|
Ngày 04 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngay sau khi vụ cháy rừng tại thôn Sơn Bình, xã Thượng Lộc, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) được dập tắt vào trưa 3/8, thì chiều tối cùng ngày, lại xảy ra một vụ cháy rừng keo ngay đập Cửa Thờ (hồ Trại Tiểu), gần UBND xã Đồng Lộc.
Theo thông tin từ UBND huyện Can Lộc, thời gian phát cháy vào khoảng gần 17h chiều nay.
Hiện, UBND huyện Can Lộc đã điều động trên 500 người gồm lực lượng chức năng, người dân địa phương tập trung chữa cháy; Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã điều động lực lượng để ứng cứu. Dự báo, công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn do địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, trời khô hanh, thực bì dày.
Được biết, đây là khu vực từng xảy ra vụ cháy rừng trên diện tích 80ha vào năm 2005. Theo Hạt Kiểm lâm huyện Can Lộc, nếu vụ cháy không được khống chế trong đêm 3/8, rất có thể gần 60 ha rừng trồng trong khu vực sẽ bị thiêu rụi. (Báo Hà Tĩnh 3/8) đầu trang(
Tuyên bố đóng cửa rừng, không chuyển 2,25 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác; ngừng cấp phép các công trình thủy điện liên quan đến rừng, đất rừng; dừng hoạt động đối với các chủ dự án không chấp hành việc trồng rừng thay thế; nghiêm trị đơn vị, cá nhân liên quan đến vụ phá rừng pơ mu ở Quảng Nam…, đó là những động thái cho thấy sự quyết liệt của Chính phủ trong việc giữ rừng trong bối cảnh bão lũ, thiên tai, hạn hán, biến đổi khí hậu đang ngày một nghiêm trọng, đe dọa đến cuộc sống con người.
Theo số liệu mới nhất, tổng diện tích đất rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp ở khu vực Tây Nguyên là 3.354.194 ha, đạt độ che phủ toàn khu vực là 51,3%, trong đó rừng có trữ lượng gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng thì độ che phủ chỉ đạt 32,4%. Trong những năm gần đây, tình trạng suy giảm diện tích rừng ở Tây Nguyên đang ở mức báo động với mức bình quân giảm là 25.737 ha/năm.
5 năm trở lại đây, diện tích rừng tại các tỉnh Tây Nguyên đã mất 129.686 ha, trong đó có 107.425 ha rừng tự nhiên. Song song với sự suy giảm về diện tích rừng, chất lượng rừng (đặc biệt là rừng tự nhiên) cũng bị suy thoái nghiêm trọng: những khu rừng có chất lượng cao, trữ lượng lớn thì diện tích còn không đáng kể và chủ yếu tập trung ở khu rừng đặc dụng. Rừng mới phục hồi do khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên chủ yếu là rừng non, giá trị về đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản và tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường thấp.
Diện tích rừng tự nhiên khu vực Tây Nguyên giảm do 3 nguyên nhân chủ yếu (theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) như: Chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang rừng trồng cao su, cây công nghiệp, cây ăn quả; chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang mục đích theo quy hoạch của địa phương như xây dựng công trình hạ tầng. Nhưng nguyên nhân lớn nhất chính là nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng để lấy đất canh tác, sản xuất nông nghiệp và trồng cây công nghiệp (chiếm đến 45%).
Rừng giữ nước và chống xói mòn, vì thế muốn đất đai, đồi núi màu mỡ, muốn những con suối dòng sông không bao giờ cạn, muốn không có lũ ống, lũ quét thì phải giữ rừng. Từ lâu, Chính phủ đã có những hoạch định chiến lược về bảo vệ, phát triển rừng; đầu tư lớn cho các chương trình trồng và bảo vệ rừng như rừng phòng hộ, rừng bảo tồn, rừng sinh thái...
Dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng nhiều chính sách bảo vệ, phát triển rừng trong thời gian qua chưa thực sự hiệu quả. Nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra, "lâm tặc" vẫn còn đất sống; theo đó, rừng vẫn đang ngày một nghèo đi và ở nhiều nơi nhiều cánh rừng đã mất trắng. Hiểm họa mất rừng Tây Nguyên ngày càng tăng cao.
Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án (trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…) trên đất lâm nghiệp với diện tích là 215.721 ha. Không những thế, do chưa làm tốt công tác tuyên truyền dẫn đến tâm lý người dân sợ hết đất sản xuất nên tổ chức đông người chiếm rừng, chiếm đất, phá rừng trái phép trong khu vực dự án để lấy đất hoặc để đòi chủ dự án bồi thường, tạo áp lực lớn đến công tác bảo vệ rừng.
Mất rừng thì không giữ được nguồn nước, dẫn đến tình trạng hạn hán, đe dọa đến sản xuất và đời sống của người dân. Tình trạng hạn hán ở Tây Nguyên và hạn mặn ở Tây Nam Bộ những tháng gần đây là bài học đau lòng khi để rừng bị mất hoặc rừng nghèo kiệt. Phần lớn các hồ thủy lợi ở Tây Nguyên xuống dưới mực nước chết hoặc trơ đáy vào mùa khô cũng xuất phát từ nguyên nhân phá rừng làm thủy điện.
Rõ ràng, giữ rừng hay phá rừng cũng xuất phát từ ý thức của con người. Do vậy, một khi người dân còn vi phạm lâm luật thì khó lòng giữ được rừng. Muốn rừng bảo vệ rừng, chỉ còn cách tạo cho người dân sản xuất, kinh doanh những ngành nghề không gây hại cho rừng và đảm bảo cuộc sống cho họ. Bên cạnh đó, khẩn trương sắp xếp lại các nông, lâm trường để đảm bảo đất rừng có chủ, không “phát canh thu tô” đất rừng và rừng trong bối cảnh người dân không có đất sản xuất. (Tin Tức 3/8) đầu trang(
Tỉnh Gia Lai có tổng diện tích rừng hơn 600.000ha, chủ yếu là rừng tự nhiên được phân bổ đều khắp trên địa bàn các huyện, thị xã trong tỉnh.
Địa phương còn có đường biên giới dài giáp với nước bạn Campuchia nên công tác bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng, gặp rất nhiều khó khăn. Ở các xã biên giới, tình trạng du canh du cư, mua bán đất sản xuất, "phá rừng mở rẫy" diễn biến phức tạp. Việc phát hiện, xử lý đối với những hành vi vi phạm lâm luật cũng gặp không ít khó khăn, cần có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị ở cơ sở.
Trước tình hình trên, các đơn vị BĐBP Gia Lai đã chủ động triển khai lực lượng tuần tra, truy quét và phối hợp với các lực lượng chức năng kịp thời đấu tranh ngăn chặn nhiều vụ phá rừng trên địa bàn biên giới.
Trong 6 tháng đầu năm 2016, lực lượng BĐBP tỉnh đã tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các khu vực trọng điểm, nhất là những nơi có khu vực rừng tự nhiên trọng yếu có nguy cơ xâm hại cao để xây dựng kế hoạch, bố trí lực lượng thường trực bảo vệ rừng một cách hiệu quả nhất.
Các đồn BP đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, lực lượng Kiểm lâm đứng chân trên địa bàn triển khai các phương án bảo vệ rừng, kiểm soát chặt chẽ người, phương tiện ra vào các khu vực rừng có nguy cơ xâm hại cao, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua công tác nắm tình hình, các đơn vị đã đưa vào diện quản lý các đối tượng, phương tiện tham gia hoạt động buôn lậu, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là các địa bàn trọng yếu như: Xã Iao, huyện Ia Grai (Đồn BP IaO quản lý); xã Ia Dom, huyện Đức Cơ (Đồn BPCK quốc tế Lệ Thanh); xã Ia Mơ, huyện Chư Prông (Đồn BP Ia Mơ)...
Bên cạnh đó, tại các khu vực cửa khẩu, lối mở, BĐBP tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của 13 doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nhằm đấu tranh ngăn chặn tình trạng lợi dụng phá rừng.
Trong thời gian qua, các đồn BP đã độc lập và phối hợp với các lực lượng đứng chân trên địa bàn tổ chức tuần tra, kiểm soát được 1.415 lần/3.493 lượt người tham gia (trong đó, có công an, dân quân các xã biên giới tham gia 419 lần/899 lượt người). Các đơn vị còn đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, tổ chức hơn 98 buổi/8.415 lượt người nhằm tuyên truyền cho bà con tích cực tham gia bảo vệ rừng và tố giác các hành vi phá hoại rừng.
Từ đầu năm tới nay, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh xây dựng và triển khai thực hiện 2 kế hoạch cao điểm, 4 kế hoạch nghiệp vụ về đấu tranh, ngăn chặn hoạt động khai thác, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép trên khu vực biên giới. Qua đó, phát hiện, bắt giữ 28 vụ với 36 đối tượng, thu giữ tang vật 124,6m3 gỗ các loại, 12 xe ô tô, 3 xe công nông, 6 thuyền và 17 xe máy.
Hoạt động người dân phá rừng làm nương rẫy giảm so với cùng kỳ năm 2015. Tuy vậy, một số đối tượng vẫn lợi dụng sơ hở của các lực lượng chức năng để phá rừng làm nương rẫy; cơi nới, mở rộng nương rẫy trên khu vực biên giới. Trước tình hình trên, lực lượng BĐPB một mặt tích cực tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, mặt khác, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm. Cụ thể, đã tiến hành xử lý 2 điểm/4 đối tượng với diện tích khoảng 0,45ha trên địa bàn xã Ia Chia và Ia Grai (so với năm 2015 đã giảm 1,21ha).
Tiêu biểu như Đồn BP Ia Chia (Đức Cơ, Gia Lai) đã có nhiều hoạt động tăng cường bảo vệ diện tích rừng trên 8,5km đường biên giới, kịp thời xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Cùng với đó, đơn vị còn lập các chốt kiểm tra ở các vị trí trọng yếu để nắm bắt kiểm tra người và phương tiện vào ra rừng. Kết hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn để cùng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động bà con kịp thời tố giác các hoạt động phá hoạt rừng.
Từ đầu năm đến nay, Đồn BP Ia Chia đã phát hiện, xử lý hàng chục vụ vi phạm quy chế biên giới, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, tạm giữ 8 đối tượng, 6 xe máy, tịch thu 10,345m3 gỗ các loại; đấu tranh xử lý 3 vụ/6 đối tượng phát rừng làm nương rẫy.
Đơn vị còn phối hợp với Đoàn 2, Cục Phòng chống ma túy và tội phạm BĐBP bắt giữ 2 vụ/1 đối tượng, tạm giữ 1 xe độ, 7,76m3 gỗ; phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đức Cơ bắt 1 vụ, tạm giữ 2,109m3 gỗ; phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Ia Grai bắt 2 vụ/4 đối tượng, tạm giữ 4 xe máy, 0,5m3 gỗ, lập biên bản xử lý 2 vụ người dân phá rừng làm nương rẫy.
Trên tuyến biên giới của huyện Đức Cơ và Chư Prông, các Đồn BP Ia Nan, Ia Pnôn, Ia Púch, Ia Mơ và Đồn BPCK quốc tế Lệ Thanh thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh tăng cường tuần tra đường biên và công tác bảo vệ rừng. Tại các khu vực trọng điểm như chốt 205 (xã Ia Pnôn), các lô cao su thuộc Công ty 72, hai bên "cánh gà" cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, khu vực núi Kẹp, núi Chư Pông (xã Ia Púch), nông trường An Biên (xã Ia Mơr) và các khu vực tiếp giáp giữa các đồn, lực lượng BĐBP tăng cường truy quét chốt chặn, kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tình trạng vi phạm lâm luật.
Bên cạnh đó, các đơn vị còn làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số không vi phạm qui chế biên giới, không chặt phá rừng làm nương rẫy, kịp thời tố giác những hoạt động phá hoại rừng với chính quyền địa phương.
Trung tá Ngôn Ngọc Cương, Đồn trưởng Đồn BP Ia Chia cho biết: "Khi lực lượng BĐBP tổ chức tuần tra, phát hiện người lạ vào rừng thì người dân lấy lý do vào rừng kiếm thuốc hay vào làm rẫy nên rất khó khăn trong công tác quản lý. Ngoài ra, các đối tượng là con em đồng bào dân tộc thiểu số còn nhỏ tuổi thường vào rừng kiếm nhặt một vài khúc gỗ về bán kiếm tiền tiêu xài. Đối với những trường hợp này, chúng tôi chủ yếu áp dụng biện pháp phòng ngừa, đó là tuyên truyền, giáo dục để người dân không vi phạm lâm luật. Địa bàn quản lý của đồn là xã Ia Chia và một phần xã Ia Dom có diện tích rừng tương đối lớn, trong khi đó, phương tiện hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng còn thiếu thốn nên rất khó khăn trong việc phát hiện xử lý. Tuy nhiên, chúng tôi xác định, công tác đấu tranh phòng chống các hoạt động vi phạm lâm luật là nhiệm vụ thường xuyên và luôn được thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả nhất...". (Biên Phòng 3/8) đầu trang(
Có hay không nạn lâm tặc đang hoành hành như chốn không người ở những cánh rừng tự nhiên thuộc lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) - chúng tôi đặt câu hỏi với những người giữ rừng và chính quyền địa phương tỉnh Quảng Trị.
Câu trả lời nhận được, chỉ là những con số rất nhỏ về vài ba vụ phá rừng lẻ tẻ, kèm lời khẳng định "không còn nóng". Ngay sau đó, những hình ảnh rừng phòng hộ bị tàn sát do PV Báo Lao Động ghi lại trong 1 tháng lội rừng được trưng ra, lời khẳng định phía trên lập tức chuyển thành "quá nóng".
Suốt một tuần trong rừng phòng hộ, nhưng vẫn chưa tiếp cận trực tiếp với người đang phá rừng và "quy trình" vận chuyển gỗ ra khỏi cửa, nên chúng tôi lội ngược trở lại bản 3 (Vĩnh Ô, Vĩnh Linh, Quảng Trị). Lần này, không chỉ men theo đường mòn lâm tặc đã mở, chúng tôi rẽ vào những con đường nối với trục đường này rồi dẫn lên những ngọn núi rậm rì, còn nhiều cây lớn.
Mất hơn 2 giờ đi bộ, tiếng máy cưa bắt đầu vang lên từ phía bên kia đỉnh núi, tiếng máy to dần, có lúc mất hút một vài phút rồi lại rú lên, phá tan không gian im ắng của khu rừng tự nhiên. Lần theo tiếng máy cưa, chúng tôi phát hiện một lối mòn nhỏ ở ngay cạnh bãi gỗ hôm trước dẫn lên núi, hai bên la liệt cây rừng bị cưa ngã.
"Họ (lâm tặc) vừa hạ cây thôi, còn chưa kịp rọc bìa mà. Khoảng 2 ngày là tất cả những cây lớn ở núi này chỉ còn trơ gốc. Rồi hết núi này, đến núi khác, cứ rứa là làm, không có ai ngăn cản mô" - người dẫn đường lắc đầu, nói.
Như một trò chơi trốn tìm, chúng tôi vừa lên đến đỉnh núi, thì nghe tiếng máy cưa vang lên từ phía bên kia, chuyển hướng chưa được nửa chặng đường thì máy cưa lại nổi lên ở nơi khác. Té ra, không phải chỉ một "cỗ máy" phá rừng đang hoạt động ở nơi này, mà đầy rẫy ở tứ phía - chúng tôi nhận ra điều ấy khi tiếng máy cưa cùng vang lên một lúc.
Tiếp cận một điểm gần nhất, chúng tôi chứng kiến hai lâm tặc người bản địa chỉ trong vòng vài "nốt nhạc" đã hạ gục thân cây gỗ chũa, rồi vài giây sau đó đã xén ngang thân cây, để lại phần ngọn chổng chơ, ngổn ngang giữa rừng.
Cứ như vậy, cưa cây này xong, các cây khác đã được đánh dấu từ trước lần lượt nằm xuống, cả một khoảng rừng rậm trở thành trống trải, xơ xác chỉ sau vài giờ đồng hồ. Sau khi cưa xong cây, lâm tặc trở lại dùng máy cưa rọc bìa, đánh dấu thứ tự rồi chuẩn bị cho cuộc mua bán chớp mắt ngay giữa rừng.
Xế chiều, một chiếc xe ba cầu theo đường Lò Than vào đến địa điểm này, đã có hẹn từ trước nên lâm tặc không chần chừ dẫn lên đến bãi gỗ. Xem hết các bãi gỗ và tính toán xong xuôi, chủ xe ba cầu trả tiền ngay cho lâm tặc (khoảng 2 triệu/1m3), rồi dùng tời chuyển gỗ tập kết trên đường Lò Than. Mỗi xe ba cầu khi chất được từ 5 đến 7 m3 gỗ, thì lập tức quay đầu về lại đường cũ.
Dù việc di chuyển của xe ba cầu rất thuận lợi, nhưng chở theo một lượng gỗ lớn trên con đường giữa rừng không ít vết hằn lún và bùn lầy, nên phải mất đến 10h lăn lộn xe mới đến địa điểm tập kết gỗ cách đường rải nhựa tầm 500 mét. Bãi tập kết gỗ này rất lớn, hầu hết xe chở gỗ khai thác lậu ở rừng tự nhiên đều vận chuyển đến đây để giao dịch. Tùy lúc, nhưng chủ yếu là vào sẩm tối, xe ôtô hiệu Julong từ ngã ba đường Lò Than chạy vào đây, bốc số gỗ này lên xe, rồi bon bon về xuôi mà không thấy gặp trở ngại gì...
Việc khai thác gỗ của cánh xe trâu cũng tương tự như trên, chỉ khác ở chỗ người dân đem trâu vào rừng, dùng cưa tự hạ cây, xẻ thành gỗ rồi để trâu kéo về đến nơi tập kết ở bãi trên. Nhưng phần lớn, gỗ khi ra khỏi cửa rừng đều được tập trung lại, bán cho "trùm" chứ ít ai tự vận chuyển về xuôi bán. Theo anh H. - người lái xe ba cầu chở gỗ trên đường Lò Than, thì gỗ muốn về trót lọt phải có sự chung chi. "Không ăn chia, thì bọn em không có đường làm ăn mô. Chưa ra khỏi cửa rừng là bị tóm cả rồi" - anh H. kể.
Sau khi tìm hiểu đầy đủ thông tin, chúng tôi lặng lẽ rời khỏi cửa rừng và tìm đến cơ quan chức năng. Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh là nơi chúng tôi liên hệ đầu tiên, nhưng ông Bùi Quang Linh (lúc đó là Hạt trưởng) hẹn đến buổi chiều. Đợi đến chiều, liên lạc lại thì ông Linh bảo, vừa nhận được quyết định chuyển công tác, nên không có trách nhiệm phát ngôn hay thông tin gì với chúng tôi nữa.
Ngược lại với thái độ thiếu trách nhiệm của Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Linh, ngay khi nhận được phản ánh của chúng tôi, ông Trần Hữu Hùng - Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh lập tức liên hệ với những người được giao nhiệm vụ giữ rừng, yêu cầu báo cáo. "Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh và BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải đều trả lời chưa nhận được thông tin gì về tình trạng phá nát rừng như các anh cung cấp" - ông Hùng, nói.
Nhưng ngay sau khi xem những hình ảnh, clip mà chúng tôi đã ghi lại trong một tháng luồn rừng, ông Hùng lặng người, đặt câu hỏi: "Rõ ràng như thế này mà sao không biết được hè. BQL rừng phòng hộ, Kiểm lâm địa bàn, Công an địa bàn, chính quyền địa phương ở đó mà rừng phòng hộ bị phá thế này mà sao không ai biết được?".
Và ông Hùng tự trả lời rằng: "Quy mô như thế này mà không biết là vô lý, vì họ có chức năng chốt ở các trạm, tuần tra thường xuyên, mà chốt là ở các nút thắt nên không thể không biết được. Dân khai thác trong rừng phòng hộ thì BQL rừng phòng hộ chịu trách nhiệm. Nhưng vào đó khai thác được gỗ thì cũng về con đường đó, mà gỗ vẫn lọt về thì kiểm lâm là người chịu trách nhiệm. Làm sai thì phải chịu trách nhiệm, tôi sẽ tổ chức họp đầy đủ các ban ngành để làm rõ điều này" - ông Hùng, nói.
Còn ông Nguyễn Ngọc Hùng - Phó Giám đốc phụ trách Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải thông tin rằng, đơn vị quản lý hơn 21 nghìn ha rừng, riêng ở địa bàn huyện Vĩnh Linh gần 10 nghìn ha, trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên.
"Tình trạng phá rừng trước đây rất nóng, vì tồn tại nhiều đường mòn giữa rừng. Nhưng nay thì giảm rồi, không hết hẳn nhưng nhỏ lẻ" - ông Hùng, khẳng định. Khẳng định như vậy, nhưng khi chúng tôi thắc mắc về con đường được san ủi phẳng lỳ để xe ba cầu chở gỗ, rồi trưng ra những hình ảnh, clip mà trước đó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh đã lặng người khi trông thấy, thì ông Hùng cũng chùng giọng.
"Giám đốc của BQL rừng mới về hưu... lúc sáng, tôi vừa cầm trong tay quyết định phụ trách, nên tình hình nắm chưa được rõ. Chủ yếu là tôi nghe anh em báo cáo, chứ chưa đi thực tế nên không nắm rõ tình hình. Tôi sẽ tổ chức đi kiểm tra ngay để xác minh lại, có biện pháp ngăn chặn, nếu có dấu hiệu tiếp tay sẽ xử lý" - ông Hùng, cho biết.
Để làm rõ trách nhiệm của các đơn vị liên quan, chúng tôi có buổi làm việc với ông Khổng Trung - Phó Giám đốc Sở NNPTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị. Ông Trung bảo, có biết về tình trạng phá rừng ở huyện Vĩnh Linh, nhưng không ngờ quy mô lại lớn như hình ảnh chúng tôi cung cấp.
Cũng như Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh, ông Khổng Trung đặt câu hỏi: "Vì sao phá rừng thế này mà không ai báo cáo, ở địa bàn mà không biết là không đúng. Có khai thác là có gỗ về, một hai xe không biết chứ như vậy mà không biết là không đúng, hoặc là kiểm lâm không làm nhiệm vụ".
Về trách nhiệm của ông Bùi Văn Linh (nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh), ông Trung nói rằng vụ việc chưa rõ, nhưng vẫn có trách nhiệm của ông Linh vì để xảy ra tình trạng phá rừng. "Nhiệm vụ của ông Linh là giám sát, giao cho anh em kiểm tra, ngăn chặn để bảo vệ rừng, làm không tốt thì anh phải có trách nhiệm trong đó" - ông Trung, nói.
Trước câu hỏi trách nhiệm lớn nhất thuộc về ai khi rừng tự nhiên bị tàn sát như vậy, ông Trung khẳng định trước hết là chủ rừng, rồi đến kiểm lâm và chính quyền địa phương. "Tôi cam đoan trong vòng một tuần sẽ tổ chức truy quét và làm rõ thông tin này. Bây giờ phải ngăn chặn kịp thời, và làm rõ trách nhiệm của các bên, chứ giao rừng cho họ mà để như thế này là nguy to".
Ông Khổng Trung dùng từ "nguy to" giống hệt với người dẫn đường đã giúp đỡ chúng tôi suốt hành trình cả tháng trời trong cánh rừng tự nhiên đang bị cày nát. Chỉ từ một tiếng vượn hú giữa rừng và tiếng đập cánh của con đại bàng đất, mà người dẫn đường bỗng rươm rướm nước mắt, thốt lên rằng: "Vượn hú mỗi ngày một xa cánh rừng này, đại bàng rồi cũng dần vắng bóng vì tiếng máy cưa gầm xé suốt ngày. Nguy to như vậy, nếu không ngăn chặn thì ngày mai sẽ còn gì". (Lao Động 4/8) đầu trang(
Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk đã lên tiếng bác bỏ việc công an cung cấp thông tin "tố" VTV dàn dựng cảnh phá rừng trong một số phóng sự điều tra.
Liên quan đến vụ việc VTV bị "tố" dàn dựng cảnh phá rừng trong một số phóng sự phát ngày 4 - 5/5/2016, trao đổi với chúng tôi vào tối 3/8, Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk cho hay, thông tin đó là không chính xác.
Tướng Rơi cũng liên tục khẳng định, công an tỉnh Đắk Lắk không hề cung cấp thông tin cho rằng, phía VTV dàn dựng cảnh phá rừng. "Việc thông tin, giật tít của báo đưa là không đúng, thông tin không phải như vậy, chúng tôi không hề công bố gì nói VTV dàn dựng cả", tướng Rơi nêu rõ.
Theo tướng Rơi, việc phản ánh của VTV về tình trạng phá rừng là đúng và sau khi phóng sự điều tra của VTV phát sóng, công an tỉnh đã tiến hành điều tra, xác minh những người liên quan đến phá rừng.
"Chúng tôi cũng đang điều tra, xác minh cả những người nhận tiền của lâm tặc như phóng sự đã phản ánh để tìm ra thủ phạm. Trong đó, có 2 người ở Lâm trường Buôn Ja Wầm đã yêu cầu cơ quan chủ quản kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm.
Hiện chúng tôi đang tiếp tục điều tra, làm rõ thủ phạm", tướng Rơi nhấn mạnh. Về thông tin cho rằng, phóng viên VTV đã nhờ một số người dân chặt hạ cây rừng để làm phóng sự phá rừng trên địa bàn tỉnh, sau đó có cho họ tổng số tiền 600.000 đồng, tướng Rơi cho hay, ông không biết thông tin này. "Cái đó, ai phản ảnh chứ tôi không biết", ông nói.
Giám đốc công an tỉnh Đắk Lắk cũng cho biết thêm, năm nào lãnh đạo tỉnh cũng chỉ đạo rất quyết liệt trong công tác tăng cường quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp chặt phá rừng trái phép ở Lâm, Nông trường xa, hẻo lánh.
"Trong mấy năm vừa rồi, công an tỉnh đã bắt rất nhiều vụ chặt phá rừng trái phép, xử lý, đưa ra truy tố về pháp luật hàng chục vụ. Riêng 6 tháng đầu năm đã có mười mấy vụ được đưa ra xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện chúng tôi đang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành để tăng cường công tác bảo vệ rừng, phát hiện, xử lý cương quyết những trường hợp vi phạm theo đúng quy định của pháp luật", tướng Rơi thông tin thêm. (Trí Thức Trẻ/ Soha News 4/8) đầu trang(
Chiều 3-8, đoàn công tác của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk liên quan đến phóng sự phá rừng được phát trong chương trình “Chuyển động 24h” trên kênh VTV1 vào ngày 4 và 5-5.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động sau buổi làm việc, ông Nguyễn Tuấn Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, cho biết hai bên đã trao đổi những vấn đề liên quan đến phóng sự và cần có thời gian rà soát lại những thông tin phóng sự phản ánh. Còn theo một thành viên trong đoàn công tác của VTV thì phía đài vẫn chưa có kết luận chính thức về vụ việc.
Để có thông tin đa chiều, khách quan về vụ việc, ngày 3-8, chúng tôi đã về thôn Giang Đông, xã Ea Đáh, huyện Krông Năng (tỉnh Đắk Lắk) - nơi có cảnh quay trong phóng sự phá rừng của “Chuyển động 24h”.
Dẫn chúng tôi ra hiện trường cảnh quay, ông Vũ Dũ Dinh, người trực tiếp hạ cây trong phóng sự, kể lại: “Hôm đó, tôi đang ở nhà thì có 2 người đàn ông, 1 người phụ nữ nói là nhà báo đến quay phóng sự. Họ có đặt vấn đề nhờ chúng tôi chặt hạ cây rừng để quay cảnh phá rừng. Khi tôi nói không có cưa thì họ bảo tôi đi mượn. Khi ra đến khu vực nương rẫy cạnh bìa rừng thì họ chỉ tay về khu rừng nguyên sinh bảo tôi sang bên kia chặt. Khi tôi nói rừng bên kia là rừng bảo tồn (rừng phòng hộ huyện Krông Năng - PV) không được chặt thì họ tiếp tục nói sang đó mới có cây to. Tôi từ chối vì sợ bị bắt về tội phá rừng, họ đành nói tôi cưa một cây trong khu nương rẫy. Do lâu ngày không cưa, lưỡi cưa bị cùn nên tôi phải lấy rìu chặt và họ quay lại, phát lên truyền hình cho rằng chúng tôi đi phá rừng. Cháu tôi 10 tuổi họ cũng bảo vác rìu đi theo chặt cây. Sau khi thực hiện xong, vợ chồng tôi được họ đưa cho 500.000 đồng, còn đứa cháu 100.000 đồng”.
Trước đó, tại buổi họp báo do UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức vào chiều 2-8, đại tá Phạm Minh Thắng - Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, Phó Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk - thông tin những người này vào rẫy cưa 1 cây gỗ đã chặt hạ trước đó và 1 cây còn sống để quay phim và phỏng vấn (theo sự hướng dẫn).
Cũng theo đại tá Thắng, kiểm tra hiện trường quay phóng sự xác định khu vực này là rẫy của ông Dinh (nằm trong tiểu khu 342A thuộc lâm phần quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng) mà các hộ dân tự ý khai hoang, sản xuất từ năm 1996. Đây không phải diện tích rừng mới khai hoang, bị chặt phá như phản ánh trong phóng sự…
Ngoài ra, trong báo cáo của Công an tỉnh Đắk Lắk, khẳng định một số nội dung khác phản ánh không đúng, không khách quan, có sự cắt ghép, dàn dựng của phóng viên khi tác nghiệp.
