Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận yêu cầu tăng cường phòng cháy, chữa cháy rừng.
Hiện nay, các tỉnh khu vực miền Trung đang trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng, hầu hết những diện tích rừng của các địa phương có nguy cơ cháy rất cao, thường xuyên ở cấp cực kỳ nguy hiểm, cháy rừng đã xảy ra ở một số địa phương thuộc các tỉnh: Nghệ An, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa…
Theo nhận định của Tổng cục Lâm nghiệp và dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong thời gian tới, tình trạng nắng nóng, khô hạn tiếp tục xảy ra tại nhiều địa phương khu vực miền Trung, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn, trọng điểm là tỉnh Nghệ An; khu vực đèo Hải Vân địa bàn giáp ranh tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, tỉnh Bình Định, Khánh Hòa…
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, Tổng cục Kiểm lâm đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, xã và chủ rừng triển khai thực hiện nghiêm túc phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra, sẵn sang huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng.
Bên cạnh đó, tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy, qui định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao.
Đồng thời, thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời thông tin về dự báo, cảnh báo cháy rừng và phát hiện sớm điểm cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng và Website của Cục Kiểm lâm. Tổ chức công tác ứng trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24h trong những tháng cao điểm của mùa khô. (Chính Phủ 2/6) đầu trang(
Năm 2013, Kiểm lâm Quảng Trị phát hiện và lập biên bản xử lý 445 vụ vi phạm, tịch thu hơn 804 m3 gỗ các loại, hơn 1.117 kg động vật rừng.
2/6, phát biểu tại Hội nghị đánh giá công tác BVR, PCCCR năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014, ông Khổng Trung - PGĐ Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết nhờ triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tích cực nên tình hình cháy rừng thời gian qua trên địa bàn tỉnh giảm về số vụ và diện tích thiệt hại.
So với năm 2012 thì năm 2013 diện tích rừng bị cháy giảm gần 14 ha, tương ứng 76%. Đã kiện toàn 97 BCH-BVR các cấp, củng cố 407 tổ, đội quần chúng PCCCR- BVR với hơn 4.100 người tham gia. Trong lĩnh vực đấu tranh ngăn chặn các hành vi xâm lấn rừng, Kiểm lâm Quảng Trị phát hiện và lập biên bản xử lý 445 vụ vi phạm, tịch thu hơn 804 m3 gỗ các loại, hơn 1.117 kg động vật rừng.
Tuy nhiên chưa có vụ nào bị cơ quan chức năng khởi tố. (Nông Nghiệp VN 3/6) đầu trang(
2-6, BQL rừng phòng hộ Phú Ninh cho biết đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm H. Núi Thành, Đội Kiểm lâm Cơ động & PCCCR số 1, CAH Núi Thành, UBND xã Tam Trà (H. Núi Thành) tổ chức kiểm tra, truy quét tình trạng khai thác vàng trái phép trong khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh (thuộc địa bàn xã Tam Trà).
Tại các bãi vàng, khi phát hiện lực lượng truy quét, hàng chục đối tượng khai thác vàng trái phép đã bỏ chạy để lại hiện trường nhiều phương tiện, dụng cụ đào đãi vàng trái phép.
Tổ công tác đã đánh sập các hầm vàng tiêu hủy toàn bộ 3 lán trại, phá hủy 2 máy nổ, 2 máy phát điện, 4 máy nghiền đá, máy bơm hơi, 2 dàn đãi vàng cơ giới, hàng trăm mét dây ống hơi. (Công An Đà Nẵng 3/6) đầu trang(
Quảng Ninh hành động về đa dạng sinh học
Điều kiện tự nhiên phong phú, hội tụ đầy đủ núi, đồi, đồng bằng, các thủy vực, vùng cửa sông, ven biển và hải đảo, đã hình thành nên tính đa dạng sinh học của Quảng Ninh.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân mở rộng đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, khai thác gỗ, săn bắt và buôn bán các loài động, thực vật hoang dã, ô nhiễm môi trường… dẫn đến đa dạng sinh học ngày càng bị suy thoái. Nhiều loài như: Hổ, gấu ngựa… đã không còn được phát hiện tại Quảng Ninh và nhiều rạn san hô đã bị suy giảm nghiêm trọng, khó có thể hồi phục.
Trong số 4350 loài của hệ động thực vật Quảng Ninh ghi nhận được có tới 154 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam (3,54%), 56 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 72 loài trong danh mục đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Mặc dù Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học như việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, khu bảo tồn biển Cô Tô, Đảo Trần, Rừng quốc gia Yên Tử… nhưng công tác bảo tồn đến nay cũng gặp nhiều khó khăn.
Tới nay Quảng Ninh vẫn chưa thành lập được đơn vị theo dõi, điều phối về đa dạng sinh học cũng như chưa bố trí được cán bộ chuyên trách về lĩnh vực này. Nhiều địa phương vẫn chưa có cán bộ chuyên trách quản lí về môi trường và đa dạng sinh học. Ở Quảng Ninh Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc Sở NN và PTNT chịu trách nhiệm quản lí các khu rừng đặc dụng, cũng như các hoạt động liên quan đến qui hoạch, xây dựng Khu bảo tồn biển Cô Tô, Đảo Trần.
Hệ thống kiểm lâm đã được bố trí từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã, là nguồn lực tốt cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là nguồn nhân lực và tài chính hạn chế, chỉ riêng bảo vệ tốt tài nguyên rừng, phòng chống cháy rừng đã là rất khó khăn. Nhiều khía cạnh liên quan đến đa dạng sinh học trong lĩnh vực vật nuôi, cây trồng như an toàn sinh học, đa dạng nguồn gen, sinh vật ngoại lai xâm lấn, là hoàn toàn mới mẻ với năng lực hiện có của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh.
Xét về tổng thể, việc ban hành những hướng dẫn triển khai thực hiện về cơ cấu tổ chức của các ngành còn thiếu, chưa có quy định chi tiết, rõ ràng về việc hình thành bộ máy quản lí liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học trong các ngành. Vì vậy, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lí đa dạng sinh học thuộc lĩnh vực ngành quản lí và việc phối hợp với Cục Bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) cũng như các phối hợp liên ngành chưa hiệu quả, đôi khi có sự chồng chéo.
Công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học đã được triển khai có hiệu quả, đặc biệt là các công ty, HTX, tổ vệ sinh môi trường tại các tuyến quốc lộ, khu phố, thôn xóm… thời gian qua đã xuất hiện một số mô hình cộng đồng dân cư tham gia vào công tác bảo vệ môi trường như: Hoạt động của các tổ, hội phụ nữ, thanh niên tham gia thu gom rác thải… tuy nhiên các mô hình này chưa được nhân rộng.
Để hành động bảo vệ đa dạng sinh học, Quảng Ninh đã có Văn bản số 3561/UBND-MT ngày 21/9/2009 về việc xây dựng kế hoạch hành động về đa dạng sinh học và phê duyệt đề cương dự án “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020”, nhằm xác định tính đa dạng sinh học, kế hoạch hành động đa dạng sinh học đến năm 2020, xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học toàn tỉnh, đào tạo nâng cao năng lực, quản lí và tuyên truyền đưa cộng đồng và các bên liên quan tham gia thực hiện kế hoạch.
Với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm các hệ sinh thái, loài, nguồn gen và các chức năng của chúng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng. (Tài Nguyên & Môi Trường 3/6) đầu trang(
Trước tình trạng hủy hoại rừng, chặt phá rừng trái phép diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn, Đảng ủy CA tỉnh Đắc Nông đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/ĐU ngày 5-5-2011 về tăng cường công tác phòng chống tội phạm hủy hoại rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật.
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, lực lượng CA các cấp trong tỉnh đã tiến hành điều tra, xử lý hàng trăm vụ vi phạm lâm luật, bắt, khởi tố hơn 200 đối tượng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi loại tội phạm này.
"Người người phá rừng, nhà nhà phá rừng", đó là thực trạng đang diễn ra ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. Họ phá rừng để lấy đất sản xuất, để mua đi bán lại, thậm chí là lấy gỗ để bán cho các đầu nậu hoặc đơn giản chỉ lấy… củi về đốt. Một khi để xảy ra tình trạng mất rừng thì kéo theo đó rất nhiều hệ lụy, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về ANTT khác.
Thực tế điều tra đã chứng minh, có không ít vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, giết người… liên quan tới việc tranh chấp đất rừng.
Ngay cả hàng ngàn héc-ta rừng của UBND tỉnh cho các Cty thuê để phát triển rừng cũng bị hủy hoại không thương tiếc, biến những Cty này thành những "doanh nghiệp phá rừng" theo cách ví von của nhiều người.
Theo đó, từ năm 2011 tới nay, UBND tỉnh giao 3.145 ha, trong đó đất có rừng là hơn 2.442ha cho các Cty Kiến trúc mới, Hoàng Ba và Cty Cổ phần 59 (đều đóng chân trên địa bàn H. Tuy Đức) thuê để làm dự án khoanh nuôi, phát triển rừng. Sau hơn 3 năm thực hiện dự án, lẽ ra rừng ngày một giàu thêm nhưng ngược lại rừng teo tóp và mất trắng tới hơn 1.637 ha.
Trong đó Cty Kiến trúc mới dẫn đầu danh sách với 1.050 ha rừng bị mất, Cty Hoàng Ba để mất 340.38ha và Cty cổ phần 59 để mất 246.6 ha. Việc một phần đất rừng bị chặt phá cũng là lẽ thường tình bởi diện tích rừng thì quá lớn trong khi đội ngũ chuyên trách làm công tác quản lý bảo vệ rừng mỏng lại có rất ít người được đào tạo bài bản về nghiệp vụ.
Theo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh, từ năm 2004 đến 2011, Đắc Nông mất khoảng 15.000 ha rừng (trong đó rừng bị chặt phá trái phép là 6.000 ha, số còn lại do triển khai các công trình thủy điện…), chưa tính khoảng 65.000 ha rừng đã mất trước năm 2004.
Trước tình trạng chặt phá, hủy hoại rừng diễn ra phức tạp, Đảng ủy CA tỉnh Đắc Nông ban hành Nghị quyết số 02-NQ/ĐU ngày 5-5-2011 về tăng cường công tác phòng chống tội phạm hủy hoại rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật.
Thực hiện Nghị quyết trên, các đơn vị nghiệp vụ đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng. CQĐT các cấp trong tỉnh đã khởi tố điều tra 82 vụ với 138 bị can.
Đặc biệt trong năm 2012 và 2013, CA tỉnh đã xác lập và đấu tranh có hiệu quả với 2 chuyên án TX 1212 và TX 0613 điều tra, xử lý các băng nhóm tội phạm hình sự và các đối tượng vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng đất đai, quản lý, bảo vệ rừng tại xã Quảng Trực và xã Đắc Ngo thuộc H. Tuy Đức, được dư luận quần chúng nhân dân đánh giá cao.
Trong Chuyên án TX 1212, CA tỉnh đã điều tra làm rõ và ra quyết định khởi tố 20 vụ án với 72 bị can, trong đó khởi tố 12 vụ với 43 bị can về các hành vi vi phạm quy định sử dụng đất, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản do bán đất rừng, hủy hoại đất rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; lập hồ sơ đề nghị UBND H. Tuy Đức xử lý hành chính đối với 418 trường hợp vi phạm về các quy định sử dụng đất.
Đặc biệt với quyết tâm cao, Ban Chuyên án đã triệt xóa các băng nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen do Nguyễn Văn Thành (biệt danh Thành nghĩa địa, 37 tuổi, trú xã Bom Bo, H. Bù Đăng, Bình Phước), Phạm Văn Toản (tức Đắc) và Phạm Xuân Phương (tức Phương Cơ) cầm đầu.
Ngoài việc tổ chức bảo kê thu mua mì, cho vay nặng lãi, thu tiền  của người dân và các thương lái qua lại tại khu vực này, các đối tượng còn tổ chức cho đàn em  đánh người dân lấy đất để bán, cho thuê và yêu cầu các hộ dân muốn làm rẫy thì phải đóng góp cho bọn chúng với lý do để san ủi đường làm cầu.
Đối với chuyên án TX 0613, đến nay, CA tỉnh đã triệt phá băng nhóm gồm 27 đối tượng có biểu hiện hoạt động theo kiểu "xã hội đen", bắt, khởi tố 10 đối tượng về hành vi cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Theo đó, từ đầu năm 2012, Nguyễn Văn Phúc (1981, hay còn gọi là Phúc Mập, trú xã Đắc Ru, H. Đắc R'lấp) đưa theo một số đối tượng từ xã Đắc Ru và Lâm Phước Tân (1988, hay còn gọi là Bé Minh Mở, trú TT Đức Phong, H. Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) đưa một số đối tượng từ Bù Đăng vào tiểu khu 1541 thuộc địa bàn giáp ranh giữa xã Đắc Ngo và Quảng Trực, H. Tuy Đức lập thành băng nhóm với hàng chục đối tượng có máu mặt rồi tổ chức cho đàn em của mình dùng hung khí, gậy gộc chặn xe người đi đường và thương lái thu mua nông sản để hành hung, đe dọa cưỡng đoạt tài sản với số tiền trên 150 triệu đồng.
Các đối tượng yêu cầu người dân, các thương lái khi vận chuyển hàng hóa đi qua khu vực này phải nộp tiền "bảo kê" từ 200 đến 300.000 đồng/chuyến. Nhiều người không chịu nộp thì bị hành hung, đuổi ra khỏi khu vực nhưng vẫn không dám tố cáo vì sợ trả thù.
Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT CA tỉnh Đắc Nông đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Phúc và Lâm Phước Tân để điều tra làm rõ về hành vi cưỡng đoạt tài sản và bắt giữ người trái pháp luật. Mở rộng điều tra, CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với 8 đối tượng khác về hành vi cưỡng đoạt tài sản.
Cuối năm 2013, đầu năm 2014, CA tỉnh đã xác lập nhiều chuyên án liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng như RB 1113 và 1113R để điều tra, xử lý các nhóm đối tượng hủy hoại rừng dọc QL14 thuộc địa phận H. Đắc Song và rừng thuộc Lâm trường Nghĩa Tín, xã Quảng Thành (Gia Nghĩa) quản lý…
Phá rừng, kinh doanh buôn bán tài nguyên và sản phẩm từ rừng trái pháp luật được coi là loại hình kinh doanh ít vốn nhưng nhiều lời. Vậy nên cuộc chiến giữ rừng sẽ còn rất nhiều cam go, phức tạp. Vì thế, bên cạnh đó sự vào cuộc quyết liệt của lực lượng CA các cấp trong tỉnh, đòi hỏi sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị để đấu tranh hiệu quả với loại tội phạm này. (Công An Đà Nẵng 3/6) đầu trang(
Sở NN&PTNT Đắk Lắk vừa có công văn số 711/SNN-KHĐT ngày 19/5/2014 do ông Nguyễn Hoài Dương (Phó GĐ Sở) ký về việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng tại Công ty TNHH MTV LN Ea H’Mơ.
Theo đó, sau khi có phản ánh từ cơ sở, trong thời gian qua về công tác bảo vệ rừng tại Công ty TNHH MTV LN Ea H’Mơ còn nhiều tồn tại.
Báo điện tử Tầm nhìn trong tháng 4 và tháng 5 vừa qua cũng đã có loạt bài viết phản ánh về tình trạng quản lý, bảo vệ rừng Công ty TNHH MTV LN Ea H’Mơ nêu lên thực trạng rừng tự nhiên bị tàn phá xâm hại nghiêm trọng.
Thực hiện ý kiến kết luận, chỉ đạo của thường trực tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác quản lý bảo vệ rừng, Sở NN&PTNT có ý kiến như sau:
Giao cho Chi cục Kiểm lâm chủ trì, phối hợp với Chi cục Lâm Nghiệp, Thanh tra Sở tiến hành kiểm tra, đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng Công ty TNHH MTV LN Ia H’Mơ, trong đó lưu ý làm rõ những vấn đề Báo Tầm nhìn đã nêu.
Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của chủ rừng(tập thể, cá nhân), các cơ quan liên quan trong việc để rừng bị xâm hại, kiến nghị các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, uốn nắn, xử lý các tồn tại, vướng mắc sai phạm, đảm bảo quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng có hiệu quả.
Trong quá trình kiểm tra cần làm việc với UBND và các cơ quan chức năng huyện Ea Súp, các đơn vị liên quan để làm rõ khách quan, chính xác vấn đề.
Công văn còn ghi rõ: Công ty TNHH MTV LN Ia H’Mơ khẩn trương có văn bản báo cáo về tình hình giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo công văn số 590 –CCLN ngày 25/4/2014 của Sở NN&PTNT. Báo cáo đầy đủ các nội dung liên quan cho Đoàn kiểm tra, phối hợp để Đoàn kiểm tra hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Đề nghị Chi cục Kiểm lâm và các đơn vị liên quan khẩn trương triển khai thực hiện và hoàn thành trước ngày 31/5/2014, có văn bản báo cáo Sở trước ngày 10/6/2014.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Hoài Dương cho biết: Quan điểm của Sở NN&PTNT sẽ làm kỹ vấn đề này, xác định rõ trách nhiệm tập thể các nhân có liên quan trên cơ sở đó sẽ có hướng xử lý, đây cũng là bước đầu trong việc xử lý các điểm nóng phá rừng khác trên địa bàn tỉnh.
Như Tầm nhìn trước đó đã đưa tin, hàng ngàn cây rừng tự nhiên đang bị đốn hạ một cách kinh hoàng tại rừng biên giới do Công ty TNHH MTV LN Ia H’Mơ quản lý, điều bất thương là gỗ bị cắt ngay bên đường tuần tra, thậm chí bên nách phân trường nhưng dường như đơn vị này đã cố tình lờ đi? Khiến cho những cánh rừng ở đây bị phá tan hoang, ảnh hưởng trầm trọng về độ che phủ của rừng. (Tầm Nhìn 2/6) đầu trang(
UBND TPHCM vừa chỉ đạo về việc đẩy mạnh các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ các loài động vật rừng; kiên quyết xử lý, tịch thu động vật rừng không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Sở Công Thương chỉ đạo Chi cục Quản lý thị trường phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống các hành vi kinh doanh, vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã, nhất là các sản phẩm từ cá thể động vật như Tê Giác trắng, Tê Giác đen, Voi Châu Phi và Hổ.
Công an TP chỉ đạo các phòng nghiệp vụ phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh TP, Chi cục Kiểm lâm TP điều tra, xác minh vụ việc vi phạm liên quan đến buôn bán các loài động vật rừng trên địa bàn TP theo quy định; phân công lực lượng cảnh sát giao thông đường bộ, đường thủy hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng trong công tác kiểm tra các trường hợp có dấu hiệu vận chuyển trái phép động vật hoang dã; chỉ đạo công an các quận - huyện, phường - xã - thị trấn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tổ chức giám sát, điều tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân buôn bán các loài động vật hoang dã trái phép trên địa bàn và từ các tỉnh vận chuyển về TP.
Cục Hải quan TP chỉ đạo Chi cục Hải quan tại sân bay, cảng …tăng cường kiểm tra, kiểm soát các mặt hàng xuất, nhập khẩu; ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu động vật hoang dã trái phép hoặc các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã không hợp pháp tại các cửa khẩu trên địa bàn TP; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với các hành vi vi phạm, nhất là các sản phẩm từ cá thể động vật như Tê Giác trắng, Tê Giác đen, Voi Châu Phi và Hổ.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phổ biến tuyên truyền đến các doanh nghiệp hoạt động du lịch, kinh doanh dịch vụ ăn uống, tổ chức lữ hành và hướng dẫn du lịch các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã và các hình thức xử lý, chế tài; chủ động phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra xử phạt các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch vi phạm các quy định về bảo tồn động vật hoang dã.
Các Sở - ngành, UBND quận - huyện chỉ đạo cán bộ công chức, viên chức, người lao động nghiêm túc chấp hành các quy định của Nhà nước và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã hoang dã, nguy cấp (CITES); tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm tới các tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn; khuyến cáo các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không tiêu thụ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và khuyến khích việc cung cấp thông tin đối với các hành vi vi phạm tới Chi cục Kiểm lâm TP.
Chủ tịch UBND quận - huyện chỉ đạo các cơ quan có liên quan xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra, phối hợp hỗ trợ Chi cục Kiểm lâm kiểm soát và xử lý các trường hợp vận chuyển, nuôi nhốt, chế biến, kinh doanh trái phép động vật hoang dã và sản phẩm của chúng trên địa bàn theo quy định của pháp luật; chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch phối hợp, hỗ trợ Chi cục Kiểm lâm tăng cường kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo vệ và phát triển động vật rừng. (Hochiminhcity.gov.vn 2/6) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Phương án tổ chức, chỉ huy và điều động lực lượng, phương tiện ứng cứu chữa cháy rừng khi có cháy lớn xảy ra năm 2014.
Theo đó, chỉ tiêu tối thiểu mà 4 đơn vị nóng cốt cần chuẩn bị là 500 người, trong đó: Bộ CHQS tỉnh 150 chiến sỹ, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh 150 chiến sỹ, Công an tỉnh 100 chiến sỹ, Sở NN&PTNT 100 người (riêng lực lượng kiểm lâm huy động toàn bộ thuộc lực lượng trên địa bàn huyện có cháy rừng và các huyện, thị xã liền kề).
Cùng với quân số, các đơn vị nói trên còn phải chuẩn bị tốt về phương tiện, thiết bị, trong đó: Bộ CHQS tỉnh chuẩn bị từ 3 - 4 ô tô đảm bảo đủ chở người và dụng cụ của đơn vị, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh 3 - 4 ô tô đảm bảo đủ chở người và dụng cụ của đơn vị, Công an tỉnh 2 - 3 ô tô đảm bảo đủ chở người và dụng cụ của đơn vị; Sở NN&PTNT chuẩn bị 4 ô tô đảm bảo đủ đủ để chờ người, dụng cụ của đơn vị và yêu cầu của BCĐ tỉnh.
Cùng đó, các ngành cần chuẩn bị sẵn sàng các loại dụng cụ sẵn có phục vụ cho lực lượng của mình như: loa cầm tay, bộ đàm chỉ huy, cưa xăng, cưa đơn, dao rạ và bổ sung các dụng cụ thiết yếu như: đèn pin, giày tất, mũ, nước uống, lương thực thực phẩm, dụng cụ y tế sơ cứu, xăng dầu... đảm bảo tối thiểu cho lực lượng chữa cháy.
Mục đích của việc điều động lực lượng này là nhằm đảm bảo vai trò chỉ huy, điều hành các lực lượng chữa cháy rừng khi có cháy lớn xảy ra; huy động nhanh, có hiệu quả các lực lượng chữa cháy rừng của tỉnh ứng cứu cho các địa phương, chủ rừng khi có cháy lớn xảy ra mà địa phương không thể kiểm soát được; chủ động về lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cần thiết, các điều kiện đảm bảo, sẵn sàng tham gia ứng cứu, phối hợp chỉ huy chữa cháy rừng; nâng cao năng lực chỉ huy, khả năng tác chiến và hiệu quả chữa cháy rừng cho lực lượng ứng cứu của tỉnh.
Khi có cháy rừng xảy ra trên địa bàn huyện/thị xã, cấp dự báo cháy rừng ở cấp IV-V (cấp rất nguy hiểm), tốc độ lan tràn đám cháy nhanh mà lực lượng chữa cháy rừng cấp huyện không khống chế được thì Chủ tịch UBND huyện phải kịp thời báo cáo và đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tăng cường lực lượng, phương tiện ứng cứu.
Ngoài lực lượng tối thiểu quy định đối với các ngành nêu trên, tùy theo tình hình cụ thể từng vụ cháy, nguy cơ và khả năng kiểm soát cháy, BCĐ cấp tỉnh sẽ quyết định tiếp tục điều động lực lượng các ngành, đơn vị và địa phương liên quan để chữa cháy... (Báo Hà Tĩnh 2/6) đầu trang(
Trong những ngày qua, dư luận Hà Tĩnh đặc biệt quan tâm về vụ cháy rừng tại khu vực Thị trấn Vũ Quang. Để hiểu rõ vấn đề này PV Kinh tế nông thôn đã trực tiếp làm việc với ông Nguyễn Văn Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vũ Quang và được ông cho biết cụ thể như sau:
Vào lúc 13 giờ 40 phút, ngày 22 tháng 5 tại khu rừng trồng cây keo nguyên liệu của gia đình ông Lê Duy Phật ở xóm 3 Thị trấn Vũ Quang (thuộc lô 12 khoảnh 3, tiểu khu 140) bỗng dưng phát lửa. Ngay sau đó lực lượng Kiểm lâm huyện, Vườn Quốc gia Vũ Quang, Công an huyện, cán bộ, công chức Thị trấn Vũ Quang cùng các hộ dân có rừng đã kịp thời đến hiện trường để khống chế ngọn lửa.
Với sự vào cuộc tích cực, đầy trách nhiệm từ nhiều phía nên chỉ một thời gian ngắn sau đó ngọn lửa được dập tắt, diện tích rừng bị thiệt hại không đáng kể. Mặc dù vậy do nắng nóng, gió Lào thổi mạnh nên vào khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày tàn dư ngọn lửa lại tiếp tục bùng phát tại vị trí cũ và đến 22 giờ các lực lượng chức năng mới dập tắt được hoàn toàn.
Theo biên bản kiểm tra, thống kê tại hiện trường do ông Minh cung cấp thì tổng diện tích rừng bị cháy là 10.040m2, trong đó có 686m2 rừng trồng cây keo nguyên liệu được gần 5 năm tuổi, còn lại 9354m2 đất rừng trước đây trồng keo nhưng đã khai thác từ năm 2012 (diện tích này chủ yếu cháy các loại cây dây leo, bụi rậm không có giá trị kinh tế và đang trong giai đoạn chuẩn bị bàn giao đất rừng cho nhân dân quản lý, sử dụng lâu dài).
Hiện tại lực lượng Công an huyện Vũ Quang đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện điều tra, xác minh đối tượng gây ra cháy rừng để xử lý nghiêm trước pháp luật. Nguồn tin ban đầu PV Kinh tế nông thôn thu thập được thì đây rất có thể do một người dân mang lửa vào rừng đốt ong lấy mật, vì bất cẩn nên để ngọn lửa bùng phát, gây cháy.     Được biết huyện Vũ Quang hiện có trên 50.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có nhiều diện tích rừng trồng nguy cơ xẩy ra cháy rừng vào mùa nắng nóng, khô hạn là rất cao. Bởi vậy công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng đang được huyện Vũ Quang và các ngành chức năng duy trì thực hiện nghiêm túc, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Kinh Tế Nông Thôn 2/6) đầu trang(
Theo Đại sứ quán Italy, vào ngày 6.6, tại Casa Italia, 18 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội sẽ diễn ra hội thảo Khám phá đa dạng sinh học của Việt Nam: Côn trùng, trong khuôn khổ chương trình Ý - Việt 2014.
Hội thảo có sự tham gia của Gs Luca Bartolozzi, Trưởng khoa Động vật học, Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên La Specola thuộc trường ĐH Firenze, Italy. Việt Nam là một trong những điểm nóng của thế giới về đa dạng sinh học và côn trùng ở đây vẫn còn chưa được biết đến nhiều, là cơ hội cho các nhà khoa học và nhà nghiên cứu khám phá.
Từ năm 2010 - 2013, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên thuộc trường ĐH Firenze, 4 chuyến khảo sát côn trùng đã được tổ chức. Tại hội thảo, một số kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày với minh họa là các hình ảnh tuyệt đẹp về nhiều loại côn trùng ở Việt Nam. (Đại Biểu Nhân Dân 2/6) đầu trang(
Giới khoa học vừa công bố loài Cẩm cù hạnh được phát hiện ở gần biển Quảng Bình và Nha Trang.
Loài mới có tên khoa học là Hoya hanhiae, được đặt theo tên của bà Nguyễn Thúy Hạnh, người có công phát hiện, thu mẫu. Công bố này đã nâng tổng số các loài Cẩm cù của Việt Nam mọc tự nhiên lên 25 loài.
Cẩm cù hạnh là loài sống phụ sinh trên các thân cây già. Chúng có các rễ bám mọc ra từ các đốt thân và có thể dài đến 5 m. Hoa của chúng có nhiều dạng màu sắc, nhưng màu phổ biến nhất là màu hồng và vàng, theo VnCreatures.
Cẩm cù hạnh phân bố tại các khu vực gần biển ở Quảng Trị và Nha Trang. Chúng nở hoa vào mùa hè, từ tháng 6 đến tháng 8 dương lịch. Hoa của chúng rất thơm. Vào ban đêm hoa thường đóng lại sau đó mở ra vào sáng hôm sau. (Đại Đoàn Kết 2/6; VnExpress 31/5) đầu trang(
Hơn hai mươi cây xà cừ cổ thụ ở đường Láng (Hà Nội) đã bị cưa sát gốc để giải phóng mặt bằng cho dự án đường sắt trên cao, trong khi có thể di dời hàng cây này.
Đường Láng những ngày đầu hè dường như bị chia thành hai khúc rõ rệt. Một trơ ra dưới nắng với những gốc cây màu xà cừ nâu sẫm đường kính cả mét bị cưa, mùi hăng của nhựa còn phảng phất. Một vẫn xanh mát với những cây xà cừ còn lại tỏa bóng râm. “Chỉ rè rè một chút là xong. Chúng tôi xót như người nhà bị mất”, một người dân trên đường Láng nói. Ông đã sống ở đây nhiều năm, con cái của ông cũng đã lớn lên, đùa vui dưới những tán cây này hàng chục năm rồi. Trả lời báo chí, ông Nguyễn Xuân Hưng, Phó giám đốc Công ty công viên cây xanh Hà Nội, cho biết những cây trên bị chặt hạ nhằm giải phóng mặt bằng cho dự án tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.
“Thực ra đâu chỉ đường Láng bị cưa cắt cây”, TS Vũ Thế Long, Giám đốc Trung tâm phát triển các chương trình xã hội, nói. “Cây ở đường Nguyễn Trãi cũng bị cưa để làm bến xe. Thường thì khi có làm bến, làm đường, cây phải cưa đi thôi. Trừ khi ngay từ đầu người ta chừa nó ra như cây di sản”.
Việc chừa cây ra khi làm đường từng được áp dụng nhiều. Tại một số con đường, để cứu hàng cây, người ta có thể biến ngay hàng cây đó thành một phần của dải phân cách. Bản thân những cây xà cừ tại đường Láng cũng nằm trên một dải phân cách như vậy. Tuy nhiên, do cản đường trên cao, nó đã bị chặt hạ lần này.
Trên thực tế hàng cây xà cừ này dù rất lâu năm cũng chưa được công nhận là cây di sản. Vì thế việc “cong mềm mại” để tránh hàng cây là điều không bắt buộc. Song, việc cưa cả hàng chục cây cổ thụ như vậy không thể coi là một ứng xử thân thiện với môi trường của một thành phố hòa bình như Hà Nội.
“Hiện nay, các nhà nghiên cứu phát triển đều thống nhất quan điểm về phát triển và cây xanh” - một nhà nghiên cứu đô thị nói - “Nhận thức trên thế giới về cây xanh đã rất tốt. Theo đó, họ coi những yếu tố thuộc về tự nhiên là những thứ có giá trị. Cây xanh là thứ người ta không thể khiến nó một ngày mà mọc lớn được. Chính vì vậy, cả cây xanh, cây xanh mặt nước cần được bảo vệ”.
Nhà nghiên cứu đô thị ấy cũng cho biết sẽ luôn có tình huống bảo vệ cây mâu thuẫn với phát triển. Khi đó bài toán là phải cân nhắc sao cho hài hòa. Cách đơn giản nhất là phải bứng cây xanh, cây xanh mặt nước đó đi chỗ khác. Cũng có thể theo cách lấy đi một diện tích cây xanh thì bù một cái vườn treo.
“Tóm lại là trong trường hợp giữ cây xanh ở đó bất khả thi thì phải có cơ chế hạn chế tối đa thiệt hại hoặc có cơ chế đền bù. Đền bù không phải là đền bù tiền. Mà có nghĩa là nếu lấy mất mặt nước này thì phải đền bù một mặt nước khác”, nhà nghiên cứu cho biết.
