|
Ngày 05 tháng 01 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Rừng đặc dụng Phong Quang (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) lâu nay được coi là khu "rừng vàng" của vùng biên giới phía Bắc bởi có hệ sinh thái đa dạng, lưu giữ nhiều nguồn tài nguyên thực vật quý hiếm, là nơi trú ngụ của các loài cây trong nhóm 2a như: Đinh, trai, nghiến, kim giao, lát…
Tuy nhiên, sau một thời gian im ắng, thời quan qua, tình trạng khai thác rừng trái phép ở đây lại "nóng" trở lại. Các lực lượng chức năng như Kiểm lâm, Quân sự, BĐBP và chính quyền địa phương huyện Vị Xuyên thường xuyên phối hợp, chung tay đẩy lùi tình trạng phá rừng, song, cuộc chiến giữ rừng nơi đầu nguồn biên giới vẫn còn dai dẳng, khốc liệt và dường như chưa bao giờ có hồi kết!
Những ngày áp Tết, chúng tôi trở lại địa bàn xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên - "điểm nóng" một thời về khai thác lâm sản trái phép. Từ thành phố Hà Giang chỉ có con đường độc đạo rẽ từ quốc lộ 4C chạy qua địa bàn xã Minh Tân để lên các thôn bản vùng cao của xã, nằm trong vùng lõi của rừng đặc dụng Phong Quang.
Đằng sau vẻ êm đềm, có phần tĩnh lặng của các bản làng bên sườn núi, là cuộc đấu tranh âm thầm, không cân sức để giữ rừng biên giới của lực lượng chức năng với các đối tượng lâm tặc, không ai khác lại chính là một số người dân bản địa.
Theo số liệu thống kê, khi mới thành lập, rừng đặc dụng Phong Quang (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) có diện tích là 9.200ha. Sau một số điều chỉnh, đến nay, rừng chỉ còn lại khoảng hơn 8.000 ha, được phân thành 2 phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và bảo vệ sinh thái. Mỗi phân khu có diện tích khoảng hơn 4.000 ha.
Tân Sơn là một trong những thôn có diện tích rừng nhiều nhất của xã Minh Tân thuộc khu vực rừng đặc dụng Phong Quang. Thời điểm nóng bỏng nhất của việc tàn phá cánh rừng này là hai năm 2011-2012, có lúc, chính quyền địa phương đã phải xử lý cùng lúc 58 đối tượng phá rừng.
Sau khi huy động các nguồn lực, cùng sự vào cuộc quyết liệt của các lực lượng chức năng, tình trạng phá rừng nơi đây đã bắt đầu lắng xuống. Nhưng từ cuối năm 2015 đến nay Tân Sơn lại "nóng" về tình trạng khai thác gỗ nghiến cổ thụ. Nhiều cây nghiến cao hàng chục mét, đường kính từ 1-2 mét tiếp tục bị băm nát thành những chiếc thớt để bán sang Trung Quốc. Thêm vào đó, những cây nghiến trước đó đã bị cưa đổ, còn ở nguyên hiện trường, lại được một số người dân địa phương hám lợi, tiếc của, vào rừng "mót" về làm thớt bán.
Sở dĩ có tình trạng khai thác lâm sản "nóng", tràn lan như vậy là bởi, phía bên kia biên giới, lái buôn gỗ Trung Quốc không ngừng gia tăng nhu cầu mua thớt nghiến. Có thời điểm, một thớt nghiến đường kính 40cm, dày 40cm, bán trót lọt qua biên giới có giá tới 1,5 triệu đồng. Gỗ được vận chuyển bằng hình thức thồ ngựa, đèo xe máy hoặc gùi trên lưng, để đưa ra các con đường mòn, đường tắt. Một người khỏe mạnh có thể vận chuyển 2 đến 3 thớt/ngày.
Tại sao tình trạng khai thác gỗ lại hoành hành trở lại sau một thời gian yên ổn?" - Tôi đem câu hỏi này hỏi ông Phàn Văn Hạc, Chủ tịch UBND xã Minh Tân, ông cho biết: "Hầu hết các đối tượng vào phá rừng hiện nay không chỉ đốn gỗ mới, mà còn để "mót" lại những tấm gỗ đã chặt trước đó, vẫn còn nằm trơ lại trong rừng. Do rừng đặc dụng Phong Quang nằm xa khu dân cư, đường sá đi lại khó khăn nên tất cả những tang vật của các vụ phá rừng từ năm 2011 đến nay, chúng tôi đều không thể vận chuyển đi đâu, vẫn còn giữ nguyên tại hiện trường. Không ngờ, đó lại là nguyên nhân, mầm mống cho việc phá rừng thời gian gần đây".
Đại úy Hoàng Tô Long, Trạm trưởng Trạm BP Minh Tân, Đồn BPCK quốc tế Thanh Thủy dẫn tôi ngược dốc qua vùng đệm để vào lõi của khu rừng rộng 9.000ha này. Đại úy Long nhận định: "Hiện nay, trong rừng còn rất nhiều cây gỗ đã bị lâm tặc đốn hạ trước đó, được người dân lén lút vào cưa ra thành những vanh thớt có độ dày khoảng 30cm để dễ dàng vận chuyển ra ngoài. Địa bàn các thôn Hoàng Lỳ Pả, Thượng Lâm, Tà Lèng được coi là điểm nóng của tình trạng khai thác này. Thời kỳ cao điểm, tại Thượng Lâm có tới vài ba chục người vào rừng cắt gỗ vận chuyển bán sang Trung Quốc qua khu vực mốc 271 và 272".
Có muôn hình vạn trạng kiểu khai thác mà lâm tặc thực hiện để “xẻ thịt” rừng. Cây to quá không thể dùng rìu hay cưa thì chúng đốt gốc. Đây là cách khai thác truyền thống của lâm tặc, khi lửa cháy “ngấm” gần hết gốc thì cây sẽ tự đổ. Những cây gỗ này khi đổ xuống, lâm tặc không thể cưa ngang cây mà xẻ khoét từng miếng nhỏ rồi lấy miếng gỗ ra.
Thường mỗi khoanh gỗ bị khoét có độ dày và rộng đủ để làm hai tấm thớt. Cứ thế, chúng khoét dần cho tới khi cây nghiến trơ lại phần tạp như con cá trơ lại phần xương. Với thủ đoạn tinh vi này, lâm tặc đã triệt hạ hàng trăm cây nghiến cổ thụ và vận chuyển gỗ ra ngoài, vượt qua biên giới một cách dễ dàng.
Một người dân tại thôn Tân Sơn xót xa cho biết, chỉ trong mấy tháng cuối năm 2016, lâm tặc đã dùng cưa máy hạ nhiều cây nghiến cổ thụ ở cánh rừng phía sau nhà ông. Sau khi cắt lấy phần thớt nghiến vuông vắn bán cho đầu nậu, chúng vứt bỏ lại tất cả đầu thừa đuôi thẹo trên rừng. Không chỉ vậy, rất nhiều cây nghiến sừng sững ngay cạnh thôn cũng bị lâm tặc dùng cưa máy xẻo đi từng miếng "thịt gỗ" một cách vô cùng tinh vi.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang, hiện nay, còn khoảng hàng trăm mét khối gỗ nghiến đã bị xẻ, cưa đổ nằm rải rác trong rừng. Vậy là, trong đêm tối, rừng đặc dụng Phong Quang dường như chưa bao giờ được ngủ yên. Hàng trăm con mắt soi mói, ngày đêm rình rập của lâm tặc với mưu đồ đốn hạ, băm nát những thân cây nghiến chỉ để… làm thớt!
Tháng 6-2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ra quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, nhưng trên thực tế, rừng đặc dụng Phong Quang vẫn đang bị "tàn sát" bởi bàn tay thô bạo của lâm tặc.
Những cây gỗ nghiến cổ thụ lên đến hàng nghìn tuổi vẫn ngang nhiên bị đốn hạ trong nỗi xót xa của lực lượng chức năng và chính quyền địa phương. Từ đây, các giải pháp ngăn chặn tình trạng phá rừng trở thành vấn đề cấp bách đối với các cấp chính quyền tỉnh Hà Giang. (Biên Phòng 4/1)đầu trang(
Rừng khộp, loại rừng đặc trưng ở Vườn Quốc gia (VQG) Yóc Đôn vào mùa lá rụng chỉ còn thân cây trơ trọi giữa nền trời xanh ngắt.
Len lỏi giữa rừng già Yóc Đôn, chúng tôi nghe rõ những bước chân xào xạc vội vã của những người giữ rừng nơi đây, họ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, thậm chí phải đổ cả máu để giữ những diện tích rừng già quý giá.
Trên đường từ trụ sở Hạt Kiểm lâm VQG Yóc Đôn vào thăm các cán bộ, nhân viên kiểm lâm đang ngày đêm làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) tại các trạm, chốt kiểm lâm giữa rừng sâu thẳm, Hạt phó Hạt Kiểm lâm VQG Yóc Đôn Nguyễn Hữu Tạo, người đã gắn bó với núi rừng ở đây hơn 30 năm kể: Do đặc trưng rừng ở đây chủ yếu là rừng khộp nên đẹp nhất vào mùa khô. Nhưng với những người giữ rừng nơi đây, vất vả nhất cũng vào mùa này, khi những cánh rừng thay lá, những trảng cỏ khô úa có thể bùng cháy bất cứ lúc nào. Mùa này cũng là khi nương rẫy khô khốc, người dân sống quanh rừng không còn nguồn thu nào khác nên kéo nhau vào rừng kiếm kế sinh nhai. Người dân ở đây còn gọi là “mùa đi rừng”.
Trong khi đó, VQG Yóc Đôn trải rộng trên địa bàn bảy xã thuộc ba huyện Buôn Đôn, Ea Súp, tỉnh Đác Lắc và huyện Cư Giút, tỉnh Đác Nông, với diện tích 115.545 ha, trong đó có 72.751 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, 35.538 ha phân khu phục hồi sinh thái… Vườn có hiện trạng đa dạng sinh học cao.
Theo kết quả điều tra, thống kê chưa đầy đủ từ năm 1991 đến nay của VQG Yóc Đôn, về thực vật tại VQG này có 858 loài thuộc 129 họ, 478 chi, trong đó có 28 loài quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới như Trắc, Cẩm lai, Cà te, Giáng hương… Về hệ động vật, đến nay đã ghi nhận được 489 loài động vật có xương sống, trong đó có 89 loài thú, 250 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư và 31 loài cá. Trong đó có nhiều loài thú nguy cấp, quý hiếm như voi châu Á, báo Hoa mai, bò rừng, bò tót…
Bao quanh VQG Yóc Đôn có gần 50.000 người dân của bảy xã sinh sống, đặc biệt có ba xã là Krông Na, Ea Huar và Ea Wer, huyện Buôn Đôn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), với tập tục từ ngàn đời nay là sống dựa vào rừng, làm nhà lấy gỗ từ rừng, ăn từ nguồn lợi của rừng... nên cứ đến mùa khô, mùa đi rừng của bà con là áp lực giữ rừng càng cao.
Sau gần một giờ băng qua những khu rừng khộp đang mùa thay lá, chúng tôi ghé thăm buôn Đrăng Phốc, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn nằm lọt thỏm giữa vùng lõi VQG Yóc Đôn. Cả buôn có 108 hộ với hơn 500 khẩu, chủ yếu là đồng bào M’nông. Khi chúng tôi đến mới 10 giờ sáng nhưng cả buôn vắng lặng, chỉ còn người già và trẻ nhỏ ở nhà. Già làng Y Khuông H’Wing cho biết: Bà con đã đi rừng cả rồi. Năm nào cũng vậy, cứ đến mùa này khi nương rẫy khô khốc không sản xuất được là bà con đi rừng lượm khúc gỗ, bắt con cá, bẫy con thú về bán kiếm sống qua ngày.
Hạt phó Hạt Kiểm lâm VQG Yóc Đôn Nguyễn Hữu Tạo lo lắng nói: Những năm gần đây, nhờ ngăn chặn từ vòng ngoài nên lâm tặc cộm cán đã giảm, bây giờ chính người dân là áp lực lớn nhất đối với những người giữ rừng.
Những trường hợp lực lượng kiểm lâm phát hiện người dân đi xe máy, xe đạp vào rừng thồ gỗ, khi bắt được còn có cái để thu giữ, lập biên bản. Nhưng có những gia đình, cả vợ chồng con cái dắt díu nhau vào rừng, lúc trở ra mỗi người cõng một khúc gỗ bằng nửa thân người sau lưng, hoặc khúc nhỏ hơn thì bỏ vào gùi địu ra cửa rừng bán thì xử lý sao đây?
Dẫn chúng tôi vào bãi thu giữ phương tiện và lâm sản Trạm Kiểm lâm số 6 VQG Yóc Đôn, bên dãy xe đạp thồ, xe máy cũ kỹ đã hoen gỉ phơi mưa nắng và hàng chục khối gỗ ngổn ngang, Trạm phó Trạm kiểm lâm số 6 Phạm Ngọc Hùng cho biết: Đây là những phương tiện và tang vật thu giữ được từ những lần kiểm lâm vườn bắt giữ lâm tặc. Mà “lâm tặc” ở đây chủ yếu lại là những người dân sống ở vùng lõi và vùng ven vườn quốc gia.
Nhìn những thân cây hàng trăm năm tuổi vươn mình giữa trời xanh, Hạt phó Hạt kiểm lâm VQG Yóc Đôn Nguyễn Hữu Tạo chia sẻ: Để giữ những cánh rừng già quý hiếm còn lại này, VQG Yóc Đôn đã thành lập 15 trạm kiểm lâm và một đội kiểm lâm cơ động bố trí ở những khu vực xung yếu nhất trong VQG để ngày đêm canh giữ rừng.
Do địa bàn rộng, địa hình hiểm trở, nhiều trạm nằm cách xa khu dân cư và cách trụ sở của vườn gần 100 km đường rừng, núi. Thời tiết ở đây hết sức khắc nghiệt, vào mùa khô hầu hết các suối, khe nước nhỏ trong rừng đều cạn kiệt nguồn nước. Nguồn nước giếng thì nhiễm vôi, phèn không thể uống được. Vì vậy, lâu nay các trạm đều phải xây bể để chứa nước mưa sinh hoạt. Đối với những trạm chưa có nơi trữ nước, hàng ngày đơn vị phải sử dụng xe công nông chở từng thùng nước vào phục vụ sinh hoạt cho anh em.
Trạm phó Trạm kiểm lâm Đrăng Phốc Nguyễn Mạnh Hùng tâm sự: Địa bàn do trạm quản lý rộng và hết sức phức tạp, nên mỗi chuyến tuần tra, canh gác phải mất cả tuần mới về trạm. Mỗi chuyến đi, các cán bộ, nhân viên phải mang theo đầy đủ gạo, thức ăn, mùng, mền, võng, thuốc và các dụng cụ y tế...
Bất kể ngày hay đêm đều đi tuần tra, đến đâu mệt thì mắc võng nghỉ rồi tiếp tục đi. Khổ nhất trong mỗi chuyến tuần tra là bị muỗi, vắt, rết, côn trùng cắn, thậm chí bị lâm tặc tấn công. Mặc dù vậy, hầu hết cán bộ, nhân viên trong trạm đều gắn bó với nghề, nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh nỗ lực của lực lượng kiểm lâm, xác định tầm quan trọng của người dân vùng đệm về công tác QLBVR và bảo tồn đa dạng sinh học, trong thời gian qua VQG Yóc Đôn còn tổ chức cho đồng bào DTTS và lực lượng vũ trang tham gia nhận khoán QLBVR ở các phân khu phục hồi sinh thái.
Phó Giám đốc VQG Yóc Đôn Phạm Tuấn Linh cho biết: Đến thời điểm hiện tại VQG Yóc Đôn đã giao khoán bảo vệ rừng với diện tích 35.000 ha tại 39 tiểu khu cho 19 cộng đồng thôn, buôn vùng đệm giáp ranh với vườn và chín đơn vị vũ trang tham gia nhận khoán.
Bên cạnh đó, từ năm 2013, VQG Yóc Đôn đã hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn, buôn/năm cho 40 thôn, buôn ở bảy xã vùng đệm. Số tiền này được cộng đồng thôn, buôn sử dụng vào việc mua giống cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất và trích một phần sửa nhà cộng đồng…
Gắn với các hoạt động phát triển cộng đồng, VQG Yóc Đôn còn phối hợp với chính quyền và các đoàn thể các địa phương vùng đệm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cho nhân dân. Kết quả việc giữ rừng dựa vào cộng đồng đã có tác dụng đáng kể.
Mỗi thôn, buôn giờ đây đã thành lập các tổ QLBVR, đi tuần tra hàng ngày với lực lượng kiểm lâm. Riêng đồng bào DTTS ở buôn Đrăng Phốc nằm ngay trong vùng lõi VQG Yóc Đôn một thời nổi danh phá rừng, nhưng nay người dân trong buôn đã tích cực QLBVR. Toàn buôn nhận khoán bảo vệ gần 500 ha rừng.
Những năm gần đây buôn luôn dẫn đầu trong công tác bảo vệ rừng. Diện tích rừng do buôn quản lý không xảy ra tình trạng phá rừng để lấy gỗ, lấn chiếm để làm nương rẫy, không có tình trạng rừng bị xâm hại từ bên ngoài. Từ việc nhận khoán bảo vệ rừng, cuối năm gia đình nào cũng có thêm một khoản tiền để mua sắm, chi tiêu trong những ngày Tết nên bà con phấn khởi lắm.
Phó Giám đốc VQG Yóc Đôn Phạm Tuấn Linh khẳng định, trong những năm qua, sự tác động từ bên ngoài đến VQG Yóc Đôn giảm dần. Trong năm 2016, lực lượng kiểm lâm VQG Yóc Đôn đã phát hiện 424 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 52 vụ khai thác rừng trái phép, tịch thu và tạm giữ 450 phương tiện phá rừng; 144.811 m3 gỗ các loại… giảm nhiều so với năm 2015.
Theo quy định, mỗi kiểm lâm viên chỉ quản lý 500 ha rừng đặc dụng, nhưng ở đây các kiểm lâm viên phải quản lý gần gấp đôi do địa hình rộng, trải dài hai tỉnh. Vì vậy, VQG Yóc Đôn vẫn đang đứng trước nhiều mối đe dọa lớn.
Chiều về ở VQG Yóc Đôn, mặt trời lặn dần trên đất bạn Cam-pu-chia.Ở phía xa xa, những mái nhà dài các buôn làng M’nông đã lên khói lo bữa cơm chiều. Trên bầu trời xanh ngắt, đàn chim én bay về báo hiệu một mùa xuân mới đang đến. Dưới những tán rừng khộp, những bước chân xào xạc vội vã của những người giữ rừng nơi đây vẫn âm thầm ngày đêm tuần tra canh giữ cho những cánh rừng già Yóc Đôn mãi xanh. (Nhân Dân 4/1)đầu trang(
Tổ tuần tra Hạt kiểm lâm huyện Mèo Vạc, (tỉnh Hà Giang) vừa bắt giữ hai đối tượng vận chuyển gỗ trái phép.
Vụ việc được tổ công tác phát hiện vào khoảng 9h30 (4/1), tại trung tâm thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang). Đối tượng bị bắt giữ là Giàng Mí Lầu (SN 1992), trú tại thôn Sảng Trải A, xã Lũng Pù (huyện Mèo Vạc).
Theo cơ quan chức năng, Lầu điều khiển xe máy mang BKS: 23B1 -22703 chở theo gỗ nghiến thuộc nhóm 2A dạng thớt, đường kính 50cm. Qua đấu tranh khai thác, đối tượng lầu khai nhận mua gỗ của ông Vàng Mí Na, trú tại thôn Sảng Trải B, xã Lũng Pù. Theo đó, gỗ dự tính được vận chuyển đến thôn Tìa Chớ, xã Xín Cái.
Cũng trong ngày, tổ tuần tra tiếp tục bắt giữ đối Vàng Chứ Lình (SN 1985), trú tại xã Sà Phìn (huyện Đồng Văn). Đối tượng Lình bị bắt trong khi đang điều khiển xe máy BKS: 23N1-01804 đi hướng huyện Bắc Mê – Mèo Vạc. Tuy nhiên, mới đến đầu thị trấn Mèo Vạc thì bị bắt giữ.
Tại cơ quan điều tra, Lình khai nhận mình lấy gỗ từ xã Phiêng Luông (huyện Bắc Mê) chở lên Mèo Vạc tiêu thụ. Tang vật thu được là 2 khúc gỗ nghiến dạng thớt, thuộc nhóm 2A, đường kính 30-40cm.
Hiện nay lực lượng chức năng huyện Mèo Vạc đang tiến hành củng cố hồ sơ để điều tra làm rõ nguồn gốc toàn bộ số gỗ nghiến bị thu giữ. Đồng thời Hạt Kiểm lâm huyện Mèo Vạc cho biết, sẽ tăng cường tuần tra, xử lý các đối tượng có hành vi vận chuyển lâm sản trái phép trong thời gian tết cổ truyền dân tộc đang cận kề. (Pháp Luật Plus 4/1)đầu trang(
Không chỉ đối mặt với hàng loạt các vấn đề ô nhiễm, biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên đất, nước…
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái đa dạng sinh học, hệ sinh thái và tài nguyên rừng nghiêm trọng. Đây là nguyên nhân suy giảm, mất đi các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, ảnh hưởng tới cuộc sống của cộng đồng.
Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái (HST), các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu.
Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các HST với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm… Giá trị ĐDSH cung cấp khoảng 80% thủy sản khai thác ven bờ, 40% lượng protein cho người dân...
Các HST có tính ĐDSH cao đang thu hút nhiều khách du lịch, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị về kinh tế. 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải giàu tính ĐDSH. Ngoài ra, trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng gia tăng, biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở nên khắc nghiệt hơn thì vai trò ứng phó với BĐKH của các HST càng quan trọng. Tuy nhiên, ĐDSH tại nước ta đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia vừa được Bộ tài nguyên và Môi trường công bố cuối năm 2016, các HST bị tác động và khai thác quá mức; diện tích rừng, nhất là rừng tự nhiên bị thu hẹp một cách báo động.
Tốc độ tuyệt chủng của một số loài ngày một tăng. Hậu quả tất yếu dẫn đến là sẽ làm giảm/mất các chức năng của HST như điều hoà nước, chống xói mòn, tiêu hủy chất thải, làm sạch môi trường, đảm bảo vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trong tự nhiên, giảm thiểu thiên tai/các hậu quả cực đoan về khí hậu. Và cuối cùng là hệ thống kinh tế sẽ bị suy giảm do mất đi các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, môi trường.
Hiện nay, điều đáng lo ngại là chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm. Tuy độ che phủ rừng có xu hướng tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng với mức ĐDSH thấp, trong khi rừng tự nhiên với mức ĐDSH cao nhưng tỷ lệ bảo tồn còn rất thấp.
Báo cáo cũng chỉ ra trong giai đoạn 1990 - 2013, diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng đều tăng lên, tuy nhiên tốc độ tăng hàng năm của diện tích rừng trồng cao hơn khoảng 6 lần tốc độ phục hồi của rừng tự nhiên. Do thời tiết khô hạn diễn ra thường xuyên trong giai đoạn 2011 - 2015 nên hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra tại một số địa phương.
Tính riêng năm 2014, tổng diện tích rừng bị cháy là 3.157ha, tăng 157,2% so với năm trước. Vấn nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều tỉnh nhưng có xu hướng giảm dần. Năm 2011, diện tích rừng bị chặt phá trong cả nước lên tới 6.710,3ha thì đến năm 2014, diện tích rừng bị chặt phá chỉ còn là 870ha, đây là nỗ lực rất lớn của ngành lâm nghiệp.
Tuy nhiên, trong số diện tích rừng bị cháy và bị phá, rừng nguyên sinh vẫn chiếm tỷ lệ lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và tăng các nguy cơ lũ lụt, sự cố môi trường. Diện tích rừng trồng tăng với tốc độ nhỏ hơn tốc độ khai thác. Diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá gây sức ép không nhỏ đối với phát triển lâm nghiệp cũng như đối với môi trường tự nhiên của nước ta khi HST rừng đóng vai trò quan trọng trong hấp thụ và lưu giữ CO2 trong tự nhiên.
Cùng với đó, nhiều nơi diễn ra tình trạng tất rừng do chuyển đổi mục đích, tiêu biểu phải kể đến Tây Nguyên. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), nguồn tài nguyên rừng Tây Nguyên đang bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, đa dạng sinh học rừng cũng bị suy giảm.
Đặc biệt, việc mất rừng còn do chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su với hơn 72.000 ha, chuyển hơn 8.000 ha đất rừng để xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện; đồng thời, làm cho hàng ngàn héc ta rừng bị ngập trong lòng hồ, hàng chục ngàn héc ta rừng bị triệt phá… Công tác quản lý, khôi phục rừng cũng còn nhiều bất cập.
Cụ thể, 55 công ty lâm nghiệp chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp nhưng vẫn hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước, với nguồn nhân lực mỏng, năng lực và trách nhiệm có hạn, cơ chế quản lý bất cập… dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, buông lỏng quản lý rừng để mặc cho “lâm tặc” phá rừng, nhiều diện tích rừng trở nên vô chủ…
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ĐDSH có vai trò vô cùng quan trọng, là nguồn cung cấp cho những dịch vụ sinh thái, từ việc lọc nước cho tới sản xuất thức ăn, chu trình cácbon và những dịch vụ này đáng giá hàng tỉ đô la mỗi năm. Mặc dù ĐDSH có tầm quan trọng như vậy nhưng nó đang đứng trước những mối đe dọa nghiêm trọng.
Những hoạt động của con người đang phá hủy các vùng sinh thái phong phú như: rừng nhiệt đới, vùng đất ngập nước, các rạn san hô, các cánh đồng cỏ, và có nguy cơ biến hành tinh của chúng ta thành một nơi cằn cỗi. Điều này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với chính con người.
Đặc biệt, khi hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực làm cho con người phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng loạt các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống. Tình hình hiện nay cho thấy việc khôi phục bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn ĐDSH, ngăn chặn sự diệt vong của các loài quý hiếm là một việc làm cấp bách.
Các chuyên gia cũng cho rằng, ngoài những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, việc quy hoạch, bảo tồn ĐDSH, trong đó bảo vệ và phát triển rừng ven biển phải đảm bảo ổn định lâu dài. Cần có những cơ chế chính sách hợp lý cho những người tham gia bảo vệ rừng cũng như tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân về tầm quan trọng của rừng ngập mặn.
Theo Cục Bảo tồn ĐDSH (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hiện nay diện tích các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần. Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh. Nhiều loài hoang dã có giá trị bị suy giảm hoàn toàn về số lượng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao. Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều. Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước.
Thực tế ở Việt Nam, công việc chuyển đổi đất, đặc biệt đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp, lương thực vẫn diễn ra hàng năm. Xây dựng các cơ sở hạ tầng như đường, công trình đập thủy điện đã gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư và làm mất các sinh cảnh tự nhiên.
Việc khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt săn bắn, buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã cũng như khai thác thủy sản bằng các biện pháp hủy diệt vẫn tồn tại dường như là thách thức đối với các cấc cấp quản lý bảo tồn ĐDSH.
Do vậy, hoạt động bảo tồn ĐDSH cần được thực hiện thường xuyên, có định hướng cụ thể, để đảm bảo sự cân bằng giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nhu cầu của cộng đồng chung về một môi trường sống lành mạnh.
Để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất, khai thác, buôn bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật…, đồng thời, khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị chỉ đạo quyết liệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Các lực lượng liên ngành (kiểm lâm, công an, quân đội) duy trì hoạt động, thực hiện quy chế, phương án phối hợp chặt chẽ, tổ chức thường trực tại hiện trường, thường xuyên phối hợp chính quyền cơ sở, hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép, kiên quyết xóa bỏ các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng; rà soát, kiểm kê, thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm; sử dụng sai mục đích, hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật để phục hồi rừng, đặc biệt tại các công ty, doanh nghiệp lâm nghiệp. (Đảng Cộng Sản VN 3/1)đầu trang(
Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các quốc gia đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Bên cạnh sự đe dọa về sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật, trong năm 2016, ở nhiều địa phương đã phát hiện một số loài động vật quý hiếm, hoặc thả nhiều động vật quý hiếm về tự nhiên.
Mới đây, Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân (Thừa Thiên - Huế) cho biết, trong 2 ngày 8 và 9/11, các cán bộ của đơn vị đã phát hiện đàn vọoc ngũ sắc với số lượng hơn 70 con về trú ngụ tại khoảnh 9, tiểu khu 250, khu vực Hố Nai và ở 2 khu vực thuộc khoảnh 14, tiểu khu 250 và khoảnh 3,5 tiểu khu 251, thuộc khu vực rừng Bắc Hải Vân ở thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Theo các chuyên gia, voọc ngũ sắc còn gọi là voọc chà vá chân nâu có tên khoa học Pygathrix nemaeus thuộc loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Hiện Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân đang thực hiện các phương án bảo vệ và khảo sát đánh giá để bảo tồn đàn voọc này.
Rừng khu vực Bắc Hải Vân có diện tích gần 10.500 ha, trải dài từ đèo Phước Tượng đến đèo Hải Vân. Xuất phát từ một nhánh của dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy thẳng ra Biển Đông, thành điểm cuối rừng miền Trung kể từ Lào nên Hải Vân trở thành “lá chắn” giữa 2 miền khí hậu, thổ nhưỡng Bắc-Nam. Chính vì vậy, đây cũng là vùng rừng núi có sự đan xen của nhiều loài động, thực vật ở hai khu vực Bắc - Nam.
Trước đó, vào khoảng tháng 3/2016, một sự kiện hi hữu đã xảy ra tại Vườn quốc gia Tràm Chim (huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp). Đó là khi các nhà khoa học phát hiện một con sếu đầu đỏ sau 18 năm di trú nơi khác đã bất ngờ quay về Vườn quốc gia Tràm Chim. Theo ông Nguyễn Văn Hùng- Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim, điều khiến cán bộ, nhân viên Vườn quốc gia vui và ngỡ ngàng là lần trở về này, con sếu còn dẫn theo “vợ” và 2 con dưới 1 năm tuổi. Gia đình sếu 4 thành viên hiện khỏe mạnh và có mặt tại các khu A1, A4 và A5 của Vườn quốc gia.
Để có thể xác định chính xác điều này, theo ông Hùng, là vì ngày 14/3/1998, Hội Sếu quốc tế, Viện Nghiên cứu điểu học Hoàng gia Nhật Bản, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (Trường ĐHQG Hà Nội) cùng Ban Quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim đã bắt cá thể sếu này, đeo máy định vị và vòng số 150 - 036 cho sếu, khi đó sếu mới 3 tuổi.
Có thể nói, từ tín hiệu này cho thấy, điều kiện tự nhiên, môi trường ở Vườn quốc gia Tràm Chim đã tốt hơn, vì vậy, hy vọng thời gian tới, sếu đầu đỏ tiếp tục về vùng đất lành này nhiều hơn nữa.
Trong thời gian qua, ở nhiều tỉnh, thành đã diễn ra những hoạt động thả động vật quý về với tự nhiên, hoặc bán tự nhiên. Ví dụ như hồi đầu tháng 9/2016, Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã - Save Vietnam’s Wildlife, tiến hành tái thả thành công 33 cá thể tê tê Java về môi trường tự nhiên, tại Vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai. Đây là những cá thể tê tê quý hiếm được cứu hộ từ một vụ tịch thu 255kg tê tê được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh chuyển giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội chăm sóc…
Trung tuần tháng 11/2016, Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) cũng đã bàn giao 1 cá thể vượn đen má vàng cho Trung tâm Cứu hộ linh trưởng Vườn Quốc gia Cát Tiên. Trước đó, ngày 28/10, Trung tâm Cứu hộ bảo tồn phát triển sinh vật Hoàng Liên đã tổ chức thả 7 cá thể động vật thuộc 5 loài quý hiếm về với môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Những cá thể động vật được thả trong đợt này bao gồm 2 nhóm khỉ và rắn như khỉ mốc, khỉ vàng...
Mới đây, ngày 13/12, Ban Quản lý các cảng cá tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Đồn Biên phòng Cửa Sót và chính quyền xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) thả một cá thể rùa biển quý về với đại dương. Cá thể rùa này được một ngư dân sống trên địa bàn xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) bắt được, trong lúc dùng lưới đánh cá tại vùng biển Cửa Sót…
Nhắc lại một số sự kiện như trên, chúng ta có thể thấy vấn đề chung tay bảo vệ môi trường sống cho các loại động vật hoang dã là hết sức quan trọng. Chỉ khi thật sự có môi trường sống bình yên, các loài động vật mới có thể trở về. Và dù là các loài động vật, nhưng mỗi loài đều muốn gắn bó với những nơi chốn được sinh ra, lớn lên. Vì thế, công cuộc bảo vệ môi trường rất cần được quan tâm, để môi trường sống của các loại không bị đe dọa.
Theo các chuyên gia, mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài, hệ thống động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được 310 loài thú, 870 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó là hàng chục loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và ở nước ngọt…
Theo một thống kê đã công bố, trong hơn 10 năm qua Việt Nam đã phát hiện được nhiều loài động vật cỡ lớn và trung bình mới cho khoa học trong đó có 5 loài thú, 3 loài chim và 2 loài cá.
Việc làm suy thoái các hệ sinh thái, như mất rừng, đất ngập nước đã làm mất nơi cư trú và nhiều loài động, thực vật quý cũng đang bị suy thoái theo, thậm chí một số loài đang trên đường bị tuyệt chủng. Vì thế, hơn lúc nào hết, việc bảo vệ môi trường sống cho các loài động thực vật phát triển là yếu tố vô cùng quan trọng để gìn giữ sự đa dạng sinh học. (Đại Đoàn Kết 4/1)đầu trang(
Đó là thông tin chính thức vừa được Hội đồng xét duyệt Cây Di sản Việt Nam đưa ra trong phiên họp ngày 29/12 tại Hà Nội (phiên họp cuối cùng của năm 2016).
Trong phiên họp này, Hội đồng xét duyệt đã thống nhất đưa 41 cây cổ thụ (trong đó có 2 loài cây mới) vào danh sách đề nghị Chủ tịch Trung ương Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thông qua sau thời gian nghiên cứu thẩm tra.
41 cây cổ thụ lọt vào danh sách Cây Di sản Việt Nam chờ được thông qua đợt này thuộc các tỉnh gồm (TP. Hải Phòng, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Nghệ An và tỉnh Thái Nguyên), theo đó Hải Phòng có 11 cây, Bắc Ninh có 6 cây, Hoà Bình có 10 cây, Nghệ An có 12 cây và Thái Nguyên có 2 cây.
Tỉnh Nghệ An với 10 cây Sa mu dầu khổng lồ chu vi từ 5,8-7,0m; chiều cao: 45-50m ở tiểu khu (xã Tam Hợp) thuộc khu vực phòng hộ huyện Tương Dương, đã dẫn đầu danh sách có cây cổ thụ được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại tỉnh Nghệ An, trong khuôn viên đền Vạn-Cửa Rào, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương đã giới thiệu cây Đa tía trên 700 năm và một loài cây mới góp mặt vào danh sách Cây Di sản Việt Nam đó là cây Me keo.
Tỉnh Hoà Bình có 3 cây thuộc loài mới là cây Mắc môi ở thôn Hịch 1, xã Mai Hịch và thôn Tòng, xã Tòng Đậu, Pom Cọong (thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu). Hai cây Xà Pùng khổng lồ (chu vi thân 15m) ở thôn Vãng và thôn Pom Cọong cũng được Hội đồng xét công nhận đủ tiêu chuẩn Cây Di sản Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng cần thẩm tra lại hoa, lá để xác định chính xác tên khoa học và loài cây. Ngoài ra, còn có cây Đa hơn 200 năm ở thôn Ngoã, xã Mai Hịch; cây Thị hơn 300 năm (chu vi thân hơn 5m) tại thôn Pom Cọong, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu và cây Sanh hơn 400 năm ở thôn Đồng Dặt, xã Đa Bình, huyện Lạc Thuỷ.
Hội đồng cũng đã nhận được hồ sơ cây xin xét công nhận là Cây Di sản Việt Nam của Hải Phòng, chủ yếu là những cây cổ thụ khu vực Từ Lương Xâm, phường Nam Hải, quận Hải An- một địa danh nổi tiếng gắn với những chiến công lừng lẫy chống giặc ngoại xâm phương Bắc trên sông Bạch Đằng.
Cũng tại buổi họp, Hội đồng đã nhất trí công nhận 01 cây Đa, 03 cây Gạo và rặng Ruối (7 cây) ở đây đạt tiêu chuẩn Cây Di sản Việt Nam.
Trong khuôn khổ buổi xét công nhận, tỉnh Bắc Ninh với quần thể đại mộc thụ gồm: 01 cây Bồ đề, 03 cây Đa, 01 cây Trôi và 01 cây Sanh thuộc khuôn viên di tích Đình-Đền-Chùa làng Đồng Kỵ cũng được Hội đồng công nhận đủ tiêu chuẩn Cây Di sản Việt Nam.
Riêng tỉnh Thái Nguyên với cây Lan tua (hay Y Lan) trên 100 năm và cây Đa cổ thụ trên 200 năm (thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá) được Hội đồng công nhận đạt tiêu chuẩn Cây Di sản Việt Nam đã chính thức trở thành đơn vị cấp tỉnh, thành phố thứ 50 của nước ta có Cây Di sản Việt Nam.
Như vậy, nếu được Chủ tịch Trung ương Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thông qua, số lượng Cây Di sản Việt Nam tính đến hết năm 2016 sẽ là 2.665 cây. (Khoa Học & Đời Sống 4/1)đầu trang(
Ngày 4/1, thông tin từ Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC 49) Công an Nghệ An cho biết, đơn vị vừa phá chuyên án mang bí số 916R, thu giữ một lượng lớn gỗ Đinh Hương (thuộc nhóm 2A) nhập lậu trái phép từ Lào về Việt Nam.
Theo đó, vào khoảng 4h30’ ngày 3/1, lực lượng đội 3, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC 49) Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành chốt chặn trên quốc lộ 48, đoạn qua địa bàn xã Châu Tiến, huyện Qùy Châu Nghệ An. Tổ công tác tiến hành kiểm tra 2 hai xe ô tô tải biển kiểm soát Lào do 2 tài xế mang Quốc tịch Lào là Khăm Xẻng Đa La Vông (SN 1980) và Khăm Phăn Xỏn Thoong Xí (SN 1985) điều khiển.
Sau khi bốc dỡ các bao tải chất đầy ngô, lúa xuống thì lực lượng chức năng phát hiện khoảng 51 m3 gỗ Đinh Hương xẻ, thuộc nhóm 2A.
Bước đầu, các tài xế khai nhận, số gỗ này được một người quê ở huyện Diễn Châu thuê vận chuyển từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu Thông Thụ, huyện Quế Phong. Tại thời điểm kiểm tra, tài xế không xuất trình được thủ tục hợp lệ về lô hàng nói trên nên Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC 49) công an Nghệ An đã lập biên bản tạm giữ phương tiện và tang vật đồng thời bàn giao cho vụ việc cho cơ quan chức năng tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Pháp Luật Plus 5/1)đầu trang(
Các dự án kinh tế - quốc phòng của nông lâm trường 196 thuộc Đoàn 338, Quân khu I đã góp phần xóa đói giảm nghèo, đời sống của đồng bào các dân tộc huyện Tràng Định, Văn Lãng, Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn ngày càng được cải thiện. Nhờ đó, nhân dân nhận thức rõ hơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Quân đội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa biên giới.
Sau 16 năm nông lâm trường thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ, hàng nghìn ha đất trống, đồi núi trọc đã được phủ xanh. Rừng trồng luôn được nhân dân chăm sóc và bảo vệ tốt, đem lại hiệu quả thiết thực trong việc phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Thượng tá Đặng Văn Sơn, Chính ủy Nông Lâm trường 196 cho biết: Đơn vị xác định rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học; đặc biệt là có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.
Vì vậy, trước khi triển khai dự án trồng rừng, đơn vị đã phối hợp với các địa phương trao đổi, bàn bạc, thống nhất cụ thể sau đó xuống tận các thôn bản, tổ chức họp dân, phổ biến kiến thức, chế độ, chính sách về trồng rừng và các quyền lợi được hưởng.
Trong quá trình thực hiện, đơn vị thường xuyên cử cán bộ trực tiếp xuống thực địa, hướng dẫn nhân dân kỹ thuật phát băng, cuốc hố, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; đồng thời cùng cán bộ thôn, xã và Ban dự án của Đoàn 338 kiểm tra, nghiệm thu, phúc tra theo kế hoạch.
Từ năm 2001 đến nay, đơn vị đã tổ chức cho nhân dân trồng 1.990,44 ha rừng phòng hộ, với 898 lượt hộ tham gia; khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên được 617,60 ha. Hiện tại, rừng trồng từ năm 2001 đến năm 2009 đã được bàn giao cho địa phương và hộ gia đình quản lý, khai thác sử dụng với 1.605,08 ha.
Không chỉ hoàn thành tốt dự án trồng rừng, đơn vị còn trực tiếp hỗ trợ cho các gia đình về vật nuôi, cây trồng và vật liệu xây dựng, góp phần giải quyết khó khăn trước mắt, nhanh chóng ổn định đời sống và có định hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Trong quá trình triển khai thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho đồng bào, cán bộ các đội cơ sở phối hợp với chính quyền các xã, các thôn, bản đánh giá, lựa chọn đúng đối tượng, công khai danh sách trước nhân dân để bình xét, đảm bảo chính sách công bằng dân chủ.
Trong phát triển kinh tế, đơn vị đã hỗ trợ cho nhân dân các xã về giống cây trồng như lúa, ngô lai, cây ăn quả... và phân bón để trồng hàng chục hécta mang lại hiệu quả kinh tế cao. Cùng với đó, đơn vị hỗ trợ hàng trăm con trâu, bò, lợn, gà tới tận từng hộ nhằm giúp đỡ nhân dân phát triển chăn nuôi ở địa phương.
Thượng tá Đặng Văn Sơn khẳng định: Những kết quả đạt được của Nông Lâm trường 196 trong thực hiện các dự án hỗ trợ sản xuất cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa biên giới có tác động rất tích cực đến chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh của địa phương trong vùng dự án.
Các hộ gia đình tham gia thực hiện dự án đa số đều có tinh thần trách nhiệm cao trong việc chăm sóc vật nuôi, cây trồng, do vậy đời sống kinh tế của đồng bào ngày càng được nâng cao. Từ đó, đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, góp phần tăng cường, củng cố xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. (Tin Tức 4/1)đầu trang(
Hình ảnh chú hải cẩu thường xuyên lên bờ biển ở Bình Thuận chơi, đùa giỡn với người dân bị đánh chết với nhiều vết thương trên đầu gây bức xúc trong dư luận. Câu hỏi được đặt ra là những người đánh chết hải cẩu có vi phạm pháp luật hình sự hay không và phải chịu trách nhiệm ra sao?
Theo quy định của Điều 190 Bộ luật Hình sự 1999 thì người nào săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…
Nhưng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ban hành năm 2009 lại quy định người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…
Theo Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì Hải cẩu được xác định thuộc Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Nhưng theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì Hải cẩu không nằm trong danh sách các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Như vậy, hành vi giết hải cẩu không bị xử lý hình sự về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Điều 190 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Về xử phạt hành chính thì hiện có Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11.11.2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhưng chưa có Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã biển… Đây là những điều bất cập của quy định pháp luật Việt Nam trong vấn đề này.
Về pháp luật là thế, nhưng xét dưới góc độ xã hội, người có hành vi đánh chết con hải cầu trên rất thiếu ý thức về việc bảo vệ động vật hoang dã, thiếu tình yêu với thiên nhiên. Những hành vi như thế sẽ không góp phần giáo dục được tình yêu thiên nhiên với các em thiếu nhi và cần phải lên án quyết liệt. (Lao Động 4/1)đầu trang(
Thời gian gần đây, ở nước ta tình hình buôn lậu nói chung và buôn lậu ngà voi xuyên quốc gia nói riêng có những diễn biến phức tạp.
Các đối tượng buôn lậu sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm qua mặt các lực lượng chức năng. Để ngăn chặn tình trạng này cần sự vào cuộc tích cực của các lực lượng chức năng, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm.
Nhiều vụ buôn lậu ngà voi bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ tại cảng Cát Lái, TP Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ châu Phi và cùng một thủ đoạn cất giấu trong ruột các hộp gỗ xẻ và ngụy trang để lẫn với hàng chục hộp gỗ khác trong các công-ten-nơ. Vào đầu tháng 10-2016, Công ty TNHH thương mại dịch vụ Diệu Tiên (quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) mở tờ khai hải quan 2 công-ten-nơ hàng hóa, ghi có 44,50m3 gỗ xoan đào xẻ hộp mới 100%, xuất xứ từ Cộng hòa Mô-dăm-bích (châu Phi).
Tờ khai được hệ thống phân luồng vàng (chỉ kiểm tra hồ sơ tờ khai, không kiểm tra hàng hóa). Ông Vũ Việt Tiến, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 (Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh) cho biết: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Đội thủ tục hàng hóa, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 nghi vấn lô hàng trên, nên đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, máy soi chiếu kiểm tra và phát hiện ngà voi được giấu trong các hộp gỗ bị đục rỗng, dán kín bằng các đinh vít, chèn chặt mùn cưa.
Cuối tháng 10-2016, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74), Bộ Công an và Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Nhà Rồng thuộc Biên phòng cửa khẩu cảng TP Hồ Chí Minh (Bộ chỉ huy BĐBP TP Hồ Chí Minh) đã dùng máy soi chiếu kiểm tra 2 công-ten-nơ gỗ của Công ty Cổ phần sản xuất thương mại Đào Gia, có địa chỉ tại 2019/10A Đất Thánh, phường 6, quận Tân Bình nhập khẩu từ châu Phi về cảng Cát Lái, nhưng không phát hiện nghi vấn.
Thế nhưng, khi mở từng hộp gỗ thì các cơ quan chức năng phát hiện bên trong 14 hộp gỗ có chứa ngà voi và vẩy tê tê. Thủ đoạn mà các đối tượng áp dụng là đục, khoét rỗng các hộp gỗ rồi cất giấu ngà voi, vẩy tê tê vào trong, sau đó đổ sáp, keo dán chặt ngà voi vào thân gỗ nên đã “che mắt” máy soi.
Cũng trong tháng 10-2016, lực lượng chức năng đã bắt giữ thêm 3 lô hàng với hơn 3,5 tấn ngà voi giấu trong các hộp gỗ. Đầu tháng 11-2016, lực lượng chống buôn lậu lại phát hiện bắt giữ hơn 400kg ngà voi tại cảng Cát Lái.
Thiếu tá Trịnh Hoàng Hùng, Phó trạm trưởng, Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Nhà Rồng cho biết: Trong các chuyên án chống buôn lậu ngà voi vừa qua, Bộ đội Biên phòng cửa khẩu cảng Nhà Rồng đã huy động lực lượng phối hợp chặt chẽ với hải quan, công an để cùng tiến hành kiểm tra, bảo vệ hiện trường, tang vật của vụ án.
Theo Trung tướng Đồng Đại Lộc, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an: “Những vụ buôn lậu ngà voi bị phát hiện cho thấy tính chất hết sức nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi. Đối tượng buôn lậu dùng nhiều phương thức, thủ đoạn để đánh lừa các cơ quan chức năng. Sau khi nhập vào nước ta, phần lớn ngà voi sẽ được vận chuyển qua nước thứ ba (chủ yếu là Trung Quốc) thông qua đường bộ”.
Từ những chuyên án nêu trên cho thấy, tình trạng buôn lậu ngà voi ở nước ta đang diễn biến phức tạp. Hầu hết các công ty đứng tên nhận các lô hàng này đều là công ty “ma”. Khi cơ quan chức năng tiến hành xác minh thì địa chỉ đăng ký kinh doanh của các công ty này là “ảo”, đó chỉ là tiệm tạp hóa, nhà thuốc, quán ăn…
Do đó, việc truy tìm chủ nhân các lô hàng gặp không ít khó khăn. Chính vì vậy, để ngăn chặn, triệt phá hành vi buôn lậu này rất cần sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, trong đó vai trò quan trọng nhất là lực lượng hải quan và kiên quyết xử lý nghiêm minh các đối tượng có hành vi vi phạm. (Quân Đội Nhân Dân 4/1)đầu trang(
Sáng 3.1, Hạt Kiểm lâm huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã tiến hành thả con vích (tên gọi khác là đồi mồi dứa, tráng bông, rùa xanh) về lại môi trường biển.
Theo Hạt kiểm lâm huyện Bình Đại, con vích này cân nặng 7kg, dài 50cm, ngang mai rộng khoảng 40cm, đầu có đôi vẩy trước trán, có 4 vẩy sau mắt, mai lưng phủ những tấm sừng có màu nâu ô liu rất đẹp.
Theo lời ông Nguyễn Văn Nhân (SN 1969, ngụ ấp Thới Lợi 1, xã Thới Thuận, huyện Bình Đại), vào ngày 31.12, trong khi đang nuôi hàu ngoài khu vực Cồn Chày Mười (xã Thới Thuận), ông phát hiện có con vích trôi dạt vào bãi hàu.
Thấy con vật lạ nên ông Nhân bắt mang về nhà nuôi nhốt. Sau đó, biết đây là loài động vật rất quý hiếm nên ông Nhân có ý định thả con vích này về với môi trường biển nên trình báo và giao con vích này lại cho Hạt Kiểm lâm huyện Bình Đại.
Sau khi tiếp nhận, con vích đã được Hạt Kiểm lâm thả trở lại biển Thới Thuận cách đất liền khoảng 10km nhằm bảo tồn loài động vật hoang dã quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Bình Đại, cách nay vài năm, ngành kiểm lâm tỉnh cũng đã tiến hành thả một con vích tương tự nặng khoảng 70kg về với môi trường biển Thạnh Phú (Bến Tre). (Lao Động 4/1; Dân Trí 4/1)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đóng cửa rừng tự nhiên, rừng phải có chủ thật sự là 2 quyết sách quan trọng nhất lãnh đạo tỉnh Quảng Nam nhiều thời kỳ nhằm quyết tâm gìn giữ môi trường bền vững, hạn chế lũ lụt, bảo đảm nguồn nước cho sản xuất và tạo sinh kế lâu dài cho đồng bào DTTS vùng cao.
Từ năm 2010, Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết 14-NQ/TU về tăng cường các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng, đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, vận động các dự án ODA lâm nghiệp, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trồng rừng nguyên liệu theo hướng sản xuất hàng hóa, phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần phát triển KT - XH miền núi, tạo việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào, đồng thời giảm áp lực vào rừng tự nhiên. Thực hiện giao rừng, cho thuê rừng để rừng thật sự có chủ, gắn quyền lợi và trách nhiệm của người dân với quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, rà soát các quyết định giao đất lâm nghiệp không đúng đối tượng, sử dụng không đúng mục đích để thu hồi. Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa, tổ chức cắm mốc ranh giới 3 loại rừng ngoài thực địa để quản lý, bảo vệ.
Đến nay, các Ban Quản lý rừng (7 BQL rừng phòng hộ, 2 BQL rừng đặc dụng) đã hoàn thành 892/2.603 mốc và 105/161 bảng ranh giới lâm phận, bước đầu tạo thuận lợi trong công tác quản lý và bảo vệ rừng vùng giáp ranh. Rà soát, sắp xếp và quy hoạch mạng lưới cơ sở cưa xẻ gỗ trên địa bàn, xử lý nghiêm minh các cơ sở sản xuất, kinh doanh gỗ bất hợp pháp.
Ngành chức năng cũng đã đẩy mạnh rà soát quy hoạch hệ thống thủy điện theo hướng sử dụng thích hợp tài nguyên nước, bảo đảm phát triển bền vững lưu vực và vùng hạ lưu các hệ thống sông của tỉnh và khu vực lân cận, loại khỏi quy hoạch các dự án thủy điện có tác động xấu đến môi trường, thảm thực vật, diện tích rừng và đất sản xuất, các khu bảo tồn thiên nhiên.
Đẩy mạnh trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng đã mất do thực hiện dự án thủy điện, khu công nghiệp, đường giao thông... Đến tháng 12.2016, đã trồng được 1.690,31ha, đạt 93,6%. Kiểm soát chặt chẽ, tiến đến chấm dứt khai thác khoáng sản ảnh hưởng đến rừng.
Cùng với đó, hỗ trợ nâng cao đời sống cho đồng bào DTTS bằng việc đẩy mạnh giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp.
Đến nay, đã giao 487.430ha/719.922ha tổng diện tích đất lâm nghiệp, đạt 67,70%. Thực hiện khoán, bảo vệ rừng 357.300ha, tạo việc làm, tăng thu nhập cho 21.218 hộ gia đình thuộc địa bàn 70 xã/11 huyện, hầu hết đồng bào DTTS được nhận khoán bảo vệ rừng; diện tích trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất mỗi năm khoảng 1.000ha.
Từ những nỗ lực trên, độ che phủ rừng Quảng Nam tăng liên tục qua các năm: Từ 42,5% năm 2005 lên 56,1% cuối năm 2016; giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc, gắn các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững với các chương trình, dự án lớn phát triển vùng tây Quảng Nam theo Nghị quyết 05 - NQ/TU ngày 17.8.2016 của Tỉnh ủy.
Để khai thác thế mạnh từ tài nguyên rừng, HĐND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào khu vực miền núi: Nghị quyết 179/2015/NQ-HĐND ngày 11.12.2015 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp có liên kết với người dân trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung; hỗ trợ trồng dược liệu, hỗ trợ nuôi trồng thủy sản trên hồ thủy điện, thủy lợi, sông, biển; hỗ trợ đầu tư cơ sở chế tạo, bảo quản, chế biến nông, thủy sản... Đặc biệt, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, vùng núi được hưởng mức hỗ trợ cao hơn.
Nghị quyết 114/2014/NQ-HĐND ngày 11.7.2014 của HĐND tỉnh về cơ chế khuyến khích, bảo tồn, phát triển Sâm Ngọc Linh giai đoạn 2014 - 2020. Mục tiêu là bảo tồn nguồn gens gốc sâm Ngọc Linh, tạo ra các sản phẩm dược liệu từ cây sâm mang thương hiệu đặc trưng Quảng Nam; khẳng định thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước, bảo hộ quyền lợi người sản xuất và tiêu dùng.
Đồng thời, chuyển hướng sản xuất, cơ cấu cây trồng, hình thành phương thức sản xuất hàng hóa trên địa bàn miền núi, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nhân dân trong vùng, thực hiện được giải pháp gắn quyền lợi hộ nông dân với rừng; tạo điều kiện để nhân dân bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường sinh thái, đa dạng sinh học. Phấn đấu đến năm 2020, sản xuất 9 triệu cây sâm giống, diện tích lũy kế vùng trồng mới sâm đạt 150ha.
Với nỗ lực gìn giữ, bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh, ngày 16.8.2016 Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học - Công nghệ có Quyết định số 3235/QĐ-SHTT, cấp giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ của tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Đây là cơ sở pháp lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát, khai thác tốt chỉ dẫn địa lý sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, lâu dài và bền vững.
Nghị quyết 168/2015/NQ-HĐND ngày 7.7.2015 của HĐND tỉnh về cho thuê môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh trên địa bàn, tạo điều kiện thu hút, khuyến khích các tổ chức kinh tế, cá nhân tham gia bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh quy mô lớn; khuyến khích đầu tư cơ sở sản xuất, chế biến, bao tiêu sản phẩm, nhằm bảo đảm lợi ích lâu dài cho người trồng sâm. Đến nay, đã có 4 doanh nghiệp thuê môi trường rừng để trồng sâm với diện tích gần 50ha.
Nghị quyết 202/2016/NQ-HĐND ngày 26.4.2016 của HĐND tỉnh về cơ chế khuyến khích bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu trên địa bàn giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, tập trung bảo tồn chủ động để bảo vệ nguồn gene, sản xuất cây giống, trước mắt tập trung vào 3 cây: Đẳng sâm, Ba kích tím, Sa nhân tím, khuyến khích đầu tư và hỗ trợ phát triển một số dược liệu khác có giá trị cao trên cơ sở điều kiện gây trồng, nhu cầu thị trường và khả năng nguồn lực ngân sách; xây dựng cơ sở sản xuất giống dược liệu chất lượng cao, phục vụ sản xuất, phát triển sinh kế cho nhân dân thông qua nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng, góp phần cải thiện và tăng thu nhập cho đồng bào DTTS miền núi.
Với các cơ chế khuyến khích hỗ trợ vượt trội, sát thực tiễn, đi vào cuộc sống, tạo sự lan tỏa rộng lớn đối với phát triển KT - XH vùng tây Quảng Nam, giờ đây rừng Quảng Nam đã có chủ thật sự, đồng bào gắn bó với rừng, giữ rừng, đi lên từ rừng và ngược lại, rừng cưu mang đồng bào cả vùng cao và đồng bằng. (Đại Biểu Nhân Dân 4/1)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 168/NĐ-CP về khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và Công ty TNHH MTV nông lâm nghiệp Nhà nước.
Hai hình thức giao khoán được áp dụng gồm: Khoán công việc, dịch vụ và khoán ổn định. Cụ thể, khoán công việc, dịch vụ: Trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; sản xuất theo năm hoặc theo thời vụ thu hoạch đối với vườn cây và mặt nước trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Khoán ổn định: Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên theo biện pháp kỹ thuật lâm sinh (không áp dụng hình thức khoán này trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng); khoán theo chu kỳ cây trồng, vật nuôi hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh đối với diện tích rừng trồng, vườn cây, mặt nước.
Thời hạn khoán theo Nghị định số 168 được quy định chi tiết. Cụ thể, đối với khoán dịch vụ công việc: Thời hạn theo thỏa thuận giữa bên khoán và bên nhận khoán, nhưng tối đa không quá 1 năm và trong thời hạn bên khoán được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp.
Thời hạn khoán ổn định: Theo chu kỳ cây trồng vật nuôi hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc theo thỏa thuận giữa bên khoán và bên nhận khoán, nhưng tối đa không quá 20 năm và trong thời hạn bên khoán được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp.
Đói với hạn mức khoán, Nghị định số 168 của Thủ tướng Chính phủ quy định: Không quá 15ha cho cá nhân; không quá 30ha cho hộ gia đình và không quá 30ha cho cộng đồng dân cư thôn. (Kinh tế & Đô thị 4/1)đầu trang(
Chiều 4.1, Hội đồng quản lý (HĐQL) Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Quỹ) tỉnh tổ chức hội nghị đánh giá công tác năm 2016, triển khai nhiệm vụ 2017.
Đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch HĐQL Quỹ chủ trì.
Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ngành, thành viên HĐQL…Theo số liệu thống kê của Quỹ, tổng diện tích rừng được giao khoán, nhận tiền bảo vệ rừng (BVR) có cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) năm 2016 trên 275 nghìn ha, chiếm trên 60% diện tích rừng toàn tỉnh với 4 chủ rừng thuộc tổ chức Nhà nước, hơn 1.500 chủ rừng cộng đồng dân cư.
Trong đó, diện tích của các chủ rừng tổ chức Nhà nước trên 35,4 nghìn ha; rừng khoán các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, thông qua các đơn vị được giao làm đầu mối chi trả cấp huyện, thành phố gần 240 nghìn ha. Năm 2016, tổng số tiền thu được từ các đơn vị, tổ chức có sử dụng dịch vụ trên 115 tỷ đồng, số chi trả DVMTR trên 55 tỷ đồng.
Thông qua thực hiện chính sách chi trả DVMTR, người dân đã dần có ý thức BVR, số vụ vi phạm ngày càng giảm, hầu hết các vụ việc liên quan đều được người dân, chính quyền địa phương kịp thời phát hiện, xử lý nên đã hạn chế thấp nhất thiệt hại. Thực hiện chính sách chi trả DVMTR, người dân có thu nhập ổn định thông qua nhận khoán BVR, mức trung bình đạt gần 130 nghìn đồng/ha/năm.
Ngoài hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nhận khoán, một số huyện còn định hướng sử dụng tiền DVMTR để xây dựng hạng tầng, đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội, phục vụ lợi ích chung như: Mở mới và tu sửa đường giao thông nông thôn; xây dựng, tu sửa, làm mới nhà văn hóa, trụ sở thôn, điểm trường, cầu cống; gây quỹ thôn, cho vay vốn phát triển kinh tế gia đình...
Năm 2017, Quỹ dự kiến thu trên 55,3 tỷ đồng, trong đó thu từ DVMTR theo kế hoạch trên 39 tỷ đồng, thu hồi số tiền DVMTR các đơn vị sử dụng còn nợ 2 năm 2015-2016 trên 16 tỷ đồng.
Đồng thời, phối hợp với các đơn vị sử dụng DVMTR đàm phán, ký phụ lục hợp đồng theo đúng quy định; đôn đốc các đơn vị sử dụng DVMTR nộp tiền đúng kỳ hạn cam kết; hướng dẫn các huyện, thành phố, các tổ chức chi trả cấp huyện thực hiện nghiệm thu kết quả BVR, hoàn thiện thủ tục, lập hồ sơ đề nghị thanh toán tiền DVMTR; tăng cường kiểm tra, giám sát công tác BVR, nghiệm thu, thanh toán tiền chi trả DVMTR.
Phát biểu tại buổi họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh, hoạt động của Quỹ năm vừa qua đã có nhiều đổi mới, chất lượng và khoa học, phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, có những vấn đề tồn tại qua các năm, nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp xử lý hiệu quả như việc nợ đọng tiền DVMTR, trồng rừng thay thế đạt kết quả thấp, công tác kiểm tra, giám sát tại cơ sở chưa cao...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị, trong Quý I.2017 từng thành viên HĐQL Quỹ sẽ làm việc với các huyện, thành phố nhằm triển khai công tác năm, giải quyết những vướng mắc phát sinh; bàn giao dứt điểm việc thực hiện chi trả DVMTR cho lực lượng Kiểm lâm; đối với diện tích trồng rừng thay thế chưa triển khai, sẽ bàn giao cho các huyện thực hiện; làm việc với 2 đơn vị còn nợ tiền DVMTR nhằm giải quyết vấn đề nợ đọng... (Báo Hà Giang 4/1)đầu trang(
Thực hiện chủ trương của Nhà nước, từ năm 2011 đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã tiến hành thu trên 34 tỷ đồng phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng trên các lưu vực thủy điện và hỗ trợ trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh, đồng thời tiến hành chi trả trên 10,8 tỷ đồng chi phí dịch vụ môi trường rừng.
Hiện tại, có 5 nhà máy thủy điện vừa, nhỏ và 1 công ty cấp thoát nước Quảng Trị thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, đóng góp nguồn kinh phí tương đối lớn phục vụ cho công bảo vệ và phát triển rừng. Từ nguồn đóng góp này, tỉnh đã tiến hành chi trả kịp thời phí bảo vệ môi trường rừng cho các chủ rừng và người dân.
Thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, mỗi năm có khoảng 8.500 ha rừng tự nhiên và rừng trồng trên lưu vực Công ty thủy điện Quảng Trị được quản lý bảo vệ tốt; hơn 1 triệu cây trồng phân tán (tương đương 500 ha rừng trồng tập trung) được bố trí trồng trên địa bàn 8 huyện, thị xã và khoảng 250 ha trồng rừng thay thế, giảm chi ngân sách nhà nước khoảng 5-8 tỷ đồng/năm phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Hiện tại, tỉnh Quảng Trị đang tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn rà soát, điều tra chủ rừng cho các lưu vực nhà máy thủy điện nhỏ trên địa bàn huyện Hướng Hóa và Đakrông để có kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng trong các lưu vực này. (Báo Quảng Trị 5/1)đầu trang(
Tổng cục Quản lý đất đai cho biết, trong năm 2016, Tổng cục đã tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai đối vói 4 nông, lâm trường tại Gia Lai và Đắk Nông.
Kết quả là đã phát hiện sai phạm tại cả 4 nông lâm trường. Cụ thể, có 2 đơn vị chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục về quản lý đất đai (ký hợp đồng thuê đất, đăng ký biến động sau khi Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích); 3 đơn vị không lập quy hoạch chi tiết, không thực hiện theo đúng nội dung trong đề án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp theo Nghị định 170 năm 2004 và Nghị định 200 năm 2004 của Chính phủ; có 1 đơn vị giao đất trái thẩm quyền, sử dụng đất sai mục đích với diện tích l,7297ha cho cán bộ công nhân viên làm nhà ở, 1 đơn vị chưa thực hiện việc chuyển từ hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất với diện tích 1.652,68ha và 1 đơn vị cho thuê trái pháp luật diện tích 130m2. (Công An Nhân Dân 3/1)đầu trang(
Tình trạng mua bán, chuyển nhuợng “chui” và sử dụng trái mục đích hàng ngàn ha đất lâm nghiệp, đất rừng tại một số huyện miền núi Nghệ An đang diễn ra ngang nhiên, chưa được xử lý.
Tại huyện miền núi Quỳ Châu, tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui”, chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất rừng xảy ra ở nhiều thôn bản Pà Cọ, Kẻ Nính, Định riến, Tà Cọ (xã Châu Hạnh). Ở đây, dân được giao đất rừng theo Nghị định 163 của Chính phủ từ những năm 2003 - 2004 nhưng lại ngang nhiên bán cho doanh nghiệp với giá rẻ. Trưởng bản Pà Cọ, ông Hà Văn Linh cho biết: “Có khoảng 45 hộ đã bán đất rừng cho doanh nghiệp. Sau khi mua được của dân số đất rừng này doanh nghiệp đã đưa máy móc, thiết bị mở đường phá rừng trồng keo”.
Tại huyện Con Cuông, xã Bình Chuẩn có 85 hộ đã chuyển nhượng “chui” 1.100,5 ha đất rừng xã Thạch Ngàn 59 hộ đã chuyển nhượng “chui” 629,9 ha đất rừng. Hầu hết các đối tượng nhận chuyển nhượng đều là người khác huyện mục đích phát rừng keo công nghiệp. Các huyện như Quế Phong, Quỳ Họp... có hàng nghìn hécta đất rừng lâm nghiệp bị người dân tự ý bán cho các doanh rừng, người ngoài địa phương sử dụng sai mục đích. (Tiền Phong 2/1)đầu trang(
Ngày 3.1, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, mới có một DN thuê rừng chấp hành việc bồi thường thiệt hại do để mất rừng, với số tiền 334 triệu đồng, tương đương 12,6ha rừng bị phá: 4 DN còn lại để mất gần 250ha rừng, trị giá hơn 12,5 tỉ đồng vẫn chưa bồi thường, mặc dù đã nhận được quyết định gần 2 năm.
Ông Nguyễn Quân Trường - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh - cho biết,, nếu các DN này không nộp tiền bồi thường, sắp tới chi cục sẽ tham mưu UBND tỉnh thu hồi dự án. (Lao Động 4/1)đầu trang(
Nhiều người buôn bán sâm tại huyện Nam Trà My bảo rằng có tiền chỉ cần alô một tiếng mua bao nhiêu vàng cũng được. Nhưng với sâm Ngọc Linh chuẩn thì không thể, bởi nếu có ngay thì chắc chắn 100% là sâm giả.
Mấy ngày nay, ông Lê Xuân Tư nhà tại huyện Bắc Trà My - Quảng Nam, ấm ức kể vừa dính quả lừa đắng hơn sâm.
“Cách đây hơn 1 tuần, thấy có cậu bé dân tộc ở Trà Linh mang bán 2 kg sâm Ngọc Linh giá hơn 60 triệu đồng. Nó bảo ba mẹ cho nó 2 kg sâm bán lấy tiền mua chiếc xe máy. Tui tin mua ngay, ai ngờ đó là sâm Ngọc Linh giả”, anh Tư kể.
Không chỉ anh Tư, nhiều người mua sâm Ngọc Linh đều dính vố lừa như vậy. Hiện trên thị trường nhan nhản sâm Ngọc Linh giả, giá từ 25 đến 30 triệu đồng/kg. Chỉ vì ham rẻ nên nhiều người mua về rồi ngậm đắng nuốt cay.
Ôm hũ sâm Ngọc Linh vừa mua hơn 20 triệu đồng, anh Nguyễn Xuân Lữ ở Tam Kỳ - Quảng Nam, rầu rĩ kể, mặc dù đã rất cẩn thận khi đặt mua 6 lạng sâm Ngọc Linh ngâm rượu để biếu sếp và uống Tết, nhưng không ngờ, đây lại là hũ sâm Ngọc Linh giả nên anh đành để ngắm chơi, không dám đem biếu.
Ngoài ra, theo các chuyên gia đông y, nói đến sâm Ngọc Linh thì còn phải biết sâm này trồng ở đâu mới có thể định được giá trị của nó.
“Sâm trồng ở khu vực xã Trà Linh huyện Nam Trà My giá rất đắt. Với loại sâm từ 5 đến 7 tuổi giá từ 60-70 triệu đồng/kg. Sâm càng nhiều tuổi càng đắt. Đặc biệt, sâm tự nhiên mọc trên rừng thì vô giá. Còn sâm Ngọc Linh trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc thì rẻ hơn, chỉ khoảng từ 3-5 triệu đồng/kg, chẳng ai thèm mua vì dược tính thấp”, vị chuyên gia nói.
Giá sâm Ngọc Linh trồng trên núi Ngọc Linh (Quảng Nam) quá đắt đỏ nên rất ít dùng, trừ những trường hợp thật cần thiết.
Chị Nguyễn Thị Tình, một người chuyên buôn bán sâm Ngọc Linh ở Nam Trà My, kể rằng, có đến 90% sâm Ngọc Linh bán trên thị trường là loại sâm mạo danh Ngọc Linh trồng từ nhiều nơi rồi đưa về Quảng Nam để tiêu thụ, giá từ 25 đến 30 triệu đồng/kg.
Ngay bản thân chị, tuy là người sống ở Nam Trà My mấy chục năm nay, là người mua bán các loại sâm Ngọc Linh từ tự nhiên đến sâm trồng, quen biết nhiều chủ vườn sâm nhưng khi hỏi mua cũng rất khó. Bởi chỉ khi cần tiền mua sắm, bà con tại xã Trà Linh mới nhổ bán sâm nhưng cũng rất ít.
“Nhiều gia đình có vườn sâm trồng trong rừng, khi muốn có khoản tiền làm nhà hay cưới vợ cho con, họ nhổ 3-5 kg để bán, còn không chỉ thu hái lá và bán hạt giống là đủ chi phí hàng ngày. Chính vì vậy, không thể có lượng sâm lớn bán trên thị trường nhiều như vậy”, chị T. khẳng định.
Do vậy, để mua được đúng loại sâm Ngọc Linh trồng tại núi Ngọc Linh là không hề dễ dàng. Nhiều người từng cất công lên Trà Linh xin vào tận vườn hỏi mua sâm, nhưng đều bị chủ vườn sâm lắc đầu từ chối.
Anh Lê Văn Tâm, nhà ở Tam Kỳ - Quảng Nam, nhiều lần ôm tiền lên Ngọc Linh phục mấy ngày trời để tìm mua sâm nhưng đến bất kỳ nhà nào cũng nhận được cái lắc đầu. “Muốn lên tận vườn sâm, nhiều chủ vườn bảo phải có giấy giới thiệu của huyện, của xã, nếu không có thì 'không bao giờ'. Thậm chí hỏi mua sâm họ cũng lắc đầu bảo không bán vì chưa cần tiền”, anh Tâm kể.
Sau chuyến lên Trà Linh không mua được sâm đành phải trở về và nhờ người thân quen ở huyện Nam Trà My nhờ mua, anh Tâm mới mua được 1 kg sâm Ngọc Linh 7 năm tuổi với giá 75 triệu đồng.
Nhiều đại gia ở Hà Nội, Sài Gòn khi ra Quảng Nam công tác thường mang theo những hũ rượu sâm Ngọc Linh và bảo đây là loại rượu “đầu bảng”, đắt gấp nhiều lần rượu Tây rượu Tàu. Nhưng hỏi mua sâm Ngọc Linh ở đâu, mấy đại gia chỉ vào bình rượu có nước vàng nhạt bảo chỉ cần bỏ ra vài trăm triệu thiếu gì sâm Ngọc Linh. (Dân Việt 4/1)đầu trang(
Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 5107/QĐ-BCT quy định khung giá phát điện năm 2017, Quyết định sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1.
Theo đó, Bộ quy định rõ mức trần của khung giá phát điện (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện than là 1.568,70 đồng/kWh.
Các thông số nhiên liệu sử dụng tính toán giá phát điện được quy định như sau: Chủng loại than sử dụng là than cám 6a.1, chất lượng theo các yêu cầu kỹ thuật đối với than cám 6a.1 quy định tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8910:2015.
Giá than (bao gồm hao hụt, phí quản lý, bảo hiểm, không bao gồm cước vận chuyển) là: 1.301.665 đồng/tấn.
Mức trần của khung giá phát điện được áp dụng cho các nhà máy thuỷ điện là 1.070 đồng/kWh. Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho biết, mức trần của khung giá điện chưa bao gồm các khoản chi phí phát sinh như thuế tài nguyên nước, tiền phí dịch vụ môi trường rừng và thuế giá trị gia tăng.
Điều đáng nói, các khoản chi phí phát sinh vừa kể trên mới đây đã được điều chỉnh tại Nghị định 147 của Chính phủ.
Theo đó, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất thủy điện tăng từ 20 đồng/kwh lên 36 đồng/kwh và cơ sở sản xuất nước sạch từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3.
Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm.
Sản lượng điện để tính tiền chi trả dịch vụ là sản lượng điện của các cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện. Số tiền phải chi trả trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kWh) nhân với mức chi trả tính trên 1kWh (36 đồng/kWh).
Như vậy, việc tăng mức chi trả tiền các chi phí phát sinh có làm giá điện “leo thang” trong năm mới? Khi mới đây, tại hội nghị tổng kết diễn ra ngày 3/1/2017, ông Đặng Hoàng An, Tổng giám đốc EVN cho biết: “Một số chi phí đầu vào của sản xuất điện đã tăng liên tục từ năm 2015 nhưng chưa được cân đối trong giá điện, đặc biệt là than. Riêng giá than cho điện tăng thêm 7% từ 24/12/2016 sẽ làm chi phí đội lên hơn 4.692 tỷ đồng”.
Bên cạnh đó, ngành còn gặp hàng loạt khó khăn như vấn đề bảo lãnh vốn, biến động tỷ giá, thuế tài nguyên nước, chi phí môi trường rừng, việc thu xếp vốn đầu tư các dự án điện…
Do đó, EVN kiến nghị Thủ tướng, Chính phủ phê duyệt khung giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2017-2020, quyết định tăng vốn điều lệ của EVN lên 205.000 tỷ đồng.
EVN cũng kiến nghị Bộ Tài chính cho phép hạch toán vào chi phí giá thành sản xuất của đơn vị phần lớn kinh phí để giải quyết các khoản trợ cấp ngoài trợ cấp mất việc làm và chế độ hỗ trợ theo số năm công tác của người lao động và có xét tới những đặc thù của ngành điện. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 4/1)đầu trang(
Cây gỗ Nu hương đỏ, tích tụ nguyên khí ngàn năm của núi rừng Tây Nguyên khi “rời rừng xuống phố” bởi một chữ “duyên” với Sông Mã hay chưa gặp được một “quý nhân” để trở thành “báu vật” truyền đời…
Tiếp chúng tôi tại xưởng sản xuất ở Phường Tân Sơn, Thành phố Thanh Hoá, ông Văn Tiến Hùng – Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Hà chia sẻ: “Có rất nhiều nhà báo muốn vào phỏng vấn, nhưng tôi không hào hứng, lúc đầu được giới thiệu tôi cũng có cảm giác như vậy, nhưng không hiểu sao khi nói chuyện với anh tôi như được cởi bỏ được cảm xúc của mình.
“Trong bao nhiêu năm kinh doanh về gỗ, nhất là các loại gỗ quý, có thể nói cây Nu hương này để cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Để đưa được báu vật xanh này về xuôi là cả một câu chuyện khó lý giải giữa “Duyên” và đời thực”. – Ông Hùng nói.
Ông Hùng kể, từ lúc đặt vấn đề mua cây và tiến hành các thủ tục để khai thác đã có biết bao sự tranh giành, rồi người dân ra chặn, không cho khai thác mặc dù đã xin được giấy phép.
Riêng thủ tục xin giấy phép mất gần 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015. Không phải cứ có giấy phép là đã được khai thác, nếu như người dân không ủng hộ.
Sau khi họp mặt cộng đồng, lắng nghe ý kiến của bà con, ông Hùng đã trao cho đại diện UBND xã Đắk Liêng, UBND Huyện Lắk số tiền 200 triệu để xây dựng tại thôn Yuk Kla, một ngôi nhà chung để người dân có nơi hội họp. Ngoài ra, ông Hùng còn cúng tiến thêm một bộ ban thờ bằng gỗ, theo ý nguyện của người dân.
Trong ngày làm lễ tạ rừng xanh, có đại diện Bí thư Chi bộ, Hội người cao tuổi, thanh niên, Hội cựu chiến binh, trưởng thôn Yuk Kla, xã Đắk Liêng đến làm lễ xin phép rời cây. Ông Bí thư và bà Trưởng thôn nói:“Chú Hùng có tấm lòng tâm linh như vậy, nhà cộng đồng đó chú đã cúng tiến rồi, thì chúng tôi xin thêm cái bàn thờ”.
Và bộ bàn thờ đã được Ông Hùng đặt làm và chuyển từ Thái Bình vào trước ngày 30/06/2015 âm lịch để đến rằm tháng 7 người dân dâng hương.
Thế nhưng do thời điểm lúc bấy giờ là mùa mưa, lên chưa khai thác ngay được, mãi đến năm 2016 mới vào rời cây.
Tưởng rằng mọi việc như thế đã là “thuận buồm xuôi gió”, thế nhưng lại xuất hiện nhiều người vào tranh giành, rồi các các cơ quan chức năng như CA, Cục kiểm lâm, Cục Lâm nghiệp cũng vào tận nơi để xem xét vì một số đơn thư kiện ra tận ngoài Trung Ương.
Ông Hùng chia sẻ: “Không biết có phải tôi và cây Nu hương này có “duyên” với nhau không, bởi khi xảy ra các tranh chấp, tôi đều bình tĩnh giải quyết cho dù có rất nhiều đại gia từ Hà Nội, Hải Phòng, Trung Quốc có “thế và lực” đều hơn tôi, nhưng cuối cùng cây đã cùng tôi “rời rừng xuống phố”.
Quá trình vận chuyển mất khoảng 12 ngày từ Đắk Lắk về Thanh Hóa, vì chỉ đi được từ 9 giờ đêm đến 4 giờ sáng, do cây là hàng quá khổ,cao đến 8,8m (sau khi đã cắt đi các phần ngọn) mà vẫn bình an để bây giờ cây Nu hương sừng sững ven bờ Sông Mã.
Ông Hùng tâm sự: “Đây là một cái cây khủng, có nu nhiều, ít thấy có cây nào như vậy. Khi mua cây, tôi chưa tính đến góc độ kinh tế, chỉ thấy đẹp và mong muốn mình có một chữ “duyên”để làm ra một điều gì đó cho cho đời sau.”
Theo một nhà điêu khắc cho biết, cây Nu hương này rất đẹp, bởi gốc cây có thể tạo hình một đài sen với 12 con giáp, đường kính thân 2,4m, có thể tạc thành tượng Phật bà Quan âm và Thiện tài đồng tử.
Từ gốc lên có những sóng lượn giống như chín con rồng (Cửu Long quần tụ), từ thân trở lên rẽ thành hai nhánh hình chữ V, chữ đầu của chữ Việt nam, và còn mang ý nghĩa của sự chiến thắng (Victory). Nu có vân hình chân chó, theo từng dải, như tà áo bay của Phật Bà giữa các dải mây uốn lượn…
“Với cây Nu hương này, tôi không nói đến yếu tố thương mại mà chỉ muốn nhấn mạnh đây là một khối gỗ để làm lên một tác phẩm để lại cho muôn đời sau. Nếu vì thương mại, tôi có thể xẻ cái cây này ra thành từng tấm để bán rồi”. – ông Hùng nói.
Theo tìm hiểu của phóng viên thì cây Nu hương này có giá hàng chục tỷ đồng, và đã có rất nhiều người muốn được sở hữu vì nhiều mục đích khác nhau.
Theo một số chuyên gia phong thủy, cây này vốn dĩ đã tích tụ linh khí của núi rừng trên 1000 năm, người muốn sở hữu phải hợp mệnh, hợp duyên và tôn vinh đúng được giá trị của báu vật này. Vì vậy “quý nhân” và “báu vật” cũng phải có mối lương duyên trời định.
Theo phong thủy, thuyết Ngũ hành là mối quan hệ nuôi dưỡng, giúp đỡ, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng, đó là quan hệ Tương sinh. Người ta qui ước thứ tự của Ngũ hành Tương sinh như sau: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Cũng theo ngũ hành nạp âm, trong 6 Lục Mộc thì cây Nu hương này thuộc Đại Lâm Mộc (Cây lớn trong rừng già) rất kỵ với người Mạng Kim, hợp với người Mạng Thủy và nhất là hợp với người mạng Hỏa.
Ông Hùng cũng tâm sự, mình còn nhiều cái trăn trở, lo toan, nhiều bon chen, thì làm sao có thể thanh tịnh được. Vì vậy, ông mong muốn: “Cây Nu hương này trở thành một tác phẩm để đời, một Phật mộc lớn nhất, độc đáo nhất, được rước đi khắp đất nước Việt Nam. Báu vật này được đặt tại một nơi linh thiêng, thế đẹp của đất nước để hàng năm có, hàng vạn người đến thăm quan và chiêm ngưỡng”
“Nếu cây Nu hương này hợp “duyên” với người có “Tâm”, có “Tầm”, có “Đức” để tạo lên một “báu Vật” cho muôn đời sau thì mình cũng thấy tự hào”. – ông Hùng nói.
Còn một số người am hiểu thì nhận định: “Giá trị của Cây Nu hương, không chỉ là đẹp mà ngàn năm sau cũng chưa chắc có được vì rừng già ngày một cạn kiệt”. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 4/1)đầu trang(
Hiện nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tập trung chuẩn bị các điều kiện cho việc phát động Tết Trồng cây và kế hoạch trồng rừng vụ xuân năm 2017.
Năm 2017, toàn tỉnh có kế hoạch trồng mới 10.000 ha rừng, trong đó, rừng đặc dụng 100 ha; rừng sản xuất 9.900 ha. Ngay sau khi có kế hoạch, ngành lâm nghiệp đã có các văn bản hướng dẫn các địa phương tổ chức cho các hộ dân đăng ký trồng rừng và trồng cây phân tán.
Đồng thời, chuẩn bị đầy đủ số lượng cây giống có chất lượng để cung ứng cho các địa phương và bà con nông dân. Cùng với sự chuẩn bị của ngành chức năng, người dân tại các địa phương cũng đang tích cực chuẩn bị hiện trường cho công tác trồng rừng vụ xuân.
Các huyện, thị xã, thành phố tập trung rà soát những diện tích đất trống, diện tích rừng đến tuổi thu hoạch để yêu cầu các chủ rừng đẩy nhanh tiến độ khai thác; thực hiện khai thác đến đâu trồng rừng lại ngay đến đó, không để đất trống, để bảo đảm kế hoạch trồng rừng năm 2017. (Đài PTTH Thanh Hóa 4/1)đầu trang(
UBND tỉnh vừa tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TU (ngày 4.6.2010) và triển khai Nghị quyết 06-NQ/TU (ngày 4.11.2016) của Tỉnh ủy về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đánh giá kết quả bảo vệ và phát triển rừng năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh chủ trì hội nghị.
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TU của Tỉnh ủy đã góp phần quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng. Toàn tỉnh trồng mới hơn 66.700ha rừng; trong đó, diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới hơn 2.700ha. Có gần 1,2 lượt héc ta rừng được khoán, bảo vệ, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hơn 21.200 hộ của 70 xã/11 huyện.
Những năm qua, tỉnh cũng đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp với tổng diện tích hơn 487.000ha. Hội nghị cũng triển khai các nội dung của của Nghị quyết số 06-NQ/TU và nhiệm vụ trọng tâm năm 2017 về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng: tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách khoán bảo vệ rừng, nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật; đồng thời triển khai thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND Lê Trí Thanh yêu cầu sở, ngành liên quan trong thời gian tới cần rà soát, thực hiện tốt việc cắm mốc 3 loại rừng, giao đất, giao rừng cho cộng đồng làng; quản lý hiệu quả việc giao khoán quản lý bảo vệ diện tích rừng tự nhiên.
Riêng trong năm 2017, cần chuẩn bị mọi điều kiện để triển khai thực hiện dự án Trường Sơn nhằm bảo tồn hệ sinh thái, tạo sinh kế cho người dân vùng miền núi của tỉnh. Các đơn vị, cơ quan chức năng phải củng cố, sắp xếp bộ máy quản lý hiệu quả, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật. Và việc bảo vệ, phát triển rừng phải gắn chặt với hỗ trợ sinh kế cho người dân, người dân phải sống được với rừng. (Quân Đội Nhân Dân 4/1)đầu trang(
Công tác chuẩn bị cây giống luôn là một trong những khâu quan trọng được huyện Chợ Mới chủ động thực hiện sớm để công tác trồng rừng hàng năm đạt hiệu quả cao. Hiện nay, các vườn ươm cây giống trên địa bàn huyện đang tích cực chăm sóc nhằm đáp ứng đủ cây giống khi vụ trồng rừng năm 2017.
Là một trong số những đơn vị cung ứng cây giống trồng rừng lớn của huyện Chợ Mới, thời điểm này Xí nghiệp Giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh, huyện Chợ Mới đang tích cực đóng bầu ươm giống.
Dự kiến năm nay đơn vị này sẽ sản xuất từ 2,5 -3 triệu cây giống, ngoài phục vụ cho huyện Chợ Mới, còn cung cấp cây giống cho các dự án trồng rừng tại huyện Bạch Thông, Ngân Sơn, Na Rỳ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 2017, Xí nghiệp Giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh tiếp tục gieo ươm các giống cây như: keo hom, mỡ, quế, thông, xoan…
Hiện nay bên cạnh một số giống cây đang được đóng bầu tra hạt thì một số giống khác như keo, quế đã phát triển khá tốt, có thể xuất vườn phục vụ trồng rừng cho bà con ngay trong cuối quý 1 và đầu quý 2 năm 2017.
Ông Vũ Đình Vinh, Giám đốc Xí nghiệp Giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh, huyện Chợ Mới cho biết, hiện nay, đơn vị luôn có từ 15, 20 lao động làm việc liên tục để chăm sóc cây giống, đặc biệt vào những ngày rét, công nhân phải che chắn và theo dõi thường xuyên về độ ẩm nhất là thời kì hạt đang nảy mầm, đảm bảo cho cây giống sinh trưởng tốt.
Lâm trường Chợ Mới cũng là một trong những đơn vị cung ứng khá lớn giống cây trồng rừng trên địa bàn huyện .Trung bình mỗi năm vườn ươm này gieo ươm khoảng 2 – 2,5 triệu cây giống. Ngoài chủ lực là cây keo hàng năm Lâm trường còn gieo ươm một số giống khác như mỡ, hồi…
Năm nay thời tiết khá thuận lợi nên cây giống phát triển tốt, tuy nhiên theo lãnh đạo Lâm trường Chợ Mới, cây giống phải được chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ, đặc biệt là ở giai đoạn đầu, khi đảm bảo các tiêu chuẩn mới đem trồng .
Đáng chú ý là trong những năm gần đây, Lâm trường huyện Chợ Mới đã đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác sản xuất giống cây lâm nghiệp nhờ đó chất lượng cây giống được nâng cao, phục vụ tốt cho công tác trồng rừng của huyện.
Hiện nay các địa phương cũng đã thực hiện xong việc đăng kí trồng rừng, năm 2017. Những xã có thế mạnh về trồng rừng tiếp tục duy trì diện tích đăng ký khá cao là Thanh Mai, Thanh Vận, Như Cố, Thanh Bình, Hòa Mục.
Ông Dương Quang Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Như Cố, huyện Chợ Mới cho biết: Đến thời điểm này xã đã triển khai và đăng kí xong cho các hộ trồng rừng, năm nay xã duy trì trên 70 ha, tuy nhiên có sự thay đổi về cơ chế hỗ trợ nên xã cũng đang chờ quyết định cụ thể để tiếp tục thiết kế thêm diện tích.
Năm 2017 huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng 1.500 ha rừng, và là địa phương có diện tích cao nhất tỉnh trong năm nay. Trong đó tổng diện tích trồng rừng được ngân sách nhà nước hỗ trợ là 1.300 ha, gồm trồng rừng tập trung là 1.200 ha, trồng rừng phân tán là 100 ha, còn lại 200 ha là trồng lại rừng sau khai thác, các chủ rừng tự đầu tư.
Với sự chuần bị chu đáo về cây giống cũng như các điều kiện khác, năm 2017 huyện Chợ Mới sẽ tiếp tục đạt kết quả cao trong trồng rừng, phấn đấu hoàn thành mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa V, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra là mỗi năm trồng mới 1.500 ha rừng. (Đài PTTH Bắc Kạn 4/1)đầu trang(
Thời gian gần đây, một diện tích lớn rừng mới được trồng để chắn sóng tại Cồn Xanh trên địa bàn Nghĩa Hưng (Nam Định) đã bị chết hàng loạt, không rõ nguyên nhân.
Điều đáng chú ý, diện tích cây chết được trồng lại nhiều lần nhưng vẫn không có dấu hiệu khả quan, khiến dư luận nghi ngờ về năng lực quản lý và chăm sóc của những đơn vị trúng thầu thực hiện dự án này.
Nam Điền, Nghĩa Lâm, Nghĩa Thành, Nghĩa Hải là 4 xã ven biển của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đi biển và nuôi trồng thủy hải sản, vì vậy vấn đề chắn sóng biển tràn vào khu dân cư được đặt lên hàng đầu. Tại đây, bão lụt hàng năm đều gây thiệt hại nặng nề.
Trước những diễn biến khó lường của thiên tai, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trên địa bàn 4 xã đã được xây dựng một tuyến đê chắn sóng, chắn gió cát an toàn. Nhờ đó, cuộc sống người dân nơi đây được đảm bảo an toàn và ổn định mỗi khi có biến động của thiên nhiên.
Cuối năm 2015, dự án đầu tư giảm sóng, ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã chính thức được triển khai. Sú và vẹt là hai loại cây chủ yếu được sử dụng vì được đánh giá là có khả năng thích nghi và sinh trưởng tốt trên cát. Tuy nhiên, sau một thời gian, trên diện tích rừng trồng mới xảy ra hiện tượng cây chết hàng loạt với số lượng lớn không rõ nguyên nhân.
Một số ngư dân sinh sống bằng nghề đi biển tại đây cho biết: “Khi dự án mở rộng diện tích rừng ngập mặn nhằm chắn sóng, ổn định bãi, giảm thiểu ảnh hưởng của thiên tai được thực hiện, người dân nơi đây ai cùng mừng. Tuy nhiên, cây trồng mới được một thời gian lại chết dần chết mòn, mặc dù đã được trồng lại nhiều lần nhưng vẫn không có dấu hiệu khả quan”.
Theo quan sát của PV Báo Lao Động, diện tích rừng ngập mặn được trồng mới tại Nam Cồn Xanh (Nghĩa Hưng, Nam Định) chỉ còn lại những chiếc que để giữ cây lúc mới trồng. Số cây còn sống cũng đang bị đất cát phủ trắng, lụi dần và không có khả năng sinh trưởng.
Ngư dân đi biển cho biết, hàng năm, nơi đây được bồi tụ một lượng cát lớn, đất bị nén chặt khiến cho cây con không thể phát triển, đây có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cây mới trồng bị chết hàng loạt.
Ngoài ra, có thể do một số nguyên nhân khác như chất lượng giống cây và năng lực của đơn vị thực hiện dự án này. Cây chỉ có thể sống được nếu được trồng đúng mùa thì mới tránh được tác động của thời tiết. Tuy nhiên, người ta lại trồng vô tội vạ dẫn đến tình trạng cây chết.
Để thực hiện dự án giảm sóng, ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển tại Nam Cồn Xanh huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), ban quản lý dự án và các đơn vị liên quan đã tổ chức hội nghị mở thầu công khai. Kết thúc hội nghị đấu thầu, Công ty CP Phòng trừ mối Việt Nam và Công ty CP Xây dựng và Sinh thái thủy lợi là hai đơn vị trúng thầu dự án.
Kể từ thời điểm dự án được triển khai đến nay, hai đơn vị nêu trên đã tiến hành trồng mới, chăm sóc diện tích rừng ngập mặn khu vực Nam Cồn Xanh. Tuy nhiên, Công ty CP Phòng trừ mối Việt Nam và Công ty CP Xây dựng và Sinh thái thủy lợi đã để tình trạng cây trồng chết hàng loạt trong suốt một thời gian dài, không có biện pháp khắc phục cụ thể, gây thất thoát tài sản nhà nước, làm ảnh hưởng đến cuộc sống người dân nơi đây.
Bên cạnh đó, dư luận không khỏi băn khoăn về năng lực của hai đơn vị trúng thầu và trách nhiệm của ban quản lý dự án và cơ quan chức năng đã buông lỏng quản lý để hiện tượng cây chết xảy ra trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến lợi ích mà dự án mang lại.
Trước thực trạng cây xanh trong dự án mở rộng diện tích rừng ngập mặn tại Nam Cồn Xanh huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) bị chết, gây thất thoát tiền của Nhà nước, giảm khả năng bảo vệ hệ sinh thái và nguy hại đến đê điều nơi đây, chúng tôi đã liên hệ với cơ quan hữu trách để làm rõ nguyên nhân.
Tại buổi làm việc, ông Phạm Đình Trưng - Chủ tịch xã Nghĩa Lâm (Nghĩa Hưng, Nam Định), 1 trong 4 xã quản lý Nam Cồn Xanh - cho biết: “Hiện tượng cây chết là không đáng kể, cây chết có thể do bồi lắng gây nghẽn đất, không thể phát triển. Nguyên nhân chính thì chúng tôi không thể xác định được. Chính quyền địa phương chỉ có trách nhiệm bảo vệ ngăn chặn tình trạng chặt phá”.
Ông Bùi Sỹ Sơn - quyền Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nam Định - xác nhận, có hiện tượng cây trồng mới trên địa bàn Nam Cồn Xanh bị chết: “Chúng tôi đã nhận được thông tin trên và đã cho triển khai trồng dặm những cây mới vào vị trí của những cây bị chết”.
Liên quan đến sự việc diện tích cây mới trồng bị chết không rõ nguyên nhân tại Nam Cồn Xanh khiến dư luận nghi ngờ về năng lực của hai đơn vị thực hiện dự án, chúng tôi đã được bà Nguyễn Thị Thu Hằng (Chánh Văn phòng Sở Nông nghiệp tỉnh Nam Định) giới thiệu làm việc trực tiếp với ông Trần Đức Việt (Trưởng phòng Quản lý xây dựng công trình thuộc Sở Nông nghiệp tỉnh Nam Định).
Tuy nhiên, khi đề cập đến hồ sơ và thông tin cũng như năng lực của hai đơn vị thực hiện dự án là Công ty CP Phòng trừ mối Việt Nam và Công ty CP Xây dựng và Sinh thái thủy lợi, ông Việt đã quanh co và từ chối cung cấp thông tin.
Trước thực trạng diện tích rừng ngập mặn được trồng mới bị chết hàng loạt trong một thời gian dài tại Nam Cồn Xanh gây thất thoát tiền của Nhà nước, yêu cầu cơ quan chức năng tỉnh Nam Định cần sớm vào cuộc để làm rõ nguyên nhân; đồng thời tiến hành kiểm tra và đánh giá năng lực của hai đơn vị thực hiện dự án và làm rõ vai trò, trách nhiệm của các đơn vị liên quan. (Lao Động 4/1)đầu trang(
Rủi ro môi trường và quy chuẩn hợp pháp hóa nguồn gỗ nhập khẩu đang đặt ra ngày càng lớn ở nhiều thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Hiện nay, trong các thị trường Việt Nam nhập khẩu gỗ lớn nhất, có Mỹ, EU và một số quốc gia ASEAN như Lào, Indonesia… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hàng rào tiêu chuẩn mặt hàng gỗ xuất khẩu ngày càng cao ở các thị trường. Mỹ và EU cung ứng gỗ nguyên liệu cho Việt Nam nhiều nhưng cũng nhập sản phẩm gỗ thành phẩm của Việt Nam lớn nhất.
Việc doanh nghiệp chủ yếu chú trọng vào gỗ nhập về nhưng không kiểm soát nguồn gốc, dễ khiến mặt hàng xuất khẩu dính những vụ kiện cáo thương mại. Tuy nhiên, “quá ham” xuất khẩu mà không quan tâm đến các vấn đề về tính hợp pháp của nguyên liệu khiến họ dễ rơi vào bẫy tự do hóa thương mại.
Các nước nhập khẩu đều quy định sản phẩm gỗ chế biến như bàn ghế, đồ trưng bày, giường tủ… đều phải có chứng chỉ nguồn gốc nhập khẩu, sản phẩm gỗ phải hợp pháp, không phải là hàng trái phép. Nếu các sản phẩm không đáp ứng được với các yêu cầu về tính hợp pháp đều đối mặt với các rủi ro như: cấm nhập khẩu hoặc xử phạt theo cơ chế bảo vệ rừng và tài nguyên.
Vì vậy, nếu các doanh nghiệp miệt mài đi “săn” gỗ nguyên liệu nhập khẩu mà không chú trọng vào các quy định về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp của loài gỗ, họ đương nhiên sẽ bị vướng vào các vụ kiện cáo vào các thị trường lớn như Mỹ, EU. Nếu bị phát hiện gỗ khai thác trái phép, gỗ không rõ nguồn gốc khai thác, rất có thể xuất khẩu gỗ của Việt Nam sẽ bị cấm vào các thị trường như Mỹ, EU và Nhật – nơi ngành gỗ Việt Nam đang có tăng trưởng xuất khẩu lớn và cạnh tranh được với các nước khác.
Trước áp lực của quá trình hội nhập phát triển nền kinh tế, để thúc đẩy phát triển xuất khẩu mặt hàng gỗ của Việt Nam thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: thứ nhất,ngành gỗ cần tận dụng cơ hội từ ký kết và thực thi các FTAs.
Theo đó, các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu, trong đó yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ và các sản phẩm gỗ. Bên cạnh đó, cần tìm hiểu về nội dung cam kết như thuế quan, quy tắc xuất xứ, biện pháp kỹ thuật và biện pháp phòng vệ để có chiến lược thâm nhập hiệu quả vào các thị trường đã tham gia FTAs.
Thứ hai, cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu được trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô.
Bên cạnh đó, để tăng khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho thị trường, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gỗ cần cải tiến mẫu mã, chất lượng, công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm nói riêng của mình với chất lượng cao và giá cả phù hợp.
Thứ ba, phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm gỗ xuất thông qua việc xây dựng các chương trình quảng bá về gỗ Việt Nam với vị thế là quốc gia cung cấp sản phẩm gỗ chất lượng cao, chế biến tinh xảo, tiện dụng và đặc biệt là sử dụng gỗ hợp pháp, bền vững ở các thị trường lớn.
Đồng thời đổi mới công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác theo hướng hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước. Hỗ trợ thông tin thị trường bằng cách cung cấp thông tin cụ thể về sản phẩm và thị trường. Đẩy mạnh công tác tiếp thị thương mại, đàm phán các hiệp định kỹ thuật để mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ.
Thứ tư, tăng cường các hoạt động nghiên cứu; xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường.
Hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC… cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật để kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam nhằm đảm bảo nguyên liệu gỗ tốt phục vụ sản xuất xuất khẩu; đồng thời, kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.
Thứ năm, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nhà xuất khẩu về kiến thức, công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý, marketing… tổ chức các chương trình đào tạo cho các nhà quản lý sản xuất/ giám sát sản xuất, giám đốc bán hàng, kế toán, thiết kế và chuyên gia marketing.
Tổ chức chương trình đào tạo về sấy gỗ và xử lý gỗ, các chương trình đào tạo về hoàn chỉnh bề mặt gỗ. Kết hợp chặt chẽ với nhà cung cấp phụ tùng/nguyên liệu (PU, nguyên liệu mạ vàng…) để chuyển giao công nghệ….(Diễn Đàn Doanh Nghiệp 4/1)đầu trang(
Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua.
Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt.
Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này.
Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.
Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc quanh năm. Nếu trước đây một cơ sở khoảng 20 người làm thủ công chỉ được 300 thớt/ngày thì bây giờ với sự hỗ trợ của máy móc có thể sản xuất được 2.000 thớt/ngày.
Ở nhiều cơ sở sản xuất lớn, sản phẩm chày, thớt Phú Long còn đăng ký thương hiệu và bán trong các siêu thị và xuất khẩu ra nước ngoài.Chúng tôi gặp ông Nguyễn Quảng, chủ Công ty Phú Long Tân, một người tâm huyết và đam mê với nghề làm chày, thớt và đã có công trong việc đưa sản phẩm này ra nước ngoài.
Theo ông Nguyễn Quảng, trước sự cạnh tranh của thị trường, ông tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng để tạo ra những sản phẩm đẹp mắt, chất lượng cao. Đến năm 1997, ông Quảng đã tập hợp một số cơ sở nhỏ lẻ, mạnh dạn đứng ra đăng ký thương hiệu chày, thớt, cối Phú Long, và bắt đầu tiếp thị các sản phẩm này vào các siêu thị bày bán.
Đây chính là động lực để ông Quảng tiếp tục liên hệ với một số Việt kiều để đưa sản phẩm ra tiêu thụ ở nước ngoài. Và nhờ vậy, chày, thớt, cối Phú Long đã có hướng đi mới và đến với thị trường các nước như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Để làm ra một chiếc thớt thành phẩm phải trải qua 20 công đoạn, trong khoảng thời gian tới 4 tháng, tính từ lúc cây gỗ làm thớt được đốn hạ. Trong mỗi công đoạn làm thớt, sấy gỗ là quan trọng nhất và chính ông Nguyễn Quảng là người nghĩ ra phương pháp sấy để sản phẩm không bị ẩm mốc, bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh.
Sau nhiều lần thử nghiệm, ông Quảng đã tìm công thức sấy, đó là từng tấm thớt sau khi cưa có độ dày phù hợp sẽ cho vào lò sấy với nhiệt độ từ 600-800 độ C trong thời gian từ 10-15 ngày. Sấy xong đem bào hai mặt, chà nhám, đánh bóng và cuối cùng là lót keo để giữ cho bề mặt thớt luôn bóng đẹp.
Nghề làm chày, thớt Phú Long tạo ra các sản phẩm liên quan đến cuộc sống hàng ngày, phục vụ bữa cơm gia đình nên thợ làm chày, thớt ở đây bao nhiêu năm nay đều không lo sợ hết việc bởi nhu cầu thiết yếu của thị trường. Điều đặc biệt là các sản phẩm chày, thớt, cối đều tận dụng được mọi thứ từ thân cây để làm nguyên liệu.
Nhánh cây lớn được cưa ra từng khúc để tiện thành cối, nhánh nhỏ hơn thì dùng làm chày. Do vậy, khi làm chày, thớt, cối có thể mua cả cây từ gốc đến ngọn mà không lo lãng phí gỗ.
Với ông Nguyễn Quảng, ngoài việc tìm cách đưa sản phẩm chày, thớt, cối Phú Long xuất khẩu ra nước ngoài, ông còn truyền nghề cho những người thợ trẻ tuổi ở làng nghề. Trong quá trình sản xuất, ông cũng cùng bà con làm nghề chia sẻ những kỹ thuật, kinh nghiệm với nhau. Tất cả vì một mục đích chung là đưa làng nghề chày thớt Phú Long ngày càng phát triển, vươn xa hơn nữa trên thị trường quốc tế. (Vietnam + 4/1)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Voi châu Á ít bị săn bắn như voi châu Phi nhưng các thống kê gần đây cho thấy các nhà bảo tồn buộc phải lo ngại về sự tồn tại của voi châu Á.
Vào ngày đầu năm mới 2017, các nhân viên Kiểm lâm ở bang Sabah, quần đảo Borneo, Malaysia, đã phát hiện nhiều chiếc xương của cá thể voi đực có tên gọi Sabre (để chỉ chiếc ngà dị thường chéo xuống dưới như răng của loài hổ).
Việc phát hiện Sabre (có lẽ đã bị giết vào cuối tháng 11-2016) xảy ra vài ngày sau khi các cán bộ Kiểm lâm phát hiện một cá thể voi đực bị đánh bắt với đầu bị cắt lìa ngà. Cả Sabre và cá thể voi đực vô danh trên đều thiệt mạng cách nhau khoảng 1,5km và cách nhau khoảng một tháng.
Trước khi xảy ra những sự việc trên, săn bắt voi chưa được xem là vấn đề nghiêm trọng ở Sabah. Benoit Goossens, giám đốc Trung tâm Danau Girang Field ở Sabah, cho rằng những dấu hiệu trên cho thấy có một tay thợ săn chuyên nghiệp và kẻ buôn lậu cùng hoạt động ở Sabah.
Được một nhà bảo tồn phát hiện lần đầu tiên tại khu vực trồng cây cọ dầu vào đầu tháng 10-2016, Sabre đã được cứu hộ và đưa về Khu bảo tồn Kawang. Các nhà bảo tồn đã giám sát cá thể voi này thông qua vệ tinh và thả vào thiên nhiên do nghĩ là Sabre sẽ an toàn.
Goossens thừa nhận: “Chúng tôi đã phạm sai lầm”, còn Pakeeyaraj Nagalingam Nagalingam, thành viên của Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sabah khẳng định: “Không có từ nào diễn tả nỗi buồn. Chẳng còn nơi nào an toàn cho voi như Sabah nữa”.
Bộ xương không ngà của Sabre được tìm thấy chỉ một ngày sau khi Trung Quốc công bố lệnh cấm buôn bán ngà voi vào cuối năm 2017. Elizabeth Bennett, trưởng nhóm bảo tồn loài tại Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã khẳng định: “Mất những cá thể voi này là mất mát to lớn khi thế giới đang từng bước phục hồi voi châu Phi và đóng cửa tất cả thị trường ngà voi nội địa. Chỉ khi tất cả các thị trường ngà voi được đóng cửa và nhu cầu ngà voi chấm dứt thì tất cả quần thể voi ở châu Á và châu Phi sẽ an toàn”.
Voi lùn Borneo chỉ bằng 1/5 so với voi châu Á bình thường. Dữ liệu gen cho thấy chúng phát triển độc lập trong vòng 300.000 năm. Một số nhà bảo tồn đã đề xuất đưa loài động vật này vào danh sách như một phụ loài riêng.
Voi Borneo đang nguy cấp: chỉ còn từ 1.500 đến 2.000 cá thể còn tồn tại trong tình trạng sinh cảnh ưa thích của chúng bị suy giảm do các hoạt động trồng cây cọ dầu. Phá rừng và mất sinh cảnh cũng là các mối đe dọa lớn đối với loài voi nhỏ nhất thế giới.
Mặc dù bị coi là cản trở việc mở rộng diện tích trồng cọ dầu, voi là điểm nhấn du lịch của khu vực và mang tính sinh thái hỗ trợ cho các khu rừng và các đồng bằng được hưởng phù sa màu mỡ.
Trong nhiều thế kỷ qua, voi châu Á ít bị săn bắn hơn so với voi châu Phi do chỉ một số voi đực châu Á có ngà trong khi tất cả voi đực và voi cái châu Phi đều có ngà. Ngà voi châu Á cũng được xem như ít giá trị hơn ngà voi châu Phi do cấu tạo giòn và có xu hướng ngả màu vàng.
Goossens bày tỏ: “Chúng ta đang mất hàng triệu loài động vật, tê giác đã ra đi, bò tót cũng biến mất, voi sẽ nối tiếp. Tội phạm sẽ không ngưng tay. Đừng đánh mất những giá trị trên để thế hệ sau không tha thứ cho chúng ta”. (Nhân Dân 4/1)đầu trang(./.
|
|||