Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Mặc dù phải đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, thậm chí phải đổ cả máu nhưng các cán bộ, nhân viên của Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Tà Đùng (xã Đác Som, huyện Đác Glong, tỉnh Đác Nông), vẫn ngày đêm âm thầm tuần tra, canh giữ những diện tích rừng đặc dụng quý giá được ví như "lá phổi xanh" của khu vực Tây Nguyên.
Thảm thực vật phong phú Nằm tiếp giáp giữa cao nguyên Đác Nông với cao nguyên Di Linh (tỉnh Lâm Đồng), Khu BTTN Tà Đùng có diện tích hơn 21.300 ha, gồm nhiều dãy núi có độ cao trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, với đỉnh Tà Đùng cao nhất 1.982m.
Ở đây chủ yếu rừng phòng hộ đầu nguồn của hai con sông lớn là Krông Nô -Sê-rê-pốc ở phía bắc và sông Đồng Nai ở phía nam, cung cấp nguồn nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, điện năng... cho khu vực kinh tế trọng điểm phía nam. Bên cạnh đó, các nhà máy thủy điện trên hai con sông lớn này còn tạo ra hồ nước trên cao với diện tích khoảng 3.632 ha mặt nước...
Dẫn PV vào thăm vùng lõi khu bảo tồn, Giám đốc Khu BTTN Tà Đùng Lê Quang Dần cho biết: Trong khu bảo tồn hiện có một lớp thảm rừng rộng lớn che phủ tới 85% diện tích vùng lõi, trong đó rừng nguyên sinh chiếm 48%, rừng thứ sinh các loại chiếm 36%...; hệ sinh thái đa dạng và sinh cảnh phù hợp cư trú, sinh trưởng, phát triển của khu hệ động vật phong phú.
Đặc biệt, khu bảo tồn có năm loài được xếp ở cấp CR trong Sách đỏ Việt Nam như hổ, báo hoa mai, trăn mốc, trăn gấm, rắn hổ chúa và một số loài được ưu tiên bảo tồn cao, được thế giới đặc biệt quan tâm, như Chà vá chân đen, Vượn má hung, Cu li nhỏ... Bên cạnh đó, Tà Đùng là một trong ba khu bảo tồn duy nhất của Việt Nam hiện có loài hươu vàng (còn gọi là hươu đầm lầy) đang có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời là một trong bốn vùng chim đặc hữu của Việt Nam và một trong 222 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới với 145 loài thuộc 14 bộ và 38 họ khác nhau...
Khu BTTN Tà Đùng còn có vị trí quan trọng về kinh tế và bảo đảm an ninh môi trường. Rừng đặc dụng Tà Đùng nằm giáp ranh giữa tỉnh Đác Nông và Lâm Đồng, nơi có Nhà máy luyện Alumin Nhân Cơ và Tân Rai hoạt động nên được ví như là "lá phổi xanh" hấp thụ và lưu trữ cácbon, giảm phát thải khí hậu gây hiệu ứng nhà kính; bảo vệ và duy trì sự cân bằng môi trường sinh thái cho toàn vùng...
Khó khăn trong quản lý và bảo vệ Sau một ngày ròng rã cùng lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Tà Đùng lội suối, băng rừng, vượt núi tuần tra, canh gác mới thấy hết nỗi vất vả của những người làm công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) ở đây. Do khu bảo tồn rộng, tiếp giáp với bảy xã, bốn huyện của hai tỉnh Đác Nông và Lâm Đồng, địa hình bị chia cắt bởi núi cao, sông, suối sâu, giao thông đi lại khó khăn, cách trở... nên khu bảo tồn đã thành lập bốn trạm kiểm lâm tại bốn khu vực giáp ranh giữa các huyện.
Thế nhưng, địa bàn "đóng đô" để tuần tra, kiểm soát của mỗi trạm đều cách Ban quản lý (đặt tại xã Đác Som, Đác Glong) hơn 100 km đường rừng núi, trong đó trạm xa nhất là 180 km thuộc xã Đạ K'Nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.
Trò chuyện với PV, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 2 Hoàng Văn Hùng chia sẻ: Địa bàn do trạm quản lý rộng và hết sức phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, sông, suối và vực sâu, trong khi đó công việc yêu cầu ngày đêm đi lại, ăn ở trong rừng nên mỗi chuyến tuần tra, canh gác phải mất 10 ngày, thậm chí nửa tháng mới về trạm. Mỗi chuyến đi, các cán bộ, nhân viên phải mang theo đầy đủ gạo, thức ăn, mùng, mền, võng, thuốc và các dụng cụ y tế... bất kể ngày hay đêm đều đi tuần tra, đến đâu mệt thì mắc võng nghỉ rồi tiếp tục đi. Khổ nhất trong mỗi chuyến tuần tra là bị muỗi, vắt, rết, côn trùng cắn, thậm chí bị lâm tặc tấn công nên hết sức nguy hiểm. Mặc dù vậy, hầu hết cán bộ, nhân viên trong trạm đều gắn bó với nghề, nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Chính nhờ việc bám rừng 24/24 giờ của lực lượng kiểm lâm mà các vụ việc xâm hại khu bảo tồn đều được phát hiện kịp thời. Điển hình là vụ việc ngày 7-7 vừa qua, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, Trạm kiểm lâm số 3 phát hiện và bắt quả tang một nhóm lâm tặc đang dùng cưa máy khai thác gỗ trái phép tại lô 1, khoảnh 6, Tiểu khu 1808. Cầm đầu nhóm lâm tặc là Nguyễn Sỹ Đạt, sinh năm 1986, trú thôn Băng Pá, xã Đạ K'Nàng.
Tại hiện trường, nhóm lâm tặc chặt hạ ba cây xá xị thuộc nhóm IIA và một cây dổi thuộc nhóm III, tổng khối lượng gỗ khoảng 18 m 3 . Hay mới đây, vào ngày 29-10, lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Tà Đùng phối hợp cơ quan chức năng bắt quả tang đối tượng Giàng A Dế, sinh năm 1985, trú thôn 4, xã Đác Som đang phá rừng tại Tiểu khu 1780 với diện tích gần 3.000m2...
Đồng tâm, hiệp lực để giữ rừng Cùng với sự nỗ lực của cán bộ, nhân viên trong đơn vị, hằng năm Khu BTTN Tà Đùng phối hợp các ngành liên quan và chính quyền địa phương tổ chức các hội thảo tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước về công tác QLBVR, thành lập các câu lạc bộ xanh trong các trường THCS chung quanh khu bảo tồn và thực hiện ký cam kết về QLBVR với hàng trăm hộ dân tại các xã giáp ranh...
Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ rừng. Ngoài ra, Khu BTTN Tà Đùng còn giao khoán rừng đặc dụng cho đồng bào DTTS quản lý, bảo vệ, cùng nhau giữ rừng. Trong năm 2014, khu bảo tồn đã giao khoán hơn 7.960 ha rừng đặc dụng cho 167 hộ đồng bào DTTS quản lý, bảo vệ với tổng kinh phí chi trả hơn 1,6 tỷ đồng.
Việc giao khoán rừng cho các hộ dân, cộng đồng thôn, bon quản lý, bảo vệ đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nên người dân hết sức phấn khởi, tích cực tham gia giữ rừng. Ông K'Hô, Tổ trưởng tổ nhận khoán rừng ở xã Đác P'Lao, huyện Đác Glong bộc bạch: Cả tổ có 11 hộ nhận khoán QLBVR đặc dụng từ năm 2010 đến nay, với diện tích 490 ha. Trước đây, bà con có thói quen phá rừng lấy đất sản xuất, khi đói thì vào rừng bẻ măng, săn bắn thú rừng. Nhưng từ ngày nhận khoán rừng đến nay, tham gia các lớp tập huấn về QLBVR được khu bảo tồn chi trả kinh phí bảo vệ đầy đủ, kịp thời nên các gia đình đều có thêm việc làm, tăng thu nhập, cuộc sống ổn định hơn trước.
Giám đốc Lê Quang Dần khẳng định, trong những năm qua, sự tác động từ bên ngoài đến Khu BTTN Tà Đùng là rất ít. Tuy nhiên, trước sức ép dân cư ngày càng tăng, nhu cầu đất sản xuất lớn, hiện tại có hơn 8.000 hộ dân sinh sống gần bìa rừng của khu bảo tồn. Trong khi đó, theo quy định, mỗi kiểm lâm viên chỉ quản lý 500 ha rừng đặc dụng, nhưng ở đây các kiểm lâm viên phải quản lý gấp đôi.
Vì vậy, khu bảo tồn đang đứng trước nhiều mối đe dọa lớn như tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng; săn bắn và buôn bán động vật hoang dã; khai thác gỗ và khoáng sản trái phép; xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông đi qua khu bảo tồn... phá vỡ cảnh quan và hủy hoại môi trường sinh sống của các loài động, thực vật, ảnh hưởng đa dạng sinh học của khu bảo tồn...
Vì vậy, để bảo vệ "lá phổi xanh" cho Tây Nguyên, ngoài sự nỗ lực của cán bộ, nhân viên Khu BTTN Tà Đùng, cần có sự chung sức, đồng lòng của các cấp, các ngành hai tỉnh Đác Nông, Lâm Đồng và đồng bào các dân tộc sinh sống chung quanh khu bảo tồn.
Kết quả điều tra trong năm 2011 và 2012 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Khoa Sinh học của Trường đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh và Trường đại học Lâm nghiệp, ghi nhận ở Khu BTTN Tà Đùng có 1.406 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 760 chi và 192 họ của sáu ngành thực vật khác nhau.
Trong đó, có 89 loài có nguy cơ tuyệt chủng, 69 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam vào năm 2007 và 28 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN, 14 loài được ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Xét ở mức độ toàn cầu có sáu loài cực kỳ nguy cấp, năm loài nguy cấp và sáu loài sẽ nguy cấp. Ở mức độ quốc gia, có 28 loài nguy cấp và 41 loài sẽ nguy cấp. (Nhân Dân 4/12) đầu trang(
Thủy tùng là loài cây quý hiếm, có tên trong sách đỏ Việt Nam và chỉ còn lại với số lượng rất ít ở Đắk Lắk. Nhiều năm nay, tỉnh Đắk Lắk đã có nhiều chủ trương, chính sách chú trọng quy hoạch, bảo tồn và phát triển loài cây có nguy cơ tuyệt chủng này.
Thủy tùng (hay còn gọi là Thông nước) có tên khoa học là Glyptostrobus pensilic, là loài cây xuất hiện cách đây khoảng 10 triệu năm và được xem là hóa thạch sống của ngành hạt trần.
Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế do gỗ có mùi thơm, không bị cong vênh, mối mọt, có hoa vân, màu sắc rất đẹp được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình. Vì những lẽ đó, suốt một thời gian dài, loài cây này đã bị tàn phá rồi bị săn lùng đến cạn kiệt.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, thuỷ tùng trên thế giới chỉ còn ở tỉnh Đắk Lắk của Việt Nam, với 250 cây. Trong đó, thủy tùng tập trung nhiều nhất ở 2 quần thể tự nhiên Ea Ral (huyện Ea H’Leo) và Trấp K’sơr (huyện Krông Năng).
Quần thể tự nhiên Trấp K’sơr có diện tích trên 60ha nhưng chỉ có 21 cây thủy tùng. Các cây ở đây có tuổi đời từ 40 – 600 năm, cây bé nhất có đường kính khoảng 30cm, lớn nhất phải 3 – 4 người ôm. Vào năm 2012, Trạm quản lý bảo vệ rừng Trấp K’Sơr (thuộc Ban quản lý Khu bảo tốn loài – sinh cảnh Thông nước Đắk Lắk) đã được thành lập với biên chế 6 thành viên, nhiệm vụ chính là bảo vệ 21 cây thủy tùng còn lại.
Các cây thủy tùng tại đây hiện đã được đánh số thứ tự, bảng tên, khoanh vùng, cấm người dân vào rừng khai thác. Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh - Thông nước Đắk Lắk thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân ở gần khu bảo tồn thực hiện công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy, phòng chống phá rừng. Tuy nhiên, do lực lượng mỏng, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bảo tồn còn thiếu thốn, công tác bảo vệ loài cây quý này vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn.
Vào năm 2012, tỉnh Đắk Lắk đã có chủ trương xây dựng một con đập có chiều dài 300m tại khu sình lầy để giữ nước cho cây thủy tùng sinh trưởng, phát triển và nước tưới phục vụ sản xuất của bà con. Do thiết kế xây dựng đập có vấn đề trong khâu xả nước nên nước trong hồ luôn ở mức cao, sình lầy nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của cây và gây khó khăn cho công tác tuần tra, bảo vệ.
Anh Trịnh Duy Hải - cán bộ Trạm quản lý bảo vệ rừng Trấp K’Sơr, chia sẻ: “Vào mùa mưa, mực nước tại khu sình lầy cao hơn 1m, anh em trong trạm phải lội nước sình hơn 2 tiếng ban đêm mới đi được hết các cây. Nhiều hôm mưa to, nước lớn thì không thể vào sâu bên trong được. Lội sình lạnh lẽo, nhiều đĩa nhưng chúng tôi không sợ, chỉ sợ thủy tùng bị ảnh hưởng thôi”.
Ông Trần Xuân Phước (Giám đốc Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh - Thông nước Đắk Lắk), cho biết: “Cây Thông nước là loài cây có rễ khí sinh không bị ngập, phát sinh từ rễ bên, cao khoảng 30cm và mọc từ gốc ra xa đến 6 – 7m. Hiện tại, cả 2 quần thể tự nhiên Ea Ral và Trấp K’sơr đang được bảo vệ một cách nghiêm ngặt nhưng gần đây, thủy tùng ở quần thể Trấp K’Sơr bị ngập nước sâu nên nhiều cây này đang có hiện tượng vàng lá, rụng lá”.
Ngoài bảo vệ nghiêm ngặt 2 quần thể tự nhiên Ea Ral và Trấp K’Sơr, Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh - Thông nước Đắk Lắk hiện còn thuê các hộ dân chăm nuôi 3 cây thủy tùng nằm rải rác trong vườn của người dân. Kết quả ban đầu cho thấy, cả 3 cây này đều sinh trưởng và phát triển khá tốt.
Ông Vũ Hồng Việt (một người dân được giao bảo vệ 2 cây thủy tùng), cho biết: “Cả 2 cây thủy tùng tôi chăm nuôi đang phát triển rất tốt trong môi trường nước vừa đủ, có tầng thảm mục dày và tích tụ. Hiện tại, 2 cây mẹ này đã sinh sản rất nhiều cây con bằng hình thức tái sinh chồi trên rễ thở, chất lượng các cây con khá tốt, có bộ rễ khỏe”.
Theo ông Trần Xuân Phước, để bảo tồn loài thực vật quý hiếm này, Ban quản lý phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên tìm nhiều phương pháp nhân giống. Trong đó, phương pháp bước đầu cho hiệu quả cao là “ghép” nhánh của thủy tùng vào gốc cây bụt mọc (cùng họ với thủy tùng). “Năm 2012, chúng tôi đưa gần 300 cây thủy tùng ghép trồng thử nghiệm tại 2 quần thể Ea Ral và Trấp K’Sơr. Tuy nhiên, kết quả đến nay không được như mong đợi, các cây này phát triển rất chậm, nhiều cây héo dần và đã chết” - ông Phước cho hay.
Được biết, tỉnh Đắk Lắk đã có kế hoạch đầu tư 75,8 tỷ đồng từ nay đến năm 2020 để quy hoạch bảo tồn, phát triển bền vừng khu bảo tồn loài và sinh cảnh cây thủy tùng tại quần thể Ea Ral, Trấp K’Sơr và Cư Né (huyện Krông Búk). Theo đó, quy mô quy hoạch khu bảo tồn này có tổng diện tích tự nhiên trên 128,5 ha, bao gồm các phân khu chức năng như: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, vùng đệm, đập nước, đầu tư nhân giống…
Với nguồn vốn trên, tỉnh sẽ hướng đến mục tiêu thực hiện quản lý, bảo tồn có hiệu quả, phát triển được các giải pháp bảo tồn cá thể, quần thể cây thuỷ tùng; thiết lập hệ thống quản lý, bảo vệ, giám sát, bảo tồn hướng đến bền vững phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen quý, hiếm; nâng cao năng lực và giáo dục môi trường. (Tài Nguyên & Môi Trường 3/12) đầu trang(
Cây gỗ sưa giá hơn 11 tỷ đồng được vận chuyển lên biên giới, sau khi khách bên Trung Quốc nhận được “hàng” đã thanh toán tiền cho người bán. Vậy nhưng các cơ quan tố tụng tỉnh Hà Nam cho rằng, vẫn chưa có đủ căn cứ để xử lý hình sự các đối tượng liên quan.
Theo trình bày của ông Nguyễn Đình Thi (trú tại xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, Hà Nam), ngày 26/9/2011, ông mua một cây sưa (huê) của một người tên là Nguyễn Văn Hiệp (SN 1976, ở số 8/55 đường Phùng Khắc Khoan, TP Thanh Hóa). Ngày 4/10/2011, ông Thi bán cây sưa trên cho ông Wang De Bao (quốc tịch Trung Quốc) với giá 11,2 tỷ đồng.
Sau đó, ông Bao đã mua thêm 4 cây gỗ hương để vận chuyển cùng cây gỗ sưa sang Trung Quốc. Tại giấy biên nhận bán cây giữa ông Thi và ông Bao ghi rõ: “Ông Thi có trách nhiệm làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc cho ông Bao. Sau khi nhập khẩu sang Trung Quốc, ông Bao phải thanh toán cho ông Thi nốt số tiền còn lại (9,1 tỷ đồng)”.
Sau khi ký hợp đồng, ông Thi đã thuê bà Phùng Thị Kim Oanh (tên gọi khác là Ngô Ngọc Diệp, sinh năm 1977, ở thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn) vận chuyển số “hàng” trên từ Hà Nam sang Trung Quốc với giá 500 triệu đồng. Khi bà Oanh vận chuyển cây sưa cùng 4 cây gỗ hương đến Cửa khẩu Quốc tế Tân Thanh (huyện Văn Lãng, Lạng Sơn) thì không được thông quan.
Lúc này, ông Bao (đang ở Hà Nam) gọi điện cho người nhà từ Trung Quốc qua nhận 5 cây gỗ rồi đưa sang Trung Quốc qua cửa khẩu Na Hình (huyện Văn Lãng, Lạng Sơn). Khi cây về đến Trung Quốc, người nhà thông báo đã nhận đủ hàng, ông Bao đã chuyển trả nốt số tiền (9,1 tỷ đồng) cho vợ chồng ông Thi thông qua Ngân hàng NN&PTNT huyện Duy Tiên (Hà Nam). Khoảng 3 ngày sau, gia đình ông Bao cho rằng cây gỗ sưa đã mua là giả nên đã chuyển ngược lại Việt Nam.
Ngày 18/10/2011, ông Bao đã làm đơn tố cáo gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam. Ngày 10/1/2012, Công an tỉnh Hà Nam ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 17/1/2012, CQĐT ra Quyết định số 01 thu giữ số tiền 9,18 tỷ đồng và tiền lãi phát sinh tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Duy Tiên.
Điều đáng nói, trong khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra thì ngày 23/3/2012 toàn bộ số tiền trên đã được Công an tỉnh Hà Nam trả lại cho ông Bao. Gần một năm sau (ngày 10/1/2013), Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 02/PC45 tạm đình chỉ vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Giải thích lý do đình chỉ, Công an tỉnh Hà Nam cho rằng: “Do Nguyễn Văn Hiệp là người trực tiếp liên quan đến vụ án đang bỏ trốn nên chưa có khả năng làm rõ”.
Được biết, tại Công văn số 608/VKS-P1 ngày 3/5/2013 của VKSND tỉnh Hà Nam ghi rõ: “Ngày 7/10/2011, ông Bao nhận được thông tin gia đình đã nhận được số cây gỗ mua của ông Thi nên đã đến Ngân hàng NN&PTNT huyện Duy Tiên làm thủ tục trả 9,1 tỷ đồng cho bà Huệ (vợ ông Thi).
Tài liệu điều tra cũng xác định ngày 4/10/2011, ông Thi và chị Phùng Thị Kim Oanh cùng với anh Nguyễn Minh Đạo (SN 1980, trú tại thôn Yên Mỹ, xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên) là người trực tiếp vận chuyển 5 cây gỗ từ thôn Điện Biên (xã Chuyên Ngoại) đến cửa khẩu Quốc tế Tân Thanh (huyện Văn Lãng) với mục đích đưa sang Trung Quốc. Do không thực hiện được thủ tục xuất khẩu nên ngày 7/10/2011, chị Oanh đã giao 5 cây gỗ cho đối tượng (chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ) ở gần cửa khẩu Na Hình…”.
Trong quá trình làm việc với CQĐT, ông Thi có nộp bản chính Phiếu thu tiền ngày 7/10/2011 của Công ty TNHH MTV Cứu hộ Việt Hoàn (đơn vị đã cẩu 5 cây từ xe 89K-1756 sang xe Trung Quốc có biển kiểm soát 5023 tại bãi Na Hình - Lạng Sơn). Điều này cũng được ông Đinh Mạnh Tuyển (Kiểm sát viên, VKSND tỉnh Hà Nam) xác nhận có Phiếu thu trong hồ sơ vụ án.
Theo các chuyên gia am hiểu pháp luật, từ những căn cứ trên có thể nhận định đây là một đường dây vận chuyển gỗ trái phép qua biên giới, trong đó ông Wang De Bao là người đứng đầu. Vậy nhưng đến nay không có đối tượng nào bị Công an tỉnh Hà Nam khởi tố hình sự hoặc xử phạt hành chính về hành vi “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới được quy định tại Điều 154 (Bộ luật hình sự), là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Tuy nhiên, khi làm việc với phóng viên, ông Phan Anh Minh - Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Hà Nam cho rằng, những người tham gia chỉ vận chuyển đến Lạng Sơn thì họ không tham gia nữa. Với những lời khai trên chưa đủ căn cứ để khẳng định chắc chắn có việc vận chuyển gỗ sưa qua biên giới nên Viện Kiểm sát chưa đặt vấn đề khởi tố, xử lý những đối tượng vận chuyển trái phép gỗ qua biên giới.
“Việc vận chuyển hàng trái phép có trị giá 11,2 tỷ đồng từ Việt Nam sang Trung Quốc rồi lại từ Trung Quốc về Việt Nam đã cấu thành tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” được quy định tại Điều 154 (Bộ luật hình sự). Đây là một trường hợp rất nghiêm trọng, phải khởi tố vụ án, để tiến hành điều tra, làm rõ”, luật sư Nguyễn Thu Anh (Đoàn Luật sư Hà Nội) nhận định. (Gia Đình & Xã Hội 3/12, tr14) đầu trang(
Từ trên cao nhìn xuống, thôn Lao Chải, xã Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) giống như một vườn nấm khổng lồ đội đất mọc lên giữa xung quanh là ngút ngàn màu xanh của rừng.
Già làng Ly Seo Chơ rít thêm điếu thuốc lào, phả khói đặc quánh lên hiên nhà bảo: Mỗi thôn của người Hà Nhì đều có 3 đến 4 rừng cấm bao bọc xung quanh do các vị thần cai quản. Từ ngày xưa, tổ tiên người Hà Nhì đã có lời thề với thần Gà Ma Do là không bao giờ phạm tới rừng thiêng và bầu ra người trông coi rừng, nay gọi là kiểm lâm viên…
Mỗi cây, mỗi con đều có linh hồn Trong các thôn, bản của người Hà Nhì ở Y Tý, Bát Xát, thì Lao Chải nghĩa là thôn già, thôn gốc, từ đó theo thời gian mới được chia tách ra thành nhiều thôn, bản khác. Trong đó, thôn Lao Chải 1 là thôn do những người Hà Nhì đầu tiên đến mảnh đất này sinh sống. Một sớm sương mù còn giăng kín, trưởng thôn Lao Chải 1 Chu Che Xá, cũng là kiểm lâm viên của thôn đưa PV ngược theo con dốc tiến sâu vào khu rừng rậm phía trên thôn.
Rừng âm u quá, nhìn đâu cũng chỉ thấy những cây cổ thụ bám đầy rêu xanh và dây leo chằng chịt. bước trên lớp lá mục ẩm ướt dày đến cả gang tay, thi thoảng lại dẫm phải cành cây khô mục nát phát ra âm thanh nghe rờn rợn. Phu Che Xá ghé tai bảo đây là khu rừng cúng thần bản mệnh của thôn, rộng hơn 10ha, có từ rất lâu rồi, cũng không biết rừng này đã bao nhiêu tuổi.
Bình thường, chẳng ai dám vào rừng hái một cái lá hay bẻ một cành củi khô, vì thần rừng thiêng lắm. Chỉ có vào ngày con Rồng tháng Giêng hằng năm, khi thôn tổ chức lễ cúng thần rừng Gà Ma Do, thì mọi người mới vào rừng làm lễ cúng. Hai thầy cúng cũng là người cai quản rừng cấm, còn gọi là kiểm lâm viên được dân làng bầu ra với điều kiện phải là đàn ông, có đủ con trai và con gái, trong 3 năm gia đình không xảy ra chuyện buồn...
Người Hà Nhì tin rằng, mỗi loài cây, loài chim, loài thú trong rừng đều có linh hồn và có vị thần cai quản. Khi vào rừng, tất cả chỉ đi chân đất hoặc dép gỗ và không được nói thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Hà Nhì để khỏi kinh động đến thần linh. Khi lễ vật được dâng lên, 2 thầy cúng sẽ hành lễ, tạ ơn rừng thiêng, cầu xin thần rừng Gà Ma Do che chở, phù hộ cho dân bản luôn khỏe mạnh, có cuộc sống bình yên, mưa thuận gió hòa, nhà nhà no ấm…
Chiếc bàn thờ này được lập nên có lẽ đã hàng trăm năm, nên rêu phủ xanh rì. Phía dưới còn có một bàn thờ đá khác nhỏ hơn. Giữa khu rừng thâm u, ngước lên là dáng cổ thụ cao vút sương mù, linh cảm thấy có một sức mạnh vô hình nào đó đang ngự trị ở đây. Củi khô cũng không được lấy Trở lại câu chuyện với già làng Ly Seo Chơ, thôn Lao Chải 1, hiểu rõ hơn về luật tục giữ rừng của cộng đồng người Hà Nhì ở Y Tý.
Ban đầu, băn khoăn với câu hỏi: Tại sao những năm trước đây, trong khi nhiều khu rừng ở vùng cao Lào Cai bị tàn phá đến đau xót vì tập quán du canh du cư, phá rừng làm nương, khai thác gỗ để bán kiếm tiền… thì ở vùng cao Y Tý vẫn giữ được những cánh rừng nguyên sinh như vậy? Già làng Ly Seo Chơ vê vê điếu thuốc lào trong những ngón tay mốc meo, hấp háy đôi mắt mờ đục nhìn ra cánh rừng xa: Hây dà! Còn rừng thì còn sự sống mà! Trong rừng có thần linh cai quản. Cái cây to hay nhỏ, con chim, con sóc… đều là con của thần rừng, nhờ rừng mà sống, người Hà Nhì cũng vậy, thì sao lại đi phá rừng.
Ai tàn phá rừng, lấy của rừng phải trả nợ rừng, nếu không sẽ bị thần rừng trừng phạt. Rừng chết rồi, thần rừng nổi giận, không có thần linh bảo vệ, con cháu đời sau cũng không sống nổi đâu… Hỏi già làng, PV biết thêm, cũng như ở Lao Chải 1, ở các thôn khác của người Hà Nhì như: Lao Chải 2, Sín Chải, Chỏn Thèn, Mò Phú Chải,… ngoài rừng cúng Gà Ma Do ở đầu nguồn nước phía trên thôn, thì xung quanh đều có 3 rừng cấm khác.
Phía trái thôn là rừng thờ thần Thủ Ty (người có công lập làng), bên phải nơi cuối nguồn nước, gần ruộng là rừng thờ thần Mu Thu Do (vợ của thần Gà Ma Do, phù hộ cho mùa màng tốt tươi, con cháu đông đúc) và ngay cửa thôn là khu rừng vui chơi ca hát A Gờ La Do, còn gọi là rừng Công Viên....
Năm nào cũng vậy, tháng Giêng khi hoa đào nở đỏ sườn núi, người Hà Nhì ở Y Tý tổ chức lễ cúng thần rừng Gà Ma Do và thần Thủ Ty, tháng 3 âm lịch cúng thần rừng Mu Thu Do gắn liền với lễ rào rừng để bảo vệ cây non và lễ gieo mạ Gu Xè Xè, tháng 6 âm lịch tổ chức lễ hội Khu Zà Zà ở rừng Công Viên.
Theo luật tục, đối với rừng cấm, người Hà Nhì không được tự ý vào lấy củi, kể cả chỉ nhặt củi khô. Mỗi năm, thường là trước Tết Nguyên đán, trước khi cấy lúa và trước khi gặt lúa, được sự đồng ý của kiểm lâm viên, các thôn tổ chức lễ mở cửa rừng. Chỉ khi đó, người dân được vào khu rừng chung của thôn để lấy củi dự trữ, nhưng chỉ được nhặt củi khô, không được chặt cây tươi.
Ở thôn Hồng Ngài, nơi xa xôi nhất xã Y Tý, là điểm mút cuối cùng trên cánh cung biên giới Lào Cai, đồng bào Mông chỉ sống trong nhà trình tường đất, nhưng nhờ thảo quả mà hầu như nhà nào cũng có ti vi, xe máy, có két sắt đựng tiền… Còn bình thường, khi gia đình nào có việc như làm nhà, muốn vào rừng lấy gỗ, thì phải báo cáo và được kiểm lâm viên cùng trưởng thôn cho phép.
Ai vi phạm, sẽ phải làm tạ lỗi Thần rừng với lễ vật gồm 36kg thịt lợn, 20kg gạo nếp, 20 lít lượu trắng... Ai phát hiện ra kẻ phạm vào rừng thiêng và báo lại cho kiểm lâm viên, sẽ được thôn thưởng cho 50kg thóc thu của người vi phạm. Rừng giúp thoát nghèo Bây giờ, người Hà Nhì biết trồng thêm rừng để giảm nghèo. Y Tý hiện có khoảng 7.000ha rừng. Trong đó, có khoảng 3.000ha rừng phòng hộ, rừng SX và 4.000ha rừng nguyên sinh.
Rừng già Y Tý bạt ngàn cây sơn tra (còn gọi là cây táo mèo) mọc tự nhiên, có cây một người ôm không hết. Tháng 8 mùa sơn tra chín thơm ngát rừng, lũ trẻ chăn trâu hay hái về ăn, quả chín có vị chua chua chát chát, ngòn ngọt, ăn chán thì lại vứt đi. Mấy năm qua, quả sơn tra được thu mua để làm thuốc, mở ra triển vọng phát triển kinh tế cho người dân. Năm nay, đồng bào các dân tộc Y Tý vào rừng thu hái được hơn 30 tấn quả sơn tra. Năm 2012, bà con đã trồng mới 20 ha sơn tra. Năm nay, nhân dân lại tiếp tục đăng ký trồng thêm 50ha nữa ở thôn Sín Chải, Trung Chải....
Đặc biệt, tận dụng tán rừng già, người Hà Nhì, người Dao, người Mông ở Y Tý trồng cây thảo quả, mỗi năm thu về hàng chục tỷ đồng. Nhiều gia đình không chỉ thoát nghèo, mà còn trở thành triệu phú. Mùa thu hoạch thảo quả, vào nhà ông Phu Lò Dế (thôn Sín Chải 2), Ly Se Mờ (thôn Mò Phú Chải), Phu Mờ Truy (thôn Lao Chải 1)… thấy thảo quả chất đầy nhà. Thôn Lao Chải 1 có 53 hộ người Hà Nhì, mấy năm qua, mỗi năm đều có 5 - 6 hộ thoát nghèo. Hiện nay, cả thôn chỉ còn trên chục hộ nghèo.... (Nông Nghiệp Việt Nam 4/12) đầu trang(
Nhiều cánh rừng phòng hộ xung yếu, rất xung yếu thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Kiến Vàng quản lý ở huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau đang bị tàn phá nghiêm trọng. Người dân tố giác có sự tiếp tay của cán bộ quản lý rừng cho lâm tặc.
Ông Lê Văn Đ, ngụ ấp Đường Đào (xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển) bức xúc: “Vào khoảng tháng 8.2014 chúng tôi đã có đơn tố giác gửi Sở NNPTNT tỉnh Cà Mau về việc cán bộ Tiểu khu 120 (chốt Láng Cháo thuộc Ban QLRPH Kiến Vàng) bắt tay với lâm tặc chặt phá cây rừng. Sau đó, Sở này thành lập đoàn kiểm tra hiện trường và được chúng tôi dẫn đến tận những nơi có cây rừng bị chặt phá. Tại đây đã phát hiện hàng trăm m3 gỗ (cây đước có độ tuổi từ 15 - 20 năm) bị đốn hạ”.
Theo người dân, trước khi gửi đơn tố giác, bà con đã nhiều lần trình báo việc lâm tặc ngang nhiên vào rừng chặt phá cho ông Huỳnh Văn Xê – Trưởng ban QLRPH Kiến Vàng. Tuy nhiên, vị trưởng ban này lại ngó lơ trước thông tin người dân cung cấp. “Mỗi khi phát hiện cây rừng bị chặt phá, chúng tôi đều gọi điện thoại báo cho ông Xê hay ông Thực – Phó ban quản lý, nhưng các ông này không đếm xỉa tới. Họ bảo chúng tôi, nói chúng tôi ăn nói linh tinh” – bà Nguyễn Thị H, ngụ ấp Đường Đào bức xúc tố giác.
Để chứng minh cho việc mình tố cáo là đúng, hàng chục hộ dân đã hùn tiền mua máy ghi âm, máy quay, ghi lại hình ảnh cây rừng bị tàn phá. Hay ghi lại hình ảnh cây rừng được chở bằng ghe lớn chạy ngang qua các chốt bảo vệ rừng như chốn không người…
Theo ghi nhận của phóng viên, tại Tiểu khu 120 (cách chốt Láng Cháo không xa) có khá nhiều cây rừng bị chặt phá nghiêm trọng. Ông Đ quả quyết: “Những gốc cây này vừa bị chặt cách đây chưa lâu vì lõi cây vẫn còn màu vàng”. Còn tại những vạt rừng đối mặt với biển thì bị lâm tặc chặt phá vào sâu hàng trăm mét. Cả một đoạn dài hơn 1km, vào sâu từ 50 – 200m, cây rừng chỉ còn lại gốc, nhánh và đọt nằm ngổn ngang.
Ông Đ khẳng định: “Có lần, một cán bộ tên Pha (thuộc chốt Láng Cháo) kêu tôi cùng người thân vào rừng hạ cây xuống, rồi cắt mỗi cây khoảng 2- 3m để đó, sẽ được cho tiền. Tuy nhiên tôi không chịu làm vì việc này là phạm pháp. Sau đó ông Pha cấm cửa không cho tôi vào rừng khai thác hải sản nữa”. Cũng ông Đ phản ánh, tuy các cán bộ kiểm lâm ở đây có tổ chức truy bắt lâm tặc, nhưng không bắt được ai.
Khi phóng viên trao đổi với ông Huỳnh Văn Xê -Trưởng ban QLRPH Kiến Vàng thì nhận được câu trả lời: “Các cơ quan chức năng đang tiến hành thanh tra nên tôi không thể trả lời thông tin với báo chí”.
Liên quan đến tố giác của người dân, ông Trần Văn Thức - Phó Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau cho biết: “Đã chỉ đạo Thanh tra Sở kết hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành xác minh, làm rõ thông tin người dân tố giác. Nếu phát hiện sai phạm sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật”.
Còn ông Phạm Thế Tài – Chánh Thanh tra Sở NNPTNT Cà Mau cũng cho biết: “Chúng tôi đang thanh tra việc cây rừng bị chặt phá, đồng thời làm rõ nghi vấn cán bộ bảo vệ rừng tiếp tay cho lâm tặc. Trước mắt, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần phải chuyển sang cơ quan công an để điều tra làm rõ”.
Sau khi tiến hành xác minh theo chỉ đạo của UBND tỉnh Cà Mau vào ngày 26.11, Tổ thanh tra đã kiểm tra thực địa phát hiện hơn 2.000 cây đước (tương đương gần 100m3 gỗ) bị lâm tặc đốn hạ. Còn đợt kiểm tra ngày 18.11 phát hiện hơn 1.000 cây đước có độ tuổi hàng chục năm bị mất. (Nông Thôn Ngày Nay 4/12) đầu trang(
Gần đây, trong những vườn tràm xung quanh khu vực hồ đá (KP.Tân Lập, phường Đông Hòa, TX.Dĩ An, Bình Dương) thường xuất hiện những người cầm giàn ná thun lùng sục hết bụi cây này đến bụi cây khác, họ là những “xạ thủ” chuyên săn rắn.
Công việc săn bắt rắn này luôn tiềm ẩn nguy hiểm đến tính mạng của họ và cũng “góp phần” đưa loài rắn đến bờ vực diệt vong.
PV có mặt tại nhà anh Cường “rắn” vào một ngày chủ nhật để tham gia một buổi săn rắn. Tại căn nhà tạm được che bằng lá dừa nằm phía sau trường Đại học Quốc tế Đại học Quốc gia TP.HCM (KP.Tân Lập, P.Đông Hòa, TX.Dĩ An), nhìn PV, anh Cường ái ngại: “Chú mày đi gì sớm thế? Chú mày có sợ rắn không?”. PV quả quyết muốn theo anh một chuyến.
Anh Cường nói: “Khi nào trời có nắng thì chúng nó (rắn) mới lên lột da. Lúc này mình đi mới có. Chú mày ngồi chơi ở đây, anh sửa lại vũ khí cái đã”. “Vũ khí” của anh Cường chỉ là cái giàn ná thun đơn sơ nhưng đã có không biết bao nhiêu rắn đã “bỏ mạng” vì cái vũ khí này.
Đi với PV và anh Cường còn có anh Thiết, đang làm thợ mộc cho một công ty chế biến gỗ ở TX.Dĩ An. Anh Thiết là “chiến hữu” bắt rắn của anh Cường. Cứ mỗi sáng chủ nhật họ lại mang theo giàn ná thun để săn rắn. Anh Cường giải thích: Rắn lải (loài rắn ráo thường) rất nhanh nhẹn, chỉ cần đánh hơi có người là lập tức lao vào bụi rậm ngay. Vì vậy, tụi tôi mới nghĩ ra cách dùng ná thun để bắn.
Nhưng để bắn được rắn lải không phải chuyện dễ, phải “bách phát bách trúng”. Không những bắn trúng mà phải biết chọn vị trí trên thân con rắn để bắn. Nếu bắn trúng đầu thì con rắn sẽ chết, như vậy rắn sẽ không bán được vì thịt không tươi ngon, quán nhậu chỉ nhận mua rắn sống. Còn nếu bắn vào đuôi thì rắn vẫn có thể chạy được, dù có bắt được thì con rắn không còn “đẹp”.
Các quán nhậu thường chê những con rắn bị mất đuôi hoặc tróc vẩy. Tụi anh chỉ còn một chỗ “chí mạng” duy nhất là giữa sống lưng của con rắn, khi “điểm trúng huyệt” này thì con rắn đó coi như lên bàn nhậu!”. Anh cười xòa rồi giải thích thêm khi bắn trúng vào giữa sống lưng con rắn thì nó rất khó chạy trốn mà chỉ biết nằm yên chờ chết thôi.
Nhưng bắn trúng sống lưng là một chuyện, phải biết ước chừng sao cho lực của đạn đá bay ra từ giàn ná thun vừa đủ mạnh vì mạnh quá thì sẽ làm con rắn gãy sống lưng và tróc da hoặc nếu yếu quá thì không bắt được con rắn. “Đó là cả nghệ thuật mà tụi tôi hay nói vui là nghệ thuật bắn rắn”, anh Cường nói.
Địa điểm các thợ săn rắn thường hoạt động là ở khu vực các hồ đá (KP.Tân Lập, P.Đông Hòa, TX.Dĩ An), nơi có nhiều cây mọc hai bên bờ hồ. Anh Thiết giải thích: “Loài rắn lải có thói quen sống xung quanh các bờ hồ, kênh rạch… là địa điểm lý tưởng cho rắn săn mồi và nghỉ ngơi. Đặc biệt, mỗi khi trời mưa, do hang ẩm ướt nên chúng leo lên cây; đây là thời điểm tốt nhất cho “xạ thủ” ra tay”.
Anh Thiết vừa nói dứt câu, thì nghe anh Cường gọi: “Có một “em” nè! Xem chừng con này được lắm đó!”. PV nhanh chân bám theo họ tiếp cận một bụi cây được xác định là có rắn. Anh Cường kéo căng giàn ná thun nhắm một con rắn đang nằm vắt ngang cành cây. Anh Thiết nhẹ vòng ra sau bụi cây, đối diện với anh Cường để “đón” nếu con mồi tìm đường thoát.
Sau một tiếng “bậc” phát ra từ ná thun của anh Cường, con rắn rơi xuống gần nơi anh Thiết đứng. Mặt dù đã bị trúng đòn nhưng con rắn vẫn còn nhanh nhẹn bò đến bụi cây gần đó. Anh Thiết đuổi theo và nắm trúng đuôi con rắn nhấc bổng và xoay con rắn luôn mấy vòng. Choáng vì bị anh Thiết xoay như “chong chóng”, con rắn đơ ra và ngoan ngoãn nằm gọn trong túi vải.
Ngày hôm đó, hai anh Cường và Thiết đã bắt được 6 con rắn lải. Anh Cường nói: “Hôm nay không được hên cho lắm, chứ mấy hôm kia, tụi tôi kiếm được kha khá. Có hôm được 20 con. Chắc tại dạo này, người tham gia bắn nhiều quá nên rắn ngày càng ít đi!”.
Theo chân những “xạ thủ” nhiều ngày, được các anh kể nhiều lần cận kề “tử thần” khi đụng độ với những con rắn cực độc. Anh Cường cho biết: “Đến giờ ngẫm lại cũng thấy ông bà mình nói “sinh nghề, tử nghiệp” đúng thật! Nhưng số mình chưa tận, nhiều lúc tưởng chừng đã đối mặt với tử thần khi chạm trán với “rắn bà”, “rắn ông”, những lúc đó thì chỉ biết lạy thôi chứ không dám làm gì hết!
Dù có bắn giỏi đến nhường nào nhưng gặp phải rắn hổ mang thì chạy càng nhanh càng tốt. Nhưng vẫn có người “liều mạng” muốn bắt cho bằng được những con rắn này, vì chúng bán được nhiều tiền. Riêng mình thì không “có gan” như vậy!” Anh cười xòa.
Anh cho biết gặp rắn hổ mang thì hiếm nhưng gặp các loài rắn độc khác là chuyện như cơm bữa của dân săn rắn. Mới đây, anh còn gặp phải rắn cạp nia (một loài rắn cực độc) khi đang truy lùng một con rắn lải. Lúc tóm được con rắn lải thì anh giật mình nhận ra cách đó hai bước chân có một con rắn cạp nia đang nằm cuộn mình. Anh nhanh chân bỏ chạy thục mạng.
Anh Thiết chỉ vào vết sẹo vừa kéo da non trên mu bàn tay kể: Đây là vết sẹo bị rắn lải cắn cách đây mấy hôm. Anh nói chỉ sơ ý một tí mà con rắn táp ngay một phát đau điếng cả người. Mặc dù rắn lải không có nọc độc nhưng có hàm răng chắc khỏe và sắc nhọn. Khi bị rắn lải cắn, vết thương không ngừng chảy máu liên tục và đau nhức, vì vậy phải nhanh chóng cầm máu bằng lá thuốc.
Theo lời kể của anh Cường, ngày trước ở những cánh rừng tràm (KP.Tân Lập, P.Đông Hòa, TX.Dĩ An) rắn lải nhiều “như ếch nhái trên đồng”. Nhưng khi phát hiện đây là món ăn ngon, bổ dưỡng nên người ta đã đổ xô đi sắn bắt rắn lải.
Chính tập tính “lưỡng cư” của loài rắn này đã đưa chúng tới chỗ có nguy cơ diệt vong: ban đêm chúng thường bám trên những cành cây hướng ra mặt nước để ngủ, phòng khi có kẻ thù tấn công thì nhảy ngay xuống nước trốn. Những tay thợ săn ban đêm thường dùng đèn pin rọi thẳng vô mắt khiến cho rắn bị lóa, sau đó họ lấy cây tre dài có gắn móc sắt kéo chúng xuống hoặc dùng ná thun bắn. Gần đây thợ săn dùng phương thức ác hơn: dùng bình ăcquy tạo xung điện dưới nước, chỗ rắn lải ngủ. Khi nghe động, rắn phóng xuống nước, chưa kịp lặn đã “dính chưởng”, ngay đơ.
Trong tự nhiên, loài rắn rất thích ăn trùn, dế, sâu bọ. Một năm tuổi rắn lải có thể đạt trọng lượng tới gần 1kg, con trưởng thành có thể dài tới 2m. Bởi hương vị thịt rất thơm, ngọt và có tác dụng bồi bổ cơ thể nên có dạo các quán đặc sản ra giá tới 300.000 - 400.000 đồng/ kg nhưng vẫn không đủ cung ứng. Thợ săn mỗi đêm bắt được chừng 3 - 4 con, bỏ túi cả triệu đồng.
Theo Sách đỏ Việt Nam, rắn ráo thường không có nọc độc, sống trên cạn, leo cây và bơi lội tốt. Rắn sống phân bố hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước. Rắn ưa sống trong các bụi cây tre quanh làng, hay trong đồng ruộng, trong các bụi cây, bụi rậm gần nước, trong vườn cây gia đình. Nhiều trường hợp rắn còn đột nhập cả vào nhà dân, leo trên xà nhà để bắt chuột.
Rắn kiếm ăn chủ yếu vào ban ngày, ở miền Nam có thể cả ban ngày lẫn ban đêm. Con mồi chủ yếu là chuột, chim non, trứng chim, thạch sùng, thằn lằn bóng, ếch nhái. Hiện nay, quần thể rắn ráo thường đang bị suy giảm ít nhất 50% số lượng cá thể do nơi cư trú bị thu hẹp, môi trường ô nhiễm, quá trình mở rộng đô thị, đường sá, săn bắt tận diệt, buôn bán trái phép.
Để bảo tồn loài động vật hoang dã này, Nghị định Chính phủ 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, rắn ráo thường được xếp bổ sung vào nhóm IIB (động vật rừng), cần thực hiện triệt để việc cấm săn bắt, sử dụng, buôn bán và nên thành lập các trại nuôi tập thể, khuyến khích nuôi gia đình ở những làng có nghề bắt rắn truyền thống. (Người Lao Động 3/12) đầu trang(
Rùa hồ Gươm ngoi lên mặt nước là chuyện không hiếm. Song có lẽ đây là lần đầu tiên nhiều người được thấy cảnh rùa hồ Gươm bò lên bờ cũng như được ngắm nhìn cận cảnh "cụ rùa" như vậy.
Không biết do nước dơ hay vì "khó ở" mà rùa hồ Gươm đã bơi tới sát bờ, thậm chí còn đòi bò lên bờ. Sau một hồi cố gắng nhưng không thể lên được bờ, rùa hồ Gươm lại xuống ngâm nước, rồi lặn hẳn. (Một Thế Giới 3/12; Thanh Niên 4/12, tr9) đầu trang(
Một gia đình ở xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đang nuôi nhốt đàn hổ dữ tới 11 con đã trưởng thành, chỉ cách khu dân cư vài trăm mét.
Chủ trang trại hổ lớn nhất miền Bắc này là ông Nguyễn Mậu Chiến (SN 1970, người địa phương, hiện làm việc ở Hà Nội). Đàn hổ được ông Chiến đưa về nuôi nhốt trái phép từ năm 2006. Đến cuối năm 2012, ông Chiến được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cấp phép cho nuôi nhốt hổ.
Để có thể tiếp cận trại hổ này, phải nhờ cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Thọ Xuân dẫn đường. Trại hổ được xây dựng trên một cồn đất giữa cánh đồng và chỉ cách xóm 17, xã Xuân Tín khoảng 300 m. Trại rộng khoảng 1 ha, xung quanh được bao bọc bằng những bức tường, trên có thanh sắt, cao khoảng 5 m.
Mở 2 lần cửa khóa, dẫn PV vào phía trong, ông Nguyễn Văn Tư (anh rể và là người trông coi trang trại hổ cho ông Chiến) cảnh báo: “Chụp ảnh, quay phim thì đứng xa một chút vì một số con rất dữ”. Đúng như lời ông Tư, khi vừa vào phía trong trang trại, đánh hơi thấy có mùi lạ, những con hổ đang nằm trong khuôn viên bỗng đứng phắt dậy, gầm gừ. Vài con trừng mắt, nhe nanh chồm lên tấm lưới sắt.
Ông Tư cho biết vào năm 2006, ông Chiến lên xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì gặp một số người dân bắt được đàn hổ con từ bên Lào về nên mua lại. “Lúc ấy, chú Chiến mua về 15 hay 16 con gì đó. Cuối năm 2008, có 2 con bị bệnh chết, năm 2010 và 2012 thêm 3 con nữa chết nên hiện trang trại còn 11 con, nặng nhất hơn 2 tạ, nhỏ nhất khoảng 1,5 tạ” - ông Tư nói. Các con hổ chết đều được lực lượng chức năng niêm phong, tiêu hủy.
Theo ông Tư, thức ăn của đàn hổ chủ yếu là đầu gà công nghiệp được ông Chiến thu gom ở một số lò mổ trên địa bàn Hà Nội rồi vận chuyển về Thanh Hóa. Một tháng, đàn hổ này xơi hết hơn 1,5 tấn thức ăn.
Kể từ ngày có đàn hổ xuất hiện ở địa phương, người dân Xuân Tín ăn ngủ không yên. “Nhiều hôm trở trời hoặc đói, đàn hổ gầm lên dữ tợn giữa đêm khuya khiến chúng tôi giật nẩy cả người. Ngày trước, đàn hổ được nuôi ở giữa làng (xóm 27, xã Xuân Tín), không chỉ làm người dân lo lắng mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Giờ đàn hổ chuyển ra xa khu dân cư một chút nhưng chúng tôi vẫn thấy không yên tâm” - một người dân địa phương lo ngại.
Dù đã được chuyển ra giữa đồng nhưng xung quanh trang trại hổ vẫn có rất nhiều khu dân cư đông đúc. Điều này khiến chính quyền địa phương cũng như Hạt Kiểm lâm huyện Thọ Xuân bất an. “Khu vực nuôi nhốt hiện nay chỉ cách đê Cầu Chày khoảng 300 m. Nếu đê vỡ, nước tràn vào thì nguy cơ hổ thoát ra ngoài là rất lớn” - ông Trịnh Đình Đức, Chủ tịch UBND xã Xuân Tín, băn khoăn.
Ông Hà Duy Thủy, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Thọ Xuân, cho biết đàn hổ của gia đình ông Chiến đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cấp phép cho nuôi nhốt từ năm 2012, thời hạn 5 năm (từ 2012-2017). Kèm theo đó là yêu cầu gia đình không được giết hại, buôn bán, vận chuyển; bảo đảm an toàn cho người nuôi và người dân địa phương.
“Mỗi tháng, chúng tôi đều cử người đến kiểm tra số lượng hổ, công tác bảo đảm môi trường, an toàn chuồng trại. Vấn đề khó khăn nhất hiện nay là việc tráo đổi hổ vào trang trại rất khó kiểm soát, theo dõi do hạt ở cách xã khoảng 15 km” - ông Thủy nói. Cũng lo lắng về nguy cơ vỡ đê dẫn đến việc hổ thoát ra ngoài, ông Thủy cho biết: “Chúng tôi đã tính phương án dùng súng gây mê để xử lý khi gặp sự cố”.
Khi được hỏi ông Chiến nuôi hổ vì mục đích gì thì ông Tư bảo không biết. “Tôi chỉ có trách nhiệm trông coi đàn hổ, 1 năm lấy 40 triệu đồng tiền công, mọi hoạt động khác đều do chú Chiến gọi điện chỉ đạo” - ông Tư cho hay. Về việc này, ông Hà Duy Thủy cũng không nắm rõ. “Chúng tôi không biết anh Chiến nuôi hổ để làm gì. Còn việc tráo đổi hổ đưa đi nơi khác tiêu thụ, chúng tôi cũng có nghi ngờ nhưng chưa bắt được quả tang” - ông Thủy nói.
Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Thọ Xuân, nhiều cán bộ của hội bảo vệ động vật hoang dã, trung tâm cứu hộ động vật, vườn thú đã về thăm đàn hổ của gia đình ông Chiến và có ý định đưa chúng đi. Tuy nhiên, do giá cả đền bù chưa thống nhất nên gia chủ không chấp nhậnchuyển nhượng.
Năm 2007, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định xử phạt ông Nguyễn Mậu Chiến 30 triệu đồng vì nuôi nhốt 10 con hổ trái phép. Đến năm 2008, UBND tỉnh Thanh Hóa tiếp tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn Tư 30 triệu đồng vì nuôi 5 con hổ trái phép. Tuy nhiên, không hiểu sao đến năm 2012, đàn hổ này lại được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cấp phép cho nuôi nhốt. (Người Lao Động 4/12) đầu trang(
Theo nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát huyện Văn Chấn, vào đầu tháng 5/2014, do muốn có nương trồng trọt, Vàng A Sùng sinh năm 1990, trú tại thôn Tập Lăng I, xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, đã đến khoanh 12, tiểu khu 457 thuộc thôn Giàng B, xã Suối Giàng phát rừng, làm rẫy.
Vàng A Sùng đã phát tổng cộng 19.000m2 rừng, trong đó, 11.000m2 rừng tự nhiên sản xuất tái sinh, 8.000 m2 rừng tự nhiên sản xuất nguyên sinh với tổng cộng 546 cây gỗ đường kính từ 10cm đến 40cm bằng 72,297m3 gỗ nhóm từ VI đến nhóm VIII và 2.030 cây gỗ có đường kính từ 3cm đến 10 cm, chiều cao từ 6m đến 12 m. Tổng giá trị tài sản thiệt hại trên 152 triệu đồng.
Chủ tịch UBND xã Suối Giàng là người đại diện hợp pháp cho chính quyền địa phương đã yêu cầu Vàng A Sùng khôi phục 19.000m2 diện tích rừng đã hủy hoại và bồi thường thiệt hại số cây gỗ đã bị chặt phá.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa đã đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do tập quán phát rừng, làm rẫy của người Mông. Gia đình bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, trồng lại 19.000m2 rừng, mật độ 2.000 cây/ha với tỷ lệ cây sống 95%, tổng chi phí trồng lại 13 triệu đồng.
Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án nghiêm trọng xâm phạm đến tài sản và chế độ quản lý rừng của Nhà nước, đến môi trường sinh thái và gây ra những hậu quả khác cho đời sống xã hội.
Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc Mông, nhận thức pháp luật còn hạn chế, không có đất canh tác nên phạm tội. Bản thân bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu qua; Đại diện UBND xã Suối Giàng không yêu bồi thường trách nhiệm dân sự.
Vì vậy, căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định tuyên phạt bị cáo Vàng A Sùng phạm tội hủy hoại rừng, theo Điểm c, Khoản 2, Điều 189, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục.
Qua vụ án này cho thấy, chính quyền địa phương và các ngành chức năng cần tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng; tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số để người dân không phát rừng, làm rẫy.
Đặc biệt, các địa phương cần có giải pháp phát triển kinh tế, giải quyết tận gốc vấn đề xóa đói, giảm nghèo, thiếu việc làm, thiếu đất sản xuất để người dân sống gần rừng tích cực giữ rừng và sống được nhờ rừng. (Báo Yên Bái 3/12) đầu trang(
3/12, thị xã Sơn Tây (Hà Nội) đã tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, với hình thức và quy mô cấp thị xã theo kịch bản xử lý các tình huống cháy khoảng 0,3ha rừng trồng tại khu đồi Cáo (xã Kim Sơn).
Buổi diễn tập có sự tham gia của khoảng 500 người, bao gồm: Cán bộ các cấp, đơn vị - lực lượng liên quan và đông đảo Nhân dân địa phương. Buổi diễn tập được thực hiện nghiêm túc, đáp ứng đúng mục đích, yêu cầu đề ra, đặc biệt là đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và phương tiện trong quá trình diễn tập. Thông qua đó, nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của cán bộ, người dân các địa phương trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND Thị xã Sơn Tây Đặng Vũ Nhật Thăng nhấn mạnh, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được Thị xã xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của cấp ủy, chính quyền từ thị xã đến các xã, phường.
Để tiếp tục thực hiện tốt công tác này trong thời gian tới, đề nghị UBND các xã, phường và các tổ chức liên quan tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng tới các cán bộ, Nhân dân; Tiếp tục rà soát các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cho phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị. Đồng thời, cần chủ động trong việc chuẩn bị lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị để thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”…
Thị xã Sơn Tây có tổng cộng 663,2ha rừng trồng, tập trung tại 9/15 xã, phường. Năm 2013 và 11 tháng năm 2014, trên địa bàn thị xã đã xảy ra 3 vụ cháy rừng gây thiệt hại gần 3ha rừng trồng, làm ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch và thu nhập của người trồng rừng.
Đợt diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014 là sự cụ thể hóa Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND và Chỉ thị số 07/CT-UBND của UBND TP Hà Nội liên quan tới công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn Thủ đô. Đây cũng là cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn Thị xã. (Kinh Tế & Đô Thị 4/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tình hình chặt phá rừng trái phép ở khu vực giáp ranh giữa huyện Tuy Phong với Bắc Bình và Đức Trọng (Lâm Đồng) xảy ra hết sức phức tạp, trở thành điểm nóng.
Các đối tượng đã lợi dụng địa hình núi cao hiểm trở, khó kiểm soát để lén lút khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép và sử dụng nhiều thủ đoạn đối phó với lực lượng bảo vệ rừng, như móc nối thông tin, cử người cảnh giới, nắm bắt kế hoạch tuần tra, truy quét của các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm.
Một nhóm thanh niên cư trú tại thôn La Bá, xã Phong Phú thường xuyên vận chuyển lâm sản trái phép vào ban đêm và sử dụng hung khí tự tạo để cản trở, chống đối khi bị phát hiện. Bọn lâm tặc tụ tập đông người kéo vào các khu vực rừng giáp ranh khai thác, vận chuyển các loại gỗ quý hiếm và sẵn sàng chống trả lực lượng thi hành công vụ để tẩu tán phương tiện, tang vật vi phạm.
Vụ thứ nhất xảy ra ngày 27/1/2014, tại Trạm bảo vệ rừng Phan Dũng của Ban quản lý RPH Tuy Phong, các đối tượng phá rừng bị bắt giữ đã xông vào đánh một số nhân viên bảo vệ rừng, gây thương tích nặng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố 6 bị can, nhưng mới bắt tạm giam được 4 bị can, còn 2 bị can đang ra quyết định truy nã.
Vụ thứ hai vào ngày 7/8/2014, Tổ Kiểm lâm cơ động của Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức tuần tra trên tuyến đường liên xã Phong Phú- Phan Dũng đã phát hiện, bắt giữ một số đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép, nhưng có 3 đối tượng manh động, liều lĩnh xông vào đánh cán bộ kiểm lâm, gây thương tích nặng.
Hiện Công an huyện đang tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ các đối tượng chống người thi hành công vụ để xử lý. Gần nhất là vào ngày 23/10/2014, Tổ công tác liên ngành huyện đã kiểm tra, truy quét, bắt giữ 4 xe máy độ chế vận chuyển trái phép các loại gỗ quý hiếm và đưa tang vật, phương tiện về tạm giữ tại Trạm bảo vệ rừng số 3 xã Phan Dũng, thuộc Ban quản lý RPH Tuy Phong để lập hồ sơ, xử lý.
Nhưng các đối tượng đã liều lĩnh xông vào Trạm bảo vệ rừng số 3 cướp lại phương tiện vi phạm để tẩu thoát, nên Hạt Kiểm lâm huyện đã có văn bản báo cáo các ngành chức năng chỉ đạo xử lý theo quy định pháp luật. Các đối tượng phá rừng còn ngang nhiên kéo đến đập phá tài sản của Trạm bảo vệ rừng Phong Phú, thuộc Ban quản lý RPH Lòng Sông - Đá Bạc. Sự việc đang được Công an huyện điều tra, xác minh, làm rõ các đối tượng vi phạm để đưa ra truy tố trước pháp luật.
Theo Hạt Kiểm lâm Tuy Phong, hiện lực lượng kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng, các xã, huyện ở vùng rừng giáp ranh đang tăng cường thực hiện quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng cũng như tăng cường kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng, chống người thi hành công vụ. (Báo Bình Thuận 3/12) đầu trang(
3.12, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hữu Đức (20 tuổi, trú thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định) số tiền 300 triệu đồng do hành vi vận chuyển trái pháp luật và làm chủ gần 4,9 m3 gỗ hộp xẻ chủng loại cà te.
Đồng thời, UBND tỉnh Bình Định còn buộc ông Đức nộp vào ngân sách nhà nước 180 triệu đồng (tương tương giá trị ô tô BKS 77C-01552 do ông Đức dùng để vận chuyển gỗ trái phép) và tịch thu toàn bộ số gỗ trên.
Trước đó, tối 11.10, trên QL19 đoạn qua xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, Bình Định, lực lượng Công an tỉnh Bình Định và Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn phát hiện, bắt quả tang ô tô BKS 77C-01552 do Nguyễn Hữu Đức điều khiển chở gần 4,9 m3 gỗ hộp xẻ chủng loại cà te.
Hạt kiểm lâm huyện Tây Sơn xác định Nguyễn Hữu Đức sở hữu và vận chuyển số gỗ này trái quy định Nhà nước. (Thanh Niên 4/12) đầu trang(
1-12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Trúc ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Trung Hải, tổ dân phố 16, thị trấn Đăk Mil, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, do vi phạm vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Theo đó, phạt ông Trần Trung Hải 100 triệu đồng vì đã điều khiển phương tiện xe ô tô tải (78K-6870) vận chuyển 4,047 m3 gỗ tròn và 1.218 kg cành, nhánh, gốc, rễ nhóm 1, chủng loại gỗ Hương, thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA (quy đổi thành 5,265 m3 gỗ tròn) có nguồn gốc trái phép. Đồng thời, tịch thu toàn bộ số gỗ nêu trên sung vào công quỹ Nhà nước. (Phuyen.gov.vn 1/12; Thanh Niên 4/12) đầu trang(
Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai vừa tổ chức Hội thi Tìm hiểu môi trường và đa dạng sinh học lần thứ IX năm 2014. Tham dự hội thi có 7 Câu lạc bộ Xanh đến từ các xã Mã Đà, Phú Lý huyện Vĩnh Cửu và xã Thanh Sơn huyện Định Quán.
Tại hội thi, các thí sinh đã tranh tài với 2 nội dung chính đó là thi hùng biện và thi tiểu phẩm. Ngoài ra, các CLB cũng đã tham gia các trò chơi như: Kéo co, nấu cơm niêu, truyền tin (tin mật)...
Qua 2 năm hình thành và phát triển các CLB xanh, Thông qua các hoạt động của các CLB đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức cho các bạn học sinh, đoàn viên thanh niên, cộng đồng dân cư trên các địa bàn giáp ranh khu bảo tồn.
Đồng thời nâng cao vai trò của người dân trên các địa bàn vùng đệm trong việc tuyên truyền bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học của khu dự trữ sinh quyển thế giới, lá phổi xanh của miền Đông Nam bộ. (Đài PTTH Đồng Nai 2/12) đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: 11 tháng, huyện Na Rỳ đã phát hiện 102 vụ vi phạm quy định về quản lý bảo vệ rừng và là địa phương để xảy ra số vụ vi phạm quy định này lớn nhất tỉnh.
Trong số 102 vụ vi phạm quy định về quản lý vào bảo vệ rừng tại huyện Na Rỳ có 48 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 46 vụ cất giữ lâm sản trái phép, 7 vụ khai thác rừng trái phép và 1 vụ vi phạm về phòng chống cháy rừng.
Lực lượng Kiểm lâm huyện Na Rỳ đã tiến hành lập biên bản xử lý 88 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu gần 90m3 gỗ quy tròn các loại, trong đó gỗ quý hiếm là hơn 40m3, 23 xe máy, 14 cưa xăng thu nộp ngân sách nhà nước gần 1,5 tỷ đồng.
Nguyên nhân huyện Na Rỳ xảy ra số vụ vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ rừng lớn được xác định là do địa phương có địa bàn rộng, hiểm trở, một số khu vực rừng giáp ranh với một số tỉnh bạn còn nhiều loại gỗ quý hiếm nên rất khó khăn cho việc quản lý. (Đài PTTH Bắc Kạn 3/12) đầu trang(
2/12, UBND xã Minh Thanh (Nguyên Bình) phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2014.
Cuộc diễn tập chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, Ban chỉ huy PCCCR tổ chức hội nghị bất thường nhận định, đánh giá tình hình, xác định nội dung, biện pháp ứng phó cháy rừng; tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng đảm bảo cho các lực lượng PCCCR
Giai đoạn 2, diễn tập thực binh. Với tình huống giả định tại khu vực Khuổi Lếc, xóm Nà Luộc, xã Minh Thanh xảy ra cháy rừng, người dân trong xóm không dập tắt đám cháy thành công và báo cáo lên xã.
Chủ tịch UBND xã huy động 100 người và phương tiện tham gia chữa cháy, gồm: Lực lượng dân quân cơ động, dân quân tự vệ, Ban Công an xã, Trạm Y tế xã, cán bộ UBND xã, Hạt Kiểm lâm huyện, nhân dân của 8/8 xóm. Sau một thời gian triển khai quyết liệt, khẩn trương đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn.
Kết thúc diễn tập, Ban chỉ huy PCCCR của huyện đánh giá cuộc diễn tập đạt kết quả tốt. (Báo Cao Bằng 3/12) đầu trang(
7/12, câu lạc bộ chạy tình nguyện Hanoi Red River Runners và Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam sẽ đồng tổ chức giải "Chạy vì động vật hoang dã của Việt Nam" 2014 dành cho cộng đồng người Việt Nam và nước ngoài tại Hà Nội.
Cuộc thi chạy có nhiều cự li 21km, l0km, 5km và cả cự li chạy ngắn dành cho trẻ em. Đây là cơ hội để những người có cùng mong muốn bảo vệ ĐVHD thuộc nhiều quốc tịch khác nhau cùng chia sẻ, giao lưu, đồng thời góp sức vào công tác nâng cao nhận thức cho cộng đồng, giảm cầu tiêu thụ ĐVHD và bảo vệ các loài ĐVHD của Việt Nam. (Khoa Học & Đời Sống 3/12, tr2) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng chức năng của tỉnh đã phát hiện, xử lý 316 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, có 11 vụ phá rừng trái phép; 23 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác; 186 vụ vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 72 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác; 14 vụ vi phạm quy định về phòng, chống cháy rừng; 10 vụ vi phạm quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật, phương tiện bị tịch thu trên 2,4 tỷ đồng.
Cũng trong 11 tháng 2014, toàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy rừng làm thiệt hại 40,645ha rừng các loại. Trong số các vụ cháy xảy ra, cơ quan chức năng mới truy tìm được 2 vụ có đương sự. (Dân Tộc & Phát Triển 3/12, tr5) đầu trang(
Theo thông tin từ Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, đến nay, Hội đã vinh danh được hơn 700 cây, được cộng đồng bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Đã có 60 loài cây ở 43 tỉnh và thành phố trong cả nước được cộng đồng tôn vinh là Cây Di sản Việt Nam, được bảo vệ nghiêm ngặt, được khai thác phục vụ du lịch.
Cây cao tuổi nhất trên 2.000 tuổi, cây cao nhất trên 70 mét, có cây nằm sát biên giới quốc gia, có nhiều cây nằm ngoài đảo, quần đảo. Mới đây nhất, ngàỵ 25/11, VACNE đã công bố quyết định và trao bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam cho cây gỗ nghiến 1000 năm tuổi tại xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Việc công nhận Cây di sản Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn nguồn gen quý hiếm của loài đặc hữu này, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/12, tr6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Mới đây, tại Đà Nẵng đã diễn ra cuộc họp song phương giữa Việt Nam Và Campuchia về hợp tác lâm nghiệp.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trường Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam và ông Chea Sam Ang, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Campuchia đồng chủ trì cuộc họp.
Hai bên đã cùng nhau thảo luận và thống nhất các vấn đề liên quan đến tình hình thực hiện Bản thỏa thuận hợp tác về lâm nghiệp (MoU) trong thời gian qua. Đồng thời cập nhật và chia sẻ những thông tin liên quan đến các chính sách, chương trình phát triển lâm nghiệp, bảo vệ rừng, kiểm soát lửa rừng và tăng cường thực thi luật pháp liên quan đến bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã.
Hai bên cũng đã thảo luận và xây dựng các hoạt động cụ thể, trong đó tập trung vào các lĩnh vực: Chia sẻ thông tin, đào tạo và nâng cao năng lực, hợp tác về thực thi các sáng kiến và bảo tồn đa dạng sinh học xuyên biên giới giữa hai quốc gia. (Thời Báo Tài Chính VN 3/12, tr10) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 20/11 diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 210 nghìn ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 18,6 ngàn ha, giảm 18% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 191,3 ngàn ha, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 438,6 ngàn ha, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 5.342 nghìn m3, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, đến nay, các tỉnh miền Bắc đã kết thúc vụ trồng rừng. Tính đến ngày 20/11, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 155,4 ngàn ha rừng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bắc Trung Bộ là vùng có tiến độ trồng rừng nhanh nhất, đạt 41,9 ngàn ha tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước; trong khi đó Trung du và miền núi phía Bắc đạt 96,5 ngàn ha (giảm 6,7%); Đồng bằng sông Hồng đạt 17 ngàn ha (giảm 8,7%). Những tỉnh có diện tích trồng rừng đạt khá và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa.
Còn tại các tỉnh miền Nam, đến ngày 20/11 các địa phương trồng được 43,8 ngàn ha, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Tây Nguyên trồng đạt 13,3 ngàn ha (tăng 17,7%), Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trồng đạt 25,1 ngàn ha, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước, Đông Nam Bộ đạt 2,6 ngàn ha (giảm 29,8%) và Đồng bằng sông Cửu Long đạt 2,7 ngàn ha (giảm 30%). Một số địa phương có diện tích trồng rừng khá là Bình Định, Bình Thuận, Đắk Lắk.
Bên cạnh việc trồng rừng mới tập trung, các địa phương tiếp tục chăm sóc cây giống và chăm sóc rừng đã trồng. (Đảng Cộng Sản VN 2/12) đầu trang(
Rừng được cấp chứng chỉ bền vững (FSC) không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mang lại nguồn thu nhập ổn định cho doanh nghiệp, nông dân. Hiện, Quảng Trị đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người trồng rừng mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ bền vững.
Từ năm 2007, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị đã tiến hành hỗ trợ xây dựng chứng chỉ FSC cho nhóm hộ gia đình trồng rừng tại các xã Trung Sơn, huyện Gio Linh và xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh. Đến năm 2010, 316ha rừng của 118 hộ dân đã được cấp chứng chỉ. Trên cơ sở đó, Chi cục tiếp tục tuyên truyền, hỗ trợ người dân trong việc quản lý rừng bền vững và hiện nay ở 3 huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Triệu Phong đã có 323 hộ tham gia với tổng diện tích rừng trồng được cấp FSC hơn 860ha.
Ngoài ra, Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Bến Hải đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng vào năm 2011 với gần 9.500ha, Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Triệu Hải hơn 5.200ha. Ông Lê Biên Hòa, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh chia sẻ, lợi ích thiết thực nhất khi được cấp chứng chỉ về quản lý rừng bền vững là giá bán cao hơn nhiều so với trước đây. Cụ thể, mới đây gia đình ông đã thu hoạch 10ha, thu hơn 2,1 tỷ đồng, gấp 2 lần trồng rừng truyền thống, trong lúc đó chi phí ban đầu để trồng mỗi hécta rừng chỉ hết 15 triệu đồng.
Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị Hoàng Đức Doanh khẳng định, chứng chỉ rừng chính là sự xác nhận bằng văn bản về việc một đơn vị quản lý rừng có các sản phẩm lâm sản được sản xuất trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không ảnh hưởng đến các chức năng sinh thái của rừng, môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học. Như vậy, có thể khẳng định, chứng chỉ rừng thúc đẩy việc quản lý rừng một cách hợp lý về mặt môi trường, xã hội và kinh tế.
Để rừng được cấp chứng chỉ FSC, người dân phải liên kết thành nhóm, bầu ra ban quản lý để phụ trách công việc chung như lập và quản lý hồ sơ, điều hành... Các thành viên tham gia nhóm phải tự nguyện thực hiện các nguyên tắc như: đất trồng rừng phải có giấy chứng nhận QSDĐ, diện tích tối thiểu là 1ha, rừng được hình thành trên đất trống, kế hoạch trồng rừng phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Đặc biệt, trong quá trình trồng và chăm sóc không sử dụng phân bón, chất hóa học đã bị cấm, không được săn bắt, khai thác động, thực vật trái phép, không cho khai thác trắng vùng đệm dọc theo nguồn nước. Bên cạnh đó, chế độ nhân công và điều lệ an toàn lao động cũng được quy định chặt chẽ, nhất là không sử dụng lao động trẻ em...
Rừng đạt chuẩn FSC là mô hình rất phù hợp với chiến lược phát triển của ngành lâm nghiệp. Do đó, tỉnh chỉ đạo trong những năm tới phát triển lâm nghiệp phải dựa trên cơ sở quản lý, bảo vệ tốt tài nguyên rừng. Mục tiêu đề ra là đến năm 2020, phấn đấu có hơn 42.000ha rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC, trong đó diện tích rừng hộ gia đình chiếm 50%.
Giám đốc Sở NN và PTNT Nguyễn Văn Bài cho biết thêm, Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên hơn 473.000ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp, kể cả diện tích có rừng chiếm gần 300.000ha. Chính vì thế, tỉnh chủ trương chọn lâm nghiệp làm khâu đột phát trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh mà điểm nhấn là chú trọng phát triển rừng FSC.
Tuy nhiên, từ thực tế triển khai để nhân rộng mô hình này cần phải giải quyết một số vấn đề, trong đó đáng chú ý là trồng rừng FSC đòi hỏi có chu kỳ từ 9 - 10 năm, trong khi đó trồng rừng truyền thống bán gỗ dăm chu kỳ 5 - 6 năm. Bên cạnh đó, người trồng rừng đa số đang khó khăn về kinh tế, thu nhập thấp lại khó tiếp cận các ngân hàng thương mại để vay vốn nên đã có tình trạng ban đầu hăng hái tham gia vào nhóm chứng chỉ rừng nhưng khi kinh tế khó khăn họ xin rút lui để khai thác rừng, giải quyết nhu cầu bức thiết của gia đình.
Trước những khó khăn của người trồng rừng, UBND tỉnh đề nghị Nhà nước sớm ban hành Bộ tiêu chí quản lý rừng bền vững và xây dựng đề án cấp chứng chỉ rừng của Việt Nam; hoàn thiện các chính sách khuyến khích người dân trong quá trình trồng, chăm sóc cũng như khai thác, có chính sách phát triển công nghiệp chế biến gỗ từ rừng trồng…; hỗ trợ tài chính, bảo hiểm rủi ro đối với loại hình kinh doanh này để người dân yên tâm phát triển rừng bền vững. (Đại Biểu Nhân Dân 4/12, tr7) đầu trang(
Vụ án được hai cấp Tòa án xét xử (Bản án số 29/2013/HSST ngày 6/6/2013 của TAND tỉnh Đắk Lắk và Bản án số 25/2013/HSPT ngày 1/11/2013 của TAND Tối cao. Tuy nhiên, các quyết định của Tòa án thể hiện nhiều sai phạm và quy buộc oan sai…
Ngày 20/11/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 985/TTg giao Bộ NN&PTNT mua và vận chuyển gỗ tròn tự nhiên, để cung ứng khắc phục cơn bão số 5; có văn bản chỉ đạo Bộ NN&PTNT hằng năm phải dành một phần gỗ tròn, khai thác từ rừng tự nhiên, giao cho các đơn vị có đủ năng lực, thực hiện việc khai thác, thu mua, dự trữ để cung ứng cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung đóng tàu, thuyền đánh bắt hải sản xa bờ và phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt.
Từ năm 1998 đến năm 2006, Công ty Công nghiệp rừng Tây Nguyên (Công ty) là doanh nghiệp nhà nước, có trụ sở tại số 9 đường Nguyễn Thị Định (nay là số 11 đường Võ Văn Kiệt), phường Khánh Xuân, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, được Bộ NN&PTNT giao thực hiện nhiệm vụ này.
Trên cơ sở được Thủ tướng Chính phủ đồng ý, Văn phòng Chính phủ và Bộ NN&PTNT gửi văn bản cho UBND các tỉnh Tây Nguyên chỉ đạo khai thác gỗ rừng tự nhiên, bán cho Công ty theo giá chỉ định (giá sàn, không qua đấu thầu) đồng thời cấp chỉ tiêu mua gỗ cho Công ty.
Hằng năm, ông Võ Hồng Huỳnh là Giám đốc, Chủ tịch HĐQT Công ty cùng cán bộ, nhân viên không thực hiện việc mua gỗ chỉ tiêu, để cung ứng theo hai chương trình của Chính phủ, mà bán quyền mua gỗ chỉ tiêu cho các tư thương để lấy tiền, sau đó, hợp thức hóa chứng từ, bằng cách lập khống hợp đồng. Từ năm 1998 đến năm 2006, sau khi nộp thuế giá trị gia tăng, Công ty thu được 12.530.499.047 đồng tiền bán quyền mua gỗ chỉ tiêu. TAND tỉnh Đắk Lắk tạm đình chỉ vụ án đối với Võ Hồng Huỳnh vì bị bệnh tâm thần theo Quyết định số 01/2013/HSST-QĐ ngày 26/4/2013.
Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2013/HSST ngày 6/6/2013 của TAND tỉnh Đắk Lắk nhận định: Số tiền hơn 12 tỉ đồng trên do Võ Hồng Huỳnh và đồng bọn phạm tội mà có, nhưng đã được sử dụng cho hoạt động sản xuất chung của Công ty từ năm 1998 đến năm 2007, Cơ quan Điều tra không thể thu hồi được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần kiến nghị với Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam xử lí theo quy định của pháp luật; tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thị Lệ Quỳnh, Trần Quốc Trí, Phạm Trọng Thi, Phạm Thị Hồng Liên, Đào Thị Mai, Hồ Thị Thanh Hà, Bùi Văn Tài, Mai Trung Tâm, Nguyễn Quang Vinh và Nguyễn Minh Đông, phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”; các bị cáo Lê Bá, Phạm Trọng Minh, Trần Đức Sinh và Hà Xuân Hạnh, phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự bất cứ hành vi phạm tội nào cũng phải được truy tố ra Tòa án bằng một bản cáo trạng do Viện KSND lập theo quy định Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại hồ sơ vụ án này có 4 bản cáo trạng: Số 04/VKSTC-V1B ngày 26/5/2010; số 04/VKSTC-V1B ngày 21/3/2011; số 10/VKSTC-V1B ngày 25/11/2011 và số 01/ VKSTC-V1B ngày 21/12/2012 (thay thế cáo trạng số 04/VKSTC-V1B ngày 26/5/2010 và số 10/VKSTC-V1B ngày 25/10/2011)”. Như vậy, chỉ với một tội danh mà các bị cáo đã bị truy tố bằng 2 cáo trạng là vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Cơ quan Điều tra căn cứ “Biên bản xác minh” ngày 9/7/2009 về lời khai của các bị can để kết luận “Công ty không thực hiện việc khai thác gỗ tròn…”. Trong khi, tại hồ sơ kế toán của Công ty có đầy đủ phiếu chi tiền (có kí nhận) trả công khai thác và thuê khai thác. Như vậy, “Biên bản xác minh” không thể coi là chứng cứ vì không phù hợp thực tế khách quan. Đây là minh chứng rõ ràng Cơ quan Điều tra đã làm trái nguyên tắc suy đoán vô tội.
Ông Võ Hồng Huỳnh khai: “Tôi đã họp cán bộ chủ chốt của Công ty bàn bạc thống nhất chủ trương móc nối với tư thương để bán quyền mua chỉ tiêu gỗ thu chênh lệch”. Bà Vũ Thị Lệ Quỳnh khai: “Tôi chỉ là nhân viên, không được tham dự họp cán bộ chủ chốt nên không nghe phổ biến, không tham gia bàn bạc thảo luận hay thống nhất chủ trương này”.
Cơ quan CSĐT Bộ Công an Kết luận điều tra bổ sung số 05/C37(P7) ngày 28/4/2010: “Các bị can trong vụ án đều khai nhận đã thực hiện sự chỉ đạo của Võ Hồng Huỳnh…; bị can Võ Hồng Huỳnh là người tổ chức thực hiện tội phạm. Các bị can giúp sức tích cực nên không cần phải tiến hành đối chất”. Tuy nhiên, cơ quan tố tụng đã không giải quyết yêu cầu của bà Quỳnh được đối chất với ông Huỳnh và các cán bộ chủ chốt của Công ty, là trái quy định tại Điều 138. Đối chất, Bộ luật Hình sự năm 1999.
Điều 281 Bộ luật Hình sự quy định: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là tội phạm có cấu thành vật chất. Điều luật quy định phải “gây thiệt hại”. Vậy, Công ty đã gây thiệt hại cho ai? Con số thiệt hại là bao nhiêu? Theo Cơ quan Điều tra thì hơn 12 tỉ đồng là thiệt hại cho ngân sách các tỉnh Tây Nguyên; Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cho rằng 12 tỉ không phải là thiệt hại. Bản án hình sự sơ thẩm coi là 154.000m3 gỗ sử dụng không đúng mục đích. Như vậy, có sự khác nhau trong đánh giá thiệt hại nhưng các cơ quan tố tụng đã từ chối yêu cầu được giám định tài chính của tất cả các bị cáo cũng như của luật sư là vi phạm Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tại phiên xử sơ thẩm cũng như Bản án số 29/2013/HSST ngày 6/6/2013 của TAND tỉnh Đắk Lắk hoàn toàn không chỉ rõ ai là người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, không xác định được nguyên đơn dân sự và không có bất cứ yêu cầu nào của nguyên đơn dân sự. Do đó, việc kết luận của TAND tỉnh Đắk Lắk là không có cơ sở.
TAND tỉnh Đắk Lắk đã bỏ qua những chứng cứ của vụ kiện, như: Biên bản các cuộc họp giao ban cán bộ chủ chốt của Công ty suốt 10 năm hoàn toàn không có nội dung như lời khai của ông Võ Hồng Huỳnh.
Các quyết định bổ nhiệm và điều động công tác của bà Vũ Thị Lệ Quỳnh, ông Phạm Trọng Thi, ông Bùi Văn Tài, ông Nguyễn Quang Vinh đã xác định bà Vũ Thị Lệ Quỳnh, ông Phạm Trọng Thi không phải là cán bộ chủ chốt trong năm 1998, ông Bùi Văn Tài, ông Nguyễn Quang Vinh không phải là tư thương mà là nhân viên hợp đồng của công ty, các giấy ủy quyền xác định ông Nguyễn Minh Đông là người môi giới của các đơn vị mua gỗ. Các phiếu chuyển khoản tiền từ Công ty đến Kho bạc Nhà nước, đến các lâm trường. Các phiếu thu tiền trực tiếp của nhân viên lâm trường nhận tại Công ty…
Với các điều đã viện dẫn và phân tích trên, cho thấy Bản án số 29/HSST/2013 của TAND tỉnh Đắk Lắk đã phạm nhiều sai sót và không có căn cứ, do đó việc hủy bỏ bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Tố tụng Hình sự để điều tra và xét xử lại cho khách quan đúng người, đúng tội đang là vấn đề đặt ra. (Người Cao Tuổi 2/12, tr10) đầu trang(
Ngược dòng sông Mã từ thành phố Thanh Hoá về phía Tây gần 300 km là đến địa phận huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Sau một ngày lắc lư trên "con ngựa sắt" cùng các chiến sĩ biên phòng, cuối cùng cũng vượt "cổng trời", có mặt tại địa phận huyện Mường Lát. Trời bắt đầu chạng vạng tối…
Giữa không gian núi rừng bao la, ập vào mắt là màu xanh của rừng xoan, lát đang vươn mình lan nhanh, tỏa rộng lấn dần lên các vùng đất hoang... Giữa cánh rừng 147, đi đâu cũng được nghe bà con râm ran câu chuyện trồng rừng của đồng bào Mông ở đây.
Anh Phạm Trung Tuyến, ở Pom Bui, Khu 3, thị trấn Mường Lát cho biết: “Hàng năm, sau Tết cổ truyền là mùa đi rẫy, bà con trong bản đốt rừng để trồng lúa, ngô chứ có biết trồng cây xoan, lát đâu. Từ năm 2012, Nhà nước cho cây, rồi cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật trồng cây xoan, cây lát nên bà con mới biết trồng đấy chứ! Dân bản có ai nghĩ đến chuyện có một ngày những quả đồi, khu rừng bị “cạo trọc”, giờ thành khu rừng xanh, chờ ngày thu hoạch”.
Từ năm 2012, Ban Chỉ đạo phát triển KT - XH huyện Mường Lát triển khai Dự án trồng rừng 147, đến nay toàn huyện đã trồng được hơn 11.000 ha rừng xoan, lát. Trước cơ hội phát triển kinh tế rừng, Đảng ủy, chính quyền huyện Mường Lát đã vận động, tuyên truyền các hộ đồng bào Mông tham gia trồng rừng. Nhìn những cánh rừng mới trồng đang vươn lên ở các xã Tam Chung, Nhi Sơn, Trung Lý... mới thấy ở đâu làm tốt công tác tuyên truyền về lợi ích của rừng thì ở đó rừng lan nhanh, tỏa rộng. Rừng ở Mường Lát ngày nhiều thêm, đã cho thấy những chuyển biến trong nhận thức của bà con các dân tộc về lợi ích khi tham gia trồng rừng.
Ông Nguyễn Đức Quyền - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Phát triển KT-XH huyện Mường Lát cho biết cho biết: "Theo chủ trương của Chính phủ về việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất, Thanh Hóa đã xác định cơ cấu cây trồng của Mường Lát là xoan và lát. Ngay từ cuối năm 2011, tỉnh đã có chủ trương thành lập các đoàn công tác trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn cho người dân về kỹ thuật và chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất.
Đến nay, tại huyện Mường Lát đã triển khai và trồng được trên 11.000 ha rừng xoan, lát; đặc biệt cây xoan rất thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng tại đây và cho kết quả tốt. Với bài toán thoát nghèo nhờ xoan và lát, chỉ sau 3 - 4 năm nữa, sẽ cho thu hoạch, giúp không ít bà con Mường Lát thoát nghèo".
Mặc dù diện tích rừng trồng còn khiêm tốn, nhưng việc làm này đã mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì đây là kết quả của những năm đầu tiên đã có tính thuyết phục cao trong quá trình vận động bền bỉ, liên tục, thông qua đó nhân dân trong bản chuyển đổi nhận thức, tích cực tham gia đăng ký và trồng rừng trên đất nương rẫy trồng lúa, ngô, sắn của gia đình. Ngoài phát triển rừng, Ban Chỉ đạo phát triển KT - XH huyện Mường Lát còn triển khai xây dựng nhiều mô hình sản xuất lúa nước, trồng cỏ voi, chăn nuôi, phòng chống rét cho đàn gia súc... để tuyên truyền đến bà con các dân tộc tại địa phương.
Chủ tịch UBND huyện Mường Lát Cao Văn Cường cho biết: "Kế hoạch trong thời gian sắp tới của huyện là tiếp tục vận động bà con mở rộng diện tích trồng xoan, lát với mục tiêu là phủ xanh toàn bộ diện tích rừng trên huyện Mường Lát. Đây không những là việc làm có ý nghĩa về việc thoát nghèo mà còn là công tác bảo vệ môi trường, chống xói mòn và góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu".
Theo tính toán của các nhà hoạch định kinh tế, thì sau 6 -7 năm trồng xoan, lát sẽ cho thu hoạch cao hơn nhiều so với trồng ngô, lúa nương rẫy. Việc trồng xoan còn có thể kết hợp với chăn nuôi gia súc dưới tán rừng và trồng cỏ nuôi bò. Đây là một chủ trương đúng đắn, thích hợp với điều kiện tự nhiên tại một huyện vùng cao như Mường Lát.
Hiện nay diện tích chưa có rừng của huyện Mường Lát còn tương đối nhiều, với gần 24.000 ha. Hiện hữu rõ nhất là trên địa bàn huyện vẫn nhiều cánh rừng bị “cạo trọc”. Mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015, trên địa bàn huyện trồng mới trên 19.000 ha rừng sản xuất và những tàn dư của tục đốt nương, làm rãy của đồng bào các dân tộc những năm trước đây sẽ được thay bằng những cánh rừng xoan, lát có giá trị kinh tế cao.
Cùng với phát triển rừng, thì việc trồng cỏ, chăn nuôi bò bán chăn thả là hướng đi tích cực, chắc chắn sẽ khai thác được tiềm năng đất đai, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo nhanh, bền vững trên địa bàn huyện Mường Lát. (Thanhhoa.gov.vn 4/12) đầu trang(
Giai đoạn từ 2016-2020, tỉnh phấn đấu nâng giá trị gia tăng lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp lên 700 tỷ đồng, chiếm 10% tỷ trọng ngành nông nghiệp. Diện tích trồng rừng tập trung phấn đấu đạt 16 nghìn ha, trong đó có 14 nghìn ha rừng sản xuất, 2 nghìn ha rừng phòng hộ, đặc dụng.
Mục tiêu trên đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn mới có thể thành hiện thực, bởi từ năm 2011 đến nay kế hoạch trồng rừng luôn đạt rất thấp so với kế hoạch đề ra.
Tính đến thời điểm hiện tại, trong số các chỉ tiêu, Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, chỉ tiêu trồng rừng kinh tế và rừng phòng hộ kết quả đạt được rất thấp. Nhìn lại việc trồng rừng từ năm 2011 đến nay cho thấy, toàn tỉnh mới chỉ trồng được hơn 18,2 nghìn ha rừng kinh tế/55 nghìn ha kế hoạch, đạt 33% Nghị quyết. Đối với chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, cũng chỉ trồng được trên 3,6 nghìn ha/10 nghìn ha kế hoạch, đạt 36,5% Nghị quyết. Kết quả này kéo theo chỉ tiêu độ che phủ rừng đến năm 2015 chỉ được 55%, không đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết đưa ra 60%.
Đánh giá việc trồng, bảo vệ rừng, ngành chức năng cho rằng, công tác trồng rừng kinh tế, bảo vệ rừng đầu nguồn thời gian qua có sự chuyển biến tích cực, từng bước xã hội hóa nghề rừng, đem lại giá trị kinh tế và môi trường sinh thái. Giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm đạt hơn 400 tỷ đồng, chiếm trên 8% giá trị ngành Nông nghiệp. Hoạt động quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng được các cấp, ngành, lực lượng chức năng quan tâm, có nhiều giải pháp hữu hiệu, qua đó phát hiện, xử lý 1.465 vụ vi phạm, nộp ngân sách Nhà nước trên 9,7 tỷ đồng, tịch thu hơn 1.150m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại.
Các diện tích rừng tự nhiên được giao khoán, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ tăng từ 131,6 nghìn ha năm 2011 lên gần 270 nghìn ha năm 2014. Một số địa phương đã thành lập được tổ bảo vệ rừng do người dân bầu ra, lực lượng này thường xuyên tuần tra, canh gác, ngăn chặn hiệu quả các hành vi phá rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Hiện tại, việc trồng rừng đã từng bước tạo chuyển biến về nhận thức và hành động của người dân, rừng kinh tế chiếm trên 80% diện tích rừng trồng mới, chất lượng được cải thiện, năng suất bình quân 55 m3/ha/chu kỳ 7 năm. Việc trồng rừng kinh tế đã huy động nhiều tổ chức, cá nhân tham gia với nhiều hình thức, ngoài nguồn vốn của T.Ư, một số huyện còn trích ngân sách, vận động người dân trồng được trên 6,2 nghìn ha, có 16 doanh nghiệp trồng được gần 2 nghìn ha.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực đó, cũng phải thừa nhận một khó khăn hiện hữu - kết quả trồng rừng kinh tế, rừng phòng hộ đầu nguồn đạt rất thấp. Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên được các địa phương lý giải do khó khăn về nguồn vốn. Cụ thể, đối với chương trình trồng rừng kinh tế, đến nay nguồn vốn cấp mới đạt trên 104 tỷ đồng/1.281 tỷ đồng, bằng 8,2% tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2011-2015.
Trong đó, vốn ngân sách đầu tư phát triển của T.Ư trên 96 tỷ đồng, vốn địa phương trên 6 tỷ đồng, các nguồn vốn khác đạt hơn 2 tỷ đồng. Còn chương trình trồng rừng phòng hộ, cũng không khả quan hơn khi nguồn vốn cấp mới được trên 39,3 tỷ đồng/166,5 tỷ đồng, đạt gần 24% tổng nhu cầu. Trong đó, vốn ngân sách T.Ư trên 38,7 tỷ đồng, nguồn vốn khác trên 661 triệu đồng. Từ thực tế trên, đến hết năm 2015 diện tích rừng kinh tế cũng chỉ trồng được 19,6 nghìn ha, đạt 36%, còn rừng phòng hộ trồng được 5,8 nghìn ha, đạt trên 58,5% Nghị quyết.
Tại hội nghị sơ kết chương trình trồng rừng kinh tế, bảo vệ phát triển rừng đầu nguồn mới đây, đại diện ngành nông nghiệp khẳng định, bên cạnh kết quả đạt được, công tác xã hội hóa bảo vệ rừng thời gian qua chưa đem lại hiệu quả rõ nét, thiếu tính đồng bộ, còn để xảy ra điểm nóng về chặt phá rừng; chưa gắn kết việc phát triển vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ lâm sản, mối liên kết giữa người dân, doanh nghiệp chưa chặt chẽ, thiếu hiệu quả, nhiều doanh nghiệp xây dựng dự án trồng rừng nhưng không thực hiện; công tác tạo nguồn giống chất lượng cao phục vụ trồng rừng còn yếu, giống cây trồng chủ yếu được sản xuất từ các hộ dân với quy mô nhỏ, lẻ, chưa được đầu tư công nghệ mới.
Mặt khác, hiệu quả kinh tế từ rừng đạt thấp do chu kỳ kinh doanh dài, địa điểm trồng cách xa trung tâm, đường giao thông khó khăn, chịu nhiều rủi ro. Nguồn vốn hỗ trợ cho việc trồng mới, chăm sóc, bảo vệ rừng chủ yếu từ ngân sách T.Ư, do khó khăn về cân đối ngân sách nên trong 2 năm 2012-2013 không bố trí được kinh phí.
Trong khi đó, việc huy động các nguồn vốn khác gặp nhiều khó khăn, thực tế cho thấy ngân sách địa phương chỉ đáp ứng được 2%, doanh nghiệp đạt 1% tổng vốn trồng rừng. Bên cạnh đó, định mức hỗ trợ trồng rừng kinh tế hiện rất thấp, bình quân 3 triệu đồng/ha, chỉ đáp ứng được 10% chi phí, người dân không có vốn đầu tư bổ sung.
Mặc dù kết quả đạt được rất khiêm tốn, nhưng giai đoạn 2016-2020, tỉnh xây dựng mục tiêu nâng giá trị gia tăng sản xuất lâm nghiệp đạt 700 tỷ đồng, chiếm 10% giá trị ngành Nông nghiệp. Diện tích trồng rừng tập trung phấn đấu đạt 16 nghìn ha, trong đó có 14 nghìn ha rừng sản xuất, 2 nghìn ha rừng phòng hộ, đặc dụng.
Từ định hướng đó, tỉnh chủ trương tập trung mở rộng diện tích rừng tại các huyện vùng thấp, tận dụng các diện tích đất trống, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, cải tạo vườn đồi tạp, khuyến khích doanh nghiệp thuê đất, liên kết với người dân trồng rừng. Bên cạnh đó, tiến hành nghiên cứu xác định chủng loại giống cây lâm nghiệp cho năng suất cao, phù hợp điều kiện địa phương; nâng cấp các cơ sở sản xuất giống cây trồng theo hướng tập trung bằng công nghệ mới; xây dựng một số chính sách đặc thù như hỗ trợ trồng rừng sản xuất từ ngân sách địa phương, ngoài mức hỗ trợ trồng rừng của T.Ư, bổ sung nguồn ngân sách địa phương để người dân có kinh phí đầu tư trồng, chăm sóc rừng.
Đồng thời, huy động và lồng ghép các nguồn vốn thuộc chương trình, kế hoạch, dự án theo hướng giảm dần đầu tư Nhà nước, tăng cường các nguồn vốn xã hội hóa lâm nghiệp như dịch vụ môi trường rừng, vốn ODA, sự đóng góp của doanh nghiệp...
Những kết quả trồng rừng giai đoạn qua là bài học quan trọng, giúp ngành chức năng nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan. Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp cụ thể, phù hợp thực tế địa phương trong từng thời điểm, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, như vậy kế hoạch trồng rừng giai đoạn tới mới có thể thành hiện thực. (Báo Hà Giang 4/12) đầu trang(
Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nam vừa tổ chức lễ kỷ niệm 55 năm ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959-28/11/2014) và ngày thành lập Lâm trường Đại Huệ, nay là Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn. Đại diện Sở Nông nghiệp & phát triển nông Nghệ An đã về dự.
Tiền thân BQL rừng đặc dụng Nam Đàn là Lâm trường Đại Huệ, được thành lập ngày 28/11/1959. Năm 2006, được đổi tên thành BQL rừng phòng hộ Nam Đàn. Năm 2012, đổi thành BQL rừng đặc dụng Nam Đàn.
Cùng với với sự lớn mạnh của ngành Lâm nghiệp Việt Nam, trải qua 55 năm, dù ở thời kỳ nào, CB-CN-VC lâm trường Đại Huệ (nay là Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn) cũng luôn nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, tích cực trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc thông qua việc thực hiện các dự án, chương trình mục tiêu Quốc gia về bảo vệ và phát triển rừng.
Tính đến thời điểm này đơn vị đã trồng được 2.292 ha rừng, gần 86 ha cây ăn quả, 20 ha cây xanh. Bảo vệ và chăm sóc trên 50 nghìn lượt ha rừng. Đặc biệt từ năm 1999 đến nay đã tranh thủ các dự án hơn 15 tỷ đồng để thực hiện phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đồng thời tổ chức tốt việc giao khoán đất rừng theo Nghị định 135 của Chính Phủ v.v.., nhiều năm liền được Chính Phủ, Bộ NN&PTNT, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, UBND Tỉnh, Sở NN&PTNT tặng cờ thi đua, bằng khen và giấy khen.
Ghi nhận những đóng góp đó, tại lễ kỷ niệm, Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn đã được UBND tỉnh Nghệ An trao tặng bức trướng mang dòng chữ “BQL rừng đặc dụng Nam Đàn 55 xây dựng và phát triển”, 1 cá nhân được trao tặng bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, 2 cá nhân được Bộ NN&PTNT Việt Nam tặng bằng khen và 2 cá nhân được UBND tỉnh tặng bằng khen. (Namdan.nghean.gov.vn 2/12) đầu trang(
Thời gian qua, công tác giao đất, giao rừng ở miền núi luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền và các ngành trong tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. Qua đó đã phát huy được hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thế nhưng hiện vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại cần được quan tâm giải quyết, khắc phục.
Đến nay, ở các huyện miền núi, phần lớn đất canh tác hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp và rừng sản xuất theo quy hoạch đã được giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Nhiều diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài; được quản lý, sử dụng đúng quy hoạch sử dụng đất và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.
Riêng đối với các lâm trường sau khi được giao đất, giao rừng đã có những đóng góp tích cực trong việc trồng rừng, khoanh nuôi, khai thác, bảo vệ và phát triển rừng; tạo thêm nhiều việc làm, đồng thời cung cấp cây giống, chuyển giao kỹ thuật trồng rừng cho nhân dân trong vùng.
Đối với người dân, phần lớn đã biết đầu tư phát triển sản xuất, sử dụng đất rừng hiệu quả. Từng bước tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa với sản lượng, giá trị ngày càng cao. Hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đồng thời tạo nhiều việc làm và góp phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình sử dụng đất, trình độ sản xuất và hiệu quả sử dụng đất của người dân từng bước được nâng cao, nhiều hộ gia đình nông dân và hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã làm giàu chính đáng từ rừng và đất lâm nghiệp.
Nhìn chung, công tác giao đất, giao rừng ở các huyện miền núi trong thời gian qua đã thực sự phát huy được hiệu quả, đem lại tác dụng lớn, góp phần đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi tỉnh.
Bên cạnh mặt tích cực thì công tác giao đất, giao rừng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở các huyện miền núi vẫn còn nhiều tồn tại. Việc giao đất, giao rừng, cấp GCNQSDĐ còn chậm và chưa hoàn thành. Trong đó, một số diện tích đất chưa được rà soát để giao hết cho người dân. Nhiều diện tích đất đã giao cho các ban quản lý rừng cơ sở và UBND các xã quản lý, nhưng chưa được quản lý chặt chẽ. Kết quả thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng của tỉnh giai đoạn 2009-2013 đến nay mới chỉ giao và cho thuê được gần 3.200ha, đạt 20,12% kế hoạch.
Công tác quản lý nhà nước về đất đai, bảo vệ và phát triển rừng ở các địa phương chưa chặt chẽ, có nơi còn buông lỏng. Trong đó, việc để người dân lấn chiếm, xâm chiếm đất đã giao cho các tổ chức và chặt phá rừng tự nhiên lấy gỗ, lấy đất sản xuất diễn ra khá phổ biến, nhưng chính quyền và cơ quan chức năng chưa có những biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời, hiệu quả.
Số hộ thiếu đất sản xuất phát sinh trong những năm gần đây tăng nhanh (chủ yếu do chia tách hộ) nhưng các địa phương chưa kịp thời nắm chắc số lượng, danh sách và nguyên nhân cụ thể để đề xuất các giải pháp hỗ trợ đất sản xuất, giải quyết việc làm theo hướng ổn định, lâu dài cho người dân. Trong khi việc thu hồi đất của các công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn các huyện Ba Tơ, Trà Bồng (trong các năm 2011-2013) với diện tích khá lớn (hơn 3.078ha).
Nguyên nhân là do hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước hiệu quả còn thấp hoặc không hiệu quả và không đủ năng lực quản lý, sử dụng hiệu quả phần lớn đất đai, vốn rừng được giao nhưng đến nay vẫn chưa giao được cho các hộ nghèo, thiếu đất. Điều này dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu nại đất đai trên địa bàn các huyện miền núi có xu hướng gia tăng.
Trong khi đó, vai trò tham mưu, quản lý nhà nước của Sở TN&MT và Sở NN&PTNT trong công tác giao đất, giao rừng chưa thật sự tốt. Còn các huyện miền núi như Ba Tơ, Trà Bồng chưa thường xuyên chỉ đạo kịp thời, sâu sát trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, về giao đất, giao rừng, quản lý bảo vệ rừng và cấp giấy CNQSDĐ. Về phía người dân, do cuộc sống còn nhiều khó khăn, kiến thức kinh tế và kỹ thuật sản xuất còn hạn chế nên hiệu quả sử dụng đất của nhiều người dân chưa cao…
Tình hình trên đang đặt ra yêu cầu phải tăng cường quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp và bảo vệ phát triển rừng ở miền núi thật sự hiệu quả. Các cấp, ngành nâng cao trách nhiệm, triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp về quản lý đất đai và bảo vệ phát triển rừng. Quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành liên quan, tăng cường kiểm tra, thanh tra về quản lý sử dụng đất, bảo vệ và phát triển rừng.
Đối với rừng tự nhiên sản xuất là rừng nghèo và nghèo kiệt không thể phục hồi, cần sớm xem xét để có định hướng điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả theo đúng chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. (Báo Quảng Ngãi 3/12) đầu trang(
3/12, Ban Chỉ đạo Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp Thanh Hóa đã tổ chức Hội nghị xem xét, thẩm tra số liệu cập nhật diễn biến rừng, đất lâm nghiệp năm 2014 và triển khai công tác điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2014 – 2015.
Ông Nguyễn Đức Quyền - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp Thanh Hóa chủ trì hội nghị.
Theo số liệu thống kê diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp năm 2013 trên địa bàn tỉnh là 626.757.08 ha, đến năm 2014 đã giảm 180 ha. Thông qua công tác rà soát, điều tra, kiểm kê cho thấy năm 2013 diện tích rừng tự nhiên ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 899,05 ha, đến năm 2014 có những biến động làm tăng 308,91 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh tự nhiên là 177,8 ha. Đến thời điểm này, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh đã đạt 51,5%, tăng 0,5% so với năm 2013.
Tại hội nghị BCĐ đã thảo luận và thống nhất sẽ tăng cường bám sát thực tế để cập nhật kịp thời các số liệu biến động về rừng và đất lâm nghiệp. Tiến hành các biện pháp nhằm giúp các địa phương thực hiện quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng, thực hiện nghiêm trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ rừng trong công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Đức Quyền khẳng định tầm quan trọng của rừng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng  nói chung, kinh tế lâm nghiệp nói riêng. Do đó, cần đánh giá đúng hiện trạng rừng để quản lý tốt; đồng thời, phải giao đất cho người dân sử dụng để họ chủ động trồng, bảo vệ rừng theo đúng qui định.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng nhận định: Tỉnh đã có các BCĐ về phát triển, bảo vệ rừng đến tận cơ sở nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao. Thời gian tới, đề nghị các thành viên BCĐ phối hợp chặt chẽ với BCĐ ở các địa phương nhằm nâng cao năng lực và hoạt động tích cực, chủ động hơn.
Về số liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, ông Nguyễn Đức Quyền đề nghị các đơn vị liên quan cần rà soát, xem xét, báo cáo một cách chính xác để làm cơ sở cho UBND tỉnh xây dựng phương án chỉ đạo công tác phát triển, quản lý, bảo vệ rừng đạt kết quả cao trước ngày 5 – 12 - 2014. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị liên quan phải phối hợp chặt chẽ để thống nhất số liệu điều tra, kiểm kê, tránh chồng chéo, tranh cãi, không rõ ràng.
Cũng tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe đại diện Trường Đại học Lâm nghiệp (đơn vị được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tiến hành công tác kiểm kê rừng giai đoạn 2013 – 2016)  trình bày phương án điều tra kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. (Báo Thanh Hóa 3/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một chuyên gia động vật hoang dã cho trăn nuốt sống để quay phim trong bụng nó, nói rằng anh lo cho sự an an của con vật hơn bản thân mình.
Nhà tự nhiên học liều lĩnh Paul Rosolie mặc bộ quần áo đặc biệt chuẩn bị cho màn biểu diễn nguy hiểm được quay ở Amazon vào mùa hè, và sẽ được phát sóng trên chương trình “ Eaten Live” (“ăn tươi nuốt sống”).
Anh tham gia thí nghiệm nhằm nâng cao nhận thức về môi trường sống của rắn, vốn đã bị giảm sút sau cuộc khai mỏ vàng. Rosolie, 30 tuổi, tự tin với bộ quần áo được thiết kế bằng sợi các bon của mình. Anh cũng khăng khăng rằng an nguy của con trăn đáng lo ngại hơn bản thân mình.
Anh nói trước phóng viên báo New York: “tôi không muốn mạnh tay quá, tôi muốn chắc chắn rằng bộ quần áo phải thật mềm để không làm nó tổn thương”. Anh nói thêm: “Tôi không sợ gì cả. chúng tôi đã kiểm tra bộ đồ này và làm việc với các chuyên gia, vì thế sự an toàn của tôi đã được đảm bảo”.
Khán giả sẽ được chứng kiến cảnh người Mỹ Rosolie bị nuốt bởi con trăn dài tương đương 7.62 mét, nặng tương đương 181.44 kg, cần ít nhất 12 người khiêng.
Bộ đồ của Rosolie được thiết kế để bảo vệ anh khỏi cái siết chết người của con trăn và dịch dạ dày của nó. Anh cũng được trang bị bình oxy đủ dùng trong 3 giờ, thiết bị giao tiếp và nhiều camera. (Pháp Luật TPHCM 4/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng