|
Ngày 03 tháng 10 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 2-10, tại khe Sốc Miếu, thôn Yên Thịnh, xã Sơn Đà (huyện Ba Vì), Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng quy mô cấp xã năm 2013.
Cuộc diễn tập có sự phối hợp của lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy khu vực Sơn Tây, dân quân tự vệ, đội bảo vệ rừng xã Sơn Đà và lực lượng kiểm lâm; huy động 120 người (gồm nhân dân xã Sơn Đà, chiến sĩ lực lượng vũ trang và lực lượng kiểm lâm) cùng 2 xe chữa cháy chuyên dụng, 2 bộ bơm nước, 5 máy thổi gió, 5 bình chữa cháy đeo vai, 50 bàn dập lửa...
Ban tổ chức đưa ra tình huống giả định, do người dân địa phương khi hoạt động trong rừng bất cẩn đã gây ra vụ cháy rừng. Đám cháy diễn biến phức tạp, tốc độ lan tràn nhanh, xã Sơn Đà đã báo cáo huyện Ba Vì để tăng cường lực lượng quân đội, công an. Sau một thời gian ngắn phối hợp giữa các lực lượng, đám cháy được dập tắt, bảo đảm an toàn.
Dự kiến, từ ngày 8-10/10, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội tiếp tục tổ chức diễn tập chữa cháy rừng tại huyện Sóc Sơn. Hoạt động này nhằm nâng cao ý thức cho nhân dân và tinh thần sẵn sàng phối hợp trong PCCC rừng giữa các lực lượng để bảo đảm an toàn cho diện tích rừng trong mùa hanh khô năm 2013 trên địa bàn Hà Nội. (Hà Nội Mới 2/10; Dangcongsan.vn 3/10) đầu trang(
Người Dao là một trong số ít các tộc người từ xưa đã thể hiện rõ nhất sự thân thiện giữa con người với môi trường thiên nhiên bằng việc bảo vệ rừng.
Trong phát rừng làm nương, nhiều tộc người phát rừng tràn lan để canh tác lương thực và làm đến khi nghèo kiệt chất đất thì bỏ đi nơi khác nên rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Ngược lại, người Dao luôn canh tác theo hình thức luân phiên.
Mỗi nhà người Dao thường có vài mảnh nương, mảnh này làm xong vài vụ, họ lại chuyển sang mảnh khác và cứ như vậy, 6 - 7 năm sau mới quay lại làm mảnh nương đầu tiên. (Radiovietnam.vn 2/10) đầu trang(
Thời gian qua, mặc dù Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân cùng chính quyền địa phương đã tích cực vận động, tuyên truyền nhưng tình trạng phát rẫy, xâm lấn đất rừng phòng hộ để canh tác vẫn còn tiếp diễn.
Theo ông Nguyễn Lộc, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân, trước đây, đơn vị quản lý hơn 24.000ha rừng tập trung ở các xã Phú Mỡ, Xuân Lãnh, Đa Lộc, Xuân Quang 1 nhưng do xảy ra tranh chấp với người dân nên đơn vị đã giao trả hơn 12.000ha cho địa phương quản lý; đồng thời cũng nhận bổ sung 10.000ha theo rà soát định lại ranh giới mới.
Hiện lâm phần do đơn vị quản lý hơn 22.000ha, chủ yếu ở xã Phú Mỡ và một phần ở xã Xuân Lãnh. Diện tích rừng tập trung giúp Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân thuận lợi hơn trong việc quản lý khi tránh được phần đất ở sát dân, tránh tình trạng người dân xâm lấn đất rừng trái phép.
Sau khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân giao lại một số diện tích đất cho địa phương, tình trạng lén lút đốt rẫy, lấn rừng cũng giảm đáng kể. Tuy nhiên, hiện trên khu vực rừng phòng hộ Đồng Xuân vẫn xảy ra một số vụ người dân tranh chấp với chủ rừng.
Cụ thể, tại tiểu khu 59 (rộng khoảng 1.000ha) thuộc xã Phú Mỡ, khi người dân phát rẫy trồng sắn, một số hộ đã bám chân rừng rồi lấn chiếm sâu hơn; ban đầu chỉ có 5 đến 6 gia đình, sau tăng dần lên như vết dầu loang. Còn tại tiểu khu 96, (xã Phú Mỡ), 5 hộ dân đã “âm thầm” trồng xen keo vào rừng phòng hộ từ nhiều năm nay… Thế nhưng, việc xử lý rất phức tạp vì trong số các hộ vi phạm có những trường hợp là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Ông Lộc cho biết: Trong số diện tích rừng được giao quản lý, trước đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời. Do tập quán canh tác theo kiểu du canh, du cư nên đồng bào thường xuyên di chuyển, một thời gian sau lại quay về nơi ở cũ phát rẫy, trồng rừng, tranh chấp với Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân.
Ngoài ra, các diện tích rừng do ban quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng nghèo và trung bình nên giá trị kinh tế không cao. Thêm vào đó, địa hình vào rừng hiểm trở, đường sá xa xôi, lầy lội, đi lại rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa nên gây không ít khó khăn cho công tác bảo vệ rừng.
Thời gian qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân đã tăng cường tuần tra, phối hợp với chính quyền, hội đoàn thể các xã, nơi có diện tích rừng do đơn vị quản lý, tích cực vận động, tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng bằng cách lồng ghép trong các buổi họp thôn, phát tờ rơi đến tận tay người dân. Sau các vụ vi phạm xảy ra trên địa bàn, cán bộ quản lý rừng cùng chính quyền xã, thôn cũng giải thích, chỉ ra cái đúng, cái sai để đồng bào hiểu và hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng phát rẫy.
Tuy nhiên, do nhận thức còn hạn chế nên không ít trường hợp vẫn còn vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai. Điển hình như việc người dân lấn đất rừng, canh tác tại tiểu khu 59, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân phải mất hơn nửa tháng để vận động nhưng chỉ có 2 hộ bỏ hom sắn đã trồng, các hộ còn lại không chịu chấp hành; lập biên bản 5 hộ dân tại tiểu khu 96 vi phạm nhưng cũng không thể cưỡng chế, nhổ bỏ vì cây đã hơn 1 năm tuổi.
Theo ông Nguyễn Lộc, những diện tích rừng không thuộc khu vực trọng yếu và đã bị người dân xâm lấn, có thể giao khoán luôn cho đồng bào, hoặc linh hoạt chuyển đổi mục đích sử dụng đất để họ có điều kiện canh tác, làm ăn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân. Đối với những sai phạm của người dân, sau khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân phát hiện, lập biên bản, chính quyền địa phương cần tích cực xử lý để răn đe, tránh tình trạng các hộ vi phạm chưa được xử lý sẽ tiếp tục phát rẫy canh tác. (Báo Phú Yên 3/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Kiểm soát việc tiếp cận nguồn gen là một trong những ưu tiên cao nhất của chính sách bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam.
Nhiệm vụ này được quy định trong Luật Bảo tồn và đa dạng sinh học tạo ra hành lang pháp lý quy định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan phải chia sẻ lợi ích cho các bên hưởng lợi khi tiếp cận nguồn gen đã có chủ thể quản lý.
Tuy nhiên, chia sẻ lợi ích từ tiếp cận nguồn gen là thách thức lớn khi ở Việt Nam chưa có những kinh nghiệm thực tiễn cũng như chuyên gia trong lĩnh vực này.
Thạc sỹ Lê Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học-Tổng cục Môi trường cho biết đối tượng về nguồn gen quá rộng, bao gồm tất cả các sinh vật và trong thực tế mọi hoạt động của con người đều là "tiếp cận nguồn gen." Đây chính là điểm mà Việt Nam quản lý cũng như không bởi đối tượng quá rộng, trong khi các công cụ để thực thi lại thiếu.
Việc điều tra, thu thập nguồn gen hầu như không được thực hiện ở quy mô hộ gia đình, các tổ chức. Đa số nguồn gen đều có chủ quản lý trực tiếp nhưng công cụ kỹ thuật để họ thực hiện nghĩa vụ lại đang bỏ ngỏ. Họ không biết lưu giữ nguồn gen như thế nào, nhất là đối với hai nhóm chủ thể là tổ chức, hộ gia đình và ủy ban nhân dân xã; Hợp đồng tiếp cận nguồn gen chưa có mẫu hoặc quy định cụ thể; Giấy phép tiếp cận nguồn gen cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành...
Để kiểm soát tiếp cận nguồn gen, Việt Nam cần quy định thu hẹp lại đối tượng nguồn gen để quản lý, nên chăng chỉ quản lý những nguồn gen quý hiếm, có giá trị kinh tế cao và những nguồn gen có tiềm năng khai thác sử dụng.
Cơ quan quản lý sớm nghiên cứu, ban hành các hướng dẫn cũng như các biểu mẫu về hợp đồng, giấy phép để áp dụng. Các mô hình về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích cần được xây dựng thí điểm để tìm kiếm kinh nghiệm và thu thập cứ liệu cho việc luật hóa.
Cơ quan chuyên ngành cần đánh giá nhu cầu, khả năng của địa phương về thực thi các quy định tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, đồng thời phải nâng cao nhận thức cho cá nhân, tổ chức quản lý nguồn gen về quyền lợi từ chia sẻ lợi ích tiếp cận nguồn gen.
Chính phủ cần ban hành quy chế quản lý và bảo tồn nguồn gen, trong đó thống nhất cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cấp phép tiếp cận nguồn gen, các cơ quan khoa học có đủ năng lực và thẩm quyền chịu trách nhiệm tư vấn chuyên môn. (VietnamPlus.vn 3/10) đầu trang(
Việt Nam được đánh giá là quốc gia đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc phục hồi các hệ sinh thái (HST) rừng, nhằm đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH).
Những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến sự suy giảm nhanh chóng diện tích rừng, từ độ che phủ vào khoảng 70% đầu thế kỷ XX xuống còn 43% vào giữa thế kỷ và xuống thấp nhất vào giai đoạn đầu thập niên 90 của thế kỷ trước khi diện tích rừng chỉ còn khoảng 28%.
Sự suy giảm nhanh chóng các diện tích rừng cũng đồng nghĩa với việc giảm những bể chứa cacbon tại các khu rừng nhiệt đới, làm tăng các chất khí nhà kính thông qua quá trình chuyển đổi sử dụng đất... tác động đáng kể gây BĐKH toàn cầu.
Trước xu thế đó, vấn đề cấp thiết đặt ra không chỉ với Việt Nam là phải thúc đẩy quá trình phục hồi các HST rừng. Chính vì thế, ngay từ năm 1995, nhiều chương trình trồng rừng đã được thực hiện, đặc biệt là Chương trình 661/5 triệu ha rừng. Chỉ tính riêng trong khuôn khổ Chương trình 661/5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010, đã có 2,45 triệu ha rừng được trồng mới và 0,9 triệu ha được khoanh nuôi tái sinh rừng….
Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp lý quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030… để định hướng cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đã triển khai nhiều dự án về phục hồi và quản lý rừng. Một trong những dự án điển hình được nhắc tới là “Trình diễn năng lực phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam” do Mạng lưới phục hồi và quản lý rừng bền vững châu Á - Thái Bình Dương (APFNet) tài trợ 499.750 USD.
Dự án được khởi động từ tháng 9/2010 và kết thúc vào tháng 12/2012, không chỉ tổng hợp và áp dụng các kỹ thuật tốt nhất trong phục hồi, quản lý rừng bền vững mà còn thí điểm phục hồi và quản lý rừng cho hai cộng đồng dân tộc thiểu số ở hai huyện của tỉnh Phú Thọ.
Kết quả: 100 ha rừng thứ sinh suy thoái nghiêm trọng đã được làm giàu bằng việc trồng 6 loài cây lâm sản ngoài gỗ và 5 loài cây gỗ bản địa. Các cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong các mô hình đều sinh trưởng tốt và hứa hẹn cung cấp giá trị kinh tế cao; người dân địa phương được giới thiệu và học tập những kỹ thuật chăm sóc rừng tốt nhất....
Với những nỗ lực đó, đến hết năm 2012, tổng diện tích rừng của Việt Nam đạt 13.862.043ha, tỷ lệ che phủ đạt 40,7%. Với đà phát triển này, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 nâng độ che phủ rừng lên 47%.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng đó mới chỉ là bước đầu tiên trong việc phục hồi HST rừng và những khu rừng này chỉ đáp ứng được những chức năng cơ bản của rừng, tạo ra được sản phẩm nâng cao thu nhập cho người dân, chứ chưa phát huy được vai trò nhiều trong điều hòa khí hậu nói chung cũng như giảm thiểu các tác hại của tự nhiên như lũ lụt, trượt lở, hấp thụ các khí có khả năng gây ô nhiễm môi trường nói riêng.
Cũng theo tính toán của các chuyên gia thì trong các loại rừng ở Việt Nam hiện nay, rừng giàu mới chỉ chiếm 5%, rừng trung bình chiếm 15%, 80% diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng sinh thái hoặc rừng trồng mới, mang lại ít giá trị đa dạng sinh học cũng như dịch vụ HST.
Để tiếp tục thúc đẩy tiến trình phát triển, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với BĐKH, ông Võ Thanh Sơn, Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường cho biết, trong thời gian tới, một mặt cần tiếp tục phủ xanh những vùng đất bị suy thoái, mặt khác cần khuyến khích những giải pháp phục hồi HST rừng, đặc biệt là trồng rừng với các loài bản địa để tăng giá trị đa dạng sinh học, đồng thời đẩy mạnh công tác bảo tồn trong hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn. (Kinh Tế Việt Nam 2/10) đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh thu hồi 3.205ha đất lâm nghiệp đã giao các công ty, doanh nghiệp tư nhân.
Lý do, các diện tích đất trên được UBND tỉnh Bình Phước quy hoạch giao các công ty, doanh nghiệp tư nhân nhưng qua nhiều năm sử dụng đất không hiệu quả, thực hiện không đúng quy định, bỏ hoang đất rừng và đang bị xâm canh lấn chiếm trái phép. Trước đó, UBND tỉnh Bình Phước đã ban hành quyết định thu hồi trên 560ha đất lâm nghiệp của Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Sài Gòn - Bình Phước do bỏ hoang dự án.
Tính đến nay, trong tổng diện tích 40.906ha đất rừng nghèo kiệt, đất lâm nghiệp được UBND tỉnh quy hoạch thực hiện các dự án (chủ yếu trồng cao su) đã chuyển đổi 36.433ha. (Pháp Luật TPHCM 3/10) đầu trang(
Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, gỗ và các sản phẩm từ gỗ tiếp tục nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao của nhóm ngành công nghiệp chế biến với kim ngạch 9 tháng ước đạt 3,83 tỷ USD, tăng 13,8%.
Theo Bộ NN&PTNT, từ đầu tháng 8/2013, không khí sản xuất của doanh nghiệp ngành gỗ sôi động do đơn hàng tăng mạnh so với cùng kỳ, nhiều doanh nghiệp đã ký được đơn hàng đến hết năm. Ngoài sự gia tăng của một số thị trường thì đang có một luồng đơn hàng chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam…
Ngoại trừ thị trường Đức và Pháp giảm, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn hầu hết đều tăng trưởng mạnh.
Cụ thể, Hoa Kỳ tăng 7,8%, Trung Quốc tăng 17,1%, Nhật Bản tăng 20,3%, và Hàn Quốc tăng 49% so với cùng kỳ năm 2012.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, với tình hình thị trường, đơn hàng khả quan như hiện nay ngành gỗ sẽ đạt mức tăng trưởng xuất khẩu cả năm khoảng 10-15% và mục tiêu đạt 5,5 tỷ USD kim ngạch là hoàn toàn khả thi. (VOV 2/10; Dangcongsan.vn 3/10; Đại Biểu Nhân Dân 3/10) đầu trang(
Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có kiến nghị với Thủ tướng về việc xem xét loại bỏ dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi qui hoạch đã được phê duyệt đồng thời xem xét, rà soát lại quy hoạch thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai. Điều này đã nhận được nhiều ý kiến đồng tình trong nhân dân cũng như giới khoa học.
Trao đổi về vấn đề này, TS Vũ Ngọc Long – Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam bày tỏ: “Nếu dừng dự án vĩnh viễn thì là tin vui cho hàng triệu người và giới khoa học.”
TS Long cũng bày tỏ: “Việc phải đánh đổi 1 kWh điện bằng mấy chục ha rừng là quá lớn, tổn thất của dự án Đồng Nai 6 và 6A có thể mãi mãi không bù đắp được. Việt Nam không thiếu điện, đánh đổi môi trường là không cần thiết. Ngay cả có thiếu điện, việc mua điện từ nước ngoài còn tốt hơn. Bởi vậy, dù có phải đền bù rủi ro cho doanh nghiệp cũng kiên quyết phải dừng dự án”.
