Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), hiện tổng biên chế kiểm lâm địa bàn toàn quốc là 4.419 người, phụ trách 5.531 xã. Đến hết năm 2011, cả nước có 13,5 triệu hecta rừng phân bố trên 6.093 xã.
Như vậy, mỗi kiểm lâm địa bàn đang phải phụ trách 3.058ha rừng, tương đương với 1,4 xã có rừng. Trong khi theo quy định, trung bình 1.000ha rừng phải bố trí một cán bộ kiểm lâm. Hiện, cả nước còn 562 xã chưa bố trí được kiểm lâm địa bàn.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Cục trưởng Cục Kiểm lâm cho biết, ngoài việc thiếu lực lượng, một trong những nguyên nhân dẫn tới hoạt động của đội ngũ kiểm lâm địa bàn chưa đạt hiệu quả là do trình độ còn hạn chế. Số lượng kiểm lâm địa bàn được đào tạo và tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ do Cục Kiểm lâm tổ chức mới chỉ chiếm 13,35% tổng số kiểm lâm địa bàn toàn quốc.
Theo quy định, xã có từ 500ha rừng trở lên phải bố trí một kiểm lâm địa bàn, xã có dưới 500ha rừng bố trí một người phụ trách hai xã. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn khẳng định, Bộ chủ trương từ nay đến năm 2015 sẽ bố trí kiểm lâm địa bàn cho 100% số xã có rừng. (Hà Nội Mới 3/12) đầu trang(
Liên quan đến công tác bảo vệ, phát triển rừng với vai trò nòng cốt của đội ngũ kiểm lâm viên, ông Hà Công Tuấn - Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp đã trao đổi với PV Báo Lao Động về vấn đề này.
Trong 10 năm qua, nhất là những năm gần đây, tình hình vi phạm cả về số vụ, mức độ vi phạm, mức độ thiệt hại liên quan đến tài nguyên rừng, theo tôi đã giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên đó là mặt bằng chung, còn thực tế, tình hình khá phức tạp và gay gắt ở một số khu vực, đặc biệt là Tây Nguyên. Nhất là tình trạng chuyển rừng lấy đất cho nhiều mục đích và những khu rừng có gỗ có giá trị thương mại cao đang bị khai thác trái phép gay gắt.
Chúng tôi đã thấy vấn đề và đang chỉ đạo giải quyết kiên quyết để giảm tối đa tình trạng này. Đây là vấn đề lâu dài, không thể xử lý ngay một sớm một chiều.
Để hạn chế tình trạng trên, theo ông Tuấn, Tổng cục đã có những động thái cụ thể: Một trong những trọng tâm của chúng tôi chính là xã hội hóa việc bảo vệ rừng. Ngoài những biện pháp như để người dân chủ động tham gia bảo vệ rừng bằng các dịch vụ môi trường rừng, còn có hoạt động tăng cường kiểm lâm viên về địa bàn xã nhằm tăng cường hoạt động của kiểm lâm ở cơ sở và tham mưu tốt cho chính quyền cơ sở. Hoạt động kiểm lâm địa bàn đã được triển khai từ 2 năm nay và đang được Bộ NNPTNT chỉ đạo thực hiện chủ trương này quyết liệt, thường xuyên.
Đã triển khai được 2 năm, song vai trò của lực lượng này xem ra vẫn còn mờ nhạt. Ông có đánh giá gì về điều này? Có thể nói kiểm lâm địa bàn góp phần quan trọng vào bảo vệ, phát triển rừng. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận chưa hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có một số anh em còn hạn chế về trình độ, năng lực, nhất là trình độ dân vận. Một số khác thì gặp khó khăn về điều kiện công tác, phải đi lại nhiều, chi phí mua xăng rất tốn kém. Nơi ăn ở cũng chưa được bố trí ổn định, những nơi không được người dân địa phương ủng hộ thì dễ dẫn đến chán nản, xao nhãng, nhất là hoạt động đơn tuyến ở cơ sở.
Vậy thời gian tới, Tổng cục sẽ có những phương án nào để công tác bảo vệ rừng được thực hiện quyết liệt hơn? Trước tiên chúng tôi sẽ đề xuất tăng biên chế đội ngũ kiểm lâm về các địa bàn, tập trung những địa bàn trọng điểm. Về cơ bản Chính phủ đã đồng ý từ nay đến 2015 tăng thêm 3.000 biên chế kiểm lâm. Việc tăng số lượng sẽ song song với nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm lâm.
Đồng hành với đó là cuộc đấu tranh để làm trong sạch môi trường làm việc. Chúng tôi sẽ cùng Bộ Nội vụ chỉ đạo giải quyết từng bước phù hợp với điều kiện ngân sách và kết quả rà soát để xem xét việc tăng biên chế. Từ nay đến 2015 chắc chắn những xã cần kiểm lâm địa bàn sẽ được phủ kín. (Lao Động 1/12) đầu trang(
Bộ NNPTNT vừa có quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Hữu Thiện - Phó vụ trưởng Vụ Phát triển rừng thuộc Tổng cục Lâm nghiệp - làm Phó Giám đốc Vườn quốc gia Yók Đôn (Đắc Lắc) kể từ ngày 29.11, thay ông Hồ Văn Cầu đã được điều về Văn phòng Tổng cục Lâm nghiệp làm chuyên viên.
Được biết ngoài ông Cầu, trong thời gian tới, một số cán bộ khác ở Vườn quốc gia Yók Đôn cũng sẽ bị miễn nhiệm, luân chuyển vị trí công tác cho phù hợp.
Trước đó, ông Trần Văn Thành - quyền Giám đốc Vườn quốc gia Yók Đôn - có báo cáo về công tác cán bộ gửi Tổng cục Lâm nghiệp, trong đó nhận định những cán bộ này hạn chế năng lực, thiếu tâm huyết bảo vệ rừng, gây mất đoàn kết nội bộ, quan hệ với lâm tặc khá nhiều... (Lao Động 1/12; Sài Gòn Giải Phóng 3/12) đầu trang(
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa bắt đầu thực hiện hỗ trợ cho cán bộ công, công chức của ngành Kiểm lâm và các ngành liên quan trong thời gian tham gia truy quét tại rừng ngoài chế độ công tác phí khoán hàng tháng là 100.000 đồng/người/ngày.
Đó là quy định về chế độ thực hiện công tác truy quét những cá nhân và tổ chức phá hoại rừng trên địa bàn tỉnh được bàn hành tại Quyết định số 2215/QĐ-UBND ngày 26/11/2012 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về việc thuê người gùi lương thực, thực phẩm cho mỗi đợt truy quét: thủ trưởng đơn vị căn cứ vào địa điểm, thời gian, số lượng cán bộ công, công chức tham gia mỗi đợt truy quét quyết định mức chi cụ thể, nhưng tối đa không quá 150.000 đồng/người/ngày.
Các chi phí khác như: xăng xe, thuê xe ô tô (nếu có), thuốc và dụng cụ y tế dự phòng, bạt làm lán trại… được thanh toán theo chi phí thực tế.
Số ngày được thanh toán các chế độ nói trên tính theo số ngày tham gia truy quét thực tế. Tùy từng trường hợp, thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi cụ thể, đảm bảo chi tiết kiệm, hiệu quả. Các khoản chi được sắp xếp trong dự toán kinh phí hằng năm về thực hiện nhiệm vụ truy quét những cá nhân và tổ chức phá hoại rừng của đơn vị và phải đảm bảo đầy đủ các chứng từ theo quy định. (Đất Việt 30/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Rừng ngập mặn ở thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh là khu rừng bần cổ duy nhất còn sót lại ở Việt Nam.
Đây là nơi cư trú của các loài thủy sinh, đồng thời cũng là nơi chắn sóng gió khi triều cường dâng trong mùa bão lũ. Tuy nhiên phong trào nuôi tôm sú giai đoạn 1990 -1992 đã khiến diện tích rừng bị thu hẹp. Quá trình biến đổi khí hậu và giải pháp hạn chế thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra đang cho thấy, việc lưu giữ, tái tạo và phát triển lại diện tích rừng ngập mặn ở thôn Tuần Lễ là điều cần thiết.
Rừng ngập mặn ven biển thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh là một trong những khu rừng ngập mặn có nhiều cây bần cổ thụ đã đạt tới hàng trăm năm tuổi và cũng là rừng bần duy nhất còn sót lại ở Việt Nam. Những năm trước, rừng có diện tích trên 20 ha và có nhiều loài như bần, đước, mắm... trong đó cây bần chiếm đến 75% tổng diện tích.
Đặc biệt, những cây bần có thân rất lớn với đường kính hơn 2m cho thấy thời gian sinh trưởng của cây gắn liền với lịch sử phát triển của địa phương và đây cũng là một nguồn gen quý cho các nhà nghiên cứu khoa học. Sau khi phong trào nuôi tôm phát triển, nhiều hộ dân ở đây đã phá rừng để lấy đất nuôi tôm.
Hiện trạng đó khiến rừng ngập mặn không còn là rừng mà thay vào đó là các ao, đìa nuôi tôm cùng hệ thống kênh mương ngang dọc. Rốt cuộc trên toàn bộ diện tích chỉ còn lại 570 cây ngập mặn, trong đó có 455 cây bần, còn lại 20 cây mắm và 95 cây đước.. Sau khi rừng ngập mặn bị thu hẹp, quần thể sinh vật sống dưới tán rừng cũng biến mất theo.
Để khôi phục và phát triển lại rừng ngập mặn Tuần Lễ, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có thông báo đề ra các giải pháp bảo vệ, giữ gìn và phát triển rừng ngập mặn nên từ năm 2010 trở lại đây, không còn tình trạng lấn chiếm diện tích rừng. UBND huyện Vạn Ninh đã lập bản đồ hiên trạng, quy hoạch, phân vùng quản lý nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, kiểm kê số cây còn sống; treo biển, bảng lên các cây ngập mặn cổ thụ để quản lý một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, xã đã giao cho Hội Nông dân mua giống cây ngập mặn về trồng
Ông Trần Quang Khánh – Chủ tịch Hội Nông dân xã Vạn Thọ - huyện Vạn Ninh cho biết: "Nếu trồng lại bần thì phải mất cả trăm năm mới được như thế này, do đó tỉnh đã chỉ đạo xã trồng lại đước và mắm vì đước và mắm phát triển nhanh còn bần thì rất lâu".
Hiện nay, rừng ngập mặn Tuần Lễ đã được bảo vệ, không còn bị tàn phá. Đây chính là kết quả nỗ lực của chính quyền và người dân địa phương. Tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đó là điều đáng phấn khởi và đáng được nhân rộng, bởi từ khi rừng được tái tạo, các loài thủy sinh lại tìm về đông đúc. Tuy nhiên, việc khôi phục lại nguyên hiện trạng diện tích rừng ngập mặn vẫn còn vô vàn khó khăn, trước hết là do kinh phí eo hẹp, trong khi công việc phải làm còn quá nhiều như lấp đất ở vùng trũng, di dời các hộ dân lấn chiếm diện tích trái phép, nâng cao ý thức, trách nhiệm cộng đồng.
Theo bà Phan Thị Tuyết Nhung – Phó Chủ tịch UBND xã Vạn Thọ - huyện Vạn Ninh: "Địa phương cũng muốn khôi phục lại các diện tích đã cấp cho dân nhưng không thu hồi lại được vì đã cấp cho họ. Đây là câu chuyện của những năm trước".
Giá trị của rừng ngập mặn Tuần Lễ và những hiện trạng đang diễn ra trong và xung quanh khu rừng còn sót lại cho thấy, để diện tích rừng ngập mặn trở lại như ban đầu phải cần đến sự chỉ đaọ cương quyết của chính quyền địa phương và ý thức của người dân. Việc lưu giữ, tái tạo và phát triển rừng ngập mặn ở thôn Tuần Lễ là vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức đầu tư về kinh phí cũng như công tác tuyên truyền của chính quyền địa phương. Cho dù khó khăn nhưng điều này là vô cùng cần thiết bởi rừng ngập mặn có thể góp phần giảm nhẹ thiên tai, đồng thời giúp người dân phát triểnkinh tế, kết hợp giữa nuôi trồng thuỷ sản với phát triển du lịch sinh thái. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 1/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Giữa tuần này tại Bộ TN&MT, Hội đồng thẩm định (HĐTĐ) Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A (ĐN6&6A) gồm 21 thành viên đã họp cùng chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị lập báo cáo ĐTM. Đây là phiên họp kỹ thuật hỗ trợ thẩm định báo cáo ĐTM của hai Dự án trên. Chủ đầu tư sẽ hoàn thiện ĐTM trước phiên họp thẩm định chính thức.
Trao đổi với ĐĐK sau cuộc họp, ông Bùi Pháp, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai - chủ đầu tư hai dự án thủy điện ĐN6&6A bày tỏ: Tôi hoàn toàn tin tưởng trách nhiệm, sự công tâm, quyết định sáng suốt của HĐTĐ cũng như các cơ quan quản lý nhà nước. Trong hoạt động SXKD và đầu tư, bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân nào cũng cần tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện đúng hướng dẫn của các cơ quan chức năng.
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung thành viên HĐTĐ nhìn nhận, đây là Báo cáo ĐTM tốt nhất từ trước đến nay. Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn đã có những sự thay đổi trong quá trình làm ĐTM. Dự án có nhiều mặt lợi về hiệu quả kinh tế như sử dụng rất ít đất rừng (137ha, trong khi diện tích vườn quốc gia Cát Tiên là 70.000ha, tức chỉ chiếm 0,02%), khu vực Bàu Sấu cách vị trí xây nhà máy 25km nên không ảnh hưởng nhiều, không phải di dân tái định cư, diện tích hồ tương đối nhỏ nên tác động của hồ lớn với môi trường là không cao…
"Tôi đã đặt ra mấy vấn đề nghi vấn với chủ đầu tư: Thứ nhất, tại sao lại dọn lòng hồ có 50% số cây rừng? Thứ hai, đường dây tải điện tại sao lại không nằm trong dự án này, nó ảnh hưởng đến rừng như thế nào? Thứ ba, về hệ thống điều hành của dòng sông (sông Đồng Nai đã có 13 nhà máy thủy điện), Chính phủ đã có chỉ thị về vận hành liên hồ chứa, nếu người trên xả mà người giữa không xả thì anh bị vỡ đập ngay, tính chất cắt lũ không còn nữa. hiện nay không nằm trong danh sách vận hành liên hồ chứa, vậy chủ đầu tư xử lý vấn đề này như thế nào... Chủ đầu tư và tư vấn đã trả lời khá thuyết phục…”, GS Lung nói.
Một số thành viên HĐTĐ cũng đánh giá bản ĐTM lần này được chủ đầu tư thực hiện khá công phu. Tuy vậy, TS Đào Trọng Tứ, Ủy viên HĐTĐ, cố vấn cao cấp của Mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng vấn đề chính là tính pháp lý và tác động môi trường của dự án.
Theo đó, chủ đầu tư đã đề cập đến cơ sở pháp lý, kỹ thuật, tác động môi trường, các biện pháp phòng chống giảm nhẹ giảm thiểu tác động, HĐTĐ đề nghị làm rõ thêm khá nhiều vấn đề trọng tâm. Một là làm rõ tác động môi trường đến thượng và hạ lưu sông Đồng Nai. Thượng lưu là đối với Vườn quốc gia Cát Tiên trong đó có khu Ramsa của Bàu Sấu. Còn hạ lưu phải đánh giá tác động của khu vực từ đập xuống tận Trị An. Thứ hai là làm rõ các phương án giải quyết sinh kế của người dân. Thứ ba là động đất kích thích…
Bản nhận xét góp ý cho ĐTM thủy điện của TS Tô Văn Trường Ủy viên HĐTĐ gửi tới cuộc họp cũng cho rằng trong ĐTM đã nói đến nhiều loại rủi ro và sự cố, tuy nhiên những rủi ro hoặc lỗi kỹ thuật trong các khâu thiết kế, thi công lại chưa được đề cập. Chưa có sự cam kết của chủ đầu tư về việc xây dựng kế hoạch, các biện pháp ứng phó, phương tiện dự phòng nếu sự cố xảy ra. Dù chỉ là đập dâng nhưng vẫn có tác động đến dòng chảy sau đập. Do vậy chủ đầu tư phải có cam kết xây dựng kế hoạch ứng phó trong trường hợp sự cố xảy ra…
Trao đổi với Đại Đoàn Kết, ông Bùi Pháp cho biết thêm, trong nhiều ý kiến chất vấn, phản biện của các thành viên HĐTĐ, có đề nghị chủ đầu tư và đơn vị tư vấn xem xét thêm các nội dung của Luật Tài nguyên nước vừa được QH thông qua (có hiệu lực từ năm 2013), nêu cụ thể hơn các số liệu dòng chảy của các trạm quan trắc trên lưu vực, phương án trồng lại rừng đảm bảo nguyên tắc bù được trạng thái, tính chất của diện tích rừng bị mất, làm rõ hơn về cửa xả đáy và đảm bảo dòng chảy môi trường, nêu rõ các biện pháp khai thác thu dọn sinh khối lòng hồ…
Vẫn theo ông Pháp, đại diện tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông và Bình Phước đều đánh giá cao hiệu quả kinh tế xã hội của hai dự án này góp phần phát triển kinh tế xã hội, cải thiện cơ sở hạ tầng khu vực, nâng cao đời sống cho người dân địa phương hiện còn khó khăn. Đại diện tỉnh Lâm Đồng lưu ý, cần đảm bảo vận hành liên hồ mùa lũ để đảm bảo an toàn cho dân. Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai dự họp theo uỷ quyền trình bày một số ý kiến theo các văn bản của tỉnh này đã có trước. Thông tin từ HĐTĐ cho biết, Bộ VHTT&DL cũng đã gửi văn bản cho Bộ TN&MT.
"Với tinh thần cầu thị và trách nhiệm, chúng tôi trân trọng lắng nghe, tiếp thu, ghi nhận toàn bộ các nội dung mà HĐTĐ yêu cầu để hoàn thiện báo cáo ĐTM một cách tốt nhất”. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, như tất cả các công trình xây dựng cơ bản lớn, quy trình xây dựng các thuỷ điện phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Trường hợp Dự án gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến tác động môi trường mà không có giải pháp nào có thể khắc phục được, Chính phủ quyết định dừng, chúng tôi xin chấp hành. Chi phí đầu tư Dự án gần 6 năm qua xem như rủi ro đầu tư. Còn ngược lại Dự án được thông qua, chúng tôi cam kết thực hiện đúng yêu cầu phát triển bền vững”, ông Pháp nói.
Trong tình hình thủy điện nói chung đặc biệt là thủy điện vùng Tây nguyên xảy ra những sự cố như vừa qua, việc tiếp tục thu hút nhiều ý kiến phản biện đối với hai dự án thủy điện ĐN6&6A là đương nhiên. Dự án có sự quan tâm đặc biệt của dư luận còn bởi được xây dựng gần khu bảo tồn Vườn Quốc gia Cát Tiên. Song đây mới là phiên họp kỹ thuật hỗ trợ thẩm định, trước khi phiên họp chính thức diễn ra.
Thông báo với báo giới xung quanh hai dự án này, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Vũ Đức Đam chiều 29-11 khẳng định, mọi công trình thủy điện đều được Chính phủ nhất quán cho phép triển khai trên cơ sở phải đáp ứng được các nguyên tắc về an toàn, tính mạng của người dân; làm tốt công tác tái định cư; mức độ ảnh hưởng đến môi trường không lớn và dự án phải đảm bảo các hiệu quả kinh tế xã hội. Đặc biệt, mọi công trình thủy điện đều được giám sát thực hiện, đảm bảo tuân thủ một quy trình hết sức nghiêm ngặt. (Đại Đoàn Kết 1/12) đầu trang(
Bộ NNPTNT vừa có văn bản đề nghị Văn phòng Chính phủ giao Bộ Quốc phòng bố trí máy bay để khảo sát hiện trạng rừng, phục vụ hội nghị về quản lý rừng khu vực Tây Nguyên.
Theo đó, Bộ NNPTNT đề nghị thành phần khảo sát gồm Phó Thủ tướng, lãnh đạo các bộ: NNPTNT, Quốc phòng, Công an và lãnh đạo 5 tỉnh Tây Nguyên. (Lao Động 3/12; Sài Gòn Giải Phóng 1/12) đầu trang(
Tình trạng chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép khiến nhiều khu rừng “chảy máu” đã không còn là chuyện lạ. Điều đáng nói là lực lượng kiểm lâm còn quá mỏng và hạn chế nhiều bề để có thể chống lại những thủ đoạn của lâm tặc.
Bằng nhiều biện pháp xã hội hóa bảo vệ rừng, ngành lâm nghiệp đã kêu gọi toàn dân vào cuộc, cùng kiểm lâm bảo vệ tài nguyên rừng đang ngày càng bị tàn phá nặng nề. Song trong thực tế, càng vào cuộc, dường như mục tiêu bảo vệ rừng ngày càng xa vời....
Nhiều tháng qua đã xảy ra hàng loạt vụ xâm hại tài nguyên rừng nghiêm trọng như vụ phá rừng ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), “oanh tạc” rừng nghiến ở VQG Ba Bể (Bắc Kạn), chặt phá hàng nghìn cây gỗ sưa trị giá nghìn tỉ đồng ở Quảng Bình... Đây chỉ là đơn cử vài vụ việc có quy mô lớn, mức độ xâm hại tài nguyên rừng đáng báo động. Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho hay, chỉ trong vòng nửa năm đầu 2012, đã có hơn 2.000 vụ phá rừng trái pháp luật cùng hơn 1.100 vụ khai thác rừng trái phép. Tất cả đã khiến hơn 620ha rừng bị tàn phá nặng nề.
Cũng theo Tổng cục Lâm nghiệp, dù số lượng các vụ vi phạm đều giảm so với 2011, song mức độ vi phạm nặng nề hơn, thủ đoạn của lâm tặc ngày càng khó lường hơn, gây ra áp lực quá lớn đối với đội ngũ kiểm lâm vốn quá mỏng hiện nay.
Bắc Kạn được xem là điểm nóng của nạn chặt phá lâm sản trái phép khi từ đầu năm đến nay, cả tỉnh đã có 130 cây gỗ nghiến với khoảng hơn 530m3 bị đốn hạ. Riêng nửa năm đầu 2012, khoảng gần 90 cây gỗ nghiến với khối lượng hơn 300m3 tại VQG Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỉ đã bị lâm tặc chặt phá, tuồn về xuôi tiêu thụ. VQG Ba Bể là “miếng mồi” ngon của lâm tặc bởi tại đây tập trung phần lớn loại gỗ nghiến quý. Tuy nhiên, theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, đây chỉ là số liệu bị phát hiện và lập biên bản. Một lượng gỗ nghiến không nhỏ lọt khỏi tầm kiểm soát của kiểm lâm, vẫn còn là con số chưa ai có thể thống kê được.
Cùng với Bắc Kạn là các điểm nóng của chặt phá rừng trái phép như Thái Nguyên, Lạng Sơn... Những địa bàn này có nhiều rừng đặc dụng tập trung phần lớn các loại cây gỗ quý hiếm như nghiến, lim, sến, trai lý... Đây cũng là nơi lâm tặc dễ hoành hành bởi địa hình khá phức tạp và quá rộng, lực lượng kiểm lâm dù đã được tăng cường nhưng vẫn quá mỏng so với số lâm tặc ngày càng đông thêm, theo Chi cục Kiểm lâm Lạng Sơn.
Lạng Sơn có hai khu rừng đặc dụng nhiều lâm tặc nhòm ngó là Hữu Liên và Mỏ Rẹ (thuộc hai huyện Hữu Lũng và Bắc Sơn). Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định, do có nhiều loại gỗ quý như lim, sến, dổi, nghiến... nên lâm tặc mặc sức hoành hành, bất chấp kiểm lâm. Thủ đoạn mới nhất được lâm tặc sử dụng là dùng cưa máy, một loại cưa siêu nhỏ từ Trung Quốc nhưng tốc độ tàn phá rất khủng khiếp.
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho hay, chỉ cần hơn 1 phút, loại cưa này có thể đốn hạ cây gỗ đường kính 1m. Lâm tặc dùng cưa này chia nhỏ gỗ để dễ dàng vận chuyển và lọt lưới kiểm lâm. Giá bán một mét khối gỗ nghiến ít nhất là 5 triệu đồng, nhưng khi nhập sang Trung Quốc, giá của loại gỗ này có thể đội lên gấp 3-4 lần.
Thế nhưng rừng bị lâm tặc tàn phá không chỉ vì lực lượng kiểm lâm quá mỏng, kiểm soát không xuể, mà còn bởi có không ít địa bàn, không ít trường hợp kiểm lâm “bắt tay” với lâm tặc phá rừng, mà nổi cộm nhất là tại VQG Yók Đôn. Trong một cuộc họp về công tác bảo vệ rừng của VQG Yók Đôn, Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn phát biểu: “Lực lượng kiểm lâm bị tê liệt, một bộ phận không nhỏ kiểm lâm VQG Yók Đôn cũng là lâm tặc. Họ thông đồng với lâm tặc tẩu tán tang vật, thậm chí lấy tang vật làm của riêng...”.
Trong báo cáo mới nhất gửi Tổng cục Lâm nghiệp, Giám đốc VQG Yók Đôn Trần Văn Thành cho biết: Các Phó Giám đốc nặng về quyền lợi cá nhân, bao che người sai trái, trù dập người tích cực và có nhiều quan hệ với lâm tặc; Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm của vườn cũng có nhiều quan hệ với lâm tặc... Lãnh đạo VQG Yók Đôn đã luân chuyển 65 kiểm lâm viên, tháng 10-11 đã xem xét kỷ luật 9 cán bộ. Trước đó một kiểm lâm viên là con trai Phó Giám đốc Hồ Văn Cầu bị buộc thôi việc vì câu kết với lâm tặc phá rừng. Mới nhất Bộ NNPTNT điều chuyển ông Hồ Văn Cầu về văn phòng Tổng cục Lâm nghiệp, cho ý kiến miễn nhiệm Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Phó trưởng phòng tổ chức...
Không chỉ ở VQG Yók Đôn, những vụ bao che, tiếp tay của kiểm lâm với lâm tặc vẫn lẻ tẻ xảy ra ở khắp các khu rừng trên cả nước. Tháng 10, Hạt Kiểm lâm huyện Tuy An (Phú Yên) phải kiểm điểm, làm rõ sai phạm của các cán bộ, cá nhân liên quan đến việc bao che cho một xưởng cưa phá rừng ở xã An Xuân, huyện Tuy An.
Mới đây nhất, cuối tháng 11, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chư Prông, Gia Lai đã bị cách chức vì thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, để xảy ra nhiều vụ phá rừng trên địa bàn. Trong vụ phá rừng được cho là tàn khốc nhất từ trước đến nay ở Hà Tĩnh, cảnh sát đang làm rõ vai trò, trách nhiệm của 9 đối tượng liên quan, ra quyết định khởi tố đối với 2 “đầu nậu” gỗ lậu và 7 cán bộ kiểm lâm, bảo vệ rừng…
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, tình trạng xẻ thịt rừng tự nhiên, rừng đặc dụng luôn là nhức nhối của ngành. Lực lượng kiểm lâm thì mỏng, trong khi các thủ đoạn phá rừng của lâm tặc ngày càng nguy hiểm, tinh vi và liều lĩnh. Tổng cục trưởng Hà Công Tuấn cho biết: “Thời gian hoạt động chủ yếu của lâm tặc là vào ban đêm, có cắt cử cảnh giới, có sử dụng nhiều vũ khí nguy hiểm như côn, súng ngắn và khi cần có thể chống đối người thi hành công vụ”.
Cũng theo ông Tuấn, trách nhiệm của đội ngũ kiểm lâm là quan trọng hàng đầu, song không thể hoàn toàn dựa vào lực lượng này để đối phó với vấn nạn trên. “Nhiều năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản về xã hội hóa việc quản lý bảo vệ rừng như Nghị định 99 về chi trả dịch vụ môi trường rừng, chính sách đồng quản lý và thí điểm chính sách chia sẻ lợi ích một số rừng đặc dụng. Đặc biệt là chính sách kiểm lâm địa bàn cấp xã nhằm tăng cường lực lượng kiểm lâm về tận địa bàn để kịp thời” - ông Tuấn cho hay.
Kiểm lâm phụ trách địa bàn trong cùng một cụm xã được tổ chức hoạt động tập trung tại một trạm kiểm lâm địa bàn. Hình thức tăng cường này đã được triển khai tại nhiều tỉnh có tình hình chặt phá rừng phức tạp như Lào Cai, Nghệ An, Thái Nguyên, Bắc Kạn.... Không thể phủ nhận hoạt động kiểm lâm địa bàn đã góp phần làm giảm số vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp trên địa bàn cả nước. Trong vòng 5 năm đã giảm từ gần 40.000 vụ (năm 2007) hiện xuống còn hơn 29.500 vụ, đặc biệt các vụ khai thác lâm sản trái phép giảm từ hơn 4.400 vụ xuống còn khoảng 2.675 vụ.
Tuy nhiên, theo Cục Kiểm lâm, cục diện tình hình vẫn khó thay đổi một sớm một chiều, dù có tăng cường lực lượng này hết mức có thể. Nguyên nhân lớn nhất là do địa bàn rừng núi quá hiểm trở, bao phủ lớn, trong khi lực lượng kiểm lâm địa bàn lại quá mỏng, xem ra chưa “ăn thua” gì so với sự “hùng hậu” của lâm tặc. Chưa kể điều kiện làm việc, sinh hoạt còn quá khó khăn, thu nhập vẫn hạn chế khiến dễ nảy sinh tình trạng chán nản, xao nhãng trong một bộ phận kiểm lâm nhất định.
Phó Cục trưởng Cục Kiểm Lâm Triệu Văn Lực cho biết: “Cuộc chiến chống lâm tặc vẫn còn rất dài, trong đó cần đẩy mạnh hơn việc xã hội hóa trong bảo vệ rừng. Người dân vào cuộc, đồng thời đội ngũ kiểm lâm địa bàn cũng cần được tăng hơn về số lượng và đầu tư hơn cho chất lượng. Trong năm tới, Cục sẽ bổ sung thêm số lượng kiểm lâm địa bàn theo quy định, đề nghị bổ sung các phương tiện, trang thiết bị hoạt động để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ”. (Lao Động 1/12) đầu trang(
Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, trong tháng 11 có 10,8 ha rừng bị chặt phá. Tính chung 11 tháng, diện tích rừng bị chặt phá là 1.061 ha, tăng hơn 6% so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích rừng bị cháy trong 11 tháng qua là 2.091 ha, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước.
Trong khi đó, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 176.000 ha, giảm 12,8%, rừng phòng hộ trồng mới đạt 15.800 ha, giảm 15,2%, rừng sản xuất trồng mới đạt 16.100 ha, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước. (Thanh Niên 30/11) đầu trang(
Rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn bị khai thác trắng nhưng chủ dự án không trồng lại rừng như cam kết.
Tại Khánh Hòa có nhiều dự án thủy điện vừa và nhỏ triển khai ì ạch nhưng hàng trăm hecta rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn quanh các dự án này lại nhanh chóng biến mất.
Đơn cử, dự án thủy điện Sông Giang 2 ở xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) theo thiết kế có công suất 37 MW, nằm trên lưu vực sông Giang. Dự án này khởi công từ năm 2006, nằm trên diện tích 239 ha thì có trên 200 ha rừng đầu nguồn. Theo kế hoạch, cuối năm 2010 dự án sẽ cấp phát điện nhưng đến nay vẫn đang là công trường ngổn ngang đất đá nhưng rừng thì đã mất.
Có mặt tại họng xả, nơi đặt tuabin phát điện của nhà máy chỉ có lèo tèo vài ba công nhân trông coi đống sắt thép đã hoen gỉ. Chúng tôi đến lòng thủy điện nhìn xuống, cả một vùng rộng lớn rừng bị khai thác trắng. Tại đây chỉ có 4-5 công nhân, máy móc nằm im lìm, có cái đã hỏng nằm chỏng chơ. Theo các công nhân, dự án vẫn đang dừng ở khâu đào hầm và chưa biết lúc nào phát điện.
Một người dân cho biết mấy năm trước hàng chục xe reo ra vào để chở gỗ mỗi ngày. Giờ rừng đã khai thác hết, công nhân còn lèo tèo, chẳng có việc để làm.
Hàng trăm hecta rừng đầu nguồn bị phá trắng và tỉnh Khánh Hòa vừa đồng ý cho chuyển mục đích sử dụng đất rừng (chủ yếu là rừng đầu nguồn) để thực hiện dự án thủy điện Sông Giang 1 (tại xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh) cho cùng một chủ đầu tư.
Từ năm 2005 đến 2008, Bộ Công Thương phê duyệt tám dự án thủy điện vừa và nhỏ với tổng diện tích cả ngàn hecta cho tỉnh Khánh Hòa. Các dự án này chủ yếu nằm trong diện tích rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ. Trong tám dự án, chỉ có một dự án (thủy điện EaKrôngRou) vận hành; ba dự án Sông Giang 1, Sông Giang 2 và Sông Chò 2 đang trong giai đoạn triển khai. Bốn dự án còn lại (Khánh Thượng - 18 MW, Sông Trang - 5 MW, Sông Cái - 2 MW và Hoa Sơn - 4 MW) chưa ai đăng ký.
Dù dự án là vừa và nhỏ nhưng diện tích rừng “bị phá” để thực hiện dự án lên đến hàng trăm hecta.
Ông Trương Tam, Trưởng phòng Quản lý điện năng (Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa), cho biết đến thời điểm hiện tại, chưa dự án thủy điện nào tính xong diện tích rừng phải trồng lại theo quy định nên cũng chưa có chủ dự án nào thực hiện việc trồng rừng tái sinh như cam kết trong hợp đồng. Tỉnh Khánh Hòa đã thu hồi ba dự án thủy điện do chiếm nhiều diện tích rừng và đang đề nghị Bộ Công Thương đưa các dự án này ra khỏi quy hoạch thủy điện nhưng chưa được phê duyệt. (Pháp Luật TPHCM 3/12) đầu trang(
Vùng đất Tây Nguyên đang đứng trước những khó khăn, thách thức của nạn phá rừng, thoái hóa đất, đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu...
Chương trình Tây Nguyên 3 (giai đoạn 2011 - 2015), với sự phối hợp thực hiện giữa Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đang góp phần giúp các địa phương khu vực Tây Nguyên phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Cuối năm 2011, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN) phê duyệt 19 đề tài thuộc chương trình Tây Nguyên 3, trong đó có 13 đề tài nghiên cứu cơ bản và sáu đề tài KH và CN. Năm 2012, tiếp tục triển khai 21 đề tài, trong đó có 12 đề tài khoa học xã hội và nhân văn.
Theo tiến sĩ Nguyễn Ðình Kỳ, Phó Chủ nhiệm chương trình Tây Nguyên 3, các đề tài dù là nghiên cứu cơ bản, triển khai công nghệ hay đề tài về khoa học xã hội và nhân văn đều bám sát định hướng về các nhóm vấn đề cần tập trung giải quyết của chương trình. Trong đó một số đề tài, nhiệm vụ bước đầu xác định được mục tiêu, các nội dung cần tập trung điều tra, nghiên cứu và sản phẩm cuối cùng.
Chẳng hạn đề tài "Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên" do PGS, TS Trần Văn Ý làm chủ nhiệm. Bằng các cách tiếp cận, phương pháp và kỹ thuật tính toán khác nhau, đến nay nhóm thực hiện đề tài đã xây dựng được bộ chỉ tiêu phát triển bền vững theo phương án 1.0; bao gồm 113 chỉ tiêu phát triển bền vững cho vùng, 105 chỉ tiêu phát triển bền vững cho cấp tỉnh và 84 chỉ tiêu cho phát triển cấp huyện. Nhằm ngăn chặn tình trạng thoái hóa đất, giảm năng suất và chất lượng cây trồng, PGS, TS Nguyễn Cửu Khoa thực hiện đề tài "Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân u-rê và NPK nhả chậm ứng dụng cho các loại cây trồng vùng Tây Nguyên".
Ðến thời điểm này, sau các kết quả nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và tổng hợp các loại màng tinh bột bao bọc phân, nhóm nghiên cứu đã tiến hành sản xuất các loại phân nhả chậm với công thức phù hợp cho từng loại cây thử nghiệm (cà-phê, chè, tiêu, bông, ngô và cao-su). Ðồng thời sản xuất hơn 2.000 kg chất giữ ẩm để kết hợp với phân u-rê và NPK nhả chậm. Quy trình sản xuất cũng như công thức bón phân nhả chậm cho các loại cây trồng thử nghiệm đã được nhóm nghiên cứu xây dựng và triển khai cho hai đối tượng cây ngô và cà-phê ở tỉnh Ðác Nông.
Sau hơn 20 năm kết thúc chương trình Tây Nguyên 2 (1988) "Xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên" với hơn 70 đề tài, nhiệm vụ đã điều tra đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực... phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2000.
Trên cơ sở đó, bằng các chương trình, dự án, Nhà nước đã dành sự đầu tư đáng kể cho Tây Nguyên. Theo thống kê của cơ quan chức năng, nguồn vốn đầu tư cho Tây Nguyên giai đoạn 1996 - 2000 đã tăng gấp bốn lần so với các năm từ 1991 đến 1995. Cũng nhờ vậy đã góp phần giúp các địa phương vùng Tây Nguyên có mức tăng trưởng kinh tế khá cao (từ 8% đến 11%/năm), đời sống của nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện.
Tuy nhiên, các tỉnh Tây Nguyên cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Ðiều dễ nhận ra là những năm qua, kinh tế khu vực Tây Nguyên còn phát triển nặng về hình thức tự phát mà chưa theo một quy hoạch nào. Ðó là việc sử dụng đất đai phát triển cây công nghiệp một cách ồ ạt. Một số loại cây như cà-phê, sắn (củ mì) chạy theo "nhiệt độ" của thị trường đã khiến một diện tích rừng bị tàn phá, trong đó đến năm 2005 diện tích cà-phê đã tăng gấp 2,5 lần so quy hoạch cho năm 2010 theo Quyết định số 184/QÐ-TTg.
Tương tự, diện tích trồng sắn từ 38 nghìn ha (năm 2000), đã phát triển lên 130 nghìn ha vào năm 2007 (tăng 3,4 lần). Tình trạng di dân tự do, nhất là từ các tỉnh miền núi phía bắc vào Tây Nguyên, dẫn đến nhu cầu đất ở, đất cho sản xuất tăng cao khiến diện tích rừng của các tỉnh Ðác Lắc, Gia Lai... bị thu hẹp. Thống kê sơ bộ của ngành chức năng, trong khoảng từ năm 1990 đến 2005, mỗi năm vùng Tây Nguyên có khoảng 28 nghìn ha rừng bị "xóa sổ"; dẫn đến độ che phủ của rừng giảm từ hơn 60% (năm 1990) xuống còn 51% vào năm 2005.
Nạn chặt phá rừng bừa bãi, cộng với một số yếu tố khác làm cho tốc độ suy thoái về tài nguyên đất, tài nguyên nước, suy giảm đa dạng sinh học... diễn ra một cách nhanh chóng. Môi trường suy thoái nghiêm trọng, dĩ nhiên hậu quả mà Tây Nguyên phải gánh chịu là lũ quét về mùa mưa, các dòng sông cạn kiệt về mùa khô, hiện tượng tai biến địa chất đang âm thầm đe dọa, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn.
Cũng vì lẽ đó, Chương trình "Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và đề xuất luận cứ khoa học - công nghệ phục vụ chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030" (gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên 3) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (chủ trì) thực hiện.
Hai năm trở lại đây, Viện KH và CN Việt Nam, cùng Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã và đang phối hợp chặt chẽ các tỉnh Tây Nguyên xây dựng, đề xuất và lựa chọn gần 60 đề tài, nhiệm vụ KH và CN để triển khai đến năm 2015. Trên cơ sở đó cung cấp các cơ sở dữ liệu, luận cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương và cả khu vực Tây Nguyên.
Ðồng thời tạo bước tiến mới trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh; không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế trong khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng đất có vị trí chiến lược này.
Giáo sư, TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện KH và CN Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình nêu rõ nội dung nghiên cứu của các đề tài, dự án phải xuất phát từ nhu cầu thực tế cuộc sống; giải quyết được những vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội; an ninh quốc phòng đang đặt ra cho mỗi địa phương và cả khu vực. Làm được như vậy mới thể hiện được vai trò của KH và CN trong việc góp phần thúc đẩy Tây Nguyên thu hẹp khoảng cách với các khu vực khác trong cả nước và phát triển một cách bền vững. (Nhân Dân 1/12) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2012, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 8.736 ha rừng, đạt 124,8% kế hoạch, trong đó, trồng rừng phòng hộ được 2.456 ha, trồng rừng sản xuất được trên 6.280 ha.
Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đã tăng cường các biện pháp phòng – chống cháy rừng và thường xuyên quan tâm tới công tác chăm sóc, khoanh nuôi, quản lý bảo vệ. Theo đó, trên địa bàn toàn tỉnh không để xảy ra các vụ cháy rừng; tổng diện tích khoanh nuôi bảo vệ rừng đạt hơn 75.000 ha, độ che phủ rừng ổn định khoảng 46% diện tích tự nhiên. (Báo Hòa Bình 30/11) đầu trang(
Liên quan đến vụ “Khỉ liên tục tấn công người” Báo Thanh Niên đã phản ánh, ngày 30.11, ông Nguyễn Văn Hồng, Đội phó Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh), cho biết Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh đã bắt được 6 con khỉ hung dữ và đem thả vào rừng ở Theo ông Hồng, vừa qua một số con khỉ đuôi cụt hung dữ cắn người gây ra trong khu vực nội ô Tòa Thánh khiến người dân hoang mang.
Sau khi báo phản ánh, đồng thời được sự cho phép của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh và Hội đồng Chưởng quản Tòa Thánh, Chi cục đã thả 6 con khỉ đã bắt được trước đó vào rừng để chúng tiếp tục sống.
“Vẫn còn 4 con khỉ hung dữ chưa bắt được, chúng tôi đang đợi thêm vài ngày nữa, khi chúng dạn sẽ tiếp tục bắt và thả vào rừng”, ông Hồng nói. (Thanh Niên 1/12) đầu trang(
Để thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng rừng trong cả giai đoạn 2011-2015, bước sang năm 2013, Lạng Sơn phải triển khai trồng mới 9.000ha rừng. Chỉ tiêu này cao hơn 1.000 ha so với năm 2011 và 2012. Đồng thời với tăng chỉ tiêu, ngành lâm nghiệp còn phải triển khai thêm một nhiệm vụ nữa là trồng mới gần 600 ha rừng phòng hộ.
Điểm thuận lợi cơ bản của vụ trồng rừng 2013 được xác định là nguồn vốn của Trung ương phân bổ cho kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của Lạng Sơn có tăng hơn so với năm trước, ở mức 30 tỷ đồng.
Hiện nay ngành hữu quan đang tham mưu cho UBND tỉnh, dự kiến ngoài các nội dung về quản lý, bảo vệ rừng, sẽ phân bổ nguồn vốn này đủ trồng hơn 3,5 nghìn ha rừng hỗ trợ sản xuất và 596 ha rừng phòng hộ. Như vậy trong chỉ tiêu trồng mới 9.000 ha rừng, thì nguồn ngân sách Trung ương đã đủ trồng 4,1 nghìn ha. Ở nội dung trồng cây phân tán, cũng như hàng năm, năm 2013 ngân sách tỉnh vẫn tiếp tục phân bổ cho các địa phương đảm bảo trồng mới 3.000 ha rừng. Điều này có nghĩa là 7,1 nghìn ha rừng đã có vốn để triển khai thực hiện. Số diện tích còn lại được kỳ vọng từ phong trào trồng cây nhân dân, các doanh nghiệp và các huyện tự cân đối từ nguồn vốn sự nghiệp nông nghiệp.
Ngoại trừ việc tăng chỉ tiêu trồng mới, thì vụ trồng rừng năm 2013 có nhiều điểm khá tương đồng với vụ trồng rừng năm nay. Điểm thuận lợi cơ bản là nguồn vốn ngân sách bố trí đủ trồng khoảng 75% kế hoạch. Nhắc lại vụ trồng rừng năm 2011, việc triển khai kế hoạch trồng mới 8.000 ha rất khó khăn khi nguồn vốn Trung ương cấp chỉ đủ cho triển khai một số nội dung của quản lý, bảo vệ rừng, không có vốn cho trồng rừng, tất cả chỉ trông chờ vào 3.000 ha từ ngân sách của tỉnh, còn lại là xã hội hóa.
Bước sang năm 2012, trồng rừng đã thuận lợi hơn khi cả nguồn vốn của trung ương và của tỉnh đủ trồng 75% kế hoạch cả năm. Với thuận lợi này, kết thúc vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh đã trồng mới 8.716 ha rừng, vượt kế hoạch 9%. Trong đó ngoài các diện tích trồng từ nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách của tỉnh thì nhân dân tự trồng được 1.012 ha và 1.139 ha từ nguồn ngân sách của huyện.
Ông Hoàng Mạnh Chức, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp phân tích: trong vài năm trở lại đây, ngoài nguồn vốn phân bổ của tỉnh, các huyện đã chủ động cân đối ngân sách địa phương hỗ trợ thêm cho trồng rừng. Đồng thời nhận thức rõ giá trị kinh tế của rừng, nhân dân các địa phương đã mạnh dạn tự đầu tư và vay vốn theo chính sách ưu đãi của tỉnh để trồng rừng. Đây vẫn tiếp tục là thuận lợi cơ bản cho vụ trồng rừng 2013. Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi cơ bản, thì trồng rừng 2013 vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Khó khăn cơ bản nhất vẫn là việc các phòng NN&PTNT vẫn tiếp tục phải đảm nhiệm dự án trồng rừng hỗ trợ sản xuất. Năm nay nhiều địa phương đã không hoàn thành nổi chỉ tiêu của dự án này như Chi Lăng, Văn Lãng, Cao Lộc. Hiện nay, ngành chức năng đang hoàn thiện đề án thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ với mục đích quản lý, bảo vệ tốt hơn các diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn và triển khai thực hiện các dự án về lâm nghiệp. Tuy nhiên nếu triển khai nhanh thì cũng phải cuối năm sau mới có thể thành lập các ban này.
Như vậy có nghĩa là dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất vẫn phải giao về cho phòng NN&PTNT các địa phương. Thêm vào đó chỉ tiêu trồng mới gần 600 ha rừng phòng hộ không phải là dễ bởi hiện trường trồng rừng rất xa, mặt khác nội dung này khác hoàn toàn với hỗ trợ trồng rừng sản xuất do vậy khó huy động lực lượng triển khai.
Theo lãnh đạo Chi cục phát triển lâm nghiệp để có thể thực hiện tốt vụ trồng rừng 2013 thì hiện nay việc trước tiên các địa phương cần căn cứ vào mức phân bổ dự kiến để chỉ đạo chuẩn bị hiện trường trồng và gieo tạo cây con. Ước tính toàn tỉnh sẽ cần trên 22 triệu cây giống. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, đẩy mạnh xã hội hóa công tác trồng rừng. Trước mắt là xây dựng kế hoạch triển khai công tác trồng cây đầu xuân tạo khí thế mở đầu cho vụ trồng rừng của năm.
Trồng mới 9.000 ha là chỉ tiêu khá cao, nhưng phải hoàn thành thì Lạng Sơn mới có thể thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra. Nhớ lại giai đoạn 2006-2010, với rất nhiều khó khăn, nhưng Lạng Sơn vẫn hoàn thành vượt kế hoạch trồng mới 11.000 ha rừng mỗi năm. Trong giai đoạn hiện nay nhà nước vẫn tiếp tục quan tâm, phân bổ nguồn lực từ ngân sách cho trồng rừng, trong khi đó việc xã hội hóa nghề rừng trên địa bàn tỉnh đang phát triển ngày một sâu, rộng. Đó là những yếu tố cơ bản để Lạng Sơn hướng tới hoàn thành thắng lợi vụ trồng rừng 2013. (Báo Lạng Sơn 2/12) đầu trang(
Kết thúc vụ trồng rừng mùa mưa năm 2012, tỉnh Tây Ninh đã trồng mới thêm được 1.001 ha rừng, vượt 5,9% so kế hoạch, trong đó có 560 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; 441 ha rừng sản xuất, vượt 47% so kế hoạch. (Nhân Dân 3/12) đầu trang(
1-12 tại TP Hải Phòng, chương trình Quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt Nam do Tổng Cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và nhãn hàng nước giải khát Vfresh thuộc Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk đã tiến hành trồng 3.500 cây xanh tại hồ Dư Hàng, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân.
Trước đó, chương trình đã trồng cây tại xa lộ Hà Nội ở TP Hồ Chí Minh; trồng rừng ngập mặn ở TP Hạ Long (Quảng Ninh); trồng cây ở trường Hà Nội - Amsterdam và Lương Thế Vinh (Hà Nội); tại khu vực Âu Thuyền và cảng cá Thọ Quang, TP Đà Nẵng…
Tính đến nay chương trình đã trồng được trên 70.000 cây xanh. Được biết chương trình sẽ mở rộng đến các khu vực mà cây xanh sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng như: khu dân cư, khu công cộng, các tuyến đường trung tâm, các trường học… tại nhiều tỉnh thành trên toàn quốc. (Hà Nội Mới 3/12) đầu trang(
Anh Hoàng Văn Ngụy, thôn Nà Quân, xã Bình Trung (Chợ Đồn) phát triển thành công mô hình kinh tế rừng với diện tích 30 héc ta. Không chỉ đi đầu trong công tác trồng rừng, anh còn là một trong những tấm gương tiêu biểu cho phong trào mở đường vào các khu sản xuất ở địa phương.
Năm 2003, anh Ngụy có dịp đi sang các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, thấy bà con nơi đây trồng rừng để làm giàu hiệu quả, anh vừa học hỏi kinh nghiệm vừa bắt tay vào ươm cây giống cây keo. Chỉ trong vòng 2 năm, từ 2005 – 2006 anh đã trồng được 10ha keo ở khu Khuổi Chang thuộc thôn Khuổi Đẩy. Đất tốt nên cây keo sinh trưởng và phát triển nhanh. Năm 2009 anh bắt đầu đưa cây mỡ vào trồng, năm đầu anh trồng được 1,5ha, năm 2010 trồng thêm 1,5ha nữa.
Cũng trong năm 2009, thấy 10ha keo đã phát triển tốt, qua giai đoạn phải chăm sóc nhiều nên anh quyết định đầu tư mua thêm 14ha đất tại khu Khuổi Tang, thôn Bản Pèo. Trong 3 vụ trồng rừng, từ 2010 đến 2012 anh đã trồng thêm được 5ha keo nâng tổng số diện tích rừng đã trồng của gia đình anh lên 22ha. Dự kiến trong vụ trồng rừng 2013 này anh sẽ trồng thêm 5ha nữa. Cũng trong năm 2010, do khu đất ở Khuổi Tang anh mua cách xa khu trung tâm nên anh đã đầu tư mở đường vào để thuận tiện cho việc trồng và chăm sóc rừng. Hiện 10ha keo anh trồng năm 2005 đang bước vào tuổi khai thác. Anh và mấy gia đình có rừng ở khu vực đó đã góp tiền thuê máy xúc, máy ủi mở thêm đường để chuẩn bị khai thác rừng keo.
Được biết trong những vụ trồng rừng trước, trên những diện tích rừng mới trồng năm thứ 1, thứ 2 anh đều cho bà con dân tộc Mông thuộc thôn Bản Pèo gieo lúa nương, vừa tạo việc làm tăng thu nhập cho bà con, vừa đỡ công sức làm cỏ cho gia đình.
Đồng chí Hà Văn Duẩn, Chủ tịch UBND xã Bình Trung cho biết: Anh Hoàng Văn Ngụy là một trong những người đầu tiên tự bỏ tiền, công sức để trồng rừng, khơi dậy phong trào mở đường vào các khu sản xuất ở địa phương. Đến nay toàn xã đã có hơn 60 ki-lô-mét đường vào khu sản xuất được làm từ sức dân. Anh Ngụy xứng đáng là tấm gương sáng trong phát triển kinh tế rừng ở địa phương. (Báo Bắc Kạn 30/11) đầu trang(
Trong khoảng 31.000ha đước bạt ngàn ở khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (TP.HCM) thì 24 cây đước được ví như những số phận nhỏ nhoi. Thế nhưng những cây đước này lại gây nên bất ngờ về công tác bảo tồn, bảo vệ rừng.
Để mở rộng, tái hiện, tôn tạo di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác (huyện Cần Giờ, TP.HCM), Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ cho biết nhiều khả năng phải “hi sinh” 24 cây đước hơn 30 năm tuổi ở tiểu khu 17.
Mới nghe nhắc đến những cây đước được trồng từ những năm cuối thập niên 1970, đầu những năm 1980, chắc hẳn ai cũng nghĩ đây phải là những cây cổ thụ tỏa bóng mát sum sê, um tùm và lực lưỡng. Nhưng chiều 28-11, khi đi qua Đảo Khỉ thuộc khu du lịch sinh thái Cần Giờ, men theo dòng nước thủy triều vào tận sâu nơi chiến khu Rừng Sác, được tận mắt nhìn thấy 24 cây đước mà đơn vị tôn tạo di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác mong muốn được đốn để mở rộng sàn đứng cho khách tham quan, mới biết rằng suy nghĩ trên có cách biệt lớn với thực tế.
Cây đước lớn nhất trong nhóm này ước chừng có đường kính 60cm, cao khoảng 20m, còn lại phần lớn là cây có bề ngang 30-40cm, cao 15-18m. 24 cây đước này chỉ chiếm diện tích đất rừng rất nhỏ, ước khoảng 100m2.
Hỏi về việc có nên “hi sinh” 24 cây đước này để mở rộng sàn đứng cho khách tham quan hay không, bà Nguyễn Thị Thơ - một khách tham quan khu di tích căn cứ trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác đến từ Mỹ Tho (Tiền Giang) - vui vẻ nói: “Tiếc thì đương nhiên cũng tiếc khi đốn cây, nhưng cũng cân nhắc cái lợi, cái hại. Cái lợi thì mình thấy rồi, nếu di tích này được tôn tạo rộng hơn, đẹp hơn và bổ sung nhiều tượng đài có ý nghĩa lịch sử hơn thì tất nhiên sẽ thu hút nhiều khách du lịch và cả quảng bá được văn hóa, lịch sử của mình nữa.
Còn cái hại, theo tôi, không có gì đáng kể vì bạn nhìn xem, xung quanh những cây đước kia là bạt ngàn những cây đước khác, to có, nhỏ có, già có, trẻ có. Nên có đốn 24 cây đước này cũng không ảnh hưởng đến sinh khí nơi đây và theo tôi cũng giống như... lấy nước từ đại dương làm muối của diêm dân hiện nay vậy.” Quả thật, khi men theo khoảng 8km đường rạch để vào tận sâu trong di tích trung đoàn 10, chúng tôi cũng đi giữa bạt ngàn rừng đước với những rễ cây trồi lên khỏi mặt nước, mặt bùn đến 1-2m, bám chặt vào đất.
Đước nhiều vô kể. Nhưng không vì sự “nhiều” đó mà người dân, ban quản lý rừng phòng hộ và những đơn vị làm công tác bảo vệ, bảo tồn khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên này bừa bãi với số phận của từng cây rừng.
Ông Lê Thanh Liêm, trưởng Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, cho biết: “Một cây rừng bị chặt đi hoặc vì dự án nào đó phải hi sinh, chúng tôi cũng báo cáo lên các cấp có thẩm quyền và Unesco. 24 cây là nhiều rồi, sao lại không báo”.
Còn ông Cát Văn Thành, phó trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, chia sẻ: “Unesco không quản lý hai, ba hay vài chục cây đước và hằng năm rừng tái sinh nhiều hơn con số này, nhưng cái gì đụng tới cây, rừng... là mình phải thận trọng”.
Có lẽ đây là tư tưởng thông suốt trong việc bảo vệ rừng nên từ cuối tháng 10-2012, trong văn bản số 785/TB-VP, UBND TP.HCM đã yêu cầu UBND huyện Cần Giờ có văn bản báo cáo để chỉ đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM thực hiện thủ tục thông báo cho cơ quan Unesco về việc đốn cây và cơ cấu diện tích trồng lại cây mới tại rừng phòng hộ Cần Giờ.
Việc TP.HCM thận trọng với 24 cây đước khi cả rừng phòng hộ Cần Giờ có đến 31.000ha rừng, chủ yếu là đước, được nhiều chuyên gia về lâm nghiệp và bảo vệ rừng đánh giá cao. Tuy nhiên, với những người trong cuộc thì đó là việc thường ngày.
Ông Lê Minh Dũng - phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM, thành viên Ban chỉ đạo trồng rừng và cây xanh của TP - cho biết: “Không phải đến dự án tôn tạo khu di tích chiến khu Rừng Sác, mà nhiều dự án cấp bách như an ninh, quốc phòng... khi lấy đi một diện tích rừng, chúng tôi đều trồng bù lại. Nguyên tắc chung để bảo vệ rừng là có tác động thì phải trồng bù, bất cứ đó là chuyện nhỏ hay chuyện lớn”.
Xuất phát điểm của việc thường ngày đó là phải tuân thủ quy chế quản lý khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Nhưng quan trọng hơn là “TP xác định việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển như bảo vệ lá phổi của chính chúng ta. Ở một TP đông dân nhất cả nước này, nếu không có cây rừng và mất dần cây rừng là việc đáng sợ, sẽ làm mất cân bằng sinh thái”.
Năm 2000, rừng phòng hộ Cần Giờ là nơi đầu tiên của Việt Nam được Unesco công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới. 10 năm sau, năm 2010, lần thứ nhất Unesco đánh giá lại việc có tiếp tục trao danh hiệu này cho khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ hay không thì nơi đây đều đáp ứng bảy tiêu chí của bốn khung pháp lý của mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới như hệ sinh thái đại diện, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững trên quy mô khu vực...
Không những thế, 33.000ha rừng ngập mặn được đánh giá là quản lý bảo vệ và phát triển tốt với số lượng loài thực vật ngập mặn từ 33 loài lên 37 loài, động vật tăng từ 130 loài lên 145 loài.
Nhiều người khi được hỏi về hành động, ứng xử với 24 cây đước trong rừng phòng hộ Cần Giờ nói trên đều lội ngược dòng quá khứ những ngày đầu trồng rừng để lý giải.
Ông Nguyễn Đình Cương - chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, nguyên phó giám đốc Lâm trường Duyên Hải, người trực tiếp tham gia chỉ đạo, trồng rừng những năm 1980 - nhớ lại: Sau chiến tranh, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ gần như bị hủy diệt hoàn toàn, chỉ còn lại một ít cây bụi xơ xác. Theo đánh giá của các nhà khoa học người Mỹ, Việt Nam phải mất cả 100 năm mới mong phục hồi cánh rừng này.
Nhưng theo chỉ đạo của TP, mỗi năm trồng 3.000-4.000ha rừng, huy động 5.000-6.000 người dân, cán bộ các lâm trường nên đã thần tốc trong việc khôi phục rừng ngập mặn Cần Giờ. Và như vậy sau 20 năm, rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở lại đa dạng sinh học như trước.
“Tôi có một thời gian dài ở đó nên hiểu trồng rừng đã khó rồi, bảo vệ lại còn khó hơn. Nên từng tấc rừng hiện nay được bảo vệ nghiêm ngặt” - ông Cương nói. Mặt khác, cánh rừng này là công sức của đồng bào TP. Từ năm 1978-1990, liên tục trong ba tháng 8, 9, 10, người dân và cán bộ lâm trường đã không quản ngại mưa nắng để cấp tập trồng rừng vì “từ tháng 11 trở đi, trái đước bị sâu, không nảy mầm được”.
Mỗi hecta rừng lúc đó trồng đến 10.000 cây và sau khi cây bắt đầu ra 4-6 lá là tổ chức nghiệm thu, cây nào không nảy mầm thì trồng lại. “Chúng ta đã gian khổ để có rừng, nên việc bảo vệ rừng cũng là bảo vệ công sức lao động và giọt mồ hôi của những người từng vất vả trồng rừng” - ông Cương nói. (Tuôi Trẻ 2/12) đầu trang(
Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, tính đến nay cả nước đã phát hiện 2.029 vụ phá rừng trái pháp luật, giảm 68 vụ (tương đương 3%) so với cùng kỳ năm trước và 1.145 vụ khai thác rừng trái phép (giảm 21%so với cùng kỳ năm 2011). Diện tích rừng bị phá là 622,86ha - giảm 386,38ha so với cùng kỳ năm 2011.
Trung bình mỗi kiểm lâm phụ trách 1,4 xã có rừng. Cục Kiểm lâm cho biết, hiện cả nước có gần 11.800 kiểm lâm viên, trong đó kiểm lâm địa bàn toàn quốc là hơn 4.400 người, phụ trách 5.531 xã. Theo kết quả theo dõi diễn biến rừng, đến hết năm 2011 cả nước có hơn 13,5 triệu ha rừng, nằm trên 6.009 xã. Như vậy trung bình cả nước cứ 1 kiểm lâm phụ trách 1,4 xã có rừng. (Lao Động 1/12) đầu trang(
Bên cạnh công tác vận động tuyên truyền, trong thời gian qua, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp các ngành, địa phương tổ chức nhiều đợt truy quét các “điểm nóng” phá rừng, cưỡng chế, giải tỏa lấn chiếm đất rừng. Vì thế, tình trạng phá rừng trên địa bàn tỉnh đã giảm nhiều so với các năm trước.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tính đến đầu tháng 11, toàn tỉnh đã phát hiện và lập biên bản xử lý hơn 670 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 347 vụ phá rừng trái pháp luật, gây thiệt hại 201 ha rừng, giảm 100 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị phá tập trung ở các huyện Ðắk Glong: 58,51 ha, Ðắk Song: 52 ha, Tuy Ðức: 30 ha, Chư Jút: 25 ha…
Ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Sở dĩ diện tích rừng bị mất được phát hiện giảm hơn so với nhiều năm trước là do vai trò, trách nhiệm và nhận thức về tài nguyên rừng của các cấp ngành, địa phương, “chủ rừng”, người dân được nâng lên. Ngoài ra, công tác quản lý bảo vệ rừng được các cấp, ngành, lực lượng chức năng và địa phương triển khai ngày một chặt chẽ, quyết liệt hơn".
Cũng theo ông Tài, để hạn chế mất rừng, cùng với đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp các ngành, địa phương tổ chức nhiều đợt truy quét “điểm nóng” phá rừng, cưỡng chế, giải tỏa lấn chiếm đất rừng. Cụ thể, Kiểm lâm tỉnh phối hợp với huyện Krông Nô cưỡng chế, giải tỏa được hàng chục đối tượng lấn chiếm và sử dụng 173 ha đất rừng trái phép ở khu rừng cộng đồng thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú. Nhiều huyện đã chủ động thành lập Ðoàn 12, tổ chức rà soát, thống kê được những diện tích rừng bị lấn chiếm, đồng thời lên phương án giải tỏa và thu hồi với tổng diện tích hơn 5.700 ha đất rừng.
Mặt khác, công tác chống buôn bán, vận chuyển lâm sản, động vật rừng cũng được lực lượng kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chức năng tăng cường kiểm soát. Tính trong 10 tháng đầu năm nay, các đơn vị đã phát hiện, ngăn chặn được hơn 240 vụ vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái phép, tịch thu hơn 2.400 m3 gỗ các loại, xử phạt hơn 5,3 tỷ đồng...
Bên cạnh tín hiệu đáng mừng là số diện tích rừng bị mất ngày một giảm thì vẫn còn đó những bất cập, tồn tại trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Trước hết, công tác giao đất giao rừng cho địa phương, các doanh nghiệp tư nhân nhận quản lý bảo vệ vẫn còn nhiều “khoảng trống” pháp lý, dẫn đến nhiều diện tích rừng bị mất chưa được xử lý rõ trách nhiệm từng “chủ rừng”.
Tính đến đầu năm 2012, các nông, lâm trường đã giao về cho địa phương quản lý hơn 94.000 ha đất, trong đó đất lâm nghiệp hơn 65.000 ha, đất khác gần 30.000 ha, trong tổng số 98.904 ha đất rừng, rừng (nằm ngoài Nghị định 200/NQ-CP của Chính phủ). Sau khi nhận đất, rừng, các địa phương đã triển khai cấp “sổ đỏ” cho người dân, giao cho doanh nghiệp thuê thực hiện dự án nông, lâm nghiệp, phần còn lại giao các xã quản lý.
Trường hợp những diện tích rừng được giao về cho các ban quản lý, khu bảo tồn, công ty lâm nghiệp lại bất cập ở điểm, rừng nhiều, nhưng ít người bảo vệ. Ðây được xem là một trong các nguyên nhân gây mất rừng. “Trong tổng số hơn 20.000 ha đất rừng, rừng đặc dụng được đơn vị quản lý bảo vệ thì chỉ có hơn 20 kiểm lâm viên. Nếu đúng quy định, mỗi kiểm lâm viên quản lý 500 ha rừng đặc dụng thì ở đơn vị chúng tôi, thiếu cỡ một nửa lực lượng bảo vệ rừng”, ông Lê Quang Dần, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Ðùng (Ðắk Glong) chia sẻ.
Có thể ghi nhận số diện tích rừng bị mất giảm đã thể hiện một phần sự cố gắng, nỗ lực của ngành chức năng, địa phương và “chủ rừng”. Tuy nhiên, khi mà việc xử lý đối tượng phá rừng, quy trách nhiệm các “chủ rừng”, đơn vị được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng để mất rừng chưa được thực hiện quyết liệt thì nguy cơ rừng bị xâm hại ở mức cao vẫn còn đó. (Báo Đăk Nông 30/11) đầu trang(
30-11, một nguồn tin từ Thanh tra Chính phủ cho biết: Tổng Thanh tra Chính phủ vừa có quyết định thanh tra việc giao đất, giao rừng tại tỉnh Bình Phước.
Trong 60 ngày, đoàn thanh tra sẽ tiến hành thanh tra việc giao đất, giao rừng của tỉnh trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2010.
Trước đó, Pháp Luật TP.HCM có nhiều bài viết phản ánh việc giao đất, sang nhượng đất rừng trái phép tại tỉnh Bình Phước. Nhiều vụ việc cơ quan điều tra phải vào cuộc, có vụ Công an tỉnh Bình Phước phải xin ý kiến của Bộ Công an và Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng để xử lý.
Theo một báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, hiện có gần 7.000 ha đất rừng đang sử dụng sai bị thu hồi và đề nghị thu hồi. Thường vụ Tỉnh ủy đã phải đề nghị UBND tỉnh xem xét lại việc giao khoán, cho thuê đất rừng vì tiềm ẩn quá nhiều bất cập, khó kiểm soát... (Pháp Luật TPHCM 30/11) đầu trang(
30-11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đác Nông cho biết, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện và lập biên bản xử lý hơn 670 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 347 vụ phá rừng trái pháp luật, làm hơn 201 ha rừng tự nhiên bị “xóa sổ”.
Trong đó, huyện Ðác Glong có diện tích rừng tự nhiên bị phá nhiều nhất với 58,51 ha, huyện Ðác Song 52 ha, huyện Tuy Ðức 30 ha, huyện Cư Giút 25 ha…
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm còn phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện được 240 vụ vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái phép, tịch thu hơn 2.400 m3 gỗ các loại, xử phạt hơn 5,3 tỷ đồng.
Cũng trong thời gian trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh còn phối hợp với các ngành chức năng của các huyện, thị xã đã tổ chức giải tỏa, thu hồi với tổng diện tích hơn 5.700 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép giao cho các đơn vị và chính quyền địa phương quản lý, sử dụng. (Nhân Dân 30/11) đầu trang(
Năm 2010, Công ty CP tập đoàn VTI tại 74 Bạch Đằng, TP. Đà Nẵng do ông Võ Văn Vi làm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc, đã mua 81,2 ha đất lâm nghiệp dưới chân núi Phước Tường, phường Hòa Phát và Hòa An, quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng để thực hiện dự án (DA) “Thành phố trên đồi", rồi triển khai xây dựng nhiều hạng mục khi chưa được cấp phép. Ngay sau đó, cơ quan Thanh tra đã phát hiện và làm rõ nhiều sai phạm nghiêm trọng trong việc cấp “sổ đỏ” và chuyển nhượng đất đai tại đây.
Với mục đích triển khai dự án “Thành phố trên đồi”, VTI đã nhận chuyển nhượng 7 thửa đất lâm nghiệp hơn 81 ha, được UBND huyện Hòa Vang (cũ) cấp “sổ đỏ” trong thời gian từ năm 2002 - 2005, của các ông Trương Bông, Trần Xuân Lúc, Huỳnh Đức Thơ, Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Đức và các bà Huỳnh Thị Thanh, Hoàng Châu Âu, Nguyễn Thị Hoa, Lê Thị Mỹ Loan...
Đầu năm 2010, VTI có đơn đề nghị UBND TP cho chủ trương đầu tư DA “Thành phố trên đồi”, lãnh đạo TP yêu cầu VTI lập hồ sơ DA và giao Sở KH&ĐT kiểm tra lại việc cấp Giấy phép kinh doanh đối với các Công ty tham gia góp vốn cùng VTI. Khi chưa được cơ quan thẩm quyền cho phép, VTI đã triển khai DA với nhiều hạn mục trên 6.200m2 tại Thửa đất 1455, tờ Bản đồ số 11.
Tháng 9/2010, UBND quận Cẩm Lệ (chia tách từ huyện Hòa Vang) quyết định xử phạt hành chính VTI 30 triệu đồng vì xây dựng không phép và yêu cầu phải tự tháo dỡ công trình, UBND quận cũng giao trách nhiệm cho Công an, Ban chỉ huy Quân sự quận, các cơ quan chức năng xác định mức độ thiệt hại việc VTI phá bỏ Giếng Trắng, một di tích lịch sử để có tiếp tục xử lý.
Theo Thanh tra TP, toàn bộ hồ sơ có liên quan đến việc lập thủ tục giao đất, thu hồi đất, cấp “sổ đỏ” cho các cá nhân với 7 thửa đất lâm nghiệp mà VTI đã nhận chuyển nhượng là không đúng pháp luật. Qua làm việc các cá nhân được giao đất trồng rừng và được cấp “sổ đỏ” đều trình bày, ông Võ Văn Thanh vận động đứng tên còn mọi thủ tục đều do ông Thanh làm và họ không trực tiếp trồng rừng.
Ông Nguyễn Hữu Hơn - nguyên Trưởng phòng TN&MT huyện và ông Nguyễn Phú Ban, nguyên Phó chủ tịch UBND huyện Hòa Vang cho rằng, thời điểm 2005, thực hiện chủ trương giao đất rừng và cấp “sổ đỏ” cho các hộ, cá nhân, do công việc nhiều và tin tưởng bộ phận tham mưu nên khi ký duyệt đã không xem xét kỹ từng hồ sơ. Nếu Đoàn thanh tra nhận thấy việc lập thủ tục giao đất không đúng pháp luật, và kiến nghị thu hồi, thì ông cũng thống nhất, và đề nghị làm rõ trách nhiệm của bộ phận tham mưu...
Còn ông Trần Công Quốc, cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền SDĐ trình bày: Thời điểm 2005, theo chỉ đạo của ông Nguyễn Châu, Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền SDĐ cho rằng, các hồ sơ trên đều đủ điều kiện cấp “sổ đỏ”, nên yêu cầu ông hoàn tất thủ tục để trình UBND huyện ký. Trong quá trình làm ông không thẩm tra kỹ hồ sơ, Phòng TN&MT Hòa Vang không đo vẽ sơ đồ, ông ghi lời phê tại phần xác nhận của Phòng TN&MT cho 4 hồ sơ, 3 hồ sơ còn lại ông không ghi và không biết ai ghi, nhưng lại có ký tên cán bộ thẩm tra.
Trên cơ sở kết luận và kiến nghị của Thanh tra TP, ngày 24/5/2011, UBND quận Cẩm Lệ đã ra các quyết định hủy bỏ 7 “sổ đỏ” của các cá nhân có đất lâm nghiệp đã chuyển nhượng cho VTI. Về phía cán bộ liên quan, đã có hàng loạt cán bộ từ UBND phường đến Văn phòng Đăng ký quyền SDĐ, Phòng TN&MT quận Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang phải nhận các mức kỷ luật, có người phải rời khỏi chức vụ...(Thanh Tra 1/12) đầu trang(
Những ngày gần đây cơ quan chức năng đã phát hiện tại Vườn quốc gia Ba Bể có thêm 15 cây nghiến cổ thụ bị “lâm tặc” đốn hạ, gây bàng hoàng trong dư luận.
15 cây nghiến bị đốn hạ có đường kính từ 0,4 mét đến 0,8 mét tại khu vực mốc 50, 51 của Vườn quốc gia Ba Bể, địa bàn giáp ranh hai xã Quảng Khê (huyện Ba Bể) và Nam Cường, huyện Chợ Đồn. Sau khi đốn hạ, hiện trường còn lại là gốc nghiến hàng trăm năm tuổi, thân cây, bìa bắp, cành, ngọn nằm ngổn ngang. Nhiều cây đã bị “lâm tặc” xẻ thành thớt, ván mang đi tiêu thụ.
Kiểm tra hiện trường vụ việc khai thác rừng đặc dụng nghiêm trọng này, làm việc với các cơ quan chức năng ngày 29-11, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Nông Văn Chí chỉ rõ: “Để 15 cây nghiến bị đốn hạ trái phép, trách nhiệm trước tiên thuộc về Vườn quốc gia Ba Bể, khi phát hiện vụ việc không báo cáo kịp thời để các cấp, ngành chức năng phối hợp làm rõ vụ việc. Việc tổ chức tuần tra, kiểm soát rừng của kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể thời gian qua chưa thường xuyên; phối quản lý, bảo vệ rừng giữa địa phương và Vườn quốc gia Ba Bể chưa đồng bộ, chưa thống nhất dẫn đến rừng gỗ quý hiếm bị khai thác trái phép”.
“Thời gian tới, Vườn quốc gia Ba Bể phải tập trung lực lượng truy quét “lâm tặc” ở những địa bàn phức tạp, kiểm tra thường xuyên các cơ sở chế biến lâm sản chung quanh vườn quốc gia; phối hợp với cơ quan điều tra làm rõ thủ phạm vụ việc này”- ông Chí yêu cầu.
Trước đó, tại Vườn quốc gia Ba Bể đã có hàng trăm cây nghiến cổ thụ bị đốn hạ trái phép, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án; hàng chục cán bộ, kiểm lâm ở đây bị kỷ luật, điều chuyển công tác.
Vườn quốc gia Ba Bể và chính quyền huyện Ba Bể đã tổ chức một số đợt truy quét “lâm tặc”, nhưng lại thêm vụ khai thác 15 cây nghiến nêu trên không chỉ bộc lộ những bất cập, khó khăn mà cả sự bất cập, yếu kém trong việc quản lý, bảo vệ vườn quốc gia này. (Nhân Dân 30/11) đầu trang(
1/12, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: “Sau khi phát hiện lâm tặc khai thác trái phép 15 cây nghiến ở VQG Ba Bể và bắt giữ hai xe ô tô chở lâm sản từ đây đi tiêu thụ, tỉnh chỉ đạo các cấp, ngành chức năng khẩn trương làm rõ vụ việc, thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ Vườn quốc gia này”.
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Cạn Nguyễn Xuân Cường chỉ đạo, Công an tỉnh khẩn trương khởi tố vụ án, trực tiếp chỉ đạo điều tra, làm rõ đối tượng chặt hạ 15 cây nghiến cổ thụ tại Vườn quốc gia Ba Bể. Coi đây là vụ án điểm, xét xử công khai để góp phần giáo dục, răn đe trong xã hội.
UBND tỉnh cũng yêu cầu, Ban quản lý Vườn quốc gia này phải kiểm điểm, làm rõ để xử lý trách nhiệm của lãnh đạo, cá nhân để xảy ra vụ việc; vì sao kiểm lâm đi tuần rừng phát hiện vụ việc vào ngày 20- 11 mà gần mười ngày sau mới báo cáo cấp có thẩm quyền, sự chậm trễ này gây khó khăn cho quá trình điều tra.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh thời gian gần đây bắt giữ hai xe ô tô vận chuyển 1,82 khối gỗ dạng thớt và gỗ nghiến đã xẻ khai thác từ Vườn quốc gia Ba Bể. Điều đó cho thấy, sau những đợt cao điểm truy quét “lâm tặc” từ tháng 7 đến hết tháng 10- 2012 thì tình hình khai thác, vận chuyển gỗ nghiến từ Vườn quốc gia Ba Bể có giảm, nhưng sau khi kiểm lâm “trùng xuống” thì lại xảy ra những vụ việc nêu trên.
Từ ngày 1-12 này, Chi cục Kiểm lâm sẽ tăng cường kiểm lâm từ đội cơ động, duy trì hai tổ chốt chặn với 12 kiểm lâm viên tại Bản Màn, xã Bằng Phúc (huyện Chợ Đồn) nhằm ngăn chặn việc chở gỗ lậu từ vườn quốc gia ra Thủy điện Tà Làng lên Đồng Phúc rồi ra Bằng Phúc; tổ chốt thứ hai đặt tại Bản Khang, xã Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn) để ngăn chặn vận chuyển gỗ trái phép từ vườn quốc gia ra Quảng Khê, Nam Mẫu qua Xuân Lạc rồi xuống huyện Chợ Đồn.
Với 14 trạm kiểm lâm, hơn 40 kiểm lâm viên, Vườn quốc gia Ba Bể luân chuyển các trạm trưởng, trạm phó, tăng cường kiểm lâm viên có năng lực đến các “điểm nóng”, tổ chức tuần rừng thường xuyên nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại vườn quốc gia này. (Nhân Dân 3/12) đầu trang(
29/11, Công an huyện Tánh Linh thực hiện lệnh tạm giam 4 tháng đối với Nguyễn Văn Sáng, nguyên Trưởng trạm bảo vệ rừng 309, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (KBTTNNO) để điều tra về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Trước đó, Huyện ủy Tánh Linh cũng đã đình chỉ sinh hoạt Đảng, cách chức Trưởng trạm đối với Nguyễn Văn Sáng
Đầu năm 2012, tại tiểu khu 358, do Trạm bảo vệ rừng 309 quản lý, lâm tặc triệt hạ 84 cây gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII, tổng lâm sản thiệt hại là 115,67m3, nhưng trạm này không phát hiện kịp thời... Tháng 6/2012, Hạt Kiểm lâm Tánh Linh còn yêu cầu Ban quản lý KBT TNNO giải trình cụ thể việc kiểm tra, phát hiện và xác lập 11 hồ sơ vi phạm về rừng.
Theo báo cáo của Ban quản lý KBTTNNO, từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2012, Trạm bảo vệ rừng 309 đã nhiều lần phát hiện đối tượng phá rừng tại tiểu khu 358 nhưng không bắt được đối tượng, trạm này lập 11 biên bản kiểm tra với tổng số thiệt hại 8,311m3. Căn cứ quy định của ngành thì với diện tích phá rừng và khối lượng gỗ như trên phải xử lý hình sự nên Hạt Kiểm lâm Tánh Linh đề nghị UBND huyện Tánh Linh lập đoàn kiểm tra xác định thời gian, địa điểm và mức độ thiệt hại.
Qua kiểm tra dấu vết để lại tại hiện trường cho thấy đối tượng đã phá rừng vào năm 2011. Đến tháng 4/2012, đối tượng phá rừng tiếp tục chặt hạ những cây còn lại sau đó đốt dọn trồng mì thì KBTTNNO mới phát hiện. (Báo Bình Thuận 30/11) đầu trang(
Rừng ở Bắc Bình có tổng diện tích trên 90.000 ha, chiều dài giáp ranh 37km và địa hình hiểm trở nên công tác bảo vệ rừng ở địa phương này gặp nhiều khó khăn, nhất là khu vực giáp ranh với huyện Di Linh và Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng…
Mùa khô năm 2011 - 2012, Bắc Bình chỉ xảy ra các vụ cháy nhỏ, không gây thiệt hại đến rừng. Tuy nhiên, tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại địa phương này lại diễn ra khá phức tạp. Để làm tốt công tác bảo vệ rừng, trong năm 2012 Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình đã bố trí 10 kiểm lâm viên về phụ trách địa bàn 6 xã có rừng để tham mưu giúp UBND các xã thực hiện việc quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương và đơn vị chủ rừng kiểm tra, truy quét ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Song song đó, Hạt Kiểm lâm còn tham mưu cho UBND huyện ban hành các kế hoạch, phương án và quyết định thành lập tổ kiểm tra liên ngành gồm: công an, quân sự, kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng để truy quét chống phá rừng tại các khu vực trọng điểm, các vùng rừng giáp ranh thuộc lâm phần các Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, Cà Giây, Sông Mao.
Nhờ vậy, nhiều vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời. Tính đến ngày 12/10, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 245 vụ vi phạm. Trong đó xử lý hành chính 243 vụ, xử lý hình sự 2 vụ; tịch thu 549,168m3 gỗ, 6 xe máy cùng hàng chục phương tiện khai thác lâm sản trái phép.
Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình cho biết, tình trạng khai thác lâm sản trái phép chủ yếu xảy ra trên địa bàn xã Phan Lâm, Phan Sơn (Bắc Bình) vì nơi đây có rừng giáp ranh với các xã Ninh Loan, Tà Năng, Đà Loan của huyện Di Linh và Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Đối tượng khai thác lâm sản phần lớn là người ngoài huyện. Mặt khác, tình trạng phá rừng làm rẫy còn diễn ra ở một số địa phương, nhất là tại xã Phan Lâm, Phan Tiến và Phan Sơn. Bên cạnh những khó khăn khách quan trong công tác bảo vệ rừng, thời gian qua một số đơn vị chủ rừng chưa chủ động trong thực hiện nhiệm vụ, chưa bố trí lực lượng bảo vệ rừng tại các khu vực trọng điểm, lực lượng kiểm lâm địa bàn cũng chưa thực hiện hết chức năng tham mưu của mình.
Để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị chủ rừng, hiện nay Hạt Kiểm lâm Bắc Bình đang đẩy mạnh kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng ở từng đơn vị chủ rừng, từng địa phương theo phương án của huyện và xem đây là nhiệm vụ quan trọng nhất.
Bên cạnh, chủ động tổ chức lực lượng kiểm tra, truy quét các hành vi mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép ở các tuyến đường rừng, đường giao thông liên xã và khu dân cư, làm tốt công tác phối hợp với ngành chức năng để khởi tố hình sự những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng theo quy định của pháp luật… (Báo Bình Thuận 3/12) đầu trang(
29-9-2012, Báo Quân đội nhân dân có bài “Dân lập làng giữa rừng… và những hệ lụy”, của tác giả Kiều Bình Định. Bài báo phản ánh: Từ năm 1999 đến nay, 131 hộ với 695 nhân khẩu di cư tự do đã vào lập làng giữa rừng do Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm quản lý, gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc, như tình trạng phá rừng, đói nghèo, thất học.
Và để ổn định định canh, định cư cho số hộ dân này, Nhà nước cần phải đầu tư hơn 13,5 tỷ đồng. Bài báo cũng đặt vấn đề: Việc tổ chức định cư cho 131 hộ dân đang lập làng giữa rừng Buôn Ja Wầm là hết sức cấp thiết, nhằm bảo đảm các điều kiện thiết yếu như “điện, đường, trường, trạm và nước sinh hoạt” cho bà con. Thế nhưng, muốn thành công, các cấp chính quyền tỉnh Đắc Lắc phải thực hiện một cách cương quyết dựa trên những chính sách về hỗ trợ định canh, định cư và những quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng.
Sau khi tiếp thu nội dung bài báo, ngày 5-11-2012, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Báo cáo gửi UBND tỉnh Đắc Lắc khẳng định: Tình hình 131 hộ với 695 nhân khẩu di cư tự do đến cư ngụ tại các tiểu khu 540, 544 và 547 đã phá, lấn chiếm 385ha rừng, đất rừng do Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm quản lý, cần được xem xét và giải quyết như Báo Quân đội nhân dân phản ánh.
Hiện nay, UBND huyện Cư Mgar đã thống nhất với chủ rừng thực hiện việc rà soát, thống kê lại diện tích khu vực rừng bị phá, lấn chiếm nêu trên, phân rõ hiện trạng. Sau đó, UBND huyện Cư Mgar lập phương án trình cấp thẩm quyền thu hồi lại diện tích này để bố trí đất ở, đất sản xuất cho dân. (Quân Đội Nhân Dân 1/12) đầu trang(
15 cây nghiến hàng trăm năm tuổi vừa được kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể phát hiện bị “lâm tặc” cưa hạ vào ngày 20/11 tại cánh rừng nghiến núi đá ở Bản Lồm, xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), thuộc khu vực cột mốc 50, 51 Vườn Quốc gia Ba Bể.
Theo Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia cho biết, “lâm tặc” đã sử dụng cưa xăng để triệt hạ 15 cây gỗ nghiến này. Tổng khối lượng số gỗ này ước tính khoảng 40 m3. Bước đầu nhận định, 15 cây nghiến trên bị chặt vào hai ngày 17 và 18/11.
Ngày 29/11, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn Nông Văn Chí cùng các lực lượng chức năng của Chi cục Kiểm lâm, Công an, lãnh đạo huyện Ba Bể và các lực lượng chức năng của huyện, Vườn quốc gia đã đến hiện trường của vụ phá rừng với quy mô khá lớn này để kiểm tra thực tế, xác định chính xác khối lượng rừng nghiến núi đá bị thiệt hại.
Khu vực 15 cây nghiến lớn trăm năm tuổi bị chặt hạ nằm rải rác ở khu vực các Trạm Kiểm lâm Quảng Khê và Trạm Kiểm lâm Bản Quá quản lý, trên địa bàn giáp ranh các xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ, Nam Cường nằm trong Vườn quốc gia. Gỗ quý hiếm nằm ngổn ngang trên hiện trường, một số ít đã được xẻ thành thớt, thành tấm để chuẩn bị vận chuyển đi tiêu thụ.
Tuy nhiên, tại hiện trường 15 cây nghiến mới bị triệt hạ vẫn còn nguyên, “lâm tặc” chưa vận chuyển đi được. Theo nhận định ban đầu của đoàn kiểm tra và lực lượng chức năng, nhiều khả năng thủ phạm là người dân địa phương trong khu vực, có mối liên kết với đầu lậu bên ngoài để phá rừng, xẻ thớt. Địa hình khu vực rừng quý hiếm bị phá đi lại rất khó khăn, hiểm trở.
Tuy nhiên, vì lợi nhuận, một số đối tượng đã bất chấp pháp luật vẫn lén lút phá hoại rừng. Bởi gỗ nghiến giá trị kinh tế rất cao, nên đây không phải là vụ đầu tiên “lâm tặc” thâm nhập Vườn quốc gia Ba Bể để thực hiện hành vi phá hoại, trộm cắp. Công an tỉnh Bắc Kạn đề nghị lực lượng kiểm lâm xác định rõ thời điểm phá rừng, khoanh vùng để xác định đường vận chuyển gỗ đi tiêu thụ của các đối tượng.
Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn coi đây là vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra vào thời điểm Chỉ thị 08/CT-TU ngày 2/7/2012 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường đang được các địa phương triển khai có hiệu quả trong một thời gian dài.
Ngày 28/11, Bí thư tỉnh ủy Bắc Kạn Nguyễn Xuân Cường đã chủ trì cuộc họp khẩn để phân tích nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị liên quan, những người đứng đầu và bàn các giải pháp để ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại Vườn quốc gia Ba Bể. (Thanh Tra 30/11) đầu trang(
Sáng 30/11, ông Huỳnh Quang Hưng – Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc đã chủ trì cuộc họp báo, cho biết sau phản ánh của nhiều cơ quan báo chí, UBND tỉnh Kiên Giang đã lập đoàn kiểm tra và đến nay, đã có báo cáo. Tiếp theo đó, Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Quốc cũng đã có văn bản kết luận.
Theo Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Quốc, ngày 8/6/2011, Thủ tướng Chính phủ có quyết định về việc chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc thành Vườn quốc gia Phú Quốc với diện tích 31.422ha. Trước đó, UBND tỉnh cũng có quyết định đầu tư phát triển rừng phòng hộ nguồn nước Phú Quốc, diện tích 11.939ha.
Thừa nhận công tác bảo vệ rừng trên đảo là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, nhưng Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Quốc cho rằng do đặc thù rừng Phú Quốc có địa hình đồi núi phức tạp, diện tích rộng, đan xen với đất của hộ dân, trong khi phương tiện còn hạn chế, lực lượng quản lý biên chế ít; cùng với quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất những năm qua tình hình đất đai Phú Quốc luôn có biến động lớn, nên tình trạng bao chiếm, lấn chiếm đất rừng, phá rừng, khai thác vận chuyển gỗ trái phép,… từng lúc, từng nơi vẫn còn xảy ra, đáng chú ý nhất là tại địa bàn xã Cửa Cạn và thị trấn An Thới (Báo CAND từng có bài điều tra phản ánh).
Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc Huỳnh Quang Hưng (trái) và ông Phạm Công Bình – Giám đốc Vườn quốc gia Phú Quốc phát biểu tại cuộc họp báo sáng 30/11.
Từ diễn biến thực tế tại đảo, Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Quốc chỉ đạo BQL rừng phòng hộ, Vườn Quốc gia Phú Quốc, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp cùng các ban, ngành, địa phương, TW có liên quan đánh giá công tác quản lý thời gian qua một cách đầy đủ, khách quan, phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm, từ đó đề ra các giải pháp có hiệu quả nhằm tăng cường quản lý bảo vệ rừng, hạn chế xảy ra những vụ vi phạm tương tự vừa qua mà báo chí đã đưa tin; tiếp tục thẩm tra, xác minh, xử lý các vụ vi phạm theo quy định của pháp luật, không để tồn đọng kéo dài.
Huyện cũng chỉ đạo thành lập đoàn kiểm tra truy quét liên ngành, tổ chức tuần tra truy quét, đóng chốt ở những địa bàn mà tình hình bao chiếm đất đai, chặt phá rừng, bao chiếm đất rừng đang diễn biến phức tạp.
Ban Thường vụ Huyện ủy đề nghị Vườn Quốc gia Phú Quốc đẩy nhanh tiến độ cắm mốc, điều chỉnh ranh rừng Vườn theo Quyết định 633/TTg của Thủ tướng Chính phủ để địa phương hoàn tất các thủ tục tiếp theo, thống nhất quản lý phần điều chỉnh đất rừng phòng hộ. BQL rừng phòng hộ có phương án đề nghị Sở NN&PTNN giao khoán bảo vệ rừng cho Bộ Tư lệnh vùng 5 Hải quân và một số khu vực giao chưa giao khoán; việc giao khoán ưu tiên người nhận giao khoán là người tại chỗ để quản lý bảo vệ rừng tốt hơn. (Công An Nhân Dân 1/12) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ trải rộng trên địa bàn sáu xã, thuộc hai huyện Na Rì và Bạch Thông, đang lưu giữ nhiều loại động, thực vật đặc hữu, quý hiếm, nhưng bị xâm hại nghiêm trọng bởi nạn “vàng tặc” hoành hành.
Năm nào tỉnh cũng tổ chức lực lượng liên ngành truy quét “vàng tặc”, “lâm tặc” trong khu bảo tồn, chi phí tốn kém, nhưng kết quả thu được không bao nhiêu, chỉ như “đá ném ao bèo”, lực lượng rút đi, “vàng tặc”, “lâm tặc” lại tràn vào.
Giám đốc kiêm Hạt trưởng Kiểm lâm khu bảo tồn Nguyễn Tiến Dũng cho biết: “Trong lòng khu bảo tồn có những bãi, lũng khai thác vàng với quy mô lớn. Các băng nhóm, “bưởng” vàng dựng lán trại, ăn ngủ cát cứ, khai thác vàng lâu dài. Thậm chí có những lũng, chúng bán cho nhau hàng chục cây vàng. Người mua tổ chức khai thác vài ba ngày đến một tuần là hoàn được vốn. Vì thế, cứ truy quét hết đợt này đến đợt khác, cuối cùng vẫn không giải toả được”.
Lần này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức truy quét không “ồn ào”, nhưng với thái độ kiên quyết với hy vọng triệt tận gốc của vấn đề.
Từ giữa tháng 10- 2012, Chi cục Kiểm lâm và Khu bảo tồn tổ chức lực lượng canh gác tại bốn trạm chốt cửa ngõ ra vào KBTTT gồm Cốc Keng, Nà Lẹng, Nà Dường và Thẩm Mu. Việc chốt chặn tại các cửa ngõ này, vừa ngăn chặn “lâm tặc” vận chuyển gỗ, thớt nghiến từ khu bảo tồn ra ngoài tiêu thụ, vừa ngăn chặn việc vận chuyển xăng dầu, lương thực, thực phẩm tiếp tế cho các lũng, bãi khai thác vàng. Những lần truy quét trước đây, những chốt chặn này chỉ mang tính chất tạm thời, hết đợt truy quét lại dỡ đi, lần này Chi cục Kiểm lâm đầu tư làm nhà kiên cố, cán bộ kiểm lâm công tác lâu dài, thường xuyên làm nhiệm vụ ở bốn chốt này.
Đưa bốn chốt này vào hoạt động, ngăn ngừa tiêu cực có thể xảy ra, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải tuyên bố: “Kiểm lâm chớ có vì cái gì mà “lờ” đi việc lâm tặc lẫn vàng tặc vận chuyển xăng dầu, lương thực, thực phẩm, lâm sản, thớt nghiến ra vào khu bảo tồn, nếu sự việc bại lộ, các anh xem sinh mệnh chính trị, sự nghiệp công tác của mình lớn hay “cái lợi” trước mắt lớn? Để xảy ra việc gì, đừng xin chúng tôi nương nhẹ”.
Từ khi ngăn chặn được việc tiếp tế nhiên liệu, lương thực, thực phẩm vào các lũng, bãi thì “vàng tặc” bắt đầu “nao núng”, quy mô hoạt động bắt đầu giảm dần. Tiếp theo, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tăng cường thêm lực lượng, chỉ đạo quyết liệt, Ban quản lý khu bảo tồn tổ chức truy quét vàng tặc tại các lũng, bãi khai thác từ ngày 16 đến 27- 11- 2012. Khác với những lần trước, kiểm lâm thường “run tay” khi tiêu huỷ máy móc, phương tiện khai thác vàng, vì sợ vàng tặc kiện, nhưng lần này đã có Quy chế bảo vệ khu bảo tồn được cấp có thẩm quyền phê duyệt, là “cái gậy” để kiểm lâm thẳng tay phá huỷ, đốt toàn bộ lán trại; tiêu huỷ, vô hiệu toàn bộ phương tiện khai thác vàng trái phép.
Trong mười ngày truy quét ở tất cả 38 lũng, bãi, có những lũng bãi phải truy quét ba, bốn lần, kiểm lâm trục xuất hơn 300 vàng tặc ra khỏi khu bảo tồn, đốt 167 lán trại, cắt đứt hơn 11 nghìn mét đường ống dẫn nước; phá huỷ, làm mất tác dụng 132 máy nổ, sên hút nước, máy phát điện, máy khoan. Chi cục trưởng Kiểm lâm Hoàng Văn Hải nhận xét: “Tình trạng khai thác vàng, lâm sản trái phép trong khu bảo tồn đến nay đã được ngăn chặn, nhưng chưa vững chắc”.
Dù đã đạt được những kết quả bước đầu, kiểm lâm đã chặn được đường hậu cần tiếp tế, tiêu huỷ máy móc, phương tiện, trục xuất hầu hết người khai thác vàng ở đây. Nhưng Giám đốc kiêm Hạt trưởng kiểm lâm khu bảo tồn Nguyễn Tiến Dũng thẳng thắn: “Vẫn còn tình trạng một số người dân địa phương “đãi sái” trong chốc lát, một vài tổ, nhóm cất giấu máy móc dưới hang sâu mà chúng tôi chưa tìm ra, một số người nghiện ma tuý, nhiễm HIV lẩn trốn trong rừng. Mùa khô là thời điểm thuận lợi, lúc nông nhàn, người dân tranh thủ vào rừng, lũng bãi “kiếm cái Tết”. Một số lãnh đạo xã còn né tránh, chưa tích cực phối hợp với chúng tôi nên tình trạng khai thác lâm sản, khoáng sản trong khu bảo tồn có nguy cơ bùng phát trở lại”.
Thực tế, trong tất cả các đợt truy quét tình hình tạm “lắng xuống”, nhưng một thời gian sau khu bảo tồn lại bị xâm hại. Rút kinh nghiệm, ông Hải khẳng định: “Chúng tôi chỉ đạo kiểm lâm khu bảo tồn phải thường xuyên tuần tra, kiểm soát không cho vàng tặc có cơ hội “bám rễ” trở lại. Sau đợt truy quét, việc ngăn chặn đường tiếp tế, lán trại dựng lên là đốt hết, phát hiện máy móc hoạt động khai thác vàng là tiêu huỷ sẽ là những hoạt động liên tục, lâu dài. Làm như thế thường xuyên, vàng tặc sẽ không “đủ sức” đầu tư mua sắn máy móc mãi, không đủ tiền nuôi quân thì tự khác “giải nghệ”, không nuôi mộng đào vàng nữa. Mặt khác, chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý kiểm lâm nào dung túng, bao che cho vấn nạn này, mong nhân dân địa phương giám sát, tố giác giúp chúng tôi làm trong sạch nội bộ”.
Hy vọng rằng, với thái độ kiên quyết, cách làm mới, giải quyết tận gốc vấn đề, phát huy tai mắt của nhân dân thì Khu BTTN Kim Hỷ sẽ không bị xâm hại. (Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Từ đầu năm 2009, qua công tác tuần tra, truy quét tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép, Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng (Đắk Lắk) đã bắt giữ được hơn 47,61m3 gỗ. Lượng gỗ này chủ yếu là gốc thủy tùng, có đường kính từ 1 đến 2m, dài 2-3m.
Đây là khối lượng gỗ quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Nhưng các cơ quan chức năng và chính quyền huyện Krông Năng cũng như tỉnh Đắc Lắc còn lúng túng trong khâu xử lý số gỗ này. Hậu quả là từ năm 2009 đến đầu tháng 12-2012, trong 47,61m3 có 39,5m3 gỗ để “dầm mưa, dãi nắng” trên khuôn viên Trung tâm Văn hóa huyện Krông Năng, nhiều khúc gỗ đã có dấu hiệu mục nát.
Ngày 26-11-2012, trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Kiểm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng cho biết: “Để trông giữ số gỗ tập kết ở Trung tâm Văn hóa huyện, đơn vị phải hợp đồng thêm 1 nhân viên bảo vệ. Trong các năm 2010 và 2011, UBND huyện đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương để thanh lý khối lượng gỗ thủy tùng nói trên theo các phương án: Một là vận chuyển về tỉnh để bảo quản; Hai là cho huyện được bán đấu giá tạo nguồn thu cho ngân sách. Nhưng cho đến nay UBND tỉnh Đắc Lắc chưa có chỉ đạo cụ thể”.
Hiện nay, trên thế giới, thủy tùng chỉ còn tồn tại ở Việt Nam và Trung Quốc, với số lượng không đáng kể và đang bị xâm hại nghiêm trọng. Ở nước ta, Đắc Lắc là tỉnh duy nhất còn lại hai khu bảo tồn thủy tùng, với 250 cây phân bố trên diện tích 150ha. Thủy tùng có giá trị kinh tế, khoa học cao và được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, được xếp vào loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, là một trong 10 loài thông được ưu tiên bảo tồn.
Nghị định 32/2006/NĐ-CP về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, thủy tùng được xếp vào nhóm Ia, nghiêm cấm chế biến, kinh doanh vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, việc để một lượng lớn gỗ thủy tùng nằm chờ... mục nát như ở huyện Krông Năng là lãng phí lớn. (Quân Đội Nhân Dân 3/12) đầu trang(
Những tin đồn thổi thất thiệt, cùng hàng nhái đã khiến cây chè đắng ở Cao Bằng không còn "đất sống", dù vẫn phát triển xanh tươi.
Cao Bằng không chỉ nổi tiếng với cảnh rừng Việt Bắc mà còn được nhiều người biết đến cây chè đắng- một thứ trà hữu ích với sức khỏe con người. Và chính vì thế nhiều năm qua, chè đắng đã trở thành cây chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng.
Thế nhưng thật buồn thay, thời gian qua “hội chứng” tin đồn vô căn cứ, uống chè đắng làm ảnh hưởng sức khỏe đã khiến sản phẩm không tiêu thụ được, và dẫn đến việc cực chẳng đã người dân phải chặt bỏ hàng nghìn héc-ta chè để chuyển đổi sang cây trồng khác.
Trước đây, các doanh nghiệp của Cao Bằng sản xuất 40.000 hộp/năm vẫn không đáp ứng nổi yêu cầu của người tiêu dùng. Năm 2005, tỉnh Cao Bằng chủ trương triển khai dự án trồng chè 1000 héc-ta tại 11 huyện và thị xã trên địa bàn tỉnh.
Thế nhưng, trong khi dự án trồng chè nguyên liệu vừa mới bắt đầu triển khai thì chè từ nước ngoài mang nhãn hiệu “Chè đắng Cao Bằng” đã tràn lan khắp thị trường có giá bán chỉ bằng một nửa so với chè đắng của chè đắng Cao Bằng. Cùng với việc mập mờ thông tin mặt hàng “Chè đắng Cao Bằng” gây hại cho sức khỏe, đặc biệt là đối với nam giới nên người tiêu dùng quay lưng lại sản phẩm này.
Ông Nguyễn Sinh Cung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết: “Các thông tin đồn thổi đã làm thị trường chè bị thu hẹp. Những năm đầu thu nhập tốt, nhưng kể từ có thông tin thất thiệt khiến sức tiêu thụ kém, thị trường tự nhiên bị thu hẹp, đặc biệt là hạn chế về thu nhập cho bà con. Hiện nay, vùng nguyên liệu chè đắng đang thu hẹp dần chỉ còn rải rác ở huyện Nguyên Bình, Hòa An. Do giá bán chè quá rẻ nên đa số người dân bỏ mặc thành rừng, cây chè phát triển không chăm bẵm. Các hộ ồ ạt phá bỏ cây chè chuyển đổi sang trồng sắn”.
Cây chè đắng Cao Bằng một thời là cây mang lại kinh tế cao giúp xóa đói giảm nghèo, giờ đây đã trở thành rừng chè hoang. Đây là một bài học quý báu cho cơ quan chức năng tỉnh Cao Bằng trong việc bảo vệ và phát triển cây kinh tế cho bà con vùng cao. (An Ninh Thủ Đô 30/11) đầu trang(
Ngày 30-11, Công an huyện Phú Quốc (Kiên Giang) cho biết cơ quan này vừa khởi tố bị can với nguyên bí thư, chủ tịch UBND xã Cửa Cạn, ông Nhan Văn Truyền và ông Nguyễn Trọng Nhi, cán bộ địa chính xã.
Hai người này liên quan đến việc phá rừng, mua bán đất rừng nên bị khởi tố (cho tại ngoại) về tội giả mạo trong công tác theo Điều 284 BLHS.
Theo tài liệu điều tra, với vai trò của bí thư, chủ tịch, ông Truyền đã chỉ đạo và tiếp tay cho Nhi giúp Ngô Hải Lực (ngụ ấp 4, Cửa Cạn) hợp thức hóa hơn 1,1 ha đất rừng thuộc Vườn quốc gia Phú Quốc để sang bán cho người khác với giá hàng tỉ đồng. Ngày 20-4-2012, UBND huyện Phú Quốc đã cấp giấy đỏ cho người mua.
Theo tố cáo của người dân thì ông Truyền còn nhiều sai phạm khác, hàng loạt sai phạm về đất đai ở Phú Quốc liên quan đến nhiều cán bộ.
Trước đó, vào ngày 29-10, cơ quan điều tra Công an huyện Phú Quốc cũng đã khởi tố Trần Kiều Hưng, phó bí thư xã Cửa Cạn, về tội hủy hoại tài sản rừng. Ông Hưng thuê người chặt phá hơn 4.000 m2 đất rừng thuộc Vườn quốc gia Phú Quốc.
Khu đất được xác định ông Truyền gian dối trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Cửa Cạn.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, một số cán bộ lãnh đạo UBND xã Cửa Cạn đã giúp dân lập hồ sơ giả; khai gian hồ sơ để được cấp đất và tình trạng bao chiếm đất rừng diễn ra tràn lan. Trong đó ông Phan Thành Tiến (Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Cửa Cạn) xin cấp giấy đỏ cho khu đất gần 280 m2 tại ấp Lê Bát, xã Cửa Cạn. Trong khi cơ quan chức năng chưa cấp giấy thì ông đã cho xây dựng trên khu đất này. Ông Tiến khai là đất tự khai khẩn nhưng thực chất đây là đất do người dân hiến cho Nhà nước từ năm 2002. Vì vậy, UBND tỉnh đã yêu cầu Đảng ủy xã chỉ đạo cơ quan chức năng hủy bỏ hồ sơ xin cấp giấy đỏ của ông Tiến, kiểm điểm các cá nhân có liên quan.
Phát biểu với báo chí ngày 30-11, ông Huỳnh Quang Hưng, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cảm ơn các cơ quan báo chí thời gian qua đã cung cấp nhiều thông tin kịp thời, giúp cho địa phương làm tốt công tác điều hành, quản lý rừng, đất đai tại địa phương. Phần lớn các vụ vi phạm xảy ra trên địa xã Cửa Cạn, chủ yếu là nằm trong vùng đệm do UBND xã quản lý.
Do đặc thù của địa hình biển, đảo với diện tích rừng quốc gia trải dài toàn tuyến Bắc đảo, trong khi lại thiếu tài lực và nhân lực nên công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thời gian qua đã gặp không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, lãnh đạo huyện Phú Quốc tìm mọi cách để tăng cường công tác điều tra, xử lý dứt điểm vi phạm đã xảy ra và tăng cường quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn trong thời gian tới. (Pháp Luật TPHCM 1/12; Thanh Niên 1/12; Nhân Dân 30/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh Ðác Nông đã phát hiện và lập biên bản xử lý hơn 670 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Lực lượng kiểm lâm còn phối hợp các lực lượng chức năng, phát hiện 240 vụ vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái phép, tịch thu hơn 2.400 m3 gỗ các loại, xử phạt hơn 5,3 tỷ đồng... (Nhân Dân 11/12) đầu trang(
Tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình một buổi sáng cuối tháng 11, chúng tôi đã tiếp cận được đội săn bắt khỉ của ông Cao Xuân S. ở vùng Hóa Sơn.
Ông S. là cai trưởng của một đội săn khỉ, sóc, chồn, và các loại động vật hoang dã khác chừng 25 người, có độ rộng hoạt động trong vòng bán kính hơn 100km, đi cả tháng trời, vượt qua đến tận Lào. S. là một tay thợ săn lão luyện, ngày xưa rừng còn nhiều, thú hoang dã còn lắm, mỗi ngày S. có vài ba gùi đưa về cho “tổng đại lý” ở Quy Đạt, nhưng nay, lượng động vật hoang dã ngày mỗi hiếm, S. buộc phải ở lại rừng nhiều hơn và để bảo quản thịt rừng tươi mới, đội săn của S. phải dùng đến hóa chất để bảo quản, các hóa chất mà chúng tôi chứng kiến được bỏ trong các ống nhựa, màu trắng, mùi hắc, ghi chữ Trung Quốc, theo các nài săn thú lậu của S.: “Loại này từng dùng để ướp những thứ dưới xuôi, nhưng khi ướp thử thịt rừng, thấy tươi màu máu vài ngày, dùng nhiều thì tươi đến vài tuần, thậm chí cả tháng nên xài gần 2 năm nay, không ai biết”.
Cứ mỗi con khỉ hoặc chồn, sơn dương, hoặc nai bị mắc bẫy, đội ông S. tiêm vào dưới lớp da của chúng hai xiranh loại lớn hóa chất lạ mua trôi nổi tại các chợ. Nếu ở rừng một tuần, các ống tiêm (xiranh) được pha chế ít hơn, nếu 2 tuần liều lượng gấp đôi, cả tháng thì liều lượng khác hơn, và khi thịt có dấu hiệu bốc mùi, chúng được tiêm gấp 3, gấp 4 lần, ra khỏi rừng vẫn còn mịn màng màu lông, màu da như vừa mới mắc bẫy.
Ông S. nói: “Không chỉ vùng thợ săn Minh Hóa, mà thợ săn ở xã Trường Sơn huyện Quảng Ninh cũng áp dụng cách như tụi tui mới kiếm cơm được, chứ không có cái thứ chất này thì đói, chẳng kiếm được tiền”. Không chỉ ở Quảng Bình mà đội của H. “còi” ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) với 25 thợ săn đi qua cả nước Lào cũng áp dụng cách tiêm hóa chất như thế. Rời Minh Hóa, theo đường Hồ Chí Minh ra Hương Khê, lân la đến nhà H. “còi” đặt thịt sơn dương nguyên con, đang chỉ đạo thợ đóng gùi, H. “còi” xởi lởi: “Tưởng đặt chi khó khăn, sơn dương thì hẹn phát mốt là có, tầm tuần, chục ngày là xong, khỏi cần cọc, khi nào đưa về, còn tươi, gọi anh đến ngay”.
Vùng Cộn ở TP Đồng Hới, Quảng Bình xưa nay nổi tiếng với 4 nhà hàng đặc sản thịt rừng một cách công nhiên, nếu heo rừng đã được người dân nuôi và được mua bán thì sẽ có công nghệ biến thành heo nuôi thành heo rừng hoang dã. Nhà hàng T., có tiếng trong giới ăn nhậu Đồng Hới, vẫn dùng thủ đoạn lấy thịt rừng từ các vùng khác về và tẫm đạm vào cho thịt tươi. Một đầu bếp từng phục vụ tại nhà hàng này tiết lộ, vì phản ứng cách tẩm đạm mà anh phải nghỉ việc ở đây.
Trở lại với thịt heo rừng, một chủ nhà hàng thân tín với chúng tôi nói: “Mỗi lần làm thịt heo rừng, không bao giờ cho người nhà hoặc bạn bè thân ăn tiết canh. Nói thật đây là chuyện khó nói. Ở các quán khác vì sao tiết canh heo rừng nó ngọt, đỏ hoét, rất tươi? Người ta nhúng một ít đạm vào đó, và một ít nước tiểu vào đó là thành ngon, ngọt, tươi”.
Ông ta cũng nói: “Bây giờ khắp nơi chỗ nào cũng quảng cáo thịt rừng, đúng là heo rừng, nhưng nó là thế hệ F5, F10 rồi, được nuôi bằng thức ăn tăng trọng lớn nhanh mới nhiều thế, chứ heo rừng thật ở tự nhiên có đâu mà ngày nào cũng mổ. Có bắt được heo rừng thì năm thì mười họa mới có con còn sống để làm tiết canh, còn đa số bị chết, thợ săn bản địa là người dân tộc thì họ chặt cái đầu ra cúng rừng, làm gì còn máu mà làm tiết canh”… (Sài Gòn Giải Phóng 3/12) đầu trang(
Ông Võ Trường Thành, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn Gỗ Trường Thành cho biết, dự kiến trong năm 2013, TTF sẽ đưa vào khai thác 800 héc ta rừng, dự kiến đạt doanh thu 90 tỷ đồng.
Năm 2012, diện tích rừng khai thác của TTF là 200 héc- ta nhưng chủ yếu là gỗ xấu, hiệu quả không cao.
Ông Thành cho biết, tính đến thời điểm hiện tại, TTF có đơn hàng xuất khẩu trị giá 60 triệu USD thực hiện đến tháng 9/2013. Doanh thu xuất khẩu của TTF hiện chiếm 60% tổng doanh thu với các thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật Bản. Với đơn hàng trong nước, TTF cũng đã ký các hợp đồng cung ứng lớn cho các công ty xây lắp và bất động sản trị giá trên 400 tỷ đồng, thực hiện đến tháng 8/2013. (Tinnhanhchungkhoan.vn 30/11) đầu trang(
Thông đỏ Hymalaya quý hiếm riêng có ở Lâm Đồng là một trong những loài có hàm lượng hoạt chất 10 - DB III để chuyển hóa thành taxol điều chế thuốc chữa trị ung thư cao nhất thế giới. Hơn 10 năm trước, các nhà khoa học đã chiết tách thành công 10 - DB III từ thông đỏ Lâm Đồng, vậy mà đến nay bệnh nhân vẫn đau đáu trông chờ loại thuốc chữa ung thư thương hiệu Việt.
Gần trăm năm trước, thông đỏ được phát hiện tại Cam Ly, Đà Lạt. 18 năm trước, người Mỹ chế ra thuốc chữa trị ung thư từ thông đỏ. Thế nhưng, nhiều người Việt đang săn lùng chúng chỉ để làm đồ mỹ nghệ và quan tài.
Năm 1994, khi loại dược phẩm chữa trị ung thư do Mỹ điều chế từ thông đỏ xuất hiện trên thị trường, các nhà khoa học Việt Nam xôn xao vì cách đó 61 năm, trong cuốn Thực vật chí Đông Dương, nhà nghiên cứu nước ngoài H.Lecomte từng công bố phát hiện một quần thể thông đỏ với hơn 10 cá thể ở khu rừng nguyên sinh Cam Ly, Đà Lạt.
Cũng trong năm đó, TS Lê Thị Xuân (Viện Công nghệ sinh học) - vừa kết thúc khóa tu nghiệp tại Mỹ - cấp tốc sưu tầm mẫu lá thông đỏ và những thông tin mới về cây dược liệu quý giá này mang về nước. Cùng một số nhà khoa học đang công tác tại TP Đà Lạt, TS Xuân tìm đến Cam Ly.
“Cả đoàn khảo sát chết lặng khi khu rừng nơi H.Lecomte mô tả có quần thể thông đỏ đã bị chặt trụi để trồng cà phê tự bao giờ” - PGS.TS Dương Tấn Nhựt (Phó Viện trưởngViện Sinh học Tây Nguyên) hồi tưởng.
Vậy là phải bắt đầu lại bằng con số 0. Các nhà khoa học mang mẫu vật thông đỏ tìm đến buôn làng của người K’Ho - nhóm cư dân sống lâu đời tại Cam Ly để dò hỏi thông tin và nhờ người dân bản địa làm hướng đạo nhằm truy tìm tung tích thông đỏ.
Một ngày trung tuần tháng 6-1994, đoàn khảo sát phát hiện quần thể khoảng 25 cây (cao chừng 30 - 40m) trên sườn núi chênh vênh ở độ cao hơn 1.500m với diện tích 1 – 1,5 km² ở phía đông cao nguyên Lâm Viên.
TS Xuân cho thu thập một số tiêu bản lá, cành, hoa, quả…rồi gửi sang Mỹ để GS M. Shenluck (chuyên gia hàng đầu về thông đỏ của thế giới) giám định.
Thông tin phản hồi vượt quá sự mong đợi: Đây là thông đỏ Hymalaya (tên khoa học là Taxus Wallichiana Zucc) không chỉ quý hiếm mà còn là loài đặc hữu Việt Nam với hàm lượng 10 - DB III cao gấp hàng chục lần thông đỏ Mỹ và cả trăm lần thông đỏ Mexico.
Trong suốt 15 năm sau đó, nhiều trường đại học và các cơ quan lâm nghiệp, nghiên cứu khoa học thuộc Viện Công nghệ Sinh học, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam... cử các đoàn khảo sát trèo đèo lội suối vào chốn rừng sâu săn thông đỏ nhưng chỉ phát hiện không quá 10 quần thể; mỗi quần thể rải rác dăm ba cây hoặc vài chục cây, nhiều nhất cũng chỉ hơn trăm cây.
Hầu hết các quần thể đều ngự trên những sườn núi chênh vênh, bên khe suối ở độ cao 1.500m - nơi đất rừng thường xuyên ẩm, tơi xốp, giàu mùn, có thảm mục dày, cây lá rộng che bóng tầng cao.
Ông Võ Danh Tuyên - Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết thông đỏ Hymalaya có phạm vi phân bố hẹp vì chỉ tìm thấy ở Lâm Đồng.
Loài cây này rất chậm lớn: Sinh trưởng hàng trăm năm chỉ có đường kính vài chục cm. Việc giao phối gần diễn ra phổ biến dẫn đến sự suy thoái về di truyền của quần thể. Mặt khác, thông đỏ thường mọc hỗn giao trong rừng lá rộng, thường xanh nên khả năng tái sinh rất thấp; phần lớn cây trưởng thành thường bị các loài cây khác chen ép hoặc dây leo bám trên thân làm cho thông đỏ có phẩm chất xấu, dễ bị sâu bệnh, rỗng ruột… Tình hình đó khiến thông đỏ có nguy cơ tuyệt chủng và đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam để bảo tồn.
Thế nhưng thông đỏ vẫn bị lâm tặc săn lùng ráo riết để bán cho các đầu nậu buôn lậu gỗ bởi thân cây rất cứng, gỗ màu vàng nhạt và lõi màu nâu sẫm khá đẹp, có giá trị kinh tế cao.
Mặt khác, nhiều nơi râm ran lời đồn nếu sở hữu các tác phẩm nghệ thuật được điêu khắc bằng gỗ thông đỏ sẽ gặp nhiều may mắn; người chết được chôn trong quan tài làm bằng thông đỏ sẽ rất linh thiêng, phù hộ cho gia đình, dòng họ thoát khỏi vận rủi, làm ăn phát đạt, công thành danh toại…
Chấn động nhất là vụ cả chục cây thông đỏ hàng trăm năm tuổi tại núi Voi (thuộc các xã Hiệp An và Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng) bị xẻ thịt vào năm 2008.
Thời điểm đó, khi chúng tôi đến hiện trường vẫn còn dấu tích của cả chục bãi cưa xẻ với hàng chục lóng gỗ to, đẹp, vuông vức chưa kịp mang đi, cành lá thông đỏ tươi xanh bị vứt ngổn ngang. Số lượng gỗ bị xẻ thịt, chưa kịp tẩu tán lên đến 14m³.
Liên quan vụ án này, một đối tượng trú tại Hiệp An đã bị phạt tù. Các nhà khoa học vô cùng bức xúc bởi cánh rừng quý giá này liên tục bị đốn hạ, từ hơn trăm cây giảm xuống còn 70 - 60 - 50 và hiện chỉ còn khoảng 40 cây, trong khi chúng là những cây thần dược hiếm hoi vốn được sử dụng để lấy mẫu nghiên cứu.
Danh sách đối tượng bị xử lý về hành vi xâm hại thông đỏ cứ tiếp tục nối dài. Tháng 5-2011, Kon Sơ Ha Sim (SN 1972, trú tại thôn Liêng Bông, xã Đa Nhim, Lạc Dương) cùng em ruột, em vợ và con trai bị TAND huyện Lạc Dương tuyên phạt mỗi người từ 6 đến 18 tháng tù vì đã cưa hạ cây thông đỏ tại TK 94A thuộc địa bàn xã Đa Nhim để lấy 2,7 m³ gỗ.
Tháng 5-2012, Lê Văn Khôi (SN 1972, ngụ ở tổ 1, thôn Trạm Hành, xã Trạm Hành, TP Đà Lạt) đã bị Hạt Kiểm lâm Đà Lạt khởi tố vì cưa hạ 2 cây thông đỏ (đường kính gốc 35cm và 45cm) tại lô b, khoảnh 5, TK 169A thuộc lâm phần do Ban QLR Lâm Viên quản lý.
Thân 2 cây thông bị cắt thành 19 lóng với số lượng gỗ gần 1,3m³ đưa về cất giấu tại nhà riêng.
Đối tượng vi phạm là em của một vị Phó ban QLR Lâm Viên, khai rằng vì loại cây này có gỗ tốt, lá hình xương cá mà theo lời đồn sẽ mang lại nhiều may mắn nên cưa trộm về xẻ gỗ làm nhà! Mới đây, Hạt Kiểm lâm TP Đà Lạt phát hiện một xưởng cưa ở Phường 8 đang cưa xẻ 0,9 m³ gỗ thông đỏ và đã khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ cho Công an thành phố tiếp tục điều tra xử lý.
Một số người mò mẫm chốn rừng sâu tìm thông đỏ bởi được mách nước rằng rễ hoặc vỏ cây thông đỏ nấu làm thuốc như kiểu sắc thuốc bắc sẽ chữa được bệnh ung thư.
“Tự ý sắc thuốc chữa bệnh kiểu này rất phản khoa học và nguy hiểm đến tính mạng”- Chủ tịch Hội Đông y Lâm Đồng Trần Danh Tài khuyến cáo và cho biết thêm, lá, rễ và đặc biệt là hạt thông đỏ rất độc, trâu bò ăn vào cũng lăn ra chết.
Sở NN&PTNT Lâm Đồng đề nghị UBND tỉnh cho triển khai dự án bảo vệ và phát triển rừng thông đỏ giai đoạn 2013-2016.
“Hiện chưa có biện pháp bảo vệ riêng cho loài thông đỏ và chỉ giao khoán quản lý bảo vệ chung như các loài cây rừng khác, trong khi đó thông đỏ là loài cây quý hiếm cần có chế độ bảo vệ đặc biệt” - lãnh đạo Sở NN&PTNT nói. (Tiền Phong 30/11) đầu trang(
Gần đây, hàng trăm người dân ở huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đổ xô lên rừng đào rễ cây mua. Bình quân 1 ngày một người đào được gần 1 tạ rễ tươi. Ước tính mỗi ngày có hàng chục tấn được đào bán cho thương lái, sau đó xuất sang Trung Quốc.
Trên quốc lộ 6, chúng tôi xuống đèo Pha Đin về huyện Tuần Giáo, Điện Biên. Dọc hai bên đường, chứng kiến rễ cây phơi dày đặc. Dừng xe bắt chuyện đây là loại cây gì, thì được người dân (dân tộc Thái) cho biết, theo tiếng Thái là cây Cò Té, còn tiếng kinh thì không biết. Chỉ còn lại rễ, không còn lá, cành, chúng tôi không biết là cây gì, cho đến khi nhờ chỉ tận nơi mới biết là cây mua.
Anh Lường Văn Hạnh ở bản Lói, xã Quài Tở, một chủ thu mua đang phơi bên đường cho biết: “Hơn 2 năm trở lại đây, thương lái từ dưới xuôi kéo về đây đặt mua rễ cây mua. Nghe vậy, cũng không tin, bởi ở đây chúng tôi chỉ biết cây mua quả ăn được, lá dùng nấu nước cho trẻ con mới sinh chữa bệnh ngứa, ghẻ và đọt cây chữa đau bụng, còn rễ không biết tác dụng làm gì. Chỉ biết họ đặt tiền bảo chúng tôi thu mua rễ. Trước đây 1 kg có giá 1.000 đồng nhưng năm nay tăng lên 2.000 đồng. Như cơ sở tôi bình quân mỗi ngày thu 2 tấn rễ mua tươi. Sau khi phơi khô, đóng bao nhập được 4.000 đồng/kg. Tính ra mỗi kg tôi lời được 1.000 đồng”.
Cũng theo anh Hạnh, ban đầu việc đào cây mua chỉ là những người thường xuyên đi rừng tiện đào về, nhưng hiện tại thì rất nhiều gia đình tham gia vào việc này. Giá cao, dễ bán nên nhiều người, nhiều nhà rủ nhau đi đào. Trung bình 1 ngày, 1 người có thể đào được gần 1 tạ. Với giá 2.000 đồng/kg, thì đây quả là số tiền không nhỏ đối với người dân nơi đây, do đó đã thúc đẩy người dân đổ xô đi đào.
Để chứng kiến đào rễ mua, hôm sau tôi theo anh Lò Văn Hùng và chị vợ Lò Thị Thương ở bản Huổi Nọ, xã Quài Tở lên rừng. Sáng sớm, từ bản Huổi Nọ, tôi chạy xe máy bám theo anh Hùng cùng vợ, đi được khoảng 3 km, anh Hùng bảo dừng xe lại và để xe ở đấy. Anh Hùng bảo: “Giờ đi bộ nhé, ở đây không có để mà đào nữa”. Anh nói tiếp: “Trước đây, cây mua nhiều lắm nhưng chúng tôi đào hết rồi. Cây to, cây nhỏ đều đào lấy hết. Khu đồi này giáp ranh giữa xã Tủa Tình và Quài Tở nên còn, chứ các ngọn đồi của xã chúng tôi đào hết từ lâu rồi”. Nghe anh nói vậy, tôi đùa: Các bác không trừ lại ít cây cho mọc với. Anh Hùng liền nói: “Cây nhỏ, cây to đều bán được, thấy cây nào đào cây nấy”.
Sau gần 1 tiếng đồng hồ đi bộ, chúng tôi đến khu rừng có nhiều cây mua còn sót lại. Anh Hùng và vợ chuẩn bị đồ nghề bắt đầu một ngày làm việc. Anh Hùng có nhiệm vụ đào lên, còn vợ theo sau vứt bỏ hết cành lá, chỉ lấy rễ rồi cho vào bao. Trong một thời gian ngắn có đến hàng chục cây mua được anh Hùng đào lên và lấy sạch cả gốc lẫn rễ. Gặp gốc to thì cho khoảng 3 kg rễ, bụi nhỏ rễ như ngón tay cũng nhặt bằng sạch”.
Tôi hỏi: Đào thế này có ai ngăn cấm không? Anh Hùng nói: “Vợ chồng tôi đào rễ mua hơn hai năm nay chẳng ai cấm cả. Ở đây, nếu có cấm là những khu rừng có chủ họ cấm thôi. Giá càng đắt thì người đào nhiều. Ngày trước mỗi ngày hai vợ chồng tôi đào được 2 đến 3 tạ là bình thường, giờ may lắm được 1 tạ. Rễ mua giờ khan hiếm lắm”.
Gặp ông Lò Văn Hoan, trưởng bản Huổi Nọ, ông cho biết: “Chính quyền xã, huyện cũng không nhắc nhở người dân vào rừng đào rễ mua. Nói thật với các anh loài cây này đã cho người dân nơi đây nguồn thu nhập đáng kể, nếu có ngăn cũng khó. Trong thôn hiện có 45 hộ dân, trừ những ngày mưa còn lại ngày nắng tất cả lại kéo nhau vào rừng đào hết”.
Rời xã Quài Tở, chúng tôi về xã Tênh Phông, Quài Nưa, Mùn Chung… huyện Tuần Giáo, tình trạng người dân đào rễ mua sôi động chẳng kém. Tại nhiều cánh rừng, hàng ngày người dân kéo nhau đi đào. Mỗi ngày hàng chục tấn rễ được nhập các điểm thu mua. Mua bị đào tràn lan, khu đồi nào cũng ngày càng trọc lốc.
Có mặt tại một điểm thu mua rễ mua huyện Tuần Giáo có tên hợp tác xã vận tải Tây Bắc, đóng tại xã Quài Tở, chúng tôi chứng kiến một lượng lớn rễ mua được đóng thành từng bao chất lên ô tô chở đi. Một người ở cơ sở cho hay: Biết tin Trung Quốc có thu mua rễ mua nên tranh thủ lúc nông nhàn bà con trong bản tranh thủ lên rừng đào về bán. Ở đây, cây mua mọc rất nhiều trên những vạt rừng nên rất dễ đào và vận chuyển bán. Chúng tôi chỉ mua lại của bà con, sau đó đưa lên Lạng Sơn xuất qua Trung Quốc.
Người này còn khoe: “Với cơ sở chúng tôi, người dân có bao nhiêu cũng mua hết. Ở đây, không phải cơ sở chúng tôi mà còn nhiều cơ sở khác nữa”. Tôi hỏi: Có biết Trung Quốc mua làm gì không? Trả lời: “Cái này chịu, chúng tôi chỉ vận chuyển đến cửa khẩu ở Lạng Sơn và giao hàng cho họ. Hết lượt hàng này đến lượt khác, chứ không biết họ mua về sử dụng vào việc gì. Họ bảo với chúng tôi, có bao nhiêu cũng mua hết, có hàng là a lô đưa lên”.
Trao đổi với PV Nông Nghiệp Việt Nam, ông Đào Văn Phúc, Phó chủ tịch xã Quài Tở, cho biết: Riêng địa bàn xã có 3 điểm thu mua rễ mua. Tình trạng thu mua diễn ra hơn 2 năm nay. Dù chưa ai biết giá trị thực sự của rễ loại cây này, nhưng với việc thương lái vào tận nhà, hỏi mua giá cao đã khiến hàng trăm hộ gia đình không quản nguy hiểm vào tận rừng sâu để đào.
Tôi hỏi: Thế xã có biện pháp nào ngăn chặn không? Ông Phúc cho hay: “Xã chẳng có biện pháp nào cả. Cây mua thường mọc ở đồi núi trọc nên không có chế tài nào xử lý. Hiện mạnh ai người ấy làm, bà con đào rễ mua có thêm được thu nhập, dẫn đến đào càng nhiều".
Trao đổi với ông Bạc Cầm Phong, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tuần Giáo về việc người dân đào rễ mua, ông Phong cho hay: Cây mua mọc ở đất trống đồi núi trọc, thuộc cây bụi. Trong danh mục cây quý không thấy cấm. Nếu mà cấm thì chúng tôi có biện pháp ngay. Quả thực, chúng tôi cũng không biết cây này bán đi đâu, họ mua để làm gì”.
Trước tình trạng khai thác rễ mua một cách ồ ạt như vậy, cây mua đang bị chính người dân nơi đây tận diệt, nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng tỉnh Điện Biên cần có những biện pháp quyết liệt. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/11) đầu trang(
Biết ông có vườn chim quý, nhiều đại gia từ Hà Nội, Hải Phòng... tìm về ngã giá vài ba tỷ đồng, nhưng trước sau như một ông quyết không bán. Để bảo vệ đàn chim trời, ông từng "chiến đấu" với tụi trộm và suýt mất mạng.
Nếu đi trên đường Hồ Chí Minh, đoạn qua bản Thọ Liên, xã Kiên Thọ (Ngọc Lặc, Thanh Hóa), khách sẽ được chiêm ngưỡng một cảnh tượng kỳ thú. Vào mỗi buổi chiều tà, khi hoàng hôn vừa buông, trên ngọn đồi Gò Mả, hàng chục nghìn cò trắng từ khắp bốn phương kéo về bay rợp một góc rừng, đen sẫm một mảng trời.
Gần 30 năm qua, đồi Gò Mả của gia đình ông Của chính là nơi trú ngụ của các loài chim trời khắp xứ Thanh, từ Tĩnh Gia, Hoằng Hóa đến Hậu Lộc hay vùng núi Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát... Ông Của được người dân bản Mường đặt cho những cái tên trìu mến “ông Lão vườn chim”, “vua cò” hay “nhà cò học”…
Đảo cò của ông Của là một vạt đồi đất đỏ với những bụi tre, luồng, vầu… ken dày, chỉ đủ lối cho một người lách qua. Trên các ngọn cây hàng chục nghìn con cò, vạc, sếu, vẹt… đậu chi chít. Mỗi cây lim, tre, luồng trên đồi đều phải “gánh” hàng chục tổ. Có cành không chịu nổi sức nặng đã bị gãy. Trên thảm lá mục, phân cò trắng xóa…
Vừa dẫn khách đi thăm đảo cò, ông lão vừa kể về cơ duyên đến với “nghiệp nuôi chim trời”. Sinh ra và lớn lên ở bản Mường Thọ Liên, thời trẻ ông Của cũng muốn nhập ngũ vào Nam đánh Mỹ. Song phần do nhà neo đơn, phần cũng có người khuyên "ở nhà làm tốt công tác hậu phương cũng là tiếp lửa cho tiền tuyến", ông bằng lòng ở lại.
Năm 1967, ông lập gia đình với người phụ nữ cùng bản rồi sinh được 6 người con (4 trai, 2 gái). Từng làm Đội phó Đội sản xuất nông nghiệp của Nông trường Kiên Thọ, khi nông trường giải thể, ông xin nhận khu đồi Gò Mả rộng 4 ha toàn cỏ lau để khai phá sản xuất. Cũng từ ngày ấy, vợ chồng con cái bồng bế nhau lên lưng chừng đồi, dựng một túp lều để ở, ngày ngày ăn củ sắn, bắp ngô, rau rừng cùng nhau cải tạo đất hoang.
Đỉnh đồi ông trồng tre, nứa, lim vang, tổ sản, trà khế, gỗ ngát… Dưới chân đồi, ông cấy lúa nương, cung cấp lương thực cho gia đình. Ông kể, bây giờ cây cối um tùm thế chứ cách đây mấy chục năm chỉ toàn cây dại. Cả gia đình ông đã bỏ biết bao công sức, ngày đêm khai phá quả đồi này, từ việc san lấp mặt bằng, cải tạo đất đến nhổ cây dại, ươm trồng vầu, tre, luồng...
Hai mươi năm sau, khi gia đình ông Của bắt đầu phủ xanh ngọn đồi hoang cũng là lúc đàn cò lửa từ phương nam bay về làm tổ. Ban đầu chỉ có dăm chục con, dần dần chúng kéo về đàn đàn lũ lũ. Hết cò lửa lại đến cò bợ, rồi vạc, sếu...
Một điều lạ là xung quanh đồi Gò Mả có rất nhiều cây cối nhưng không có bóng dáng con cò nào. Ông giải thích cò tuy là động vật nhưng cũng không khác con người, nơi nào bình yên thì chúng mới đến sinh sống. “Mấy tháng gần đây có cả loài cò biển (giống như sếu), rồi bìm bịp, khiếu, họa mi… kéo về nhiều lắm. Nói như các cụ ta thì đất có lành, cò mới đậu”, ông Của giới thiệu khu vườn chim của mình.
Không ai trả tiền hay thuê mướn nhưng đều đặn mỗi ngày, người đàn ông tuổi thất thập với nước da ngăm đen, thân hình rắn chắc như cây lim rừng lại đứng trên triền dốc đầu căn nhà gác “đếm cò”. Chỉ tay về phía khu rừng, ông Của bảo “đàn con hoang của tôi đang về nhà đấy”. Khi cả khu rừng im ắng, biết “đàn con hoang” đã tìm được chỗ ngủ, ông mới đi về căn lều lo bữa tối cho mình.
Ông Của bảo, từ ngày có đàn cò về tự nhiên ông lại thêm việc... không công. Ngoài việc ruộng nương, ông phải lãnh thêm trách nhiệm trông nom, bảo vệ vườn cò. Bà Liên, vợ ông góp chuyện: “Đi đâu thì chớ, chứ cứ về đến nhà là ông phải mò lên vườn cò ngay. Có bận ốm thập tử nhất sinh, ông bỏ ăn mấy ngày nhưng vẫn bắt con cháu dìu lên vườn ngắm chim rồi mới chịu về nhà”.
Gần 30 năm gắn bó với lũ chim trời, ông cụ hiểu rõ đặc tính của từng loài, nhất là cò. “Từ tháng 3 cho đến tháng 5 là thời gian cò đẻ, ấp trứng. Đến tháng 8 thì cò bố mẹ bắt đầu đưa con đi tập bay, tập kiếm mồi. Thời điểm đầu đông cũng là lúc lũ cò bớt đi xa mà chủ yếu trú ngụ tránh rét”, ông Của nói và cho biết thêm cò thường sống rất đoàn kết, khi đi kiếm mồi thì theo đàn để hỗ trợ, bảo vệ nhau, song chúng cũng sống cặp đôi chung thủy như người. Mỗi tổ là một cặp vợ chồng. Mỗi lứa chúng đẻ 2-5 quả trứng...
Vô tình có người hỏi đùa “thịt cò ăn chắc ngon lắm”, không ngờ ông chuyển sắc mặt rồi cáu: “Tôi không bao giờ ăn thịt cò cả”. Cậu con trai ông kể: "Cò này chỉ... hấp bia là ngon, nhưng bố tôi không bao giờ ăn món này đâu. Có lần đi đám cưới trong làng, thấy có đĩa thịt cò, ông bỏ về liền”.
Sau bữa cơm tối đạm bạc, đang ngồi uống nước chè trong căn lều giữa đồi thì bất ngờ nghe có tiếng “oéc oéc oéc...” từ đồi cò phát ra. Nhanh như cắt, ông Của vớ con dao đi rừng dựng ở góc nhà, nhặt chiếc đèn pin rồi mở cánh liếp sau chạy lên đồi. Mấy anh con trai cũng theo sát bố.
Trên ngọn đồi, đàn cò bay nháo nhác, phía cây lim đang có mấy bóng đen dùng sào chọc khiến đám cò hoảng loạn, đập cánh rào rào. Mấy người con trai ông lặng lẽ tỏa ra, bao vây nhóm người đang trộm cò. Những bóng đen thấy động, hò nhau chạy thục mạng.
Trở lại căn lều, ông cụ bảo, mấy năm trước đồi cò thường xuyên phải đặt trong tình trạng báo động. Vì thấy ở đây nhiều cò, bọn trộm thường kéo đến kiếm ăn. Cứ đêm xuống hoặc trưa nắng là họ lại vượt đồi vào dùng súng săn, súng cao su bắn hạ cò, rồi rung cây cho cò non rơi xuống. Ông nghe chúng kháo nhau “cò này mà đem xáo măng, hoặc hấp bia làm mồi nhậu thì... tuyệt cú”. Giận tím mặt, ông thề sẽ trừng trị bọn trộm cò!
Có bận vì mải “chiến đấu” với tụi trộm mà ông Của suýt bỏ mạng trên sườn đồi. Ông kể, đêm ấy đang ngủ bỗng nghe có tiếng cò gọi nhau oang oác như có người phá tổ. Ngồi bật dậy, nhìn lên đồi thì có ánh đèn pin loang loáng, ông vừa gọi các con lên rừng, vừa hô hoán dân làng đến giúp đỡ, quyết một phen sống mái với chúng. Khi mọi người kéo lên, nhóm người xấu lặng lẽ rút. Tưởng thế là xong, nhưng trưa hôm sau, một toán khoảng 12 người tiếp tục vào săn bắt cò. Lúc này, chỉ có mình ông ở nhà, các con và dân làng đều ra đồng. Vội vàng ông vác theo con dao phát lên rừng.
"Lên đồi thấy những thân cò non đang nằm dưới đất, bố mẹ chúng đã chết bởi những phát súng của đám săn trộm, tôi hét lên không được bắt cò của tao. Nhưng có tiếng người đáp lại “cò này là của trời, không phải của nhà mày”. Tôi lao vào giằng lấy súng của bọn chúng. Một đứa quát lên, “đánh chết lão vua cò đi, ngày mai tha hồ mà săn cò”, ngay lập tức một tên trong nhóm đã dùng báng súng đập vào đầu tôi. Tôi loạng choạng ngồi bịch xuống vườn cò, sờ tay lên trán thấy máu chảy đỏ cả bàn tay”, ông lão nhớ lại.
Không còn sức để chống cự, ông tìm chỗ cao hô to “bà con ơi, bọn xấu nó giết hết cò rồi”. Nghe tiếng hô vọng ra từ đồi cò, dân làng đang cấy lúa ở cánh đồng gần đó chạy lên giải thoát cho ông. Sau vụ đó, ông ốm liệt cả tháng trời.
Cả đời gắn bó với nghiệp “nuôi chim trời”, ông Của chứng kiến khá nhiều thăng trầm của đồi cò. Ông kể, dạo đường Hồ Chí Minh mở qua khu nhà ông, theo quy hoạch ban đầu thì tuyến đường sẽ đi qua giữa đồi Gò Mả. Nhiều đêm ông thức trắng suy tính. Sáng hôm sau, ông đạp xe lên tận huyện hỏi xem kế hoạch có thay đổi gì không.
“Đến khi biết con đường sẽ được nắn lại cách đồi cò chừng vài trăm mét, tôi sung sướng lắm. Thời gian thi công tuyến đường, những quả mìn phá núi làm chấn động cả một vùng. Khi ấy tôi chỉ lo đàn cò sẽ bỏ mình mà đi...”, ông kể. Thời điểm ấy cứ buổi chiều, ông lại ngửa mặt lên trời mong ngóng từng cánh cò bay về như những người bạn tri kỷ đợi nhau. Thật may, sau khi tuyến đường hoàn thành, cò lại trở về xôm tụ như trước.
Nghe tin ông có khu vườn quý, nhiều đại gia từ Hà Nội, Hải Phòng... tìm về gạ mua với số tiền lớn, có người không ngần ngại ngã giá vài ba tỷ đồng, nhưng trước sau như một, ông quyết không bán “đàn con” của mình. Có lần, khi vừa đi thăm lũ chim về, ông thấy chiếc ôtô sang trọng đậu gần khu lán, mấy người bước xuống đặt vấn đề muốn mượn đồi cò của ông để làm khu du lịch sinh thái. Họ hứa trả ban đầu một tỷ đồng, sau nếu làm ăn có lãi sẽ trả thêm.
“Cả đời tôi chưa bao giờ được sờ tới món tiền vài chục triệu chứ chưa nói đến số tiền khổng lồ đó. Dân bản biết chuyện đều khuyên tôi nên bán gấp, kẻo người ta thay đổi ý định. Nhưng tôi nghĩ nát nước rồi, tiền thì bao nhiêu cũng tiêu hết thôi. Ai biết được họ sẽ làm gì trên mảnh đất của tôi. Rồi khi ấy, số phận đàn cò này sẽ ra sao?”, ông nói và chốt lại ngắn gọn: “Thà gia đình tôi đói chứ không thể nhượng đồi cò cho người khác được. Cho dù họ có trả 10 tỷ đồng, tôi cũng nhất quyết không bán!”.
Được nhận nhiều bằng khen, giấy khen của tỉnh, huyện và ngành kiểm lâm vì thành tích bảo vệ và phát triển cây lâm nghiệp, bảo vệ đàn cò, song ông Của vẫn còn nhiều trăn trở. “Mấy lần tôi gửi đơn lên huyện xin hỗ trợ kinh phí để lập dự án bảo vệ đồi cò, nhưng không thấy hồi âm gì cả. Nhiều cơ quan về thăm, họ làm hồ sơ nhưng cũng chỉ để đấy. Thân lão già rồi cũng chả trông nom cò mãi được, muốn Nhà nước hỗ trợ, lập quy hoạch lại cho đàn cò sống yên ổn, mình có chết cũng thanh thản”, ông chủ đảo cò nói.
Chủ tịch UBND huyện Ngọc Lặc, ông Bùi Trung Anh, cho biết đồi cò của gia đình ông Của tồn tại suốt nhiều năm nay. Trong khu rừng này, ngoài các giống cò còn có khá nhiều chim quý. Sau khi khảo sát đánh giá thực tế, huyện đã có báo cáo gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị có phương án khoanh nuôi bảo vệ khu vườn, tuy nhiên phía Sở Nông nghiệp đang yêu cầu phải lập đề án cụ thể.
“Trước mắt, chúng tôi đã chỉ đạo chính quyền địa phương phối hợp với gia đình cụ Của tích cực bảo vệ nhằm giữ nguyên trạng đảo cò. Trong thời gian tới có thể tính đến phương án khai thác du lịch sinh thái kết nối với Khu di tích lịch sử Lam Kinh vì khu rừng nằm ngay gần khu vực di tích này”, ông Anh cho hay. (Vnexpress.net 1/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Các nhà khoa học cảnh báo các loài trăn tại khu vực Đông Nam Á có nguy cơ tuyệt chủng vì bị giết lấy da chế biến các đồ dùng xuất khẩu sang châu Âu.
Cảnh báo trên được Tổ chức Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) phối hợp với Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đưa ra trong bản báo cáo được công bố cuối tháng 11-2012 có tựa đề: “Buôn bán thương mại da trăn ở Đông Nam Á” .
Theo báo cáo, có khoảng nửa triệu da trăn dưới dạng các sản phẩm được xuất khẩu hằng năm từ Đông Nam Á (nhiều nhất là ở Indonesia, Malaysia và Việt Nam) sang các nước Liên minh châu Âu (chủ yếu là Ý, Đức và Pháp).
Báo cáo tiết lộ các vụ buôn bán da trăn này sinh lợi nhuận khoảng 1 tỉ USD/năm. Tại một ngôi làng ở Indonesia, một con trăn dài 3m được bán với giá 30 USD, nhưng cùng tấm da trăn đó tại Pháp hoặc Ý có thể được biến thành chiếc túi xách tay có trị giá gấp 500 lần, tức 15.000 USD.
Thật khó khăn để các nhà quản lý thương mại xác định nguồn gốc của các sản phẩm da trăn hợp pháp hay bất hợp pháp, theo thông tin bản báo cáo.
Theo quy định tại Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), trăn sống trong điều kiện nuôi nhốt sẽ được phép giết lấy da, nhưng điều tra cho thấy số lượng lớn trăn nuôi nhốt đó được bắt trong hoang dã.
“Việc buôn bán da trăn bất hợp pháp nếu còn tồn tại sẽ đe dọa nghiêm trọng tới các loài trăn” - ông Alexander Kasterine, người đứng đầu thực hiện các chương trình buôn bán thương mại và môi trường của ITC, nói. (Tuổi Trẻ 3/12) đầu trang(
Tổ chức dịch vụ động vật hoang dã Kenya (KWS) đã quyết định chi 210.000 đô la Mỹ (khoảng 5 tỷ) cho những người bị chết hoặc bị thương do động vật hoang dã tấn công tại 8 khu vực bảo tồn tiên nhiên của nước này.
KWS cho biết, số tiền sẽ được trao cho các nạn nhân hoặc thân nhân của họ thông qua cán bộ chính quyền khu vực. Tính đến tháng 7/2012 số tiền phải bồi thường đã lên tới 270 nghìn đô la. Các khoản thanh toán đã được Bộ lâm nghiệp và động vật hoang dã Kenya phê duyệt trong tháng 9/2012.
Khoản tiền bồi thường trên được đưa ra trong bối cảnh xung đột động vật hoang dã của con người ở Kenya không ngừng gia tăng. Mới đây nhất trong tháng 11/2012, 6 con sư tử và 4 con voi bị người dân đâm đến chết do xung đột với dân làng. Dữ liệu từ KWS cũng cho thấy, tổng số động vật hoang dã bị giết chết kể từ tháng 1 đến nay đã lên đến 50 con, gồm 26 động vật linh trưởng.
Theo các nhà bảo tồn, ở Kenya hiện nay có hàng ngàn con voi, linh cẩu và tê giác đang được bảo tồn nhưng rất khó kiểm soát tiếp xúc với con người. Để giảm bớt xung đột giữa động vật hoang dã và người dân, KWS đang tiến hành tăng cường đào tạo cán bộ kiểm lâm và xây dựng một hệ thống quản trị mới hiệu quả hơn. (Đất Việt 2/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa