Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo đề án và hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) số 06 ký ngày 30/7/2013 giữa Công ty cổ phần đầu tư Điện lực 3 (PC3-INVEST) và Quỹ bảo về & phát triển rừng tỉnh Kon Tum, dự án thủy điện Đăk Pône được cung cấp diện tích rừng cung ứng là 6.471,23 ha.
Theo kế hoạch đăng ký chi trả DVMTR trong năm 2013, PC3-INVEST sẽ thực hiện nghĩa vụ chi trả cho Quỹ bảo vệ & phát triển rừng tỉnh Kon Tum là 912.580.000 đồng. Tính đến hết quý 3/2013, Công ty đã thực hiện kê khai và nộp được 605.292.400 đồng. Theo kế hoạch đăng ký trong năm 2014, Công ty sẽ thực hiện chi trả DVMTR là 1.257.800.000 đồng.
Với mức kinh phí đóng góp cho việc chi trả DVMTR hàng năm của Nhà máy thủy điện Đăk Pône là không lớn nhưng góp một phần để Quỹ bảo vệ & phát triển rừng tỉnh Kon Tum thực hiện chi trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng (trồng rừng, phục hồi rừng và bảo vệ rừng) nhằm bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện. (Theo Tổng Cty Điện lực miền Trung/Cpc.vn 3/12) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
TP.Hòa Bình đang khẩn trương triển khai những biện pháp cấp bách phòng cháy - chữa cháy rừng trong mùa khô 2013-2014.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của thành phố có 8.841,3 ha. Trong đó có 5.540 ha đất có rừng gồm: rừng tự nhiên 1.425 ha, 4.129,4 ha rừng trồng, còn lại là đất không có rừng. Đối với diện tích rừng trồng, chủ yếu là keo, bạch đàn, là loại rừng rất dễ cháy do cành khô và lá rụng nhiều, lớp thực dưới tán rừng gồm lau lách, cỏ tranh vào mùa hanh khô dễ bắt lửa. Ngoài ra, đất không có rừng nhiều nguy cơ gây cháy lan sang các khu rừng lân cận bởi trên diện tích này có nhiều lau lách, cỏ tranh, chít.
Hạt Phó Hạt kiểm lâm TPHB Phạm Ngọc Luân cho biết: Lực lượng kiểm lâm đã sớm tham mưu cho Chủ tịch UBND TPHB ban hành các văn bản kiện toàn BCH và tăng cường các biện pháp cấp bách BVR&PCCCR mùa khô năm 2013 - 2014.
Phương án PCCCR của thành phố được xây dựng theo phương châm “4 tại chỗ” theo chỉ đạo không chủ quan, chủ động xây dựng phương án sát thực tế nâng cao hiệu quả PCCCR. Hiện, lực lượng chức năng đã rà soát, xác định các đối tượng có nguy cơ cháy rừng là diện tích rừng, hệ thống đường dây truyền tải điện và các tuyến đường giao thông qua rừng.Trong đó, xác định vùng trọng điểm hay xảy ra cháy rừng với tổng diện tích 5.611,7 ha thuộc 4 xã là Yên Mông, Dân Chủ, Thái Thịnh, Hòa Bình và Trung Minh là những địa bàn có nhiều rừng trồng và đất không có rừng.
Hạt kiểm lâm TP Hòa Bình đang tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các xã có rừng triển khai các biện pháp cấp bách PCCCR mùa khô. Theo dõi sát diễn biến thời tiết, các cấp dự báo nguy cơ cháy rừng, tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức PCCCR trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan, thực hiện nghiêm các quy định PCCCR...
Các biện pháp cụ thể PCCCR đang được gấp rút triển khai. Các dự án trồng rừng chủ trương phải được thiết kế đường băng cản lửa. Việc đốt nương làm rẫy, xử lý thực bì phải tuân thủ các quy định PCCCR, thông báo cho chính quyền và phải có người giám sát. Với khu rừng khai thác xong nhất thiết phải dọn dẹp vệ sinh. Các biển báo tại những khu vực nguy cơ cháy rừng đang được khẩn trương hoàn thiện. Các tổ, đội PCCCR tại các thôn, bản, đơn vị, điện lực, bưu điện, giao thông có công trình đi qua rừng đã được kiện toàn để có các biện pháp PCCCR.
Đối với khu vực hệ thống đường dây truyền tải điện qua phường Thái Bình, xã Yên Mông cũng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý phát dọn, loại bỏ cành cây có nguy cơ gây cháy, chập, bảo đảm an toàn hành lang lưới điện và PCCCR. Công tác chuẩn bị lực lượng, dụng cụ phương tiện chữa cháy rừng cũng đang tích cực triển khai để kịp thời xử lý sớm và dập tắt đám cháy khi mới phát sinh.
Hạt kiểm lâm cũng đã có kế hoạch chi tiết huy động, huy động tổng lực tham gia PCCCR khi xảy ra cháy rừng lớn với biện pháp kỹ thuật cụ thể, bảo đảm an toàn và nhanh chóng dập tắt nhanh lửa rừng, hạn chế thấp nhất thiệt hại. (Báo Hòa Bình 3/12) đầu trang(
Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng( PCCCR) tại các huyện miền núi vùng cao của tỉnh Nghệ An trong mùa khô năm nay, UBND tỉnh chỉ đạo các thành viên Ban chỉ huy PCCCR tỉnh, chủ tịch UBND các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp tiếp tục xây dựng phong trào quần chúng tham gia PCCCR trong cộng đồng dân cư.
Đồng thời, tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất nương rẫy và thực hiện xử lý thực bì đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo an toàn tuyệt đối không để cháy lan vào rừng; tổ chức tập huấn, diễn tập xử lý các tình huống giả định về chữa cháy rừng trên địa bàn. Trường hợp khi cháy rừng xảy ra, thực hiện tốt cơ chế chỉ huy điều hành và phương án 4 tại chỗ trong chữa cháy.
Các cơ quan truyền thông thông tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng để các tổ chức, cá nhân chủ động các biện pháp phòng ngừa và tổ chức chữa cháy rừng khi có cháy rừng xẩy ra. (Đài PT - TH Nghệ An 3/12) đầu trang(
UBND huyện Bắc Hà vừa tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2013 tại xã Cốc Lầu.
Cuộc diễn tập được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 diễn tập phần chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng; Giai đoạn 2, diễn tập thực binh tại lô 9, tiểu khu 184 thôn Bản Giàng với tình huống giả định do người dân đốt nương bất cẩn để lửa cháy lan vào rừng. Sau khi nhận được tin báo cháy rừng, trưởng thôn Bản Giàng đã thông báo huy động nhân dân trong thôn sử dụng dụng cụ tại chỗ tham gia chữa cháy rừng.
Khi đám cháy vượt qua tầm kiểm soát của thôn Bản Giàng, thôn Hà Tiên gần đó phát hiện, đã huy động nhân dân trong thôn sử dụng dụng cụ tại chỗ tham gia hỗ trợ chữa cháy rừng. Tuy nhiên, đám cháy tiếp tục lan rộng và vượt quá tầm kiểm soát của 2 thôn, lúc này, trưởng thôn Bản Giàng báo cáo cấp trên đề nghị hỗ trợ.
Ngay sau khi nhận tin báo, các lực lượng xung kích, lực lượng kiểm lâm của huyện, xã phối hợp các lực lượng tại chỗ sử dụng các biện pháp chữa cháy, phát đường băng cản lửa chặn đám cháy... Sau gần 1giờ chữa cháy với phương châm 4 tại chỗ, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn.
Thông qua cuộc diễn tập đã góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của cấp ủy, chính quyền xã và phát huy hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Lào Cai 4/12) đầu trang(
Chiều 3-12, UBND tỉnh tổ chức hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Thông tư liên tịch số 144/2002 và Quy định liên ngành số 193 về phối hợp trong công tác bảo vệ rừng.
Năm 2013, công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo. Các cơ quan chức năng tăng cường phối hợp và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, kịp thời ngăn chặn các tình huống xảy ra, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng.
Không chỉ làm tốt nhiệm vụ của mình, các lực lượng này còn vận động, phối kết hợp với người dân tham gia tích cực vào công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Năm 2013, các lực lượng chức năng đã tổ chức tập huấn, tuyên truyền pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cho cán bộ chính quyền cơ sở; kiểm tra 30 đợt, phát hiện và xử lý trên 190 vụ vi phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; góp phần răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân trên địa bàn.
Tại hội nghị, lãnh đạo các cơ quan liên ngành và địa phương đã thảo luận nhằm khắc phục các vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng thời gian qua như: một số đơn vị còn thiếu chủ động trong xây dựng kế hoạch, phương án phối hợp; công tác trao đổi thông tin ở cơ sở chưa kịp thời; hình thức xử lý chưa thực sự nghiêm khắc, chưa đủ sức răn đe…
Phát biểu tại hội nghị, ông Trần Văn Tuân, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu lực lượng liên ngành phải nắm chắc diễn biến, tình hình bảo vệ rừng trên địa bàn, kịp thời phát hiện những khu vực trọng điểm, những vụ phức tạp để tham mưu, tổ chức lực lượng phối hợp giải quyết dứt điểm các tình huống xảy ra, không để kéo dài hoặc phát sinh phức tạp mới; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng… (Báo Quảng Bình 4/12) đầu trang(
“Tiết học xanh - nhận dạng động vật hoang dã” là chương trình được Liên hiệp Các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng 10 trường tiểu học được chọn trên địa bàn toàn tỉnh (gồm 4 lớp ở TP.Thủ Dầu Một, 3 lớp ở TX.Thuận An, 3 lớp ở huyện Bến Cát) tổ chức.
Nội dung tiết học là những trò chơi đố vui, nhận dạng động vật, vẽ tranh động vật em yêu; trang bị cho các em cách xử lý tình huống khi phát hiện có hành vi tàng trữ, tiêu thụ, vận chuyển động vật hoang dã bằng các số điện thoại cơ quan chức năng, nhờ người lớn, đường dây nóng của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên...Bài giảng đa phương tiện với nhiều hình ảnh, đoạn video ngắn, phim về tầm quan trọng của các loài động vật hoang dã như gấu trúc, hổ... (Báo Bình Dương 3/12) đầu trang(
Suốt 14 năm qua, cứ mỗi chiều người thương binh Nguyễn Quang Nhuận lại rong ruổi khắp làng trên xóm dưới, mang theo những thông điệp về bảo vệ, phòng chống cháy rừng đến với người dân.
Suốt 14 năm qua, người dân xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, tỉnh Ngệ An đã quen với tiếng loa lưu động và hình ảnh người đàn ông mặc chiếc áo lính bạc màu, cùng với chiếc xe đạp cọc cạch với lỉnh kỉnh những cát xét, loa phóng thanh, mỗi chiều lại rong ruổi khắp làng trên xóm dưới mang theo những thông điệp về bảo vệ, phòng chống cháy rừng. Người vác tù và hàng tổng ấy chính là thương binh, cựu chiến binh Nguyễn Quang Nhuận ở xóm 7, xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn.
Nhớ lại những năm 1990 trở về trước, người dân ở vùng trung du bán sơn địa Nam Nghĩa với 40% diện tích rừng luôn phải phấp phỏng lo âu bởi nạn cháy rừng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là vào mùa nắng, đây cũng là nơi được mệnh danh là điểm nóng về nạn cháy rừng ở Nam Đàn. (VOV Giao thông 3/12) đầu trang(
Đối diện trụ sở UBND xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có một khu rừng cây cối rậm rạp. Trong khi rừng ở các nơi, dù gần hay xa, không ngừng bị “chảy máu” thì khu rừng ấy bao đời nay vẫn được người dân bảo tồn rất cẩn thận.
Ông Nguyễn Văn Ánh (SN 1956), trưởng thôn Hà Nha cho biết, người dân trong vùng thường gọi khu rừng muồng quý là “cấm Hà Nha”. “Tôi cũng không biết tên gọi khu rừng có từ khi nào, chỉ biết là từ rất lâu. Ngay tên gọi “cấm Hà Nha” cũng để nhắc nhớ bao thế hệ trong làng phải có ý thức gìn giữ và không ngừng chăm sóc khu rừng này”, ông Ánh chia sẻ.
Khu rừng muồng “cấm Hà Nha” có chiều dài khoảng 1,5km, chiều rộng 500m, kéo dài từ động Hà Sống đến chợ Hà Nha. Dù đã nhiều năm trôi qua, nhưng đến nay ông Ánh vẫn còn nhớ như in một câu chuyện mang màu sắc tâm linh về khu rừng này:
“Ngày trước ở chỗ đầu khu rừng muồng Hà Nha, đoạn gần động Hà Sống có một cây bàng to. Rễ của nó bao phủ 1 hòn đá rất lớn. Khi gia đình có người thân bị đau, họ thường đến chỗ cây bàng đó xin nước về uống. Sau khi uống nước thì người bệnh hết bệnh thật”. Tuy nhiên, đến nay, cây bàng và tảng đá đó không còn nữa do việc mở đường và chỉnh trang lại khu dân cư diễn ra trong thời gian gần đây.
Những câu chuyện huyễn hoặc tại khu rừng muồng thôn Hà Nha thật khó kiểm chứng. Có điều này là dễ dàng thấy, đó là bao đời nay khu rừng muồng thôn Hà Nha được xem như “bùa hộ mệnh” cho hàng trăm hộ dân sống gần đó tránh được thiệt hại do bão, xói lở và cây rác từ thượng nguồn đổ về mỗi mùa mưa lũ.
“Nếu không có khu rừng muồng đó thì thôn Hà Nha với gần 700 hộ dân này đã bị xói lở và bão đánh tan tành lâu rồi. Mà không chỉ thôn Hà Nha, cả các thôn phía dưới như Lam Phụng, Bàn Tân và cả xã Đại Quang cũng sẽ bị “giải tán” hết mỗi khi bão lũ xảy ra”, ông Nguyễn Thanh Hữu, một người dân thôn Hà Nha, tâm sự.
Bà Bạch Thị Ty (SN 1919, trú thôn Hà Nha) cho biết, từ lúc nhỏ bà đã biết về khu rừng này rồi và được giáo dục ý thức bảo vệ “cấm Hà Nha”. Dù năm nay đã 94 tuổi nhưng bà Ty vẫn còn minh mẫn: “Lúc tôi còn nhỏ thì thấy khu rừng muồng ấy đã có nhiều cây, cổ thụ mấy người ôm cũng có. Người dân Hà Nha bao đời nay luôn gìn giữ khu rừng muồng đó vì nó bảo vệ dân làng tránh được thiên tai, bão lũ”.
Trưởng thôn Hà Nha cho biết ngoài việc gìn giữ cây cổ thụ lâu niên, hàng năm các đoàn thể của thôn Hà Nha từ Đoàn Thanh niên đến Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... đều có kế hoạch trồng mới cây muồng trong khu rừng.
“Gần đây nhất, thôn chúng tôi đã trồng được 500 cây muồng xen vào chỗ các cây già, bị ngã do bão vừa qua. Người dân thôn Hà Nha từ già đến trẻ, ai cũng ý thức được việc bảo vệ khu rừng muồng này chính là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi người”, ông Ánh cho biết.
Muồng trong “cấm Hà Nha” là loài cây có giá trị cao nên không ít lần, các đối tượng từ nơi khác đến định khai thác đều bị người dân phát hiện và ngăn cản. Thậm chí ngay người dân trong làng Hà Nha vào khu rừng muồng lấy củi cũng bị xử phạt.
“Nếu phạm lần đầu thì bị cảnh cáo. Nếu tái phạm thì chúng tôi sẽ xử phạt hành chính và nêu sự việc ra toàn dân. Thậm chí có người đến xin mang cây lộc vừng ở chỗ vũng nước ngoài khu rừng về trồng thôi mà bà con cũng không đồng ý. Họ bảo rằng nếu cho được cây vừng thì ngày mai, ngày kia sẽ mất cả khu rừng. Chính vì khu rừng được toàn thể người dân gìn giữ và trông coi mà đến nay nó vẫn còn tồn tại”, ông Ánh nói. (Pháp Luật Việt Nam 4/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Là một trong 10 trung tâm da dạng sinh học trên thế giới, song lợi thế này của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều lý do khác nhau như khai thác bừa bãi, biến đổi khí hậu... Bởi vậy, việc bảo tồn và sử dụng nguồn gen hiệu quả là một trong những mục tiêu tối quan trọng.
Tại Hội nghị đánh giá kết quả hoạt động khoa học và công nghệ về quỹ gen (giai đoạn 2001-2013 và định hướng 2020) sáng 3/11, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho hay, Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới.
Dẫn giải Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, ông Quân cho biết Việt Nam là một trong những nước có nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu. Đến nay, khoảng 49.200 loài sinh vật được xác định gồm 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 2.000 loài động vật không xương sống và cá ở nước ngọt; trên 11.000 loài sinh vật biển.
Tuy nhiên, sự đa dạng trên đang bị đe dọa nghiêm trọng do việc khai thác bừa bãi thiếu ý thức, thiên tai, thói quen canh tác lạc hậu, gia tăng dân số và đô thị hóa. Đặc biệt, sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã đe dọa tới tài nguyên di truyền.
Thực tế cho thấy, hiện nay có một số giống đang còn rất ít như lợn Ỉ, lợn Ba Xuyên, gà Hồ… Và, nếu không có những biện pháp tổng lực để bảo vệ thì nguy cơ mai một nguồn gen đã rất hiện hữu.
Trong vòng mười năm qua, Nhà nước đã ban hành khung pháp lý tương đối đẩy đủ liên quan đến bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật. Và thực tế thì việc bảo tồn gen cũng đã phát huy tác dụng tích cực. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc này còn gặp không ít khó khăn.
Theo ông Nguyễn Văn Liễu, Vụ trưởng Vụ khoa học và công nghệ các ngành kinh tế kỹ thuật (Bộ Khoa học và Công nghệ), hiện nay chưa xác định thứ tự ưu tiên đối tượng bảo tồn nguồn gen. Thậm chí, trong một số đề án, nhiệm vụ, đối tượng bảo tồn còn dàn trải và chưa xác định được. Nhiều nguồn gen đang lưu giữ, bảo tồn không đủ căn cứ để được xếp ưu tiên.
Bên cạnh đó, mức độ xói mòn nguồn gen trong tự nhiên, sản xuất và trong lưu trữ còn cao. Hiện tại, chưa có chương trình hay dự án điều tra, kiểm tra chính xác tiềm năng thực sự và thực tế xói mòn về nguồn gen sinh vật Việt Nam. Chúng ta cũng thiếu các nghiên cứu cơ bản để cải tiến phương pháp lưu giữ, bảo tồn cũng như việc sử dụng, khai thác và phát triển nguồn gen còn nhiều hạn chế (do dữ liệu chưa đánh giá đầy đủ, thông tin giá trị nguồn gen chưa sẵn có để chia sẻ cho người sử dụng…).
Đại diện của Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) phân tích, nguyên nhân dẫn đến việc trên là bởi công tác bảo tồn gen của Việt Nam là tương đối mới so với thế giới. Do đó, hệ thống văn bản quản lý còn thiếu và chưa thống nhất.
Bên cạnh đó, nguồn kinh phí được cấp còn quá hạn hẹp, tình trạng biến đổi khí hậu gia tăng cùng với việc hội nhập quốc tế làm tăng sự xói mòn tự nhiên, mất mát nguồn gen do khai thác cạn kiệt để mua bán, trao đổi qua biên giới.
Vị đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đưa ra một ví dụ rất điển hình khi năm 2012 chỉ được cấp 20 tỷ đồng trong khi nhu cầu 33,7 tỷ đồng, năm 2013 là 20 tỷ đồng trong khi nhu cầu là 45,8 tỷ đồng… Ngoài ra, cơ sở vật chất của các đầu mối mạng lưới bảo tồn gen chưa hoàn thiện, thiết bị thì thiếu và lạc hậu, không đồng bộ…
Bởi thế, bên cạnh việc tiếp tục làm tốt những gì đã đạt được, Việt Nam cần thiết phải hoàn tất việc kiểm tra, kiểm kê tình hình phân bố của các nguồn gen cây trồng, vật nuôi trên toàn quốc, xác định đối tượng ưu tiên cần thu thập, bảo tồn; lưu giữ, bảo quản an toàn và nguyên trạng cũng như đánh giá được giá trị thực của nguồn nguồn gen hiện có của quốc gia; nâng cấp và xây dựng được Ngân hàng Gen quốc gia.
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Công khẩn, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Đào tạo (Bộ Y tế) thì nhấn mạnh đến việc Nhà nước cần phải có chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các tổ chức bảo tồn, lồng ghép bảo tồn với chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; lồng ghép khoa học công nghệ về bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen…
Các chuyên gia cũng cho rằng, đã đến lúc phải xây dựng một Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ về quỹ gen, góp phần bảo tồn, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên sinh học quốc gia theo hướng bền vững. (VietnamPlus.vn 3/12; VTV 3/12; Công An Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Các nhà khoa học thuộc Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) vừa mới đề xuất danh sách những nơi “không thể thay thế” của trái đất, với hơn 2.100 sinh cảnh quyết định sự sống còn của động vật hoang dã. Trong đó, nhiều địa điểm đang là khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn của Việt Nam...
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang là một trong những linh trưởng đặc hữu của Việt Nam và là một trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất toàn cầu. Ảnh: Lê Khắc Quyết
Đề xuất được công bố trên tạp chí Science, bằng việc lập ra danh sách các khu bảo tồn cần quan tâm đặc biệt, giúp cơ quan hữu trách địa phương quản lý hiệu quả hơn động vật hoang dã trước nguy cơ tuyệt chủng. “Các khu bảo tồn chỉ có thể làm đúng vai trò của họ trong việc giảm tổn thất đa dạng sinh học nếu chúng được quản lý một cách hiệu quả”, ông Simon Stuart, chủ tịch IUCN nói.
Nghiên cứu nhắm vào 2.178 khu bảo tồn, trong đó có 78 khu đặc biệt không thể thay thế, là sinh cảnh của 600 loài chim, lưỡng cư và động vật có vú. Một nửa trong số đó đang bị xếp ở mức báo động. Theo IUCN, việc công nhận này sẽ đảm bảo hiệu quả công tác bảo vệ đa dạng sinh học độc đáo trong các khu vực này một khi có các tiêu chuẩn, yêu cầu nghiêm ngặt hơn.
Ngoài những khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn của hơn 100 nước và vùng lãnh thổ thì theo thống kê trên, các nước thuộc Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam xuất hiện nhiều “điểm nóng” trong bảng đề xuất. Đối với chúng ta, việc họ đưa vào danh sách khoảng 40 khu bảo tồn ở Việt Nam (cả nước có 146 khu bảo tồn và vườn quốc gia) là đáng suy nghĩ bởi trong chiến lược bảo tồn, cần có sự ưu tiên thay vì đầu tư dàn trải, đặc biệt là làm theo kiểu phong trào.
Đây không phải lần đầu tiên giới làm bảo tồn cũng như tổ chức hữu quan “nóng ruột” cho thực trạng bảo tồn, liên quan tới Việt Nam. Những dự án, chương trình hợp tác giữa họ với cơ quan hữu quan của Việt Nam, cho những giống loài động vật hoang dã quý hiếm cụ thể, đã được triển khai từ rất lâu.
TS Hà Thăng Long, trung tâm Cứu hộ linh trưởng vườn quốc gia Cúc Phương, cho biết: “Những dự án nhỏ về bảo tồn của Nhà nước rất ít, thậm chí không có. Còn lại phần lớn do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài làm, trực tiếp đầu tư”. Nhưng tính hiệu quả lại là chuyện khác, như nhiều chuyên gia bảo tồn trong nước nhận định, đó là bức tranh tối.
Câu chuyện về sự tuyệt chủng loài tê giác Java ở Việt Nam là ví dụ. Các nhà khoa học tái khám phá loài tê giác Việt Nam vào cuối thập kỷ 1990, sau khi hai con bị bắn chết (một ở Bù Đăng và một ở ngay sông Đồng Nai). Tuy nhiên, quy hoạch cho khu bảo tồn tê giác Cát Lộc quá nhỏ (26.969ha). Khu vực mà tê giác thường sinh sống nằm ngay khu vực trồng lúa của di dân. Tê giác không còn nơi an toàn nên phải sống lay lắt trong những ngọn đồi bát úp đầy tre nứa và mây.
Việc mở rộng vườn quốc gia Cát Tiên rộng 70.548ha nhằm gia tăng diện tích cho loài tê giác sống chỉ là trên danh nghĩa. Thực tế, tê giác ở Cát Lộc đã bị cô lập hoàn toàn bởi khu vực dân cư và đất canh tác nông nghiệp của con người. Cùng cảnh ngộ tương tự, loài bò tót di cư từ rừng Nam Cát Tiên sang rừng Đồng Phú (Bình Phước) đã phải tranh chấp nơi ở với con người, cùng với hoạt động phá rừng trồng cao su, gầy dựng nông trường.
Hay mới nhất là voi vườn quốc gia Yok Đôn (Dăk Lăk) di chuyển sang địa bàn tỉnh Dăk Nông kiếm ăn, phá hoại hoa màu, gây xáo trộn cuộc sống dân làng… Việc di dân, khai phá thậm chí “hy sinh” rừng cho nông trường, thuỷ điện, xâm lấn nơi sống và kiếm ăn của động vật hoang dã dẫn đến những xung đột giữa thú hoang và người, gây nên những cái chết bi thảm cho cả hai phía.
TS Nguyễn Quảng Trường, viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, cho rằng bản chất đề xuất của IUCN là muốn phát triển hình thức bảo tồn nguyên vị (in situ), tức bảo vệ các loài và sinh cảnh của chúng ngay ở vùng phân bố: “Việc làm này đã được thực hiện ở Việt Nam từ rất lâu thông qua việc thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên... Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân, năng lực quản lý, tiềm lực tài chính nên hiệu quả không như mong đợi”.
Cũng chính vì vậy, hình thức bảo tồn chuyển vị (ex situ), tức đem các loài bị đe doạ để nhân nuôi phục hồi quần thể, sinh sản ở nơi khác (ví dụ các trại nuôi, vườn thú, trung tâm cứu hộ) sau đó thả lại tự nhiên, đang được phát triển song song.
Lý giải vì sao nhiều dự án bảo tồn các loài cụ thể ở Việt Nam thất bại trong khi nhiều nước làm thành công, TS Long nói: “Khi làm công tác bảo tồn, người ta xem xét loài đó có vai trò thế nào trong hệ sinh thái, còn mình lại quan tâm loài đó có giá trị gì đời sống của con người, như hỏi con hổ bao nhiêu tiền, chứ không hỏi con hổ có giá trị gì trong hệ sinh thái”. Chính vì quan niệm này mà người ta vẫn định lượng giá trị hổ bởi cao, tê giác bởi sừng, voi bởi ngà… như những món hàng thời thượng đắt đỏ.
Cũng như nhiều chuyên gia khác, TS Long cho rằng: “Với cách làm mới, hệ sinh thái nào có giá trị thì phải tập trung chú ý và đầu tư bảo vệ. Chẳng hạn, nếu đầu tư chương trình bảo tồn hổ thì khó thành công, nhưng nếu đầu tư bảo vệ hệ sinh thái Bắc – Trung Trường Sơn cho hổ, thì tỷ lệ thành công cao hơn rất nhiều”.
Việc IUCN nêu đích danh các địa điểm cần bảo tồn là để tạo một sự rõ ràng giúp các nhà quản lý, các chính trị gia và công chúng biết rõ hơn thay vì nói chung chung cần phải bảo vệ các khu bảo tồn trên thế giới (với diện tích 12% diện tích tự nhiên). Đã có những mô hình hay, hiệu quả tốt được báo cáo.
Tuy nhiên, không có mô hình lý tưởng cho mọi quốc gia bởi điều đó phụ thuộc mức độ quan tâm, trách nhiệm của giới hữu trách, phụ thuộc những con người cụ thể, bởi như TS Long từng nhận định: “Nếu cán bộ của các ngành hữu trách vẫn vào nhà hàng đặc sản ăn thịt thú rừng và khen ngon thì bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam khó đạt được mục tiêu!” (Sài Gòn Tiếp Thị 4/12) đầu trang(
Báo Công An Nhân Dân có loạt bài phản ảnh việc xây dựng thủy điện tràn lan, vô tội vạ ở các tỉnh miền Trung, làm thay đổi các hệ sinh thái tự nhiên, tàn phá môi trường, “cạo trọc” rừng xanh, xả lũ không theo quy trình khiến người dân vùng hạ du phải gánh chịu tang thương do lũ lụt. Sau khi đăng, Báo lại nhận được thông tin về việc chính quyền TP Đà Nẵng cho thực hiện dự án Thủy điện Sông Nam - Sông Bắc, với nhiều khuất tất.
Hơn 4 năm về trước, khi “phong trào thủy điện” nở rộ ở các tỉnh miền Trung; nhất là tỉnh Quảng Nam, với hệ thống thủy điện bậc thang ở thượng nguồn sông Thu Bồn và Vu Gia; chính quyền TP Đà Nẵng cũng đã nhanh chóng có chủ trương cho phép đầu tư xây dựng cụm dự án thủy điện nhỏ tại huyện Hòa Vang. Trên cơ sở đó, dự án Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc ở đầu nguồn sông Cu Đê, cách trung tâm TP Đà Nẵng 25km về hướng Tây Bắc, được “khai sinh”.
Dự án này do Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn (gọt tắt là Công ty GSC), thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, làm chủ đầu tư; có công suất thiết kế 49,2 MW; gồm 3 nhà máy: Sông Bắc 1, Sông Bắc 2 và Sông Nam, với tổng số vốn khoảng 1.400 tỷ đồng. Ngày 1/6/2010, Công ty GSC cờ mở, trống giong rầm rộ làm lễ khởi công dự án Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc, tại thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc, Hòa Vang.
Theo kế hoạch, năm 2013 nhà máy sẽ hoàn thành công tác đầu tư xây dựng, đến năm 2014 các tổ máy sẽ phát điện, hòa lưới điện quốc gia. Thế nhưng, dự án thủy điện này đã ì ạch cho đến nay, do chiếm hàng trăm héc-ta đất rừng đặc dụng và vấp phải sự phản đối kịch liệt của người dân hạ du sông Cu Đê…
Sau khi phê duyệt phương án đền bù thiệt hại và giải phóng mặt bằng dự án Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc, ngày 4/6/2009, UBND TP Đà Nẵng ra Quyết định số 4174/QĐ-UBND thu hồi đất rừng cho Công ty GSC thuê để đầu tư xây dựng dự án trên diện tích 948,41ha.
Ông Phạm Ngọc Sự, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cho biết, trong số diện tích đất rừng UBND TP Đà Nẵng thu hồi để Công ty GSC xây dựng thủy điện có hơn 650ha đất rừng đã được chuyển đổi sang mục đích khác; còn 239,69ha đất rừng đặc dụng chưa chuyển sang mục đích khác để xây dựng các công trình phụ trợ và công trình chính của dự án thủy điện. Theo quy định của pháp luật, rừng đặc dụng nằm trong diện quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt nhất…
Nhưng, một năm kể từ khi dự án Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc được Công ty GSC khởi công, đến ngày 5/9/2011, UBND TP Đà Nẵng mới có Tờ trình số 559 gửi Bộ NN-PTNT về việc điều chỉnh quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất rừng và đất lâm nghiệp dự án thủy điện này.
Nhưng, ngày 30/9/2011, Bộ NN-PTNT có công văn trả lời, nêu rõ: “Diện tích đất rừng đặc dụng mà UBND TP Đà Nẵng xin chuyển đổi hơn 239ha. Tại khoản 2 - điều 3, khoản 3 - điều 10, Nghị quyết số 49 của Quốc hội quy định: Nếu muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ 50ha rừng đặc dụng trở lên thì phải trình Quốc hội quyết định”.
Có ý kiến cho rằng, do khuất tất này mà kể từ khi khởi công đến nay, đã hơn 3 năm, Công ty GSC mới xây dựng được… 10 cây trụ điện (?!). Cũng có ý kiến nghi ngờ về năng lực tài chính của Công ty GSC. Vì, tiền đền bù giải tỏa về 300ha đất trồng rừng cho người dân xã Hòa Bắc, Công ty GSC cũng chỉ “rót”… cho có rồi im lặng cho tới nay. Đặc biệt, 120 hộ dân, chủ yếu đồng bào Cơ Tu của các thôn Tà Lang và Giàn Bí có đất bị thu hồi, nhưng chỉ chưa đầy một nửa số hộ gia đình được nhận tiền đền bù đất đai, cây trồng. Trong khi đó, đất đai đã bị thu hồi khiến đời sống bà con vô cùng khó khăn.
Ông Tăng Hữu Phúc, Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc, cho biết: Trước những bức xúc của người dân, chính quyền xã đã có văn bản lên cấp trên, song chưa có hồi âm. Xã không nắm được gì về dự án Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc, cũng như tiến độ, thời gian thực hiện công trình này...
Đáng quan tâm, việc chính quyền TP Đà Nẵng cho phép Công ty GSC xây dựng Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc đã khiến người dân hạ du sông Cu Đê hoang mang, lo ngại. Vì, sông Cu Đê vào mùa nắng hạn rất ít nước, nước biển theo đó dâng lên đến tận thôn Nam Mỹ, xã Hòa Bắc, cách bờ biển Nam Ô đến khoảng 20km. Nếu xây dựng Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc ở đầu nguồn sông Cu Đê, chắc chắn sẽ tăng thêm hạn hán, khô kiệt vùng hạ lưu vào mùa nắng nóng.
Ngược lại, vào mùa mưa, dòng lũ sông Cu Đê do ngắn, dốc nên rất dữ dội. Năm nào, người dân thôn Trường Định, xã Hòa Liên bên dòng Cu Đê cũng thiệt hại do lũ lụt hoành hành. Và như thế, nếu Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc được xây dựng hoàn thành và xả lũ, thì hậu quả thật khó lường…
Chưa xây xong Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc, chưa có tình trạng thủy điện xả lũ, nhưng bờ sông Cu Đê, đoạn qua xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng, hằng năm đã bị lũ lụt làm sạt lở nghiêm trọng.
Ông Lê Lở, Bí thư Chi bộ thôn Nam Mỹ, xã Hòa Bắc, có gần 1ha đất ven sông bị sạt lở do lũ lụt, cho rằng: “Chưa xây thủy điện mà bờ sông Cu Đê bị sạt lở rất nghiêm trọng. Hiện nay, để bảo vệ đường ĐT 601 khỏi bị cắt đứt, TP Đà Nẵng đã đầu tư 5 tỷ đồng xây dựng bờ kè. Nếu cụm Thủy điện nhỏ Sông Nam, Sông Bắc đi vào hoạt động, chắc chắn hàng nghìn hộ dân hạ du phải chuyển đi nơi khác sinh sống…
Đa số nhân dân thôn Trường Định, xã Hòa Liên, hằng năm phải gánh chịu nạn lũ lụt sông Cu Đê hoành hành, đều phản đối quyết liệt việc xây dựng thủy điện ở đầu nguồn sông Cu Đê. Họ cho rằng, thủy điện lợi ít hại nhiều. Đó là chưa nói, khi dự án triển khai, trong quá trình tận thu gỗ tại rừng đặc dụng của khu vực lòng hồ, tránh sao được tình trạng “mượn gió bẻ măng”; rừng nguyên sinh đầu nguồn sông Cu Đê sẽ bị tàn sát, gỗ rừng sẽ lũ lượt kéo nhau về xuôi…
Được biết, thời gian qua, sau khi xem xét cẩn trọng, cơ quan chức năng và các địa phương đã quyết định loại bỏ khỏi quy hoạch 424 dự án thủy điện nhỏ trên phạm vi cả nước. Đáng tiếc, trong số thủy điện nhỏ loại khỏi quy hoạch không có Thủy điện Sông Nam-Sông Bắc tại TP Đà Nẵng… (Công An Nhân Dân 3/12) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Sông Tranh, thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Hạt Kiểm lâm có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng; kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về rừng theo quy định của pháp luật trong lâm phận rừng phòng hộ Sông Tranh. Xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ rừng, phương án phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đồng thời phòng, trừ sâu bệnh hại rừng trong lâm phận rừng phòng hộ Sông Tranh; phổ biến, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng; phối hợp UBND các xã có liên quan lâm phận rừng phòng hộ Sông Tranh để xây dựng và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng.
Hạt Kiểm lâm còn có nhiệm vụ hướng dẫn, phối hợp, hỗ trợ Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh lập phương án và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng; bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho chủ rừng; tổ chức, chỉ đạo, quản lý các Trạm kiểm lâm và hoạt động của công chức kiểm lâm rừng phòng hộ. Bên cạnh đó tổ chức tuần tra, truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, khai thác, tàng trữ, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép trên địa bàn.
Trong những trường hợp cần thiết, phối hợp với Hạt Kiểm lâm các huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn tham mưu cho UBND huyện huy động lực lượng vũ trang, lực lượng, phương tiện khác của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn để chữa cháy rừng, phòng, chống chặt phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép trong lâm phận rừng phòng hộ Sông Tranh; phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh thực hiện nhiệm vụ giao khoán rừng để chi trả dịch vụ môi trường rừng trong phạm vi khu rừng phòng hộ. (Chinhphu.vn 3/12) đầu trang(
Đắk Nông có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng và nhiều lợi thế về phát triển lâm nghiệp. Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực: Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý, bảo vệ và phát triển rừng từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn; nhiều chương trình, dự án về lâm nghiệp được triển khai, thực hiện hiệu quả.
Đến nay, phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp trong tỉnh đã giao, cho thuê đến nhiều chủ thể quản lý, sử dụng bao gồm: Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng 68.454,2 ha; doanh nghiệp Nhà nước 199.607 ha; doanh nghiệp tư nhân 33.901,8 ha; lực lượng vũ trang 21.318,5 ha; cộng đồng dân cư 5.914 ha; tổ chức khác 8.041,7 ha và UBND cấp xã 84.075,34 ha (mới tạm giao được 5.800 ha).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Đắk Nông còn bộc lộ những mặt hạn chế, đó là: tình trạng suy giảm diện tích rừng do chiếm đất để sản xuất; việc khai thác, mua bán gỗ trái phép diễn ra ngày càng phức tạp...
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Đắk Nông đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng; đẩy mạnh kiểm tra giám sát công tác quản lý, bảo vệ và giao đất, rừng. Đặc biệt, tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 02 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra Ban Thường vụ Huyện ủy Đắk R’lấp và trách nhiệm của Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện trong việc thực hiện Chỉ thị số 12 của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp đã được cấp cho các dự án.
Kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn các huyện Tuy Đức, Đắk Glong, Đảng ủy Sở NN&PTNT. Giám sát việc lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện Quyết định số 661 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đối với iám đốc Sở NN&PTNT...
Bên cạnh đó, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 4 tổ chức đảng và một số cá nhân trong việc quản lý và bảo vệ rừng gồm: Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh và Ban Thường vụ Huyện ủy Đắk Mil và 8 đảng viên, gồm: giám đốc các công ty lâm nghiệp; Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện; Trưởng Công an huyện trong việc quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt liên quan đến trách nhiệm trong vụ án “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”…
Qua kiểm tra, UBKT Tỉnh ủy xem xét, đề xuất, quyết định kỷ luật 1 tổ chức đảng và 4 đảng viên thuộc Đảng bộ Sở NN&PTNT liên quan đến việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; việc giao đất, rừng và trách nhiệm cá nhân với việc tổ chức thực hiện sau kiểm điểm theo tinh thần nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Do tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nên cấp ủy các cấp đã chú trọng hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai thực hiện tốt công tác quy hoạch phân loại rừng, đất rừng, quy hoạch chi tiết việc sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm nhằm giáo dục, răn đe, ngăn ngừa nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được giao quản lý bảo vệ rừng.. (Báo Đăk Nông 3/12) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng, năm 2013, toàn tỉnh trồng rừng được 8.860 ha, vượt 26,5% kế hoạch, trong đó, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 2.300 ha, rừng sản xuất 6.560 ha.
Thực hiện bảo vệ rừng 77.250 ha, khoanh nuôi rừng 19.400 ha, chăm sóc rừng trồng 23.150 lượt ha. Trên địa bàn tỉnh hiện có 1.773 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng với 9.778 người tham gia, hoạt động của các tổ, đội được duy trì thường xuyên góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Bên cạnh đó, toàn tỉnh đã xây dựng được 86 km đường ranh cản lửa, 11 km đường lâm nghiệp, củng cố, tu sửa 37,5 km đường ranh cản lửa tập trung tại các vùng giáp ranh có nguy cơ cháy lan cao và các vùng trọng điểm cháy nên đã hạn chế các vụ cháy rừng xảy ra. Từ đầu năm trên đến nay toàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích 0,24 ha. Nhờ chuẩn bị tốt các phương án phòng cháy, chữa cháy nên đã hạn chế tối đa thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Hòa Bình 3/12) đầu trang(
Năm 2013, mặc dầu chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 10 và hoàn lưu bão số 11, nhưng các đơn vị, địa phương trong tỉnh đã chuẩn bị được 15 triệu cây giống lâm nghiệp, trồng mới 5.000ha rừng, đạt 100% kế hoạch đề ra. Trong đó, đã trồng được 300ha rừng phòng hộ và 4.700ha rừng kinh tế.
Một số đơn vị thực hiện tốt chỉ tiêu trồng rừng được giao như: Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Long Đại đã chuyển 300ha rừng nghèo kiệt sang trồng mới keo lai và trồng mới 250ha cây cao su, hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng năm 2013 trước thời hạn một tháng. Công ty TNHH MTV Bắc Quảng Bình đã tích cực trồng mới gần 300ha rừng kinh tế, đạt 100% kế hoạch... (Báo Quảng Bình 3/12) đầu trang(
Mỗi vụ thu hái thảo quả như đem đến cho gia đình Vừ A Páo, thôn Pờ Hồ Cao, xã Trung Lèng Hồ (Bát Xát) thêm một niềm vui bởi cuộc sống ngày càng no đủ hơn.
Theo thống kê của ngành nông nghiệp huyện, năng suất thảo quả tại Bát Xát đạt trung bình từ 2,5 - 3 tạ thảo quả khô/ha, những nơi như xã Trung Lèng Hồ, Dền Sáng có nhiều diện tích thảo quả đạt từ 3,2 - 3,4 tạ/ha. Bà con vùng cao Bát Xát được hướng dẫn kỹ thuật canh tác thảo quả qua những lớp tập huấn với sự giúp đỡ của khuyến nông viên. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ lò sấy cải tiến đã giúp cho người dân giảm được nguồn nguyên liệu, chất lượng thảo quả sấy tốt hơn, thời gian sấy ngắn hơn.
Bên cạnh cây thảo quả, cây sa nhân tím cũng đang mang lại nguồn lợi không nhỏ cho người dân vùng cao trên địa bàn huyện. Ban đầu chỉ một vài hộ dân tại xã Phìn Ngan tự tìm nguồn giống mang về trồng. Thấy cây trồng này hiệu quả kinh tế rõ rệt, nên đến nay, tổng diện tích sa nhân tím tại Bát Xát đạt gần 100 ha. Diện tích lớn nhất vẫn là xã Phìn Ngan với 80 ha, người dân xã Pa Cheo, A Mú Sung, Trịnh Tường cũng đã bắt nhịp và đang nhân rộng diện tích cây sa nhân tím.
Một trong những nguồn lợi kinh tế cho người dân Bát Xát là cây sơn tra. Sơn tra là loài cây tự nhiên, cách đây 3 năm đã được huyện đưa vào cơ cấu cây trồng rừng kinh tế. Chính vì vậy, năm 2011, diện tích sơn tra là 10 ha tại xã Ý Tý, đến năm 2012, diện tích tăng lên 20 ha, đến nay đã tăng lên 110 ha.
Sơn tra phù hợp với khí hậu vùng cao, dễ trồng, có mức đầu tư thấp, quả sơn tra cho giá trị kinh tế cao. Vào vụ thu hoạch sơn tra, người dân vùng cao lại có thêm nguồn thu nhập khá, đầu vụ thu hoạch sơn tra có giá từ 40.000 - 50.000 đồng/kg, trung bình trong năm đạt khoảng 30.000 - 35.000 đồng/kg. Cây sơn tra được khuyến khích phát triển và được Nhà nước hỗ trợ cho người sản xuất với mức 3 triệu đồng/ha. Chính vì vậy mà trong những năm tới, huyện Bát Xát tiếp tục thực hiện kế hoạch mở rộng diện tích cây sơn tra ra nhiều địa bàn.
Ông Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Bát Xát cho biết: Không chỉ có thảo quả, sa nhân hay, sơn tra, hiện, người dân ở các xã Ý Tý, Ngải Thầu, A Lù, Trịnh Tường cũng đang bước vào vụ thu hoạch cây xuyên khung. Đây là loài cây dược liệu quý dùng để chế biến thuốc chữa nhiều bệnh liên quan đến tim mạch và một số căn bệnh khác. Năm 2011, mô hình trồng xuyên khung đã phát triển tốt tại xã Ngải Thầu, sản lượng đạt 14 tấn/ha, giá đạt cao từ 60.000 - 70.000 đồng/kg quả khô. (Báo Lào Cai 4/12) đầu trang(
Cùng với thực hiện phá bỏ cây trồng trên diện tích vi phạm phá rừng trái pháp luật, xã An Vinh, huyện An Lão đã triển khai, hướng dẫn nhân dân phát dọn thực bì, đào hố đưa vào trồng 93,73 ha keo lai trong vụ thu đông 2013, trong đó trồng mới 14,81 ha, trồng lại sau khai thác 78,92 ha.
Đến thời điểm hiện tại, nhân dân đã đưa vào trồng hơn 2/3 diện tích, riêng số diện tích trồng mới đã hòan thành 100% kế họach.
Đi đôi với đó, xã An Vinh còn phối hợp với Phòng Tài nguyên &MT huyện tiếp tục đo đạc, chia thửa, phân lô tại Tiểu khu 25 cho Thôn 4 và Thôn 7, hiện đã hòan tất việc giao đất tại Thôn 4, người dân địa phương tổ chức phát dọn mua giống cây con về trồng đúng tiến độ. Đồng thời, phối hợp các ngành liên quan tổ chức kiểm tra, thống kê hiện trạng đất chưa sử dụng, đất nương rẫy và đất sản xuất trên địa bàn theo ý kiến chỉ đạo của UBND huyện. (Anlao.binhdinh.gov.vn 4/12) đầu trang(
Ngày 3.12, UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt điều chỉnh danh mục các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, với tổng kinh phí đầu tư 65,8 tỷ đồng; trong đó chương trình hỗ trợ 58 tỷ đồng, các địa phương đối ứng 7,8 tỷ đồng.
Theo đó, trong giai đoạn 2011 - 2015 sẽ triển khai đầu tư 15 dự án, gồm: Quy hoạch chi tiết rừng dừa nước Cẩm Thanh nhằm tái tạo, phục hồi, phát triển rừng dừa kết hợp đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái cộng đồng (7,5 tỷ đồng); nâng cấp, kè chống sạt lở sông Vu Gia khu vực xã Đại Phong (10,5 tỷ đồng); nâng cấp hệ thống kênh dẫn nước hồ Hóc Hạ (xã Quế Lộc), hồ Phước Bình xã Sơn Viên, huyện Nông Sơn, giai đoạn 2 (3 tỷ đồng)…
UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành phố liên quan hoàn chỉnh hồ sơ các dự án theo danh mục phê duyệt được phân bổ hằng năm theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước. Đồng thời, lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư (nếu có) và cân đối, bố trí vốn đối ứng để triển khai thực hiện các dự án. (Báo Quảng Nam 4/12) đầu trang(
Ngày 3-12, lãnh đạo xã Đắk Drông, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cho biết đang kêu gọi người dân trong xã tham gia xua đuổi voi rừng.
Trong đêm 2-12, hai con voi kéo ra khu dân cư nhưng rất may không phá hoại nhà cửa, cây trồng như những lần trước. Người dân đã chủ động dùng các dụng cụ tạo tiếng động mạnh để xua đuổi chúng vào rừng.
Trước đó, huyện Cư Jút đã họp bàn với các đơn vị liên quan định thuê voi nhà xua đuổi voi rừng về Vườn quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) nhưng giải pháp này tốn kém và mang tính tạm thời vì nguồn thức ăn cho voi trong Vườn quốc gia Yok Đôn không đáp ứng đủ nhu cầu của voi.
Trước đó, có ba con voi gồm voi đực, voi cái và một voi con di chuyển từ vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn sang xã Đắk Drông để kiếm ăn. Sau khi xuất hiện vài lần thì voi đực mất hút, chỉ còn lại voi mẹ và voi con. (Pháp Luật TPHCM 4/12) đầu trang(
UBND TP.HCM vừa ban hành danh mục các loại cây cấm trồng trên đường phố. Theo danh mục này, có tới 28 loại cây cấm trồng. Tuy nhiên, sẽ chẳng có gì để bàn nếu như trong danh mục cấm này có rất nhiều loại nằm trong danh mục hạn chế và cấm trồng do chính TP.HCM ban hành từ năm 2007, cũng như của Bộ Xây dựng từ nhiều năm trước.
Theo công ty TNHH một thành viên Công viên cây xanh TP.HCM, ngay từ năm 2005 đơn vị này đã tham mưu cho thành phố danh mục các loại cây nên trồng trên đường phố. Ngoài tiêu chí tạo cảnh quan đô thị như dáng đẹp, hoa đẹp, không độc hại, không có hệ rễ ăn ngang, cây phải dẻo dai, khó gãy đổ, cây còn phải phù hợp với thổ nhưỡng, môi trường của thành phố. Đặc biệt, phải thuộc loài bản địa. Năm 2007, TP.HCM đã ban hành danh mục các loại cây cấm và hạn chế trồng, thời điểm này bộ xây dựng cũng cấm trồng hàng loạt cây như bàng, bã đậu…
Tuy bị cấm, nhưng tại nhiều khu dân cư mới hình thành, các hộ dân, thậm chí là các chủ đầu tư vẫn vô tư trồng hai loại cây bàng và bã đậu.
Ngay trên nhiều tuyến đường thuộc quận Tân Phú, Bình Thạnh, Thủ Đức, Tân Bình, Bình Tân… hiện nay đều được trồng bàng. Và không ít cây bàng chỉ độ một năm tuổi. Giải thích việc này, chính quyền các địa phương đều nói do cá nhân, tổ chức tự ý trồng chứ không phải địa phương trồng.
“Vậy tại sao khi chúng tôi trồng cây bàng, bã đậu trên vỉa hè (do Nhà nước quản lý) không thấy chính quyền nào xuống ngăn lại. Trong khi đó, người dân chỉ cần đổ đống cát trước cửa nhà là ngay lập tức xuất hiện người của cơ quan chức năng tới hạch sách này nọ. Nói trắng ra, việc để các cây cấm và hạn chế trồng vẫn tồn tại trên đường phố thuộc trách nhiệm các cơ quan hữu quan và địa phương là chính”, ông Nguyễn Xuân Duy, ngụ phường Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, nói.
Còn ông Nguyễn Trung Thành (cán bộ hưu trí, ngụ khu Bàu Cát, phường 14, quận Tân Bình) thì bình luận: Trong việc trồng cây xanh, nếu người dân có ý thức (đối với những người biết và vẫn trồng), các cơ quan chức năng cũng như địa phương đừng buông lỏng mảng này thì bây giờ thành phố sẽ hạn chế được tiền tỉ từ ngân sách để phục vụ cho việc đốn hạ và thay thế.
Theo một cán bộ công ty Công viên cây xanh TP.HCM, bây giờ nếu nơi nào trồng các loại cây trong danh mục cấm trồng sẽ bị “xử” ngay.
Đối với các loại cây cấm trồng, trên thực tế, thành phố đã tiến hành thay thế từ vài ba năm qua bằng các loại cây khác. Việc ưu tiên thay thế dựa trên tuyến đường đó đã được quy hoạch tuyến hay chưa. Nếu đã quy hoạch rồi thì sẽ sớm thay thế. Ưu tiên hàng đầu vẫn là việc thay thế các cây xanh có nguy cơ, đổ ngã. Tiền để đốn hạ thay thế chủ yếu là lấy từ ngân sách thành phố.
Theo quy định, quy trình để cá nhân, đơn vị, tổ chức xin đốn hạ và thay thế cây xanh trên tuyến đường mình toạ lạc phụ thuộc vào tuyến đường đó do quận, huyện quản lý hay do các khu quản lý giao thông đô thị quản lý. Nếu thuộc quận, huyện quản lý, thì cá nhân, tổ chức phải làm thông báo với chính quyền địa phương. Từ đó, địa phương có văn bản gửi khu quản lý giao thông đô thị (hiện có bốn khu quản lý giao thông đô thị), rồi gửi sở Giao thông vận tải và công ty Công viên cây xanh. Còn nếu tuyến đường đó do khu quản lý giao thông đô thị chịu trách nhiệm quản lý thì bỏ qua bước đầu.
Cũng theo vị cán bộ công ty Công viên cây xanh TP.HCM thì: “Tình hình hiện tại, ngoài các trường hợp ưu tiên thì việc thay thế sẽ được đẩy mạnh vào đầu tháng 4.2014 – thời điểm đã hoàn thiện kế hoạch triển khai cũng như có kinh phí để thực hiện”. (Sài Gòn Tiếp Thị 3/12) đầu trang(
Việc nhiều hộ dân ở xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) ngang nhiên lấn chiếm hàng trăm ha rừng của Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê trong một thời gian dài nhưng không bị xử lí đã khiến dư luận đặt câu hỏi về tính nghiêm minh của pháp luật tại địa phương này.
Năm 2012, UBND tỉnh Hà Tĩnh cho phép TNHH MTV Cao su Hương Khê (Cty), thuê hơn 300 héc ta đất tại xã Hòa Hải, Hương Khê để trồng cao su.
Sau khi làm xong các thủ tục, nộp ngân sách 3,4 tỷ đồng, cuối tháng 11/2012, Cty cho công nhân đưa máy tiến hành công việc thì phát hiện 4 người dân xóm 11 đã tự ý phát hơn 15 ha rừng để trồng keo và ngăn cản Cty tiến hành công việc.
Sau khi phát hiện lãnh đạo công ty đã báo cáo cho chính quyền và cơ quan chức năng nhờ giúp đỡ. Tuy nhiên, sự việc vẫn tiếp tục diễn ra thậm chí có phần nghiêm trọng hơn khi hàng chục hộ dân kéo nhau vào rừng chiếm đất.
Theo ông Trần Thanh Hà - TGĐ công ty thì khi Cty cùng lực lượng chức năng vào kiểm tra thì một số hộ dân còn ngang nhiên cản trở, dọa nạt. Và tính đến thời điểm này đã có hơn 150 ha đất rừng bị người dân xâm chiếm trái phép.
Nói về sự việc này ông Phạm Hữu Nhân - Chủ tịch UBND xã Hòa Hải thừa nhận: Sự việc đã đi quá xa và đã vượt qua tầm kiểm soát của xã. Và ngay cả UBND huyện cùng cơ quan chức năng cũng nhiều lần vào cuộc nhưng sự việc chẳng tiến triển được hơn.
Ngày 18/1/2013, PCT UBND tỉnh Lê Đình Sơn đã ký văn bản số 231, có nội dung: Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Hương Khê chỉ đạo sâu sát, đồng bộ các giải pháp. Tuyệt đối không để xẩy ra tình trạng xung đột, tranh chấp làm ảnh hưởng đến ANTT, ổn định tại địa phương.
Tuy nhiên, không hiểu vì lí do gì nhưng UBND huyện Hương Khê vẫn không giải quyết được yêu cầu của Phó Chủ tịch tỉnh.
Sự việc càng nóng lên khi ngày 31/5, Văn phòng Trung ương Đảng có công văn số 5657/CV-/VPTW gửi tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị làm rõ vụ việc.
Để giải quyết sự việc này ông Lê Đình Sơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có buổi làm việc với huyện Hương Khê và các bên liên quan. Tuy nhiên, đến nay sự việc vẫn không có gì thay đổi. Dư luận đang đặt câu hỏi về tính nghiêm minh của pháp luật tại địa phương này.
Công văn yêu cầu Hà Tĩnh kiểm tra, báo cáo vụ việc, đưa ra phương hướng xử lý và báo cáo cho Thường trực Ban Bí thư TƯ Đảng.
Ngay sau khi nhận được văn bản chỉ đạo trên, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã có công văn số 900 – CV/TU “về việc kiểm tra, giải quyết việc người dân xâm chiếm đất, rừng”.
Nội dung công văn nêu rõ: “Thường trực tỉnh ủy yêu cầu UBND tỉnh và đồng chỉ Trưởng đoàn công tác của Ban thường vụ tỉnh ủy tại huyện Hương Khê chỉ đạo các ngành liên quan và huyện Hương Khê làm rõ nội dung báo nêu và xử lý sự việc để ổn định tình hình, bảo đảm an ninh trật tự đồng thời báo cáo kết quả giải quyết cho Thường trực tỉnh ủy trước ngày 30/6 để tổng hợp báo cáo Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng”.
Trước đó trả lời với báo chí về vấn đề này, ông Đinh Hữu Tân, Chủ tịch UBND huyện Hương Khê cho biết, việc lấn chiếm của người dân là trái phép, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
Chúng tôi đang tiếp tục vào cuộc quyết liệt, một mặt giải thích cho dân hiểu, giải quyết nhu cầu của người dân. Còn mặt khác củng cố hồ sơ vi phạm cần thiết sẽ tổ chức lực lượng đủ mạnh để ngăn chặn, trục xuất toàn bộ người dân vào lấn chiếm trái phép. (Tamnhin.net 3/12) đầu trang(
UBND tỉnh Cà Mau quyết định thành lập đoàn thanh tra toàn diện việc giao đất, giao rừng, liên doanh liên kết, cách ăn chia tỉ lệ phần trăm sau thu hoạch tại U Minh Hạ. Trong lúc đoàn thanh tra đang tiến hành làm việc, PV về lại U Minh Hạ và nhận thấy rằng: U Minh Hạ sẽ được “đổi đời” nếu được thay đổi cơ chế và cây trồng.
Ông Lê Văn Sử - Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau - chỉ lên bản đồ phân bố cây lâm nghiệp của tỉnh: “Toàn lâm phần rừng tràm Cà Mau hiện trên 40.000ha, trong đó gần 80% rừng kinh tế với trên 5.000 hộ dân đang sinh sống dưới tán rừng. Từ năm 1999 đến cuối 2012, toàn lâm phần trồng mới và trồng rừng sau cháy trên 14.300ha.
Song, rừng tràm chủ yếu trồng quảng canh, năng suất không cao. Theo thời gian, thị trường cừ tràm trong xây dựng giảm, kéo theo giá gỗ tràm xuống thấp, giá trị sinh lãi thấp hơn các loại cây trồng khác, đời sống người trồng tràm khốn khó”.
Ông Nguyễn Hoàng Tâm - người bám đất, bám rừng trồng tràm đã 30 năm nay tại U Minh Hạ - ngậm ngùi phân tích: “Một hécta tràm trồng hơn 10 năm mới thu hoạch. Giá cao nhất cũng chỉ 50 triệu đồng, trừ hết chi phí và ăn chia với chủ rừng, người dân lãi cao lắm chỉ 30 triệu đồng. Đem số tiền này chia đều cho 10 năm, mỗi năm chỉ sinh lãi có 3 triệu đồng, thử hỏi làm sao dân giữ rừng sống được.
Đây là bài toán rất đơn giản mà rất nhiều năm lãnh đạo tỉnh Cà Mau vẫn chưa giải được”. Từ phân tích kinh tế này, ông Tâm cho rằng, hiện nay nếu bám cây tràm với hàng loạt những cơ chế cũ thì người trồng tràm có nước... tự sát. Rõ ràng, cây tràm không thể làm cho người dân hứng thú trong việc bám đất, bám rừng. Đã vậy họ còn gánh chịu hàng loạt những khoản phí, thuế, khoán vô lý khác mà Báo Lao Động đã nhiều lần đề cập, cũng như đoàn thanh tra của tỉnh Cà Mau sắp tới sẽ phân tích rõ.
Trở lại chuyện một cán bộ lãnh đạo tỉnh Cà Mau bị kỷ luật vì dám ra chủ trương trồng cây lạ tại U Minh Hạ. Lúc đó, người ta gắn thêm cái tên “keo lai” vào tên anh. Gặp lại anh bây giờ, anh cười xoà: “Chuyện qua lâu rồi, nhắc làm gì. Đúng là vào thời điểm đó mình làm hơi bạo, chỉ đạo trồng keo trước khi có chủ trương của Bộ NNPTNT”.
Những diện tích keo lai được trồng từ “chủ trương chui” của anh nay đã đến hạn thu hoạch. Điều khá bất ngờ là giá trị trung bình 1ha keo lai lên đến 250 triệu đồng. Những người đem loài cây “ngoại lai” về đất U Minh Hạ nay đã trở thành tỉ phú sau gần 10 năm trồng lén.
Bây giờ thì cây keo lai không còn được xem là cây trồng ngoại lai trên đất U Minh Hạ nữa. Chỉ tính riêng Cty TNHH MTV U Minh Hạ (Cà Mau), tổng diện tích keo lai đã lên đến trên 1.000ha. UBND tỉnh Cà Mau cũng chính thức giao đất, giao rừng cho 6 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh trồng trên 1.200ha cây keo lai tại diện tích quy hoạch rừng kinh tế của tỉnh. Có được điều này do năm 2009, Cà Mau được chấp thuận từ Bộ NNPTNT cho phép bổ sung 2 loài cây lâm nghiệp được phép trồng cho rừng sản xuất, trong đó có cây keo lai.
Nhân nói chuyện keo lai, Giám đốc Cty TNHH MTV U Minh Hạ (Cà Mau) Trần Văn Hiếu phân tích thêm, đây là loại cây thuộc họ đậu, được lai từ keo tai tượng và keo lá tràm. Loại cây này phát triển nhanh, bộ rễ có nhiều nốt sần tác dụng cố định đạm và cải tạo, bảo vệ độ phì nhiêu cho đất. Sau 4 đến 5 năm trồng, keo lai cho thu hoạch, giá trị và sản lượng cao gấp đôi so với tràm thâm canh. Lợi thế so sánh giữa cây keo lai với cây tràm cho thấy, cây keo lai cho lợi nhuận rất cao, trong khi vẫn đảm bảo môi trường nước, nguồn cá đồng dồi dào tại U Minh Hạ.
Hiệu quả kinh tế từ việc trồng cây keo lai “lén lút” mang lại khiến cho những cán bộ nguyên lãnh đạo tỉnh Cà Mau một thời bài xích cây keo lai buộc phải suy nghĩ lại. Ông Phạm Thạnh Trị - nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - nhìn nhận: “Mình đừng mặc cảm với keo lai như trước nữa. Thực tế rõ rồi, chu kỳ chỉ 4 đến 5 năm mà lợi nhuận hơn 3 lần cây tràm quảng canh, hơn 2 lần tràm thâm canh thì nên để người dân U Minh Hạ tự định đoạt trên mảnh đất của mình. Bám cây tràm mà nghèo hoài là có lỗi với người dân”.
Đồng tình với quan điểm với ông Phạm Thạnh Trị, ông Trần Thanh Liêm - nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau - cho rằng, cây lâm nghiệp nào cũng là cây, loại nào kinh tế cao, đầu ra ổn định, có lợi nhiều cho dân thì nên làm, chứ đừng để bà con mãi khổ với cây tràm.
“Mình nói rừng mình nhiều, ví như vàng mà bao năm trời chưa biến nó thành vàng. Nay có cơ hội rồi, dù chưa thành vàng nhưng biến rừng thành bạc cũng được. Với hiệu quả kinh tế như đã đánh giá, hy vọng vài năm nữa trở lại rừng tràm sẽ có sự thay đổi” - ông Liêm nói.
Sở dĩ người dân bám đất, bám rừng U Minh Hạ còn nghèo, theo ông Trần Thanh Liêm, nguyên nhân do lâu nay tỉnh còn lẫn lộn giữa rừng bảo tồn và rừng kinh tế nên chưa đầu tư nhiều cho rừng tràm cả tiền bạc, cơ chế, lúc phân ra, lúc gộp lại, nhưng đến giờ vẫn chưa xong. Hệ luỵ kéo theo là cả một vùng đất đai rộng lớn chỉ dừng lại mức tiềm năng, quản lý còn chồng chéo cả về lợi ích và kinh tế.
Chính sự phân biệt chưa rõ ràng này mà đã hơn 30 năm kể từ ngày đất nước thống nhất, hàng ngàn hộ dân sống trong rừng tràm vẫn chưa định danh được chính xác mình là thành phần gì trong xã hội. Gọi là nông dân cũng chưa đúng vì nông dân thì phải làm chủ ruộng đất, có bằng khoán đỏ.
Nhưng ở U Minh Hạ, phần lớn người dân, thậm chí còn không được hưởng lợi từ cây trồng, vật nuôi trên chính mảnh đất được giao khoán. Thậm chí bà con trồng một cây lâu năm cũng phải dè chừng, vì ai biết phải trả lại đất lúc nào, cây trái đó chưa chắc để lại được cho đời con, đời cháu thụ hưởng. Còn gọi dân trồng rừng là công nhân lâm nghiệp cũng không phải, bởi công nhân lâm nghiệp phải được chủ rừng trả lương hằng tháng, được mua bảo hiểm... Đây là điều mà cư dân tại rừng tràm U Minh Hạ lâu nay chưa hề biết tới.
Ông Lê Văn Sử - Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau thừa nhận, Bộ NNPTNT cho Cà Mau trồng bổ sung keo lai từ năm 2009 đã tạo nên đột phá trong cơ cấu sản xuất lâm nghiệp, không chỉ giúp rút ngắn chu kỳ kinh doanh trồng rừng, mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn góp phần cân bằng, làm phong phú thêm nguồn tài nguyên rừng U Minh Hạ đang bị suy giảm.
Thời gian tới, Cà Mau sẽ phát triển trồng keo lai ở những vùng thích hợp trên lâm phần rừng tràm gắn với chế biến lâm sản xuất khẩu, mở ra cơ hội có thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống người trồng, giữ rừng. Nghĩa là quy hoạch lại rừng tràm đã được tỉnh Cà Mau tính đến. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Người dân U Minh Hạ đang chờ được chính quyền “cởi trói” mạnh tay hơn, ví như hãy mạnh dạn chuyển đổi toàn bộ sang cây keo lai để người dân có đời sống tốt hơn như thực tế đã minh chứng. (Lao Động 3/12) đầu trang(
Chỉ trong vòng vài chục năm trở lại đây, tỉnh Sơn La đã mất đi hàng ngàn ha rừng bởi nhiều nguyên nhân. Những diện tích rừng còn lại cũng bị “bạc màu” nhanh chóng và rất khó khăn trong công tác bảo vệ.
Sự phát triển của cuộc sống hiện đại ngày càng có nhu cầu lớn về gỗ tự nhiên dẫn tới việc khai thác bất hợp lý để điều tiết giữa các vùng, miền. Sự tăng dân số tại chỗ nhanh cũng thúc đẩy nhu cầu khai thác rừng để làm nguồn sống, tạo đất sản xuất, lấy gỗ dân dụng. Sự vô tâm của một người sử dụng lửa, nhất là khi đốt nương làm rẫy có thể thiêu đốt hàng trăm, thậm chí hàng ngàn ha rừng.
Một trong những lý do mất rừng khác tuy với tốc độ chậm, diện tích nhỏ nhưng tính chất xâm thực rừng bền bỉ chính là việc nông dân lấn rừng làm đất sản xuất. Việc này xảy ra ở tất cả 12/12 huyện, thành phố của Sơn La. Mới đây, toà án Sơn La đã tuyên phạt hàng chục bị cáo là nông dân tại TP.Sơn La, huyện Quỳnh Nhai, Mộc Châu... đã vi phạm lấn đất, phá rừng để làm nương, với mức án đau lòng: Từ 3 năm tù trở lên.
Theo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha- ông Trần Ngọc Tân: “Đó là điều không ai mong muốn. Chúng tôi là những người giữ rừng nhưng cũng rất đau lòng khi thấy nông dân bị phạt tiền, phạt tù chỉ vì mưu sinh. Nhưng luật là luật...”.
Ông Đặng Văn Sơn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mai Sơn thật thà: “Kiểm lâm chúng tôi rất ngán kiểu lấn rừng của nông dân. Họ đã hiểu luật nên chỉ xâm hại với diện tích nhỏ mà luật quy định không xử lý hình sự. Còn xử phạt hành chính thì xử rất nhiều nhưng có thu được tiền đâu vì dân nghèo lấy gì mà nộp”.
Ánh mắt già nua của lão nông người dân tộc Mông ở bản Suối Khang- ông Vàng A Mang, người thường xuyên tham gia vác gỗ luồn rừng cho lâm tặc, nhìn tôi chớp chớp và ông hỏi lại: “Tôi bảo vệ 1ha rừng thì 1 năm chỉ được thanh toán hỗ trợ có 113.000 đồng. Nếu đi vác gỗ thuê cho lâm tặc, một thanh gỗ đưa từ rừng ra đến điểm tập kết, đi vừa hết một ngày thì được 200.000 - 250.000 đồng. Nếu là nhà báo thì làm việc gì sẽ có đủ ăn?”. Câu hỏi của lão Mang làm tôi lúng túng thật sự.
Ai cũng biết rằng lâm tặc hầu như không thể tự phá rừng mà bắt buộc phải có một lực lượng dân sở tại canh chừng, vận chuyển gỗ từ địa điểm đốn hạ ra đến bãi tập kết. Không chỉ dân bản Suối Khang mà nhiều dân bản khác quanh các khu rừng cũng đều làm thuê, tiếp tay cho lâm tặc để lấy một khoản phí theo thoả thuận.
Số lượng người làm thuê thường là rất lớn, có khi chiếm hầu hết cả bản nên ai đó có muốn phản đối cũng không dám ra mặt. Một trong những lão nông ở Quỳnh Nhai khi giúp tôi đi điều tra vụ phá rừng nghiến từng năn nỉ: “Nhà báo phải đóng giả người đi buôn trâu, bò hay nông sản. Phải giữ kín cho tôi. Nếu họ biết thì tôi thật khó sống với họ”.
Có một thực tế là lực lượng người dân làm thuê cho lâm tặc sẵn sàng bảo vệ lâm tặc khi bị kiểm lâm truy đuổi, thậm chí họ tham gia tấn công kiểm lâm. Còn kiểm lâm, khi bắt gặp những người dân nghèo khổ, đi vác gỗ thuê thì cũng rất nao lòng bởi thừa biết những chủ rừng này phải tham gia vác gỗ thuê là vì mưu sinh. Họ đi cả ngày đường, gối mỏi, chân run, è vai vác gỗ trong khi bụng đói cũng chỉ là để đổi lấy ngày mai được bữa no... (Nông Thôn Ngày Nay 4/12) đầu trang(
Ngày 3-12, nhận được tin báo từ quần chúng về xe ôtô mang BKS 16H-5388 hành trình từ Hạ Long về Móng Cái có chở động vật hoang dã để xuất lậu đi Trung Quốc, Trạm Kiểm soát liên hợp Km15-Bến tàu Dân Tiến đã triển khai lực lượng vây bắt.
Xác minh nguồn tin trên, Trạm Kiểm soát liên hợp Km15-Bến tàu Dân Tiến phối hợp với Phòng 3, Cục Cảnh sát kinh tế kiểm tra bắt giữ phương tiện ngay tại khu vực cần barie thuộc Trạm.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe có chở các túi lưới bên trong có 124 cá thể tê tê sống, với tổng trọng lượng 487 kg (tại thời điểm kiểm tra toàn bộ các cá tê tê đều còn sống).
Đấu tranh ban đầu, ông Nguyễn Xuân Linh, sinh năm 1987 (trú tại tổ 8, khu 1, phường Ka Long, TP. Móng Cái) là người điều khiển phương tiện khai nhận, toàn bộ lô hàng không có bất cứ giấy tờ gì hợp pháp kèm theo. Xét thấy đây là vụ vận chuyển trái phép động vật rừng hoang dã, nguy cấp, quý hiếm, Tổ Công tác lập biên bản kiểm tra, bàn giao đối tượng, tang vật và phương tiện vi phạm về trụ sở Hạt Kiểm lâm TP. Móng Cái tiếp tục xử lý. (Hải Quan 4/12) đầu trang(
Cho đến thời điểm này, gần 20 ha rừng tái sinh ở bản Huổi Chỏn, xã Ẳng Tở (huyện Mường Ảng- Điện Biên) đã “cơ bản” được phá xong. Công trình thuỷ lợi dẫn nước về khu vực này đã hoàn thành dù... chưa có nước. Còn 50 hộ dân Huổi Chỏn thì vẫn ngẩn ngơ, vừa tiếc khu rừng bị phá, lại băn khoăn chẳng biết bao giờ rừng mới thành ruộng như lời cán bộ “vẽ ra” trước đây.
Sau khi "đánh vật" gần 1 giờ trên con đường đất bụi mù, chúng tôi đến được bản Huổi Chỏn vào giữa trưa cuối tháng 11. Một cảnh tượng đáng buồn hiện ra trước mắt nhóm phóng viên: cả một bãi trống mênh mông, ngổn ngang hàng ngàn gốc cây đã được cưa sát đất, cùng những cành, ngọn cây khô mục chưa được dọn hết.
Theo quan sát của phóng viên, những gốc cây được đốn hạ trung bình đều có đường kính từ 30- 40 cm, có gốc tới 50-70cm. Nơi đây đang thực hiện dự án chuyển đổi đất rừng sang khai hoang ruộng nước. Để minh chứng cho sự hiện diện của dự án này, Trưởng bản Hờ A Páo chỉ cho chúng tôi xem chiếc bể xả cuối nguồn khô cong và nói rằng nước từ đây sẽ chảy về nếu sau này ở đây có ruộng.
Bản Huổi Chỏn với 50 hộ dân, trên 300 nhân khẩu người dân tộc Mông sinh sống. Có tới 42 hộ thuộc diện đói nghèo, Huổi Chỏn được xếp vào những bản nghèo nhất nhì của xã Ẳng Tở do thiếu đất canh tác. Để khắc phục tình trạng này, bản đã được xây dựng dự án chuyển đổi đất rừng nghèo, xây dựng công trình thuỷ lợi dẫn nước về để khai hoang gần 10 ha ruộng.
Trên thực tế thì Ban quản lý dự án huyện đại diện cho chủ đầu tư là UBND huỵện Mường Ảng đã thực hiện mọi thủ tục từ lập quy hoạch, phương án chuyển đổi đất, đấu thầu thanh lý rừng... theo đúng thủ tục. Tuy nhiên, để khai hoang gần 10 ha ruộng nước, người ta đã phải “phá” tới 19,2 ha rừng thuộc nhóm giữa 1c và 2a và hiện tại đã “phá” xong 17 ha rừng. Đến ngày 25/11/2013, 50 hộ dân trong bản đã được chia đất trên thực địa với tổng số diện tích 9,8 ha.
Trưởng bản Hờ A Páo cho biết: Diện tích này vốn là khu rừng tái sinh tốt nhất của bản, đã khoanh nuôi trên 20 năm qua. Hiện cả bản mới có 6 ha ruộng nước, nên khi nghe tin có dự án khai hoang ruộng ở đây, dân bản mừng lắm. Ban quản lý dự án đã làm sẵn các thủ tục, có cả đơn xin khai hoang ruộng nước của người dân, dân bản chỉ việc ký thôi.
Thế nhưng, khi thấy doanh nghiệp vào xây dựng công trình thuỷ lợi, nhiều người bảo cái ống nước bé tý thế kia thì làm sao dẫn được nước cho đủ. Rồi lại thấy người ta vào đây phá cả đám rừng lớn thế, dân bản đã thắc mắc là nước tưới được bao nhiêu thì phá bấy nhiêu rừng thôi, sao lại phải phá nhiều rừng thế, phá hết rừng đi thì sau này suối làm gì có nước mà tưới cho ruộng. Từ ngày công trình thuỷ lợi làm xong năm 2013, chỉ mùa mưa nước mới chảy đầy ống, còn mùa này thì chảy bé lắm, làm sao đủ nước tưới cho cả bãi này.
Trước đây, cán bộ bảo sẽ cho máy vào khai hoang ruộng cho bà con, nay lại bảo làm bằng máy thì hỏng hết đất, để bà con tự khai hoang lấy. Đất rừng chỗ cao chỗ thấp, nếu tự khai hoang thì làm sao đưa nước lên được chỗ cao. Bà con tự khai hoang cũng được, nhưng ít nhất nhà nước cũng nhổ giúp gốc cây đi chứ. Nếu cứ để thế này, dù được chia đất, dân bản cũng để trồng ngô, trồng sắn thôi chứ không khai hoang được ruộng nước đâu.
Làm việc với Phòng Nông nghiệp và Ban quản lý dự án huyện Mường Ảng, chúng tôi cũng chẳng được cung cấp thêm bao nhiêu thông tin, vì những người đứng ra làm việc đều lấy lý do là mới về phụ trách phòng, hoặc không trực tiếp giám sát dự án này. Chỉ được biết công trình thuỷ lợi trên có tổng mức đầu tư trên 6,67 tỷ đồng từ nguồn vốn 30a của Chính phủ vào năm 2010, hoàn thành vào năm 2011 với mục tiêu đặt ra là đảm bảo cung cấp nước tưới cho 30 ha lúa vụ mùa và 10 ha lúa vụ chiêm. Nguồn nước được dẫn từ suối Huổi Chỏn, trong đó có 2.840m kênh và 480m ống dẫn.
Thế nhưng ông Lò Văn Thăng, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện cũng thừa nhận: công trình thuỷ lợi này chỉ cung cấp đủ nước cho khoảng 8ha ruộng, chứ không thể cung cấp đủ cho cả bãi rừng đã phá. Huổi Chỏn cũng là dự án duy nhất trong 12 dự án của huyện trong năm 2010- 2011, được xây dựng công trình thuỷ lợi khi chưa có bãi tưới. Trước mắt, Phòng sẽ hướng dẫn nhân dân cách khai hoang từ từ, có nghĩa là những vụ đầu sẽ trồng đậu tương, ngô sau đó một thời gian mới có thể đưa vào trồng lúa.
Ngay như ông Lò Văn Học, Phó Chủ tịch phụ trách UBND xã Ẳng Tở cũng cho rằng: “Thiết kế như thế nào thì chúng tôi cũng không được biết, nhưng theo kinh nghiệm bản thân thì công trình thuỷ lợi này chỉ đủ cung cấp nước cho 7ha mà thôi”.
Như vậy rõ ràng, cả những người làm công tác quản lý và cơ quan chuyên môn cũng còn hoài nghi về hiệu quả của dự án này, nói gì đến người dân địa phương. Nếu dự án đã không đạt hiệu quả như mục tiêu thiết kế đặt ra, thì liệu có phải chủ đầu tư đã cố “làm cho có dự án”, và rừng Huổi Chỏn đã bị “phá oan” hay không ?. (Tamnhin.net 4/12) đầu trang(
Tuần cuối tháng 11/2013, trên tuyến đường 9, Quảng Trị, đã xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông (TNGT) nghiêm trọng. Nguyên nhân đều do xe chở gỗ quá khổ quá tải gây ra.
Vụ TNGT xảy ra ngày 29/11, trên đường 9, qua thôn Lương Lễ, xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa. Xe đầu kéo mang biển số Lào -1879 kéo theo rơ móc, do Trần Văn Hùng (34 tuổi, trú xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, Quảng Trị) điều khiển hướng Lao Bảo (huyện Hướng Hóa) về TP Đông Hà đã bất ngờ bị lật, khiến hơn 100 tấn gỗ ở trên xe tràn ra đường, anh Hùng bị gỗ đè chết và xe đầu kéo cũng hư hỏng nặng.
Trước đó, cũng xe chở gỗ quá khổ, quá tải trên tuyến đường 9 đã lao vào nhà dân, đâm sập hiên nhà, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Trong các năm từ 2010 đến nay, có nhiều vụ TNGT nghiêm trọng xảy ra trên tuyến đường 9 đều do xe chở gỗ quá khổ, quá tải gây ra. Trong đó, có không ít vụ làm người đi đường bị gỗ đè chết.
Ngoài ra, trên tuyến đường 9 có nhiều cây cầu có tải trọng chỉ từ 18 tấn đến 30 tấn, trong khi mỗi xe chở gỗ quá khổ, quá tải nặng tới hàng trăm tấn. Người dân, chính quyền cơ sở đã nhiều lần kiến nghị, cầu cứu chính quyền và ngành chức năng tỉnh; nhưng đến nay tình trạng vi phạm này vẫn không được giải quyết. (Công An Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Ngày 2/12, Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương Phạm Triều cho biết, huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng làm rõ việc Công ty TNHH Ngọc Thảo thuê người chặt hạ cà phê của dân vào ngày 28/11.
Vụ việc xảy ra tại khoảnh 3, tiểu khu 145B (thuộc địa bàn thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng), vào trưa 28/11, Doanh nghiệp Ngọc Thảo (143 Y Dinh, P5, TP Đà Lạt) đã tự ý thuê người từ địa phương khác đến chặt hạ hàng ngàn cây cà phê trong vườn nhà ông Đặng Văn Liệu (ngụ tại P12, TP Đà Lạt).
Theo tường trình của ông Liệu, sáng đó, cơ quan chức năng của huyện Lạc Dương, cùng đại diện Công ty Ngọc Thảo có đến khu vườn nhà ông để xác định lại ranh giới đất mà UBND tỉnh Lâm Đồng giao cho Công ty Ngọc Thảo thuê làm dự án, để công ty này làm hàng rào bảo vệ.
Sau khi xong việc, cơ quan chức năng ra về, khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, có khoảng 70 người mang theo dao, rựa và hung khí bất ngờ xông vào chặt phá tan tành vườn cà phê và hồng ăn trái của nhà ông. Khi gia đình ông Liệu ra ngăn cản, thì bị các đối tượng này hăm dọa sẽ chém chết, một số người còn dùng đá ném vỡ cửa kính nhà ông Liệu dựng trong vườn để canh cà phê.
Ngày 2/12, ngoài việc chỉ đạo cơ quan chức năng làm rõ hành vi doanh nghiệp thuê người chặt phá cà phê của dân, UBND huyện Lạc Dương còn giao cho UBND thị trấn Lạc Dương, lực lượng Kiểm lâm và Phòng TN&MT làm rõ diện tích nào có trước khi giao đất cho dự án, diện tích nào lấn chiếm mới để giải quyết dứt điểm. Trường hợp đất nông nghiệp đã sản xuất ổn định, nếu doanh nghiệp không tự thỏa thuận được với dân thì huyện cũng sẽ đề xuất với UBND tỉnh đưa ra khỏi dự án.
Về việc này, ông Đặng Anh Thiện, kiểm lâm phụ trách địa bàn thị trấn Lạc Dương khẳng định: Kiểm lâm và Đội 12 của huyện chỉ hỗ trợ cho Công ty Ngọc Thảo xác định ranh giới đất, chứ không hỗ trợ cho việc chặt phá cà phê của dân.
Theo biên bản xác minh hiện trường, do ông Nguyễn Công Trứ - Chủ tịch, kiêm Trưởng ban Lâm nghiệp thị trấn Lạc Dương cùng đại diện Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương lập vào chiều cùng ngày, tại thời điểm xác minh, ghi nhận tổng số cà phê và hồng ăn trái bị chặt hạ là 2.623 cây, trên diện tích 6.000m2, trong đó hơn 1.300 cây đã cho thu hoạch và 1.280 cây bắt đầu cho bói.
Trao đổi vụ việc và được bà Trần Thị Lan - Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Thảo thừa nhận đã tự thuê người từ địa phương khác đến “giải tỏa” đất được giao để thực hiện dự án. Lý do doanh nghiệp đưa ra để tự tổ chức “giải tỏa” là do ngày 27/11, doanh nghiệp có thỏa thuận hỗ trợ cho gia đình ông Liệu 250 triệu đồng để thu hồi 1ha đất, nhưng do ông Liệu không đồng ý.
Bà Lan cho biết, nguyên nhân nữa là do “Nhiều lần công ty có văn bản đề nghị chính quyền địa phương hỗ trợ giải tỏa đất bị lấn chiếm, nhưng chính quyền không thực hiện dứt điểm, nay muốn giữ đất, công ty phải tự “giải tỏa nóng”… Và việc “giải tỏa” này chỉ diễn ra trong vòng 15 phút là xong”.
Được biết, năm 2008, UBND tỉnh Lâm Đồng có quyết định cho Doanh nghiệp Ngọc Thảo thuê 40ha đất, rừng tại tiểu khu 145B để thực hiện dự án nông nghiệp trồng cây nguyên liệu sản xuất các loại trà, cà phê túi lọc và quản lý bảo vệ rừng (diện tích rừng 25ha), trong đó còn “vướng” vườn cà phê của nhà ông Liệu, việc này cũng được bà Lan xác nhận.
Nguồn gốc của lô đất được ông Liệu sang nhượng lại của vợ chồng ông K’Dim và bà K’Lý (ngụ xã Lát, Lạc Dương) vào năm 2001. Năm 2009, UBND thị trấn Lạc Dương đã tổ chức cho Doanh nghiệp Ngọc Thảo và hộ ông Liệu thỏa thuận mức đền bù hỗ trợ, nhưng cả hai lần đều bất thành.
Theo bà Lan, từ đó đến nay ông Liệu tiếp tục mở rộng lấn chiếm, nay diện tích cà phê của ông đã tăng gấp đôi, buộc Công ty Ngọc Thảo phải tự đứng ra “giải tỏa”. Nhưng bà Lan cũng thừa nhận việc thuê người chặt phá cà phê, hồng của gia đình ông Liệu là sai, và doanh nghiệp sẵn sàng đứng ra đền bù sau khi cơ quan chức năng xác định mức độ thiệt hại.
Liên quan đến vụ việc, ông Phạm Triều cho biết, chủ trương của UBND huyện từ trước đến nay đều ủng hộ, tạo điều kiện hết mức để các doanh nghiệp thực hiện tốt các dự án trên địa bàn. Nên việc Công ty Ngọc Thảo nói chính quyền địa phương không hỗ trợ, không làm dứt điểm là không đúng. Ngay khi nhận được công văn của doanh nghiệp đề nghị chính quyền hỗ trợ xác định ranh giới, huyện đã chỉ đạo ngay cho các cơ quan chức năng giúp doanh nghiệp tiến hành phân định ranh giới đất dự án vào ngày 28/11.
Ông Triều cũng khẳng định, việc Công ty Ngọc Thảo tự thuê người chặt hạ cà phê của dân là sai, huyện không đồng ý với cách làm này của doanh nghiệp. (Báo Lâm Đồng 3/12; Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn 24 tỉnh, TP khu vực phía Bắc có trên 11 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm gần 35% diện tích rừng cả nước. Trong đó, diện tích có rừng trên 5 triệu ha, diện tích rừng tự nhiên 3,9 triệu ha, diện tích rừng trồng 1,4 triệu ha.
Độ che phủ rừng bình quân 24 tỉnh, TP khu vực phía Bắc là 47%. Các tỉnh: Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hóa, Sơn La... có độ che phủ rừng đạt trên 50%.
Trong thời gian qua công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, tổ chức đoàn thể các tỉnh khu vực phía Bắc quan tâm chỉ đạo. Lực lượng Kiểm lâm đã chủ động triển khai nhiều biện pháp: Coi trọng công tác tuyên truyền, lấy dân làm gốc, thành lập Tổ Bảo vệ rừng đến từng thôn, bản, tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng tại gốc; phối kết hợp với các lực lượng (Công an, Quân đội) tổ chức nhiều đợt truy quét, xóa tụ điểm khai thác, tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép.
Đặc biệt là những khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu, Khu bảo tồn thiên nhiên... Nhiều tỉnh đã đầu tư lớn cho công tác trồng rừng, gắn công tác bảo vệ rừng với phát triển kinh tế rừng vì vậy đã cơ bản ngăn chặn được tình trạng phá rừng làm nương, không có điểm nóng về khai thác lâm sản trái phép.
Tuy nhiên, tình trạng khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm nương vẫn còn xảy ra, có địa phương, có thời điểm xảy ra nghiêm trọng, trên diện rộng gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng, ảnh hưởng xấu đến môi trường, khí hậu, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn.
Chỉ tính thời gian từ đầu năm đến cuối tháng 10/2013, lực lượng chức năng 24 tỉnh khu vực phía Bắc đã phát hiện trên 3.700 vụ (chiếm 18% số vụ cả nước) vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 35% so với cùng kỳ năm 2012. Đã xử lý 3.434 vụ, trong đó xử phạt hành chính 3.382 vụ, xử lý hình sự 52 vụ, nộp ngân sách Nhà nước trên 22 tỷ đồng. (Thanh Tra 4/12) đầu trang(
Chợ gỗ Đồng Kị - Từ Sơn - Bắc Ninh, cách Hà Nội chỉ 20km, với hơn 300 ki ốt và cửa hàng chuyên để bán gỗ trắc, gỗ hương. Tuy nhiên, khách hàng của chợ gỗ chủ yếu là thương lái Trung Quốc.
Dạo qua khu chợ gỗ Đồng Kị, chúng tôi nhận thấy mặt hàng bày bán duy nhất là gỗ và chỉ bán hai loại gỗ quý là gỗ hương và gỗ trắc. Theo quan sát, tất cả các ki ốt, cửa hàng tại chợ gỗ Đồng Kị đều đặt từ 1 đến 2 chiếc cân đồng hồ.
Tại chợ gỗ Đồng Kị, những chiếc cân được đặt ở cửa hàng, ki ốt dùng để cân gỗ trắc. Và chỉ dùng để cân gỗ trắc, còn riêng gỗ hương vẫn bán theo tấm như những loại gỗ khác. Anh Trần Minh Qúy, một người bốc vác thuê ở chợ gỗ Đồng Kị cho biết: “Nguyên nhân các tiểu thương bán bằng cân vì gỗ trắc quý nên không thể bỏ đi một mẩu gỗ, cho dù nhỏ bằng ngón tay. Khi bán bằng cân, các tiểu thương có thể bán được từ những mẩu gỗ nhỏ bằng ngón tay cho đến những thanh gỗ to”.
Anh Qúy cho biết thêm: Đối với gỗ trắc người ta không bỏ đi bất cứ một thứ gì. Đến mùn cưa từ gỗ trắc các tiểu thương cũng có thể bán được 7.000 đồng/kg. Điều này cho thấy gỗ trắc quý như thế nào.
Theo tìm hiểu, loại gỗ trắc bình thường bán 100.000 đồng/kg, còn những loại đẹp được có giá lên đến 10 triệu đồng/kg. Để khẳng định giá trị của gỗ trắc, anh Nguyễn Văn Dũng, một người chuyên bốc vác thuê ở chợ gỗ Đông Kị cho biết: “Có thời gian gỗ trắc lên đến 10 triệu đồng/kg, nhìn xe trở gỗ nhỏ thôi nhưng cũng giá trị lên đến tiền tỷ rồi”.
Ở chợ gỗ Đồng Kị, nhiều biển hiệu có chữ Trung Quốc to hơn cả chữ Việt. Giải thích hiện tượng này, một chủ cửa hàng bán gỗ trong chợ Đồng Kị cho biết: “Khách hàng của chúng tôi chủ yếu là thương lái Trung Quốc để họ hiểu nên trên các tấm biển của cửa hàng đều có chữ Trung Quốc được viết song song cùng với chữ Việt”.
Anh Nguyễn Văn Dũng, dân chuyên bốc vác ở chợ gỗ Đồng Kị cho biết: “Hai năm gần đây thương lái Trung Quốc sang rất nhiều, có thương lái còn thuê nhà và mở xưởng để sơ chế gỗ ngay tại chỗ”.
Từ sáng sớm cho đến tối, tại chợ gỗ, xưởng xẻ gỗ ở Đồng Kị, thương lái Trung Quốc thu mua đông nghịt. Có từ 7-8 nhóm người thu gom cho thương lái Trung Quốc, mỗi nhóm có từ 5-8 người, toàn là phụ nữ. Những người này đi khắp chợ để tìm ván gỗ, khối gỗ đẹp để mua rồi tập hợp về kho hàng đã được thuê ngay tại địa phương. Đặc biệt, những thanh gỗ trắc đẹp được thương lái mua về sau đó sơ chế thành những sản phẩm mỹ nghệ.
Theo anh Trần Văn Tuấn, tiểu thương bán gỗ ở chợ Đồng Kị, do không thể xuất khẩu được gỗ trắc nên thương lái Trung Quốc mua những khúc gỗ trắc đẹp về sơ chế thành bàn, ghế sau đó xuất khẩu về Trung Quốc”.
Một số tiểu thương ở chợ Đồng Kị giải thích, nguyên nhân thương lái Trung Quốc mua nhiều gỗ trắc của Viêt Nam là vì: Gỗ trắc theo người Trung Quốc có chữ Thiên nên họ thích sử dụng loại gỗ này để đóng đồ thủ công mỹ ghệ. Ngoài ra, theo một số tiểu thương trong gỗ trắc có chất quý nên thương lái Trung Quốc thu mua về”.
Nhiều tiểu thương của Việt Nam thu mua gỗ từ Tây Ninh, Lào, Campuchia, sau đó mang về chợ gỗ Đồng Kị bán cho thương lái Trung Quốc. Anh Nguyễn Quốc Tuấn, tiểu thương ở chợ gỗ Đồng Kị cho biết: “Gỗ ở chợ chủ yếu là bán cho thương lái Trung Quốc còn mua để làm gì cũng không ai biết được. Đến ngay cả các tiểu thương của Việt Nam, chuyên làm ăn với thương lái của Trung Quốc nhưng cũng không biết họ mua về để làm gì”.
Anh Tuấn cho biết thêm: “Trước kia thương lái Trung Quốc thu mua gỗ về và thuê người Việt Nam sơ chế nhưng gần đây họ đưa người sang và mở xưởng sơ chế thành đồ thủ công mỹ nghệ tại Từ Sơn rồi thuê doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép vận chuyển về Trung Quốc”.
Hiện để bán gỗ cho thương lái Trung Quốc, nhiều tiểu thương tại chợ gỗ Đồng Kị đã tích gỗ trắc trong nhà có giá trị lên đến tiền tỷ. Anh Nguyễn Quốc Tuấn cho biết: “Ở đây nhiều nhà buôn gỗ bỏ ra số vốn lên đến 500 tỷ. Bây giờ thương lái Trung Quốc chỉ cần ngừng thu mua là nhiều người mất nhà vì gỗ”. (Hải Quan 4/12) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
- Chào bác tiều phu, đã lâu không gặp bác. Dạo này bác khỏe không, ở đâu, làm gì?
- Tôi từ khi xóa bao cấp, kinh tế phát triển, đời sống khá lên, cả nước chuyển sang dùng bếp điện với bếp gas, tôi thất nghiệp, gác rìu đi làm chuyện khác.
- Thế thì cũng khỏe cho bác nhỉ. Vâng, thì chỉ mong bác còn tồn tại trong chuyện cổ tích thiếu nhi thôi. Chứ thời buổi biến đổi khí hậu này ai lại làm nghề chặt phá rừng, trông thật phản cảm. Ủa, mà bác vác rìu đi đâu đây?
- Cậu sống trong thời đại Internet mà không nghe gì à? Giá gas đầu tháng này tăng “oành” làm người dân khốn đốn. Nhiều gia đình bị cháy ngân sách khi năm hết tết đến. Trước tình hình dầu sôi lửa bỏng ấy người dân mong có giải pháp kéo giảm giá gas thì nhận được lời khuyên từ cơ quan có trách nhiệm nên chuyển qua dùng củi!
- Thế thì chúc mừng bác từ nay lại có công ăn việc làm ổn định. Mà không chừng trong tình hình toàn dân dùng củi thì bác được dịp phất to đấy!
- Tôi đang rầu đây chứ phất phiếc cái nỗi gì. Ngày xưa rừng bạt ngàn, nay thì rừng đầy thương tích, phần bị lâm tặc đốn trộm, phần quy hoạch làm thủy điện chẳng còn bao nhiêu. Tôi chỉ sợ một thời gian ngắn không biết lấy gì đun đây! (Pháp Luật TPHCM 4/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Tại cuộc họp thượng đỉnh Voi châu Phi tổ chức tại Gaboronne (Botswana) diễn ra từ ngày 2 đến 4-12, các đại biểu tham dự nhận định dựa trên các số liệu thống kê mới nhất, các quốc gia châu Phi sẽ thiệt hại 20% số lượng voi trong thập kỷ tới.
Đây là cuộc họp được tổ chức theo sáng kiến của Chính phủ Botswana phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).
Theo số liệu thống kê mới nhất của Chương trình giám sát voi bị giết hại bất hợp pháp (MIKE-CITES), 15.000 cá thể voi châu Phi đã bị giết hại tại 42 địa điểm thuộc 27 quốc gia châu Phi. Theo phân tích của MIKE, tổng số voi châu Phi bị giết hại bất hợp pháp trên toàn lục địa đen lên tới 22.000 cá thể, giảm chút ít so với 25.000 cá thể bị giết hại năm 2011.
Ông John Scanlon, Tổng thư ký CITES quốc tế khẳng định: “Với 22.000 cá thể voi châu Phi bị giết hại năm 2012, chúng ta đang phải đối mặt với một tình hình vô cùng bức bách. Săn bắt voi ở châu Phi đang trở thành vấn nạn và sẽ dẫn đến tuyệt chủng loài nếu tỷ lệ tàn sát vẫn tiếp tục. Hoàn cảnh này cũng đặc biệt nhức nhối ở Trung Phi khi tỷ lệ giết hại voi ở đây gấp đôi so với mức trung bình của toàn châu lục”.
Nhóm chuyên gia voi châu Phi của IUCN dự đoán quần thể voi châu Phi hiện nay còn khoảng 500.000 cá thể. Voi ở Trung Phi đang ở trung tâm của các cuộc đụng độ mặc dù mức độ săn bắt ở các tiểu vùng khác như miền Nam và miền Bắc châu Phi còn cao hơn nhiều lần. Nhiều chuyên gia tin rằng đói nghèo và lạc hậu tại các quốc gia châu Phi cùng với nhu cầu ngày càng tăng về ngà voi ở các nước tiêu thụ là những nguyên nhân chính của tình hình săn bắt voi bất hợp pháp ngày càng tăng.
Mức độ săn bắt voi bất hợp pháp được thể hiện rõ nhất qua số liệu của Hệ thống thông tin về buôn bán voi (ETIS) với sự điều phối của Traffic. Năm 2011 là năm đỉnh điểm của buôn bán bất hợp pháp ngà voi trong 16 năm qua và có thể tiếp tục trong năm 2012.
Các số liệu thống kê cũng dự đoán mức độ cao về buôn bán bất hợp pháp cũng có thể diễn ra trong năm 2013. Dù chưa đầy đủ nhưng số liệu thống kê các vụ bắt giữ có quy mô lớn trong năm 2013 (từ mức độ 500 kg ngà voi/vụ tại một địa điểm) cho thấy lượng ngà voi bị tịch thu đã đạt mức cao nhất trong 25 năm qua.
Một số vụ lớn cho thấy có sự tham gia của các tổ chức tội phạm và qua 18 vụ bắt giữ đã tịch thu 41,6 tấn ngà voi trong năm 2013. Con số này có thể sẽ cao hơn nếu các hoạt động thực thi không tạo được hiệu quả rõ rệt và số liệu thống kê đầy đủ hoàn chỉnh và công bố vào đầu năm 2014.
Tom Milliken, chuyên gia về buôn bán ngà voi của Traffic cho biết: “Năm 2013 đã tăng 20% so với số liệu đỉnh điểm năm 2011 và điều này thực sự khiến chúng ta phải lo ngại”.
Kể từ năm 2009, các tuyến đường vận chuyển ngà voi đã được hình thành từ các hải cảng ở Tây và Trung Phi tới Đông Phi với Tanzania và Kenya là đầu ra cho các hoạt động buôn bán bất hợp pháp ra khỏi châu Phi. Malaysia, Việt Nam và Hồng Công là những tuyến trung chuyển với điểm tiêu thụ cuối cùng là Trung Quốc và cũng có thể là Thái Lan.
Tuy nhiên, trong hai năm gần đây, những kẻ buôn lậu đã bắt đầu sử dụng các tuyến đường mới hình thành ở một số quốc gia như Togo và Bờ Biển Ngà như các địa điểm xuất khẩu của châu Phi cùng với Indonesia, Tây Ban Nha, Sri Lanka và Các tiểu vương quốc A Rập thống nhất là các điểm trung chuyển mới.
Trước tình hình trên, cuộc họp thượng đỉnh về voi châu Phi hy vọng sẽ đạt được cam kết của các nước tham dự thông qua hành động ngăn chặn buôn bán ngà voi bất hợp pháp và bảo tồn quần thể voi trên toàn châu Phi, bao gồm tăng cường thực thi luật pháp quốc gia nhằm trừng trị tội phạm về các loài hoang dã và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia.
Tổng thư ký John Scanlon hy vọng: “Đây là cơ hội để cộng đồng quốc tế tăng cường thực thi luật và nâng cao nhận thức xã hội, chấm dứt các chuỗi hoạt động buôn bán bất hợp pháp và cung cấp sinh kế bền vững cho cộng đồng nông thôn. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đẩy lùi các vấn nạn trên vào quá khứ và cùng hướng tới tương lai”. (Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Công nhân một khu bảo tồn cá sấu ở Trung Quốc vừa dùng tay không để bê vác 8.000 con bò sát từ bể ngoài trời vào bể nuôi trong nhà, nhằm tránh rét cho chúng.
Nhân viên của Khu bảo tồn cá sấu ở tỉnh An Huy, phía đông Trung Quốc, lo ngại những con cá sấu thuộc loài đang bị đe dọa tuyệt chủng không sống nổi qua mùa đông nếu tiếp tục được nuôi ở bên ngoài. Do đó, họ quyết định di chuyển 8.000 con cá sấu tới khu vực ấm áp hơn phía trong chỉ bằng tay không vào cuối tuần trước, Telegraph cho biết.
"Khu vực nuôi hiện tại đã cũ và thiếu thiết bị", một nhân viên khu bảo tồn nói. "Chúng quá nhỏ để nuôi tất cả số cá sấu này".
Khu bảo tồn cá sấu An Huy đang lên kế hoạch xây dựng ao nuôi mới, đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng tốt hơn cho loài cá sấu đang bị đe dọa. (Vnexpress.net 4/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa