Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
"Với sự việc Công ty lâm nghiệp Sơn Động mở đường phá hơn 20 ha rừng tự nhiên, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm. Vì vậy tỉnh Bắc Giang phải làm rõ trách nhiệm lãnh đạo huyện Sơn Động", luật sư Trương Quốc Hòe phân tích.
Loạt bài điều tra của báo Dân trí về việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Công ty Lâm nghiệp Sơn Động) lợi dụng việc được giao thực hiện dự án cải tạo rừng tự nhiên để nhập nhèm phá, bán hơn 20ha rừng trên địa bàn xã Bồng Am - Sơn Ðộng (Bắc Giang) đã đi gần đến hồi kết khi hàng loạt sai phạm đã được làm rõ. Tuy nhiên, điều khiến dư luận vẫn bất bình là đi kèm sai phạm nghiêm trọng thì trách nhiệm của hàng loạt cơ quan chức năng tỉnh này được "chốt" bằng hình thức nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Trong đó, công luận vẫn đang chờ đợi việc xác định và xử lý trách nhiệm một cách nghiêm túc, công khai của UBND tỉnh Bắc Giang với các cấp chính quyền huyện Sơn Động.
Cho biết quan điểm về sự việc, luật sư Trương Quốc Hòe - Trưởng văn phòng luật sư Interla (Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết: Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng, thì UBND huyện Sơn Động có trách nhiệm trong việc quản lý và bảo vệ rừng.
Vì vậy, UBND huyện Sơn Động cùng các cơ quan chuyên môn giúp việc trong lĩnh vực bảo vệ rừng là Phòng tài nguyên và môi trường huyện Sơn Động; Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Sơn Động và đơn vị quản lý ở địa phương là UBND xã Bồng Am cũng có trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ, ngăn chặn việc phá hoại rừng.
Tuy nhiên, với cách quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm của các cơ quan trên đã để xảy ra thiệt hại nghiêm trọng là khiến hàng chục ha rừng tại xã Bồng Am, Sơn Động bị phá.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, thì lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật.
"Cũng giống như trách nhiệm của Hạt kiểm lâm Sơn Động, việc rừng bị phá thì lãnh đạo huyện Sơn Động phải bị xác định trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật. Nếu có dấu hiệu tội phạm, cơ quan công an cần vào cuộc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại rừng với vai trò đồng phạm hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng với lãnh đạo UBND huyện Sơn Động", luật sư Hòe phân tích.
Trong vụ việc nghiêm trọng này, Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cùng với việc xác định, xử lý sai phạm nội bộ đã "mạnh dạn" đề nghị UBND tỉnh Bắc Giang xem xét trách nhiệm của chính quyền địa phương huyện Sơn Động và chính quyền cấp xã trong việc để xảy ra sai phạm tại Công ty lâm nghiệp Sơn Động theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Được biết, nguyên Chủ tịch UBND huyện Sơn Động thời điểm Công ty lâm nghiệp Sơn Động phá rừng là ông Trần Công Thắng hiện đang giữ cương vị Bí thư huyện ủy Sơn Động. Hiện ông Nguyễn Quang Ngạn đang giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện Sơn Động.
Như thông tin, UBND tỉnh Bắc Giang đã có quyết định số 1783/QĐ-UBND ngày 3/11/2014 do ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang ký kỷ luật đối với ông Chu Bá Nghĩa - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Sơn Động.
Theo quyết định của UBND tỉnh Bắc Giang, ông Chu Bá Nghĩa bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Lý do kỷ luật: chấp hành chưa nghiêm túc các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khi chỉ đạo công ty cải tạo, khai thác và lấn chiếm ra ngoài diện tích được phê duyệt 48,4 ha.
Cùng với việc kỷ luật cá nhân ông Nghĩa, UBND tỉnh Bắc Giang cũng quyết định kỷ luật cả hội đồng thành viên của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sơn Động với hình thức khiển trách. (Dân Trí 4/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, lực lượng kiểm lâm tỉnh Đác Nông đã phát hiện hàng trăm cây thông trên 30 năm tuổi tại Tiểu khu 1614 rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 thuộc địa phận thôn 7, xã Nâm N’jang, huyện Đác Song xảy ra hiện tượng rủ lá, héo khô và đang chết dần.
Qua kiểm tra, trên các cây thông bị khô héo có rất nhiều que tre dài khoảng 3-4cm cắm sâu vào thân cây, khi rút ra, đầu các que tre dính hóa chất màu trắng. Diện tích cây thông bị chết khoảng trên một ha, trong đó một số cây đã bị cưa gốc, nằm chổng chơ. Trong khi đó, chung quanh khu vực rừng thông bị “đầu độc” này đã có nhiều diện tích cà-phê, hồ tiêu trên một năm tuổi xanh tốt nằm xen kẽ với rừng thông.
Ông Nguyễn Đức Hạnh, một người dân ở thôn 7, xã Nâm N’jang, cho biết: “Những năm trước đây, rừng thông ở khu vực này còn rất nhiều, nhưng vài năm trở lại đây ngày càng bị thu hẹp, nếu các ngành chức năng không có biện pháp ngăn chặn hiệu quả thì rừng thông phòng hộ này sẽ bị “xóa sổ” trong nay mai”.
Theo ông Hạnh, nguyên nhân rừng thông bị tàn phá nặng nề là do những năm gần đây, giá cà-phê, hồ tiêu trên thị trường luôn ổn định ở mức cao nên một số đối tượng đã tìm cách “đầu độc” rừng thông để lấy đất làm nương rẫy. Việc tàn phá rừng thông ngày càng trắng trợn, công khai, ngoài việc đẽo vỏ chung quanh gốc cây thông để cây chết dần chết mòn, các đối tượng còn dùng khoan khoan trực tiếp vào thân cây rồi bơm thuốc trừ sâu vào lỗ khoan và chỉ vài ngày sau, cây thông héo lá, chết dần.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đác Song Nguyễn Văn Thịnh cho biết, thời gian gần đây, tình trạng chặt phá rừng thông phòng hộ cảnh quan dọc quốc lộ 14 đoạn qua địa bàn huyện diễn biến hết sức phức tạp. Thủ đoạn tàn phá rừng thông cũng hết sức tinh vi như khoan, đục các lỗ để bỏ hóa chất vào thân cây và chủ yếu diễn ra vào ban đêm nên rất khó phát hiện, bắt giữ. Thậm chí, khi cơ quan chức năng phát hiện được hành vi đục, khoan để bỏ hóa chất vào cây thông thì các đối tượng đã vứt bỏ những dụng cụ này nên rất khó bắt quả tang.
Để bảo vệ rừng thông phòng hộ này, thời gian qua thực hiện chỉ đạo của UBND huyện Đác Song và Chi cục Kiểm lâm tỉnh, lực lượng kiểm lâm huyện đã tích cực phối hợp với cơ quan chức năng và chính quyền địa phương để tuần tra, kiểm soát, nhưng do diện tích rừng thông nằm rải rác, xen kẽ với nhà ở, nương rẫy của người dân và trải dài gần 30 km nên việc canh giữ, bảo vệ rất khó khăn.
Vì vậy, để bảo vệ diện tích rừng thông hộ cảnh quan quốc lộ 14 còn lại, ngoài sự nỗ lực của các ngành chức năng, cần sự vào cuộc của chính quyền và các đoàn thể ở địa phương nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời các ngành chức năng của tỉnh và huyện cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các đối tượng tàn phá rừng thông phòng hộ này. (Nhân Dân 4/12) đầu trang(
Hồ Tây được biết đến là một hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt với sự đa dạng về động thực vật, được coi là điển hình nhất của các hệ sinh thái nước ngọt, nước đứng đồng bằng Bắc Bộ.
Tuy nhiên, những giá trị về đa dạng sinh học nơi đây đang suy giảm hiện hữu từng ngày. Điều này càng được minh chứng bởi các két quả điều tra thành phần các loài thực vật nổi  ở Hồ Tây cho thấy, có sự giảm sút loài lớn nhất từ 115 (1996) đến nay chỉ còn khoảng 60 - 70 loài. Như vậy, số loài đã giảm sút gần một nửa. Trong đó, giảm số lượng nhiều nhất là ngành tảo Lục giảm từ trên 70 loài xuống còn hơn 20 loài.
Số loài động vật của hồ cũng chẳng mấy khả quan, những năm gần đây, khu hệ cá hồ Tây hiện có 48 loài thuộc 13 họ, các thành phần loài cá ở hồ Tây có sự tăng lên, nhưng chủ yếu là do các loài cá nhập nội được nuôi thả, hoặc các loài cá được di nhập từ vùng khác đến và cũng có một số loài mới. Quan ngại nhất phải kể đến 3 loài cá được ghi trong sách Đỏ Việt Nam là cá vền, cá trắm đen và cá lóc, đến nay 2 loài cá trắm đen và cá lóc đã không còn được ghi trong sách Đỏ nữa, chỉ còn loài cá vền cũng đứng trước nguy cơ khai tử.
Nguyên nhân được các nhà khoa học chỉ ra là do môi trường nước ở hồ Tây những năm gần đây ngày càng tăng ô nhiễm, đặc biệt vào mùa khô. Hệ lụy đi kèm số lượng cá chết ngày càng nhiều và càng tăng vào mùa nước cạn. Loài cá bị chết nhiều nhất là cá mè trắng, cá trôi rô hu, cá rô phi.
Mặc dù giải pháp kỹ thuật bờ kè ngăn chặn được tình trạng xâm lấn diện tích mặt nước, tuy vậy, mặt trái của giải pháp này có nhiều tác động tiêu cực, bất lợi đối với môi trường nước mặt Hà Nội, như là làm giảm đáng kể thể tích chứa nước mưa của sông, hồ  từ15 – 35% thể tích, làm giảm khoảng 20 - 30% tiết diện dòng chảy thoát nước mưa của sông, làm giảm khả năng thẩm thấu nước của sông hồ và diện tích mặt bùn đất đáy sông hồ bị thu hẹp đáng kể có thể giảm tới 50%, tất các hậu quả này sẽ làm cho nạn úng ngập của nội thành Hà Nội càng căng thẳng thêm.
Đồng thời, còn làm giảm điều kiện môi sinh vì diện tích bề mặt đá hộc trong sông hồ chiếm tỷ lệ rất lớn, đối với các loài thủy sinh vật, các loài sinh vật đáy và các loài vi khuẩn có khả năng tiêu hủy các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước so với phương án xây kè bờ theo phương án thẳng đứng, như vậy kè bờ đá thoải 450 này sẽ làm cho môi trường nước sông, hồ bị ô nhiễm hơn.
Theo GS. TSKH  Phạm Ngọc Đăng  - Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước chất lượng nước Hồ Tây còn rất tốt, hàm lượng BOD5 của nước Hồ Tây nhỏhơn 6mg/l, thuộc chất lượng nước loại A, nhân dân quanh khu vực thường ra Hồ Tây lấy nước về phục vụ ăn uống.
Tuy nhiên, ngày nay nước Hồ Tây đã bị ô nhiễm tới mức trở thành nước loại B1, B2, hàm lượng BOD5 của nước Hồ Tây ở giữa hồ cao nhất đạt tới 23mg/l, ở điểm gần bờ phía đường Thanh Niên cao nhất đạt tới 35mg/l (vượt cả mức lớn nhất của nước loại B2 – phục vụ cho tưới tiêu (25mg/l).
Thực tế trong 25 năm qua, TP. Hà Nội đã có nhiều biện pháp bảo vệ hồ. Đơn cử như việc cho thấy biện pháp xây cống vòng quanh hồ để ngăn chặn và thu gom không cho các nguồn nước thải đổ thẳng vào hồ là biện pháp kỹ thuật có hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước hồ. Tuy vậy đối với Hồ Tây hiện còn tồn tại nhiều nguồn thải nước ô nhiễm từ các cửa hàng ăn uống, các khách sạn và các công trình dịch vụ nằm ở khu vực sát bờ hồ, ở trong khu bán đảo Tây Hồ, và ở ngay trên mặt nước hồ, chưa được xử lý triệt để, nên môi trường nước gần bờ Hồ Tây hiện nay còn bị ô nhiễm nặng, hàm lượng các chất ô nhiễm nước gần bờ gấp khoảng 2 lần so với nước ở giữa hồ.
Do vậy, đối với Hồ Tây cũng như các hồ khác của nội thành Hà Nội cần phải chỉnh sửa, hoàn thiện hệ thống cống vòng xung quanh hồ để thu gom và ngăn ngừa 100% nước thải không cho chảy vào hồ thì nước các hồ mới nhanh chóng phục hồi thành môi trường nước trong sạch như những năm 60 của thế kỷ trước.
Hồ Tây là một thế giới kiến trúc trước kia và hiện nay có nhiều sự thay đổi về đa dạng sinh học, nếu không có các biện pháp để bảo tồn, sẽ vô tình làm mất đi những giá trị khoa học có giá trị ý nghĩa rất cốt lõi đối với hồ. (Tài Nguyên & Môi Trường 4/12) đầu trang(
Loài rùa biển đang đứng trước nguy cơ tận diệt do bị săn bắt vô tội vạ. Hơn 1.000 cá thể rùa biển trong kho của một cơ sở chế tác mỹ nghệ ở TP. Nha Trang, Khánh Hòa được các cơ quan chức năng phát hiện, một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự tuyệt chủng của loại động vật quý hiếm này.
Rùa biển là loại động vật quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng hàng năm, một lượng lớn các cá thể rùa biển vẫn bị săn bắt trái phép bởi những ngư dân hám lợi. Họ bất chấp tính mạng, pháp luật để đi theo những chuyến săn bắt rùa biển. Và vùng biển từ Quảng Nam đến Khánh Hòa được xem là những điểm “nóng” của nạn săn bắt và tiêu thụ rùa biển.
Tuy nhiên, những ngư dân săn bắt rùa biển sẽ không dám ra khơi nếu không có sự tiếp sức của các đầu nậu thu mua rùa biển. Biết sẽ thu được những món lời lớn từ rùa biển nên các đầu nậu sẵn sàng chi tiền cho ngư dân đóng tàu để săn bắt rùa biển, sau đó về bán lại cho họ. Được đầu tư như vậy nên việc săn bắt loài động vật quý hiếm này ngày càng chuyên nghiệp.
Theo ông Trần Văn H. một ngư dân đã từng ra Quảng Ngãi tham gia tàu săn bắt rùa biển mấy năm trước cho biết, mỗi con tàu trước khi đi và sau khi về đều phải liên lạc với đầu nậu thu mua. Trước khi đi, các đầu nậu này cho ứng tiền ra khơi. Trong khi đánh bắt, ngư dân phải thường xuyên cập nhật tình hình đánh bắt cho đầu nậu này biết. Quá trình vào đất liền thì thường là phải làm theo sự chỉ đạo của các đầu nậu.
“Ngày trước, trong những chuyến đánh cá, thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt được đồi mồi, rùa biển. Bây giờ thì hiếm lắm, chúng mất tích đâu hết. Anh coi, Công an chỉ bắt có 1 xưởng thôi mà đã phát hiện cả ngàn con. Họ mua ở đâu về chứ Nha Trang này làm chi có nhiều vậy” anh Trần Sỳ Quảng một ngư dân ở Hòn Rớ, TP. Nha Trang nói.
Mới đây, cơ quan chức năng gồm lực lượng cảnh sát thuộc Cục Cảnh sát môi trường Bộ Công an, Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Khánh Hòa, Thanh tra thủy sản, đại diện Viện Hải Dương học cùng tham gia thống kê, kiểm đếm số rùa biển được phát hiện trong kho của cơ sở chế tác đồ “mỹ nghệ” tại xã Phước Đồng, TP. Nha Trang, Khánh Hòa.
Cơ sở này do ông Hoàng Tuấn Hải (SN 1972) làm chủ. Thời điểm phát hiện, cơ quan chức năng đã thu giữ hơn 1.000 cá thể và sản phẩm mỹ nghệ từ rùa biển. Do số lượng “khủng” của các tiêu bản nên các cơ quan chức năng phải thu giữ toàn bộ cho vào bao tải niêm yết và cho kiểm đếm sau. Khối lượng tiêu bản gồm rùa và các bộ phận của rùa đựng đầy 30 bao tải với tổng trọng lượng 773kg.
Trước đó, năm 2013, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện và thu giữ 117 con rùa biển với tổng trọng lượng gần 2 tấn đang trên đường đi tiêu thụ. Chủ của số hàng này là ông Nguyễn Văn Thọ, ngụ tại thôn An Hải, xã Bình Châu, Quảng Ngãi.
Sở dĩ loài rùa biển được săn bắt lén lút nhiều như vậy là do giá trị lớn của nó. Ngoài các giá trị về thực phẩm, mai và da của lọai rùa biển thu mua để chế tác thành các đồ trang trí thẩm mỹ với giá gần mười triệu đồng/cái. Thậm chí, rùa nhồi dưới móng nhà sẽ mang lại nhiều may mắn, đeo các sản phẩm làm từ rùa giúp chữa bệnh huyết áp thấp. Từ đó, rùa biển ngày càng được đẩy giá lên cao. Mỗi con rùa biển tùy theo trọng lượng mà có giá từ vài triệu đến hàng chục triệu/con. Mỗi cái mai rùa lớn sau khi chế tác có giá khoảng 10 triệu.
Việc khai thác, mua bán và sử dụng các sản phẩm từ rùa biển đang đẩy loài động vật này đến nguy cơ tuyệt chủng. Vì những cái lợi trước mắt, bên cạnh đó là lòng tin mù quáng của người tiêu dùng vào các sản phẩm rùa biển mà loài vật quý hiếm này đang bị truy tìm và giết hại mỗi ngày.
Vụ phát hiện số lượng tiêu bản rùa biển nhiều nhất cả nước từ trước đến nay tại Khánh Hòa đã đặt câu hỏi về công tác bảo vệ loại động vật quý hiếm này từ trước đến nay. Trong các tiêu bản được phát hiện trong vụ việc này, có nhiều tiêu bản còn tươi mới, thậm chí có tiêu bản vẫn còn có con chíp do các nhà khoa học gắn để theo dõi...
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần có hành động cụ thể, thiết thực và kịp thời để bảo vệ loài động vật này trước khi chúng bị sụt giảm số lượng và dẫn đến tuyệt chủng. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền cho ngư dân và người dân biết về loài vật này, bởi việc sử dụng mỗi sản phẩm từ rùa biển cũng là nguyên nhân đẩy loài vật này đến bờ diệt vong. (Bảo Vệ Pháp Luật 5/12, tr14) đầu trang(
Khu bảo tồn đa dạng sinh học Na Hang có diện tích trên 22.000ha trải dài ở 4 xã: Côn Lôn, Kháu Tinh, Sơn Phú và Thanh Tương.
Với hệ thống hang động nhiều, độ cao trung bình của các dãy núi từ 300 - 800m, với đỉnh cao nhất Khau Tép đạt 1.067m. Gần đây Khu bảo tồn đã phát hiện lại nhiều loài động thực vật đã từng đưa vào danh sách tuyệt chủng.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của các nhà khoa học, Khu bảo tồn Na Hang còn khoảng 68% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con người. Khoảng 70% trong đó là rừng trên núi đá vôi.
Cho đến nay các nhà khoa học đã xác định được trên 2.000 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam như: Trai, Nghiến, Lát Hoa, Đinh, Thông tre, Hoàng đàn, Trầm gió, Thông Pà cò... đặc biệt nơi đây vẫn còn giữ được những cây Nghiến hàng nghìn năm tuổi với đường kính rộng từ 4 - 5m.
Tuy chưa điều tra đầy đủ, nhưng bước đầu đã ghi nhận được ở đây có 90 loài thú, 263 loài chim, 61 loài bò sát và 35 loài ếch nhái. Kết quả đó cho thấy Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang có tính đa dạng sinh học cao. 13 loài thú đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là sự tồn tại của các loài linh trưởng đang bị đe dọa trên toàn cầu, đây còn là nơi duy nhất ở Việt Nam có loài vọoc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn.
Loài Vọoc mũi hếch ở đây có 2 quần thể sống tách biệt ở hai khu Tát Kẻ và Bản Bung. Căn cứ vào các số liệu thu thập được từ trước đến nay, có thể dự đoán số lượng tại khu Tát Kẻ có từ 120-150 cá thể; ở khu Bản Bung cỏ khoảng 50- 60 cá thể. Không chỉ là nơi sinh sống của loài vọoc mũi hếch, tại đây còn có 8 loài Khỉ hầu bị đe doạ tuyệt chủng mang tính toàn cầu. Quỹ bảo tồn thế giới của Mỹ (WWF-US) đã xác định đây là vùng nằm trong 223 hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới (Olson & Dinnerstein, 1998) cần được bảo vệ.
Ông Vũ Đình Tải, Phó Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang cho biết: Hiện Tuyên Quang còn khoảng 250 cá thể vọoc mũi hếch, được chia thành 2 đàn: Khu-bảo tồn thiên nhiên Pắc Tạ - Bản Bung, huyện Nà Hang có khoảng 200 con và khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu (thuộc huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa) có khoảng 50 con. Sự đa dạng của hệ sinh thái, đặc biệt là sự tồn tại của nhiều loài động thực vật quý hiếm cũng đặt ra vấn đề cần tăng cường thắt chặt việc bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học.
Từ năm 2000 đến nay các lực lượng chức năng gồm: Kiểm lâm, công an, quân đội đã phát hiện, xử lý hàng trăm trường hợp vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Thời gian qua, nhờ nỗ lực bảo vệ, tìm kiếm thêm nhiều loài động thực vật mới, Kiểm lâm Tuyên Quang đã phát hiện lại nhiều loài động thực vật quý hiếm đã từng có trong danh sách tuyệt chủng ở Việt Nam như: Cây Móng ngựa Vân Nam, Culi nhỏ, chim Vạc Hoa đã mất dấu tích cách đây vài chục năm, giờ đã thấy một vài cá thể xuất hiện trong khu bảo tồn Na Hang.
Ông Lê Ngọc Vân, cán bộ phòng Bảo tồn thiên nhiên - Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang tâm sự: Để đánh giá tổng thể về đa dạng sinh học ở Na Hang và cả tỉnh Tuyên Quang cần có thêm nhiều kinh phí để khảo sát, điều tra tổng thể, tiến tới mở rộng các đề tài nghiên cứu về đa dạng sinh học, bảo tồn, phát triển rừng để giữ lại “mái nhà chung” cho động, thực vật sinh sống bền lâu. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/12, tr11) đầu trang(
3-12, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước vừa có văn bản kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng không cấp giấy đăng ký kinh doanh đối với các cơ sở xin cấp giấy phép ở địa điểm gần với rừng tự nhiên để hạn chế ảnh hưởng đến phá rừng.
Ông Nguyễn Văn Tới - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước cho biết, hiện nguồn nguyên liệu chủ yếu là cây dài ngày trồng ở vườn nhà, gỗ đấu giá qua xử lý tịch thu nên nhiều cơ sở chế biến gỗ đã ngừng hoạt động dẫn đến số lượng và quy mô sản xuất của các cơ sở chế biến gỗ giảm mạnh.
Từ năm 2007 đến 2011, tỉnh Bình Phước đã cấp phép cho 712 cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ. Tuy nhiên hiện chỉ còn 271 cơ sở, trong đó doanh nghiệp 52 cơ sở, hộ kinh doanh cá thể 219 cơ sở. (Công An Nhân Dân 4/12) đầu trang(
"Hội thảo tập huấn về các phương pháp nghiên cứu và bảo tồn dơi VN” do Viện sinh học nhiệt đới - Viện hàn lâm Khoa học VN phối hợp với Đại học Kỹ thuật Texas (Mỹ) và Hội Nghiên cứu dơi Đông Nam Á tổ chức từ ngày 3 đến 8-12 tại TP.HCM.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh dơi là nhóm loài rất hữu ích cho nông nghiệp. Dơi giúp kiểm soát côn trùng gây hại và thụ phấn cho rất nhiều loài cây ăn quả nhiệt đới có giá trị. Theo nghiên cứu, dơi là nhóm thụ phấn chính cho cây sầu riêng, năng suất sầu riêng phụ thuộc vào sự hiện diện và thụ phấn của dơi.
Ngoài ra, dơi còn là nét đặc trưng riêng gắn với nhiều địa danh nổi tiếng như Vồ Dơi (Cà Mau), chùa Dơi (Sóc Trăng). Dơi hứa hẹn là đối tượng tiềm năng trong phát triển du lịch sinh thái ở nhiều địa phương.
Tuy nhiên, dơi thường bị hiểu lầm là loài gây hại. Ngoài ra, nhiều nơi xem việc tiêu thụ dơi như một món đặc sản, trong khi nó là đối tượng không được khuyến cáo tiêu thụ như thực phẩm vì có thể mang một số mầm bệnh. (Tuổi Trẻ 4/12) đầu trang(
Gần một tháng qua, tại cửa ngõ phía Tây và Tây Nam của TP. HCM đoạn đi qua các tuyến đường Trường Chinh, quốc lộ 22 (huyện Hóc Môn, Bình Tân) cũng như phía tỉnh lộ 10 (Bình Chánh) luôn có hàng chục điểm bày bán chim trời bằng cách treo ngược chúng lên những chiếc móc, buộc túm hàng chục con lại làm một.
Được biết, đây là những loài chim nước, chim le le, cò, chim sẻ… được bắt ở những cánh đồng ngoại ô thành phố hay khu vực Long An, Tây Ninh.
Theo tìm hiểu, những loại chim này được bán với giá khoảng từ 15-20.000đồng/con tùy theo từng loại. Cá biệt, nếu là một số loại chim quý hiếm như bìm bịp, điêng điển, giang xen… thì giá cao hơn, có thể lên đến vài trăm ngàn đồng/con. Không chỉ bày bán hàng trăm con chim như vậy, theo quan sát, nếu có khách hàng mua thì người bán sẵn sàng dùng chiếc bếp gas mini để đun nước và làm thịt, vặt lông ngay tại chỗ phục vụ khách hàng, giữa những con phố đông đúc người qua lại.
Một người bán hàng cho biết, hiện nay đang là mùa nước về nên ở khu vực miền Tây hoặc vùng lân cận TP. HCM có rất nhiều loài chim trời tìm về. Vì vậy, việc săn bắt diễn ra rất nhộn nhịp và ở khu vực Thạnh Hóa (Long An), thậm chí còn có cả một chợ chim trời đủ các loại được bày bán công khai.
Tuy nhiên, đa phần những loài chim được bắt ở khu vực miền Tây đều được vận chuyển về TP. HCM để bày bán trong các nhà hàng, quán nhậu phục vụ thực khách hoặc bán lẻ trực tiếp ở lề đường, bởi nhu cầu của thị trường ở đây là rất lớn.
Theo một cán bộ của Chi cục kiểm lâm TP. HCM, việc săn bắt chim trời, đặc biệt là một số loại chim quý hiếm thực tế là một hành động vi phạm pháp luật, có thể phải nhận án tù, nhưng thực tế hành vi này diễn ra tràn lan ở nhiều địa phương nên đã xảy ra tình trạng mất kiểm soát.
Hơn nữa, hầu hết những người săn bắt chim trời ở những khu vực ngoài địa bàn thành phố nên rất khó quản lý, còn những người bày bán những loài chim này thường hoạt động một cách lén lút, lại hay di chuyển gây khó khăn cho những hoạt động kiểm tra của cơ quan chức năng. (Đại Đoàn Kết 5/12, tr11) đầu trang(
Chiều 4-12, Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội) đã có buổi đào tạo và hội chẩn về điều trị bệnh nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn.
Tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn, Giám đốc Trung tâm Chống độc, khuyến cáo người dân không cố gắng bắt hoặc giết rắn vì đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người và gây ngộ độc.
Trung tâm Chống độc cho biết trong các tháng gần đây liên tục tiếp nhận các ca nhập viện do rắn độc cắn, trong đó có các trường hợp do rắn lục đuôi đỏ cắn chiếm khoảng 20% - 30%. Đáng lo ngại, một số trường hợp bị rối loạn đông máu nặng do tự đắp lá điều trị mà không đến bệnh viện sớm. (Người Lao Động 5/12) đầu trang(
Bà Vương Thị Thân ở xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, được người nhà đưa vào Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi cấp cứu tối 3/12 trong tình trạng toàn thân tím tái, hôn mê bất tỉnh phải hỗ trợ hô hấp thở bình ôxy. Cánh tay bị rắn cắn của người phụ nữ sưng phù.
Theo các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi, nhiều khả năng nọc độc phát tán nhanh khắp cơ thể bà Thân. Lý do là người phụ nữ đã vận động mạnh để tìm diệt con rắn sau khi bị nó cắn, gây rối loạn hệ thống tuần hoàn, tắc nghẽn mạch máu dẫn đến hôn mê bất tỉnh.
Chiều 4/12, bà Thân đã qua cơn nguy kịch dần hồi phục, ổn định sức khỏe. Bà cho biết đã bị con rắn lục đuôi đỏ to bằng ngón chân cái, dài gần bằng sải tay bất ngờ mổ vào mu bàn tay trái trong lúc cắt cỏ cho bò ở vườn.
"Sau khi bị rắn cắn, tôi lấy mảnh vải băng vết thương rồi cùng con trai ra vườn chạy tìm giết con vật. Đến tối thì đôi mắt của tôi bỗng dưng mờ dần, đầu óc choáng váng, bất tỉnh không biết gì nữa", bà Thân nhớ lại.
Tình trạng của bà Thân nặng sau khi bị rắn cắn được các chuyên gia cho là do bà vận động và không cố định vết thương khiến nọc độc nhanh phát tác. Bà lại không đến bệnh viện để được cứu chữa kịp thời.
Bác sĩ Phan Minh Đan, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Tư Nghĩa khuyên, khi bị rắn lục đuôi đỏ cắn, người bị nạn tuyệt đối không hốt hoảng và đi lại nhiều mà phải cố định, bất động chi hay vị trí bị rắn cắn. Có thể nẹp vết thương bằng miếng gỗ, que, bìa cứng... nhưng không nên buộc garo, chích lể...
Sau đó người bị rắn cắn khẩn trương đến cơ sở y tế có đủ điều kiện cấp cứu. Nguy hiểm nhất là khi quá trình lưu thông máu bị gián đoạn gây xuất huyết, đặc biệt thiếu máu não cục bộ ( xuất huyết não), nếu không cấp cứu kịp thời thì người bị rắn cắn dễ tử vong.
Rắn lục đuôi đỏ hiện nay xuất hiện nhiều ở các tỉnh miền Trung như Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thanh Hóa, Bình Định... Ông Hồ Việt Mỹ, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Bình Định cho biết, hai tháng qua đã tiếp nhận cấp cứu 45 người bị rắn lục đuôi đỏ cắn, trong đó nhiều nhất là ở TP Quy Nhơn.
"Những ngày gần đây số nạn nhân bị rắn lục đuôi đỏ tăng đột biến, có ngày vào viện đến 6 người. Một số người do chuyển đến cấp cứu muộn bắt đầu có triệu chứng rối loạn tuần hoàn, đông máu nhưng rất may chưa có trường hợp nào tử vong", ông Mỹ nói.
Thống kê của các tỉnh miền Trung từ Phú Yên trải dài đến Nghệ An, hai tháng qua có ít nhất có hơn 400 người nhập viện cấp cứu do rắn lục đuôi đỏ cắn. (VnExpress 4/12) đầu trang(
Trong khi chưa có kết luận chính thức nào từ ngành chức năng lý giải hiện tượng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện tràn lan, gây lo lắng cho người dân thì có nhiều ý kiến nhận định rằng, rất nhiều khả năng do không gian sống nơi rừng rú bị thu hẹp nên rắn độc di chuyển về đồng bằng.
Theo ngành kiểm lâm tỉnh, tình trạng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện tại các huyện Nông Sơn, Tiên Phước, Quế Sơn, Điện Bàn, Thăng Bình cắn người phải vào viện cấp cứu thời gian qua là dấu hiệu bất thường, cần có “sổ tay” trong phòng, tránh. UBND tỉnh đã giao cho các bộ phận chuyên môn của ngành đi tìm nguyên nhân của “hiện tượng lạ” này.
Các chuyên gia sinh học cho rằng, môi trường sống ngày càng bị thu hẹp nên rắn lục mới dịch chuyển khắp nơi. Diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, người dân trong quá trình sản xuất đã phá rừng, bụi rậm khiến không gian sinh tồn của rắn bị thu hẹp, phá vỡ nên mật độ cá thể động vật này tăng.
Ông Nguyễn Vũ Khôi - Giám đốc Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã (WAR) khẳng định, hiện tượng bùng phát rắn lục đuôi đỏ ở một số tỉnh miền Trung (trong đó có Quảng Nam) là do năm nay thời tiết ấm nóng kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho rắn sinh sôi nảy nở, khi thời tiết lạnh, chúng sẽ rúc vào nơi sâu.
Còn Viện Sinh thái học miền Nam lý giải nguyên nhân là môi trường sống ô nhiễm, hay có sự thay đổi địa chất bên trong lòng đất. Diễn biến khí hậu bất thường, thời tiết đang ấm dần lên tạo điều kiện để rắn lục sinh sản nhanh. Cùng quan điểm, các giảng viên của Khoa Sinh (Trường Đại học Khoa học Huế) nhận định yếu tố nóng lên của thời tiết khiến rắn lục hoành hành trong khu dân cư.
Nhiều người dân còn cho biết, trước đây rắn lục chỉ quấn trong bụi rậm, chui vào bóng tối thì nay vào nhà ở, bếp ăn.  Bà Trần Thị Hiên (khối 6, phường An Xuân, TP. Tam Kỳ) nói, gần tháng nay gia đình bà đã đập 7 con rắn lục chui vào đống củi, bếp núc trong nhà. Hầu hết rắn chỉ hoạt động vào ban đêm và không chủ động tấn công người. (Báo Quảng Nam 5/12) đầu trang(
2 giờ sáng 2-12, tại cây xăng Vi Vân thuộc ấp Đức Long 3, Gia Tân 2, Thống Nhất, Đồng Nai, do không làm chủ tay lái nên tài xế để ôtô BS: 49X-073.74 bị lật giữa đường.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện 22 khúc gỗ (khoảng 1m3) do Lâm Văn Thanh (37 tuổi) làm chủ, vận chuyển từ Lâm Đồng về TPHCM để đóng bàn ghế hoàn toàn không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. (Công An TPHCM 4/12) đầu trang(
Nằm trên quốc lộ 32, vị trí đặt Trạm là cửa ngõ từ Văn Chấn (tỉnh Yên Bái), Phù Yên (tỉnh Sơn La) về Phú Thọ và các tỉnh đồng bằng, Trạm Kiểm lâm Cầu Gỗ thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát, ngăn chặn tình trạng vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép.
Suốt một thời gian dài, những cán bộ, chiến sỹ “lâm binh” Cầu Gỗ đã mưu trí, dũng cảm trước mọi cám dỗ vật chất, đe dọa về tính mạng và tinh thần của các đối tượng buôn bán, vận chuyển lâm sản hết sức gian ngoan, xảo quyệt và manh động. Những viên đạn “bọc đường”, con dao sắc lẹm và cả chiếc xi lanh đầy máu nhiễm HIV/AIDS của lâm tặc đã không khuất phục được những cán bộ kiểm lâm, để rừng Văn Chấn thêm xanh, môi trường được an lành.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn Vũ Đình Trường cho biết: “Thành tích trong công tác bảo vệ rừng của anh em cán bộ ở Trạm rất đáng ghi nhận! Hôm nay, câu chuyện mới, thành tích mới của anh em Cầu Gỗ đã khác hẳn!”. Rồi anh cho biết thêm “Nhân dân các dân tộc thuộc địa bàn Trạm phụ trách đang dẫn đầu phong trào trồng rừng ở huyện này”.
Trung tuần tháng 11, trời không còn nắng nóng, thi thoảng lại có một cơn mưa nhẹ hạt, với những người làm công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng, thời tiết này rất thuận vì nguy cơ cháy rừng giảm, việc trồng và chăm sóc sẽ tốt lên.
Trạm trưởng Nguyễn Đình Thịnh cho biết: “Đang trong giai đoạn cao điểm của mùa trồng quế nên anh em người đi Cát Thịnh, người đi Thượng Bằng La, Nghĩa Tâm, Minh An để đánh giá tiến độ trồng, kiểm tra việc làm đất, đào hố, bỏ phân rồi xuống cây giống xem có đúng kỹ thuật không? Qua đó, kịp thời nhắc nhở, ngăn chặn tình trạng xâm lấn vào rừng tự nhiên, phòng hộ là quan trọng lắm!”.
Nghe Trạm trưởng nói mới thấy người cán bộ kiểm lâm địa bàn giờ vất vả hơn trước rất nhiều. Bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng rồi vận động bà con nhận đất trồng rừng, theo chương trình, kế hoạch, đúng kỹ thuật… tất cả đều do lực lượng kiểm lâm địa bàn làm nòng cốt. Nghề kiểm lâm phải biết leo rừng, leo núi, đấu tranh chống lâm tặc, chiến đấu chống giặc lửa và hơn hết là phải cùng ăn, cùng ở, nắm được kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng để tuyên truyền, hướng dẫn bà con.
Nhiệm vụ nhiều và khó khăn cũng không ít, càng vất vả hơn khi chỉ có mấy cán bộ nhưng tham gia quản lý hơn 32.000ha rừng, trong đó, 6.500ha rừng phòng hộ, hơn 8.300ha rừng tự nhiên sản xuất, gần 5.000ha rừng trồng sản xuất của nhân dân. Dựa vào chính quyền, dựa vào nhân dân để bảo vệ màu xanh cho quê hương chính là giải pháp để những cán bộ kiểm lâm nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Như một lẽ tự nhiên, ở đâu, khi nào bà con biết trồng rừng, sống được nhờ rừng và giàu lên nhờ trồng rừng, khi đó nạn phá rừng, tình trạng cháy rừng cũng dần giảm xuống! Nghĩa Tâm, Cát Thịnh, Minh An… cũng không nằm ngoài “quy luật” đó. Cán bộ kiểm lâm muốn bớt vất cả, chỉ có cách vận động bà con trồng rừng, giúp họ sản xuất rừng hiệu quả! Thế là, những buổi làm việc giữa cấp ủy, chính quyền địa phương với Hạt Kiểm lâm huyện đã diễn ra, bàn giải pháp phát triển kinh tế lâm nghiệp; nội dung trồng và bảo vệ rừng cũng đã được đưa vào những buổi họp thôn, họp bản; đặc biệt là từng cán bộ kiểm lâm phải xuống dân nghe dân nói, hiểu tâm tư, nguyện vọng của họ để vận động trồng rừng.
Cốt lõi nhất là trồng giống năng suất, chất lượng cao, trồng đúng kỹ thuật và chăm sóc, bảo vệ tốt. Những hàng quế cắm xuống; những cây keo, mỡ, bồ đề xanh tốt trên nhưng nương đồi trọc lốc, mang lại hiệu quả kinh tế cao như những “liều thuốc” kích thích phong trào trồng rừng. Nhiều hộ dân trong vùng đã trở thành điển hình tiên tiến trong phong trào trồng rừng như bà Việt, ông Dũng, ông Tới ở xã Cát Thịnh hay ông Triệu Đức Minh ở xã Minh An…
Nói như Phó chủ tịch UBND xã Minh An Nguyễn Đăng Hiển: “Bà con người Dao ở đây mê cây quế rồi, 3 năm đã cho thu lá, 10 đến 15 năm là bán vỏ, bán thân; vừa có cái thu trước mắt, vừa có cái lợi lâu dài. Không lâu nữa, rừng quế Minh An sẽ sánh ngang với rừng quế của anh em người Dao bên Viễn Sơn, Đại Sơn, huyện Văn Yên”.
Được biết, năm 2014, 5 xã, thị trấn thuộc địa bàn quản lý của Trạm được giao nhiệm vụ trồng 1.485ha rừng, trong đó, 166,7ha rừng trồng tập trung (được Nhà nước cấp giống), số diện tích còn lại là cây phân tán, cây lâm nghiệp xã hội do nhân dân tự trồng.
Đến thời điểm này, nhân dân các xã, thị trấn đã trồng vượt mức chỉ tiêu kế hoạch giao như Minh An 140ha, Nghĩa Tâm 174ha, Trần Phú 40ha… bà con vẫn tiếp tục trồng và diện tích đăng ký với các cấp chính quyền là rất lớn. Khi người dân các xã đã “mê” trồng rừng nên việc thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch trên giao không có gì đáng ngại, diện tích rừng trồng, chất lượng tốt tăng với tốc độ rất nhanh.
Một vấn đề khác đang phát sinh trong công tác phát triển rừng ở Văn Chấn cần được xem xét giải quyết đó là một số doanh nghiệp được tỉnh cho giao đất trồng rừng với diện tích lớn nhưng không triển khai trồng hoặc trồng rất kém hiệu quả, ảnh hưởng đến kết quả cũng như phong trào trồng rừng nói chung. Vấn đề này cần được xem xét lại, nếu doanh nghiệp không đủ năng lực, cần tiến hành thu hồi đất, giao cho dân hoặc tổ chức khác trồng và phát triển kinh tế!
Chè, cam, quế, mỡ, keo, bồ đề... đang đua chen để tô thắm một vùng quê rộng lớn. Người Tày, người Dao, người Kinh trồng nhiều rừng và có cuộc sống khá từ rừng trồng, đó là niềm vui, là thành tích mới của cán bộ Trạm Kiểm lâm Cầu Gỗ. (Báo Yên Bái 4/12) đầu trang(
3-12, tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu Sinh học và Công nghệ Sinh học Hàn Quốc, Vườn Thực vật quốc gia Hàn Quốc tổ chức công bố cuốn sách “Đa dạng thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa, Việt Nam”.
Cuốn sách là sản phẩm của sự hợp tác nghiên cứu giữa các bên nêu trên từ năm 2011-2014. Cuốn sách này có hơn 750 trang in màu được viết bằng hai ngôn ngữ Việt, Anh nhằm giới thiệu, mô tả trên 700 loài thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, đồng thời cung cấp thông tin khoa học cho việc phát triển bền vững tài nguyên thực vật tại khu bảo tồn này.
Trong số các loài thực vật được giới thiệu, có 21 loài thực vật quý hiếm chỉ tìm thấy duy nhất ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, 209 loài đem lại công dụng làm thuốc hữu hiệu. Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được 3 loài thực vật mới là sổ nước, nhược hùng nhẵn, giả mao tử. Tổng kinh phí để thực hiện cuốn sách này là 250.000 USD do phía Hàn Quốc tài trợ.
Các loài thực vật được đề cập trong cuốn sách đều có mẫu tiêu bản và đang được bảo quản tại các viện nghiên cứu, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà. (Báo Gia Lai 4/12; Sài Gòn Giải Phóng 5/12) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND huyện An Lão, trong tháng 11 các lực lượng chức năng trên địa bàn huyện đã tổ chức 05 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu rừng trọng điểm và các trục giao thông “nóng” về nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép, đã phát hiện bắt giữ 02 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tạm giữ 0,53m3 gỗ các loại và 02 xe mô tô lâm tặc dùng làm phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép.
Tình trạng khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn huyện An Lão đang diễn biến phức tạp. Đáng lưu ý là một số phần tử ở địa phương đã cấu kết với người ngoài lén lút khai thác gỗ rừng tự nhiên đang được quản lý bảo vệ; Một số hộ dân ở xã An Hòa và An Tân đã tự ý chặt phá cây điều trong rừng trồng phòng hộ tại tiểu khu 22 và 34 để trồng cây keo nguyên liệu giấy.
Để khắc phục tình trạng trên, UBND huyện An Lão đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn, Ban Quản lý rừng phòng hộ An Lão phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, thị trấn tăng cường hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng; Thường xuyên tổ chức kiểm tra, truy quét tại các vùng rừng trọng điểm, nhất là khu vực rừng giáp ranh với huyện Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, KBang… ngăn chặn có hiệu quả tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở địa phương. (Binhdinh.gov.vn 3/12) đầu trang(
Chơi lan rừng từ lâu đã trở thành thú vui tao nhã của một bộ phận người dân Phố núi Pleiku cũng như người dân ở nhiều tỉnh thành khác trong cả nước.
Thế nhưng, đằng sau những nhành lan đủ sắc màu, ngào ngạt hương thơm khiến người người say đắm là những phận đời, những hiểm nguy, mồ hôi nước mắt và cả tiếng kêu cứu từ những cánh rừng của đại ngàn Tây Nguyên.
Như lệ thường, khi mặt trời ló lên khỏi đỉnh núi, “chợ” lan rừng trên đường Hai Bà Trưng (TP. Pleiku) đã nhộn nhịp tiếng nói, tiếng cười của những người phụ nữ Jrai, Bahnar… đến từ một số buôn làng của tỉnh Kon Tum và Gia Lai để mưu sinh cùng những nhánh lan rừng. Sau khi tìm cho mình một vị trí phù hợp và quen thuộc, họ tất bật lôi trong chiếc gùi nặng trĩu trên lưng những nhành lan còn thấm đẫm những giọt sương đêm bày biện trên nền đất đợi khách đến mua.
8 giờ sáng, chợ bắt đầu đông khách. Những người đàn ông, phụ nữ, người già… ai cũng háo hức lựa chọn cho mình một nhánh lan ưng ý. Lan rừng được bày bán ở “chợ” có rất nhiều loại như: Bạch Hoàng Mai, Thủy Tiên tím, Xương Cá, Mỹ Nhung, Đuôi Cáo… Thậm chí nhiều loại lan quý như Nghinh Xuân, Giã Hạc, Trầm mà theo nhận định của những người sành chơi lan là sắp tuyệt chủng cũng có mặt, nhưng với số lượng không nhiều.
Lan ở đây bán theo kg hay theo cành với nhiều loại giá cả khác nhau. Ví dụ, Nghinh Xuân có giá 700-800.000 đồng/kg, Giã Hạc khoảng 300.000 đồng/kg, Trầm là 300-400.000 đồng/cành, Bạch Hoàng Mai, Đuôi Cáo, Mỹ Nhung có giá 30-60.000 đồng/cành. Người đến “chợ” mua phong lan cũng rất phong phú, có người đã chơi lan từ rất lâu, có người chỉ mới bắt đầu chơi, có cả những người đến từ nơi khác cũng đến đây để mua lan.
Hành trình để những cành lan rừng này đến được “chợ” là cả một chặng đường dài và vất vả của những người hái và bán lan. Chị Y Nương đến từ xã Chư Hreng, TP.  Kon Tum (tỉnh Kon Tum), một người chuyên bán lan rừng ở đây chia sẻ: “Nghề chính của mình là làm mì, những ngày rảnh rỗi mình tranh thủ thời gian nông nhàn để xuống đây bán lan rừng kiếm thêm thu nhập lo cho gia đình.
Lan này là của người dân trong làng đi lấy, mình chỉ mua lại rồi mang xuống đây bán kiếm lời thôi chứ mình không trực tiếp đi lấy. Rời khỏi nhà từ sáng sớm, đến tối mịt mình mới về nhà. Ngày nào may mắn bán hết thì kiếm được dăm bảy chục đồng đến một trăm ngàn đồng để đong gạo, ngày không may thì kiếm một hai chục ngàn đồng, thậm chí có ngày chẳng có đồng nào”.
Ngoài những người mua lan bán lại kiếm lời như chị Y Nương, ở đây có nhiều người bán những cành lan do mình và gia đình tự hái và mang đi bán. Chị Rơ Mah Dat ở xã Ia Nan (huyện Đức Cơ) cho biết, vợ chồng chị có 4 đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, nhưng chỉ có 3 sào đất trồng cà phê.
Thu nhập không đủ sống nên vợ chồng chị phải tranh thủ kiếm thêm bằng nghề hái lan rừng. Cứ vài ngày, vợ chồng chị lại cơm đùm cơm nắm vào rừng hái lan, một chuyến đi thường mất từ 3 đến 4 ngày. Trước đây, khi lan rừng còn nhiều, ít người hái mỗi chuyến đi vợ chồng chị hái được vài bao tải lan, bán được cả triệu đồng. Nhưng nay thì khác, chuyến nào may lắm vợ chồng chị chỉ hái được 1-2 bao.
Để kiếm thêm thu nhập, sau khi phân loại, bó cành, chị tự bắt xe về TP. Pleiku để bán. Nếu bán hết, chị chỉ thu về 300-400.000 đồng. Đó là công lao của cả hai vợ chồng chị cho mỗi chuyến đi rừng từ 3 đến 4 ngày với nhiều vất vả và hiểm nguy.
Ở TP. Pleiku, ngoài điểm bán lan rừng ở đường Hai Bà Trưng, còn có những địa điểm khác cũng nhộn nhịp không kém như đường Trần Hưng Đạo, đường Tôn Đức Thắng, Lê Đại Hành…
Tham gia vào “đội quân” này phần đông là đồng bào dân tộc thiểu số và một ít là người Kinh nhưng với vai trò là đầu mối thu gom. Bà Phương-một đầu mối thu gom lan rừng ở đường Trần Hưng Đạo cho biết: “Tôi bán lan ở đây đã nhiều năm rồi, không như những cửa hàng khác bán đủ loại từ lan ngoại đến lan rừng, ở đây tôi chỉ chuyên bán lan rừng.
Mỗi buổi sáng, những người đi hái lan ở các huyện Đức Cơ, Chư Prông (tỉnh Gia Lai) và các huyện Đăk Glei, huyện Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) tập trung về đây bán cho tôi, vì họ không có thời gian và kiên nhẫn để ngồi bán lẻ. Khách của tôi toàn những người sành chơi, họ thường đặt hàng các loại lan quý như Trầm, Nghinh Xuân... bởi ai cũng hiểu trong tương lai không xa những loại lan này sẽ không còn nữa. Nhu cầu nhiều như vậy, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thu gom được những loại lan quý này. Ngày nào may lắm tôi mới mua được vài ký”.
Theo tìm hiểu, trong tất cả các cánh rừng ở Gia Lai và Kon Tum đều có sự hiện diện của các loài lan. Trước đây, những người đi rừng vô tình bắt gặp những cành lan đẹp nên hái đem về chơi. Dần dần nhiều người bắt đầu biết đến và “ghiền” thú chơi lan rừng. Có cầu thì có cung, từ đây “nghề” hái lan rừng đã ra đời. Tuy nhiên, để có được những cành lan rừng cũng là một quá trình vất vả đầy mồ hôi và cả máu của người đi hái lan.
Thông thường, một chuyến lên rừng hái lan thường có khoảng 7 đến 10 người cùng đi. Khi đi họ mang theo cơm nắm, muối ớt, củ mì, khoai, gạo và những vật dụng như dao, liềm… Một lần đi rừng khoảng 3-5 ngày, có khi đi đến 7 ngày. Trong suốt thời gian này, ban ngày thì họ tìm kiếm hái lan, đêm thì ngủ lại ngay trong rừng, đốt lửa để sưởi ấm và nấu ăn ngay tại rừng. Sáng sớm, họ lại tiếp tục lên đường vượt rừng núi để tìm lan.
Lan rừng thường mọc trên những cây gỗ mục và mọc trên cao, để hái được nó người đi rừng phải trèo thật cẩn thận, nếu không cây mục rất dễ gãy và sẽ gây ra tai nạn cho người hái.
Anh Ksor Túi-một người hái lan ở phường Thắng Lợi, TP. Kon Tum (tỉnh Kon Tum) kể: “Cách đây khoảng 2 năm, trong một lần đi rừng, do mải với hái cành lan ở trên cao, chân mình đạp vào cành cây mục và bị ngã xuống đất từ độ cao gần 10 mét. Cũng may, mình ngã vào đám lá khô nên chỉ bị gãy tay và trầy xước khắp người. Sau lần đó, mình dự định sẽ bỏ nghề. Thế nhưng, cái bụng lũ con mình thì không thể đói, thế là mình lại tiếp tục vào rừng hái lan”.
Hiểm nguy là vậy, thế nhưng số tiền họ kiếm được chẳng đáng là bao. Trước đây khi thú chơi lan rừng chưa phổ biến, người hái lan rừng còn ít thì lan rất dễ kiếm. Chỉ cần đi vào rừng một đoạn là người ta đã tìm thấy lan. Nhưng sau nhiều năm, khi lượng người chơi lan rừng ngày càng tăng, loài hoa này bị người hái săn lùng ráo riết theo kiểu tận thu, tận diệt.
Do đó, người hái lan phải đi vào rừng sâu hơn, xa hơn mới có thể tìm thấy lan rừng, cùng theo đó thời gian mỗi lần đi hái lan lại dài hơn, vất vả hơn. Và khi bắt gặp được bất kỳ nhánh lan nào họ cũng hái bằng được, kể cả đánh cược tính mạng và chặt bỏ cây rừng để lấy nhánh lan từ trên cao. Cùng với đó, vô tình họ đã góp phần tàn phá và làm giảm đi diện tích rừng đang ngày càng bị thu hẹp ở khu vực Tây Nguyên.
Không thể phủ nhận rằng lan là nguồn thu nhập của một bộ phận người dân, giúp họ cải thiện cuộc sống. Mặt khác chơi lan còn là thú vui khiến người ta quên đi sự mệt mỏi sau một ngày làm việc.
Thế nhưng, nếu người dân cứ khai thác theo kiểu tận diệt như hiện nay, thì chắc chắn trong một tương lai không xa, loại cây vốn được mệnh danh là “đệ nhất hoa” sẽ dần biến mất và những tán rừng cũng dần bị thu hẹp một cách vô tình hay hữu ý bởi sự thiếu ý thức của người hái lan. (Báo Gia Lai 5/12) đầu trang(
Quang Yên là xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc của huyện Sông Lô có diện tích tự nhiên 1.790 ha, trong đó, diện tích đất lâm nghiệp có 675,2 ha; với 1.860 hộ, trên 7.650 nhân khẩu. Diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn xã có 176,7 ha, diện tích rừng do lâm trường quản lý là 226,8 ha, còn lại là rừng trồng với diện tích 240,8 ha.
Những năm qua, nhận thức rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của rừng đối với đời sống của người dân, cấp ủy, chính quyền xã thường xuyên đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng; đồng thời, thực hiện tốt việc phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Để làm tốt công tác PCCCR-BVR, hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Chỉ huy PCCCR-BVR huyện Sông Lô và Hạt kiểm lâm huyện Sông Lô, Ban Chỉ huy PCCCR-BVR của xã chủ động xây dựng và triển khai phương án PCCCR-BVR trên địa bàn, thành lập các tổ, đội xung kích chữa cháy rừng.
Tổ chức hội nghị triển khai bàn các biện pháp PCCCR-BVR tới toàn thể cán bộ, chủ rừng và nhân dân địa phương. Thường xuyên tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Phát trên loa truyền thanh của xã, thôn, xóm những quy định quản lý, PCCCR-BVR, kẻ khẩu hiệu, biển báo về PCCCR ở các cửa rừng để nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng của người dân trong xã, đặc biệt là các chủ rừng và các hộ sống ở ven rừng.
Ban Chỉ huy PCCCR-BVR của xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức tuyên truyền, ký cam kết PCCCR-BVR đối với các chủ rừng. Khi bắt đầu mùa khô (từ tháng 10 hàng năm), xã tiến hành kiểm tra khối lượng vật liệu cháy của từng lô rừng để xác định những lô rừng có nhiều vật liệu cháy, dễ cháy từ đó, hướng dẫn cho các chủ rừng cách quản lý, phòng ngừa cháy, hướng dẫn chủ rừng phát quang, dọn thực bì, đặc biệt là các lô rừng non nhằm giảm bớt vật liệu cháy; chỉ đạo, hướng dẫn cho các chủ rừng xây dựng kế hoạch phòng cháy cho lô rừng của gia đình...
Các phương án PCCCR-BVR được địa phương thường xuyên diễn tập, có sự tham gia của hạt kiểm lâm huyện, lực lượng xung kích PCCCR, công an xã, dân quân địa phương...
Trong mùa khô năm 2014-2015, xã Quang Yên điều tra và xác định một số khu vực dễ xảy ra cháy thuộc diện tích rừng phòng hộ trồng trên núi Thét và núi Bù Thần gồm: Khu vực núi Thét phần giáp xã Lãng Công và xã Hải Lựu thuộc các lô: 170, 171 và 172 tổng diện tích 11,05 ha, toàn bộ diện tích rừng phòng hộ thuộc núi Bù Thần.
Dựa trên cơ sở xác định trọng điểm cháy rừng trong đợt cao điểm mùa khô năm 2014-2015, UBND xã đã kiện toàn Ban chỉ huy PCCCR-BVR của xã với 13 thành viên; thành lập 5 đội xung kích PCCC rừng tại 5 thôn có rừng phòng hộ gồm: Đồng Găng, Đồng Nùng, Đồng Dạ, Đồng Chùa và Xóm Mới với 41 thành viên.
Chỉ đạo, đôn đốc các chủ rừng, lực lượng dân quân xung kích bảo vệ rừng; tăng cường công tác tuần tra, canh gác ở những khu vực dễ xảy ra cháy nhằm phát hiện sớm và có biện pháp dập tắt kịp thời khi lửa mới phát sinh; tổ chức lực lượng chữa cháy nhằm hạn chế thấp nhất tác hại của cháy rừng.
Xã thường xuyên tổ chức lực lượng, kiểm tra hệ thống đường băng cản lửa hiện có để củng cố kịp thời, đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn quy định, đáp ứng yêu cầu PCCCR-BVR. Chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể của xã tập trung tuyên truyền để đông đảo người dân nâng cao nhận thức và chủ động trong công tác PCCCR-BVR, kiên quyết xử lý nghiêm những vi phạm trong công tác PCCCR-BVR. (Báo Vĩnh Phúc 5/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 4-12, phần trả lời chất vấn của giám đốc Sở NN&PTNT và chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước tại HĐND tỉnh Bình Phước được rất nhiều cử tri quan tâm nhưng đã “né” một số vấn đề cử tri thắc mắc.
Tại bản tổng hợp ý kiến cử tri của HĐND tỉnh, nhiều cử tri quan tâm tới vụ “ban phát đất rừng cho quan chức”.
Cử tri Nguyễn Chính Niên (thôn Phú Tân, xã Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập) kiến nghị UBND tỉnh làm rõ và thông báo đến cử tri việc UBND tỉnh thu hồi đất rừng để giao khoán cho cán bộ, vợ con cán bộ, trong khi đó người nghèo không có đất sản xuất mà báo Tuổi Trẻ nêu.
Tuy nhiên, trong phần trả lời chất vấn của ông Nguyễn Văn Tới, giám đốc Sở NN&PTNT, và phần phát biểu vào buổi chiều cùng ngày của ông Nguyễn Văn Trăm, chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, đều không đề cập đến vấn đề này.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Tiến Dũng - ủy viên thường trực HĐND tỉnh Bình Phước, người thay mặt thường trực HĐND tỉnh ký báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri - cho rằng theo quy định thì ý kiến, kiến nghị của cử tri (thông qua người đại diện của cử tri là các đại biểu HĐND chất vấn) có thể được trả lời trực tiếp tại hội trường hoặc trả lời bằng văn bản. Cũng có thể ý kiến, kiến nghị của cử tri sẽ được các đại biểu chuyển ý kiến trả lời tại buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp.
“Vì vậy, tới thời điểm này chưa thể khẳng định các đại biểu của huyện Bù Gia Mập không chuyển câu hỏi của cử tri hay UBND tỉnh và các sở, ngành không trả lời kiến nghị của cử tri. Phải tới khi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp vấn đề cử tri nêu có được trả lời không thì mới có thể khẳng định được” - ông Dũng nói. (Tuổi Trẻ 5/12) đầu trang(
Để triển khai thực hiện có hiệu quả việc trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác (không sử dụng vào mục đích lâm nghiệp) trên địa bàn tỉnh, đảm bảo việc trồng rừng đúng quy trình, quy định tại Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác. Theo Kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được UBND tỉnh giao chủ trì, phối hợp các Sở: Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Tài chính; UBND các huyện, thị xã và các đơn vị chủ rừng triển khai thực hiện theo nội dung kế hoạch đề ra.
Thực hiện Kế hoạch của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp & PTNT đã tổ chức triển khai thực hiện theo nội dung, nhiệm vụ được giao, sau thời gian phối hợp các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện, Sở Nông nghiệp & PTNT đã tham mưu, báo cáo UBND tỉnh về số lượng các dự án và diện tích rừng đã chuyển mục đích sử dụng từ khi Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực cho đến nay, theo đó trên địa bàn tỉnh có 35 Dự án thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác với tổng diện tích là 2.518 ha.
Trong số 35 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng, có 08 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng với mục đích kinh doanh, diện tích 463 ha; 27 dự án chuyển mục đích sử dụng rừng với mục đích công cộng, phúc lợi xã hội, quốc phòng…, diện tích 2.055 ha.
Như vậy, các chủ dự án có trách nhiệm đầu tư kinh phí để trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển mục đích sử dụng là 463 ha/08 dự án; nguồn kinh phí chương trình bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020 và các nguồn vốn hợp pháp khác của nhà nước đầu tư trồng rừng thay thế là 2.055 ha/27 dự án. (Sonongnghiepbinhphuoc.gov.vn 3/12) đầu trang(
Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam có 164 khu, bao gồm 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên và 11 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu thực nghiệm - nghiên cứu khoa học.
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên, có 3 phân hạng cao nhất của hệ thống rừng đặc dụng thì tình trạng chồng lấn quyền sử dụng đất (QSDĐ) giữa các hộ gia đình, cộng đồng địa phương và các ban quản lý (BQL) xảy ra khá phổ biến.
Hiện có tới 94% các vườn quốc gia, khu bảo tồn có tình trạng chồng lấn mà chưa có phương án giải quyết thỏa đáng. Tình trạng “một đất - hai chủ” nhưng giá trị pháp lý của các chủ thể có tranh chấp tồn tại ở những hình thức khác nhau.
Theo ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Có nhiều bằng chứng về hiện trạng này như Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông (Hòa Bình) thành lập năm 2004, đến năm 2006, BQL khu bảo tồn chính thức đi vào hoạt động đã phát hiện 65% diện tích đất lâm nghiệp “đã có chủ”.
Vườn Quốc gia biển đảo Bái Tử Long (Quảng Ninh) được thành lập trên cơ sở nâng hạng và mở rộng diện tích của Khu Bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn, một số diện tích đất lâm nghiệp vốn đã được giao và cấp sổ lâm bạ cho các hộ gia đình trong giai đoạn 1994 - 1998, bị quy hoạch và trao quyền quản lý cho BQL. Theo số liệu rà soát năm 2002 - 2007, diện tích đất đang xảy ra tình trạng “một đất - hai chủ” gần 2.000 ha gồm đất thổ cư, đất an ninh quốc phòng và đất lâm nghiệp.
Trường hợp Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Sao La (Quảng Nam), hậu quả của quyết định mở rộng diện tích là tình trạng chồng lấn QSDĐ giữa BQL và số hộ gia đình thuộc huyện Tây Giang, Đông Giang. Do chưa rà soát chi tiết nên quy mô chồng lấn vẫn chưa xác định được.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chồng lấn thường liên quan đến những “lỗi” trong quá trình thực hiện giao đất, giao rừng, công tác quy hoạch, thành lập và mở rộng các khu rừng đặc dụng, bắt đầu từ giữa những năm 1990. Theo số liệu thống kê, 70% các trường hợp xảy ra chồng lấn là do các vườn quốc gia, khu bảo tồn được thành lập hoặc mở rộng trong giai đoạn 1995 - 2004. Với các yêu cầu kỹ thuật “đảm bảo diện tích bảo tồn phải liền khu, liền khoảnh”, cơ quan tư vấn đôi khi buộc phải khoanh một cách cơ học trên bản đồ, bao gồm cả diện tích đất đã có chủ.
Vào thời điểm trước năm 2005, chính quyền địa phương các tỉnh bắt đầu quan tâm hơn tới các vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học. Dự án thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn cũng tương tự như các dự án phát triển khác do nhà nước cấp ngân sách là buộc địa phương phải thực hiện. Các cơ quan được giao trách nhiệm chịu áp lực phải thành lập nên những vấn đề về chồng lấn QSDĐ sẽ bị “bỏ qua” hoặc diễn giải “giảm nhẹ” đi.
Ngân sách đầu tư hàng năm cho vườn quốc gia, khu bảo tồn thường được cân đối và phân bổ trực tiếp từ ngân sách trung ương hoặc địa phương, còn hạn chế và có sự khác biệt rất lớn về cơ hội nhận đầu tư, khả năng tự chủ ngân sách giữa các vườn quốc gia thuộc Bộ và các vườn quốc gia, khu bảo tồn do địa phương quản lý. Đây là động lực khiến các vườn quốc gia, khu bảo tồn cố gắng quy hoạch hoặc mở rộng diện tích để “thăng hạng” bất chấp tình trạng chồng lấn.
Cơ quan tư vấn giữ vai trò mấu chốt trong việc lựa chọn quy mô, vị trí ranh giới khi quy hoạch nhưng họ lại có ít trách nhiệm pháp lý khi xảy ra tranh chấp. Nhiều khu vực chồng lấn được xác định do có sự sai lệch trong việc áp dụng các công cụ bản đồ lâm nghiệp đo vẽ trước đây và hệ thống bản đồ địa chính đang áp dụng hiện nay.
Hậu quả là vấn đề chồng lấn không chỉ xảy ra trên đất, mà còn xảy ra khi xác lập các quyền quản lý - bảo vệ - tiếp cận và hưởng lợi từ tài nguyên đất và rừng. “Chủ đất - chủ rừng” dẫn tới những khó khăn đối với các hoạt động tuần tra, quản lý và bảo vệ rừng của các BQL, còn người dân địa phương từ bỏ quyền tham gia quản lý và bảo vệ rừng của mình.
Việc áp dụng các quy định “bảo tồn nguyên vẹn và/hoặc quản lý, bảo vệ chặt chẽ” của Luật Bảo vệ Phát triển rừng 2004, càng làm trầm trọng thêm mối quan hệ vốn đã căng thẳng giữa BQL và cộng đồng địa phương.
Với những diện tích người dân trồng rừng, khai thác gỗ vì mục đích thương mại khi ở trạng thái chồng lấn trong khu vực rừng đặc dụng, thì tính hợp pháp của gỗ trở nên rất khó định nghĩa và chứng thực. Đây là rào cản chính khiến các diện tích rừng mỡ tại bản Cuôn, xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn không được cấp phép dù đã đến chu kỳ khai thác.
Trong các trường hợp chồng lấn sẽ là bất khả thi khi xác định “chủ sở hữu” của các hàng hóa carbon rừng, từ đó ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận thị trường và hưởng lợi từ carbon. Một số địa phương dù đã có phương án giải quyết tình trạng chồng lấn nhưng lại chưa thể tìm được nguồn tài chính chi trả.
Tình trạng chồng lấn dù chưa dẫn tới những tranh chấp, xung đột nghiêm trọng, nhưng do chưa được giải quyết triệt để dẫn tới những thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên.
Ông Hà Huy Anh, Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn quản lý tài nguyên cho rằng, Nhà nước phải tiến hành rà soát lại toàn bộ tình trạng chồng lấn QSDĐ trong hệ thống rừng đặc dụng, để xây dựng phương án giải quyết đồng bộ cả về mặt pháp lý, kỹ thuật, tài chính và thể chế.
Cơ quan chức năng cần tổng kết đánh giá mô hình thí điểm chính sách chia sẻ lợi ích và xem xét triển khai, áp dụng trên toàn quốc, đặc biệt ưu tiên tại các khu vực có tình trạng chồng lấn. Đồng thời, rà soát, xác định lại các nguồn kinh phí có thể vận dụng cho xây dựng mô hình “đồng quản lý” rừng trên các khu vực có tranh chấp QSDĐ tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn…
Trên cơ sở rà soát, xem xét để điều chỉnh lại các tiêu chí quy hoạch rừng đặc dụng, áp dụng cách tiếp cận đa ngành trong quy hoạch. Yêu cầu này là đặc biệt cần thiết khi Thủ tướng Chính phủ mới có quyết định cuối tháng 10/2014 ban hành Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn 2030. (Thanh Tra 5/12) đầu trang(
Gần kết thúc năm 2014, nhưng các huyện miền núi không mấy lưu tâm về các chỉ số, chỉ tiêu trồng rừng.
Năm nay, dù ngành lâm nghiệp đã đôn đốc các doanh nghiệp, cơ sở chuẩn bị hàng triệu cây giống sao đen, keo để trồng gần 2.200ha rừng phòng hộ, sản xuất tập trung…, song đến thời điểm hiện tại mới chỉ trồng hơn 1.600ha (thực hiện 367/460ha rừng phòng hộ, 1.257/1.700ha rừng sản xuất).
Thêm nữa, công tác khoán bảo vệ rừng mới chỉ đạt 260.426ha, kế hoạch đề ra 334.970ha (đạt gần 79%). Diện tích trồng rừng thay thế các dự án, công trình đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất sau khi đã điều chỉnh xuống còn 522ha. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ trồng hơn 34ha rừng (hơn 6,5% trên tổng diện tích cần trồng bồi hoàn).
Những năm trước đây, chủ trương chung của tỉnh là yêu cầu các chủ đầu tư phải trồng lại diện tích rừng tương đương với diện tích rừng và đất rừng mà dự án lấy đi. Đáng nói, không ít chủ đầu tư không lập phương án trồng rừng thay thế, hoặc thực hiện rất rề rà. Nhiều doanh nghiệp nợ rừng cho rằng, sở dĩ chậm trồng bồi hoàn là do vướng về thủ tục hồ sơ pháp lý, chưa thống nhất giữa các cơ quan chức năng…
Trở lại với phong trào trồng rừng ở các địa phương miền núi. Nhận thấy tình trạng “khủng hoảng” tư liệu sản xuất của người dân, một số nơi đã mạnh dạn chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang rừng sản xuất.  Các huyện Phú Ninh, Thăng Bình, Tiên Phước năm nay đã rà soát, chuyển đổi hàng nghìn héc ta đất trống đồi trọc, đất rừng nghèo sang trồng cây cao su.
Trong khi đó, chính quyền huyện Nông Sơn đã chuyển đổi hơn 4.000ha trước đây đã quy hoạch rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất cho người dân. Ở các xã Quế Ninh, Quế Trung, Quế Lâm và Phước Ninh (huyện Nông Sơn), rừng trở thành kinh tế mũi nhọn, nguồn thu nhập chính của người dân.
Thế nhưng, ông Nguyễn Văn Lanh - Phó phòng NN&PTNT huyện Nông Sơn tỏ ra băn khoăn và cho rằng, trồng rừng sản xuất (cây keo) đã đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho địa phương, nhưng vẫn là cây chiếm đất lớn, đạt giá trị thấp nhất trên đơn vị diện tích canh tác. Mặt khác, chính thị trường thiếu ổn định nên bây giờ người dân thận trọng khi bỏ vốn đầu tư.
Cũng theo ông Lanh, ngành lâm nghiệp trong tỉnh cần sớm tái cơ cấu sản xuất, bằng cách đẩy mạnh khâu liên kết, liên doanh giữa các thành phần kinh tế, giữa các công ty lâm nghiệp với hộ dân, ưu tiên các nhà máy chế biến lâm sản sâu. Ngoại trừ bắt buộc phải trồng rừng với chức năng phòng hộ, khi đưa ra chỉ tiêu, kế hoạch phủ xanh rừng, cơ quan quản lý nhà nước cũng cần có tiên lượng về thị trường tiêu thụ, chứ khuyến khích người dân trồng đại trà không thôi là chưa đủ.
Theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 được UBND tỉnh phê duyệt, giai đoạn này cả tỉnh khoanh nuôi tái sinh hơn 155.600ha, trồng hơn 80.700ha rừng tập trung; hàng năm khai thác khoảng hơn 13.400ha rừng trồng, đáp ứng khoảng 308 nghìn mét khối gỗ chế biến và gỗ dăm, hơn 4,7 triệu tấn nguyên liệu bột giấy.
Dự kiến tổng vốn đầu tư hơn 2.300 tỷ đồng để thực hiện kế hoạch này. Thế nhưng, theo Sở NN&PTNT, vì thiếu nguồn vốn nên có nhiều địa phương chưa đạt kế hoạch trồng rừng, đích đến vẫn còn xa. Do vậy, chiến lược của ngành lâm nghiệp tương lai là phát triển rừng theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả kinh tế trên đơn vị canh tác và mở rộng liên kết tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp đa dạng hơn. (Báo Quảng Nam 5/12) đầu trang(
3 - 12, Ban Chỉ đạo Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp Thanh Hóa đã tổ chức Hội nghị xem xét, thẩm tra số liệu cập nhật diễn biến rừng, đất lâm nghiệp năm 2014 và triển khai công tác điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2014 – 2015.
Ông Nguyễn Đức Quyền - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp Thanh Hóa chủ trì hội nghị.
Theo số liệu thống kê diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp năm 2013 trên địa bàn tỉnh là 626.757.08 ha, đến năm 2014 đã giảm 180 ha. Thông qua công tác rà soát, điều tra, kiểm kê cho thấy năm 2013 diện tích rừng tự nhiên ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 899,05 ha, đến năm 2014 có những biến động làm tăng 308,91 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh tự nhiên là 177,8 ha. Đến thời điểm này, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh đã đạt 51,5%, tăng 0,5% so với năm 2013.
Tại hội nghị BCĐ đã thảo luận và thống nhất sẽ tăng cường bám sát thực tế để cập nhật kịp thời các số liệu biến động về rừng và đất lâm nghiệp. Tiến hành các biện pháp nhằm giúp các địa phương thực hiện quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng, thực hiện nghiêm trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ rừng trong công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Đức Quyền khẳng định tầm quan trọng của rừng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng  nói chung, kinh tế lâm nghiệp nói riêng. Do đó, cần đánh giá đúng hiện trạng rừng để quản lý tốt; đồng thời, phải giao đất cho người dân sử dụng để họ chủ động trồng, bảo vệ rừng theo đúng qui định.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng nhận định: Tỉnh ta đã có các BCĐ về phát triển, bảo vệ rừng đến tận cơ sở nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao. Thời gian tới, đề nghị các thành viên BCĐ phối hợp chặt chẽ với BCĐ ở các địa phương nhằm nâng cao năng lực và hoạt động tích cực, chủ động hơn.
Về số liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, ông Nguyễn Đức Quyền đề nghị các đơn vị liên quan cần rà soát, xem xét, báo cáo một cách chính xác để làm cơ sở cho UBND tỉnh xây dựng phương án chỉ đạo công tác phát triển, quản lý, bảo vệ rừng đạt kết quả cao trước ngày 5 – 12 - 2014. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị liên quan phải phối hợp chặt chẽ để thống nhất số liệu điều tra, kiểm kê, tránh chồng chéo, tranh cãi, không rõ ràng.
Cũng tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe đại diện Trường Đại học Lâm nghiệp (đơn vị được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tiến hành công tác kiểm kê rừng giai đoạn 2013 – 2016)  trình bày phương án điều tra kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. (Báo Thanh Hóa 3/12) đầu trang(
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu chi trả dịch vụ môi trường rừng nên chi trả cho các loại rừng từ rừng tự nhiên cho đến rừng trồng và áp dụng kể cả các đơn vị ngoài lưu vực.
Mức chi trả đối với những đơn vị nằm ngoài lưu vực có thể linh động cách tính bằng hệ số thấp hơn so với nhưng đơn vị trong lưu vực. Làm vậy sẽ thể hiện sự quan tâm, động viên, tạo sự bình đẳng đối với thành quả chung trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Mặc dù Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập từ hơn 2 năm nay và việc thu phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ các đơn vị cấp nước, thủy điện đã được thực hiện, nhưng đến nay, ai được chi trả, chi trả bao nhiêu và lúc nào chính thức được chi trả vẫn chưa có đáp án cụ thể.
Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Trọng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, kiêm Giám đốc Qũy Bảo vệ Phát triển rừng cho biết, việc chi trả phí DVMTR bước đầu sẽ áp dụng cho một số chủ rừng nằm trong lưu vực công trình thủy điện A Lưới, Bình Điền, Hương Điền. Vừa qua, đơn vị đã lập đề án hoàn thiện hồ sơ xác định hiện trạng rừng và chủ rừng của 3 lưu vực thủy điện trình UBND tỉnh phê duyệt.
Lúc nào UBND tỉnh phê duyệt đề án này thì việc chi trả DVMTR cho các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình mới được tiến hành. Kế hoạch phấn đấu đến tháng 12-2014 sẽ nghiệm thu và thực hiện chi trả.
Ông Nguyễn Trọng lý giải, việc xác định, rà soát phải được thực hiện thật kỹ và có sự phối hợp, đối chiếu với thông tin, số liệu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp từ các Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, bởi chỉ cần sai sót là dễ nảy sinh kiện tụng phức tạp.
Những đối tượng được chi trả DVMTR phải đảm bảo nằm trong diện tích đất lưu vực, diện tích đất có rừng và phải có đủ độ tàn che. Theo kết quả điều tra, tổng toàn lưu vực thủy điện A Lưới, Bình Điền, Hương Điền là 152.800 ha. Trong đó, lưu vực Hương Điền: 68.273ha, Bình Điền: 50.912ha, A Lưới: 33.645ha.
Việc chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ đơn giản hơn một số tỉnh, thành khác, bởi đối tượng được chi trả là hộ gia đình tương đối ít, chủ yếu tập trung vào tổ chức, cộng đồng. Theo hồ sơ xác định chủ rừng, lưu vực Bình Điền có 10 hộ, A Lưới 10 hộ, còn Hương Điền đang tiến hành điều tra, nhưng khả năng số hộ được chi trả sẽ nhiều hơn 2 lưu vực kể trên.
Vừa qua, Công ty TNHH Lâm nghiệp Nam Hòa là đơn vị đầu tiên được Qũy BVPTR tạm ứng cấp 500 triệu đồng. Do sau khi Trung ương cắt chỉ tiêu khai thác rừng tự nhiên, đơn vị gặp không ít khó khăn về kinh phí quản lý, bảo vệ rừng với diện tích hơn 15 nghìn ha rừng tự nhiên nằm trong lưu vực thủy điện. Từ nguồn tạm ứng này, đơn vị đã trang trải để phục vụ tuần tra giữ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đảm bảo hiệu quả.
Qua tham vấn, nhiều cộng đồng, nhóm hộ nhận rừng đều cho biết, từ khi nhận rừng đến nay, việc hưởng lợi từ rừng được giao chưa có hoặc rất ít, việc tổ chức bảo vệ rừng hoàn toàn dựa vào ý thức, tinh thần tự giác và đóng góp của người dân tham gia. Đây cũng là vấn đề được các cấp, các ngành bàn bạc, tìm giải pháp suốt nhiều năm qua để chủ trương giao rừng, cho thuê rừng đối với các tổ chức, cộng đồng, nhóm hộ, gia đình thực sự hiệu quả. Do đó, chính sách chi trả DVMTR được xem là “cánh tay nối dài”, là cơ chế hợp lý để trả thù lao xứng đáng cho những người trông giữ rừng.
Thực ra, số tiền thu từ các đơn vị thủy điện, cấp nước chưa nhiều và chưa đều đặn, nên mức chi trả DVMTR sẽ không lớn và không phải là nguồn thu nhập để hộ gia đình, cộng đồng dân cư và các tổ chức bảo vệ rừng hoàn toàn dựa dẫm vào.
Vì vậy, cơ quan thực hiện chi trả phí dịch vụ này cũng nhiều lần phân tích, tuyên truyền cho người dân và các chủ rừng hiểu rõ nguồn thu và khoản chi trả chỉ đóng vai trò như nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ rừng và phát triển sinh kế. Để bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, bền vững, việc gắn kết chi trả DVMTR với các chương trình phát triển sinh kế khác hết sức cần thiết nhằm tạo thêm thu nhập bền vững cho các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng.
Tuy việc chi trả chưa được áp dụng, nhưng đã phát sinh nhiều bàn luận. Theo quan điểm của ông Nguyễn Ngọc Dũng, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Trà, mặc dù Hương Trà là nơi có 2 lưu vực thủy điện, nên sẽ có nhiều đối tượng chủ rừng được chi trả. Nhưng thực ra, đối tượng nằm trong lưu vực được xem xét chi trả theo đề án không nhiều.
Trong khi đó, rất nhiều nơi như Vườn quốc gia Bạch Mã có đến hơn 37 nghìn ha rừng tự nhiên, Nam Đông, Phong Điền, Phú Lộc có độ che phủ rừng rất lớn, đóng góp vào việc cung cấp nguồn nước, cung cấp nhiều dịch vụ đem lại lợi ích từ rừng, nhưng lại nằm ngoài lưu vực và không thuộc diện được chi trả dịch vụ. Điều này vô hình chung sẽ tạo sự bất bình đẳng trong chia sẽ lợi ích rừng. (Báo Thừa Thiên Huế 3/12) đầu trang(
4 thủy điện được tiếp tục hoạt động sau khi trả phí dịch vụ môi trường rừng
Cục Điều tiết Điện lực (ĐTĐL) - Bộ Công Thương cho biết, nhằm thực hiện kế hoạch hành động của Bộ Công Thương triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ về tăng cường quản lý thủy điện, cục đã có văn bản đôn đốc các doanh nghiệp đầu tư thủy điện nghiêm túc thực hiện trồng bù rừng thay thế, chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tuy nhiên, sau khi kiểm tra rà soát, vẫn còn 4 đơn vị chậm thực hiện nghĩa vụ nên Cục ĐTĐL đã ra quyết định tạm thu hồi giấy phép hoạt động điện lực đã được cấp.
Sau khi bị tạm thu hồi giấy phép có 2 đơn vị đã nộp đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng đến hết quý III/2014 và 2 đơn vị có cam kết cụ thể về tiến độ nộp phí hoặc cam kết nộp phí với quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Trên quan điểm xử lý nghiêm khắc đối với trường hợp vi phạm nhưng cũng tạo điều kiện cho các thủy điện có phương án khắc phục kịp thời,  Cục ĐTĐL đã có văn bản đồng ý cho 4 thủy điện tiếp tục hoạt động theo giấp phép hoạt động điện lực đã được cấp. (Công Thương 4/12) đầu trang(
Năm 2014, gỗ cứng của Mỹ xuất khẩu sang Việt Nam đạt mức trên 200 triệu USD, đó là thông tin tại hội thảo kỹ thuật “Thiết kế với gỗ cứng bền vững Mỹ và giới thiệu về cách phân hạng gỗ cứng”, do Hội đồng Xuất khẩu gỗ cứng Mỹ (AHEC) cùng Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, Hội Kiến trúc sư TP HCM tổ chức ngày 4-12 tại TP HCM.
Được biết, gỗ cứng Mỹ luôn là lựa chọn của các nhà thiết kế, kiến trúc sư ở Mỹ và châu Âu, do chúng đa dạng về chủng loại và có chứng nhận môi trường. Gỗ cứng này có nhiều ứng dụng trong trang trí nội thất và xây dựng. Từ năm 2010, xu hướng thiết kế, sản xuất ở châu Á sử dụng gỗ cứng Mỹ đã trở nên phổ biến. (Người Lao Động 5/12) đầu trang(
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp vừa tổ chức Hội thảo “Thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và khuyến nghị từ cộng đồng” thu hút gần 100 đại biểu là những nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lí trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam.
Trình bày giới thiệu Mạng lưới đất rừng (FORLAND), PGS, TS Hoàng Mạnh Quân, Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (GRD) cho biết, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành năm 2004 đã có tác dụng tích cực đến sự phát triển của rừng cũng như đối với đời sống của người dân.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện bộc lộ một số điểm cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả của Luật. Hội thảo đi sâu nghiên cứu nhằm đánh giá thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng; đánh giá hiện trạng chống lấn quyền sử dụng đất trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam; lồng ghép giới trong thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và một số văn bản dưới luật liên quan.
Nhiều ý kiến tham luận cho rằng, Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật Bảo vệ và Phát triển năm 2004 là hướng tới những cộng đồng và hộ gia đình sống ở vùng nông thôn, miền núi là hai trong những đối tượng được hưởng lợi nhưng đồng thời cũng chịu tác động trực tiếp bởi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 và các chính sách liên quan.
Do vậy, với mục tiêu là góp phần làm cho người dân miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận công bằng, quản lí sử dụng hiệu quả và hưởng lợi bền vững từ rừng, đất rừng để ổn định phát triển sinh kế kết hợp với quản lí tài nguyên bền vững. Luật này cũng bộc lộ một số điểm hạn chế sau 10 năm thực thi là sự thiếu lồng ghép giới trong tiếp cận và quản lí, sử dụng và phát triển rừng.
Vai trò của người phụ nữ trong việc ra quyết định về sử dụng và quản lí và phát triển rừng chưa được xem xét trong các văn bản pháp luật, dưới luật và các chương trình quốc gia. Kết quả là đời sống của người phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân gặp nhiều khó khăn do thiếu sự can thiệp. Vì vậy, cần có nhiều chính sách thiết thực để chăm lo đời sống của người phụ nữ miền núi như xây dựng trồng rừng kinh tế, chính quyền cần tạo điều kiện để khuyến khích sự tham gia của phụ nữ nhằm tạo thu nhập cho người phụ nữ và gia đình.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đi vào cuộc sống từ năm 2004, tạo hành lang pháp lí thuận lợi huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Song cho đến nay, Luật vẫn chỉ mang tính chất khung, thiếu cụ thể. Việc ban hành nhiều văn bản dưới luật để quy định chi tiết, tạo ra lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, mâu thuẫn và chồng chéo.
Tính minh bạch và tính khả thi của Luật chưa cao, thể hiện ở việc chưa làm rõ cơ chế thực hiện quyền định đoạt Nhà nước với vai trò là dại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng. Đồng thời chưa tạo được hệ thống quản lí phù hợp và hiệu quả cũng như sự phối hợp giữa các cơn quan nhà nước có liên quan trong hoạt động bảo vệ rừng.
Từ kết quả tham vấn của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học sẽ giúp cho các cơ quan làm Luật có những điều chỉnh hợp lí, tạo hành lang pháp lí để không chỉ là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng mà nhiều ngành Luật khác tiếp tục đi vào cuộc sống. (Người Cao Tuổi 4/12) đầu trang(
TAND tỉnh Đắk Lắk tạm đình chỉ vụ án đối với ông Võ Hồng Huỳnh vì bị bệnh tâm thần. Tức là ông Huỳnh được xác định mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm (sau đây gọi là Tòa án lại căn cứ lời khai của người bị bệnh tâm thần (ông Huỳnh) để coi là có đồng phạm với ông Võ Hồng Huỳnh và đã xử buộc tội những “đồng phạm” này…
Một, không có mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Hồ sơ án không có bất cứ một chứng cứ nào cho thấy các bị cáo nhận được bất kì một lợi ích vật chất nào ngoài tiền lương. Nhưng, Tòa án lại coi những người bị kết án có vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác là không có cơ sở.
Hai, không gây bất kì thiệt hại vật chất nào. Hồ sơ vụ án thể hiện: Không có giá chỉ định trong thu mua gỗ. Theo Quyết định số 703/QĐ-UBND ngày 20/3/2002, Công văn số 389/CV-UBND ngày 24/2/2003, Công văn số 3389/CV-UBND ngày 18/12/2004 của UBND tỉnh Đắk Lắk đều có nội dung: “Các đơn vị được giao mua, khai thác gỗ và lâm trường bàn bạc thỏa thuận cụ thể về thiết kế khai thác, phương thức khai thác, mua gỗ theo giá cả thị trường, tiêu thụ theo đúng mục đích của Chính phủ, Bộ NN&PTNT và UBND tỉnh đã giao”. Nhưng, Tòa án lại cho rằng có giá chỉ định trong thu mua gỗ, cũng là không có cơ sở.
Ba, không có thiệt hại phi vật chất: Đến nay, không có sự ta thán của bất kì doanh nghiệp chế biến gỗ nào cho rằng Công ty có gỗ mà họ mua không được. Hơn nữa, mặc dù quá trình xét xử Tòa án đã nhiều lần yêu cầu bổ sung chứng cứ về có thiệt hại phi vật chất, nhưng không cung cấp thêm được gì (xem trang 15, nội dung I.5 Phần III, Kết luận Thanh tra số 3535/KL-BNN-TTr ngày 26/11/2008 của Bộ NN&PTNT).
Bốn, Công ty Công nghiệp rừng Tây Nguyên (Công ty) không hoạt động (Tòa dựa vào lời khai của ông Võ Hồng Huỳnh). Nhưng thực tế, tại Công ty có các hoạt động: Khai thác, thu mua: Công ty đã kí 248 hợp đồng kinh tế với các lâm trường mua 174.432,269m3 gỗ. Trong đó mua cây đứng, tự tổ chức khai thác 48.745,041m3 gỗ tròn với chi phí 13.651.996.816 đồng; năm 2000 đóng thuế tài nguyên 3.729.456.843 đồng. Khối lượng gỗ còn lại, mua tại bãi 2 (lâm trường chịu trách nhiệm khai thác) 125.687,228m3, trị giá 147.402.714 đồng. Cung ứng gỗ: Cung ứng cho 209 doanh nghiệp với 598 hợp đồng kinh tế.
Theo hồ sơ (1997 – 2006) có hơn 100 lượt đơn của các tổ chức, cá nhân xin mua gỗ có xác nhận của UBND các cấp thuộc các địa phương trong cả nước xin mua gỗ tròn để khắc phục hậu quả lũ lụt và đóng mới hoặc sửa chữa tàu, thuyền với số lượng gần 98.118,65m3 gỗ. Hoạt động tài chính: Được Cơ quan Điều tra xác minh từ năm 1998 – 2007: Vay ngân hàng 55,62 tỉ đồng; bổ sung vốn lưu động 1,5 tỉ đồng; trả tiền mua gỗ và chi phí khai thác, vận chuyển 14,87 tỉ đồng; đầu tư sản xuất, chế biến 32,25 tỉ đồng; huy động nội bộ bằng tiền và nhân lực khai thác (hạch toán tại tài khoản 338 – Khai thác) ứng trước của người mua, thu tiền bán gỗ (hạch toán tại tài khoản 131: Phải thu của khách hàng). Và nhận vốn góp 530 triệu đồng của Tổng Công ty Lâm sản Việt Nam. Các nghiệp vụ về tài chính trên đây được phản ánh đầy đủ trong hồ sơ báo cáo tài chính hằng năm của Công ty.
Năm, không có việc lập khống hồ sơ để hợp thức hóa việc mua bán chỉ tiêu. 98.118,65m3 gỗ Tòa án coi là Công ty bán cho tư thương. Nhưng, Công ty trực tiếp cung ứng cho các chương trình với hơn 103 đơn xin mua gỗ có xác nhận của địa phương, được hạch toán đầy đủ trong hệ thống sổ sách (hợp đồng kinh tế, đơn xin mua gỗ, phiếu thu tiền…) và tài khoản của Công ty.
Sáu, không có móc nối tư thương. Trong 4 người mà kết luận điều tra, cáo trạng, bản án gọi là tư thương, có 2 nhân viên Công ty: Nguyễn Quang Vinh, Bùi Văn Tài và 2 môi giới: Mai Trung Tâm, Nguyễn Minh Đông. Bản án sơ thẩm kết luận các bị cáo này đã móc nối với tư thương, bán quyền mua chỉ tiêu 154.855,625m3 gỗ cho tư thương và đã chỉ đích danh các tư thương là ông Bùi Văn Tài, ông Nguyễn Quang Vinh, ông Mai Trung Tâm, ông Nguyễn Minh Đông. Nhưng, theo hồ sơ tổ chức nhân sự của Công ty thì ông Tài và ông Vinh là nhân viên chính thức của Công ty (có hợp đồng lao động, quyết định bổ nhiệm và phân công nhiệm vụ); có hưởng lương; có bảo hiểm xã hội; được xét khen thưởng các danh hiệu trong lao động hằng năm.
Trong đó, ông Tài giới thiệu cho Công ty bán được 43.825,354m3, ông Vinh giới thiệu cho Công ty bán được 3.348,736m3. Riêng ông Đông đại diện ủy quyền của các cơ sở chế biến gỗ tại Đồng bằng sông Cửu Long và số lượng gỗ do ông mua được theo thống kê của hồ sơ án là 2.678,930m3/ 154.855,625m3. Còn ông Tâm là người môi giới của các cơ sở chế biến gỗ ở Đồng bằng sông Cửu Long đã môi giới cho Công ty bán 6.883,955m3.
Theo kết luận điều tra, tổng số gỗ của 4 người này là 56.736,975m3. Toàn bộ gỗ này đã chuyển về các cơ sở chế biến gỗ tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung. Hồ sơ vụ án không có căn cứ xác định được họ là tư thương, họ mua gỗ gì. Trong khi, Bộ NN&PTNT “đồng ý cho Công ty được tiêu thụ ngay tại địa bàn khai thác và các tỉnh trong cả nước” (các văn bản số 2902/BNN-PTLN ngày 2/10/2001, số 237/CV-BNN-LN ngày 16/02/2004, số 1353 CV/BNN-LN ngày 15/6/2004).
Tại hồ sơ vụ án, lời khai của ông Võ Hồng Huỳnh mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo nhưng chưa được đối chất theo quy định để làm rõ. Đặc biệt đây lại là lời khai của người bị tâm thần (Quyết định số 01/2013/HSST-QĐ ngày 26/4/2013 của TAND tỉnh Đắk Lắk). Ông Huỳnh được xác định mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhưng, tại Bản án số 29/2013/HSST của TAND tỉnh Đắk Lắk vẫn dùng lời khai của ông Huỳnh để quy kết các nhân viên của Công ty là đồng phạm giúp sức cho ông Huỳnh. Đây là việc chứng minh tội phạm một cách phản khoa học pháp luật hình sự. Mặt khác, ông Huỳnh bị xem là chủ mưu thực hiện tội phạm theo quan điểm của Tòa sơ thẩm nhưng ông Huỳnh chưa bao giờ bị xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật về hành vi mà tòa cấp sơ thẩm dùng để lập luận, thì cơ sở pháp lí nào để cấp sơ thẩm xác định rằng đó là hành vi có tội để từ đó suy diễn có đồng phạm đối với một người đã bị bệnh tâm thần?
Rõ ràng, việc Tòa án áp dụng tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” để xét xử vụ án trên, trong khi nội dung vụ án còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ. Đây là cơ sở để Báo NCT kiến nghị cấp trên xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án. (Người Cao Tuổi 3/12, tr10) đầu trang(
4/12, UBND tỉnh Yên Bái tổ chức Hội nghị triển khai điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014-2015.
Dự hội nghị có ông Hoàng Xuân Nguyên-Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo điều tra, kiểm kê rừng tỉnh; các lãnh đạo Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam; lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo các huyện, thị và các hạt kiểm lâm huyện, thị, thành phố.
Thực hiện Quyết định 594/QĐ-TTg, ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016”, tỉnh Yên Bái đã thành lập Ban chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện dự án điều tra, kiểm kê rừng tỉnh giai đoạn 2014-2015.
Mục tiêu của dự án là nắm bắt chính xác toàn bộ diện tích rừng; chất lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể; xây dựng cơ sở dữ liệu theo đơn vị quản lý rừng và đơn vị hành chính các cấp để phục vụ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp...
Kiểm kê toàn bộ 481.770 ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch 3 loại rừng. Đối tượng kiểm tra gồm toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp, toàn bộ chủ rừng. Kinh phí thực hiện là trên 21 tỷ đồng.
Để công tác điều tra kiểm kê rừng chính xác, hiệu quả cao đúng tiến độ từ tỉnh đến cơ sở phải thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác kiểm kê rừng, đồng thời tuyên truyền, vận động tới tất cả các chủ rừng cùng tạo điều kiện đóng góp công sức để thực hiện.
Thông qua việc điều tra, kiểm kê rừng để nắm rõ hơn nguồn tài nguyên rừng và cũng là cơ sở khoa học để tỉnh có quy hoạch, định hướng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn hiệu quả, bền vững. (Báo Yên Bái 4/12) đầu trang(
Với tỷ lệ che phủ hiện nay là 43,5%, các diện tích rừng ở Yên Thế đã có đóng góp lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người.
Tuy nhiên, tại một số địa phương có rừng trong huyện, việc người dân trồng rừng không theo đúng kỹ thuật của cơ quan chức năng vẫn diễn ra khá phổ biến, làm giảm hiệu quả, năng suất từ rừng, đặc biệt là các diện tích rừng keo và bạch đàn.
Qua tìm hiểu thực tế được biết, hiện nay đa số các chủ rừng trên địa bàn huyện Yên Thế thường trồng rừng với mật độ quá dày, trồng một loại cây qua nhiều chu kỳ trên cùng một diện tích đất; đặc biệt, việc cuốc hố, bón phân, chăm sóc không đúng kỹ thuật, trong khi một số giống cây bạch đàn đã bị thoái hoá... là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây, gây nên suy giảm năng suất rừng trồng.
Để khắc phục những hạn chế này, theo anh Đỗ Văn Toan - Cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế thì các chủ rừng nên trồng với mật độ 1.600 cây/ha, tốt nhất là 1.333 cây/ha (cây cách cây 3m, hàng cách hàng 2,5 m) để tạo không gian dinh dưỡng tốt hơn cho cây trồng, đồng thời giúp tăng năng suất rừng và các loài cây nông nghiệp trồng xen (nếu có).
Trước khi cuốc hố, cần có biện pháp diệt trừ côn trùng cắn hại cây trồng. Với các loài cây Keo và Bạch đàn, hố cuốc với kích thước 30 x 30 x 30 cm theo đường đồng mức. Khi cuốc lưu ý để lớp đất mặt sang một bên, lớp đất củ sang một bên. Độ sâu của hố được tính từ mép hố phía dưới dốc. Thời gian cuốc nên khoảng từ 15/12 đến 15/1 năm sau, phơi khoảng 15 đến 20 ngày cho đất ải rồi tiến hành bón phân, lấp hố.
Về bón phân, anh Toan cho biết thêm: Tổng lượng phân bón cho 1 cây rừng cần khoảng 1,5 kg NPK; nếu có điều kiện bón thêm phân chuồng thì càng tốt (nên chia làm 3 lần, bón lót và bón thúc 2 lần vào năm 2 và năm 3). Khi lấp hố, cần gạt lớp đất mặt xuống 1/2 đáy hố, trộn đều với lượng phân bón lót; sau đó tiếp tục dùng cuốc xả đất 2 bên và phía trên thành hố, đập nhỏ, vun vào giữa hố tạo thành hình mâm xôi đặt trong chiếc nón ngửa sao cho các giọt nước mưa rơi vào thành hố đều có xu hướng chảy tụm vào đáy hố. Lưu ý: đất trong hố phải được đập tơi, nhỏ, không để lẫn đá và không lấp hố khi đất quá ướt (nhão).
Về kỹ thuật trồng cây: Sau khi lấp hố, trong khoảng thời gian từ 20/2 đến 30/3 (khi độ ẩm không khí rất cao và thường có mưa dầm nên cây trồng có tỷ lệ sống cao, đồng thời tạo cho cây trồng có thời gian sinh trưởng dài khoảng 8 tháng sau mới gặp tiết trời khô lạnh), và khi đất trong hố đã đủ ẩm, chọn ngày râm mát hoặc nắng nhẹ để trồng cây. Khi trồng phải bóc vỏ bầu, đặt bầu cây ngay ngắn xuống giữa hố đã moi đất, vun đất lấp kín cổ rễ và ấn chặt xung quanh bầu theo chiều song song với chiều dọc của thân bầu (lưu ý không được làm vỡ bầu).
Sau khi trồng cây, cần chú ý chăm sóc và bảo vệ các diện tích rừng trồng. Trong kỹ thuật chăm sóc rừng trồng, cần lưu ý đến việc trồng dặm: Sau khi trồng rừng từ 8 - 10 ngày thì kiểm tra và tiến hành trồng dặm những cây bị chết, những cây không đạt yêu cầu. Phải quan sát và trồng dặm liên tục để đảm bảo mật độ như lúc trồng (không được để thiếu cây).
Trong 3 năm đầu thường xuyên phát dọn thực bì, dây leo cây bụi cạnh tranh với cây trồng. (Đối với rừng chồi sau khi khai thác phải cắt, sửa lại gốc cây không để cao quá 1/3 đường kính của thân cây. Thường xuyên tỉa bớt chỉ để lại 2 đến 3 chồi; đến năm thứ 2 chỉ để mỗi gốc 1 chồi). Từ năm thứ 2 trở đi, cần tỉa cành giúp cho cây, nhằm làm cho cây gỗ sau này xẻ ra không có khuyết tật. Xới cỏ, vun gốc cho cây mỗi năm 2 lần vào các tháng 3, 4 và tháng 8, 9. Năm thứ 2 và năm thứ 3 tiến hành bón thúc 0,5 kg phân vi sinh NPK 5:10:3 cho 1 cây vào lần vun gốc đầu năm (đối với rừng chồi có thể phải dùng xà beng để săm lỗ bón phân).
Để làm tốt các biện pháp thâm canh rừng nêu trên, cơ quan chuyên môn cũng khuyến cáo một số vấn đề các hộ dân cần lưu ý như: Do chu kỳ kinh doanh rừng khá dài, sản phẩm thu được không chỉ là gỗ, củi mà còn có giá trị bảo vệ môi trường sinh thái, cho nên cần có sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước về cây giống, phân bón, ưu đãi về phương thức vay cũng như lãi suất ngân hàng (đặc biệt ưu tiên cho các diện tích có cam kết kinh doanh rừng gỗ lớn).
Đối với cơ quan chuyên môn như: các Lâm trường, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Yên Thế cần có kiến nghị với Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ kinh phí tạo lập tập đoàn cây đầu dòng cho các cơ sở ươm, nhân giống. Có như vậy mới quản lý chặt chẽ được chất lượng giống đúng tiêu chuẩn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định.
Bên cạnh đó, có ý kiến, kiến nghị giao trách nhiệm cho cơ quan chức năng xử lý nghiêm các trường hợp sản xuất, kinh doanh giống cây trồng rừng trên địa bàn không đảm bảo các quy định của Nhà nước về quản lý chất lượng giống; đồng thời khuyến cáo nhân dân không sử dụng các giống cây trồng không rõ nguồn gốc, bán trôi nổi trên thị trường.
Như vậy, với những hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, có thể thấy rằng, việc trồng rừng đúng cách là không quá khó khăn. Chỉ cần người dân tăng cường đầu tư thời gian, công sức để trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng, các diện tích rừng sẽ phát huy hiệu quả cao nhất, góp phần giảm nghèo và làm giàu cho gia đình, cũng như đóng góp vào sự phát triển nói chung của địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Yên Thế 4/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Raju, con voi ở Ấn Độ bị xiềng xích suốt nửa thế kỷ, được tòa tuyên bố tự do, sau khi chủ cũ của nó thua kiện.
"Chúng tôi đã thắng! Raju sẽ ở lại với chúng tôi", Zee News dẫn lời Wildlife SOS, tổ chức từ thiện của Anh hôm 2/12 viết trên mạng xã hội Facebook. Tổ chức này thông báo sau khi một tòa án Ấn Độ tuyên bố nó được tự do.
Đây là kết quả của cuộc đấu tranh giành lại sự công bằng giữa các nhà bảo vệ động vật và những người chủ nuôi cũ. Theo đó, Raju sẽ không phải quay lại cuộc sống khắc nghiệt trước đây và được bảo vệ trong một khu bảo tồn động vật hoang dã.
Raju được một nhóm chuyên gia bảo vệ động vật giải cứu hồi đầu tháng 7. Nó được tháo xích và đưa đi trong đêm, với sự hỗ trợ của cảnh sát. Trong lúc giải cứu, các tình nguyện viên cho biết họ đã thấy nước mắt chảy dài từ khóe mắt của con voi.
Hai tháng sau, những người chủ nuôi quyết định kiện để đòi lại Raju, cho rằng nó là "một tài sản hợp pháp". Tuy nhiên, họ đang bị cáo buộc sở hữu động vật trái phép.
Raju có thể bắt đầu cuộc sống từ môi trường hoang dã, tuy nhiên sau đó bị săn bắt và trở thành công cụ kiếm tiền cho chủ nuôi. Nó bị xích trong suốt 50 năm, thường xuyên bị bỏ đói, đánh đập và phải ăn thức ăn thừa trên đường. Dây xích và dây gai quấn quanh chân voi trong nhiều năm khiến nó bị thương, mắc chứng viêm khớp và đau liên tục. (VnExpress 4/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng