|
Ngày 04 tháng 01 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT, trong năm 2013 dự kiến sẽ cần 6.550 tỷ đồng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, nguồn vốn Trung ương hỗ trợ 1.600 tỷ đồng cho công tác chăm sóc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng; vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng là 1.000 tỷ đồng và các nguồn vốn khác khoảng 4.500 tỷ đồng.
Theo đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ khoán bảo vệ khoảng 1,55 triệu ha rừng tại 62 huyện nghèo do hộ gia đình, cá nhân quản lý và rừng phòng hộ ở nơi xung yếu có nguy cơ xâm hại cao (bao gồm cả trợ cấp gạo cho các hộ nghèo thuộc huyện 30a tham gia bảo vệ và phát triển rừng).
Đối với phát triển rừng, sẽ hỗ trợ trồng 255 nghìn ha, trong đó trồng mới 30 nghìn ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 100 nghìn ha rừng sản xuất; 125 nghìn ha trồng lại rừng sau khai thác…
Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương sẽ được ưu tiên bố trí cho các nhiệm vụ theo thứ tự: Chăm sóc diện tích rừng đã trồng và khoanh nuôi; hỗ trợ khoán bảo vệ rừng đối với các huyện thuộc chương trình 30a; trồng mới rừng phòng hộ ven biển, các vùng đầu nguồn các lưu vực sông lớn, khu vực xung yếu có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét.
Năm 2013, cả nước có khoảng 13,1 triệu ha rừng thuộc diện bảo vệ và phát triển bền vững. (Kinh tế Việt Nam 4/1) đầu trang(
Như thông tin Vietnamplus đã đưa, vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 2/1, tại xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xảy ra vụ cháy ở một cánh rừng ven đường Hồ Chí Minh, cách Hà Nội khoảng 134km.
Vì điều kiện cách trở, trời tối, phải quan sát từ xa nên phóng viên chưa xác định được đây là khu rừng gì.
Sáng 3/1, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa và Chi Cục kiêm lâm tỉnh Thanh Hóa đã chủ động trao đổi và cung cấp thông tin chính xác cho phóng viên Vietnam+ về vụ việc trên.
Theo đó, ngay sau khi Báo nêu, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo các cơ quan chức kịp thời có phương án xử lý ngay trong đêm. Tuy nhiên, đây không phải là khu rừng trồng hay rừng đặc dụng mà là vùng bà con canh tác, đặc biệt là có nhiều cây mía.
Hiện nay, tình trạng đốt nương, làm rẫy hoặc là người dân tùy tiện đốt các khu rừng để chiếm đất canh tác vẫn còn diễn ra. (VietnamPlus.vn 3/1)đầu trang(
Thực hiện công tác quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, những năm qua Sở NN&PTNT đã hướng dẫn các địa phương xây dựng đề án quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020, đến nay các huyện đã hoàn thành và được UBND tỉnh phê duyệt.
Đặc biệt công tác bảo vệ và phát triển rừng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và triển khai đồng bộ. Ngay từ đầu năm 2012, ngành đã tham mưu cho UBND tỉnh sớm giao kế hoạch cho các Ban quản lý dự án cơ sở với tổng kinh phí phân bổ 20 tỷ đồng. Trong năm trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích bị cháy là 11,2 ha, so với năm 2011 giảm 6 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 82,8 ha.
Để tạo thêm nguồn vốn cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, UBND tỉnh đã có Quyết định số 472/QĐ- UBND ngày 20/3/2012 về việc thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng và Quyết định số 1542/QĐ- UBND ngày 30/8/2012 về việc thành lập Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Trị.
Cùng với các hoạt động của ngành, các chương trình, dự án khác như: Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Quảng Trị; dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ; đề án giao rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình; công tác bảo tồn thiên nhiên, quy vùng nương rẫy, tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng...đang được Sở Nông nghiệp và PTNT quan tâm triển khai thực hiện. (Báo Quảng Trị 3/1) đầu trang(
Năm 2012, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng xảy ra 280 vụ - tăng 53 vụ so cùng kỳ. Tuy nhiên, trên toàn tỉnh chỉ xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích 0,63ha. Đây là một con số khá thấp so với nhiều địa phương trong cả nước.
Hiện nay, thời tiết đang khô hanh kéo dài, nắng nóng gay gắt, nhiều ngày không mưa các khu vực rừng trên địa bàn tỉnh đang có nguy cơ xảy ra cháy cao. Thông tin từ Cục Kiểm lâm cho biết (cập nhật ngày 1.1.2013), nguy cơ cháy rừng trên toàn tỉnh Tây Ninh đang ở cấp cực kỳ nguy hiểm (cấp V). Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh.
Để chủ động phòng chống cháy rừng. Thường trực Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đề nghị các huyện, thị, các xã có rừng và các đơn vị chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp cấp bách theo phương án, kế hoạch đã được xây dựng, để phòng cháy và sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy, khi xảy ra cháy rừng.
Tính đến tháng 11.2012, tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh là 48.810ha, chiếm khoảng 67,8% tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp. Độ che phủ rừng đến nay đạt khoảng 13,5% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. (Báo Tây Ninh 3/1)đầu trang(
Như đã thành thông lệ, bước vào mùa khô công tác phòng, chống cháy rừng luôn được lực lượng kiểm lâm quan tâm. Thời điểm này, việc đề phòng giặc lửa đang là nhiệm vụ được Hạt kiểm lâm huyện Yên Thế (Bắc Giang) triển khai với nhiều biện pháp thiết thực, kịp thời.
Thời tiết phức tạp, khô hanh kéo dài nên hiện nay diễn biến phòng, chống cháy rừng trên địa bàn huyện Yên Thế đang ở cấp độ 2. Để chủ động cho công tác phòng, chống cháy rừng năm nay, ngay từ cuối năm trước, chuẩn bị bước vào mùa khô, lực lượng kiểm lâm huyện đã phối hợp với chính quyền cơ sở, các chủ rừng và nhân dân khu vực có rừng triển khai nhiều biện pháp sẵn sàng đối phó với giặc lửa và hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Thống kê của cơ quan chuyên môn, trong tổng số 12.620 ha rừng và đất lâm nghiệp của huyện Yên Thế thì khoảng 5.000 ha rừng có nguy cơ xảy ra cháy cao trong mùa khô năm nay. Diện tích trên tập trung ở các xã: Xuân Lương, Canh Nậu, Đồng Vương, Đồng Tiến, Tam Tiến, Tiến Thắng, Tam Hiệp, Đồng Hưu và Đông Sơn.
Đặc điểm chung của các lô rừng này là có lớp thực bì dày khô hanh, nguy cơ gây cháy rừng trên diện rộng là rất lớn. Chính vì vậy, qua công tác tuyên truyền, triển khai của cơ quan chuyên môn, ý thức của các chủ rừng và người dân khu vực có rừng đã được nâng nên trong việc chủ động phòng chống giặc lửa.
Trước mùa khô năm nay, lực lượng kiểm lâm huyện Yên Thế đã thành lập 14 Ban chỉ huy phòng, chống cháy rừng ở cơ sở với 227 thành viên; 92 tổ xung kích phòng, chống rừng ở các thôn, bản, tiểu khu và các đội sản xuất lâm nghiệp với 790 thành viên tham gia; xây dựng 14 phương án bảo vệ rừng, cấp các dụng cụ, thiết bị phục vụ phòng, chống cháy rừng cho các lực lượng tham gia; duy tu, làm mới hàng chục km đường ranh cản lửa. Nhờ đó đã góp phần hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Bắc Giang 2/1)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
3/1, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát nội dung, đôn đốc xây dựng Đề án “Chủ trương, giải pháp chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường”.
Đây là một nội dung quan trọng dự kiến trình tại Hội nghị Trung ương sắp tới.
Hiện Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương chuẩn bị và hoàn thiện dự thảo các nội dung về tổng quan, thực trạng ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, các dự báo, kinh nghiệm quốc tế.
Từ đó, xây dựng hệ quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn về công tác ứng phó với BĐKH, giảm phát thải nhà kính, bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, nguồn lợi thuỷ sản, kiềm chế tốc độ gia tăng ô nhiễm môi trường, giảm nhẹ mức độ suy thoái đa dạng sinh học.
Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu cơ quan soạn thảo khẩn trương xây dựng Đề án, lập tiến độ cụ thể và tổ chức các hội thảo để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi, bám sát các mốc tiến độ để trình các cơ quan thẩm quyền.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lưu ý làm rõ hơn một số nội dung quan trọng trong Dự thảo Đề án như quan điểm, mục tiêu và đặc biệt là các nhóm giải pháp cần nêu cụ thể, tính toán những khả năng triển khai trên thực tế. Ngoài ra, chú ý vấn đề thông tin, số liệu chi tiết, các phụ lục minh hoạ cho các nhận định, đánh giá của Đề án. (Chinhphu.vn 3/1; Nhân Dân 4/1)đầu trang(
3/1, tỉnh Đồng Nai đã họp với Ban quản lý vườn quốc gia Cát Tiên, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai và các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh về việc hoàn thiện hồ sơ di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Cát Tiên trình UNESCO xét công nhận di sản thiên nhiên thế giới.
Vườn quốc gia Cát Tiên có diện tích gần 72.000ha nằm trên địa bàn ba tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai. Đây là một trong sáu khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Ngày 18/6/2011, UNESCO đã chính thức công nhận vườn quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đồng thời đổi tên thành khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
Đây là khu rừng nhiệt đới ẩm duy nhất còn sót lại tại miền Nam Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết khí hậu cho Tây Nguyên và Nam Bộ. Vườn quốc gia Cát Tiên còn có hệ thực vật rất phong phú với gần 1.700 loài trong đó có những loại quý hiếm như gỗ trắc, cẩm lai..., hơn 700 loài chim thú quý hiếm và "đặc biệt quý hiếm" có trong sách Đỏ.
Hiện nay, vườn quốc gia Cát Tiên còn có khoảng trên dưới 20 đàn bò tót với tổng số lượng khoảng 120 con sinh sống. Theo đánh giá của giới chuyên môn đây là quần thể bò tót hoàn hảo nhất của Việt Nam.
Vườn quốc gia Cát Tiên còn là nơi cư trú của 11 dân tộc và là nơi có không gian văn hóa, di sản Ốc Eo. Vì vậy đây được xem là hình mẫu về bảo tồn đa mục đích - một mô hình phát triển hài hòa giữa con người với thiên nhiên dựa trên nền tảng sự đa dạng sinh học kết hợp với bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Vừa qua tại Đồng Nai, các chuyên gia của Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đã làm việc với lãnh đạo các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng để thẩm định hồ sơ trình UNESCO công nhận vườn quốc gia Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới.
Sau khi các chuyên gia IUCN nghiên cứu khảo sát thực tế vườn quốc gia Cát Tiên và thẩm định hồ sơ, Đoàn đã yêu cầu Vườn quốc gia Cát Tiên tiếp tục tập hợp thêm các tư liệu bổ sung.
Theo Ủy ban quốc gia UNESCO, hồ sơ này chưa đáp ứng được các yêu cầu theo quy định tại Hướng dẫn thi hành Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới liên quan đến diện tích khu vực đề cử, tính toàn vẹn và kế hoạch quản lý khu di sản…
Theo cảnh báo của các chuyên gia, tổ chức khoa học trong và ngoài nước, việc xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trong vùng lõi vườn quốc gia Cát Tiên sẽ gây tác động xấu đến môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học làm ảnh hưởng rất lớn đến hệ động thực vật phong phú và đa dạng của vườn quốc gia.
Theo Phó Chủ tịch tỉnh Đồng Nai Nguyễn Thành Trí, tỉnh sẽ tiếp tục bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện hồ sơ trong thời gian sớm nhất để trình UNESCO công nhận vườn quốc gia Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới.(VietnamPlus.vn 4/1; Người Lao Động 4/1)đầu trang(
Trong khi tại Thung lũng Chắt Dậu, thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo đang có một Trung tâm Cứu hộ động vật (gấu) hoạt động tốt với sự hỗ trợ xây dựng và điều hành chuyên nghiệp của Tổ chức Động vật Châu Á (AAF), bỗng dưng ông Giám đốc Vườn Quốc gia Tam Đảo (cũng là đồng Giám đốc Dự án "Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam") lại muốn "dẹp" trung tâm này để rồi trình lên Bộ NN&PTNT một đề án có thể gây lãng phí hơn 45 tỷ đồng ngân sách.
Bản đề án dày 50 trang, 6 mục mà Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo đã "nghiên cứu công phu" đệ trình lên Bộ NN&PTNT và Tổng cục Lâm nghiệp là Đề án số 88/VTĐ - TTr, mang tên "Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Tam Đảo", đề nghị xây dựng trung tâm ngay tại Thung lũng Chắt Dậu, thuộc VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc (chính là nơi đang có Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam).
Tổng vốn đầu tư (nếu đề án được triển khai) là 45 tỷ 10 triệu đồng, bằng 100% nguồn ngân sách (trong đó riêng tiền xây dựng đề án là 118.759.056 đồng). Về pháp lý, trung tâm sẽ là đơn vị trực thuộc VQG Tam Đảo, chịu sự quản lý trực tiếp của giám đốc vườn, có sự hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các cục, vụ chuyên môn của Tổng cục Lâm nghiệp và sự phối hợp của các cơ quan khoa học khác... Cơ quan chủ quản là Tổng Cục Lâm nghiệp và VQG Tam Đảo là cơ quan thực hiện.
Mục đích Cụ thể của đề án là thành lập mới một Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật tại VQG Tam Đảo, góp phần cứu hộ, bảo tồn và phát triển các loài sinh vật của vùng Đông bắc Việt Nam đang bị săn bắt, buôn bán, hay do bị mất môi trường sống..., tích cực ngăn chặn tình trạng tiêu thụ, buôn bán, vận chuyển trái phép các loại động, thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường...
Đề án này cũng đặt ra mục tiêu trọng tâm là "thu hút sự quan tâm và chia sẻ kiến thức chuyên môn" của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước với VQG Tam Đảo...
Xác minh thực tế vấn đề, chiều ngày 6-12-2012 phóng viên Báo Hànộimới đã có mặt tại VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc) làm việc với ông Đỗ Đình Tiến (chủ đề án), Giám đốc VQG Tam Đảo, kiêm Giám đốc (phía Việt Nam) của Dự án Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam.
Trả lời câu hỏi của PV về đề án trên, ông Tiến giải thích, mặc dù trong đề án ghi là trung tâm cứu hộ, nhưng thực chất VQG Tam Đảo chỉ dự định xây dựng nhà văn phòng làm nơi giao dịch, cập nhật và cung cấp thông tin về động, thực vật và các hoạt động bảo vệ động vật hoang dã (nếu chỉ như vậy thì làm sao tốn tới hơn 45 tỷ đồng? - PV).
Cũng xoay quanh nội dung của đề án, ông Đỗ Đình Tiến đã không chỉ ra được những hạng mục công trình, hay chi phí phải mua thiết bị, máy móc có giá trị lớn và khi được hỏi về việc sẽ sử dụng số tiền hơn 45 tỷ ngân sách thế nào thì ông Giám đốc VQG Tam Đảo cho biết, chủ yếu ngân sách sẽ được dùng để trả lương và nuôi bộ máy hoạt động trong 5 năm đầu(!?)...
Như vậy có thể nhận định rằng, đây là một đề án không khả thi, mang tính chất hình thức, theo dạng "vẽ ra để tiêu tiền của ngân sách"(?). Bởi lẽ, hiện nay trong khi tại Thung lũng Chắt Dậu, thuộc VQG Tam Đảo đang có một Trung tâm Cứu hộ động vật (gấu) hoàn chỉnh, hoạt động hiệu quả với 77 nhân viên cùng sự hỗ trợ xây dựng và điều hành chuyên nghiệp của Tổ chức Động vật Châu Á (AAF), thì tại sao lại phải xây dựng thêm một trung tâm cứu hộ nữa ở VQG Tam Đảo, gây ra lãng phí không đáng có, trong khi tiền ngân sách là tiền của nhân dân, đâu có phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống?
Dự án Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam bắt đầu được triển khai xây dựng từ năm 2006 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 2114/TTg - QHQT và Quyết định 1269/QĐ - BNN - HTQT của Bộ NN&PTNT.
Kết quả đánh giá sau ba năm gần đây, dự án đã xây được 2 nhà gấu đôi, 1 nhà gấu con, trạm xử lý nước thải, hàng rào khu bán hoang dã, hệ thống cấp điện, nước và chiếu sáng; Tổ chức cứu hộ và chăm sóc 104 cá thể gấu bị săn bắt vận chuyển và nuôi nhốt trái phép, góp phần bảo vệ ĐVHD, khuyến khích người dân thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật; Đón hơn 3.000 lượt khách trong nước và quốc tế tới tham quan, làm phim về trung tâm, qua đó góp phần tăng cường nhận thức đúng trong dư luận quốc tế về công tác bảo tồn động, thực vật tự nhiên tại Việt Nam.
Dự án "Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam" tại VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc) có tổng kinh phí đầu tư cho hai giai đoạn là hơn 3,3 triệu USD (tương đương 70 tỷ đồng), bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Tổ chức động vật Châu Á (AAF).
Dự án "Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam" được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 "Xây dựng Trạm Cách ly cứu hộ gấu" bắt đầu từ 2006 và kết thúc năm 2008. Giai đoạn 2 là phần còn lại của trung tâm (dự tính triển khai từ 2009 đến 2014).
Sau đó, Tổ chức AAF sẽ duy trì trung tâm thêm 15 năm trước khi bàn giao toàn bộ cho phía Việt Nam quản lý. Cơ quan chủ quản là Bộ NN&PTNT, chủ dự án là Cục Kiểm lâm và VQG Tam Đảo; Tổ chức AAF vừa là nhà tài trợ, vừa là đơn vị đồng thực hiện dự án...
Ngoài chức danh Giám đốc VQG Tam Đảo, ông Đỗ Đình Tiến còn được Bộ NN&PTNT giao đại diện cho phía Việt Nam, làm giám đốc Dự án Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam.
Tuy nhiên, theo ông Tuấn Bendixsen, Trưởng đại diện của AAF tại Việt Nam (cũng là đồng giám đốc phía nước ngoài), trong quá trình triển khai dự án trung tâm cứu hộ này, thì "mối quan hệ hữu hảo" giữa đôi bên chỉ duy trì được thời gian đầu. Sau đó là những nảy sinh dẫn tới tình trạng "cơm không lành, canh không ngọt".
Ban đầu là bằng công văn số 124/VTĐ, ngày 27-9-2011, ông Giám đốc VQG Tam Đảo đã giới thiệu một công ty bên ngoài (Công ty CP Tập đoàn Trường Giang) vào với dự định thuê đất để đầu tư kinh doanh du lịch sinh thái (trong đó có ảnh hưởng tới phần đất của Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam), sau đó là việc lập một đề án mới về việc thành lập Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật cũng tại Thung lũng Chắt Dậu thuộc VQG Tam Đảo.
Trên thực tế, Công ty CP Tập đoàn Trường Giang đã vào đo đạc, xác định mốc giới cho dự án của mình tại Thung lũng Chắt Dậu, nhưng rất may là tình hình kinh tế khó khăn, thị trường BĐS trầm lắng nên bản thân Công ty CP Trường Giang đã buộc phải bỏ cuộc, không đủ sức đầu tư để xây dựng Khu Du lịch sinh thái trong VQG Tam Đảo, nếu không thì Trung tâm Cứu hộ gấu chắc đã bị giải tán...
"- Thực chất đây là vấn đề tranh chấp đất đai với Dự án Cứu hộ Gấu, - Ông Trưởng đại diện của Tổ chức AAF nhận định, - Ông Giám đốc VQG Tam Đảo đang muốn tìm cách đẩy toàn bộ Trung tâm Cứu hộ gấu ra khỏi vùng dự án để ông lấy đất dành cho một dự án khác...".
Tuy nhiên, khi trao đổi với phóng viên Hànộimới ông Giám đốc VQG Tam Đảo Đỗ Đình Tiến lại luôn khẳng định rằng, việc Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam sẽ phải di dời, hoặc ngừng hoạt động là vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia (?). Vì vậy, theo ông Tiến, tốt nhất là AAF nên sớm chuyển giao toàn bộ quyền quản lý ở Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam cho VQG Tam Đảo.
Tuy nhiên, với những thông tin đã nêu trên thì quả thực, hoạt động của Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam không biết sẽ ra sao, nếu "rơi vào tay" ông Giám đốc VQG Đỗ Đình Tiến và khi đó ai sẽ cứu Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam? (Hà Nội Mới 4/1)đầu trang(
"Đồng Nai là tỉnh có tốc độ công nghiệp hoá rất mạnh khiến nhiều ao hồ, kênh rạch, sông suối bị ô nhiễm, không ít loài có nguy cơ tuyệt chủng. Để cho con cháu sau này biết về sự phong phú, đa đạng của các loài cá, sinh vật thuỷ sinh ở Đồng Nai nên chúng tôi đã xây dựng bảo tàng cá… nhằm sưu tầm, gìn giữ các loài cá quý. Đầu xuân 2013 bảo tàng sẽ ra mắt công chúng…", ông Lưu Văn Du, Giám đốc Bảo tàng Đồng Nai tâm sự.
Nói về cái cớ để thực hiện Bảo tàng cá, ông Du bộc bạch: Những năm qua do tình trạng phát triển khu công nghiệp ở Đồng Nai khá ồ ạt trải đều trên toàn tỉnh, dẫn tới tình trạng khá nhiều loài cá, tôm, thuỷ sinh bị giảm sút số lượng, trong đó có không ít loài đã bị hoặc có nguy cơ diệt vong như cá duồng, tráp, tỳ bà...
Chính vì thế, với mong muốn gìn giữ và có phương án bảo tồn các loài cá quý, từ nhiều năm qua chúng tôi đã phối hợp với các cơ quan chức năng và Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (Sở NN-PTNT)… tiến hành đánh bắt các loài cá đang sinh sống trên địa bàn về bảo quản.
Bà Lâm Thị Vân Thoa, Trưởng phòng Kiểm kê bảo quản Bảo tàng Đồng Nai cho biết, việc thực hiện Bảo tàng cá được thực hiện mỗi năm sưu tầm một chút, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để đạt đựơc hiệu quả tốt nhất.
Vì thế, những loài thuỷ sinh nào có nguy cơ bị tận diệt thì ưu tiên làm trước, còn những loài tôm, cá, cua ốc… còn phổ biến thì sẽ thực hiện sau. Bà Thoa cũng cho biết, do môi trường nước nhiều nơi ngày một ô nhiễm nên càng ngày nhiều loài cá ít dần và có nguy cơ bị xoá sổ…
Chính vì thế, nếu mình làm tốt Bảo tàng cá sẽ là nơi cảnh báo cho các ngành chức năng quan tâm hơn đến việc gìn giữ và bảo vệ các loài thủy sinh vốn rất phong phú ở Đồng Nai nói riêng trước nguy cơ bị xoá sổ.
Thoạt nhìn vào Bảo tàng cá chúng tôi cứ ngỡ các loài thủy sinh này còn… sống vì mỗi loài đựơc đặt trong một tủ kính có chứa dung dịch lỏng màu trong vắt như nước và được bài trí cầu kỳ nên nhìn rất tự nhiên. Tuy nhiên khi nhìn kỹ thì mới biết chúng đã chết. Thấy chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, bà Thoa cười cho biết: Chúng chết hết cả rồi thì mới gọi là… bảo tàng chứ, nếu còn sống thì sao gọi là bảo tàng?
Quả thật, nếu nhìn lướt qua thì khó ai có thể nhận biết được các loài thuỷ sinh đó đã chết. Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Trưởng phòng Nghiên cứu sưu tầm (Bảo tàng Đồng Nai), người đã nhiều năm gắn bó nơi này nói: Việc gìn giữ này công phu lắm, nếu không cầu kỳ tỉ mẩn thì các loài thủy sinh khó mà còn nguyên vẹn đựơc hình dạng, màu sắc.
Ông Lưu Văn Du cho biết thêm, mặc dù việc thực hiện Bảo tàng cá còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt như kinh phí, công tác nghiên cứu, bảo quản hoặc tìm ra các loài thuỷ sinh quý hiếm… Song nhờ sự đam mê và mong muốn có một “thế giới thuỷ sinh Đồng Nai thu nhỏ” nên chúng tôi vẫn cố gắng duy trì thực hiện để làm sao có được một bảo tàng cá đầy đủ nhất, sinh động nhất.
Theo bà Nguyệt, từ năm 2006 Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm mẫu động vật thủy sinh. Bảo tàng cá góp phần làm phong phú nội dung nghiên cứu về thuỷ sinh cũng như là nơi để tuyên truyền “mắt thấy tai nghe” cho người tham quan. Qua nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm, tiến hành thu thập mẫu động vật thủy sinh, đến nay đã có tổng cộng 815 tiêu bản các loại thủy sản được trưng bày. Trong đó, hệ cá có 62 loài, còn lại là giáp xác như tôm, cua và nhuyễn thể… Bà Nguyệt cho biết, chúng tôi đã thu thập được nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao với sản lượng khai thác lớn như cá lăng, cá mú, cá chẽm, chình mun, bống tượng...
Nói về quá trình sưu tầm mẫu động vật thủy sinh ở Đồng Nai, bà Nguyệt ví von việc thực hiện không kém gì bảo quản… cổ vật. Công đoạn đầu tiên là thu thập các mẫu cá ở các các vùng trong tỉnh, sau đó lấy mẫu đưa về phòng thí nghiệm để xử lý, bảo quản theo đúng kỹ thuật. Đặc biệt, các mẫu cá khi thu thập về phải được bảo tồn nguyên vẹn hình dáng, từ cái vây cho đến cái vẩy, không để mẫu phẩm bị dị hình, dị vật. Ngoài ra, các mẫu đem về bảo quản phải ở độ tuổi trưởng thành nhất.
Bước kế tiếp là phải xử lý tiêu bản mẫu thủy sinh sao cho nó cố định bằng cách bơm phọc môn nguyên chất vào các vị trí đặc thù, những chỗ dễ gây thối rữa như miệng, mang, bụng… Sau đó, đặt chúng vào thùng thủy tinh tương ứng với kích thước của mẫu cá, hay tôm như chúng đang vùng vẫy, bơi lội ngoài tự nhiên sông nước.
Cuối cùng là khâu xây dựng cho chúng một “hồ sơ lý lịch” với đầy đủ các thông tin khoa học như tên loài, nơi phân bổ, cân nặng, giá trị, cho đến kỹ thuật nuôi trồng… để người tham quan biết được rõ. Hồi đầu mới thực hiện, do chưa có kinh nghiệm nên nhiều mẫu bị hỏng. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/1)đầu trang(
Sở Tài nguyên và Môi trường vừa báo cáo UBND tỉnh về kết quả sơ bộ thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất tại 5 công ty nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, hiện các đơn vị trên được giao khoảng 23.147 ha, trong đó có 8.754 ha diện tích rừng tự nhiên sản xuất, 14.393 ha đất trồng rừng sản xuất và đất phi nông nghiệp. Diện tích này đã giảm nhiều so với trước đây (110.943 ha). Tuy nhiên, theo ông Phí Quang Hiển, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, phần lớn đất được giao các đơn vị quản lý sử dụng chưa có hiệu quả. Các đơn vị chỉ mới đầu tư đưa vào sử dụng với diện tích 5.228,2 ha/14.393,38 ha đất trồng rừng sản xuất và đất phi nông nghiệp, đạt 36,32% tổng diện tích đã giao.
Các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ, Công ty Nông nghiệp 24/3 có diện tích đất đưa vào sử dụng tương đối (trên 73%), 3 đơn vị còn lại là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tô, Công ty lâm nghiệp Trà Tân và Lâm trường Trà Bồng đều có diện tích đưa vào sử dụng rất thấp (lần lượt là 20,27%, 19,95% và 19,4%).
Một vấn đề cũng đáng quan tâm là hiện nay trong tổng diện tích được giao cho các công ty nông lâm trường có khoảng 2.046,47 ha (chiếm 8,84%) đã bị người dân lấn chiếm, trong đó nhiều nhất là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tô với diện tích 900,6 ha, tiếp đến là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ: 665,71 ha, Công ty lâm nghiệp Trà Tân: 316 ha,…
Có nhiều nguyên dân dẫn đến tình trạng này, trong đó cơ bản là do diện tích đất được giao cho các đơn vị quản lý, sử dụng còn tương đối lớn, lại không tập trung, nằm phân tán rải rác, trong khi đó ranh giới phân định, cắm mốc giới thực địa còn lẫn lộn, chưa rõ ràng,… nên vượt quá tầm quản lý và năng lực đầu tư sử dụng của đơn vị được giao.
Trước thực trạng trên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ yêu cầu các công ty nông, lâm nghiệp chủ động rà soát lại quỹ đất được giao (xác định diện tích sử dụng có hiệu quả, chưa sử dụng, bị lấn chiếm,…) để xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng trong thời gian tới, trong đó có việc lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đảm bảo việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp được giao phải đúng quy định và có hiệu quả.
Đồng thời giao các Sở, ngành, địa phương liên quan tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc trong việc quản lý, sử dụng đất của công ty nông lâm nghiệp, trong đó có việc rà soát thu hồi diện tích đất quản lý sử dụng không hiệu quả để giao lại cho các địa phương theo quy định.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu các công ty nông, lâm trường cần đổi mới, tổ chức lại phương án sản xuất kinh doanh theo hướng tinh gọn, giảm bớt diện tích quản lý sử dụng đất, mở rộng phát triển các dịch vụ, tư vấn trong việc trồng rừng, phát triển rừng,…để nâng cao hiệu quả hoạt động. (Theo Quangngai.gov.vn 3/1)đầu trang(
Hiện tỉnh Đắk Lắk đang triển khai thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn đàn voi trên địa bàn.
Voi ở Đắk Lắk là loài voi Châu Á, có tên khoa học là Elephas maximus, là loài thú lớn thứ hai trên đất liền sau voi Châu Phi. Đắk Lắk là nơi có số lượng voi nhiều nhất trong cả nước, đồng thời cũng là địa phương có truyền thống săn bắt, thuần dưỡng voi hoang dã thành voi nhà từ lâu đời. Voi nhà thường được xem là biểu tượng gắn liền với đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, tinh thần của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng.
Tuy nhiên, do bị tác động của con người trong quá trình khai thác lâm sản cùng với việc chuyển đổi một số diện tích đất rừng sang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp dài ngày..., môi trường sống của voi hoang dã (chỉ còn cư trú tại 3 huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’Leo) ngày càng thu hẹp.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, năm 1980 đàn voi hoang dã trên địa bàn có trên 550 con thì nay chỉ còn từ 80 đến 110 con. Từ năm 1980 trở lại đây đã có 15 con voi rừng chết do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc voi chết do bị săn trộm lấy ngà.
Đối với voi nhà, năm 1980, tỉnh Đắk Lắk có 502 con thì hiện nay chỉ còn 51 con, tập trung ở các huyện Buôn Đôn, Lắk. Số voi nhà hiện do 4 công ty du lịch quản lý với số lượng 16 con, còn lại các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ nuôi dưỡng, quản lý, sử dụng 35 con. Voi nhà ở Đắk Lắk chủ yếu sử dụng vào mục đích phục vụ khách du lịch và tham gia các lễ hội văn hoá truyền thống của địa phương.
Tuy nhiên, do khai thác quá mức, ăn uống có mức độ, thiếu dinh dưỡng, trong khi đó việc chăm sóc sức khoẻ cho voi còn nhiều hạn chế nên voi gầy, ốm, nhiều con bị kiệt sức. Trong 10 năm trở lại đây, voi nhà không sinh sản, nguy cơ tuyệt chủng rất cao.
Khắc phục những bất cập trên, hiện nay, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện một số chính sách về hỗ trợ kinh phí cho các chủ voi trong thời gian voi giao phối, mang thai, sinh sản, voi con sinh ra thuộc quyền sở hữu của chủ voi cái.
Hàng năm vào mùa động dục (tháng 4 và tháng 10), Trung tâm bảo tồn voi của tỉnh tổ chức cho các chủ voi đưa những cá thể voi nhà trong độ tuổi sinh sản vào chăm sóc trong các khu chăn thả tập trung (toàn tỉnh hiện có 23 voi cái và 15 voi đực đang trong độ tuổi sinh sản từ 15 đến 45 tuổi). Khi được chăm sóc trong khu chăn thả tập trung, đảm bảo nguồn thức ăn, nước uống, được các cơ quan chuyên môn chăm sóc sức khoẻ, một số voi cái có cơ hội gặp gỡ voi đực để giao phối, mang thai, sau thời gian từ 22 đến 24 tháng, voi sẽ sinh con.
Trong thời gian voi nhà động dục, giao phối, tỉnh Đắk Lắk hỗ trợ kinh phí 30 ngày trên một chu kỳ động dục, với mức hỗ trợ là 500.000 đồng/ngày cho mỗi con voi cái. Thời gian voi mang thai, sinh sản, nuôi con hỗ trợ liên tiếp 28 tháng (22 tháng mang thai), với mức hỗ trợ từ 300.000 đến 600.000 đồng/ ngày.
Đối với các chủ voi đực, hỗ trợ mỗi con voi đực trong chu kỳ động dục, giao phối là 600.000 đồng/ ngày trong suốt chu kỳ 30 ngày. Các nài voi chăm sóc voi cũng được hỗ trợ 200.000 đồng/ngày/ nài voi.
Tỉnh cũng quy hoạch các khu chăn thả tập trung cho voi nhà tại hai huyện Buôn Đôn và Lắk. Đây là những địa phương hiện còn những khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có đa dạng các loài cây làm thức ăn cho voi, đồng thời, các cơ quan chức năng thăm khám chữa bệnh định kỳ cho voi nhà (Nhà nước hỗ trợ 100% tiền công khám và tiền thuốc chữa bệnh cho voi)...
Tỉnh Đắk Lắk cũng tiến hành quy hoạch các khu bảo tồn sinh cảnh, tạo nguồn thức ăn, nước uống cho voi hoang dã tại các vùng Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’Leo. Tại các địa bàn, voi hoang dã thường xuất hiện, tỉnh thành lập các tổ bảo vệ có trang bị loa, kẻng, đèn pin, ống đốt đất đèn... để xua đuổi voi về lại rừng và mức hỗ trợ 200.000 đồng/tổ/năm...
Khi hoa màu của người dân bị voi phá hoại, tỉnh hỗ trợ 100% giá trị tài sản bị thiệt hại. Người bị voi tấn công được Nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám, thuốc điều trị vết thương và được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động đối với phần (tỷ lệ) sức khoẻ bị tổn thương. Trường hợp bị tử vong thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất như đối với người lao động trong các cơ quan Nhà nước bị tai nạn lao động tử vong...
Ngoài ra, tỉnh Đắk Lắk cũng đã xây dựng các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, quy hoạch đất đai các khu chăn thả tự nhiên, cơ sở hạ tầng bệnh viện, xử lý nghiêm các đối tượng gây hại, săn bắn trái phép voi... nhằm chăm sóc, bảo tồn tốt đàn voi trên địa bàn tỉnh. (Tin Tức 4/1)đầu trang(
Trong chuyến điều tra thực địa diễn ra vào giữa tháng 12/2012, nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã phát hiện một khu vực rừng dưới chân đỉnh núi Pha Luông thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (Sơn La) chứa các loài cây lá kim quý hiếm gồm đỉnh tùng cephalotaxus và 2 loài dẻ tùng amentotaxus.
Đỉnh tùng là loài cây lá kim được đánh giá ở mức sẽ nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng như trong danh lục đỏ củ IUCN.
Đối với loài dẻ tùng sọc rộng là loài cây rất hiếm, được xếp ở mức đe doạ cao (đang nguy cấp EU) trong danh sách đỏ của IUCN. (Khoa Học&Đời Sống 3/1)đầu trang(
Ông Võ Thanh, Giám đốc Sở Công thương Đắk Lắk, vừa cho biết trên địa bàn tỉnh hiện có 28 dự án thủy điện (tổng công suất 981,7MW) được cấp phép đầu tư, trong đó 16 dự án đã đưa vào vận hành, 4 dự án đang xây dựng, 3 dự án đã được thẩm định hồ sơ thiết kế và 5 dự án đang lập hồ sơ thiết kế.
Các dự án thủy điện ở Đắk Lắk đang ảnh hưởng nhiều đến tình hình đất đai và đời sống người dân của tỉnh. Có 7.451 hộ dân/29.879 nhân khẩu bị ảnh hưởng, 529 hộ dân/1.564 nhân khẩu phải di dời, tái định cư, và chiếm tới 10.095ha đất (trong đó có 2.157ha rừng các loại). Tổng diện tích rừng phải trồng lại của các dự án thủy điện là 845,69ha, nhưng đến nay, chủ đầu tư các dự án thủy điện chỉ mới trồng được 63ha.
Nguyên nhân do một số chủ đầu tư không thực hiện cam kết trồng lại rừng và cũng thiếu quỹ đất để trồng bù lại rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 4/1)đầu trang(
Biến đổi khí hậu (BĐKH) và những tác động của nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều địa phương ven biển. Và một trong những giải pháp căn cơ mà các địa phương ven biển ĐBSCL đã và đang thực hiện là trồng rừng, khôi phục lá chắn rừng phòng hộ ven biển.
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), tổng diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp ven biển các tỉnh ĐBSCL là 120.430ha. Trong đó đất có rừng 91.906ha, đất chưa có rừng 28.524ha. Qua khảo sát, hiện trạng rừng ngập mặn (RNM) ĐBSCL manh mún, không liền vùng, liền khoảng mà phân bố rải rác, ở các tỉnh Cà Mau (70,2%), còn lại 29,8% phân bổ rải rác dọc theo ven biển của 7 tỉnh (Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tiền Giang, Kiên Giang).
Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, trong tổng số gần 1.260km đê biển của vùng ĐBSCL hiện có 479km chưa có đai rừng phòng hộ. Nhiều đoạn bờ biển và cửa sông đang bị xói lở nghiêm trọng với tổng chiều dài hơn 310km, tập trung ở Cà Mau, Kiên Giang, Tiền Giang, Bến Tre... Ngoài ra, tình trạng nuôi trồng, khai thác thủy sản tự phát cũng là những nguyên nhân khiến hệ sinh thái RNM bị đảo lộn, diện tích và chất lượng không ngừng suy giảm.
Trước tác động của BĐKH, nước biển dâng và tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, việc quản lý, bảo vệ và phát triển RNM nhằm chống xói lở, bảo vệ đê biển rất cấp bách. Các địa phương ở vùng ĐBSCL ngoài thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng của Quốc gia đã tranh thủ phối hợp thực hiện các dự án hợp tác phát triển rừng tại các vùng đất ngập nước ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh… Qua đó góp phần bảo vệ và phát triển RNM tốt hơn.
Bên cạnh những nỗ lực từ các Bộ, ngành và cấp chính quyền trong việc khôi phục RNM, cư dân vùng ven biển ĐBSCL đã hiểu ra những giá trị từ biển và đang ra sức bảo vệ rừng, làm giàu từ rừng. Như ở khu vực Bãi Ngang (xã Long Hòa, huyện Châu Thành, Trà Vinh), hơn 10 năm trước, nạn phá rừng đã gây sạt lở nghiêm trọng khu vực này. Song, giờ Bãi Ngang đang hồi sinh nhờ chính sách giao khoán rừng... (Công An Nhân Dân 3/1)đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 750 của Thủ tướng Chính phủ về việc “quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 tại Tây Nguyên”, ngày 3/11/2009, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 3061phê duyệt quy hoạch phát triển cây cao su và cấp giấy phép cho các doanh nghiệp khảo sát, lập dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2009-2020.
Sau gần 4 năm triển khai, việc thực hiện chương trình này đã và đang nảy sinh nhiều bất cập…
Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển trồng rừng, cải tạo rừng, trồng cao su… đến nay, tỉnh Đắk Lắk đã cho phép 90 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh khảo sát, lập 104 dự án đầu tư.
Việc cấp phép ồ ạt cho các doanh nghiệp đến Đắk Lắk dưới danh nghĩa đầu tư trong khi nhiều chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ rừng đã để rừng bị phá, lấn chiếm nhưng không có biện pháp ngăn chặn khiến hàng ngàn hécta rừng bị xâm hại một cách không thương tiếc. Và sự ồ ạt của các dự án này đã kéo theo phản ứng dây chuyền khiến một số người dân tổ chức chiếm đất, phá rừng trái phép trong khu vực dự án để lấy đất hoặc để đòi chủ dự án bồi thường, tạo áp lực lớn đến công tác bảo vệ rừng.
Theo số liệu thống kê, sau gần 4 năm thực hiện, đến nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chỉ mới trồng vỏn vẹn hơn 7.235ha cao su và gần 8.000ha rừng. Tiến độ trồng cao su, trồng rừng thì diễn ra theo kiểu “rùa bò” so với kế hoạch, còn việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi lại được các doanh nghiệp triển khai rất nhanh chóng.
Với ngần ấy thời gian, hơn 44.000.000m3 gỗ trên diện tích 7.343ha rừng đã bị khai thác. Chỉ tính riêng từ năm 2008 đến tháng 9/2012, toàn tỉnh Đắk Lắk có gần 10.000ha rừng bị tàn phá và lấn chiếm, trong đó có gần 3.000ha rừng và đất lâm nghiệp bị chặt phá và lấn chiếm thuộc quản lý của các dự án.
Đơn cử như dự án đầu tư quản lý bảo vệ rừng và trồng cây mít do Công ty Cổ phần Vinamit làm chủ đầu tư. Theo đó, ngày 8/12/2010, UBND tỉnh Đắk Lắk có quyết định thu hồi 925,83ha đất tại tiểu khu 294, 295 thuộc địa bàn xã Cư Mlan, huyện Ea Súp của Công ty Lâm nghiệp Chư Ma Lanh để giao cho công ty này thực hiện dự án.
Tuy nhiên, theo kết quả rà soát hiện trạng về rừng và đất lâm nghiệp của dự án vào cuối tháng 6/2012 cho thấy, công ty này đã để mất 741,6ha rừng. Trong khi đó chỉ trồng vỏn vẹn được 58ha cao su, 5,5ha điều và 133,4ha hoa màu khác. Trước thực trạng trên, ngày 23/7/2012, UBND tỉnh Đắk Lắk có quyết định thu hồi số diện tích trên giao lại cho Công ty Lâm nghiệp Chư Ma Lanh để sử dụng vào mục đích đất rừng sản xuất. Đây cũng là kết cục buồn của một dự án sau hai năm giao đất, giao rừng nhưng rừng nghèo đã được khai thác xong, còn việc trồng thì chẳng được là bao.
Tương tự, trong quá trình triển khai khảo sát, lập dự án, một số doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, nhiều doanh nghiệp lợi dụng chủ trương này xin dự án rồi mua bán, sang nhượng trái phép…
Cụ thể, Công ty Lộc Phát được thuê gần 800ha đất rừng tại tiểu khu 104, 106 xã Ea Hiao, huyện Ea H'leo để trồng rừng nhưng đã sang nhượng cho doanh nghiệp khác. Việc làm này không đúng với dự án đã được thẩm định và quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh.
Câu chuyện về quản lý bảo vệ rừng chưa có hồi kết thì sự góp mặt của những dự án trồng rừng như trên ít nhiều cũng đã tạo thêm áp lực cho chính quyền cơ sở. Đơn cử như tại huyện Ea Súp, với hơn 20 dự án chuyển đổi từ rừng sang trồng cao su, các dự án trồng rừng, cải tạo rừng và các dự án nông lâm nghiệp khác, nội riêng công tác quản lý nhân khẩu, bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn cũng rất phức tạp.
Từ những bất cập, vướng mắc nảy sinh trong thực tế, UBND tỉnh Đắk Lắk đã thành lập các đoàn kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng đã được tỉnh giao đất, cho thuê đất, thuê rừng. Theo đó, tỉnh đã thu hồi 32 dự án không có hiệu quả.
Hiện tại còn có 57 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đang thực hiện 71 dự án tại các huyện Ea Súp, Ea Hleo, Buôn Đôn, Ea Kar, Krông Năng. Tuy nhiên, trong số này, không ai có thể kiểm nghiệm được về năng lực tài chính, kinh nghiệm trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng của các doanh nghiệp là như thế nào?.
Bên cạnh đó, việc những chủ dự án không thực hiện đúng quy định, để mất rừng nhưng chưa có đơn vị nào bị xử lý, đứng ra chịu trách nhiệm dẫn đến các doanh nghiệp xem thường, dẫn đến để mất rừng như một lẽ đương nhiên. Thậm chí, có dư luận cho rằng, nếu không được xử lý triệt để các doanh nghiệp sẽ lại tiếp tục vi phạm vì cho rằng người khác làm được thì mình cũng làm được.
Quả bóng mất rừng từ những dự án chuyển đổi rừng đang được đẩy qua đẩy lại giữa chính quyền địa phương - doanh nghiệp - cơ quan chức năng trong ngành lâm nghiệp. Trái bóng ấy vẫn lăn thì cây rừng vẫn bị triệt hạ, trong khi biến đổi khí hậu do mất rừng đang diễn ra trước mắt, còn trồng lại rừng, cũng là chỉ rừng nguyên liệu sản xuất giấy, để có những cánh rừng nguyên sinh, phải mất đến hàng chục, hàng trăm năm. (Công An Nhân Dân 3/1)đầu trang(
Ông Đoàn Thế Nam, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, nguyên Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Phước (TTUDTBKH&CN) bị kỷ luật vì liên quan đến vụ việc phá trái phép 10ha rừng tràm bán ngập gần 10 năm tuổi có chức năng phòng hộ, chống xói mòn tại lòng hồ Thủy điện Thác Mơ (thị xã Phước Long).
Ngày 2/1, tin từ UBND tỉnh Bình Phước cho biết, vừa ký văn bản gửi cơ quan chức năng triển khai kế hoạch tổ chức xem xét, xử lý kỷ luật đối với ông Đoàn Thế Nam, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, nguyên Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Phước (TTUDTBKH&CN) vì liên quan đến vụ việc phá trái phép 10ha rừng tràm bán ngập gần 10 năm tuổi có chức năng phòng hộ, chống xói mòn tại lòng hồ Thủy điện Thác Mơ (thị xã Phước Long).
Như đã thông tin, năm 2002, UBND tỉnh Bình Phước quyết định cho trồng cây tràm Melaleuca trên 16,31ha đất xung quanh và trên 2 ốc đảo nhỏ của lòng hồ Thủy điện Thác Mơ để phòng hộ và chống xói mòn đất.
Ngày 6/12/2011, UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận cho TTUDTBKH&CN khai thác rừng tràm trên với mục đích khai thác sản phẩm là rừng tràm bán ngập để thu hồi kinh phí thực hiện đề tài. Ngày 15/12/2011, ông Đoàn Thế Nam, lúc này là Giám đốc TTUDTBKH&CN ký hợp đồng với Công ty TNHH Đạt Lâm (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) để khai thác rừng tràm.
Trong quá trình các cơ quan làm các thủ tục cần thiết cho việc đốn hạ, UBND tỉnh Bình Phước xét thấy việc phá rừng tràm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống nên ngày 18/4/2012, cơ quan này ra văn bản thu hồi văn bản về thuận cho "phá" rừng tràm trước đó, đồng thời giao Sở KH&CN và các cơ quan chức năng tính toán tỉa thưa hay ngừng phá.
Trong khi chưa được phép thì ngày 4/4/2012, Công ty TNHH Đạt Lâm đã đốn hạ rừng tràm. Ngày 5/5/2012, các cán bộ Hạt Kiểm lâm thị xã Phước Long kiểm tra phát hiện và đình chỉ do chưa có giấy phép khai thác. (Công An Nhân Dân 3/1)đầu trang(
Rừng nguyên sinh A Đăng thuộc thôn A Đăng (xã Tà Rụt, H.Đakrông, Quảng Trị) hơn 1 năm nay đang bị tàn phá một cách dữ dội.
Theo người dân và chính quyền địa phương, tất cả đều là hệ lụy từ khi có một… con đường. Tháng 5.2011, Công ty CP khoáng sản Đông Trường Sơn được Bộ TN-MT cấp giấy phép hoạt động thăm dò vàng tại khu vực rừng A Đăng. Để đưa người và máy móc vào khu vực thăm dò, công ty này đã mở con đường dài hơn 10 km, rộng 5 m. Nhưng sau khi “rút quân”, con đường này bị bỏ ngỏ và trở thành địa bàn hoạt động của lâm tặc.
Tình hình càng “nóng” khi liên tiếp xảy ra các vụ chống trả lực lượng chức năng. Ngày 10.12.2012, khi lực lượng kiểm lâm phối hợp với công an xã thu giữ 2,5 m3 tang vật thì bị 12 lâm tặc dùng gậy, rựa tấn công. Sự việc chỉ vãn hồi khi lực lượng chức năng bắn súng chỉ thiên. Trước đó, 2 kiểm lâm viên cũng bị lâm tặc tấn công trên đường tuần tra. (Thanh Niên 4/1)đầu trang(
Theo cáo trạng, các bị can nguyên là cán bộ Cty CNR Tây Nguyên đã bán quyền mua gỗ cho các doanh nghiệp (DN), cá nhân không phải là đối tượng được mua gỗ theo chương trình của Chính phủ, tức bán gỗ sai đối tượng.
Nhưng Chính phủ và Bộ NNPTNT lại không quy định đối tượng được mua gỗ là những DN, cá nhân cụ thể nào...
Theo Cơ quan CSĐT Bộ CA, từ năm 1998 - 2006, có 209 DN và cá nhân ở 28 tỉnh, thành phố mua gỗ chỉ tiêu của Cty CNR Tây Nguyên. Cụ thể, khu vực Nam Bộ có 120 DN mua hơn 81.164m3, duyên hải miền Trung có 38 DN mua 38.922m3, Tây Nguyên có 40 DN mua hơn 31.500m3, miền Bắc có 11 DN mua gần 3.200m3.
Kết luận điều tra, cáo trạng đều cho rằng đây không phải là những DN, cá nhân được mua gỗ thuộc hai chương trình của Chính phủ. Tuy nhiên, trong các văn bản giao nhiệm vụ cho Cty CNR Tây Nguyên, Chính phủ và Bộ NNPTNT không quy định cụ thể DN, cá nhân hay thành phần kinh tế nào được mua gỗ của Cty.
Tại công văn số 654/CP-NN ngày 12.7.2000, Chính phủ quy định “...cung ứng cho nhu cầu của các cơ sở sản xuất để giải quyết việc phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai và đóng tàu đánh cá xa bờ” mà không nói rõ là cơ sở sản xuất nào, thành phần kinh tế nào.
Năm 2008, tại kết luận thanh tra về hai chương trình, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Ngọc Thuật cũng thừa nhận: “Bộ NNPTNT chỉ hướng dẫn về vùng cung ứng... mà chưa có hướng dẫn chi tiết về mục tiêu, đối tượng cung ứng, đối tượng hưởng lợi (người sử dụng)”. Như vậy, cáo trạng nêu Cty CNR Tây Nguyên bán gỗ cho các DN, cá nhân nằm ngoài chương trình là không phù hợp với các tài liệu trên.
Nhiều tài liệu cho thấy vùng cung ứng gỗ là phạm vi cả nước chứ không chỉ duyên hải miền Trung hay ĐBSCL. Cụ thể, ngày 20.9.2001, Bộ NNPTNT có văn bản 2781/PTNL trình Chính phủ, trong đó đề nghị cho Cty CNR Tây Nguyên được thu mua 27.000m3 gỗ tròn từ Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum để kịp thời cung ứng, khắc phục hậu quả thiên tai “cho các địa phương trong cả nước” và được Chính phủ chấp thuận.
Thậm chí, có bằng chứng cho thấy, Cty CNR Tây Nguyên được phép tiêu thụ gỗ ngay tại địa bàn khai thác. Đó là văn bản số 2902/BNN- PTLN ngày 2.10.2001 của Bộ NNPTNT: “Số gỗ còn tồn đọng của kế hoạch cung ứng năm 2000 và 2001... Bộ đồng ý cho Cty CNR Tây Nguyên được tiêu thụ ngay tại địa bàn khai thác và các tỉnh khác trong cả nước”.
Như vậy, không phải toàn bộ số gỗ Cty CNR Tây Nguyên được giao thu mua từ năm 1998 - 2006 đều phải cung ứng cho các tỉnh duyên hải miền Trung và ĐBSCL như cáo trạng xác định.
Cuối cùng, cáo trạng xác định “gỗ đã bị khai thác nhưng không được sử dụng đúng mục đích..., chủ trương bảo vệ rừng, tái tạo rừng bị vi phạm”. Nhưng tại kết luận thanh tra năm 2008, Bộ NNPTNT cho rằng sản lượng gỗ dành cho hai chương trình của Chính phủ cũng nằm trong chỉ tiêu được khai thác hằng năm của các lâm trường, không lạm vào vốn rừng.
Theo Bộ NNPTNT, “đầu cuối” của hàng trăm nghìn mét khối gỗ thuộc hai chương trình do 23 đơn vị cung ứng (có Cty CNR Tây Nguyên) là đều bán cho thị trường tự do. Các DN mua về đều xẻ thành khí, bán cho mọi nhu cầu theo giá thị trường, không phân biệt chương trình gì.
Song, dẫn đến thực trạng trên là vì Nhà nước chưa có chương trình riêng về cung ứng gỗ tròn cho phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và đóng tàu đánh bắt xa bờ như các chương trình 134, 135... Không quy định cụ thể chỉ tiêu pháp lệnh, cơ chế tài chính, vùng địa lý, đối tượng thụ hưởng... (Lao Động 4/1)đầu trang(
Cục Hải quan Đà Nẵng cho biết, đơn vị đang phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên, cơ quan Kiểm lâm TP. Đà Nẵng giám định tên gỗ và xác định khối lượng hàng hóa đối với lô gỗ trắc XK của Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp.
Như đã đưa tin, ngày 19-12-2012, Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp đến Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng nộp hồ sơ làm thủ tục XK lô gỗ Trắc theo tờ khai số 3319/XKD. Theo khai báo của DN, hàng hóa gồm 904 thanh gỗ Trắc xẻ (13,25 m³); 5.643 súc, lóng, thanh gỗ trắc gốc đe, cành, ngọn, lô hàng được đóng trong 2 container 20 feet và 40 feet. Toàn bộ lô gỗ trên được DN mua lại của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải Quảng Trị.
Phát hiện lô hàng trên có dấu hiệu vi phạm, Đội Kiểm soát Hải quan-Cục Hải quan TP.Đà Nẵng đã phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng và Đội Kiểm lâm cơ động- Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng tiến hành kiểm tra toàn bộ lô hàng. Kết quả kiểm tra, tổ công tác phát hiện thiếu so với khai báo 5,316 m³ gỗ trắc xẻ và thừa ra so với khai báo hải quan là 29,4 m³ gốc đe cành ngọn gỗ trắc.
Cục Hải quan Đà Nẵng đã lập biên bản vi phạm và tạm giữ toàn bộ lô hàng của Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ những hành vi vi phạm.
Quá trình xác minh, Cục Hải quan Đà Nẵng phát hiện lô gỗ trên có một hành trình khá phức tạp, lòng vòng qua nhiều khâu, từ lúc NK đến lúc làm thủ tục XK.
Ngày 15-12-2011, Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp đã kí hợp đồng mua bán 904 thanh gỗ trắc xẻ (13,25 m³); 5.643 súc, lóng, thanh gỗ trắc (19,3 m³) cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải.
Ngày 26-12-2011, Trạm Kiểm lâm Lao Bảo đã có Biên bản kiểm tra số 11575/BB-KT, kèm theo lí lịch gỗ cho lô gỗ trắc dalbergia cocchiiesis với chủng loại, khối lượng gỗ nêu trên và xác định gỗ có nguồn gốc từ Lào.
Ngày 27-12-2011, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã làm thủ tục NK lô gỗ trên theo tờ khai số 505/NKD/KTM/NĐ/NK tại Chi cục Hải quan Khu thương mại Lao Bảo. Lô hàng trên được miễn kiểm tra và thông quan với số lượng, chủng loại gỗ theo khai báo. Sau thông quan, toàn bộ số gỗ được đưa về tập kết, bảo quản tại kho hàng của Công ty Minh Quang (Quảng Trị).
Ngày 13-6-2012, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã bán lại lô gỗ trên cho Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp theo hợp đồng mua bán số 04/HĐMB/2012. Trên hồ sơ xuất bán thể hiện khối lượng gỗ phù hợp với số lượng, khối lượng lô hàng NK nhưng tên khoa học của gỗ lại ghi là gỗ trắc Dalbergia Cambodiana Pierre và không có xác nhận của Kiểm lâm, không thể hiện số tờ khai hải quan trên lí lịch gỗ. Sau khi mua lô hàng vẫn để nguyên tại kho của Công ty Minh Quang.
Ngày 5-11-2012, theo hợp đồng số 03/HĐMB Công ty TNHH MTV Mỹ Điệp bán lô gỗ cho Công ty Lucky Panda Limited (Hồng Kong) gồm 904 thanh gỗ Trắc xẻ (13,25 m³); 19,3 m³ gốc đe, cành, ngọn gỗ Trắc. Trên hồ sơ mua bán không thể hiện tên khoa học như trong lí lịch gỗ NK.
Theo Cục Hải quan Đà Nẵng, đây là vụ việc mang tính chất phức tạp, cần xác minh, giám định để xác định rõ vi phạm của các đối tượng có liên quan. (Hải Quan 4/1)đầu trang(
Tối 3.1, hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Kbang (Gia Lai), ông Võ Đình Chinh cho biết: Cơ quan chức năng vừa phát hiện và bắt giữ 61 thớt gỗ hương đã xẻ hộp gần 26m3.
Số gỗ trên được lâm tặc chặt trộm trong Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh thuộc địa phận xã Đăk Roong (Kbang). Cơ quan chức năng sẽ tiến hành kiểm tra, đo đạc số gỗ tang vật bị bắt giữ tại hiện trường. (Nông Thôn Ngày Nay 4/1; Sài Gòn Giải Phóng 4/1)đầu trang(
Kết thúc năm 2012 nhiều dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2013 đã được đưa ra. Dù có đôi chút chênh lệch nhưng tất cả đều có chung nhận định kinh tế thế giới năm 2013 sẽ có MỨC tăng trưởng chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trước những dự báo không mấy khả quan, liệu Việt Nam có tìm thấy cơ hội xuất khẩu trong những thách thức này?
Dù đã có chỗ đứng trên thị trường của 120 nước trên khắp thế giới, song hành trình xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam trong năm 2013 vẫn được đánh giá còn nhiều gian nan.
Những năm gần đây, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) là 3 thị trường dẫn đầu tiêu thụ sản phẩm gỗ Việt Nam với gần 80% tổng sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu. Trong đó EU chiếm 28%, Nhật Bản chiếm khoảng 10%, riêng thị trường Hoa Kỳ chiếm hơn 40% và giữ ở ngôi vị hàng đầu về mức tăng trưởng nhập khẩu đồ gỗ Việt Nam.
Trong năm 2013 này, một số DN đã nhận được đơn hàng đến giữa năm từ các đối tác Hoa Kỳ. Song sức cạnh tranh của hàng Việt Nam tại 3 thị trường này đang có phần giảm sút.
“Các yếu tố đầu vào liên tục tăng khiến giá thành sản phẩm không thể không tăng theo. Điều này khiến sức cạnh tranh của đồ gỗ Việt Nam bị giảm sút nhiều khi xuất khẩu ra các nước trên thế giới” - ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hội kỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA), chia sẻ.
Chưa hết, kể từ tháng 3-2013, quy chế mới của EU về tính hợp pháp của gỗ (FLEGT) sẽ chính thức có hiệu lực. Thực ra khi đáp ứng được Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ từ tháng 4-2010, việc đáp ứng FLEGT sẽ không gây ra nhiều khó khăn cho DN Việt Nam.
Tuy nhiên, điều khiến DN e ngại là đang phải gồng mình với quá nhiều chứng chỉ trong quá trình xuất khẩu, trong khi đơn hàng từ EU chưa có dấu hiệu khả quan do những khó khăn chung của tình hình kinh tế thế giới và khu vực đồng tiền chung châu Âu.
Trước những khó khăn của thị trường truyền thống, việc tìm đến những thị trường mới “dễ tính” hơn đang là lựa chọn của khá nhiều DN trong ngành. Song bài toán đi tìm thị trường mới thực ra không hề đơn giản.
Ông Võ Trường Thành, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành, nói: “Để có thể thâm nhập thị trường mới, DN phải bỏ ra một khoản kinh phí không nhỏ để tìm hiểu thị trường. Trong bối cảnh khó khăn chồng chất, việc phải bỏ thêm kinh phí là điều không đơn giản với nhiều DN”.
Ông Thành cho biết Trường Thành cũng đã từng thất bại khi vào Trung Đông do văn hóa tiêu dùng của họ rất khác.
Tương tự, nếu Nam Phi chấp nhận sản phẩm gỗ của Việt Nam, các nước lân cận lại không. Còn với những thị trường mới thuộc khu vực châu Á như Hồng Công, Ấn Độ, Hàn Quốc, miếng bánh thị phần cũng đang bị chia nhỏ. Trước những khó khăn đó, muốn tồn tại các DN buộc phải tìm mọi cách để duy trì hoạt động, như tổ chức lại dây chuyền để tiết giảm chi phí sản xuất, đa dạng hóa để lấy ngắn nuôi dài.
Trong đó việc quay về thị trường nội địa đang được xem là một mũi tên trúng 2 đích của không ít DN, khi vừa có thể chiếm lại thị trường nội, vừa duy trì hoạt động sản xuất chờ khi xuất khẩu ấm lên. Nhưng thực tế việc quay về thị trường nội có dễ như một số DN toan tính?
Con số 3 tỷ USD (quy mô thị trường nội địa) mà một số DN đưa ra trước đây đang bị không ít ý kiến phản bác bởi thiếu tính thực tế. Theo một số nghiên cứu, người Việt Nam chi tiêu khoảng 11USD/năm cho đồ gỗ. Như vậy, quy mô thị trường chỉ khoảng 1 tỷ USD. Tất nhiên, mức tiêu thụ nội địa có thể tăng nhưng chưa thể nhiều trong vài năm tới.
“Có nhiều ý kiến cho rằng thị trường đồ gỗ Việt Nam đang bị chiếm lĩnh bởi hàng nhập khẩu. Nhưng không hoàn toàn như vậy, vì nếu đi khảo sát sẽ thấy hàng của các cơ sở nhỏ trong nước đang chiếm khá nhiều” - ông Đặng Quốc Hùng nói.
Đồng tình với ý kiến này, ông Võ Trường Thành chia sẻ thêm kinh nghiệm của một DN với 7 năm tham gia thị trường nội địa: “Thị trường trong nước không quá tốt và không quá lớn như nhiều người nghĩ. Cộng thêm việc không một quốc gia nào chỉ sử dụng đồ gỗ trong nước. Chính vì vậy việc quay về thị trường nội không thể bù đắp cho xuất khẩu”.
Gần đây, việc một nhóm DN xuất khẩu lớn của HAWA bắt tay nhau nhằm chiếm lại thị trường nội địa đang nhận được khá nhiều sự quan tâm. Ủng hộ có, nhưng lo lắng cũng không ít vì người ta lo ngại những “ông lớn” này khó tìm được tiếng nói chung.
Quy mô thị trường chưa lớn, nhưng muốn quay về nội địa các DN phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ do phải đầu tư một đội ngũ riêng và thành lập một hệ thống phân phối mới. “Tất cả khiến chi phí bị đội thêm lên” - ông Trần Quốc Mạnh, Chủ tịch Sadaco, giãi bày.
Năm 2013 với các DN trong ngành gỗ sẽ là một thách thức lớn và chưa thể nói trước điều gì khi năm mới vừa gõ cửa. Rất có thể tình hình kinh tế thế giới sẽ ấm lên, đơn hàng của các DN sẽ nhiều hơn vào nửa cuối năm 2013. Song dù thế nào thì chỉ tiêu của năm sau luôn phải cao hơn năm trước. Tuy nhiên vẫn có điểm sáng để chúng ta kỳ vọng, đó là cho đến nay, dù tình hình kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam vẫn luôn cán đích. (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 3/1)đầu trang(
Thời gian gần đây, có nhiều thông tin cho rằng ở xã An Thành (huyện Đak Pơ -Gia Lai) xảy ra tình trạng các khu nhà mồ của đồng bào dân tộc thiểu số bị đào trộm để tìm gỗ sưa. Có mộ thì đào một hố nhỏ, khi phát hiện đúng quan tài làm bằng gỗ sưa thì đào luôn cả ngôi mộ để lấy; nếu không có thì bỏ đó và đi tìm đào các mộ khác.
Ông Đinh Sen-Phó thôn làng Kúk Kon cho biết: Cách đây hơn 20 năm, đây là khu nhà mồ của làng với khoảng gần 100 ngôi mộ và đã được dân làng làm lễ bỏ mả từ lâu lắm rồi, bà con không còn ra chăm sóc hàng ngày nữa và coi như hết trách nhiệm. Làng đã hình thành khu nhà mồ mới gần ngay bên cạnh trên quỹ đất rộng và bằng phẳng, các phần mộ đều được bà con giữ gìn sạch đẹp.
Còn chuyện đóng quan tài chôn người chết cũng chỉ bằng các loại gỗ tạp thôi, có nhà khá hơn thì vào rừng tìm được gỗ quý như căm xe, cà chít... chứ làm gì có gỗ sưa. Các loại vật dụng chôn theo người chết cũng chỉ là dao, rựa, xoang nồi, chén bát, ghè... và những thứ này cũng đập bể, đập méo trước khi chôn theo người chết.
Ngoài khu nhà mồ cũ của làng Kúk Kon bị đào bới, các khu nhà mồ còn lại của các buôn làng dân tộc khác trong xã đều “bình yên vô sự”, không có tình trạng như ở làng Kúk Kon. Bởi các khu nhà mồ này vẫn còn có sự chăm sóc của người sống đối với người đã chết, hàng ngày họ đều tranh thủ thời gian ra nhà mồ để cho người chết ăn uống và sửa sang lại từng phần mộ.
Theo quan niệm của người Bahnar, người chết nhưng linh hồn của họ vẫn còn sống và thường xuyên về làng sinh hoạt chung với cộng đồng, nên phải biết chăm sóc cẩn thận cho đến khi làm lễ bỏ mả.
Ông Phạm Mạnh Tiền- Phó Bí thư Đảng ủy xã khẳng định: Các đối tượng đào bới ở khu nhà mồ cũ của làng Kúk Kon không phải để tìm gỗ sưa như tin đồn thất thiệt, mà chính là đào để lấy sắt vụn như xoang nồi, dao rựa... chôn theo người chết mang bán kiếm tiền tiêu xài.
Cũng có thể các đối tượng này tưởng rằng, các vật dụng chôn theo người chết có cả cồng, chiêng quý nên ra sức đào bới để tìm kiếm. Có những phần mộ mới phát hiện bị đào bới trong thời gian gần đây và cũng có không ít ngôi mộ đã bị đào bới từ những năm trước.
Được biết, không riêng gì ở trên địa bàn huyện Đak Pơ mà trước đây ở một số địa bàn khác cũng có tình trạng này, nhưng không nhiều và cũng đã bắt được một số đối tượng và đưa ra khởi tố trước pháp luật. (Người Lao Động 3/1) đầu trang(
Chiều 2.1, tin từ Công an huyện Diễn Châu (Nghệ An) cho biết vừa phát hiện, bắt giữ một cá thể beo nặng trên 10 kg được nuôi nhốt trong nhà dân.
Theo đó, vào sáng 2.1, lực lượng chức năng huyện Diễn Châu đã tổ chức bắt giữ một cá thể beo được nuôi nhốt tại nhà ông Nguyễn Văn Đông (SN 1960), trú tại xóm Ngọc Tân, xã Diễn Ngọc.
Tại cơ quan điêu tra, ông Đông khai đã đưa con beo này từ một huyện miền núi Nghệ An về nuôi hơn 2 năm qua.
Hiện, Công an huyện Diễn Châu đang phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa phương để tìm hướng xử lý.
Trước đó, sáng 1.1, lực lượng liên ngành huyện Yên Thành (Nghệ An) cũng đã phát hiện, bắt giữ một cá thể hổ nặng 200 kg được nuôi nhốt trong nhà dân ở xã Đô Thành. Cá thể hổ này đã được bàn giao cho Vườn quốc gia Pù Mát nuôi giữ vào sáng 2.1. (Nông Thôn Ngày Nay 3/1)đầu trang(
Tối 3-1, Trung tá Vương Khả Thạch, Đồn trưởng Đồn Biên phòng 567 đóng tại huyện miền núi Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh cho biết, liên tiếp trong các ngày gần đây 1 đàn voi rừng trong vườn quốc gia Vũ Quang đã xuất hiện tại địa phận xã biên giới Hương Điền, Hương Quang và phá hỏng 2 biển báo quy chế vào khu vực biên giới.
Đàn voi này húc gãy đỗ cột điện, làm đứt tuyến cáp quang của viễn thông gây tê liệt thông tin liên lạc suốt nhiều giờ liền.
Đàn voi này có khoảng 4 con và đều là voi cái, thường xuất hiện vào khoảng thời điểm từ 20 giờ 30 đến 24 giờ. Và cứ khoảng 5 ngày đàn voi lại xuất hiện một lần. (Sài Gòn Giải Phóng 4/1)đầu trang(
Rừng đầu nguồn ở huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị đang bị tàn phá không thương tiếc. Đây là hậu quả của hoạt động thăm dò khai thác khoáng sản của doanh nghiệp và sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.
Điều đáng nói là, hiện tượng này vẫn đang diễn ra ngang nhiên, nhưng dường như các cơ quan chức năng và chính quyền lại… không thấy.
Ngày 10/8/2011, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đã đồng ý cho Công ty Cổ phần Khoáng sản Đông Trường Sơn (Cty Đông Trường Sơn) được mở đường phục vụ thăm dò vàng gốc ở khu vực thôn A Đang, xã Tà Rụt, huyện Đắkrông. Theo đó, con đường được mở với chiều dài hơn 10km. Hiện nay, Cty Đông Trường Sơn đã hoàn thành việc thăm dò và rút ra khỏi khu vực. Tuy nhiên, lâm tặc lại lợi dụng tuyến đường này để tàn phá và vận chuyển gỗ.
Già làng Kôn Liên, người dân xã Tà Rụt cho biết: “Tôi thấy rừng bị phá quá nhiều, đã báo cho kiểm lâm để đuổi bọn khai thác gỗ, nhưng họ không chịu vào. Họ bảo, để huyện cho chỉ thị rồi mới vào. Huyện chưa cho chỉ thị thì chưa vào”.
Đáng buồn là, khi trao đổi với ông Trần Hiệp, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đắkrông thì ông Hiệp lại cho rằng, ngăn chặn tình trạng phá rừng thì nhiều cơ quan chức năng vào cuộc chứ riêng gì kiểm lâm!
PV tìm gặp ông Khổng Trung, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị. Ông Trung khẳng định: Nếu kiểm lâm cơ sở để xảy ra tình trạng phá rừng thì Chi cục sẽ xem xét kỷ luật tương xứng hoặc luân chuyển khỏi địa bàn.
Dư luận đang đặt ra câu hỏi: Vì sao ngành chức năng và chính quyền địa phương, mà trực tiếp là lực lượng kiểm lâm và UBND huyện Đắkrông lại để rừng nơi đây bị phá? Câu hỏi này xin gửi về các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị. (Thanh Tra 4/1)đầu trang(
Trong năm, Hạt Kiểm lâm huyện đã bắt giữ 16 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ trên 5,11m3 khối gỗ các loại, phạt vi phạm hành chính trên 53 triệu đồng và phát mại lâm sản trên 93 triệu đồng để thu nộp ngân sách Nhà nước.
Nhằm không để tình trạng khai thác, mua bán và chế biến lâm sản trái phép, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Ảng đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ về công tác quản lý, bảo vệ rừng, cũng như ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển và chế biến lâm sản trái phép trên địa bàn. Năm 2012, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Ảng đã thường xuyên cử cán bộ xuống các địa bàn xã, thị trấn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng.
Đặc biệt, Hạt Kiểm lâm đã thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động chế biến lâm sản của các chủ cơ sở trên địa bàn. Qua đó nhằm phát hiện và kịp thời xử lý những trường hợp có hành vi vi phạm các điều luật về quản lý, khai thác, chặt phá rừng. (Theo Đài PT – TH Điện Biên 4/1)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Nông cho biết trong năm 2012, nạn phá rừng của địa phương đã giảm mạnh.
Cả năm toàn tỉnh phát hiện và lập biên bản xử lý hơn 780 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 347 vụ phá rừng trái pháp luật, gây thiệt gần 300 ha rừng, giảm khoảng 1.000 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị phá tập trung ở các huyện Ðăk Glong 100 ha, Ðăk Song 60 ha, Tuy Ðức 70 ha, Cư Jút 45 ha…
Để thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ rừng trong thời gian tới, UBND tỉnh Đăk Nông đã giao UBND huyện phải chỉ đạo, kiểm tra các xã, các đơn vị chủ rừng đóng trên địa bàn lập và thực hiện phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; trực tiếp xử lý các hành vi vi phạm pháp theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, đảm bảo việc chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương… (Đại Biểu Nhân Dân 2/1)đầu trang(
Lại đào bới tìm cây xáo tam phân ở Phú Yên
Tối 3-1, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Tuy An (Phú Yên) xác nhận hiện mỗi ngày có cả trăm người mang theo dụng cụ kéo đến đào bới, lục tung các khu vực đồi núi tại các xã An Lĩnh, An Hiệp, thị trấn Chí Thạnh (huyện Tuy An) để tìm cây xáo tam phân (nhiều người gọi là “thần dược” chữa được bệnh ung thư).
Do lượng người khai thác đông nên chỉ trong mấy ngày qua cây xáo tam phân ở những khu vực này đã cạn kiệt.
Trước tình trạng khai thác ồ ạt này, UBND huyện Tuy An đã yêu cầu các cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương tăng cường biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; ngăn chặn tình trạng khai thác cây xáo tam phân gây sạt lở, ảnh hưởng đến môi trường, tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, trong những ngày cuối năm 2012, hàng trăm người đã ồ ạt tìm kiếm, khai thác cây xáo tam phân tại núi Gò Đá (thuộc thôn Thượng Phú, xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa, Phú Yên) gây náo loạn khu vực này. (Pháp Luật TPHCM 4/1)đầu trang(
Tỉnh Tiền Giang đã được Bộ NN&PTNT chọn triển khai Dự án “Xây dựng quan hệ đối tác nhằm tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của các cộng đồng ven biển Việt Nam” do tổ chức OXFAM tài trợ.
Mục tiêu của dự án nhằm nâng cao khả năng ứng phó, phục hồi và thích nghi của những người dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là phụ nữ đang sinh sống tại các cộng đồng ven biển chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu và thiên tai.
Đây là một dự án lớn triển khai rộng trên phạm vi quốc gia gồm 5 tỉnh, 7 huyện và 31 xã ven biển Việt Nam. Thời gian triển khai dự án là 29 tháng (từ tháng 8-2012 đến tháng 12-2004) với tổng kinh phí 2.998.939 đô -la Ô-xtrây-li-a. Dự kiến, dự án sẽ giúp 51.000 người dễ tổn thương nhất, chủ yếu là phụ nữ, người già có thể sử dụng các thông tin về khí hậu để quyết định phương thức thích ứng cho sinh kế và các biện pháp giảm nhẹ rủi ro. (Quân Đội Nhân Dân 3/1) đầu trang(
Hơn một tháng nay, trên đại lộ Thăng Long (đoạn từ huyện Quốc Oai đi huyện Thạch Thất, Hà Nội) hàng vạn cây lát hoa cao khoảng 4-5m được trồng từ nhiều tháng trước đó đã bị chết khô.
Có nhiều đoạn dài hàng trăm mét cây trồng hai bên đường bị chết chỉ còn trơ lại thân. Mặc dù cây xanh chết từ nhiều tháng nhưng Ban quản lý dự án đại lộ Thăng Long vẫn chưa cho thay cây mới. Trong khi lượng cây chết lại tiếp tục gia tăng, nhiều cây bị rụng sạch lá và đổ nghiêng ra hai bên đường. (Tuổi Trẻ 4/1)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Nhiều tổ chức bảo tồn Hong Kong bày tỏ sự phẫn nộ khi thấy hình ảnh hàng ngàn vây cá mập đang phơi trên nóc một tòa nhà ở đặc khu.
Có khoảng 15.000 đến 20.000 vây cá mập phơi khô trên nóc tòa nhà thương mại ở Hongkong.
Tại Hong Kong, từ tháng 11 năm trước đến tháng giêng năm sau là mùa cao điểm tiêu thụ vây cá mập, vì đây là lúc diễn ra nhiều bữa tiệc cuối năm, đầu năm và cưới hỏi.
Hong Kong là trung tâm buôn bán vây cá mập trên toàn cầu. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) ước tính khoảng một nửa số vây cá mập bị đánh bắt trên thế giới được bán tại đây.
Vây cá mập là nguyên liệu chính của súp vi cá, một món ăn sang trọng và khá phổ biến ở châu Á. Người châu Á tin rằng súp vi cá mập như thuốc bổ, họ thường dùng nó để thiết đãi khách trong các bữa tiệc lớn. Theo số liệu của WWF, khoảng 73 triệu con cá mập bị giết mỗi năm, và trong thập kỷ qua, Hong Kong nhập khẩu khoảng 10.000 tấn vây cá mỗi năm
Cũng theo WWF Hong Kong, mức tiêu thụ vây cá mập là một yếu tố đe dọa tới các quần thể cá mập, với hơn 180 loài có nguy cơ tuyệt chủng trong năm 2010, so với chỉ có 15 loài trong năm 1996.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, trung bình mỗi ngày con người cắt vây của khoảng 30.000 cá mập, tương đương với 10 triệu con mỗi năm. Các tổ chức bảo tồn khẳng định con số thực tế còn cao hơn nhiều.
Giá vây cá mập khoảng 1.300 USD/kg và giá một bát súp lên tới gần 150 USD. Do thời gian sinh trưởng dài và đẻ ít con sau mỗi lần mang thai, cá mập là một trong những nhóm động vật dễ bị tuyệt chủng nhất.
Ngành săn bắt cá mập và buôn bán món súp vi cá mập đã bị cấm tại Mỹ, Canada, Brazil, Namibia, Nam Phi và Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, tại một số nước châu Á, nó vẫn được công nhận. (Vnexpress.net 4/1)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||