|
Ngày 04 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Hội thảo cơ chế thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn và hệ sinh thái đất ngập nước ven biển ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau do tổ chức Sida (Thụy Điển tài trợ), Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì vừa được tổ chức hôm 30/9, tại Cà Mau.
Dự án “Thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn và hệ sinh thái đất ngập nước ven biển ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau trong bối cảnh biến đổi khí hậu, góp phần giảm nghèo ở cộng đồng địa phương” (gọi tắt là Dự án PES) giao cho Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau phối hợp với Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, trung tâm nghiên cứu rừng và đất ngập nước, tổ chức FORES thực hiện tại Phân khu phục hồi sinh thái từ tháng 12/2012-11/2013.
Sau 11 tháng thực hiện với sự tham gia của 20 hộ dân, Ban quản lý Dự án đã thiết kế các mô hình thí điểm về: Nuôi trồng thủy sản, trồng cây nông nghiệp, du lịch cộng đồng và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn cho thấy tính khả thi của việc thực hiện Dự án PES, tổng giá trị thu nhập từ các mô hình tăng thêm bình quân của một hộ là hơn 5 triệu đồng/tháng. (Vtvcantho.vn 2/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường VN sẽ tổ chức hội thảo bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn với chủ đề “Bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp”.
Dự kiến hội thảo sẽ được tổ chức ngày 10-11/10 tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Đây là lần thứ 5 hội thảo về bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn được tổ chức. Trong 4 lần trước, hội thảo đã thu hút được sự quan tâm và hưởng ứng rộng rãi của các nhà khoa học, các nhà quản lý trong và ngoài nước. (Khoa học & Đời sống 2/10) đầu trang(
Sáng 3-10, ông Trần Văn Tuân, Ủy ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh đã đi kiểm tra tình hình thiệt hại và công tác khắc phục hậu quả bão số 10 tại Công ty TNHH Một thành viên LCN Long Đại.
Theo báo cáo của lãnh đạo Công ty TNHH Một thành viên LCN Long Đại, do ảnh hưởng của bão số 10, đơn vị có 3.200/3.800ha cây thông bị tác động, trong đó có 2.100 ha có nguy cơ bị mất trắng do gãy từ 80 đến 100%.
Về cây cao su, hầu hết diện tích cây trồng từ năm 2011 đến 2013 không bị ảnh hưởng, còn số cây trồng từ 2007 đến 2010 bị ảnh hưởng khoảng 700ha (chiếm 50% diện tích), trong đó có một số diện tích có khả năng khôi phục được. Riêng cây keo, số diện tích bị ảnh hưởng là 5.000ha, trong đó gần 50% số cây bị gãy ngang không thể khôi phục được. Tổng thiệt hại theo thống kê ban đầu của công ty khoảng 140 tỷ đồng.
Ngay sa khi bão tan, đơn vị đã huy động lực lượng để khắc phục hậu quả bằng cách chống đỡ những diện tích cây cao su bị nghiêng, đổ. Đối với những diện tích cây keo bị ảnh hưởng nhưng có khả năng tận thu, đơn vị đang lập biên bản và làm tờ trình gửi các ngành chức năng xin ý kiến chỉ đạo biện pháp xử lý.
Sau khi kiểm tra thực tế hiện trường những diện tích rừng bị thiệt hại, ông Trần Văn yêu cầu đơn vị cùng với việc tiếp tục kiểm tra thực tế và thống kê chính xác thiệt hại, phải có giải pháp để bảo vệ các diện tích rừng sau bão. Đơn vị cần phối kết hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền các địa phương để cắt cử lực lượng bảo vệ những diện tích rừng bị thiệt hại, tránh thất thoát, đồng thời nên tận thu tối đa số diện tích cao su bị ảnh hưởng.
Thông qua Sở Tài chính, đơn vị sẽ được hướng dẫn làm thủ tục về những cơ chế tận thu tài sản. Sau khi thực hiện đầy đủ thủ tục và đủ điền kiện pháp lý để tận thu tài sản, đơn vị chủ động xử lý những diện tích rừng bị thiệt hại bảo đảm an toàn và hiệu quả nhất. (Báo Quảng Bình 3/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Trái với dự đoán của các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ, chưa đến thời điểm cuối năm nhưng thị trường đã sôi động trở lại.
Từ tháng 8 đến nay, số lượng đơn hàng xuất khẩu (XK) mặt hàng này đã cao hơn tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Với tín hiệu khả quan này, mục tiêu XK tăng từ 10 - 15% (đạt 5,5 tỷ USD) trong năm nay của ngành hàng này hoàn toàn khả thi.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền - Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam (Vietfores), đơn hàng về nhiều khiến các hoạt động của các DN chế biến gỗ hai tháng trở lại đây sôi động trở lại sau nhiều tháng trầm lắng. XK đồ gỗ tháng 9/2013 đã đạt 389 triệu USD, nâng tổng kim ngạch XK đồ gỗ 9 tháng lên 3,77 tỷ USD.
Ngoại trừ thị trường Đức và Pháp giảm, XK gỗ và các sản phẩm gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh, như Mỹ tăng 7,8%, Trung Quốc tăng 17,1%, Nhật Bản tăng 20,3% và Hàn Quốc tăng tới 49%... so với cùng kỳ năm ngoái.
Ông Quyền cho biết, do nhu cầu thế giới tăng trưởng trở lại, làn sóng tìm kiếm những thị trường cung ứng mới của thương nhân Nhật Bản cũng tạo cơ hội cho DN chế biến gỗ Việt Nam đón thêm hợp đồng mới. Ngành chế biến gỗ đang có nhiều cơ hội phát triển, trong đó Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới và đứng đầu Đông Nam Á về XK đồ gỗ.
Hiện Mỹ vẫn là thị trường dẫn đầu về kim ngạch XK đồ gỗ, chiếm trên 36% thị phần, với các sản phẩm ghế, giường bằng gỗ thông, bàn, tủ… Đứng thứ hai là Trung Quốc, tiếp đến là Nhật Bản. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương mới cho biết, Canada đang trở thành thị trường nhập khẩu đồ gỗ nội thất tiềm năng với các sản phẩm mà DN trong nước có thể khai thác.
Mặc dù gỗ và các sản phẩm gỗ đóng góp đáng kể trong tổng kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam, song thực tế cho thấy, mặt hàng XK này mới tập trung ở dòng sản phẩm trung cấp trở xuống. Đây chính là điểm yếu của các DN nước ta so với các DN Trung Quốc - hiện đã gia công những sản phẩm nội thất giá rẻ hơn 20%. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu thị trường, DN Việt cần nhanh chóng đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực thiết kế và chất lượng sản phẩm.
Điều đáng lo ngại hiện nay là dù tăng về giá trị XK nhưng thị phần đồ gỗ chủ yếu đang rơi vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài - nhất là của Đài Loan, Trung Quốc, vì họ có nguồn khách hàng ổn định, quy mô nhà xưởng và nguồn vốn lớn. Nhiều DN thừa nhận, khủng hoảng kinh tế khiến DN Việt Nam "rơi rụng" khá nhiều, ngay như Công ty CP Kỹ nghệ gỗ Trường Thành trước đây luôn thuộc top đầu XK đồ gỗ thì gần 2 năm nay không còn giữ được phong độ.
Lãnh đạo Bộ Công Thương khuyến cáo, sẽ có sự dịch chuyển đơn hàng lớn về XK đồ gỗ tới Việt Nam trong năm tới, nên ngay từ bây giờ, DN trong ngành phải tự mình chuẩn bị đón nhận bằng cách tăng cường năng lực sản xuất và nhân công lành nghề. Năm nay là thời điểm tốt để làm mới, đón đầu cơ hội, trong đó lưu ý chuyển đổi sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang đồ trong nhà, là những đơn đặt hàng mà các nước đang có nhu cầu lớn và sắp đến với Việt Nam.
Bên cạnh đó, có ý kiến đề xuất đưa ngành chế biến gỗ vào đề án "Ưu tiên phát triển các DN thuộc các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao giai đoạn 2013 - 2020" do Bộ Công Thương xây dựng. Lý do không chỉ bởi vị thế đã đạt được của Việt Nam mà trong tương lai, các nước vẫn tiếp tục gia tăng sử dụng sản phẩm gỗ, nên nếu xác định đây là ngành hàng cạnh tranh sẽ khắc phục được tình trạng thiếu nguyên liệu của ngành này trong thời gian tới. (Kinh Tế&Đô Thị 3/10) đầu trang(
“Năm 2012-2013 kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng ngành đồ gỗ vẫn chứng minh được sự phát triển năng động với kim ngạch tám tháng đầu năm 2013 đạt 3,34 tỉ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ.
Điều đáng mừng là sản phẩm đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ của Việt Nam liên tục cải tiến về mẫu mã và kiểu dáng sản phẩm. Chất lượng ngày càng nâng cao nhờ vào nỗ lực của doanh nghiệp (DN) trong việc đổi mới công nghệ, tiếp cận thị trường xuất khẩu”, đó là phát biểu của ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công Thương tại Hội chợ Đồ gỗ và Thủ công mỹ nghệ TP.HCM ngày 3-10.
Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM, ngành gỗ có được kết quả trên là nhờ Việt Nam đã tận dụng được cơ hội khi các nước sản xuất đồ gỗ lớn như Canada, Đức, Ý… do ảnh hưởng kinh tế sản xuất của họ hạn chế trong khi nhu cầu thị trường còn nhiều.
Ngoài ra, sản phẩm của Việt Nam sử dụng gỗ rừng trồng nên khách hàng tin tưởng là hợp pháp. Bên cạnh đó Trung Quốc bị ảnh hưởng chống bán phá giá của Mỹ nên DN Việt nắm bắt cơ hội này. Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu như vậy đến cuối năm ngành gỗ sẽ đạt 5,5 tỉ USD như kế hoạch.
Ngày 3-10, hội chợ quốc tế đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ (EXPO 2013) do Sở Công thương TP.HCM tổ chức đã khai mạc tại Trung tâm Triển lãm và hội chợ Tân Bình (TP.HCM). Năm nay, hội chợ có khoảng 500 gian hàng tập trung trưng bày, quảng bá các sản phẩm đồ gỗ, mỹ nghệ độc đáo cùng các thiết bị chế biến gỗ tiên tiến. Hội chợ diễn ra đến hết ngày 6-10. (Pháp Luật TPHCM 4/10; Tuổi Trẻ 3/10; VTV 3/10; Công Thương 3/10) đầu trang(
Chiều 3/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp ông Peter Hitchcok - Trưởng nhóm chuyên gia tư vấn độc lập của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUNC) đang có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam để hoàn thiện hồ sơ đề cử quần đảo Cát Bà (Hải Phòng) là Di sản thiên nhiên thế giới.
Đánh giá cao chuyến công tác của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) từ 29/9 đến 3/10 tại Cát Bà (Hải Phòng), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định việc đề nghị UNESCO công nhận quần đảo Cát Bà là di sản thiên nhiên Thế giới (không bao gồm Vịnh Hạ Long) đã đầy đủ cơ sở khoa học. Đây cũng là giải pháp nhằm bảo tồn tốt nhất giá trị đa dạng sinh học quần đảo Cát Bà.
Chính phủ Việt Nam cũng như chính quyền Thành phố Hải Phòng luôn thực hiện nghiêm túc các quy định của UNESCO về việc xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận quần đảo Cát Bà là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí đa dạng sinh học (tiêu chí IX, tiêu chí X) trên cơ sở thực tế của quần đảo Cát Bà.
Tại buổi tiếp, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ quan điểm của Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan hỗ trợ Thành phố Hải Phòng thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học trên quần đảo Cát Bà, bảo vệ rừng ngập mặn bị chia cắt, phát triển đàn voọc, quy hoạch quần đảo Cát Bà…. Đặc biệt là sẽ có những lưu ý riêng đối với dự án xây dựng Cảng nước sâu Lạch Huyện.
Cảm ơn Phó Thủ tướng đã dành thời gian tiếp, chuyên gia tư vấn độc lập của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới Peter Hitchcock khẳng định, quần đảo Cát Bà là nơi có phong cảnh đẹp và hệ sinh thái đa dạng vào loại bậc nhất thế giới, Việt Nam cũng đã làm rất tốt công tác bảo tồn thiên nhiên tại Cát Bà.
Ông Peter Hitchcock cho biết, bộ hồ sơ đề cử quần đảo Cát Bà là Di sản thiên nhiên thế giới đã được tổ chức quốc tế tiếp nhận và giao cho đại diện của cơ quan tư vấn IUCN thẩm định. Hi vọng, quần đảo Cát Bà sẽ trở thành một điểm đến du lịch và bảo tồn lý tưởng mang tầm quốc tế trong thời gian tới. (Chinhphu.vn 4/10; Công An Nhân Dân 4/10; VietnamPlus.vn 4/10) đầu trang(
Vừa qua, UBND TP.HCM đã chấp thuận chủ trương lựa chọn tư vấn để nghiên cứu đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
Theo đó, thành phố giao các sở, ngành liên quan và Cty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn xem xét, lựa chọn nhà thầu tư vấn trong và ngoài nước đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện nghiên cứu đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Thảo Cầm Viên Sài Gòn đạt chất lượng cao.
Thảo Cầm Viên Sài Gòn hiện nay là nơi sưu tập thực vật, động vật hoang dã quý hiếm phục vụ nhân dân thành phố và các khu vực lân cận đến vui chơi, tham quan, nghiên cứu và học tập. Hàng năm, Thảo Cầm Viên Sài Gòn tiếp đón khoảng 2 triệu lượt khách đến tham quan và trên 70 ngàn học sinh - sinh viên đến học chương trình giáo dục bảo tồn. (Xây Dựng 2/10) đầu trang(
Từ năm 2009, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển caosu đến năm 2013 và tầm nhìn 2020 của Bộ NNPTNT, theo đó xác định mục tiêu khai thác, phát huy có hiệu quả lợi thế về đất đai, cho phép việc trồng mới caosu trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả và đất rừng tự nhiên là rừng nghèo với mục đích là cây xóa nghèo. Theo đó, vùng quy hoạch được xác định là tại Tây Nguyên và Tây Bắc.
Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, các tỉnh miền Trung không nằm trong quy hoạch của bộ và chưa được trồng thử nghiệm. Tuy nhiên, caosu đã được trồng khoảng gần 30.000ha.
Những diện tích này hoàn toàn được trồng do cơ chế của từng địa phương theo mô hình tiểu điền hoặc giao khoán cho các DN. Còn đối với Tây Nguyên và Tây Bắc - hai khu vực nằm trong diện quy hoạch - cũng đang “lộ diện” việc trồng ồ ạt caosu vượt xa diện tích quy hoạch ban đầu, cùng với việc lạm dụng chính sách để chuyển đổi đất rừng sang trồng caosu ở những vùng rừng không phải là nghèo kiệt.
Theo đó, thay vì giữ ổn định 800.000ha caosu đến năm 2020, hiện tại con số này đã lên tới hơn 915.000ha.
Được biết, Bộ NNPTNT chuẩn bị có báo cáo về diện tích chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng caosu ở vùng Bắc Trung Bộ.
Bởi theo thống kê của Bộ NNPTNT thống kê tại 5 tỉnh Tây Nguyên, có 79% số diện tích được mở rộng trồng caosu là diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi, trong đó không phải toàn bộ diện tích này đều là rừng nghèo kiệt. GS-TSKH Nguyễn Ngọc Lung - Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng - cho biết, đây là hệ quả của lợi ích nhóm hoặc cục bộ địa phương, do nhìn thấy lợi ích trước mắt mà vội vã triển khai ngay.
Lãnh đạo Bộ TNMT cho biết: Bộ NNPTNT và Bộ TNMT đã có khuyến cáo về việc trồng cây caosu tại miền Trung vì loại cây này rất khó tính, chỉ cần gió to là đã không cho mủ, trong khi khu vực miền Trung mưa gió thất thường (rốn của bão). Do đó cần phải xem lại quyết định trồng caosu là vì cái gì? Vì sao lại quyết định trồng ở miền Trung?
Cũng theo Bộ TNMT, sau vụ bão số 10 tàn phá rừng caosu ở miền Trung lần này, cần phải gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, vì còn tiếp tục sẽ thiệt hại rất nhiều đến tiền của và tài sản của người dân và Nhà nước. (Lao Động 4/10) đầu trang(
Hiện có nhiều ý kiến cho rằng một số diện tích cao su ở Việt Nam được mở rộng ở những vùng không phù hợp với điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng và điều này có thể dẫn đến rủi ro, cây chết hàng loạt. Trước thông tin này ông Kpă Thuyên, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai khẳng định: tại Gia Lai có tình trạng cao su chết nhiều nhưng chưa rõ nguyên nhân.
Trả lời về việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su quá mức khiến diện tích rừng bị thu hẹp lại, ông Kpă Thuyên khẳng định: Để có đất trồng cao su thì phải chuyển đổi rừng nghèo, như thế đương nhiên rừng sẽ bị thu hẹp lại.
Cũng chính từ quan điểm này nên khi Chính phủ đưa ra chủ trương cho cả Tây Nguyên 90.000-100.000ha ngay sau đó, khi Bộ NN&PTNT chưa hướng dẫn, hàng loạt tỉnh đã “tranh thủ” làm ngay. Chỉ riêng Gia Lai đã ra thông báo quy hoạch 60.000ha làm cao su mới.
Ông Thuyên khẳng định, ở góc độ kinh tế thì giá trị cây cao su lại cho hiệu quả cao và UBND tỉnh đã có cân nhắc, tính toán kỹ trước khi thực hiện dự án trồng cao su.
Tuy nhiên, trái với mong đợi này, cũng như ở nhiều địa phương khác, cao su ở Gia Lai lại bị chết.
Ông Thuyên thừa nhận: "Ở Gia Lai có tình trạng cao su bị chết nhiều nhưng hiện bộ phận kỹ thuật đang kiểm tra nguyên nhân".
Thực tế này không khiến dư luận quá bất ngờ, bởi trước đó, GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho biết, bản thân ông trước đó từng ngồi trong hội đồng xét duyệt trồng cây cao su ở Tây Nguyên. Khi đưa ra ý kiến ở khu vực này không thích hợp cho sự phát triển của cao su. Cụ thể với cây cao su chỉ cần úng 2-3 ngày là chết nhưng có khu vực vào mùa mưa úng tới 2-3 tuần. Và cả mùa khô ở Tây Nguyên 6 tháng không mưa mà lại không tưới thì cây không sống được. Bản thân cây cao su đã được trồng với chế độ chăm sóc quá tốt nên rất dễ chết. Nhưng các doanh nghiệp tìm đủ cách để bảo vệ.
“Khi hội đồng đưa ra các căn cứ khoa học về lượng mưa, độ sâu của đất, thời tiết nắng… khiến cây cao su không thể sống được ở đất Tây Nguyên, thì ngay lập tức doanh nghiệp đưa ra giấy chứng nhận của Viện nghiên cứu cao su kết luận rằng khu vực đó có thể trồng được cao su. Tức là phía doanh nghiệp đã “chạy” trước cái kết quả này, và biết trước kiểu gì thì hội đồng cũng sẽ lấy ý kiến của Viện Nghiên cứu cao su. Phía doanh nghiệp đã biết trước quy trình của hội đồng”, GS Lung bức xúc.
Và đến bây giờ khi cao su bị chết, hỏi về việc quy trách nhiệm như thế nào về sự cố tình trồng trong đã có nhiều cảnh báo của các nhà khoa học về sự tương thích của cây cao su, ông Thuyên nói: “phải rà soát lại xem nguyên nhân chết vì lý do gì mới có thể biết được trách nhiệm”.
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của tổ chức Tổ chức Forest Trends (tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu về rừng của Mỹ) tại Việt Nam cũng chỉ ra, ngoài chuyện cây chết hiện có nhiều ý kiến cho rằng một số diện tích cao su ở Việt Nam được mở rộng ở những vùng không phù hợp với điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng và điều này có thể dẫn đến rủi ro là cây cao su đến giai đoạn khai thác có thể không cho mủ, hoặc cho mủ nhưng không đạt sản lượng kỳ vọng, hiệu quả kinh tế không đảm bảo.
Tình trạng các cây non được trồng ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc bị chết trong giai đoạn 2008-2009 càng làm xuất hiện nhiều nghi ngờ về tính hiệu kinh tế mà cao su có thể mang lại tại các vùng này trong tương lai.
Điều này đã được Chính phủ cảnh báo trong Chiến lược phát triển cao su, đặc biệt đối với vùng Tây Bắc trong đó khuyến cáo “Các tỉnh vùng Tây Bắc: không phát triển theo phong trào”. Công văn số 1039 ngày 22/2/2012 của Văn phòng Chính phủ gửi Bộ NN&PTNT phản ứng về tình trạng phát triển cao su ồ ạt tại một số địa phương không thuộc quy hoạch cũng nêu rõ: “…do đất đai, thời tiết không phù hợp... đã làm cho cây cao su bị chết, hoặc có sống được lại không cho mủ, và nếu có cho mủ cũng rất thấp, dẫn đến hoang phí tài nguyên đất, công sức, tiền bạc của doanh nghiệp và người dân”.
Theo GS Lung, một thực tế hiện nay đang rất đáng lo ngại là đến thời điểm cây cao su cho mủ người ta còn không dám chích bởi khi cây phát triển không đúng điều kiện thì cũng không cho mủ.
Chính vì điều này, cảnh báo của Forest Trends rằng, về khía cạnh kinh tế, hiện với mức sản lượng bình quân khoảng 1,8- 2,4 tấn mủ/ha/năm, với giá bán trung bình khoảng 60 triệu đồng/tấn thì mỗi ha cao su sau khi đã trừ đi chi phí có thể thu được phần lợi nhuận khoảng 24 triệu đồng/ha/năm.
“Liệu hiệu quả kinh tế này có được đảm bảo, đặc biệt đối với diện tích cao su ở những vùng có đặc điểm về khí hậu, thời tiết, địa hình không phải là tối ưu đối cho cây cao su sinh trưởng và phát triển? Hiện vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi này”, báo cáo viết.
Đến thời điểm này chưa địa phương nào khẳng định được hiệu quả kinh tế từ cây cao su song diện tích rừng tự nhiên bị mất là có thật. Đến cuối năm 2012, diện tích cao su của cả nước đã lên đến 915.000 ha, trong số này 79% diện tích được mở rộng trồng cây cao su trên địa bàn Tây Nguyên là diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi sang. (Đất Việt 4/10) đầu trang(
Quần đảo Hòn Mê nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa, cách đất liền 11 km thuộc xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia với 17 đảo lớn nhỏ, diện tích tổng cộng 450 ha. Trong đó đảo chính là Hòn Mê có diện tích 420 ha. Vùng đảo này có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió trong năm là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam.
Quanh khu vực vùng biển Hòn Mê có tiềm năng đa dạng hệ sinh thái biển, là nơi quần cư của nhiều loài sinh vật biển. Theo kết quả điều tra của Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu vực này đã ghi nhận được 440 loài sinh vật biển thuộc 165 giống. Bao gồm 133 loài thực vật phù du, 46 loài động vật phù du, 8 loài dong biển, 56 loài san hô, 141 loài động vật đáy và 55 loài cá san hô.
Do tác động của tự nhiên và con người, hiện nay các rạn san hô đang bị thoái hóa, nhiều nơi chỉ còn lại nhóm san hô dạng khối thuộc giống Porites và có độ che phủ không cao. Nhiều loài sinh vật biển cần được bảo vệ, trước hết là nhóm san hô tạo rạn, tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm và một số loài rong biển. Qua khảo sát sơ bộ cho thấy, rừng mưa nhiệt đới trên đảo được bảo tồn khá tốt với độ che phủ cao. Ngoài ra trên đảo còn rất nhiều khỉ và một số loài chồn, sóc...
Năm 2010, Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT đã xây dựng đưa Hòn Mê vào danh mục các khu rừng đặc dụng của Việt Nam. Tiếp đó, tháng 4/2010, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã hoàn tất bản Quy hoạch trình Chính phủ. Trên cơ sở đó, ngày 26/5/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định 742 phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển đến năm 2020.
Trong số 16 khu bảo tồn được phê duyệt có Khu Bảo tồn biển Hòn Mê có tổng diện tích được quy hoạch 6.700ha, trong đó phần biển gần 6.200ha. Khu bảo tồn này gồm đảo Hòn Mê cùng 17 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 537ha.
Việc Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho các Bộ, ngành, địa phương các tỉnh ven biển, trong đó Thanh Hóa có đảo Hòn Mê được đưa vào khu bảo tồn biển, trên cơ sở đó giúp các địa phương chủ động hơn trong kế hoạch hành động bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Nhưng cho đến nay Khu Bảo tồn biển Hòn Mê vẫn chưa được thành lập theo Quyết định 742 của Chính phủ. Do đó, cần phải được sớm triển khai thực hiện, nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển tài nguyên biển một cách bền vững, đồng thời có được các giải pháp quản lý đồng bộ, hiệu quả.
Để các loài thủy sinh được bảo vệ sẽ góp phần bảo đảm cân bằng sinh thái, điều hòa môi trường biển, duy trì nguồn giống hải sản, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng và có thể phát triển du lịch sinh thái tham quan đáy biển trong tương lai. Khi hệ sinh thái-sinh cảnh được bảo tồn, sẽ góp phần phát tán ấu trùng, con non, con trưởng thành ra vùng biển ngoài khu bảo tồn. Qua đó tăng năng suất nghề đánh bắt hải sản, phát triển đời sống kinh tế cho ngư dân trong vùng.
Vì vậy, việc quan trọng trước nhất là đẩy mạnh việc lập quy hoạch chi tiết Khu vực quần đảo Hòn Mê. Trong quy hoạch phải làm rõ nội dung cơ bản khu quản lý của quốc phòng; khu vực cảng biển; khu dân cư, làng chài gắn với dịch vụ du lịch; các điểm tham quan du lịch và các khu trên phải được gắn kết với Khu Bảo tồn biển.
Mặt khác, các cơ quan có thẩm quyền sớm có chủ trương di dời dân ra sinh sống tại đảo Hòn Mê, để từ đó người dân vừa có điều kiện khai thác, đánh bắt hải sản, tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch, góp phần vào việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển đảo Hòn Mê, vừa tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. (Tin Tức 4/10) đầu trang(
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, các nguồn gen cây trồng, vật nuôi quý hiếm ở nước ta đang có sự hao hụt cần bảo tồn. Tuy nhiên, việc bảo tồn phải gắn với phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho người dân.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huệ, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Tài nguyên thực vật (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), nguy cơ xói mòn nguồn gen với tốc độ nhanh đang diễn ra bởi nhiều nguyên nhân. Trên thực tế, việc bảo tồn nguồn gen giống cây trồng hiện nay dường như bị phó mặc cho các viện, trung tâm nghiên cứu chuyên ngành, còn địa phương hầu như đứng ngoài cuộc.
Giống ổi Bo chính gốc Thái Bình nhiều năm nay còn lại rất ít. Nguyên nhân là do quá trình đô thị hóa, diện tích ao vườn của người dân trong vùng đều giảm. Người trồng ổi Bo ngày càng ít đi. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế từ cây ổi này không cao. Cây ổi Bo sau ba năm trồng mới có quả, mỗi năm chỉ thu hoạch được một vụ vào khoảng tháng bảy.
Ngay tại Hà Nội cũng có rất nhiều giống cây ăn quả quý hiếm đứng trước nguy cơ bị mai một. Theo khảo sát của Trung tâm Tài nguyên thực vật, vùng thượng nguồn sông Đáy là nơi có nguồn gen cây ăn quả rất phong phú, các nhà khoa học đã phát hiện được 6 nguồn gen quý cần được bảo tồn như: Bưởi Diễn, hồng Thạch Thất, quýt Tích Giang, cam Canh, nhãn muộn Đại Thành... Tuy nhiên, công tác bảo tồn các giống cây này chưa được quan tâm đúng mức.
Chẳng hạn, giống quýt Tích Giang (xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ) nổi tiếng bởi chất lượng thơm ngon và năng suất cao, có thể đạt 100 kg quả/cây. Hơn nữa, quả quýt lại to, 120 - 130 gam/quả, rất ít hạt. Thế nhưng, hiện nay giống cây ăn quả này đang đứng trước nguy cơ mai một vì chưa được phát triển đúng mức.
Đối với vật nuôi quý hiếm, tình trạng cũng không khả quan hơn. TS Võ Văn Sự, Chi hội Động vật quý hiếm (Hội Chăn nuôi Việt Nam), nguyên là Trưởng Bộ môn Động vật quý hiếm và đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi quốc gia, cho biết, Việt Nam có khoảng 20 loài vật nuôi, trong đó 3 loài do người Việt Nam thuần hóa là trâu, lợn, gà và 17 loài nhập ngoại.
Sự hao hụt nguồn gen vật nuôi ở nước ta hiện nay là do sự thay thế các giống năng suất thấp (bản địa) bằng các giống/dòng cao sản từ các nước phát triển. Cụ thể, các loài đặc hữu Việt Nam thường có năng suất thấp và chất lượng không đồng đều. Trong khi đó, những giống nuôi công nghiệp thường cho năng suất cao hơn.
“Gà, lợn bản địa thường bán với giá cao. Đương nhiên, với mức thu nhập của người dân hiện nay thì các loại thịt đó không thể là lựa chọn hàng ngày. Trong khi đó, các loại thịt gà, lợn công nghiệp nếu được nuôi đúng cách thì sẽ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và giá trị dinh dưỡng hơn gà, lợn bản địa”, TS Sự dẫn chứng.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huệ, cần nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn gen cây quý cho cả người dân và chính quyền địa phương. Hiện nay, có 2 hình thức bảo tồn nguồn gen: Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn bên ngoài nơi cư trú tự nhiên của nguồn gen. Trong đó, hình thức bảo tồn tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng, bởi không chỉ duy trì được sự tiến bộ nguồn gen mà qua thời gian sàng lọc, phương pháp này có thể mở rộng nguồn gen.
“Việt Nam đã có khoảng 30 đề tài bảo tồn nguồn gen giống cây trồng tại chỗ nhưng chưa hiệu quả bởi không gắn với sản xuất. Do đó, việc bảo tồn phải gắn với việc khai thác sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho người nông dân”, theo bà Huệ.
Còn theo TS Võ Văn Sự, sự phát triển trở lại của một số giống vật nuôi bản địa của Việt Nam thời gian qua là do nhu cầu của thị trường. Thực tế cho thấy, các giống công nghiệp có năng suất cao nhưng chất lượng nói chung không bằng giống bản địa. Bởi thế, con người hiện đại có xu hướng quay trở lại ăn những giống vật nuôi truyền thống của Việt Nam, ngon và lạ miệng. Chính những giống bản địa này đã và đang mang lại nguồn thu đáng kể cho người chăn nuôi, đặc biệt ở khu vực miền núi.
“Các dân tộc thiểu số hiện vẫn nuôi các giống nội địa như bao đời nay. Việc lên ngôi của các giống nội địa những năm gần đây giúp họ tăng thêm thu nhập. Các loài vật bán được nhiều nhất và giá cao gần đây là các loại lợn đen bản địa và bò H’mông. Rất nhiều quán ăn trương biển bán các loại thức ăn đó”, TS Sự nói.
Mặt khác, theo TS Sự, vẫn có thể nhân rộng giống vật nuôi bản địa thay vì chỉ nuôi ở đúng quê hương của nó. TS Sự cho rằng, chất lượng giống vật nuôi có thể giảm đôi chút nhưng bù lại, chúng được phát triển mở rộng, mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho người dân. Thậm chí, nếu được chăn nuôi bài bản, khoa học thì chất lượng không thua kém so với việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ gia đình địa phương... Ví dụ, gà Đông Tảo hiện nay đang được phát triển rất nhiều tại khu vực phía Nam.
Từ năm 1990, Bộ NN&PTNT đã quyết định cho Viện Chăn nuôi thành lập Dự án bảo tồn quỹ gen các giống vật nuôi quý hiếm. Từ đó hình thành một mạng lưới bảo tồn với khoảng 30 tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ theo dõi, phát hiện các giống vật nuôi quý hiếm để có kế hoạch bảo tồn. (Tin Tức 4/10) đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh Bình Phước đã ban hành Kế hoạch số 186 về việc triển khai thực hiện trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Theo đó, UBND tỉnh đã giao Sở NN&PTNT chủ trì phối hợp với các Sở: Tài chính; Công thương; Tài nguyên và Môi trường; Kế hoạch và Đầu tư và các huyện, thị xã, chủ rừng triển khai thực hiện từ nay đến tháng 05/2014. Việc thực hiện trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được quy định tại Thông tư số 24/2013 ngày 06/5/2013 của Bộ NN&PTNT. (Sở NN&PTNT Bình Phước 3/10) đầu trang(
Triển khai từ năm 2005, đến nay chương trình phát triển lâm nghiệp WB3 (trồng rừng thương mại) tại tỉnh TT- Huế đã đi vào giai đoạn cuối, gặt hái được những thành quả hết sức khả quan với hàng nghìn hộ dân vươn lên làm giàu từ những cánh rừng.
Ông Nguyễn Văn Phán- được mọi người gọi là “vua” rừng ở vùng gò đồi thuộc xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc) cho biết, kể từ năm 2005, sau khi có chương trình phát triển lâm nghiệp WB3, thì người dân mới bắt đầu làm quen với việc trồng rừng. Chương trình trồng rừng thương mại không chỉ giúp cho hộ gia đình ông có điều kiện mở rộng và phát triển diện tích trồng rừng với quy mô lớn, mà còn tạo bước đột phá trong đổi mới tư duy, phương thức phát triển kinh tế rừng dựa trên tiềm năng đất đai của địa phương.
Trong tổng số 150 ha rừng hiện có của ông thì có đến 10 ha được hưởng lợi từ chương trình trồng rừng thương mại. Nét ưu việt lớn nhất của chương trình trồng rừng này là người dân được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Bình quân mỗi hộ dân được vay từ 10-15 triệu đồng/ha. Đây chính là động lực để họ mạnh dạn đầu tư trồng rừng.
Ông Phán hoạch toán, với chu kỳ sinh trưởng của keo lai, sau 5 năm rừng sẽ cho thu hoạch, với giá trị xấp xỉ 90 triệu đồng/ha, thời điểm cao lên đến 100 triệu đồng/ha, trừ mọi chi phí cây giống, công chăm sóc, lãi suất ngân hàng thì cũng thu được 60-70 triệu đồng/ha. Bên cạnh việc tái đầu tư cho gần 30 ha rừng trồng đã thu hoạch trong thời gian qua, hiện ông tiếp tục vươn ra đầu tư hơn 150 ha rừng trồng tại vùng gò đồi thuộc huyện Hải Lăng (tỉnh Quảng Trị).
Sau nhiều năm gắn bó với rừng, người dân ở khu tái đinh cư Bến Ván, xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc) dần nhận ra rằng, rừng không chỉ mang lại nguồn lợi thu nhập cao, mà còn tạo ra những hấp lực mới trong chiến lược phát triển kinh tế rừng bền vững.
Bên cạnh đẩy mạnh việc chăm sóc, phát triển và quản lý rừng có hiệu quả, nhiều hộ dân ở thôn An Nông, Bến Ván (xã Lộc Bổn) đã được Cty GFA của Cộng hòa Liên bang Đức cấp chứng chỉ rừng. Đây là một trong những mục tiêu mà chương trình phát triển lâm nghiệp đề ra nhằm nâng cao năng lực quản lý, nắm bắt thị trường cũng như rút ra những kinh nghiệm trong việc quản lý, duy trì bền vững rừng.
Ông Đặng Duy Bửu, Trưởng thôn Bến Ván 1 cho hay: “Trong quá trình tham gia người dân thấy được hiệu quả mà chương trình mang lại rất cao, trước hết là bà con được ổn định SX trên đất của mình, được hỗ trợ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vay vốn ưu đãi, được tập huấn về kỹ thuật trồng rừng”.
Còn đối với ông Hồ Khả Bồi, một hộ dân sinh sống ven rừng thuộc địa bàn phường Hương Vân (thị xã Hương Trà), được chính quyền địa phương tạo điều kiện tham gia triển khai chương trình trồng rừng của dự án WB3 từ năm 2009. Với diện tích 3 ha rừng trồng, bình quân ông Bồi được vay 15 triệu đồng /ha, theo hình thức giải ngân hai đợt thông qua Chi nhánh Ngân hàng chính sách. Sau khi triển khai phát thực bì, đào hố sẽ giải ngân 50% nguồn vốn của đợt một, số còn lại 50% sẽ được giải ngân sau khi hoàn thành việc trồng rừng.
Theo ông Bồi, đây là quy định cho vay rất được người dân đồng tình ủng hộ, vì cách làm này sẽ giám sát chặt chẽ được đồng vốn ưu đãi. Ông Bồi nhẩm tính: “Với diện tích rừng trồng 3 ha của tui, sau 5 năm sẽ cho thu hoạch xấp xỉ 90-100 triệu đồng/ha. Nhờ vậy, cuộc sống của gia đình ông cũng như người dân sinh sống ven rừng không còn chật vật như trước đây, bởi chỉ bán 1 ha rừng là có thể sửa được căn nhà hoặc đầu tư cho con cái học hành”.
Chương trình phát triển lâm nghiệp WB3 được triển khai tại TT- Huế từ năm 2005-2013, gồm thị xã Hương Thủy, Hương Trà và các huyện Nam Đông, Phú Lộc, Phong Điền. Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã tiến hành đo đạc được hơn 14.300 ha đất lâm nghiệp. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp đã cấp sổ đỏ hơn 11.600 ha, với 7.340 hộ và tổng nguồn vốn giải ngân gần 89,6 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/10) đầu trang(
Ngày 2/10, ông Dương Ngọc Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cùng đại diện các sở: NN&PTNT; Ngoại vụ; Công Thương; Kế hoạch - Đầu tư đã có buổi làm việc với nhà đầu tư Hàn Quốc - Văn phòng đại diện của Công ty Sung chang Enterprise Co., Ltd tại Việt Nam.
Đại diện nhà đầu tư Hàn Quốc cho biết, đã tìm hiểu tình hình thực tế ở Thái Nguyên và bày tỏ mong muốn được đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp. Cụ thể là muốn được hợp tác với các doanh nghiệp trong tỉnh trồng 10 nghìn ha rừng với kinh phí đầu tư 25 triệu USD và đầu tư xây dựng nhà máy chế biến ván dăm trị giá 90 triệu USD.
Thái Nguyên hiện có gần 179 nghìn ha đất trồng cây lâm nghiệp, trong đó có trên 80 nghìn ha quy hoạch cho trồng rừng. Tỉnh đã thực hiện cơ bản việc giao đất, giao rừng cho các tập thể, cá nhân trong tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 4 doanh nghiệp đang quản lý trên 11 nghìn ha rừng. Nếu nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư vào lĩnh vực này sẽ rất thuận lợi. Đại diện ngành NN&PTNT đề xuất ý kiến là việc đầu tư cần theo hướng liên doanh, liên kết với các công ty lâm nghiệp trong tỉnh… (Báo Thái Nguyên 3/10) đầu trang(
Khi có Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991) và Chỉ thị 90/1992 về “Những biện pháp cấp bách ngăn chặn nạn phá rừng”, Quyết định số 327/1992 về trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, Tuyên Quang đã thực hiện phương châm đóng cửa rừng tự nhiên, quản lý chặt chẽ việc khai thác rừng trồng và vườn rừng hộ gia đình.
Bên cạnh đó, tập trung công tác khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng bằng các biện pháp: “Gần trồng trước, xa trồng sau; dễ trồng trước, khó trồng sau”. Từ mục tiêu trồng rừng phát triển vốn rừng, Tuyên Quang đưa diện tích có rừng từ 184.024 ha năm 1993, lên 302.861 ha năm 1998. Trong 6 năm, bình quân mỗi năm tăng thêm 10.000 ha đất có rừng. Trong đó trồng rừng thuộc chương trình 327 thực hiện được 24.133 ha, tỷ lệ thành rừng đạt trên 80%.
Ghi nhận những nỗ lực trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Tuyên Quang được Chính phủ đánh giá là tỉnh dẫn đầu cả nước về thực hiện Chương trình 327 và được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng Nhì và nhiều lâm trường đươc nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Tham gia chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661), sau 13 năm thực hiện (từ 1998 đến 2010) toàn tỉnh đã quản lý, bảo vệ 346.912 ha rừng, trồng mới 79.666 ha, đạt 100% kế hoạch. Do làm tốt công tác phát triển vốn rừng nên diện tích đất có rừng từ 293.516 ha năm 1998 lên 403.795 ha năm 2010. Độ che phủ của rừng từ 47% năm 1998 lên trên 62% năm 2010, Tuyên Quang là tỉnh có độ che phủ rừng đứng thứ 3 trong toàn quốc (sau Kon Tum và Quảng Bình).
Bằng các giải pháp trồng rừng, nâng độ che phủ của rừng, tỉnh ta đã cải thiện đáng kể về môi trường sinh thái. Điều dễ nhận thấy là vào mùa mưa lũ, tình trạng sạt lở núi và ngập lụt trên diện rộng ít xảy ra; gieo cấy lúa vụ xuân, không diện tích ruộng chuyển đổi sang cây trồng cạn. Chính là nhờ có nguồn sinh thủy, các công trình thủy lợi, ao, hồ, suối đáp ứng đủ nguồn nước cho làm đất và gieo cấy.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, năm 2005, toàn tỉnh tiến hành rà soát và phân lại 3 loại rừng (rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng). Kết quả sau rà soát và quy hoạch phân loại cụ thể là rừng đặc dụng có 48.899,7 ha, chiếm 11% diện tích đất lâm nghiệp; rừng phòng hộ có 138.442,5 ha, chiếm 31% diện tích đất lâm nghiệp; rừng sản xuất có 258.505,7 ha chiếm 58% diện tích đất lâm nghiệp. Cùng với đó đã tổ chức xác định ranh giới trên bản đồ và hoàn thành cắm 753 mốc theo phân 3 loại rừng ngoài thực địa. (Báo Tuyên Quang 2/10) đầu trang(
Đến cuối tháng 9, Văn phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên lần đầu đã cấp sổ đỏ cho hơn 15.000/22.000 ha đất nông, lâm trường, đạt hơn 68% kế hoạch năm.
Để hoàn thành mục tiêu cấp giấy chứng nhận lần đầu cho các nông, lâm trường, Văn phòng đề nghị ngành nông nghiệp đẩy nhanh việc chuyển đổi quy hoạch 3 loại rừng, UBND các huyện đặc biệt là Đại Từ và Đồng Hỷ phối hợp với các đơn vị đóng trên địa bàn rà soát diện tích đất cần cấp. (Nông Thôn Ngày Nay 4/10) đầu trang(
Thị xã Phúc Yên có tổng diện tích rừng 4.639,03ha, trong đó, có 1.541,3ha rừng phòng hộ. Những năm qua, thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, lực lượng kiểm lâm Phúc Yên đã cùng với chính quyền địa phương và các ngành chức năng tiến hành rà soát, bàn giao toàn bộ diện tích đất rừng, đất lâm nghiệp đến các hộ dân.
Đến nay, 100% diện tích rừng phòng hộ của Phúc Yên đã có chủ. Sau khi giao khoán đất rừng, đất lâm nghiệp, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã phối hợp cùng các chủ rừng thực hiện có hiệu quả các dự án, xây dựng các đội bảo vệ rừng cũng như làm tốt công tác phòng, chống cháy rừng.
Theo anh Đào Tuấn Đạt, Phó hạt Trưởng Hạt kiểm lâm Phúc Yên, rừng ở Phúc Yên nhiệm vụ chủ yếu là phòng hộ, giữ môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho du lịch phát triển và trở thành mảnh đất tiềm năng cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, với chức năng, nhiệm vụ được giao, lực lượng kiểm lâm Phúc Yên bảo vệ bằng được những diện tích rừng theo quy hoạch bằng các biện pháp lâm sinh, hỗ trợ các diện tích rừng chưa đủ tiêu chí rừng phòng hộ; xác định ranh giới và đóng mốc giới rừng phòng hộ; phân chia các trạng thái rừng để quản lý theo quy định.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển rừng hàng năm, hạt đã khoán bảo vệ rừng 700ha cho các hộ dân; khoanh nuôi tái sinh rừng 158ha; chăm sóc rừng 186ha... qua đó, nhiều diện tích rừng đã được phủ xanh, tạo cảnh quan sinh thái cho môi trường sống và sản xuất, góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm thực vật, điều tiết nguồn nước, dòng chảy... đưa độ che phủ của rừng lên 37,5%.
Là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp không lớn (chỉ chiếm 26,8% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh), nhưng rừng của Vĩnh Phúc có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội Trong đó, dãy núi Tam Đảo giữ vai trò quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân không chỉ trong tỉnh mà còn toàn vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc. Vì vậy, rừng luôn được sự quan tâm của các cấp, ngành và nhân dân trong tỉnh, thu hút và huy động được nhiều người dân vùng có rừng tham gia trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo quy hoạch rà soát 3 loại rừng, hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4.107,5ha rừng phòng hộ, chiếm 12,42% đất lâm nghiệp, trong đó có 1.074,88ha rừng tự nhiên nghèo kiệt, chất lượng và trữ lượng rừng rất thấp (chỉ từ 20-50m3), độ tàn che dưới 0,5, mật độ cây mục đích thấp hơn yêu cầu; rừng trồng 2.691,86ha, loài cây chủ yếu là Thông, Muồng và một số loài cây bản địa khác, chất lượng rừng không cao... (Báo Vĩnh Phúc 3/10) đầu trang(
Trước năm 2003, trên địa bàn Tuyên Quang có 6 lâm trường thuộc tỉnh quản lý và 4 đơn vị (3 lâm trường và Trạm Thực nghiệm) thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam quản lý.
Trong suốt thời kỳ từ 1993 đến năm 2003, các lâm trường quốc doanh đã triển khai thực hiện tốt chương trình 327 và Quyết định 661/TTg của Chính phủ thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn góp phần nâng độ che phủ của rừng từ 32% năm 1993 lên 56,3% năm 2003.
Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các lâm trường bộc lộ một số tồn tại, yếu kém, thể hiện tỷ lệ lao động gián tiếp các lâm trường còn cao; thu nhập của cán bộ công nhân lâm trường đạt thấp; đặc biệt công tác quản lý đất đai chưa chặt chẽ, bị các tổ chức cá nhân lấn chiếm 2.888,04 ha, chiếm 8% diện tích của các lâm trường; tình trạng khai thác trái phép gỗ rừng trồng ngăn chặn chưa hiệu quả.
Nhận thấy yếu kém của các lâm trường, thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 16-6-2003 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới phát triển nông lâm trường quốc doanh và các văn bản của Chính phủ. Ngày 6-9-2005, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển các lâm trường.
Tuy nhiên, tiến độ thực hiện chậm, kê khai đánh giá tài sản khó khăn do các lâm trường không xác định được ranh giới dẫn đến rà soát, đo đạc đất đai lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và trả lại đất cho chính quyền địa phương khó khăn.
Thêm vào đó, địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh của các lâm trường rộng, nằm phân tán trên địa bàn nhiều xã. Trong 6 lâm trường thuộc tỉnh quản lý, hết năm 2008 có 5 lâm trường chuyển tên thành Công ty lâm nghiệp và 1 lâm trường (Nà Hang) chuyển sang đơn vị sự nghiệp. Tiếp tục đến năm 2012 các Công ty lâm nghiệp chuyển thành Công ty TNHH một thành viên (MTV).
Theo Sở Tài chính, sau cổ phần hóa thực hiện sắp xếp đổi mới phát triển, các doanh nghiệp lâm nghiệp đã tách bạch được nhiệm vụ công ích và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của doanh nghiệp.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2012 của các doanh nghiệp lâm nghiệp đạt 43,8 tỷ đồng, lợi nhuận thực hiện 1 tỷ 265,5 triệu đồng, nộp ngân sách Nhà nước 2,4 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt gần 5 triệu đồng/người/tháng. Trong 5 doanh nghiệp có 4 doanh nghiệp làm ăn có lãi và 1 doanh nghiệp lỗ (Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Yên Sơn).
Đánh giá về sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW, Sở NN&PTNT khẳng định, các công ty lâm nghiệp sau chuyển đổi mỗi năm tham gia trồng mới từ 2.000 đến 2.400 ha rừng, trong đó tỷ lệ thành rừng đạt từ 95% đến 100%. Mặc dù các công ty lâm nghiệp vay vốn khó khăn (hiện chưa doanh nghiệp nào có bìa đỏ), nhưng do huy động nguồn vốn và tiết kiệm chi phí, hàng năm các đơn vị đều hoàn thành chỉ tiêu trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Việc liên doanh, liên kết trồng rừng thông qua hợp đồng đã góp phần tích cực vào giải quyết việc làm cho nhân dân sống gần rừng có thêm thu nhập, tham gia tích cực vào chương trình xóa đói giảm nghèo trên địa bàn. Cùng với đó, tạo lập vùng hàng hóa tập trung, đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và môi trường sinh thái được cải thiện đáng kể.
Mặc dù đã sắp xếp, đổi mới và thực hiện đề án phát triển doanh nghiệp theo định hướng của Chính phủ và UBND tỉnh, bước đầu đã khẳng định vai trò nòng cốt của doanh nghiệp. Từ việc sử dụng đất đúng mục đích, công tác trồng rừng, liên doanh với hộ dân đảm bảo hài hòa lợi ích và góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp lâm nghiệp của tỉnh đều ở quy mô nhỏ, khi chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên có mức vốn điều lệ thấp, nhưng chưa được cấp bổ sung đủ vốn điều lệ theo quy định. Công tác rà soát, quy hoạch và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các lâm trường tuy có chỉ đạo của tỉnh, nhưng việc tổ chức thực hiện chậm. Việc chậm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng thương mại.
Điều đáng quan tâm là các lâm trường do tỉnh quản lý, trước khi chuyển đổi có tổng số 33.554,7 ha đất lâm nghiệp, sau khi chuyển đổi giữ lại 23.797 ha, còn lại đã bàn giao về các xã. Tuy vậy tình trạng tranh chấp đất lâm nghiệp của hộ dân với doanh nghiệp lâm nghiệp vẫn diễn ra. Hiện nay có tổng số 1.192 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, nhưng các doanh nghiệp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thiếu cơ sở xử lý theo pháp luật. (Báo Tuyên Quang 4/10) đầu trang(
Thời gian trước, Na Rì luôn là điểm nóng của các hoạt động khai thác lâm sản trái phép. Để bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn huyện đã tăng cường các biện pháp ngăn chặn, truy quyét, đến nay tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép đã cơ bản được khống chế.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm huyện đã lập biên bản xử lý 79 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó có 31 vụ cất giữ lâm sản trái phép, 38 vụ vận chuyển trái phép, 2 vụ khai thác và một số vụ vi phạm khác.. So với cùng kỳ năm 2012 giảm 32 vụ.
Hiện nay, lực lượng kiểm lâm Na Rì vẫn xác định, tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra lén lút ở các xã có rừng giáp ranh. Bên cạnh đó, do lợi nhuận cao từ hoạt động này nên một số đối tượng vẫn bất chấp các quy định của pháp luật tham gia hoạch tiếp tay cho các hành vi vi phạm. Đặc biệt, vào những tháng cuối năm tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng thường diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, huyện Na Rỳ sẽ triển khai đồng bộ nhiều biện pháp bảo vệ rừng.
Để kiểm soát tốt tình hình, lực lượng kiểm lâm của huyện Na Rỳ cũng sẽ phối hợp với lực lượng Kiểm lâm của Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ , trong đó vấn đề duy trì hiệu quả hoạt động của các tổ chốt liên ngành đóng vai trò quan trọng. Song song với việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát và truy quét các đối tượng vi phạm, huyện cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phát hiện và tố giác các hành vi khai thác lâm sản trái phép với ngành chức năng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 3/10) đầu trang(
Ngay sau khi Báo Gia Lai phản ánh về việc người dân chặt, phá rừng thông tại các tiểu khu 496, 499 và 501 thuộc địa bàn huyện Mang Yang, UBND tỉnh đã kiên quyết chỉ đạo các ngành, UBND huyện Mang Yang làm rõ và xử lý các sai phạm. Riêng các cấp chính quyền huyện Mang Yang đã chỉ đạo, lập báo cáo cũng như chỉ đạo các cấp kiên quyết không để tình trạng chặt phá rừng thông diễn ra trong thời gian đến.
Ngày 1-10, ông Trương Văn Biện-Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng cho biết: Tại tiểu khu 501, xã đã phối hợp vận động người dân, khu dân cư không được lấn chiếm đất lâm nghiệp, với những hộ dân đã lấn chiếm, sản xuất đề nghị các cấp chính quyền cấp trên hỗ trợ địa phương đưa ra giải pháp giải quyết dứt điểm, riêng với các hộ dân mới lấn chiếm đất rừng tại tiểu khu 501 sẽ tham mưu đề nghị cưỡng chế.
Qua vụ việc phá rừng thông, lấn chiếm đất rừng của người dân được phát hiện thì đến nay chưa phát hiện thêm trường hợp nào chặt phá cây rừng, mỗi ngày có tổ công tác liên ngành kiểm tra, nếu có xảy ra chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm.
Liên quan đến vụ việc trên, ông Hoàng Thi Thơ-quyền Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa cho biết: Về sai phạm của các ông Phạm Đức Linh, Nguyễn Văn Yên, Hồ Văn Tư tự ý làm nhà, chuồng trại chăn nuôi và trồng 0,9 ha cây tiêu trên diện tích đất đã nhận khoán trồng rừng, Ban Quản lý đã thực hiện việc thanh lý, thu hồi diện tích đất sai phạm, riêng các cây trồng tại diện tích đất sai phạm đang chờ ý kiến chỉ đạo của cấp trên chưa phá bỏ.
Theo phản ánh từ người dân: Tháng 3-2013, ông Trương Văn Biện-Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng đã cho Công an xã, dân quân và thuê 2 máy cưa đến tại tiểu khu 501 để cưa cây thông mang về bán cho người khác.
Xác thực về thông tin này, ngày 1-10, tại trụ sở UBND xã, ông Biện xác nhận: Thông tin trên là đúng, vào thời điểm trên ông nhận được chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện đi cưa những cây thông đã bị người dân làm chết khô để đưa về xã tận dụng làm bàn, ghế. Gỗ thông không thể sử dụng nên quyết định bán cho người dân với số tiền được 3 triệu đồng nộp vào quỹ công đoàn. Khi đặt vấn đề, tại tiểu khu còn nhiều cây thông đang chết khô vậy có tiếp tục chặt không? Thì ông Biện nói rằng: Giờ cho cũng không dám! (Báo Gia Lai 4/10) đầu trang(
Trong các số báo ra ngày 27 và 28/9, Báo Sài Gòn Giải Phóng đã đăng tải loạt bài “Đổi mới lâm trường quốc doanh: Bình mới rượu cũ?”. Trong đó, qua quá trình đi thực tế phóng viên đã ghi nhận, phản ánh nhiều bất cập trong việc quản lý rừng ở một số tỉnh. Báo Sài Gòn Giải Phóng giới thiệu một số ý kiến đề xuất về các giải pháp đối với vấn đề này.
Theo GS-TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường: Một yếu tố dẫn đến việc sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh (LTQD) chưa bài bản là do một số chính sách được đưa ra dựa trên cơ sở dữ liệu không đúng. Số liệu báo cáo về tranh chấp đất rừng chưa phản ánh đúng với thực tế nên các nhà quản lý và hoạch định chính sách chưa đánh giá đúng tầm vấn đề.
Để việc thực hiện Nghị quyết 28 về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới nông lâm trường quốc doanh” (viết tắt NQ 28) một cách hiệu quả, cần phải có những chính sách cũng như sự tham gia của các bên liên quan nhằm giải quyết một cách triệt để tranh chấp đất rừng, nếu không việc đổi mới LTQD vẫn chưa thể có một bước tiến mới.
NQ 28 kỳ vọng các lâm trường giữ được vai trò nòng cốt đối với kinh tế - xã hội của địa phương, tạo ra những vùng chuyên canh nguyên liệu để người dân tham gia, đảm bảo kết nối được chuỗi sản xuất từ sử dụng đất đến tiếp cận thị trường để tạo đầu ra cho sản phẩm nhưng các lâm trường vẫn chưa làm được.
Những công ty nông, lâm nghiệp nếu đổi mới nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo hướng tổng hợp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường sẽ đem lại thành công. Thực tế nhiều công ty nông nghiệp đã thành công với mô hình “4 nhà”: nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - nông dân, các công ty lâm nghiệp (CTLN) có thể tham khảo mô hình này.
Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển - CODE) cho rằng: Nên thu gọn mô hình CTLN. Ông Tú cho biết: Trong bối cảnh hiện nay, nên quy hoạch gọn quy mô cũng như diện tích đất rừng của CTLN, tiếp tục giải thể những CTLN hoạt động không hiệu quả, số còn lại phải đổi mới phương thức hoạt động. Các CTLN quản lý chủ yếu rừng tự nhiên nên chuyển thành ban quản lý rừng và nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đầu tư thỏa đáng cho công tác bảo vệ rừng. Những CTLN ở những khu vực có điều kiện thuận lợi kinh doanh lâm sản thì chuyển thành công ty kinh doanh theo cơ chế đặc thù của ngành lâm nghiệp.
Đối với những CTLN chủ yếu sản xuất kinh doanh trồng rừng nguyên liệu nên giải thể để trả lại đất cho địa phương. Trong trường hợp các CTLN có cơ sở chế biến và hoạt động dịch vụ kỹ thuật thì chuyển sang công ty chế biến lâm sản và dịch vụ kỹ thuật lâm sinh, chỉ giữ một phần diện tích đủ đảm bảo về cơ sở hạ tầng, khoảng 1.000 - 2.000ha.
Còn theo ông Tô Xuân Phúc, Trưởng đại diện Tổ chức Forest Trends: Nên tách các phần diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm trả lại cho địa phương làm cơ sở giao cho các hộ dân đảm bảo đủ diện tích đất canh tác. Khi thực hiện giao đất trồng rừng hoặc khoán bảo vệ rừng cũng cần phải ưu tiên cho người dân tại chỗ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số trước khi giao, khoán cho các đối tượng bên ngoài cộng đồng.
Đối với phần đất của lâm trường phải cho thuê đất trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của đất và rừng. Bên cạnh đó các thông tin liên quan đến thay đổi sử dụng đất và tài nguyên rừng (khoán, bảo vệ rừng) cần phải được công khai, minh bạch.
Ông Nguyễn Chí Thung, Chủ tịch UBND xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông cho rằng: Trước thực trạng rừng vẫn bị mất, dân vẫn lấn chiếm và chặt phá, trong khi nhà nước vẫn phải dành một khoản kinh phí nhất định để duy trì một mô hình không hiệu quả thì rất lãng phí.
Các CTLN nên rà soát, bàn giao lại một phần đất cho địa phương để quản lý và phân chia lại cho các hộ dân trên cơ sở từ chính nhu cầu cần đất để sản xuất nông nghiệp, ổn định cuộc sống. Khi giao về địa phương, công tác bảo vệ rừng, địa phương cũng sẽ làm tốt hơn: vừa kiểm tra, đôn đốc, thậm chí quản lý người dân trong công tác bảo vệ rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 4/10) đầu trang(
Năm 2010, anh Nguyễn Văn Đạng (thường gọi là Bảy Đạng), ở ấp An Hòa, xã Khánh Bình (huyện An Phú, An Giang), với số vốn ban đầu vài triệu đồng, anh mua một cặp rắn hổ hèo (dân gian gọi là rắn ráo trâu) đã trưởng thành rồi nhân giống, ép cho đẻ. Nay anh đã đầu tư hàng trăm triệu đồng mở rộng chuồng trại, rồi mua giống rắn hổ hèo về gây nuôi.
Loài rắn này rất dễ nuôi, mau lớn, nếu chăm sóc đúng “bài bản” thì sau 6 tháng là rắn trưởng thành. Mỗi con giống cân nặng từ 1 - 1,5kg. Thức ăn chủ yếu cho rắn cũng dễ tìm, như ếch, nhái, chuột, rắn mối… Mùa này bắt đầu vào mùa nước nổi, ếch, nhái, chuột chạy lũ về tràn đồng nên thức ăn của rắn hổ hèo không phải lo nhiều. Khoảng 1 năm tuổi, rắn sẽ tự phối giống và bắt đầu đẻ, mỗi lứa từ 10 - 20 trứng, tỷ lệ nở đạt từ 85% - 95%.
Với thành công đó, trang trại của anh Bảy đã có trên 200 rắn bố mẹ, 300 rắn lứa và nhiều rắn con mới nở. Đó là chưa kể số rắn giống đã bán ra hơn hàng chục ngàn con trong mấy năm qua, giá một cặp rắn giống đã trưởng thành cũng trên dưới 2,5 triệu đồng.
Nói về cái duyên với nghề nuôi rắn hổ hèo, ông Bảy Đạng trần tình: “Cũng nhờ thằng con đi ra tỉnh Bình Thuận chơi, thấy bạn nuôi rắn trong hộc tủ làm bằng gỗ, thùng xốp cũng lạ và hiệu quả nên nó dẫn tui ra tận đó học hỏi. Sau khi tìm hiểu rõ về cách nuôi, tui đã mua rắn giống về nuôi thử. Thấy công việc thuận lợi, tui nuôi rắn hổ hèo giống cho tới giờ”. Hiện anh Bảy đang nuôi gần 1.000 “mỹ nữ” rắn cái chuyên đẻ và đang ấp khoảng 2.000 trứng rắn.
Trong căn nhà rộng khoảng 500m² của anh Bảy, đâu đâu cũng có những kệ, tủ, thùng xốp được dựng sát vách tường. Mỗi tủ có chiều dài từ 2 - 4m, mặt sau được đóng kính, mặt trước ông chia thành nhiều hộc nhỏ. Mỗi hộc có diện tích như nhau, ngang 30cm, dài (chiều sâu) 50cm, có cửa mở, đóng đàng hoàng. Tính hết các tủ ở đây thì có trên 1.000 hộc.
Nói về tính hiệu quả của cách nuôi độc đáo này, anh Bảy cho biết: “Nuôi theo mô hình này tuy tốn kém hơn cách nuôi trong bể, nhưng được cái là mình tiết kiệm được diện tích và có thể nuôi ngay trong nhà ở của mình. Cái tiện nữa là con nào bỏ ăn hay bệnh dễ nhận biết ngay do mỗi con một hộc tủ, không lẫn lộn với con khác. Vì cách nuôi này mà tỷ lệ hao hụt giảm nhiều, người nuôi có lời là chỗ đó”.
Một cán bộ Phòng NN-PTNT huyện An Phú, nhận xét: “Bấy lâu nay, chỉ nghe nói đến việc nuôi rắn trong bể, trong ao hoặc thả vườn… chứ chưa nghe nói đến việc nuôi, ấp rắn trong hộc tủ, thùng xốp. Bởi vậy, mô hình nuôi rắn trong tủ, ấp trứng trong hộp xốp của anh Bảy được xem là mô hình đầu tiên ở ĐBSCL. Tuy nhiên, về hiệu quả thực tế của mô hình này như thế nào thì phòng sẽ tiếp tục theo dõi để có đánh giá xác thực trước khi nhân rộng cho bà con nông dân nuôi”.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Chi cục Kiểm lâm An Giang, năm 2012 chỉ vài hộ đến đăng ký thủ tục nuôi rắn hổ hèo tại Phòng Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên. Còn hiện tại đã có trên 40 hộ đăng ký gây nuôi loại động vật hoang dã này, với số lượng lên đến gần 7.000 con, giá mỗi con giống bố mẹ từ 800.000 - 1.000.000 đồng/kg. (Sài Gòn Giải Phóng 4/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk đã có thông báo gửi đến các cơ quan chức năng và Chi cục Kiểm lâm các tỉnh, thành phố đề nghị tăng cường kiểm tra việc quản lý, rà soát các thủ tục hồ sơ về nguồn gốc lâm sản trên các lĩnh vực xuất, nhập, vận chuyển, tiêu thụ lâm sản.
Qua kiểm tra, kiểm soát, các đơn vị chức năng trong và ngoài tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện một số doanh nghiệp giả mạo con dấu, chữ ký của lãnh đạo các Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp, thành phố Buôn Ma Thuột để lập hồ sơ vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Cụ thể, Doanh nghiệp tư nhân Phát Lộc (243 Nguyễn Trường Tộ), Công ty trách nhiệm hữu hạn Chung Úy, Công ty trách nhiệm hữu hạn Quyền Quang Vinh (đều ở số 57 Phùng Hưng, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột), Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại và dịch vụ phát triển Quốc Việt (ở TPHCM) đã giả mạo chữ ký, con dấu của lãnh đạo kiểm lâm các địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để vận chuyển trái phép hàng trăm mét khối gỗ các loại.
Vụ việc đang được các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ. (VietnamPlus.vn 3/10; Lao Động 4/10; Thanh Niên 3/10) đầu trang(
Một quyết định hành chính của Hạt Kiểm lâm chưa hề bị đương sự khởi kiện nhưng vẫn được đưa ra xét xử. Tang vật vi phạm nghi bị Hạt Kiểm lâm đánh tráo là những chi tiết khiến vụ án hành chính tại Lạng Sơn trở nên phức tạp.
Ngày 18/6/2012, ông Dương Văn Hùng (xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) được thuê vận chuyển bạch đàn củi từ Đồng Bụt, xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng về làm chống giàn giáo xây một trường học trên địa bàn huyện. Do không có bảng kê lâm sản có xác nhận của kiểm lâm phụ trách địa bàn nên cán bộ kiểm lâm đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Hùng.
Ngày 10/7/2012, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hữu Lũng ra Quyết định 0003186 xử phạt vi phạm hành chính ông Hùng 3 triệu đồng do có hành vi vi phạm thủ tục hành chính trong mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ lâm sản theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Quyết định trên áp dụng luật sai vì đối tượng bị xử phạt của Điều luật trích dẫn là chủ cơ sở chế biến, kinh doanh, mua, bán lâm sản chứ không “dành” cho lái xe như ông Hùng. Vì điều đó, ông Hùng kiện ra Tòa yêu cầu hủy Quyết định xử phạt.
TAND huyện Hữu Lũng xử đã bác yêu cầu của ông Hùng nhưng VKSND huyện Hữu Lũng ngay sau đó đã kháng nghị bản án với lý do: “Ông Hùng chỉ là người vận chuyển thuê số gỗ cho ông Mai Viết Hội. Ông Hùng không phải là đối tượng bị xử phạt theo Điểm c Khoản 1 Điều 22 Nghị định 99, việc xử phạt không có căn cứ. Vì vậy, TAND huyện bác đơn của ông Hùng là không đúng quy định”. Vì thế, VKSND huyện đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) sửa án sơ thẩm, hủy Quyết định xử phạt hành chính.
Thế nhưng, trước phiên phúc thẩm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hữu Lũng đã hủy quyết định cũ và ban hành một quyết định mới - Quyết định 0002258 - chuyển hành vi của ông Hùng thành vận chuyển gỗ trái pháp luật, vi phạm Điểm c Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 99 và tăng mức phạt lên tới 6.250.000 đồng.
Đến đây, lẽ ra HĐXX phúc thẩm phải đình chỉ vụ án vì quyết định bị kiện đã được bãi bỏ và Quyết định mới 0002258 không phải là đối tượng khởi kiện trong vụ án do ông Hùng chưa hề kiện, nhưng HĐXX vẫn “đè” quyết định mới ra xử và tuyên: “Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hùng yêu cầu hủy Quyết định 0002258”.
Bức xúc vì kiện một đằng, bản án xử một nẻo, ông Hùng nói: “Quyết định 0002258 cũng sai nhưng tôi đã kiện đâu, kiện lúc nào mà nói “bác yêu cầu”?. Tôi chỉ kiện Quyết định 0003186 mà thôi”.
Tại phiên phúc thẩm, để đảm bảo hai cấp xét xử và quyền kháng cáo của các bên đương sự với quyết định mới, VKSND tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị HĐXX phúc thẩm xử hủy án sơ thẩm và trả hồ sơ cho Tòa án sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung. Nhưng HĐXX đã không nghe.
Nhận định về vụ việc này, Luật sư Ngọc Hà (VPLS Đa Phúc) cho rằng, bản án phúc thẩm vi phạm tố tụng. “Lẽ ra, vụ án này phải đình chỉ vụ án theo Điều 120 Luật Tố tụng Hành chính vì đối tượng khởi kiện không còn. Nếu người khởi kiện vẫn kiện quyết định thứ hai thì Tòa án hướng dẫn họ khởi kiện lại và cấp sơ thẩm thụ lý từ đầu.
Trong trường hợp này, ông Hùng không kiện quyết định thứ hai mà vẫn xét xử là sai hoàn toàn, vượt quá yêu cầu của người khởi kiện và truất mất quyền kháng cáo bản án vì bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay. Vì thế bản án này cần bị hủy” - Luật sư Hà phân tích.
Về quyết định xử phạt thứ hai, ông Hùng cho rằng Hạt Kiểm lâm đã “dựng chuyện” để phạt ông. Theo ông, số bạch đàn trên xe chỉ là dạng củi nhưng ngày 12/6/2013, sau một năm bị tạm giữ tại Hạt Kiểm lâm (tạm giữ ngày 19/6/2012), bạch đàn bị đem ra giám định và kết luận có 9 cây gỗ đường kính từ 10 - 11cm.
Kết quả này trái với đặc điểm tang vật lúc bị thu giữ được chính Hạt Kiểm lâm Hữu Lũng ghi nhận ở hai tài liệu là Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và Quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện ngày 19/6/2012: “Gỗ bạch đàn đường kính từ 0,06m đến 0,10m”.
“Họ đã bỏ vào 9 cây gỗ để khép tội tôi chở gỗ không có dấu búa kiểm lâm và phạt theo Điểm c Khoản 1 Điều 20 Nghị định 99. Không chỉ mâu thuẫn với biên bản trước đó họ đã lập mà thực tế ở địa phương tôi, khi bán bạch đàn làm cây chống giàn giáo, người ta chỉ bán loại kích thước từ 4cm đến 8cm chứ không có lớn hơn. Việc xuất hiện những cây bạch đàn gỗ có đường kính đến 11cm sau một năm bị giữ tại Hạt Kiểm lâm là đầy mâu thuẫn. Gỗ để một năm phải teo ngót đi chứ sao lại “nở” ra được?” - ông Hùng bức xúc nói.
Vì vụ việc có quá nhiều khuất tất, trái pháp luật, ông Hùng đã có văn bản đề nghị TANDTC và VKSNDTC kháng nghị bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Lạng Sơn. Một bằng chứng quan trọng đang được ông Hùng lưu giữ cẩn thận, đó là đoạn video ông quay lại toàn bộ xe gỗ lúc bị tạm giữ. Đây sẽ là bằng chứng quan trọng để làm rõ tang vật có bị tráo hay không?. (Pháp Luật Việt Nam 3/10) đầu trang(
Ngày 3.10, nhiều nhà đầu tư xôn xao khi thông tin Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Bình Dương phải tổ chức cuộc họp làm cầu nối giữa các ngân hàng (NH) đang là chủ nợ của CTCP Tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành (TTF) để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn về khoản nợ của công ty này.
Ông Võ Trường Thành, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc TTF, cho biết công ty đã được 13 NH chủ nợ đồng ý ký lại các hợp đồng tín dụng kéo dài thời gian hơn như đề nghị của công ty.
Theo đó, số nợ ngắn hạn hơn 1.400 tỉ đồng (tính đến hết tháng 6.2013) với hạn mức từ 6 tháng đến 1 năm đều được kéo dài với thời hạn trên 1 năm và lãi suất cũng thấp hơn từ 1-2%/năm, còn từ 9 - 12%/năm. Nợ hàng ngàn tỉ đồng là chuyện đã kéo dài từ năm 2009 đến nay của TTF khiến đơn vị này luôn trong tình trạng khó khăn về vốn kinh doanh. Điều này khiến chi phí tài chính của TTF luôn luôn ở mức cao, 6 tháng đầu năm nay đã phải trả lãi vay là 171 tỉ đồng. (Thanh Niên 4/10) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định xử phạt vi phạm hành chính 92 triệu đồng đối với ông Nguyễn Quang Tiên (SN 1991, trú tại thôn 2, xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn) về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Đồng thời phạt bổ sung tịch thu sung quỹ nhà nước tang vật gồm 31 hộp gỗ xẻ với khối lượng hơn 3,5m3. (Báo Quảng Nam 4/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hôm qua, ông Nguyễn Bình, một người dân ở xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc (Quảng Nam), kể: “Trời đang tạnh ráo, tự nhiên thấy nước cứ ào ào dâng. Nhìn con nước hung hãn, người dân quá hoảng sợ, thế là cha mẹ, vợ chồng bồng bế con cái bỏ chạy”.
Cả thị trấn xôn xao lo sợ, ở các xã Đại Hồng, Đại Lãnh, Đại Hưng... người dân tìm mua thức ăn dự trữ. Những chủ hàng bán ximăng, đồ khô ở các chợ trong huyện buộc phải thuê người di chuyển hàng hóa đi nơi khác... Cả huyện Đại Lộc nổi lên cơn sốt mì gói, nến. Một số vùng nằm ven sông Vu Gia, chính quyền lo sợ buộc học sinh nghỉ học sớm.
Đó là kết quả của việc một loạt đập thủy điện như Đăk Mi 4, Sông Bung 4, A Vương đồng loạt xả lũ trong ngày 2-10 khiến dân vùng hạ du Quảng Nam bỏ chạy vì tưởng vỡ đập.
Đặc biệt thủy điện Đăk Mi 4 xả lũ dù không bất ngờ đối với chính quyền nhưng người dân nói nó quá bất ngờ đối với họ. Họ lo sợ bỏ chạy vì thông tin thông báo xả lũ đến chậm hơn con nước dâng! Một ngày sau việc người dân lo lắng chạy lũ, ông Phan Đức Tính, phó chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, cho biết trong thông báo của thủy điện Đăk Mi 4 nói rằng từ 9g sáng 2-10 sẽ xả với lưu lượng nước từ 1.000-1.800m3/giây.
Tuy nhiên, thực tế đo được lúc 12g thì Đăk Mi 4 lại xả lên đến 2.744m3/giây khiến lũ dưới hạ lưu lên quá nhanh. Đến chiều, do tình hình quá căng thẳng buộc chính quyền phải yêu cầu và Đăk Mi 4 đã hạ xuống chỉ xả còn 1.043m3/giây. Ông Tính cũng cho hay vì trời yên biển lặng nhưng chỉ trong mấy giờ đồng hồ nước dâng cao 4m nên người dân đồn vỡ đập là có nguyên cớ của nó.
Động đất ở Sông Tranh 2 đến giờ vẫn còn ám ảnh ghê gớm, rừng Khe Diên bị phá còn tan hoang. Mùa khô, các đập thủy điện lo tích nước đã khiến bao cánh đồng khô trắng. Còn mùa mưa lại cùng nhau xả nước khiến hàng vạn người lo sợ. Từ đây, đã khiến nhiều người phải bật ra câu hỏi: Thủy điện đem lại được bao nhiêu lợi ích cho xã hội, có đủ để bù đắp cho sự bình yên bị đánh cắp của hàng vạn người dân?
Câu chuyện phát triển thủy điện dày đặc đang đặt ra phép tính về sự lợi - hại khi hàng nghìn hecta rừng, có cả rừng già tận trong các vườn quốc gia, ngã xuống và sự xáo trộn ghê gớm đời sống của người dân.
Theo tiến sĩ Đào Trọng Hưng - thành viên Tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, một điều mà ai cũng thấy là thủy điện một mặt đem lại lợi ích cho quốc gia nhưng mặt khác lấy đi nhiều thứ đối với người dân ở nơi có thủy điện. Điều dễ nhận thấy nhất là mất rừng do làm thủy điện.
Nghiên cứu của tiến sĩ Hưng cho biết, hiện chưa có số liệu chính xác về diện tích rừng đã mất của các công trình thủy điện và mỗi công trình thủy điện mất bao nhiêu diện tích rừng. Nhưng ước tính để có được 1MW thủy điện thì khoảng 16ha rừng bị đốn hạ. Đó là chưa kể nhiều nơi các ông chủ thủy điện lợi dụng làm thủy điện để phá thêm rừng.
Trên thế giới, người ta đã bắt đầu phá dỡ đập thủy điện vì thấy rằng lợi ích mà nó đem lại chẳng bù đắp được so với mất mát. Trong đó, mất mát lớn nhất là sự bình yên trong đời sống người dân. Trong khi đó, ở ta câu chuyện phát triển thủy điện đã trở thành một chủ đề rất nóng trên mặt báo, trên các diễn đàn chính trị - xã hội nhiều năm gần đây. Có lẽ đã đến lúc cần có một cuộc tính sổ đàng hoàng, nghiêm túc giữa được và mất của làn sóng làm thủy điện. (Tuổi Trẻ 4/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||