Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 11 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiềng Phung (Sông Mã) là xã có độ che phủ rừng lớn nhất huyện với trên 56%. Tuy nhiên, đợt rét đậm, rét hại đầu năm làm thiệt hại gần 100 ha rừng tự nhiên và rừng tái sinh đang được khoanh nuôi bảo vệ.
Để khắc phục và bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn, xã Chiềng Phung đã triển khai nhiều biện pháp trả lại màu xanh cho rừng.
Chiềng Phung hiện có hơn 4.160 ha rừng, chủ yếu là rừng hỗn giao, rừng gỗ, rừng tre, phần lớn diện tích rừng tiếp giáp đất sản xuất nông nghiệp, người dân thường xuyên phát rẫy làm nương, lấy củi, chăn thả gia súc... Cùng với đó, hầu hết các rừng đều bị ảnh hưởng do băng tuyết của đợt rét đầu năm, tạo thành một lớp phủ bì từ những thân, cành cây gãy, nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Để bảo vệ diện tích rừng hiện còn, không để cháy rừng xảy ra, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã đã phối hợp với các trạm kiểm lâm, kiểm lâm viên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền trong mọi tầng lớp nhân dân, nâng cao nhận thức về PCCCR; xây dựng phương án PCCCR cấp xã với phương châm “4 tại chỗ và 4 sẵn sàng”.
Bên cạnh đó, xã đặc biệt chú trọng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tới bà con nhân dân, gắn với từng nhóm đối tượng, phù hợp với đặc thù từng bản; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và chủ trương xã hội hóa nghề rừng; phối hợp với hạt kiểm lâm huyện giao đất rừng đến các bản và các hộ trong xã; tổ chức ký cam kết đến từng hộ gia đình về PCCC, nên công tác quản lý bảo vệ rừng thời gian qua đã từng bước đạt hiệu quả.
Ông Lò Văn Thân, Bí thư Đảng bộ xã, cho hay: Chiềng Phung là xã vùng 3, giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, để bảo vệ tốt diện tích rừng, chúng tôi đã thành lập tổ bảo vệ quản lý, phòng chống, chữa cháy rừng tới các bản. Các diện tích rừng bị thiệt hại do đợt rét đậm, rét hại đầu năm, xã khoanh vùng để các đội phòng cháy, chữa cháy bản dễ quản lý, dễ tiếp cận và có phương án kịp thời nếu có cháy rừng xảy ra; thành lập đoàn kiểm tra đôn đốc các bản, chủ rừng triển khai thực hiện các phương án phòng cháy.
Đặc biệt, kiểm lâm viên địa bàn trực tiếp hướng dẫn bà con các bản phát, đốt nương rẫy, đốt dọn thực bì để canh tác nông nghiệp đúng qui định; tăng cường kiểm tra quản lý bảo vệ rừng để phát hiện ngăn chặn kịp thời những hành vi phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy; phát dọn đường băng cản lửa, không để lửa cháy lan vào rừng, để rừng nhanh chóng tái sinh.
Được biết, xã Chiềng Phung đã lập quy hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Đến nay, 100% số bản trong xã đã thành lập các tổ, đội quản lý, bảo vệ rừng với gần 360 người tham gia, chủ yếu là lực lượng dân quân, thanh niên và chủ rừng. Các tổ, đội quản lý thường xuyên phối hợp với lực lượng kiểm lâm thực hiện tốt chức năng quản lý, bảo vệ rừng; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân ký cam kết bảo vệ  rừng.
Trong hương ước của các bản đều quy định rõ nội dung về bảo vệ rừng, trách nhiệm của các hộ và người dân đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng. Mặt khác, xã còn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện phát tờ rơi với nội dung tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng...
Ông Lường Văn Thương, bản Pịn, chia sẻ: Trước đây, bà con mình có thói quen đốt rừng làm nương, nhưng từ ngày được cán bộ tuyên truyền, bà con đã hiểu được lợi ích của rừng. Nhiều gia đình đã cam kết không đốt rừng làm rẫy và ngăn chặn không cho những người khác phá rừng.
Đặc biệt, từ khi việc quản lý bảo vệ rừng được giao tới các hộ, không còn tình trạng phá rừng như trước nữa.
Phát huy những kết quả đạt được, Chiềng Phung đang tiếp tục thực hiện các biện pháp lâm sinh, phục hồi những diện tích rừng bị thiệt hại; bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; tăng cường phát triển rừng và trồng mới cây phân tán; triển khai giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ, thực hiện chi trả phí dịch vụ môi trường rừng, phấn đấu nâng độ che phủ của rừng lên 60% vào năm 2020. (Báo Sơn La 4/11) đầu trang(
Một thời gian dài, người dân ở Bình Long (Võ Nhai) chỉ biết vào rừng để khai thác mà chưa nghĩ đến việc bảo vệ. Điều này khiến rừng bị tàn phá kiệt quệ. Nhưng vài năm trở lại đây, nhận thức và thói quen ấy của người dân đã có sự thay đổi…
Bình Long là một trong những địa phương có diện tích rừng núi đá lớn của huyện Võ Nhai với khoảng 1.170ha. Người dân coi đây là nguồn tài nguyên vô tận để khai thác phục vụ nhu cầu đời sống như lấy củi, gỗ để làm nhà hoặc bán, săn bắt thú rừng… mà không ai tính đến chuyện gìn giữ.
Năm 2012, Bình Long được lựa chọn để triển khai thực hiện thí điểm Dự án REDD+ (lsáng kiến nhằm giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ hệ thống khí hậu của trái đất thông qua các nỗ lực bảo vệ, quản lý, sử dụng bền vững và phát triển tài nguyên rừng tại các nước đang phát triển với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của cộng đồng quốc tế do Quỹ đối tác các-bon trong lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ.
Sau hơn 3 năm thực hiện dự án, những ngọn núi xơ xác ngày nào đã được thay thế bằng màu xanh của cây cối đang đà phát triển. Nhiều loài động vật quý hiếm mất tích bấy lâu, nay đã xuất hiện trở lại. Tình trạng người dân tự ý vào rừng khai thác đã không còn diễn ra mọi người đều nêu cao ý thức cùng nhau giữ lấy rừng.
Ông Nguyễn Văn Côn, Chủ tịch UBND xã Bình Long nói: Nhận thấy đây là chương trình đem lại lợi ích thiết thực lâu dài cho người dân, nên chính quyền địa phương đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân tham gia. Dự án được giao cho Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và nuôi trồng Hòa Bình đảm nhiệm và triển khai tại cộng đồng. Xã đã thành lập 60 tổ tự quản, thành viên là các hộ dân tại các xóm để quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Theo ông Hà Trung Thông, Giám đốc Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và nuôi trồng Hòa Bình, nếu thực hiện theo đúng, đạt yêu cầu, dự án sẽ hỗ trợ ban đầu cho mỗi ha rừng khoảng 500 nghìn đồng. Trừ các chi phí cho các hoạt động quản lý gián tiếp, công đo đếm, phần còn lại sẽ được chia đều cho các thành viên trong tổ tự quản.
Được biết, để thực hiện có hiệu quả dự án, Hợp tác xã đã họp với các tổ tự quản, người dân trong xã cùng thống nhất ban hành Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng. Bản quy ước quy định rất cụ thể, chi tiết với 3 chương, 22 điều về tất cả các lĩnh vực liên quan như: các hành vi bị nghiêm cấm; quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên tổ tự quản; việc quản lý thẻ vào rừng; thẩm quyền xử lý vi phạm. Đặc biệt, bản quy ước nêu rất rõ các hành vi vi phạm và mức phạt bồi thường, áp dụng cho từng đối tượng vi phạt.
Anh Nguyễn Văn Trọng, Trưởng xóm Bậu cho biết: Xóm Bậu có khoảng 50ha núi đá. Trước những năm 2012, người dân chặt phá hầu hết những cây có giá trị, lớn thì xẻ gỗ, nhỏ đem làm củi đun khiến hàng chục ngọn núi chỉ còn trơ lại đá với cây bụi, dây leo. Các loài động vật vì thế mà không có nơi trú ẩn, sinh sống. Sau 3 năm rừng được giao về cho người dân quản lý với 2 tổ tự quản, rừng đã từng bước được hồi sinh.
Còn bà Nguyễn Thị Lan, Tổ trưởng tổ tự quản số 3, xóm Đại Long thông tin: Tổ tự quản có 27 thành viên (cả xóm thành lập 3 tổ tự quản), ngoài việc thực hiện việc quản lý chung, tuần tra kiểm soát còn tổ chức họp hằng tháng, quý để thông tin, tuyên truyền cho mọi người cùng tham gia thực hiện công tác bảo vệ rừng. Nhiều năm nay, ai muốn vào rừng phải được sự cho phép của tổ tự quản và sử dụng thẻ ra vào theo quy ước. Nếu ai tự ý vào và khai thác bị phát hiện sẽ chịu hình thức xử lý tùy theo mức độ vi phạm nên mọi người đều chấp hành tốt.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết: Khi tiếp nhận dự án, toàn xã chỉ có 500ha rừng được đánh giá có trữ lượng còn lại là rừng nghèo kiệt. Kết quả khảo sát, đo lường sau hơn 3 năm thực hiện dự án, đã có thêm 450ha rừng có trữ lượng (ít nhất là 10m3/ha). Nhiều loại sinh vật, động vật có môi trường sống đã xuất hiện trở lại và phát triển như chim, khỉ, trăn, rắn, tắc kè… Dự báo đến năm 2020, cơ bản rừng núi đá ở Bình Long sẽ được hồi sinh.
Mặc dù đến nay chưa nhận được sự hỗ trợ nhưng điều quan trọng nhất là mọi người đều ý thức và nêu cao tinh thần trách nhiệm để bảo vệ tài sản chung, vì chính lợi ích của mình và thế hệ sau này. (Báo Thái Nguyên 4/11) đầu trang(
Đồn Biên phòng Bát Mọt (Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh) đóng quân trên địa bàn xã Bát Mọt (Thường Xuân), ngoài nhiệm vụ quản lý bảo vệ đường biên giới, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn xã biên giới, đơn vị còn được giao quản lý, bảo vệ và phát triển 1.806,34 ha rừng phòng hộ.
Để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia gắn với bảo vệ rừng có hiệu quả, Đồn Biên phòng Bát Mọt đã phối hợp với công an huyện, Hạt Kiểm lâm huyện, Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên... tham mưu tích cực cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Đồn biên phòng phân công lực lượng thường xuyên tuần tra, kiểm soát các hoạt động khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự, giữ gìn đường biên giới, bảo vệ tài nguyên rừng... Đồng thời, lập 3 tổ công tác, đóng chốt tại khu vực trọng điểm xa đồn để bảo đảm quản lý đường biên giới và diện tích rừng được giao.
9 tháng năm 2016, đơn vị đã vận động đồng bào các dân tộc trên địa bàn giao nộp 128 khẩu súng săn các loại; phát hiện bắt giữ 13 vụ với 17 đối tượng, tang vật thu giữ hơn 16,74 m3 gỗ các loại, 2 xe ô tô, 6 xe mô tô, 1 cưa xăng và 12 kg thịt động vật hoang dã... bàn giao cho hạt kiểm lâm huyện xử lý theo quy định.
Bên cạnh đó, để hạn chế tình trạng người dân vào rừng khai thác lâm sản trái phép, đơn vị đã tích cực thực hiện công tác an sinh xã hội, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo bằng những việc làm thiết thực, như: hỗ trợ bò giống; xây nhà đại đoàn kết cho người nghèo; hỗ trợ bà con xây dựng các mô hình cây, con giống...
Đơn vị còn phối hợp với xã Bát Mọt vận động nhân dân trong xã trồng mới được 239 ha rừng tập trung, 48.804 cây phân tán, qua đó đã góp phần tăng thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp. Nhiều hộ dân trong xã nhờ phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc đã thoát được nghèo và vươn lên làm giàu.
Ngoài ra, đơn vị thường xuyên phối hợp với Đại đội Biên phòng 216 - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào) tăng cường công tác quản lý, bảo vệ biên giới, giữ gìn an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm, tuần tra song phương, trao đổi thông tin về tình hình đường biên, mốc giới.
Đồng thời, tích cực tuyên truyền cho công dân hai nước qua lại biên giới tự giác chấp hành các quy định pháp luật của hai nước về xây dựng, quản lý bảo vệ biên giới mỗi nước; công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng vùng biên giới.
Thượng tá Nguyễn Văn Trung, Chỉ huy trưởng Đồn Biên phòng Bát Mọt, cho biết: Để quản lý tốt diện tích rừng phòng hộ vùng biên giới, đơn vị đã chủ động xây dựng phương án, kế hoạch, tổ chức giao khoán cho các tổ đội, gắn  nhiệm vụ chính trị được giao với nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng.
Tăng cường tuần tra, kiểm soát người và phương tiện vùng biên giới, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm xảy ra. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức cho người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Thanh Hóa 4/11) đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 44/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của chủ rừng; ngày 2/11, UBND tỉnh ban hành văn bản 2711/UBND-NNTN thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của chủ rừng.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu quy định tại Quyết định số 44/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ để hướng dẫn các đơn vị chủ rừng liên quan thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách và triển khai các nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của lực lượng này đảm bảo đúng theo quy định.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, UBND các huyện, thành phố, Chi cục Kiểm lâm có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của các đơn vị chủ rừng nêu trên để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn quản lý. (Cổng Thông Tin Điện Tử Kon Tum 4/11) đầu trang(
Rừng sản xuất là rừng tự nhiên gồm có: Rừng tự nhiên và rừng được phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; căn cứ vào trữ lượng bình quân trên 1ha rừng tự nhiên được phân loại thành: Rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng.
Rừng sản xuất là rừng trồng gồm có: Rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước, rừng trồng bằng vốn chủ rừng tự đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn liên doanh, liên kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) hoặc có hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn vốn khác.
Về phương thức tổ chức bảo vệ rừng sản xuất, rừng sản xuất được bảo vệ theo quy định tại các Điều 46, 47 và Điều 48 tại Nghị định số 23/2006. Chủ rừng xây dựng phương án bảo vệ rừng và tự tổ chức bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. Các chủ rừng có diện tích rừng giáp ranh, liền kề với chủ rừng khác thực hiện ký kết phối hợp tổ chức bảo vệ rừng.
Chủ rừng là tổ chức thực hiện khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn hoặc hợp tác xã lâm nghiệp; thuê các lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp để bảo vệ rừng.
UBND cấp xã tổ chức lực lượng dân quân tự vệ, công an xã hỗ trợ chủ rừng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương; bảo vệ diện tích rừng do UBND cấp xã đang quản lý chưa giao, chưa cho thuê theo quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Theo quy chế mới, rừng sản xuất được phát triển và tổ chức sản xuất, kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cùng phương án tổ chức sản xuất kinh doanh của chủ rừng.
Chủ rừng tự đầu tư hoặc liên doanh, liên kết với nhà đầu tư, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo dự án, phương án để bảo vệ, phát triển rừng và tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trên diện tích rừng, đất lâm nghiệp được nhà nước giao hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật. (Dân Việt 7/11) đầu trang(
Tin từ UBND xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái - nổi tiếng trong và ngoài nước với đặc sản chè Shan tuyết được thu hái từ những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi, sống trên độ cao 1,400m (cây có tuổi đời khoảng 300 năm), hiện nay hàng trăm cây chè cổ thụ đang bị mối tấn công từng ngày, từng giờ và chết dần chết mòn.
Toàn xã Suối Giàng hiện có khoảng 500ha chè Shan, sản lượng búp tươi hàng năm đạt từ 400 -500 tấn, đem lại nguồn thu lớn cho đồng bào Mông nơi đây.Tuy nhiên, những cây chè quý giá đã bị mối xông cách đây khoảng chục năm và bị nặng nhất khoảng 3- 4 năm trở lại đây.
Dù người dân đã vệ sinh gốc chè và tích cực diệt mối theo các phương pháp thủ công nhưng hiệu quả không đáng kể. Xã đã đề nghị tỉnh và huyện hỗ trợ các giải pháp xử lý, song đến nay vẫn chưa có cách giải quyết triệt để. (Nông Thôn Ngày Nay 4/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, tại các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) ở tỉnh Đác Lắc liên tiếp xảy ra các vụ lâm tặc chặt phá, khai thác trái phép gỗ quý.
Mặc dù các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) đã có nhiều cố gắng ngăn chặn nhưng hiệu quả còn thấp.
Khu BTTN Ea Sô (huyện Ea Kar, Đác Lắc) có tổng diện tích hơn 26.600 ha, trong đó phân khu rừng bảo vệ nghiêm ngặt hơn 15.000 ha. Trong khu bảo tồn có rất nhiều loại gỗ quý hiếm như giáng hương, cẩm lai, cà te, trắc… và nhiều loại động vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới như bò tót, bò rừng...
Tuy nhiên, thời gian gần đây, lâm tặc liên tiếp xâm phạm khu bảo tồn này, khai thác gỗ giáng hương quý hiếm nằm ngay vùng lõi của khu bảo tồn. Cụ thể, ngày 28-9 vừa qua, trong khi tổ chức tuần tra QLBVR, lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô phát hiện một nhóm đối tượng đang vận chuyển gỗ trái phép tại Tiểu khu 622; đã kịp thời vây bắt được ba đối tượng, gồm Lê Mô Y Cường, Ha Ra Y Trang và La Ô Y Em, cùng trú tại buôn Zô, xã Ea Ly (huyện Sông Hinh, Phú Yên).
Qua khám nghiệm hiện trường, cơ quan chức năng phát hiện có 26 cây gỗ giáng hương thuộc nhóm IIA, đường kính phần gốc từ 20 cm đến 35 cm bị chặt hạ. Phần lớn số gỗ đã bị lấy đi, chỉ còn lại cành ngọn và 31 phách gỗ các đối tượng chưa kịp vận chuyển.
Trước đó, vào tháng 3-2016, cũng tại Khu BTTN Ea Sô, lâm tặc ngang nhiên đốn hạ 29 cây gỗ giáng hương quý hiếm tại Tiểu khu 637 thuộc diện được bảo vệ nghiêm ngặt, mỗi cây có đường kính từ 20 cm đến 30 cm.
Điều đáng nói là địa điểm lâm tặc triệt hạ các cây gỗ giáng hương này cách quốc lộ 29 chỉ 30 m và cách Trạm Kiểm lâm số 1 (Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô) khoảng 500 m và diễn ra trong một thời gian dài nhưng lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn không hề hay biết. Khi phát hiện thì lâm tặc đã cưa, xẻ và vận chuyển ra khỏi rừng một khối lượng lớn gỗ.
Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm số 1 Lê Chiến Binh cho biết: Do rừng ở đây dày, trong rừng có rất nhiều đường nhỏ, khi phát hiện thì lâm tặc bỏ chạy vào rừng nên không thể đuổi bắt được. Sau khi phát hiện lâm tặc đốn hạ 29 cây gỗ giáng hương, lãnh đạo Trạm đã báo cáo Ban Giám đốc Khu BTTN Ea Sô. Do đây là vụ khai thác trộm gỗ rừng nghiêm trọng nên Ban Giám đốc khu bảo tồn phối hợp Công an, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar khởi tố vụ án để điều tra, xử lý.
Trong khi các ngành chức năng của huyện Ea Kar chưa điều tra ra các đối tượng khai thác trái phép 29 cây gỗ giáng hương, thì cuối tháng 9 vừa qua lại xảy ra vụ khai thác trái phép 26 cây gỗ giáng hương tại Tiểu khu 622.
Giám đốc Khu BTTN Ea Sô Lê Đắc Ý cho biết: “Khu vực rừng bị phá lần này nằm cách xa các trạm QLBVR, địa hình phức tạp, đi lại khó khăn... Lợi dụng mùa mưa, nước suối Ea Puich chảy qua khu vực này lên cao, lâm tặc đã cột các phách gỗ vào túi ni-lông, săm ô-tô bơm đầy hơi rồi thả trôi theo dòng nước chảy về sông Krông H’năng (đoạn giáp ranh giữa tỉnh Đác Lắc và Phú Yên) và từ đây gỗ được vận chuyển sang tỉnh Phú Yên.
Không chỉ tại Khu BTTN Ea Sô, mới đây, vào chiều 30-9, Phòng An ninh kinh tế (Công an tỉnh Đác Lắc) phối hợp Công an huyện M’Đrắc đã phát hiện và bắt giữ bốn đối tượng, gồm: Nguyễn Kiệp, Đỗ Ngọc Khoa, Trần Khánh Linh và Hồ Văn Hùng cùng trú ở tỉnh Phú Yên đang vận chuyển gỗ trái phép tại Tiểu khu 718 do Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu, huyện M’Đrắc quản lý.
Tại đây, lực lượng chức năng thu giữ ba xe chở 65 lóng gỗ, với khối lượng hơn 35 m3 thuộc chủng loại từ nhóm III đến nhóm IV. Mặc dù điểm tập kết gỗ và hiện trường khai thác gỗ nằm ngay cửa rừng, gần Ban Quản lý rừng phòng hộ, số lượng gỗ khai thác khá lớn nhưng đơn vị chủ quản lại không hề hay biết.
Kiểm tra chung quanh khu vực tập kết gỗ gần đó, tổ công tác còn phát hiện nhiều dấu vết của những vụ phá rừng mới diễn ra.
Ông Trần Quốc Dũng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu lý giải: Thời điểm trước khi phát hiện ra vụ phá rừng này trời mưa liên tục, khiến việc tuần tra bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, lâm tặc đã lợi dụng để đưa phương tiện vào rừng khai thác gỗ; tuy nhiên, cũng thẳng thắn thừa nhận, lực lượng kiểm lâm được giao giữ rừng ở khu vực này đã chủ quan, lơ là trong công tác tuần tra, kiểm soát.
Các khu BTTN, vườn quốc gia, rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Đác Lắc, đặc biệt là Khu BTTN Ea Sô có diện tích lớn, có tính đa dạng sinh học cao và là môi trường sống lý tưởng bậc nhất Việt Nam đối với bò tót, bò rừng và các loài thú quý hiếm thuộc bộ móng guốc ăn cỏ sinh sống…
Tuy nhiên, rừng và các loại động vật quý hiếm ở đây đang bị đe dọa nghiêm trọng do các đối tượng khai thác rừng, săn bắn thú rừng săn lùng từ nhiều phía khiến công tác QLBVR càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn bao giờ hết, nhất là khu vực tiếp giáp với tỉnh Gia Lai và tỉnh Phú Yên.
Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu BTTN Ea Sô Trần Lê Trinh cho biết: Trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô đã ký kết quy chế phối hợp với Hạt Kiểm lâm các huyện giáp ranh nhằm tăng cường công tác QLBVR trong khu bảo tồn. Quy chế phối hợp cho phép lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô truy quét, bắt, xử lý lâm tặc tại các vùng rừng giáp ranh thuộc địa bàn huyện Sông Hinh (Phú Yên) và huyện Krông Pa (Gia Lai).
Đồng thời, Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô đã thành lập chín trạm kiểm lâm địa bàn tại những vùng giáp ranh với các tỉnh Gia Lai, Phú Yên và những điểm nóng trong khu bảo tồn.
Về trách nhiệm để xảy ra các vụ khai thác gỗ giáng hương quý hiếm ở Ea Sô trong thời gian qua, Ban Quản lý Khu BTTN Ea Sô đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm tổ chức kiểm điểm các nhân viên tại các trạm kiểm lâm được giao quản lý.
Quan điểm của lãnh đạo Ban Quản lý Khu bảo tồn là xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân liên quan nếu có tình trạng tiếp tay cho lâm tặc khai thác gỗ trái phép; tuy nhiên, phải chờ kết quả điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện.
Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu Trần Quốc Dũng cho hay, trước mắt, đơn vị đã yêu cầu Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm số 4 được giao bảo vệ rừng ở khu vực này làm báo cáo chi tiết về công tác tuần tra bảo vệ rừng trong thời gian qua và vụ việc vừa bị phát hiện.
Các kiểm lâm viên thuộc trạm này phải viết bản tường trình và bản kiểm điểm. Sau khi có kết luận của cơ quan điều tra, nếu các cán bộ giữ rừng của đơn vị có liên quan thì sẽ tiến hành xử lý nghiêm, không bao che dung túng.
Để ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác gỗ và săn bắn thú rừng trái phép tại các khu BTTN, vườn quốc gia, rừng phòng hộ ở Đác Lắc, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của lực lượng QLBVR thì UBND tỉnh Đác Lắc cần chỉ đạo các cấp, các ngành của tỉnh phối hợp chặt chẽ với ngành chức năng các tỉnh giáp ranh tiến hành truy quét, xử lý tình trạng phá rừng ở vùng giáp ranh.
Đồng thời chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh tích cực vào cuộc điều tra thủ phạm các vụ phá rừng nghiêm trọng xảy ra tại các khu BTTN trong thời gian qua, xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe chung. Có như vậy mới giữ được những cánh rừng tự nhiên còn lại tại các khu BTTN, vườn quốc gia, rừng phòng hộ này. (Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Rừng Hóa Sơn, ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đã ở trong tình cảnh như một cuộc “đại phẫu” của "lâm tặc". Vết dấu cũ có, mới có chứng minh rằng, nạn lâm tặc hoành hành không chỉ diễn ra trong một thời điểm nhất định, mà rừng đã bị “chảy máu” từ rất lâu.
Vùng rừng Hóa Sơn - thuộc tiểu khu 142, trong lâm phận quản lý của Lâm trường Minh Hóa - là một khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, nơi từng 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.
Phóng viên Pháp luật Việt Nam đã trực tiếp thâm nhập bằng cách vượt qua những trận mưa rừng như trút nước liên tiếp, vượt núi rừng hiểm trở, len lõi giữa rừng rậm để ghi nhận tình hình cụ thể về nạn "lâm tặc" tung hoành một cách ngang nhiên đến kỳ lạ nơi đây.
Điều khó hiểu hơn là từ phía bên ngoài cửa rừng, nhiều lực lượng chức năng kiểm tra, bảo vệ rừng vẫn được bố trí túc trực, thực hiện nhiệm vụ ngày đêm như: Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn (đơn vị của Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa, thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình), Trạm Bảo vệ rừng Hóa Sơn (thuộc Lâm trường Minh Hóa), Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn (đơn vị thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng).
Đó là chưa kể đến chính quyền địa phương xã Hóa Sơn, Trạm Biên phòng Hóa Sơn của bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình cũng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc người dân ra vào khu vực rừng này. Dẫu vậy, vùng rừng rậm tự nhiên rộng lớn hàng nghìn hecta vẫn lâm vào tình cảnh rất đáng báo động bởi nạn "lâm tặc" tàn phá ồ ạt.
Dưới đây là những hình ảnh mà phóng viên đã ghi lại và mới thể hiện được một trong nhiều phần về tình trạng "lâm tặc" ồ ạt tàn phá rừng Hóa Sơn.
Được biết, rừng tự nhiên ở tiểu khu 142 thuộc lâm phận quản lý của Lâm trường Minh Hóa đã được đóng cửa rừng từ lâu và nghiêm cấm mọi hình thức khai thác, vận chuyển, mua bán, tàng trữ và sử dụng lâm sản trong rừng này. (Pháp Luật Việt Nam 5/11) đầu trang(
Ngày 4/11, Ban Chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã tổ chức hội nghị Tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2016 và triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2017.
Qua báo cáo tổng kết công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong năm 2016 cho thấy, giữ rừng ở tỉnh Kon Tum vẫn còn nhiều khó khăn. Từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xảy ra 472 vụ vi phạm với khối lượng gỗ tịch thu hơn 2.347 m3 gỗ quy tròn. So với năm 2015, số vụ vi phạm tăng 195 vụ (tăng 70%) và về số lượng gỗ tăng hơn 1.236 m3 gỗ vi phạm (tăng 111%).
Hành vi vi phạm chủ yếu là mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản trái phép và diễn ra hầu hết ở các địa phương. Trong đó, nổi cộm nhất là huyện Ia H’Drai (81 vụ, chiếm 17,2%); Ngọc Hồi (74 vụ, chiếm 15,7%); Sa Thầy (67 vụ, chiếm 14,2%), Đăk Hà (60 vụ, chiếm 12,7%).
Bên cạnh đó, tình trạng vi phạm lâm luật tại các lâm phần của các Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ cũng diễn ra phức tạp. Trong năm 2016, trên diện tích rừng của các lâm phần lâm nghiệp do các Công ty quản lý đã xảy ra 95 vụ vi phạm (chiếm 20%), còn tại các Ban quản lý xảy ra 106 vụ (chiếm 22,5%). Bên cạnh đó, diện tích rừng giao cho UBND các xã quản lý vi phạm cũng diễn ra phức tạp, nhất là phá rừng làm nương rẫy.
Trong thời gian qua, trên các diện tích này đã xảy ra 53 vụ (chiếm 11, 2%), chủ yếu tập trung ở các diện tích rừng ở xã Măng Cành (huyện Kon Plông), xã Đăk Long (huyện Đăk Glei), phá rừng tại đèo Măng Đen (thị trấn Đăk Rve, huyện Kon Rẫy)…
Theo ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum, Trưởng Ban Ban chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Kon Tum, nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm lâm luật gia tăng bên cạnh các nguyên nhân khách quan, chủ quan còn do các cơ quan chức năng làm làm việc chưa nghiêm, chưa quyết liệt trong việc xử lý các vụ vi phạm lâm luật.
Trước tình trạng vi phạm lâm luật, phá rừng làm nương rẫy trong thời gian qua ở tỉnh Kon Tum diễn ra phức tạp, ông Nguyễn Trung Hải, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum cho biết, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị các tỉnh Tây Nguyên về khôi phục và phát triển rừng bền vững, thời gian sắp tới Ban chỉ đạo của tỉnh xây dựng một số giải pháp thực hiện.
Theo đó, phát huy vai trò của chính quyền các cấp, nhất là vai trò của cấp xã, cấp huyện trong việc bảo vệ rừng. Trên cơ sở đó, các đơn vị chức năng sẽ thường xuyên tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra để phát hiện và tham mưu với các cấp để xử lý các đơn vị thiếu trách nhiệm để xảy ra các vụ việc vi phạm về công tác quản lý bảo vệ rừng.
Cùng với việc phối hợp, tham mưu cho chính quyền tổ chức các đợt truy quét, xử lý các điểm nóng về khai thác, vận chuyển lâm sản, Kon Tum cũng tập trung vào xử lý các cơ sở chế biến lâm sản trái phép, những cơ sở nằm ngoài quy hoạch, không chứng minh được nguồn gốc gỗ. Đồng thời, xây dựng các quy hoạch nương rẫy tại các xã, huyện để đảm bảo người dân có đủ diện tích đất để sản xuất.
Bên cạnh đó, thực hiện tuyên truyền cho người dân về quản lý và bảo vệ rừng, hỗ trợ người dân tham gia trồng rừng. (Tin Môi Trường 4/11) đầu trang(
Quần thể gỗ hương cổ thụ duy nhất tại Gia Lai đang bị lâm tặc “dòm ngó”. Việc bảo tồn quần thể gỗ quý này trở nên rất khó khăn đối với các ngành chức năng
Quần thể gỗ hương duy nhất còn tồn tại ở Gia Lai được Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (huyện Kbang, Gia Lai) quản lý. Các cây gỗ hương cổ thụ nằm rải rác trên 27 khoảnh thuộc 7 tiểu khu của công ty, với diện tích hơn 8.500 ha.
Chúng tôi đến thăm khu rừng vào những ngày đầu tháng 11, mưa rả rích ngày đêm. Theo chân các cán bộ bảo vệ rừng, băng qua nhiều đoạn dốc dựng đứng, bụi cây cao lút đầu người để đến được với khu vực có gỗ hương.
Các gốc hương ở đây có đường kính 1.5m, cao hơn 30m. Nhiều cây hương với đường kính của 3-4 người ôm, thân cây mọc thẳng tắp, cành lá xum suê cả một khoảng rừng. Bên dưới gốc cây là những chiếc võng được chủ mắc lên để ngày đêm trông coi, tránh lâm tặc “xẻ thịt”.
Tiếp tục vượt qua những con suối chảy siết để có mặt tại khoảnh 6, tiểu khu 90. Người dẫn đường bỗng lặng người khi đến khu vực này. “Gần 2 tháng trước ở chính nơi này, 2 cây gỗ hương đã bị lâm tặc đốn hạ. Giờ đây chỉ còn trơ lại mỗi gốc, ai cũng xót xa mỗi lần đi qua khu vực này”, anh kể.
Theo quan sát của PV, khu vực bị đốn hạ có một gốc cây hương với đường kính bằng hai người ôm. Cây còn lại đã bị lâm tặc vận chuyển một phần, phần còn lại nằm ngổn ngang dưới mặt đất. Tổng khối lượng gỗ bị lâm tặc lấy khoảng 30m3. Được biết, trong vụ việc lần đó, lực lượng chức năng đã bắt và khởi tố được 8/21 đối tượng tham gia.
Ngoài hai cây hương bị đốn hạ, từ đầu năm 2014 đến 8-2015 tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Pa đã xảy ra 59 vụ khai thác gỗ hương trái phép với 101 cây bị tàn phá. Khối lượng gỗ thiệt hại hơn 200m3. Trong những lần lâm tặc khai thác gỗ trái phép, công ty phát hiện, bắt quả tang 9 vụ, bắt giữ 19 đối tượng và thu giữ 9 cưa xăng.
Theo ông Võ Ngộ, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa, hiện khu rừng thuộc quản lý của công ty chỉ còn khoảng 300 cây hương cổ thụ, nằm rải rác khắp các tiểu khu.
Trao đổi về vấn đề công ty được giao trách nhiệm bảo vệ rừng, nhưng rừng liên tục bị lâm tặc “xẻ thịt”, ông Võ Ngộ cho biết: “Bên phía công ty đã dùng nhiều biện pháp để quản lý rừng, nhưng do nhiều cây hương nằm gần rẫy, khu vực rừng sản xuất của người dân nên công tác bảo vệ rất khó khăn. Công ty cũng đã lập nên các lán, cử cán bộ mắc võng trông coi, nhưng lâm tặc tận dụng lúc sơ hở, lễ tết để đột kích tấn công”.
Cũng theo ông Ngộ, lâm tặc ở đây rất manh động và liều lĩnh, chúng sẵn sàng tấn công cán bộ bảo vệ rừng khi bị phát hiện. Nhiều cán bộ đã bị thương tích trong lúc làm nhiệm vụ. Phía công ty cũng đã đề xuất hỗ trợ thêm 5-6 cán bộ bảo vệ rừng và tiến hành khoán 2000-3000 ha rừng cho người dân để phối hợp cùng cán bộ công ty quản lý.
Liên quan đến vấn đề này, ông Võ Văn Phán, Chủ tịch UBND huyện Kbang cho biết: “Cơ quan đã huy động tất cả lực lượng công an, kiểm lâm... kiểm tra, rà soát khu vực rừng, đặc biệt những nơi tồn tại quần thể gỗ hương cổ thụ. Nhưng lâm tặc rất nhanh tay và mưu mô, chính vì thế nhiều khu vực rừng vẫn bị đốn hạ”.
Hiện tại lực lượng chức năng vẫn đang tiến hành điều tra và bắt các đối tượng trong nhóm 21 người đã đốn hạ hai cây gỗ hương ngày 9/9 vừa qua. Từ đó, tìm ra cách thức khai thác, vận chuyển và đầu nậu của đường dây “xẻ thịt” rừng để công ty có kế hoạch bảo vệ rừng tốt hơn.
“Tôi cũng đã đề xuất với sở NN-PTNT tổ chức, sắp xếp một đội ngũ chuyên trách bảo vệ cây hương cổ thụ ở các công ty lâm nghiệp. Bên cạnh đó, nhà nước cần có thêm chính sách hỗ trợ người dân và cán bộ bảo vệ rừng. Từ đó, giúp hai bên hợp tác, phối hợp ứng cứu, ngăn chặn các đối tượng lâm tặc ‘xẻ thịt’ rừng”, ông Phán nói. (Việt Nam Mới 4/11) đầu trang(
Ngày 4/11, trao đổi với Đất Việt, ông Ngô Xuân Lộc, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Đắk Nông xác nhận, trong quá trình làm việc, kiểm tra tại Công ty TNHH Long Sơn, đoàn công tác sơ bộ phát hiện có hiện tượng phá rừng.
“Việc này hiện các cơ quan đang làm. Tuy nhiên cũng có hiện tượng phá rừng nhưng phải chờ kết quả chính thức, có số liệu rõ ràng. Dự kiến khoảng cuối tuần tới sẽ thông tin kết luận”, ông Lộc nhấn mạnh.
Về hướng xử lý, ông Lộc cho biết, sẽ căn cứ theo mức độ sai phạm cụ thể của công ty TNHH Long Sơn để có biện pháp phù hợp.
“Nếu mà trường hợp tài sản bị mất nghiêm trọng thì cũng có thể khởi tố, nếu nhẹ hơn thì có thể xử phạt hành chính, yêu cầu họ bồi thường thiệt hại”, ông Lộc nói thêm.
Cùng ngày, trao đổi với Đất Việt, Thiếu tướng Hồ Sỹ Tiến - Cục trưởng Cảnh sát Hình sự (C45) - Bộ Công an khẳng định, cơ quan này đã chính thức vào cuộc điều tra vụ nổ súng làm 3 người chết, 16 người bị thương ở Đắk Nông.
“Hiện nay chưa có thông tin gì mới cả. Chúng tôi mới nhận hồ sơ của Đăk Nông về, tập trung điều tra 2 mảng chính là nổ súng giết người và cưỡng chế của công ty TNHH Long Sơn”, ông Tiến khẳng định.
Trước đó, theo phản ánh của báo chí, ngày 13/12/2007, UBND tỉnh Đắk Nông cho Công ty TNHH Long Sơn (huyện Tuy Đức) thuê 1.079 ha đất và rừng tại tiểu khu 1535 (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức) đầu tư dự án nông lâm nghiệp cũng như quản lý, bảo vệ rừng.
Trong số đó, rừng tự nhiên chiếm hơn 539 ha, số còn lại (540 ha) là đất không có rừng. Thời hạn được giao quyền sử dụng đất đến ngày 28/2/2058. UBND tỉnh cũng phê duyệt phương án hoạt động của Công ty Long Sơn như sau: Trồng 441,1 ha cao su; 62,2 ha rừng; 68,0 ha điều. Còn đối với diện tích 539 ha rừng tự nhiên, Công ty Long Sơn có trách nhiệm quản lý, bảo vệ theo quy định.
Tuy nhiên, báo cáo ngày 24/10/2016 của UBND huyện Tuy Đức cho biết, đến nay công ty này chỉ mới trồng được 92,3 ha cao su. Trong khi đó, diện tích rừng được giao cho công ty đã bị tàn phá là 501,7 ha. Đối với diện tích rừng còn lại (khoảng 38 ha) chỉ là rừng nghèo kiệt.
Trả lời Đất Việt chiều 31/10, ông K’ Bốt  - Bí thư huyện ủy Tuy Đức, Đăk Nông khẳng định đã nắm được thông tin qua báo chí và đang yêu cầu đoàn công tác báo cáo trong thời gian sớm nhất.
“Sáng nay tôi có họp với 1 đoàn công tác  và yêu cầu làm việc cụ thể. Chúng tôi cử đoàn liên ngành gồm lâm nghiệp, nông nghiệp, công an xuống dưới địa phương để làm rõ. Dự án từ năm 2008, trước thời điểm tôi về huyện. Anh em cũng nói thứ 6 tới sẽ báo cáo lên huyện về những thông tin báo chí phản ánh”, ông K’ Bốt  khẳng định. (Đất Việt 5/11) đầu trang(
Mặc dù cơ quan chức năng tỉnh Hà Giang đã đưa ra nhiều giải pháp như thành lập các tổ đội công tác liên ngành, tăng cường tuần tra, canh gác để bảo vệ rừng, nhưng vẫn chưa thể xử lý triệt để tình trạng “xẻ thịt” gỗ nghiến cổ thụ tại rừng đặc dụng Phong Quang.
Hiện tại, những cây gỗ hàng trăm năm và có cây nghìn năm tuổi vẫn đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử,” nếu không có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn từ các cấp cơ quan quản lý, cũng như sự giúp sức của người dân.
Theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, việc rừng đặc dụng Phong Quang bị các đối tượng lén lút khai thác trái phép gỗ quý không chỉ lãnh đạo ở các xã nằm trong khu vực biết mà lực lượng kiểm lâm cũng biết. Tuy nhiên, làm sao để chấm dứt tình trạng này vẫn đang là bài toán chưa tìm được lời giải.
Các đối tượng khai thác, mua, bán và vận chuyển lâm sản chủ yếu là người dân sống trong vùng lõi và vùng giáp ranh. Với các hoạt động tinh vi, xảo quyệt, các đối tượng này đã không ít lần qua mặt cơ quan chức năng để cung cấp gỗ cho các đầu nậu bên kia biên giới.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Việt Hưng, Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang cho biết, trước đây, đơn vị đã tham mưu cho Thường trực huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Vị Xuyên cùng với Chi cục kiểm lâm tỉnh thành lập 4 tổ công tác, mỗi tổ có 9 người (bao gồm công an, quân đội, biên phòng, dân quân xã và kiểm lâm).
Theo đó, ngân sách của huyện bỏ ra hỗ trợ mỗi người là 50.000đồng/người/ngày. Những tổ công tác này duy trì được gần 3 năm, sau đó quân đội xin rút, còn lại biên phòng, công an, kiểm lâm và dân quân của xã. 4 tổ này nằm ở các thôn Mã Hoàng Phìn, Hoàng Lì Pả, Tà Lèng và Tân Sơn.
Sau một thời gian vào cuộc quyết liệt của các bên, Công an tỉnh đã cho thêm một trung đội Cảnh sát cơ động khoảng 30 người nằm vùng mấy tháng để trấn áp và làm công tác tuyên truyền giáo dục.
“Ngoài ra, ngành kiểm lâm cũng đã phối hợp với biên phòng để thường xuyên phải tuần tra mốc biên giới nhằm ngăn chặn các tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép qua biên giới, nhưng trên thực tế thì cũng không thể triệt để, vì đường lối mòn, lối mở là người dân tự khai phá và thông thạo địa hình,” ông Hưng nói.
Chia sẻ thêm về đường đi của lâm tặc, ông Hưng cho biết, thông thường, gỗ nghiến sau khi bị cưa thành dạng thớt sẽ được lâm tặc vận chuyển qua các con đường mòn sang biên giới, bán cho các đầu nậu thu mua. Chính vì đường biên giới dài và nhiều đường mòn tự phát nên nếu sang biên giới thì tất cả các lực lượng chức năng không được phép sang.
“Không những thế, các đối tượng lại vận chuyển gỗ chủ yếu diễn ra vào ban đêm, trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, nên công tác bắt giữ lại càng thêm khó khăn,” ông Hưng nói.
Trước tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến cổ thụ tại rừng đặc dụng Phong Quang đang tiếp tục “nóng,” gần đây, cơ quan chức năng tỉnh Hà Giang đã xác định việc tiếp cận sức dân để kêu gọi cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ rừng cũng như tố giác các hành vi khai thác lâm sản trái phép.
Theo đó, chính quyền địa phương sẽ bỏ ra một khoản ngân sách, cho thành lập tổ tự quản tham gia bảo vệ rừng tại các thôn. Tổ trưởng của các tổ là già làng, trưởng bản hoặc trưởng thôn, trưởng dòng họ sẽ làm hộ công tác tuyên truyền, nắm bắt tình hình để thông tin các vụ vi phạm lâm luật bị phát giác cho cơ quan chức năng.
“Chúng tôi cũng đã tổ chức các cuộc đối thoại với người dân của từng thôn. Những điểm nóng sau khi đối thoại xong, chúng tôi sẽ tổ chức ký cam kết về công tác quản lý bảo vệ rừng , phòng cháy chữa cháy rừng, và sắp tới sẽ khoán cho người dân bảo vệ rừng,” ông Nguyễn Việt Hưng, Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang nói.
Ngoài ra, theo ông Hưng, khoảng 2 tháng nay, cơ quan chức năng địa phương cũng đã chấp thuận việc thực hiện lễ cúng thần rừng đối với những cây gỗ cổ thụ, đặc biệt là gỗ nghiến. Mỗi khi tổ chức cúng thần rừng, ban quản lý rừng đều mời đông đảo bà con đến tham gia, qua đó tuyên truyền cho bà con về lợi ích mà rừng mang lại.
Không chỉ dựa vào mặt văn hóa để bảo vệ rừng, hiện nay, lãnh đạo tỉnh Hà Giang cũng đang có những động thái tích cực nhằm bảo vệ chất lượng của rừng đặc dụng Phong Quang như quản lý cưa xăng, đầu tư đường điện, đường bê tông. Đồng thời khoán bảo vệ rừng cho 8 thôn bản vùng cao thuộc vùng lõi rừng đặc dụng, hỗ trợ bà con vay vốn chăn nuôi phát triển kinh tế.
Ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang cho biết, đời sống của dân trong vùng lõi rừng đặc dụng tỉnh xác định là quan trọng nhất, vì không phải một hai thôn mà rất nhiều thôn sống rải rác. Do đó, tỉnh đã xin đưa được một số hộ dân ra khỏi vùng lõi, chứ không thể di chuyển được hết mà ngược lại cần dựa vào dân để giữ rừng, bảo vệ biên giới.
Mặt khác, “tỉnh cũng đã giao cho huyện Vị Xuyên xây dựng phương án nâng cao đời sống cho bà con, thông qua khoán bảo vệ rừng và cho vay vốn chính sách hỗ trợ lãi suất giúp bà con chăn nuôi nhằm nâng cao đời sống bà con để bà con bám rừng và giữ rừng cho tỉnh,” ông Tiến nói. (Việt Nam Plus 7/11) đầu trang(
Từ hàng chục năm nay, Bạc Liêu nổi tiếng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về phong trào nông dân tự phát nuôi cá sấu.
Thực tế đã có nhiều hộ “đổi đời” nhờ nuôi cá sấu. Song, một thực tế đáng buồn là, chưa bao giờ người nuôi cá sấu ở Bạc Liêu lại “lao đao khốn khó” như mấy tháng nay, vì giá cá thương phẩm rớt thê thảm. Cách đây hơn một năm, giá cá sấu trung bình từ 200 đến 250 nghìn đồng/kg, thì nay chỉ còn 60 đến 70 nghìn đồng/kg cũng khó bán…!
Những ngày đầu tháng 11 này, chúng tôi trở lại Phước Long, một huyện từ nhiều năm nay được mệnh danh là “thủ phủ” của nghề nuôi cá sấu, bởi toàn huyện có hàng nghìn hộ nuôi cá sấu. Đặc biệt, đây cũng là huyện hiện có lượng cá sấu thương phẩm “ứ đọng” nhiều nhất tỉnh Bạc Liêu.
Theo lời giới thiệu của cán bộ Văn phòng UBND huyện Phước Long, chúng tôi đến nhà ông Huỳnh Thanh Liêm (ngụ ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long). Trò chuyện với chúng tôi, với vẻ mặt buồn rầu, ông Liêm than: “Bầy cá sấu hơn 100 con của gia đình tui đã quá lứa nhiều tháng nay.
Lẽ ra phải bán từ lâu nhưng thương lái không mua. Hồi đầu năm 2016, thương lái thu mua cá sấu với giá khoảng 160.000 đồng/kg, nhưng tui không bán. Giờ giá “rớt thảm hại” chỉ còn 65.000 đến 70.000 đồng/kg. Nhưng vẫn khó bán. Vậy là lỗ nặng. Càng nghĩ càng tiếc…!”.
Tương tự, cũng tại thị trấn Phước Long, ông Nguyễn Văn Dương tuy có gần 15 năm nuôi cá sấu, nhưng theo ông: “Chưa bao giờ giá cá thương phẩm lại “bọt bèo” như mấy tháng nay. Nhất là cũng chưa năm nào gia đình tui thua lỗ đậm như năm nay” – ông Dương lắc đầu ngao ngán. Bởi từ khi ông bắt đầu nuôi cá sấu đến nay, giá cả tuy có lên xuống nhưng chưa bao giờ bị thua lỗ. Hiện nay, gần 200 con cá sấu của gia đình ông đã tới lứa bán từ lâu, nhưng đang cho “nằm” chờ giá…
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu, hiện toàn tỉnh có 1.925 hộ đăng ký gây nuôi động vật hoang dã với tổng đàn trên 220.000 cá thể, chủ yếu là cá sấu. Do cá sấu là động vật hoang dã nên địa phương không khuyến khích phát triển gây nuôi ồ ạt. Thời gian qua, tuy cá sấu có giá trị kinh tế cao nhưng vốn đầu tư lớn, trong khi đa số nông dân nuôi theo kiểu tự phát, không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm, chủ yếu xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc.
Bên cạnh đó, để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, người nuôi phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp nhưng đa số người nuôi cá sấu hiện nay xây chuồng nuôi tạm bợ.
Do tình hình thực tế giá cá sấu giảm, không chỉ những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ mà cả những trang trại lớn quy mô lên hàng chục nghìn con ở Bạc Liêu mấy tháng qua cũng phải tự tìm đầu ra. Điển hình là Trang trại nuôi cá sấu Phương Tín (xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long) nuôi gần 30.000 con cá sấu.
Ông Trương Thanh Mai (chủ trang trại) cho biết: Do thị trường xuất khẩu cá sấu gặp nhiều khó khăn, giá liên tục giảm và chưa có dấu hiệu dừng lại. Vì vậy, trang trại của ông bắt đầu chuyển hướng sang làm thuộc da. Bước đầu, công nhân sẽ lột da cá sấu, sau đó chuyển đến đối tác để thuê gia công. Từ đó sẽ dùng để làm các sản phẩm thời trang như: giày, ví, thắt lưng...
Theo ông Mai, sắp tới trang trại sẽ xây dựng nhà máy thuộc da cá sấu để bảo đảm ổn định đầu ra cho cá sấu nuôi không chỉ của riêng trang trại mà còn bao tiêu cho nông dân trong vùng.
Chủ tịch UBND huyện Phước Long (Bạc Liêu) Phạm Thanh Hải cho biết: Hiện nay, người nuôi cá sấu đang phải chịu lỗ nên số hộ nuôi loài vật này sẽ giảm dần trong thời gian tới. “Nếu người nuôi muốn giữ đàn chờ giá thì cần hạn chế cho cá sấu ăn để tiết kiệm chi phí, bởi cá sấu có thể nhịn ăn trong thời gian dài mà không ảnh hưởng”, Chủ tịch UBND huyện khuyến cáo.
Tại Bạc Liêu, thực tế từ nhiều năm nay, chuyện nuôi cá sấu theo phong trào để rồi bị thương lái ép giá không có đầu ra vốn trở thành… “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhiều hộ nuôi cá sấu thay nhau “nuốt quả đắng”, phải treo chuồng vì nợ nần do con cá sấu quá lứa. Thế nhưng, cứ sau một đợt cá sấu bán được giá là nhiều người lại đua nhau nuôi loài cá này, thậm chí phá cả chuồng heo, chuồng gà để nhường chỗ cho con cá sấu.
Nuôi cá sấu theo phong trào vốn trở thành bài học xương máu và gần như một quy trình đã được lập sẵn. Hễ khi giá cá sấu thương phẩm tăng cao là chẳng bao lâu giá cá sấu giống lại tăng đến chóng mặt.
Ông Trương Thanh Mai, chủ trang trại nuôi cá sấu Phương Tín (xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long), doanh nghiệp duy nhất của tỉnh được cấp giấy chứng nhận Cites cho rằng: “Khó khăn trong nuôi cá sấu hiện nay chính là nạn mạnh ai nấy làm và gần như nông dân không liên kết với nhau. Cụ thể, trong đợt cá sấu bị rớt giá như mấy tháng qua, nếu như những hộ nuôi liên kết với nhau cùng đưa ra một mức giá thu mua chung, thì chắc chắn sẽ cầm chắc lợi nhuận và không bị các thương lái nước ngoài (Trung Quốc) thao túng thị trường.
Song, thực tế đáng buồn là mạnh ai nấy bán, “không anh nào chịu nghe anh nào”. Đặc biệt là tình trạng nghi kỵ, “khôn vặt”, thiếu hợp tác, liên kết…. đã góp phần không nhỏ làm cho giá cá sấu bị rớt đến thê thảm (!?)
Từ thực tế nêu trên, theo chúng tôi, tỉnh Bạc Liêu nói riêng, vùng ĐBSCL và cả nước nói chung, cần xem xét, có thể thành lập Hiệp hội chăn nuôi cá sấu. Thông qua Hiệp hội này, không chỉ giúp ngành quản lý làm tốt vai trò định hướng trong tổ chức sản xuất, hoạch định kế hoạch cho phát triển nghề chăn nuôi động vật hoang dã gắn với công nghệ chế biến, mà còn làm tốt hơn công tác quản lý thay vì để nông dân phát triển chăn nuôi tự phát như lâu nay… (Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Ngày 5-11, ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, cho biết hàng rào điện bảo vệ voi vừa được khánh thành sau 14 ngày thi công cùng sự hỗ trợ kỹ thuật của hai nhân viên tổ chức động vật châu Á.
Hàng rào xung điện có công suất 6,4-8,4 kW. Hàng rào có bốn đường dây điện, mỗi lượt dây cách nhau khoảng 32 cm, với dòng điện nguồn 220 V và có hai ắc quy công suất lớn dự phòng. Tổng diện tích được lắp hàng rào bảo vệ khoảng 6.000 m2; có chiều dài khoảng 1.320 m (bao gồm 121 trụ sắt cao 1,5 m).
Theo ông Luân, hàng rào điện ngăn cách động vật hoang dã đã nhiều vườn thú quốc gia trên thể giới sử dụng. Hàng rào điện có tác dụng gây hoảng sợ chứ không gây ảnh hưởng đến tính mạng khi voi tiếp chạm.
“Việc xây dựng hệ thống hàng rào điện giúp voi không cần bị xích, chúng được tự do vận động trong khuôn viên khu nuôi nhốt và có nhiều cơ hội thể hiện các hành vi tự nhiên” - ông Luân chia sẻ.
Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk hiện đang cứu hộ hai cá thể voi rừng. Trong đó, con voi năm tuổi được cứu hộ năm 2014 vì dính bẫy và được đặt tên là Jun; con một tuổi được cứu hộ tháng 4-2016 khi bị rơi xuống xuống và được đặt tên Gold.
Sau khi được chăm sóc khỏe mạnh, hai cá thể voi nhiều lần được thả về tự nhiên, tuy nhiên chúng không chịu hòa nhập đàn. (Pháp Luật Việt Nam 6/11) đầu trang(
Đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng. Tốc độ tuyệt chủng của các loài ngày một tăng, hậu quả tất yếu là sẽ làm giảm hoặc mất các chức năng của hệ sinh thái như điều hòa nước, chống xói mòn, đồng hóa chất thải, làm sạch môi trường.
Ở Việt Nam, mặc dù độ che phủ rừng tăng lên nhưng rừng tự nhiên lại sụt giảm nghiêm trọng. Theo thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), độ che phủ rừng năm 2015 đạt 40,43% tăng hơn năm 2010 đạt 39,5%.
Tuy nhiên, mức che phủ này so với rừng tự nhiên bị cháy hoặc chặt phá hàng năm thực sự không đáng kể khi mỗi năm trung bình có khoảng 25.000 đến 100.000 ha rừng bị cháy, hơn 1.000 ha rừng bị chặt phá…
TS Nguyễn Ngọc Sinh- Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và môi trường Việt Nam cho biết, hậu quả đối với thiên nhiên và môi trường khi rừng tự nhiên tụt giảm nghiêm trọng là không thể đong đếm. Rừng bị cháy và chặt đều do ý thức con người. Sự phục sinh rừng hàng năm chỉ cao hơn 6 lần sự phục sinh của rừng tự nhiên.
Đây là sự báo động đối với chính phủ, vì mất thêm rừng sẽ càng làm tăng nguy cơ giảm hoặc mất các chức năng của hệ sinh thái như điều hòa nước, chống xói mòn, đồng hóa chất thải, làm sạch môi trường. Nghiêm trọng hơn sẽ tác động trực tiếp đến vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng tự nhiên, khiến thiên tai và cực đoan khí hậu xuất hiện ngày  một nhiều.
Theo TS Sinh, không chỉ rừng nguyên sinh đối mặt với sự sụt giảm, rừng ngập mặn ở Việt Nam cũng sụt giảm “không tưởng tượng nổi”, khi chỉ trong vòng 5 thập kỷ, Việt Nam đã mất đi 67% diện tích rừng ngập mặn. Số liệu thống kê năm 1943 cho thấy Việt Nam có 408,5 nghìn ha rừng ngập mặn thì đến năm 2012 chỉ còn 131,52 nghìn ha.
“Rừng ngập mặn không chỉ bảo vệ bờ biển, ngăn chặn gió bão, hạn chế sói lở mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản, là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, động vật quý hiếm. Đáng tiếc là bức tường xanh đang ngày thu nhỏ tới mức thảm hại, một phần do cực đoan thời tiết nhưng phần lớn là do con người đang phá rừng chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc sản xuất nông nghiệp” - TS Sinh cho biết.
Có lẽ điều này cũng đang “tồn tại” ở nhóm đa dạng sinh học loài. Theo Báo cáo của Bộ TN&MT, Việt Nam có gần 16.500 loài thực vật bậc cao, nấm lớn, rêu, trong đó các loài thực vật đặc hữu chiếm khoảng 30%.
Ở trên cạn có khoảng 10.500 loài động vật, nước ngọt khoảng 1.500 loài vi tảo, rong trên 1.000 động vật không xương sống và khoảng 600 loài cá. Dưới biển có khoảng 1.200 loài rong, cỏ và vi tảo, trên 7.000 loài động vật không xương sống và trên 7.000 loài cá… Song mỗi năm, số lượng từng loài sụt giảm. Nguy hại hơn, một số loài rơi vào nguy cơ cấp.
TS Hoàng Thị Thanh Nhàn- Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cho biết, tác động của cực đoan thiên nhiên với đa dạng sinh học hoàn toàn có thể ứng phó và giảm thiểu rủi ro, song tác động của con người với đa dạng sinh học là khó lường và mức tác hại là vô cùng lớn.
Chỉ thiếu ý thức, hàng trăm nghìn ha rừng sẽ bị tiêu cháy, chỉ chuyển đổi sử dụng đất, mặt nước thiếu cơ sở khoa học, hàng nghìn ha rừng ngập mặn biến mất. Chỉ cần một thang thuốc, hàng chục loài có nguy cơ tiệt chủng, chỉ cần một bữa ăn thời thượng, một vài loài động vật sẽ vĩnh viễn không còn… Trách nhiệm thuộc vế chính con người, trong đó vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát, xử phạt của các ngành chức năng là vô cùng quan trọng.
“Hiện nay, để tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, hệ thống rừng đặc dụng đã được thiết lập. Hệ thống bảo tồn trên cạn có 166 khu rừng đặc dụng với xấp xỉ 2,2 triệu ha, 31 vườn quốc gia với tổng diện tích khoảng 10.500,8 km2 trong đó có 620,10 km2 mặt biển, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài, 55 khu bảo vệ cảnh quan…
Tuy nhiên, bảo tồn, quản lý và phát triển đang dạng sinh học như thế nào, trước hết cần phải giải quyết sự chồng chéo quản lý hiện nay giữa Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT. Đa dạng sinh học chính là nguồn sống quan trọng nhất” - TS Lê Khắc Quyết, chuyên gia tư vấn Tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) nhấn mạnh. (Đại Đoàn Kết 5/11) đầu trang(
Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, do áp lực gia tăng dân số, tình trạng khai thác quá mức tài nguyên sinh vật, công tác quản lý bảo tồn ĐDSH còn nhiều bất cập, nhất là ý thức bảo vệ ĐDSH của cộng đồng chưa cao… là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tài nguyên ĐDSH của Việt Nam tiếp tục trên đà suy thoái.
PGS, TS Lê Xuân Cảnh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) cho biết: Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới xếp Việt Nam là một trong 16 quốc gia có ĐDSH cao nhất thế giới; đứng thứ tư thế giới về các loài linh trưởng, với năm trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất.
Trong khi đó, theo số liệu báo cáo quốc gia về ĐDSH (năm 2011) cho thấy, tại Việt Nam ghi nhận được khoảng hơn 49 nghìn loài sinh vật, bao gồm: Khoảng 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20 nghìn loài thực vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; hơn 11 nghìn sinh vật biển...
Đáng chú ý, nước ta còn có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn, là môi trường sống và phát triển của các loài sinh vật, đã và đang đóng góp cho việc bảo tồn loài hoang dã, cũng như các loài nguy cấp, quý, hiếm.
Tuy nhiên, đa dạng về loài của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như: Sao la, voọc mũi hếch, voọc Cát Bà, cá nóc, bò biển… Điển hình như loài hổ sống trong các khu rừng ở Việt Nam giảm từ khoảng 1.000 con (trước năm 1970) xuống còn 80 đến 100 con vào năm 2005 và đến năm 2010, số lượng này giảm xuống chỉ còn khoảng 30 con…
Theo Phó Tổng cục trưởng Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), TS Nguyễn Thế Đồng: ĐDSH ở Việt Nam mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, nhất là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gien tạo giống vật nuôi, cây trồng; điều tiết khí hậu, bảo vệ môi trường…
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn ĐDSH, Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực các hiệp ước quốc tế về ĐDSH như: Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (RAMSAR); Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)…
Việt Nam cũng ban hành nhiều bộ luật quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Thủy sản; Luật ĐDSH…
Đáng chú ý, để định hướng cho công tác bảo tồn ĐDSH , Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng trong lĩnh vực này như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030…
Qua đó, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH như: Hệ thống khung pháp luật và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH ngày càng được củng cố, hoàn thiện; nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào công tác bảo tồn ĐDSH có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhất là các dịch vụ hệ sinh thái trọng yếu tiếp tục được duy trì và cung cấp các dịch vụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, tài nguyên ĐDSH của Việt Nam hiện vẫn đang tiếp tục trên đà suy thoái; các hệ sinh thái thu hẹp, bị chia cắt và suy giảm chất lượng; các loài nguy cấp đang gia tăng; nguồn gien bị thất thoát, mai một…
Theo các chuyên gia về ĐDSH và bảo vệ môi trường, nguyên nhân của tình trạng này là do áp lực gia tăng dân số, kéo theo nhu cầu tiêu thụ, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi bảo tồn với phát triển kinh tế. Trong khi đó, công tác quản lý bảo tồn ĐDSH thời gian qua còn nhiều bất cập về quy định pháp luật, chính sách, thể chế và tổ chức bộ máy quản lý.
Việc đầu tư kinh phí thực hiện công tác bảo tồn ĐDSH còn dàn trải, thiếu trọng điểm; công tác xã hội hóa về bảo tồn ĐDSH chưa được đẩy mạnh, ý thức bảo vệ ĐDSH của cộng đồng chưa cao.
Ngoài ra, nạn săn bắn, buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã, thói quen tiêu thụ động vật hoang dã không ngừng gia tăng; việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đối với lâm sản và thủy sản làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, không bảo đảm cho việc tái tạo lại các nguồn tài nguyên trong tự nhiên… gây ra sự tuyệt chủng của các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm.
Phó Tổng cục trưởng Môi trường, TS Nguyễn Thế Đồng cho rằng: Để tăng cường công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH, thời gian tới, Việt Nam cần triển khai và thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Tiếp tục thực hiện rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐDSH, nhất là các luật và hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Thủy sản, Luật ĐDSH, để bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả.
Củng cố và phát triển hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH, trong đó chú trọng đến việc tăng cường hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp tỉnh. Đẩy mạnh hướng dẫn thực hiện các chế tài về ĐDSH, xử lý nghiêm các vụ vi phạm về ĐDSH nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của việc thực thi pháp luật; thúc đẩy công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến pháp luật về ĐDSH từ T.Ư đến địa phương và cộng đồng…
Các nhà bảo tồn ĐDSH cũng cho rằng: Để nâng cao hiệu quả tài nguyên ĐDSH cần đa dạng hóa nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước, từ nguồn tài trợ quốc tế và các nguồn thu khác. Trong đó, cần chú trọng huy động sự đóng góp của khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng cho công tác này.
Lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ ĐDSH trong đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược; tiếp tục phát huy và nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn ĐDSH như cộng đồng tham gia tuần tra, bảo vệ, giám sát ĐDSH tại các khu bảo tồn; tiếp tục nghiên cứu và tạo cơ chế để huy động sự tham gia của khu vực tư nhân trong công tác bảo tồn ĐDSH. (Báo Lai Châu 4/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trung tâm Khuyến nông quốc gia vừa cho biết, trong giai đoạn 2011 -2015 đơn vị đã triển khai 15 dự án khuyến nông lĩnh vực nông nghiệp, trong đó Trung tâm Khuyến nông quốc gia chủ trì 5 dự án.
Theo đó, các địa phương đã xây dựng được 2.200ha mô hình trình diễn trồng rừng gỗ lớn thâm canh, chủ yếu là lát hoa, keo tai tượng, xoan ta, gáo, dổi xanh...; xây dựng trên 4.300ha mô hình trồng rừng nguyên liệu như keo tai tượng, keo lai, bạch đàn lai, bạch đàn Uro, với 3.275 hộ tham gia.
Các loài cây này trước đây thời gian thu hoạch từ 8 - 10 năm, nhưng nay chỉ còn 5-7 năm cho một chu kỳ, năng suất rừng tăng từ 10 - 15%.
Bên cạnh đó, các địa phương cũng xây dựng được trên 3.600ha mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ như mây, luồng, mắc ca, sơn tra, ba kích, kim tiền thảo... tại các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. (Nông Thôn Ngày Nay 5/11) đầu trang(
Ngày 5/11, lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Quế Phong, đại diện các ban ngành, bí thư, chủ tịch 14 xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã đến thăm Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An, Công ty cổ phần lâm nghiệp Tháng 5, tại xã Nghĩa Hội (Nghĩa Đàn).
Theo thống kê, Quế Phong có hơn 60.000 ha đất rừng nằm trong quy hoạch sản xuất. Tuy nhiên, một nữa trong số diện tích này chưa phát huy hiệu quả.
Sau khi đi thực tế tại vùng nguyên liệu gỗ keo tại Quỳ Hợp, tham quan nhà máy, cũng như dây chuyền sản xuất gỗ, Chủ tịch UBND huyện Quế Phong Lê Văn Giáp cho biết sẽ chỉ đạo các đơn vị xã, các doanh nghiệp, xúc tiến việc trồng cây keo nguyên liệu.
Ông Nguyễn Công Vĩnh, Tổng GĐ Công ty cổ phần lâm nghiệp Tháng 5 hứa sẽ phối hợp với huyện triển khai việc trồng nguyên liệu, và có những cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, giống, phân bón... để người dân trồng keo gỗ, đáp ứng nhu cầu sản xuất gỗ. (Báo Nghệ An 5/11) đầu trang(
Được triển khai từ năm 2010, dự án trồng rừng trên cát ven biển do Chính phủ Nhật Bản tài trợ đến nay đã góp phần cân bằng hệ sinh thái, tăng độ che phủ rừng, hạn chế tình trạng cát bay gây ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân ven biển.
Cách đây 5 năm, những vùng đất cát ven biển  thuộc các huyện Phổ Đức, Mộ Đức… chỉ là những vùng đất trơ trọi mang nhiều ẩn họa cho người dân. Giờ đây, dọc các bãi cát trắng đã được phủ xanh bởi rừng dương liễu trải dài hàng chục hec ta.
Tuy mới chỉ trồng được 5 năm nhưng rừng dương Phổ An (huyện Đức Phổ) đã có tán lá rất rộng và cao cũng trên dưới 1m. Từ khi có rừng dương, tình trạng cát bay đã không còn đe dọa người dân, đời sống sinh hoạt và sản xuất cũng không còn chịu ảnh hưởng của gió biển, người dân Phổ An đã yên tâm sinh sống và mạnh dạn tăng gia sản xuất.
Chính quyền xã Phổ An đã thành lập đội bảo vệ rừng; đồng thời tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng cho người dân, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Được triển khai từ năm 2010, đến nay Dự án trồng rừng trên cát ven biển do Chính phủ Nhật Bản tài trợ đã trồng mới và trồng bổ sung gần 415 ha rừng phòng hộ với gần 600.000 cây dương liễu tại các xã Phổ An, Phổ Quang, Phổ Vinh, Phổ Châu và Phổ Khánh (huyện Đức Phổ). Bên cạnh đó, Dự án còn đầu tư mở rộng khoảng 15km đường công vụ, xây dựng các chòi canh lửa bảo vệ rừng.
Xã Đức Minh (huyện Mộ Đức) hiện có rừng phi lao lớn nhất nhì tỉnh, với gần 220ha rừng phòng hộ và 270ha rừng sản xuất chạy dọc ven biển. Gần chục năm trở lại đây, trước những tác động của thiên tai, người dân ven biển xã Đức Minh đã xem khu rừng này như báu vật.
Trước khi có dự án, các vùng đất ở gần sát biển do điều kiện khắc nghiệt của khí hậu và thời tiết, gió bão thổi rất mạnh nên cát thường di động, cát bay dẫn đến san lấp đồng ruộng, phá hoại cây cối, mùa màng bởi vậy phần lớn đồng ruộng bị bỏ hoang. Từ khi có rừng dương làm hàng rào chắn gió, chắn cát bay, cát di dộng các đồng ruộng  bị bỏ hoang nay đã được đưa vào sử dụng làm tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, góp phần làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất đai, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao tỷ trọng đất trồng cây lâm nghiệp, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tốt, đa dạng hóa ngành nghề, nâng cao thu nhập cho cá nhân, hộ gia đình.
Bên cạnh một số địa phương đã được bảo vệ bởi lá chắn xanh vẫn còn nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hàng năm vẫn bị tình trạng xâm thực hoành hành.
Dự đoán, mỗi năm xã Đức Lợi (huyện Mộ Đức) bị biển “ăn” sâu vào đất liền hàng chục mét và kéo dài hơn 1km, nên diện tích đất nơi đây ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên, việc trồng và phát triển rừng phòng hộ khu vực này chưa được quan tâm đầu tư.
Ngoài ra, tại các khu vực đã được phủ xanh rừng dương, sắp tới toàn bộ diện tích rừng trên sẽ được giao cho cộng đồng dân cư quản lý nhưng lại không có khoản kinh phí hỗ trợ nên người dân chưa thực sự bỏ công sức chăm sóc, bảo vệ.
Toàn tỉnh Quảng Ngãi hiện có trên 18 nghìn hécta rừng phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, việc phát triển các loại rừng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Phần vì điều kiện khắc nghiệt, cộng với cách chăm sóc chưa phù hợp nên tỷ lệ cây sống rất thấp. Không những thế, việc tái tạo rừng phòng hộ cũng gặp khó khăn bởi nó thuộc diện “phi lợi nhuận” nên người dân chưa tích cực tham gia.
Để rừng dương phát triển tốt và làm lá chắn hiệu quả cần phải có sự quan tâm đầu tư hơn nữa của chính quyền địa phương và bên cạnh đó cần cho người dân thấy được những tác dụng thiết thực của lá chắn xanh để họ tự giác có ý thức bảo vệ.
Vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng vừa ký thông báo về việc thu hồi hơn 90ha đất thuộc các xã Bình Phước, Bình Trị, Bình Đông (huyện Bình Sơn) để thực hiện Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển. Dự án không chỉ trồng mới mà còn phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển, góp phần giảm thiểu tình trạng xâm thực của biển cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên nước, nguồn lợi thủy sản đang dần cạn kiệt.
Nhờ có những giải rừng phòng hộ chắn bão, chắn gió mạnh từ biển thổi vào, bảo vệ cây cối, nhà cửa, ruộng vườn, thành quả lao động sản xuất lúa, ngô, khoai, sắn…, bảo vệ động vật trâu, bò, gà, vịt… làm cho người dân yên tâm bám đất, không di dời chỗ ở. Thông qua các lớp tập huấn, tài liệu tuyên truyền, dự án còn có tác động làm nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng, tác động tới việc làm, lao động, sự thay đổi bộ mặt và cơ cấu ngành nghề nông thôn.
Ngoài các tác động trên, rừng dương ven biển còn góp phần bảo vệ các công trình dân dụng địa phương, các công trình quốc gia, đường sắt, đường bộ… Đồng thời góp phần làm tăng độ che phủ rừng và tính đa dạnh sinh học, cải thiện tình trạng xói mòn và thoái hóa đất, duy trì và bảo vệ chất lượng và trữ lượng nguồn nước, tác động tích cực tới môi trường không khí và bảo vệ động vật biển.
Đặc biệt khi có sóng thần xảy ra thì tác dụng chắn gió của rừng cây là vô cùng lớn. Nó sẽ làm giảm thiểu được rất nhiều những thiệt hại mà sóng thần gây ra. Nhờ có các giải rừng phòng hộ nên đã hạn chế được rất nhiều các sự cố về môi trường như ổn định cát (chống cát bay, cát di động), che chắn bão và gió mạnh từ biển thổi vào. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, huyện miền núi Sơn Tây (Quảng Ngãi) đã phát triển mạnh ngành lâm nghiệp, thực hiện điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng và giải quyết những tồn đọng trong việc giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người dân sản xuất, góp phần tạo việc làm, ổn định đời sống, từng bước giảm nghèo bền vững.
Có thể nói, núi rừng, sông suối từ ngàn xưa đã gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc huyện miền núi Sơn Tây, được coi là mạch nguồn của sự sống. Gần đây, huyện miền núi Sơn Tây đã chú trọng bảo vệ và phát triển ba loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) đạt hiệu quả, nhất là rừng sản xuất và rừng trồng cây gỗ lớn bản địa đang được tập thể và nhiều hộ gia đình đầu tư mở rộng diện tích.
Tại các xã Sơn Lập, Sơn Bua, Sơn Dung, Sơn Liên..., hiện nay không những phát triển mạnh rừng nguyên liệu, rừng lấy gỗ mà còn thực hiện bảo vệ chặt chẽ những khu rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ. Nhiều hộ tham gia trồng rừng từ dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững (KFW6), hàng chục ha rừng sản xuất gỗ lớn đã bắt đầu được hình thành.
“Lợi ích kép” của khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên ở lưu vực đầu nguồn sông giúp người dân vừa có thu nhập ổn định, vừa điều hòa khí hậu vùng và tăng đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, huyện chú trọng trong khâu sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài, tránh tình trạng xâm lấn đất rừng. Thực tế, ở những vùng trồng rừng chưa ổn định, thường xảy ra việc tranh chấp đất rừng dai dẳng.
Hầu hết khoảnh rừng của người dân trồng đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh giới và cơ chế hưởng lợi của người dân rõ ràng cho nên hạn chế được tình trạng khiếu nại xảy ra. Hiện nay, huyện đang tái cấu trúc toàn diện ngành lâm nghiệp, trong đó tiến hành trồng thử nghiệm những loại cây có giá trị kinh tế cao, có thể kết hợp canh tác dưới tán rừng hoặc những loại cây ngắn ngày trồng xen trong giai đoạn vườn rừng chưa khép tán như các loại cây dược liệu.
Nhân rộng mô hình nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng; xem xét tăng phí để tăng thêm mức thu nhập cho người dân quản lý, bảo vệ rừng; đầu tư, quy hoạch và xây dựng hệ thống đường giao thông để thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản sau khai thác từ rừng trồng, giảm chi phí cho vận chuyển.
Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây Lê Văn Tùng cho biết: "Hiện nay, huyện đầu tư trồng thử nghiệm 6 ha cây mắc ca và đang phát triển tốt, có khả năng nhân rộng ra nhiều xã ở vùng cao. Huyện cũng khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh phát triển rừng; ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu phát triển về giống cây trồng; quy hoạch khu vực chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các làng nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Huyện thực hiện giao đất, giao rừng, mở rộng diện tích rừng sản xuất, rừng lấy gỗ, góp phần tăng thu nhập cho đồng bào vùng cao, có vậy mới giảm nghèo bền vững...".
Để ứng phó với biến đổi khí hậu khắc nghiệt và thực trạng khai thác gỗ trái phép, nạn phá rừng làm nương, rẫy... ảnh hưởng cuộc sống người dân và môi trường thiên nhiên, mới đây, Huyện ủy Sơn Tây đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về “Bảo vệ và phát triển rừng bền vững; phục sinh các nguồn nước; bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường cuộc sống cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”.
Theo đó, huyện đẩy nhanh tiến độ hoàn thành việc giao đất, giao rừng, gắn với chủ thể quản lý, sử dụng hợp pháp, sản xuất có hiệu quả. Thực hiện chuyển đổi ba loại rừng hợp lý, bảo đảm phục sinh các nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái và tăng thu nhập cho đồng bào các xã vùng cao.
“Điều quan trọng khi chuyển đổi là phải có quy hoạch, cái nào chuyển đổi không ảnh hưởng tác động môi trường, vẫn giữ được nguồn nước thì cho chuyển đổi và khi chuyển đổi thì diện tích chuyển đổi phải thật sự phục vụ sản xuất cho người dân phát triển kinh tế.
Quy hoạch khu vực được phép chuyển đổi tập trung chủ yếu ở khu vực rừng phòng hộ ít xung yếu. Đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ, tránh việc tạo ra các kẽ hở nhằm lợi dụng vào chủ trương của Nhà nước để phá rừng”, Bí thư Huyện ủy Sơn Tây Đinh Kà Để phân tích.
Trước mắt, huyện Sơn Tây tiến hành quy hoạch vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung là một trong những tiêu chí để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp phát triển bền vững. Huyện triển khai đề án đầu tư trồng cây gỗ lớn lâu năm, có nguồn gốc bản địa trên các tuyến đường trong đô thị, đường liên huyện, đường tỉnh lộ ĐT 623, đường Trường Sơn Đông và đường khu vực trung tâm hành chính các xã trong huyện.
Các hộ đồng bào sử dụng một phần quỹ đất rừng của mình để trồng cây gỗ lớn, cây công nghiệp dài ngày. Huyện thực hiện phân định ranh giới quản lý đất rừng và bảo vệ chặt chẽ rừng phòng hộ, rừng đã quy hoạch đưa vào diện an toàn, bảo đảm độ che phủ rừng đạt hơn 65% vào năm 2020.
Giải quyết dứt điểm những vướng mắc trong tranh chấp đất đai, tình trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn cho nhiều tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trên cùng một đơn vị diện tích. Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa Hạt kiểm lâm, các Ban quản lý rừng và UBND các xã trong việc thực thi pháp luật bảo vệ rừng trên địa bàn; xử lý nghiêm các vụ việc khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép, xâm phạm đất rừng phòng hộ và đề phòng cháy rừng trong mùa khô.
Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng trồng thay thế trong kế hoạch đối với các chương trình, dự án thủy điện, thủy lợi và phí dịch vụ môi trường rừng, kinh phí cấp chứng chỉ rừng, bảo vệ rừng phòng hộ.
Nghiên cứu khoa học, thực nghiệm mô hình trồng cây dược liệu, cây nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp có giá trị kinh tế cao, phù hợp điều kiện sinh trưởng dưới tán rừng, từng bước hỗ trợ, chuyển giao cho các hộ dân thực hiện trên diện tích đất rừng được giao, bảo đảm rừng phát triển bền vững.
Huyện Sơn Tây đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết chuyên đề của Huyện ủy về bảo vệ và phát triển rừng bền vững... theo hướng nâng cao giá trị gia tăng giai đoạn 2015-2020. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào miền núi. (Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Danh lam thắng cảnh cấp quốc gia đặc biệt hồ Ba Bể (Bắc Cạn) cần phải được bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn cảnh quan, địa chất, địa mạo.
Tuy nhiên, thời gian vừa qua, do chính quyền địa phương quản lý lỏng lẻo, thậm chí vi phạm các quy định hiện hành nên đã để một cá nhân đồng loạt xây dựng tám nhà nghỉ kiên cố, xâm hại di tích nghiêm trọng.
Ông Nguyễn Văn Viện, thường trú ở tiểu khu 4, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể mua khu đất rộng gần 1.100 m2 tại thôn Cốc Tộc, nằm ở vùng đệm hồ Ba Bể. Năm 2015, UBND huyện Ba Bể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho ông Viện, trong đó có 200 m2 đất ở và gần 900 m2 đất trồng cây lâu năm, cây lâm nghiệp.
Đầu năm 2016, trên khu đất của mình, ông Viện đầu tư lớn, đồng loạt xây dựng cùng lúc tám căn nhà bê-tông cốt sắt, mỗi căn nhà rộng hàng trăm m2 với mục đích làm nhà nghỉ, cơ sở lưu trú đón khách du lịch.
Theo quy định, tại ba thôn vùng lõi, vùng đệm danh lam thắng cảnh cấp quốc gia đặc biệt hồ Ba Bể là: Pác Ngòi, Cốc Tộc và Bó Lù (thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể), nghiêm cấm việc mua, bán đất cho người từ bên ngoài vào xây nhà, cư trú, sinh sống để hạn chế gia tăng dân số, hạn chế xâm hại di tích.
Đằng này, chính quyền các cấp và cơ quan chức năng huyện Ba Bể lại làm thủ tục mua, bán đất, cấp sổ đỏ cho ông Viện được cho là vi phạm các quy định về Luật đất đai và Quy chế quản lý, bảo vệ, phát triển di tích hồ Ba Bể.
Trên cơ sở vi phạm Luật Di sản văn hoá, Luật Đất đai, Quyết định số 1925 của UBND tỉnh Bắc Cạn về Quy chế quản lý, bảo vệ và phát triển di sản thiên nhiên Vườn quốc gia Ba Bể, việc thi công xây dựng không đúng quy hoạch xây dựng được phê duyệt, không có giấy phép xây dựng, xây dựng công trình trong khu vực hồ Ba Bể mà không được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền nên ngày 12-9-2016, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể lập biên bản, yêu cầu ông Viện dừng thi công tám căn nhà, khi đó mới đổ xong phần phần sàn bê-tông.
Tuy nhiên, cơ quan chức năng không có biện pháp ngăn chặn, ông Viện không chấp hành mà tiếp tục xây dựng những căn nhà này, đến nay hầu hết các căn nhà đã xây dựng đến phần mái.
Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Bắc Cạn, Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan đã tiến hành kiểm tra. Sau đó, Sở Xây dựng Bắc Cạn có báo cáo, đề xuất UBND tỉnh có hình thức xử lý. UBND tỉnh Bắc Cạn chỉ đạo, UBND huyện Ba Bể phối hợp với Vườn quốc gia Ba Bể yêu cầu ông Nguyễn Văn Viện phải tháo dỡ tám căn nhà nêu trên để trả lại hiện trạng như ban đầu.
Đồng thời, UBND huyện Ba Bể và các sở, ngành liên quan phải rà soát việc mua, bán đất tại ba thôn vùng đệm, vùng lõi, lập lại trật tự xây dựng tại đây nhằm bảo vệ, bảo tồn cảnh quan danh lam thắng cảnh di tích quốc gia đặc biệt hồ Ba Bể. (Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Tỉnh Bắc Cạn có khoảng 400 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có ba loại rừng gồm: Rừng trồng, rừng tự nhiên và rừng phòng hộ.
Do việc phân chia, quy hoạch ba loại rừng không hợp lý, không phù hợp với thực tiễn gây thiệt hại cho Nhà nước, kìn hãm phát triển kinh tế rừng.
Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn vừa tiến hành kiểm tra việc cấp phép khai thác lâm sản của UBND xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới cho thấy những bất cập trong việc quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn hiện nay. UBND xã Tân Sơn cấp 15 giấy phép khai thác hơn 211 khối gỗ rừng trồng, gồm các loại gỗ xoan, mơ, keo, bồ đề, sao trên diện tích gần 50 ha rừng trồng, trên thực tế có hàng chục ha nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ.
Trong số gần 50 ha rừng trồng mà UBND xã Tân Sơn cấp phép khai thác, khi so sánh trên bản đồ, có hàng chục ha là rừng phòng hộ. Thực tế, từ nhiều năm nay, nhân dân địa phương đã trồng gừng, canh tác cây màu trên hàng chục ha từ lâu được quy hoạch là rừng phòng hộ.
Như thế có thể thấy rằng, mặc dù đã quy định là rừng phòng hộ, nhưng không có rừng nên không còn chức năng phòng hộ. Mặt khác, theo quy định, hằng năm, Nhà nước vẫn chi trả tiền khoán khoang nuôi bảo vệ rừng phòng hộ, nhưng trên thực tế không còn rừng, không có chức năng phòng hộ là sự lãng phí lớn.
Trong các cuộc tiếp xúc với cử tri của đại biểu HĐND các cấp thời gian qua, nhân dân các địa phương đều cho biết, quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tế. Cụ thể là, ở nhiều nơi không còn rừng, rừng ở khu vực đó không có chức năng phòng hộ nhưng vẫn quy hoạch là rừng phòng hộ.
Rừng ở nhiều nơi có chức năng phòng hộ thì lại quy hoạch là rừng sản xuất, điển hình là ba xã phía tây huyện Chợ Mới, nhiều cánh rừng có chức năng phòng hộ, cung cấp nước tưới phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân thì lại quy hoạch là rừng sản xuất, làm nhân dân bức xúc.
Ngược lại, trên diện tích đất trống, đồi núi trọc từ 10 đến 15 năm trước, nhân dân đã trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng lên xanh tốt, trên thực tế, đó là rừng trồng của nhân dân và dân được phép khai thác. Nhưng sau này quy hoạch ba loại rừng, cơ quan chức năng lại khoanh là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ nên chỉ được phép khai thác tỉa thưa đối với rừng tự nhiên, không được khai thác rừng phòng hộ làm nhân dân bất bình.
Như vậy có thể thấy rằng, việc quy hoạch rừng tự nhiên, rừng phòng hộ không đúng với thực tế mà hằng năm Nhà nước vẫn phải chi trả tiền khoán bảo vệ, khoán khoanh nuôi phục hồi rừng sẽ gây thiệt hại lớn cho Nhà nước. Mặt khác, quy hoạch đất, rừng sản xuất thành rừng tự nhiên, rừng phòng hộ không phù hợp với thực tế sẽ kìm kìm hãm phát triển kinh tế rừng, làm nhân dân bức xúc.
Khắc phục những bất cập này, tỉnh Bắc Cạn cần rà soát quy hoạch ba loại rừng sao cho chính xác, phù hợp với thực tiễn. Những năm qua, địa phương đã thực hiện việc rà soát quy hoach ba loại rừng, nhưng vẫn bộc lộ những bất cập như nêu trên là do, việc đo đạc, quy hoạch chủ yếu được xác định trên máy móc, bản đồ nên không phù hợp với thực tế.
Việc quy hoạch lần này, cần thực hiện khảo sát thực địa, lấy ý kiến nhân dân, chính quyền cơ sở để xác định đâu là rừng tự nhiên, đâu là rừng phòng hộ, rừng sản xuất một cách rõ ràng, minh bạch.
Làm như vậy, sẽ góp phần tích cực bảo vệ và phát triển rừng, thúc đẩy kinh tế rừng phát triển. Cụ thể là, khi đã có quy hoạch khu vực nào là rừng phòng hộ, nhưng trên thực tế không còn rừng, hoặc rừng không còn có khả năng phòng hộ thì trồng rừng, bảo vệ để khôi phục chức năng phòng hộ, vì lâu nay Nhà nước vẫn đầu tư trồng rừng phòng hộ, tránh tình trạng quy hoạch không chính xác dẫn đến thực hiện trồng rừng, khoán bảo vệ, khoanh nuôi không đúng, gây lãng phí ngân sách.
Mặt khác, diện tích nào được quy hoạch là rừng tự nhiên, trên thực tế không còn rừng, không có chức năng phòng hộ thì chuyển sang làm đất rừng sản xuất để phát triển kinh tế lâm nghiệp, giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân. (Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Nghề trồng rừng đã mang lại thu nhập chính cho hàng trăm hộ dân xã miền núi Yên Bình. Điển hình ông Nguyễn Ngọc Oanh.
Năm 2005, khi đất đai vùng đồi núi Yên Bình còn ít người nhận khoán, do hiệu quả kinh tế thấp, ông Oanh đẫ mạnh dạn nhận khoán lại của một số cá nhân, hộ gia đình để mở rộng diện tích trồng rừng.
“Lúc đầu nhận khoán, đồi trống, núi trọc, cây cỏ mọc hoang dại, gia đình tôi tốn rất nhiều công sức dọn sạch để trồng keo, bạch đàn. Chưa hết, thời điểm cây rừng mới trồng bị trâu bò giẫm phá, một số hộ dân sống xung quanh chặt hạ cây làm củi nên khá vất vả để bảo vệ. Nhưng bù lại, đất rừng ở huyện Thạch Thất màu mỡ, cây cứ vậy mà lớn, rừng ngày một thêm xanh" - ông Oanh chia sẻ.
Vừa học hỏi kinh nghiệm và bắt tay vào ươm cây giống, sau 7 năm chăm sóc, gia đình ông Nguyễn Ngọc Oanh đã thu họach lứa keo, bạch đàn đầu tiên. Tính ra, mỗi héc ta đất trồng keo đem lại thu nhập cho gia đình 70 triệu đồng. So với các ngành kinh tế và vốn đầu tư lớn, nếu chia đều cho 7 năm chăm sóc, trung bình mỗi năm, gia đình ông Oanh cũng chỉ thu được 10 triệu đồng/ha, hiệu quả kinh tế thấp.
Thấy đất tốt, phù hợp với nhiều loại cây rừng, ông Oanh quyết định chuyển sang trồng rừng sinh thái với các loại cây cho giá trị kinh tế cao hơn.
Thuận lợi là thời điểm này, Sở NN&PTNT Hà Nội triển khai đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái và gia đình ông Oanh được chính quyền địa phương tạo điều kiện tham gia dự án Theo dó, toàn bộ diện tích rừng của gia đình ông đã chuyển sang trồng trám đen, lát, dổi, mít... Ngoài ra, gia đình ông được Nhà nước hỗ trợ 100% cây giống (hơn 1 vạn cây) và 50% số lượng phân bón (khoảng 3 tấn) để cải tạo đất.
Sau 3 năm trồng, chăm sóc, cánh rừng sinh thái của gia đình ông Oanh đã lên xanh ngút mắt. Những thân cây khi mới “đặt” xuống đất nhỏ xíu nay đã vươn cao vưựt quá đầu người. Tán cây xòe rộng, cây nọ nối cây kia phủ kín màu xanh khắp các sườn đồi. Ông Oanh cho hay: Toàn bộ diện tích rừng sinh thái đã tròn 2 tuổi; trồng trám ghép từ 3 đến 5 năm sẽ cho thu hoạch quả; cây dổi và mít cũng vậy, nếu giống chuẩn, chăm sóc tốt thì từ 3 đến 5 năm sẽ được thu hạt và quả làm vốn “lấy ngắn nuôi dài”...
Để bảo vệ rừng, ông Nguyễn Ngọc Oanh đã thuê 2 lao động trông nom, định kỳ phát dọn thực bì để hạn chế nguy cơ cháy rừng xảy ra, đặc biệt trong những ngày hanh khô hoặc nắng nóng kéo dài; ngăn trâu bò vào rừng phá hoại.
Hăng năm, gia đình ông Oanh đều được chính quyền địa phương tạo điều kiện tham gia các lớp tập huấn bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt là tập huấn theo Dự án tuyên truyền, xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỷ tuật phòng cháy chữa cháy trên địa bàn thành phố do Sở NN&PTNT Hà Nội phối hợp với UBND huyện Thạch Thất triển khai. Những kiến thức được tập huấn được ông Oanh áp dụng vào thực tiễn trồng và bảo vệ rừng.
Bao quanh khu rừng của gia đình, ông bố trí đào ao với tổng diện tích hơn 2ha, vừa để lấy nước chữa cháy rừng khi cần và tận dụng diện tích mặt nước để thả cá. Kết hợp nguồn thu từ trồng rừng, chăn nuôi dưới tán rừng, không những tạo thêm việc làm cho nhiều lao động, kinh tế của gia đình ông Nguyễn Ngọc Oanh ngày càng khấm khá.
Ông Oanh cho biết, muốn bảo vệ rừng hiệu quả thì người trồng rừng phải có lợi ích, phải sống được từ rừng. Nếu trồng rừng chỉ để khai thác gỗ thì hiệu quả sẽ không cao, rừng sẽ bị chặt hạ và tỷ lệ phủ xanh giảm dần.
Do vậy, ông Oanh đang nuôi ý tưởng sẽ phát triển khu rừng thật xanh, sạch, phát triển đa dạng sinh học trong rừng để nơi đây trở thành điểm tham quan lý tưởng cho các em học sinh và những người có nhu cầu tìm hiểu về rừng. Du lịch sinh thái từ rừng là điều hoàn toàn có thể bởi Yên Bình có đường giao thông thuận lợi lại nằm trong quần thể du lịch xung quanh Vườn Quốc gia Ba Vì.
Rất mong được cơ quan chức năng tạo điều kiện về thủ tục để ý tưởng khai thác tiềm năng sinh thái về rừng sẽ trở thành hiện thực. (Hà Nội Mới 5/11) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 147/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về chinh sách chi trả dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010.
Điểm đáng lưu ý trong Nghị định 147 so với Nghị định 99 là Chính phủ đã điều chỉnh tăng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cụ thể:
Đối với các cơ sở sản xuất thủy điện: Mức chi trả tiền dịch vụ từ 20 đồng/kwh tăng lên thành 36 đồng/kwh. Sản lượng điện để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là sản lượng điện của các cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện. Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kWh) nhân với mức chi trả DVMTR tính trên 1kWh (36 đồng/kWh).
Đối với cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch: Mức chi trả tiền dịch vụ từ 40 đồng/m3 tăng lên thành 52 đồng/m3. Sản lượng nước để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là sản lượng nước của các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch bán cho người tiêu dùng. Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng nước thương phẩm trong kỳ hạn thanh toán (m3) nhân với mức chi trả DVMTR tính trên 1m3 nước thương phẩm (52 đồng/m3).
Thêm vào đó, Nghị định 147 còn sửa đổi bổ sung thêm quy định về việc sử dụng tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh. Theo đó, phần kinh phí trích không quá 5% so với tổng số tiền ủy thác chuyển về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, cộng với các nguồn kinh phí hợp pháp khác ngoài việc dự phòng, hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn được giao, khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài trong trường hợp có thiên tai, khô hạn còn được sử dụng trong trường hợp mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên cùng một đơn vị diện tích thấp hơn mức chi trả của năm trước liền kề.
Đối với diện tích rừng có mức chi trả dịch vụ môi trường rừng lớn hơn 2 lần mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho khoán bảo vệ rừng, tùy theo đối tượng trên cùng địa bàn cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh sẽ đưa ra quyết định với mức điều tiết phù hợp.
Đối với số tiền còn lại dùng để chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng, Nghị định 147 quy định:
Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng ổn định lâu dài; chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư vốn trồng rừng trên đất lâm nghiệp thì được hưởng 100% số còn lại trên;
Chủ rừng là tổ chức được coi là nguồn thu của chủ rừng và được quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật về tài chính phù hợp đối với từng loại hình tổ chức. Trường hợp chủ rừng có thực hiện khoán bảo vệ rừng, chủ rừng được sử dụng không quá 10% tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng trên diện tích khoán bảo vệ rừng để thực hiện công tác quản lý, tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục môi trường; số tiền còn lại phải thanh toán cho hộ nhận khoán.
Những nôi dung được điều chỉnh nêu trên được áp dụng thực hiện kể từ ngày 01/01/2017. (Biên Phòng 5/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các địa phương trong khu vực miền Bắc đã trồng tập trung hơn 97.000 ha rừng.
Đây là một trong những con số đáng chú ý được đưa ra trong hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2016 diễn ra ngày 4/11 tại tỉnh Lào Cai.
Để thực hiện thành công đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, hội nghị đã nhấn mạnh cần phải tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất. Phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, những giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng cũng được đặc biệt quan tâm, nhất là khi từ đầu năm, trên địa bàn các tỉnh phía Bắc đã xảy ra 4.600 vụ vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Diện tích rừng bị thiệt hại lên đến hơn 2.700 ha, tăng hơn 300% so với cùng kỳ, trong đó nguyên nhân chính là do các vụ cháy rừng gây ra. (VTV 5/11) đầu trang(
Địa bàn Nghệ An hiện nay có khá nhiều cơ sở tư nhân, hộ gia đình sản xuất giống cây lâm nghiệp không phép. Hàng năm “tung” ra thị trường sản phẩm cây giống kém chất lượng, dẫn đến hệ lụy nhiều hộ trồng rừng tiền mất, tật mang.
Chị Nguyễn Thị Huyền tại xóm Mỹ Hòa, xã Hòa Sơn (Đô Lương) cho biết: Gia đình tôi đã làm cây giống được 2 năm nay, mỗi năm xuất bán 30 vạn cây giống các loại chủ yếu keo lai dâm hom. Tuy nhiên, chưa có giấy phép sản xuất cây giống. Để sản xuất được cây giống, chúng tôi lấy giống “mô” gốc ở Quảng Ninh về để dâm hom. Giá cây giống chúng tôi chỉ bán 700 đồng/cây. Chị Huyền còn nói: Về kỹ thuật dâm hom, chúng tôi chủ yếu tự mày mò làm chứ không được đào tạo ở đâu. Cứ miễn sản xuất cây giống tốt là được.
Kế bên là vườn cây giống của cơ sở sản xuất cây giống Hiền - Thanh với quy mô sản xuất hơn 60 vạn cây/năm. Vườn ươm rộng khoảng gần 1.000 m2 được đóng cọc bê tông lưới sắt làm tường rào. Tại đây có nhiều diện tích đã được xuất bán cho cây trồng rừng vụ thu, hiện đang điều động công nhân làm đất trồng mới. Chủ cơ sở này cũng công nhận là chưa có giấy phép đăng ký sản xuất, nhưng khi xuất bán hàng cần có hóa đơn đỏ thì chúng tôi vẫn có. Được biết địa bàn xã Hòa Sơn có 5 cơ sở sản xuất cây giống với quy mô lớn.
Theo anh Phạm Văn Hùng, cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương, hàng năm, Đô Lương cung ứng ra thị trường khoảng trên 2 triệu cây giống lâm nghiệp các loại như keo cành, keo tai tượng. Để sản xuất giống cây lâm nghiệp, cây mô để dâm hom mua ở Bình Định đảm bảo chất lượng được Chi cục Kiểm lâm cấp giấy chứng nhận vườn ươm đầu dòng. Các cây giống mô chỉ sử dụng trong 5 năm, mới đảm bảo chất lượng cây giống, trong khi một số hộ dân ở ngoài vẫn sử dụng giống mô hơn 10 năm dẫn đến tình trạng cây giống kém chất lượng.
Đối với hạt giống cây lâm nghiệp, đơn vị khi mua có nguồn gốc rõ ràng, có hóa đơn, 1 kg hạt giống ngoại keo có giá 8 triệu đồng, trong khi bán trôi nổi 200.000 đồng/kg hạt. Trong quá trình sản xuất cây giống ngành chức năng kiểm tra, phải có tờ trình nghiệm thu, kiểm tra và cấp chứng chỉ lô cây giống truớc khi xuất trồng rừng.
Địa bàn xã Tân Hương (Tân Kỳ) nổi tiếng là nơi sản xuất giống cây lâm nghiệp. Tại đây, giá cây giống rẻ đến bất ngờ, chỉ từ 400 - 500 đồng cây keo. Chị Nguyễn Thị Cúc ở xóm 6, xã Tân Hương lý giải: Mỗi năm cơ sở tôi sản xuất được từ 10 - 15 vạn cây giống các loại, chủ yếu là keo dâm hom. Do giá rẻ hơn các nơi khác là vì chúng tôi làm không có giấy phép đăng ký, và không phải chịu các chi phí khác nên bán rẻ hơn.
Chúng tôi hỏi: Thế chị mua cây mô về để dâm hom có nguồn gốc, hóa đơn không? Chị Cúc nói: Chúng tôi mua cây mô ở thị trường phía Bắc, nhưng không có chứng nhận nguồn gốc, hóa đơn. Mua một số hạt giống thì có giấy hóa đơn đỏ.
Ông Chu Quang Hợi - Chủ tịch UBND xã Tân Hương nói thêm: Địa bàn xã có trên 300 hộ làm nghề sản xuất giống cây lâm nghiệp, nhưng hầu hết chưa có giấy phép đăng ký sản xuất giống cây và các thủ tục khác. Nhờ từ nghề này mà nhiều hộ dân ở xã Tân Hương thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững chúng tôi đang có ý định thành lập làng nghề sản xuất cây giống và cần được Nhà nước hướng dẫn các thủ tục để người dân chấp hành sản xuất cây giống đúng với quy trình. Ông Nguyễn Bá Thức - Trưởng phòng Nông nghiệp Tân Kỳ cho biết: Hiện nay, huyện đang kiểm tra, rà soát và vận động nhân dân cần hoàn thiện các thủ tục để sản xuất cây giống đúng với quy trình, đảm bảo chất lượng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, trong năm 2016 toàn tỉnh trồng trên 16.030 ha rừng, tương đương khoảng 38 triệu cây giống, có khoảng 17 triệu cây chưa thể kiểm soát về chất lượng, chủ yếu là do các hộ dân chưa có giấy phép đăng ký.
Ông Hoàng Quốc Việt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho biết: Để nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp, Sở NN &PTNT đã có Công văn số: 1972/SNN.KL ngày 15/7 về việc "Tăng cường công tác kiểm soát, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp". Yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Phòng NN & PTNT tăng cường kiểm tra, giám sát đối với tổ chức, cá nhân, hộ gia đình kinh doanh, sản xuất cây giống trồng rừng phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Phải lấy vật liệu giống từ cây đầu dòng hoặc vườn cây đầu dòng đã được công nhận, gieo ươm phải lấy hạt giống từ cây mẹ, lâm phần tuyển chọn, từng giống chuyển hoá, rừng giống trồng hoặc vườn giống đã được công nhận. Kiên quyết không cho phép sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc, xuất xứ, tiêu hủy tất cả các lô giống khi phát hiện không rõ nguồn gốc; đồng thời chịu trách nhiệm kiểm tra sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn quản lý.
Trường hợp đơn vị không tự sản xuất cây giống mà phải mua ngoài để trồng rừng, yêu cầu đơn vị báo cáo cụ thể về số lượng, loài cây và địa điểm mua cây giống bằng văn bản về Sở NN & PTNT; đồng thời được Chi cục Kiểm lâm kiểm tra chất lượng trước khi xuất trồng. (Báo Nghệ An 4/11) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 147/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó điều chỉnh mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất thủy điện.
Theo đó, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất thủy điện tăng từ 20 đồng/kwh lên 36 đồng/kwh.
Cụ thể, Nghị định số 147/2016/NĐ-CP quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm.
Sản lượng điện để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là sản lượng điện của các cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện.
Số tiền phải chi trả dịch vụ môi trường rừng trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kWh) nhân với mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tính trên 1kWh (36 đồng/kWh). (Tạp Chí Tài Chính 4/11)
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đăk Nông Lê Diễn cho rằng, Công ty Long Sơn "đứng trên pháp luật" khi tự ý san ủi đất của người dân, là nguyên nhân xảy ra vụ nổ súng khiến 3 người chết, 16 người bị thương.
Việc đối thoại giữa người dân và công ty này đã được tỉnh nhiều lần chỉ đạo. Huyện cũng nhiều lần mời các bên lên để thỏa thuận. Tuy nhiên, phía công ty cũng "cù nhầy" về mức hỗ trợ với người dân nên vụ việc kéo dài. Trước mắt, tỉnh tập trung vào đảm bảo tình hình an ninh trật tự, an dân và tiến tới thành lập các thôn, ban tự quản vì hầu hết người dân sống ở khu vực này đều là người ở các tỉnh khác đến.
Thường trực Tỉnh ủy đang xem xét, giao cơ quan liên quan làm rõ trách nhiệm các cá nhân, địa phương đối với quá trình giải quyết vụ việc liên quan đến Công ty Long Sơn, dẫn đến vụ án đau lòng. Các cán bộ liên quan cũng phải kiểm điểm trách nhiệm của mình để có hướng xử lý. Vụ việc cũng được Tỉnh ủy báo cáo cho Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Qua xác minh các biểu hiện buông lỏng, thậm chí làm rõ có việc "bảo kê", có lợi ích gì với doanh nghiệp hay không. Sau đó sẽ xử lý nghiêm trách nhiệm cán bộ liên quan. Sự việc vừa qua là bài học cho công tác quản lý, bám sát địa bàn, lắng nghe nguyện vọng của người dân khi tranh chấp chưa được giải quyết dứt điểm.
Phải khẳng định là ngay từ khi giao đất năm 2008, UBND tỉnh đã yêu cầu Công ty Long Sơn thỏa thuận với người dân đang canh tác. Tuy nhiên, công ty này cứ hứa hẹn rồi không thực hiện. Để xảy ra vụ án trên, trước tiên cái sai của Công ty Long Sơn là tự ý san ủi mà không báo cáo cho chính quyền địa phương. Thứ hai, công ty không có quyền cưỡng chế đất dân đang làm rẫy, dù đó có là đất lấn chiếm. Trong khi tỉnh, huyện chỉ đạo ngưng thì công ty này không tuân thủ các quy định pháp luật về đất đai. Nói cụ thể hơn là coi thường pháp luật và các chỉ đạo giải quyết của ngành chức năng.
Tỉnh ủy đã giao cho công an tỉnh khẩn trương điều tra làm rõ các hành vi vi phạm liên quan đến Công ty Long Sơn. Bởi công ty này đã tự ý tổ chức người để cưỡng chế san ủi, lấy đất dân đang trồng điều, cà phê là bậy. Họ còn sử dụng lao động vị thành niên.
Trong tháng này, đoàn công tác do Ban Thường vụ Tỉnh ủy chủ trì cùng với ban ngành, tiếp tục vào khảo sát tình hình khu vực người dân sinh sống tại các dự án ở xã Quảng Trực, Đăk Ngo (huyện Tuy Đức) để có phương án ổn định dân cư. Đồng thời, thành lập ban tự quản ở các khu vực này, lập trạm y tế và tiến tới lập xã mới để ổn định cuộc sống, sản xuất của người dân và doanh nghiệp trên địa bàn.
Thực tế thì cuối năm 2014, tỉnh cũng đã có khảo sát và có đề án về ổn định dân cư đang canh tác trên đất lâm nghiệp ở hai xã này.
Ngay từ ban đầu, việc giao dự án cho công ty để trồng và bảo vệ rừng là đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, phía công ty đã làm sai trong quá trình thực hiện dự án. Vì UBND tỉnh khi giao dự án đã yêu cầu công ty có trách nhiệm hỗ trợ theo quy định đối với các hộ dân. Tỉnh đang triển khai thu hồi nhiều diện tích của công ty này, chỉ để lại vài trăm ha đã triển khai dự án. Phần còn lại để phân bố cho người dân theo đề án ổn định dân cư, mỗi hộ chưa có đất sẽ được cấp 1.000 m2 đất thổ cư, 2 ha đất sản xuất và 30 ha đất rừng để khoanh nuôi bảo vệ và sản xuất.
Ngoài ra, tỉnh ủy còn giao UBND tỉnh chỉ đạo kiểm tra, rà soát tất cả dự án, thu hồi những dự án không hiệu quả, có đất dân canh tác để bố trí lại cho dân (những người không có đất). (Pháp Luật TP.HCM 4/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một du khách người Australia đã bị voi hoang dã tấn công khi đang đi nghỉ tại resort ở Phuket, Thái Lan. Theo Fairfax, ông Chan Yun, 62 tuổi, đến từ Sydney hiện làm việc tại Singapore gặp chấn thương khá nặng ở xương sườn, cột sống và thận, sau khi bị con voi vật ngã và tìm cách giẫm lên.
Tai nạn xảy ra khi ông đang đi dạo trên bãi biển Mai Khao hôm 1/11.
“Hiện tình trạng du khách đã ổn định tại Bệnh viện Phuket”. Ông Sarawut Sisakukam, Chủ tịch quận Mai Khao trả lời The Straits Times. Theo Fairfax, một người bạn của gia đình cho biết ông Chan nhìn thấy con voi khoảng 4 tuổi di chuyển quanh khu vực không có rào chắn trên bãi biển Mai Khao, gần khu nghỉ mát 5 sao mà ông Chan Yun ở lại.
Trích lời các bác sĩ trong phòng chăm sóc đặc biệt, ông Chan cần phải quay lại Sydney để phẫu thuật bởi ông sẽ phải trả khoản chi phí rất lớn do bảo hiểm du lịch bị từ chối chi trả ở Bangkok. Gia đình ông Chan sau đó cũng đưa ra cảnh báo với du khách trong việc tương tác với động vật hoang dã. Cảnh sát Thái Lan hiện tiếp tục điều tra về cuộc tấn công. (VnExpress 4/11) đầu trang(
Tiếng động “bíp bíp” được nghe thấy ở eo biển Fury và Hecla, gần Bắc Cực và là nơi sinh sống của nhiều sinh vật biển, Guardian đưa tin.
Lực lượng vũ trang Canada vừa điều động một phi hành đoàn đi điều tra một âm thanh bí ẩn dường như xuất hiện dưới đáy biển.
Các thợ săn ở một cộng đồng hẻo lánh ở vùng Bắc Cực của Canada đang rất lo ngại về tiếng động “bíp bíp” này. Họ đã nghe thấy âm thanh kì lạ ở eo biển Fury và Hecla.
Paul Quassa, một chính trị gia địa phương, nói với CBC rằng âm thanh này dường như xuất phát từ đáy biển và đang xua đuổi nhiều loại động vật đi khỏi khu vực săn bắn. Đó là một vùng nước rộng mở, được bao quanh bởi các tảng băng và là nơi ở của nhiều động vật biển có vú.
"Trong mùa hè, gần như không có con vật nào. Điều này thật đáng ngờ”, ông nói.
Một số báo cáo đã được gửi tới quân đội. Sau đó, một máy bay tuần tra CP-140 Aurora được điều động đến khu vực vào ngày 1.11. Quân đội sử dụng một chương trình giám sát được thiết kế để "phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa và loại bỏ các mối đe dọa nhằm vào Canada hoặc lợi ích của Canada".
Trong một tuyên bố, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Canada, Ashley Lemire cho biết: "Các lực lượng vũ trang Canada đã biết thông tin về âm thanh bất thường ở eo biển Fury và Hecla. Phi hành đoàn đã thực hiện nhiều cuộc tìm kiếm đa cảm biến khác nhau trong khu vực, trong đó có cuộc tìm kiếm âm thanh kéo dài 1,5 giờ mà chưa tìm thấy điều gì bất thường.
"Ngoài ra, phi hành đoàn đã tìm thấy 2 đàn cá voi và 6 con hải mã trong khu vực. Tại thời điểm này Bộ Quốc phòng không có ý định điều tra thêm."
Tuy nhiên, điều này cũng không ngăn được người dân tiếp tục đưa ra giả thuyết về nguồn gốc của âm thanh. Nhiều người cho rằng đây là việc làm của một công ty khai thác khoáng sản tại địa phương. Họ thường dùng sóng sonar để làm bản đồ chi tiết dưới đáy biển trong quá trình tìm kiếm dầu và khí đốt. Tuy nhiên, Tập đoàn khai thác mỏ Baffinland, công ty từng khai thác ở gần đó, nói với CBC rằng họ không có thiết bị nào dưới nước trong thời gian này.
Những người khác lại nghĩ âm thanh xuất phát từ các nhà hoạt động Greenpeace (Tổ chức hòa bình xanh). Greenpeace nổi tiếng nhất vì những chiến dịch chống lại việc săn bắt cá voi. Họ bị nghi ngờ tạo ra những âm thanh này để xua đuổi động vật hoang dã khỏi khu vực săn bắn, tránh xa các thợ săn. Đây là lời cáo buộc mà tổ chức Greenpeace đã phủ nhận. (Dân Việt 4/11) đầu trang(
Các nhà khoa học đang phát hiện được nhiều đột biến ở các loài cá, có thể là bất thường gen do các hoạt động đánh bắt quá mức.
Cá mập 2 đầu nghe như một điều bịa đặt do phim ảnh tạo ra, nhưng chúng thật sự tồn tại và xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp thế giới.
Vài năm trước ở ngoài khơi Florida, các ngư dân đã bắt được một con cá mập đầu bò, trong tử cung của nó có chứa một thai nhi 2 đầu. Năm 2008, một ngư dân khác cũng phát hiện một phôi thai cá mập xanh hai đầu ở Ấn Độ dương.
Và một nghiên cứu năm 2011 đã mô tả về một cặp cá mập song sinh dính liền bị bắt ở Vịnh thuộc California và Tây bắc Mexico. Trưởng nhóm nghiên cứu – Felipe Galván-Magaña, công tác tại Viện Bách khoa Quốc gia, Mexico cho biết: theo ghi nhận, cá mập xanh có nhiều thai nhi hai đầu nhất vì chúng mang rất nhiều con con – khoảng 50 con một lúc.
Theo một nghiên cứu trên tạp chí sinh học về các loài cá Journal of Fish Biology, mới đây, các nhà khoa học Tây Ban Nha đã xác định một phôi thai 2 đầu của loài cá mập mèo Đại Tây Dương có đuôi hình răng cưa. Trong khi nuôi cá mập con để phục vụ cho các thí nghiệm y học, nhóm nghiên cứu đã phát hiện thấy một phôi thai bất thường khi nhìn xuyên qua một quả trứng cá mập.
Con bê có hai khuôn mặt được cho là con vật mang có biến dị di truyền hiếm gặp sống lâu nhất trên thế giới. Con bê có tên Lucky này được hơn 42 ngày tuổi và đã sống sót lâu hơn dự kiến rất nhiều. Rất ít động vật có hai khuôn mặt có thể sống sót đến tuổi trưởng thành vì mắc bệnh do các bất thường về thể chất và thần kinh gây ra. Người chủ của con bê này cho biết, may mắn là cho đến giờ Lucky dường như vẫn đang rất khỏe mạnh.
Phôi cá mập mèo hai đầu không thường xuyên xuất hiện, đó là mẫu vật đầu tiên được biết đến của một loài cá mập noãn sinh – cá mập đẻ trứng.
Các nhà nghiên cứu đã mở quả trứng này ra để nghiên cứu, và trưởng nhóm nghiên cứu - Valentín Sans-Coma không chắc rằng liệu con vật bị biến dạng này có thể sống sót hay không. Bởi vì đây là trường hợp đầu tiên phát hiện ở loài các mập đẻ trứng.
Con người mới phát hiện được rất ít cá mập 2 đầu, vì vậy thật khó để có thể biết được nguyên nhân đằng sau sự đột biến này
Sans – Coma và các đồng nghiệp cho biết, có vẻ như rối loạn di truyền là nguyên nhân chính đáng nhất gây ra đột biến hai đầu ở con cá mập mèo này, vì có khoảng 800 phôi thai được nuôi cấy. Để thu được những hiểu biết chính xác nhất, những quả trứng này không hề được tiếp xúc với bất cứ nguồn nhiễm trùng, hóa chất hoặc tia xạ nào.
Tuy nhiên, dị tật ở các con cá mập hoang dã thì có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm nhiễm vi – rút, rối loạn trao đổi chất, ô nhiễm, hoặc do khai thác quá mức dẫn đến giao phối cận huyết làm cạn kiệt gen, và những bất thường do di truyền.
Trong một nghiên cứu khác gần đây, nhà khoa học hải dương Nicolas Ehemann đã kiểm tra 2 mẫu vật như vậy: một con cá mập nhám mắt nhỏ và một con cá mập xanh do các ngư dân bắt được ở ngoài khơi đảo Margarita của Venezuela. Những con vật không thể sống sót này là những con cá mập hai đầu đầu tiên được tìm thấy ở vùng biển Caribe.
Ehemann – một học viên thạc sĩ ở Viện Bách khoa quốc gia ở Mexico tin rằng: nếu hiện tương 2 đầu phổ biến trong tự nhiên thì việc đánh bắt quá mức có thể là một thủ phạm lớn vì hoạt động này làm thu hẹp nguồn gen.
Galván-Magaña đã từng nhìn thấy những con cá mập kỳ lạ khác, trong đó có một con cá mập một mắt bị bắt ở ngoài khơi Mexico năm 2011, con cá này chỉ có duy nhất một con mắt nằm ở phía trước đầu và vẫn hoạt động bình thường. Hiện tượng này là dấu hiện của một tình trạng bẩm sinh gọi là hiện tượng một mắt - cyclopia, xảy ra ở một số loài động vật, trong đó có cả con người. (Dân Trí 5/11) đầu trang(
Người dân ở một ngôi làng miền tây Ấn Độ nhốt con báo vào lồng và thiêu sống để trả thù cho bé gái 8 tuổi bị nó vồ chết.
Con báo tấn công Nikita Vasava khi cô bé đang trên đường ra đồng ở làng Vadigam, bang Gujarat hôm 2/11, theo BBC. Gadhvi, một quan chức kiểm lâm địa phương cho biết con báo đã bị sập bẫy vài giờ sau khi cô bé qua đời.
"Chúng tôi đã đặt 7 chiếc bẫy lồng quanh làng và bắt được con vật. Tuy nhiên, người dân địa phương vẫn hết sức tức giận, ném xăng vào lồng thiêu sống nó và đuổi nhân viên kiểm lâm đi", Gadhvi cho biết.
Trong những năm gần đây, các cuộc đụng độ giữa người và động vật hoang dã thường xuyên xảy ra tại Ấn Độ. Hồi tháng 7, người dân làng Rojmal, bang Gujarat đã đánh và ném đá tới chết một con báo.
Gujarat là nơi sinh sống của gần 1.400 con báo, là bang có số lượng báo nhiều thứ hai ở Ấn Độ. Hơn một phần ba số báo hoang này sống gần nơi con người cư trú. Năm ngoái, bang này có hơn 10 người, phần lớn là nông dân, chết và hơn 100 người bị thương trong các vụ báo tấn công.
Các nhà bảo tồn động vật cảnh báo số vụ đụng độ giữa người và thú có thể tăng lên vì các hoạt động khai thác của con người làm thu hẹp môi trường sống của động vật hoang dã. (VnEpress 5/11) đầu trang(
Một con sóc đỏ điên cuồng tấn công vào các cư dân tại một viện dưỡng lão ở Florida, Mỹ và làm 3 người bị thương trước khi bị ném ra ngoài.
Nhân viên tại nhà dưỡng lão Sterling ở Deltona, Florida, đã gọi 911 để báo cáo rằng một số người đã bị một con sóc tấn công và cần trợ giúp y tế ngay lập tức.
Con sóc cắn những người ngồi bên ngoài tòa nhà và khi con vật không chịu buông tha, những người này đã chạy vào phòng sinh hoạt.
Khi đã vào bên trong, con vật càng trở nên hung hăng hơn, bảo vệ ở đây cho biết. Trước khi bị ném ra ngoài, con sóc đã kịp làm cho ít nhất 3 người, 2 thành viên và 1 nhân viên của viện dưỡng lão, bị thương.
Trả lời trên Washington Post, Brian Fawkes, phát ngôn viên của công ty quản lý nhà dưỡng lão Sterling, cho biết cả 3 nạn nhân đã được đưa tới bệnh viện và tiêm phòng dại. Sau đó ông này lại nói rằng họ chỉ phải điều trị vết cắn.
Fawkes cho biết thêm các nạn nhân bị chấn động nhưng vẫn khá ổn. Ngoài ra, các tấm biển cảnh báo người dân cẩn thận với các con sóc trong khu vực đã được dựng lên bên ngoài.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) cảnh báo rằng vết cắn của động vật hoang dã phải được điều trị như đối với bệnh dại. Tuy nhiên, CDC cho biết sóc thường được cho là ít gây ra rủi ro.
Viện dưỡng lão Sterling được mô tả giống như một khu nghỉ dưỡng cao cấp dành cho người cao tuổi với các hoạt động giải trí đa dạng, cơ sở vật chất hiện đại, sự việc lần này là hy hữu ở đây. (Zing News 5/11) đầu trang(./.