Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Đối với việc khai thác chính gỗ rừng sản xuất là rừng tự nhiên dự thảo quy định rõ: Công ty lâm nghiệp phải có phương án quản lý rừng bền vững và thiết kế khai thác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững, còn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp tỉnh phê duyệt thiết kế khai thác hàng năm cho các Công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời, dự thảo giao quyền chủ động khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho Công ty lâm nghiệp. Theo đó, công ty được quyền chủ động tổ chức khai thác chính gỗ rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo phương án quản lý rừng bền vững và thiết kế khai thác hàng năm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Cũng như được quyền chủ động tổ chức hoặc liên kết chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo quy định pháp luật.
Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc đối tượng rừng nghèo, rừng chưa có trữ lượng không có khả năng phục hồi thì công ty lâm nghiệp phải lập dự án cải tạo rừng theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Còn đối với rừng nghèo, rừng chưa có trữ lượng có khả năng phục hồi và rừng chưa đến kỳ khai thác chính thì kinh phí quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng được đảm bảo từ nguồn thu hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty hoặc vốn vay ưu đãi.
Riêng đối với rừng phòng hộ, đặc dụng là rừng tự nhiên, dự thảo cho phép khai thác gỗ và lâm sản trong rừng tự nhiên là rừng phòng hộ trên cơ sở phương án quản lý rừng bền vững theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm bảo không làm giảm hiệu năng phòng hộ của rừng và lượng khai thác không được lớn hơn lượng tăng trưởng của rừng.
Dự thảo cũng quy định miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất được giao có rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng.
Đồng thời, miễn tiền giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, tiền thuê rừng đối với diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước,…
Dự thảo, còn cho phép công ty lâm nghiệp được dùng giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích được giao, được thuê; quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng để góp vốn liên kết trong các dự án lâm nghiệp và dịch vụ; để thế chấp khi vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. (Chinhphu.vn 6/9)đầu trang(
Đất trường, trạm trại được giao khoán cách đây 17 năm (theo Nghị định 01/CP) nhưng hiệu quả của hoạt động này không cao trong khi hoạt động mua bán “băm nhỏ, bỏ ô” hàng trăm ha lại phát triển mạnh. Trước thực trạng đó, chính quyền cơ sở.…đành chịu.
Trên địa bàn TP Hà Nội, hầu hết các nông trường trạm trại được hình thành từ trước những năm 1980, mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp, nhiều nông trường có quy mô về diện tích và dân số tương đương với một xã. Sau khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, các nông trường, trạm trại đã chuyển sang hình thức giao khoán ruộng đất theo quy định tại Nghị định 01, giao cho cán bộ, công nhân viên và các đối tượng khác, phần lớn các nông trường, trạm trại không trực tiếp sản xuất.
Hiện, công tác quản lý đất đai tại các nông trường, trạm trại còn chồng chéo, nhiều bất cập tồn tại. Tình trạng vi phạm quy định về đất đai như: mua bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng trái phép vẫn diễn ra phổ biến.
Những sai phạm trong mua bán đất giao khoán 50 năm tại các nông lâm trường, trạm trại trên địa bàn thành phố Hà Nội đã được “điểm mặt, chỉ tên” tại cuộc giám sát, chất vấn của đoàn đại biểu Quốc Hội Hà Nội mới đây. Quản lý, khai thác và sử dụng đất nông, lâm, trường trạm trại đang là vấn đề khó khi mà đất đai thì do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý nhưng nhân khẩu thì trao về UBND cấp huyện, xã.
Chính vì vấn đề này mà người dân được giao khoán đất có thể thoải mái chuyển nhượng, xây dựng kiên cố mà ít khi bị xử lý. Trên thực tế, việc mua bán chuyển nhượng khối lượng lớn đất giao khoán của nông lâm trường không phải là chuyện mới xẩy ra ngày một ngày hai mà đã nhiều năm qua nhưng chính quyền địa phương vẫn bó tay.
Ông Nguyễn Xuân Chiến – Phó Chủ tịch UBND xã Yên Bài cho biết, từ năm 2006 đến nay, xã nhận bàn giao 467 hộ từ nông trường Việt Mông với khoảng 1.700 nhân khẩu, nhưng không được giao quản lý đất nên cũng khó. “Người dân chỉ toàn mua bán trao tay, không thông qua xã nên xã cũng không biết về các giao dịch này”.
Ông Chiến cho hay, xã cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm rồi …xin ý kiến chỉ đạo cấp trên. Số biên bản vi phạm mà xã lập là khoảng 50 trường hợp. Khi được hỏi số vi phạm xây nhà kiên cố có nhiều không, ông Chiến cho hay “chỉ khoảng hơn 1% mà thôi”-
“Họ toàn xây vào ban đêm, xây nhanh lắm, khi chúng tôi ra thì đã xong rồi”, ông Chiến nói.
Vị lãnh đạo xã Yên Bài cho hay, trong hợp đồng giao khoán của Nghị định 01 chỉ quy định là hộ chuyển nhượng có 300m2 nhà ở, không quy định là nhà tạm, vì chỉ quy định là nhà ở, không quy định rõ nên xã không thể buộc họ phải xây nhà tạm hay nhà như thế nào.
“Nhà ở thì người ta xây thế nào làm sao mà mình quản lý được. Nhà kiên cố ở đây chủ yếu xây từ trước năm 2006 khi Nông trường Việt-Mông quản lý cơ, từ 2006 đến nay khi giao về xã nhưng chúng tôi vẫn chưa tổng hợp số liệu”- ông nói.
Thế mới thấy, không chỉ dân mà chính quyền xã cũng hiểu không đúng về cái mốc 300m2 đất ở của hợp đồng giao khoán theo NĐ 01. Và trong năm năm chuyển giao, chính quyền cũng chẳng rốt ráo, bám sát tình hình xem có tổng số bao nhiêu hộ vi phạm nên dân cứ coi đó là sự khuyến khích ngầm từ phía chính quyền.
Ông Chiến còn cho hay, “nếu được giao về xã, chính quyền nơi đây mong muốn sẽ quy hoạch thành khu dân cư rồi ….xin ý kiến cấp trên vì đây đã là những tồn tại từ trước.” Với cách thức hợp lý hóa như ý muốn của chính quyền xã nơi đây thì các hộ đã xây dựng kiên cố yên tâm sẽ có sổ đỏ.
Vấn đề bàn giao lại quyền quản lý nhà nước về đất nông, lâm trường, trạm trại về cho chính quyền địa phương cũng chính là mong muốn của UBND cấp huyện. “Không được quản lý về đất nhưng chính quyền địa phương vẫn phải quản lý về nhân khẩu rồi tham gia xử lý các vụ kiện tụng, tranh chấp đất đai. “Thực sự rất là khó”, ông Hoàng Đức Minh – chuyên viên Phòng Tài nguyên Môi trường UBND Huyện Ba Vì cho hay.
Theo lời ông Minh, “vấn đề vướng chính là ở Nghị định số 01/CP của Chính phủ”. NĐ 01 có thời hạn giao khoản là 50 năm và cho phép người được giao khoán xây dựng nhà tạm từ 200-300m2. Do đó, Chính phủ cần điều chỉnh để vừa bảo đảm điều kiện thực tế vừa bảo vệ quyền lợi của người khai hoang.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, trong khi chờ các cơ quan chức năng đang rà soát lại những phần đất hiệu quả, phần đất bị sử dụng sai trái của các nông trường, trạm trại, thì nhiều ngôi nhà kiên cố, biệt thự vẫn đang gấp rút hoàn thiện phần thô, tọa lạc vững chắc trên nhiều ngọn đồi là đất nông trường, trạm trại.
Có ai ngăn chặn được xu thế, tương lai những căn nhà đó sẽ được cấp sổ đỏ hợp thức hóa không? Có ai ngăn chặn được việc đã rồi này không từ những kẽ hở pháp luật? Và chấn chỉnh thì sẽ như thế nào?
Và như thế, một diện tích mênh mông đất nông lâm trường, trạm trại đang bị bỏ ngỏ về cơ chế quản lý đang là điều nhức nhối chưa có hồi kết. (Nhân Dân 5/9)đầu trang(
Trước thực trạng hàng trăm ha đất nông, lâm trường bị mua bán, cho thuê trái pháp luật, hiệu quả sử dụng đất quá thấp, PV Nhân Dân đã có buổi trao đổi với GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TNMT về vấn đề này.
GS Đặng Hùng Võ cho biết: Việc đổi mới nông, lâm trường là việc có từ rất lâu nhưng chúng ta chưa đủ quyết tâm thực hiện cải cách này cho triệt để hơn.
Ngay khi Luật đất đai năm 2003 ra đời, khi thảo luận thông qua Nghị quyết T.Ư 26 tại Hội nghị T.Ư 7, khoá IX đã đặt vấn đề đưa vào nghị quyết tiếp tục đổi mới nông lâm trường. Cụ thể, những nông, lâm trường có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì phải chuyển sang ban quản lý; nông lâm trường ở vùng rừng sản xuất thì phải xem xét hiệu quả, quản lý đất đai, quy hoạch lại, tính toán sức sản xuất của nông, lâm trường đến đâu thì giao đến đấy. Phần còn lại không quản lý được thì giao cho các hộ gia đình, cán bộ nhân viên nông, lâm trường. Sau đó Chính phủ cũng đã có một chương trình đổi mới nông, lâm trường, rà soát, quy hoạch...
Tuy nhiên, chúng ta mới làm được một việc là tất cả các nông, lâm trường quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì chuyển sang ban quản lý, song các khu vực rừng sản xuất gần như vẫn giẫm chân tại chỗ. Sử dụng đất thì nhiều, nhưng hiệu quả rất thấp, vẫn theo hình thức nhận khoán đất với nông, lâm trường và sản phẩm làm ra phải nộp một phần cho nông, lâm trường. Người nhận khoán bị thiệt thòi hơn so với người được nhà nước giao đất sản xuất vì vẫn phải nộp một phần hoa lợi cho nông, lâm trường.
Cho đến nay, chúng ta mới chủ yếu chuyển từ tên này sang tên khác, thí dụ như Cty TNHH Một thành viên, Cty Lâm nghiệp...trong khi điều quan trọng cần làm là đánh giá lại xem nông, lâm trường phát huy tác dụng tại đâu, phần không phát huy tác dụng thì giao trực tiếp cho hộ cá nhân.
Vậy, tình trạng nhà xây trái phép, hình thành các khu dân cư tự phát trên đất nông, lâm trường là hệ quả của cách thức quản lý thiếu thống nhất? GS Đặng Hùng Võ: Tình trạng tiêu cực như xây nhà trái phép trên đất đồi rừng, hình thành các khu dân cư do sự chấp thuận của nông, lâm trường cho thấy chúng ta đã quá chậm trễ trong đổi mới nông, lâm trường.
Về nguyên tắc, đất đai được giao cho chính quyền quản lý và nông, lâm trường chỉ là người sử dụng. Tình trạng xộc xệch về tư duy đã làm cho nông, lâm trường gần như nát bươm, hạ tầng không có, dân cư tự phát ở, đất thì bị mua bán trái phép...
Chúng ta cần cố gắng chặn tiêu cực, đồng thời phải công nhận những trường hợp lý do lịch sử để lại. Không nên quá cứng nhắc với lịch sử vì để người dân làm nhà trái phép như vậy, khuyết điểm đầu tiên thuộc về cơ quan quản lý.
Họ không có nhà ở thì họ phải tìm cách, thậm chí họ đã từng đề nghị với nông, lâm trường là bố trí, hỗ trợ chỗ ở. Nhưng nông, lâm trường không chắc đã chỉ được. Chúng ta phải phân loại để đánh giá hành vi một cách hợp lý. Phần còn lại có thể quy hoạch khu dân cư và di dời người dân tới đó.
Việc đưa doanh nghiệp vào kinh doanh trên đất nông trường có phải là giải pháp khả thi hay không?, theo GS Võ: Gần đây có xu hướng nổi lên khá mạnh khi chúng ta có chủ trương liên kết “bốn nhà”, đưa doanh nghiệp vào làm nông nghiệp. Gần đây một số doanh nghiệp thấy cơ chế lấy đất sản xuất của nông lâm trường dễ nên đã lao vào lĩnh vực này và đã được UBND cấp tỉnh giao đất của nông, lâm trường cho... Theo tôi chưa chắc đây đã là giải pháp tốt.
Chúng ta cần chính thức hoá việc giao đất cho hộ nông dân đã từng nhận khoán, vì người nông dân thì phải lấy đất làm gốc. Sau đó một doanh nghiệp muốn phát triển thì họ phải dùng cơ chế thuê đất của dân bản địa rồi lấy lao động trực tiếp bản địa làm thuê cho doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp phải đầu tư để tạo nhiều hơn giá trị gia tăng như công nghệ, hạ tầng, thương hiệu, lo đầu ra...
Tôi nghĩ, nếu làm như vậy thì tốt hơn là giao thẳng toàn bộ đất sản xuất của nông, lâm trường cho doanh nghiệp. (Nhân Dân 5/9)đầu trang(
Muốn rừng yên, không cách nào khác tỉnh Đăk Lăk phải tiếp tục bỏ thêm tiền, bố trí đất đai chuyển nốt số dân di cư tự do ra khỏi rừng. Nhưng vấn đề lớn hơn là làm thế nào để dân chịu đi.
Những năm qua, tỉnh Đăk Lăk đã bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để ổn định dân di cư tự do (DDCTD). Đến hết năm 2011, UBND tỉnh này cũng đã phê duyệt thêm 14 dự án liên quan đến DDCTD với tổng kinh phí dự kiến lên đến gần 400 tỷ đồng. Song có một thực tế rất đáng lo ngại đó là dù có bỏ thêm gấp nhiều lần số tiền ấy thì Đăk Lăk vẫn khó hoàn thành được mục tiêu đầu tiên đó là: Ổn định dân cư.
Năm 2008, trước tình trạng DDCTD lấn, phá rừng ồ ạt tại lâm phần Lâm trường Buôn Ja Wầm (xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar), UBND tỉnh Đăk Lăk đã quyết định bố trí 15ha đất tại tiểu khu 550 để di dời, ổn định 80 hộ dân đang sống giữa rừng. Bốn năm sau, khi dự án này chưa hoàn thiện thì nó đã trở nên bất cập. Số DDCTD đang sống trong rừng của Lâm trường Buôn Ja Wầm bây giờ không phải là 80 hộ nữa mà đã tăng gấp hơn 2 lần.
Như vậy, muốn rừng yên, không cách nào khác tỉnh này phải tiếp tục bỏ thêm tiền, bố trí đất đai chuyển nốt số người dôi ra này. Khó khăn này có thể khắc phục nhưng vấn đề lớn hơn là làm thế nào để dân chịu ra khỏi rừng. Bốn năm qua, chính quyền sở tại cùng với lâm trường đã có hàng trăm cuộc nói chuyện lớn nhỏ với dân, song kết quả gần như bằng không.
Hiện tại, ở khu tái định cư này vẫn có nhà dân ở, song đa phần là những người mới vào “không nơi nương tựa”, hoặc một số người muốn cho con mình được học hành nên ra đó dựng nhà. Thực tế, họ chỉ xem nơi này là chỗ trọ, còn nhà vẫn là ở trong rừng. “Trong nhiều cuộc họp bản, người dân nói thẳng với chúng tôi, họ sẽ quyết bám rừng”- ông Phạm Đình Tường - Giám đốc Lâm trường Buôn Ja Wầm kể.
Phàn Văn Tịnh - một công dân của bản Mông, cũng khẳng định: “Dân mình thích ở trong rừng hơn ra ngoài. Ở đây gần cái nương, cái rẫy tiện hơn nhiều. Còn nếu ai muốn cho con cái đi học gần trường thì cứ cất tạm cái nhà cho chúng ngoài đó. Thế là tốt nhất”. Tịnh còn cho biết, người bản Mông chưa bao giờ quan tâm đến việc học hành của con cái.
Sống biệt lập trong rừng, trình độ dân trí ở mức “quá thấp”, canh tác theo lối truyền thống (đốt rừng, chọc lỗ, tỉa hạt, săn bắn…) đã khiến đại bộ phận DDCTD không chỉ nghèo mà cả một thế hệ tương lai- con cháu họ- cũng u mê giữa đại ngàn.
Thực tế ấy đã diễn ra hàng chục năm nay. Dù địa phương tìm mọi cách để nâng cao đời sống mọi mặt cho DDCTD nhưng càng làm càng thấy… mênh mông, người trước chưa yên thì người sau đã ồ ạt đến. Thậm chí có giai đoạn, các huyện “quên” luôn DDCTD. Như năm 2011, các huyện báo cáo DDCTD chỉ phát sinh thêm 9 hộ. Trong khi đó, khẳng định của HĐND tỉnh, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2011 đã phát sinh thêm 395 hộ với hơn 1.700 khẩu.
Sự chênh lệch ấy không khỏi khiến người ta cảm giác rằng địa phương đã quá mệt mỏi trong việc giải quyết vấn nạn DDCTD! Tuy nhiên, trên thực tế nỗ lực để ổn định DDCTD ở Đăk Lăk rất đáng ghi nhận. Từ 1996 đến năm 2011, đã có hơn 1,5 vạn dân được sắp xếp ổn định.
Theo ông Trang Quang Thành: “Nếu không có sự chung tay của nhiều tỉnh, cụ thể là những nơi có dân đi, thì Đăk Lăk không thể hoàn thành được mục tiêu ổn định DDCTD” .
Có điều, như một lãnh đạo tỉnh này thừa nhận với chúng tôi: “Nếu địa phương càng làm tốt việc ổn định đời sống cho DDCTD thì đấy là cách khuyến khích người ta đến nhiều hơn”.
Vấn đề nan giải hơn là nếu kiên quyết thu hồi diện tích đã phá thì xem như cắt đường sinh sống của họ. Vậy là “tiến thoái lưỡng nan”. Càng “vương” càng “nợ”, hàng trăm tỷ đồng đã bỏ ra mà vẫn không xuể. Đến cuối năm 2011, tỉnh này lại tiếp tục phê duyệt thêm 14 dự án ổn định DDCTD với kinh phí phê duyệt gần 400 tỷ nữa. Trong khi 14 dự án này vẫn chưa có gì tiến triển vì thiếu vốn thì lại “lòi” ra thêm gần 3.500 người đang chơ vơ trong rừng.
Cùng với khó khăn này, ở nhiều nơi lại xảy ra tình trạng lấn chiếm đất dự án. Điển hình như khu đất của dự án ổn định cho hơn 200 hộ tại các tiểu khu 249, 265, 271, xã Cư MLanh, huyện Ea Súp đã bị hàng chục hộ dân lấn chiếm trồng cây, làm nhà. Những khó khăn này giải thích vì sao 14 dự án của tỉnh đến nay chỉ chủ yếu đầu tư giải quyết một số hạng mục mang tính cấp bách với số vốn giải ngân chỉ đạt hơn 200 triệu đồng. (Nông Thôn Ngày Nay 6/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
5-9, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã phối hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ, Đại sứ quán Anh, Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC),
Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã (WCS) cùng thảo luận bàn về phương thức hợp tác, tăng cường kiểm soát, chống các mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia: buôn bán người, thuốc phiện, động thực vật hoang dã… Theo UNODC, mỗi năm tội phạm xuyên quốc gia toàn cầu thu được đến 870 tỉ USD và sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Việt Nam đang là mục tiêu hấp dẫn các băng nhóm tội phạm.
Ông Scott Roberton, Giám đốc WCS tại VN, cho biết thêm nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các băng tội phạm tham gia buôn bán động thực vật hoang dã cũng tham gia buôn lậu thuốc phiện, buôn bán người, vũ khí và chất thải điện tử qua biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Chúng tôi hy vọng việc hợp tác giữa các tổ chức, cơ quan chính phủ các nước sẽ giúp đấu tranh chống tội phạm đạt hiệu quả cao hơn. (Pháp Luật TPHCM 6/9)đầu trang(
Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình, Hội Chữ thập đỏ huyện Tân Lạc vừa phối hợp với UBND, Hội Chữ thập đỏ xã Thanh Hối tổ chức lễ ra quân trồng rừng phòng hộ giảm thiểu rủi ro, thảm họa tại xóm Tam, xã Thanh Hối.
Trong lễ ra quân đã có 50 hội viên, tình nguyện viên Chữ thập đỏ, đoàn viên thanh niên tham gia trồng 9 ha cây keo của xã.
Trồng rừng phòng hộ góp phần ngăn chặn lũ lụt, gió, bão, rừng có tác dụng làm cản trở dòng chảy hạn chế xói mòn, rửa trôi, giữ nước, giảm rủi ro cho khu vực hồ và những hộ dân trong khu vực của xã; tạo nguồn lợi kinh tế từ rừng, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người dân trong xã. Đây là một trong những hoạt động thuộc dự án “Phòng ngừa ứng phó, giảm thiểu rủi ro thảm họa” do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ thông qua Hiệp Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. (Nhân Đạo&Đời Sống 6/9)đầu trang(
4/9, ngày thứ hai của phiên họp trù bị Hội nghị toàn cầu AFC lần thứ hai diễn ra với nhiều ý kiến của các diễn giả đến từ nhiều nước trên thế giới.
Nhiều chuyên gia cho rằng, VN dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu. Bởi hiện có khoảng 70% dân số sống tại các vùng đất thấp, trong khu vực châu thổ hoặc dọc bờ biển nếu không có hành động gì kịp thời thì mực nước biển dâng cao sẽ gây ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng triệu người dân nơi đây.
Theo nghiên cứu về tình trạng dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu tại khu vực Đông Nam á của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế, cứ 10 tỉnh dễ bị tổn thương nhất thì có 8 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Để giảm nhẹ những rủi ro do khí hậu đem lại, có chuyên gia kiến nghị nên tận dụng tài năng, năng lực và sự đóng góp của cả nam và nữ để các chính sách có thể trở nên bao quát, thành công hơn; nâng cao vai trò và vị thế cho phụ nữ, cải thiện kế sinh nhai cho họ.
Là một trong 500 thành viên có mặt tại Hội nghị, ông Hosny El - Lakany, Chủ tịch Tổ chức nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) cho hay, có rất nhiều chính sách dành cho lâm nghiệp và sử dụng nó có hiệu quả mà chúng ta cần tham khảo. Ví dụ như trước đây, CIFOR từng thực hiện 4 chương trình quản lý rừng bền vững và nâng cao đời sống người dân vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Ví dụ như chương trình “Sử dụng rừng để duy trì, cải thiện đời sống nông dân Việt Nam” được CIFOR triển khai trong 5 năm (2003-2007), với tổng vốn đầu tư 1 triệu USD do Tổ chức Hỗ trợ phát triển Thụy Điển tài trợ.
Chương trình “Đa dạng sinh học cấp cơ sở” thực hiện từ năm 2003-2006 do Tổ chức Hợp tác phát triển Thụy Sĩ (SDC) tài trợ được CIFOR triển khai tại hai nước Bolivia và Việt Nam, nhằm tăng cường quản lý lâm nghiệp của cấp cơ sở. Riêng 2 chương trình “Xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng các dân tộc tại khu vực Tây Nguyên thuộc lưu vực sông Mê Kông thông qua việc cải thiện rừng công nghiệp và cộng đồng dân cư” và “Thiết lập mối liên kết giữa xóa đói giảm nghèo và sự phụ thuộc vào rừng tại lưu vực sông Mê Kông để có chính sách phù hợp hơn” được CIFOR tập trung tại 3 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia trong thời gian hai năm 2004-2005.
Ông Hosny đề xuất, nên giao quyền sử dụng/sở hữu đất lâm nghiệp và rừng là cần thiết để xúc tiến quá trình phân phối quyền sử dụng đất. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9)đầu trang(
Theo ông Đào Huy Phiên, Giám đốc Vườn quốc gia Vũ Quang, sao la (tên khoa học Pseudoryx nghetinhensis - một trong những loài thú hiếm nhất trên thế giới) sinh sống trong vùng núi rừng Trường Sơn Việt Nam và Lào hiện vẫn có khả năng đang tồn tại ở độ cao 800m trở lên trong khu vực rừng thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh).
Vì thế vườn rất cần các cơ quan chức năng, tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí, chuyên môn khoa học nhằm bảo tồn loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng này. (Sài Gòn Giải Phóng 5/9)đầu trang(
Trong tổng số 48 doanh nghiệp (DN) xin đăng ký, cấp phép đầu tư các dự án tại huyện Di Linh từ trước đến nay, có 13 DN xin đầu tư các dự án liên quan đến rừng (quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cao su… kết hợp với chăn nuôi).
Trong số 13 dự án này, có 1 dự án (Công ty TNHH TMDV Phú Châu) đã bị thu hồi giấy phép và 2 dự án đã được đề nghị UBND tỉnh thu hồi giấy phép. Tuy vậy, hầu hết các dự án liên quan đến rừng còn lại, tiến độ triển khai đầu tư rất… “ì ạch”; thậm chí đã được cấp phép, nhưng DN vẫn chưa triển khai đầu tư dự án!
Qua kiểm tra, khảo sát việc đầu tư các dự án liên quan đến rừng mới đây tại huyện Di Linh, chỉ có 3 DN được “tạm” đánh giá là “triển khai đầu tư đúng tiến độ”. Đó là Công ty CP TM XNK Xuân Hằng, DNTN Tân Minh và DNTN Lê Tám.Sở dĩ gọi là “tạm”, bởi lẽ Công ty Xuân Hằng mới có quyết định cho thuê 280 ha đất tại tiểu khu 729 (xã Bảo Thuận) từ 30/9/2011 để trồng 261 ha cây cao su và quản lý bảo vệ 20 ha rừng.
Công ty hiện đang khai thác tận thu lâm sản và “cam kết” sẽ giải phóng mặt bằng để trồng 78 ha cao su trong năm nay. DNTN Tân Minh hoàn thành được kế hoạch trồng và chăm sóc rừng năm 2011 và hiện đang tiếp tục triển khai kế hoạch năm 2012. DNTN Lê Tám được cấp có thẩm quyền cho thuê đất từ giữa năm 2011. Năm 2011, DN đã hoàn thành thủ tục cải tạo rừng nghèo kiệt và hiện đang triển khai trồng 80 ha rừng theo kế hoạch năm 2012.
Hai DN được đề nghị thu hồi giấy phép là Công ty TNHH Kim Việt và Công ty TNHH XNK TMDV Thái Nguyên, bởi lý do: Năm 2009, Công ty Kim Việt (Bình Dương) được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư bảo vệ, trồng rừng, trồng cao su (sản xuất nông lâm kết hợp) gắn với chăn nuôi bò, với diện tích 272 ha (tại xã Tam Bố). Mãi đến 2011, công ty chỉ mới xây dựng phương án trồng cao su.
Và cho đến nay, công ty vẫn chưa triển khai dự án: Chưa nộp tiền đền bù giá trị tài nguyên rừng; chưa lập hồ sơ đánh giá tác động môi trường; chưa ký hợp đồng thuê rừng theo qui định và chưa bố trí lực lượng tuần tra bảo vệ rừng… Cũng vào năm 2009, Công ty Thái Nguyên (Di Linh) đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư quản lý, bảo vệ và cải tạo rừng nghèo kiệt 400 ha tại xã Gia Bắc, nhưng đến nay công ty vẫn chưa nộp tiền đền bù giá trị tài nguyên rừng và buông lỏng việc quản lý bảo vệ rừng dẫn đến một số diện tích rừng bị xâm hại.
Công ty TNHH Phát Lâm (Bảo Lộc) được thuê 378 ha rừng tại tiểu khu 736 (xã Gia Bắc) để quản lý, bảo vệ, trồng rừng kết hợp chăn nuôi. Từ 2009 đến nay, công ty chỉ mới trồng được 39 ha rừng (20 ha cây keo lai, 9 ha cây sưa, 10 ha cây bạch đàn) trên diện tích rừng nghèo kiệt, nhưng do không đầu tư chăm sóc, tỷ lệ cây sống chỉ đạt khoảng 20%.
Cuối năm 2011, công ty lập thủ tục trồng rừng, trồng cao su trên diện tích còn lại, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thiện hồ sơ để triển khai dự án theo giấy chứng nhận đầu tư. Công ty TNHH Hoàng Thiên (Di Linh) được cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng, trồng cao su và quản lý bảo vệ trên diện tích 432 ha tại xã Sơn Điền từ năm 2009, nhưng chỉ mới trồng được 40 ha cây keo lai vào năm 2010. Từ đó đến nay, dự án này gần như “dậm chân tại chỗ”.
Điều đáng nói, là công ty này đã sang nhượng cho DN khác 186 ha. Số diện tích còn lại đã bị thu hồi, trả lại cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Di Linh quản lý. Các DN khác, như Công ty TNHH Tiền Lê (Bình Thuận), DNTN Hoàng Dung (Di Linh), Công ty TNHH Vĩnh Bảo (Đà Lạt)… mặc dù đã cấp giấy chứng nhận đầu tư, nhưng việc triển khai dự án quá chậm.
Như vậy, cũng như các địa phương khác, việc đầu tư các dự án liên quan đến rừng tại huyện Di Linh nhìn chung là không đem lại hiệu quả. Một thực trạng phổ biến là các DN triển khai dự án không đúng theo giấy phép. Hầu hết các DN đã thiếu hẳn điều kiện “cần” và “đủ” khi đầu tư dự án, là không hình thành tổ chức bộ máy cán bộ quản lý để điều hành hoạt động và không có văn phòng làm việc hoặc để giao dịch; không có nhân lực có trình độ quản lý và thiếu hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ ngành lâm nghiệp… (Báo Lâm Đồng 6/9)đầu trang(
Sau vụ án về đất đai liên quan hàng loạt cán bộ năm 2005 xảy ra trên đảo Phú Quốc (Kiên Giang), sóng ngầm trục lợi đang có dấu hiệu “trỗi” dậy.
Trong vụ án “tham nhũng đất đai trên đảo Phú Quốc” năm 2005, có gần 400.000m2 đất công bị chia chác, trong đó chủ yếu là đất rừng và đất quốc phòng.
Cơ quan chức năng thời điểm đó đã đề nghị thu hồi toàn bộ đất đai liên quan sai phạm. Chưa có số liệu thống kê thu hồi được bao nhiêu, nhưng tình trạng tái chiếm đất trong vụ án đang diễn ra.
Đất này đã có quyết định thu hồi từ nhiều năm qua nhưng hiện đã bị tái lấn chiếm hoàn toàn, nhiều nhà kiên cố đang mọc lên công khai.
Theo điều tra của Tiền Phong, Đại tá Trần Văn Ứng – nguyên Huyện đội trưởng Phú Quốc, đã xây một dãy nhà lầu hàng chục phòng vừa ở vừa cho thuê.
Ngay lối rẽ vào dãy nhà có tên đường Trần Văn Ứng khắc trên một khối đá lớn. Đối diện là dãy nhà bán kiên cố chạy dài, theo phản ánh của người dân, đó là nhà của con một quan chức huyện Phú Quốc. Nhiều ngôi nhà khác của quan chức và cựu quan chức huyện đảo này đã được xây dựng.
Một cán bộ Phòng TNMT huyện Phú Quốc cho biết: “Tổng diện tích đất khu vực nói trên rộng trên 6.000m2, nguồn gốc của quốc phòng, nay giao cho địa phương quản lí. Việc xây dựng là trái phép. Còn việc đặt tên đường chắc là người ta đặt cho vui. Hiện đang làm thủ tục phân lô sau đó tổ chức đấu giá”.
Ông Hồ Dũng - nguyên Phó chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Kiên Giang nói: “Liên quan việc chia chác đất quốc phòng tại Bà Kèo trong vụ án 2005 ở thị trấn Dương Đông có hai vị trí: Phía trên đồi Ra Đa là trận địa pháo 85, rộng khoảng 2 ha và khu bến bãi gần mé biển rộng khoảng 3 ha. Nhiều cán bộ được chia đất tại đây và sau đó đã bị kiến nghị thu hồi. Việc tái chiếm liên quan đến cán bộ”.
Bà Phạm Thị Kim Dung – nguyên Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Phú Quốc lên tiếng: “Đất quốc phòng hồi đó thu hồi bây giờ cất nhà tùm lum. Còn đất rừng cũng vậy, trước thu hồi giao cho nhà nước quản lí, nay giao cho Cty này, Cty nọ gì đó rồi cũng nhận tiền bồi thường hàng tỷ đồng. Tôi đã hỏi thẳng ông Văn Hà Phong - Bí thư kiêm Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc về vấn đề này cũng như có hay không đất của gia đình ông tại khu đất quốc phòng trên đồi Ra Đa nhưng chưa được trả lời” .
Đất rừng, đất công do nhà nước quản lí đang bị chính những người có quyền lực ở địa phương thâu tóm.
Xã Cửa Cạn là một trong những điểm nóng trong việc thâu tóm đất công, trong đó tai tiếng nhất là ông Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Nhan Văn Truyền.
Tại khu vực cầu Cái Cóc thuộc ấp 4, xã Cửa Cạn hơn 2 ha đất rừng ngập mặn đã bị san lấp, phân lô, mua bán trái phép hàng tỷ đồng.
Trong danh sách phân lô có ông Trần Thông - người nhà của ông Nhan Văn Truyền, 2 lô; ông Nguyễn Văn Tước -một cán bộ về hưu, 3 lô… và một số lô đất rộng lớn thể hiện trong sơ đồ “vắng chủ”.
Khu vực này trước đây một Việt kiều Bỉ đã hợp đồng mua một lô đất 12.000m2, giá 2,4 tỷ nhưng không làm giấy tờ được vì vướng đất quy hoạch công viên.
Ông Mai Văn Xéo (gần 80 tuổi) là bố vợ của ông Truyền đứng tên ba lô đất, diện tích 16.762m2 tại ấp 3, xã Cửa Cạn, trong đó có tới 4.368m2 lấn chiếm đất rừng.
Theo bản đồ của Bộ TNMT, đất này thuộc Vườn Quốc gia Phú Quốc. Tại ấp 4, ông Ngô Hải Lực chỉ được cấp 26.545,3m2, nhưng sau đó ông Truyền đã qua mặt hội đồng xét duyệt xã hợp thức hóa thêm 11.248m2 đất rừng. Hai lô đất này sau đó đã được bán cho ông Nguyễn Hùng (TPHCM), giá 3,9 tỷ đồng.
Lô đất 4.143,6m2 tại ấp 2, xã Cửa Cạn do ông Nguyễn Đình Chiến đứng tên, là đất rừng thuộc Vườn Quốc gia quản lí, hoàn toàn không có thành quả lao động nào nhưng vẫn được cấp giấy đỏ, đang rao bán trên một tỷ đồng.
Khu đất công rộng hơn 20 ha nằm ngay phía sau UBND xã Cửa Cạn cũng bị phân lô, chia chác. Ông Nhan Văn Truyền còn viết giấy tay trong một hợp đồng mua bán đất rừng giữa ông Lê Văn Mót và ông Nguyễn Minh Châu, diện tích 4.800m2 tại ấp 4 xã Cửa Cạn, giá 130 triệu đồng.
Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Cửa Cạn – ông Phan Thành Tiến lấy 277m2 đất dân hiến làm đường ở ấp Lê Bát hợp thức hóa, sau đó cuốn móng nền bít ngang lối đi.
Ông Dương Văn Toàn - Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy Phú Quốc đã ký văn bản yêu cầu huỷ hồ sơ xin hợp thức hóa đất này; kiểm điểm nghiêm khắc đối với ông Tiến. Tuy nhiên, hiện ông Tiến chưa trả lại đất, làm cho dân bất bình khiếu kiện kéo dài.
Trong khi đó, một Phó Bí thư Đảng ủy xã Cửa Cạn nữa - ông Trần Kiều Hưng lại bị cáo buộc thuê người chặt phá trên 4.000m2 đất rừng thuộc Vườn Quốc gia Phú Quốc tại ấp 3. Ông Hưng đã thừa nhận hành vi này với cơ quan chức năng và UBKT Huyện ủy Phú Quốc. Vụ việc chưa được xử lí.
Ông Đặng Văn Tuân - một người dân trên đảo Phú Quốc tiếp tục gửi đơn tố cáo 10 nội dung liên quan “tham nhũng đất đai” tại xã Cửa Cạn với diện tích hàng chục ngàn mét vuông chủ yếu đất có nguồn gốc từ đất rừng.
Đầu năm 2012, ông Tuân cũng đã làm đơn tố cáo 9 nội dung liên quan ông Nhan Văn Truyền - Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Cửa Cạn vì cho rằng “có dấu hiệu cố ý làm trái, lợi dụng chức vụ để trục lợi” nhưng chưa có cơ quan thẩm quyền nào trả lời đơn tố cáo của ông Tuân.
Ông Tuân bức xúc: “Sau khi gửi đơn tố cáo chỉ thấy cơ quan chức năng mời mấy lần. Họ còn hỏi vì sao tôi lại có hồ sơ, tài liệu nọ kia. Không trả lời đơn tố cáo của công dân theo qui định, mà ông Bí thư huyện còn lên tiếng đòi thanh tra đất cá nhân gia đình tôi”. (Tiền Phong 6/9)đầu trang(
5/9, Văn phòng UBND huyện Sơn Hòa (Phú Yên) cho biết UBND huyện này đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Ông Lê Quý Dương, Giám đốc Công ty CP sản xuất-xuất nhập khẩu Vạn Hạnh, bị phạt 2 triệu đồng do đã nhận chuyển nhượng trái phép 12.000 m2 đất lâm nghiệp của người dân rồi san ủi mặt bằng làm nơi tập kết các phương tiện, thiết bị thăm dò, khai thác vàng tại xã Cà Lúi, huyện Sơn Hòa khi chưa được cấp thẩm quyền cho phép.
Ông Đoàn Ngọc Hiển, cán bộ quản lý công ty trên, bị phạt 15 triệu đồng về hành vi phá rừng. Ngoài ra, Công ty Vạn Hạnh còn phải trồng lại rừng trên phần đất đã san ủi trái phép.
Ngày 15-8, Pháp Luật TP.HCM có bài “Huyện tiếp tay khai thác mỏ vàng chui?” phản ánh dù chưa được cấp phép nhưng hơn một năm nay Công ty Vạn Hạnh đã xây dựng lán trại, tổ chức khai thác vàng tại địa điểm trên. (Pháp Luật TPHCM 6/9)đầu trang(
Vùng Đồng Tháp Mười thuộc huyện Tân Phước (tỉnh Tiền Giang) trước đây nổi tiếng với đặc sản cá lia thia vừa ăn ngon lại có thể dùng để nuôi cảnh bởi hình dáng nó rất đẹp; có nhiều màu sặc sỡ.
Thế nhưng, khoảng 10 năm trở lại đây loài thủy sản này mất dạng dần và hiện tại cá lia thia như đã tuyệt chủng. Ông Đào Công Thành - Chủ tịch UBND xã Tân Lập 1, huyện Tân Phước cho biết, quá trình khai hoang phục hóa, độ phèn chua giảm dần không còn thích nghi cho cá lia thia sinh sống.
Vả lại gần đây người dân vùng Đồng Tháp Mười bắt cá lia thia theo kiểu hủy diệt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường nước làm cho loại thủy sản này không còn điều kiện sinh sống. (Nông Thôn Ngày Nay 6/9)đầu trang(
5-9, bà Hoàng Thị Oanh, Trạm phó Trạm bảo vệ thực vật huyện Bảo Yên (Lào Cai) cho biết, sâu xanh ăn lá bồ đề xuất hiện với mật độ dày đặc từ hai tuần nay đã ăn trụi 14 ha rừng bồ đề nguyên liệu giấy, tại ba xã Lương Sơn, Minh Tân và Xuân Hòa, thuộc huyện Bảo Yên.
Những cánh rừng bồ đề bảy năm tuổi, cây gỗ cao 6-8 mét, đường kính 10-20cm, bị sâu ăn không còn một chiếc lá nào, phơi thân và cành gỗ, mất khả năng quang hợp, cây thiếu dinh dưỡng và chết khô từ trên ngọn xuống. Dịch sâu ăn lá đang tiếp tục lan rộng tại những cánh rừng bồ đề của huyện này.
Theo bà Oanh, mùa sâu xanh hại lá bồ đề thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 hằng năm, với ba lứa sâu. Đây là sâu hại lứa một đã kết thúc vòng đời, đang chuyển thành nhộng nằm dưới đất, chuẩn bị hóa bướm, để bay đến những cánh rừng bồ đề đẻ trứng, hình thành sâu non lứa hai, tiếp tục phá hại rừng bồ đề trên địa bàn.
Do việc phun thuốc diệt sâu xanh trên tán rừng bồ đề là không khả thi vì cây gỗ cao, địa hình phức tạp nên Trạm BVTV phối hợp với chính quyền địa phương các xã vùng bị dịch hại áp dụng hai biện pháp: phát dọn sạch thực bì, xới xáo đất để diệt nhộng đóng kén, không cho hóa bướm đẻ trứng sâu lên tán lá rừng bồ đề; dùng đèn chiếu sáng để dụ bẫy và tiêu diệt bướm gây hại. (Nhân Dân 5/9)đầu trang(
Chiều 5/9, Phòng cảnh sát môi trường Công an Hà Tĩnh đã ra quyết định khởi tố vụ án vận chuyển bốn hổ con trái phép, bị bắt giữ ngày 4-9. Đại tá Hoàng Việt Thành - trưởng Phòng cảnh sát môi trường - cho biết các cơ quan chức năng kết luận bốn chú hổ con thuộc loại hổ Đông Dương - nhóm 1b nghiêm cấm mua bán, nuôi dưỡng.
Theo lời khai ban đầu tại cơ quan công an, Hồ Sỹ Hạnh (36 tuổi, ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) và Bùi Văn Mười (33 tuổi, ở huyện Yên Thành, Nghệ An) đã nhận vận chuyển bốn chú hổ con và 119 con tê tê tại thị trấn Sơn Tây (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Theo nhận định ban đầu của một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh, bốn chú hổ này được đưa từ Lào về.
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã kiểm định bốn chú hổ và cho biết đây là dòng hổ Đông Dương. Trong đó có một con 3 tháng tuổi, ba con còn lại mới 1 tháng tuổi. Những chú hổ con này đang trong giai đoạn bú sữa, chưa thể sống được bên ngoài môi trường tự nhiên. (Tuổi Trẻ 6/9)đầu trang(
Hiện 4 cá thể hổ con thu giữ trong vụ bắt giữ vụ vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm tại Hà Tĩnh đã được bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng, thuộc Chi cục Kiểm lâm Hà Nội.
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh, sau khi tiếp nhận 4 con hổ con có tổng trọng lượng 22,5kg vừa bị Cảnh sát môi trường bắt giữ, cơ quan này đã đã liên hệ với Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật - cơ quan kiểm định động vật hoang dã độc lập - để nhanh chóng tiến hành kiểm định làm rõ chủng loại, tình hình sức khỏe của từng cá thể hổ trước khi bàn giao chúng cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm Hà Nội) để đơn vị này tiến hành cứu hộ, chăm sóc.
Theo kết quả kiểm định, 4 cá thể hổ này thuộc dòng hổ Đông Dương, có tên gọi khoa học là Panthera Tigris Corbett. Trong 4 cá thể hổ này thì cá thể lớn nhất có tuổi đời 3 tháng tuổi, 3 cá thể còn lại chỉ mới 1 tháng tuổi.
Theo đánh giá của các chuyên gia, tình hình sức khỏe của 4 cá thể hổ là rất đáng quan ngại, 3/4 cá thể hổ còn non tháng đang trong giai đoạn bú, chưa thể ăn các loài thức ăn ở môi trường tự nhiên. Trong đó có một cá thể đang mắc bệnh đường ruột, cần được chăm sóc đặc biệt.
Ngay sau khi có kết luận kiểm định của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Chi cục Kiểm lâm, Phòng CSMT Công an Hà Tĩnh đã tiến hành bàn giao 4 cá thể hổ nói trên cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm Hà Nội.
Ông Ngô Bảo Anh, Giám đốc Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng – cho biết, khi đưa 4 cá thể hổ về đến nơi, cán bộ chuyên môn sẽ nhanh chóng xác định tình trạng sức khỏe, chẩn đoán lâm sàng và tiến hành các biện pháp chăm sóc đặc biệt.
Trong một diễn biến khác, Ông Đặng Quang Niềm – Phó Phòng CSMT Công an Hà Tĩnh khẳng định, sau khi có kết luận kiểm định 4 cá thể hổ thuộc nhóm 1B 1b nghiêm cấm mua bán, cơ quan điều tra đã có đủ cơ sở để khởi tố vụ án hình sự đối với 2 đối tượng thực hiện vụ vận chuyển 4 cá thể hổ nói trên. Hiện cơ quan công an đang tích cực điều tra làm rõ nguồn gốc số hổ sống này.
Được biết, việc bắt giữ vụ vận chuyển động vật hoang dã vừa qua tại Hà Tĩnh là vụ bắt giữ vận chuyển hổ sống lớn nhất từ trước tới nay tại tỉnh này.
Theo một nguồn tin đáng tin cậy, hiện đang tồn tại việc nuôi nhốt hổ trái phép tại nhiều tỉnh thành. Mỗi con hổ con có trọng lượng từ 3-5kg được bán với giá khoảng từ 150 đến180 triệu đồng. (Vietnamnet 5/9)đầu trang(
Chỉ trong tháng 8, lực lượng chức năng huyện Sơn Hòa (Phú Yên) đã phát hiện 12 vụ, tịch thu hơn 26m3 gỗ các loại, gấp 4 lần so với tháng 7 và gần bằng lượng gỗ tịch thu được trong 6 tháng đầu năm.
Ông Phan Văn Đoan, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Hòa (Phú Yên) cho biết, từ đầu năm đến nay đã phát hiện 46 vụ vi phạm Luật quản lý bảo vệ rừng, tịch thu gần 58m3 gỗ; riêng trong tháng 8 phát hiện 12 vụ, tịch thu hơn 26m3 gỗ các loại, gấp 4 lần so với tháng 7 và gần bằng lượng gỗ tịch thu được trong 6 tháng đầu năm.
Cũng trong tháng 8 vừa qua, Hạt kiểm lâm huyện Sơn Hòa phối hợp với chính quyền các địa phương, cưỡng chế, phá hủy gần 10ha sắn, mía, bắp… thuộc địa bàn các xã Sơn Hội, Sơn Xuân, Sơn Long (huyện Sơn Hòa), do người dân khai phá đất rừng và đất lâm nghiệp trái phép.
Theo ông Cao Minh Hòa, Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa, địa phương này đang chỉ đạo quyết liệt lực lượng kiểm lâm và các ngành liên quan, tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các điểm nóng thường xảy ra tình trạng phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, kể cả ngày thứ 7 và chủ nhật, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Trong 6 tháng đầu năm 2012, trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã xảy ra 373 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 47% so với cùng kỳ, nhưng tăng hơn 200 vụ so với quý 1/2012. Trong đó phá, khai thác rừng trái phép gần 90 vụ; 252 vụ vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến và kinh doanh lâm sản trái phép… gần 900m3 gỗ các loại bị tịch thu. (An Ninh Thủ Đô 5/9)đầu trang(
Bạn đọc Dương Vũ Minh ở phường Long Bình, TP.Biên Hòa (Đồng Nai) phản ánh: Mới đây trong một đợt khảo sát, kiểm kê, các ngành chức năng ở TP.Biên Hòa phát hiện ra 30ha rừng trồng ở phường Long Bình đã "bốc hơi" từ lâu.
Tìm hiểu mới rõ, các hộ nhận khoán trồng rừng đã tự ý sang nhượng cho nhau bằng giấy viết tay, cuối cùng rừng lọt vào tay các cơ sở chế biến gỗ, bị họ đốn hạ. (Nông Thôn Ngày Nay 5/9)đầu trang(
Ông Phan Văn Đoan, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Hòa cho biết, từ đầu năm đến nay, các ngành chức năng của huyện đã phát hiện, xử lý 46 vụ vi phạm Luật Quản lý và bảo vệ rừng, tịch thu gần 58m3 gỗ các loại.
Riêng trong tháng 8 vừa qua, lực lượng chức năng phát hiện 12 vụ, tịch thu hơn 26m3 gỗ các loại, gấp 4 lần so với tháng 7, gần bằng lượng gỗ tịch thu được trong 6 tháng đầu năm. Cũng trong tháng 8, Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Hòa còn phối hợp với chính quyền các địa phương cưỡng chế, phá hủy gần 10ha sắn, mía… do người dân khai phá trái phép đất rừng và đất lâm nghiệp tại các xã Sơn Hội, Sơn Xuân, Sơn Long.
UBND huyện Sơn Hòa đang chỉ đạo lực lượng kiểm lâm và các ngành liên quan tăng cường tuần tra, truy quét tại các điểm nóng thường xảy ra tình trạng phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, kể cả ngày thứ 7 và chủ nhật, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm. (Báo Phú Yên 5/9)đầu trang(
Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa (tỉnh Phú Yên) ông Cao Minh Hòa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Giám đốc, nhân viên Công ty cổ phần Sản xuất và xuất nhập khẩu Vạn Hạnh - Phú Yên do sai phạm trong lĩnh vực đất đai, quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Theo đó, ông Lê Quý Dương - Giám đốc Công ty Vạn Hạnh bị phạt 2 triệu đồng vì có hành vi nhận chuyển nhượng 12.000 mét vuông đất lâm nghiệp của dân rồi san ủi mặt bằng làm bãi đậu xe và các công trình phụ khác tại khu vực bãi vàng thuộc thôn Ma Đao, xã Cà Lúi khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép.
Ông Đoàn Ngọc Hiển, cán bộ quản lý của công ty bị phạt 15 triệu đồng do phá rừng trái phép, đồng thời phải chịu chi phí để trồng lại 0,16 ha rừng.
UBND huyện Sơn Hòa còn buộc Công ty Vạn Hạnh trồng lại cây lâm nghiệp trên phần đất đã san ủi và lập đầy đủ thủ tục hành chính về đất đai.
Trước đó, ngày 13/8, Đoàn công tác liên ngành của huyện Sơn Hòa kiểm tra khu vực bãi vàng thuộc thôn Ma Đao do Công ty Vạn Hạnh được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ.
Tuy nhiên, công ty này đã tự ý san ủi mặt bằng làm đường giao thông, bãi đậu xe; lắp đặt máy móc, phương tiện phục vụ khai thác vàng như máy phát điện, giàn khoan thăm dò mẫu vật, cối xay đá, hệ thống băng chuyền… khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. (Tin Tức 6/9)đầu trang(
Những cánh rừng bị tàn phá, những quả đồi, dãy núi bị "moi ruột”, những con đường "oằn mình" dưới xe "siêu trường, siêu trọng"... Thực trạng trên đang diễn ra từng ngày, từng giờ tại xã Hồng Kỳ, xã Nam Sơn và một số xã của huyện Sóc Sơn.
Ông Nguyễn Văn Đ, một người dân sống ở khu vực bức xúc: "Không biết các cơ quan chức năng cấp phép cho họ hoạt động như thế nào, nhưng các xe có trọng tải lớn hoạt động suốt cả ngày, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ngày nắng khói, bụi mù mịt, ngày mưa đường sá lầy lội, trơn trượt. Tình trạng này kéo dài khiến người dân sinh sống cạnh đường chỉ còn nước đi sơ tán vì không thể chịu nổi tiếng gầm rú của xe pháo cùng với khói, bụi cuốn lên mù mịt.
Từ khi công trường hoạt động, con đường vào thôn đã bị băm nát, tạo thành những thùng, vũng đi lại rất khó khăn. Nhiều lần người dân nơi đây đã lấy gạch đá, đào rãnh, lập barie chặn nhưng chỉ được một thời gian rồi đâu lại vào đó. Con đường nhựa liên xã của huyện Sóc Sơn cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi hàng ngày, hàng giờ phải gồng mình chống chọi với các loại xe quá tải. Mặc dù trên tuyến đường có đặt biển cấm xe tải trọng trên 10 tấn, nhưng những chiếc xe 30-40 tấn vẫn ngang nhiên hoạt động.
Được biết trên địa bàn huyện Sóc Sơn không chỉ có núi Đầu Rau, mà còn nhiều núi, đồi khác như Phú Lâu, Trại Nghè, Đồng Mỏ... của xã Hồng Kỳ và xã Nam Sơn cũng đang bị "moi" ruột hàng ngàn mét khối đất mỗi ngày!
Nhằm đáp ứng nhu cầu san lấp mặt bằng tại các dự án, năm 2009 và năm 2010, UBND thành phố Hà Nội đã cấp giấy phép khai thác đất rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn cho 3 doanh nghiệp. Công ty cổ phần Đầu tư-Xây dựng Trường Linh được cấp phép khai thác 9,5ha đất tại xã Hồng Kỳ; Công ty cổ phần Vật liệu Phú Đạt được khai thác 9,9ha và Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng được cấp phép khai thác 5,4ha đất ở xã Nam Sơn.
Và tại Điều 3 của Giấy phép khai thác đất do UBND thành phố Hà Nội cấp cho các doanh nghiệp, ghi rõ: "Hoạt động khai thác theo giấy phép này chỉ được tiến hành sau khi công ty nộp thiết kế mỏ, thông báo về giám đốc điều hành mỏ, kế hoạch khai thác cho Sở Tài nguyên-Môi trường, ký quỹ phục hồi môi trường, ký hợp đồng thuê đất và thực hiện đầy đủ các thủ tục tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật". Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, cả 3 doanh nghiệp kể trên, đều không hoàn thiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định, nhưng vẫn thản nhiên khai thác đất.
Ngày 21-11-2011, UBND huyện Sóc Sơn đã có văn bản số 1362/UBND-TNMT chỉ đạo các ngành chức năng và UBND các xã có rừng tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp khai thác tài nguyên, khoáng sản, đất lâm nghiệp trên địa bàn, khi chưa có đầy đủ thủ tục liên quan đến hoạt động khai thác đất. Thế nhưng, đến thời điểm này (tháng 9-2012) mới chỉ có Công ty cổ phần Vật liệu Phú Đạt hoàn thiện thủ tục khai thác đất. Còn Công ty cổ phần Đầu tư-Xây dựng Trường Linh và Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng vẫn thiếu các thủ tục: lập thiết kế mở mỏ, hợp đồng thuê đất, chưa nộp tiền thuê đất..., vẫn khai thác đất rừng tại xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ, bất chấp các văn bản yêu cầu dừng hoạt động khai thác đất của chính quyền địa phương.
Ông Nguyễn Văn Chính, Trưởng phòng TN- MT huyện Sóc Sơn cho biết: Với chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên, môi trường trên địa bàn, phòng đã nhiều lần phối hợp với các lực lượng chức năng của huyện kiểm tra, xử lý các trường hợp khai thác đất trái phép trên địa bàn và tham mưu cho UBND huyện ban hành các văn bản yêu cầu UBND xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ đình chỉ ngay hoạt động khai thác đất trái phép của Công ty cổ phần Đầu tư-Xây dựng Trường Linh, Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND huyện nếu để xảy ra vi phạm, không có biện pháp xử lý dứt điểm, kịp thời. Về vấn đề này, ông Nguyễn Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Hồng Kỳ lại giải thích: Chúng tôi thực hiện theo chủ trương của cấp trên là để cho doanh nghiệp đồng thời "vừa khai thác, vừa chạy giấy tờ".
Dư luận đặt câu hỏi: Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Trường Linh và Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng khai thác đất rừng, đất rừng phòng hộ tại xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ trong suốt thời gian dài phải chăng có ai đó "bật đèn xanh"? Việc xử lý của chính quyền huyện Sóc Sơn phải chăng chưa kiên quyết, chỉ dừng lại trên giấy và mang tính đối phó, chiếu lệ?
Nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường, ổn định sản xuất, đời sống của người dân địa phương, rất cần sự vào cuộc của cơ quan chức năng và lãnh đạo thành phố Hà Nội. Báo Hànộimới tiếp tục phản ánh với bạn đọc, khi có thông tin mới. (Hà Nội Mới 6/9)đầu trang(
Nguồn tin của Lao Động ngày 5/9 cho hay, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị vừa có văn bản chỉ đạo giao cơ quan CA tỉnh chủ trì kiểm tra, tập hợp thông tin liên quan đến vụ gỗ huê tang vật bị thất thoát xảy ra tại Đội đặc nhiệm phòng chống ma tuý Bộ đội Biên phòng tỉnh, để báo cáo cho Ban Thường vụ nghe toàn bộ vụ việc.
Theo kết quả điều tra do Cơ quan điều tra CA tỉnh tiến hành thì đã xảy ra tình trạng “phù phép” tang vật gỗ huê theo hướng giữ nguyên số lượng khúc gỗ bị tịch thu, nhưng giảm nhiều về trọng lượng, đặc biệt là những khúc gỗ lớn có giá trị tiền rất lớn đã bị “biến mất”. Đây là vụ việc mà Lao Động đã có nhiều bài điều tra trong các năm 2011 và 2012.
Chỉ với 422,5kg gỗ huê loại cành, ngọn, gốc, rễ nhỏ còn lại, cơ quan chức năng đã bán đấu giá ngày 8.7.2011, thu về gần 5 tỉ đồng (người tham gia mua gỗ khẳng định cây gỗ huê này nặng khoảng trên 1.000kg). Điều đáng nói là từ số tiền này, cơ quan để xảy ra vụ thất thoát gỗ huê tang vật vẫn được trích thưởng tiền chống buôn lậu hàng tỉ đồng. (Lao Động 6/9)đầu trang(
Bạn đọc Thanh Dung ở xã An Dũng, huyện An Lão (Bình Định) phản ánh: Tuyến đường 629 từ huyện Bồng Sơn đến huyện An Lão có nhiều đoạn quanh co, đèo cao, dốc sâu, nhưng hàng ngày vẫn có hàng trăm xe chở gỗ quá tải lưu thông.
Đã vậy, các xe chở gỗ lại thường phóng nhanh, vượt ẩu, trở thành nỗi khiếp sợ của người dân mỗi khi tham gia giao thông trên con đường này. (Nông Thôn Ngày Nay 5/9)đầu trang(
4/9, tại chợ Cột 5, phường Hồng Hà, TP.Hạ Long (Quảng Ninh), Phòng CSĐT tội phạm Môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động và phòng chữa cháy rừng số 1 Chi cục Kiểm lâm đã phát hiện và bắt quả tang bà Nguyễn Thị Síu (trú tại khu 2A, phường Cẩm Trung, TP.Cẩm Phả) đang bày bán thịt khỉ một cách công khai.
Tại cơ quan công an, bà Síu khai nhận, khoảng 18h ngày 3/9/2012, bà này đã mua 1 con khỉ đã chết có trọng lượng khoảng 9kg của một người đàn ông không rõ danh tính ở phường Quang Hanh (TP.Cẩm Phả) với giá 2,5 triệu đồng. Sáng 4/9/2012, bà Síu mang lên TP.Hạ Long bán thì bị phát hiện, thu giữ. Bà Síu cũng khai nhận đã nhiều lần mang thịt khỉ lên Hạ Long bán.
Hiện các cơ quan chức năng đã lập hồ sơ xử lý đối tượng theo quy định của pháp luật. (Giáo Dục VN 6/9)đầu trang(
Những năm đầu thập niên 90, hàng nghìn cây thủy tùng ngàn năm tuổi ở Krông Năng, Ea H’leo-Đắk Lắk bị chặt bỏ, bị vùi lấp dưới đáy các hồ thủy lợi. Một vài hộ dân “may mắn” có thủy tùng sót trên rẫy bỗng trở thành những kiểm lâm viên bất đắc dĩ khi dân khắp nơi đổ xô về các khu sình lầy, ruộng rẫy đào bới, nhăm nhe đốn hạ.
Tại thôn Quảng An, xã Ea Hồ (Krông Năng) còn 1 cây thủy tùng khổng lồ sống sót nằm trên rẫy của anh Y Mion Niê (buôn Gier) và anh được hạt kiểm lâm huyện hợp đồng canh giữ cây quý với số tiền khoảng trăm nghìn/tháng. Y Mion kể: những năm 1995 gia đình anh đến khu sình Ea Kuang, thôn Quảng An phát nương làm rẫy, thời đó thủy tùng nhiều lắm, cây nào cây nấy to bằng cả 2-3 vòng tay người lớn ôm. Để lấy đất làm hồ thủy lợi, địa phương đã đốn hạ và hàng nghìn cây thủy tùng bị chôn vùi xuống sình Ea Kuang, trong đó có 2 cây trên đất rẫy nhà anh may mắn sống sót.
Năm 2007 cơn sốt thủy tùng lên cao, người dân khắp nơi kéo về khu sình Ea Kuang nơi anh làm lúa ngày đêm đào bới, xăm tìm thủy tùng. Họ lấy đi bất kể bộ phận gì liên quan đến thủy tùng. Ruộng lúa nhà Y Mion bị băm nát, phải bỏ hoang, 2 cây thủy tùng còn sống trên rẫy cũng liên tục bị nhòm ngó. Để bảo vệ cây, Hạt kiểm lâm Krông Năng đã hợp đồng với anh trông giữ, Y Mion có thêm một công việc mới – canh giữ 2 cây thủy tùng.
Thời gian đầu, Y Mion đã dựng chòi trên rẫy để tiện bề trông coi. Cẩn thận hơn, anh còn cho số điện thoại những nhà dân sống quanh rẫy mình, nếu lỡ hôm nào bận việc không vào rẫy được thì nhờ họ “để mắt” giùm, nếu có động tĩnh gì thì gọi điện báo anh biết. “Trong một đêm trời mưa rất to, kẻ xấu đã đột nhập cưa mất cây thủy tùng nhỏ hơn, sau đó cán bộ kiểm lâm đến đo đếm, lập biên bản, lúc đó mình nghĩ, lần này chắc bị bắt đền hoặc xử phạt vì đã trông coi không cẩn thận… Rất may cán bộ chỉ nhắc nhở và yêu cầu mình phải trông giữ cây còn lại cẩn thận hơn” – anh cười cho biết.
Xung quanh cây thủy tùng khổng lồ mà Y Mion canh giữ cũng đã xuất hiện những câu chuyện ly kỳ. Hôm chúng tôi vào rẫy để được tận mắt thấy “cây cổ”, quanh gốc cây cỏ mọc um tùm ngang thắt lưng, cây thủy tùng có đường kính gốc hơn 2 mét, ngọn đã bị sét đánh gãy, giữa thân đã bị sầu tạo nên nhiều lỗ hổng nhưng cây vẫn phát triển, cành lá um tùm xanh tốt.
Tôi cùng một đồng nghiệp định lội qua lớp cây cỏ để được sờ vào thân cây thì những đứa trẻ con sống quanh đó cản lại. Chúng bảo: gốc cây có cặp rắn ông – rắn bà rất to trú ngụ; đã có một số người vào cưa trộm nhánh cây làm kinh động chỗ ở và bị rắn cắn trả thù. Nghe đến đây tôi sững lại không còn dám bước vào dù rất muốn được tận mắt, tận tay sờ vào loại cây được cho là “cùng thời với khủng long” này. Tiếc nuối, chúng tôi chỉ biết đứng từ xa giơ máy ảnh lên chụp mấy tấm về cây làm tư liệu.
Rời cây cổ, chúng tôi tìm về buôn Gier gặp buôn trưởng Y Cơn. Dọc hai bên đường buôn, những ngôi nhà ngói khang trang mọc san sát. Trước cửa nhiều nhà chất đầy những mảnh gỗ, rễ cây đen sì mà theo lời già Y Cơn thì đó là thủy tùng bà con đi “xăm” ngoài sình Ea Kuang về. “Cơn sốt thủy tùng không còn nóng như trước, với lại những mảnh gỗ bà con tìm được nhỏ, không có giá trị nhiều, dù bỏ lăn lóc trước cửa nhà cũng chẳng ai trộm cắp cả” – Y Cơn cười nói.
Trước cửa nhà Y Cơn cũng có một vài súc gỗ thủy tùng vứt lăn lóc, trên nóc tủ vài mảnh thủy tùng có hình thù kỳ lạ được ông rửa sạch làm vật trưng bày chơi.
Đưa mắt nhìn xa xăm về phía trước, Y Cơn kể: Từ khi còn bé già đã thấy thủy tùng, nhiều lắm; bạt ngàn những cánh rừng, cây nào cũng to cỡ 2-3 vòng tay người lớn ôm. Gỗ thủy tùng ngày xưa đồng bào Êđê ít sử dụng lắm, thân gỗ mềm và không phải ai cũng được sử dụng, chỉ những già làng lớn tuổi có uy tín trong buôn mới được dùng. Khi muốn chặt một cây phải làm lễ cúng, xin thần rừng rồi mới đốn hạ. Mà đốn về rồi cũng chỉ sử dụng để làm các chi tiết bên ngoài nhà như mái hiên, lát sàn lên xuống cầu thang chứ không dùng làm đồ nội thất trong nhà.
"Người dân buôn Gier dùng thủy tùng làm nhà mới khoảng vài chục năm gần đây, khi thủy tùng bị đốn hạ ồ ạt để làm đập chứa nước; đi làm ruộng rẫy đốt không hết, bà con thấy tiếc gỗ nên mang về xẻ ván lát sàn, làm hàng rào… và cũng chỉ những người nghèo mới dùng gỗ thủy tùng thôi” - Y Cơn cho biết.
Cũng theo già Y Cơn: chừng dăm, bảy năm gần đây không biết từ đâu rộ lên tin đồn thủy tùng có khả năng chữa bệnh nan y, xua đuổi ruồi muỗi, khiến người dân khắp nơi đổ xô về các khu sình lầy trước đây có thủy tùng bị chôn lấp đào, bới tìm những thân thủy tùng bị chôn vùi đem về bán, gây ồn ào, mất trật tự suốt một thời gian dài. Các đầu nậu gỗ khắp nơi tìm về buôn lùng sục, những nhà nào trước đây dùng thủy tùng làm nhà, làm hàng rào hay làm chuồng trâu, bò đều tháo ra bán hết. Nhờ tiền bán gỗ thủy tùng đó mà xây được nhà bê tông, tậu được xe…
Rời buôn Gier, đi dọc đoạn đường từ buôn ra thị trấn, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp một vài phụ nữ Êđê gùi sau lưng những gùi rễ cây, mảnh gỗ thủy tùng nho nhỏ còn bám đầy đất đen sì. Họ cho biết đang gùi số rễ, gỗ thủy tùng này ra ngoài đường cái lớn để bán, nếu may mắn, một gùi như vậy cũng bán được một đến hai trăm ngàn. Hôm nào không may thì lại phải gùi về, lúc nào rảnh rỗi lại gùi ra bán tiếp… (Người Lao Động 5/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Giới chức Trung Quốc sẽ thành lập trung tâm gây giống nhân tạo khỉ vàng Thần Nông Gia đầu tiên trong vòng một năm để ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng của loài động vật linh trưởng hiếm này.
Chỉ 5% khỉ vàng Thần Nông Gia sống sót sau khi ra đời. Đây là một trong những nguyên nhân khiến chúng đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Ảnh: china.org.cn.
Trung tâm gây giống khỉ vàng sẽ tọa lạc trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Nông Gia ở tỉnh Hồ Bắc, nơi trú ngụ của khoảng 1.200 khỉ vàng, Tân Hoa Xã đưa tin.
“Nhiệm vụ của trung tâm là tăng số lượng khỉ vàng trong rừng Thần Nông Gia bằng cách khắc phục những trở ngại kỹ thuật”, Yang Jingyuan, giám đốc của Viện Nghiên cứu Khỉ vàng Thần Nông Gia, phát biểu.
Người Trung Quốc coi khỉ vàng Thần Nông Gia là “báu vật quốc gia” giống như gấu trúc. Chúng là một trong những loài được pháp luật Trung Quốc bảo vệ nghiêm ngặt nhất.
Trong môi trường hoang dã, tỷ lệ khỉ vàng Thần Nông Gia sinh con hàng năm chỉ là 4% và tỷ lệ sống sót của khỉ con chỉ vào khoảng 6%.
“Giới khoa học vẫn chưa biết tại sao khỉ vàng trong rừng Thần Nông Gia mang thai vào khoảng thời gian từ tháng 8 tới tháng 10. Khỉ vàng cái chỉ có thể mang thai một lần trong hai năm”, Yang nói.
Sống trong những vạt rừng rậm ở độ cao từ 1.680 m tới 3.000 m, khỉ vàng trong khu bảo tồn Thần Nông Gia đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Người ta phát hiện chúng lần đầu tiên vào năm 1960. Nỗ lực thống kê số lượng khỉ vàng lần đầu tiên, được tiến hành trong thập niên 80, cho thấy chỉ 501 con khỉ vàng sống trong rừng Thần Nông Gia.
Khỉ vàng Thần Nông Gia là một phân loài của khỉ mũi hếch vàng, một trong 5 loài khỉ vàng trên trái đất.
Nằm giữa trong những quả núi hẻo lánh ở tỉnh Hồ Bắc, rừng Thần Nông Gia được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 1990. Đây là danh hiệu UNESCO trao tặng những khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động vật, thực vật độc đáo và phong phú đa dạng. (Vnexpress.net 5/9)đầu trang(
Tổng thống Nga Vladimir Putin mới đây đã tham gia một dự án bảo vệ một loài chim quý hiếm mang tên “Chuyến bay Hy vọng”. Ông đã tự lái một chiếc tàu lượn để dẫn đường đưa những chú sếu trắng Siberia quý hiếm đang di cư về khu bảo tồn.
Dự án “Chuyến bay Hy vọng” được thực hiện nhằm mục đích bảo vệ loài sếu quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ những loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Putin đã thực hiện tổng cộng 3 chuyến bay: chuyến bay đầu tiên để tập lái và làm quen với máy móc, hai chuyến tiếp theo, ông đã có thể “mời” đàn sếu bay cùng mình.
Đàn chim sếu này được nuôi tại Khu bảo tồn chim muông và động vật Kushevat và chúng đang trên đường di cư để tránh mùa đông lạnh giá. Khu bảo tồn Kushevat ở gần thành phố Salerkhard, sát Bắc Cực.
Tuy nhiên, trong chuyến bay đầu tiên, chỉ có một trong số các con sếu trong đàn bay theo vị tổng thống tài ba. Sau chuyến bay, Putin đã phân tích và giải thích rằng, có thể do gió quá mạnh và tàu lượn bay quá nhanh nên đàn chim không thể đuổi kịp.
Rút kinh nghiệm từ chuyến bay thứ nhất, chuyến bay thứ hai của ông chủ Điện Kremlin đã thành công hơn, khi “dụ” được 5 chú chim bay theo mình.
“Tôi rất thích chương trình này”, Putin bày tỏ sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời thêm rằng, sau chuyến này, ông đã bắt đầu thích và sẽ “sắm” một chiếc tàu lượn bằng chính tiền của mình rồi sau đó sẽ chuyển tặng cho các nhà khoa học. Ông nói: “Tôi khuyên tất cả mọi người nên thử lái nó”.
“Tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm và tuyệt với vì tất cả mọi thứ đều diễn ra rất thuận lợi và tốt đẹp”, Tổng thống Putin vui mừng chia sẻ cảm xúc của mình với cánh phóng viên sau chuyến hành trình đầy thú vị và ý nghĩa.
Phi công Igor Nikitin cho biết, Tổng thống Putin đã bay tổng cộng 17 giờ trên không, và khi ông bay đủ 25 giờ, ông có thể sẽ nhận được một chứng chỉ phi công. (Vnmedia 6/9) đầu trang(
Một nghiên cứu mới nhất cho hay, loài hổ đang sinh sống trong công viên quốc gia ở Nepal đã thay đổi tập tính kiếm mồi từ ban ngày sang ban đêm nhằm tránh con người.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, phát hiện này có thể giúp gỡ bỏ quan niệm trước đây cho rằng con người và hổ không thể sinh sống trên cùng một khu vực, mà ngược lại hi vọng con người và hổ có thể sống hài hòa với nhau.
Thông thường, tập tính kiếm ăn của hổ liên tục trong 24 giờ, bao gồm cả giám sát địa bàn hoạt động, giao phối và kiếm mồi. Nhưng phát hiện mới đây về loài hổ sinh sống trong công viên quốc gia Chitwan của Nepal lại cho thấy loài hổ đã thay đổi tập tính sinh hoạt, trở thành động vật sinh hoạt về đêm.
Công viên quốc gia Chitwan (Nepal) nằm ở hẻm núi của dãy Himalaya, trong đó có 121 loài hổ tự nhiên sinh sống, bên ngoài công viên có con người cư trú, hàng ngày đều vào công viên để đốn củi. Ngoài ra còn có du khách đến tham quan.
Loài hổ Nepal đã thay đổi tập tính kiếm ăn từ ban ngày chuyển sang ban đêm để tránh con người.
Các nhà nghiên cứu đã lắp camera trong công viên để theo dõi hoạt động của con người và hổ trong thời gian hai tháng, sau đó tiến hành phân tích các bức ảnh chụp được và đưa ra kết luận: Con người và hổ đều hoạt động trên một phạm vi giống nhau, chỉ khác nhau về thời gian. Loài hổ biết cách tránh né con người, chúng đã chuyển sang hoạt động và kiếm mồi vào ban đêm.
Các chuyên gia còn nói thêm, điều kiện tự nhiên ở công viên quốc gia Chitwan tuyệt đối thích hợp với loài hổ. Ở đây rừng rậm, có nguồn thức ăn phong phú, tình trạng săn thú trộm rất ít, nhưng lại thường xuyên có sự xuất hiện của con người, có cả người bản xứ lẫn du khách. Tuy nhiên, loài hổ dường như đã biết cách điều chỉnh tập tính sinh hoạt để thích nghi với hoàn cảnh.
Trước đây, con người cho rằng, loài hổ quen sinh sống trong môi trường không có con người, vì thế, để bảo vệ loài hổ tự nhiên, con người cần phải nhường lại địa bàn sinh sống và nguồn thức ăn tự nhiên cho chúng. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã cho thấy, con người và hổ hoàn toàn có thể sống cùng trên một khu vực.
Theo các chuyên gia, hiện tượng này tại rừng quốc gia Chitwan Nepal cũng có thể xảy ra tại các nơi khác trên thế giới. Theo đó, khả năng loài hổ có thể tiếp tục sinh tồn là lớn hơn rất nhiều. (Đất Việt 5/9; Người Lao Động 5/9)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa