Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Hôm 6/9, Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức lễ công bố Quyết định số 760/QĐ-UBND của UBND tỉnh này về việc thành lập Ban Quản lý Khu bảo tồn loài sinh cảnh thông nước (thủy tùng) đặt tại thôn Trấp K’sơ, xã Ea Hồ, huyện Krông Năng.
Theo đó, ông Trần Xuân Phước là viên chức Ban quản lý rừng lịch sử, văn hóa, môi trường hồ Lắk (huyện Lắk, Đắk Lắk) được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn loài sinh cảnh thông nước.
Đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk; có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động.
Ban quản lý Khu bảo tồn loài sinh cảnh thông nước có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ nghiên cứu khoa học theo chương trình, đề tài, dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Tổ chức hoặc liên kết, liên doanh với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các hoạt động dịch vụ du lịch và các dịch vụ khác; Tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học để bảo vệ và bảo tồn loài sinh cảnh thông nước.
Ban quản lý có nhiệm vụ quản lý, giám sát và bảo tồn lâu dài loài và sinh cảnh quần thể thông nước trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để duy trì, hướng đến phát triển quần thể này bền vững phục vụ nghiên cứu khoa học và đời sống; Bảo tồn, duy trì môi trường sống tự nhiên của thông nước cũng như quần thể các nhóm loài, quần thể sinh vật trong hệ sinh thái; hướng đến phát triển tái sinh tự nhiên, nhân tạo thông nước và loài cây hỗ trợ. (Dân Trí 7/9)đầu trang(
6/9, UBND tỉnh Yên Bái tổ chức hội nghị “Triển khai đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất cho thuê đất, cấp chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012-2015”.
Trong giai đoạn 2012 - 2015 tỉnh Yên Bái dự kiến giao đất, cho thuê cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp với diện tích 88.754 ha. Trong đó giao cho hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư là 54.329,2ha, diện tích cho thuê là 34.244ha.
Năm 2012, tỉnh Yên Bái sẽ hoàn chỉnh và phê duyệt Đề án giao rừng cho thuê rừng cấp tỉnh, làm tốt công tác tuyên truyền và hướng dẫn các địa phương xây dựng đề án. Rà soát về diện tích hiện trạng rừng đến từng lô, khoảnh tiểu khu tại các địa phương; hoàn chỉnh phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng của 9 huyện, thị xã, thành phố; triển khai lập đề án chi tiết tại các xã điểm.
Tỉnh sẽ hoàn chỉnh phương án và thực hiện thí điểm giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Y Can, huyện Trấn Yên và xã Vũ Linh (Yên Bình)...
Phát biểu tại hội nghị, ông Đỗ Văn Chiến - Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh thực hiện tốt Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất cho thuê đất, cấp chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh và mở ra một định hướng phát triển mới của kinh tế lâm nghiệp theo hướng hiệu quả bền vững.
Đề án nhận được sự đồng thuận rất cao của các thành phần kinh, các hộ sản xuất nông lâm. Ban Thường vụ nhất trí cao với Đề án của UBND tỉnh, trong khi thực hiện đề án cần lưu ý rà soát, đối chiếu đảm bảo đề án được xây dựng theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước, phù hợp với điều kiện của địa phương; ưu tiên đối tượng được giao thuê đất, thuê rừng là hộ gia đình cộng đồng dân cư theo hướng chỗ thuận lợi ưu tiên giao cho nhân dân, chỗ khó khăn hơn giao cho doanh nghiệp dễ làm trước khó làm sau thận trọng chắc chắc.
Ngày 6/9, UBND tỉnh Yên Bái đã Yên Bái triển khai đề án giao đất, giao rừng giai đoạn 2012-2015
Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Văn Chiến việc triển khai thực hiện đề án phải đảm bảo dân chủ, công khai minh bạch, coi trọng công tác tuyên truyền đảm bảo sự đồng thuận trong xã hội không để phát sinh phức tạp; quá trình thực hiện đề án cần đinh kỳ sơ kết đánh giá kết quả thực hiện giải quyết kịp thời vướng mắc phát sinh; thành lập Ban chỉ đạo đề án do chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban.
Ông Chiến cũng lưu ý 6 điểm để Ban chỉ đạo Đề án nghiên cứu vận dụng khi chỉ đạo thực hiện. Trong đó cần quy định chặt chẽ về thời gian nhận đất và cho thuê đất; quy định chặt chẽ giữa trồng rừng và tái sinh; nghiên cứu và ban hành các văn bản chặt chẽ và thống nhất
Phát biểu kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Cường khẳng định, Đề án giao đất, giao rừng là một Đề án lớn, đòi hỏi sự quan tâm vào cuộc của chính quyền các cấp.
Thay mặt Ban chỉ đạo đồng chí đề nghị cơ quan thường trực cần bổ sung thêm Sở Tư pháp và Thanh tra tỉnh vào thành viên, phân công nhiệm vụ cụ thể các thành viên Ban chỉ đạo tránh chồng chéo công việc; bổ sung thêm chuyên viên vào Ban định giá, tổ giúp việc.
Các huyện thị tập huấn hướng dẫn các xã xây dựng Đề án, giao rừng, cho thuê rừng, đặc biệt là trình tự thủ tục, rà soát về diện tích hiện trạng rừng và kế hoạch triển khai của từng xã; chỉ đạo các xã điểm triển khai trước...
Ông Cường đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng, chính quyền địa phương, cùng các ban ngành, đoàn thể cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền đối với người dân địa phương về chủ trương, chính sách của Nhà nước về công tác giao rừng, cho thuê rừng, quyền lợi nghĩa vụ của người được giao, cho thuê rừng... (Báo Yên Bái 6/9)đầu trang(
Theo thống kê, hết năm 2011 toàn tỉnh Yên Bái có trên 487 ngàn ha đất lâm nghiệp, trong đó có trên 413 ngàn ha rừng (231.554 ha rừng tự nhiên, 191 ngàn ha rừng trồng, nâng độ che phủ lên gần 60%).
Với gần 80% dân số sống ở nông thôn, đời sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp là chính, do đó người dân rất cần tư liệu sản xuất nhất là đất rừng và rừng. Giao và cho thuê rừng, đất rừng cũng là nhằm giải quyết nhu cầu đất cho người dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, các xã vùng sâu, vùng xa.
Được giao đất, giao rừng người dân yên tâm sản xuất lâu dài không chỉ góp phần xoá đói, giảm nghèo trong nông nghiệp nông thôn mà chính người dân là những nhân tố quan trọng trong việc trồng và bảo vệ rừng.
Có được kết quả đó là nhờ sự nỗ lực của tỉnh cũng như người dân trong việc trồng và bảo vệ rừng trong những năm qua. Bình quân mỗi năm người dân Yên Bái trồng mới trên 10 ngàn ha rừng. Trồng, bảo vệ và phát triển rừng đã trở thành một nghề không thể thiếu trong hầu hết các gia đình nông thôn từ vùng thấp đến vùng cao.
Tuy nhiên, trong tổng số diện tích rừng toàn tỉnh cho đến nay mới có trên 290 ngàn ha rừng được giao cho các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ, trong đó có hơn 162 ngàn ha phòng hộ, 36.500 ha rừng đặc dụng và 92 ngàn ha rừng sản xuất.
Do vậy diện tích rừng và đất rừng chưa giao còn trên 181.600 ha, đây là những diện tích rừng được chuyển từ các nông - lâm trường về cho các huyện và sau rà soát 3 loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt cho chuyển từ diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất.
Rừng và đất rừng chưa giao cho tổ chức, cá nhân cụ thể quản lý cùng với công tác quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn do đó tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra làm suy giảm tài nguyên rừng.
Nhằm bảo vệ và phát triển rừng bền vững, tỉnh đã xây dựng đề án thực hiện giao đất, giao rừng, cho thuê rừng gắn với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2012-2015.
Đây không phải là vấn đề mới mà ngay từ năm 2009 tỉnh đã thực hiện tại huyện Trạm Tấu và sau đó triển khai trên địa bàn huyện Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trấn Yên là những nơi còn nhiều rừng, đất rừng chưa giao và nhu cầu của người dân cũng rất lớn, việc triển khai thực hiện rất chậm.
Qua hơn ba năm thực hiện, 4 địa phương này mới giao được trên 11.977 ha rừng, đất rừng cho 1.446 thôn bản, cộng đồng dân cư, nhóm hộ và 318 hộ dân. Một thực tế là nhu cầu sử dụng đất rừng và rừng của người dân là rất lớn, nó không chỉ là tư liệu sản xuất đơn thuần mà rừng và đất rừng chính là cuộc sống của người dân vùng cao và là cơ hội để họ vươn lên xóa đói giảm nghèo.
Nói vậy không có nghĩa là hộ dân vùng cao nào cũng đã được giao đất, giao rừng từ Nhà nước trong khi cuộc sống của họ là gắn bó với rừng. Từ năm 1990 của thế kỷ trước, Nhà nước có chính sách giao rừng và đất rừng cho người dân phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhưng do nhận thức, do lịch sử để lại nên có khá nhiều hộ dân không có rừng và đất rừng.
Trong nhiều năm qua họ vẫn sống bằng nghề rừng, dựa vào rừng nhưng bản chất lại là đi nhận khoán, bảo vệ lại cho Lâm trường hoặc một cá nhân, tổ chức khác. Có nhiều hộ dân đang trồng và phát triển rừng nhưng vẫn chưa được cấp có thẩm quyền giao đất, giao rừng do vậy họ vẫn không yên tâm sản xuất.
Ngược lại, nhiều tổ chức, cá nhân lại được giao, nhận quá nhiều diện tích rừng, đất rừng đó là những vấn đề tồn tại, bất cập trong công tác giao đất, giao rừng trong nhiều năm qua ở nhiều địa phương... Do đó đề án giao đất, giao rừng cho thuê rừng giai đoạn 2012-2015 đề rõ giao và cho thuê 88.573 ha rừng, đất rừng, trong đó giao cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư trên 54 ngàn ha, diện tích cho thuê 34.244 ha.
Những mục tiêu của đề án là quá rõ, đối tượng được giao và cho thuê rừng, đất rừng phải ưu tiên cho các hộ nông dân, nhất là nông dân là đồng bào dân tộc hộ nghèo và cận nghèo thiếu đất sản xuất, gia đình chính sách... không có đất sản xuất.
Rõ ràng, không thể để người dân sống và gắn bó với rừng lại không có đất, không có tư liệu sản xuất trên chính mảnh đất quê hương mình. Trong khi đại bộ phận người dân vẫn còn nghèo. Một vấn đề nữa là trong quá trình giao đất, cho thuê đất phải tiến hành rà soát từ cơ sở và ưu tiên cho những hộ thiếu đất, nếu làm không tốt sẽ lại xảy ra tình trạng người nhiều đất lại nhiều thêm, người ít vẫn ít.
Làm tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ dân nghèo, vùng đồng bào dân tộc sẽ là tiền đề quan trọng giúp dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu và quản lý, bảo vệ rừng được tốt hơn. (Báo Yên Bái 7/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Với gần 3.000ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, xã Tân Phượng (chủ yếu là đồng bào Dao sinh sống) có mức độ đa dạng sinh học lớn nhất huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Công tác giữ rừng được chính quyền xã Tân Phượng đặt lên hàng đầu. Xã đã xây dựng một bộ quy ước bảo vệ rừng, thành lập 3 tổ tuần tra với 20 thành viên, đồng thời chỉ đạo các thôn, bản thường xuyên phổ biến, vận động người dân cùng vào cuộc bảo vệ rừng, trong đó đặc biệt phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản - những người có uy tín trong cộng đồng.
Ông Triệu Tiến Tiên - Chủ tịch UBND xã Tân Phượng cho biết: "Chúng tôi đã quán triệt tới toàn thể bà con trong thôn, bản về trọng trách bảo vệ rừng, gắn nhiệm vụ bảo vệ cho từng người dân, đồng thời kiên quyết xử lý mọi hành vi vi phạm".
Đến nay, tất cả các hộ gia đình ở 9/9 thôn, bản của xã Tân Phượng và 6 thôn của xã Lâm Thượng (xã giáp ranh) đều đã ký cam kết thực hiện quy ước, hương ước bảo vệ rừng. Chị Triệu Thị Tâm cho hay: “Cán bộ kiểm lâm và cán bộ xã nói rồi, nếu phá rừng sẽ không giữ được nguồn nước, mưa lớn sẽ gây ra lũ quét phá nương lúa, nương ngô, đe doạ cuộc sống con người. Mình sẽ vận động người thân trong gia đình và làng xóm không được phá rừng. Có rừng đời sống mới ấm no, mới phát triển được".
Để giữ mãi màu xanh của rừng, xã Tân Phượng còn phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm huyện Lục Yên, ngày đêm canh giữ. Một tổ tuần tra liên ngành gồm: Cán bộ Hạt Kiểm lâm, Công an huyện, cán bộ xã Tân Phượng và cán bộ xã giáp ranh Lâm Thượng đã được thành lập, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt các hoạt động khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản... trên địa bàn.
Ngoài việc phổ biến và triển khai nhiệm vụ bảo vệ rừng, phía kiểm lâm còn tiến hành giao đất, giao rừng cho tất cả các hộ gia đình trong xã để quản lý. Đến nay, gần 3.000ha rừng của xã Tân Phượng đều đã có chủ.
Các cán bộ kiểm lâm địa bàn còn thường xuyên đến từng nhà để tuyên truyền, vận động dân bản không phá rừng làm nương rẫy, không vào rừng chặt cây lấy gỗ, không tiếp tay cho lâm tặc. Nhờ vậy mà nhận thức của bà con được nâng cao và trở thành những người giữ rừng...
Ông Đặng Văn Tâm - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lục Yên cho biết: “Xác định rừng xã Tân Phượng là một vùng trọng điểm, chúng tôi đã tập trung tối đa lực lượng, quyết tâm bảo vệ rừng bằng được”. Với quyết tâm đó, lực lượng kiểm lâm đã bố trí cán bộ nằm vùng ở Tân Phượng, kịp thời ngăn chặn việc phá rừng. Nhờ làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền xã và các ngành chức năng, cùng sự đồng tình ủng hộ của đồng bào Dao xã Tân Phượng, nhiều vụ phá rừng, khai thác gỗ trái phép đã được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. (Nông Thôn Ngày Nay 6/9)đầu trang(
Trong 4 ngày qua, Đoàn kiểm tra liên ngành gồm Chi cục Kiểm lâm, Cảnh sát PCCC và chính quyền địa phương đã tiến hành kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tại một số vùng trọng điểm trên địa bàn thành phố như Liên Chiểu, Hòa Vang, Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà- Núi Chúa, Sơn Trà...
Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các xã, phường đã thành lập Ban chỉ huy, xây dựng kế hoạch PCCCR và thành lập tổ quần chúng chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”, thực hiện công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như cắm biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng, họp dân tuyên truyền, tuyên truyền trên sóng phát thanh...
Tuy nhiên, công tác PCCCR ở các địa phương còn nhiều hạn chế như chưa vận động nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh rừng, phát dọn thực bì, dự trữ nước phục vụ chữa cháy rừng trong mùa khô. Công tác kiểm tra của Ban chỉ huy xã, phường chưa thường xuyên, các phương tiện, dụng cụ hỗ trợ phòng cháy còn hạn chế. Hầu như các địa phương chưa có bể chứa nước chữa cháy rừng; các dụng cụ như cuốc, xẻng, rựa, máy thổi gió... còn ít. Các biển báo, biển cấm còn thưa, nhỏ. Ngoài ra, một số biển báo bị người dân lấn chiếm, che khuất như bảng báo trên đỉnh đèo Hải Vân... Với diễn biến thời tiết hết sức phức tạp, nắng nóng kéo dài, do đó nguy cơ cháy rừng rất cao.
Trước tình hình này, Đoàn kiểm tra đã yêu cầu các đơn vị có rừng cần làm tốt công tác tuyên truyền; phường đội, xã đội, công an và kiểm lâm phải phối hợp thường xuyên tuần tra, kiểm tra những vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng, xử lý kịp thời khi có cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”... (Báo Đà Nẵng 6/9)đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) huyện Quảng Trạch được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng (BVR) và thực hiện dự án trên diện tích 57.037,6 ha rừng, đất rừng. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao trong điều kiện lực lượng và phương tiện thiếu thốn, lâm phần quản lý rộng, nhưng thời gian qua, cán bộ, công nhân Ban QLRPH đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động, góp phần bảo vệ tốt tài nguyên rừng trên địa bàn phụ trách.
Trong lâm phần của Ban QLRPH huyện Quảng Trạch phụ trách diện tích rừng và đất lâm nghiệp trải rộng trên địa bàn 6 xã có địa hình phức tạp nhất của huyện Quảng Trạch, trực tiếp phòng hộ cho các công trình thủy lợi lớn như: Sông Thai, Vực Tròn, Trung Thuần và sông Rào Nan.
Quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ có tính chất đặc biệt quan trọng, trong khi trên địa bàn lâm phần, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng người dân vào rừng khai thác gỗ, đốt than, lấn chiếm đất vẫn xảy ra, đã đặt thêm gánh nặng lên vai cán bộ, nhân viên Ban QLRPH Quảng Trạch.
Để bảo vệ tốt tài nguyên rừng, trong triển khai thực hiện kế hoạch công tác quản lý, bảo vệ rừng hàng năm, Ban QLRPH đều chú trọng sắp xếp, kiện toàn tổ chức, kịp thời giao khoán rừng và đất rừng cho cán bộ, công nhân, các hộ gia đình đảm nhận. Mặt khác, phân công nhiệm vụ, địa bàn phụ trách, thực hiện khoán việc, khoán sản phẩm đến người lao động. Thiết kế và chỉ đạo thi công các hạng mục trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng, tu sửa, xây dựng đường băng cản lửa, chòi canh, hệ thống bảng tuyên truyền.
Bên cạnh đó, lãnh đạo Ban QLRPH huyện đã tích cực phối hợp với chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân ký cam kết thực hiện Luật bảo vệ, phát triển rừng, Luật PCCC, thành lập ban chỉ huy và xây dựng, hoàn thiện các phương án quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR, phòng chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai; tăng cường tuần tra, truy quét, chốt chặn các cửa rừng, ngăn chặn hiệu quả việc khai thác vận chuyển lâm sản, chặt phá rừng, lấn chiếm rừng trái phép; chỉ đạo lực lượng cán bộ ở 3 trạm, 2 chốt bảo vệ rừng và 1 tổ cơ động tuần tra trực thuộc đơn vị đẩy mạnh công tác nắm tình hình, tuần tra, đẩy đuổi các đối tượng xâm nhập vào rừng.
Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, Ban QLRPH Quảng Trạch còn triển khai kịp thời kế hoạch trồng, khoanh nuôi, tái sinh rừng hàng năm. Thực hiện kế hoạch năm 2012, hiện tại đơn vị đang khoanh nuôi, tái sinh 200ha rừng; chuẩn bị triển khai trồng mới 70 ha rừng, trong đó có 20ha rừng ngập mặn ở địa bàn xã Quảng Phúc và Quảng Thuận.
Để chủ động nguồn cây giống phục vụ trồng rừng và góp phần giảm chi phí đầu tư, Ban QLRPH đã xây dựng được 2 vườn ươm, mỗi năm sản xuất được 50 vạn cây, trong đó có 1 vườn ươm cây ngập mặn. Nhờ nắm vững kỹ thuật, áp dụng khoa học trong gieo ươm, cây giống do đơn vị sản xuất luôn bảo đảm chất lượng tốt, không chỉ đáp ứng kế hoạch trồng rừng hàng năm, mà còn bán ra thị trường một số lượng khá lớn, được người dân gần xa ưa chuộng.
Với những kết quả trên, có thể khẳng định rằng, thời gian gần đây, Ban QLRPH huyện Quảng Trạch đã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên lâm phần phụ trách. Từ đó, đã tích cực góp phần nâng cao chất lượng, trữ lượng, độ che phủ rừng trên địa bàn, phát huy được hiệu quả của rừng phòng hộ. (Báo Quảng Bình 6/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện chương trình hợp tác Việt - Đức về lâm nghiệp, trong thời gian ngày từ 4 - 12/8/2012, Bộ NN - PTNT tổ chức đoàn công tác do Thứ trưởng Nguyễn Đăng Khoa làm trưởng đoàn thực hiện khảo sát, nghiên cứu về cải cách lâm nghiệp và lâm trường quốc doanh tại bang Hessen, Cộng hòa Liên bang Đức
Trong thời gian ở CHLB Đức, đoàn công tác đã đến làm việc với Vụ Lâm nghiệp và Bảo tồn thiên nhiên thuộc Bộ Môi trường, Năng lượng, Nông nghiệp và Bảo vệ người tiêu dùng của bang Hessen; thăm và làm việc với Tổng giám đốc và một số cơ quan thuộc Lâm trường Hessen Forst: Trung tâm đào tạo Weiburg - Phân trường Hanau Wolfgang; Phân trường Rudesheim và Trung tâm Điều tra rừng; Đoàn cũng đã đi thăm rừng của các cộng đồng được Lâm trường Hessen Forst nhận hợp đồng quản lý.
Sau đây là những ghi nhận của Thứ trưởng Nguyễn Đăng Khoa trong chuyến công tác tại CHLB Đức.
Cách đây trên 200 năm, rừng tự nhiên ở nước Đức đã bị tàn phá hoàn toàn, người ta nói rằng “Đã không còn một cây gỗ rừng nào để có thể làm giá treo cổ cho những kẻ phá rừng”. Khi mất rừng, người Đức đã thức tỉnh rừng có giá trị như thế nào đối với cuộc sống của họ và các thế hệ con cháu mai sau, từ đó đã quyết tâm khôi phục. Tư tưởng và nguyên tắc quản lý rừng bền vững được bắt nguồn ngay dịp đó do nhà lâm học Đức Geog Ludwwig đưa ra. Ông là người đã sử dụng từ “sustainable” (bền vững) làm nguyên tắc trong quản lý rừng mà sau này nó được sử dụng phổ biến trong tất cả các ngành kinh tế khác.
Ngày nay, nước Đức có 11,1 triệu ha rừng, chiếm 31% diện tích tự nhiên của cả nước. Nhiều diện tích rừng đã được chuyển hóa thành rừng hỗn loài khác tuổi do kiên định thực hiện quản lý rừng bền vững qua nhiều thế hệ và quản lý rừng theo hướng đa chức năng; với việc áp dụng các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặc trồng bổ sung nhiều loài cây trong mỗi khoảng trống sau khai thác chọn. Cây lá rộng phần nhiều là cây Dẻ gai đỏ (còn gọi là Sồi châu Âu-Fagus sylvatica) chiếm 40%; cây lá kim chiếm 60% chủ yếu là loài cây Vân sam (Picea). Trữ lượng bình quân 317 m3/ha, lượng tăng trưởng bình quân của rừng là 11m3/ha/năm; sản lượng bình quân khai thác là 6m3/ha/năm. Tuổi khai thác đối với các loài cây lá kim là 80 -100 năm, đối với các loài cây lá rộng là 180 năm.
Về sở hữu rừng: có 3 hình thức sở hữu là: nhà nước, cộng đồng và tư nhân, trong đó: Nhà nước sở hữu 36% diện tích rừng; Cộng đồng sở hữu 21% và Tư nhân sở hữu 43%.
Ba loại sở hữu trên đã được hình thành từ hàng trăm năm trước và luôn được tôn trọng và duy trì qua tất cả các thời kỳ biến động của lịch sử.
Thành phần sở hữu tư nhân chủ yếu là các hộ gia đình còn các Cty tư nhân sở hữu rất ít, rừng tư nhân có nguồn gốc từ thừa kế.
Cộng đồng gồm có: Cộng đồng cư dân thành phố, thị trấn mà đại diện cho họ là các thị trưởng.
Diện tích rừng do nhà nước sở hữu có xu hướng tăng do các hộ tư nhân có nhu cầu bán rừng, nhà nước là một trong những chủ thể đã mua lại những diện tích đó.
Hessen là một bang của CHLB Đức có tổng diện tích rừng là 894.806ha, chiếm 42,4 % diện tích tự nhiên. Các loài cây lá rộng chiếm 50%, trữ lượng bình quân 319m3/ha, tăng trưởng bình quân hàng năm 11m3/ha; lượng khai thác gỗ hàng năm 7,5m3/ha.
Về sở hữu rừng: Nhà nước sở hữu 40% diện tích rừng, 35% thuộc sở hữu cộng đồng, 25% thuộc sở hữu tư nhân.
Diện tích bình quân cho một đầu sở hữu tư nhân là 3,8ha. Sở hữu tư nhân được phân thành 2 nhóm khác nhau: (i) nhóm sở hữu >100ha có số lượng không nhiều 343 chủ rừng; (ii) và nhóm sở hữu <100ha, nhóm này có tới 60.000 hộ gia đình và sở hữu 80% diện tích rừng sở hữu tư nhân, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 2,4ha. Giá trị kinh tế thu được từ rừng của nhóm hộ gia đình này rất nhỏ.
CHLB Đức được hình thành từ 16 bang hợp lại. Tổ chức nhà nước ở cấp bang có quốc hội, các bộ và toà án. Bang Hessen có Ủy ban về Lâm trường.
Hệ thống cơ quan quản lý hành chính lâm nghiệp bang Hessen được tổ chức theo ngành dọc ở 3 cấp: cấp bộ, cấp tỉnh và cấp quận/huyện. Cơ quan hành chính lâm nghiệp được tổ chức như sau:
- Cấp Bộ: Bộ Môi trường, Năng lượng, Nông nghiệp và Bảo vệ người tiêu dùng. Trong đó có Vụ Lâm nghiệp và Bảo tồn thiên nhiên, biên chế 10 cán bộ lâm nghiệp.
- Cấp tỉnh: có Sở Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bảo vệ thiên nhiên, trong đó có Phòng Lâm nghiệp và Săn bắn, biên chế 6 cán bộ lâm nghiệp (có 3 Sở gắn với 3 tỉnh Phía bắc, Phía Nam và trung tâm của bang).
- Cấp quận/huyện: có Phòng Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bảo vệ thiên nhiên gắn 26 quận/huyện (thường có 1 hoặc không có cán bộ lâm nghiệp);
Về chức năng nhiệm vụ ở mỗi cấp:
- Ở cấp bộ, Vụ Lâm nghiệp và Bảo tồn thiên nhiên có nhiệm vụ:
+ Xây dựng các văn bản pháp quy lâm nghiệp của bang, trong đó có Luật Lâm nghiệp; và thực hiện thực thi pháp luật;
+ Tham mưu, tư vấn cho Bộ trưởng những vấn đề về quản lý rừng; tổ chức làm việc với các bộ ngành liên quan về kế hoạch ngân sách cho các hoạt động lâm nghiệp; xem xét trình Bộ trưởng phê duyệt kế hoạch quản lý rừng của lâm trường quốc doanh;
+ Giám sát việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị cấp dưới;
+ Giám sát việc thực hiện các chức năng của lâm trường;
+ Thực hiện diễn đàn xúc tiến thực hiện chứng chỉ rừng.
- Ở cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bảo vệ thiên nhiên có nhiện vụ:
+ Giám sát và thực thi các quy định của pháp luật trong tỉnh;
+ Giám sát chủ rừng tư nhân và cộng đồng tuân thủ trách nhiệm cơ bản theo Luật;
+ Thực hiện các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trồng rừng;
+ Phê duyệt và giám sát việc thực hiên kế hoạch quản lý rừng cho cộng đồng và tư nhân (có diện tích từ 100ha trở lên);
+ Quyết định về chuyển đổi rừng và trồng rừng đối với chủ rừng tư nhân và cộng đồng; giám sát các chức năng rừng và xử lý vi phạm.
- Ở cấp quận/huyện: Phòng Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bảo vệ thiên nhiên ít được nhắc tới trong các buổi làm việc, qua tìm hiểu cấp này cũng thực hiện nhiệm vụ thực thi các quy định của pháp luật nhưng vai trò rất mờ nhạt; tham gia và lắng nghe ý kiến của các đơn vị quản lý rừng, các chủ rừng để báo cáo lên cấp trên.
Ủy ban về Lâm trường: Là ủy ban độc lập gồm 12 thành viên do Bộ trưởng phụ trách nhằm đảm bảo tính liên tục của mục tiêu chiến lược đã được xây dựng cho Lâm trường quốc doanh (FSE), các thành viên được bầu dưới sự chủ trì của Bộ trưởng có sự tham khảo ý kiến các Bộ Tài chính hoặc Thống đốc bang. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/9)đầu trang(
Sử dụng hàng chục biển số xe giả, trong đó có cả biển kiểm soát màu xanh của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh và Trung ương để "hù” cơ quan chức năng. Đó là hoạt động tội phạm liên quan đến buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã dọc tuyến biên giới Việt – Lào đang đặt ra nhiều thách thức báo động.
Mới đây, tại Hội thảo "Thúc đẩy truyền thông góp phần đẩy lùi nạn buôn bán động vật hoang dã trái phép” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam), phối hợp với Vườn quốc gia Vũ Quang và Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã quốc tế tổ chức, ông Nguyễn Đình Kỳ - Phòng pháp chế (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh) cho biết, hoạt động tội phạm liên quan đến ĐVHD đang có chiều hướng diễn biến phức tạp dọc phía Đông của dãy Trường Sơn, trong đó có cả khu vực Vườn quốc gia Vũ Quang và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh).
Nguyên nhân chính khiến các vùng giáp ranh biên giới Việt – Lào trở thành khu vực hoạt động của các loại tội phạm là vì đây là các khu vực có nhiều loài động, thực vật rất đa dạng, phong phú, trong đó có nhiều loài động vật quí, hiếm, đặc hữu.
Điển hình nhất là vụ truy quét tội phạm buôn bán ĐVHD trên tuyến Quốc lộ 8A, thuộc địa phận xã Đức Long, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh vừa qua, cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh đã bắt giữ một xe Toyota Camry (BKS 30M – 1207) đang vận chuyển trái phép 108 con tê tê quý. Đáng lưu ý, qua kiểm tra, lực lượng công an còn phát hiện trên xe có 12 bộ biển kiểm soát xe ô tô giả khác nhau (trong đó có 3 bộ biển kiểm soát màu xanh), cùng nhiều loại hung khí như dao nhọn, gậy sắt,... Mới đây nhất, vào ngày 23-8-2012, Phòng Cảnh sát Môi trường tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với lực lượng kiểm lâm tiếp tục phát hiện và bắt giữ vụ vận chuyển gần 200 cá thể chim (chim cảnh) trái phép.
Theo thống kê của Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh, từ năm 2008 đến nay, trên dọc tuyến biên giới của tỉnh với nước bạn Lào, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý gần 140 vụ vi phạm về buôn bán ĐVHD trái phép, tịch thu 6.705 cá thể = 12.202 kg động vật rừng, gồm các loài: Gấu, tê tê, chim, rùa, rắn, kỳ đà, nhím, chồn, lợn rừng, …chim các loại.
Theo cơ quan PC49 (Công an Hà Tĩnh), do thủ đoạn của bọn tội phạm liên quan đến ĐVHD ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nên công tác tuần tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng rất khó phát hiện. Cụ thể, các đối tượng đa số là chủ buôn (đầu nậu) vận chuyển động vật hoang dã còn thuê người vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam qua đường tiểu ngạch cửa khẩu Chalo Quảng Bình, cửa khẩu cầu treo Hà Tĩnh tập kết trong nội địa, sau đó vận chuyển đi tiêu thụ.
Một số băng nhóm tội phạm còn cho người đi dò đường nếu phát hiện có cơ quan chức năng thì tạm dừng việc vận chuyển hoặc sử dụng các loại phương tiện thay biển số đánh lạc hướng cơ quan chức năng để vận chuyển đưa đi tiêu thụ,...
Theo Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), chỉ tính riêng giai đoạn 2007-2010, tại nhiều tỉnh/thành trên cả nước, như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh và An Giang thường xuyên phát hiện và xử lý các vụ vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Theo ý kiến của nhiều địa phương dọc biên giới Việt - Lào, hiện khung hình phạt 7 năm tù giam tại Điều 190 BLHS đối với các vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hiện còn quá nhẹ so với lợi nhuận đem lại. Trong khi đó, theo Thông tư liên tịch (số 19) của liên bộ (Bộ NN&PTNT, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Viện KSND Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao) còn nhiều điểm mâu thuẫn khó áp dụng xử lý trong thực tiễn.
Ngoài ra, Nghị định 99 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản hiện cũng còn không ít tồn tại. Trong đó, xuất hiện tình trạng nhập nhằng giữa quy định xử lý hình sự và xử lý hành chính đối với một số trường hợp. Theo đề xuất của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Hà Tĩnh), để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã thì Chính phủ cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật được đồng bộ thống nhất để cơ quan thực thi pháp luật thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật có liên quan đến động vật hoang dã đạt hiệu quả. (Đại Đoàn Kết 7/9)đầu trang(
Sự phát triển kinh tế nhanh chóng và năng lực kỹ thuật vẫn đang ở giai đoạn phát triển của Việt Nam khiến đây là một mục tiêu hấp dẫn cho các tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm buôn bán người, buôn thuốc phiện, động thực vật hoang dã và các tội phạm xuyên quốc gia khác.
Đây là nhận định được các chuyên gia quốc tế đưa ra tại cuộc thảo luận về đấu tranh chống các mạng lưới tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào ngày 5/9. Cuộc thảo luận do Đại Sứ quán Hoa Kỳ, Đại Sứ quán Anh, Cơ quan Phòng Chống Ma tuý và Tội phạm của Liên Hợp quốc (UNODC) và Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã (WCS) phối hợp với Bộ Ngoại Giao và Bộ Công An đồng chủ toạ.
“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các băng tội phạm có tổ chức tham gia buôn bán động thực vật hoang dã cũng tham gia vào việc buôn lậu thuốc phiện, buôn bán người, vũ khí và chất thải điện tử qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc, và do đó đối sách của chúng ta là các tổ chức quốc tế và chính phủ cũng phải được phối hợp và cộng tác. Việc đưa các tổ chức và các cơ quan chính phủ lại gần với nhau sẽ giúp chúng ta hướng tới mục tiêu đó” ông Scott Roberton, Giám đốc WCS tại Việt Nam cho biết.
Bà Kate Harrisson, Đại diện Lâm thời của Đại Sứ quán Anh cho rằng: Xử lý tham nhũng có thể là lực đẩy chính yếu cho sự phát triển kinh tế trong tương lai của Việt Nam. Trong vai trò của chúng tôi với tư cách là đối tác phát triển hàng đầu về chống tham nhũng, Anh cam kết hỗ trợ những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cho chương trình nghị sự này. Một trong những thách thức chính yếu mà chúng tôi đang cùng nhau giải quyết là làm thế nào để bảo đảm rằng pháp luật hiện hành được thực thi hiệu quả ở cấp tỉnh và cấp địa phương.
Điều này đòi hỏi phải có sự cam kết mạnh mẽ của các cơ quan thi hành pháp luật và tăng cường tinh thần trách nhiệm. Buổi thảo luận này đem lại một cơ hội quí báu để các bên cùng nhau xem xét xem những bước đi này có thể được thực hiện ở các cộng đồng, đặc biệt là khu vực Móng Cái như thế nào.”
Đại diện Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng nhận định: “Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là một vấn đề toàn cầu và không một quốc gia nào có thể tránh được. Chúng ta đang hợp tác với các đối tác Việt Nam để đào tạo tốt hơn cho những người làm luật, các cán bộ hải quan, công an, kiểm sát viên và thẩm phán nhằm ngăn chặn những kẻ buôn bán bất hợp pháp, củng cố các thị trường hơp pháp, bảo vệ cộng đồng và thúc đẩy nền kinh tế”.
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về Tội Phạm có Tổ chức xuyên quốc gia vào tháng 6/2012. Theo UNODC, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia toàn cầu thu được 870 tỷ đôla một năm. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng và năng lực kỹ thuật vẫn đang ở giai đoạn phát triển của Việt Nam khiến Việt Nam là một mục tiêu hấp dẫn cho các tội phạm buôn bán. (Theo Infonet 6/9)đầu trang(
Với tổng kinh phí đầu tư ước tính trên 1.390 tỷ đồng được huy động, lồng ghép từ nhiều nguồn vốn trong nước và nước ngoài, tỉnh Lai Châu đang tập trung chỉ đạo các cấp chính quyền trên địa bàn tăng cường công tác phát triển lâm nghiệp, hoàn thành mục tiêu trồng mới trên 19.200 ha rừng, nâng tỉ lệ che phủ rừng lên 45,2% vào năm 2015.
Theo đó, để góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tỉnh Lai Châu đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, phát triển rừng, đặc biệt là xây dựng các nhà máy chế biến gắn với rừng sản xuất; tăng cường xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; xây dựng khung hành lang pháp lý để thu hút doanh nghiệp đầu tư cho lâm nghiệp theo từng vùng tập trung, quy mô lớn. Mặt khác, các đơn vị phát triển lâm nghiệp phải theo hướng tăng giá trị trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc, bảo vệ rừng và giảm giá trị khai thác.
Ngoài ra, tỉnh Lai Châu còn xây dựng các chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp phù hợp nhằm khuyến khích người dân vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số tham gia làm chủ, nâng cao chất lượng rừng và cải thiện đời sống từ chăm sóc rừng. Đồng thời, quản lý phải gắn với đầu tư phát triển rừng có hiệu quả, tạo môi trường sinh thái bền vững, bảo đảm nguồn nước cho các công trình thủy điện và phục vụ phát triển nông nghiệp…
Lai Châu là tỉnh miền núi với tổng diện tích đất tự nhiên trên 906.800 ha. Những năm qua, công tác trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng luôn được chú trọng phát triển, thu hút nhiều doanh nghiệp và người dân tham gia đầu tư trồng rừng sản xuất. Năm 2011, độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 42% với gần 391.000 ha đất có rừng, trong đó có 362.000 ha rừng tự nhiên và gần 29.000ha là rừng trồng. (Theo Khuyến Nông 6/9)đầu trang(
Xác định rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống và được huyện Đakrông coi là mũi nhọn trong phát triển kinh tế, giảm nghèo và làm giàu bền vững, những năm qua, Hội Nông dân huyện Đakrông (Quảng Trị) đã chú trọng tạo điều kiện cho hội viên được vay vốn, khai hoang đất trồng rừng.
Nhờ vậy từ năm 2005 đến nay, nông dân toàn huyện đã trồng được 4.590 ha rừng tập trung, bình quân mỗi năm trồng được 900 ha và trên 288 vạn cây phân tán, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn huyện từ 55,8% năm 2006 lên 63% hiện nay.
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, vận động hội viên nông dân cam kết bảo vệ rừng đến từng hộ gia đình cũng được quan tâm, đại bộ phận nông dân trên địa bàn đã có ý thức hơn trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Quảng Trị 6/9)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Yên phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Công an và Trạm Thú y huyện vừa tiến hành thả trên 30 cá thể động vật hoang dã về rừng tự nhiên.
Trong số trên 30 cá thể động vật hoang dã, có 18 con rắn hổ mang bành (trọng lượng 8kg), 5 con rùa sa nhân (trọng lượng hơn 4kg), 10 con tắc kè (trọng lượng 0,4kg). Toàn bộ số cá thể động vật hoang dã này được lực lượng kiểm lâm huyện Hàm Yên phát hiện và bắt giữ vào ngày 27/8 trên xe khách mang biển kiểm soát 22L - 5680 đi từ Hà Giang về km 28 xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên.
Được biết từ đầu năm 2012 đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm soát, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Yên đã bắt giữ 48 vụ vi phạm, tịch thu trên 9 m3 gỗ các loại và trên 10 kg động vật hoang dã, với tổng số tiền xử phạt thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 200 triệu đồng. (Đài PT – TH Tuyên Quang 7/9)đầu trang(
Năm 2011, diện tích rừng trồng tăng hơn 4.000ha so với năm 2010. Hiện độ che phủ rừng toàn tỉnh ở mức 35,1%, phấn đấu đến năm 2015 lên mức 39% và đạt 45% vào năm 2020, góp phần giảm tình trạng xói mòn, trôi rửa khoảng 1,4 triệu tấn đất, đá hàng năm.
Toàn tỉnh có hơn 506.000ha đất tự nhiên, trong đó gần 57.000ha rừng trồng và khoảng 125.000ha rừng tự nhiên. Tỉnh Phú Yên đang tiếp tục đẩy mạnh việc trồng rừng sản xuất thông qua chương trình 5 triệu ha rừng với diện tích gần 37.000ha. Theo đánh giá của Sở NN-PTNT, hiện tổng trữ lượng gỗ từ rừng sản xuất và đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch ba loại rừng lên đến 1,3 triệu m3.
Ông Phan Văn Công, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết, ngành đang triển khai đề án giao, cho thuê và thu hồi đất rừng giai đoạn 2011-2015. Theo đó, đến năm 2015 hoàn thành việc giao, cho thuê khoảng 165.000ha rừng và đất lâm nghiệp. Chi cục Kiểm lâm đang triển khai giai đoạn 1 của đề án này.
Đồng Xuân là địa phương có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh, năm 2011 đã trồng được 1.260ha rừng tập trung, tăng 23% so với năm trước, đồng thời khai thác được 1.320m3 gỗ. Chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân Võ Cao Phi cho biết, huyện đang chỉ đạo các ngành liên quan, các xã trong huyện tiếp tục triển khai tốt các dự án KFW6, Flitch, trồng rừng phòng hộ, sản xuất thay thế rẫy cho đồng bào dân tộc thiểu số; các dự án trồng cây cao su, cây phân tán, kết hợp sử dụng có hiệu quả đất rừng được giao khoán, cải thiện đời sống người dân;
Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai các dự án trồng rừng kinh tế đúng quy định, đảm bảo môi trường sinh thái và hài hòa lợi ích giữa người dân với doanh nghiệp… Phấn đấu trong năm 2012 trồng 2.000ha rừng tập trung và 2 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ rừng đạt tỉ lệ 35%.
Năm 2011, huyện Sông Hinh cũng đã trồng được 530ha rừng tập trung, nâng độ che phủ lên 41,6%. Năm 2012, huyện Sông Hinh tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp qua việc thực hiện tốt các dự án trồng rừng, phấn đấu đến cuối năm trồng 600ha rừng tập trung, nâng tỉ lệ độ che phủ rừng lên 42%; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng.
Theo Sở NN-PTNT, đến cuối năm 2012, toàn tỉnh sẽ trồng gần 3.800ha rừng sản xuất, chăm sóc hơn 10.100ha rừng trồng và khoanh nuôi tái sinh gần 2.000ha, đồng thời trồng khoảng 2 triệu cây phân tán. Tuy nhiên hiện nay, mức hỗ trợ cho việc trồng rừng sản xuất thấp nên chưa thu hút được nhiều người dân tham gia, nhất là những hộ nghèo sống gần rừng vì không đủ điều kiện. Trong khi đó, việc rộ lên các điểm đào đãi vàng, tìm trầm bì… làm mất đi một lượng lớn lao động tham gia trồng, chăm sóc rừng. (Báo Phú Yên 6/9)đầu trang(
Mấy chục năm trước, nhà thơ Viên- người con yêu dấu của huyện Cam Lộ, Quảng Trị từng đau đáu với quê nhà: “Gió Lào ơi thôi xin đừng thổi nữa/Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ...”. Nay qua đây, gió Lào đã bớt thổi, đồng cỏ đã xanh tươi nhờ những cánh rừng của Cty Lâm nghiệp Đường 9 lên xanh bạt ngàn.
Rừng đã góp phần làm cân bằng sinh thái cho vùng đất khắc nghiệt này. Nhiều người đi trên đường Hồ Chí Minh, đoạn qua địa phận huyện Cam Lộ, Gio Linh mới cảm nhận được hết màu xanh trùng trùng điệp điệp của rừng. Rừng là mồ hôi, công sức của công nhân Cty Lâm nghiệp Đường 9, cây cối mạnh mẽ đâm chồi, nảy lộc.
Nhớ lại thời trồng rừng trên đất đạn bom và sỏi đá, ông Nguyễn Thanh Nuôi, công nhân Đội trồng rừng Bắc Sông Hiếu, kể: “Ngày đó ai có lạc quan cũng cũng không ai dám mơ có ngày rừng lại xanh tốt như bây giờ. Trồng được cây nào chúng tôi phải bảo vệ cây ấy lên thành rừng. Vì biết rằng, chỉ có cây rừng lên xanh thì vùng đất gió Lào và sỏi đá này mới mát mẻ, môi trường sống ngày càng dễ chịu...”.
Sau mấy chục năm trồng và chăm sóc rừng, Cty Lâm nghiệp Đường 9 đang quản lý và chăm sóc 7.524 ha rừng tại địa bàn 4 huyện Cam Lộ, Triệu Phong, Gio Linh và TP Đông Hà. Trong đó có 1.890 ha rừng phòng hộ, 5.634 ha rừng SX với các giống cây như thông nhựa, keo, tràm...
Ông Lê Lữ, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm GĐ Cty Lâm nghiệp Đường 9 cho biết: “Là đơn vị kinh doanh nhưng chúng tôi không chỉ chủ trương trồng rừng để khai thác gỗ mà còn rất chú trọng đến vấn đề môi trường và sinh thái, hướng đến sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp. Khi có diện tích rừng đủ tuổi khai thác thì nhất định chúng tôi đã có kế hoạch trồng mới rừng và rừng kế cận, đảm bảo diện tích của Cty là rừng luôn xanh tươi, không có đất trống, đồi trọc”.
Cty Lâm nghiệp Đường 9 có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng Quảng Trị. Để rừng ngày càng phát triển, Cty phải vận hành theo một chu trình liên hoàn từ bảo vệ rừng phòng hộ, trồng và khai thác rừng trồng, khai thác, chế biến và kinh doanh nhựa thông, giống cây lâm nghiệp và đầu tư các mô hình SX nông lâm kết hợp.
Nhờ hoạt động hợp lý nên chỉ với 120 lao động của Cty vẫn giải quyết được vấn đề cốt lõi là làm cho rừng ngày càng thêm xanh. So với các Cty lâm nghiệp khác ở các tỉnh, kết quả mà Cty Lâm nghiệp Đường 9 đã làm được rất đáng khích lệ. Tỷ trọng doanh thu từ khai thác nhựa thông của Cty là chủ yếu, chiếm 70% doanh thu, đáp ứng 80% công việc cho công nhân có thu nhập ổn định, bình quân 4 triệu đồng/người/tháng.
Để được vậy, Cty giao khoán đến tận công nhân lao động, khuyến khích SX theo bậc thang sản phẩm, chỉ đạo sâu sát từng khâu công việc... Cty đầu tư kịp thời cơ sở hạ tầng phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cấp các đường ranh, chòi canh, bổ sung thiết bị chữa cháy, phát thực bì toàn bộ diện tích rừng nên 6 tháng đầu năm nay chưa để xảy ra vụ cháy rừng nào... (Nông Nghiệp Việt Nam 6/9)đầu trang(
Tận dụng lợi thế diện tích đất lâm nghiệp lớn, lực lượng lao động dồi dào và truyền thống phát triển cây lâm nghiệp của địa phương, những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã Đại Đồng, huyện Yên Bình (Yên Bái) luôn quan tâm, đầu tư lĩnh vực trồng rừng và coi đó là thế mạnh trong phát triển kinh tế của địa phương.
Gia đình ông Đoàn Xuân Tiến, thôn Hồng Bàng là một trong những hộ có diện tích rừng lớn và giàu lên từ kinh tế rừng với trên 20 ha rừng trồng. Hàng năm, ông khai thác và trồng mới khoảng 2 ha, thu về gần 100 triệu đồng. Ông Tiến cho biết, ngôi nhà xây và những đồ đạc, tiện nghi sinh hoạt trong nhà đều từ tiền bán gỗ mà có.
Giống như hộ gia đình ông Tiến, đa số các hộ dân xã Đại Đồng đều chọn trồng rừng là một trong những hướng đi chính trong phát triển kinh tế gia đình. Toàn xã có 11 thôn đều có rừng, từ thôn Cây Thọ, Rộc Trần, Chóp Dù, Hồng Bàng đến Đồng Đát…, cả một vùng là màu xanh ngút ngàn của rừng bạch đàn, rừng keo đang trong thời kỳ phát triển.
Đến nay, nhiều hộ dân Đại Đồng đều sống được bằng nghề rừng, hộ ít cũng có vài ba héc ta, nhiều hộ có đến vài chục ha như gia đình ông Bùi Xuân Trúc, thôn Đồng Đát trên 20 ha; ông Lương Tuấn Ngọc, thôn Rộc Trần trên 40 ha…, những hộ trồng rừng ở Đại Đồng giờ đây đều có thu nhập ổn định và giàu có. Được biết, mỗi năm Đại Đồng khai thác trên 200 ha, đem về cho nhân dân hàng chục tỷ đồng.
Lợi ích từ trồng rừng mang lại cho người dân Đại Đồng đã rõ nhưng hiện nay hệ thống đường giao thông liên thôn của xã đã xuống cấp, chủ yếu là đường dân sinh đã gây ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế của xã, đặc biệt là công tác khai thác và vận chuyển gỗ rừng trồng của nhân dân. Toàn xã có 41 km đường giao thông liên thôn nhưng mới có 0,5km đang được bê tông hóa tại thôn Làng Đát.
Anh Bùi Xuân Ứng, Trưởng thôn Hồng Bàng cho biết: “Bà con trong thôn vất vả, kinh tế chủ yếu trông vào rừng nhưng đến kỳ thu hoạch thì bị thương lái ép giá với lý do đường khó đi”. Quả đúng vậy, con đường dài gần chục cây số nếu bình thường từ đầu quốc lộ 70 vào chỉ mất mươi, mười lăm phút là đến thôn nhưng do đường khó đi nên thời gian thường gấp đôi, gấp ba lần. Giá gỗ người dân trong thôn bán bao giờ cũng thấp hơn giá thị trường từ 200-250.000 đồng/m3.
Ông Lương Bá Tâm – Chủ tịch UBND xã cho biết: "Để phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đưa kinh tế rừng của xã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thời gian tới cấp ủy, chính quyền sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thấy rõ lợi ích kinh tế từ rừng; thực hiện các giải pháp chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển các mô hình kinh tế trang trại; nâng cao chất lượng rừng trồng bằng việc đưa các loại cây nguyên liệu có giá trị kinh tế cao vào trồng. Đặc biệt, xã sẽ quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông, mỗi năm phấn đấu làm khoảng 1km cho 1 thôn..." (Báo Yên Bái 7/9)đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu UBND tỉnh Tuyên Quang khẩn trương kiểm tra sự việc nêu trên báo Thiennhien.net qua bài viết "Rừng đặc dụng Na Hang bị phát tỉa cả cây to để... trồng rừng".
Trước đó, ngày 29/8/2012, báo Thiennhien.net đăng bài "Rừng đặc dụng Na Hang bị phát tỉa cả cây to để... trồng rừng", phản ánh chỉ trong vòng chưa đầy một tháng qua, hàng chục ha rừng đặc dụng Na Hang thôn Nà Lạ (xã Sơn Phú, Na Hang, Tuyên Quang) đã bị phát và đốt, trong đó nhiều cây gỗ lớn có đường kính 30 – 40cm bị chặt hạ ngổn ngang dọc theo khe suối Khuổi Hoi.
Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu UBND tỉnh Tuyên Quang khẩn trương kiểm tra sự việc, nếu đúng phải có biện pháp ngăn chặn để bảo vệ rừng đặc dụng và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20/9/2012. (Chinhphu.vn 6/9)đầu trang(
Nhu cầu sử dụng sừng tê giác ngày càng tăng vọt của bốn nhóm người tiêu dùng tại Việt Nam là nguyên nhân thúc đẩy sự gia tăng đáng lo ngại của bọn tội phạm săn lùng và giết hại tê giác bất hợp pháp tại Nam Phi, tờ Guardian (Anh) đưa tin.
Giữa những năm 1990- 2005, những kẻ săn trộm ở Nam Phi giết chết trung bình 14 con tê giác/1 năm. Kể từ đó, con số này đã tăng vọt. Trong năm 2010, tại Nam Phi đã có 333 con tê giác bị săn bắn và con số này là 448 trong năm 2011. Chỉ tính riêng từ đầu năm 2012 đến nay, số tê giác bị giết lấy sừng là 339 con.
Ông Tom Milliken, giám đốc Mạng lưới giám sát buôn bán động thực vật hoang dã (Traffic) tại khu vực đông nam châu Phi cho biết việc mất mát số lượng tê giác nêu trên được xem là “một khủng hoảng”.
Một báo cáo của Traffic do ông Milliken là đồng tác giả, được công bố cuối tháng 8/2012 xác định nguyên nhân tê giác bị giết hại ngày càng nhiều là do “sự kết hợp nguy hiểm của thể chế lỏng lẻo, hành vi sai trái của những người công tác trong ngành động vật hoang dã và các tổ chức tội phạm Châu Á”.
Theo báo cáo này, tại Việt Nam có bốn nhóm người tiêu dùng chủ yếu sử dụng sừng tê giác.
Đầu tiên, đó là một bộ phận nhà giàu Việt Nam sử dụng sừng tê giác mài thành bột và pha trộn bột vào nước uống sẽ mau chóng hóa giải được nồng độ cồn trong người sau khi uống nhiều rượu.
Họ còn pha trộn bột sừng tê giác vào rượu, đây được xem là thức uống đặc sản và bổ dưỡng, cho rằng như thế mới sành điệu và mang phong cách thời thượng. Họ còn lập ra cả “Hiệp hội rượu vang tê giác”!
Theo lời của ông Milliken, họ và đặc biệt là ở nam giới suy nghĩ theo cái quan niệm được gọi là y học cổ truyền châu Á rằng sử dụng sừng tê giác có tác dụng tốt trong sinh hoạt và kích thích tình dục. Nhưng họ đâu biết rằng chính việc sử dụng sừng tê giác sẽ gây ra mối đe dọa tuyệt chủng cho loài này trong tương lai gần.
Nhóm người tiêu dùng thứ hai tại Việt Nam tin theo một “huyền thoại” - chuyện không bao giờ có thực, đó là sử dụng sừng tê giác có thể chữa được bệnh ung thư và những người bị ung thư sắp chết là đối tượng dễ bị bọn tội phạm lừa gạt nhất.
Bằng cách giám sát các phòng chat, nhóm của ông Milliken phát hiện nhóm người tiêu dùng thứ ba tại Việt Nam sử dụng sừng tê giác - các bà mẹ trung lưu và giàu có. Nhóm người này mua để dành sừng tê giác ở nhà để điều trị sốt cao. “Nếu con của họ ngã bệnh và trường hợp uống các loại thuốc khác không bớt, trong trường hợp khẩn cấp này, họ sẽ dùng đến sừng tê giác”, ông Milliken nói.
Nhóm người tiêu dùng cuối cùng tại Việt Nam sử dụng sừng tê giác như một món quà đắt tiền trong cuộc sống, đôi khi như là “một loại tiền tệ không chính thức” cho các sản phẩm cao cấp, như thanh toán một phần cho một chiếc xe hơi mới.
Con người dường như thờ ơ trước việc tê giác bị giết hại. Ở Nam Phi, tê giác bị giết chết bởi súng trường AK-47. Báo cáo cho biết chỉ với một phát súng thì tê giác đã chết. Các băng nhóm tội phạm địa phương còn dùng máy bay trực thăng, thực hiện các phi vụ bắn tê giác trót lọt là do đã mua chuộc nhà chức trách, lách luật để có giấy phép săn bắn tại các công viên.
Sau khi săn trộm sừng tê giác, sừng sẽ được vận chuyển thông qua một loạt người mua trung gian, hay còn gọi là “cò”, sau đó xuất hàng cấm này sang châu Á. Sau khi xác định danh tính chính xác người mua từ châu Á, một sừng tê giác được cất giấu cẩn thận trong ba lô và chuyển phát nhanh từ Nam Phi về châu Á chỉ trong vòng 24 giờ.
Trong năm 2012, Nam Phi đã tăng cường các biện pháp chống săn trộm trong Công viên quốc gia Kruger cũng như tại các công viên khác có tê giác sinh sống, kết quả có 192 nghi phạm săn trộm tê giác bị bắt giữ. Tuy nhiên, theo báo cáo, về phía Việt Nam cho biết không tham gia vào các vụ săn bắn trộm sừng tê giác nêu trên.
Ông Đỗ Quang Tùng, Phó giám đốc cơ quan quản lý CITES - Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp tại Việt Nam cho hay: "Việt Nam không phải là thị trường chính trong các vụ mua bán sừng tê giác. Các nhà bảo vệ môi trường Việt Nam xác định những cáo buộc trong báo cáo này là chủ quan và không có bằng chứng cụ thể."
Chính phủ Nam Phi ước tính có khoảng 18.000 con tê giác trắng và 1.195 con tê giác đen. Tỷ lệ sinh tê giác cao hơn so với tỷ lệ chết. Nhưng Miken cảnh báo nếu tình trạng có hơn 500 con tê giác bị giết/1năm thì “dân số” của chúng sẽ bắt đầu giảm dần vào khoảng năm 2018.
Ông Joseph Okori, điều phối viên chương trình bảo vệ tê giác của Quỹ quốc tề bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại châu Phi, nói: “Bọn tội phạm săn bắn động vật hoang dã, giết tê giác để lấy sừng tại châu Phi đang tăng lên. Trong khi đó, nền kinh tế châu Á đang phát triển, nhu cầu đòi hỏi sử dụng các sản phẩm động vật hoang dã tăng cao và để có được các sản phẩm này buộc phải thông qua con đường vận chuyển bất hợp pháp”.
“Đây là một thực trạng rất phức tạp. Vấn đề này cần được giải quyết và có sự quan tâm hợp tác quốc tế ở mức cao nhất, không chỉ ở các diễn đàn tại Liên minh châu Phi mà còn tại Liên Hiệp quốc”, ông Joseph Okori khẳng định. (Vietnamnet 6/9)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Lữ Ngọc Cư cho biết, hiện nay, tỉnh Đắk Lắk đã chấm dứt chủ trương khảo sát, lập dự án trồng cao su trên địa bàn. Tỉnh chỉ khuyến khích, vận động các doanh nghiệp tập trung nguồn lực trồng hết diện tích cao su tại các dự án đã có quyết định thuê đất.
Nguyên nhân chấm dứt chủ trương khảo sát, lập các dự án trồng cao su trên địa bàn tỉnh là do phần lớn các doanh nghiệp không đủ điều kiện, thiếu năng lực về tài chính, khó khăn trong việc đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều khu vực trên bản đồ được quy hoạch trồng cao su, chủ yếu ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’Leo; nhưng, ngoài thực địa đã bị người dân xâm canh, lấn chiếm.
Tại các vùng quy hoạch cho các dự án phát triển cao su, tình trạng xâm hại rừng vẫn diễn ra nghiêm trọng (khai thác gỗ trái phép, phá rừng, lấn chiếm đất rừng để canh tác, mua bán trái phép và đòi tiền đền bù khi dự án được triển khai). Có trường hợp lợi dụng chủ trương của tỉnh về phát triển cây cao su đã mua bán, sang nhượng các dự án trái phép...
Tỉnh Đắk Lắk cũng dừng khảo sát, lập dự án trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo để chờ kết luận một số diện tích cao su đã trồng thí điểm; có hiệu quả kinh tế mới tiếp tục triển khai nhân rộng. Tỉnh cũng thu hồi các dự án trồng cao su của các doanh nghiệp để quá thời hạn quy định hoặc có dấu hiệu sang nhượng trái phép.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 33 dự án đã có quyết định thuê đất với tổng diện tích trên 22.906 héc ta và các doanh nghiệp đã trồng mới trên 6.800 héc ta cao su. (Thesaigontimes.vn 6/9)đầu trang(
Thông tin từ Vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) cho biết, 5.9, anh Nguyễn Văn Mạnh - cán bộ kiểm lâm thuộc vườn quốc gia - đã bị một đối tượng chém trọng thương trong khi làm nhiệm vụ.
Đang nằm điều trị tại bệnh viện với vết thương ở gót chân, anh Mạnh cho biết, vào thời điểm trên, khi đang đứng chốt ở sào barie, tổ công tác phát hiện chiếc xe ôtô BKS 38N-2484 do Lê Đình Niên (SN 1964, trú tại thị trấn Vũ Quang) điều khiển có biểu hiện nghi vấn.
Các cán bộ ra hiệu cho lái xe dùng lại để kiểm tra, nhưng tài xế không chấp hành mà tăng tốc đâm qua sào barie bỏ chạy. Lập tức, tổ công tác lên xe đuổi theo. Chạy được một đoạn khoảng 20m, bất ngờ Niên dừng xe rồi dùng mã tấu tấn công lực lượng kiểm lâm, khiến anh Mạnh bị trọng thương.
Nhận được tin báo, Công an huyện Vũ Quang đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường để phối hợp điều tra làm rõ. Đến 7h sáng 6.9, Niên đã đến Công an huyện đầu thú.
Vụ việc đang được cơ quan công an làm rõ. (Vnexpress.net 6/9; Lao Động 7/9; Người Đưa Tin 7/9; VTC 7/9)đầu trang(
Chiều 6-9, Công an huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh cho biết đối tượng Lê Đình Niên (SN 1964, trú tại thị trấn Vũ Quang) đã đến đầu thú và khai nhận hành vi chém kiểm lâm.
Trước đó, 5-9, cán bộ kiểm lâm thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang đang làm nhiệm vụ gác tại trạm Sào, phát hiện ô tô 38N-2484 loại 12 chỗ ngồi húc thẳng vào rào chắn. Lực lượng kiểm lâm yêu cầu dừng lại để kiểm tra giấy tờ thì bất ngờ tài xế Niên mở cửa cabin nhảy xuống cầm kiếm rượt đuổi chém tới tấp, khiến kiểm lâm Nguyễn Văn Mạnh bị trọng thương ở chân, phải chuyển vào Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Quang cấp cứu. (Sài Gòn Giải Phóng 7/9)đầu trang(
Cứ vào mùa mưa, các loài chim trời, cò, vạc, cởi hạ cánh xuống vùng “đất lành” của huyện Thạch Hà đều không thoát khỏi các tay săn với súng, bẫy được giăng khắp nơi. Mỗi ngày có hàng trăm con chim trời bị tận diệt.
Khi những cơn mưa sa đầu tháng 8 ập về, hồ Cựa ở xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà bỗng biến thành một cái bẫy khổng lồ chực sẵn để nhốt từng đàn chim trời bay từ ngoài biển khơi vào. Từng đàn cò giả đậu trắng hồ khiến bầy chim nào bay qua cũng sà xuống kết bạn. Dưới mặt đất, hàng nghìn que tre vót nhẵn một đầu dính nhạ (nhựa) đang chờ đợi chúng.
Trong vai người mua cò về nhậu, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt chứng kiến cảnh những “trận địa" bẫy cò được các tay săn giăng la liệt khắp nơi. Mỗi trận địa có hàng trăm con cò giả được làm bằng xốp trắng và hàng nghìn thanh tre gắn nhựa có độ dính kết cao cắm chi chít. Ở giữa là một vài con cò mồi thật buộc vào chân hoặc đuôi và nối bởi một sợ dây dài. Các tay thợ săn dùng lá cây ngụy trang thành chòi sao cho khi ngồi ở trong mà cò không phát hiện được. Khi đàn cò bay qua, thợ săn chỉ việc giật giây để cò mồi vùng vẫy và mở loa phát ra tiếng cò tìm bạn.
Những đàn cò di trú đã bay mỏi cánh, lại chưa quen với vùng đất mới nên khi nghe tiếng kêu của đồng loại đang kiếm ăn, chúng dễ dàng đáp xuống. Ngay lập tức, chúng bị dính chặt vào những thanh tre phủ một lớp keo. Đàn cò hàng chục con không có con nào thoát được vòng vây “trận địa bẫy” của các tay thợ săn.
Một thợ săn tên Liên ở thôn Đại Hải, xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà cho biết, bắt đầu hành nghề bẫy cò từ năm lên 15 tuổi đến nay đã gần 70 tuổi, ông vẫn chưa ngừng săn bắt cò. Thời điểm cò nhiều là từ tháng 7 - 10, trung bình mỗi ngày bắt hàng chục con cò, vạc, cởi đủ loại, bán cho lái buôn với giá 20 - 25 nghìn đồng/con.
Ông Liên cho biết thêm, hiện ở Thạch Hà có khoảng 30 - 40 điểm bẫy cò bằng hình thức này.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều huyện đang săn bắt chim trời, đặc biệt là huyện Nghi Xuân có 40 - 50 điểm bẫy cò.
Anh Vân ở xã Thạch Hải cho biết, số lượng cò năm nay ít hơn so với mấy năm trước. Người dân ở đây quen với việc bẫy cò từ nhiều đời, với suy nghĩ “chim trời cá nước”, ai bắt người đó hưởng. Thêm nữa, họ chỉ có nghề nông quanh năm túng thiếu, đánh bắt cò để cải thiện cuộc sống ít nhiều.
Trong các cách tận diệt chim trời, các tay thợ săn quen sử dụng kiểu bẫy truyền thống là dùng cò mồi và thanh tre có nhựa dính kết. Thịt chim trời từ lâu trở thành món khoái khẩu của nhiều người. Nhu cầu càng lớn vì thế người làm nghề bẫy cò cũng ngày càng đông. Số lượng chim bắt được thường được các thương lái xuống tận nơi để mua về bán lại cho quán hàng nhậu. Nếu ít, người dân đem ra chợ bán.
Tại chợ Thạch Kim, xã Thạch Hải, người mua kẻ bán tấp nập với đủ loại chim trời như cò trắng, vạc, diệc, chim cu. Chúng bị vặt lông sống, hoặc có người cầm cả 10 con chim đập mạnh đầu chúng vào tường cho chết rồi đem thui…
Trước thực trạng trên, nếu chính quyền không có biện pháp ngăn chặn bảo vệ thì nguy cơ tận diệt chim trời, làm mất cân bằng sinh thái sẽ để lại những hậu quả rất khó lường. (Thanh Tra 6/9)đầu trang(
Tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kon Tum cho biết, 8 tháng qua, toàn tỉnh đã phát hiện 455 vụ phá rừng làm nương rẫy trái phép, với diện tích rừng bị phá trên 88ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên bị phá hại chiếm đến gần 90%.
Huyện Đắk Glei là địa phương để xảy ra nhiều vụ phá rừng nhất (323 vụ với gần 60ha); tiếp đến là huyện Tu Mơ Rông (53 vụ, gần 4 ha), Đắk Tô (44 vụ, trên 8ha)…
Bình quân, mỗi tháng ở Kon Tum xảy ra 57 vụ, với 11ha rừng bị chặt phá trái phép để làm nương rẫy. (Thanh Tra 7/9)đầu trang(
Về nạn phá rừng rầm rộ xảy ra tại Vườn quốc gia (VQG) Yók Đôn, lãnh đạo vườn nói do nhiều nguyên nhân chứ không phải một, trong khi Chủ tịch huyện Buôn Đôn cho rằng có quá nhiều kiểm lâm VQG làm... lâm tặc.
Về giải pháp chống lâm tặc, ông Đinh Văn Khiết - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc - cho rằng, nên phát động phong trào nói không với lâm tặc, tổ chức bảo vệ rừng theo phương châm bốn tại chỗ giống như chống bão.
Trong cuộc họp tại UBND huyện Buôn Đôn mới đây, ông Trần Văn Thành - quyền Giám đốc VQG Yók Đôn - thừa nhận, ngày nào cũng có lâm tặc vào VQG đốn hạ gỗ quý, nạn phá rừng đang ở mức báo động đỏ. “Ngoài quyết định sa thải kiểm lâm viên Hồ Văn Huy (con trai Phó Giám đốc VQG Yók Đôn Hồ Văn Cầu - NV) do móc nối với lâm tặc, chúng tôi đã luân chuyển 15 cán bộ kiểm lâm khác để tránh việc kiểm lâm bắt tay với lâm tặc” - ông Thành cho hay.
Tuy nhiên, điều dư luận cả nước quan tâm là tại sao nạn phá rừng tại VQG Yók Đôn lại diễn ra rầm rộ, bất thường như vậy. Theo lãnh đạo VQG Yók Đôn, dân các xã quanh vườn còn nghèo, giá trị lâm sản và động vật rừng quá lớn, nên phần đông người dân vẫn sống dựa vào rừng. Đặc biệt, các xưởng cưa tại huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp chưa được quản lý chặt bởi ngành chức năng và chính quyền sở tại. Do vậy, nhiều đầu nậu mua sắm thuyền máy, xe máy, xe đạp độ chế... và ứng tiền cho dân vào rừng khai thác gỗ. Ngoài ra, nhiều đối tượng từ nơi khác vào nhà người đồng bào dân tộc tại chỗ ở lại, xin làm con nuôi để “dựa hơi” khai thác, buôn bán gỗ.
“Vừa rồi chúng tôi mời 16 người là chủ bến, chủ bãi dọc bờ sông Sêrêpốk và chủ hộ chứa chấp lâm tặc đến tuyên truyền. Nhưng chỉ có 8 người đến, rồi chẳng ai chịu vào bản ký bản cam kết” - ông Thành bày tỏ.
Ngược lại, ông Trần Văn Nhượng - Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn - cho rằng, nạn phá rừng là do kiểm lâm vườn tiêu cực. Ông Nhượng nói: “Lực lượng kiểm lâm bị tê liệt, một bộ phận không nhỏ kiểm lâm (trong gần 200 kiểm lâm viên - NV) của VQG Yók Đôn là lâm tặc. Họ thông đồng với lâm tặc tẩu tán tang vật, thậm chí lấy tang vật làm của riêng... Tôi hỏi các trạm kiểm lâm đặt sát nhau, tại sao gỗ lậu vẫn ra khỏi rừng?”.
Để hạn chế được nạn phá rừng, ông Trần Văn Nhượng đề nghị: “Bây giờ phải thành lập một chuyên án lớn, đủ sức mạnh để đánh giập đầu bọn lâm tặc đầu nậu thì mới giảm được”. Còn ông Đinh Văn Khiết - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc - nhận định, vi phạm tại VQG Yók Đôn còn diễn biến phức tạp. Nên phát động phong trào “Huyện Buôn Đôn không có lâm tặc”, “Huyện Buôn Đôn nói không với lâm tặc” chẳng hạn.
Trước mắt, UBND huyện phải tổ chức bảo vệ rừng theo phương châm 4 tại chỗ, gồm chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Trao đổi với PV Lao Động, ông Khiết cho biết, tỉnh đang quyết liệt chỉ đạo các ngành chức năng và UBND huyện Buôn Đôn tăng cường truy quét, điều tra, xử lý nạn lâm tặc phá rừng tại VQG Yók Đôn - VQG lớn nhất cả nước. (Lao Động 7/9)đầu trang(
Loài voọc chà vá chân nâu và các loài linh trưởng ở khu rừng đặc dụng bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) có nguy cơ bị đe dọa bởi các dự án du lịch, hệ thống đường giao thông và nạn săn bắt động vật trái phép.
Với gần 2.600 ha rừng đặc dụng, bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) được mệnh danh là xứ sở của nhiều loài linh trưởng như khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài, khỉ mặt lợn... Đặc biệt, khu rừng này còn có voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao trong Sách đỏ Việt Nam.
Nằm cách trung tâm TP Đà Nẵng chưa đến 10 km về phía đông, bán đảo Sơn Trà ẩn mình trong làn sương mờ ảo với những cánh rừng nguyên sinh rậm rạp nối tiếp nhau kề mép biển. Hai bên con đường nhựa ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh Sơn Trà thỉnh thoảng lại xuất hiện những bầy khỉ đuôi dài chuyền trên những cành cây cổ thụ.
Theo một cán bộ kiểm lâm, từ con đường này đi bộ vào sâu trong rừng rậm chừng 20 phút là gặp loài voọc chà vá chân nâu - “nữ hoàng” của các loài voọc. “Do đặc tính của loài voọc thường sống phân bố tập trung ở các khu vực rừng nguyên sinh, chưa có sự xuất hiện của con người nên rất hiếm khi chúng ta bắt gặp chúng. Chúng chỉ di chuyển đi tìm kiếm thức ăn, nước uống vào thời điểm sáng sớm và gần chiều tối. Mỗi lần chúng tôi đi tuần tra sâu vào rừng thường bắt gặp mỗi đàn khoảng 10-13 con đi chung với nhau” - cán bộ kiểm lâm này cho biết.
Cách điểm du lịch chừng 1 km đường rừng, đàn voọc chà vá chân nâu với bộ lông ngũ sắc sặc sỡ đứng trên cây cao hướng ánh mắt tò mò nhìn những vị khách lạ. Dường như chúng đang dần quen với sự có mặt của khách du lịch. Vừa đưa ống kính máy ảnh lên thì chú voọc đã nhanh chân di chuyển sang cành cổ thụ khác ẩn nấp.
Ông Nguyễn Văn Ninh, một “thổ dân” sống gần 40 năm dưới chân bán đảo Sơn Trà, cho hay trước đây bán đảo Sơn Trà còn được gọi là Monkey Moutain (núi khỉ) với số lượng khỉ và voọc lên đến hàng ngàn con. “Hồi ấy gia đình tôi thường đi thuyền đánh cá ra neo men rừng Sơn Trà chờ thả lưới. Lũ khỉ, voọc trên núi tràn xuống, chui vào thuyền lấy đồ ăn, nước uống mang đi. Chúng tôi sợ quá phải đưa thuyền ra neo đậu ở xa bờ, chờ mặt trời lên cao mới dám vào bờ” - ông Ninh kể.
Trong ký ức của nhiều người dân Sơn Trà, voọc và khỉ là những con vật quen thuộc, gần gũi với cuộc sống con người. Trải qua thời gian, số lượng các loài linh trưởng dần ít đi. “Giờ muốn ngắm nhìn những chú voọc đầy màu sắc cũng phải đi bộ gần nửa ngày vào sâu trong rừng mới hy vọng gặp” - ông Ninh tiếc nuối.
Nhìn từ xa bán đảo Sơn Trà như một chiếc bánh bị cắt xẻ bởi những khu du lịch và các tuyến đường giao thông chằn chịt bao quanh đảo. Đi về phía đông nam bán đảo, các khu resort, khu giải trí, điểm du lịch nối tiếp nhau san sát. Nhiều cánh rừng bị phá nham nhở để nhường đất cho các dự án này.
Theo ông Nguyễn Văn Nhì, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, hiện các dự án du lịch và đường giao thông đang ảnh hưởng xấu đến Khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà và cuộc sống của các sinh vật trên đảo. “Hệ thống đường sá chạy bao quanh và từ chân lên tới đỉnh bán đảo đã chia cắt, biệt lập nhiều khu vực rừng nguyên sinh. Các khu resort ở phía đông nam bán đảo cũng chiếm một phần lớn diện tích khu bảo tồn. Tuy nhiên, đây là phần rừng trồng được TP giao cho các đơn vị làm du lịch, voọc chà vá và khỉ hiếm khi xuất hiện ở đó”.
Theo TS Hà Thăng Long, chuyên gia nghiên cứu về loài voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà, quá trình làm đường giao thông đang làm mất dần nguồn thức ăn và giá thể quan trọng cho việc di chuyển của loài voọc. “Do loài voọc này có đời sống trên tầng tán cao của cây nên khi xuống đất băng qua đường dễ bị các loài khác tấn công. Sự xáo trộn ổ sinh thái (vùng sống) do sự hiện diện thường xuyên của con người trên các tuyến đường có thể ảnh hưởng đến sức sinh sản của loài”.
Để kết nối những cánh rừng bị chia cắt, UBND TP Đà Nẵng đã có dự án xây dựng các cầu vượt cây xanh tại một số điểm bị chia cắt để các loài linh trưởng băng qua các con đường du lịch, đường quốc phòng. Tuy nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa được triển khai. “Trước mắt, lực lượng kiểm lâm đã thiết lập “vành đai” không cho du khách đến tiếp cận khu vực loài voọc sinh sống. Nhưng nhiều du khách hiếu kỳ vẫn lơ quy định, bước qua khu vực để “mục sở thị” loài voọc quý hiếm” - ông Nhì cho hay.
Ngoài mối đe dọa từ các dự án du lịch, đường giao thông thì nạn săn bắt động vật trái phép cũng khiến loài voọc ở Sơn Trà đứng trước nguy cơ bị suy giảm số lượng. “Các đối tượng săn bắt trái phép thường đặt các loại bẫy đạp (bẫy dưới đất) và bẫy treo (bẫy thòng lọng trên cây) để bắt khỉ, voọc và các sinh vật khác. Họ sử dụng các loại dây thắng xe đạp được làm bằng kim loại để bẫy thú. Khi thú rừng dính bẫy thì rất khó để thoát ra khỏi gọng kìm của chiếc bẫy” - kiểm lâm viên Trần Vân cho hay.
Theo hạt kiểm lâm, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phá bỏ hàng trăm chiếc bẫy do các thợ săn cài đặt, giải cứu nhiều loài động vật bị dính bẫy. “Chúng tôi phải thường xuyên tuần tra, theo dõi, ngăn chặn các đối tượng săn bắt động vật xâm nhập trái phép vào rừng nguyên sinh. Nhưng do địa bàn quản lý rộng, lực lượng kiểm lâm lại mỏng nên gặp rất nhiều khó khăn. Các đối tượng săn bắt động vật trái phép lại tinh ranh, thủ đoạn, họ thường đặt bẫy ở những cánh rừng rậm rạp và đi kiểm tra bẫy, lấy mồi về vào lúc 3-4 giờ sáng nên khó phát hiện, truy bắt” - ông Nhì nói.
Để bảo tồn các loài linh trưởng, hạt kiểm lâm cũng thường xuyên động viên, khuyến khích người dân địa phương có nuôi nhốt các loài khỉ, voọc đưa trả lại về rừng. Đầu năm 2011, một người dân ở Đà Nẵng đã đưa đến hạt một con voọc chà vá chân nâu mới 2-3 tháng tuổi. Do không thể thả nó về rừng nên các kiểm lâm viên phải thay nhau chăm sóc chú voọc con. “Nó còn quá nhỏ nên chúng tôi phải pha chế sữa, đút từng miếng cho nó uống cầm hơi. Sau gần năm ngày chăm bẵm, đơn vị đưa chú voọc con này vào Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã TP.HCM để nuôi dưỡng” - một kiểm lâm viên kể lại. (Pháp Luật TPHCM 7/9)đầu trang(
TS Hà Thăng Long, chuyên gia nghiên cứu về loài voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà (Đà Nẵng) cho hay: Hiện số liệu về số lượng voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà còn có sự tranh cãi nhưng ước đoán dao động từ 180 đến 250 cá thể.
Rừng Sơn Trà có hệ sinh thái đa dạng về thành phần loài thực vật với hơn 980 loài nên có nguồn thức ăn phong phú và đa dạng. Rừng có đặc điểm là ba mặt giáp biển, độ dốc lớn nên ít chịu sự tác động của con người trong thời gian dài. Đó là điều kiện thuận lợi để loài voọc sinh sản, phát triển.
Theo tôi, hoạt động du lịch phải được triển khai có quy hoạch, kế hoạch khai thác hợp lý, cụ thể để đảm bảo không xâm phạm không gian sống của loài voọc. Các phương án bảo tồn loài hiện nay là: Làm các đường di chuyển băng qua đường; làm cầu cây; đưa du khách đến các điểm quan sát cố định, không tự ý đi nhiều trong rừng.
Các khu nhà nghỉ, khách sạn giữ gìn sinh cảnh sống tự nhiên của loài, không cắt quá nhiều cây rừng. Lập đội giám sát thường xuyên sự di chuyển và số lượng của loài, giám sát và bảo vệ nguồn thức ăn quan trọng của loài. (Pháp Luật TPHCM 7/9)đầu trang(
Lãnh đạo Cục Hải quan Hà Tĩnh cho biết: Khoảng 3 giờ 50 phút ngày 6-9, lực lượng chống buôn lậu của Hải quan Hà Tĩnh đã phát hiện và thu giữ 103 kg kỳ đà, một loài động vật hoang dã.
Đội kiểm soát Hải quan (Cục hải quan Hà Tĩnh) đã tiến hành theo dõi trên quốc lộ 8 và phát hiện đối tượng có dấu hiệu nghi vấn. Đến địa phận xã Sơn Bằng (Hương Sơn - Hà Tĩnh) do bị đuổi sát nên đối tượng đã vứt bỏ tang vật và tẩu thoát.
Số tang vật mà đối tượng vứt bỏ là 103 kg kỳ đà đang sống được chứa trong các bao tải.
Hiện chưa xác định được chủ sở hữu số tang vật trên. Toàn bộ số tang vật trên được giao cho cơ quan chức năng xử lý.
Đội Kiểm soát Hải quan đã tiến hành các thủ tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, vào ngày 4-9 cũng trên QL8 thuộc địa phận xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) lực lượng cảnh sát môi trường Công an Hà Tĩnh đã phát hiện, bắt giữ vụ vận chuyển trái phép bốn cá thể hổ và hơn 419 kg tê tê sống. (Nhân Dân 7/9; Tuổi Trẻ 7/9; Pháp Luật TPHCM 7/9)đầu trang(
Ngày 6.9, tin từ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình cho biết đã khởi tố 25 bị can liên quan vụ 3 cây huê trị giá hàng trăm tỉ đồng bị đốn hạ trong Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng.
Tất cả các bị can cùng ở H.Bố Trạch. Trong đó 12 người bị khởi tố về tội “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” (gồm 11 người đã chặt 3 cây huê cùng thợ cưa gỗ Nguyễn Văn Sáu), 12 người tội “cướp tài sản” và thương lái Đỗ Xuân Hải về tội “tiêu thụ tài sản bất hợp pháp”. Cơ quan công an đã tạm giam 6 bị can, còn lại cấm rời khỏi nơi cư trú.
Trao đổi với Thanh Niên, đại tá Nguyễn Văn Hiệu, Phó giám đốc, Thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình thừa nhận diễn tiến điều tra có chậm, do hiện trường vụ án ở nơi xa xôi cách trở, phải thẩm vấn rất nhiều người và có phần hạn chế từ cán bộ điều tra.
Về trách nhiệm của Ban Quản lý VQG, theo đại tá Hiệu, quá trình điều tra hiện đã xác định rõ tội danh của những người chặt, mua bán và cướp gỗ huê. Nhưng việc xác định trách nhiệm hình sự đối với từng cá nhân cụ thể trong Ban Quản lý VQG và lực lượng kiểm lâm của vườn thì khó khăn hơn, vì rất khó để tính được tổng thiệt hại và những móc nối. Hiện cơ quan điều tra đang ráo riết làm rõ vấn đề này. Ngoài ra, công an cũng đang xác minh, làm rõ một nhóm người về dấu hiệu “cưỡng đoạt tài sản”. (Thanh Niên 7/9)đầu trang(
Việt Nam là nơi cư ngụ của gần 200 loài rắn thuộc tám họ. Rắn độc chủ yếu thuộc hai họ rắn hổ và rắn lục, cùng họ với những con bò sát đang xuất hiện nhiều và tấn công người dân ở Cần Thơ.
Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris). Đây là loài rắn cực độc trong số các loài rắn lục. Thân của chúng có màu xanh, đuôi có màu nâu đỏ. Chiều dài thân khoảng 60 - 100 cm. Thức ăn của chúng là chuột, chim, thằn lằn và ếch. Chúng thường cư ngụ vào ban đêm trên mặt đất và nghỉ ngơi trên cây vào ban ngày.
Chúng sống ở vùng đồi núi có độ cao dưới 400 m, đôi khi nó cũng cư trú ở các khu vực thành thị. Đây là loài có mặt hầu như trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ Cao Bằng cho đến Kiên Giang, Minh Hải.
Đây là loài đặc biệt vì trong họ hàng nhà rắn lục chỉ có rắn lục đuôi đỏ là loại đẻ con, chúng không giống một số loài rắn khác ấp trứng mà sau khi trứng được thụ tinh thì ở lại ngay trong bụng rắn mẹ. Lúc rắn mẹ mang thai thì nọc độc của nó tập trung nhiều nhất và hung dữ nhất.
Rắn lục đuôi đỏ có nọc độc và nguy hiểm. Loài rắn này gây ra nhiều vết thương nguy hiểm do vết cắn của chúng. Một số người dân ở Cần Thơ mới đây cho biết đã gặp và đập chết những con rắn này sau khi bị chúng cắn.
Theo trang web của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, con rắn màu đen đầu trắng này có tên Rắn lục đầu bạc (Azemiops feae).
Loài này có kích cỡ trung bình, đầu hơi dẹp phân biệt rõ với cổ. Chiều dài cơ thể khoảng 80 cm. Chúng sống trên các vùng núi cao lên tới 1.000 m. Rắn lục đầu trắng phân bố ở Cao Bằng, Vĩnh Phú, Lạng Sơn. Các chuyên gia khuyến cáo, không nên bắt hay tấn công loài này khi gặp chúng.
Rắn lục núi (Ovophis monticola) có đầu hình tam giác, mặt trên phủ những vảy nhỏ. Chiều dài cơ thể chúng khoảng 50 cm. Thức ăn chủ yếu của loài này là thú nhỏ, chim, thằn lằn, ếch nhái, theo website Sinh vật rừng Việt Nam.
Rắn lục núi thường ở vùng rừng núi, có độ cao lên tới 1.500 m. Chúng còn sống gần nơi ở của người như vườn, những bụi rậm gần trường học hay sân chơi. Rắn sinh hoạt về ban đêm. Tại Việt Nam, loài này sống ở Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Nội, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum.
Rắn lục sừng (Trimeresurus cornutus). Đầu chúng có hình tam giác phân biệt rõ với cổ, mặt trên đầu phủ vảy nhỏ, có vảy trên mắt phát triển thành cái sừng trên mắt. Kích thước trung bình của cơ thể là 50 cm. Rắn lục sừng sống ở rừng núi cao thuộc cái tỉnh Lào Cai, Thừa Thiên Huế. Trên thế giới chưa phát hiện loài rắn này. Ảnh: Sinh vật rừng Việt Nam.
Rắn lục Trùng Khánh (Protobothrop trungkhanhensis). Kích thước loài này khoảng 70 cm, khá nhỏ so với những loài thuộc giống Protobothrops. Chúng có đặc điểm: màu sắc mặt lưng, đầu của con đực và cái tương tự nhau có màu nâu xám nhạt. Chúng sống ở độ cao 500 - 700 m trong các khu rừng thường xanh và rừng mưa núi đá vôi nhiệt đới
Cho đến nay, rắn lục trùng khánh mới chỉ được phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Rắn lục xanh (Trimeresurus stejnegeri). Nhìn từ bên ngoài, rắn lục xanh tương tự với loài Trimeresurus popeorum, nhưng bộ phận sinh dục của nó có cấu trúc khác nhau về cơ bản, vì thế nhiều người nghĩ hai loài này là một.
Loài này thường sống ở khu rừng trên núi có độ cao tới 2.845 m. Là loài ăn đêm và nửa sống trên. Đôi khi chúng nghỉ hoặc đang săn lùng thức ăn gần các con suối trên núi. Thức ăn của chúng là động vật có vú nhỏ, chim, thằn lằn.
Rắn lục xanh phân bố ở Hòa Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai.
Rắn lục von gen (Viridovipera vogeli). Đỉnh đầu và thân của loài này màu xanh lục, phần bụng màu xanh lục nhạt hơn. Giới khoa học chưa tìm hiểu rõ về thức ăn của rắn lục miền nam. Chúng thường ăn đêm, sống ở trong bụi rậm, lùm cây thấp ở địa hình đồi núi có độ cao từ 900 m đến 1.500 m. Loài rắn này sống ở Gia Lai, Đồng Nai, Lâm Đồng.
Rắn lục mũi hếch (Deinaglistrodon acutus). Đầu chúng có hình tam giác, mặt trên đầu có phủ lớp vảy lớn. Chiều dài cơ thể khoảng 80 – 150 cm, có khi tới 1.800 mm. Thức ăn của chúng là thú nhỏ, chim và bò sát. Rắn lục mũi hếch thường ở những vùng rừng núi cao bên suối nước, hoặc ở các nương rẫy. (Vnexpress.net 7/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Một số động vật tuyệt đẹp ở Châu Á đang có nguy cơ tuyệt chủng nếu các nước trong khu vực không có biện pháp bảo tồn chúng.
Theo Danh sách cc loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã phát hành, thì ở Châu Á có các loài như hổ, đười ươi, cá trê khổng lồ vùng Mekong, tê giác, rùa khổng lồ Châu Á và kền kền Châu Á. Ngoài ra, còn có loài bò xám kouprey ở Đông Nam Á và cá heo nước ngọt ở Trung Quốc cũng có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Báo cáo của một nhóm bảo vệ môi trường tại Đại hội Bảo tồn Thiên nhiên ở Jeju, Hà Quốc, ngày 5/9, cho biết
Để sinh tồn, mỗi loài trên đã và đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức khó khăn do hàng loạt các yếu tố gây ra như mất môi trường sống, săn bắn bất hợp pháp và buôn bán động vật hoang dã. Trong đó, đười ươi bị giảm quần thể hoang dã do các đồn điền cọ bị phá làm đất nông nghiệp, tê giác và rùa khổng lồ chủ yếu bị săn bắt liên tục, kền kền đã gần như bị quét sạch do ăn phải thức ăn độc, còn số cá da trơn Mekong cũng giảm mạnh do đánh bắt quá mức.
Nhóm bảo vệ môi trường đề nghị các nước ở Châu Á cần phải cấp bách bảo tồn các loài trên theo Phương pháp tiếp cận “3 R”: Công nhận (Recognition), Trách nhiệm (Responsibility) và Phục hồi (Recovery). Điều này cũng đòi hỏi không chỉ các nhà bảo tồn mà cả các nhà chính trị cũng phải đồng trách nhiệm tham gia.
Nhóm cảnh báo rằng, nếu không thực hiện đầy đủ các bước trong “3R” thì các động vật có nguy cơ tuyệt chủng ở Châu Á cũng sẽ biến mất vĩnh viễn như trường hợp loài chim bồ câu Viễn Khách ở Mỹ. Tuy nhiên, nhóm cũng bày tỏ niềm tin rằng, chính phủ các nước Châu Á hoàn toàn có khả năng để bảo vệ các loài khỏi tuyệt chủng. (Đất Việt 6/9)đầu trang(
Trung tâm Bảo tồn Tài nguyên Quốc gia Indonesia (BBKSDA) tại tỉnh East Nusa Tenggara cho biết khoảng trên 40 con rồng Komodo đã chạy ra và sống bên ngoài các khu vực trong Công viên Quốc gia dành riêng cho loài bò sát khổng lồ, do môi trường sống của chúng bị đe dọa.
Người dân địa phương đã thông báo với BBKSDA thấy rồng Komodo xuất hiện tại nhiều nơi ngoài khu bảo tồn tại West Manggarai dành riêng cho chúng, như ở Nampar Sempang, Wae Wuul, Wolo Tadho, Riung, Watu-Manuk, Ende, Maumere, và cả ở vịnh Nangalili.
Giám đốc BBKSDA East Nusa Tenggara, Wiratno cho biết mới đây nhất, các nhà khai thác đã bắt được một con rồng Komodo đực tại ở Tadho Wolo Sanctuary và đã chuyển nó đến đảo Ontoloe.
Con rồng Komodo này nặng 24,4kg, dài 136cm, và đã bị nhiều vết thương trên mặt, lưng, đuôi và hiện đang được các chuyên gia y tế của BBKSDA chăm sóc và điều trị.
BBKSDA đã cử các nhóm nhân viên tiến hành tìm kiếm, bắt giữ và đưa các con rồng Komodo đã thoát ra ngoài trở lại khu vực tự nhiên dành riêng cho chúng.
Ông Wiratno cho biết nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do hoạt động phá rừng, làm đường phục vụ cho việc khai thác mỏ của một số công ty, nhất là công ty khai thác vàng gần Công viên Quốc gia Komodo ở West Manggarai.
Các nhà bảo vệ môi trường và động vật hoang dã đã kêu gọi chính phủ cấm các hoạt động khai thác mỏ ở West Manggarai, và kêu gọi chính quyền tỉnh East Nusa Tenggara rút lại tám giấy phép đã cấp cho các công ty khai thác than và khoáng sản.
Hoạt động khai thác tuy đem lại thu nhập trước mặt cho ngân sách, song về lâu dài sẽ hủy hoại môi trường tự nhiên, gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch, nhất là khi Công viên Quốc gia Komodo mới đây đã được công nhận là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.
Dambung Lamuara Djaja, một quan chức cấp cao ngành du lịch East Nusa Tenggara nói rằng Công viên Quốc gia Komodo là một biểu tượng quốc gia và quốc tế, đem lại doanh thu hàng năm cho ngân sách tới 70 tỷ rupiah (trên 7 triệu USD), và các hoạt động khai thác quanh khu vưc công viên sẽ chỉ làm giảm doanh thu và phá hoại hình ảnh biểu tượng rồng Komodo của đất nước. (VietnamPlus.vn 6/9) đầu trang(
Hãng hàng không Cathay Pacific ngày 4/9 thông báo hãng sẽ không chấp nhận việc chuyên chở các sản phẩm làm từ cá mập đang bị đe dọa trong các chuyến bay của mình, qua đó gây ảnh hưởng lớn tới ngành công nghiệp vi cá mập ở Hong Kong.
"Cathay Pacific đã quyết định ngừng việc vận chuyển cá mập được đánh bắt từ các nguồn cá không bền vững và các sản phẩm liên quan tới cá mập" - đại diện công ty nói - "Có những chứng cứ khoa học rất thuyết phục cho thấy đây là việc nên làm đối với một công ty cam kết ủng hộ sự bền vững.
Cụ thể hơn, do bản chất dễ bị thương tổn của loài cá mập, việc quy mô dân số của chúng đang sụt giảm nhanh và tác động từ việc đánh bắt quá đà để thu lấy các sản phẩm từ chúng, việc chúng tôi vẫn tiếp tục vận chuyển các mặt hàng liên quan tới cá mập sẽ mâu thuẫn với cam kết của chúng tôi đối với hoạt động phát triển bền vững".
Hong Kong là một trong những thị trường tiêu thụ vi cá mập lớn nhất thế giới, vốn được dùng làm súp và là món ăn rất đắt tiền.
Các nhà môi trường nói rằng ngành công nghiệp săn bắt cá mập bền vững hiện có quy mô rất nhỏ và phần lớn các sản phẩm liên quan tới cá mập hiện đang được khai thác theo cách thức có thể đe dọa nhiều loài cá mập khác nhau, vốn rất quan trọng với sự cân bằng của hệ sinh thái biển.
Cathay nói rằng công ty đã xem xét vấn đề này trong một thời gian dài trước khi đứng về phía các nhà bảo tồn môi trường. "Quyết định phải dựa trên nghiên cứu khoa học, ví dụ như có phải những con cá mập đang thực sự bị đe dọa? " - công ty nói - "Chúng tôi giờ tin rằng mình có chứng cứ thuyết phục về việc đại đa số hoạt động săn bắt cá mập đều đối nghịch với quan điểm của chúng tôi về hoạt động phát triển bền vững" .
Công ty cho biết chính sách mới sẽ có hiện lực trong 3 tháng nữa, để các công ty vận tải nhận được thông báo và các quy trình phù hợp được triển khai.
Tuy nhiên công ty nói rằng họ sẽ ngừng ngay các hợp đồng chuyên chở các sản phẩm cá mập từ những nguồn không bền vững. (VietnamPlus.vn 6/9) đầu trang(
Báo chí Nga hôm 6-9 cho biết, Tổng thống Vladimir Putin vừa thực hiện hai cuộc bay bằng tàu lượn có động cơ để dẫn đầu đàn sếu di trú ở Siberia trong một dự án mang tên “Chuyến bay Hy vọng” nhằm bảo vệ loài sếu thân trắng mỏ đỏ trước nguy cơ tuyệt chủng.
Chuyến bay tàu lượn mang tính biểu tượng, Tổng thống Putin bay dẫn đầu đàn sếu để dẫn loài chim này đến một tương lai ấm áp và tươi sáng hơn.
Trên thực tế, ông Putin đã thực hiện ba lần cất cánh bằng tàu lượn. Lần một để thử máy và làm quen với tàu lượn. Hai lần sau, Tổng thống Putin đã bay dẫn đầu hai đàn sếu di trú.
Đáng ngạc nhiên là những con chim chân dài mỏ đỏ này chấp nhận Tổng thống Nga làm người dẫn đường. Những con sếu mỏ đỏ này được nuôi tại vườn chim Kushevat cần có người dẫn đường di trú tới nơi ấm áp hơn để tránh mùa đông giá rét ở Siberia. Kushevat là nơi gần thành phố Salerrkhard ở Bắc Cực.
Trong chuyến cất cánh thứ hai, khi đàn sếu được thả ra chỉ mỗi một con bay theo Tổng thống Putin.
Người dẫn đầu đàn sếu nói rằng có thể do cánh quạt động cơ phản lực của tàu lượn thổi gió quá mạnh ra phía sau khiến những con sếu sợ hãi.
Hơn nữa, tàu lượn của Tổng thống Putin bay quá nhanh khiến những con sếu không thể theo kịp người dẫn đường cho chúng.
Chuyến bay thứ ba của Tổng thống Putin với đàn sếu thành công hơn với 5 con sếu bay theo và kịp với Tổng thống Putin trong khoảng 15 phút.
Sau các chuyến bay dẫn đầu đàn sếu, Tổng thống Putin cho biết, ông rất thích dự án này. Chính ông đã bỏ tiền túi ra mua chiếc tàu lượn để thực hiện bay với đàn sếu.
Sau đó, Tổng thống Putin tặng chiếc tàu lượn của mình cho các nhà khoa học Nga. Ông Putin khuyên mọi người nếu có điều kiện hãy bay thử một lần để thấy chuyến bay như vậy thật thú vị.
Dự án “Chuyến bay Hy vọng” nhằm dạy cho những con sếu non đường bay từ Khu tự trị Yamalo-Nenets qua phía tây Siberia và Kazakhstan tới miền nam Uzbekistan nơi có khí hậu ấm hơn cho loài chim di trú tránh rét mùa đông. Đây là dự án đầu tiên và là duy nhất hiện nay trên thế giới về lĩnh vực này.
Ông Alexander Sorokin, Điều phối viên của dự án nói rằng bằng cách hướng dẫn loài sếu di cư đến nơi tránh rét sẽ góp phần giải quyết tình trạng sếu bị chết dần chết mòn dẫn đến giảm số lượng đàn.
Xưa nay, mỗi khi mùa đông đến gần, sếu Siberia thường di trú tới Ấn Độ qua Afghanistan và Pakistan đường bay vừa xa vừa nhiều rủi ro khiến nhiều con chết dọc đường di trú.
Những con sếu nuôi trong vườn chim không có khả năng tự tìm nơi di trú vì chúng không được sống với những con sếu tự nhiên vào mùa đông thường bay tới nơi khí hậu ấm áp theo bản năng của loài sếu.
Vì vậy những con sếu nuôi trong vườn chim không học được kỹ năng di trú từ thế hệ lớn tuổi hơn.
Để huấn luyện cho những con sếu nuôi trong vườn chim, các nhà khoa học phải luyện cho chúng bay khoảng 1.200 km trước khi cho những con sếu này nhập với đàn sếu tự nhiên.
Tổng thống Putin đã bay tổng cộng 17 tiếng đồng hồ cùng đàn sếu. Ông vui vẻ chia sẻ cảm xúc của ông về chuyến bay với các phóng viên, nói rằng ông cảm thấy rất an lòng khi bay vì mọi thứ đều hoạt động hoàn hảo. Tổng thống Putin nói các đàn sếu đã làm nên những điều kỳ diệu. (Tiền Phong 7/9)đầu trang(
Một cặp vợ chồng người Anh đã phát hoảng khi thấy một chú trăn khổng lồ ngủ ngon lành trong nắp capo xe của họ trong chuyến du lịch đến Nam Phi.
Marlene Swart và Leon Swanepoel đã giật mình khi phát hiện ra một con trăn dài gần 5m đã trườn lên và nằm trong xe của mình khi đang nghỉ ở Vườn quốc gia Kruger, Nam Phi.
Trước đó, đôi vợ chồng này mải mê ngắm nhìn những chú sư tử trong khu vực bảo tồn sinh vật hoang dã. Khi trở về, họ không thể nổ máy xe.
Theo phản ứng bình thường, nắp capo được nâng lên để kiểm tra và nguyên nhân khiến động cơ không làm việc là chú trăn khổng lồ này.
Họ đã phải di chuyển gần 5km để đến được trạm kiểm tra gần nhất và yêu cầu sự giúp đỡ các nhân viên làm việc trong Vườn quốc gia.
Đôi vợ chồng cho biết: "Chúng tôi hoàn toàn sốc và sợ hãi. Khi đến đây chúng tôi chỉ nhận được cảnh báo về lũ sư tử chứ không hề biết về những con trăn khổng lồ này".
Mặc dù trông có vẻ rất hung dữ nhưng khi nắp capo được lật lên, chú trăn này vẫn nằm im thư giãn và sau đó tự động trườn khỏi xe và biển mất trong bụi cỏ.
Kruger là Vườn quốc gia lớn nhất ở Nam Phi với 114 loài bò sát, 507 loài chim, 147 loài động vật có vú và diện tích tổng thể lên đến gần 19.000 km vuông. Nơi đây có những con trăn khổng lồ với con cái dài 5 m và con đực dài khoảng 4.3 m.
Vườn quốc gia được ra đời vào năm 1898, ban đầu nó là khu vực cấm săn bắn, nó không có du khách nào ghé thăm cho đến năm 1927, sau đó được chuyển đổi để hoạt động như một Vườn quốc gia.
Ước tính, mỗi năm có khoảng 950.000 du khách đến thăm Kruger, trong đó có khoảng 80% là những người dân Nam Phi. (VTC 7/9)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa