Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 2/12, Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tỉnh Tuyên Quang họp đánh giá kết quả thực hiện năm 2013, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2014.
Theo Sở NN&PTNT - cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR, trong tổng số 6 tỷ đồng được phân khai từ nguồn vốn Trung ương, đến hết tháng 11-2013, toàn tỉnh mới chi trả cho 2 chủ rừng số tiền 927 triệu đồng. Trong đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Bình 793 triệu đồng; Ban Quản lý rừng phòng hộ Nà Hang 134 triệu đồng.
Hiện còn nhiều tổ chức, cá nhân chưa được hưởng lợi từ nguồn vốn DVMTR. Nguyên nhân chủ yếu do sổ lâm bạ của các đối tượng được giao từ năm 1982 chỉ ghi diện tích, nhưng không vẽ sơ đồ và cũng không xác định đường đồng mức, nên không xác định được vị trí, diện tích ngoài thực địa. Một số có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chưa có quyết định giao rừng...
Phát biểu kết luận tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Ngọc Thực chỉ đạo Sở NN&PTNT, UBND các huyện có rừng cung ứng dịch vụ cần làm tốt công tác quyết toán với các chủ rừng. Nguồn vốn chi trả dịch vụ rừng có nguồn sinh thủy tuy thấp (trên 36.000 đồng/ha) nhưng không làm tốt rất dễ nảy sinh thắc mắc.
Để khuyến khích các hộ bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, ngành chức năng phối hợp với các huyện nhanh chóng xác định đối tượng hưởng lợi và chi trả kịp thời. Các đối tượng được hưởng DVMTR là những hộ có sổ lâm bạ; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gia đình quản lý bảo vệ rừng không tranh chấp và chủ rừng (Ban Quản lý rừng phòng hộ; doanh nghiệp lâm nghiệp; đơn vị lực lượng vũ trang).
Năm 2014, các huyện Lâm Bình, Nà Hang, Chiêm Hóa, tổ chức rà soát xác định diện tích đất có rừng trên lưu vực sông Gâm, từ đó xác định đối tượng hưởng lợi để chi trả DVMTR. Thực hiện Nghị định 99, Thường trực Ban chỉ đạo DVMTR sớm thông báo đến các đối tượng nộp phí DVMTR để các đơn vị có kế hoạch trích nộp đúng kỳ hạn. (Báo Tuyên Quang 4/12; Tuyenquang.gov.vn 4/12) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Ông Nguyễn Như Độ, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Cà Mau cho biết, được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, ngành; sự nỗ lực của chủ rừng và người dân nhận khoán nên diện tích rừng trồng ngày càng tăng.
Cà Mau là tỉnh duy nhất có 3 mặt giáp biển, với chiều dài bờ biển 254 km. Theo tính toán của các chuyên gia, do tác động của biến đổi khí hậu nếu mực nước dâng cao thêm 1 m thì hơn 1/3 dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Rừng Cà Mau có 2 hệ sinh thái là rừng ngập mặn và rừng nước lợ với tổng diện tích ổn định khoảng 105.000 ha, bao gồm 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất (SX).
Nhằm thích ứng tình trạng nước biển dâng và sự xâm lấn của nước mặn, cải tạo đất để SX thì nhất thiết phải dựa vào các hệ sinh thái ven biển. Trong đó, việc sử dụng chính những loài cây đủ sức chịu đựng, đủ sức chống chịu lại với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên là quan trọng nhất. Do đó việc khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển chính là giải pháp cụ thể và hữu hiệu.
Theo ông Nguyễn Như Độ, trong năm 2012, Cà Mau đã phát triển thêm được hơn 728 ha rừng, đạt 104% chỉ tiêu; khoanh nuôi tái sinh 130 ha; trồng 90.000 cây phân tán gỗ lớn, 2,915 triệu cây phân tán gỗ nhỏ.
Bên cạnh việc trồng mới rừng, Cà Mau còn chú trọng công tác chăm sóc rừng trồng (trên dưới 5.138 ha); bảo vệ rừng đặc dụng, phòng hộ 40.980 ha; trồng rừng sau khai thác đạt gần 3.450 ha, đạt 114,28% kế hoạch...
Thời gian tới ngành lâm nghiệp Cà Mau phấn đấu hoàn thành quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 đã được HĐND và UBND tỉnh phê duyệt. Tích cực tham gia dự án cải thiện chất lượng giống cây lâm nghiệp; dự án GIZ (dự án lồng ghép sự thích ứng với biến đổi khí hậu vào việc lập kế hoạch quản lý vùng ven biển); dự án REDD+ (tăng cường năng lực cho các bên có liên quan lâm nghiệp cấp cơ sở nhằm giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng)…
Thực hiện các đề tài nghiên cứu để ứng dụng vào thực tiễn như trồng cây mắm chắn sóng hạn chế xói lở một số tuyến sông và kênh rạch; điều tra đánh giá các mô hình rừng tôm và đề xuất các biện pháp canh tác theo hướng bền vững trên khu vực ngập mặn...
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác trồng mới và bảo vệ rừng vẫn gặp một số khó khăn. Để trồng rừng đước cần vốn đầu tư lớn (hơn 10 triệu đồng/ha). Đối với cây tràm thì đầu ra bị thu hẹp, giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế không cao. “Để có hiệu quả kinh doanh rừng cao hơn, đa số người dân muốn trồng cây khác ngoài tràm. Tuy nhiên việc này tốn kém rất nhiều do phải đào kinh, kê líp (khoảng 20 triệu đồng/ha). (Nông Nghiệp Việt Nam 5/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La thường xuyên xuất hiện tình trạng người dân lợi dụng thuốc diệt cỏ phun vào diện tích rừng giáp ranh. Sau thời gian chờ cây chết, rồi đốt và phát diện tích rừng này để mở rộng diện tích nương rẫy của mình.
Hành vi này làm ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Các lực lượng chức năng của huyện Sông Mã đã xử phạt gần 200 vụ xâm lấn rừng trái pháp luật với số tiền trên 1,2 tỷ đồng, điều này cho thấy việc ngăn chặn các hành vi xâm lấn rừng là rất khó khăn.
Theo ông Lò Thế Thi - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sông Mã, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là một việc làm hết sức khó khăn, nguyên nhân chính là do các đối tượng vi phạm chủ yếu là đồng bào vùng sâu, vùng xa, nhận thức của người dân về ý thức bảo vệ rừng chưa được nâng cao; thường lợi dụng chính sách dân tộc để gây khó hoặc cản trở chống đối lực lượng thi hành nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Để đối phó với tình trạng xâm lấn rừng ngày càng gia tăng và việc thu hồi số tiền xử phạt vi phạm hành chính, Hạt Kiểm lâm huyện Sông Mã đã thành lập Tổ cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Theo đó, tổ công tác gồm 16 thành viên, do Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện làm Tổ trưởng, Phó trưởng Công an huyện, Chủ tịch UBND các xã liên quan làm Tổ phó và các thành viên là cán bộ chuyên môn của Hạt Kiểm lâm, Công an huyện, UBND các xã…
Trong đợt ra quân đầu tiên, Tổ cưỡng chế đã quyết định thi hành cưỡng chế đối với 12 đối tượng tại các xã Mường Sai, Chiềng Khương và Chiềng Cang với tổng số tiền gần 100 triệu đồng. Số tiền còn lại do một số đối tượng thực sự khó khăn và cũng đã làm cam kết chấp hành trong thời gian sớm nhất.
Chia sẻ về cách làm này, ông Lò Thế Thi - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sông Mã cho biết: đây là cách làm rất hiệu quả, trong quá trình thực hiện có sự tham gia đầy đủ của các lực lượng có liên quan, nhất là sự có mặt của lực lượng chức năng cơ sở. Kết quả bước đầu này sẽ là cơ sở thuận lợi cho việc triển khai thu hồi số tiền nợ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng. Mặc dù số tiền thu hồi được chưa phải là lớn, nhưng đây là một cách làm đủ để răn đe các đối tượng khác trong việc chấp hành các quy định về quản lý, bảo vệ rừng.
Việc thành lập Tổ cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã bước đầu mang lại hiệu quả, ngoài việc thu hồi được số tiền xử phạt, biện pháp này còn mang tính răn đe các đối tượng khác đối với hành vi xâm lấn rừng. Đây là một cách làm thiết thực ở huyện Sông Mã nói riêng và tỉnh Sơn La để bảo vệ rừng tốt hơn. (Tin Tức 5/12) đầu trang(
Để hạn chế tình trạng cháy rừng làm thiệt hại nhiều diện tích rừng và làm ảnh hưởng đến môi trường sống và giảm độ che phủ rừng, UBND thị xã Lai Châu đã chỉ đạo Hạt kiểm lâm thị xã đẩy mạnh nhiều biện pháp nhằm tăng cường sự quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn thị xã.
Thị xã Lai Châu có trên 1.540 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên trên 1.419ha; rừng trồng là 122 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt 21,3%. Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, hàng năm Hạt kiển lâm đã chủ động tham mưu cho UBND thị xã xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng.
Đến nay, Hạt kiểm lâm thị xã đã rà soát, chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 66 hộ với tổng số tiền trên 461 triệu đồng. Thành lập các đoàn công tác, kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại hai xã có nhiều diện tích rừng là xã Nậm Loỏng và xã San Thàng. Phân công các cán bộ kiểm lâm trực tiếp bám sát địa bàn tổ chức vận động nhân dân, nhất là những hộ có rừng thường xuyên tuần tra, canh gác bảo vệ số diện tích đang được hưởng dịch vụ môi trường rừng, tổ chức phát chăm sóc rừng trồng.
Công tác tuyên truyền cũng được cán bộ kiểm lâm cũng tích cực thực hiện. Nội dung tuyên truyền tập trung về chính sách, luật bảo vệ và phát triển rừng, giải thích, tuyên truyền, vận động những hộ làm cháy rừng khắc phục hậu quả do mình gây ra bằng cách trồng lại rừng. Cùng với việc tuyên truyền, Hạt kiểm lâm thị xã cũng tiến hành xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng.
Anh Vũ Trung Kiên, cán bộ Hạt kiểm lâm thị xã cho biết: Để công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của thị xã có hiệu quả, Hạt kiểm lâm đã tham mưu cho UBND thị xã những giải pháp cụ thể, xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, chú trọng đến công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng để gắn trách nhiệm cho các chủ rừng trong việc bảo vệ rừng… (Laichau.gov.vn 4/12) đầu trang(
Ngày 4/12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức Hội nghị khởi động Dự án nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn loài ở tỉnh Đắk Nông, trọng tâm vào loài vượn đen má vàng và loài bò tót.
Dự án có tổng số vốn đầu tư gần 380.000 Euro (khoảng 11 tỷ đồng), trong đó Quỹ ủy thác ngành lâm nghiệp tài trợ hơn 316.000 Euro, vốn đối ứng của địa phương hơn 62.000 Euro.
Dự án sẽ được triển khai trong thời gian 2 năm, tập trung vào việc nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý bảo vệ rừng; đồng thời đánh giá hiện trạng hệ sinh thái và xây dựng kế hoạch bảo tồn nhằm giảm thiểu sự suy giảm sinh cảnh, quần thể các loài bị đe dọa, đặc biệt là các loài thú lớn như vượn đen má vàng, bò tót.
Vùng triển khai dự án tập trung chủ yếu ở các Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng và Nam Nung, một số vùng rừng ở các huyện Tuy Đức, Đắk Mil… (Báo Đăk Nông 5/12) đầu trang(
Dù gặp nhiều khó khăn về kinh phí và công tác quản lý, song các ngành và địa phương trong tỉnh Phú Yên vẫn tích cực thực hiện tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng, với mục tiêu đến cuối năm 2013 hoàn thành chỉ tiêu nâng độ che phủ rừng lên 37%.
Theo Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT Phú Yên), mặc dù đề án Giao, cho thuê, thu hồi rừng đã được UBND tỉnh phê duyệt từ tháng 2/2012, nhưng đến nay không có kinh phí để thực hiện.
Hiện các ban Quản lý bảo vệ rừng đang gặp khó khăn về kinh phí để triển khai việc đóng mốc ranh giới sau khi được Nhà nước giao đất; lực lượng quản lý bảo vệ rừng chuyên trách mỏng, không đủ nhân lực kiểm soát các vùng rừng giáp ranh với các tỉnh lân cận và thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích đối với diện tích đã giao cho hộ gia đình, cá nhân xảy ra phổ biến nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để.
Mặt khác, hiện danh mục dự án và kế hoạch vốn đầu tư phát triển rừng của tỉnh chưa được điều chỉnh nên việc triển khai thực hiện kế hoạch và giải ngân vốn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế năm 2013 hỗ trợ từ Trung ương quá thấp, không đủ để triển khai kế hoạch quản lý bảo vệ rừng hàng năm, làm phá vỡ các hợp đồng giao khoán cho các hộ gia đình.
Đối với công tác trồng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tỉnh không phân bổ vốn, vốn Trung ương đầu tư chỉ 15 triệu đồng/ha, không đủ để trồng và chăm sóc 1ha rừng trong điều kiện đơn giá thị trường tăng cao; khu vực trồng rừng ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn.
Theo Chi cục Lâm nghiệp, đến tháng 10/2013, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh thu tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) mới chỉ được hơn 1,9 tỉ đồng, trong đóQuỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam chuyển về quỹ tỉnh từ nguồn thu ủy thác của Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ hơn 1,1 tỉ đồng (từ năm 2011 đến quý II/2013).Ngoài ra, đến nay Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh thu ủy thác từ Công ty TNHH một thành viên Cấp thoát nước Phú Yên hơn 791 triệu đồng.
Trong khi đó, đến nay, tiền nhận ủy thác từ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam đối với các nhà máy thủy điện Sông Hinh và Krông H’Năng chưa chuyển về quỹ tỉnh; kế hoạch thu, chi trả tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh năm 2013 được Sở NN-PTNT trình UBND tỉnh từ tháng 8/2013 nhưng đến nay vẫn chưa phê duyệt.
Theo đó, dẫn đến chính sách chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng có diện tích rừng cung ứng DVMTR chưa được chi trả, khiến công tác điều hành của quỹ trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Toàn tỉnh có 11 vườn ươm cố định, với tổng diện tích 11,5ha. Mỗi vườn ươm có công suất khoảng 8 triệu cây giống/năm. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 15 vườn ươm tạm thời quy mô nhỏ của các hộ gia đình. Đến cuối tháng 11, các vườn ươm gieo được hơn 7 triệu cây giống, đạt hơn 70% kế hoạch năm 2013 (8 triệu cây trồng rừng tập trung và 2 triệu cây trồng phân tán).
Hiện các địa phương đã trồng được 3.706ha trong tổng số 4.975ha, đạt 75% kế hoạch; trong đó rừng phòng hộ 179ha, rừng đặc dụng 220ha, rừng sản xuất 3.307ha. Năm 2013, tỉnh không cho khai thác rừng tự nhiên do Bộ NN-PTNT không giao chỉ tiêu, mà chỉ khai thác rừng trồng được 21.800m3, đạt 80% kế hoạch.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, hiện Sở NN-PTNT đang đôn đốc các ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, nhất là các đơn vị chưa hoàn tất khối lượng trồng rừng; gấp rút thẩm định, phê duyệt các hồ sơ lâm sinh trong tháng 12 này.
Đồng thời lên kế hoạch kiểm tra các chủ đầu tư thực hiện trồng, chăm sóc rừng trong năm 2013; đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án để chủ đầu tư có cơ sở thanh toán khối lượng hợp đồng với nhà thầu thi công và hộ gia đình nhận khoán trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh lập đề cương, dự toán kinh phí triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng đề án thí điểm chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn xã Sông Hinh của huyện Sông Hinh để làm mẫu, nhân rộng đến các địa phương khác... (Báo Phú Yên 5/12) đầu trang(
Ngày 3/12, huyện Đất Đỏ tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2013 và triển khai phương án phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô năm 2014.
Xác định công tác PCCCR là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ngay từ đầu mùa khô, Hạt kiểm lâm đã tham mưu với UBND huyện củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo PCCCR của huyện, các Ban chỉ huy PCCCR các xã, thị trấn; qua đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của nhân dân về tác hại của lửa rừng gây ra đối với cuộc sống. Bên cạnh đó, tổ chức 3 đợt kiểm tra công trình phục vụ công tác PCCCR.
Song song, Ban chỉ đạo PCCCR huyện cũng chỉ đạo sâu sát, tạo điều kiện thuận lợi để mỗi địa phương xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư; tổ chức tốt lực lượng PCCCR và thực hiện đồng bộ các biện pháp ứng cứu trong mỗi tình huống.
Kết quả, năm 2013, các công trình PCCCR đạt quy trình kỹ thuật lâm sinh theo đúng phương án đề ra; lực lượng tại chổ có mặt kịp thời, đảm bảo ứng cứu khi có sự cố; các hộ nhận khoán, chủ rừng và người trực tiếp canh gác trên địa phận rừng của mình đã hoàn thành đúng trách nhiệm, yêu cầu; toàn huyện không xảy ra cháy rừng.
Dịp này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và UBND huyện tặng giấy khen cho 12 tập thể và 28 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR mùa khô năm 2013. (Bariavungtau.gov.vn 4/12) đầu trang(
Theo Vũ Văn Tình, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, thực tế cho thấy, để bảo đảm an toàn cho rừng trong mùa khô, công tác phòng cháy và diễn tập phòng cháy hết sức quan trọng.
Dù trong mùa khô vừa qua, huyện Ngọc Hồi không để xảy ra cháy gây thiệt hại rừng. Tuy nhiên, không thể chủ quan, nếu không có sự phòng bị, không có những cuộc diễn tập thì khi xảy ra sự cố các lực lượng dễ gặp lúng túng trong quá trình chữa cháy. Chính vì vậy, lực lượng kiểm lâm đã hỗ trợ cho chính quyền địa phương tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Theo Ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong PCCCR, huyện Ngọc Hồi có 84.382 ha diện tích tự nhiên, trong đó có 61.596,9 ha rừng và đất rừng (chiếm 75% diện tích tự nhiên). Ngọc Hồi là nơi giao lưu của nhiều đầu mối giao thông quan; có hơn 2.230 ha rừng trồng tập trung của Ban Trồng rừng nguyên liệu giấy và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ngọc Hồi dễ xảy ra cháy rừng. Tại cuộc diễn tập chữa cháy rừng ở xã Đăk Kan, các chủ rừng, các lực lượng tham gia công tác PCCCR đều có mặt đông đủ để học tập và cùng rút kinh nghiệm.
Đồng thời, để chủ động triển khai công tác PCCCR, ngay khi bước vào mùa khô, các ban chỉ huy PCCCR trên địa bàn huyện đồng loạt triển khai thực hiện phương án PCCCR, tổ chức các hội nghị tổng kết đánh giá công tác PCCCR và đề phương hướng, nhiệm vụ mới; củng cố các ban chỉ huy PCCCR các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức cho các hộ ký cam kết bảo vệ rừng; mua sắm công cụ phục vụ chữa cháy…
Tính đến nay, toàn huyện đã xây dựng 135,5 km đường băng cản lửa, 5 trạm gác, chòi canh lửa, 39 bể chứa nước, 504 bảng tam giác cấm lửa và 664 công cụ chữa cháy (dao, cuốc, xẻng, bàn dập, bình đeo vai, máy cắt thực bì…) các loại. Bên cạnh đó, huyện tập trung vào việc tăng cường kiểm tra việc thực hiện phương án PCCCR ở các cấp, các chủ rừng; tuần tra, bám sát hiện trường tại các khu rừng có nguy cơ cháy cao.
Trong mùa khô năm nay, huyện còn triển khai nhiều giải pháp khác như: thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp và dự án hỗ trợ cho người dân; quy vùng nương rẫy; quản lý và hướng dẫn nhân dân đốt rẫy theo quy trình không để xảy ra cháy rừng… (Kontum.gov.vn 5/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Mỗi một dòng sông là một hệ sinh thái thống nhất, hoàn chỉnh, không phụ thuộc vào việc phân định theo địa giới hành chính. Tuy nhiên, việc phân quyền quy hoạch cho các địa phương như hiện nay đã dẫn đến sự phát triển nóng, dày đặc thủy điện (TĐ) vừa và nhỏ, để lại hậu quả là sự tàn phá các lưu vực sông, ngăn chặn dòng chảy tự nhiên xuống hạ lưu.
Yêu cầu quy hoạch vì vậy phải dựa trên kết quả đánh giá môi trường chiến lược cho từng lưu vực và áp dụng quy hoạch phát triển tổng hợp lưu vực sông để có các lựa chọn dự án và quy mô phù hợp.
Ngoài chức năng sản xuất điện, đối với mỗi dự án, các cơ quan có thẩm quyền cần khẳng định rõ ràng và chính xác khả năng và chức năng của công trình đối với việc cắt, giảm lũ, chống hạn và cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ môi trường cho vùng hạ du. Xét tổng thể, theo quy hoạch trước khi rà soát trong tổng số dung tích phòng lũ của hệ thống thủy điện Việt Nam đạt khoảng 10,5 tỷ m3, thì đã có 10 tỷ m3 thuộc về 130 dự án TĐ vừa và lớn (trên 30MW), còn lại là hầu hết TĐ nhỏ (dưới 30MW) với hơn 1.100 dự án chỉ có dung tích hữu ích nhỏ khoảng 0,5 tỷ m3.
Với số liệu này, việc gắn cho hệ thống TĐ nhỏ chức năng cắt, giảm lũ vùng hạ lưu là không đáng tin cậy. Trong nhiều trường hợp, các công trình thủy điện nhỏ còn khiến tình trạng ngập lụt cục bộ trở nên trầm trọng hơn. Hậu quả xả lũ mà các TĐ ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Gia Lai và Kon Tum gây ra trong thời gian vừa qua là một bằng chứng. Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục xem xét loại bỏ khỏi quy hoạch đối với các dự án TĐ có nguy cơ gây tổn thương cao do xả lũ, đặc biệt là các công trình ở những nơi có địa hình dốc và ngắn như khu vực miền Trung.
Ngoài ra, việc bảo vệ tính toàn vẹn của hệ thống rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng phòng hộ và đặc dụng trên các lưu vực sông là tối quan trọng. Đây cũng là lá chắn, bảo đảm nguồn nước và an toàn cho hoạt động của các nhà máy TĐ. Tuy nhiên, trên thực tế TĐ vẫn được nhìn nhận là “những dự án mang tên phá rừng” bởi vì nhiều công trình TĐ phá rừng nhiều hơn diện tích được phép chặt hạ, không kể các diện tích lấn chiếm và phá rừng trái phép ở các khu tái định cư.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, đến tháng 5/2013, mới chỉ có hơn 2% diện tích rừng được trồng thay thế trong tổng số 50.930 ha đất rừng đã được sử dụng cho các dự án TĐ. Trong khi đó, chỉ tính riêng 37 dự án TĐ công suất lớn hơn 60 MW của Tập đoàn điện lực Việt Nam đã sử dụng gần 37.000 ha đất rừng.
Kết quả giám sát của Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội cho thấy, nhiều địa phương không có quỹ đất quy hoạch hoặc đất không phù hợp để trồng rừng thay thế. Trách nhiệm và nghĩa vụ của địa phương và chủ đầu tư dự án TĐ trong việc bố trí quỹ đất, phương thức thực hiện, bố trí chi phí trồng rừng thay thế trong tổng mức đầu tư… chưa xác định rõ.
Nguyên nhân chính của hạn chế nêu trên là chưa có hướng dẫn kịp thời về vấn đề này như bố trí trồng rừng tại địa phương khác hoặc nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trong trường hợp địa phương không còn quỹ đất trồng rừng thay thế…
Về dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), trong thời gian vừa qua, nhiều nhà máy TĐ đã chi trả phí DVMTR cho các địa phương thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng mức khoán bảo vệ rừng, xóa đói, giảm nghèo.
Tuy nhiên, nhiều nhà máy TĐ hiện chưa nộp phí DVMTR với lý do khó khăn về tài chính, trong khi đó các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có liên quan lại chưa có quy định cụ thể về chế tài xử lý đối với các nhà máy TĐ này. Tại một số dự án TĐ, có đối tượng đã lợi dụng quyết định mở công trường cho khai quang rừng với quy mô lớn hơn nhiều so với yêu cầu, lợi dụng hạ tầng công trình TĐ để khai thác khoáng sản trái phép.
Ủy ban KH,CN&MT cũng đã đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương cần tích cực thực hiện quy định hướng dẫn về trồng rừng thay thế mới được ban hành; tổng hợp, cung cấp số liệu thực tế diện tích đất rừng đã được chuyển mục đích cho các dự án, công trình TĐ; làm rõ diện tích rừng trồng thay thế vì theo tính toán ban đầu dựa trên định mức sử dụng đất rừng và công suất của các dự án TĐ thì diện tích rừng đã được trồng thay thế thấp hơn khá nhiều so với các số liệu nêu trên. (Tin Tức 5/12) đầu trang(
Ngày 4/12, tại Hà Nội, Chương trình Liên hợp quốc (UNEP) phối hợp với Trung tâm Sinh học Nông nghiệp Quốc tế, Bộ TN&MT phối hợp tổ chức cuộc họp Ban chỉ đạo dự án quốc tế lần thứ hai của dự án "Ngăn ngừa và quản lý sinh vật rừng ngoại lai xâm hại ở rừng sản xuất và rừng được bảo vệ khu vực Đông Nam Á” (IAS).
Dự án được thực hiện trong vòng 4 năm (2012-2015) tại bốn nước gồm Indonesia, Philippines, Campuchia và Việt Nam. Cuộc họp này nhằm củng cố hệ thống thể chế, chính sách và tăng cường năng lực quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại, nâng cao nhận thức cộng đồng đối với các vấn đề sinh vật ngoại lai xâm hại.
Ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho biết mục tiêu cụ thể của dự án là hỗ trợ tăng cường khung pháp lý và chính sách quốc gia về quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại; nâng cao năng lực về quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại của các nhà quản lý và cộng đồng địa phương; tăng cường việc hợp tác, chia sẻ thông tin về sinh vật ngoại lai xâm hại với các quốc gia trong khu vực.
Dự án góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề sinh vật ngoại lai xâm hại thông qua các hoạt động truyền thông và triển khai mô hình diệt trừ một loài ngoại lai xâm hại điển hình (loài trinh nữ mimosa Diplochiocha); thực hiện chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về loài sinh vật ngoại lai xâm hại.
Dự án gồm có 5 hợp phần gồm hỗ trợ khung pháp lý và chính sách quốc gia về quản loài ngoại lai xâm hại; tăng cường hợp tác khu vực về quản lý các loài ngoại lai xâm hại; hỗ trợ xây dựng năng lực quản lý các loài ngoại lai xâm hại; thử nghiệm trình diễn và kiểm soát, diệt trừ loài ngoại lai.
Theo thống kê của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, số lượng thực vật ngoại lai xâm hại hiện có khoảng 94 loài, trong đó có 42 loài xâm hại thuộc họ thực vật; 48 loài động vật thủy sinh ngoại lại.
Đáng lo ngại là có những trường hợp du nhập những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lượng lớn, nhưng do không được kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên và gây ra tác hại nặng nề. (VietnamPlus.vn 5/12; VOV 5/12; Vnexpress.net 5/12; Đại Đoàn Kết 5/12) đầu trang(
Sáng 4/12, tại thị xã Bắc Kạn, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn-Thái Nguyên và Công ty cổ phần SAHABAK đã ký hợp đồng tín dụng tài trợ vốn đầu tư dự án Nhà máy sản xuất ván MDF SAHABAK.
Theo đó, Ngân hàng Phát triển (VDB) sẽ tài trợ vay vốn 680 tỷ đồng, trong vòng 12 năm với lãi suất tín dụng ưu đãi Nhà nước để Công ty cổ phần SAHABAK đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất ván gỗ MDF cao cấp với công suất 108.000 m3/năm.
Tổng vốn đầu tư để hoàn thành dự án này là 1.076 tỷ đồng. Ngoài số tiền vay của VDB, số tiền còn lại là vốn của Công ty cổ phần SAHABAK. Đây là nhà máy ván ép lớn nhất cả nước, khi đi vào hoạt động sẽ thu hút 160 kỹ sư và lao động tay nghề cao.
Nhà máy hoạt động sẽ đảm bảo tiêu thụ ổn định gỗ nguyên liệu từ rừng trồng của người dân địa phương, với tổng gỗ nguyên liệu 300.000 m3/năm.
Việc thực hiện xây dựng Nhà máy sản xuất ván MDF là giai đoạn hai của Công ty cổ phần SAHABAK. Giai đoạn một công ty này đã hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhà máy chế biến gỗ thanh, ván ép thanh từ năm 2010.
Đến nay, công suất của Nhà máy gỗ thanh, ván ép thanh đã tăng ba lần so với công suất thiết kế là 10.000m3, tiêu thụ 30.000m3 gỗ nguyên liệu. Hiện Nhà máy chế biến gỗ thanh, ván ép thanh có 400 công nhân, với 90% là người địa phương. (VietnamPlus.vn 4/12) đầu trang(
Số lượng sếu đầu đỏ - loài chim quý hiếm đang báo động đỏ về số lượng bảo tồn - về Vườn quốc gia Tràm Chim (Tam Nông, Đồng Tháp) những năm gần đây liên tiếp giảm dần. Điều này khiến các nhà bảo tồn chim hoang dã và các nhà khoa học lo lắng.
Tuần trước đã có 3 cá thể sếu đầu đỏ về Tràm Chim trong mùa chim di cư năm nay, theo ông Nguyễn Văn Hùng – Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim. “Năm nào cũng vậy, vài con sếu về trước tiền trạm và cả đoàn sẽ về sau. Lượng sếu đầu đỏ về Tràm chim đông nhất vào tháng 3, tháng 4 hàng năm”, ông Hùng nói.
Ở đây có một nhóm chuyên viên theo dõi sự di cư của sếu đầu đỏ để ghi nhận và báo cáo lại Hội Bảo tồn sếu đầu đỏ thế giới.
Nhưng ông Nguyễn Hoài Bão, nhà điểu học, giảng viên ngành động vật học, Đại học Khoa học Tự nhiên TPHCM nói rằng điều lo ngại là số lượng sếu đầu đỏ về Việt Nam mỗi năm càng giảm dần và ngày càng đáng báo động.
“Năm 1988, các nhà khoa học ghi nhận trên 1.052 con sếu đầu đỏ về Việt Nam. Nhưng các năm gần đây số lượng sếu về chỉ còn vài trăm con. Từ 2006 đến nay không bao giờ có quá 200 con sếu về Tràm Chim mỗi năm và có những năm chỉ có vài chục con. Năm ngoái, Vườn quốc gia Tràm Chim ghi nhận ở thời điểm nhiều nhất có 67 con sếu đầu đỏ”, ông Bão cho biết. Cách đây 30 năm, cố GS Lê Công Kiệt từng nói có sếu đầu đỏ làm tổ ở Đồng Tháp nhưng nay hiện tượng đó đã không còn.
Theo ông Hùng của vườn quốc gia, nguyên nhân sếu về giảm mạnh là do diện tích đất ngập nước bị thu hẹp, sự tác động của biến đổi khí hậu khiến nước lớn trước kia thành nước nhỏ, một số bãi năn (thức ăn của sếu) giảm diện tích, và tỷ lệ sinh sản của sếu cũng giảm đi.
Tràm Chim có 231 loài chim nước, trong đó 32 loài có giá trị bảo tồn đang sinh sống. Hơn 60% chim ở Tràm Chim là chim di cư. Sếu đầu đỏ là biểu tượng của Tràm Chim và Vườn quốc gia Tràm Chim được thành lập cũng là để bảo tồn loài chim quí này. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 5/12) đầu trang(
Mô hình “đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển” ở ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng được coi là điểm sáng trong việc phối hợp trồng, bảo vệ và cùng chia sẻ lợi ích từ nguồn thiên nhiên một cách bền vững.
Mô hình được triển khai dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và UBND tỉnh Sóc Trăng giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp thực hiện. Dự án chính thức được tiến hành từ tháng 9/2009 với việc ký thỏa thuận giữa những người dân địa phương tại ấp Âu Thọ B với chính quyền xã Vĩnh Hải về việc đồng quản lý.
Theo Tiến sĩ Klaus Schmitt - Cố vấn trưởng Dự án của GIZ tại Sóc Trăng, "đồng quản lý" nguồn tài nguyên thiên nhiên là một thỏa thuận đối tác, trong đó nhóm người sử dụng tài nguyên có quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên đất chủ sở hữu của Nhà nước (khu vực đã xác định) đồng thời có trách nhiệm quản lý bền vững nguồn tài nguyên đó.
"Đồng quản lý" là một biện pháp hữu hiệu để duy trì và tăng cường chức năng bảo vệ của các dải rừng ngập mặn, cùng lúc với cung cấp điều kiện sống tốt hơn cho cộng đồng người dân địa phương. Thêm vào đó, việc để người dân địa phương tham gia vào quá trình tái tạo rừng ngập mặn, sử dụng những biện pháp tiếp cận mới, giúp tăng cường sức chống chịu của rừng ngập mặn đối với những ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu sẽ nâng cao chức năng bảo vệ của các dịch vụ sinh thái được cung cấp bởi các khu rừng ngập mặn.
Ông Thạch Soal - Nhóm trưởng đồng quản lý kiêm Tổ trưởng tổ 4, ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải, cho biết: Nhờ Dự án của GIZ được thực hiện từ năm 2009 mà giờ rừng đã xanh trở lại. Gần 300 hộ dân Âu Thọ B, chiếm gần 40% dân số của ấp, chủ yếu là đồng bào Khmer nơi đây bây giờ được phép mỗi khi vào rừng phòng hộ ven biển hay ra bãi bồi kiếm củi và khai thác các nguồn lợi từ rừng phục vụ cho cuộc sống chứ không lén lút như trước.
Điều đặc biệt là những người vào rừng, ra bãi đều được cấp thẻ ra vào theo đúng như thỏa thuận phân chia lợi ích bình đẳng. Đây là một nội dung chính trong việc "đồng quản lý" rừng thuộc dự án "Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc Trăng", người dân tự quản, giám sát lẫn nhau vì mục đích chung là bảo vệ rừng, để khai thác một cách bền vững lâu dài chứ không phải tận diệt, hủy hoại như trước.
Theo mô hình "đồng quản lý" của GIZ, rừng ở ấp Âu Thọ B hiện được phân thành 4 khu để quản lý. Trong đó, khu phòng hộ là rừng đước có trên 12 ha, được xác lập nhằm bảo vệ tốt cho các loài thủy sản có nơi trú ngụ, sinh sản tự nhiên, duy trì tính đa dạng của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Khu phục hồi bên trong là một phần của đai rừng, nơi có mật độ thưa, đã được trồng thêm rừng để ngăn cản sóng và làm nơi trú ẩn của sinh vật biển, có diện tích gần 30 ha.
Khu phục hồi bên ngoài rừng có diện tích khoảng 35 ha, là khu rừng mới trồng, có bề rộng trên 100 mét tính từ đai rừng lớn trở ra biển, được xác lập nhằm tăng cường bề rộng đai rừng, ngăn cản sóng biển và che chở cho các loài sinh vật biển. Khu sử dụng bền vững có diện tích trên 35ha, là phần đai rừng bên trong, nơi có nhiều cây rừng đã phát triển rậm rạp, có thể cung cấp tài nguyên cho con người, nếu được sử dụng bền vững.
Nói về ý thức của người dân tham gia "đồng quản lý" của dự án GIZ, ông Hoàng Đình Quốc Vũ - cán bộ Phòng Kinh tế thị xã Vĩnh Châu khẳng định: Mô hình "đồng quản lý" tại ấp Âu Thọ B đã giúp người dân chuyển biến rất tốt về hành vi cùng phối hợp bảo vệ môi trường, có sự đồng lòng và ý thức tự giác cao trong việc đồng quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên mà dự án đã triển khai.
Trước đây, việc bảo vệ quản lý rừng chỉ tập trung vào việc giao khoán, cấm khai thác, cấm vào rừng với mọi hình thức. Kết quả rừng vẫn bị tàn phá mà đời sống người dân ven biển vẫn bấp bênh, còn nay với mô hình này, người dân đồng lòng vì thấy lợi ích lâu dài, đồng quản lý để bảo vệ và khai thác một cách khoa học nên hiệu quả rất rõ.
Tại thị xã Vĩnh Châu hiện có trên 3.500 ha rừng và đất rừng ngập mặn ven biển, nếu triển khai mô hình "đồng quản lý" trên diện rộng sẽ bảo vệ và phát triển được vốn rừng góp phần mang lại hiệu quả rất lớn cả về kinh tế, xã hội, môi trường cho người dân địa phương và trong khu vực.
Từ sự thành công của mô hình “đồng quản lý” ở ấp Âu Thọ B, hiện nay Dự án của GIZ đang phối hợp với các địa phương nhân rộng việc "đồng quản lý" ở hai huyện ven biển khác của tỉnh Sóc Trăng là Trần Đề và Cù Lao Dung. (Tài Nguyên&Môi Trường 4/12) đầu trang(
Anh Bùi Văn Út, ấp Kinh 5B, xã Tân Phú, huyện Thới Bình nuôi cá sấu thương phẩm và cá sấu giống, mỗi năm thu lãi 1,4 tỉ đồng.
Anh cho biết, ban đầu nuôi thử 9 con, sau 2 năm bán được 40 triệu đồng, trừ chi phí lãi 25 triệu đồng. Sau lần đó, anh làm chuồng trại thả nuôi 120 con cá sấu giống (trị giá 100 triệu đồng). Nuôi hơn 1 năm, anh bán được 280 triệu đồng, trừ chi phí lãi 180 triệu đồng. Từ năm 2011 đến nay, anh mở rộng chuồng trại lên 3.000m2, thả nuôi hơn 1.000 con cá sấu…
Mô hình nuôi cá sấu đang phát triển rộng khắp các địa phương trong tỉnh Cà Mau, góp phần giúp nông dân làm giàu chính đáng, bền vững. (Nông Thôn Ngày Nay 4/12) đầu trang(
Không chỉ là một tỉnh có nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng đột phá, Vĩnh Phúc còn bộc lộ rõ tiềm năng phát triển mạnh ngành du lịch sinh thái; đặc biệt có kho tài nguyên quý giá rừng Tam Đảo, nơi lưu giữ đa dạng sinh học cao với rất nhiều loại động vật, thực vật đặc hữu quý hiếm; nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn gen phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, học tập. Cho đến nay, người ta vẫn coi Tam Đảo là chốn bình yên của các loài động vật hoang dã.
Khu hệ động vật Tam Đảo đã được nhiều tác giả người Pháp nghiên cứu và công bố vào những năm 30 và 40 của thế kỷ trước. nhưng chỉ sau kháng chiến chống Thực dân Pháp, các nhà khoa học Việt Nam mới bắt đầu có điều kiện thực hiện các nghiên cứu tại Tam Đảo. Năm 1990-1992, để phục vụ cho việc xây dựng dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia, Viện điều tra Quy hoạch rừng (FIPI) thuộc Bộ NN&PTNT đã tiến hành nghiên cứu khu hệ động vật Tam Đảo.
Kết quả đã thống kê được hơn 1.000 loài động vật hoang dã, trong đó có 64 loài có giá trị cho khoa học cần bảo tồn, 16 loài đặc hữu, 18 loài trong sách đỏ thế giới và 8 loài cấm buôn bán. Có 11 loài chỉ có Tam Đảo như: Rắn sãi angen, rắn ráo thái dương, cá cóc Tam Đảo, cu xanh đuôi nhọn, phường chèo đỏ đuôi dài, bông lau tai trắng, bách thanh nhỏ, chích choè lửa…
Do tình trạng khai thác và sử dụng động vật hoang dã liên tục trong một thời gian dài, cùng với sự thu hẹp sinh cảnh sống của các loài thú, đặc biệt là các loài thú lớn có giá trị kinh tế cao, động vật hoang dã ở Vĩnh Phúc có nguy cơ dần cạn kiệt; chỉ còn lại các loài động vật có giá trị kinh tế không cao hoặc những loài có sức sinh sản nhanh, sống thích hợp với nhiều loại sinh cảnh.
Để bảo vệ sinh cảnh của động vật hoang dã, nhiều hoạt động đã được tiến hành như: Phủ xanh đất trống đồi núi trọc tại các xã vùng đệm quanh núi Tam Đảo; trồng rừng tại khu phục hồi sinh thái; quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt khu vực rừng tự nhiên; tăng cường công tác quản lý trạng thái tài nguyên rừng. Một trong các điểm du lịch sinh thái mới được hình thành tại Vĩnh Phúc, có một địa chỉ đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học cũng như du khách trong và ngoài nước, đó là Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo, tại Vườn quốc gia Tam Đảo.
Đây là khu bán tự nhiên cho gấu, ra đời với mục đích giải thoát những con gấu không may mắn, đưa chúng trở lại thiên nhiên, nhằm bảo tồn loài gấu đã được liệt vào sách đỏ trước nguy cơ bị săn bắt, nuôi nhốt và tận diệt và chấm dứt hoạt động nuôi gấu trang trại. Trung tâm được coi là nơi cứu hộ gấu vào loại hiện đại nhất châu Á, thuộc dự án của Tổ chức Động vật châu Á (Animals Asia Foundation - AAF). Tuy nhiên ưu tiên hàng đầu của những thành viên trong Trung tâm là mang lại sức khỏe, “niềm vui” cho từng cá thể gấu được cứu hộ.
Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo đi vào hoạt động từ 4/2008, có tổng diện tích 1,2ha được đầu tư với số tiền trên 3,3 triệu USD, có thể nuôi nhốt 200 cá thể gấu cùng một lúc. Khu cứu hộ được xây dựng bao gồm 3 nhà cách ly, cứu hộ, nuôi nhốt gấu, khu chế biến thức ăn cho gấu, hệ thống xử lý nước thải hiện đại…
Cuối năm 2013, khi giai đoạn 2 hoàn thành, toàn bộ trung tâm cứu hộ gấu sẽ rộng tới 12ha với 10 khu nuôi gấu bán tự nhiên và 2 khu chăm sóc gấu đặc biệt. Khi đó, Trung tâm đủ khả năng tiếp nhận và chăm sóc 250 cá thể gấu. Tính đến thời điểm hiện tại, có 107 cá thể gấu đã được cứu hộ đang sinh sống tại Trung tâm.
Phần lớn gấu được cứu hộ về Trung tâm thuộc loài gấu ngựa, loài gấu đen có khoang cổ hình bán nguyệt màu vàng chanh. Ngoài ra, cũng có một số cá thể gấu chó, là loại gấu nhỏ hơn, có khoang cổ hình tròn được nhiều người ví là biểu tượng của mặt trời lên. Gấu có cân nặng trung bình khoảng 70kg, đặc biệt có móng vuốt rất dài và sắc.
Cũng giống như gấu ngựa, gấu chó thích ăn mật ong và các loại hoa quả chín. Ngoài tự nhiên, gấu chó là loài leo trèo rất giỏi và thường dành nhiều thời gian sống trên cây. Đội ngũ cán bộ của Trung tâm chủ yếu là các chuyên gia thú y nước ngoài, chuyên phục vụ các “bệnh nhân” đặc biệt. Sau khi được cứu hộ từ những cánh rừng, đội ngũ cán bộ, thú y Trung tâm sẽ thường xuyên theo dõi sức khỏe và xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý đối với từng cá thể gấu.
Một trong những mục tiêu quan trọng khác của Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam là nâng cao ý thức cộng động về bảo tồn động vật hoang dã và môi trường tự nhiên nói chung cũng như bảo tồn loài gấu ở Việt Nam nói riêng. Mục tiêu này được lồng ghép với các hoạt động của Vườn quốc gia về du lịch môi trường thân thiện, được tăng cường thông qua các đợt thăm quan của khách du lịch cũng như của các nhà nghiên cứu. (Báo Vĩnh Phúc 4/12) đầu trang(
Đã 23 năm trôi qua kể từ ngày những cư dân đầu tiên đặt chân lên vùng rừng U Minh Hạ theo chủ trương xã hội hoá nghề rừng. Từ đó, rừng có nhiều biến đổi, nhiều hình thức khai thác, đầu tư.
5.000 hộ dân nhận khoán trên lâm phần tuy phấn khởi trước những đổi thay về hạ tầng nông thôn nhưng vẫn còn băn khoăn giá sản phẩm, đầu ra nguyên liệu.
Tại cuộc họp báo về quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế rừng U Minh Hạ, ngày 2/12, Kỹ sư Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT, nhận định: “Xuất phát điểm của dân thuộc lâm phần U Minh Hạ là khó khăn. Khi vào nhận khoán, tuy cầm trong tay mấy héc-ta đất nhưng không đủ vốn để cải tạo, đầu tư kỹ thuật canh tác hiệu quả.
Cộng thêm công tác quản lý còn chưa nghiêm ngặt nên chuyện tự ý nhượng lại thành quả lao động hay nhận đất không đúng đối tượng là không thể tránh khỏi. Tuy vậy, sau 23 năm đời sống đa phần người dân đã khá hơn”.
Những chủ trương, chính sách của Chính phủ và tỉnh trong suốt mấy mươi năm qua phần nào tháo gỡ khó khăn đại bộ phận đời sống cư dân vùng rừng. Tuy nhiên, phần lớn người dân dưới tán rừng tràm thuộc đối tượng nghèo khó không đủ điều kiện đầu tư vốn, không đủ trình độ kỹ thuật cải hoá vùng đất nghèo.
Khi đó, nguồn ngân sách Nhà nước cũng không bảo đảm cho các đơn vị quốc doanh đầu tư phát triển kinh tế rừng. Vị trí độc tôn của cây tràm đến thời điểm những năm 2008-2009 không còn nữa, nhiều người không mấy mặn mà với cây tràm. Từ đó tạo lỗ hổng lớn, có lúc toàn lâm phần U Minh Hạ có đến hơn 3.000 ha bỏ hoang hoá.
Mặt khác, do quy định hạn mức diện tích khai thác trong năm làm hạn chế việc khai thác tràm của người dân khi đến chu kỳ. Đến khi được phép khai thác thì cây không còn dùng phù hợp trong nhu cầu xây dựng (cừ tràm), giá thành xuống thấp, chỉ bán làm củi, còn đem ra sử dụng cây gỗ sản xuất bàn ghế thì chưa đủ kích cỡ.
Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết: “Đó là khó khăn và cũng là bức xúc lớn của người dân. Chúng tôi đã lập kế hoạch đến năm 2022 bình ổn thị trường khai thác, trong đó ưu tiên giải quyết phần lớn các hộ còn diện tích tràm chưa khai thác khi đến tuổi vài năm trước”.
Năm 2009, Bộ NN&PTNT đồng ý cho trồng và khai thác cây keo lai trên vùng rừng sản xuất ở U Minh Hạ. Đó là giải pháp đột phá để phát triển kinh tế rừng (tính đến thời điểm hiện tại). Với những đặc điểm dễ trồng, mau lớn nên hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn so với cây tràm.
Ước tính trung bình mỗi héc-ta keo lai độ 5 năm tuổi giá bán trọn gói từ 180-200 triệu đồng. Trong khi cùng diện tích đó thì cây tràm phải mất thời gian gấp đôi và giá trị chỉ bằng 1/3 của cây keo lai. Đến nay, Cà Mau đã có khoảng 4.000 ha keo lai được trồng.
Tuy nhiên, trên vùng đất rừng nghèo thuộc các ấp 17, 18, 19, 20, xã Nguyễn Phích và vùng rừng khu vực xã Khánh Bình Tây Bắc, người dân vẫn rất bức xúc. Cốt lõi là vì không được kê liếp trồng keo lai như bao vùng lân cận (do nhiều nguyên nhân khách quan), dẫn đến họ tự ý đưa nước mặn vào vùng sản xuất nông nghiệp, thậm chí vùng rừng đề nuôi tôm. Từ đó dẫn đến tình trạng cây rừng vùng này kém phát triển, đời sống người dân đã khó khăn càng thêm khó khăn.
Ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho hay, vừa qua, tỉnh thành lập đoàn kiểm tra tại các khu vực người dân tự ý phá vỡ quy hoạch, nguyên nhân là do quá bức xúc vì cuộc sống. Sở sẽ kiến nghị có giải pháp cơ bản nhất giúp vùng này ổn định hơn.
Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu quả các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng rừng tránh ngập úng vào mùa trữ nước cũng hết sức cần thiết. Bởi thực tế nhiều năm qua, mỗi khi trữ nước mùa khô bảo vệ rừng thì vùng sản xuất lúa liền kề của người dân bị ngập úng.
Như vậy, những giải pháp gỡ khó cho rừng tràm đã được quan tâm từ sớm. Song, những giải pháp này cần được quan tâm ưu tiên cho người dân hưởng lợi, bình ổn hơn nữa. “Hạn chế tình trạng trả nhiều khoản chi phí sau khai thác, người dân được hưởng lợi quá ít. Suy cho cùng, giải pháp đầu tư cho vùng rừng cốt lõi vẫn là nâng cao đời sống người dân, vực dậy vùng kinh tế rừng”, ông Lê Văn Sử khẳng định. (Báo Cà Mau 5/12) đầu trang(
Hàng chục ngàn hécta rừng khu vực miền Trung - Tây Nguyên bị chặt trắng trong các năm qua, để nhường chỗ cho các công trình thủy điện. Báo cáo các dự án đều “hứa hẹn” công trình hoàn tất thì rừng sẽ được trả lại nguyên vẹn. Thế nhưng, khi công trình xây xong, lời hứa cũng trôi theo dòng nước. Rừng không còn, dù thủy điện xả có “đúng quy trình” thì người dân hạ du vẫn ngập lút mặt.
Hàng chục dự án thủy điện (TĐ) ở Quảng Nam đã ngốn cả chục ngàn hécta rừng, nhưng lại chỉ trồng bồi hoàn chưa đầy 1/2.000 diện tích rừng đã lấy đi. Nhiều năm qua, các TĐ đã phát điện, nhưng hầu hết các chủ đầu tư TĐ đều không trồng rừng thay thế, hoặc không chịu chi trả kinh phí để các địa phương tổ chức trồng rừng thay thế.
Theo UBND tỉnh Quảng Nam, diện tích đất rừng dự kiến thu hồi để đầu tư các công trình TĐ là 11.384ha, diện tích đã thu hồi là hơn 7.047,6ha, trong đó hơn 3.000ha là rừng tự nhiên, đặc dụng, phòng hộ. So với tổng diện tích đất rừng và đất khác của các huyện miền núi đã thu hồi để triển khai các dự án KT-XH, thì diện tích thu hồi để thực hiện các công trình TĐ chiếm 34,6%. Cụ thể, 10 công trình TĐ theo quy hoạch bậc thang sông Vu Gia - Thu Bồn chiếm 8.717ha, 34 công trình TĐ vừa và nhỏ chiếm 2.666ha.
Hơn 282ha rừng phải nhường chỗ cho hành lang đường điện các dự án TĐ. Thêm nữa, 14 chủ đầu tư các dự án TĐ đang trình UBND tỉnh duyệt cấp thêm hơn 2.156,4ha đất rừng sử dụng cho mục đích TĐ. Chủ trương của tỉnh là yêu cầu các chủ đầu tư phải trồng lại diện tích rừng tương đương với diện tích rừng và đất rừng mà dự án chiếm dụng... Tuy nhiên, hơn 8 năm qua, việc trồng lại rừng thay thế cho những diện tích rừng đã mất của các chủ đầu tư TĐ chưa đạt 1/1.000.
Theo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, có 17 công trình TĐ đã lấy mất 2.000ha rừng tự nhiên. Đến nay, chỉ có 10/17 chủ đầu tư lập và được duyệt phương án trồng rừng thay thế, nhưng cũng chỉ trồng, khoanh nuôi tái sinh được khoảng 200ha rừng. Trong đó, chủ TĐ Sông Bung 5 đã trồng và khoanh nuôi tái sinh 123ha rừng thay thế, chủ TĐ Sông Bung 4 trồng và khoanh nuôi tái sinh được 80ha rừng thay thế.
Theo ông Phan Sĩ Hùng - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh - hầu hết các chủ đầu tư TĐ đều không lập phương án trồng rừng thay thế, hoặc có phương án rồi nhưng không trồng, cũng không chuyển kinh phí cho các địa phương, đơn vị tổ chức trồng...
Cụ thể, như Cty CP TĐ Geruco Sông Côn 2, mặc dù đã có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt từ đầu năm 2011, nhưng đến nay vẫn không chịu chi trả hơn 3,3 tỉ đồng để Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Côn trồng thay thế 70ha rừng... Chủ đầu tư TĐ Đăk Mi 4, mặc dù lấy hơn 1.100ha rừng, trong đó đến 712ha là rừng tự nhiên, nhưng từ năm 2007 đến nay vẫn chưa lập phương án trồng rừng thay thế.
Cũng theo ông Hùng, mặc dù năm nào UBND tỉnh cũng có văn bản hối thúc, Chi cục Lâm nghiệp kiểm tra, đôn đốc, nhưng cũng chỉ dừng lại ở phê bình, chứ không xử lý được, bởi không có chế tài. “Việc các TĐ không chịu trồng rừng bồi hoàn đã gây hậu quả nặng cho hạ du, vì hầu hết rừng bị mất là rừng đầu nguồn, phòng hộ. Điều này cũng ảnh hưởng lại đối với chính các TĐ, đất rừng xói mòn bồi lấp lòng hồ...”.
Theo ông Dương Chí Công - GĐ Sở TNMT tỉnh Quảng Nam - các chủ đầu tư TĐ chỉ chăm chú việc xây dựng công trình và thu lợi nhuận, vô trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế... Ngoài ra, việc tìm diện tích đất để trồng rừng thay thế cũng đã là một khó khăn, bởi hầu hết diện tích đất trống đồi trọc đã giao cho người dân sử dụng. Chưa nói đến việc, tính đa dạng sinh học trong rừng trồng không cao, khi trồng thông thường chỉ trồng 1 loại cây, không tạo thành các quần thể sinh thái.
Hệ lụy của việc vừa mất rừng, vừa không trồng rừng thay thế đã khiến lũ lụt, sạt lở đất ngày càng nặng nề hơn. Theo ông Phan Đức Tính - Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc - địa phương nằm dưới chân các TĐ, liên tục bị lũ gây thiệt hại nặng nề. Nguyên nhân không chỉ do TĐ xả lũ chồng, mà còn do rừng đầu nguồn bị TĐ lấy mất, khiến lũ đổ về nhanh và dâng cao bất thường.
Ngoài các truờng hợp này, các dự án thủy điện còn lại ở Đắk Lắk chưa thực hiện nghĩa vụ ữồng rừng thay thế, với lý do chính quyền địa phương không bố trí đu đất. Trong khi theo Thông tư 24/2013 của Bộ NNPTNT có hiệu lực từ ngày 1.7, nếu không có đất, chủ đầu tư phải nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) để bố trí trồng rừng nơi khác. Tại Lâm Đồng, dự kiến năm 2014, tỉnh trồng 130ha rừng thay thế, theo hình thức chủ đầu tư trả tiền cho các đơn vị quản lý rừng thực hiện. Một con số quá ít, bởi các dự án thủy điện đã ngốn tới 1.880ha rừng trên toàn tỉnh.
Ngoài ra, hàng loạt dự án thủy điện đã “nuốt” hàng nghìn hécta rừng vào lòng hồ, phá hàng nghìn hécta khác để tái định cư, tái định canh mà không phải trồng lại. Lý do là các thủy điện này xây dựng trước năm 2006, mà Nghị định 23 không có quy định truy thu.
Trong báo cáo gửi Thủ tướng, Bộ NNPTNT cho biết, từ năm 2006 đến nay, cả nuớc có hơn 19.800ha rừng bị chuyển mục đích sử dụng làm thủy điện, nhung trồng lại chưa đến l.OOOha. Theo quy định, nếu tỉnh không bố trí được quỹ đất thì hướng dẫn chủ đầu tư nộp tiền về Quỹ BVPTR Trung ương, để Bộ NNPTNT bố trí trồng rừng ở tỉnh khác. Nhưng đến nay, không thấy tỉnh nào kêu thiếu đất, DN cũng không nộp tiền về Quỹ BVPTR Trung ương. Ngược lại, nhiều tỉnh cho rằng, do Bộ NNPTNT chậm hướng dẫn, nên không có cơ sở để thực hiện.
Ông Nguyễn Quốc Hung - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp Đắk Lắk cho biết: “Nghị định 23 ban hành năm 2006, nhưng 7 năm sau mới có thông tư hướng dẫn trồng rừng thay thế đối với thủy điện. Hiện chúng tôi mới rà soát các thủy điện xây dựng từ năm 2006, lãnh đạo sở còn chưa ký báo cáo”. Tương tự, tỉnh Kon Tum cũng vừa rà soát các thủy điện trong diện điều chỉnh của Nghị định 23, sắp tới mới thông báo cho các chủ đầu tư việc trồng rừng thay thế, nếu không trồng được phải nộp tiền.
Cũng theo Chi cục Phát triển lâm nghiệp Đắk Lắk, việc trồng rừng thay thế phải xong trong năm 2015 như nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua là rất khó. Đó là chưa kể. thủy điện đang chuẩn bị đầu tư thi có thể bắt buộc trồng rừng, còn thủy điện làm rồi thì rất khó đòi, do cả Nghị định 23 và Thông tư 24 đều không quy định chế tài.
Ông Trần Việt Hùng - Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên - cho biết: “Việc chấp hành quy định trồng rừng thay thế của các dự án thủy điện đang ở mức báo động. Nếu không có biện pháp quyết liệt hơn, hậu quả môi trường do các công trình thủy điện gây ra coi như khôn^khắc phục được”. (Lao Động 4 - 5/12) đầu trang(
Ngày 3/12, UBND tỉnh Quảng Nam đồng ý cho phép UBND huyện Duy Xuyên lập hồ sơ tận thu toàn bộ số lượng cây bị gãy đổ do cơn bão số 11 gây ra trên diện tích 89,25 ha rừng trồng thuộc Dự án JBIC tại khoảnh 1, 2, 3, Tiểu khu 413, trong đó giữ lại cây phòng hộ và cây keo còn đứng trình Sở NN&PTNT xem xét phê duyệt và cấp phép.
UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Duy Xuyên lập hồ sơ tận thu toàn bộ số lượng cây bị gãy đổ nêu trên đảm bảo theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 13, Thông tư số 35/2011 của Bộ NN&PTNT. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện và chính quyền địa phương cấp xã theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tổ chức khai thác tận thu; kịp thời phát hiện và ngăn chặn không để xảy ra trường hợp lợi dụng việc tận thu để khai thác gỗ trái phép.
Đồng thời xây dựng Phương án trồng rừng bổ sung trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện việc trồng rừng ngay trong vụ trồng rừng tiếp theo với cơ cấu tỷ lệ cây trồng cây phòng hộ 60% diện tích, cây phụ trợ 40% diện tích, và có kế hoạch tiếp tục chăm sóc, quản lý bảo vệ cây phòng hộ (kể cả cây Keo còn đứng) trong phương án trồng lại rừng. (Quangnam.gov.vn 4/12) đầu trang(
Công an tỉnh Đồng Nai vừa kết thúc một tháng ra quân thực hiện cao điểm kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, các tổ truy quét bảo vệ rừng từ tỉnh đến cơ sở đã tổ chức đấu tranh, phát hiện và bắt giữ 71 vụ, 84 đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Nhiều vụ việc nổi bật trong đợt truy quét được ghi nhận liên quan đến trộm cắp gỗ rừng, bảo vệ động vật quý hiếm.
Các lực lượng chức năng đã triệt phá 23 vụ, tạm giữ 31 đối tượng liên quan. Công an huyện Định Quán đã khởi tố, bắt giữ điều tra xử lý hai đối tượng Nguyễn Hoàng Đăng, 21 tuổi và Nguyễn Thanh Liêm, 18 tuổi, cùng ngụ xã Gia Canh (huyện Định Quán), ngang nhiên vào rừng cưa trộm gỗ giá trị tại Tiểu khu 81B, Phân trường 6 (Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú).
Các lực lượng chức năng cũng đã tiến hành kiểm tra, truy quét việc kinh doanh sản phẩm gỗ, động vật rừng trái phép; đã phát hiện, xử lý 46 vụ, 47 đối tượng; đã khởi tố điều tra 2 vụ, 3 đối tượng; xử lý hành chính 31 vụ, 32 đối tượng. Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV (PC46) phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã kiểm tra, phát hiện tại kho của Công ty Nguyên Khang (thuộc xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom) chứa hơn 30m3 gỗ xoan mộc giả mạo chữ ký, con dấu của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk).
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã khởi tố vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng để điều tra, xử lý. Tiếp đó, ngày 25-11, PC46 và Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã kiểm tra một công ty ở phường Long Bình (TP Biên Hòa) có dấu hiệu dùng bản kê lâm sản có con dấu, chữ ký giả của Hạt Kiểm lâm Nhơn Trạch nhằm hợp thức hóa gần 2.800m3 gỗ…
Về hành vi săn bắt thú rừng, Công an đã phát hiện, triệt phá 2 vụ với 6 đối tượng tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng trái phép và săn bắn động vật rừng liên quan đến săn bắn voi rừng trước đây tại vườn quốc gia, Công an đã bắt quả tang các đối tượng Cao Văn Minh (ngụ xã Phú Lợi, huyện Định Quán) và Nguyễn Minh Đức (ngụ xã Đạ Pal, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng) mang một khẩu súng AR15 kèm 40 viên đạn gắn ống giảm thanh đi vào khu vực Phân trường 3 thuộc Công ty Lâm nghiệp La Ngà để săn bắn.
Khám xét nơi ở đối tượng, Công an đã thu giữ thêm 20 khẩu súng các loại, 2 quả lựu đạn và nhiều hung khí, vũ khí tự chế dùng săn bắt thú rừng quý hiếm. Mở rộng điều tra, Công an đã khởi tố bắt giữ thêm 4 đối tượng đồng bọn.
Theo nhận định, từ nay đến Tết, hoạt động tội phạm liên quan đến rừng sẽ còn diễn biến phức tạp, Công an các huyện phối hợp với lực lượng quân sự, kiểm lâm và các ban, ngành địa phương thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân thu gom vũ khí, vật liệu nổ, bẫy thú, không săn bắn thú rừng, không khai thác gỗ trái phép và tích cực tuyên truyền pháp luật bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân. (Công An Nhân Dân 4/12) đầu trang(
"Hiện UBND tỉnh Gia Lai đã giao công an làm rõ việc Công ty TNHH MTV Bình Dương và Trung đoàn 710 thuộc Tổng công ty 15 có nhiều sai phạm trong quá trình trồng cao su. Nhân đợt này tỉnh cũng giao thanh tra rà soát lại toàn bộ diện tích rừng bị phá trồng cao su thuộc địa bàn tỉnh”.
Ông Kpă Thuyên, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai đã chia sẻ như vậy với Đất Việt sau sự việc Cty Bình Dương chỉ trồng 529 ha cao su trong vùng dự án. Diện tích đất lâm nghiệp rộng khoảng 700 ha lân cận không được UBND tỉnh Gia Lai cho phép chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang đất trồng cao su đã bị Cty Bình Dương cho san phẳng trồng 474 ha cao su ra ngoài ranh giới, địa phận được giao đất.
Mới đây, ngày 27/11, Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai đã chính thức thông báo kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai liên quan đến việc Công ty TNHH MTV Bình Dương và Trung đoàn 710 thuộc Tổng công ty 15 có nhiều sai phạm trong quá trình trồng cao su.
Cụ thể việc trồng cao su của những đơn vị này trên đất lâm nghiệp cũng như tự ý thỏa thuận đền bù đất sản xuất của dân đem trồng cao su, khai hoang đất trồng cao su không để lại diện tích cách mép sông, suối tối thiểu 50 m và cách lề quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện tối thiểu 100 m là sai quy định.
Đối với diện tích đất đã khai hoang nhưng không trồng được cao su, yêu cầu Công ty Bình Dương và Trung đoàn 710 phải trồng lại rừng.
Diện tích đất này trước đó UBND tỉnh Gia Lai đã thu hồi đất lâm nghiệp của Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Puch và cho Cty Bình Dương thuê đất để trồng cao su tại huyện Chư Prông, Gia Lai, tổng diện tích 2.774 ha.
Theo ông Bùi Mạnh Hùng, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước, thực tế việc DN trà trộn, không minh bạch trong các dự án trồng cao su nhưng lại phá rừng xuất hiện tại nhiều địa phương chứ không riêng gì Gia Lai. Ngay như ở Bình Phước, khi có chủ trương trồng cao su cũng xảy ra tình trạng này.
“Các tỉnh cần phải rà soát lại. Phá rừng dù làm gì cũng đều sai, với cây cao su cũng vậy. Không nên chho cây này có giá trị kinh tế cao mà phá rừng trồng cao su. Làm quyết liệt sẽ rõ vấn đề ngay”, ông Hùng nói.
Câu chuyện phá rừng trồng cao su cũng vừa được Quốc hội bàn “nóng”.Tại diễn đàn Quốc hội đại biểu Trương Văn Vở, tỉnh Đồng Nai đã nêu rõ, những dự án chuyển đổi đất rừng trồng cao su vượt quá quy hoạch. Việc chuyển đổi đất rừng trồng cao su đã bị lợi dụng và làm tràn lan.
Ông Vở cũng dẫn số liệu, tính đến hết năm 2012, diện tích cao su của cả nước đạt 915.000 ha, vượt xa con số 800.000 ha, là mốc trong Chiến lược phát triển cao su đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt. Chỉ riêng miền Trung dù chưa được quy hoạch nhưng đã trồng 30.000 ha.
Theo ông Vở “đề nghị Chính phủ rà soát, không được xem đây là điều kiện và là cái cớ để phá rừng. Phải tạm dừng cho phép khảo sát, phê duyệt các dự án mới đầu tư phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên”.
Dù trước Quốc hội Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã nhận trách nhiệm và cho rằng quy hoạch cao su về mặt kỹ thuật có vấn đề, cho rằng: thời gian tới sẽ phải rà soát lại, song đại biểu Trương Văn Vở cho rằng cần phải quyết liệt hơn.
Ông Vở cho biết: “Dù bộ trưởng đã nhận trách nhiệm như vậy nhưng Dự thảo nghị quyết của QH sau chất vấn, đại biểu đã có đề nghị đưa vấn đề cao su vào. Cụ thể là nhấn mạnh việc Chính phủ quan tâm tâm phối hợp với địa phương, bộ ngành liên quan chỉ đạo kiểm tra đôn đốc xử lý nghiêm vi phạm pháp luật việc chuyển đất rừng trồng cao su không đúng quy hoạch được duyệt. Nhưng báo cáo thông qua đã không được tiếp thu ý này”.
Còn ông Bùi Mạnh Hùng thì cho rằng, với các dự án trồng cao su phải rà soát, nếu sai phải xử lý thu hồi hết toàn bộ. “Phá rừng dù làm gì cũng đều sai, với cây cao su cũng vậy. Không nên cho cây này có giá trị kinh tế cao mà phá rừng trồng cao su”, ông Hùng nói.
Một thực tế từ chính địa phương đang diễn ra được ông Hùng cho biết đó là các doanh nghiệp phá rừng trồng cao su khi bị thu hồi đất lại nhưng mới chỉ dừng ở đó. Còn việc trồng bù lại rừng thì vẫn chưa thực hiện được.
“Lúc này cần thiết phải giữ rừng lại, cao su cùng với thủy điện cùng chen vào phá rừng rồi chẳng mấy chốc rừng sẽ bị thu hẹp lại. Cần xử lý, thu hồi hết toàn bộ. Như ở Bình Phước cũng mới chỉ thu hồi còn trồng lại rừng thì chưa thực hiện được”, ông Hùng chia sẻ.
Để xảy ra tình trạng doanh nghiệp phá rừng trồng cao su trên địa bàn, ông Hùng cho rằng, ngoài trách nhiệm ngành là Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, sở … thì chủ tịch UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm. “Nếu để lơ là quản lý không chặt là chuyện doanh nghiệp lấy cớ trồng cao su để phá rừng sẽ diễn ra ngay. Không đơn giản là doanh nghiệp phá rừng lấy gỗ mà họ còn chiếm đất nữa”, ông Hùng nói.
Do vậy với trọng trách của mình, các đại biểu đều cho rằng việc làm nghiêm và quy rõ trách nhiệm cần phải được thực hiện để bảo vệ rừng, tránh hậu họa về sau. (Đất Việt 4/12) đầu trang(
Những rừng thông chắn sóng ven biển Quảng Nam đang đứng trước nguy cơ bị hủy diệt, thậm chí người dân còn sẵn sàng phá vườn, dỡ nhà, dùng xe cơ giới đào múc, lót bạt xây hồ để nuôi tôm trái phép; không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà lá chắn sóng gió, bão lớn cũng không còn. Điều đáng nói là sự vào cuộc của chính quyền quá chậm, không biết đến bao giờ tình trạng này mới chấm dứt.
Tại Quảng Nam, giá tôm thẻ chân trắng vài năm trở lại đây tăng cao, từ 50.000 đồng/kg rồi lên 100.000 đông/kg đến nay đã là 160.000 đồng/kg. Vì thế hàng trăm hộ dân vùng ven biển huyện Núi Thành, Thăng Bình đã bất chấp vi phạm đua nhau chặt phá rừng thông ven biển, xây dựng hồ lót bạt nuôi tôm trái phép.
Ông Ngô Đình Tư, thôn Hà Quang, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành chân tình: "Việc nuôi tôm thẻ chân trắng ven sông Trường Giang diễn ra dịch bệnh liên tiếp khiến chúng tôi bị lỗ nặng và đành gác nghề. Thế nhưng hai năm lại đây thấy người dân địa phương nuôi tôm thẻ chân trắng bằng hồ lót bạt trúng đậm. Mỗi vụ chí ít cũng thu lãi hàng trăm triệu đồng. Nên ba anh em tôi quyết định dùng 10 sào đất vườn nằm ven biển xây dựng 4 hồ để nuôi tôm”.
Khi PV hỏi, các anh phá rừng thông, đào hồ rồi nuôi tôm không có phép, không sợ chính quyền xử lý hay sao? Ông Tư cho biết: "Khó khăn lắm mới xây được 4 hồ này, chúng tôi phải chạy vạy vay mượn trên 500 triệu đồng thuê xe cày ủi, mua bạt lót hồ, mua tôm giống. Các lực lượng chức năng kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ. Nhưng ban ngày họ truy thì mình làm ban đêm, đến khi thành hồ thả tôm không lý họ san bằng của dân hay sao? Đợt tôm vụ đầu tôi mới xuất bán thu hơn 1,6 tỷ đồng, lãi gần 500 triệu. Nuôi tôm kiểu này thua lỗ 3 vụ, trúng 1 vụ cũng có lời, nên anh em tôi cứ thế mà làm”!
Không riêng gì ông Tư mà nhiều hộ dân ở xã này san ủi mặt bằng, làm hồ lót bạt nuôi tôm đều vi phạm. Nhiều hộ dân cho rằng, đất vườn của họ thì họ có quyền làm! Đáng lo ngại, để có các hồ nuôi tôm, nhiều hộ đã chặt cả rừng thông ven biển, phá cả rừng cây vườn nhà và thậm chí tháo dỡ nhà để thuê xe múc, xe ủi vào đào bới, xây dựng ao.
Ông Nguyễn Hải và ông Nguyễn Phu, ở thôn Lộc Đồng, xã Tam Tiến cho biết: "Hồ tôm của chúng tôi, ngày trước là một rừng dương liễu, nhưng đành chặt bỏ để lấy đất xây hồ. Hồ này có diện tích 2 sào, hiện đang trong giai đoạn hoàn thành để cho kịp thả nuôi vụ tôm đầu!”
Qua tìm hiểu được biết, 1 ha tôm nuôi trong hồ lót bạt, từ 3 đến 4 vụ/năm, năng suất từ 10-20 tấn/ha/vụ thì có tổng doanh thu từ 3-5 tỉ/ha/năm, lợi nhuận từ 1,5 tỉ-2,5 tỉ/ha/năm. Vì thế mà nhiều người dân đã bất chấp tất cả để đào hồ nuôi tôm. Ông Nguyễn Giúp, Chủ tịch UBND xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, cho biết: "Toàn xã có khoảng có khoảng 18,2 ha nuôi tôm lót bạt trái phép của 225 hộ dân”.
Còn theo Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam, đến nay, diện tích nuôi khoảng 222ha với hơn 674 hộ, đa số đều nuôi trái phép hoặc vi phạm về môi trường, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép. Việc nuôi tôm thẻ chân trắng ven biển đã thật sự gây hậu quả nghiêm trọng như tạo điều kiện cho triều cường tấn công, gió bão tàn phá, biển sẽ xâm thực sâu vào đất liền; hiện tượng mặn hóa nguồn nước ngọt ngầm; gây ô nhiễm môi trường và bệnh trên tôm nuôi khó kiểm soát, quá trình lây lan khó khống chế, làm ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp tới các hộ nuôi tôm vùng triều.
Trước sự việc trên, ông Nguyễn Văn Truyền – Chánh văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, qua kiểm tra của các cơ quan chức năng cho thấy, việc nuôi tôm thẻ chân trắng trái phép ven biển là có thật. UBND tỉnh Quảng Nam đã văn bản yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thành phố ven biển; các sở, ban ngành liên quan tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm những hộ chặt rùng thông và các loại cây trồng khác ven biển, chuyển đổi đất vườn, đất ở để san ủi, đào ao nuôi tôm trái phép;
Đồng thời, kiểm tra việc cấp phép, xứ lý tịch thu các loại xe ủi, xe múc đang san ủi làm ao nuôi tôm; kiểm tra, xử lý đình chỉ ngay các hộ nuôi tôm trái phép, không xây dựng hệ thống xử lý nước thải và thải không qua xử lý ra môi trường. Yêu cầu những hộ dân đang nuôi tôm phải cam kết khi hết chu kỳ phải dừng ngay, nếu không chấp hành bị phạt; nghiêm cấm triệt để việc tạo hồ nuôi mới…
Thế nhưng dư luận vẫn đặt ra câu hỏi, với tầm quan trọng của rừng phi lao ven biển và tác động xấu của việc nuôi tôm ven biển về môi trường, tại sao ngay từ đầu chính quyền địa phương đã không triệt để xử lý, đến giờ này sự việc đã tràn lan liệu có xử lý được hay không và đến bao giờ mới có lại được những rừng phi lao ven biển để chắn gió bão? (Đại Đoàn Kết 4/12) đầu trang(
Những loài chim quý như sơn cầm, gà rừng, bồ nông, mòng, kết… đang bị rao bán tại các chợ chim ở huyện Anh Sơn, sau đó đưa vào các quán nhậu.
Để có "hàng" cung cấp cho thị trường, tại các địa phương này ngày nào cũng có các tay săn chim rừng, ra đồng dựng lều săn, bẫy. (Phụ Nữ TPHCM 4/12) đầu trang(
Từ lâu, rùa biển vẫn luôn bị săn bắt để lấy thịt, trứng, mai và da. Ngày nay chỉ còn 7 loài rùa biển trên phạm vi toàn cầu, 5 loài trong số đó được tìm thấy ở các vùng biển Việt Nam, nhưng chúng cũng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Tình trạng tiêu thụ các sản phẩm từ rùa biển trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng đến quần thể loài. Tất cả năm loài rùa biển ở Việt Nam đều được xếp vào các nhóm nguy cấp hoặc rất nguy cấp trong Danh sách đỏ các loài bị đe dọa tuyệt chủng của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), và pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi mua, bán, vận chuyển các loài rùa biển vì mục đích thương mại.
Tuy nhiên, rất nhiều người vẫn chưa biết việc mua, bán, sử dụng, tàng trữ, vận chuyển rùa biển và các sản phẩm của chúng để kiếm lời là bất hợp pháp. Đại bộ phận người tiêu dùng vẫn vô tư mua các sản phẩm làm từ rùa biển mà không biết rằng chính sự vô tình của mình làm suy giảm nghiêm trọng các quần thể rùa biển trong tự nhiên dẫn tới suy giảm nghiêm trọng nguồn cá biển.
Vì vậy, tổ chức TRAFFIC (mạng lưới kiểm soát buôn bán động vật và thực vật hoang dã toàn cầu) phối hợp với Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, Chi cục Thủy sản Hà Nội và các tổ chức xã hội khác triển khai một chiến dịch truyền thông về những quy định của pháp luật liên quan đến bảo rùa biển và cảnh báo những hành vi mua, bán, tiêu dùng rùa biển trái phép trên địa bàn Hà Nội.
Mục tiêu của chiến dịch là chuyển đến mọi người thông điệp: mua, bán, sử dụng, tàng trữ, vận chuyển rùa biển và các sản phẩm rùa biển là trái pháp luật và đẩy chúng đến tuyệt chủng. (Gia Đình&Xã Hội 5 - 11/12, tr10) đầu trang(
Sau khi Báo Công an TPHCM có loạt bài Những “địa chủ mới” ở rừng U Minh, ngày 2/12, Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau tổ chức họp báo xung quanh vấn đề trên.
Ông Lê Văn Sử - Giám đốc sở - cho biết, từ năm 1991 UBND tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau) đã thực hiện chủ trương giao khoán rừng cho các hộ. Năm 1994, tỉnh thực hiện đóng cửa rừng do các lâm ngư trường (LNT) không có vốn nên đồng ý để họ kêu gọi tổ chức, cá nhân đầu tư hợp tác sản xuất. Giai đoạn 1995 - 2001, tỉnh giao đất lâm nghiệp cho hơn 5.000 hộ nhận khoán.
Ông Sử thừa nhận: “Tỉnh luôn quan tâm phát triển đúng về tài nguyên rừng nhưng còn nhiều khó khăn. Cá nhân nhận liên doanh liên kết phần nhiều là cán bộ về hưu, sau đó họ lại cho dân nghèo thuê lại như kiểu phát canh thu tô. Tỉnh đã thu hồi phần lớn diện tích trên để cấp cho dân nghèo, còn những hộ nhận giao khoán có hoàn cảnh khó khăn do không có phương tiện sản xuất, mặt khác rừng trên Lâm phần U Minh Hạ chủ yếu là tràm, hiệu quả kinh tế thấp. Lâm ngư trường đã thực hiện một số chính sách bất hợp lý với dân”.
Trở lại những vấn đề Báo Công an TPHCM phản ánh, ông Sử khẳng định nội dung hoàn toàn chính xác, đó cũng là thực trạng tồn tại lâu đời dưới tán rừng U Minh Hạ. Thông tin LNT thu thuế cả con cá lội dưới sông là có thật.
Năm 2000, người dân nhận khoán chỉ quản lý sản xuất trong khuôn hộ được giao và trồng rau màu trên bờ bao, hệ thống kinh mương do Nhà nước đầu tư nên toàn bộ mặt nước dưới kinh do LNT quản lý kinh doanh để khai thác cá hàng năm, tạo nguồn thu cho các LNT, vì vậy nếu người dân có nhu cầu khai thác cá phải hợp đồng với LNT. Việc LNT không cho dân trồng rừng cũng có nguyên nhân. Giai đoạn 2009 - 2011, diện tích các hộ nhận liên doanh liên kết sắp hết hạn, công ty không cho trồng rừng vì sợ gặp khó khăn khi thanh lý hợp đồng.
Ông Sử khẳng định: “Thời điểm trên, tỉnh có gần 3.500ha đất chưa có rừng. Đây là thiếu sót của sở do phát hiện chậm. Công ty không cho người dân trồng rừng là sai vì trách nhiệm thanh lý hợp đồng là của công ty”.
Về thông tin, tràm quá lứa, LNT không cho người dân khai thác dẫn đến hiệu quả kinh tế kém, đại diện các cơ quan chức năng cũng thừa nhận bất hợp lý. Nếu khai thác ồ ạt, tràm sẽ rớt giá, không nơi tiêu thụ, vì vậy LNT có kế hoạch tiến hàng theo chu kỳ để ổn định giá cho người dân. Tuy nhiên vấn đề trên xảy ra nghịch lý: số rừng tràm chậm khai thác sẽ có giá trị kinh tế thấp mà trách nhiệm này thuộc về cơ quan quản lý. Những bất cập trên, sở ghi nhận và sửa sai để đảm bảo quyền lợi cho người dân.
Bên cạnh thực trạng tồn tại trên, việc ăn chia giữa LNT và người dân được giao khoán cũng gặp nhiều vướng mắc do chưa hợp lý. Vừa qua, UBND tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo các sở, ban ngành có liên quan xem xét đề xuất hợp tác đầu tư. Theo đó, người dân chấp thuận phương án: Công ty U Minh Hạ góp vốn 100%, đối tác có trách nhiệm chăm sóc và quản lý rừng; đến kỳ khai thác, trừ chi phí trồng rừng, lãi vay và các khoản thuế theo quy định, công ty được chia 20%, đối tác nhận 80% lợi nhuận.
Ông Sử cho biết thêm, do hiệu quả kinh tế của cây tràm thấp nên tỉnh nhiều lần kiến nghị Bộ NN&PTNT cho Cà Mau bổ sung hai loài cây lâm nghiệp. Đến nay, bộ đã đồng ý cho trồng cây keo lai và chuyển đổi trồng tràm từ quảng canh sang thâm canh để tăng hiệu quả kinh tế.
Theo ông Sử: “Ngoài việc được chuộng khi sản xuất sản phẩm công nghiệp, cây keo lai còn có khả năng chống xói mòn đất, có giá trị cải thiện môi trường sinh thái, nhất là vùng đất ngập phèn mặn ở U Minh Hạ. Chu kỳ cây khai thác năm năm tuổi có sản lượng 250 - 300m3/ha, giá bán trọn gói từ 180 - 200 triệu đồng/ha, gấp ba lần so với cây tràm, Công ty U Minh Hạ đã trồng hơn 4.000ha. Về đầu ra, hiện một doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy chế biến gỗ với công nghệ tiên tiến. Tôi tin rằng trong thời gian tới, tiềm năng rừng sẽ được đánh thức, đời sống người dân sẽ khá hơn”. (Công an TPHCM 5/12) đầu trang(
Chiều 4/12, thông tin về xử lý kỷ luật một số cán bộ, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên (UBKT) cho biết đã kiểm điểm, kỷ luật nhiều cán bộ sai phạm.
Theo đó, UBKT đã thống nhất kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền buộc thôi việc, chuyển hồ sơ sang công an điều tra với ông Võ Trọng Bình, phó giám đốc phụ trách Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh.
Theo UBKT, trong nhiều năm làm trưởng ban rồi phó giám đốc phụ trách Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, ông Bình có nhiều hành vi cố ý làm trái để trục lợi cá nhân, chia đất rừng cho hầu hết cán bộ của ban này. Riêng ông Bình có 18 ha và gần 100 ha đứng tên anh rể…
UBKT đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của chủ tịch UBND huyện Sông Hinh trước đây và Sở NN&PTNT liên quan đến các sai phạm của ông Bình. (Pháp Luật TPHCM 5/12; Thanh Niên 5/12; Công An Nhân Dân 5/12; n;d 5/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung, huyện Đức Cơ nói riêng chuyện "lâm tặc" triệt hạ những cánh rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh ngày một "nóng" lên, mặc dù chính quyền địa phương đã kiểm tra, xử lý một số cán bộ có liên quan, nhưng xem ra chưa đủ sức răn đe. Những cánh rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ vẫn tiếp tục bị triệt phá.
PV đã đến gặp ông Chủ tịch UBND huyện Đức Cơ (Gia Lai), nhưng ông Chủ tịch “bận họp” và hẹn “vào dịp sau”. Ông hạt trưởng kiểm lâm cũng "bận họp" và giao lại cho ông phó hạt trưởng làm việc với PV.
Nói về vấn đề "lâm tặc" ngang nhiên tàn phá rừng, vận chuyển gỗ lậu ngay trước mặt cơ quan quản lý rừng, ông Nguyễn Thành Vĩnh, Phó hạt trưởng hạt kiểm lâm Đức Cơ cho biết: “Chuyện người dân phản ảnh về hành vi phá rừng và vận chuyển gỗ lậu ở đây là đúng. Do biên chế ở trạm chưa đủ, nên việc tuần tra, theo dõi, ngăn chặn hay bắt giữ gặp rất nhiều khó khăn. Số lượng xe độ chế ở đây rất nhiều.
Chủ tịch UBND huyện đã kiểm tra, chỉ đạo công an bắt giữ xe độ chế, nhưng cũng rất khó, chúng hoạt động về đêm, có lúc hơn 100 chiếc. Có thời gian, chúng tôi đã kết hợp với Ban quản lý bảo vệ rừng, công an truy bắt được một số đối tượng cùng hiện vật như, xe máy độ chế đang chở gỗ lậu, nhưng không đủ yếu tố để khởi tố, chỉ đề nghị xử phạt hành chính. Có lúc bắt xe, thu gỗ thì bà con địa phương kéo ra cả trăm người bao vây, đánh cán bộ trạm bị thương. Để bảo vệ tính mạng, chúng tôi đành phải thả phương tiện và số gỗ tang vật thu được". (Quân Đội Nhân Dân 5/12) đầu trang(
Rừng thông tại tiểu khu 96 do Lâm trường Đắk Pô Cô, huyện Đắk Glei (thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Glei) có diện tích khoảng 27ha được trồng từ năm 1978 - 1980, thuộc rừng sản xuất cấm khai thác. Tuy nhiên, hàng chục ha của cánh rừng này đang bị chặt hạ không thương tiếc trước sự bất lực của đơn vị quản lý và lực lượng chức năng.
Ông Nguyễn Hữu Thành, Giám đốc Lâm trường Đắk Pô Kô, đơn vị chủ rừng tại tiểu khu 96 thừa nhận rất khó ngăn chặn và đã dùng “hết cách”. Ông Thành cho biết: Lâm tặc thường lợi dụng đêm tối, trời mưa để khai thác, vận chuyển.
Mỗi lần khai thác nhỏ lẻ, chỉ một vài cây, nên khi phát phát hiện và bắt giữ chỉ 2 -3 khúc nên “chẳng làm được gì”. Chúng tôi đã làm nhiều cách để ngăn chặn, thậm chí còn dùng cả cách “đóng đinh vào thân cây” để khi về xẻ sẽ làm hư hỏng cưa nhưng vẫn không ăn thua”! Tuy nhiên, tình trạng khai thác nhỏ lẻ vẫn xảy ra.
Cũng theo ông Thành, các đối tượng lâm tặc rất manh động, khi bị bắt sẵn sàng chống trả, đe dọa để cướp lại gỗ. Ông Thành đưa ra bằng chứng là đã có 2 vụ cán bộ của lâm trường bị lâm tặc đánh trọng thương.
Theo ông Nguyễn Văn Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei: Khoảng hơn 1 năm trở lại đây rừng thông bị một số người khai thác ken cây, lấn chiếm đất làm nương rẫy trái phép.
Mới đây lợi dụng mưa bão số 10 - 2013, lâm tặc khai thác hơn 21m3 gỗ thông, hiện đã bị kiểm lâm huyện Đắk Glei bắt giữ, đang hoàn tất thủ tục chuẩn bị khởi tố, tuy nhiên không bắt được đối tượng khai thác.
Được biết, UBND huyện Đắk Glei cũng thường xuyên chỉ đạo đơn vị chức năng, đơn vị quản lý cần có biện pháp phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương nhưng tình trạng khai thác rừng thông khá phức tạp mà đơn vị chức năng chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. (Giáo Dục&Thời Đại 5/12) đầu trang(
Ngày 4-12, tại Km13 tuyến QL6A qua địa bàn thị trấn Xuân Mai, Hà Nội, Đội CSGT số 12 (Phòng CSGT CATP Hà Nội) đã phối hợp với Đội CSĐT tội phạm về tội phạm quản lý kinh tế (CA quận Tây Hồ) phát hiện xe ô tô tải Huyndai loại 5 tấn mang BKS 33M-0040 phạm lỗi che lấp biển số.
Tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra, người điều khiển xe không xuất trình được GPLX, đăng ký xe và sổ kiểm định… Tiếp tục kiểm tra trong xe, lực lượng chức năng phát hiện có 10m3 gỗ không nguồn gốc và một bộ BKS 98K-2110.
Tại trụ sở Đội CSGT số 12, lái xe ô tô là Nguyễn Văn Quyết (SN 1984) ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình khai chở thuê số gỗ trên cho chủ hàng từ tỉnh Sơn La về. Người này đi ô tô phía trước dẫn đường...
Đội CSGT số 12 hoàn thiện hồ sơ ban đầu và bàn giao cho CA quận Tây Hồ tiếp tục điều tra và làm rõ. (Hà Nội Mới 5/12; An Ninh Thủ Đô 5/12) đầu trang(
Tính đến đầu tháng 12-2013, Hạt Kiểm lâm huyện Đức Cơ và các ngành chức năng đã phát hiện 127 vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 41 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Đây là kết quả tích cực từ khi các đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh, huyện đã triển khai quyết liệt truy quét, đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, 118 vụ vi phạm về vận chuyển, cất giấu lâm sản trái pháp luật, 2 vụ chế biến lâm sản trái quy định, 5 vụ khai thác lâm sản trái phép, 1 vụ phá rừng làm nương rẫy (19,2 ha), 1 vụ vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng. Tịch thu 571 m3 gỗ tròn, xẻ. Đến thời điểm này, cơ quan chức năng đã xử lý 124 vụ, trong đó xử lý hình sự 3 vụ. (Báo Gia Lai 5/12) đầu trang(
Ngày 2/12, tại thôn Tà Lang (xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang), lâm tặc tập kết gỗ trái phép ở khắp nơi trong thôn. Điều lạ ở đây là nhiều phách gỗ dài để dọc bên đường bê-tông ngay “giữa trời” nhưng chẳng hề bị lực lượng chức năng hay chính quyền địa phương tịch thu, xử lý.
Sau khi nghe PV phản ánh tình trạng khai thác, tập kết gỗ trái phép ở địa bàn thôn Tà Lang, ông Hồ Tăng Phúc, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc tỏ ra khá bất ngờ. Theo ông Phúc, ngày 29-11, UBND xã phối hợp với lực lượng kiểm lâm tổ chức truy quét nhưng không thấy tình trạng khai thác gỗ trái phép. Sau khi xem hình ảnh chúng tôi cung cấp, ông Phúc cho biết trách nhiệm chính thuộc về lực lượng kiểm lâm. Song, ông Phúc hứa sẽ chỉ đạo ngay lực lượng chức năng đến địa bàn thôn Tà Lang kiểm tra, xử lý.
Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết, lực lượng kiểm lâm đang tổ chức truy quét mấy ngày nay ở khu vực rừng Hòa Bắc. Riêng về thông tin phóng viên phản ánh về tình trạng khai thác, tập kết gỗ trái phép ở Tà Lang, ông Lương nói sẽ chỉ đạo lực lượng kiểm tra xử lý ngay. (Báo Đà Nẵng 4/12) đầu trang(
Cho đến thời điểm này, gần 20 ha rừng tái sinh ở bản Huổi Chỏn, xã Ẳng Tở (huyện Mường Ảng, Điện Biên) đã “cơ bản” được phá xong. Công trình thủy lợi dẫn nước về khu vực này đã hoàn thành dù... chưa có nước.
Bản Huổi Chỏn với 50 hộ dân, trên 300 nhân khẩu người dân tộc Mông sinh sống. Có tới 42 hộ thuộc diện đói nghèo, Huổi Chỏn được xếp vào những bản nghèo nhất nhì của xã Ẳng Tở do thiếu đất canh tác. Để khắc phục tình trạng này, bản đã được xây dựng dự án chuyển đổi đất rừng nghèo, xây dựng công trình thủy lợi dẫn nước về để khai hoang gần 10 ha ruộng.
Trên thực tế thì Ban quản lý dự án huyện đại diện cho chủ đầu tư là UBND huyện Mường Ảng đã thực hiện mọi thủ tục từ lập quy hoạch, phương án chuyển đổi đất, đấu thầu thanh lý rừng... theo đúng thủ tục. Tuy nhiên, để khai hoang gần 10 ha ruộng nước, người ta đã phải “phá” tới 19,2 ha rừng thuộc nhóm giữa 1c và 2a và hiện tại đã “phá” xong 17 ha rừng. Đến ngày 25/11/2013, 50 hộ dân trong bản đã được chia đất trên thực địa với tổng số diện tích 9,8 ha.
Trưởng bản Hờ A Páo cho biết: Diện tích này vốn là khu rừng tái sinh tốt nhất của bản, đã khoanh nuôi trên 20 năm qua. Hiện cả bản mới có 6 ha ruộng nước, nên khi nghe tin có dự án khai hoang ruộng ở đây, dân bản mừng lắm. Ban quản lý dự án đã làm sẵn các thủ tục, có cả đơn xin khai hoang ruộng nước của người dân, dân bản chỉ việc ký.
Thế nhưng, khi thấy doanh nghiệp vào xây dựng công trình thủy lợi, nhiều người bảo cái ống nước bé tý thế kia thì làm sao dẫn được nước cho đủ. Rồi lại thấy người ta vào đây phá cả đám rừng lớn thế, dân bản đã thắc mắc là nước tưới được bao nhiêu thì phá bấy nhiêu rừng thôi, sao lại phải phá nhiều rừng thế, phá hết rừng đi thì sau này suối làm gì có nước mà tưới cho ruộng.
Từ ngày công trình thủy lợi làm xong năm 2013, chỉ mùa mưa nước mới chảy đầy ống, còn mùa này thì chảy bé không đủ nước tưới cho cả bãi này. Trước đây, cán bộ bảo sẽ cho máy vào khai hoang ruộng cho bà con, nay lại bảo làm bằng máy thì hỏng hết đất, để bà con tự khai hoang lấy.
“Đất rừng chỗ cao chỗ thấp, nếu tự khai hoang thì làm sao đưa nước lên được chỗ cao. Bà con tự khai hoang cũng được, nhưng ít nhất Nhà nước cũng nhổ giúp gốc cây đi chứ. Nếu cứ để thế này, dù được chia đất, dân bản cũng để trồng ngô, trồng sắn thôi chứ không khai hoang được ruộng nước đâu”, trưởng bản Hờ A Páo khẳng định.
Làm việc với Phòng Nông nghiệp và Ban quản lý dự án huyện Mường Ảng, PV cũng chẳng được cung cấp thêm bao nhiêu thông tin, vì những người đứng ra làm việc đều lấy lý do là mới về phụ trách phòng, hoặc không trực tiếp giám sát dự án này. Chỉ được biết công trình thủy lợi trên có tổng mức đầu tư trên 6,67 tỷ đồng từ nguồn vốn 30a của Chính phủ vào năm 2010, hoàn thành vào năm 2011 với mục tiêu đặt ra là đảm bảo cung cấp nước tưới cho 30 ha lúa vụ mùa và 10 ha lúa vụ chiêm. Nguồn nước được dẫn từ suối Huổi Chỏn, trong đó có 2.840 m kênh và 480 m ống dẫn.
Thế nhưng ông Lò Văn Thăng, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cũng thừa nhận: Công trình thủy lợi này chỉ cung cấp đủ nước cho khoảng 8 ha ruộng, chứ không thể cung cấp đủ cho cả bãi rừng đã phá. Huổi Chỏn cũng là dự án duy nhất trong 12 dự án của huyện trong năm 2010 - 2011, được xây dựng công trình thủy lợi khi chưa có bãi tưới. Trước mắt, phòng sẽ hướng dẫn nhân dân cách khai hoang từ từ, có nghĩa là những vụ đầu sẽ trồng đậu tương, ngô, sau đó một thời gian mới có thể đưa vào trồng lúa.
Như vậy rõ ràng, cả những người làm công tác quản lý cũng còn hoài nghi về hiệu quả của dự án này, nói gì đến người dân địa phương. Nếu dự án đã không đạt hiệu quả như mục tiêu thiết kế đặt ra, thì liệu có phải chủ đầu tư đã cố “làm cho có dự án”, và rừng Huổi Chỏn đã bị “phá oan” hay không? (Tin Tức 5/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện nhiều vụ việc liên quan đến việc doanh nghiệp (DN) sử dụng hồ sơ giả để vận chuyển lâm sản trái phép.
Mới đây, lực lượng kiểm lâm Bình Định vừa phát hiện xe ô tô tải mang BKS 81L-2347, do tài xế Phạm Văn Dũng, trú tại TP. Pleiku (Gia Lai) điều khiển, trên xe chở 22 tấn cành, nhánh, gốc rễ gỗ trắc và 11m3 gỗ hương (thuộc nhóm I) từ TP. Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) về Ga Diêu Trì, trên địa bàn huyện Tuy Phước (Bình Định), để chuẩn bị trung chuyển đi các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Khi bị kiểm tra, tài xế Dũng xuất trình bộ hồ sơ hóa đơn vận chuyển số lượng gỗ nói trên cho DN tư nhân Lâm Dũng, trụ sở tại TP. Buôn Ma Thuột. Theo hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền cho phép vận chuyển số gỗ trên là Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, khi cơ quan chức năng đối chiếu với hồ sơ do Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột cung cấp thì con dấu lại không trùng khớp.
Trước đó, Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cũng đã phát hiện Vũ Thành Đồng, vận chuyển 5,558m3 gỗ quý hiếm, với bảng kê lâm sản do Công ty TNHH Quyền Quang Vinh, trụ sở tại TP. Buôn Ma Thuột lập. Bộ hồ sơ này đã giả mạo chữ ký, con dấu của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột trong phần xác nhận.
Ngoài ra, qua kiểm tra các cơ quan chức năng còn phát hiện nhiều DN giả mạo con dấu, chữ ký lãnh đạo các Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp, Ea H’leo… để lập hồ sơ vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Cụ thể: DN tư nhân Phát Lộc, Công ty TNHH Chung Úy đều có trụ sở tại TP. Buôn Ma Thuột, Công ty TNHH Một thành viên Thương mại và Dịch vụ phát triển Quốc Việt, trụ sở tại phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, (TP. Hồ Chí Minh)… đã giả mạo chữ ký, con dấu của lãnh đạo kiểm lâm các địa phương trên địa bàn Đắk Lắk để vận chuyển trái phép hàng trăm mét khối gỗ các loại.
Ngay tại Đắk Lắk, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã phát hiện một xe ôtô vận chuyển khối lượng cành, nhánh, gốc rễ gỗ trắc… với hồ sơ do DN tư nhân Phát Lộc (TP.Buôn Ma Thuột) cung cấp, giả chữ ký và con dấu của cơ quan kiểm lâm.
Nhằm bịt lỗ hổng việc quay vòng hồ sơ vận chuyển lâm sản, nguyên nhân chính gây nên tình trạng lộn xộn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thất thu thuế của Nhà nước. Tháng 1/2012, Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư 01/2012/TT thay thế Quyết định 59/2005/QĐ. Từ khi Thông tư 01/2012/TT có hiệu lực, với những quy định chặt chẽ về hồ sơ lâm sản và kiểm tra nguồn gốc lâm sản… đã góp phần hỗ trợ ngành kiểm lâm kiểm tra, ngăn chặn vấn nạn vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo Thông tư 01/2012/TT, DN bán gỗ phải có xác nhận của hạt kiểm lâm sở tại, khối lượng xuất bán được khấu trừ vào khối lượng nhập kho. Đồng thời, với việc lập hồ sơ cho từng chuyến xe đã hạn chế được việc DN lợi dụng quay vòng hồ sơ vận chuyển lâm sản như đã xảy ra trước đây.
Ngoài ra, thông tư này còn có những điều bắt buộc DN phải có sổ theo dõi tại cơ sở chế biến để cập nhật lượng hàng vào, ra.
Tuy nhiên trong thực tế, để đối phó với các quy định chặt chẽ tại Thông tư 01/2012/TT, các DN lại “lách luật” bằng thủ đoạn mới là làm giả hồ sơ để vận chuyển, hợp thức hóa gỗ lậu. Không chỉ làm các bộ hồ sơ giả, một số đối tượng còn liều lĩnh làm giả chữ ký, con dấu hết sức tinh vi, để qua mặt các cơ quan chức năng… Trên địa bàn Đắk Lắk tình trạng này đã và đang diễn ra ngày càng trầm trọng.
Theo ông Đinh Tất Thắng - Phó trưởng phòng Thanh tra pháp chế, Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, việc các DN không thể xoay vòng hồ sơ vận chuyển lâm sản, đã quay sang làm giả hồ sơ vận chuyển, hợp thức hóa lâm sản đang ngày càng phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây khó cho cơ quan chức năng.
Trước tình trạng trên, Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk đã phải có văn bản gửi các cơ quan chức năng, chi cục kiểm lâm 12 tỉnh, thành phố trên địa bàn miền Trung – Tây Nguyên đề nghị phối hợp kiểm tra, xử lý các DN giả mạo hồ sơ để vận chuyển lâm sản. Tuy nhiên, trong thực tế công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm của lực lượng kiểm lâm hiện vẫn gặp không ít khó khăn.
Do vậy, ngoài lực lượng kiểm lâm cần có sự phối hợp vào cuộc quyết liệt của chính quyền các địa phương, ban ngành chức năng… trong công tác quản lý, kiểm tra thủ tục hồ sơ nguồn gốc lâm sản hợp pháp, tiêu thụ lâm sản… Có như vậy, mới có thể ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tình trạng “lách luật” để vận chuyển lâm sản trái phép như hiện nay. (Thời Báo Ngân Hàng 5/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Vườn quốc gia Auyuittuq là một công viên quốc gia nằm trên bán đảo Cumberland của quần đảo Baffin, khu vực Qikiqtaaluk ở Nunavut, phân khu chính trị lớn nhất của Canada. Nó có đặc điểm địa hình của Bắc Cực hoang dã như các vịnh hẹp, sông băng và các dải băng dài.
Theo tiếng Inuktitut (ngôn ngữ của người thổ dân của Nunavut, người Inuit) thì Auyuittuq có nghĩa là “vùng đất không bao giờ tan chảy”. Mặc dù Auyuittuq được thành lập vào năm 1976 như là một khu bảo tồn quốc gia nhưng nó đã được nâng cấp thành một công viên quốc gia hoàn thiện vào năm 2000.
Rất ít thực vật có thể tìm thấy ở Công viên Auyuittuq, mặc dù vẫn có một số loài hoa từ thủy dương mai, hoa thuộc họ cẩm chướng, cây anh túc và cỏ tai hùm đến cây bụi như bạch dương, liễu Bắc Cực và thạch nam. Nhiều cây trong Công viên quốc gia Auyuittuq phát triển thành từng bụi để tạo ra vùng khí hậu riêng của chúng nhằm tồn tại được trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở Bắc Cực.
Vì thực vật ở đây không phong phú nên động vật hoang dã cũng rất khan hiếm. Chỉ có 12 loài động vật có vú sống ở Công viên Auyuittuq bao gồm Chuột Lemmut, Thỏ Bắc Cực, Chồn Ecmin, Gấu Bắc Cực, Cáo Bắc Cực và một số loài Tuần lộc.
Các thị trấn gần nhất là Qikiqtarjuaq và Pangnirtung. Du khách có nhu cầu tham quan công viên được yêu cầu phải đăng ký tại văn phòng của công viên ở Pangnirtung hoặc Qikiqtarjuaq và tham gia một buổi hướng dẫn. (VTV 5/12) đầu trang(
Hai con hổ hiếu chiến lao vào đánh nhau ác liệt để tranh giành lãnh thổ trong khu bảo tồn động vật hoang dã Londolozi ở Pretoria, Nam Phi.
Cuộc quyết chiến của hai con hổ nổ ra sau khi một con ra đòn đánh ác ý vào cổ của đối thủ. Tưởng đối thủ đã chết, con hổ này đã nhả đối thủ khỏi miệng của nó. Ngay lập tức hai con hổ lao vào một cuộc chiến vô cùng ác liệt khác.
Cảnh tượng quyết chiến giữa hai con hổ đã được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia người Đức Marion Vollborn, trong khi cô đang tham quan khu bảo tồn động vật hoang dã Londolozi ở Pretoria, Nam Phi.
“Nhóm của chúng tôi phát hiện thấy hai con hổ đực bước đi cùng nhau dọc ranh giới lãnh thổ của chúng. Sau đó, chúng tôi nghe thấy một tiếng gầm lớn và lái xe về nơi có tiếng động xảy ra. Những con hổ đực mà chúng tôi quan sát trước đó đang hỗn chiến dưới một vũng nước. Một con đã cắn cố đối thủ trong vài phút”, nhiếp ảnh gia Marion kể lại.
Hai con hổ đánh nhau từ trong bụi cây và sau đó dần di chuyển ra khi vực rộng hơn. Sau khoảng 45 phút chiến đấu ác liệt, cuối cùng con hổ ít tuổi hơn đã giành được được chiến thắng, những các hải đều bị thương với máu đầy cơ thể. (Khám Phá 5/12) đầu trang(
Cừu mũi đen có nguồn gốc từ Thụy Sĩ là loài cừu hiếm, được xếp vào nhóm di sản, với bộ lông có hai màu đen trắng xen kẽ, trong đó phần lông đen che kín toàn bộ khuôn mặt.
Cừu mũi đen có nguồn gốc từ vùng Valais, Thụy Sĩ. Loài cừu này thường được chăn thả dọc theo các sườn núi cao dọc theo dãy Pennine, nằm giữa biên giới hai nước Thụy Sĩ và Italy. Tại nước Đức, loài này còn được gọi là cừu mũi đen Walliser.
Đây là loài cừu núi có thể sống trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở các vùng núi cao, sườn đồi, dốc núi. Cũng giống như những con cừu khác, cừu mũi đen cũng được nuôi để lấy lông và lấy thịt.
Tuy nhiên, điểm khác biệt của loài cừu này đó là phần lông có hai màu đen trắng xen kẽ, nổi bật là phần lông đen là mặt, tai, chân. Đây cũng là đặc điểm để gọi tên loài cừu này và khiến nhiều người nhầm tưởng vẻ bề ngoài của chúng như những con thú bông. (Vnexpress.net 5/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa