Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 07 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn TP đã xảy ra 13 vụ cháy thảm thực vật rừng, gây thiệt hại hơn 21ha rừng.
Các vụ cháy xảy ra chủ yếu tại các huyện Sơn Sơn; một số vụ cháy rừng ở khác ở Mỹ Đức, Ba Vì…
Hiện nay, Chi cục kiểm Hà Nội đang tăng cường tổ chức lực lượng thường trực phòng, chống chữa cháy rừng 24/24h, đặc biệt là trong những ngày cao điểm nắng nóng. (Hà Nội Mới 5/7)đầu trang(
Thời gian qua, nhiều cánh rừng trên địa bàn huyện Điện Biên phát triển xanh tốt, được bảo vệ nghiêm ngặt nhờ mô hình rừng cộng đồng.
Đánh giá hiệu quả từ các mô hình quản lý rừng cộng đồng, bà Nguyễn Thị Duyên, Phó phòng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn huyện Điện Biên, cho biết: Công tác giao rừng cho cộng đồng quản lý thời gian qua trên địa bàn huyện khá hiệu quả, bởi có cơ chế rõ ràng như: xác lập quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, xác định quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế hưởng lợi cho từng hộ gia đình trong cộng đồng. Từ đó, bà con đã gắn trách nhiệm với rừng.
Việc thực hiện theo hương ước bảo vệ rừng tại mỗi thôn, bản đã chấm dứt hiện tượng người dân tự ý vào rừng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ. Không ít trường hợp khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, bà con trong cộng đồng thôn, bản được giao quản lý rừng đã phối hợp hiệu quả với lực lượng chức năng truy quét, ngăn chặn. Thêm vào đó, việc triển khai mô hình rừng cộng đồng còn góp phần tổ chức lại sản xuất lâm nghiệp, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ dân quản lý rừng cộng đồng.
Tuy nhiên, do không ít diện tích rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng là rừng nghèo, việc phân định mốc ranh giới chưa rõ ràng. Do đó thành viên trong cộng đồng không nắm được khu vực đã giao nên hạn chế về việc hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng tại cộng đồng. Nếu phát huy tốt, nhân rộng các mô hình rừng cộng đồng thì không chỉ hiệu quả trong quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học mà còn khai thác, sử dụng bền vững các loại lâm sản ngoài gỗ nhằm cải thiện sinh kế, đảm bảo hài hoà giữa các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường ngay tại địa phương. (Báo Điện Biên 4/7)đầu trang(
Vườn Quốc gia Bến En (Thanh Hóa) là một khu rừng được quản lý, bảo vệ tốt. Gần chục năm qua không để xảy ra vụ cháy rừng; tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép giảm đến 80%; độ che phủ rừng đạt 76,5% (cao hơn trung bình của tỉnh 26%).
Ông Lê Đình Phương, PGĐ Ban Quản lý VQG Bến En cho biết: Ban được giao quản lý, bảo vệ hơn 14.700 ha rừng thuộc 16 tiểu khu trên địa bàn 8 xã của huyện Như Thanh, Như Xuân. Rừng Bến En có 1.389 loài động vật (94 loài thú); 1.004 loài thực vật; trong đó 50 loài, động thực vật được ghi trong sách đỏ như: Vượn đen má trắng, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, cu li lớn, cu li nhỏ; cây trò chỉ, đinh hương...
Cũng theo ông Phương, bên cạnh nguồn tài nguyên dồi dào trên, hiếm có nơi nào các loài cây bản địa như lim xanh, dổi, trai lý, trò chỉ... phân bố tập trung như ở Bến En. Ngoài số lượng cây phát triển rải rác ở các tiểu khu tập trung hơn 2.000 ha lim xanh hoàn toàn, đường kính thân cây bình quân từ 50 - 60 cm.
“Đối với chúng tôi “rừng là vàng”, nên dù lực lượng mỏng, phải bảo vệ diện tích rừng lớn, anh em trong đơn vị vẫn luôn cố gắng hết sức mình ngăn chặn tối đa người dân vùng lõi vào rừng khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép”, ông Phương nói.
Giải pháp BVR mà lực lượng BQL VQG Bến En thực hiện chủ yếu tập trung vào khâu tuyên truyền để 440 hộ dân của 9 thôn vùng lõi nhận thức được vai trò, trách nhiệm của họ trong việc cùng tham gia ký cam kết quản lý, BVR, bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực.
Cụ thể, trong 2 năm 2011-2012, Vườn vận động bà con đưa gần 2.000 con trâu, bò ra khỏi khu vực rừng để hạn chế trâu, bò phá hoại cây tái sinh. Phối hợp với chính quyền địa phương lồng ghép các chương trình, dự án, tập huấn, hỗ trợ người dân xây dựng các mô hình phát triển kinh tế.
Đến nay đã có hàng chục mô hình nuôi lợn rừng, hươu sao, nhím, trồng cây dổi ăn quả, cây bương mốc... ở các xã Xuân Thái, Tân Bình, Hóa Quỳ được hình thành, phát triển, mang lại thu nhập ổn định cho bà con.
Hằng năm BQL Vườn phối hợp lực lượng công an các xã tổ chức rà soát, quản lý những đối tượng thường hay vào rừng khai thác gỗ. Ông Đặng Hữu Nghị, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Bến En cho biết: Sau khi đã ký cam kết, lực lượng chức năng đột xuất đến hộ dân kiểm tra, nếu không thấy đối tượng nằm trong diện quản lý ở nhà trong khi gia đình không giải thích được lý do vắng mặt thì chúng tôi sẽ lập biên bản nhắc nhở, trường hợp quá 3 lần sẽ có biện pháp giáo dục, xử lý.
“Phương châm của chúng tôi là BVR từ vòng ngoài nên chế tài xử phạt cũng được thực hiện rất nghiêm khắc, chỉ cần phát hiện đối tượng vào khu vực Vườn mà không có lý do là bắt giữ, xử phạt ngay. Vì thế, nhiều năm qua các vụ việc xâm hại đến rừng giảm hẳn”, ông Nghị nhấn mạnh.
Được biết, năm 2012 Vườn đã bắt giữ, xử lý 22 vụ vi phạm Luật BV&PTR; tịch thu 6,7 m3 gỗ; nộp ngân sách 40 triệu đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2013 chỉ mới xử lý 8 vụ; trong đó có đến 5 vụ vi phạm quy định chung, ra vào khu vực rừng không có lý do; xử phạt hành chính 15 triệu đồng.
Nói về những khó khăn trong công tác BVR, theo ông Phương, chủ yếu là việc quản lý để người dân vùng lõi không xâm hại rừng. Tuy nhiên, việc làm này không hề đơn giản bởi hiện nay người dân đang thiếu việc làm, thiếu đất SX, đời sống gặp nhiều khó khăn, trong khi chính sách di dân lại chưa có. (Nông Nghiệp VN 4/7)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng) vừa thả trở lại rừng tự nhiên 3 con trăn đất (thuộc động vật hoang dã nhóm IIB) mà lực lượng công an địa phương thu giữ đầu tháng 5 vừa qua.
Ba con trăn có tổng trọng lượng 37kg, trong đó con lớn nhất có chiều dài hơn 2m, nặng 16kg. Ba con trăn được thả tại khu vực tiểu khu 239 thuộc rừng giáp ranh giữa xã Phú Sơn (Lâm Hà) và xã Phi Liêng (huyện Đam Rông).
Trước đó, qua kiểm tra một nhà nghỉ ở thị trấn Đinh Văn (huyện Lâm Hà), công an địa phương đã phát hiện 3 bao tải chứa ba con trăn còn sống. Số trăn này là của ông Lê Văn Bàn (thường trú tại Thanh Hóa) đưa vào để bán lại. Do ông Bàn không trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc 3 con trăn nên lực lượng chức năng lập biên bản tịch thu. (Tin Tức 4/7)đầu trang(
Vừa qua, tại tỉnh Phú Thọ, Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt Nam (VACNE) phối hợp với Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường tỉnh Phú Thọ tổ chức hội thảo khoa học “Chăm sóc và bảo vệ cây di sản Việt Nam”.
Tại hội thảo, các chuyên gia cho biết, khảo sát ban đầu cho thấy, hầu hết các cây đại thụ đều bị mối mọt, tầm gửi lấn át và hệ thống cung cấp chất dinh dưỡng bị trục trặc do nhiều nguyên nhân dẫn đến cây bị khộ hạn chết dần, khả năng sinh trưởng yếu ớt..
Đặc biệt, các nhà khoa học sẽ tập trung "khám" và "chữa bệnh" cho cây táu trước đến Thiên Cổ ở thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì. (Khoa Học&Đời Sống 6/7)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
4-7, UBND tỉnh Đồng Nai đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành chức năng kiến nghị dừng dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A vì quá trình triển khai thực hiện các dự án trên đơn vị lập dự án đầu tư - Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (Công ty Đức Long Gia Lai) có quá nhiều vi phạm liên quan đến các quy định pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.
Theo UBND tỉnh Đồng Nai, dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A đã xâm hại trực tiếp vào khu vực 1 (khu vực bất khả xâm phạm) thuộc vùng lõi di tích quốc gia đặc biệt Vườn quốc gia Cát Tiên tại địa phận tỉnh Lâm Đồng là 137,5ha, cách Bàu Sấu - khu Ramsar là vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới, làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích; việc tích nước tạo các hồ chứa sẽ nhấn chìm hàng trăm hécta rừng tự nhiên giàu có, đa dạng sinh học, từ đó làm thay đổi môi trường sống của các loài động thực vật đặc hữu, trong đó có các loài đang được bảo vệ khẩn cấp.
Đồng thời các dự án thủy điện trên còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc Việt Nam đang đề cử Vườn quốc gia Cát Tiên là Di sản thiên nhiên thế giới. Những tác động tiêu cực trên về pháp lý đã vi phạm Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; vi phạm vào Khung chiến lược của Khu dự trữ sinh quyển của MAB/UNESCO; vi phạm các quy định của Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23-9-2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.
UBND tỉnh Đồng Nai kiến nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường báo cáo và kiến nghị với Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ cho dừng và loại bỏ 2 dự án thủy điện này ra khỏi quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai. Việc làm này phù hợp với Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác của Việt Nam và công ước quốc tế. (Sài Gòn Giải Phóng 5/7; Tuổi Trẻ 4/7)đầu trang(
3/7, kỳ họp thứ 8 HĐND khóa VIII tỉnh Quảng Nam khai mạc, với tâm điểm là quy hoạch thủy điện và quản lý bảo vệ rừng.
Theo báo cáo của UBND tỉnh, đến 30/5/2013, tỉnh có 32 dự án (DA) thủy điện vừa và nhỏ, gồm 8 DA đã phát điện; 4 DA đang thi công; 11 DA đã tham gia ý kiến thiết kế và 9 DA đang trong giai đoạn nghiên cứu. Ngoài 32 DA trên, Bộ Công Thương đã thẩm định, lập dự án và phê duyệt quy hoạch bậc thang thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn với 10 DA có tổng công suất 1.147MW, điện lượng 4,521 tỷ kWh/năm chiếm hơn 72% công suất thủy điện toàn tỉnh.
Đến nay, Quảng Nam mới chỉ phê duyệt được quy trình vận hành của 17 hồ chứa và mới chỉ có 23 DA thực hiện lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các DA thủy điện đã ảnh hưởng đến 3.270 hộ dân với 14.850 nhân khẩu.
Trong đó, có 1.733 hộ phải di dời, tái định cư vì bị ngập trong lòng hồ do các thủy điện của Bộ Công Thương phê duyệt. Hầu hết các hộ dân TĐC thủy điện đều thiếu đất sản xuất nông nghiệp, chỉ bằng 1/3-1/4 nơi ở cũ. Ngoài ra, các công trình, nhà cửa TĐC cho dân được các chủ đầu tư thủy điện xây dựng kém chất lượng, xuống cấp. (Tiền Phong 4/7)đầu trang(
Là một trong những ngành kinh tế mang lại giá trị xuất khẩu cao, song ngành công nghiệp chế biến gỗ đang gặp phải nhiều thách thức bởi quy mô doanh nghiệp nhỏ, lại phải chịu sức ép cạnh tranh từ các đối thủ ngoại.
Hiện ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á, thứ 2 châu Á và thứ 6 trên thế giới. Đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia; trong đó, Mỹ chiếm 40%, khối EU 30%, Nhật Bản 15%.
Theo các chuyên gia, ngành công nghiệp chế biến gỗ tăng mạnh từ năm 2006 đến nay với hàng nghìn doanh nghiệp, nhà máy chế biến đồ gỗ, dăm gỗ được xây dựng, nhất là các doanh nghiệp, nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ chỉ đạt 1,93 tỉ đô la Mỹ thì đến năm 2012 con số này đã tăng lên 4,67 tỉ đô la Mỹ; dự kiến năm nay đạt 5,5 tỉ đô la Mỹ. Trong giai đoạn này, mức tăng trưởng cả về sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu đều ở mức 14%/năm.
Nếu chỉ nhìn vào con số thống kê, việc đứng đầu Đông Nam Á, thứ 2 châu Á và thứ 6 thế giới về giá trị xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ là điều đáng tự hào. Tuy nhiên, bên trong con số đó vẫn còn nhiều điều đáng lưu ý. Theo thống kê của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, cả nước hiện có hơn 3.900 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ, tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố phía Nam. Trong đó, chỉ có 19 doanh nghiệp nước ngoài nhưng chiếm tới gần 50% giá trị xuất khẩu của toàn ngành.
Việc hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô nhỏ đã tạo áp lực lên chính các doanh nghiệp này và cả ngành công nghiệp chế biến gỗ. Theo đó, việc đầu tư công nghệ, hệ thống sản xuất quản lý hiện đại, khoa học nhằm giảm giá thành sản phẩm và nâng cao giá trị tăng thêm rất khó khăn. Trong khi tại nhiều doanh nghiệp nước ngoài, mỗi công nhân tạo nên giá trị sản phẩm xuất khẩu lên tới hàng chục ngàn đô la Mỹ mỗi năm; thì tại hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, con số này chỉ là 1.000 đô la Mỹ/công nhân/năm.
Phó Chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định, ông Đỗ Xuân Lập cho biết, chưa vội so sánh với các quốc gia phát triển về công nghiệp chế biến gỗ, mà sự chênh lệch về công nghệ giữa các doanh nghiệp trong nước cũng rất cao. Tại Đồng Nai, có doanh nghiệp chỉ sử dụng 600 lao động nhưng mỗi tháng xuất khẩu 150 container sản phẩm; trong khi đó, với các doanh nghiệp tại Bình Định, để làm ra lượng sản phẩm như thế thì họ cần đến 2.500 người.
Tại các quốc gia phát triển mạnh về lĩnh vực này, dây chuyền sản xuất hiện đại giúp họ tránh sai sót trong quá trình sản xuất. Họ dùng dòng chảy sản xuất để đánh giá chất lượng sản phẩm, chứ không phải dùng công nhân để kiểm tra từng sản phẩm. Từ trước đến nay, thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam là sản xuất đồ gỗ ngoài trời. Vì vậy, các doanh nghiệp cần nhanh chóng chuyển đổi từ sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang sản xuất đồ gỗ nội thất.
Việc giảm thiểu sức cạnh tranh của doanh nghiệp chế biến gỗ thường được lý giải do gặp khó khăn về nguyên liệu, sản phẩm công nghiệp phụ trợ… Tuy nhiên, ông Đỗ Xuân Lập cho rằng, vấn đề nguyên liệu không quá khó khăn vì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quy hoạch rừng trồng, rừng tự nhiên; thị trường nhập khẩu gỗ của Việt Nam cũng rất lớn từ các nước châu Mỹ, châu Đại Dương, châu Phi và cả khu vực Đông Nam Á.
Cả vấn đề nhập khẩu nguyên liệu phụ trợ cũng không mang tính quyết định. Điều cốt yếu nhất là các doanh nghiệp chế biến gỗ phải thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, tạo dây chuyền sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất lao động, cải thiện trình độ thương mại quốc tế. (Tin Tức 5/7)đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 4018 về việc tổ chức lại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng Sóc Sơn (thuộc Chi cục kiểm lâm) thành Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội trực thuộc Sở NN&PTNT Hà Nội. (Hà Nội Mới 5/7)đầu trang(
Số lượng nuôi ước tính khoảng 700 con nhím, 1.100 con lợn rừng, 50 con dúi, 15 con hươu sao, tập trung ở xã Đồng Tâm, An Bình, thị trấn Chi Nê. Trong đó nuôi lợn rừng, nhím mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang được người dân quan tâm nhân đàn, phát triển ra diện rộng.
Cùng với đó, huyện đã thành lập 1 Hội gây nuôi động vật hoang dã tại xã Đồng Tâm với 23 hộ viên. Hiện tại Hội đang duy trì nuôi trên 630 con động vật hoang dã, trong đó có 400 con lợn rừng, 230 con nhím và 9 con hươu sao. (Báo Hòa Bình 5/7) đầu trang(
Năm 2013, UBND tỉnh Thanh Hóa đã giao chỉ tiêu lâm nghiệp cho các đơn vị, địa phương khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 7.000 ha rừng; chăm sóc 39.200 ha; trồng mới 10.000 ha rừng. Tuy nhiên, các nguồn vốn giao của Trung ương, của tỉnh và các dự án chỉ đáp ứng được 70% diện tích trồng mới rừng năm 2013 theo kế hoạch.
Để chủ động khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành mục tiêu, kế hoạch trồng mới rừng năm 2013, tỉnh đã huy động các nguồn vốn phục vụ trồng rừng, trong đó nguồn vốn chương trình bảo vệ và phát triển rừng trồng 4.028 ha, nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB3) 2.300 ha, vốn sự nghiệp kinh tế của tỉnh trồng 2.500 ha, vốn tự có của nhân dân và các tổ chức khác trồng 1.172 ha. Nhưng, trong các tháng đầu năm 2013, kết quả trồng rừng vẫn đạt thấp so với kế hoạch.
Cụ thể, đến ngày 10-6-2013, các dự án lâm nghiệp cơ sở, các đơn vị, địa phương đã trồng mới được 4.931,7 ha rừng, đạt 49,3% kế hoạch trồng rừng cả năm. Trong đó Dự án WB3 trồng được 1.240 ha, đạt 54% kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu là do từ đầu năm đến nay thời tiết khô hạn kéo dài, không phù hợp để trồng rừng. Phần lớn diện tích trồng mới rừng tập trung ở các huyện vùng cao.
Để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh tiến độ trồng rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương huy động mọi nguồn lực, hoàn thành thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh, chuẩn bị hiện trường trồng rừng; sản xuất, chăm sóc cây giống; quy hoạch vùng nguyên liệu; trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy. Đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật trồng mới, cải tạo rừng sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng rừng trồng; đôn đốc, chỉ đạo các hộ tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy mạnh trồng rừng trong vụ hè - thu.
Đối với Dự án WB3 tập trung phê duyệt và thực hiện công tác đo đạc, giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia dự án; hoàn thiện hồ sơ thiết kế trồng rừng; hồ sơ tách hộ cho diện tích trồng rừng năm 2013 để các hộ làm thủ tục vay vốn.
Hiện nay, các đơn vị trong tỉnh đã sản xuất được 21,94 triệu cây giống lâm nghiệp các loại. Nhằm khắc phục tình trạng cây giống lâm nghiệp kém chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả trồng rừng sản xuất, nét mới trong năm nay là các đơn vị đã tăng cường quản lý chặt chẽ chất lượng cây giống, ngoài việc thực hiện đầy đủ quy trình sản xuất cây giống theo tiêu chuẩn quy định của ngành, còn thực hiện nghiêm quy trình kỹ thuật mà các dự án lâm nghiệp yêu cầu. Các ngành chức năng đã tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất cây giống, bảo đảm 100% cây giống trồng rừng bằng ngân sách Nhà nước đều được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng.
Cùng với khắc phục khó khăn trồng mới rừng, các đơn vị, địa phương đã chủ động chăm sóc, phòng cháy, chữa cháy rừng và sâu bệnh hại rừng, bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có; tuyên truyền cho người dân trên địa bàn tự giác không thả gia súc vào rừng mới trồng, bảo đảm để rừng mới trồng phát triển tốt. (Báo Thanh Hóa 5/7)đầu trang(
Thực hiện Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thời gian qua, trên địa bàn huyện Lục Yên (Yên Bái) xuất hiện nhiều gương điển hình trong các phong trào thi đua, trong đó có ông Đàm Văn Phùng, 77 tuổi, thương binh hạng 3/4 ở thôn 7 (xã Khánh Hòa), người đã hiến 2.000m2 rừng kinh tế làm đường giao thông.
Bà Trần Thị Thơm, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Khánh Hòa cho biết, cách đây 1 năm, con đường nối giữa thôn 6 và thôn 7 chỉ là đường mòn, việc đi lại của bà con khá khó khăn. Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ xã tích cực tuyên truyền, vận động các hộ tham gia hưởng ứng, nhiều cá nhân, gia đình đã nhiệt tình ủng hộ, trong đó có ông Phùng. Gia đình ông hiến 2.000m2 rừng kinh tế để thôn mở rộng con đường khiến nhiều người nể phục và làm theo.
Không chỉ tích cực hiến đất làm đường, ông Phùng còn đi đầu trong phong trào chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, chuyển diện tích rừng kém hiệu quả sang trồng chè. Hiện, thôn 7 có gần 20ha chè các loại, chiếm trên 80% diện tích chè toàn xã. Cây chè không những giúp bà con thoát nghèo mà nhiều hộ còn có của ăn của để, xây dựng nhà cửa khang trang. (Người Cao Tuổi 3/7)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa quyết định phân khai 15,7 tỷ đồng kinh phí sự nghiệp Trung ương bổ sung có mục tiêu năm 2013 để thực hiện khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên.
Cụ thể, hỗ trợ hơn 12 tỷ đồng khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, trợ cấp gạo cho hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, nhận rừng và đất để trồng rừng sản xuất trong thời gian chưa tự túc được lương thực thuộc Chương trình 30a cho các huyện; hỗ trợ 3,68 tỷ đồng trồng rừng sản xuất bằng phương thức cây phân tán cho các hộ nghèo thuộc diện Chương trình 30a của các Ban quản lý rừng phòng hộ.
Riêng đối với kinh phí hỗ trợ trồng rừng sản xuất bằng phương thức trồng cây phân tán cho các hộ nghèo thuộc diện Chương trình 30a đối với Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham (470 triệu đồng): UBND huyện Sơn Hà phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham để triển khai thực hiện hỗ trợ cho các hộ dân theo đúng quy định. (Quangngai.gov.vn 4/7)đầu trang(
Những năm gần đây, nhiều nông dân đã tích cực tham gia trồng rừng gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy và ván nhân tạo, nhờ đó đã có nguồn thu nhập đáng kể. Tuy nhiên, những khó khăn về nguồn vốn, khả năng mở rộng diện tích, chất lượng giống hạn chế… nên việc trồng rừng nguyên liệu ở nước ta chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.
Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện cả nước có khoảng trên 3.000 doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ và giấy, bột giấy, đặc biệt là, từ năm 2000 đến nay, ngành công nghiệp chế biến gỗ, ván nhân tạo phát triển mạnh (bình quân tăng 13,7-21%/năm) đã khiến nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Hàng năm, ngành chế biến gỗ của ta phải nhập từ 3-3,5 triệu mét khối gỗ (tương đương 80% tổng nhu cầu nguyên liệu gỗ cho sản xuất). Nếu ngành chế biến gỗ tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay thì khối lượng nguyên liệu gỗ tiêu thụ hàng năm quy theo gỗ tròn sẽ tăng từ 1,85- 2,8 triệu mét khối/năm.
Trong khi đó, nguồn nguyên liệu gỗ tự nhiên của nước ta đang ngày càng hạn chế do chính sách đóng cửa rừng để bảo vệ môi trường của Chính phủ. Diện tích rừng trồng tuy tăng nhanh, bình quân 150.000 - 200.000ha/năm và đạt 3,22 triệu hecta năm 2011, tuy nhiên, diện tích rừng trồng không thể tiếp tục tăng được nữa vì quỹ đất trồng rừng có hạn, do đó, nguy cơ thiếu nguyên liệu cho chế biến gỗ, ván nhân tạo, giấy và bột giấy đang trở nên khá gay gắt.
Ông Hoàng Văn Vượng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Giấy Việt Nam cho biết: Hiện, Tổng công ty có 19 công ty lâm nghiệp phụ thuộc, với tổng diện tích đất đang quản lý, sử dụng là 72.146,48ha. Mặc dù hàng năm, đơn vị đều lập kế hoạch trồng rừng chi tiết giao cho các công ty triển khai thực hiện, nhưng 5 năm gần đây, diện tích rừng trồng đều giảm, trong đó, diện tích trồng năm 2012 chưa bằng một nửa năm 2008.
"Trong thời gian tới, việc tự cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy của đơn vị sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hiện, các công ty lâm nghiệp trực thuộc mới đáp ứng được 55% lượng gỗ nguyên liệu cho nhà máy chế biến bột giấy, phần còn lại, Tổng công ty vẫn phải mua từ bên ngoài", ông Vượng cho biết.
Tại Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp chuyên đề: "Phát triển nguyên liệu phục vụ chế biến giấy, ván nhân tạo bền vững" vừa được tổ chức tại Phú Thọ, nhiều chuyên gia nông nghiệp cho rằng, trong bối cảnh khó tăng diện tích rừng trồng thì cách tốt nhất là chúng ta cần cải thiện giống cây lâm nghiệp, tăng cường biện pháp về lâm sinh, bảo vệ thực vật… để nâng cao năng suất gỗ rừng trồng.
Tiến sĩ Nguyễn Viết Khoa, Phó trưởng phòng Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia) cho biết: Hiện, phần lớn diện tích rừng trồng là các loại cây mọc nhanh (keo, bạch đàn), có chu kỳ kinh doanh ngắn (6-8 năm tuổi), vì thế đường kính cây gỗ còn nhỏ (bình quân 8-10cm), lượng khúc gỗ có đường kính trên 15cm thấp, ngoài ra, tỷ lệ gỗ thót ngọn lớn, mắt nhiều, độ bền thấp, dễ bị nấm mốc, côn trùng gây hại… nên ít đáp ứng được yêu cầu cho gỗ xẻ mà chủ yếu dùng chế biến bột giấy. Năng suất rừng trồng keo, bạch đàn hiện đạt bình quân 15-20m3/ha/năm, thấp hơn một số nước có điều kiện lập địa và khí hậu tương tự.
Cũng theo TS. Khoa, hiện trên thị trường đang có một số dòng keo, bạch đàn chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao như bạch đàn lai UE27, trồng khảo nghiệm ở Tam Thanh (Phú Thọ) đạt 21,9m3/ha/năm, ở Tân Lập (Bình Phước) đạt 40,3m3/ha/năm; bạch đàn UP54 năng suất đạt 37,9m3/ha/năm sau 4 tuổi; keo lá tràm AA15 chịu bệnh phấn hồng có năng suất 33,6m3/ha/năm; keo lai AH7 năng suất 34,9m3/ha/năm…
Theo Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ, bình quân chi phí trồng 1ha rừng keo tai tượng tại Đoan Hùng cho một chu kỳ 5 năm vào khoảng 10,4 triệu đồng/ha, sau khi thu hoạch, bán cây đứng, bà con thu 30 triệu đồng, trừ chi phí chỉ lãi 19,6 triệu đồng/ha (bình quân gần 4 triệu đồng/ha/năm).
Đại diện Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Phúc cho biết, hiện đa số người dân trên địa bàn vẫn sản xuất quảng canh chứ chưa thực sự đầu tư thâm canh cho trồng rừng nên năng suất, chất lượng rừng thấp, đối với bạch đàn mô, bình quân thu nhập chỉ đạt 3- 35 triệu đồng/ha/chu kỳ 4 năm.
TS. Khoa cho biết: Để nâng cao thu nhập và năng suất rừng trồng, bà con cần đa dạng hóa phương thức trồng rừng, có thể trồng kết hợp giữa cây gỗ nhỏ với cây gỗ lớn hoặc dùng phương pháp tỉa thưa. Theo đó, có thể trồng keo với mật độ dày, trên 2.000 cây/ha, khi cây đạt tiêu chuẩn làm nguyên liệu giấy (năm thứ 5) thì chặt tỉa, để lại mật độ 700 - 800 cây/ha, nuôi dưỡng đến khi thành cây gỗ lớn (13 - 14 năm tuổi) là có thể khai thác. Lúc này, sản phẩm là cây gỗ lớn, có thể phục vụ chế biến đồ gỗ, xây dựng nên giá trị sẽ cao hơn.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, ông Phan Huy Thông cho biết: Trong bối cảnh diện tích đất lâm nghiệp ngày càng thu hẹp thì chúng ta phải tìm cách nào đó để sử dụng đất hiệu quả, cây đứng trên đất trong thời gian ngắn nhưng vẫn đạt năng suất, sản lượng và nâng cao hệ số quay vòng đất. Theo đó, phải nâng cao biện pháp kỹ thuật, chú trọng chất lượng cây giống, bởi trong trồng cây lâu năm, cây giống là tiền đề quyết định đến năng suất, chất lượng gỗ thu hoạch, trong đó, sử dụng ưu thế lai đang là thế mạnh.
"Bà con nên sử dụng cây giống có nguồn gốc, đạt tiêu chuẩn, cách tốt nhất là chọn những cơ sở sản xuất cây giống có uy tín, đã được cấp chứng nhận. Ngoài ra, để tạo vùng sản xuất tập trung, lâu dài, bền vững thì việc liên kết giữa các hộ nông dân với nhau là con đường tốt nhất, từ đó giảm bớt khâu trung gian, giảm chi phí, hình thành đầu mối tiêu thụ với các nhà máy để đảm bảo quyền lợi ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có cơ chế chính sách đối với bảo vệ và phát triển rừng trồng, và đó phải là những chính sách lâu dài", ông Thông nhấn mạnh. (Kinh tế Nông thôn 3/7)đầu trang(
3/7, ông Nguyễn Đức Hiếu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa cho biết, đơn vị đã mời ông Bùi Xuân Khoan ở thôn Liên Trì 2, xã Bình Kiến (TP Tuy Hòa) đến làm việc.
Bước đầu, ông Khoan thừa nhận ông là chủ của 30 cây lộc vừng vận chuyển trái phép vào ngày 30/6 bị Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa phát hiện, tạm giữ.
Liên quan đến vụ việc này, ngày 2/7, Hội đồng định giá tang vật, phương tiện tịch thu do vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ rừng TP Tuy Hòa cũng đã định giá 30 cây lộc vừng giá trị 12 triệu đồng. Từ kết quả định giá này, Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa tiếp tục mở rộng điều tra, truy tìm nguồn gốc số cây trên để xử lý đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật. (Báo Phú Yên 4/7)đầu trang(
Việc thu gom, vận chuyển lá phi lao từ các khu rừng ven biển góp phần không nhỏ trong việc phòng, chống cháy rừng. Song điều này cũng nảy sinh nhiều tiêu cực, gây tác động xấu đến sự phát triển của rừng phi lao.
Ngoài việc tuần tra, cắm các biển báo tuyên truyền bảo vệ, phát triển rừng phi lao ven biển của các ngành chức năng thì sự xuất hiện ngày càng nhiều người dân vào rừng thu gom lá phi lao làm chất đốt góp phần trong phòng, chống cháy rừng, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ gia đình.
Anh N.V.D, một người chuyên thu gom lá phi lao tại các khu rừng thuộc phường 9 (TP Tuy Hòa) cho hay: “Công việc thường diễn ra vào mùa hè vì lá phi lao và hạt rụng nhiều. Từ sáng sớm đến trưa hàng ngày, tôi có thể thu gom được một cộ bò, bán được khoảng 200.000 đồng. Gia đình tôi làm nghề này đã hơn 10 năm nay, thu nhập cũng khá”.
Theo Chi cục Kiểm lâm, những khu rừng có thực bì dày, nhiều lá rụng rất dễ bắt lửa khi thời tiết nắng nóng hoặc do tác động tiêu cực của con người, dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao. Trong năm 2012, tại các khu rừng phi lao ven biển thuộc TP Tuy Hòa và huyện Tuy An đã xảy ra 2 vụ cháy nhưng nhờ phát hiện kịp thời, rừng trong tình trạng thưa, ít lá rụng, nên các vụ cháy đều được dập tắt nhanh chóng. Trong tháng 5 vừa qua cũng đã xảy ra 1 vụ cháy trên diện tích 15.400m2 rừng phi lao, chủ yếu là thực bì tại tiểu khu 259 thuộc thôn Chính Nghĩa, xã An Phú, TP Tuy Hòa. Vụ cháy được dập tắt kịp thời, thiệt hại không đáng kể.
Ông Nguyễn Đức Hiếu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa thừa nhận, tình trạng chặt phá rừng phi lao tuy có giảm so với những năm trước đây nhưng hiện vẫn còn xảy ra. Các đối tượng thường chặt phi lao rồi dùng mô tô hoặc vác bộ vận chuyển ra khỏi rừng. Khi bị lực lượng kiểm lâm phát hiện, họ thả gỗ bỏ chạy.
Từ năm 2012 đến nay, qua tuần tra kiểm soát, đơn vị này đã tạm giữ hơn 10 mô tô vận chuyển gỗ phi lao, đã ra quyết định xử phạt mỗi chủ phương tiện 5,25 triệu đồng nhưng đến nay không một ai nộp phạt. Sắp tới, đơn vị sẽ kiểm tra các cộ bò ra vào rừng, nếu phát hiện chủ phương tiện nào lợi dụng vận chuyển lá phi lao, chặt phá, cất giấu gỗ, sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo ông Hiếu, mặc dù đã thường xuyên phối hợp với chính quyền các xã, phường có rừng và các đơn vị chủ rừng tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm nhưng do lực lượng ít nên rất khó ngăn chặn triệt để tình trạng trên. (Báo Phú Yên 4/7)đầu trang(
Thông tin người dân xóm 11 xã Hòa Hải (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) tiếp tục vào rừng xâm chiếm đất trái phép của Cty Cao su Hương Khê được Sở NN&PTNT, Cty Cao su Hương Khê báo cáo trong buổi làm việc chiều ngày 3/7 tại xã Hòa Hải do PCT UBND tỉnh, ông Lê Đình Sơn chủ trì.
Tại cuộc họp giải quyết vụ 130 ha đất rừng bị xâm chiếm chiều ngày 3/7, các ý kiến đều thống nhất rằng quy trình cấp 324h đất tại tiểu khu 192 cho Cty Cao su Hương Khê là đúng pháp luật, việc 55 người dân tự ý vào xâm lấn, sẻ phát trồng cây trên tại các khoảnh 5; 7; 8; 11 (TK 192) là trái pháp luật.
Từ việc chỉ vài ba người dân vào lấn chiếm, chính quyền không giải quyết đã dẫn đến có 55 người vào chiếm 130ha đất rừng của Cty cao su Hương Khê.
Đại diện Sở TN-MT khẳng định: Trình tự thủ tục cho thuê đất là đúng pháp luật. Việc người dân sợ ảnh hưởng đến môi trường là không có cơ sở vì công ty đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được Bộ TN-MT thẩm định phê duyệt. Và thực sự công ty chưa tiến hành trồng thì không thể nói là ảnh hưởng.
Còn ông Nguyễn Bá Thịnh, PGĐ Sở NT&PTNT thì khẳng định: Việc người dân xâm chiếm đất có chủ, được quy hoạch là sai trái. Nếu chiều theo nguyện vọng của dân thì sẽ gây thiệt hại cho DN, và dễ phát sinh phức tạp sau này.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn kết luận: Việc đơn giản hóa phức tạp là do chính quyền các cấp non yếu trong giải quyết.
Các bên liên quan trong cuộc họp cũng đề nghị xem xét đến nhu cầu chính đáng của người dân khi có yêu cầu được cấp đất rừng để sản xuất, trong lúc diện tích đất lâm nghiệp ở xã Hòa Hải đang còn hơn 2000 ha.
Kết luận cuộc họp, ông Lê Đình Sơn đã chỉ rõ những tồn tại của các cấp chính quyền trong quá trình giải quyết vụ việc.
Từ sự việc đơn giản, vài ba người dân vào lấn chiếm không giải quyết triệt để đã dẫn tới sự việc như ngày hôm nay. Và nếu không làm dứt điểm, có thể sẽ trở thành điểm nóng.
“Việc tổ chức tuyên truyền đã làm không đến nơi đến chốn, và có nhiều người dân cố tình không hiểu. Việc giải quyết đã làm quá non kém, khi xảy ra sự việc không làm bài bản có hiệu lực, dẫn đến ngày càng lan tỏa mạnh, không ổn. Đã tổ chức nhiều cuộc họp, nhiều văn bản nhưng hiệu quả thấp”, ông Sơn nói.
Ngay từ khi xảy ra sự việc, sau khi nhận được báo cáo, UBND tỉnh đã có văn bản giao UBND huyện Hương Khê chủ trì giải quyết, sau đó không thành thì tỉnh lại giao cho Sở NN&PTNT. Nhưng cả hai đơn vị này không giải quyết nổi.
Để dẫn tới việc đến nay vẫn chưa chấm dứt tình trạng người dân vào xâm chiếm trái phép, ông Sơn khẳng định là hậu quả của sự non yếu của các cấp chính quyền địa phương.
“Những diện tích này người dân chưa từng tác động đến đây. Sau khi giao đất, công ty làm đường rồi thì lại nhảy vào xâm chiếm, như vậy là không được, là vi phạm pháp luật. Giờ nếu giao cho dân diện tích khoảnh 8, vậy số tiền công ty bỏ ra đầu tư làm đường, dân có trả nổi không”, PCT tỉnh nói.
Vị phó chủ tịch tỉnh giao: UBND huyện Hương Khê tiếp tục chủ trì, cộng với sự phối hợp của Sở NN&PTNT, TN-MT, Cty Cao su... trực tiếp đối thoại với 39 hộ dân vào xâm lấn. Giải thích rõ chủ trương đúng đắn của việc trồng cây cao su và việc giao đất là đầy đủ quy trình.
Tiếp tục giải thích trên cơ sở khoa học cho người dân hiểu về vấn đề ảnh hưởng tới môi trường của dự án đã được Bộ TN-MT phê duyệt. Rà soát lại nhu cầu chính đáng xin cấp đất của dân để giải quyết.
Ông Sơn yêu cầu các bên liên quan tập trung giải quyết sự việc xong trước ngày 15/7 và báo cáo về cho UBND tỉnh. (Vietnamnet 4/7)đầu trang(
Ngày 4/7, tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương, Cục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an, Phòng Cảnh sát môi trường Bình Dương và Chi cục Kiểm lâm đã bàn giao sáu con vượn quý hiếm, thuộc nhóm 1B cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để thả về rừng.
Trước đó, ngày 3/7, Cục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường Bình Dương và Chi cục Kiểm lâm đã kiểm tra đột xuất cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã.
Tại cơ sở của bà Nguyễn Thị Diệp Hồng (sinh năm 1956, tổ 17 Ấp Cây Sắn, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát) đang nuôi nhốt trái phép con vượn quý hiếm, trong đó có một cá thể vượn Pilê nặng 7kg và năm cá thể vượn đen má vàng.
Bà Hồng không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số động vật hoang dã quý hiếm trên.
Kiểm tra tiếp cơ sở của ông Nguyễn Huê, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát, đoàn phát hiện 18 con hươu sao và ba con công quý hiếm. Tất cả điều không rõ nguồn gốc và chủ cơ sở không có giấy tờ chứng minh hợp pháp.
Tại quán ăn Hương Đồng, thành phố Thủ Dầu Một do ông Hồ Minh Tâm làm chủ, lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện hàng loạt động vật hoang dã quý hiếm như cò lạc Ấn Độ, diều núi…
Ông Tâm cũng không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc toàn bộ số động vật này.
Cục Cảnh sát môi trường phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Dương đã xác minh nguồn gốc số động vật nói trên, đồng thời làm rõ việc mua bán, nuôi nhốt của các chủ cơ sở. Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, xử lý. (VietnamPlus.vn 5/7; Pháp Luật TPHCM 5/7)đầu trang(
Rừng già đầu nguồn Khe Đương được xem như là vành đai “tấm áo phòng hộ” cho khu vực rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng). Nhưng không hiểu sao lâm tặc lại vào khai thác với hình thức khá quy mô và đặc biệt việc vận chuyển gỗ về xuôi lại diễn ra khá dễ dàng như “chốn không người”?
Năm 2007, sau khi trúng thầu khai thác vàng ở khu vực Khe Đương, Công ty TNHH Trường Sơn đã đưa máy móc vào xẻ núi mở con đường từ thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc vào khu vực rừng đầu nguồn Khe Đương. Và cũng chính từ đây, con đường này đã trở thành “con đường gỗ lậu” của các nhóm lâm tặc.(Tầm Nhìn 5/7)đầu trang(
Từ một số nguồn tin cung cấp về cánh rừng tự nhiên Pa Ay thuộc địa bàn xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế bị tàn phá nghiêm trọng, gỗ lậu ngày đêm về xuôi, PV Báo CATP.HCM đã có chuyến khảo sát thực tế ở khu vực này. Suốt nhiều giờ trong rừng, PV đã ghi nhận vô số gỗ rừng được lâm tặc lũ lượt đưa xuôi như chốn không người.
Theo một số nguồn tin PV có được, gỗ được khai thác trái phép tại các tiểu khu rừng tự nhiên ở Pa Ay và vận chuyển theo đường rừng và suối Pa Ay để đưa về xuôi tiêu thụ. Một số cửu vạn cho biết, họ được thuê vận chuyển gỗ về các điểm tập kết cho đầu nậu trên địa bàn xã thu mua.
Ông Hồ Bá Bình - Chủ tịch UBND xã Hồng Thủy cho biết: “Có thể những người trên lấy gỗ về làm nhà. Vì theo chủ trương của cấp trên, nếu người dân địa phương có nhu cầu khai thác gỗ làm nhà thì làm đơn gửi UBND xã. Sau đó xã sẽ tham mưu cho Hạt kiểm lâm huyện khoanh vùng, tiểu khu được khai thác và quản lý khai thác. Mỗi hộ dân sẽ được khai thác tối đa 4m3 gỗ để làm nhà. Việc làm này diễn ra hàng năm”(!?).
Ông Bình cũng thừa nhận có tình trạng rừng bị khai thác trái phép do một số lâm tặc và một số người dân địa phương tự ý vào rừng khai thác gỗ khi chưa được sự đồng ý của chính quyền và cơ quan chức năng. Xã đã tăng cường kiểm tra, quản lý tuy nhiên do địa bàn rộng lớn và lực lượng mỏng nên công tác này còn gặp khó khăn. Từ đầu năm đến nay, UBND xã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể bắt quả tang 4 vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép !?. (Công an TPHCM 5/7)đầu trang(
4/7, tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hoà cho biết: Từ đầu năm 2013 đến nay, tình trạng vi phạm “Luật Bảo vệ và phát triển rừng” tại Khánh Hòa có chiều hướng tái diễn.
Theo đó, nhiều vụ phá rừng, tổ chức vận chuyển gỗ trái phép, chống lại người thi hành công vụ đã và sẽ được khởi tố trong thời gian tới.
Điển hình như vụ phá hơn 25 ha rừng phòng hộ nằm trong lâm phận của Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm Khánh Hòa đang tổ chức giám định thiệt hại để củng cố hồ sơ, khởi tố vụ án. Vụ tàng trữ gỗ lậu số lượng lớn tại cửa hàng đồ gỗ mỹ nghệ Bến Lội, xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh. Vụ xâm hại rừng căm xe ở xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa, ngành kiểm lâm đã chuyển hồ sơ cho công an tiếp tục điều tra, khởi tố bốn vụ án hình sự...
Theo Chi cục Kiểm lâm Khánh Hòa, 6 tháng đầu năm 2013, toàn tỉnh đã xảy ra 373 vụ vi phạm “Luật Bảo vệ và phát triển rừng”, tăng 87 vụ so với cùng kỳ năm 2012, trong đó mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép chiếm 95% tổng số vụ. Ngành kiểm lâm đã tịch thu hơn 127m3 gỗ tròn, 404m3 gỗ xẻ, trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm… (Phụ Nữ TPHCM 5/7)đầu trang(
4.7, ông Hà Công Tài - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đăk Nông cho biết, chi cục đang làm rõ sai phạm của ông Lê Văn Tường - Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động số 2 - và ông Đỗ Ngọc Trai - Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Đăk G'long.
Các sai phạm này có liên quan đến vụ án vận chuyển gỗ lậu vừa được TAND huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xét xử sơ thẩm ngày 19.6. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang - đều trú xã Quảng Phú, huyện Krông Nô - bị tuyên phạt 19 tháng tù cho hưởng án treo. Nhưng kết quả điều tra cũng như các lời khai tại tòa đều cho thấy ông Tường, ông Trai đã tiếp tay cho hai lâm tặc này hợp thức hóa gỗ lậu.
Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang khai nhận, vào tháng 8.2012, các bị cáo bàn nhau mua gỗ lậu tại huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông rồi làm giấy tờ hợp thức hóa. Ngày 6.10.2012, Cư thuê xe tải chở 16,144m3 gỗ bằng lăng xẻ hộp và tấm đi Tiền Giang tiêu thụ. Ngoài các giấy tờ khống, Huỳnh Văn Cư còn mang theo một giấy xác nhận nguồn gốc gỗ do ông Đỗ Ngọc Trai - lúc đó là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Nô - ký và đóng dấu.
Khi qua địa bàn huyện Đăk R'lấp, xe gỗ này bị Đội Kiểm lâm cơ động số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Nông kiểm tra, phát hiện giấy tờ không hợp pháp. Lẽ ra phải lập biên bản, tạm giữ tang vật để làm rõ thì các kiểm viên lại gọi điện thoại báo cho Đội trưởng Lê Văn Tường lúc đó đang ở nhà riêng. Ông Tường yêu cầu Huỳnh Văn Cư mang giấy tờ về nhà riêng của mình tại thị trấn Kiến Đức (huyện Đăk R'lấp) để kiểm tra.
Thấy có chữ ký của Đỗ Ngọc Trai, đóng dấu Hạt Kiểm lâm huyện Krông Nô nên Tường gọi báo cho Trai biết là hồ sơ này không hợp lệ. Đỗ Ngọc Trai xin Tường trả hồ sơ để Cư mang về huyện Krông Nô làm lại. Sau đó chính Hạt trưởng Đỗ Ngọc Trai đã nhờ một doanh nghiệp làm hợp đồng, xuất hóa đơn khống cho Cư, ngoài ra còn trực tiếp ký xác nhận nguồn gốc gỗ cho Cư.
Với những giấy tờ này, Lê Văn Tường đã cho Huỳnh Văn Cư tiếp tục vận chuyển gỗ đi Tiền Giang tiêu thụ. Nhưng khi đến địa phận tỉnh Bình Phước, xe gỗ này đã bị Công an huyện Bù Đăng bắt giữ, Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang bị khởi tố hình sự. Tại phiên tòa, Huỳnh Văn Cư còn khai nhận đã đưa cho Lê Văn Tường 50 triệu đồng theo yêu cầu của Tường, sau khi than vãn hết tiền đi đường thì được Tường cho lại 5 triệu đồng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Đăng đã khởi tố vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Do hành vi của Đỗ Ngọc Trai, Lê Văn Tường đều diễn ra trên địa bàn tỉnh Đăk Nông nên Viện KSND tỉnh Bình Phước đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đăk Nông điều tra theo thẩm quyền.
Ông Đỗ Ngọc Duyên - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông - cho biết, sau phiên tòa nói trên, Sở NN&PTNT đã có văn bản giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm việc với ông Tường, ông Trai và các đơn vị liên quan về sai phạm của hai cán bộ kiểm lâm có chức vụ này.
Theo văn bản nói trên thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh phải báo cáo kết quả, đề xuất biện pháp xử lý về Sở NN&PTNT trước ngày 10.7. (Nông Thôn Ngày Nay 5/7)đầu trang(
Công an P.Phú Hòa phối hợp Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế vừa xử lý việc ông Nguyễn Danh Hóa (40 tuổi, trú ở Viên Thành, Yên Thành, Nghệ An) bày bán đầu và sừng bò tót giả tại ngã ba Đinh Tiên Hoàng - Trần Hưng Đạo, TP.Huế.
Tại hiện trường, ông Hóa đi xe gắn máy vận chuyển 4 đầu bò tót có kích cỡ to nhỏ khác nhau và khai nhận đều là hàng giả. Để chứng minh, ông Hóa đã bẻ gãy sừng bò tót ra cho tất cả mọi người hiếu kỳ cùng xem.
Phần phía ngoài sừng bò tót được làm bằng một loại hỗn hợp nhựa cứng, bên trong sừng chứa đầy gỗ ván ép. Ông Hóa khai lấy hàng từ một người quen ở Nghệ An, mỗi đầu bò tót như thế này ông bán cho khách từ 2 đến 4 triệu đồng.
Công an đã yêu cầu ông Hóa không được buôn bán số hàng hóa trên vì vi phạm trật tự an toàn đô thị và vi phạm Pháp lệnh về việc cấm buôn bán hàng giả, hàng nhái. Đặc biệt, đối với bò tót - một loại động vật nằm trong danh mục động vật quý hiếm thuộc nhóm 1B nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại hay làm giả, làm nhái hoặc quảng cáo đầu, sừng bò tót. (Thanh Niên 5/7)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Theo Báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường quốc doanh trình Quốc hội khóa XIII, tính đến hết năm 2012, cả nước có 653 nông trường, lâm trường, ban quản lý rừng và khu bảo tồn, vườn quốc gia, đang quản lý, sử dụng gần tám triệu ha đất, trong đó, diện tích đất nông nghiệp là hơn 7,6 triệu ha; đất phi nông nghiệp gần 80 nghìn ha và đất chưa sử dụng là hơn 236 nghìn ha.
Thời gian qua, bên cạnh việc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để thực hiện thống nhất việc quản lý, sử dụng đất đối với các nông, lâm trường quốc doanh; một số kết quả thu được trong rà soát, sắp xếp lại các nông, lâm trường theo Nghị quyết số 28-NQ/T.Ư; việc quản lý, sử dụng đất của nhiều nông, lâm trường đã có chuyển biến tích cực, thì còn nhiều hạn chế, tồn tại trong quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường.
Ðó là, hiệu quả sử dụng đất thấp, việc rà soát, sắp xếp, đổi mới còn chậm, công tác cổ phần hóa các nông, lâm trường còn nhiều bất cập, việc giao khoán đất và cấp sổ đỏ chưa đạt hiệu quả cao, tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn ra dưới nhiều hình thức, công tác thu hồi đất giao cho các địa phương quản lý thực hiện còn chậm, hiệu quả đạt được chưa cao...
Một tình trạng đáng báo động hiện nay là, theo quy định của pháp luật đất đai về các trường hợp phải thu hồi đất và Nghị quyết số 28-NQ/T.Ư thì diện tích đất đã thu hồi được đạt rất thấp so với yêu cầu. Việc bàn giao đất ở nhiều nông, lâm trường mới thực hiện chủ yếu trên giấy tờ mà chưa hoàn thành trên thực địa. Việc thu hồi đất sau khi sắp xếp lại thực hiện còn chậm. Những tồn tại trên đây làm gia tăng tình trạng lấn chiếm đất trái phép đã gây thiệt hại nghiêm trọng về tài nguyên đất, ảnh hưởng công tác quản lý nhà nước, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc giao đất cho các nông, lâm trường bị coi nhẹ, thực hiện không chặt chẽ, cụ thể. Có nhiều nơi việc xác định ranh giới mới chỉ khoanh vẽ trên bản đồ, thậm chí trên bản đồ có độ chính xác thấp, dẫn tới việc giao đất phủ trùm lên đất của nhiều tổ chức, cá nhân đang sử dụng. Hồ sơ đất của các nông, lâm trường chưa được lập và lưu trữ đầy đủ, chặt chẽ, nhiều nơi để thất lạc gây ra tình trạng giao đất chồng lấn, làm nảy sinh tranh chấp đất đai giữa các nông, lâm trường với người dân địa phương.
Ðể tăng cường quản lý đất nông, lâm trường, cần tiếp tục rà soát, đánh giá lại thực trạng tình hình sử dụng đất của các nông, lâm trường ở các địa phương, tập trung chỉ đạo thực hiện hoàn thành việc xác định ranh giới, mốc giới sử dụng đất, đo đạc lập bản đồ địa chính, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chi tiết và giao đất, cho thuê đất cho các nông, lâm trường phù hợp nhiệm vụ mới sau khi được sắp xếp.
Ðồng thời, cần có kế hoạch đưa ngay các diện tích đất đã thu hồi vào sử dụng hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ cấp sổ đỏ, tránh tình trạng vừa gây lãng phí trong sử dụng đất vừa tăng nguy cơ tranh chấp đất đai gây ảnh hưởng đến công tác quản lý và trật tự an toàn xã hội. (Nhân Dân 5/7)đầu trang(

THẾ GIỚI
Sau hai năm được nuôi dưỡng, 32 con chim quý hiếm trong danh sách nguy hiểm vừa được các chuyên gia Trung Quốc thả ra môi trường hoang dã ở tỉnh Thiểm Tây. Trong số này có 14 con chim trưởng thành, 10 con gần trưởng thành và 8 con chim non.
Các con chim này được tin là tuyệt chủng hồi đầu thế kỷ 20 đã được tìm thấy ở Nhật Bản, Nga, Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên. Trong thời gian chăm sóc và nuôi dưỡng, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho sinh sản nhân tạo được 7 con chim trong số chim nêu trên. (Sài Gòn Giải Phóng 5/7)đầu trang(
Theo EOS (tổ chức ngành công nghiệp xưởng cưa của châu Âu), sản xuất và tiêu thụ gỗ xẻ mềm giảm 1,1% và 2,2% trong năm 2013. Các thành viên của EOS dự đoán sản xuất gỗ xẻ cứng tăng 1,2 % trong năm nay mặc dù nhu cầu dự báo giảm 2%.
Nhiều khu vực xưởng cưa tại châu Âu đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, do tình hình kinh tế khó khăn, hoạt động xây dựng thấp, niềm tin tiêu dùng thấp, chi phí nguyên liệu thô lại tăng cao.
Romania và Bỉ báo cáo tăng trưởng sản xuất gỗ xẻ mềm tương ứng với 1,4% và 3,4%; trong khi Đức, Áo, Thụy Điển đều dự báo giảm dao động từ 3,7%-7,9%. Sản xuất gỗ xẻ mềm tại Anh với thị phần chiếm khoảng 4,1% tổng sản lượng của EOS, trong khi đó mức tiêu thụ tại Anh đạt 12,9% tổng sản lượng, đứng vị trí thứ ba sau Đức và Pháp.
Trong khi đó, năm 2012, sản xuất gỗ xẻ cứng tăng 8,2%. Khối lượng gia tăng 5% tại một số thị trường như: Áo, Pháp và Ý, tăng 9% ở Bỉ và gia tăng mạnh nhất tại thị trường Romania. Các xưởng cưa của Romania ổn định nhất với khối lượng sản xuất chiếm tới 34,8% sản lượng EOS. (Người Lao Động 5/6)đầu trang(
Rất nhiều người đã biết Namibia là thiên đường du lịch dành cho những du khách đam mê khám phá cuộc sống hoang dã, song không phải ai cũng biết rằng đất nước phía Tây Nam châu Phi này đã phải nỗ lực rất nhiều để bảo vệ môi trường sống và những loài động vật hoang dã.
Với mục tiêu đưa loại hình du lịch khám phá cuộc sống hoang dã là mục tiêu phát triển dài hạn, quốc gia phía Tây Nam châu Phi – Namibia đã thực hiện các cam kết đầy tham vọng để bảo tồn môi trường sống kể từ khi chính thức thành lập vào năm 1990.
Namibia với dân số 2,2 triệu người là quốc gia đầu tiên của châu Phi đã viết vấn đề bảo vệ môi trường sống vào hiến pháp. Hơn 40% đất nước Namibia hiện đang được thụ hưởng lợi ích từ một số hình thức quản lý bảo tồn động vật hoang dã, trong đó cộng đồng địa phương được hưởng lợi.
Những vấn đề xung đột giữa con người-động vật hoang dã ở Namibia đang dần được cải thiện khi mà chính phủ đã biến chính cộng đồng dân cư đóng vai trò “chủ thể” của những “di sản sống”
Nhiều loài động vật hoang dã của Namibia đứng trên bờ vực bị de dọa tuyệt chủng trong những năm 1980 bởi tệ nạn săn bắn trộm động vật hoang dã diễn ra tràn nan. Tuy nhiên, những tư tưởng cấp tiếp của đất nước này đã khiến cho chính những “kẻ săn bắn trộm” trở thành những người bảo vệ động vật hoang dã, giúp đảo ngược vận mệnh của những thành viên cộng đồng và dẫn đến sự gia tăng ổn định của số lượng động vật hoang dã.
Năm 1983, một nhà bảo tồn có tên Gareth Owen-Smith- một trong những người sáng lập tổ chức phi chính phủ IRDNC (Integrated Rural Development and Nature Conservation – Tạm dịch là Tổ chức bảo tồn tự nhiên và phát triển nông thôn) đã hình thành ý tưởng về hệ thống bảo vệ cuộc chơi (game guard system) song song với việc chăn nuôi gia súc ở địa phương. Ý tưởng này ban đầu được áp dụng ở khu vực Kunene của Namibia (trước đây gọi là Damaraland và Kaokoland), để ngăn chặn nạn buôn bán và săn bắn trộm tê giác đen, voi sa mạc và các loài khác.
Theo đó, người dân địa phương được giao trách nhiệm bảo vệ môi trường sống và động vật hoang dã ở trên địa bàn sinh sống của họ. Vai trò của họ không chỉ là bắt những kẻ săn trộm, mà còn ngăn chặn nạn săn bắn bất hợp pháp bằng cách mở rộng bảo tồn, giám sát động vật hoang dã và tuần tra chống săn trộm trong các lĩnh vực mà họ sinh sống. Mặc dù cách trao quyền cho cộng đồng địa phương trong việc ngăn chặn tệ nạn săn bắn trộm dường đi ngược lại với tư tưởng chính trị thời gian đó, nhưng việc này đã đóng góp to lớn cho việc phục hồi số lượng động vật hoang dã ở phía Tây Bắc Namibia. Sự tham gia tích cực của người dân địa phương trong công cuộc bảo tồn cũng như chăm sóc những loài động vật hoang dã đã trở thành một nguồn lực xã hội, kinh tế, văn hóa có giá trị.
Sau khi giành được độc lập vào năm 1990, chính phủ Namibia đã ghi nhận những thành công đạt được bằng hệ thống này trong việc bảo vệ động vật hoang dã, sau đó đã tranh thủ sự giúp đỡ của tổ chức IRDNC áp dụng trên phạm vi toàn quốc.
Kinh phí ban đầu để thực hiện ý tưởng đến từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, bao gồm cả IRDNC và WWF, WHO, với USAid, đã đầu tư 48 triệu đô vào chương trình bảo tồn từ năm 1993. Đến năm 1996, ý tưởng đã trở nên hoàn thiện hơn: thay vì chỉ trả tiền cộng đồng địa phương để bảo vệ, chăm sóc động vật hoang dã, chính phủ Namibia đã sử dụng quyền sở hữu như một sự khuyến khích hình thành các nhóm “cộng đồng bảo tồn”. Theo đó, một cộng đồng địa phương đã được trao quyền sở hữu đối với các loài động vật hoang dã trên đất của họ.
"Nếu mọi người cảm thấy họ thực sự sở hữu một nguồn tài nguyên, nếu họ cảm thấy có trách nhiệm với nó, họ sẽ phải chịu trách nhiệm và chăm sóc cho nó", người đồng sáng lập tổ chức IRDNC Margaret Jacobsohn đánh giá. "Đây là một điều rất hợp lý. Nếu bạn thuê một căn hộ, bạn sẽ đối xử với nó một cách khác. Nếu bạn sở hữu nó, bạn sẽ đối xử với nó tốt hơn một chút".
Nhìn vào những con số ngày hôm nay, thì rõ ràng đây là một thành công rất lớn của Namibia trong việc bảo tồn động vật hoang dã. Đất nước này hiện đang sở hữu số lượng loài báo và tê giác đen lớn nhất thế giới (trong khi trước đó chúng đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng). Trong một thập kỷ qua, số lượng voi đã tăng từ khoảng 13.000 đến 20.000 con. Ở phía Tây Bắc của đất nước, nơi số lượng sư tử đã từng bị giảm xuống còn hơn hai chục, bây giờ tổng số khoảng 130 con sư tử.
“Mục tiêu của dự án này là biến các nhóm “cộng đồng bảo tồn” có thể" tự cung tự cấp" khi mà việc sở hữu động vật hoang dã không đủ để đảm bảo cuộc sống và công cuộc bảo vệ động vật hoang dã lâu dài. Để cho các chương trình bảo tồn để thực sự hiệu quả, những người trong cộng đồng đó phải thừa nhận rằng họ có thể được hưởng lợi nhiều hơn khi bảo vệ các loài động vật hoang dã được sống", Jacobsohn nói.
Khi hệ thống bảo tồn bắt đầu vào năm 1996, đã có bốn khu vực tham gia hệ thống này, tuy nhiên đem lại nguồn thu nhập không đáng kể. Đến nay, đã có hơn 74 khu vực tham gia vào công cuộc bảo tồn, đem lại thu nhập tổng cộng hơn 4.800.000 đô la. Hầu hết số tiền thu được từ việc liên doanh với các hoạt động kinh doanh du lịch và tổ chức các hình thức săn bắn cho du khách. Nhiều nhóm cộng đồng bảo tồn đã sử dụng số tiền này để quay lại đầu tư cho các trường học địa phương của họ, cung cấp các chương trình hỗ trợ cho các cá nhân nhiễm HIV/AIDS và cải thiện cơ sở hạ tầng và một loạt các dự án phát triển nông thôn khác…
Năm 2012, Namibia tham gia vào Hiệp ước KAZA giữa 5 quốc gia khu vực Nam Phi gồm Angola, Botswana, Namibia, Zambia và Zimbabwe để bảo tồn động vật hoang dã. Khu bảo tồn Xuyên biên giới Kavango-Zambezi (KAZA) được đánh giá là dự án sinh thái lớn nhất thế giới trải rộng trên 440.000km2.
Mục tiêu chính của dự án là cộng đồng nông thôn địa phương sẽ được hưởng lợi từ những số tiền thu được từ khu vực bảo tồn xuyên biên giới một cách công bằng giữa các thành viên. KAZA bao phủ 1/5 đất nước Namibia và ảnh hưởng tới 250.000 hộ dân nông thôn ở đất nước này.
Nếu thành công, KAZA cũng sẽ giúp người dân nơi đây thoát nghèo với việc bảo tồn loài voi và bảo vệ vùng đồng bằng Okavango – một trong những hệ sinh thái chức năng quy mô lớn cuối cùng của “lục địa đen” và cũng là ngôi nhà của nhiều loài động vật hoang dã bị đe dọa nhiều nhất trong khu vực, bao gồm tê giác đen, chó hoang châu Phi cùng hàng trăm loài chim quý.
Những vấn đề xung đột giữa con người-động vật hoang dã ở Namibia đang dần được cải thiện khi mà chính phủ đã biến chính cộng đồng dân cư đóng vai trò “chủ thể” của những “di sản sống”. Giờ đây cuộc sống hoang dã ở Namibia vô cùng hưng thịnh. Đây cũng là tin tốt dành cho du khách và là tiền đề để giúp du lịch đất nước ngày ngày càng phát triển. (Tổ Quốc 5/7)đầu trang(
Các nhà khoa học Nga vừa khai quật được hóa thạch tê giác mang tên Merck cổ đại sống cách đây một vài triệu năm tại vùng núi Ural.
Đây được coi là một phát hiện bất ngờ, làm lu mờ vụ khai quật năm 2012, khi các nhà khoa học tìm thấy chiếc răng nhím cổ đại cũng tại khu vực này.
Trưởng phòng nghiên cứu cổ sinh học thuộc Viện Động Thực vật Ural, Pavel Kosintsev cho biết nếu việc phát hiện hóa thạch voi ma mút trong lớp băng vĩnh cửu trở nên phổ biến thì việc phát hiện hóa thạch tê giác Merck là một bất ngờ, đặc biệt ở Ural.
Theo ông Kosintsev, độ tuổi xấp xỉ của hóa thạch vừa được phát hiện là khoảng 120.000 năm, điều này cho thấy khí hậu của Ural thời kỳ đó ấm hơn ngày nay. Việc phát hiện ra hóa thạch tê giác Merck đã tạo cơ hội tái tạo môi trường thời kỳ băng hà cuối cùng, giúp các nhà khoa học có thể nghiên cứu hệ sinh học của tê giác đầy đủ hơn và tìm hiểu lý do tại sao chúng bị tuyệt chủng.
Tê giác Merck sống trong môi trường rừng núi, thích những bụi cây và cỏ cao. Đây là động vật đơn độc cao 1,5m và dài hơn 3m. Có giả thuyết cho rằng biến đổi khí hậu và thảm thực vật khiến chúng bị tuyệt chủng. Người ta cho rằng những con tê giác cuối cùng đã sống trên lãnh thổ Italy hiện đại trong thời kỳ đồ đá cũ. Độ tuổi hóa thạch của loài tê giác Merck ở Italy là khoảng 200.000 năm. Tuy nhiên, phát hiện của các nhà khoa học Nga chứng minh rằng loài động vật này đã sống sót muộn hơn, khoảng 120.000 năm trước. (VietnamPlus.vn 5/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa