụ việc tại khoảnh 2 và khoảnh 4, tiểu khu 183, xã Vĩnh Hảo (huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định) có 13 cây gỗ dổi đường kính từ 36cm- gần 80cm/cây (nhóm III) đã bị lâm tặc đốn hạ.
Đây là khu vực rừng thuộc lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh Thạnh quản lý. Sau khi khai thác, lâm tặc đã tiến hành cưa xẻ một số cây và vận chuyển đi nơi khác, còn lại tại hiện trường chưa cưa xẻ là 22 lóng gỗ tròn, có khối lượng là 22,679m3 và 2 tấm gỗ xẻ, có khối lượng 0,284m3. (Dân Việt 5/12) đầu trang(
Ngay sau khi Công an huyện Đác Song (Đác Nông) khởi tố và tiến hành điều tra vụ khai thác hàng trăm mét khối gỗ Du Sam trái phép tại tiểu khu 1133, Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Nam Nung, thì cũng chính tại tiểu khu này, "lâm tặc" lại ngang nhiên triệt hạ, khai thác mới, vận chuyển hàng chục mét khối loại gỗ trên.
Vì sao, cơ quan chức năng đang điều tra thì tình trạng phá rừng tái diễn ngay cùng địa điểm? Có hay không sự tiếp tay cho "lâm tặc"? Đây là nghi vấn cần sớm được làm rõ.
Mới đây, trong quá trình tuần tra, kiểm soát tại tiểu khu 1133, lực lượng kiểm lâm của khu BTTN Nam Nung phát hiện và bắt giữ một xe cày độ chế của Nguyễn Trọng Hùng, thường trú xã Đác N'Drung, huyện Đác Song, đang vận chuyển gần 2 m3 gỗ Du Sam dạng hộp ra khỏi rừng.
Qua điều tra, phát hiện chủ gỗ và phương tiện chở gỗ trái phép là do Công an huyện Đác Song thuê để chở gỗ tang vật của vụ án phá rừng đã được khởi tố trước đó. Mở rộng kiểm tra tại tiểu khu 1133 và 1132, lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Nam Nung phát hiện có mười cây rừng đường kính từ 40 cm đến 70 cm bị đốn hạ khoảng đầu tháng 11-2016, trong đó có tám cây gỗ Du Sam và hai cây gỗ Dầu gió, với khối lượng hơn 33 m3.
Giám đốc Khu BTTN Nam Nung Đặng Xuân Lộc cho biết: Sau khi bị bắt, tạm giữ tang vật và phương tiện, Công an huyện Đác Song đã có văn bản xác nhận cả xe và người do Công an thuê và đề nghị trả phương tiện, nên chúng tôi đã thả xe, còn gỗ tang vật phải thu giữ để báo cáo cơ quan chức năng xử lý.
Cũng theo ông Lộc, mặc dù trước đó đơn vị đã có văn bản đề nghị Công an huyện Đác Song khi tổ chức thu gom gỗ tang vật của vụ án trước, cần phối hợp chặt chẽ với đơn vị, nhưng Công an huyện Đác Song chưa thực hiện trong việc giám sát, thậm chí đến nay, không cung cấp danh sách về số lượng người và phương tiện được thuê để đơn vị này giám sát, kiểm tra.
Trưởng Công an huyện Đác Song Phạm Quốc Lập xác nhận: "Chiếc xe chở gỗ trái phép bị bắt giữ vừa qua là một trong số các phương tiện do cơ quan này thuê, để chở gỗ tang vật của vụ án phá rừng trước đó. Trong quá trình vận chuyển đều có các cơ quan chức năng giám sát. Vụ việc chở gỗ trái phép vừa qua là do lúc đó cơ quan giám sát vào chưa kịp, nên họ bốc nhầm giữa gỗ tang vật vụ án và gỗ của lâm tặc khai thác để ngay giữa đường đi, không có chuyện lợi dụng chở gỗ tang vật để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép".
Cũng theo ông Lập, số gỗ trái phép nêu trên có thể "do trước đây các cơ quan chức năng kiểm tra chưa kỹ, không phát hiện ra vì lâm tặc cất giấu kỹ". Tuy nhiên, khi chúng tôi đặt câu hỏi, gỗ khai thác cất giấu tinh vi tại sao lại nằm... ngay giữa đường đi, khiến xe vận chuyển gỗ tang vật dễ dàng bốc nhầm như vậy?
Ông Phạm Quốc Lập lại cho rằng: "Trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng là của Khu BTTN Nam Nung, chúng tôi chỉ có nhiệm vụ vận chuyển gỗ tang vật, khi nào vụ việc chuyển hồ sơ qua mới tiến hành điều tra xử lý". Đối với việc phối hợp cung cấp thông tin, giám sát xử lý tang vật vụ án, ông Lập khẳng định: "Vẫn phối hợp bình thường không có gì khuất tất. Vấn đề cung cấp thông tin về người và phương tiện được thuê hay không chỉ mang tính hình thức, còn quá trình thu gom tang vật vẫn được các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ, không có chuyện lợi dụng để trục lợi".
Liên quan vụ việc, Chi Cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Đác Nông Nguyễn Ngọc Tài cho biết: Vụ việc cây Du Sam tiếp tục bị tàn phá trong quá trình vận chuyển gỗ tang vật vụ án và việc dùng xe do cơ quan công an thuê chở tang vật để chở gỗ trái phép, tôi chưa nắm được thông tin cụ thể. Hiện đang chỉ đạo các đơn vị liên quan báo cáo vụ việc. Sau khi nhận được đầy đủ thông tin, chúng tôi sẽ tham mưu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đác Nông có biện pháp xử lý...
Tình trạng phá rừng, khai thác gỗ Du Sam trái phép tại tiểu khu 1133 đã diễn ra trong thời gian dài. Trung tuần tháng 9 vừa qua, Báo Nhân Dân đăng loạt bài "Tan nát Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung", phản ánh thực trạng nhức nhối về phá rừng, khai thác gỗ Du Sam nơi đây. Ngay sau đó, UBND tỉnh Đác Nông đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc xử lý, giao Công an huyện Đác Song khởi tố vụ án "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng" xảy ra tại tiểu khu 1133.
Đến ngày 29-9-2016, UBND tỉnh Đác Nông đã ban hành Quyết định số 1677/QĐ-UBND, thành lập một tổ công tác đặc biệt giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp cơ quan chức năng các cấp kiểm tra xử lý vụ việc. Theo đó, kể từ đầu tháng 10 đến nay, đoàn công tác gần 50 người gồm Công an tỉnh Đác Nông, Công an huyện Đác Song, Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Đác Song và Hạt Kiểm lâm thuộc Khu BTTN Nam Nung luôn có mặt, kiểm tra tại tiểu khu 1133 cùng một số điểm khác của Khu BTTN Nam Nung, thế nhưng lâm tặc vẫn ngang nhiên chặt phá, khai thác gỗ Du Sam.
Giám đốc Khu BTTN Nam Nung Đặng Xuân Lộc bức xúc: "Khi vụ án đã được khởi tố và đang trong quá trình điều tra, hàng chục cán bộ của các lực lượng chức năng ngày đêm túc trực trong rừng, thì rất khó xảy ra việc lâm tặc dám làm liều. Đây có thể có điều gì đó khuất tất, chưa rõ ràng, nên tôi đề nghị tỉnh Đác Nông chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra xử lý nghiêm".
Về vụ việc này, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đác Nông Lê Trọng Yên cho biết: "Chúng tôi đã làm việc với Công an tỉnh Đác Nông. Theo cơ quan công an, với mức độ vi phạm, khối lượng gỗ tang vật, tính chất hành vi của vụ việc đã đủ cơ sở để khởi tố điều tra vụ án. Hiện Sở đã báo cáo và tham mưu cho UBND tỉnh xử lý vụ việc với phương châm không có vùng cấm; làm điểm trấn áp tội phạm để chấn chỉnh lại công tác quản lý, bảo vệ rừng. Do đang trong quá trình điều tra, nên chưa thể cung cấp thông tin cụ thể hoặc nêu quan điểm riêng, phải chờ kết quả điều tra".
Cũng theo ông Yên, từ vụ việc này, Sở sẽ chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra toàn bộ 29 tiểu khu thuộc Khu BTTN Nam Nung, sau đó tiếp tục kiểm tra tại một số đơn vị quản lý bảo vệ rừng khác trong toàn tỉnh.
Trao đổi về vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đác Nông Trương Thanh Tùng đặt câu hỏi: "Phải có vấn đề gì đó, chứ lâm tặc không thể ngang nhiên xem thường các lực lượng chức năng như vậy được? Tại sao các lực lượng chức năng đang có mặt tại tiểu khu 1133 để điều tra vụ án mà lâm tặc vẫn tiếp tục vào khai thác gỗ trái phép nhưng lại không hề phát hiện và bắt được đối tượng? Hiện, tôi đã ký văn bản chỉ đạo Công an tỉnh Đác Nông khởi tố vụ án, điều tra làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan". (Nhân Dân 5/12) đầu trang(
Ròng rã nhiều ngày, các trinh sát gặm bánh mì nắm quy luật hoạt động và rạng sáng bất ngờ nổ súng quy phục lâm tặc.
“Khi những phát súng chỉ thiên vang lên giữa rừng lúc rạng sáng, gần 20 lâm tặc không kịp trở tay. Có người liều mạng nhảy xuống lòng hồ bơi ra mô đất ẩn nấp nhưng đến sáng thì quay vào bờ, hợp tác với công an vì biết toàn bộ khu vực đã bị bao vây”.
Thượng úy Nguyễn Thế Diễn, Đại đội trưởng Cảnh sát đặc nhiệm số 2 (Bộ Công an), kể lại vụ kết hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49) triệt phá chuyên án khai thác trái phép rừng phòng hộ ở xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) do băng nhóm Lê Hồng Hà (tức Hà “đen”, quê Nghệ An) và đàn em gây ra.
Theo Thượng úy Diễn, qua trinh sát, C49 phát hiện nhóm lâm tặc tàn phá rừng phòng hộ trong thời gian dài nhưng địa phương không xử lý triệt để. Nhóm lâm tặc hoạt động chuyên nghiệp, cắt cử người canh gác trên các ngả đường dẫn vào khu vực phá rừng nên đã lập chuyên án triệt phá băng nhóm này.
Sau khi trinh sát C49 nắm toàn bộ quy luật hoạt động của nhóm lâm tặc, Cảnh sát đặc nhiệm số 2 nhận lệnh phối hợp phá án. “Gần năm ngày đêm, bốn trinh sát của tiểu đoàn do Thượng tá Phan Anh Hùng, chính trị viên tiểu đoàn, chỉ huy, phối hợp với lực lượng C49 đi tiền trạm, túc trực tại khu vực rừng phòng hộ. Năm ngày đêm liên tiếp, khu vực rừng phòng hộ sương mù dày đặc, mưa to nên việc quan sát, tiếp cận mục tiêu rất khó khăn và nguy hiểm” - Thượng úy Diễn kể.
Tiếp xúc với chúng tôi, Thượng tá Khưu Thanh Triều, Tiểu đoàn trưởng Cảnh sát đặc nhiệm số 2, chia sẻ vì bí mật nên các trinh sát phải cắt rừng tiếp cận mục tiêu để quan sát. Trời mưa và sương mù nên khi nhìn khu vực qua ống nhòm hồng ngoại quan sát chỉ thấy những chấm đỏ di chuyển. “Mưa, lạnh, anh em quấn áo mưa quanh người ngồi tại chỗ gặm bánh mì, chờ sương tan để quan sát, mặc cho muỗi và vắt tấn công”.
Sau khi nắm chắc địa bàn, ém quân chờ sẵn, rạng sáng 8-7, các chiến sĩ Cảnh sát đặc nhiệm số 2 siết chặt vòng vây toàn bộ khu vực.
Khi những tiếng súng chỉ thiên vang lên, hàng chục lâm tặc không kịp trở tay. “Nhiều người nhảy xuống lòng hồ trong đêm tối tẩu thoát. Một số người bị anh em lao xuống nước truy bắt, số còn lại thấy nguy hiểm cho người bỏ trốn nên kêu gọi họ bơi trở vào. Có lâm tặc cứng đầu hét trả “Thà bị bắn chứ nhất định không vào bờ” rồi bơi ra cồn đất ẩn nấp. Đến gần sáng, những người này biết là không thể thoát nên bơi trở vào vì lạnh và đói, anh em chia bánh mì, nước uống cho họ” - ông Diễn kể.
Nhóm lâm tặc có trang bị kiếm, mã tấu… sẵn sàng chống trả khi gặp lực lượng chức năng. Chúng hoạt động phá rừng rất tinh vi và chuyên nghiệp. Gỗ khai thác trong lõi rừng cho trượt theo sườn núi xuống chìm dưới lòng hồ. Sau đó, thợ lặn tới ngậm ống thở buộc gỗ vào thùng phuy cho nổi dần lên và được cưa xẻ ngay tại chỗ. Tới gần quan sát thì do mặt nước phản chiếu nên không trông thấy nhưng khi đứng trên cao nhìn xuống lúc trời quang thì dưới lòng hồ gỗ xếp thành lớp…
Nhóm lâm tặc hoạt động chừng hai năm và rừng khu vực bị tàn phá tan hoang. Bên ngoài thì còn vài cây lưa thưa nhằm che mắt, càng đi sâu vào bên trong rừng phòng hộ, cảnh cây rừng bị đốn hạ tan hoang khiến các trinh sát không khỏi xót xa. “Không ngăn chặn họ, không biết rừng sẽ còn bị phá tới đâu” - ông Diễn nói.
Liên quan vụ án này, Hà “đen” bị bắt sau 40 ngày lẩn trốn. Hiện công an đã khởi tố hơn 10 người để điều tra.
Theo Thượng tá Triều, triệt phá nhóm lâm tặc là một trong hàng trăm vụ án mà đơn vị tham gia. “Trong thời gian tới, tình hình tội phạm còn diễn biến hết sức phức tạp, trong đó tội phạm liên quan đến bắt cóc con tin, khủng bố luôn tiềm ẩn nguy cơ. Vì vậy cán bộ, chiến sĩ của đơn vị không ngừng tu dưỡng đạo đức, bản lĩnh chính trị, thường xuyên rèn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kỹ chiến thuật để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong bất kỳ hoàn cảnh nào với phương châm “đã ra quân là giành thắng lợi” - ông Triều bày tỏ.
Tiểu đoàn Cảnh sát đặc nhiệm số 2 là đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, lực lượng chủ công của Bộ Công an, có nhiệm vụ đánh bắt khủng bố, giải thoát con tin trên địa bàn các tỉnh phía Nam. Trong 12 năm qua, đơn vị đã tham gia triệt phá nhiều chuyên án lớn. Đơn vị được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương Chiến công hạng Ba nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập đơn vị. Ngoài ra, còn hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, UBND các địa phương tặng cờ thi đua, bằng khen... (Pháp Luật TP.HCM 5/12) đầu trang(
Lợi dụng vùng giáp trên bộ và đường sông, “lâm tặc” hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum công khai tàn phá rừng. Đã có trên 30m3 gỗ bị khai thác trắng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ (Gia Lai).
Trước đó, 76m3 gỗ trên 5 xe tải nghi vấn đi từ Kon Tum qua Gia Lai cũng bị bắt giữ. Sự buông lỏng của các cơ quan quản lý đã hình thành các đường dây lâm tặc, xé nát rừng Tây Nguyên.
Trước nạn lâm tặc cát cứ, Gia Lai và Kon Tum “đau đầu” tìm cách chống đỡ. Dù rằng, hằng năm hai tỉnh đều ký kết quy chế phối hợp bảo vệ. Việc Công an huyện Chư Pah (Gia Lai) bắt giữ 30m3 gỗ chỉ là “phần ngọn” của tệ nạn. Báo cáo Chi cục Kiểm lâm (CCKL) dẫn chi tiết: Đã có 80 lóng gỗ tròn, khối lượng 30m3 bị phía Công an huyện Chư Pah bắt giữ.
Việc phá rừng được xác định xảy ra tại các lô 1, 2, 4 khoảnh 2, tiểu khu 231 thuộc lâm phần BQLRPH Bắc Biển Hồ (huyện Chư Pah). Siu Tuân (SN 1990, trú làng Wét, xã Chư Jô, huyện Chư Pah) - đối tượng chủ mưu - trực tiếp phá rừng, sau đó thuê người đưa máy cày vận chuyển ra ngoài tiêu thụ. Tại trụ sở Công an huyện Chư Pah, gỗ lóng nằm ngổn ngang, cũ mới trộn lẫn. Điều này chứng tỏ, lâm tặc phá rừng trong thời gian dài, nhưng BQLRPH Bắc Biển Hồ và Kiểm lâm huyện Chư Pah không phát hiện. Tỉnh Gia Lai phải fax văn bản chỉ đạo xử lý bởi tính chất nghiêm trọng của vụ việc.
Quá trình tuần tra vùng giáp ranh, huyện Đắc Đoa (Gia Lai) đã phát hiện 23 hộp gỗ bị khai thác vô chủ tại xã Hà Tây (huyện Chư Pah). Đồng thời phát hiện lâm tặc “khai mở” 3 con đường từ xã Chư Đăng Ya, 1 đường ở xã Đắc Tơ Ve và nhiều tuyến đường mòn tại xã Hà Tây (đều thuộc huyện Chư Pah) để khai thác, vận chuyển gỗ trái phép.
Việc phá rừng công khai là thế, nhưng huyện Chư Pah không hay biết, phải chờ Phó Chủ tịch huyện Đắc Đoa Nguyễn Tiến Dũng ký văn bản ngày 10.11, cảnh báo giùm. Trong khi huyện Chư Pah chưa có động thái xử lý thì ngày 18.11, công an huyện này bắt giữ 30m3 gỗ tại xã Chư Đăng Ya. Đây là khối lượng ban đầu, số gỗ chưa đo đếm, tới đây sẽ lớn hơn 30m3 rất nhiều.
Tại Tây Nguyên, lâm tặc đua nhau hoành hành. Ngày 9.9, tại khoảnh 6, tiểu khu 90, lâm phần Cty Lâm nghiệp Krông Pa (huyện K’Bang, Gia Lai), 21 đối tượng dùng cưa xăng cắt xẻ 30,166m3 gỗ hương.
Tiếp đó, ngày 6.10, đồn Biên phòng Ia Chía, đồn Ia O và đồn Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh vây bắt 5 xe tải chở 76m3 gỗ tại huyện Ia Grai, giáp ranh huyện Ia H’Drai (Kon Tum). 20 đối tượng liều lĩnh cướp xe và gỗ, bất chấp biên phòng Gia Lai nổ súng.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai Ngô Ngọc Sinh khẳng định: “Vụ bắt 5 xe này, tỉnh giao cho Công an huyện Ia Grai điều tra, nhưng đến nay chưa có kết luận”. Trong khi đó, Công an huyện Ia Grai nói, vụ án cần củng cố thêm chứng cứ, tài liệu vì phía Viện KSND huyện chưa đồng ý chứng cứ mà phía công an chuyển sang. Vậy, lâm tặc là ai? Đường đi của gỗ là từ Kon Tum hay phía Campuchia vẫn là câu hỏi.
Đầu năm đến nay, Gia Lai xảy ra 53 vụ phá rừng với hàng trăm mét khối gỗ bị triệt hạ. Trước diễn tiến phức tạp, GĐ sở NNPTNT Gia Lai Trương Phước Anh đề xuất, cần tăng cường con người để nâng cao thực thi công vụ, giám sát, bảo vệ rừng... Đồng thời, khi xảy ra sai sót thì phải xử lý nghiêm người giữ rừng.
“Nhưng vấn đề Chính phủ chỉ đạo (đóng cửa rừng - PV) thì phải đưa cho được vào thực tế” - ông Anh nhấn mạnh. Còn Chi cục trưởng CCKL Gia Lai Nguyễn Nhĩ thì kiến nghị: Cần quy trách nhiệm cho người đứng đầu cấp xã, huyện và các ngành liên đới trong việc quản lý, bảo vệ rừng để thực hiện việc đóng cửa rừng của Thủ tướng. (Lao Động 6/12) đầu trang(
Mới đây, ông Nguyễn Đức Trường, Chánh văn phòng huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) cho biết, đã có kết luận kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của những tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp trước những sai phạm liên quan đến tình trạng phá rừng và bán đấu giá gỗ tang vật không đúng quy định tại xã Triệu Nguyên.
Kết quả cho thấy, 7 cá nhân là lãnh đạo và cán bộ xã đều phải nhận hình thức kỷ luật. Trong đó, Bí thư và Chủ tịch UBND xã Triệu Nguyên cùng nhận hình thức kỷ luật khiển trách.
Ngoài ra, thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng cũng cho biết, đơn vị này đã làm rõ trách nhiệm và tiến hành kỷ luật với những cá nhân liên quan. Cụ thể, ông Lý Văn Dâng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình chịu hình thức kỷ luật phê bình, nhắc nhở và rút kinh nghiệm trước lãnh đạo chi cục.
Đối với cán bộ kiểm lâm địa bàn Nguyễn Trung Dũng, nhận hình thức kỷ luật phê bình, nhắc nhở, rút kinh nghiệm và không bình xét thi đua khen thưởng năm 2016. Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng cũng đã điều chuyển ông Dũng không cho phụ trách địa bàn xã Triệu Nguyên.
Liên quan đến chủ trương cho bán đấu giá gỗ tang vật, ông Hoàng Phượng Vỹ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng cho rằng, cần sớm chấm dứt để công tác bảo vệ rừng tại địa phương đi vào ổn định. “Việc bán đấu giá gỗ tang vật mặc dù giúp tăng nguồn kinh phí cho địa phương nhưng trên thực tế nguồn kinh phí này không đáng kể so với những thiệt hại và hệ lụy nó mang lại. Trong đó, đáng chú ý nhất là việc các tập thể, cá nhân lợi dụng việc mua bán và khai thác gỗ đấu giá để phá rừng trái phép”, ông Vỹ nói.
Trước đó, tháng 2/2016, Báo Giao thông đã có loạt bài “Bất lực nhìn rừng Cao Bằng chảy máu”, phản ánh tình trạng phá rừng và lợi dụng việc mua đấu giá gỗ tang vật để phá rừng tại xã Triệu Nguyên. (Giao Thông 6/12) đầu trang(
Cả cuộc đời gắn bó với núi rừng Phu Canh, huyện vùng cao Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, già làng Xa Văn Thế, được người dân trong vùng ví như cây cổ thụ giữa đại ngàn bởi đức độ, uy tín và những việc ông làm cho dân, cho bản.
Giờ đã 84 tuổi nhưng ông vẫn cần mẫn làm những việc có ý nghĩa cho quê hương, một điển hình tiêu biểu suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Sinh và lớn lên ở xóm Nhạp, xã Đồng Chum, năm 1948, vừa tròn 16 tuổi, chàng trai dân tộc Tày Xa Văn Thế đã giác ngộ cách mạng và xung phong tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với chức trách trung đội phó dân công; sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử thắng lợi, Xa Văn Thế trở về cùng bà con bản làng xây dựng quê hương.
Cách đây hơn hai chục năm, người dân bản Nhạp còn đói nghèo, lam lũ. Vì đất đồi dốc, cả bản chỉ trồng ngô, sắn mà năng suất thấp nên cuộc sống khốn khó đủ bề. Do túng bấn nên người dân đánh liều vào rừng tàn phá những cây rừng hàng trăm tuổi để đổi lấy cái ăn, cái mặc. Đau đáu trước nỗi đau của rừng, ngày 10/10/1996, già Thế đã viết đơn gửi Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình về việc đưa 4.500ha rừng Pu Canh trở thành rừng đặc dụng khoanh nuôi bảo vệ. Với cương vị là trưởng bản, công an viên, ông cùng gia đình đã tự nhận bảo vệ 61 ha rừng nghiến ở ngay sát bản.
Tuy đã được nhận bảo vệ, nhưng khu rừng giàu gỗ quý này vẫn thường xuyên bị lâm tặc và người dân nhòm ngó, chặt trộm. Quyết không để cánh rừng vào tay lâm tặc, ông bàn với các cụ cao tuổi đề nghị họp dân tìm cách tháo gỡ vấn nạn trên. Trong cuộc họp, ngoài việc giải thích hậu quả của phá rừng lấy gỗ, già làng Xa Văn Thế còn đề nghị lập quy ước cấm mọi hành vi lên rừng chặt gỗ, săn thú.
Một bản quy ước về mô hình "Dòng họ Xa tự quản" bảo vệ rừng của dân tộc Tày được toàn thể họ tộc và cấp ủy, chính quyền tham gia góp ý xây dựng và đã trở thành luật lệ của thôn, bản được mọi người nghiêm túc thực hiện. Giờ đây hàng ngàn ha rừng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh đã được người dân tự nguyện gìn giữ như máu thịt của mình.
Đã bao đời, cuộc sống của người dân ở bản Nhạp trông lên chỉ thấy núi rừng trùng điệp. Tầm mắt chưa khi nào nhìn xa quá ngọn núi Pu Canh. Già Thế tâm tư: "Chỉ vì không có chữ nên mới phải lên rừng đào củ mài, hái măng. Không có chữ nên người dân mới nghe theo lâm tặc đi phá rừng”.
Vì thế, khi làm trưởng xóm, công an viên rồi được dân bầu làm đại biểu Hội Đồng nhân dân xã và khi trở thành Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Đồng Chum, ông Xa Văn Thế luôn quan tâm đến việc dạy chữ, rèn người.
Nhiều năm, bản Nhạp chỉ có trường tiểu học, trẻ con ở bản ngại đi học xa, ở nhà theo bố mẹ lên rừng, con chữ cũng dần rơi rụng. Ông đã chủ động bạc với xã xin Phòng Giáo dục huyện Đà Bắc mở một lớp học cấp II tại bản Nhạp. Năm học 2003 - 2004, người dân bản Nhạp vui mừng, phấn khởi khi chi trường Trung học cơ sở Đồng Chum tại xóm Nhạp chính thức được mở với 64 học sinh tựu trường. Có trường, có lớp, có thầy cô về dạy, ông không quản tuổi cao sức yếu đến từng nhà vận động các gia đình cho con em đi học.
Để làm gương cho lũ trẻ, già bản Xa Văn Thế đã xung phong xin nhận làm lớp trưởng, hàng ngày cũng 2 buổi cắp sách tới trường không kể ngày nắng hay mưa và ông đã lấy bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở ở tuổi 75 xưa nay hiếm.
Nói về cây đại thụ của núi rừng Phu Canh, anh Nguyễn Mạnh Hòa, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Đà Bắc chia sẻ: Ông Xa Văn Thế là tấm gương già làng tiêu biểu, chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền huyện, việc gì khó có ông vào cuộc cũng xuôi chèo, mát mái. Ông Xa Văn Thế vinh dự là một trong 38 đại biểu của tỉnh Hòa Bình đi dự Hội nghị Tuyên dương những người có uy tín vùng Tây Bắc vào ngày 5/12 tới. (Tin Tức 4/12) đầu trang(
Quần thể 56 cây sa mu dầu và 5 cây phay sừng khổng lồ, quý hiếm từ 200-500 tuổi ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) đang được các cơ quan chức năng lên kế hoạch bảo vệ nghiêm ngặt
Vào cuối tháng 11 vừa qua, tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã trao bằng công nhận Cây Di sảnViệt Nam cho quần thể 56 cây sa mu dầu và 5 cây phay sừng thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt.
Trước đó, sau một thời gian dài nghiên cứu, ngày 25-5, Khu BTTN Pù Hoạt đã gửi hồ sơ tới Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đề nghị công nhận quần thể 56 cây sa mu dầu (tại các Tiểu khu 59, 61 thuộc địa bàn xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong) và 5 cây phay sừng (săng vì) ở Tiểu khu 59 là cây di sản. Tháng 6-2016, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã tổ chức họp, xét duyệt và kết luận: “56 cây sa mu dầu mà Ban Quản lý Khu BTTN Pù Hoạt đã đăng ký bảo đảm đủ tiêu chuẩn là Cây Di sản Việt Nam”.
Những cây sa mu dầu trên nằm trong 3 quần thể với gần 1.000 cây sa mu dầu tại khu vực suối Huồi Hạp, Huồi Chạm và Huồi Có Khướng ở xã Hạnh Dịch. Các cây được công nhận là Cây Di sản có tuổi từ 200-500 năm, phân bố ở độ cao từ 1.400-1.700 m sát biên giới Việt - Lào. Chiều cao phổ biến của các cây từ 40-70 m, đường kính từ 2-4 m.
Ông Nguyễn Thành Chung, cán bộ Khu BTTN Pù Hoạt, cho biết khu vực cây sa mu dầu, phay sừng đang sống trên các vách đá dựng đứng giữa rừng nguyên sinh. Muốn tiếp cận quần thể cây này phải đi bộ cắt đường rừng 6-8 giờ. Việc nghiên cứu những cây này gặp nhiều khó khăn. Năm 2014, đơn vị này bắt đầu nghiên cứu nhưng đến năm 2016 mới có thể hoàn thành và làm hồ sơ công nhận là Cây Di sản.
Ông Nguyễn Danh Hùng, Giám đốc Khu BTTN Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An, đánh giá quần thể 56 cây sa mu dầu, 5 cây phay sừng vô cùng quy hiếm. Đây là lần đầu tiên trên cả nước, một quần thể với số lượng cây lớn như vậy được công nhận là Cây Di sản.
“Để bảo vệ 2 quần thể cây quý hiếm này, lực lượng cán bộ của khu bảo tồn sẽ phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng khác như kiểm lâm, công an... thường xuyên kiểm tra, có phương án bảo tồn, bảo vệ. Ngoài ra, chúng tôi sẽ tổ chức tuyên truyền để người dân sống gần khu vực này có ý thức bảo vệ các cây này” - ông Hùng nói
Vào tháng 6-2015, một nhóm 5 người đã liều lĩnh vào khu vực rừng nguyên sinh ở huyện Quế Phong hạ 3 cây sa mu dầu hàng trăm tuổi để lấy khoảng 200 m3 gỗ. Vụ việc sau đó được phát giác, các đối tượng bị bắt giữ và tòa đã tuyên phạt từ 4-6 năm tù.
Theo ông Lê Văn Giáp, Chủ tịch UBND huyện Quế Phong, quần thể Cây Di sản này không chỉ có giá trị về khoa học, nguồn gien mà còn mang những giá trị văn hóa, tâm linh gắn liền với đời sống của người dân tộc thiểu số vùng biên giới.
UBND huyện sẽ sẽ chỉ đạo các ngành chức năng liên quan phối hợp với Khu BTTN Pù Hoạt bảo vệ nghiệm ngặt để quần thể cây quý này không bị xâm hại. (Người Lao Động 05/12) đầu trang(
Bao đời nay, người dân ở xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu) không chỉ coi rừng là văn hóa mà còn là cuộc sống nên 6.474ha rừng của xã luôn được bảo vệ tốt.
Hàng năm, rừng mang về nguồn nước tưới tiêu, các loài hoa và các loại gỗ quý. Ở mảnh đất cuối trời Tây Bắc này, người dân quan niệm, giữ rừng là giữ môi trường và cuộc sống ấm no.
Ông Sùng A Dế (bản Sân Bay) được bà con tín nhiệm bầu làm Bảo lâm viên của xã. Một năm, ông nhận được 900 ngàn đồng (tính ra mỗi tháng được gần 100 ngàn) để làm nhiệm vụ “gác cửa rừng” cho cả xã. Tuy nhiên, ông Dế không cho đó là công việc nặng nhọc mà rất hồ hởi nhận nhiệm vụ khi được bà con tin cẩn.
“Việc bảo vệ rừng của bà con được đưa vào hương ước từng bản, ai vi phạm thì bị phạt khá nặng. Một năm mở cửa rừng 2 lần cho người dân lấy củi. Những lần đấy có Bảo lâm viên của xã, dân quân xã và trưởng các bản “giám sát chéo” nên người dân tuân thủ chặt chẽ. Bản, xã cũng giám sát chặt về nhu cầu sử dụng củi của từng gia đình để quy định mức củi phù hợp tránh lạm dụng. Những hộ không có điều kiện lấy củi trong ngày mở cửa rừng, nếu được xã, bản cho phép sẽ được lấy bù. Gia đình neo đơn, người già ở một mình được các tổ chức đoàn thể lấy giúp. Sau ngày mở cửa, sẽ cấm tiệt cửa rừng”, ông Dế cho biết.
Anh Trang A Tủa, Bí thư Đoàn xã Sin Suối Hồ cho biết thêm: Mặc dù các bản quy định mức phạt khá cao (từ 15 - 18 ngàn đồng/cây củi, gỗ to thì xử lý theo quy định của pháp luật) nhưng ít khi các bản phải áp dụng chế tài này bởi người dân rất tự giác bảo vệ rừng. Nhờ được hưởng lợi từ rừng mà họ luôn ý thức giữ rừng là giữ môi trường và cuộc sống. Người dân không săn thú rừng, không chặt phá rừng mà còn nuôi nhốt gia súc để rừng được chăm sóc, bảo vệ tốt hơn. Nếu lợn, trâu của gia đình nào phá rừng, bản bắt được sẽ mổ thịt chia cho cả bản!
Cũng theo anh Tủa, Đoàn Thanh niên của xã là lực lượng xung kích cùng với các Bảo lâm viên được dân tín cử để bảo vệ rừng. Nhờ rừng được bảo vệ nên thảo quả cũng phát triển tốt ngay cả khi bị các đợt mưa tuyết vùi lấp. Từ rừng mà những cánh đồng lúa bậc thang của xã luôn dồi dào nước tưới, đây là một yếu tố giúp mức bình quân lương thực đầu người của xã đạt hơn 600kg/người/năm. Nguy cơ lũ quét, sạt lở đất không còn là nỗi lo thường trực của người dân mỗi mùa mưa bão. (Nông Nghiệp Việt Nam 05/12) đầu trang(
Đề xuất của tỉnh Bình Thuận về cắt giảm diện tích Khu bảo tồn biển Hòn Cau là không thể chấp nhận.
Liên tiếp trong những số báo qua, Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh về đề xuất cắt giảm hơn 1.000 ha Khu bảo tồn biển Hòn Cau của UBND tỉnh Bình Thuận để nhường biển cho các dự án nhiệt điện ở đây. Vấn đề đáng nói là dù Bộ NN&PTNT đã bác đề xuất này nhưng Bình Thuận cho hay sẽ tiếp tục kiến nghị cắt giảm.
Để hiểu rõ hơn tác động hết sức nguy hại của việc cắt giảm diện tích khu bảo tồn biển đặc biệt quý hiếm này, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của TS Nguyễn Tác An, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, người đã dày công nghiên cứu về Hòn Cau.
Hơn 1.000 ha mà tỉnh Bình Thuận đề xuất cắt giảm của Khu bảo tồn biển Hòn Cau là không đáng gì nếu so với biển cả. Nhưng với vùng biển Bình Thuận nói chung, Khu bảo tồn biển Hòn Cau nói riêng, nó cực kỳ quan trọng. Bởi đây là vùng nước trồi, là ngư trường rất lớn của Việt Nam, là vùng biển có giá trị to lớn, lâu dài về môi trường, nhất là đa dạng sinh học.
Nhiều tổ chức, nhà khoa học nghiên cứu nhiều năm liền mới đề xuất và được Thủ tướng phê duyệt Khu bảo tồn biển Hòn Cau. Đây chính là cái nôi sinh trưởng, là trung tâm phát triển các nguồn lợi đa dạng sinh học. Muốn phát triển kinh tế biển lâu dài, bền vững phải có đa dạng sinh học. Chính vì thế, khu bảo tồn này có ý nghĩa, tầm quan trọng rất lớn về môi trường, kinh tế, xã hội. Viện Hải dương học Nha Trang và cá nhân tôi đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu rất nhiều về vùng biển này nên tôi khẳng định như vậy!
Đề xuất của tỉnh Bình Thuận về cắt giảm diện tích Khu bảo tồn biển Hòn Cau là không thể chấp nhận, bởi nó chưa có cơ sở khoa học, chưa được đánh giá một cách đầy đủ về tác động trước mắt cũng như lâu dài của các cơ quan quản lý, tổ chức về môi trường, các nhà khoa học.
Trước đây, Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 xin đổ 1,5 triệu m3 thải xuống vùng biển gần Khu bảo tồn biển Hòn Cau đã là điều không thể được. Nay tỉnh Bình Thuận lại tiếp tục đề xuất cắt giảm diện tích khu bảo tồn biển để phục vụ các dự án nhiệt điện. Trong khi một số bộ, cơ quan quản lý nhà nước đã bác bỏ đề xuất này nhưng không hiểu sao tỉnh Bình Thuận vẫn tiếp tục theo đuổi đề xuất của mình. Việc này có cần thiết đến mức thế không?
Khi muốn đề xuất cắt giảm, anh cần phải có những cơ quan chuyên môn có trách nhiệm đánh giá lại tác động một cách hết sức kỹ lưỡng, khoa học, minh bạch. Mặt khác, anh phải chứng minh một cách thuyết phục và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lợi ích về kinh tế-xã hội, cả sự ổn định cho vùng biển này.
Cũng xin nói rõ chỉ cần các nhà máy nhiệt điện làm tăng lên khoảng 1 độ đối với vùng biển này là đã làm hư hại toàn bộ đa dạng sinh học, tức là phá đi nền tảng, xương sống để phát triển kinh tế biển. Nguồn lợi thu được từ các nhà máy nhiệt điện không thể nào bù đắp được sự mất mát ấy.
Chúng ta có thể dễ dàng có hàng ngàn dự án phát triển kinh tế nhưng không thể nào tạo ra một Khu bảo tồn biển như vậy! Tại sao tỉnh Bình Thuận chỉ nghĩ đến việc cắt giảm diện tích Khu bảo tồn biển Hòn Cau mà không điều chỉnh diện tích, phạm vi các dự án?
Việc này vì lợi ích của ai? Nếu vì lợi ích của một tập đoàn, một nhóm hay cá nhân nào đó thì phải dừng lại ngay đề xuất này! Kể cả vì lợi ích chung cũng phải dừng lại để đánh giá tác động một cách hết sức nghiêm túc, thận trọng. Không thể lấy lợi ích trước mắt của một dự án để đánh đổi môi trường của cả một vùng biển cho tương lai lâu dài được.
Chính phủ đã cam kết trước toàn dân là không phát triển bằng bất cứ giá nào. Giá ở đây hiểu ra sao? Tỉnh Bình Thuận thực hiện chủ trương này như thế nào? Tôi cho rằng ai đề xuất cắt giảm hay xâm hại Khu bảo tồn biển Hòn Cau thì phải chịu trách nhiệm với lịch sử!
Hiện nay giới khoa học chúng tôi hết sức lo lắng, bức xúc trước rất nhiều vấn đề về môi trường, đa dạng sinh học của cả một vùng biển đang bị đe dọa nghiêm trọng, nhất là với các dự án nhiệt điện Vĩnh Tân, thép Cà Ná ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận vì đây là vùng nước trồi rất quan trọng của Việt Nam.
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM về việc cắt giảm diện tích Khu bảo tồn Hòn Cau cho nhiệt điện, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trần Thị Quốc Khánh, Ủy viên Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội, nói bà không đồng tình việc này. Theo bà Khánh, hiện nay các khu bảo tồn ở nước ta đang ngày càng thu hẹp, nếu cứ cắt giảm thêm, cũng như đồng ý để cắt giảm nó sẽ tạo ra những tiền lệ xấu sau này không chỉ riêng với Hòn Cau mà còn nhiều khu bảo tồn khác.
“Trong trường hợp các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận cứ nhất định đòi cắt, chúng tôi sẽ kiến nghị lên Chính phủ làm rõ các đề xuất của Bình Thuận và đề nghị không đồng ý đối với việc cắt giảm diện tích Hòn Cau. Kể cả ra Quốc hội tôi cũng sẽ giữ nguyên quan điểm không đồng ý việc cắt giảm này” - ĐBQH Trần Thị Quốc Khánh khẳng định. (Pháp Luật TP.HCM 6/12) đầu trang(
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có đường bờ biển dài trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền.
Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ của biển và đại dương. Hầu hết các quốc gia có có biển (trong đó có Việt Nam) đều rất coi trọng phát triển kinh tế biển; đẩy mạnh khai thác không gian, mặt biển, tài nguyên, tiềm năng, lợi thế của biển để phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và đặc quyền kinh tế biển.
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có đường bờ biển dài trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Bình quân khoảng 1 km2 đất liền có xấp xỉ 4 km2 vùng lãnh hải; cứ 100 km2 đất liền có 1 km chiều dài bờ biển. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển có diện tích 208.560 km2, chiếm 51% tổng diện tích cả nước với dân số hơn 40 triệu người, chiếm gần 50% dân số cả nước.
Biển Việt Nam có trên 3.000 hòn đảo, phân bố tập trung ở ven bờ Tây Bắc Vịnh Bắc Bộ. Một số đảo ven bờ miền Trung và Tây Nam Bộ và 2 quần đảo ngoài khơi là quần đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.Theo kết quả điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Diện tích đất dải ven biển chỉ tính các huyện tiếp giáp với biển có gần 6 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp hơn 2 triệu ha, đất lâm nghiệp khoảng 1,8 triệu ha. Ở khu vực ven biển, rừng ngập mặn còn khoảng 250.000 ha phân bố ở vùng ven biển phía Nam và phía Bắc, riêng miền Trung rừng ngập mặn còn lại rất ít.
Diện tích đầm phá phấn bố tập trung ở ven biển miền Trung từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Thuận, chiếm gần 40.000 ha. Đây là các thủy vực nông có bản chất môi trường nước lợ, mặn và là môi trường phát triển thủy sản rất tốt. Ngoài ra còn có khoảng 290.000 ha bãi triều và hàng vạn ha vùng cát phân bố dọc ven biển miền Trung.
Tài nguyên nước mặt ven biển Việt Nam phân bố trên phạm vi rộng dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên, với nhiều loại hình đa dạng phụ thuộc vào địa hình, địa mạo. Đặc điểm này đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý tài nguyên nước. Trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng ven biển và trên các đảo lên đến hơn 14 triệu m3/ngày, thuộc diện tương đối dồi dào. Tuy vậy, do phân bố xen kẽ các phần diện tích nước mặn nên khó khai thác, song chất lượng nước ngầm ven biển đều đạt tiêu chuẩn cho phép.
Đặc biệt, các bể dầu khí ở thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam được đánh giá là có triển vọng khai thác, với trữ lượng phát hiện khoảng 4 tỷ m3 dầu quy đổi (tính đến hết năm 2010). Khoáng sản ven bờ biển, trên các đảo cũng được đánh giá có triển vọng tốt, đã ghi nhận trên 300 mỏ và điểm quặng, điểm khoáng có hóa sắt; xác định trên 59 mỏ, điểm quặng titan.
Theo kết quả điều tra, đánh giá mới nhất: Ven biển Việt Nam có tổng trữ lượng hơn 600 triệu tấn quặng titan-ilmenit (bao gồm cả zircon, monazite…). Trữ lượng cát thủy tinh của 13 mỏ đã được thăm dò và đánh giá lên đến hơn 144 triệu m3. Vùng ven biển cũng là nơi tập trung nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng như đá vôi, xi măng, sét, đá ốp lát…
Biểu hiện kết hạch sắt-magan, sa khoáng silmenit-zicon-monazite có casiterit và vàng đi kèm, phi kim loại, khí hydrate dưới đáy biển, vùng biển sâu cũng có tiềm năng lớn và khả năng khai thác.
Hiện trong vùng biển của nước ta cũng đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Trong tổng số các loài được phát hiện, có khoảng 6.000 loài động vật đáy, hơn 2.000 loài cá, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước.
Các rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, rừng ngập mặn, thực vật phù du, động vật phù du, sinh vật đáy, cá biển, chim biển, thú biển và bò sát với nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đã và đang được khai thác, phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển và trên các đảo. Đó là chưa kể đến tài nguyên vị thế của cảng biển, du lịch, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều… cũng đã được phát hiện, khai thác, sử dụng phục vụ phát triển kinh tế biển và quốc kế, dân sinh.
Riêng chất lượng nước ven biển, vùng cửa sông, ngoài khơi của Việt Nam nhìn chung còn tốt, đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ven biển. Các hệ sinh thái đặc thù như hệ sinh thái đảo, cồn cát, đất ngập nước, cửa sông, đầm nuôi thủy sản, rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn, đầm phá, vũng - vịnh, vùng triều… tạo nên sự đa dạng, phong phú của biển Việt Nam. Đây là những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn được ghi nhận, góp phần đưa nước ta trở thành một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới. (Tin Tức 5/12) đầu trang(
Việt Nam đang là điểm nóng về nạn buôn bán trái phép ngà voi từ châu Phi. Chỉ trong 2 tháng qua, riêng cảng Cát Lái (TP HCM) đã phát hiện 7 vụ buôn lậu ngà voi rất tinh vi
Ngày 1-12, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 (Chi cục Hải quan TP HCM) phối hợp với Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm buôn lậu (C74), Đội 3 - Cục Điều tra Chống buôn lậu (Bộ Công an), Biên phòng cảng TP HCM (Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Nhà Rồng), Đội Kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan
TP HCM) kiểm tra và phát hiện một khối lượng lớn ngà voi giấu trong ruột gỗ có nguồn gốc từ châu Phi nhập về cảng Cát Lái.
Đây là vụ vi phạm về buôn lậu ngà voi thứ 7 liên tiếp xảy ra tại cảng Cát Lái trong khoảng 2 tháng trở lại đây với tổng cộng gần 6 tấn ngà voi được xử lý. Trước đó, 3 vụ do Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 trực tiếp phối hợp kiểm tra, 2 vụ đã khởi tố và chuyển cơ quan điều tra, còn 1 vụ đang kiểm tra, xem xét.
Mới đây nhất, lực lượng chức năng đã khám xét lô hàng gồm 3 container thuộc tờ khai hải quan số 101151654330/A1 ngày 29-11 của đơn vị nhập hàng là Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Huỳnh Phát (quận Tân Bình, TP HCM). Kết quả khám xét ban đầu cho thấy 3 container có tổng cộng 529 kg mẫu nghi ngà voi dính tạp chất được giấu trong 2 phiến gỗ khoét rỗng ruột. Ước tính lô hàng này trị giá khoảng 20 tỉ đồng.
Các lô hàng gỗ giấu ngà voi nêu trên có khi nhập khẩu thông qua công ty dịch vụ, có khi là đơn vị nhập trực tiếp. Những trường hợp này chủ yếu là các đơn vị vừa mới thành lập. Vì vậy, theo một cán bộ hải quan, không loại trừ khả năng đây là những đơn vị lập ra để buôn lậu. Nếu bị cơ quan chức năng phát hiện thì họ sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người” nên rất khó xử lý tận gốc chủ hàng. Ngoài ra, một vài trường hợp được khai báo hàng quá cảnh, sau đó chuyển đi các nước lân cận.
Theo nhận định của một số người am tường về ngà voi, các loại ngà voi này tiêu thụ trong nước không nhiều mà chủ yếu nhập về Việt Nam để chuyển sang nước khác. Các đối tượng đã lợi dụng cửa khẩu đường bộ có phần thuận lợi hơn để tuồn ngà voi sang các nước.
Trong vụ buôn lậu ngà voi phát hiện ngày 1-12, theo ông Vũ Việt Tiến, Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1, thủ đoạn của các đối tượng rất tinh vi. Bên trong lô hàng chèn thạch cao trộn cát, tạo ra một chất có trọng lượng riêng tương đồng với trọng lượng riêng của gỗ nên rất khó khi dùng búa để phát hiện độ rỗng bên trong. Chưa kể, phía trên được phủ một lớp sáp, nắp gỗ được dán kín bằng keo, đóng đinh sắt, phủ đất bên ngoài để che giấu các mối nối.
Thủ đoạn cất giấu này khá mới so với các lô hàng đã bị phát hiện trước đó. Vị trí các khối gỗ chứa ngà voi phát hiện trong container phù hợp với hình ảnh nghi vấn qua soi chiếu. Mặc dù mắt thường nhận định là ngà voi nhưng theo đúng thủ tục và nguyên tắc, Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 phải tiến hành giám định để xác định tên hàng.
Các cán bộ hải quan nhận xét với những lô hàng nhập lậu ngà voi núp bóng là gỗ thì chủ yếu là gỗ có giá trị kinh tế thấp, lượng container nhập thường chỉ 2-3 cái… Ông Lê Đình Lợi, Cục phó Cục Hải quan
TP HCM, nhấn mạnh từ nay đến cuối năm, lực lượng chức năng sẽ tiếp tục phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp buôn lậu hàng cấm, hàng lậu bằng mọi cách.
Trong khi đó, thượng tá Lê Thơm, Trưởng Phòng 6 - C74, nhận định dịp cuối năm, tình trạng buôn lậu, vận chuyển ngà voi càng phức tạp hơn. Vì thế, lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo C74 phối hợp với Cục Hải quan
TP HCM và các đơn vị liên quan làm quyết liệt. Hiện nay, lực lượng chức năng đã có kế hoạch để trấn áp loại tội phạm này, đặc biệt là hành vi vận chuyển ngà voi từ nước ngoài vào TP HCM. (Người Lao Động 04/12) đầu trang(
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) vừa lên tiếng phản đối hành động xâm hại đến cá heo và các động vật có vú.
Theo Vasep, ngày 10/11, một người dân ở Phú Quốc (Kiên Giang) đăng 6 tấm ảnh lên Facebook, nói về một nhóm ngư dân 5 người đi trên tàu cá, sau khi ngồi lên mình cá heo để đùa giỡn, họ đã dùng dao cắt đầu, mổ bụng con cá quý để làm thịt.
“Việc này đã dấy lên làn sóng phản đối các hoạt động xâm hại cá heo và các động vật có vú trong và ngoài nước”- Vasep cho biết.
Sau khi sự việc diễn ra, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nhanh chóng vào cuộc để điều tra và làm rõ. Theo kết quả điều tra, sự việc trên đã diễn ra từ tháng 4/2012, thời điểm các doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia vào các hoạt động dán nhãn “An toàn cá heo”. Trường hợp trên là cá heo bị mắc lưới và chết.
Nhóm ngư dân sau đó đã cắt đầu, xẻ thịt để… làm khô đem về quê. Quá trình xẻ thịt, có người trên tàu đã chụp ảnh để đăng lên mạng xã hội. (Tiền Phong 05/12) đầu trang(
Ngày 4/12, thông tin từ Phòng cảnh sát môi trường (PC49) Công an tỉnh Nghệ An cho biết, vừa bắt một vụ vận chuyển động vật hoang dã, gồm 7 cá thể khỉ mặt đỏ, 14kg xương động vật.
Trước đó, vào chiều 3/12 tại đường liên xã thuộc xã Thanh Lĩnh, huyện Thanh Chương (Nghệ An), Công an tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Phạm Ngọc Thủy (42 tuổi) và Nguyễn Văn Sơn (39 tuổi, cùng trú huyện Anh Sơn khi đang chở 7 con khỉ mặt đỏ nặng gần 60 kg (1 con còn sống) và 14 kg xương động vật hoang dã đi bán.
Tại cơ quan điều tra, 2 đối tượng khai đã mua khỉ mặt đỏ và xương động vật ở một số huyện miền núi để xuống đồng bằng đi bán. Được biết, hiện công an đang đưa 14 kg xương động vật đi giám định.
Hiện vụ việc đang được lực lượng chức năng điều tra làm rõ. (Lao Động 5/12) đầu trang(
Lực lượng cơ động đã nhanh chóng khống chế 1 đối tượng đang dùng súng hơi săn chim ngay trong Vườn quốc gia. Danh tính đối tượng săn bắn trái phép...
Thiếu tá Trần Tuấn Anh, Phó Đồn trưởng Nghiệp vụ Đồn Biên phòng Ba Lạt (Nam Định) cho biết, sau khi nhận được nguồn tin báo từ người dân địa phương có đối tượng đang săn bắn chim trái phép ở khu vực trong Vườn quốc gia Xuân Thủy (xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy), lập tức lực lượng cơ động đã phối hợp với cán bộ Vườn quốc gia Xuân Thủy đến ngay hiện trường.
Tại đây, lực lượng cơ động đã nhanh chóng khống chế 1 đối tượng đang dùng súng hơi săn chim ngay trong Vườn quốc gia. Danh tính đối tượng săn bắn trái phép được xác định là Nguyễn Kim Cương (Nam Định), đồng thời tịch thu tang vật ngay tại hiện trường gồm: 1 súng hơi tự chế, 1 bơm hơi, 1 gói đạn chì có trọng lượng 0,4kg và 1 túi bóng đựng 4 cá thể chim (cò bợ, choắt lớn, cà kheo, choi choi).
Phòng Nghiệp vụ Đồn Biên phòng Ba Lạt đang hoàn thiện hồ sơ báo cáo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh để xin ý kiến xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/12) đầu trang(
Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai ngày 4-12 phối hợp với Trường THCS Mã Đà (xã Mã Đà) và Trường THPT Trị An (thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu) tổ chức lễ ra mắt 14 câu lạc bộ Xanh với trên 540 thành viên là học sinh của các trường trên. Đây là những trường thuộc vùng dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016-2020.
Việc thành lập các câu lạc bộ Xanh tại các trường nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của học sinh trong vùng dự án hiểu rõ được những giá trị tài nguyên đa dạng sinh học mang lại cho con người và trách nhiệm đối với việc bảo tồn thiên nhiên; giúp học sinh có kiến thức và kỹ năng trong công tác tuyên truyền, vận động gia đình và cộng đồng xã hội cùng chung tay trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại địa bàn mình đang sống.
Trước đó, Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai đã ra mắt 10 câu lạc bộ của Trường THPT - THCS Huỳnh Văn Nghệ (xã Phú Lý). (Báo Đồng Nai 5/12) đầu trang(
Chia sẻ trách nhiệm với môi trường, nhiều doanh nhân đã tham gia dự án bảo vệ loài linh trưởng quý của Việt Nam và thế giới trước nguy cơ tuyệt chủng.
Trong không khí ấm áp những ngày cuối cùng của tháng 11, hơn 70 nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam đã hội tụ để chia sẻ về một thông điệp hết sức có ý nghĩa, trong một sự kiện rất đặc biệt.
Điểm đặc biệt đầu tiên là trong khi rất nhiều sự kiện chú trọng đến việc cung cấp cơ hội làm giàu, thì sự kiện này là nơi các doanh nhân cùng nghĩ về cơ hội cho đi tài sản của mình vì mục đích môi trường. Điểm đặc biệt thứ hai là lần đầu tiên các doanh nhân người Việt tham gia bảo vệ một trong những di sản thiên nhiên vô giá của Việt Nam và thế giới. Điều gì đã thôi thúc họ có mặt cùng nhau trong sự kiện này?
Trước khi đến với câu chuyện linh trưởng quý hiếm, chúng ta hãy xem những ông chủ của thế giới đã cống hiến cuộc sống của họ cho các hoạt động từ thiện ra sao? “Cho đi không phải là nghĩa vụ, mà là một vinh dự”, đó là lời khuyên của tỉ phú dầu mỏ John D. Rockefeller, người giàu nhất trong lịch sử nước Mỹ. “Tới một mức nào đó thì tiền chẳng còn ý nghĩa gì với bản thân tôi, chỉ còn ý nghĩa trong việc giúp đỡ những người nghèo khổ nhất”, đó là phát biểu của tỉ phú công nghệ Bill Gates, người giàu nhất thế giới hiện nay.
Từ xưa đến nay, các doanh nhân hàng đầu luôn xem trọng hoạt động từ thiện, với niềm tin rằng đây là khoản đầu tư vĩ đại nhất trong cuộc đời họ. Nó có thể tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho cả nhân loại. Bản thân Rockefeller cũng nói thẳng: “Cho đi chính là đầu tư”(Giving is investing).
Ngày ông qua đời vào năm 1937, Rockefeller đã cho đi tới gần 1/3 số tài sản (tương đương hơn 100 tỉ USD, tính theo thời giá ngày nay) và nhờ đó, thế giới đã có cách trị bệnh giun móc và sốt vàng da, cũng như có thêm nhiều trường đại học lớn như Đại học Chicago và Đại học John Hopkins.
Một tỉ phú cùng thời là ông trùm ngành thép Andrew Carnegie cũng “cạnh tranh” quyết liệt với Rockefeller trong lĩnh vực từ thiện và nhờ đó, thế giới có thêm hơn 3.000 thư viện và kính viễn vọng khổng lồ Hooker, nơi đã phát hiện ra hàng loạt bí ẩn lớn của vũ trụ. Cũng như vậy, giải thưởng Nobel cho các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã ra đời nhờ công của triệu phú người Thụy Điển Alfred Nobel và quỹ do ông lập nên cách đây hơn 100 năm.
Ngày nay, vợ chồng Bill Gates đã cho đi tới 28 tỉ USD cho các hoạt động từ thiện và cam kết từ nay tới cuối đời, sẽ hiến tặng 95% số tài sản của mình. Nhờ có họ, thế giới đang đẩy lùi hàng loạt căn bệnh như AIDS, sốt rét và lao phổi, cũng như có thêm nước sạch và các giống lúa năng suất cao. Người bạn thân thiết của gia đình Gates là nhà đầu tư số 1 thế giới Warren Buffett cũng đã cam kết cho đi 99% số tài sản của ông, với nhiều hoạt động từ thiện và vì môi trường như giảm trừ vũ khí hạt nhân, tạo cơ hội cho nữ giới và bảo tồn động vật.
Với những tấm gương lớn như vậy, không có gì ngạc nhiên khi rất nhiều doanh nhân trẻ tuổi đã sớm xác định tầm quan trọng của hoạt động từ thiện. Vợ chồng tỉ phú Mark Zuckerberg (nhà sáng lập Facebook) đã lập ra Quỹ Chan Zuckerberg, với cam kết sẽ cho đi hết 99% số cổ phần Facebook mà họ đang nắm giữ. Nhà sáng lập eBay là tỉ phú Pierre Omidyar cũng đã đóng góp hơn 1 tỉ USD cho các hoạt động tín dụng vi mô, chống nạn buôn người và tăng cường sự minh bạch trên toàn cầu.
Trong những năm gần đây, sự lớn mạnh của các nền kinh tế châu Á cũng đã kéo theo nhiều thay đổi lớn, trong đó có hoạt động thiện nguyện của giới doanh nhân. Chẳng hạn, ở Đài Loan, Chủ tịch kiêm CEO của Tập đoàn Foxconn là Terry Gou đã cam kết sẽ hiến 90% tài sản cho từ thiện (tương đương khoảng 5,5 tỉ USD). Tại Trung Quốc, nhà sáng lập kiêm CEO của tập đoàn công nghệ Tencent là Pony Ma đã cam kết đóng góp hơn 2 tỉ USD cho một quỹ từ thiện chuyên về y tế và môi trường hồi tháng 4 vừa qua.
Bên cạnh những hoạt động từ thiện truyền thống trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nghệ thuật và cứu trợ xã hội, ngày càng có nhiều doanh nhân tập trung hơn vào các hoạt động bảo vệ môi trường và bảo tồn động vật hoang dã. Họ hiểu rằng, đầu tư cho bảo vệ thiên nhiên cũng chính là bảo vệ cho sự tồn vong của loài người, trước tình trạng biến đổi khí hậu và ngày càng có nhiều thiên tai khắc nghiệt.
Khi bị một cổ đông truy hỏi về lợi nhuận của việc đầu tư vào bảo vệ môi trường, CEO Tim Cook của Apple đã giận dữ trả lời: “Chúng tôi muốn để lại một thế giới tốt đẹp hơn so với lúc chúng tôi ra đời. Nếu ông muốn tôi lúc nào cũng phải hành động vì lợi nhuận, ông nên bán lại cổ phiếu của mình đi”.
Nhà đầu tư kim loại quý người Mỹ Thomas Kaplan giải thích lý do tham gia bảo tồn mèo rừng và rắn: “Một trong những cách tốt nhất để có niềm vui thực sự là biết rằng cuộc đời mình đã có đóng góp vào việc cứu một giống loài khỏi nguy cơ tuyệt chủng”. Ở Trung Quốc, tỉ phú Wang Wenliang đã lẳng lặng bỏ ra hàng triệu USD để mua lại một khu đất đầm lầy rộng hơn 100.000ha, dỡ bỏ hết các đầm nuôi thủy sản tại đó để bảo tồn các giống chim và cá, với lời giải thích giản dị: “Giúp đỡ cho các thế hệ mai sau”.
Trong vài thập niên trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, giúp cải thiện đáng kể cuộc sống của hàng chục triệu người. Nhưng đáng buồn là phát triển kinh tế cũng kéo theo sự đi xuống của môi trường sống, tình trạng tàn phá cảnh quan thiên nhiên và các đợt thiên tai ngày càng gây nhiều thiệt hại hơn.
Trong số những loài chịu thiệt hại nặng nề từ tình trạng xuống cấp môi trường ở Việt Nam, vị trí dẫn đầu lại thuộc về các loài linh trưởng (khỉ, vượn, voọc, chà vá...), họ hàng gần gũi nhất của con người trong thế giới động vật. Việt Nam hiện nằm trong nhóm 12 quốc gia có độ đa dạng linh trưởng cao nhất thế giới. Cũng đáng buồn thay là Việt Nam hiện nằm trong top 3 nước có nhiều loài linh trưởng bị đe dọa tuyệt chủng nhất thế giới, bên cạnh Indonesia và Madagascar.
Chuyên gia bảo tồn người Anh Jonathan Charles Eames, vốn đã có rất nhiều năm gắn bó với Việt Nam, cho biết: “Việt Nam có tổng cộng 24 loài linh trưởng, trong đó có tới 21 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng. Bốn loài trong số đó cũng là loài đặc hữu (chỉ sinh sống tại Việt Nam), vì thế người Việt có trách nhiệm đặc biệt trong việc bảo tồn các loài này”. Tình trạng phá rừng cùng với săn bắn bừa bãi đã đẩy khá nhiều loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam đến bên bờ tuyệt chủng. Loài chà vá chân xám, vốn đông đúc nhất trong nhóm các loài ở tình trạng “cực kỳ nguy cấp”, cũng chỉ có 1.500 cá thể.
Loài voọc Cát Bà với bộ lông ánh vàng đẹp lộng lẫy từng có hơn 2.000 con, nay chỉ còn vỏn vẹn 70 cá thể. Rất nhiều trường hợp, cả một đàn voọc đã bị con người đánh bẫy trong hang để bắt về lấy thịt và làm thuốc dân gian. Hay mới đây, Đà Nẵng đã báo động về nguy cơ tuyệt chủng của loài chà vá chân nâu vì môi trường sống của chúng đang bị thu hẹp và chia cắt đáng kể do các khu kinh doanh như nhà hàng, khách sạn ở phía Nam của bán đảo Sơn Trà.
Loài vượn Cao Vít, từng một thời có mặt ở khắp miền Bắc, nay chỉ còn vỏn vẹn 130 cá thể sinh sống ở một nơi duy nhất là Khu Bảo tồn Trùng Khánh (Cao Bằng). Ông Eames ví von: “Hãy thử tưởng tượng đất nước Việt Nam hàng triệu người gặp phải thảm họa nào đó tới mức chỉ còn đúng một ngôi làng nhỏ. Đây chính là những gì mà loài vượn này đang gặp phải”.
Bảo vệ các loài linh trưởng cũng chính là bảo vệ rừng. Ông Eames giải thích: “Việc hiện diện các quần thể linh trưởng đông đúc là dấu hiệu cho một môi trường khỏe mạnh. Các loài linh trưởng có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái, thông qua việc ăn và thải ra các hạt cây khắp rừng. Một khu rừng mất đi các loài linh trưởng sẽ bắt đầu đánh mất khả năng tự tái tạo, gây ảnh hưởng tới khả năng sinh tồn của các giống loài khác”.
Bàn về ý nghĩa của việc bảo vệ linh trưởng, có một điều được các nhà bảo tồn nhắc đi nhắc lại rằng những di sản thiên nhiên cũng có tầm quan trọng không kém các di sản văn hóa đối với bản sắc của một dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà cả thế giới thường gắn liền nước Mỹ với hình ảnh loài đại bàng đầu trắng, nước Nga với loài gấu nâu Siberia, nước Úc với loài chuột túi Kangaroo, hay Trung Quốc với loài gấu trúc.
Với vẻ đẹp hiếm có và bản tính rất “người” (cũng biết yêu thương, biết đồng cảm, biết đòi sự công bằng), những loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam hoàn toàn xứng đáng được trở thành một phần không thể thiếu của bản sắc và tiềm năng thiên nhiên quốc gia. Thành phố Đà Nẵng đã đi tiên phong trong việc này, thông qua quyết định chọn loài chà vá chân nâu sinh sống ở bán đảo Sơn Trà làm biểu tượng cho thành phố, nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh APEC 2017 sắp tới.
Ông Eames so sánh thêm: “Nếu có ngày những di sản văn hóa như Tử Cấm Thành ở Huế bị phá hoại, hoặc bản thảo nguyên gốc Truyện Kiều bị đốt cháy, thì người Việt chắc chắn sẽ rất giận dữ và điều đó là hoàn toàn chính đáng. Đã tới lúc chúng ta phải học cách suy nghĩ như vậy về những di sản thiên nhiên của mình, trong đó có bao gồm các loài linh trưởng”.
Một lý lẽ thường dùng để bảo vệ cho các hoạt động phá rừng là một nước đang phát triển như Việt Nam phải chấp nhận hy sinh môi trường nếu muốn tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các trường hợp phá rừng làm thủy điện ở miền Trung, từ đó gây nên lũ lụt mạnh hơn, đã cho thấy tác động vào thiên nhiên thường khiến con người phải gánh hậu quả nặng nề.
Ông Josh Kempinski, người đứng đầu chi nhánh Việt Nam của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế Fauna & Flora International (FFI), cho biết: “Càng lúc chúng ta càng nhận ra rằng môi trường tự nhiên mang đến cho chúng ta rất nhiều thứ có giá trị, bảo đảm cho con người khả năng phát triển kinh tế. Nếu không bảo vệ được những yếu tố đó, cái giá phải trả sẽ rất lớn. Chẳng hạn, Việt Nam đã mất đi nhiều rừng ngập mặn do hoạt động nuôi tôm, vốn mang về rất nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu, bão đang ngày càng trở nên tàn phá hơn và mực nước biển cũng dâng cao, đồng nghĩa với tình trạng ngập mặn ruộng đồng trở nên phổ biến hơn. Việc bảo tồn rừng ngập mặn là rẻ hơn rất nhiều, đem đến nhiều lợi ích hơn cho con người so với việc phải cứu trợ thiên tai và đầu tư xây các đê ngăn biển”.
Nếu được bảo tồn đúng cách, các loài linh trưởng quý hiếm hoàn toàn có thể mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài cho người Việt. Ông Eames chia sẻ: “Các quốc gia châu Phi như Rwanda và Uganda có ngành công nghiệp tham quan gorilla mang lại hàng triệu USD. Ở Uganda, du khách bỏ ra tới 800 USD mỗi ngày cho một chuyến tham quan gorilla và vị chi tổng mức doanh thu tại công viên quốc gia Bwindi là 48.000 USD/ngày”.
Vị chuyên gia này cũng cho rằng: “Tại Việt Nam, hoạt động du lịch tham quan linh trưởng đã có tại Khu Bảo tồn đầm Vân Long ở Ninh Bình, nơi người dân địa phương chèo thuyền đưa du khách đến chiêm ngưỡng voọc mông trắng leo trèo trên các vách đá vôi. Có nhiều nơi khác ở Việt Nam cũng có thể làm tương tự, chẳng hạn như tham quan chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng. Các hoạt động du lịch không chỉ đem lại nhiều doanh thu mà còn cải thiện cuộc sống người dân địa phương, và dạy cho họ biết trân trọng giá trị của các loài linh trưởng và rừng già”.
Bảo tồn các loài linh trưởng quý hiếm hoàn toàn nằm trong tầm tay của người Việt. Tiến sĩ Lê Khắc Quyết, người đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về voọc mũi hếch và là một trong số hiếm hoi các chuyên gia nghiên cứu về linh trưởng tại Việt Nam, cho biết: “Trước đây, công tác bảo tồn linh trưởng ở Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào những sự trợ giúp và hợp tác quốc tế về kinh nghiệm, trình độ và kinh phí. Sau gần 30 năm, cho tới nay, người Việt chúng ta đã có kinh nghiệm, nhân lực và nguồn lực để thực hiện các công việc nghiên cứu và bảo tồn linh trưởng, cũng như các loài động vật và thực vật hoang dã quý hiếm khác ở Việt Nam”.
Ông Quyết nói thêm: “Nhận thức bảo tồn thiên nhiên của người Việt đã có những thay đổi và nâng cao đáng kể, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Mọi người đã ý thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt sự cần thiết phải bảo tồn các loài động vật và thực vật hoang dã quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng”.
Ông Kempinski cũng cho biết, trách nhiệm bảo vệ môi trường và động vật hoang dã không phải của riêng ai: “Tất cả chúng ta đều có thể tham gia bảo tồn, thông qua các quyết định hằng ngày về việc ăn uống, tiêu dùng và đi du lịch. Việc tiêu thụ các sản phẩm làm từ động vật hoang dã vẫn còn là vấn đề lớn, đẩy nhiều loài thú ở Việt Nam và châu Phi đến bên bờ tuyệt chủng. Chúng ta có thể lên tiếng trên mạng xã hội và truyền đạt thông tin đến mạng lưới bạn bè. Chúng ta có thể tham gia các tổ chức phi chính phủ trong vai trò thành viên hoặc tình nguyện viên. Chúng ta có thể dành thời gian đi tham quan các công viên quốc gia và khu bảo tồn, hoặc tham gia vào những chuyến du lịch sinh thái”.
Được hỏi rằng điều gì làm ông tiếp tục vững tin vào tương lai của các loài linh trưởng Việt Nam, ông Eames cho biết: “Chúng ta nắm được tình trạng dân số của các loài linh trưởng ở Việt Nam và biết rằng các quần thể còn lại đang sinh sống ở đâu. Trong nhiều trường hợp, các quần thể này đang sinh sống ở những khu vực đã được bảo vệ, với mức chi phí không quá cao để duy trì. Thử thách mà chúng ta đối mặt không phải là quá lớn hay không thể vượt qua được, chúng ta chỉ cần tiếp tục hành động và hiểu rõ trách nhiệm cũng như vai trò của mình. Cộng đồng doanh nhân Việt Nam hiện đang đóng vai trò tiên phong trong việc cấp vốn cho các tổ chức phi chính phủ và các nhân viên nhà nước làm hoạt động bảo tồn và điều này đã mang đến cho tôi niềm hy vọng thực sự”.
Những câu chuyện đầy xúc động về môi trường và đặc biệt là sự tồn vong của các giống loài linh trưởng như vừa nêu chính là khởi đầu cho sự kiện nêu ra đầu bài. Một cuốn sách đặc biệt mang tên “Bảo vệ linh trưởng Việt Nam - Bên bờ vực thẳm” đã được chia sẻ trong sự kiện và trở thành kim chỉ nam về bảo tồn giống loài này. Với hàng loạt hình ảnh tư liệu quý hiếm được ghi lại bởi các nhà khoa học Jonathan Charles Eames, Lê Khắc Quyết, Nguyễn Vân Trường cùng nhiếp ảnh gia Nicolas Cornet, đây là cuốn sách đầu tiên liệt kê đầy đủ chủng loại linh trưởng quý hiếm đang hiện diện tại đây.
Cuốn sách này cũng đánh dấu sự mở đầu của dự án Bảo vệ linh trưởng tại Việt Nam, với sự ủng hộ quyết liệt từ những doanh nhân tiên phong tài trợ cho việc bảo tồn môi trường, gìn giữ sự đa dạng của thiên nhiên Việt Nam, có thể kể đến là bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm CEO của REE; bà Đinh Thị Hoa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Galaxy Media & Entertainment; ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm CEO Công ty Kiến trúc AA; ông Trần Trọng Kiên, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm CEO Thiên Minh Group (TMG); ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng ACB; và ông Nguyễn Trung Hà, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Chứng khoán Thiên Việt (TVS). Gần đây, danh sách này còn có thêm sự góp mặt của bà Cao Thị Ngọc Dung, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Vàng Bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) và ông Phạm Hồng Hải, CEO của Ngân hàng HSBC Việt Nam.
Tham gia tài trợ cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên cũng mở ra mạch thông tin xuyên suốt giữa giới doanh nhân và các nhà khoa học. Ông Huy cho biết: “Hằng quý, tôi đều nhận được thông tin qua email và mỗi năm đều có các cuộc họp trao đổi tình hình. Ngoài ra, năm nào cũng có vài chuyến đi thực địa”. Bà Mai Thanh nói: “Việc nhận thông tin là rất dễ dàng, khi nào tôi yêu cầu thông tin, các chuyên gia đều cung cấp đầy đủ”.
Lòng tự hào và ý thức trách nhiệm về di sản thiên nhiên của Việt Nam chính là cầu nối những doanh nhân này đến cùng nhau. Bà Nguyễn Thị Mai Thanh giải thích: “Bảo tồn thiên nhiên là vấn đề tôi luôn luôn quan tâm từ lâu. Đó là di sản của quốc gia mà, không bảo vệ làm sao được”. Ông Trần Hùng Huy nói: “Trước đây, tôi không biết về những di sản thiên nhiên quý giá như thế này. Nhưng khi được hiểu biết thêm, quyết định tham gia đến với tôi rất dễ dàng. Điều đó giống như đầu tư vào tương lai vậy”.
Đặc biệt hơn, hoạt động bảo tồn thiên nhiên còn tạo ra một cầu nối rất ý nghĩa trong các gia đình doanh nhân. Ông Hùng Huy bộc bạch: “Tôi tham gia hoạt động bảo tồn vì lòng tự hào và ý thức trách nhiệm của một người Việt và hơn nữa là nghĩ rộng hơn về môi trường sống cho các thế hệ sau. Và về mặt cá nhân, tôi cũng muốn được làm một điều gì đó để con cái cảm thấy tự hào về cha mẹ chúng là những người có ý thức bảo vệ môi trường sống cho con cháu mai sau”. (Nhịp Cầu Đầu Tư 6/12) đầu trang(
Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu vừa ký quyết định phê duyệt dự án “Giám sát đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng tại Quảng Nam” do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thông qua Tổ chức WWF Việt Nam tài trợ với tổng giá trị viện trợ 246.309 USD.
Dự án (DA) Giám sát đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng nhằm tăng cường sự hiểu biết cho các chương trình bảo tồn có liên quan về hậu quả của áp lực con người đến quần thể tự nhiên các loài thú và chim; thực trạng và chiều hướng thay đổi của các hệ sinh thái rừng; tạo hiệu quả tốt hơn cho các hoạt động bảo tồn đang diễn ra.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) làm chủ dự án, thời gian thực hiện DA triển khai từ tháng 11/2016-8/2021 tại vùng lõi của Khu Bảo tồn Sao La tỉnh Quảng Nam thuộc địa giới hành chính các huyện: Tây Giang, Đông Giang, Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh thuộc địa giới hành chính các huyên: Nam Giang, Phước Sơn.
Yêu cầu Sở NN&PTNT có trách nhiệm phối hợp với nhà tài trợ triển khai thực hiện chi tiết chương trình theo cam kết; thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước về tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đồng thời thực hiện việc báo cáo kết quả viện trợ cho Sở Tài chính, UBND tỉnh và các ngành chức năng liên quan theo quy định.
Sở Ngoại vụ hướng dẫn Sở NN&PTNT tiếp nhận, quản lý và thực hiện DA theo đúng quy định của Nhà nước; chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng liên quan của tỉnh kiểm tra, tổng hợp tình hình tiếp nhận, quản lý và thực hiện các khoản viện trợ báo cáo UBND tỉnh. (Tài Nguyên Và Môi Trường 03/12) đầu trang(
Gần đây, có luồng dư luận đồn rằng cao rùa có công dụng đặc biệt, chữa được đủ thứ bệnh kể cả ung thư. Trong các cửa hiệu thuốc Đông y, cao rùa Trung Quốc được bán rất nhiều.Gần đây, có luồng dư luận đồn rằng cao rùa có công dụng đặc biệt, chữa được đủ thứ bệnh kể cả ung thư. Trong các cửa hiệu thuốc Đông y, cao rùa Trung Quốc được bán rất nhiều.
Một lần nói chuyện với GS. Mai Đình Yên, nhà động vật học rất bức xúc khi nói về chuyện sử dụng rùa nấu cao làm thuốc. Bây giờ, đến bất cứ hiệu thuốc Đông y nào cũng có thể mua được cao rùa. Mặc dù nó quý như vàng (tính cao theo cân ta - cân vàng) nhưng cứ chồng tiền ra thì bao nhiêu cũng có.
Người nọ mách người kia, cuối cùng chúng tôi cũng có số điện thoại để hỏi mua cao rùa. Cơ sở nấu cao này ở phố Lãn Ông (Hà Nội), do điện thoại trước và nói có người quen giới thiệu nên cô chủ quảng cáo luôn: "Cao rùa hiếm lắm, giờ này mua thì khó đấy".
Chúng tôi ngỏ ý muốn mua nhiều, hoặc làm đại lý vì hiệu thuốc Đông y mới mở khá đông khách hỏi cao rùa. "Nếu các chị mua nhiều, em sẽ hỏi trên nhà xem còn không hoặc lấy ở những chỗ khác về cho chị. Mua bao nhiêu nhà em cũng có khả năng cung cấp kể cả chục kg" - người bán hàng quả quyết.
Theo cơ sở này phát giá, một lạng cao có giá 1-1,2 triệu đồng. "Cao nhà em tự nấu nên chất lượng đảm bảo, không lo tạp chất. Giá đấy là mềm rồi, tuy nhiên nếu mua nhiều cũng có thể thương lượng giảm giá chút ít".
Để tăng thêm sự quý hiếm, người bán hàng quảng bá thêm: "Mai rùa gác bếp một năm trở lên giờ khó kiếm lắm. Còn rùa huyết (giết rùa lấy mai nấu cao luôn) cũng khó mua. Bây giờ các nơi săn rùa bán cho Trung Quốc hết cả rồi, kiếm được rùa mà nấu cao không dễ đâu. Thời gian trước nhà em mua được mẻ rùa lớn trong miền Trung mới có mai để nấu. Chất lượng cao tốt thì yên tâm để vài năm vẫn thơm phức".
Đến hiệu thuốc Đông y gia truyền P.T (Lãn Ông - Hà Nội) hỏi mua cao rùa chúng tôi cũng được chủ khẳng định một câu chắc chắn: "Cao rùa nhà chị tự nấu, thời điểm này hơi hiếm nhưng mua nhiều vẫn có".
Theo bà chủ tên N. cao rùa bổ lắm, sử dụng lưu thông khí huyết, da dẻ hồng hào, tăng khả năng "ham muốn"..., chữa được nhiều bệnh như đau dạ dày, viêm đại tràng, suy nhược khí huyết, thậm chí cả bệnh nan y. Chính vì lẽ đó một lạng cao rùa (cân tiểu ly) có giá 500 ngàn đồng, còn với cân kg thì một lạng có giá 1,25 triệu đồng. Tuy nhiên, bà chủ này cũng cho biết, việc thu mua rùa, mai rùa giờ khó và đắt hơn nhiều nên cửa hiệu nhiều nơi cũng tính đến chuyện tăng giá.
Chúng tôi thắc mắc loại rùa được sử dụng nấu cao là rùa gì, sơn quy hay thủy quy thì bà chủ N. nói: "Nhà tôi bán cao quy bản, còn muốn có sơn quy (cao rùa vàng) thì cả trăm triệu mới mua được một lạng. Mà loại này hiếm lắm, có được rùa vàng, phải mang về cho người ta xem, rồi tổ chức nấu cao trước mặt khách hàng. Có bao nhiêu, khách tại đó lấy hết, còn đâu mà bán".
Để tăng thêm sự quý hiếm của rùa vàng, bà chủ cho biết thêm, với ba đời làm nghề thuốc gia truyền, chưa đến 10 lần nấu được cao rùa vàng. Bởi theo dân gian, cao quy sơn (rùa vàng ở trên núi) được coi là loại thần dược, chữa bách bệnh, đặc trị luôn với các loại bệnh ung thư. Loại cao này cực kỳ quý hiếm, bởi loài rùa này cũng rất quý, nó được ghi vào sách đỏ. Giá mua một kg rùa vàng (thương lái mua từ người dân) đã là 100-200 triệu đồng/kg, đến người nấu cao giá đã đẩy lên tới vô cùng.
"Sách đỏ" cũng... vào lò
Trước sự săn lùng rùa miền Trung của các thương lái phía Bắc bán lậu sang Trung Quốc, khiến nhiều nơi xảy ra tình trạng người dân đổ xô đi bắt rùa. Theo GS. Mai Đình Yên, loài rùa ở miền Trung có giá trị lớn về nghiên cứu, nhưng nó lại đang dần bị cạn kiệt trước nguy cơ săn bắt của con người.
GS.Yên cho biết: "Từ tháng tư năm trước người ta bắt đầu săn lùng rùa bán sang Trung Quốc. Đầu tiên, tôi cứ thắc mắc, Trung Quốc mua rùa ấy để làm gì, vì số lượng rùa miền Trung khá nhiều. Sau này tìm hiểu, tôi biết họ mua để nấu cao. Và với nhu cầu này thì bao nhiêu rùa cũng không đủ".
Giá rùa thương lái miền Bắc thu mua ban đầu chỉ 100 ngàn đồng/kg, nhưng sau đó, rùa bị bắt nhiều, số lượng dần cạn kiệt thì họ nâng lên 4-5 triệu đồng/kg. Chỉ trong vòng 1 năm người dân khắp nơi tập trung đi bắt rùa, đến những con rùa mới nở cũng bị bắt để nấu cao khiến loài này còn lại rất ít, giá thu mua rùa thời điểm này đã lên tới 25-30 triệu đồng/kg.
Người dân đi bắt rùa, các đại lý thu gom rùa tại miền Trung cũng chỉ biết bán cho các đại lý cấp cao hơn ở miền Bắc. Mỗi kg rùa qua khâu trung gian giá có thể tăng thêm vài triệu đồng. Rồi thì, nghe nói các đại lý miền Bắc lại bán sang Trung Quốc để họ làm thuốc bắc gì đó. Người dân chỉ nghe mông lung như vậy thôi, nhưng vì lợi ích trước mắt nhiều người đã lao vào cuộc săn rùa, bất chấp sự cảnh báo mất cân bằng sinh thái.
Nhiều người cho rằng, chỉ có cao sơn quy mới có khả năng chữa bệnh, còn thủy quy không có giá trị. Chính vì lẽ đó, theo GS. Mai Đình Yên, trước đây người ta đã băng đại ngàn, vượt núi tìm bắt rùa vàng, một loại rùa cực kỳ quý hiếm đã ghi vào sách đỏ.
"Rùa vàng có tên khoa học là Cuora trifasciata, kích thước trung bình, mai hơi dẹp, trên mai có 3 gờ nổi rõ (1 gờ chính giữa và 2 gờ hai bên), có 3 vạch màu xám đen chạy dọc 3 gờ, bờ mai sau không có rèm răng cưa. Rùa vàng thường sống ở các nơi có độ cao 500-1000m so với mặt biển và ăn thức ăn thực vật, sâu bọ, xác động vật chết. Có thể gặp rùa vàng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Gia Lai. Rùa vàng ngoài giá trị thẩm mỹ còn là dược liệu quý hiếm" - GS.Yên nói.
Tuy nhiên, người ta thổi phồng công dụng của loại cao rùa vàng khiến loài này bị săn lùng. Giá trị mua bán của loài rùa này rất cao, nhưng nhiều người không sành về rùa dễ bị mất tiền oan.
Trầm ngâm, như để ngấm nỗi đau nhân tình thế thái, GS Mai Đình Yên nói tiếp: "Ngày trước, tôi đã nghe nhiều chuyện người dân bất chấp nguy hiểm rẽ rừng sâu, vượt núi cao đi tìm rùa vàng. Nhiều người đổ bệnh, chết nơi rừng thiêng nước độc. Và đến nay, lại là nỗi buồn khi nhiều người dồn cả gia tài đi săn rùa đồng miền Trung khiến nhiều gia đình thành trắng tay. Chẳng biết bao giờ, người ta mới nghĩ đến chuyện bảo vệ những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng".
Theo các nghiên cứu trước đây rùa miền Trung số lượng cá thể còn nhiều nhưng chỉ sau một năm tận diệt loài này còn rất ít. GS. Mai Đình Yên khẳng định: "Rùa Trung bộ là loài rùa đặc hữu, rất quý hiếm, chỉ có ở một số tỉnh Trung bộ Việt Nam. Quần thể sống ở phạm vi hẹp (khoảng 100 km2) nên cần bảo vệ bằng mọi giá. Rùa đồng thuộc nhóm IIB, ghi trong Sách đỏ IUCN (2005) cấp CR. Chính phủ đã ban hành nghị định số 32/2006/NĐ-CP về bảo vệ các loài động vật hoang dã của Việt Nam. Rùa Trung Bộ được đưa vào danh sách những loài động vật được bảo vệ, cấm mua bán, trao đổi hay tiêu thụ mà không được phép của Chính phủ".
Mặc lệnh cấm, nhưng để phục vụ cho việc nấu cao rùa, mà thực hư chuyện bổ âm, bổ dương, chữa bách bệnh không biết đúng sai thế nào loài rùa vẫn đang bị săn lùng ráo riết. Chừng nào, vẫn có những lạng cao rùa bán phổ biến cho khách hàng thì loài rùa còn bị truy sát... (Pháp Luật Xã Hội 5/12) đầu trang(
Lần đầu tiên ở Việt Nam, một cá thể voi nuôi dưỡng tại khu vực bán hoang dã đã mang thai.
Đây là giống voi châu Á được nuôi tại Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài ở xã Phước Tân (TP Biên Hòa, Đồng Nai) và kết quả siêu âm do các chuyên gia đến từ Thái Lan thực hiện cho thấy thai đã ở tháng thứ chín. TTXVN ngày 5-12 dẫn tin trên từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai.
Theo nhận định của các chuyên gia, việc voi có thể thụ thai trong môi trường bán hoang dã là tín hiệu vui để có thể duy trì và bảo tồn giống voi châu Á vốn đang bị giảm sút nhanh về số lượng cá thể.
Được biết các khu rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai hiện đang có đàn voi châu Á khoảng 10 cá thể. Nhiều năm trở lại đây, do sinh cảnh của voi bị thu hẹp, đàn voi thường xuyên ra khu vực nương rẫy tìm thức ăn, phá hoại cây trồng của người dân. Nhiều cá thể đã bị chết với nguyên nhân được cho là do sự xung đột giữa voi và người. (Pháp Luật TP.HCM 6/12) đầu trang(
Ngày 5-1, Tổ chức Động vật châu Á đã cứu hộ thành công 6 cá thể gấu ngựa nuôi nhốt trong trang trại tại TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) trong hơn 10 năm. Sáu con gấu này được 2 chủ nuôi đồng tự nguyện chuyển giao lại cho nhà nước.
5 con gấu được cứu hộ bằng cách dụ sang lồng vận chuyển chuyên biệt. Riêng gấu đực có tên Snow, do sức khỏe yếu nên các bác sĩ gây mê và khám lâm sàng rồi mới cho vào lồng vận chuyển.
Theo đánh giá, sức khỏe của những con gấu này đều ở mức độ trung bình, do bị nuôi nhốt trong nhiều năm nên hầu hất đều tổn thương răng, có con bị cụt chi. Riêng Snow chỉ còn 1/3 lưỡi, sâu răng nghiêm trọng và chi sau mưng mủ.
Dự kiến, đoàn cứu hộ gấu sẽ di chuyển hành trình dài hơn 1.300 km từ Đắk Lắk về đến Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam tại Vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) trong ít ngày tới.
Theo Tổ chức Động vật châu Á, từ năm 2008 đến nay đã cứu hộ thành công 175 cá thể gấu, hiện có 161 cá thể đang được chăm sóc y tế, dinh dưỡng và sống ở các khu bán tự nhiên của trung tâm. Riêng số liệu của Cục Kiểm lâm Việt Nam, đầu năm 2015 có khoảng 1.240 con gấu ngựa đang bị giam cầm trong 430 trại nuôi nhốt gấu trên cả nước. Các cá thể gấu này bị nhốt trong các lồng cũi chật hẹp và bị chọc kim vào túi mật, bị tổn thương cả về sức khỏe và tâm lý. (Người Lao Động 6/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau hơn 10 năm thực hiện, Dự án phát triển ngành lâm nghiệp đã góp phần vào cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của người dân trong vùng dự án, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và an ninh xã hội, tạo nguồn thu nhập và phát triển kinh tế cho các hộ gia đình…
Dự án phát triển ngành lâm nghiệp (FSDP) hay còn gọi là Dự án WB3 nằm trong khuôn khổ Chương trình phát triển ngành lâm nghiệp giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) được triển khai từ tháng 8/2005. Đây là dự án cho vay trồng rừng thương mại đầu tiên tại Việt Nam với 2 trọng tâm chính là phát triển trồng rừng sản xuất ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam và Quỹ bảo tồn thiên nhiên.
Trên cơ sở Hiệp định tín dụng phát triển được ký ngày 04/4/2005 và Hiệp định tài trợ bổ sung được ký ngày 15/6/2012 giữa Việt Nam với WB, Bộ Tài chính cũng đã ký với Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) 02 Hiệp định vay phụ với tổng số tiền là 693,5 tỷ đồng để NHCSXH cho vay đối với các hộ gia đình tham gia trồng và chăm sóc rừng trồng, phát triển thể chế và hoạt động giám sát, đánh giá của NHCSXH.
Tính đến 31/10/2016, tổng dư nợ của dự án đạt gần 492 tỷ đồng với trên 15 nghìn khách hàng còn dư nợ, trong đó Quảng Nam là một trong 6 tỉnh của dự án dẫn đầu về số lượng khách hàng và số dư nợ (dư nợ đạt trên 164 tỷ đồng với hơn 4.300 hộ gia đình vay vốn).
Là người dân được hưởng lợi từ dự án, năm 2005 hộ gia đình ông Hồ Văn Ngọc ở thôn 5, xã Tiên Ngọc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã vay 50 triệu đồng để trồng 5,2ha cây keo tai tượng.
Ông Ngọc cho biết: “Trước đây gia đình tôi thuộc diện hộ nghèo, quanh năm phải làm thuê, làm mướn cũng chẳng đủ cho 05 miệng ăn. Nhưng từ khi gia đình tôi được tiếp cận với đồng vốn tín dụng chính sách của Chính phủ thông qua NHCSXH, cụ thể là chương trình cho vay Dự án phát triển ngành lâm nghiệp, để trồng cây keo tai tượng, đời sống kinh tế gia đình từng bước phát triển. Năm 2013, rừng keo tai tượng cho thu hoạch, tôi đã trả được nợ vay ngân hàng, hiện gia đình tôi đã thoát được cận nghèo”.
Sau 5-7 năm, rừng keo nhà ông Ngọc sẽ cho thu hoạch từ 70-80 triệu đồng/ha, trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận thu được sẽ đạt từ 7-10 triệu đồng/ha. “Tuy nhiên, để thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu, vợ chồng tôi đồng thuận tiếp tục vay NHCSXH 125 triệu để đầu tư trồng rừng. Hi vọng sẽ đổi đời nhờ rừng” – ông Ngọc nói thêm.
Ông Huỳnh Tấn Xuân - Chủ tịch UBND xã Tiên Ngọc - chia sẻ: Từ vùng đất bạc màu, năng suất cây trồng hàng năm thấp, từ khi thực hiện FSDP, nhiều hộ dân ở địa phương đã biết chuyển đổi cây trồng phát triển kinh tế vườn rừng, áp dụng mô hình nông-lâm kết hợp để tăng diện tích rừng trồng trong những năm đầu bằng cách trồng xen kẽ với các loại cây ngắn ngày, sử dụng hiệu quả vốn tín dụng chính sách với lãi suất thấp..., nhờ đó đời sống người dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi đáng kể, môi trường sống được cải thiện. Hoạt động trồng rừng bền vững đã góp phần bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế cho người dân địa phương, hướng nền kinh tế tới mục tiêu tăng trưởng xanh...
Dự án triển khai giai đoạn I (từ năm 2005 đến năm 2011) tại 04 tỉnh gồm: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Thừa Thiên Huế. Giai đoạn II từ năm 2012 đến tháng 3/2015 với việc mở rộng thêm 02 tỉnh là Thanh Hóa và Nghệ An.
Mục tiêu chính của FSDP là quản lý rừng trồng sản xuất bền vững và hiệu quả, bảo tồn sự đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng, tăng cường đóng góp của ngành lâm nghiệp vào công cuộc giảm nghèo tại Việt Nam và bảo vệ môi trường toàn cầu bằng các gói tín dụng hấp dẫn và hoạt động tư vấn kỹ thuật cho các hộ gia đình địa phương nghèo để trồng rừng trên diện tích khoảng 70.300ha tại 06 tỉnh dự án.
Thời điểm 31/3/2015 là thời gian kết thúc việc NHCSXH rút vốn từ Bộ Tài chính, tuy nhiên hoạt động cho vay nguồn vốn quay vòng vẫn được NHCSXH duy trì thực hiện 20 năm nữa để tạo điều kiện cho nhiều hộ nông dân được tiếp tục vay vốn trồng và chăm sóc rừng.
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, dự án đã có tác động tích cực về nhiều mặt bao gồm phát triển kinh tế - xã hội, môi trường và ngành lâm nghiệp. Việc tham gia thực hiện trồng rừng dự án đã làm thay đổi đời sống kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn có diện tích tham gia trồng rừng cũng như sống xung quanh rừng từ việc bán sản phẩm cho đến làm thuê trong lĩnh vực lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân góp phần vào bảo đảm an ninh trật tự xã hội tại địa phương, làm tăng của cải cho xã hội và có đóng góp tích cực vào giảm nghèo, từ đó tạo ra chuỗi giá trị về mặt kinh tế-chính trị, xã hội và môi trường.
Hoạt động của dự án cũng đã có đóng góp tích cực vào thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện và giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam (Năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 15,5%, đến năm 2015 khoảng cách này thu hẹp còn dưới 5%).
Mặt khác, FSDP đã tạo ra mô hình quản lý phát triển rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học, qua đó đẩy mạnh bảo vệ môi trường, cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng và đẩy mạnh đóng góp của lâm nghiệp vào nền kinh tế... (Pháp Luật Việt Nam 6/12) đầu trang(
Vừa qua, Infonet đã đưa tin, UBND TP Đà Nẵng vừa có văn bản 213/BC-UBND báo cáo kết quả thực hiện các thông báo kết luận của Thường trực HĐND TP tại các phiên họp thường kỳ hàng tháng và các phiên họp giải trình trong năm 2016 nhằm phục vụ cho kỳ họp thứ 3 HĐND TP Đà Nẵng khóa IX sẽ diễn ra từ ngày 6 – 8/12.
Báo cáo này cho hay, thực hiện chỉ đạo của Thường trực HĐND TP Đà Nẵng về việc đôn đốc và xác định thời hạn cuối cùng đối với việc tháo dỡ dứt điểm công trình xây dựng không phép của “đại gia vàng” Ngô Văn Quang trên núi Hải Vân, UBND quận Liên Chiểu đã mời đại diện lãnh đạo Văn phòng và Ban Pháp chế HĐND TP, Ban Nội chính Thành ủy, Ủy ban MTTQVN TP và các ban, ngành liên quan tiến hành kiểm tra thực tế.
Qua đó cho thấy, gia đình ông Ngô Văn Quang đã chấp hành việc tự nguyện tháo dỡ các công trình vi phạm và đến nay đã tháo dỡ được hơn 80%. Do khối lượng tài sản lớn, cần chỗ cất giữ trong khi tìm địa điểm mới để di dời nên gia đình ông Quang đề nghị giữ lại 02 công trình chưa tháo dỡ để chứa đồ.
Hai công trình này bao gồm nhà rường gỗ, mái lớp ngói (hiện để tạm chuyển bàn thờ gia tiên của gia đình ông); nhà xây gạch, mái lợp ngói (tận dụng tạm thời để chất và bảo quản tài sản trong quá trình tháo dỡ).
Cũng theo báo cáo này, gia đình cam kết sẽ tháo dỡ ngay các công trình này khi ông Quang khỏi bệnh và tìm được địa điểm di chuyển. Căn cứ tình hình thực tế nêu trên, UBND quận Liên Chiểu xét thấy không có cơ sở để tổ chức cưỡng chế.
Do vậy, quận Liên Chiểu sẽ tiếp tục cử cán bộ theo dõi, hỗ trợ, đôn đốc và giám sát gia đình ông Quang tháo dỡ các hang mục còn lại trong thời gian sớm nhất.
Trước đó, ngày 5/10, trao đổi với Đất Việt, ông Đàm Quang Hưng - Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu từng cho biết: "Khu biệt phủ đã tháo dỡ hoàn toàn, báo cáo tiến độ lên HĐND TP. Còn căn nhà gỗ cấp 4 và các đồ đạc là do vị đại gia xin tạm gửi lại, chờ tìm vị trí ở mới.
Căn này hiện nay chỉ còn là nơi chứa đồ dùng và để làm nơi thờ tự, chứ đã hoàn thiện trả lại quỹ đất vi phạm, chấp hành lệnh phá dỡ".
Ông Hưng cũng tiết lộ, vị đại gia này cũng đau ốm nhiều, nên đang đi chữa bệnh. Vì thế nên phải thuê người trông giữ giúp tài sản ở đó, trong thời gian đi tìm vị trí mới để xây dựng nhà. Được biết, gia đình cũng đã tìm được một số địa điểm nhưng còn chờ đợi làm thủ tục.
Theo ông Hưng, cũng nên tạo điều kiện giúp đỡ để cho gia đình ông Quang có thời gian sắp xếp và tìm được nơi ở mới, không nên quá khắt khe.
Bên cạnh đó, ông Hưng cho hay: "Diện tích đất trồng rừng không vi phạm, ông Quang vẫn có thể tiếp tục trồng rừng nguyên sinh, bởi vì, ông Quang chỉ vi phạm hơn 1000m2 đất xây nhà không phép, giờ đã tháo dỡ hết.
Với diện tích đất đã phá dỡ, thì giữ toàn bộ hiện trạng, giao cho địa phương quản lý, giám sát môi trường, tránh lặp lại tình trạng như vừa qua, còn lại sau này cần làm thủ tục giao đất, giao rừng thì chỉ cần thực hiện theo thủ tục của thành phố". (Đất Việt 5/12) đầu trang(
Người dân nhận rừng khoanh nuôi không sử dụng đã đem đi cầm cố; các nông, lâm trường, chỉ với vài chục con người lại sở hữu hàng nghìn ha đất rừng, đất lâm nghiệp. Và, trong khi có hàng nghìn ha đất rừng chưa được giao cho người dân thì vẫn có nhiều người sống dựa vào rừng nhưng trong tay không một tấc đất. thế Thế là xung đột...
Thiếu tư liệu sản xuất, nhiều hộ dân đã làm liều, vào rừng phát xẻ để trồng keo. Xung đột giữa người dân thiếu đất sản xuất và các nông, lâm trường đã xảy ra… Thực tế đó đang xảy ra tại Nghệ An.
Thực hiện chủ trương giao đất rừng theo Nghị định 163 của Chính phủ, UBND huyện Quế Phong (Nghệ An) đã cấp 155 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho các hộ đồng bào dân tộc Thái tại xã Nậm Giải với tổng diện tích gần 1,6 nghìn ha. Tuy nhiên, sau khi được giao khoanh nuôi bảo vệ, nhiều hộ đã đem đi cầm cố.
Sự việc xảy ra từ những năm 2010 tại bản Mờ và bản Chả Lấu, xã Nậm Giải nhưng phải đến giữa năm 2016, chính quyền địa phương mới phát hiện và ngăn chặn. Những người rơi vào bi kịch phải cầm cố sổ đỏ là người nghèo.
Năm 2003, vợ chồng Lương Văn Dũng - Lô Thị Hòa tại bản Mờ được Nhà nước giao gần 13ha đất rừng. Nhận được đất rừng, lại được cấp sổ đỏ, vợ chồng ông Dũng khấp khởi mừng. Nhưng khi biết, rừng được giao chỉ được khoanh nuôi, bảo vệ, phát triển; muốn khai thác hoặc trồng rừng thay thế phải làm các thủ tục cần thiết và được cấp có thẩm quyền cho phép thì vợ chồng ông Dũng lại lo lắng...
Năm 2012, thiếu cái ăn, lại túng tiền cho con học, nghe theo lời phó bản Vi Văn Thắng, ông Dũng đem sổ đỏ cầm cố cho doanh nghiệp Phong Vân đóng trên địa bàn huyện để đổi lấy 20 triệu đồng.
Ông Thắng cũng cầm cố luôn cả sổ đỏ nhà mình với diện tích gần 6,8ha lấy 7 triệu đồng về tiêu xài. Đến nay, cả ông Thắng, ông Dũng đều chưa có tiền để chuộc lại.
“Giờ nghe cán bộ nói làm như thế là sai, tôi vay được tiền rồi, muốn đi lấy lại rừng nhưng ông Thắng nói nhà tôi không đủ tiền lấy lại đâu! Giờ không có nhiều tiền để chuộc rừng về, tôi cũng biết sai rồi nhưng không biết làm thế nào”, bà Hòa than thở.
Một cán bộ xã Nậm Giải (xin giấu tên) cho biết, đồng bào nhận sổ về, cũng nghĩ đơn giản nó chỉ là một tờ giấy, không giá trị nên nhiều hộ còn đem lót ổ cho gà đẻ(?). Khi có người gạ cầm cố tiền triệu thì họ không ngần ngại lấy ra đổi lấy tiền.Trong cuộc nói chuyện với PV, ông Lê Văn Duẩn, cán bộ địa chính, xây dựng xã Nậm Giải thừa nhận, ông cũng mua được 2ha đất rừng với giá 10 triệu đồng. Cứ theo lời ông Duẩn thì dù đã bỏ tiền ra mua nhưng hai bên chỉ có tờ giấy viết tay.
“Tôi cũng ra huyện để xin chuyển tên sổ đỏ nhưng mà huyện nói là không làm được. Tiền đã đưa rồi, sổ đỏ tôi đã cầm trong tay, vừa san ủi gần 2.000m2 để khi có điều kiện thì làm nhà ở. Diện tích đất rừng còn lại đang để đó, chưa trồng thêm, cũng không có thời gian khai thác”, ông Duẩn cho biết.
Theo một cán bộ xã Nậm Giải, dù không nằm trong số các đối tượng được ưu tiên giao đất, giao rừng của xã Nậm Giải nhưng ông Duẩn cũng là người dân sinh sống và làm việc tại địa phương, việc trao đổi, mua bán ngầm còn có thể chấp nhận được. Điều đáng lo ngại là, hầu hết diện tích đất rừng người dân đem đi cầm cố cho người từ các xã khác, thực chất đây là một hình thức chuyển nhượng ngầm.
Trong danh sách nhận cầm cố sổ đỏ của người dân bản Mờ, bản Chả Lấu có doanh nghiệp Phong Vân, doanh nghiệp Kim Thông Vân, nhà khách Thủy Ủy đóng trên địa bàn thị trấn Kim Sơn (Quế Phong). Thậm chí, còn có cán bộ huyện đội Quế Phong và cán bộ Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt.
Theo cán bộ xã Nậm Giải, phần lớn diện tích đất rừng được đem đi cầm cố đều đang được giữ nguyên trạng thái rừng, chưa bị xâm hại. Riêng diện tích gần 52ha được một cán bộ Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt nhận cầm cố đã được cán bộ này trồng và thu hoạch 1 lứa keo, sau đó bán lại cho 1 người khác chưa rõ tên, nay đã trồng lứa keo thứ 2(?).
“Những năm trước, ở Nậm Giải có dự án xây dựng Nhà máy Thủy điện bản Cốc. Đó cũng là thời điểm diễn ra việc người dân đem sổ đỏ đi cầm cố. Nhiều người cho rằng, chính những người biết được thông tin có dự án đầu tư này đã đón đầu thâu tóm đất đai của người dân với giá rẻ như bèo để sau đó nhận các khoản tiền đền bù. Trong khi đó, các tiền khoanh nuôi bảo vệ rừng, dịch vụ môi trường rừng sau này mới có, lại chi trả chậm; rừng nhận khoanh nuôi không được khai thác, không được sản xuất nên khi được trả một số tiền nhỏ, họ sẵn sàng cầm cố. Thực chất đây là một hình thức chuyển nhượng chui đất rừng”, ông Lô Minh Tường - Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Giải nhận định.
Không biết, những gì ông Phó Chủ tịch xã Nậm Giải nhận định có chính xác hay không nhưng thực trạng trên khiến chúng ta không khỏi lo ngại. Câu hỏi đặt ra là, liệu tình trạng chuyển nhượng đất rừng chui chỉ diễn ra tại 2 bản của xã Nậm Giải hay còn ở đâu nữa?
Câu hỏi này được ông Lô Thanh Hương, Phó Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Quế Phong giải đáp: “Hiện chúng tôi mới chỉ nhận được thông tin tình trạng chuyển nhượng chui đất rừng diễn ra tại xã Nậm Giải còn những xã khác thì chưa có thông tin gì. UBND huyện Quế Phong đã tham khảo ý kiến Sở TN-MT, Bộ TN-MT và có nhiều văn bản gửi cấp trên xin ý kiến cách giải quyết. UBND tỉnh Nghệ An cũng đã có văn bản giao cho các sở ban ngành tham mưu xử lý nhưng hiện nay vẫn chưa tìm ra phương án”.
Theo ông Lô Minh Tường, Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Giải thì hình thức là cầm cố sổ đỏ nhưng không có văn bằng, giao kèo, khế ước, cũng không đặt ra mức lời, lãi bao nhiêu. Vì thế, về bản chất đó là một hình thức chuyển nhượng chui, chuyển nhượng ngầm đất rừng.
Đương nhiên, các doanh nghiệp và người nhận cầm cố không thừa nhận điều này. Doanh nghiệp khẳng định, khi nào dân trả cả vốn lẫn lãi thì họ trả bìa đất nhưng với những người dân nghèo bản Mờ, Chả Lấu, biết khi nào có tiền để chuộc lại đất? (Nông Nghiệp Việt Nam 5/12) đầu trang(
Thiếu tư liệu sản xuất, nhiều hộ dân đã làm liều, vào rừng chặt phát để trồng keo. Xung đột giữa người dân thiếu đất sản xuất và các nông lâm trường liên tục xảy ra. Theo số liệu thống kê của Phòng TN-MT huyện Quỳ Châu, hiện, toàn huyện còn 2.016 hộ thiếu đất rừng sản xuất...
Từ ngày 8-13/6/2013, tại các tiểu khu thuộc quản lý của Lâm trường Cô Ba đóng trên xã Châu Bình (Quỳ Châu), gần 1 nghìn người dân của 17 bản kéo vào chặt phát rừng. Rất nhiều cây rừng trên 10 năm tuổi ngã xuống.
Theo thống kê, các tiểu khu bị xâm hại gồm 200, 204 và 205 do Lâm trường Cô Ba quản lý. Những người tổ chức chặt phát rừng, biện minh rằng dân đang thiếu đất sản xuất còn Lâm trường Cô Ba chỉ với ba bốn chục con người lại sở hữu hàng ngàn héc-ta đất rừng sản xuất.
Hành động của người dân xã Châu Bình đã khiến hơn 50 ha rừng bị xâm hại. Trước tình thế trên, lãnh đạo UBND huyện Quỳ Châu đã tổ chức họp khẩn phương án giải quyết, giao các ngành cùng vào cuộc, tìm đối tượng xúi giục, tuyên truyền để người dân nhận thức việc làm sai trái. UBND tỉnh Nghệ An cử đoàn công tác có mặt tại hiện trường giải quyết vụ việc; 3 đối tượng xúi giục, kích động người dân phát rừng đã bị xử lý. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Lâm trường Cô Ba sau đó đã chuyển 1.135,1 ha đất rừng cho xã Châu Bình, 618,4 ha cho xã Châu Hội.
Tiếp đến, sáng 16/1/2014, hàng chục người dân xã Tam Hợp (Quỳ Hợp) đã vào khu vực rừng sản xuất của Lâm trường Đồng Hợp để phát cây, bóc vỏ keo. Họ gây sức ép, yêu cầu lâm trường trả lại một số diện tích để giao cho các hộ thiếu đất sản xuất.
Trước đó, ngày 24/5/2007, Sở NN-PTNT Nghệ An có quyết định số 347/QĐ-SNN-TTr yêu cầu Lâm trường Đồng Hợp, Công ty Lâm nông nghiệp Sông Hiếu bàn giao một số diện tích đất sản xuất cho UBND huyện Quỳ Hợp để làm thủ tục giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất cho nhân dân Bãi Kè (Đồng Hợp - Quỳ Hợp).
Tại quyết định số 199/QĐ-UB-ĐC ngày 24/2/2004 của UBND tỉnh Nghệ An, 44 ha đất rừng tại các lô 2b, 3c và khoảnh 4, tiểu khu 268, Lâm trường Đồng Hợp, bàn giao quyền sử dụng đất cho UBND huyện Quỳ Hợp.
Quyết định về việc giao đất lại cho dân có từ năm 2007 nhưng mãi đến 2014 mới chỉ giao cho dân xóm Bãi Kè được 15ha/44 ha. Việc giao đất nhỏ giọt, kéo dài khiến nhân dân bức xúc.Theo kết quả kiểm kê rừng tỉnh Nghệ An năm 2016, toàn tỉnh hiện có trên 1,2 triệu héc-ta rừng. Trong đó, rừng được giao cho hộ gia đình, cá nhân là 240 nghìn héc-ta, cộng đồng gần 26 nghìn héc-ta, đơn vị vũ trang trên 1,2 nghìn héc-ta, các tổ chức khác gần 49 nghìn héc-ta, UBND các cấp (huyện, xã) trên 280 nghìn héc-ta. Số còn lại thuộc quản lý của BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Số liệu thống kê trên cho thấy, một diện tích rất lớn đất rừng hiện nay được giao cho cộng đồng và UBND các cấp quản lý. Vì sao, trong lúc người dân thiếu đất rừng sản xuất lại có một diện tích lớn nằm trong tay các cơ quan quản lý Nhà nước? Liệu diện tích trên có được quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển đúng như ý nghĩa của việc giao đất, giao rừng theo Nghị định 163?
Theo ông Sầm Văn Thiết, Chủ tịch UBND xã Châu Hạnh (Quỳ Châu), mặc dù nhu cầu cấp đất rừng cho người dân rất cấp thiết nhưng đến thời điểm hiện nay, chính quyền địa phương mới chỉ làm được mỗi việc bình xét đối tượng.
“Người dân Châu Hạnh chủ yếu sống nhờ vào trồng rừng và khai thác các lâm sản phụ, hiện UBND tỉnh mới chỉ hỗ trợ được kinh phí tư vấn thiết kế, chia lô để cùng chính quyền các địa phương bàn giao nhưng chưa đủ kinh phí để tổ chức làm hồ sơ ra quyết định giao đất. Điều này, nếu để lâu dễ nảy sinh những hệ lụy về mặt xã hội, an ninh trật tự” – ông Thiết lo lắng.
Tình trạng trên cũng đang diễn ra tại xã Châu Bình. Xã có trên 50% hộ nghèo, gần 10 nghìn nhân khẩu sống dựa vào rừng. Thế nhưng, trong tổng số 11 nghìn héc-ta đất lâm nghiệp trên địa bàn xã thì có trên 7 nghìn héc-ta thuộc quản lý của Lâm trường Cô Ba; gần 249 héc-ta hiện do cộng đồng quản lý; gần 450 héc-ta tạm giao cho dân. Số giao cho dân sản xuất hiện mới chỉ 2,9 nghìn héc-ta. Số diện tích đất rừng giao cho cộng đồng quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi nhưng trên thực chất rừng ngày càng nghèo đi.
Ông Lê Văn Toan, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Bình, cho biết: “Toàn xã còn trên 500 hộ chưa có đất rừng để sản xuất. Trước tình trạng đó, UBND xã và huyện đã đề xuất với UBND tỉnh chuyển 1,1 nghìn héc-ta đất của Lâm trường Cô Ba về cho dân. Các ban ngành chức năng đang làm hồ sơ và đã khảo sát xong nhưng vẫn còn thiếu kinh phí bàn giao".
Theo số liệu thống kê của Phòng TN-MT huyện Quỳ Châu, mặc dù người dân hiện rất thiếu đất rừng sản xuất nhưng trong số gần 62 nghìn héc-ta đất lâm nghiệp thì cũng chỉ mới có gần 39 nghìn héc-ta được giao cho 8.330 hộ dân. Hiện, toàn huyện còn 2.016 hộ thiếu đất rừng sản xuất, chưa được cấp thẩm quyền giao.
Do quỹ đất để giao cho các hộ dân trên không đủ nên UBND huyện đã kiến nghị UBND tỉnh thu hồi 2.500 ha đất của 2 lâm trường đóng trên địa bàn giao cho dân, đặc biệt là người dân các xã Châu Bình, Châu Nga, Châu Hội. Tuy nhiên, lâm trường chưa bàn giao hết đất hoặc bàn giao ở những địa bàn quá xa gây khó khăn cho công tác giao đất, giao rừng.
Theo Phòng TN-MT huyện Quế Phong, để thực hiện xong quy trình giao đất giao rừng cho người dân theo đúng kế hoạch, toàn huyện cần 11 tỷ đồng. Chừng đó tiền hiện đang trông chờ vào ngân sách tỉnh nhưng chưa biết khi nào có! (Nông Nghiệp Việt Nam 6/12) đầu trang(
Với bà con người Mông và Dao ở xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu), khẩu hiệu: “Hãy cho rừng sự sống để rừng ban sự sống cho ta” có thể còn quá thâm sâu về ý nghĩa nhưng họ luôn hiểu rằng, bảo vệ được rừng thì rừng sẽ trả ơn.
Quả thật, ơn nghĩa ấy rừng đã trả vàng cho đồng bào. Ông Giàng A Vư, Chủ tịch UBND xã Sin Suối Hồ hồ hởi: “Bà con đã nhận ra giá trị của rừng nên mọi người đều chung tay bảo vệ. Đặc biệt sau khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đi vào cuộc sống, rừng không chỉ mang lại những lợi ích gián tiếp về nước tưới, khí hậu mà còn cho một khoản tiền đáng kể cho mỗi hộ dân nên động lực, ý thức bảo vệ rừng của bà con rất tốt”.
Chẳng gì là khó khăn để kiểm chứng điều mà các vị lãnh đạo huyện Phong Thổ và xã Sin Suối Hồ nói, nếu ai đã một lần đến với mảnh đất nơi cuối trời Tây Bắc này. Bước vào địa phận của Sin Suối Hồ, chúng tôi như được những cánh rừng chào đón. Càng lên cao, vào sâu trong xã thì rừng càng dầy, càng sừng sững. Đứng từ trung tâm xã, phóng tầm mắt ra bốn phía, chúng tôi như cảm nhận được sự hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng được điểm xuyết bằng những trảng ruộng bậc thang uốn lượn thơ mộng. Ẩn trong chốn thẳm xanh thơ mộng ấy là những “vựa vàng” của đồng bào, một rừng thảo quả đang vào kỳ thu hoạch.
Thực ra, người dân Sin Suối Hồ đã nhận ra và bảo vệ rừng từ rất lâu bởi trong tán rừng già là 412ha thảo quả, trong đó có đến 350ha đang cho thu hoạch. Từ thảo quả, riêng năm 2015, nông dân toàn xã đã thu về hơn 6 tỷ đồng, một con số khổng lồ cho hơn 700 hộ dân nơi đây.
Tiếp chúng tôi trong căn nhà trệt, nền lát đá hoa, giữa phòng khách là bộ sofa với những chiếc ghế bành, kê tương xứng với chiếc ti vi đời mới màn hình rộng cùng giàn thiết bị âm thanh hiện đại, trưởng bản Sin Suối Hồ, ông Vàng A Chỉnh chậm rãi: “Nhờ rừng và giữ được môi trường rừng mà tôi mới có cơ ngơi này đấy. Năm trước tôi bán được gần 100 triệu tiền thảo quả. Không có rừng thì lấy đâu ra ti vi, xe máy đời mới”.
Từ khi Nghị định 99 về chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được ban hành thì công sức của người dân trong việc giữ rừng càng công bằng hơn. Với một xã có đến 45% số hộ dân nằm trong diện nghèo đói như Sin Suối Hồ thì khoản tiền mà người dân được hưởng lợi từ rừng là rất lớn.
Từ năm 2013 đến nay, bình quân, mỗi hộ dân trong xã được nhận 3,8 triệu đồng/năm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đây là số tiền do các nhà máy thủy điện hưởng lợi từ nguồn nước mà người dân giữ rừng mang lại chi trả công chăm sóc, phát triển và bảo vệ rừng. Tính ra, mỗi năm rừng mang về cho xã khoảng hơn 2,5 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 05/12) đầu trang(
Từ năm 2015, hơn 3.300ha rừng ở 6 xã của huyện Tam Đường (Lai Châu) tham gia chương trình Quản lý rừng bền vững mà hệ sinh thái được đảm bảo, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí CO2 và hỗ trợ sinh kế cho người dân.
Đây là rừng sản xuất, có trạng thái từ IIA, IIB trở lên, tỷ lệ đất trống bị xâm lấn bởi dây leo, chuối dại không quá 5% tổng diện tích của khu rừng.
Điều kiện tham gia chương trình quản lý rừng bền vững phải là diện tích đất tự nhiên liền vùng, liền khoảnh với quy mô tối thiểu từ 20ha đối với 1 lô rừng và 100ha đối với 1 bản. Những diện tích rừng tự nhiên này hiện do UBND xã, huyện quản lý và sẽ giao cho cộng đồng dân tộc thiểu số để quản lý rừng bền vững.
Bản Chu Lìn ở xã Hồ Thầu có 118,2ha rừng ở trạng thái IIA được lựa chọn tham gia chương trình bảo vệ, quản lý rừng bền vững. Hiện nay, bản đang xây dựng hương ước để quy trách nhiệm, nghĩa vụ quản lý, bảo vệ rừng cho người dân.
Phó bản Chù Lìn, ông Lù Ngọc Sài cho biết: “Khi được cán bộ ban quản lý rừng về thông báo, lựa chọn diện tích rừng của bản tham gia vào chương trình quản lý rừng bền vững, ngoài được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thì mỗi ha sẽ được hỗ trợ thêm từ 300 - 400 nghìn đồng khiến cho bà con trong bản vui lắm. Cả bản đều nhất trí đưa diện tích 118,2ha vào quản lý chặt chẽ”.
Theo ông Trần Văn Sứng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tam Đường: “Người dân khi tham gia chương trình quản lý rừng bền vững sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng, từ đó duy trì các hoạt động bảo vệ rừng lâu dài. Đây là sự đảm bảo cho tính đa dạng sinh học, hệ sinh thái, nâng cao thích ứng của địa phương trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Đặc biệt là giảm phát thải khí CO2, cải thiện sinh kế, hiệu quả kinh tế của rừng thông qua các biện pháp can thiệp lâm sinh”. (Nông Nghiệp Việt Nam 05/12) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 147/2016/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NÐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Một trong những nội dung sửa đổi là điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR đối với cơ sở sản xuất thủy điện và sản xuất nước sạch.
Từ chính sách chi trả DVMTR, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, công tác triển khai chính sách chi trả DVMTR trong thời gian qua đã có tác động rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở từng địa bàn, lưu vực có cung ứng DVMTR nói riêng. Cùng với các nguồn lực và thông qua các giải pháp, các hoạt động triển khai thực hiện đồng bộ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã góp phần giảm thiểu số vụ vi phạm, phá hoại rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép…
Tại một số nơi, đơn giá chi trả bình quân trên 1 héc-ta rừng đạt cao, cao hơn cả mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho công tác bảo vệ rừng (200.000 đồng/héc-ta) như: Lưu vực Nhà máy thủy điện Nậm Khóa 3, Nhà máy thủy điện Nậm Tha có đơn giá chi trả đạt từ 518.000 đồng - 733.000 đồng/1héc-ta/năm. Nhờ triển khai tốt chính sách chi trả DVMTR, thu nhập thực tế bình quân của các hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng đã có những cải thiện. Thậm chí, có những hộ thu nhập tiền DVMTR đạt 3.000.000 - 4.000.000 đồng/hộ/năm. Nguồn tiền DVMTR đã góp phần nâng cao đời sống người làm nghề rừng, giảm tỷ lệ hộ nghèo tại các lưu vực cung ứng DVMTR.
Còn tại Hòa Bình, theo ông Nguyễn Hồng Tuấn - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hòa Bình, trong 5 năm 2011 - 2015, tỉnh đã thu được 53.740 triệu đồng quỹ DVMTR, đã giải ngân, thanh toán cho chủ rừng tại 3 lưu vực và chi phí hoạt động của Ban điều hành Quỹ cùng kinh phí hỗ trợ hoạt động cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà là 45.952 triệu đồng. Sau 5 năm triển khai, chính sách này đã giúp cải thiện thu nhập và đời sống người dân, nhất là người dân vùng sâu, vùng xa.
Theo ông Phạm Hồng Lượng - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Tổng cục Lâm nghiệp): Chính sách chi trả DVMTR được triển khai ở nước ta đã từng bước thúc đẩy, tạo lập cơ chế thị trường có định hướng và thể hiện vai trò điều tiết của Nhà nước; thể hiện mối quan hệ trong giao dịch kinh tế giữa một bên mua là bên sử dụng DVMTR và bên bán là bên cung ứng DVMTR. Đặc biệt, việc chi trả rất có ý nghĩa, nhất là đối với các hộ nghèo, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới ở miền núi.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các cơ quan liên quan, bên cạnh những kết quả đã đạt được tại thời điểm này, số tiền chi trả DVMTR chưa hoàn toàn đáp ứng được giá trị sức lao động và nhu cầu sống tối thiểu của người dân. Đặc biệt, việc chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh tới từng chủ rừng còn rất khó khăn do quy định tài chính và các văn bản liên quan tới phương thức, hồ sơ nghiệm thu thanh toán chưa phù hợp đặc thù địa phương; mức chi trả thấp, chênh lệch chi trả trên các lưu vực rất lớn, gây khó khăn cho công tác vận động, tuyên truyền, ảnh hưởng mạnh mẽ tới ý thức người dân…
Vì vậy, các đơn vị cũng kiến nghị, cần tăng cường hơn nữa công tác phổ biến, tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng cùng chung tay trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, thực hiện điều tra khảo sát nhu cầu đào tạo hàng năm và lập kế hoạch đào tạo hợp lý. Ngoài ra, ban hành các hướng dẫn, văn bản quy định chi tiết cụ thể theo hướng phù hợp thực tế, tinh giản trình tự thủ tục…
Tính đến 30/6/2016, cả nước đã ký được 464 hợp đồng ủy thác tiền chi trả DVMTR với các cơ sở sử dụng DVMTR, trong đó Quỹ Trung ương ký 64 hợp đồng, Quỹ tỉnh ký 400 hợp đồng. Trên cơ sở các hợp đồng ủy thác ký kết được, nguồn tiền DVMTR của cả nước hàng năm đạt trên 1.000 tỷ đồng, lũy kế đến 30/6/2016 là 5.744,792 tỷ đồng từ 3 nhóm đối tượng: Cơ sở thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, cơ sở du lịch. (Báo Công Thương 04/12) đầu trang(
Theo quyết định của Chính phủ, kể từ ngày 1/1/2017, các nhà máy thủy điện sẽ phải chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) mức 36 đồng/1kWh điện thương phẩm. Ðây sẽ là cơ hội lớn để người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có thêm nguồn thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Nậm Nhùn là huyện biên giới, miền núi của tỉnh Lai Châu - nơi sinh sống của 11 dân tộc anh em nhưng chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Diện tích tự nhiên lớn nhưng địa hình núi và rừng chiếm tới trên 90%, diện tích thâm canh lúa nước đạt thấp do đó tỷ lệ hộ đói nghèo trung bình còn cao gần 40%, thậm chí có những xã trên 50%.
Theo ông Nguyễn Trọng Lịch - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lai Châu - sau hơn 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, các vụ cháy rừng, vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt; độ che phủ rừng tăng từ 41% năm 2011 đến 45,4% năm 2015. Nhiều nơi như xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, bà con yêu cầu không nhận gạo cứu đói giáp hạt vì đã có tiền dịch vụ môi trường rừng. Hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa của huyện Mường Tè nhờ có rừng mà nguồn thu ổn định, với mức bình quân 21 triệu đồng/hộ/năm.
Bà Lù Thị Sen - Bí thư Đảng ủy xã Mường Mô (Nậm Nhùn - Lai Châu) cho biết, ngoài các nguồn thu nhập khác, mỗi hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng trong xã còn có thêm nguồn tiền 8 triệu đồng/năm từ DVMTR nên đã góp phần tăng thu nhập và tạo động lực cho bà con phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 của xã là 43,8% đến nay đã giảm còn 23%.
Có thể nói, chính sách chi trả DVMTR, giao đất giao rừng cho người dân hiện nay đang là một trong những động lực thúc đẩy người dân sống bằng nghề rừng, yên tâm với công việc và đồng thời cũng mở ra cơ hội cho đồng bào thúc đẩy nghề lâm nghiệp ngày càng phát triển bền vững.
Với đa số đồng bào dân tộc sinh sống gắn bó với rừng sẽ càng vui hơn khi biết mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 1472016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP (năm 2010) về chính sách chi trả DVMTR. Trong đó có việc nâng mức chi trả tiền DVMTR đối với cơ sở sản xuất thủy điện từ 20 đồng lên 36 đồng/1 kWh điện thương phẩm.
Nghị định cũng quy định các đối tượng được chi trả tiền DVMTR, ngoài các tổ chức được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; UBND cấp xã được nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng còn có các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng, cho thuê hoặc tự đầu tư trồng rừng.
Đại diện Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, trong 5 năm qua, thực hiện chính sách chi trả DVMTR, số tiền chi trả cho chủ rừng và các tổ chức không phải chủ rừng là 4.549,620 tỷ đồng, đã có hơn 500.000 hộ dân sống trong và gần rừng nhận được tiền chi trả DVMTR, tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện thu nhập... Tuy vậy, thời điểm hiện nay, số tiền chi trả DVMTR chưa đáp ứng được giá trị sức lao động và nhu cầu tối thiểu...
Chính vì vậy, quyết định tăng phí DVMTR là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, nhất là những biến động giá. Theo quy định cũ, mức phí 20 đồng/1kWh điện không phản ánh đảm bảo thu nhập và không tạo động lực khuyến khích người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng.
Thống kê của ngành điện cho thấy, sản lượng điện từ thủy điện hiện nay chiếm khoảng 35,35%. Theo đó, số tiền DVMTR đóng góp cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng có thể đạt khoảng 1.500 tỷ đồng. Nhiều ý kiến cho rằng, cần phải có cơ chế quản lý, sử dụng, giám sát nguồn quỹ sao cho hiệu quả. Đặc biệt, cần được xem xét nghiêm túc nhằm đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích để góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện cũng như sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. (Báo Công Thương 4/12) đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là bước đột phá trong việc giải quyết những vấn đề về môi trường, kinh tế – xã hội, góp phần để rừng khoanh nuôi thêm xanh.
Trên địa bàn tỉnh, sau 5 năm triển khai chính sách DVMTR đã làm cho người dân thấy rõ lợi ích khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng xâm lấn rừng, chặt phá rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể, nâng cao độ che phủ của rừng.
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã khẳng định được tính đúng đắn, mang lại những hiệu quả, từng bước đi vào cuộc sống của người dân, tạo lập được nguồn tài chính ngoài ngân sách, mang tính ổn định, bền vững để bảo vệ rừng, góp phần cải thiện sinh kế, đời sống người dân, nhất là vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh. Tổng số tiền chi trả DVMTR trong 5 năm qua (2011 – 2015) trên địa bàn tỉnh đạt 131 tỷ đồng.
Phần lớn số tiền này được chi trả trực tiếp cho các chủ rừng, một phần được chi cho các dự án trồng rừng và hoạt động bảo vệ rừng. Người dân được nhận tiền DVMTR rất phấn khởi, tin tưởng vào chính sách của Đảng và Nhà nước. Họ có ý thức, trách nhiệm cao hơn trong công tác bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng. Không chỉ vậy, một số hộ gia đình còn mua các cây trồng có giá trị cao để trồng xen canh vào diện tích rừng hiện có của gia đình.
San Sả Hồ là địa phương có nhiều diện tích rừng được nhận khoán nhất theo chính sách chi trả DVMTR của huyện Sa Pa. Từ khi có chủ trương của Nhà nước giao khoán, bảo vệ và có quỹ dịch vụ môi trường rừng chi trả, xã đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, phối hợp với các cơ quan chức năng và Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Hạt Kiểm lâm huyện đo đạc diện tích rừng và tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng đối với các chủ rừng. Nhờ đó, từ năm 2012 đến nay, rừng được bảo vệ tốt, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng hầu như không còn.
Đến hẹn lại lên, cứ một tháng 1 lần, Tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn Ý Lèng Hồ, xã San Xả Hồ lại tổ chức họp nhằm rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. 13 thành viên của Tổ bảo vệ đều là những thanh niên khỏe, thông thạo địa hình, được tuyển chọn kỹ trong số hàng trăm trai làng trong thôn. Công việc của họ là bảo vệ khu rừng rộng 451 ha, thôn Ý Lèng Hồ, thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Để hoàn thành nhiệm vụ, Tổ bảo vệ chia thành những nhóm từ 2 – 3 thành viên, luân phiên đi tuần tra, nắm tình hình.
“Chúng tôi không chỉ coi trọng việc tuyên truyền đến người dân nâng cao ý thức bảo vệ diện tích rừng đã nhận khoán, không để xảy ra tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép, phòng, chống cháy rừng, mà Tổ bảo vệ còn thường xuyên duy trì việc tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng, kịp thời xử lý mọi tình huống xảy ra” – anh Sùng A Sình, thành viên Tổ bảo vệ rừng thôn Ý Lèng Hồ, xã San Sả Hồ chia sẻ.
Nhờ triển khai tốt chính sách chi trả DVMTR, thu nhập của các gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng đã được cải thiện, ở một số nơi đơn giá chi trả cho 1 ha rừng cao hơn mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước. Điều đáng nói nữa là, chính sách này đã góp phần không nhỏ trong việc giảm số vụ vi phạm khai thác lâm sản trái phép, không xảy ra cháy rừng, từ đó nâng cao tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh lên 53,3%.
Bên cạnh đó, nguồn tiền dịch vụ DVMTR còn góp phần ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số công ty lâm nghiệp. Đến nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã ký hợp đồng với 137 đơn vị thuộc diện phải chi trả tiền DVMTR, trong đó có 64 đơn vị thực hiện ký kết hợp đồng ủy thác.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một cách thực tế là, vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại trong quá trình chi trả DVMTR như: Hệ thống chính sách chưa đồng bộ, việc chi trả còn chậm… dẫn đến tình trạng nợ đọng tiền DVMTR, thiếu chế tài xử phạt đối với các đơn vị không chấp hành việc chi trả; công tác giao đất, giao rừng còn nhiều chồng chéo, gây khó khăn trong chi trả; một số nơi cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đến việc thực hiện chính sách này.
Theo ông Lê Tân Phong, Phó Chủ tịch UBND huyện Sa Pa: Trong quá trình triển khai chi trả DVMTR còn không ít khó khăn vướng mắc. Năm 2016, tỉnh được chọn là địa phương thực hiện thu thí điểm DVMTR đối với cơ sở sản xuất cá nước lạnh (tổng số 56 cơ sở), nhưng việc thí điểm này chưa phù hợp điều kiện thực tế ở tỉnh, chưa nhận được sự đồng thuận của các hộ sản xuất cá nước lạnh. Để chính sách chi trả DVMTR thực sự tạo được sức lan tỏa, thay đổi nhận thức của người dân và doanh nghiệp, thì việc điều chỉnh một số chính sách là cần thiết.
Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho người bảo vệ rừng, góp phần tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Thông qua chính sách này, tạo mối liên kết giữa người sử dụng và người cung ứng dịch vụ môi trường rừng cùng hướng tới sự phát triển rừng bền vững, để những cánh rừng thêm xanh. (Báo Lào Cai 04/12) đầu trang(
Nhiều vụ ngã đổ cây xanh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng người đi đường xảy ra liên tiếp trong thời gian gần đây đã đặt ra vấn đề cấp bách cho các cơ quan chức năng trong công tác quản lý hệ thống cây xanh TP Hồ Chí Minh. Sở Giao thông vận tải đang kêu gọi tìm kiếm giải pháp phù hợp, hiệu quả nhằm vừa giữ được "lá phổi xanh" cho thành phố, vừa bảo đảm an toàn cho người dân.
Thống kê của Sở Giao thông vận tải (GTVT) TP Hồ Chí Minh cho thấy, thiệt hại về người và tài sản do cây ngã đổ tăng qua mỗi năm. Cụ thể, chỉ trong vòng bốn năm (từ 2013 đến 2016) toàn thành phố đã xảy ra 751 vụ cây xanh ngã đổ và 1.909 vụ cây gãy nhánh làm bốn người chết, bị thương 33 người và hư hại nhiều tài sản như nhà cửa, ô-tô, xe máy, trụ đèn... Ðặc biệt, trong 10 tháng đầu năm 2016, đã có tới hai người thiệt mạng và chín người bị thương do các vụ cây ngã, đổ.
Theo Phòng Quản lý Công viên và Cây xanh (Sở GTVT) thành phố, các chủng loại cây lim sét, sọ khỉ, phượng vĩ chiếm tỷ lệ cao trong số các vụ ngã, đổ, gãy nhánh dẫn đến thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng của người dân.
Ðơn cử như vào ngày 26-8, nhánh của một cây cổ thụ ở độ cao hơn 10 m, nằm trong khuôn viên Công viên Tao Ðàn bất ngờ rơi xuống đè chết bà Trương Thị Ngọc Mai (60 tuổi, ngụ quận 1), đang đi tập thể dục. Tiếp đó, chỉ hai ngày sau, ngày 28-8, một cây dầu cổ thụ trên đường An Dương Vương (phường 4, quận 5) bất ngờ bật gốc, ngã xuống chắn ngang đường khiến anh Từ Minh Khải (25 tuổi, quê tỉnh Kon Tum) đang lưu thông qua đoạn đường này bị nhánh cây đè bất tỉnh, sau đó anh Khải chết trên đường đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Ðồng chí Nguyễn Khắc Dũng, Trưởng Phòng Quản lý Công viên và Cây xanh nhận định: "Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do quá trình đô thị hóa, tạo nên quá nhiều nhà cao tầng đã thu hẹp không gian sinh trưởng, phát triển của cây xanh. Ngoài ra, nhà cao tầng mọc lên đã tạo hiệu ứng gió đường hầm, khiến sức gió thay đổi khi có giông lốc cũng dễ làm bật gốc cây…".
Cũng theo ông Dũng, tình trạng xâm hại cây xanh của người dân, nhất là sự xâm hại của các đơn vị thi công trong quá trình thi công các công trình công ích như điện, cấp - thoát nước, cáp viễn thông hay thực trạng mực nước ngầm ô nhiễm, suy giảm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây… cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng cây xanh ngã đổ bất cứ lúc nào!
Trước thực trạng này, Sở GTVT đã, đang phối hợp cùng các nhà khoa học, các chuyên gia, trường đại học để tạo thành mạng lưới chuyên ngành trong việc hỗ trợ, hiến kế các giải pháp nhằm đánh giá tổng thể về cây xanh đường phố, tiến tới quản lý một cách hiệu quả hơn.
Một cán bộ Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh thành phố chia sẻ, công tác lâu nay mà Sở GTVT thành phố, đơn vị quản lý cây xanh thực hiện chủ yếu là lên kế hoạch mé nhánh, cắt cành và thực tế công tác này là chưa đủ. Ðể tránh rủi ro, kiểm soát được "sức khỏe" của cây xanh thì cơ quan quản lý còn phải lập danh mục tuổi thọ của từng loại cây, thậm chí có những loại cây hiện nay không còn phù hợp để trồng ở một đô thị chật hẹp như TP Hồ Chí Minh.
"Một số loài cây có rễ ăn ngang như sọ khỉ, phượng vĩ không còn phù hợp với không gian hẹp ở đô thị ngày nay", ông Nguyễn Khắc Dũng nhận định. Phó chủ tịch Hội cây xanh Việt Nam Trần Thiện Hà cho rằng, các nhà khoa học cần sớm ban hành tiêu chí tuổi thọ cây xanh đô thị, bởi con người còn có tuổi hưu thì cây cũng cần "nghỉ hưu"!. Những cây nào già cỗi cần thiết phải thay thế, những cây nào bảo tồn thì bảo tồn, tránh tình trạng bỏ lửng như hiện nay.
Kỹ sư Hà Ngọc Trường, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật TP Hồ Chí Minh chia sẻ, chúng tôi được Sở GTVT thành phố giao lập hội đồng phản biện việc xử lý cây xanh nằm trong các dự án hạ tầng giao thông đi qua như: dự án Ngã 6 Gò Vấp, dự án cầu Thủ Thiêm 2…
Hội đồng đã mất rất nhiều thời gian tranh luận bởi, đến nay chưa có quy định, tiêu chí nào xoay quanh việc xử lý cây xanh nằm trong các dự án giao thông cả. Thiết nghĩ, với tốc độ phát triển hạ tầng giao thông như hiện nay, Sở GTVT thành phố cần sớm đưa ra bộ tiêu chí này.
Quan trọng hơn, theo nhiều chuyên gia, nhà khoa học thì không thể chấp nhận "những cái chết từ trên trời rơi xuống" liên tục gây ra cho người đi đường. Trước mắt Sở GTVT thành phố cần lập ngay một Hội đồng khảo sát, lên danh sách những cây nào cần đốn hạ do tuổi thọ, sức khỏe yếu và những cá thể, quần thể cây nào cần bảo tồn. Ngoài ra giữa đốn hạ, thay thế và công tác bảo tồn cần phải hài hòa để giữ an toàn giao thông cho người đi đường, đồng thời giữ được mảng xanh của thành phố. (Nhân Dân 5/12) đầu trang(
hiều 3/12, tại cụm CN-TTCN huyện Vũ Quang, UBND tỉnh Hà Tĩnh cùng Công ty CP Gỗ MDF Thanh Thành Đạt tổ chức khởi công xây dựng Nhà máy sản xuất Gỗ ván ép MDF, HHF và gỗ ván thanh – Thanh Thành Đạt.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng và Phó ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình về dự.
Về phía tỉnh Hà Tĩnh có Bí thư Tỉnh ủy Lê Đình Sơn; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Trần Nam Hồng; Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh; Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thị Nữ Y; các Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Dương Tất Thắng, Đặng Ngọc Sơn.
Dự án Nhà máy Sản xuất gỗ ván ép MDF - HDF có công suất 120.000 m3/ngày, gỗ ván thanh công suất 2.400 m3/ngày với tổng mức đầu tư hơn 1.440 tỷ đồng do Công ty CP gỗ MDF Thanh Thành Đạt làm chủ đầu tư được xây dựng trên diện tích 18 ha tại cụm công nghiệp huyện Vũ Quang (xã Sơn Thọ).
Dự án bao gồm các hạng mục: Nhà xưởng sản xuất, nhà văn phòng, nhà tập thể công nhân, nhà ăn ca, nhà văn hóa thể thao, bãi chứa nguyên liệu, kho chứa vật tư, trạm biến áp, sân đường nội bộ…
Nhà máy sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới (xuất xứ từ CHLB Đức và các nước châu Âu), tự động hóa ở mức cao nhằm đảm bảo sản xuất sản phẩm đạt chất lượng cao, giá thành hợp lý, đảm bảo môi trường.Dây chuyền sản xuất gỗ ván thanh sử dụng các các thiết bị xuất xứ từ Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan. Dự kiến nhà máy sẽ đi vào sản xuất, cung cấp sản phẩm cho thị trường vào quý IV/2019.
Dự án Nhà máy sản xuất gỗ MDF, HDF và gỗ ván ép thanh có ý nghĩa quan trọng, là động lực cho chiến lược phát triển phía Tây của Hà Tĩnh, đảm bảo liên kết với việc trồng rừng, nguyên liệu sản xuất của nhân dân, tạo công ăn việc làm cho lao động, tăng giá trị xuất khẩu và góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Dự án cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo môi trường sinh thái, tăng thu nhập cho người dân khu vực phía Tây Hà Tĩnh, đồng thời hàng năm sẽ đóng góp lớn vào ngân sách địa phương.
Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, tỉnh sẽ luôn sát cánh, hỗ trợ, đồng hành cùng nhà đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong cung cấp thông tin, các dịch vụ cần thiết và giải quyết vướng mắc, khó khăn để nhà đầu tư triển khai dự án có hiệu quả bền vững tại Hà Tĩnh.
Đề nghị các sở, ban, ngành, huyện Vũ Quang theo chức năng, nhiệm vụ chủ động phối hợp với nhà đầu tư khẩn trương hoàn thành giải phóng mặt bằng để sớm bàn giao triển khai xây dựng nhà máy; tham mưu các thủ tục liên quan, hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện dự án theo đúng quy định và tiến độ đã đề ra.
Huyện Vũ Quang, xã Sơn Thọ tạo các điều kiện thuận lợi, đảm bảo cung cấp các dịch vụ điện, nước, thông tin liên lạc, an ninh trật tự; đề xuất với nhà đầu tư phương án tuyển dụng lao động trên địa bàn để phục vụ dự án.
Nhà đầu tư cần đề cao trách nhiệm, nghiêm túc thực hiện các hạng mục công trình, tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ dự án, sớm đưa vào hoạt động; dự án phải đảm bảo các quy định của pháp luật về đầu tư và ưu tiên sử dụng lao động địa phương, đặc biệt là nhân dân vùng dự án. (Tin Tức 5/12) đầu trang(
Theo tin từ Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. HCM, Công ty Cổ phần Phú Tài (HOSE: PTB) vừa công bố nghị quyết hội đồng quản trị thông qua về việc phê duyệt đầu tư dự án Nhà máy chế biến gỗ tại huyện Phù Cát - tỉnh Bình Định.
Theo đó, nhà máy dự kiến có công suất 25.000 – 45.000 m3 sản phẩm/năm. Diện tích sử dụng đất khoảng 9 ha, trong đó diện tích xây dựng nhà xưởng dự kiến từ 40.000 đến 45.000 m2.
Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 120-130 tỷ đồng, chia làm 2 giai đoạn đầu tư và hoàn thành trong năm 2017.
Theo PTB, việc triển khai dự án nằm tăng năng lực sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu, phát huy những tiềm năng và lợi thế ngành gỗ của Công ty, phát triển quy mô sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường những năm tiếp theo.
Kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2016, Phú Tài đạt 2.562 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 18% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu từ các sản phẩm gỗ bán được 677 tỷ đồng, ngoài ra là doanh thu từ bán xe Toyota đạt 1.056 tỷ đồng, doanh thu bán các sản phẩm đá được 744 tỷ đồng và phần còn lại thuộc về các mảng kinh doanh khác. Lợi nhuận ghi nhận về cho cổ đông công ty mẹ đạt mức 171 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2015. (Người Đồng Hành 5/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo Boredomtherapy, ông Li Wenhua, một nông dân ở làng Bồ Giang gần Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc đã phát hiện ra một con nhện vô cùng quý hiếm trong trang trại cam của mình.
Theo các nhà khoa học, con nhện ông Wenhua bắt được là loài nhện vác bụng Trung Quốc (tên khoa học là Cyclocosmia ricketti).
Loài nhện này rất hiếm gặp bởi chúng gần như sống cả đời trong hang dưới lòng đất. Loài này dùng hỗn hợp đất cát và tơ để làm cửa sập giúp chúng ẩn mình khi kiếm ăn ở cửa hang vào ban đêm.
Zhao Li, người đứng đầu của Bảo tàng côn trùng Tây Trung Quốc cho hay: “Loài nhện này có giá trị rất cao trong nghiên cứu khoa học. Nó là một loài cực kỳ hiếm ở Tứ Xuyên."
Trong các tài liệu cổ, loài nhện này đã xuất hiện ở thế kỷ 2-5 trước Công nguyên. (Đại Đoàn Kết 05/12) đầu trang(./.
|
|||