Về vấn đề này, TS Mai Thanh Dung – Cục trưởng Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết: “Chủ đầu tư dự án cũng có nhiều nỗ lực, tuy nhiên báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có nhiều điểm không rõ và tác động tiêu cực của dự án là rõ ràng. Cục dừng thẩm định và chủ đầu tư cũng không phải tiếp tục làm báo cáo ĐTM”.
Ông Mai Thanh Dung cũng cho biết: “Bất cứ dự án thủy điện nào cũng không tránh khỏi tổn hại tới môi trường, do vậy phải cân đối hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học. Đã có thời gian, có nhiều dự án gây tổn thất môi trường rất lớn nhưng do bối cảnh khi đó đang thiếu điện nên vẫn chấp nhận đánh đổi. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam không thiếu điện, lại có khả năng phát triển nhiều nguồn năng lượng thay thế nên cần phải cân nhắc kĩ lưỡng. Nhiều nước trên thế giới đã loại bỏ thủy điện”.
Về việc chủ đầu tư đã phải chi phí khá lớn trong suốt 11 năm chuẩn bị cho dự án, ông Dung cho rằng, bất cứ chủ đầu tư nào cũng phải lập báo cáo đầu tư, khả năng rủi ro luôn có thể xảy ra khi dự án đó bị điều chỉnh, thậm chí không được thông qua. Trong Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị qui trình lập ĐTM hai bước: ĐTM ban đầu và ĐTM chi tiết.
Theo đó, chỉ những dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư mới phải lập ĐTM chi tiết. Qui trình này được áp dụng cho các dự án phải lập báo cáo tiền khả thi, phải xin chủ trương đầu tư và có nhiều rủi ro. ĐTM hai bước sẽ giúp giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, bởi lẽ có nhiều doanh nghiệp phải chi rất nhiều tiền cho giai đoạn lập báo cáo tiền khả thi nhưng cuối cùng dự án không được thông qua, gây tốn kém, lãng phí.
Đồng tình với những quan điểm trên, các thành viên thuộc Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN) cũng đánh giá cao những nhận định khách quan, thấu đáo trong báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 30/8/2013 về những tác động tiêu cực của dự án.
VRN cho rằng, việc loại bỏ hai dự án trên là việc làm đúng đắn, thể hiện bước đi thận trọng của cơ quan quản lí có liên quan. Trong bối cảnh công nghệ năng lượng tái tạo phát triển vượt trội, Việt Nam hoàn toàn có thể bổ sung nguồn năng lượng sạch, thay thế cho các công trình thủy điện gây tổn thất lớn cho môi trường sinh thái và an sinh xã hội như 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. (Dangcongsan.vn 2/10) đầu trang(
Từ chủ trương chuyển đổi rừng trồng cao su cũng như lấy đất làm thủy điện khiến rừng đang bị tàn phá thảm hại. Hệ quả là bão, lũ liên miên và người dân đang phải hứng chịu.
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đau xót chia sẻ với Đất Việt: “Mấy ngày nay tin về bão lũ, vỡ đập liên tục xảy ra. Bây giờ là lúc các chủ trương sai khiến dân đang phải chịu hậu quả. Cả thủy điện, cao su nỗ lực phá rừng thì lấy gì ngăn lũ lụt?”.
Kết quả rà soát triển khai các dự án thủy điện trong cả nước vừa được Ủy ban Khoa học Công nghệ - Môi trường của Quốc hội, Bộ Công Thương thực hiện đã đưa ra con số giật mình đó là: Từ năm 2006 đến nay có hơn 50.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện.
Thế nhưng vào cuối năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012 chỉ có hơn 20.000 ha rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Trong số này diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Con số này chỉ bằng một nửa số thực. Bởi kết quả rà soát mới đây của Bộ Công Thương cho thấy thực tế tỉ lệ diện tích rừng trồng bù còn thấp hơn rất nhiều.
Theo Bộ Công thương, từ khi thực hiện Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đến nay có đến 50.930 ha rừng các loại đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện. Trong khi đó, rất ít chủ đầu tư thủy điện có phương án trồng rừng thay thế. Hậu quả, diện tích rừng trồng thay thế chỉ được hơn 1.000 ha, bằng 2% diện tích rừng đã chuyển đổi.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, con số thống kê công bố về diện tích rừng chuyển đổi sang làm thủy điện là những số thống kê được trong thiết kế, hồ sơ dự án, còn phần rừng mất đi sau đó thì không ai thống kê được.
GS Lung chỉ rõ, mỗi nhà máy thủy điện chiếm bao nhiêu rừng, nhưng đấy là cái mình thấy bằng mắt, trong kế hoạch, văn bản dự án có, còn những cái xảy ra sau đấy thì không ai thống kê.
Cái mà GS Nguyễn Văn Lung cho rằng không thống kê hết đó chính là diện tích đất rừng mới nơi mà dân cư sẽ di dời tới để sinh sống. Như vậy có nghĩa có thể con số thực sẽ còn lớn hơn rất nhiều.
Còn TS Đào Trọng Tứ, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy hội sông Mekong Việt Nam, thành viên Mạng lưới sông ngòi Việt Nam từng nhiều năm gắn bó với thủy điện cũng phải thốt lên rằng: Cách phát triển thủy điện ào ạt, tàn phá rừng và găm dày đặc trên các con sông như hiện nay là “tận diệt” tài nguyên. Chỉ nghĩ đến lợi ích của một bộ phận là không công bằng, không để gì cho con cháu cả.
Báo cáo “Phát triển cao su và bảo vệ rừng ở Việt Nam” của hai tổ chức quốc tế là Forest Trends và Tropenbos đã chỉ rõ quá trình chuyển đổi rừng sang trồng cao su tại một số địa phương đã bị lạm dụng. Do vậy có tình trạng nhiều địa phương nhanh chóng chuyển đổi khiến cho quy hoạch cao su bị phá vỡ.
Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020 Việt Nam sẽ trồng là 800.000 ha. Thế nhưng cũng “nhờ” chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su mà chưa cần có sự hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, các địa phương đã nhanh nhảu khoanh đất phá rừng trồng ngay cây cao su. Thế nên mới chỉ đến năm 2012, diện tích cao su đã lên tới 915.000ha.
GS Nguyễn Ngọc Lung còn chỉ thêm, Nhà nước cho cả Tây nguyên 90.000-100.000ha, nhưng chỉ riêng Gia Lai đã ra thông báo quy hoạch 60.000 ha làm cao su mới. Các tỉnh khác cũng tranh thủ mà không đợi quy hoạch phân bổ tỉnh này bao nhiêu, tỉnh kia bao nhiêu.
“Cách làm vội vàng như vậy nếu không vì quyền lợi cục bộ địa phương hoặc nhóm lợi ích thì cũng không còn giải thích nào khác dễ nghe hơn”, ông Lung nói.
Đó là còn chưa kể, các đại gia nhanh chóng xin phá rừng, chọn đất làm cao su lại không hẳn vì trồng cây cao su. Vì khu đất đó có bốn tháng hạn, ba tháng úng, không thể phù hợp trồng cao su. Để rồi khi trồng không thành công, họ sẽ xin chuyển đổi mục đích sử dụng khác...
GS Nguyễn Văn Lung đau xót: “Không có đất nước nào mà tự nhiên lại đổ xô bỏ tiền của nhao vào cây cao su rồi tàn phá rừng như vậy. Đáng ra, nếu có trồng cũng cần phải có một cơ quan khoa học, đứng ra trồng thử nghiệm rồi sau đó mới nhân rộng. Đằng này cả nhà nước và tư nhân lao vào cao su, để rồi bây giờ rừng thì mất, cao su thì không ai dám khẳng định hiệu quả thế nào. Thử hỏi khi chưa rõ hiệu quả, vậy vì sao họ vẫn muốn có rừng để trồng cây khác?”.
Không chỉ thế, GS Nguyễn Văn Lung nói thẳng: “Tôi không xót xa cho các vị doanh nghiệp nhà nước dùng tiền ngân sách đi phá rừng rồi trồng cao su. Nếu có thất bại các vị này cũng lại dùng ngân sách, tái cơ cấu rồi biết đâu lại chuyển sang vị trí mới. Còn thành công, có thể lại lên chức cao hơn. Điều tôi đau xót là rừng thì mất, những người dân, không xin nhanh thì đất cấp cho doanh nghiệp hết. Không trồng cao su thì bị đòi đất lại. Nhưng giờ có nhắm mắt trồng cao su thì cũng chưa biết hiệu quả ra sao”.
Theo GS Lung, trong tổng số diện tích cao su đã được trồng thì có 50% trong số đó là doanh nghiệp tư nhân và những người dân đã tham gia.
Câu chuyện hệ quả từ việc phá rừng, làm thủy điện được bàn nhiều, phân tích nhiều, nhưng theo GS Nguyễn Văn Lung, dường như những chính sách sai đang ngày một thể hiện hậu quả rõ hơn.
“Mấy ngày nay tin về bão lũ, vỡ đập liên tục xảy ra. Bây giờ là lúc các chủ trương sai khiến dân đang phải hứng chịu hậu quả”, GS Lung bức xúc.
TS Đào Trọng Tứ nhìn nhận: Nhìn thực trạng thiên nhiên đất nước thực sự đáng lo ngại.
Theo ông Tứ, nếu chỉ nói đến sông suối, nước non – tài nguyên mà thế giới ngày nay gọi là động mạch chủ là máu của cuộc sống của một dân tộc-đất nước, thì chỉ một hai thập kỷ trước còn trong xanh, nay đã tắc nghẽn- đã bị ô nhiễm đến mức không thể tin nổi.
Hầu hết các côn sông lớn đã được cắt khúc để xây hồ-xây đập chủ yếu phục vụ cho phát điện. Cùng với việc xây đập và hồ là nhiều diện tích đất, nhiều diện tích rừng được thay bằng mặt nước – muông thú tất phải xa rời nơi bản địa để tìm đường sinh sống. Thiên nhiên bị thay đổi (không dám nói là tàn phá) từng ngày từng giờ để thỏa mãn cho nhu cầu của con người. (Đất Việt 2/10; Tuổi Trẻ 3/10) đầu trang(
Theo Quyết định số 2293 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011 - 2020, đến năm 2020, diện tích rừng được phát triển, bảo vệ là 9.707 ha, trong đó rừng phòng hộ 3.695 ha; rừng sản xuất 6.012 ha.
Diện tích rừng trồng mới là 6.502 ha, trong đó có 3.136 rừng phòng hộ; 3.366 ha rừng sản xuất; 10 triệu cây trồng phân tán (giai đoạn 2011 - 2015: 5 triệu cây; giai đoạn 2016 - 2020: 5 triệu cây).
Tổng kinh phí thực hiện là 1.316,98 tỷ đồng, trong đó, giai đoạn 2011 - 2015 (362,04 tỷ đồng); giai đoạn 2016 - 2020 (954,094 tỷ đồng) gồm vốn ngân sách Trung ương (267,74 tỷ đồng) và vốn đầu tư; vốn ngân sách tỉnh (24,8 tỷ đồng); vốn dự án kêu gọi đầu tư (823,44 tỷ đồng); vốn doanh nghiệp, hộ gia đình (201 tỷ đồng).
Mục tiêu của Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 nhằm nhằm góp phần phòng chống và giảm nhẹ thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra ; đồng thời nâng cao nguồn thu từ các giá trị môi trường rừng thông qua cơ chế phát triển sạch, du lịch sinh thái, phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế xói lở bờ biển... (Báo Ấp Bắc 2/10) đầu trang(
Vấn đề bảo tồn nguồn gen cây trồng quý hiếm không chỉ đặt ra với những giống cây ăn quả như đã đề cập ở các kì trước mà còn đặt ra với những cây thuốc quý khu vực miền núi phía Bắc. Đây là địa bàn hiểm trở, dân trí thấp nên công tác bảo tồn gặp vô vàn khó khăn.
Thài Phìn Tủng nằm ở sườn và thung lũng cao nguyên đá vôi thuộc huyện Đồng Văn, Hà Giang, cực Bắc Tổ quốc. Nơi đây từng có rất nhiều cây thông tre lá ngắn (tiếng Mông gọi là chư pảy đơ), một loại cây quý. Thông tre lá ngắn có gỗ màu nâu nhạt, thớ thẳng, mịn, vòng sinh trưởng có vân hoa đẹp, gỗ tốt dùng để đóng đồ gia dụng. Cây có dáng đẹp được trồng làm cảnh. Thài Phìn Tủng cũng là “lãnh địa” của cây mật gấu, hay mã hồ, ke ních.
Trong Sách đỏ Việt Nam 2007, cây được xếp ở bậc EN, là bậc nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên. Mật gấu là loại cây thuốc quý hiếm, dùng để chữa kiết lỵ, viêm gan, vàng da, ho lao, mất ngủ…
Điều đáng buồn là những cây gỗ quý, thuốc quý này lại đang bị người dân địa phương tận thu, bán cho thương lái Trung Quốc. Phần vì người dân chưa hiểu hết giá trị của cây quý, tiếp đến là vì chính quyền địa phương chưa có biện pháp bảo tồn hiệu quả.
Tiếp xúc với những người dân địa phương, hỏi về những cây thông tre lá ngắn, một người Mông ngoài bốn mươi tuổi nói: “Giờ không còn nữa đâu. Bên kia (chỉ sang phía Trung Quốc - PV) trả tiền cao, mua hết rồi”.
Thông tre lá ngắn được mua nhiều nhất khoảng giữa năm 2012. Anh Phùng Mý Cở, Phó Chủ tịch UBND xã Thài Phìn Tủng cho biết, cây thông tre lá ngắn từng xuất hiện khá nhiều ở vùng núi đá tai mèo của Thài Phìn Tủng và các xã lân cận. Thương lái Trung Quốc thu mua loại cây này từ vài năm trước nhưng giá khá thấp. Năm 2012, giá thu mua tăng đột biến khiến mọi người ồ ạt khai thác. Hiện thông tre lá ngắn trưởng thành trên địa bàn xã Thài Phìn Tủng và các xã lân cận hầu như không còn nữa.
Còn cây mật gấu cũng bị bà con chặt rồi bó, bán cho thương lái với giá rất rẻ, có khi chỉ được 20.000 đồng/bó trăm cây. Trên đường từ Quản Bạ đến Đồng Văn (Hà Giang), chúng tôi gặp vài cửa hàng có bán cây mật gấu sấy khô. Một gói cây mật gấu sấy khô, nặng 0,5 kg có giá 50.000 - 80.000 đồng.
Một dự án bảo tồn những loại cây quý đã được Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học (thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) thực hiện từ tháng 9/2003 đến tháng 12/2009 nhằm giữ gìn nguồn gen 17 loài cây quý hiếm trên vùng đá vôi ở cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang). Mặc dù, nếu so sánh với tốc độ tận diệt những loại cây quý thì việc bảo tồn của dự án này chỉ như “muối bỏ biển”, nhưng những nỗ lực của các nhà khoa học nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học tại vùng cao nguyên đá thì không thể không ghi nhận.
Theo TS Lê Trần Chấn, Giám đốc Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học, Trưởng Ban điều hành dự án, dự án đã điều tra, khảo sát, phát hiện thêm được 13 loài cây quý hiếm cùng nhiều cá thể của 17 loài quý hiếm ở Thài Phìn Tủng và một số xã khác. Dự án cũng đã tiến hành nhân giống bằng hom ở thị trấn Đồng Văn và xã Thài Phìn Tủng, làm được hơn 10.300 cây giống đem đi trồng.
“Đây là một thành công của dự án trong việc thử nghiệm chất kích thích ra rễ với các loài cây quý hiếm. Ngoài ra, dự án còn nhân giống bằng hạt 3 loài cây quý hiếm”, TS Chấn cho hay.
Riêng đối với cây thông tre lá ngắn, theo TS Lê Trần Chấn, khảo sát 2 đợt tại xã Thài Phìn Tủng thấy có 140 cây. Loại cây này từng nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Nhờ có dự án mà giống cây được khôi phục.
“Nhưng với tình trạng khai thác không kiểm soát như hiện nay, nguy cơ tuyệt chủng khá cao”, TS Chấn nói. Những nghiên cứu cơ bản của dự án là căn cứ khoa học quan trọng để tiến tới bảo tồn và nhân giống phát triển thành vùng nguyên liệu, phục vụ cho việc phát triển công nghệ sản xuất các cây quý hiếm có giá trị cao.
Anh Phùng Mý Cở cho biết thêm, đến nay, những cây thông đỏ bắc, thông tre lá ngắn được trồng theo dự án của TS Chấn vẫn sinh trưởng, phát triển tốt. “Cây vẫn còn nhỏ nhưng được các hộ dân chăm sóc tốt. Còn các cây ngoài tự nhiên hầu như không còn”, anh Cở nói.
Tại các xã của huyện Đồng Văn còn nhiều loại cây đặc biệt quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam như thông đỏ bắc, dẻ tùng sọc nâu, đỉnh tùng, hà thủ ô đỏ, vân sam... Có cây còn nằm trong Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Trong khi địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong việc ngăn chặn tình trạng khai thác, buôn bán các loại cây quý này; nhận thức người dân chưa cao, thấy cái gì bán được là bán mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài, dự án của TS Chấn càng trở nên có giá trị. (Tin Tức 3/10) đầu trang(
Tỉnh Kon Tum vừa đưa ra kế hoạch bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh từ nay đến năm 2022. Theo kế hoạch, sẽ mở rộng diện tích trồng Sâm Ngọc Linh đạt từ 800-1000 ha vào năm 2022.
Đây là kế hoạch được đề ra trong dự án bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum từ nay đến năm 2022. Dự án được chia thành 3 giai đoạn với tổng vốn đầu tư trên 567 tỷ đồng.
Sâm Ngọc Linh là 1 trong 4 loại sâm quý nhất trên thế giới với nhiều công dụng rất tốt cho sức khỏe con người. Từ nay đến năm 2022, dự án sẽ đầu tư khoa học công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống tạo ra số lượng cây giống lớn, dự kiến từ 4-5 triệu cây giống/năm; hoàn thiện quy trình công nghệ canh tác và mở rộng diện tích trồng Sâm, đến năm 2022 sẽ đạt từ 800-1.000 ha sâm.
Bên cạnh đó, dự án còn hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến, xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm sâm Ngọc Linh; áp dụng các công nghệ mới trong thu hoạch, bảo quản, chiết xuất nhằm tạo được các sản phẩm có giá trị cao; xây dựng nhà máy chế biến với quy trình công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Ngoài ra, dự án còn đưa ra giải pháp để xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm sâm Ngọc Linh và được bảo hộ trên thế giới; bảo vệ cùng với việc chống hàng giả cho thương hiệu Sâm.
Tỉnh Kon Tum cũng sẽ tiếp tục hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia Sâm Ngọc Linh”. Đây là dự án đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt chủ trương đầu tư vào tháng 6/2013. (Chinhphu.vn 2/10) đầu trang(
Để tiếp tục nâng cao độ che phủ của rừng cũng như tạo điều kiện tăng thu nhập cho bà con nông dân từ việc trồng rừng, trong năm 2013 này, huyện Cam Lộ (Quảng Trị) có kế hoạch trồng mới khoảng 500 ha rừng tập trung.
Để thực hiện tốt kế hoạch đề ra, huyện Cam Lộ đã chuẩn bị gần 100 vạn cây giống, chủ yếu là tràm hoa vàng để cung ứng cho bà con nông dân. Những người tham gia chương trình trồng rừng được hỗ trợ 100% cây giống và một phần phân bón.
Được biết, trong tổng số diện tích trồng mới năm nay, có khoảng 350 ha được trồng bằng giống giâm hom. Ngoài trồng rừng tập trung, các địa phương trên địa bàn huyện Cam Lộ cũng trồng thêm khoảng 8 vạn cây phân tán.
Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng nên diện tích rừng trồng ở Cam Lộ ngày càng được mở rộng, độ che phủ rừng đạt gần 50%. Rừng không những góp phần giữ gìn bảo vệ môi sinh môi trường mà còn giúp cho nhiều hộ gia đình có nguồn thu nhập cao. (Báo Quảng Trị 3/10) đầu trang(
Huyện Đoàn Thanh niên huyện Nguyên Bình vừa phối hợp với UBND xã Ca Thành tổ chức hoạt động tình nguyện giúp 4 hộ dân xóm Khuổi Mỵ, xã Ca Thành trồng trúc sào.
Buổi ra quân đã trồng được 425 gốc cây trúc trên diện tích hơn 2 ha, đúng kỹ thuật được Phòng NN&PTNT và Trạm Khuyến nông - Khuyến lâm huyện hướng dẫn. (Báo Cao Bằng 2/10) đầu trang(
Ở huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), cây bời lời đang trở thành cây xoá đói giảm nghèo hiệu quả cho người dân, được nhiều người trồng với diện tích lớn.
Người dân Cù Bai bắt đầu trồng bời lời đại trà từ năm 2004. Từ năm 1999 chỉ một vài hộ dân trồng bời lời, sau lan rộng ra cả bản. Những hộ đi tiên phong đến thời điểm 2004 đã có vài chục héc ta bời lời sắp cho thu hoạch khiến người dân bản có niềm tin vào sự đổi thay mà cây bời lời có thể mang lại. Theo đó, hàng chục gia đình cùng mang cuốc, rựa lên nương rẫy phát quang bụi rậm và nhận cây giống về trồng.
Háo hức muốn được tận mắt nhìn thấy rừng bời lời của người dân, chúng tôi nhờ anh Hồ Thới, Trưởng thôn dẫn đường lên rừng. Anh Thới cho biết: “Bời lời của dân Cù Bai giờ phủ kín núi rừng rồi, nhiều người muốn trồng thêm rừng nữa nhưng thiếu đất trồng. Trong bản có người phải đi 10 km để tới được rừng của mình, vậy nhưng năm nào bản cũng mở rộng được thêm 10 đến 15 ha bời lời nữa”.
Hiện nay bản Cù Bai có 105 hộ dân nhưng có đến hơn 600 ha bời lời, 100% hộ dân tham gia trồng rừng, trong đó số hộ nghèo chỉ trên dưới 10 hộ, không có hộ đói. Trung bình mỗi héc ta người dân trồng khoảng 2.000 cây, trên diện tích 600 ha sẽ là sự hiện diện của 1,2 triệu cây bời lời. Cứ mỗi héc ta bời lời sẽ cho khoảng 2 tấn vỏ khô với giá thị trường khoảng 40 triệu đồng, trong đó năm nay sẽ có gần 100 ha bời lời đủ tuổi khai thác… (Báo Quảng Trị 3/10) đầu trang(
Việc giới nhà giàu ở Việt Nam sử dụng sừng tê giác để khẳng định đẳng cấp đang khiến nạn săn bắn lậu loài tê giác ở Nam Phi tăng vọt.
Cuộc nghiên cứu mới, do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên tại Nam Phi (WWF-SA-World Wildlife Fund for Nature in South Africa) tài trợ, cho thấy chiều hướng mới trong việc sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam đang gia tăng.
TRAFFIC, tổ chức chuyên theo dõi việc buôn bán động vật hoang dã, đã khảo sát 720 người ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc nghiên cứu này cho thấy tại Việt Nam, sừng tê giác hầu hết được sử dụng để khẳng định đẳng cấp trong xã hội, chứ không phải được dùng để chữa bệnh.
WWF-SA cho hay điều này đã khiến mức cầu về sừng tê giác từ Nam Phi tăng vọt, và quốc gia này là nguồn cung cấp chính cho thế giới sừng tê giác lậu.
Cho tới tháng Chín của năm nay 635 con tê giác ở Nam Phi đã bị giết. Ông Joe Shaw, điều phối viên về tê giác của WWF-SA, cho biết số lượng này gần bằng số lượng của cả năm ngoái.
Ông Douglas Hendrie, thuộc tổ chức Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam trụ sở tại Hà Nội, cho hay trong lúc các nhà khảo cứu tìm hiểu về nhận thức của người dân về vấn đề giá trị y tế của sừng tê giác thì họ cũng thấy ý muốn “khoe khoang” là yếu tố quan trọng hơn của giới nhà giàu ở Việt Nam khi họ muốn có sừng tê giác.
Ông Hendrie phát biểu: “Người ta sử dụng sừng tê giác y như việc người ta có một ga-ra chứa được hai chiếc xe hơi. Thay vì đậu hai chiếc Mercedes Benz trong ga-ra thì người ta lại đậu chúng ngoài đường để láng giềng có thể nhìn thấy”.
Ông cũng cho rằng ở Việt Nam, người ta dùng sừng tê giác để tặng cho đồng nghiệp hoặc cho sếp hoặc để chiếm đoạt được điều gì đó. Người ta cũng tặng sừng để được hưởng lợi nhờ việc tặng này hay chỉ để khoe khoang.
Theo tin tức, sừng tê giác được bán với giá lên đến 1400 đô la một ounce – tương đương với giá vàng.
Ông Hendrie cho biết nhu cầu về sừng tê giác ở Việt Nam có thể sẽ tăng khi kinh tế của đất nước phát triển - và tầng lớp trung lưu mở rộng.
Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, mức độ săn bắn lậu tê giác ở Nam Phi tăng hơn 5000 % kể từ năm 2007.
Ông Barney Long thuộc tổ chức này cho biết: “Trong lúc này, mỗi một con tê giác đều có nguy cơ bị săn bắn. Việc thảm sát tê giác hiện vượt ra ngoài tầm kiểm soát và đe dọa phá hoại công cuộc bảo vệ loài này, vốn bắt đầu từ nhiều thập niên qua, đồng thời đe dọa đời sống của những người làm công tác bảo vệ chúng”.
Lên tiếng nhân Ngày Thế giới Tê giác, hôm 22/9, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên kêu gọi các chính phủ nhóm họp tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc trong tuần này hãy gia tăng nỗ lực để đấu tranh chống lại nạn buôn bán lậu động vật hoang dã.
Tại Á Châu, loài tê giác Java và Sumatra được liệt kê trong tình trạng đang trên bờ vực tuyệt chủng.
Tê giác Java đã được tuyên bố tuyệt chủng tại Việt Nam hồi năm 2010. Nay trên thế giới, loài tê giác này chỉ còn một số cá thể rất ít ỏi sống sót tại đảo Java ở Indonesia.
Người ta cho rằng loài tê giác Sumatra nay chỉ còn khoảng 100 con và hiện đang đối diện với rất nhiều nguy cơ. (Dư luận Thế Giới về Việt Nam 4/10) đầu trang(
Mẹ Phạm Thị Nghèng, Anh hùng lao động, người phụ nữ ưu tú của xã Quang Phú suốt đời mình trồng rừng phi lao chống cát. Sau khi mẹ mất đi đã để lại cho xã Quang Phú một dãy rừng phòng hộ trên 50 năm tuổi kéo dài từ phường Hải Thành cho đến xã Nhân Trạch (Bố Trạch).
Là địa phương nằm sát biển nên sau khi bão số 10 đi qua, xã Quang Phú bị thiệt hại rất nặng nề: có 570 ngôi nhà bị tốc mái; 1 nhà sập; hệ thống trụ sở làm việc UBND xã, trường học, trạm y tế… hư hỏng nặng; phần lớn cây xanh, cột điện cũng bị bão xô đổ. Tổng thiệt hại ước tính 18 tỷ đồng.
Đặc biệt gần 100ha rừng phòng hộ của xã, do mẹ Nghèng trồng bị bão tàn phá. Dọc theo tuyến đường Trương Pháp nối dài từ phường Hải Thành ra đến Nhân Trạch, rừng mẹ Nghèng hầu như không còn nguyên vẹn.
Sau khi ngưng bão, rất nhiều người dân của xã Quảng Phú đã ra rừng phòng hộ thu nhặt cành, thân cây gãy gây mất trật tự, trị an và cũng góp phần làm rừng khó có nguy cơ phục hồi.
Ông Phạm Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Sau khi xem xét hiện trường, UBND xã đã tăng cường lực lượng công an, xã đội ra bảo vệ rừng phòng hộ; tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu tác dụng, giá trị, ý nghĩa rừng mẹ Nghèng đồng thời báo cáo với các cấp, ngành liên quan của thành phố sớm có biện pháp cùng với UBND xã bảo vệ khẩn cấp những diện tích rừng còn lại chưa bị gãy, đổ. (Báo Quảng Nam 2/10) đầu trang(
Người dân ở phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát hiện hai đối tượng vào khu vực chợ gỗ Đồng Kỵ ăn cắp gỗ trắc vào tối 29/9. Khi bị truy đuổi, nghi phạm đã dùng súng bắn.
PV có mặt tại làng Đồng Kỵ, hỏi thăm về vụ việc hai nghi phạm trộm gỗ bị người dân đánh hội đồng. Những người chứng kiến vụ việc sợ bị liên lụy nên nói chuyện úp mở, còn những người không chứng kiến thì nghe người khác kể lại sau đó truyền tai nhau khiến sự việc được thêu dệt lên nhiều tình tiết sai sự thật.
Một người phụ nữ khoảng 50 tuổi, ở phố Thanh Bình, gần hiện trường vụ việc cho hay: “Đánh chết một thằng rồi đấy cháu ạ, còn một thằng nghe đâu đưa đi viện trên Hà Nội rồi. Ăn cắp gỗ còn mang theo vũ khí, hàng trăm người ùa vào đánh ghê lắm…”. Tuy nhiên, khi PV hỏi bác có chứng kiến không thì bác bảo: “Tôi nghe người ta nói lại chứ tôi không ra xem”.
Chị chủ quán phở ở xóm Bằng lại nói rằng: “Không phải mỗi dân ở đây đánh đâu mà người đi đường cũng dừng lại đánh, một số người thì dùng gạch, gậy đánh túi bụi. Người dân bị mất gỗ nhiều rồi nên họ bức xúc”. Thông tin chính xác được lực lượng chức năng xác nhận, hai nghi phạm trộm gỗ chỉ bị đa chấn thương, một trong hai đối tượng bị thương rất nặng đó là Nguyễn Xuân Kiên, SN 1979, trú tại thôn Trung, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ nổi tiếng bậc nhất Việt Nam, cung cấp các mặt hàng đồ gỗ mĩ nghệ cao cấp. Nhiều năm gần đây làng nghề Đồng Kỵ luôn bị kẻ gian rình rập để ăn cắp gỗ quý. Khoảng đầu tháng 9-2013, vào buổi chiều tối, người tài xế lái xe chở gỗ vào xưởng gỗ cho gia đình anh N.Đ. Trước khi thu dọn đồ trở về nhà anh Đ đã khóa cửa cẩn thận. Nhưng sáng hôm sau đến xưởng anh Đ phát hiện hàng chục kg gỗ quý đã bị mất, cánh cửa và ổ khóa bị phá và bẻ gãy. Xưởng gỗ nhà anh Đ bị mất cắp gỗ với số lượng lớn ở Đồng Kỵ.
Một chủ xưởng gỗ ở xóm Bằng, làng Đồng Kỵ cho hay: “Dân ở đây làm nghề gỗ. Mà gỗ là thứ rất dễ mất cắp, vì chúng tôi không thể gói gém cho vào tủ, cũng không thể cất giấu trong nhà mà phải chất đống ở xưởng. Bọn trộm chỉ cần xách một khúc gỗ trắc hoặc nu, gụ ôm trong người hay cho lên xe, chỉ khoảng vài kg đã có 4 - 5 triệu đồng. Những thanh gỗ, khúc gỗ đang làm thành phẩm khoảng 15, 20kg thì xách dễ dàng.
Bọn trộm tinh vi và liều lĩnh. Như vụ tối hôm 29-9, bị truy đuổi, chúng còn dùng súng bắn trả, may mà súng không lên đạn... Dân chúng rôi rất mong các cơ quan chức năng tích cực vào cuộc, đảm bảo an ninh trật tự để nhân dân yên tâm sản xuất”.
Hiện Công an tỉnh Bắc Ninh tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Pháp Luật&Xã Hội 2/10) đầu trang(
Nhà báo Kim Cương, PV báo Thanh niên (VP Đồng Nai) vừa bị cơ quan CSĐT Bộ Công an thực hiện lệnh bắt khẩn cấp vì hành vi “lợi dụng quyền hạn”.
Ngày 2/10, cơ quan CSĐT (BCA) đã có mặt tại nhà riêng của PV Kim Cương (phường Long Bình, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) thực hiện quyết định bắt khẩn cấp và khám xét, thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến vụ án.
Theo thông tin ban đầu, PV Kim Cương bị bắt vì có liên quan đến việc “bảo kê” cho các đối tượng phá rừng, buôn gỗ lậu ở rừng Nam Cát Tiên.
Được biết, PV Duy Đông (báo Pháp Luật TPHCM, đã bị bắt trước đó về hành vi cưỡng đoạt tài sản chủ quán bar) cũng có liên quan đến vụ việc phá rừng, buôn gỗ lậu này.
Cuối năm 2012, Công an huyện Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai) bất ngờ kiểm tra, khám xét căn nhà của Duy Đông thì phát hiện có nhiều gỗ lậu tổng giá trị lên đến hàng chục tỉ đồng.
Vụ việc đã được lập hồ sơ báo cáo Bộ Công an để phối hợp xử lý. Sau thời gian làm rõ, CQĐT xác định số gỗ lậu này có liên quan đến 2 PV Kim Cương và Duy Đông. (Kienthuc.net.vn 3/10) đầu trang(
Bà Lê Mai Hạnh, Trưởng phòng truyền thông và nâng cao nhận thức thuộc Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) cho biết: Gấu là loài động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt theo pháp luật Việt Nam và pháp luật thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng nuôi nhốt gấu để lấy mật đã diễn ra ở Việt Nam nói phổ biến từ những năm 1990 và đặc biệt phát triển mạnh trong những năm 2000 do nhu cầu về mật gấu trên thị trường Việt Nam và các nước châu Á tăng cao. Việc nuôi nhốt gấu để chích hút một cách tự phát và trái phép tại Việt Nam đã bị cộng đồng quốc tế phản đối gay gắt.
Trước áp lực của dư luận thế giới và với sự tài trợ của tổ chức WSPA, năm 2005, Bộ NN&PTNT đã xây dựng quy chế về Quản lý gấu nuôi (ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QĐ-BNN) và tiến hành gắn chíp để quản lý hơn 4.500 cá thể gấu nuôi nhốt. Theo đó, người nuôi gấu được phép tiếp tục nuôi số gấu đã được gắn chíp nhưng không được tiến hành các hoạt động chích hút mật gấu để bán như trước đây.
Cũng theo vị đại diện này: “Trước hết phải nói đến nhận thức của một bộ phận người tiêu dùng do thiếu hiểu biết, đã coi việc sử dụng mật gấu để chữa bệnh hay tăng cường sinh lực đã dẫn đến việc nuôi nhốt gấu lấy mật cung cấp cho người tiêu dùng một cách tràn lan trên thị trường của các chủ trại gấu và các nhà hàng. Sự thiếu quyết liệt trong thực thi pháp luật của cơ quan chức năng: Thả lỏng tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật từ trước năm 2005; thiếu quyết liệt trong xử lý các vi phạm; ENV đã ghi nhận nhiều vụ việc đối tượng đáng bị xử phạt nhưng thực tế chỉ bị cảnh cáo...”.
Trả lời câu hỏi về trách nhiệm của cơ quan chức năng, bà Hạnh nhấn mạnh: “Trách nhiệm cũng thuộc về một số cơ quan chức năng đã quản lý lỏng lẻo dẫn đến thực trạng bùng phát các trang trại nuôi nhốt gấu như thời gian vừa qua. Và sau đó là tình trạng buôn bán trái phép gấu ở các trang trại như hiện nay, trách nhiệm rất lớn vẫn thuộc về các cơ quan chức năng sở tại. Ngoài ra, một số quy định của pháp luật còn thiếu sót tạo cơ hội cho các vụ việc vi phạm liên quan đến gấu”.
Tiến sỹ Tuấn Bendixsen, Trưởng đại diện Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam, Giám đốc Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam cho biết: Hiện nay, pháp luật đồng ý cho các chủ trại được nuôi các cá thể gấu có gắn chip, nhưng tất cả các hành vi khai thác, hút mật và kinh doanh mật gấu đều là trái phép. Nhà nước gắn chip để quản lý số gấu nuôi nhốt, chứ không công nhận các sai phạm mà các chủ trại đã làm.
Điều mà chúng tôi quan ngại lớn nhất vẫn là việc các chủ trại không chấp hành đúng các quy định của Chính phủ trong việc nuôi nhốt gấu, nhất là quy định về việc cấm buôn bán, khai thác và quảng cáo mật gấu. (Đời Sống&Pháp Luật 3/10) đầu trang(
Nguồn tin của Tuổi Trẻ ngày 2-10 cho biết chủ tịch UBND TP Huế vừa ra quyết định kỷ luật đối với ông Phan Đình Ngôn, giám đốc Trung tâm công viên cây xanh Huế, với hình thức khiển trách, đồng thời chấp thuận cho ông Ngôn thôi giữ chức giám đốc.
Thành ủy Huế cũng có quyết định kỷ luật hình thức khiển trách về mặt Đảng đối với ông Ngôn. Trước đó, Thanh tra TP Huế có kết luận nhiều sai phạm tại Trung tâm công viên cây xanh Huế.
Theo đó, có việc lập quỹ phát triển thể dục thể thao và quỹ công đoàn trái quy định 210 triệu đồng, áp dụng tiền lương cho công nhân sai quy định của UBND TP Huế. Ngoài ra, trung tâm này đã huy động hàng tỉ đồng của cán bộ nhân viên để kinh doanh nhưng sáu năm qua không công bố lỗ lãi cho người góp vốn... (Tuổi Trẻ 3/10) đầu trang(
Nổi tiếng là nhà sản xuất kinh doanh đồ gỗ lớn nhất Việt Nam, được mệnh danh ông trùm đồ gỗ Việt nhưng doanh nhân Võ Trường Thành và doanh nghiệp (DN) của ông đang ngập trong khoản nợ ngắn hạn trên 1.500 tỷ đồng.
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM vừa thông báo, 3 cổ đông nội bộ của CTCP Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) không mua được cổ phiếu nào trong thời gian đăng ký do giá thị trường không phù hợp. Trong đó có ông Võ Trường Thành (Tổng giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT) đã mua bất thành 1 triệu cổ phiếu trong khoảng thời gian từ 21/8-19/9.
Thông tin nói trên không mấy tác động tới cổ phiếu TTF, thậm chí, với lực mua vào cổ phiếu này khá mạnh khiến TTF tăng trần 6% từ 5.000 đồng/cp lên 5.300 đồng/cp trong phiên 1/10 với giao dịch lên tới gần 1,4 triệu đơn vị. Sáng 2/10, TTF tiếp tục tăng thêm 3,8% lên 5.500 đồng/cp.
Trong bối cảnh TTCK tăng điểm trong 2 tuần qua, cùng với việc TTF được chào bán cổ phiếu huy động vốn, thì cổ phiếu tăng giá là bình thường, nhất là khi giá trị sổ sách của TTF hiện ở mức trên 11.500 đồng/cp so với mức trên 5.000 đồng hiện tại.
Trước đó, TTF đã trở thành DN đầu trên trên TTCK được phép chào bán cổ phiếu dưới mệnh giá, với tổng số phát hành lần này là 14,4 triệu cổ phiếu ở mức giá chào bán 5.000 đồng/cp.
Kế hoạch phát hành được đưa ra trong bối cảnh DN này kinh doanh vẫn có lợi nhuận nhưng dòng tiền yếu kém và nợ nần chống chất.
Theo báo cáo hợp nhất 6 tháng 2013, TTF vay nợ ngắn hạn các ngân hàng gần 1.570 tỷ đồng; nợ thuế và người lao động trên 85 tỷ đồng...
Mới đây, đứng trước áp lực nợ ngần, Trường Thành đã thông qua Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Bình Dương có cuộc họp cứu nợ với các DN.
Theo đó, (TTF) bao gồm Cty mẹ và 14 Cty con, hoạt động chính là chế biến gỗ và trồng rừng nguyên liệu, hiện nợ 13 ngân hàng với số tiền 1.174 tỉ đồng. Trong đó, Vietcombank Bình Dương trên 232 tỉ, MB 77 tỉ, HD Bank 174 tỉ, Đông Á 162 tỉ, Kiên Long 99, SHB 79 tỉ đồng...
Tại đây, TTF đã kiến nghị 5 điều kiện trợ giúp và được các ngân hàng cho tái tục hạn mức tín dụng với mức vay hiện hữu trong vòng 12 tháng kể từ ngày 1.9.2013.
Khoản nợ hơn ngàn tỷ lần này quả là một sức ép lớn với DN và cá nhân ông Thành. Không biết, đại gia này sẽ tìm cách nào để vượt qua nguy cơ này dù với kinh nghiệm hàng chục năm trên thương trường và đã nhiều lần đối diện với những pha hút chết.
Lần khủng hoảng lớn đầu tiên mà doanh nhân gốc đất võ Bình Định này gặp phải có lẽ là vào cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 cùng lúc với chỉ thị cấm xuất khẩu gỗ được ban hành. Nhưng nhờ các biện pháp hợp lý, TTF là một trong số ít các đơn vị trụ được tới khi lệnh cấm gỗ được tháo bỏ năm 1999 và phát triển.
Mười năm sau đợt khủng hoảng lớn thứ nhất, ông Thành lại đối mặt với một số khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 mang đến cùng với những hậu quả do quyết định đầu tư lớn gây ra.
Với việc thắt chặt chính sách tiền tệ, lãi suất tăng vọt lên 18-20% cũng như những quyết định vay tiền có lẽ dễ dãi đã khiến TTF liên tục đứng trên bờ vực phá sản. 2008 là năm đầu tiên TTF chứng kiến tổng nợ cũng như nợ ngắn hạn vượt vốn chủ sở hữu và vượt ngưỡng 1.000 tỷ đồng. Các năm tiếp theo nợ ngắn hạn (luôn ở mức suýt soát bằng tổng nợ) liên tục tăng mạnh và lên tới đỉnh điểm là trên 2.400 tỷ đồng vào cuối năm 2011.
Riêng trong năm 2010, tiền trả lãi vay ngân hàng của TTF đã là trên 170 tỷ đồng. Năm 2011, DN này phải chi hơn 230 tỉ đồng để trả lãi vay ngân hàng, gấp 23 lần lợi nhuận tập đoàn mang về cho cổ đông. Sức ép lãi vay là rất lớn, trong khi kế hoạch phát hành cổ phiếu tăng vốn khi đó không khả thi.
Cuối năm 2012, đầu năm 2013 có lẽ đợt khủng hoảng lớn thứ ba của DN này và có lẽ cũng là một đợt khó khăn rất lớn bởi nợ ngắn hạn vẫn ở mức cao xấp xỉ các năm trước đó nhưng dòng tiền vào - doanh thu của DN lại tụt giảm nghiêm trọng. Nhiều quý doanh thu đã xuống dưới 500 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận có quý lỗ, có quý về gần bằng 0.
Cuối quý III/2012, quy mô vốn vay của có tín hiệu giảm xuống và lãi vay cũng giảm từ 18-20% xuống 13-15% theo diễn biến chung trên thị trường. Tuy nhiên, cái khó về dòng tiền có lẽ tệ hại không kém.
Tới cuối quý II/2013, tiền và tương đương tiền của TTF chỉ còn hơn 2,3 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn lên tới trên 2.100 tỷ đồng, trong đó vay nợ ngắn hạn các ngân hàng gần 1.570 tỷ đồng, nợ thuế và người lao động là trên 85 tỷ đồng...
Dù đã có nhưng lần thoát chết trong lịch sử nhưng lần này, nhiều người lo ngại về tình trạng đầu tư dàn trải với 14 công ty con, 2 liên kết, về khối nợ khổng lồ, cao hơn vốn chủ sở hữu, cũng như triển vọng của ngành gỗ.
Quy mô hiện nay của TTF lớn hơn nhiều so với cách đây hơn 10 năm do vậy nếu dòng tiền không được đảm bảo thì bất kỳ DN nào cũng có thể gục ngã trên đống tài sản và thương hiệu của mình. Đợt phát hành 14,4 triệu cổ phiếu nếu tốt đẹp cũng chỉ thu về hơn 70 tỷ đồng, rất nhỏ nếu so với tổng nợ ngắn hạn gần 2.100 tỷ đồng. Trong khi tồn kho tới cuối quý II/2013 là 2.041 tỷ đồng, cao hơn so với đầu năm 1.964 tỷ.
Một điều các cổ đông quan tâm, hiện nay, ông Thành chỉ còn nắm 7,4 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 10,8% của TTF. Mọi vấn đề ở DN và các bước đi sẽ bị chi phối bởi rất nhiều các cổ đông lớn khác, nó hoàn toàn khác với vai trò chi phối và khả năng tự quyết của ông Thành cách đây 10 năm. (Vef 3/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Các nhà địa chất tại Đại học Nakhon Ratchasima Rajabhat của Thái Lan đã xác nhận rằng, phần hóa thạch do người dân địa phương phát hiện trước đây thuộc loài tê giác cổ đại chưa từng được biết đến.
Nhóm nghiên cứu kết luận rằng, các hóa thạch thuộc loài tê giác không sừng, đầu dẹt được đặt là Aceratherium porpani theo tên người đã hiến tặng các hóa thạch cho trường đại học.
"Các hóa thạch bao gồm một hộp sọ hoàn chỉnh và hai xương hàm dưới, đã được tìm thấy tại một mỏ đá cát gần sông Moon ở huyện Chalerm Phrakiat, tỉnh Nakhon, Thái Lan năm 2003.
Sau đó, các hóa thạch được chuyển đến cho Porpan Vatchajitpan, cựu giảng viên Đại học Chulalongkorn (Thái Lan). Các giảng viên tặng các hóa thạch cho Viện Nghiên cứu của Đại học Nakhon Ratchasima Rajabhat vào năm 2009."
Mẫu vật được xác định là đã sống trong thời kỳ Miocen muộn nên tuổi của nó khoảng 6 đến 7,5 triệu năm. (Người Đưa Tin 3/10) đầu trang(
Các nhà khảo cổ học Australia vừa khai quật mẫu hóa thạch gấu túi rất đặc biệt thời tiền sử tại khu vực bán đảo Mornington, thuộc bang Victoria.
Giáo sư cổ sinh vật học Erich Fitzgerald thuộc Bảo tàng Victoria cho biết hóa thạch được cho là gần với họ Diprotodontid, một loài động vật ăn cỏ, giống gấu túi, dài khoảng 4m, cao 2m và nặng khoảng 3 tấn. Loài thú có túi khổng lồ trên xuất hiện cùng một số loài khác trên lục địa này từ hàng triệu năm trước.
Điều đặc biệt, mẫu hóa thạch vừa được phát hiện là hóa thạch gấu túi hoàn thiện nhất từ trước đến nay tại khu vực này và có thể là mẫu hóa thạch nguyên vẹn nhất được phát hiện tại Australia.
Phát hiện quan trọng trên có thể giúp giới khoa học hiểu được cuộc sống và giai đoạn tồn tại của loài thú có túi đã tuyệt chủng này, đồng thời xác định nguyên nhân loài này biến mất khoảng 40.000 năm trước. (VietnamPlus.vn 2/10) đầu trang(
Một đám mây bụi tung lên trời khi hàng triệu con thú nhắm đến bên bờ sông của dòng Mara tại khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara tại Kenya để thực hiện một trong những cuộc di cư lớn nhất của tự nhiên hàng năm.
Lần lượt từng con thú một tung mình xuống dòng sông đang “sôi sùng sục” khi chúng thực hiện cuộc di cư hàng năm từ công viên quốc gia Serengeti, Tanzania đến những đồng cỏ xanh hơn.
Để vượt qua dòng Mara cuộn sóng, đàn thú phải sẵn sàng đương đầu với những con cá sấu đang nằm chờ chực sẵn, hy vọng xé xác những con thú còn non và yếu. Và ngay cả khi không trở thành bữa ăn của cá sấu thì đoàn thú di cư này phải vượt qua dòng nước của sông Mara mới có thể sống sót tới bờ bên kia.
Ước tính hàng năm có đến khoảng 1,5 triệu con thú trong mỗi hành trình di cư vượt sông. Chuyến di cư diễn ra từ tháng 7 – 10 hàng năm, nhưng cao điểm của nó diễn ra vào tháng 8. (Tin Tức 3/10) đầu trang(
Hóa thạch một con voi mới được khai quật tại thung lũng Ebbsfleet thuộc Đông Nam nước Anh cho thấy con người sống cách đây khoảng 500.000 năm đã có thể săn bắt động vật lớn như voi ma mút thời tiền sử.
Tiến sĩ Francis Wenban-Smith, nhà nghiên cứu khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ tại Đại học Southampton (Anh), đã khám phá ra hóa thạch này khi tham gia quá trình xây dựng tuyến đường sắt cao tốc từ đường hầm Channel tới London 10 năm trước. Con vật này lớn gấp hai lần voi châu Phi hiện nay.
Các nhà khoa học tin rằng, hóa thạch này tồn tại cách đây ít nhất 420.000 năm. Tiến sĩ Wenban-Smith tìm thấy một lõi đá lửa trong khung xương sườn của con voi. Ông cho rằng các đồ tạo tác bằng đá nằm rải rác xung quanh hóa thạch là bằng chứng cho thấy nó đã bị giết lấy thịt.
Đây là “ngôi mộ voi” nguyên vẹn duy nhất ở Anh bởi các nhà khoa học nước này chỉ tìm thấy rất ít các bộ xương voi khác. (Kienthuc.net.vn 3/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||