Sau khi phóng sự được phát, UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo Công an tỉnh Đắk Lắk vào cuộc điều tra làm rõ vụ việc. Trong phóng sự có đề cập đến lực lượng công an nhận tiền bảo kê tại huyện Ea Súp. Tuy nhiên, theo Công an tỉnh Đắk Lắk, qua kiểm tra, rà soát không có trường hợp cán bộ, chiến sĩ của lực lượng CSGT và cảnh sát kinh tế nhận tiền của các đối tượng vận chuyển gỗ lậu như lời người đàn ông nói trong phóng sự.
Nhân vật này là ông Lê Thế Hùng (ngụ huyện Ea Súp). Làm việc với Công an tỉnh Đắk Lắk, ông Hùng trình bày: Có 3 người đàn ông và 1 phụ nữ đến nhà đặt vấn đề mua trụ tiêu và cách thức vận chuyển về huyện Cư M’gar.
Khi ông nói không có trụ tiêu bán thì nhóm người này hỏi có ô tô 5 tấn muốn vận chuyển trụ tiêu về huyện Cư M’gar thì phải chung chi bao nhiêu tiền. Ông trả lời: Cảnh sát kinh tế 1 triệu đồng, CSGT 1 triệu đồng, kiểm lâm huyện Ea Súp 1 triệu đồng, trạm chốt lâm trường Buôn Ja Wầm 1,2 triệu đồng và kiểm lâm huyện Cư M’gar 500.000 đồng.
Theo Công an tỉnh Đắk Lắk, ông Hùng từng bị Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp xử lý vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép vào năm 2011, 2014. Cũng trong năm 2014, ông Hùng bị TAND huyện Ea Súp tuyên phạt án treo về tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và từ đó đến nay, ông Hùng không vận chuyển gỗ lậu cũng không chung chi cho các trạm chốt nói trên.
Dù vậy, Công an tỉnh Đắk Lắk cũng thừa nhận một số nơi phóng sự phản ánh đúng hiện thực về tình trạng phá rừng. Sau khi VTV phát phóng sự, từ ngày 6-5 đến nay, Công an tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện xử lý 19 vụ với 22 đối tượng, thu giữ hơn 117 m3 gỗ trái phép; phối hợp với cơ quan chức năng phát hiện 38 vụ, 36 đối tượng, thu giữ hơn 69 m3 gỗ, 16 ô tô, 22 xe máy độ chế.
Tối 3-8, VTV đã có phản hồi, khẳng định không dàn dựng cảnh phá rừng để làm phóng sự điều tra phá rừng ở Đắk Lắk. VTV cho biết tại buổi làm việc ngày 3-8 với đại diện Trung tâm Tin tức VTV24, ông Nguyễn Tuấn Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, nói rõ ngay sau khi phóng sự phát sóng, UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu các cơ quan chức năng làm rõ những vấn đề đã được nêu trong phóng sự và làm rõ những tiêu cực.
Ông Hà khẳng định tại buổi họp báo ngày 2-8, trong báo cáo của ông Phạm Minh Thắng, Phó Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, không có từ nào nói rằng là dàn dựng cả. “VTV đưa tin đúng sự thật, hoàn toàn không có phóng sự nào dàn dựng cả” - VTV trích lời ông Hà. (Người Lao Động 3/8) đầu trang(
Lãnh đạo CA Đăk Lăk nói về phóng sự điều tra của VTV được Vnexpress dẫn: Phóng sự có một số nội dung phản ánh không chính xác, không khách quan và có sự cắt ghép, dàn dựng của PV khi tác nghiệp".
Nuối tiếc là cảm giác chung của những người theo dõi chi tiết các phóng sự điều tra phá rừng của VTV24 ngay từ đầu. Bởi không cố đấm ăn xôi thêm vài cảnh bị nghi là dàn dựng, loạt phóng sự này đã rất thành công.
Những chi tiết trong phóng sự, từ bãi tập kết gỗ rộng lớn, màn báo giá của người lái buôn, chiếc xe thăm kiểm tra bị “đắp chiếu” đến việc nhận mãi lộ ở nhiều chốt, trạm kiểm tra lâm sản đã phô bày sự thật đau lòng sau những cánh rừng đang chết. Ở đó, “tờ giấy thông hành” được mua bằng tiền sẽ đưa những chiếc xe tải chất đầy gỗ về điểm tập kết rồi đem đi tiêu thụ.
Dư luận sẽ đặt câu hỏi: Cảnh phá rừng và mãi lộ là một thực tế hiển nhiên hay đã bị bóp méo bởi “bàn tay biên tập”? Liệu VTV24 có dàn dựng được hàng trăm héc ta rừng đã bị lâm tặc chặt phá ồ ạt? - Chắc chắn nhân dân các tỉnh có rừng và thậm chí những người đã từng đặt chân đến vùng đất ấy đều biết rõ câu trả lời.
Hiện tượng vốn không quyết định bản chất. Hiếm người hất cả bát cơm ngon khi nhai phải một hạt sạn. Bởi hạt sạn dù vô duyên đến đâu cũng không thay đổi được bản chất cốt lõi: Hạt cơm dẻo ngọt thơm.
Mặt khác, nếu Trung tâm tin tức VTV24 phát thông tin sai sai sự thật, họ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và phải cải chính xin lỗi theo quy định. Lúc này, chúng ta nên hướng sự chú ý tới cái đích quan trọng nhất mà loạt phóng sự kể trên hướng tới - vấn nạn phá rừng đang diễn biến ngày một xảo quyệt, tinh vi bởi những kẻ “chung tay” tàn phá thiên nhiên, hủy hoại môi trường sống của chính mình.
Đừng suy diễn tiêu cực về “một số nội dung phản ánh không chính xác” theo kết quả điều tra ban đầu mà hãy tìm hiểu, nâng cao kiến thức về hiện trạng rừng ở Đăk Lăk. Một vài giây “minh họa” trong phóng sự thêm vào hay cắt bớt cũng chẳng chết ai nhưng rừng tự nhiên thì không thể mất đi một thước gỗ!
Giữa lúc cư dân mạng đang hùa vào “đấu tố” nhóm phóng viên tác nghiệp, cá nhân tôi chỉ ước: Giá mà tất cả những cảnh trong phóng sự đều là dàn dựng thì tốt biết bao. Nếu là vậy, rừng tự nhiên – kho báu quốc gia chưa bị ai xâm lấn, cây trong rừng không bị xẻ thịt một phân.
Giờ đây, tôi và hàng triệu đồng bào rất mong các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Đắc Lăk sẽ sớm công bố cụ thể mức độ tàn phá rừng ở tỉnh nhà, xử lý nghiêm các đối tượng tàn phá rừng và truy cứu trách nhiệm của những cán bộ bị đồng tiền làm cho tha hóa! (Người Đưa Tin 4/8) đầu trang(
Để có được một thay đổi mạnh mẽ trong công cuộc bảo vệ rừng, trước mắt cần một khung thể chế mạnh mẽ để tăng cường sức mạnh cho kiểm lâm - đơn vị thực thi pháp luật lâm nghiệp.
Vừa qua, chúng ta nhìn thấy quyết tâm của người đứng đầu Chính phủ trong việc ngăn chặn nạn phá rừng tại Tây nguyên, vốn đã mất hơn triệu hecta rừng tự nhiên trong vòng chục năm qua.
Phát biểu tại phiên thảo luận về chương trình xây dựng các dự án luật của Quốc hội tại kỳ họp vừa qua, ông Nguyễn Duy Hữu, đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk, cũng đã nói: “Thực tiễn ở Tây nguyên cho thấy nếu chúng ta không làm nhanh thì không còn Tây nguyên nữa”.
Câu hỏi đặt ra là vì lý do gì chúng ta không giữ được rừng? Thực tế cho thấy công tác quản lý bảo vệ rừng hiện nay là theo kiểu “cha chung không ai khóc”.
Mặc dù nhiều văn bản pháp luật quy định rất rõ trách nhiệm của chủ rừng, của chính quyền địa phương, của cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp (sở nông nghiệp và phát triển nông thôn) và cơ quan kiểm lâm (vừa làm nhiệm vụ thực thi pháp luật lâm nghiệp vừa tham mưu cho sở nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý nhà nước chuyên ngành), nhưng nếu xảy ra các vụ phá rừng thì gần như tất cả tội lỗi đều đổ trên đầu cơ quan kiểm lâm.
Xét về vai trò và trách nhiệm của cơ quan kiểm lâm như thể chế hiện nay thì rất khó để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, bởi lẽ một tổ chức thực thi luật pháp lâm nghiệp lại trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn (một tổ chức hành chính thuần túy) là khiên cưỡng.
Giả sử có một vụ phá rừng xảy ra tại một chủ rừng là các ban quản lý rừng (trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn), liệu chi cục kiểm lâm có đủ quyền để xử lý nghiêm minh chủ rừng này mà không bị can thiệp của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn (cấp trên của chủ rừng và cũng là cấp trên của chi cục kiểm lâm)?
Đó là chưa kể cho đến nay quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ rừng về các hành vi vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng không được quy định tại nghị định 157/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Vì thế, cần có một thể chế đủ mạnh, ví dụ như các chi cục kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh (như trước đây đã từng), hoặc trực thuộc ngành dọc là Cục Kiểm lâm để khỏi bị ràng buộc với cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên ngành tại địa phương.
Điều này có nghĩa là cơ quan kiểm lâm chỉ làm công tác thực thi pháp luật, còn chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp phải xác định rõ là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn và chính quyền địa phương như hiện nay, chức năng quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học thuộc về sở tài nguyên và môi trường.
Mặt khác, cần tăng khung hình phạt cho các tội danh phá hoại rừng, khai thác rừng, khai thác động vật rừng trái phép cũng như trao quyền mạnh mẽ cho lực lượng kiểm lâm để thực hiện tố tụng.
Thời gian qua, đã có rất nhiều kiến nghị với nội dung như đã đề cập ở trên tại các hội nghị, hội thảo về quản lý tài nguyên rừng, nhưng vẫn không tìm ra được các giải pháp tích cực để tăng cường vai trò cơ quan kiểm lâm.
Do vậy, với dự án xây dựng dự án Luật lâm nghiệp hiện nay, cần kết cấu hai chương quan trọng, đó là: Tổ chức thể chế kiểm lâm (hoặc cảnh sát lâm nghiệp), trong đó quy định rõ cơ cấu tổ chức kiểm lâm trung ương và các cấp ở địa phương, thay vì được quy định tại các văn bản dưới luật như hiện nay nên không tạo tính ổn định và thống nhất; và Bảo tồn đa dạng sinh học rừng để xác định rạch ròi trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học giữa ngành tài nguyên và môi trường với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Đây là giải pháp thể chế căn cơ nhất để cứu lấy những cánh rừng đang dần mất đi. (Tuổi Trẻ 3/8) đầu trang(
Tổ chức Động vật Châu Á (Animals Asia) vừa cứu hộ thành công một cá thể gấu ngựa, được Cty CP Du lịch Đam B’ri (Bảo Lộc, Lâm Đồng) chuyển giao tự nguyện do không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cá thể gấu ngựa được đặt tên là Bảo Lâm, ghép từ hai chữ đầu trong địa danh được cứu hộ, đồng thời cũng có nghĩa là bảo vệ rừng.
Bảo Lâm là cá thể gấu ngựa cái, được Cty CP Du lịch Đam B’ri nuôi nhốt từ năm 2009 tại Khu du lịch sinh thái Đam B’ri. Trước đó, cá thể gấu này được nuôi và gắn chíp điện tử đăng kí tại một hộ nuôi gấu ở TP.HCM từ khi là gấu con, nặng chỉ khoảng 25kg thời điểm năm 2005.
Năm 2015, Cty CP Du lịch Đam B'ri đã chuyển giao một cá thể gấu chó về Vườn quốc gia Cát Tiên, còn gấu ngựa Bảo Lâm không có nơi tiếp nhận cho đến khi Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng liên lạc với Tổ chức Động vật Châu Á. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/8) đầu trang(
Sáng 3/8, ông Võ Thanh Thành- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ngọc Hồi cho biết đã đơn vị đã tiến hành thả 3 cá thể động vật hoang dã quý hiếm vào tự nhiên tại tiểu khu 183, Lâm trường Sa Loong, thuộc địa bàn xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi.
Đây là số cá thể động vật hoang dã do Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh) và Hạt Kiểm lâm huyện thu giữ được tại một gia đình nuôi nhốt trái phép.
Trước đó, vào sáng 1/8, từ tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra nhà bà Nguyễn Thị Phương Giang (SN 1982, trú tại Tổ dân phố 7, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi) và phát hiện 2 cá thể cầy hương (tên khoa học: Viverriculaindica) với tổng trọng lượng là 2,6 kg và 1 cá thể Kỳ đà hoa (tên khoa học: Varanussalvator) có trọng lượng 0,6 kg còn sống, đang được nuôi nhốt trái phép. Bà Nguyễn Thị Phương Giang khai nhận số cá thể động vật hoang dã trên mua lại của một người dân tại xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 1,5 triệu đồng vào tối 30/7.
Theo ông Võ Thanh Thành, cả 3 cá thể động vật hoang dã nói trên thuộc nhóm IIB (quý, hiếm), cần được bảo vệ, hạn chế mua bán sử dụng vì mục đích thương mại. (Công An TP.Đà Nẵng 4/8) đầu trang(
Theo trạm Kiểm lâm liên huyện Thống Nhất - Trảng Bom, hiện toàn huyện Thống Nhất có hơn 29 hộ dân đăng ký chăn nuôi gần 13 ngàn con Nhím, tập trung chủ yếu tại các xã: Gia Tân 1, Gia Kiệm và Quang Trung.
Nhiều hộ chăn nuôi Nhím trên địa bàn huyện Thống Nhất cho biết, hơn nửa tháng nay, giá Nhím thịt được các thương lái thu mua từ 200 – 220 ngàn đồng/kg, tăng 60 ngàn đồng so với trước. Với giá bán này, sau khi trừ chi phí đầu tư, người nuôi Nhím có lời từ 80 – 100 ngàn đồng/kg.
Cũng theo các hộ chăn nuôi, do trong thời gian qua, giá Nhím đã xuống ở mức qúa thấp, nhiều hộ chăn nuôi thua lỗ, dẫn đến ngừng nuôi hoặc giảm đàn, khiến số lượng cung không đủ cầu, vì vậy đến nay giá Nhím đã tăng cao trở lại. (Báo Đồng Nai 3/8) đầu trang(
Ngày 3-8, tại huyện Nông Sơn (Quảng Nam), Tổng cục Lâm Nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp UBND huyện Nông Sơn tổ chức Tuần lễ Bảo tồn Voi. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Dự án “Khẩn cấp bảo tồn voi và nâng cao năng lực kiểm soát buôn bán ngà voi ở Việt Nam đến năm 2020”.
Trong Tuần lễ bảo tồn voi (kéo dài từ ngày 3 đến 5-8) trong thời gian này, Ban Tổ chức sẽ triển khai nhiều hoạt động trên địa bàn huyện Nông Sơn như: chạy phong trào, khai mạc Tuần lễ bảo tồn voi, ký cam kết bảo tồn voi giữa các đơn vị, địa phương, thi báo tường với chủ đề voi - người là bạn, thi phát thanh về bảo vệ rừng và bảo tồn voi, thi xếp hình voi…
Dịp này, BTC còn tổ chức Hội thảo liên ngành "Giải pháp bảo vệ rừng gắn với bảo tồn voi; tìm kiếm cơ hội phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn"; hướng dẫn người dân cách ứng xử khi phát hiện có voi, thực nghiệm tại hiện trường…
Theo BTC, việc tổ chức tuần lễ bảo tồn voi nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, giúp cho người dân, cộng đồng hiểu được tầm quan trọng khi bảo tồn tốt loài voi. Qua đây, sẽ giúp chính quyền địa phương các cấp sẽ có những giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế trong vùng rừng nói chung và vùng sinh cảnh của voi cư trú; đồng thời củng cố, trang bị kiến thức giúp người dân và các cơ quan chức năng để phòng tránh, không để xảy ra tình trạng xung đột giữa voi và người dân ở địa phương.
Được biết, theo số liệu điều tra, vào tháng 12-2015, trên địa bàn hai xã: Quế Lâm và Phước Ninh (huyện Nông Sơn) có từ bốn đến sáu cá thể voi đang sinh sống. Và mới đây, vào cuối tháng 6-2016, người dân thôn Cấm La, xã Quế Lâm báo có nhìn thấy sáu cá thể voi đang sinh sống tại khu vực Khe Rong, xã Quế Lâm...
Tuần lễ bảo tồn voi tại Nông Sơn diễn ra đến ngày 5-8-2016. (Nhân Dân 3/8) đầu trang(
“Không chỉ đe dọa đến số lượng của chim nước, nếu không có giải pháp can thiệp hữu hiệu, chuyện bán chim ở chợ sẽ đe dọa đa dạng sinh học Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (KBTDNNLS) - Khu ramsar thứ 7 của Việt Nam cách đó không xa” - Tiến sĩ Dương Văn Ni (Đại học cần Thơ), chuyên gia về đất ngập nuớc, đả chia sẻ về tồn tại của chợ chim Thạnh Hóa (Lone An).
“Ghé chợ chim, muốn mua chim gì cũng có. Không mua thì ngắm. Miễn phí”, đang chạy trên quốc lộ 62 từ hướng TP. Long An - Tân Hưng, đột nhiên bác tài tên Danh rẽ xe vào lề với lời giới thiệu có cánh về chợ chim Thạnh Hóa. Chợ chim Thạnh Hóa là tên thông dụng của chợ nông sản Thạnh Hóa nằm sát quốc lộ 62, đoạn đi qua địa phận khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, do huyện Thạnh Hóa tổ chức với mục đích giúp nông dân tiêu thụ nông sản...
Tuy quy mô chợ chỉ vài chục căn lều tạm, nhưng chúng tôi cảm giác như đang lạc vào thế giới... chim. Bởi không chỉ đa dạng về chủng loại: Từ cò trắng, cò lửa, cu đất, cúm núm, quốc... cho đến le le,... người bán còn tài tình với việc bố trí từng loại chim phù hợp với từng hình thức quảng bá bắt mắt nhất: Nhốt trong lòng, trói giò treo lủng lẳng...
Giá cả ở đây cũng khá “bình dân”, đặc biệt là thấp rất nhiều so với giá tại các phố thị: Cò, cu đất dao động khoảng 25-30 ngàn đồng/con; riêng loại “đặc sản” như le le, cúm núm có giá 300-500 ngàn đồng/kg... Đặc biệt là hầu hết các cửa hàng đều có dịch vụ “sơ chế” với công nghệ chóng vánh... đến mức rợn người.
Sau khi vị khách đưa xau chim, anh Bảy, chủ cơ sở ở đoạn giữa khu chợ, nắm lấy chân rồi đập phần đầu từng con chim vào khúc gỗ. Có lẽ đã quá quen tay nên có lúc anh cũng chang cần nhìn vẫn “mỗi phát một mạng”. Vợ anh cũng chẳng kém, chồng vừa “kết liễu” xong, chị nhanh tay nhổ lông rồi dùng dụng cụ “khò” lửa bằng gas để “thui” (đốt với nhiệt độ nhỏ và nhanh) rồi chóng vánh trao lại vị khách xâu chim có lớp da vàng ruộm... Thậm chí người ta còn vặt lông như sẵn sàng đáp ứng nhu cầu “ăn nhanh” của kách hàng... kèm theo khuyên cáo:Nấu cháo đậu xanh “ông ăn bà khen”...
Chỉ hơn 1 giờ quan sát, chúng tôi chứng kiến hàng chục xe ôtô, mô tô ghé chợ chim và hầu hết đều bước ra trong trạng thái “tay xách, nách mang”. Sẽ không quá lời khi gọi đây là chợ chim lớn nhất miền Tây. Vừa định lấy cớ muốn mua số lượng lớn để từ chối khéo lời mời nhiệt tình của vợ chồng anh Bảy, tôi đã giật bắn cả người trước lời khẳng định của chị chủ: “Số lượng nhiều vẫn cung cấp đủ”. Giả vờ hỏi: “Chim ở đâu mà lắm thế”, chị Bảy đáp ngay: “Thì mua lại của người dân săn bắt... tại chỗ”. Không cần giải thích, nhiều người vẫn hiểu đó là KBTĐNNLS cách đó không xa.
Thấy tôi tìm cách ghi hình, PV T.T (Báo Pháp Luật TPHCM) cười khẩy: “Anh em viết nhiều lắm rồi, nhưng chẳng cải thiện được gì đâu...”. Xác nhận với chúng tôi về chuyện “khổ lắm... nói mãi”, Phó GĐ KBTĐNNLS (Tân Hưng - Long An) Nguyễn Công Toại cho biết thêm: Các ngành hữu quan rất tích cực phối hợp xử lý, nhưng chưa dẹp được chợ chim”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, thời gian qua huyện Thạnh Hóa và ngành chức năng tình Long An nhiều lần thành lập đoàn kiểm tra, nhắc nhở, tuyên truyền các chủ cửa hàng chợ chim không buôn bán, săn bắt các loài chim trời. Nhưng sau tuyên truyền thì đâu lại vào đó. Lãnh đạo cơ quan chức năng thấy sự tồn tại của chợ chim là phản cảm, nhưng không thể xử phạt. Nguyên nhân chủ yếu là do hầu hết chim bày bán ở đây không nằm ưong danh mục động vật quý hiếm theo Nghị định 32/2006/ NĐ-CP, ngày 30.3.2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm và Thông tư 47/2012 của Bộ NNPTNT ngày 25.9.2012 về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường.
Trao đổi với chúng tôi, TS Dương Văn Ni (ĐH cần Thơ) người đồng sáng lập và quản lý mạng lưới “Nghiên cứu và quản lý đất ngập nước” gồm 20 trường ĐH lưu vực sông Mê Kông, cho rằng, sự tồn tại của chợ chim Thạnh Hóa không chỉ dừng lại ở chỗ đe dọa số lượng chim nước mà còn ẩn chứa nhiều hiểm họa khó lường. Nhận ra viễn cảnh không sáng sủa này, TS Ni cùng nhiều nhà nghiên cứu đất ngập nước kiến nghị lên tỉnh, lên Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Bộ TNMT)... nhưng chỉ nhận được kết quả chung: Khó dẹp được vì chim bán không nằm trong sách đỏ...
“Điều này sẽ rất nguy hiểm, vì vô tình châm ngòi cho đám cháy, đốt đa dạng sinh học ở KBTĐNNLS - khu ramsar thứ 7 của Việt Nam ưong tương lai không xa”, TS Ni bức xúc. Theo TS Ni, chim trong sách Đỏ chẳng qua là do cá thể chim đó không hoặc khó phục hồi trong tự nhiên. Trong khi đó, quần thể chim nước, chúng nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, điều này dân gian đã đúc kết: Quạ nuôi tu hú... Vì vậy, nếu giảm số lượng loài không nằm trong sách Đỏ vẫn trực tiếp ảnh hưởng đến loài có tên trong sách Đỏ và nhiều loài khác. Nói cách khác, khi giảm số lượng một loài sẽ là ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học chung.
“Chim nước được xem như linh hồn của đất ngập nước, nếu giảm số lượng chim nước thì không còn ý nghĩa gì đối với đất ngập nước, nhất là khu ramsar”, xin mượn lời TS Ni để kết thúc bài viết này như thông điệp gởi đến người có trách nhiệm: Đừng để xảy ra chuyện “Những con chim chờ chết hôm nay ẩn chứa hiểm họa cháy đa dạng sinh học đất ngập nước trong tương lai”. (Lao Động 2/8) đầu trang(
Sáng 2-8, Học viện CSND và Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Freeland đã tổ chức Lễ bế mạc khóa tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã và bàn giao bộ tài liệu điều tra về môi trường.
Tổ chức Freeland là tổ chức tiên phong chống lại nạn buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã. Tổ chức bao gồm các chuyên gia thực thi pháp luật, các chuyên gia phát triển và truyền thông làm việc với các đối tác ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.
Từ tháng 9-2015 đến nay, Học viện CSND và Tổ chức Freeland đã phối hợp tổ chức 02 khóa tập huấn về phát hiện, điều tra tội phạm về môi trường (DETECT) cho các cán bộ thực thi pháp luật cho các Bộ, Ngành có liên quan.
Sau khi kết thúc chương trình tập huấn, các chuyên gia của Học viện đã chỉnh lý, hoàn thiện bộ tài liệu chuyên khảo Điều tra tội phạm về môi trường – phần động vật hoang dã quý hiếm và gửi đến các trường đào tạo Cảnh sát, Công an các tỉnh, thành, Khoa Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và đưa vào thư viện phục vụ công tác nghiên cứu, học tập của giảng viên và học viên toàn Học viện.
Tiếp nối kế hoạch phối hợp, hai bên đã tổ chức khóa tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã cho học viên khóa D41 giúp các em trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để các em tổ chức tuyên truyền tại địa phương trong thời gian thực hành chính trị xã hội theo chương trình học tập của Học viện.
Chương trình này sẽ đem lại sự lan tỏa sâu rộng, góp phần thay đổi nhận thức, nâng cao ý thức, kiến thức và hành động cho không chỉ cho sinh viên Học viện CSND mà còn cho nhân dân địa phương nơi các sinh viên Học viện CSNSD thực hành chính trị xã hội.
Kết thúc khóa tập huấn thứ ba cho hơn 1000 học viên Học viện CSND, Freeland đã cung cấp những kiến thức cơ bản và các tài liệu pháp luật để truy tố tội phạm liên quan đến động vật hoang dã và môi trường, hướng dẫn học viên cách thức sử dụng Wildscan – một công cụ giúp nhận dạng các loài động vật được thiết kế cho điện thoại thông minh miễn phí.
Phát biểu tại buổi lễ, Ông Sulma Warne, Phó Giám đốc tổ chức Freeland đã khẳng định Học viện CSND là cơ quan chịu trách nhiệm đào tạo cán bộ thực thi pháp luật, đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực chống lại nạn buôn bán động vật hoang dã.
Đại tá, PGS.TS Trần Minh Chất – Phó Giám đốc Học viện CSND đã kêu gọi các học viên không ngừng học hỏi, nỗ lực bảo vệ động vật hoang dã và môi trường: “Hãy là những người đầu tiên, những người tích cực nhất bảo vệ sự cân bằng của hệ sinh thái, coi đó là một sứ mệnh và cũng là vinh sự của chúng ta”. (Công An Nhân Dân 3/8) đầu trang(
Ngày 3.8, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) cho biết, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật vừa tiếp nhận cứu hộ hai cá thể động vật hoang dã quý hiếm từ người dân địa phương.
Theo đó, một cá thể động vật hoang dã quý hiếm là Khỉ mặt đỏ (tên khoa học là Macaca arctoides), được ông Phạm Văn Hược (trú tại Tiểu khu Quyết Tiến, thị trấn Nông Trường Việt Trung, huyện Bố Trạch) tự nguyện giao nộp.
Trước đó, ông Hược đã nuôi cá thể khỉ này trong thời gian dài.
Cá thể Khỉ mặt đỏ trên nặng 10kg và có biểu hiện mất các tập tính hoang dã.
Trước đó, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật cũng đã tiếp nhận một cá thể khỉ đuôi lợn từ ông Phạm Đức Minh (trú tại thôn 9 xã Nghĩa Ninh, TP.Đồng Hới). Theo ông Minh, cá thể Khỉ đuôi lợn này này do một người bạn ở huyện Minh Hóa tặng cho ông vào năm 2003 với trọng lượng 4,5 kg và có biểu hiện mất tập tính hoang dã.
Đây là những loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB theo quy định của Chính phủ.
Hiện Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh thuộc VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đang tiến hành chăm sóc, theo dõi và phục hồi tập tính hoang dã của các cá thể động vật hoang dã quý hiếm trên trước khi thả về môi trường tự nhiên. (Lao Động 3/8) đầu trang(
Ông Mang Văn Thới- Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cho biết, qua quá trình kiểm tra, rà soát các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã được cấp giấy phép trên địa bàn, tỉnh ghi nhận có 993/1.279 cơ sở đã ngưng hoạt động, để trống chuồng trại.
Nguyên nhân hàng loạt các cơ sở (gây nuôi động vật hoang dã) bị “phá sản” là do trước đây người dân chạy theo phong trào xin giấy phép xây chuồng trại nuôi trăn, cá sấu, nhím, rắn ráo trâu…để bán sang Trung Quốc, nhưng những năm gần đây thị trường này không còn tiêu thụ được nữa.
Ví dụ như nhím giống (khoảng 2 tháng tuổi) từ trên 10 triệu đồng/cặp trước đây, nay chỉ còn 1 triệu đồng/cặp; rắn ráo trâu từ 700 ngàn đồng/kg, nay chỉ còn 200 ngàn đồng/kg, nhưng cũng không có ai mua.
Do không có đầu ra, dịch bệnh ngày càng phát sinh, làm ăn thua lỗ, nên các chủ cơ sở đóng cửa chuồng trại, chuyển sang làm nghề khác. Điển hình là trang trại nuôi Nhím, trước đây có 397 trại, nay chỉ còn 10 trại; rắn ráo trâu, trước đây có 600 trại, nay chỉ còn 60 cơ sở, nhưng các cơ sở này cũng chỉ nuôi cầm chừng, số lượng còn rất ít.
Đối với những cơ sở gây nuôi động vật hoang dã đã ngưng hoạt động, Kiểm lâm Tây Ninh đã lập biên bản, tạm thời rút giấy phép để tiện việc quản lý; đối với những cơ sở đang hoạt động (hiện toàn tỉnh chỉ còn 286 cơ sở), tỉnh tiếp tục rà soát, cho đăng ký lại, loại bỏ danh mục, rút giấy phép đối với những trường hợp gây nuôi động vật quý hiếm, nguy cấp thuộc danh mục được ưu tiên bảo vệ (cấm nuôi thương mại) theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ, như tê tê, gấu; đồng thời vận động các chủ cơ sở gây nuôi các loài động vật này giao nộp cho các Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nuôi dưỡng.
Theo ông Mang Văn Thới, hiện trên địa bàn tỉnh không còn cơ sở nuôi tê tê, chỉ còn tồn tại 2 cá thể gấu (thuộc danh mục cấm nuôi nhốt theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP) đang nuôi nhốt tại 2 hộ gia đình và cả 2 hộ đều muốn bàn giao lại cho các Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã theo quy định của pháp luật, nhưng chưa có cơ sở nào đồng ý tiếp nhận.
Kiểm lâm Tây Ninh cũng đang kiến nghị Cục Kiểm lâm (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp), tham mưu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể việc nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, mua bán các loài động vật hoang dã; đồng thời bổ sung loài ốc núi Bà Đen, le le và các loài chim, cu rừng khác (là những loài có nhiều ở Tây Ninh) vào danh mục động vật hoang dã thông thường, để ngành chức năng có căn cứ pháp lý quản lý, ngăn chặn việc khai thác triệt để các loài động vật này. (Báo Tây Ninh 2/8) đầu trang(
Hơn 100 bức ảnh do hai nhiếp ảnh gia nghệ thuật gốc Việt Andy Nguyễn và Đặng Mỹ Hạnh thực hiện trong cuộc phiêu lưu khắp thế giới hoang dã, sẽ được trưng bày tại tầng 5, Hanoi Creative City (số 1 Lương Yên, Hà Nội) từ ngày 5 đến 7-8.
Đây là triển lãm nghệ thuật hiếm hoi có thu phí, nhưng bù lại sự chờ đợi, công chúng trong không gian 800m² ấy là những tác phẩm xuất sắc...
Hai nhiếp ảnh gia Andy Nguyễn và Đặng Mỹ Hạnh có kinh nghiệm 15 năm “săn” ảnh động vật hoang dã trên khắp thế giới. Riêng Andy Nguyễn có tới 30 năm cầm máy, đã thể nghiệm và phát triển phong cách nghệ thuật độc đáo để chụp những "shot" hình chim đang bay kể từ khi ảnh kỹ thuật số ra đời. Anh là người Việt Nam đầu tiên đoạt giải “BBC Wildlife Photographer” (năm 2009) danh giá và đạt nhiều giải thưởng hàng đầu thế giới về đề tài động vật hoang dã.
Nhiều tác phẩm của anh được đăng tải trên các tạp chí nổi tiếng thế giới và những tạp chí chuyên ngành về nhiếp ảnh như National Geographic. Còn Đặng Mỹ Hạnh là nữ nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp gốc Việt duy nhất về thể loại này. Ngoài chủ đề về thế giới tự nhiên, chị còn đem đến cho người xem những ký sự chuyên sâu về động vật hoang dã. Đặng Mỹ Hạnh cũng sở hữu những giải thưởng quan trọng, trong đó có giải nhất cuộc thi “International Milvus Nature Photography”.
Hai nghệ sĩ có tiếng trong làng nhiếp ảnh hoang dã thế giới có bề ngoài giản dị, dễ gần. Ẩn sâu trong vẻ "phủi, bụi" của người chuyên đi rừng, đến những vùng đất ít dấu chân người, là một Đặng Mỹ Hạnh nữ tính, dịu dàng.
Chị say sưa kể về các loài động vật, khi nhắc đến nỗi sợ hãi lúc gặp hiểm nguy trong những chuyến đi mà ngay cả nhiều nam nhiếp ảnh gia cũng phải toát mồ hôi dù chỉ mới nghĩ đến. Andy Nguyễn ít nói hơn, anh giới thiệu rằng: "Mỗi tác phẩm là một dấu chấm nhỏ trong hành trình dài nghệ thuật của chúng tôi. Mỗi sinh linh tự thân đã đẹp, và cần trao cho chúng quyền được sống”.
Để dấn thân vào thế giới thiên nhiên hoang dã, các nghệ sĩ không chỉ cần có kỹ thuật nhiếp ảnh tốt, mà còn cần am hiểu về loài vật mình muốn “săn”, đặc biệt là sự can trường, nhẫn nại. Mỗi chuyến đi không giới hạn ngày về của họ luôn đầy nặng những thiết bị, phụ kiện và vật dụng cá nhân. Mỹ Hạnh nói rằng mình phải tập tạ thường xuyên để vác được những chiếc máy nặng tới chục cân, giữ chúng trong cùng một tư thế suốt nhiều giờ.
Andy kể: “Mình rình chụp cò thì cá sấu cũng rình rập phía sau mình”. Chuyện gặp các loài thú dữ là bình thường, “nhưng chúng không tấn công khi bạn không kích động chúng”, hai nghệ sĩ chia sẻ.
Triển lãm đưa người xem trải nghiệm về sự sống động, kỳ thú của thế giới động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim. Khác với các loài thú như tê giác, voi, hổ, báo, sư tử… thường di chuyển chậm trong phần lớn thời gian, hoặc ở trong trạng thái tĩnh, khoảnh khắc của các loài chim chỉ là một tích tắc đối với nhiếp ảnh gia. Ngắm nhìn dáng bay tuyệt đẹp của loài chim đớp ruồi đuôi kéo, sải cánh vĩ đại của loài cú trắng, sắc màu huyền mặc của hạc đồi cát hay vũ điệu tình yêu thật quyến rũ của các loài chim…, người xem mê đắm, cảm nhận mình như được sải cánh trong không gian bất tận.
Ngoài triển lãm này, hai nhiếp ảnh gia trở về từ Mỹ còn ấp ủ nhiều dự định nghệ thuật ở nước nhà. Họ đang dành thời gian để tìm hiểu về tài nguyên rừng Việt Nam, bắt đầu có những chuyến đi đến Khu cứu hộ linh trưởng nguy cấp ở Ninh Bình. Nhiếp ảnh gia Đặng Mỹ Hạnh cho biết, chị rất muốn góp phần bảo vệ thiên nhiên tươi đẹp của quê hương, ban đầu sẽ bằng những bức ảnh, rồi những bài viết về động vật hoang dã. Chắc chắn, sau khi đã được thưởng thức triển lãm này, công chúng sẽ háo hức đón chờ những kiệt tác ở Việt Nam của họ. (Hà Nội Mới 4/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Công ty Cổ phần năng lượng Bitexco (Công ty Bitexco) - chủ đầu tư một số dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh, trong đó có Nhà máy Thủy điện Nho Quế 3 được xây dựng trên địa bàn các xã Khau Vai, Lũng Pù, Sơn Vĩ, Cán Chu Phìn (Mèo Vạc) với công suất 110MW, gồm 2 tổ máy đã chính thức phát điện từ năm 2012.
Nguồn nước từ dòng Nho Quế chảy qua Nhà máy, mỗi năm sản sinh ra lượng điện khoảng 500 triệu kWh, mang lại nguồn lợi nhiều tỷ đồng cho chủ đầu tư. Thế nhưng, từ khi đi vào hoạt động đến nay, bên cạnh việc đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách địa phương, tạo nhiều công ăn, việc làm cho người lao động, trong đó có con em đồng bào dân tộc vùng triển khai dự án, thì chủ đầu tư cũng trở thành con nợ bất đắc dĩ của các hộ dân cung cấp dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Bởi lẽ, theo số liệu thống kê của Quỹ Bảo vệ (BV) và phát triển rừng (PTR) tỉnh, tính đến ngày 30.4.2016, tổng số tiền sử dụng DVMTR đơn vị chủ quản Nhà máy Thuỷ điện Nho Quế 3 còn nợ người dân cung cấp dịch vụ trên 9,5 tỷ đồng. Trong đó, Công ty Bitexco nợ trên 7 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Thuỷ điện Nho Quế 3 thuộc Công ty Bitexco trên 2,5 tỷ đồng của kế hoạch 2015.
Ngoài ra, còn hơn 370 triệu đồng tiền lãi phát sinh do đơn vị sử dụng dịch vụ chậm trả nợ theo hợp đồng ủy thác ký với Quỹ BV-PTR. Nhằm giữ và duy trì ổn định nguồn nước quý giá cung cấp cho thủy điện trên sông Nho Quế, hơn 67 nghìn người dân huyện Đồng Văn, Mèo Vạc đang ngày đêm miệt mài bảo vệ 16 nghìn ha rừng. Thế nhưng, chỉ nguồn thu ít ỏi từ tiền bảo vệ rừng, họ cũng không được chi trả kịp thời, do một phần đã bị chủ các nhà máy thủy điện sử dụng vào mục đích khác.
Mới đây, trong buổi làm việc với đại diện Ban điều hành Quỹ BV-PTR nhằm tìm hướng giải quyết tình trạng nợ đọng tiền DVMTR, phía Công ty Bitexco và Công ty TNHH MTV Nho Quế 3 cho rằng, doanh nghiệp đang gặp một số khó khăn như sản lượng điện thương phẩm 6 tháng đầu năm đạt thấp với 20% kế hoạch năm; doanh nghiệp nợ ngân hàng lớn nên phải mượn nguồn tiền chi trả DVMTR để thanh toán một phần gốc và lãi vốn vay... Các doanh nghiệp cũng thừa nhận, chi trả DVMTR chính sách lớn của Nhà nước, góp phần tăng thu nhập cho người làm nghề rừng, huy động các nguồn lực của xã hội cho công tác bảo vệ rừng.
Căn cứ vào tình hình thực tế, đại diện Ban điều hành Quỹ BV-PTR và các doanh nghiệp đi đến thống nhất: Số tiền DVMTR nợ đọng của Công ty Bitexco tính đến ngày 23.6.2016 còn trên 6,5 tỷ đồng và Công ty TNHH MTV Nho Quế 3 trên 2 tỷ đồng. Công ty Bitexco cam kết, trong tháng 7 sẽ thanh toán 3 tỷ đồng, số tiền còn lại trên 3,5 tỷ đồng sẽ thanh toán dứt điểm trong tháng 8.2016. Công ty TNHH MTV Nho Quế 3 cũng cam kết thanh toán dứt điểm nợ đọng tiền DVMTR trong tháng 7.
Đối với số tiền ủy thác chi trả DVMTR từ năm 2016 trở đi, các doanh nghiệp sẽ thanh toán theo đúng hợp đồng ký kết, nếu đến thời điểm cam kết, các Công ty không ủy thác đủ số tiền sẽ chịu nộp tiền lãi và xử phạt hành chính theo quy định.Liên quan đến vấn đề này, trước đó Báo Hà Giang đã đăng bài viết phản ánh tình trạng hơn 67 nghìn người dân trở thành chủ nợ bất đắc dĩ của Nhà máy thuỷ điện Nho Quế 3.
Đặc biệt, trong năm 2015, UBND tỉnh đã nhiều lần phải vào cuộc giải quyết vấn đề nợ tiền DVMTR của Nhà máy Thủy điện Nho Quế 3. Sau mỗi lần làm việc, đơn vị sử dụng DVMTR lại đưa ra một thời điểm cam kết trả nợ, nhưng cam kết cứ cam kết, họ liên tục vi phạm.
Cuối năm 2015, sau buổi làm việc với đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chi trả DVMTR, doanh nghiệp lại cam kết đến trước ngày 28.2.2016 sẽ trả số tiền nợ DVMTR năm 2015. Tuy nhiên đến nay, đơn vị chủ quản Nhà máy Thuỷ điện Nho Quế 3 vẫn không phối hợp, không ủy thác đủ số tiền DVMTR về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh để chi trả cho người dân tham gia bảo vệ rừng theo đúng quy định.
Hy vọng đợt cam kết này, Công ty Bitexco và Công ty TNHH MTV Nho Quế 3 coi trọng chữ tín, thực hiện đúng lời hứa, có trách nhiệm đối với những người dân ngày đêm giữ rừng, cung cấp dịch vụ để các nhà máy thủy điện có thể hoạt động ổn định. (Báo Hà Giang 3/8) đầu trang(
Nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới; đẩy nhanh tiến độ chuyển giao đất lâm trường cho người dân thiếu đất sản xuất… là những vấn đề mà các đại biểu HĐND tỉnh thuộc tổ số 4 tập trung thảo luận chiều 3/8.
Dự buổi thảo luận có ông Nguyễn Văn Thông - Phó Bí thư Tỉnh ủy, đại biểu HĐND tỉnh bầu tại đơn vị Con Cuông; các đại biểu HĐND tỉnh ở các đơn vị bầu cử huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông. Ông Vi Văn Sơn – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Con Cuông điều hành phiên thảo luận.
Phát biểu tại buổi thảo thuận, ông Nguyễn Văn Thông - Phó Bí thư Tỉnh ủy, đại biểu HĐND tỉnh bầu tại huyện Con Cuông đánh giá, toàn tỉnh có số xã đạt nông thôn mới tương đối lớn, bình quân toàn tỉnh đạt 12,4 tiêu chí/xã. Điều này thể hiện sự quyết tâm, quyết liệt và có nhiều giải pháp phù hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân.
Tuy nhiên, vấn đề mà đại biểu Nguyễn Văn Thông đặt ra là tình trang nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới còn lớn và dồn vào một số xã. “Ngân sách xã thu hàng năm không đáng là bao nên gánh nặng này đeo đẳng”, đại biểu Thông lo lắng.
Một vấn đề khác ông Nguyễn Văn Thông đặt ra là tính đồng bộ và chất lượng thực sự của nông thôn mới. “Nông thôn mới dựa trên 3 trụ cột: kinh tế, văn hóa và an toàn xã hội. Tuy nhiên, ở một số xã đạt nông thôn mới, mặc dù thu nhập đầu người tăng, nhưng an ninh không đảm bảo. Các tội trộm cắp, xô xát xảy ra đáng quan ngại”, đại biểu Nguyễn Văn Thông nói.
Từ thực tế đó, đại biểu Nguyễn Văn Thông đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta chạy theo chỉ tiêu hàng năm? Và đề nghị: Cần thực hiện xây dựng nông thôn mới với tiến độ phù hợp, quan tâm đến chất lượng và sự đồng đều giữa 3 trụ cột.
Liên quan đến vấn đề này, đại biểu Nguyễn Đình Minh - Chủ tịch Hội CCB tỉnh, đại biểu HĐND tỉnh bầu tại đơn vị huyện Quỳ Hợp cũng lo lắng với việc nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới; đồng thời đề nghị cần có giải pháp hỗ trợ cho các xã miền núi, vốn phần lớn có điều kiện còn khó khăn hơn so với nhiều xã miền xuôi.
Đồng tình với các ý kiến trên, bà Lại Thị Bích Liên - Phó Chủ tịch HĐND huyện Nghĩa Đàn đề nghị cần xây dựng lộ trình thực hiện nông thôn mới phù hợp đảm bảo khả thi và phù hợp với sức dân, tránh nợ đọng.
Đây là vấn đề được nhiều đại biểu phản ánh tại phiên thảo luận của tổ 4. Chủ tịch UBND huyện Quỳ Hợp Nguyễn Đình Tùng đánh giá việc rà soát, sắp xếp, sử dụng đất nông lâm trường còn bất cập. Liên quan đến việc tranh chấp đất đai với nông lâm trường, Quỳ Hợp có vụ án phải xử án 4 người dân, người cao nhất 7 năm tù.
Việc chuyển giao đất nông lâm trường cho người dân, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương. Tỉnh đã xử lý nhưng "tôi thấy tiến độ chậm. Họp hành chỉ đạo quyết liệt nhưng trên hiện trường chậm. Các nông lâm trường vẫn xem nhẹ vai trò của huyện, xã. Tôi đề nghị cần có các tổ công tác cùng huyện, xã đẩy nhanh tiến độ thực hiện chuyển đất lâm trường về cho nhân dân chưa có đất sản xuất. Bởi nếu xử lý không khéo vấn đề này sẽ làm mất an ninh trật tự, khiếu kiện đông người”, ông Tùng trăn trở.
Còn ông Hoàng Đình Tuấn - Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Con Cuông cho biết, vấn đề này cử tri huyện cũng phản ánh. Hiện tại, một số diện tích đất Công ty TNHH Lâm nghiệp Con Cuông đã làm thủ tục trả đất. Tuy nhiên, hồ sơ gửi đã lâu nhưng chưa thấy triển khai giải quyết cho người dân.
Phó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thông trong phần phát biểu thảo luận cũng thể hiện tâm trạng nóng ruột về vấn đề này khi đánh giá, mặc dù đã khởi động nhưng tiến độ rà soát, xử lý còn hơi chậm, ảnh hưởng đến nhân dân. “HĐND tỉnh cần đề nghị UBND tỉnh, các ngành rà soát, phân bổ lại đất đai cho nông dân, đặc biệt ở miền núi nhanh chóng”, đại biểu Nguyễn Văn Thông thúc giục.
Ngoài ra, tại phiên thảo luận các đại biểu cũng có các ý kiến về vấn đề bảo vệ môi trường, tháo gỡ khó khăn thực hiện Nghị định 67 cho ngư dân, hỗ trợ Con Cuông xây dựng đô thị sinh thái, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp... (Báo Nghệ An 3/8) đầu trang(
Được đánh giá là nơi có quần thể rừng pơ mu với tuổi đời lớn nhất và số lượng tập trung dày đặc nhất tại Việt Nam, tỉnh Quảng Nam đang lên kế hoạch kêu gọi xúc tiến đầu tư, đưa “vương quốc Pơ mu” thành một điểm đến du lịch độc đáo, mới lạ.
Rừng pơ mu thuộc hai xã miền núi Axan và Tr’Hy, huyện Tây Giang, nằm trên núi Zi’liêng ở độ cao khoảng 1.500 m so với mực nước biển. Rừng pơ mu được chính quyền Tây Giang phát hiện vào năm 2008, đến năm 2011 mới công bố. Quần thể pơ mu phân bố trên diện tích gần 500 ha với hơn 1.400 cây, trong đó có 725 cây có độ tuổi từ khoảng 300 đến hơn 1.000 năm vừa được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Hiện quần thể cây pơ mu được chính quyền và nhân dân địa phương bảo vệ nghiêm ngặt và gần như còn nguyên vẹn. Đây được đánh giá là một trong những rừng cây gỗ quý hiếm nhất còn sót lại ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
Ông Bhling Mia, Chủ tịch UBND huyện Tây Giang cho biết, hiện Huyện đã dựng lên 10 nhà Gươl tại vùng lõi pơ mu để phục vụ công tác bảo tồn và du lịch. Huyện cũng đang xúc tiến dựng các điểm dừng chân, mở dịch vụ du lịch homestay cho các hộ dân sinh sống quanh vùng đệm rừng Pơ mu.
Những năm tới, Tây Giang sẽ tiếp tục hoàn thành tất cả những cơ chế chính sách và thủ tục trong quản lý gắn với bảo vệ và phát triển rừng. Trước mắt, Huyện sẽ thành lập tổ quản lý khu du lịch sinh thái văn hóa pơ mu.
Với định hướng đó, Huyện sẽ kiến nghị lãnh đạo các cấp cần có những chính sách ưu tiên, đặc biệt có chính sách kêu gọi đầu tư để phát triển du lịch phía tây Quảng Nam, trong đó điểm nhấn là tiếp tục phát triển, bảo vệ tốt quần thể cây di sản rừng pơ mu.
Với nguồn tài nguyên độc đáo, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, văn hóa được bảo tồn nguyên vẹn, người dân thân thiện…, nếu được đầu tư về hạ tầng giao thông và quảng bá tốt thì chắc chắn 500 ha rừng pơ mu sẽ trở thành một sản phẩm du lịch đặc biệt và khác biệt, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. (Chính Phủ 4/8) đầu trang(
Đó là mục tiêu trọng tâm của chương trình “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ lượng các bon rừng tại Việt Nam - giai đoạn II” (chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II). Trong đó, Hà Tĩnh là một trong 6 tỉnh được chọn thí điểm triển khai hiện nay.
Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II (2013-2015, gia hạn từ 2016-2018) với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD của Liên hợp quốc nhằm mục tiêu tăng diện tích bao phủ rừng ở Việt Nam lên 45% vào năm 2020 thông qua xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm giải quyết các nguyên nhân của việc chặt phá rừng và suy thoái rừng.
Tại Hà Tĩnh, chương trình được thực hiện trên 19 xã thuộc 4 huyện có rừng: Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Kỳ Anh nhằm giúp các địa phương tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng; cải thiện sinh kế cho một số cộng đồng dân cư hạn chế tác động đến rừng, qua đó, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của các hiện tượng biến đổi khí hậu như lũ quét, hạn hán, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân…
Theo báo cáo của Ban Quản lý dự án, 7 tháng đầu năm, Hà Tĩnh đã hoàn thành 28 hoạt động thuộc các lĩnh vực như: truyền thông về chương trình UN-REDD, biến đổi khí hậu và công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng cho cán bộ của các sở, ban, ngành, địa phương và người dân; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho các cán bộ tham gia quá trình lập kế hoạch REDD+ cấp tỉnh và cấp cơ sở; tổ chức mít tinh cổ động tuyên truyền về REDD, biến đổi khí hậu và phát động ra quân hành động bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy rừng, khảo sát thực địa tại xã Lộc Yên (Hương Khê); Sơn Kim 1 và Sơn Tây (Hương Sơn);
Kỳ Lạc (Kỳ Anh) nhằm thiết lập và triển khai các thỏa thuận với 2 nhóm hộ, chủ rừng nhỏ, rà soát hỗ trợ giao đất gắn với giao rừng...
Ông Trần Quốc Khánh - Chủ tịch UBND xã Hương Trạch (Hương Khê) cho biết: Hương Trạch là một trong 19 xã được triển khai kế hoạch hành động REDD+ cấp cơ sở. Từ đầu năm đến nay, dự án đã tổ chức 8 lớp tập huấn nâng cao nhận thức về pháp luật bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cho người dân trên địa bàn xã.
Sau khi được tập huấn các kiến thức cơ bản về REDD+, tác hại của hiệu ứng khí nhà kính, biến đổi khí hậu suy giảm hệ sinh thái và đa dạng sinh học, người dân nhận thấy việc thực hiện REDD+ là cơ hội để địa phương được hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, góp phần phát triển KT-XH địa phương.
Hương Trạch có 3.586 ha rừng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu. Trước đây, do nhu cầu về đất sản xuất và hiệu quả kinh tế từ trồng rừng nguyên liệu đem lại, nhiều hộ dân trên địa bàn đã tự ý sẻ phát rừng để trồng keo, lấn chiếm, phá rừng trái phép... dẫn đến nhiều diện tích rừng bị mất và suy thoái. Tuy nhiên, từ khi triển khai chương trình UN-REDD, ý thức của người dân được nâng lên đáng kể.
Ông Nguyễn Huy Lợi - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Giám đốc Chương trình UN-REDD Hà Tĩnh cho biết: Từ thay đổi nhận thức, chương trình hướng đến thay đổi hành vi của người dân về chặt phá rừng. Chương trình cũng triển khai nhiều chính sách nhằm giải quyết các nguyên nhân gây suy thoái rừng, đặc biệt là triển khai nhiều hoạt động nhằm tăng diện tích bao phủ rừng. (Báo Hà Tĩnh 4/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, người dân thị trấn Xuân An (Nghi Xuân-Hà Tĩnh) hết sức ngạc nhiên khi thấy hàng trăm cây đại thụ, cổ quái xuất hiện trong khuôn viên trường Dạy nghề ở thị trấn này.
Theo thông tin từ người dân, số cây trên “có mặt” tại đây vào hồi đầu tháng 6. Địa điểm tập kết số cây “lạ” này là khuôn viên Trường trung cấp Nông nghiệp và Dạy nghề (nay là phân hiệu của Trường đại học Hà Tĩnh) tại thị trấn này.
Theo qua sát của PV, số cây được tập kết phải lên tới hàng trăm. Có những cây cao tới 5-6 mét, gồm nhiều loài khác nhau. Có những cây to đến mức cả 2 người ôm cũng không xuể.
Ông Lê Văn Tâm, người quản lý tại đây cho biết, số cây trên được chuyển về từ khắp mọi miền đất nước. Còn hiện tại có bao nhiêu cây, những cây trên có tên là gì, thuộc nhóm nào..., thì không nắm được.
Ông Tâm cũng cho biết, chủ nhân của số cây trên là Cty Cổ phần Đâu tư và Xây dựng Đông Dương -Thăng Long ở tại Hà Nội. Khi chúng tôi xin chụp ảnh thì bị ông Tâm ngăn cản.
Trao đổi với Hạt Kiểm Lâm Nghi Xuân, ông Nguyễn Hồng Tú, Hạt trưởng cho biết: “Sau khi nhận được thông tin, ngày 02.8.2016, chúng tôi đã đến kiểm tra và lập biên bản. Tại hiện trường, ông Nguyễn Diện - Chủ tịch HĐQT cam kết số cây trên có hồ sơ đầy đủ, hợp pháp nhưng đang lưu trữ ở Văn phòng Công ty tại thị xã Thái Hòa, Nghệ An”.
Cũng theo ông Tú thì đại diện Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Đông Dương - Thăng Long hứa ngày 5.8.2016 sẽ trình toàn bộ hồ sơ liên quan đến số cây nói trên với Hạt Kiểm Lâm Nghi Xuân. Nếu không xuất trình được hồ sơ thì Công ty sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. (Tầm Nhìn 3/8) đầu trang(
Chương trình lá chắn xanh trồng rừng ngập mặn ven biển, người dân xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, Quảng Nam mở rộng phần đất liền trên biển thêm 42ha diện tích rừng, bảo vệ bờ biển khỏi xâm thực.
Xã đảo Tam Hải có 7 thôn, trong đó, có 2 thôn nằm tách biệt tạo thành cụm ốc đảo. Việc qua lại xã đảo đều bằng ghe thuyền. Dưới tác động thiên nhiên, hằng năm xã đảo đều chống chịu với sóng gió, từng diện tích đất bị lở dần về phía biển.
Ông Hồ Quốc Thanh-Trưởng thôn Bình Trung, xã đảo Tam Hải, kể, thôn nằm bên Cửa Lở, hằng năm đều bị xói mòn, nước biển ăn sâu vào đất liền, mỗi năm người dân vùng Cửa Lở mất đi từ 10-20 mét đất. “Những hàng phi lao cũng bị cuốn, nhiều nhà dân chỉ còn trơ móng, nạn cát bay thổi len lỏi trên mái nhà. Nhiều người dân bỏ xứ ra đi”-Ông Thanh nói.
Đến năm 2014, chương trình Lá chắn xanh do Tổ chức Cứu trợ -Phát triển CRS hỗ trợ, trồng rừng chống biến đổi khí hậu được thực hiện 2 thôn, thôn Long Thạnh Tây và thôn Bình Trung, với tổng diện tích 42 ha, trong đó, thôn Bình Trung đã trồng hoàn thành 12 ha rừng ngập mặn.
Tại thôn Bình Trung, một tổ bảo vệ được thành lập để bảo vệ rừng ngập mặn, hiện có 3 thành viên. Với chương trình dựa vào cộng đồng, tổ bảo vệ cùng người dân thực hiện trồng cây đước trên vùng ven cạn.
Ông Thanh cho biết: “Cây tụ mầm ươm khoảng 3 tháng gồm cây 2 lá mầm, 3 lá mầm, trồng trong 1 năm hóa gỗ”. Cứ hàng cách hàng 1,6m, cây cách cây chừng 1m. Theo đó, cứ vào các ngày thủy triều xuống, tổ bảo vệ cùng người dân mang cây ươm mầm ra trồng vùng ven biển, cứ sau vài ngày lại vệ sinh cây và môi trường xung quanh.
Các phương tiện tàu ghe không được đi vào rừng đước để tránh làm đứt ngọn chết cây, không cho trâu bò ra vùng đước, kể cả những người bắt ngao, và không được phép chặt hạ cây lấy gỗ. Ông Thanh nói, nếu cố tình chặt phá sẽ xử lý dân sự.
Với chương trình này, thôn Bình Trung với diện tích 298ha đất sẽ được cộng sinh thêm vùng rừng ngập mặn bao quanh thôn lên 12ha, vừa tránh xâm thực, lở vùng cát ven biển. Ngoài ra, diện tích rừng nguyên sinh còn lại cũng được giữ vững. Như vậy, diện tích cộng sinh khi thực hiện dự án này sẽ nâng diện tích bồi đến 42ha toàn xã.
Ông Nguyễn Tấn Hùng-Phó Chủ tịch UBND xã đảo Tam Hải, cho biết, sau khi rừng ngập mặn được trồng, người dân phía trong khu vực rừng bắt đầu đắp bờ làm ao nuôi, quay lại với mô hình nuôi tôm, vừa trồng rừng vừa giữ vệ sinh môi trường. Theo ông Hùng, người dân biết rằng chỉ cần giữ được rừng là giữ được lượng ôxi trong nước, cá tôm sẽ quay lại với ngư dân làng biển.
Ông Bùi Ngọc Thành, thôn Bình Trung, nhờ có rừng mà ông quyết định thuê lại các hồ tôm bỏ hoang cải tạo nuôi ao cá, tôm. Với tổng diện tích hồ 4.000m2, ông bỏ giống cá 25-30 triệu, mỗi vạn tôm giá 400.000 đồng.
Ngoài ra, với chương trình này, tổ tham gia bảo vệ còn được nhận 1 con bò lai sind 200kg, chăm sóc tạo quỹ hằng năm. Theo đó, khi con bò lai sind đẻ con thì bò con sẽ được giao cho một hộ trong tổ hoặc hộ nghèo của thôn để nuôi dưỡng phát triển kinh tế. Thôn Bình Trung có 2 con bò, một con cho hộ bà Đỗ Thị Xúm, chồng bà Xúm đi biển chết, con nheo nhóc mấy đứa, nhưng bà Xúm vẫn cố gắng vun vén con bò, trâu để hỗ trợ kinh tế, bà vừa đăng ký thoát nghèo bền vững, một con thuộc Tổ bảo vệ. (Dân Sinh 3/8) đầu trang(
Ngày 03 tháng 8 năm 2016, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa ban hành Chỉ thị số 19/CT-UBND về việc tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và lưu thông giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo đó,để chấn chỉnh công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giống cây trồng để giúp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và thực hiện đầy đủ các quy định Nhà nước về quản lý, nâng cao hiểu biết về chất lượng, danh mục các giống cây trồng mới, lợi ích của việc sử dụng giống mới, giống có chất lượng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng; khuyến khích sử dụng cây giống vô tính, chất lượng cao (mô, hom) và áp dụng biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh (làm đất, bón phân, chăm sóc) trong trồng rừng sản xuất.
Khẩn trương tham mưu UBND tỉnh kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về giống cây trồng lâm nghiệp ở các cấp địa phương; quản lý nghiêm ngặt nguồn gốc giống cây trồng lâm nghiệp từ khâu thu hoạch vật liệu giống, cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống, quản lý sản xuất cây con ở vườn ươm, cấp chứng nhận nguồn gốc lô cây con tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng theo Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số 89/2005/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Chỉ đạo, lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc đột xuất việc sản xuất và kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kiên quyết xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp không đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ theo Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Kiên quyết không cho phép sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc; xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống khi phát hiện không rõ nguồn gốc.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT (Phòng Kinh tế) các huyện, thị xã, thành phố quản lý chặt chẽ, kiểm tra, đánh giá phân loại các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo quy định tại Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm.
Tăng cường kiểm tra, tái kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất giống bao gồm cả những hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Kiên quyết đình chỉ sản xuất và tham mưu cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh đối với những cơ sở xếp loại C không đủ điều kiện theo quy định.
Công bố danh sách và cập nhật thông tin các đơn vị sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp đủ điều kiện trên địa bàn vào trang Web Quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương để các tổ chức, cá nhân đầu tư trồng rừng biết lựa chọn sử dụng giống tốt.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp phải có giấy phép đăng ký kinh doanh về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp; chỉ được phép sản xuất, kinh doanh các loại giống cây trồng lâm nghiệp trong danh mục do Bộ Nông nghiệp và PTNT công bố hằng năm; hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng nội dung đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh và chịu trách nhiệm về chất lượng giống cây trồng do mình sản xuất, kinh doanh.
Phải đảm bảo điều kiện vật chất, trang thiết bị và kỹ thuật theo quy định để phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp. Các loại giống cây trồng lâm nghiệp trước khi mua bán, lưu thông trên thị trường phải có chứng nhận nguồn gốc giống lô cây con, giấy chứng nhận nguồn gốc lô giống cây trồng lâm nghiệp theo đúng quy định của Nhà nước.
Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các loại giống cây trồng lâm nghiệp kém chất lượng, giống ngoài danh mục, giống không rõ nguồn gốc xuất xứ và giống chưa được công nhận.
Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các Sở, ngành liên quan tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến về các quy định của pháp luật đối với sản xuất, kinh doanh, giống cây trồng lâm nghiệp đến mọi tổ chức và cá nhân, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức thực hiện đúng các quy định của pháp luật và tự giác tham gia công tác đấu tranh phòng chống hàng kém chất lượng, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm.
Tăng cường công tác quản lý về giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn theo Quyết định số 89/2005/QĐ-BNN ngày 29 tháng 12 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp. Thường xuyên theo dõi, giám sát, thống kê các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn quản lý.
Tổ chức kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy định của pháp luật về quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm theo Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Kiên quyết không cho phép sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc; xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống khi phát hiện không rõ nguồn gốc. Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn kiểm tra, thống kê cụ thể số lượng các hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống trên địa bàn và báo cáo với Hạt Kiểm lâm sở tại theo định kỳ hoặc đột xuất. Định kỳ hằng quý báo cáo kết quả thực hiện về Sở Nông nghiệp và PTNT (qua Chi cục Kiểm lâm) để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp và PTNT theo quy định.
Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế (TRT) chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật của nhà nước về công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thừa Thiên – Huế 3/8) đầu trang(
Thực hiện trồng rừng thay thế, rừng phòng hộ năm 2016, nhờ “dân vận khéo” cũng như chủ động về nguồn cây giống, khảo sát địa điểm, hướng dẫn kỹ thuật các khâu làm đất, xuống giống của các địa phương, đơn vị, các hộ dân đã nỗ lực “vượt nắng, thắng mưa” hoàn thành kế hoạch trồng rừng đảm bảo khung, lịch thời vụ.
Theo kế hoạch, năm nay toàn tỉnh tiến hành trồng mới trên 2.500ha rừng, trong đó 230ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng thay thế. Xác định trồng rừng đúng thời điểm mùa mưa, địa hình có độ dốc cao, khó khăn di chuyển cây giống, phân bón cũng như điều động nhân lực.
Đồng thời đảm bảo kết thúc mùa trồng rừng vào ngày 31/7 (kế hoạch của tỉnh), Ban Quản lý rừng phòng hộ các huyện: Tân Uyên, Than Uyên, Phong Thổ, Tam Đường, Nậm Mạ, Nậm Na; Hạt Kiểm lâm thành phố Lai Châu; Công ty Cổ phần Cao su Lai Châu và Công ty Cổ phần Cao su Lai Châu 2 chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể triển khai công tác tuyên truyền chủ trương của tỉnh về Dự án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn các huyện, thành phố và Dự án trồng rừng phòng hộ năm 2016 tới các hộ dân.
Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh vai trò, lợi ích kinh tế, môi trường từ rừng mang lại để Nhân dân chủ động đăng ký diện tích, giống cây trồng.
Các đơn vị thành lập Tổ kỹ thuật triển khai thực hiện Dự án trồng rừng thay thế (gồm đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm tổ trưởng, thủ trưởng các đơn vị: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ phụ trách các nhóm ở các xã có Dự án).
Tổ kỹ thuật phối hợp chặt chẽ với UBND các xã vừa thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền vừa tiến hành đo đạc, xác định mốc giới, diện tích, lập hồ sơ thực hiện công tác trồng rừng. Ban Quản lý rừng phòng hộ xây dựng hồ sơ dự án trồng rừng; chủ động đủ số lượng cây giống, đảm bảo yêu cầu chất lượng, thường xuyên cử cán bộ bám sát địa bàn hướng dẫn Nhân dân thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật.
Chọn cây trồng phù hợp với đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng được xác định là khâu quan trọng trong công tác trồng rừng thay thế tại các công trình thủy điện. Tỉnh ta xác định đưa vào trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, đa mục đích, cây gỗ lớn như: quế, sơn tra, thông mã vĩ, lát, sấu…
Chủ động về nguồn cây giống, ngay từ đầu tháng 6, hơn 2,6 triệu cây giống các loại được các huyện và công ty cao su nghiệm thu đảm bảo chất lượng trước khi đưa vào trồng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng tích cực vào cuộc phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ rừng sau khi trồng cho bà con.
Thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế năm nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Mạ (huyện Sìn Hồ) được giao thực hiện 503,37ha rừng ở 9 xã vùng thấp. Đảm bảo tỷ lệ cây sống sau khi trồng đạt 100%, Ban đã quyết liệt trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn Nhân dân thực hiện quy trình kỹ thuật trong đào hố, bón phân, trồng cây. Trên 66 vạn cây giống cũng được gieo ươm trong tum bầu đảm bảo cây cứng, khỏe. Nhờ đó, Nhân dân các xã đã hoàn thành công tác trồng rừng theo đúng kế hoạch tỉnh đề ra.
Lường trước những khó khăn đặc thù của địa phương, để thực hiện trồng mới 920ha rừng phòng hộ và rừng thay thế tại các xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Pắc Ta, Tà Mít, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên xây dựng kế hoạch cụ thể, đề ra nhiều biện pháp chỉ đạo, triển khai phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu đề ra.
Ông Phạm Ngọc Đoàn - Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên cho biết: Đối với 750ha rừng thay thế, Tổ kỹ thuật phối hợp với các đoàn thể huyện, UBND 3 xã: Nậm Cần, Nậm Sỏ, Tà Mít tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân triển khai thực hiện. Trong đó, xã Nậm Cần: 372ha, Nậm Sỏ: 208,2ha, Tà Mít: 169,8ha. Công tác triển khai các khâu còn lại được thực hiện nhanh, gọn, đảm bảo đúng quy trình. Đến ngày 28/7, các xã đã tiến hành trồng 670ha rừng; theo đăng ký của bà con dự kiến sẽ thực hiện 850ha (vượt 100ha so với chỉ tiêu). Đối với rừng phòng hộ được triển khai trồng mới tại xã Pắc Ta trên diện tích 170ha, Ban cũng đã tiến hành từ ngày 5/6.
Do diện tích đăng ký trồng mới tăng so với kế hoạch nên Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đang tích cực triển khai cán bộ kỹ thuật phụ trách địa bàn phối hợp chặt chẽ với các địa phương vận động, hỗ trợ nông dân đẩy nhanh tiến độ cũng như thời vụ hoàn thành trong thời gian sớm nhất.
Được biết, trước thông tin báo cáo của các huyện, thành phố và công ty cao su, đến ngày 13/7, toàn tỉnh mới tiến hành trồng 1.072ha rừng (đạt 29,1% khối lượng theo hồ sư dự án đã phê duyệt). Với tiến độ đó, việc hoàn thành chỉ tiêu tỉnh đề ra là thách thức rất lớn. Do vậy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn gửi các huyện, thành phố quyết liệt chỉ đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ, Hạt Kiểm lâm thành phố khẩn trương vận chuyển cây giống đến địa điểm trồng rừng; đôn đốc các hộ nhận khoán đẩy nhanh tiến độ trồng rừng theo đúng kế hoạch.
Ông Nguyễn Văn Biển - Chi cục Trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) khẳng định: Với sự vào cuộc tích cực của các cấp, ngành từ tỉnh đến cơ sở, sự quyết tâm đồng lòng của các hộ dân, đến ngày 31/7, toàn tỉnh đã cơ bản hoàn thành kế hoạch đề ra. Trong đó, rừng phòng hộ đạt trên 270ha; rừng thay thế trên 2.150ha. Hiện, các địa phương đang nỗ lực hoàn thành những diện tích còn lại (đã đào hố, tập kết cây giống, phân bón) trong vài ngày tới.
Trong điều kiện thời tiết có những diễn biến bất thường như thời gian qua, đây quả là những thành tích đáng khích lệ. Điều này không chỉ khẳng định sự nghiêm túc, quyết liệt trong công tác lãnh, chỉ đạo của các địa phương, đơn vị, hơn hết vẫn là người dân đã thực sự tin tưởng “có thể sống nhờ rừng”. (Báo Lai Châu 3/8) đầu trang(
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân và thực hiện đồng bộ các giải pháp về trồng rừng, đến nay huyện Pác Nặm đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016 với diện tích thực hiện được hơn 261ha, đạt 100,66% so với kế hoạch tỉnh giao.
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Pác Nặm, trong tổng số hơn 267ha thiết kế cho vụ trồng rừng năm 2016, người dân huyện Pác Nặm đã trồng được trên 253ha rừng sản xuất và 8,6ha rừng phòng hộ.
Cơ cấu giống chiếm đa số là cây mỡ với hơn 150ha; lát hoa hơn 57ha; xoan ta 35,4ha, còn lại là keo và thông. Có gần 6ha diện tích đã được thiết kế nhưng người dân không trồng, tập trung ở các xã: Xuân La, Bộc Bố, Cổ Linh, Nghiên Loan, Giáo Hiệu. Nguyên nhân do các hộ dân đã đăng ký nhưng không có nhân lực để thực hiện trồng rừng.
Do nắng nóng kéo dài trong hai tháng qua nên tại một số diện tích rừng trồng xuất hiện tình trạng cây vàng lá, cháy lá và cây chết. Hiện nay UBND các xã và ngành chức năng của huyện đang vận động người dân tích cực chăm sóc cây, phát hiện, thống kê và báo cáo kịp thời để có kế hoạch cấp bù cây giống trồng dặm trong thời gian sớm nhất. (Báo Bắc Kạn 4/8) đầu trang(
Sau nhiều năm thực hiện Nghị định 23 (năm 2006) của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, cả nước chỉ có 23/50 địa phương có kế hoạch phát triển trồng rừng thay thế (TRTT) với diện tích 16 nghìn ha.
Mãi tới khoảng gần 1 năm nay, từ tháng 9/2015 đến tháng 7/2016, con số này tăng lên 30 nghìn ha, tương đương 44% diện tích phải trồng.
Thống kê của Bộ NN&PTNT, trong giai đoạn 2006-2014, đã có trên 386 nghìn ha rừng các loại bị chuyển mục đích sử dụng (CMĐSD) sang mục đích khác, như xây dựng thủy điện, khai thác khoáng sản, trồng cao su, sản xuất nông nghiệp… Nghị định 23 quy định bắt buộc các dự án CMĐSD rừng sang các mục đích không phải lâm nghiệp cần đảm bảo đầu tư trồng mới thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi nhằm mục tiêu bảo vệ, giữ vững vốn rừng cũng như cân bằng môi trường sinh thái. Tuy nhiên, diện tích TRTT đạt được rất hạn chế so với mục tiêu đề ra.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp, nguyên nhân vì nhiều chủ dự án không chủ động trong xây dựng phương án TRTT cũng như không thực hiện nộp tiền để TRTT. Về phía trách nhiệm của các địa phương, ông Lượng cho rằng công tác chỉ đạo triển khai TRTT ở nhiều tỉnh chưa thực sự quyết liệt, đặc biệt ở những tỉnh có chỉ tiêu kế hoạch lớn như: Cao Bằng, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Tp Đà Nẵng, Bình Thuận, Đắk Lắk, Đăk Nông, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Khắc Lâm, Giám đốc Quỹ Bảo vệ Phát triển Rừng tỉnh Nghệ An cho biết một trong những vướng mắc mà đơn vị gặp phải là về xây dựng kế hoạch và quản lý rừng trồng thay thế sau đầu tư. Theo đó, hiện công tác xây dựng kế hoạch TRTT còn bị động đối với cả cơ quan quản lý, Quỹ BVPTR và các đơn vị thực hiện.
Kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những chủ dự án không chấp hành TRTT diện tích rừng chuyển sang mục đích khác là một trong những giải pháp được ông Phạm Hồng Lượng nhấn mạnh để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch TRTT, trước mắt năm 2016 là 24 nghìn ha. Bên cạnh đó cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra các địa phương thực hiện Kế hoạch TRTT diện tích rừng CMĐSD khác.
Từ những nghiên cứu về chính sách cũng như tồn tại trong triển khai trồng rừng thay thế, bà Nguyễn Hồng Huế, cán bộ nghiên cứu của Trung tâm con người và thiên nhiên kiến nghị TRTT nên được lồng ghép vào Kế hoạch BVPTR của các tỉnh đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng rừng. “TRTT nên mở rộng không chỉ tập trung vào trồng bù diện tích đã bị chuyển đổi mà nên kết hợp chăm sóc, bảo vệ khu vực rừng tái sinh, tăng cường phục hồi làm giàu rừng tự nhiên. Cách làm này tốn ít kinh phí, thời gian và có khả năng thành công cao hơn so với diện tích trồng mới hoàn toàn” – bà Huế cho biết.
Đồng thời, cần rà soát, đánh giá hiệu quả các phương thức tổ chức TRTT; Xây dựng các hướng dẫn, quy định để thống nhất tổ chức thực hiện TRTT nhằm phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan triển khai TRTT. Trong đó, nguồn nhân lực địa phương (các chủ rừng) cần được tham gia trực tiếp thực hiện, quản lý TRTT. (Đại Đoàn Kết 4/8) đầu trang(
Việc Vương quốc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) (Brexit) đã làm nhiều doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn sang thị trường này lo ngại, đặc biệt là doanh nghiệp ngành chế biến gỗ.
Giữa tháng 7 vừa qua, Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam đã tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề “Brexit và tác động tới ngành gỗ Việt Nam”, các chuyên gia cũng như các nhà sản xuất đều cho rằng ngành gỗ có thể gặp “sóng ngầm” tại thị trường này trong thời gian tới.
Theo Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, năm 2015 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào Anh đạt gần 270 triệu USD, chiếm khoảng 36% tổng kim ngạch xuất khẩu vào EU, thị trường này liên tục tăng trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, sự kiện Brexit đang làm giới chế biến lâm sản xuất khẩu lo ngại.
Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền nhận định, về lâu dài Brexit sẽ làm giảm khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang thị trường Anh, tương đương khoảng 50 triệu USD/năm. Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân dẫn đến tình trạng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Anh giảm do đồng tiền nước này bị mất giá khiến hàng hóa trở lên đắt đỏ dẫn đến sức tiêu thụ giảm.
Một số doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu ở Đồng Nai cho biết, đến nay ở thị trường này mới có mặt hàng gỗ ngoại thất bắt đầu bị tác động giảm giá, các mặt hàng gỗ nội thất đến nay vẫn chưa bị ảnh hưởng. Ông Phan Văn Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nhất Nam, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (DOWOOHA), lo lắng rằng ngành chế biến gỗ trong thời gian tới sẽ bị ảnh hưởng. “Sự kiện Brexit không gây ra sốc ngay thị trường cho ngành gỗ chế biến gỗ nhưng tác động của nó âm ỉ. Theo tôi, đến khoảng cuối năm nay hoặc đầu năm 2017 ngành gỗ sẽ gặp khó khăn khi Brexit đủ thấm gây ảnh hưởng” - ông Bình chia sẻ.
Ông Nguyễn Văn Thọ, Giám đốc Công ty TNHH Minh Thành (huyện Vĩnh Cửu), cho biết xuất khẩu gỗ không chỉ bị ảnh hưởng riêng ở thị trường Anh mà cả thị trường EU cũng bị tác động do đồng euro cũng không giữ được giá nên đã có tác động xấu đến tình trạng xuất nhập khẩu ở thị trường này.
Ông Trần Văn Thành, Giám đốc DNTN Kiến Phúc (huyện Trảng Bom), cho biết nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu sang thị trường EU và Anh đã đi săn các thị trường mới cho mùa hàng năm 2016 - 2017 để đề phòng tình huống xấu ở 2 thị trường này.
Điều này cũng được ông Trần Lê Huy, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ Bình Định, chia sẻ tại buổi tọa đàm, nhiều doanh nghiệp làm hàng gỗ xuất khẩu lớn của Bình Định đang xem xét giảm đơn hàng tại thị trường Anh để tránh rủi ro. Cũng theo cảnh báo của Hiệp hội Gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai, thị trường EU trong thời gian tới không chỉ khó khăn về giá mà còn có những rào cản kỹ thuật sẽ được dựng lên.
Một trong những lo lắng khác của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, đó là ở thị trường truyền thống này phải cạnh tranh không chỉ với hàng của Trung Quốc mà còn 2 quốc gia khác là Indonesia và Malaysia cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ vào EU, đặc biệt là Anh. Theo đánh giá của giới chuyên môn, lợi thế lớn của 2 quốc gia này là có nguồn gỗ nguyên liệu rẻ hơn Việt Nam và năng suất lao động tốt hơn.
Đây đang là bất lợi cho các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu trong nước. EU là một trong 3 thị trường lớn xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, khi thị trường này gặp bất lợi sẽ gây ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu chung. (Báo Đồng Nai 3/8) đầu trang(
Gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 6,9 tỷ USD, đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Đức và Ý.
Thống kê trong 7 tháng đầu năm nay của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, xuất khẩu gỗ và sản phẩm đạt kim ngạch 3,8 tỷ USD. Dự báo, con số này của cả năm có thể đạt trên 7,4 tỷ USD. Với triển vọng còn rất lạc quan, các chuyên gia cho rằng, ngành gỗ Việt Nam có khả năng đạt kim ngạch xuất khẩu 20 tỷ USD trong 5-10 năm tới.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), những năm qua xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ luôn vượt trội hơn so với nhiều ngành hàng chủ lực khác.
Đặc biệt, xuất khẩu gỗ sẽ rộng đường tăng trưởng hơn khi dự kiến cuối năm nay, Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) giữa Việt Nam và EU được ký kết.
Dưới góc nhìn DN trong ngành, ông Vũ Quốc Vương, Chủ tịch Hội Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ cũng có chung nhận xét: Nhiều DN ở Đồng Kỵ đã khẳng định được thương hiệu và sản xuất ra những sản phẩm gỗ đạt chất lượng và xuất khẩu vào các thị trường khó tính, đặc biệt là thị trường EU. Việc ký kết VPA/FLEGT giúp cho việc xuất khẩu gỗ Việt Nam được minh bạch, hợp pháp và sẽ khuyến khích quản lý rừng bền vững hơn, thúc đẩy quản trị rừng và DN tốt hơn.
Đồng tình với quan điểm trên, một số chuyên gia nhận định việc Việt Nam ký kết VPA/FLEGT với EU sẽ còn giúp tăng niềm tin với khách hàng Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản - những thị trường đã áp dụng quy chế tương tự như EU về nguồn gốc gỗ hợp pháp, qua đó góp phần mở rộng thêm một số thị trường xuất khẩu quan trọng của ngành gỗ Việt Nam.
Cụ thể, VPA/FLEGT sẽ giúp các DN gỗ Việt Nam tăng cường năng lực, tạo chuyển biến tích cực về môi trường sản xuất và quyền lợi của người lao động. Ngoài việc sản phẩm gỗ được sản xuất từ nguồn gỗ hợp pháp sẽ có giá cao hơn, kể cả tại thị trường ngoài EU, thì việc thực thi Hiệp định sẽ giúp bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bởi khi sản phẩm gỗ xuất khẩu vào EU được sản xuất từ gỗ rừng trồng trong nước, có xuất xứ rõ ràng sẽ là cơ hội tốt để phát triển trồng rừng.
Đáng chú ý, VPA/FLEGT cũng sẽ tạo cơ hội để Việt Nam hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp gỗ Việt Nam được đồng bộ, có tính khả thi cao hơn, giúp cho DN xây dựng được những chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh lâu dài, ổn định và bền vững, cũng như quản trị DN lâm nghiệp một cách chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên, theo Vifores, mặc dù EU là thị trường rất tiềm năng cho sản phẩm gỗ của Việt Nam, nhưng để xuất khẩu gỗ sang thị trường này cần có những tiêu chuẩn khắt khe. Trong đó, việc EU đưa ra dự thảo đầu tiên về chương trình hành động FLEGT là ví dụ điển hình. Một trong những nội dung quan trọng nhất của chương trình này là ký kết VPA với các quốc gia đối tác xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ vào EU.
Trong khi đó, các đối tượng chịu tác động mạnh của VPA/FLEGT như các hộ gia đình trồng rừng, các làng nghề và các cơ sở chế biến gỗ nhỏ và rất nhỏ chưa được tiếp cận và nhận thức còn mờ nhạt về Hiệp định. Và chúng ta chưa có một nghiên cứu và đánh giá đầy đủ về tác động của VPA/FLEGT đối với các đối tượng này.
Hiện nay và sau này, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu gỗ từ nhiều quốc gia chưa quan tâm đầy đủ tới tính pháp lý về khai thác, sử dụng buôn bán nguồn gỗ hợp pháp, nên sẽ tạo ra nhiều rủi ro cho các DN nhập khẩu gỗ. Mặt khác, DN gỗ Việt Nam phần lớn là DNNVV, trình độ và năng lực để quản lý nguồn gỗ hợp pháp thông qua chuỗi hành trình sản phẩm còn rất hạn chế.
Cùng với đó, các làng nghề gỗ và các hộ cá thể sản xuất đồ gỗ xuất khẩu không có giấy phép sản xuất kinh doanh, không có hồ sơ, hóa đơn bán hàng, mua hàng... và sử dụng nguồn gỗ có nguồn gốc phức tạp sẽ chịu tác động rất lớn hoặc giải thể hoặc tạm dừng sản xuất.
Ông Vũ Quốc Vương thừa nhận, vẫn có nhiều DN gỗ chưa nắm được các đòi hỏi của FLEGT, cũng như chưa biết những tác động của VPA/FLEGT đối với hoạt động và xuất khẩu sang EU. Vì vậy, cần có những tập huấn chuyên sâu cho các hội viên để nắm rõ hơn về VPA/FLEGT.
Gợi mở giải pháp cho DN, ông Nguyễn Tôn Quyền cho rằng, các DN ngoài việc tiếp cận thông tin, mở rộng kiến thức về VPA/FLEGT, còn cần xây dựng hệ thống quản lý để theo dõi chuỗi hành trình sản phẩm (CoC), quy trình quản lý nguồn nguyên liệu (IWAY)... để có sự cải tiến phù hợp.
Đồng thời, cần quan tâm đến các quy định pháp lý để chấp hành tốt các quy định pháp luật, đảm bảo hồ sơ xuất khẩu hợp lệ và đánh giá cấp chứng chỉ hệ thống quản trị như ISO, SA... (Thời Báo Ngân Hàng 4/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cứ 20 phút lại có một loài động vật hay thực vật nào đó bị tuyệt chủng và 50 năm trở lại đây, tốc độ tuyệt chủng đã tăng nhanh gấp 40 lần so với thời kỳ cách mạng công nghiệp.
Một ngày nào đó trong tương lai không xa, cháu chắt của bạn sẽ đọc những quyển sách sinh học nói về những con voi, hổ và sư tử là các sinh vật đã tuyệt chủng. Điều này giống như thế hệ chúng ta hiện nay đang nói về những con voi mamút và khủng long.
Đây không phải là một tiểu thuyết viễn tưởng mà là thông điệp của một bài báo mới được xuất bản gần đây bởi hàng chục nhà sinh học hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới.
Các tác giả cho rằng nhiều loài thú lớn nhất thế giới sẽ có thể bị tuyệt chủng vào năm 2100 nếu các biện pháp bảo hộ quyết liệt không được thực hiện. Để ngăn chặn tương lai đó, chính phủ và các tổ chức bảo tồn cần thực hiện một số bước tiến quan trọng để chấm dứt sự tuyệt chủng hàng loạt.
"Chúng ta cần phải hiểu rõ mức độ nghiêm trọng của vụ việc này. Sự mất mát nhanh chóng của tính đa dạng sinh học nói chung và những động vật cỡ lớn nói riêng đang diễn ra cấp bách hơn cả biến đổi khí hậu", Peter Lindsey, điều phối viên của tổ chức bảo tồn sư tử Panthera tuyên bố.
Hoạt động săn trộm và việc mở rộng không ngừng của con người vào địa hình tự nhiên đã dồn số tê giác, voi, sư tử, cọp, báo… còn lại vào một vùng lãnh thổ ngày càng nhỏ. Điều này buộc các động vật hoang dã này tấn công những người sống ở rìa môi trường sống của chúng.
Trong những thập kỷ tiếp theo, sẽ có khoảng 59% các loài động vật ăn thịt lớn nhất thế giới (lớn hơn 15kg), ví dụ như hổ Bengal… và 60% các loài động vật ăn cỏ lớn nhất thế giới, như tê giác trắng và khỉ đột sẽ có thể biến mất khỏi Trái đất.
"Nhiều loài động vật mang tính biểu tượng cho các quốc gia có thể sẽ không tồn tại nổi cho đến thế kỷ 22”, các nhà nghiên cứu đã viết trong bài báo. Mối đe dọa này đặc biệt nghiêm trọng ở tiểu vùng Sahara châu Phi và Đông Nam Á, nơi có nhiều sự tập trung sự đa dạng sinh học nhất trên thế giới.
"Chúng ta phải thật sự hiểu rằng mỗi loài là một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái. Sự tuyệt chủng của một loài sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều loài khác và gây ra xáo trộn nghiêm trọng. Con người cũng sẽ không nằm ngoài sự ảnh hưởng này”, Giáo sư William Ripple, một nhà sinh thái học tại Đại học Oregon cho biết. "Đã đến lúc chúng ta cần phải thực sự nghiêm túc và cố gắng hết mình để bảo tồn chúng. Vì sự sụt giảm về số lượng và môi trường sống của những động vật này đang diễn ra cực kỳ nhanh chóng”.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng hơn 99% sự tuyệt chủng là do loài người luôn muốn khẳng định sự bá chủ của mình đối với muôn loài. Việc con người khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên như săn bắn vô tội vạ, phá rừng bừa bãi, sử dụng quá mức đất đai canh tác, làm ô nhiễm mặt nước, làm khô cạn ao hồ rồi các cuộc chiến tranh tàn khốc... đang hủy hoại môi trường.
Các hoạt động du lịch thiếu bền vững, xây dựng, thăm dò và khai thác thiếu quy hoạch, các hoạt động công nghiệp đã tạo ra các nguồn khí thải độc hại làm cho khí hậu nóng lên, tạo ra những lỗ hổng ở tầng ôzôn... đe dọa trực tiếp đến sự sống trên Trái đất. (Khám Phá 3/8) đầu trang(./.
|
|||