Chính vì thế, với vụ việc cụ thể ở đường Láng, nhà nghiên cứu trên cho rằng cần phải chuyển hàng cây tới nơi khác. Chẳng hạn, hiện Hà Nội có nhiều công viên mới thưa thớt cây, có thể chuyển cây tới đó. Cưa ngay lập tức những cây đường kính lớn như vậy, có bóng mát như vậy là chuyện khó chấp nhận. “Bứng đi là một giải pháp, trong trường hợp này đã quá dễ dàng, dễ hiểu. Cây công cộng thì phải bứng đi về chỗ công cộng”, ông nói.
Còn nhớ, hồi đầu năm 2013, H.Đức Thọ (Hà Tĩnh) đã bứng toàn bộ 40 cây cổ thụ ven quốc lộ 8A ra nơi mới, để bảo đảm đúng tiến độ bàn giao mặt bằng cải tạo đoạn đường này. Những cây xà cừ ấy vốn được người dân trồng theo lời phát động trồng cây của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng đã có độ tuổi gần trăm năm.
Hà Nội chắc chắn không thể không có những không gian xanh. Bản thân luật Thủ đô cũng thể hiện rất rõ điều này trong điều 10 về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan và xây dựng đô thị. Theo đó, không gian, kiến trúc, cảnh quan và xây dựng đô thị phải tạo lập không gian xanh của thủ đô, không gian cảnh quan khu vực hai bên sông Hồng. Việc chặt hạ cây - nguồn giá trị xanh - mau chóng như vậy khiến công chúng nghi ngờ sự thực hiện quy định này.
Chưa kể, theo một chuyên gia đô thị, trong tất cả các dự án phát triển đều có khâu đánh giá tác động môi trường. Việc dự án ảnh hưởng tới cây xanh ra sao chắc chắn phải được liệt kê trong đánh giá tác động môi trường ấy. Phải có biện pháp thì dự án đó mới được phê duyệt. “Thì ở đây rõ ràng dự án này đã vi phạm môi trường, nhưng giải pháp thì chưa thấy. Nó nảy ra cái ý nghĩa là chúng ta đánh giá tác động môi trường một cách rất hình thức, không có thực chất”, chuyên gia phân tích.
TS Vũ Thế Long cũng bức xúc về quy hoạch cây tại Hà Nội. “Quan niệm trồng cây của Hà Nội hiện rất bảo thủ, lạc hậu. Chẳng hạn người Pháp có nghiên cứu trồng cây cho thủ đô rất có hệ thống. Như cây sấu ở đường Trần Hưng Đạo cả dãy dài. Phố Lý Thường Kiệt có hàng cây cơm nguội, cây phượng. Rồi dần dần, Hà Nội tự dưng đào lên trồng những cây mới chả liên quan. Chưa kể nhiều yếu tố không đồng bộ. Người trồng cứ trồng, người xây cứ xây, cứ chặt rồi lại trồng lại”, ông Long nói. (Thanh Niên 2/6) đầu trang(
Cuối tuần qua, UBND xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm điểm trước toàn dân 21 trường hợp phá rừng khu vực đầu nguồn hồ Đông Tiển.
Từ đầu năm 2012 đến nay, 21 người dân ở các thôn Vinh Đông, Vinh Nam và Nam Tiển đã chặt phá gần 13ha rừng tại khu vực đầu nguồn để lấy đất canh tác. Tại buổi kiểm điểm, người dân vi phạm đều nhận thấy đây là việc làm sai trái và cam kết sẽ không tái phạm.
Cũng tại buổi kiểm điểm, UBND huyện Thăng Bình yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện, các ban ngành đoàn thể của xã Bình Trị thường xuyên theo dõi, đôn đốc, tích cực hỗ trợ cho những trường hợp vi phạm khắc phục hậu quả, không để tái phạm việc phá rừng xâm phạm đến khu vực rừng phòng hộ. (Báo Quảng Nam 2/6) đầu trang(
2/6, UBND huyện Hòa An, Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức khen thưởng đột xuất kiểm lâm viên Nguyễn Minh Tuấn, công tác tại Hạt Kiểm lâm huyện Trà Lĩnh có thành tích xuất sắc trong công tác chữa cháy rừng.
21/01/2014, đang trên đường đi công tác đến địa phận xóm Nặm Loát, xã Nguyễn Huệ (Hòa An), kiểm lâm viên Nguyễn Minh Tuấn phát hiện rừng tại địa phận xóm Nặm Loát do Công ty trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Cao Bằng quản lý bị cháy.
Ngay khi phát hiện đám cháy, anh Tuấn đã báo cáo lại địa điểm, vị trí, tình hình quy mô, mức độ lan tràn của đám cháy cho Hạt Kiểm lâm huyện Hòa An để triển khai, huy động lực lượng, phương tiện, công cụ chữa cháy phù hợp với đám cháy. Đồng thời, anh Tuấn trực tiếp tham gia và có ý kiến đề nghị với trưởng xóm Nặm Loát khẩn trương huy động lực lượng tại chỗ và bà con trong xóm tiến hành dập lửa. Đến 24 giờ cùng ngày, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Qua kiểm tra, có 5,4 ha rừng trồng bị cháy, tuy nhiên, nhờ phát hiện và được chữa cháy kịp thời, đám cháy chỉ cháy qua gốc nên không gây thiệt hại cho cây trồng.
Với tinh thần trách nhiệm cao và hành động tích cực quyết tâm bảo vệ tài nguyên rừng, tài sản của Nhà nước, của nhân dân, kiểm lâm viên Nguyễn Minh Tuấn được UBND huyện Hòa An khen thưởng đột xuất vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác chữa cháy rừng. (Báo Cao Bằng 2/6) đầu trang(
2/6, Ban Chỉ huy bảo vệ rừng tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị đánh giá công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014. Đồng chí Nguyễn Quân Chính, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ huy bảo vệ rừng chủ trì hội nghị.
Hiện nay toàn tỉnh Quảng Trị có trên 236 nghìn ha rừng, trong đó 141 nghìn ha rừng tự nhiên. Các phương án bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các địa phương triển khai hiện nghiêm túc. Năm 2013, công tác quản lý, bảo vệ rừng các cấp được thực hiện tốt. Các chủ rừng lớn có phương án ứng phó khi cháy rừng xảy ra. Tất cả các vụ cháy đều được dập tắt kịp thời nên hạn chế thiệt hại rất đáng kể. Lực lượng kiểm lâm cũng đã tổ chức nhiều đợt tăng cường đấu tranh ngăn chặn tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản. Tính đến tháng 4/2014, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện, lập biên bản xử lý 445 vụ vi phạm, tịch thu 804 mét khối gỗ các loại,1.117kg động vật rừng (giảm 20 vụ so với cùng kỳ).
Tuy nhiên ở một số địa bàn như Vĩnh Linh, Hướng Hóa, tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép vẫn diễn ra với thủ đoạn tinh vi hơn, các đối tượng sử dụng cả xe reo, xe công nông vào tận rừng khai thác gỗ. Năng lực thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng bảo vệ rừng ở cơ sở còn hạn chế, người tham gia bảo vệ rừng chưa được đào tạo nghiệp vụ bảo vệ rừng, hiệu quả của tuần tra bảo vệ rừng chưa cao.  Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Quân Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những thành tích Ban chỉ huy bảo vệ rừng đạt được trong thời gian qua. Công tác bảo vệ rừng, PCCCR cơ bản được thực hiện hiệu quả. Lực lượng chuyên trách có nhiều biên pháp tối ưu để bảo vệ rừng và PCCCR. Nhận thức của người dân về bảo vệ rừng được nâng cao, tạo được phong trào quần chúng rộng lớn bảo vệ rừng.
Nhiệm vụ thời gian tới, ông Chính đề nghị Ban Chỉ huy bảo vệ rừng tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, PCCCR sâu rộng trong nhân dân. Tổ chức diễn tập chữa cháy rừng ở cấp huyện để nâng cao khả năng xử lý tình huống, năng lực lãnh đạo, huy động lực lượng cũng như phối hợp chữa cháy theo phương án đã được phê duyệt. Phối hợp với các lực lượng liên quan tổ chức truy quét, đẩy đuổi đối tượng phá rừng ở các vùng trọng điểm. Quản lý các cơ sở chế biến gỗ, cơ sở nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã để ngăn ngừa tình trạng lợi dụng hợp thức hóa nguồn gỗ, lâm sản, động vật rừng trái phép. (Báo Quảng Trị 3/6) đầu trang(
Bạn đọc Phạm Hùng ở H. Chợ Đồn (Bắc Cạn) phản ánh trên báo Quân Đội Nhân Dân: Trong khu bảo tồn Loài và Sinh vật cảnh huyện Chợ Đồn lại tái diễn nạn chặt phá cây gỗ nghiến. (Quân Đội Nhân Dân 1/6) đầu trang(
Thông Tin Nhanh Qua Đường Dây Nóng trên báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Hiện đang diễn ra tình trạng người dân vào rừng tự nhiên ở H.Mường Khương, Lào Cai để đào cây rừng mang về trồng làm cây cảnh. (Quân Đội Nhân Dân 3/6; Nhân Dân 2/6) đầu trang(
Để giúp người trồng và giữ rừng tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, thời gian qua, tỉnh Bạc Liêu đã ứng dụng nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất rừng. Song, do chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nhiều hộ nhận giao khoán đất rừng đã quên đi trách nhiệm của mình là bảo vệ và phát triển rừng.
Cần khẳng định, mục đích chính của việc giao khoán đất rừng là phải phát triển và bảo vệ rừng, chứ không phải khai thác giá trị mang lại từ rừng. Thế nhưng, nhiều năm qua, việc phát triển và bảo vệ rừng dường như vẫn là thứ yếu. Bằng chứng là nạn ứ nước nuôi tôm gây chết rừng vẫn cứ xảy ra, và mô hình tôm - rừng (được xem là bền vững) dần được thay thế bằng mô hình nuôi tôm công nghiệp, quảng canh và cả việc nuôi tôm thẻ chân trắng.
Nhiều hộ nhận giao khoán đất rừng không thích trồng thêm rừng, kể cả việc áp dụng mô hình tôm - rừng. Vì nếu áp dụng mô hình tôm - rừng thì buộc họ phải trồng thêm cây rừng, làm giảm diện tích mặt nước.
Đơn cử như mô hình nuôi tôm quảng canh kết hợp, nếu chuyển sang mô hình tôm - rừng sẽ giảm đi diện tích mặt nước nuôi tôm khoảng 30% do trồng rừng. Diện tích nuôi trồng giảm sẽ kéo theo giảm sản lượng. Ước tính 1ha áp dụng mô hình tôm - rừng sẽ giảm đi khoảng 20 triệu đồng/năm so với áp dụng mô hình nuôi tôm quảng canh.
Trong khi đó, mỗi năm Nhà nước chỉ hỗ trợ công chăm sóc, trồng mới rừng khoảng 2 triệu đồng/ha. Chính sự chênh lệch về thu nhập quá xa này mà nhiều hộ nuôi trồng thủy sản ven biển hiện nay chẳng muốn phát triển mô hình tôm - rừng. Có nơi, người dân bỏ hẳn mô hình tôm - rừng mà thay bằng mô hình nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm thẻ chân trắng...
Trong chuyến công tác tại Bạc Liêu vào đầu tháng 3/2014, Chủ tịch nước - Trương Tấn Sang yêu cầu Bạc Liêu cần làm tốt công tác phát triển và bảo vệ rừng, nhằm chủ động phòng chống nước biển dâng, xâm nhập mặn và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.
Còn Bộ trưởng Bộ NN&PNTT - Cao Đức Phát cũng khẳng định: “Thực tiễn từ công tác phòng chống thiên tai cho thấy, giải pháp hữu hiệu nhất ở vùng ven biển vẫn là bảo vệ và phát triển rừng. Bởi, dù có công trình bê-tông hóa vẫn bị sóng đánh sập”.
Bảo vệ và phát triển rừng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mặt khác, nếu không làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, thì những mô hình kinh tế đang được nông dân chăm chút đầu tư hiện nay cũng khó tránh khỏi nguy cơ mất trắng, vì triều cường và xâm nhập mặn trong tương lai.
Do vậy, trong kế hoạch tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh đến năm 2020, có mục tiêu phát triển mô hình tôm - rừng. Trong đó, diện tích mặt nước nuôi trồng chiếm 70%, còn 30% diện tích phải trồng rừng. Bởi, phát triển rừng không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế, mà nó còn là sự phát triển bền vững do Bạc Liêu là một trong những tỉnh, thành của khu vực ĐBSCL được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Một trong những giải pháp được ngành quản lý quan tâm là đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền về tầm quan quan trọng đặc biệt của rừng đối với sự phát triển bền vững. Đồng thời nghiên cứu các giải pháp như tăng mức hỗ trợ cho việc trồng và chăm sóc rừng, giúp người nông dân tăng thêm thu nhập từ mô hình tôm - rừng. Gắn kết doanh nghiệp với người nhận giao khoán đất rừng để khai thác có hiệu quả mô hình tôm - rừng gắn với phát triển du lịch sinh thái rừng…
Làm được những việc này thì giá trị mang lại từ rừng sẽ tăng thêm rất nhiều từ các dịch vụ ăn theo, người giữ rừng sẽ an tâm phát triển rừng, giá trị của con tôm sẽ cao hơn rất nhiều so với giá con tôm nguyên liệu khi được chế biến thành các món ăn phục vụ khách du lịch...
Với những thay đổi thất thường và không thể lường trước từ biến đổi khí hậu như hiện nay, Ngày Môi trường thế giới năm nay với khẩu hiệu “Hãy hành động để ngăn nước biển dâng” cũng đã cảnh báo về những nguy cơ và hậu quả nặng nề từ nước biển dâng. Do vậy, mọi người hãy chung tay hành động bằng những việc làm thiết thực từ phát triển, bảo vệ và chăm sóc rừng trước khi quá muộn. (Báo Bạc Liêu 3/6) đầu trang(
Rộng gần 3.000 ha, khu bảo tồn vượn Cao Vít nằm trọn vẹn trong 3 xã là Ngọc Khê, Ngọc Côn và Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng hiện đang bảo tồn loài vượn Cao Vít quý hiếm nhất thế giới cùng hàng trăm loài động vật quý hiếm khác.
Các cụ cao tuổi tại xã Ngọc Khê kể rằng, ngày trước họ vào rừng lấy củi, khi mà rừng còn rậm rạp cây cối thì phát hiện loài vượn không đuôi, con lông đen, con lông vàng rất đẹp nhưng không biết vượn gì, buổi sáng tinh mơ thường nghe thấy âm thanh hú “cao huýt hay cao vit” nên người dân địa phương thường gọi là vượn Cao Vít hoặc Cao Huýt.
Thế nhưng, bẵng đi một khoảng thời gian khá lâu không thấy chúng bởi ảnh hưởng của nạn phá rừng, chặt cây lấy củi, săn bắn thú rừng của người dân địa phương đã khiến loài vượn này di chuyển đi nơi khác ở. Đến năm 2002, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) phát hiện chúng vẫn còn sinh sống ở đây và công cuộc bảo tồn loài này mới được người dân và các ngành chức năng quan tâm bảo vệ.
Theo các nhà nghiên cứu của FFI, vượn Cao Vít có tên khoa học là Nomascus nasutus nasutus, thuộc loài vượn đen Đông Bắc (tên khoa học là Nomascus nasutus), chỉ có ở vùng Đông Bắc Việt Nam, đảo Hải Nam và vùng Đông Nam Trung Quốc. Sau khi phát hiện có đàn vượn khoảng 37 con ở khu rừng, năm 2004, Tổ chức FFI đã xây dựng dự án bảo tồn loài vượn Cao Vít và kêu gọi nguồn tài trợ từ các cá nhân và tổ chức xã hội trên thế giới.
Tháng 3/2004, dự án chính thức đi vào hoạt động, với mục đích hỗ trợ người dân sống gần khu bảo tồn có điều kiện để phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống lâu dài với các mô hình như quỹ tín dụng, mô hình cỏ voi, trồng cây mác rạc lấy củi, máy băm, xây bếp tiết kiệm củi,.. các mô hình này đã đem lại kết quả khả quan trong công tác bảo tồn đi đôi với bảo vệ lợi ích của người dân sống quanh khu bảo tồn.
Từ khi dự án đi vào hoạt động, được hỗ trợ, người dân địa phương sống gần khu bảo tồn không còn lên rừng chặt cây lấy củi, vì dự án đã hỗ trợ bà con xây dựng bếp tiết kiệm củi, trồng cây mác rạc lấy củi đun ngoài vùng đệm, trồng trên đất rừng được giao của bà con.
Bên cạnh đó, để người dân không chăn thả gia súc vào khu bảo tồn, dự án đã hỗ trợ trồng cỏ voi, và 10 máy băm thức ăn chăn nuôi cho 5 thôn, xây dựng chuồng trại chăn nuôi làm điểm cho một số hộ tại các thôn. Mô hình này kết hợp với túi ủ đã góp phần cải thiện nguồn thức ăn cho gia súc trong mùa rét, tiết kiệm thời gian cho bà con, dần dần thấy hiệu quả người dân đã tự học hỏi lẫn nhau, cùng chỉ bảo nhau xây dựng chuồng trại, ủ thức ăn, trồng cỏ voi cho gia súc.
Ngoài ra, người dân còn được dự án hỗ trợ vay vốn để phát triển chăn nuôi theo các nhóm sở thích với số vốn lên tới 153 triệu đồng. Từ đây, bà con được tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, tập huấn chăn nuôi thú y cho hơn 200 hộ…, nay người dân có thể tự chăn nuôi sản xuất phục vụ gia đình, không còn phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
Đại diện UBND xã Ngọc Khê cho biết, đến nay khi tất cả các dự án đều đã ngừng hoạt động hỗ trợ, người dân cũng đã hiểu ra tầm quan trọng của việc bảo vệ loài vượn Cao Vít, nhiều người tự giao nộp súng săn, hầu như không ai còn vào rừng chặt phá cây, săn bẫy thú nữa. Tất cả các nguồn hỗ trợ từ dự án bảo tồn đều được bà con tận dụng khá hiệu quả.
Thêm vào đó là công tác tuần tra bảo vệ rừng nghiêm ngặt, môi trường sống an toàn nên loài vượn Cao Vít phát triển rất nhanh, được tổ chức FFI khảo sát đến thời điểm hiện tại là hơn 129 cá thể, cùng nhiều loài thú khác như khỉ, gấu, hươu, nai,…sống trong khu bảo tồn, được người dân bảo vệ. (Tuổi Trẻ 3/6) đầu trang(
Đặc thù của tỉnh có địa hình phức tạp, thu nhập người dân còn thấp, nhất là vùng gần rừng, liền rừng; tập quán sống dựa vào rừng vẫn chưa được loại bỏ triệt để. Thêm vào đó, tỉnh nằm ở khu vực có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên nắng nóng kéo dài trong mùa khô, diện tích rừng trồng dễ cháy và rừng tự nhiên nghèo kiệt xen lẫn lau lách nhiều nên nguy cơ cháy rừng luôn ở mức rất cao.
Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho thấy năm 2012, toàn tỉnh xảy ra 9 vụ cháy rừng, thiệt hại 34,6ha. Năm 2013, con số này là 2 vụ, thiệt hại 8,6ha rừng trồng tại huyện Bố Trạch và TP. Đồng Hới. Hiện tại đang là thời điểm nắng nóng, nền nhiệt lên đến 39-40 độ và kéo dài trong nhiều ngày liền nên nguy cơ cháy rừng luôn ở mức rất cao. Điều này đặt ra cho lực lượng kiểm lâm, các cơ quan chức năng và địa phương nhiệm vụ hết sức cấp bách nhằm hạn chế đến mức tối đa số vụ cháy rừng cũng như diện tích rừng thiệt hại do cháy.
Cụ thể, phải xác định phương châm “phòng là chính”. Trong đó chú trọng các biện pháp phòng cháy như xử lý thực bì, hạn chế vật liệu cháy trong rừng, ven rừng và tu sửa các công trình phòng cháy trước mùa khô. Tăng cường công tác tuần tra, canh gác nhằm kịp thời phát hiện điểm phát lửa để huy động lực lượng cơ động chữa cháy.
Trên cơ sở xác định “mùa”cháy rừng thường diễn ra vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9; đây là thời gian nắng nóng gay gắt kéo dài kèm hiện tượng gió Tây-Nam khô nóng nên lực lượng kiểm lâm và các ngành, đơn vị chức năng phải bám sát phương châm “4 tại chỗ” (phương tiện, nhân lực, hậu cần và chỉ huy tại chỗ) để thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Ngoài ra, việc xác định vùng trọng điểm cháy rừng cũng là yếu tố quan trọng nhằm tạo sự chủ động trong thực hiện phương án PCCCR. Trên cơ sở thống kê số vụ cháy rừng, hiện trạng rừng, thời tiết, địa hình và điều kiện kinh tế-xã hội có thể chia thành 5 vùng trọng điểm cháy rừng của tỉnh ta như sau: Vùng phía tây và phía bắc huyện Quảng Trạch với khoảng 5.000ha rừng trồng, chủ yếu là thông nhựa; vùng đồi, trung du và vùng ven biển huyện Lệ Thủy với khoảng 8.000ha rừng trồng, chủ yếu là thông nhựa, phi lao trên cát có xen cỏ rười; vùng trung du huyện Bố Trạch với khoảng 10.000ha rừng trồng chủ yếu là thông nhựa, cao su chưa vệ sinh rừng và chưa thu dọn hết cây, cành lá đổ, gãy sau bão số 10 năm 2013; vùng phía tây và vùng ven biển huyện Quảng Ninh, T.P Đồng Hới với khoảng 2.400ha thông nhựa, keo, phi lao trên cát xen cỏ rười rất dễ cháy và vùng rừng thuộc hai huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa với khoảng 1.300ha thông nhựa và keo gãy, đổ do bão số 10 chưa vệ sinh, tập quán đốt nương làm rẫy vẫn còn tồn tại.
Một trong những nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho lực lượng kiểm lâm cũng như chính quyền các địa phương và cơ quan chức năng trong thực hiện công tác PCCCR nữa là phải gấp rút kiện toàn tổ chức. Theo đó, Chi cục Kiểm lâm phải phối hợp với Đài PT-TH tỉnh dựa trên bản tin cảnh báo cháy rừng và hệ thống cảnh báo cháy của Trung ương để xây dựng cấp dự báo cháy rừng cho phù hợp với từng vùng, từng khu vực.
Đồng thời, Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các xã, phường, thị trấn và chủ rừng kiện toàn lại ban chỉ huy cùng cấp, củng cố các tổ, đội PCCCR ở cơ sở. Trong đó, phải xây dựng trung đội dân quân cơ động, lực lượng bảo vệ rừng của đơn vị chủ rừng và kiểm lâm địa bàn thực sự là lực lượng nòng cốt trong PCCCR ở địa bàn.
Đặc biệt, các đơn vị quản lý diện tích rừng lớn phải củng cố, kiện toàn ban chỉ huy để chỉ đạo, quản lý rừng đến từng tiểu khu, khoảnh, lô rừng. Các ban chỉ huy phải xây dựng quy chế hoạt động, phân công cụ thể trách nhiệm cho từng thành viên, xây dựng phương án PCCCR cấp mình để chủ động trong mọi tình huống cháy rừng có thể xảy ra.
Hiện tại, ở cấp tỉnh đã xây dựng lực lượng chữa cháy cơ động gồm Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 và số 2 của Chi cục Kiểm lâm làm nòng cốt phối hợp chặt chẽ với Phòng Cảnh sát PCCC Công an tỉnh, lực lượng tiểu đoàn bộ đội thường trực thuộc Bộ CHQS tỉnh, đại đội cơ động và tiểu đoàn huấn luyện thuộc Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh.
Lực lượng này sẽ cơ động hỗ trợ chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Ở cấp huyện, thành phố cũng đã xây dựng lực lượng cơ động gồm hạt kiểm lâm, công an và ban chỉ huy quân sự huyện, thành phố các đồn Biên phòng đứng chân trên địa bàn làm nòng cốt. Ngoài ra, nếu diễn biến cháy rừng xảy ra trên diện rộng thì huy động lực lượng cơ động của Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 hoặc số 2 tham gia chữa cháy.
Đối với cấp xã, phường, thị trấn phải sử dụng trung đội dân quân làm lực lượng cơ động. Ngoài ra mỗi thôn, bản phải có tổ quần chúng bảo vệ rừng, PCCCR là lực lượng tại chỗ phát hiện và dập tắt khi có điểm phát lửa. Cũng trong thực hiện phương châm “4 tại chỗ”, mỗi xã, phường, thị trấn khi có cháy rừng xảy ra cần bố trí cán bộ y tế và có số thuốc dự phòng, dụng cụ cứu thương tại hiện trường để sẵn sàng cấp cứu trong trường hợp xảy ra tai nạn.
Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR cũng cần được hết sức quan tâm. Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp chặt chẽ với Báo Quảng Bình, Đài PT-TH tỉnh và chỉ đạo các hạt kiểm lâm phối hợp với đài truyền thanh-truyền hình các huyện, thành phố tổ chức tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ rừng và PCCCR. Vận động người dân sinh sống ở khu vực gần rừng, giáp rừng và trong rừng thực hiện tốt công tác PCCCR trong mùa khô. Những biện pháp thực hiện công tác PCCCR nói trên đã được các đơn vị, địa phương và cơ quan chức năng thực hiện khá tốt.
Tuy nhiên, vẫn còn không ít những bất cập, hạn chế. Đó là sự phối hợp thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR giữa lực lượng kiểm lâm với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và chủ rừng còn lỏng lẻo. Hoạt động của ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR của một số xã còn yếu, thậm chí chỉ mang tính hình thức, dẫn đến việc thực hiện công tác chuẩn bị, điều hành, chỉ huy khi có cháy lúng túng.
Điều đáng nói nữa là hiện tại vẫn còn có những chủ rừng có tư tưởng thu lợi nhuận theo nhu cầu trước mắt nên không quan tâm đến công tác PCCCR, thậm chí còn muốn xảy ra cháy rừng để chuyển đổi mục đích trồng rừng sang trồng các loại cây khác. Khoảng cách xa, bán kính rộng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác PCCCR của các cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn. Phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng thiếu và thô sơ cũng là yếu tố gây khó khăn cho công tác PCCCR.
Một trong những nội dung phương án PCCCR của Hạt Kiểm lâm tỉnh đưa ra là các chủ rừng và cơ quan chức năng phải chủ động nắm tình hình cụ thể các tụ điểm về khai thác, vận chuyển, mua bán, cất giữ lâm sản, động vật hoang dã trái phép để ngăn chặn, xử lý theo quy định. Tuy nhiên, tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán, cất giữ trái phép lâm sản và động vật hoang dã vẫn còn diễn ra, rừng vẫn bị cháy. (Báo Quảng Bình 3/6) đầu trang(
Sâu ong không phải là loài sâu lạ bây giờ mới có mà  thỉnh thoảng người dân vẫn thấy xuất  lác đác ở rừng trồng cây mỡ, tuy nhiên trước đấy do số lượng sâu còn ít,  nên họ không để ý, chỉ đến khi sâu ong lây lan trên diện rộng, trở thành dịch thì người dân mới tá hỏa tìm các biện pháp diệt trừ.
Còn nhớ vào thời điểm cuối năm 2011 người dân thị trấn Bằng Lũng và xã Phong Huân của huyện Chợ Đồn khi đi chăm sóc rừng mỡ đã phát hiện nhiều cây trơ trụi lá, nhìn kỹ thì ra đối tượng gây hại chính là vô số con sâu ong đang bám dày đặc trên cành lá, thân cây, lúc này diện tích thống kê mới chỉ có 17 ha.
Tuy nhiên, sau đó tốc độ lây lan của sâu ong cực kỳ nhanh: cuối tháng 2, đầu tháng 4 năm 2012, sâu ong nhanh chóng lan ra  trên địa bàn các xã của huyện Chợ Đồn và xuất hiện tại Pác Nặm với diện tích lên tới 415ha. Đến tháng 4 năm nay sâu ong đã gây hại trên diện tích rừng mỡ ở 7/8 huyện, thị (riêng huyện Na Rì hiện nay chưa phát hiện) với tổng diện tích nhiễm lên tới 1.700ha. Sâu ong gây hại trên cây mỡ ở tất cả các độ tuổi từ cây non mới trồng 1 năm cho đến những cây cao trồng được 5-6 năm, mật độ phổ biến 100-200con, cao thì 300-500con, cá biệt có nơi lên đến 2000-3000con/cây.
Đến các xã Bình Trung, Đại Sảo, Phong Huân chứng kiến những vạt rừng mỡ bị sâu ong ăn lá trơ trụi trong những ngày hè nắng chói chang này không khỏi xót xa, rừng không còn sức sống bởi đã mất đi màu xanh vốn có của nó. Hiện nay dịch sâu ong chưa có dấu hiệu lắng xuống vẫn diễn biến phức tạp, đang có xu hướng lan rộng rất nhanh. Do thói quen nên mấy năm trước đây hầu hết nhiều diện tích  rừng sản xuất của bà con trên địa bàn tỉnh chỉ trồng cây mỡ, thuần loài, rừng mỡ kế tiếp rừng mỡ nên việc ngăn chặn sự lây lan là vấn đề hết sức khó khăn.
Như đã đề cập, sâu ong không xa lạ với người dân miền núi, nhất là nơi có rừng mỡ. Tuy nhiên do đối tượng này trước đây chưa gây hại với mức độ lớn  nên công tác nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như các biện pháp phòng trừ còn rất hạn chế.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về các loài sâu ăn lá thường gây thành dịch đối với cây rừng như: sâu róm thông, ong ăn lá thông, sâu xanh ăn lá bồ đề, sâu kèn túi nhỏ ăn lá keo…, nhưng phải đến năm 2005, loài sâu ong hại cây mỡ này mới được đưa vào danh sách những loài dịch hại rừng nguy hiểm, chúng được ghi nhận gây hại ở Việt Nam và Trung Quốc.
Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu cũng chỉ là bước đầu, cái quan trọng nhất là biện pháp phòng trừ hay tìm ra thành phần thiên địch thì chưa được đề cập đến. Như vậy đến nay phương pháp hữu hiệu nhất trong vấn đề phòng và diệt trừ sâu ong vẫn chưa được các nhà khoa học đưa ra, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến công tác dập dịch sâu ong ở tỉnh ta trong suốt 3 năm qua còn nhiều lúng túng.
Sâu ong được hình thành như sau:  trứng sâu tồn tại dưới đất rồi hóa nhộng, nở thành sâu non, sâu non chui khỏi đất bám lên thân cây, trưởng thành thành ong, cánh có màng, bay lên ăn lá, gặm thân cây non, sau đó lại xuống đất đẻ trứng, vòng đời khoảng 2 tháng, mùa hại chính vào tháng 1 cho đến tháng 5 và tháng 9, tháng 10.
Tuy nhiên trên thực tế một số cánh rừng sâu ong đã không tuân theo quy luật của loài mà vòng đời ngắn hơn, có thể 4 lứa/năm. Sâu ong tuổi nhỏ ăn lá diệp lục, từ tuổi 3 cho đến khi sâu đẫy sức, chuẩn bị hóa nhộng, sâu ăn trụi toàn bộ lá, khi nguồn thức ăn tại chỗ khan hiếm chúng gặm vỏ cành, vỏ thân phần trên ngọn làm cây mỡ giảm khả năng sinh trưởng, chết ngọn, giảm độ cao của cây, nếu bị hại nhiều đợt liên tục sẽ làm chết cây. (Báo Bắc Cạn 2/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau khi giám sát tại Ban quản lý rừng phòng hộ 661 và xã Phìn Ngan ngày 28/5/2014, đoàn giám sát HĐND tỉnh Lào Cai do ôngTạ Đình Bảng – ủy viên BTV tỉnh ủy - Phó chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi giám sát về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại huyện Bát Xát.
Tại buổi làm việc ông Nguyễn Đức Ca Phó chủ tịch UBND huyện  đã báo cáo với đoàn kết quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ huyện Bát Xát.
Bát Xát có tổng diện tích tự nhiên 106.189 ha. Trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 71.068 ha, chiếm 66,95% diện tích tự nhiên của toàn huyện. Trong 3 năm qua (2011- 2013), huyện Bát Xát đã xây dựng Đề án phát triển kinh tế rừng bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011-2015, trên cơ sở nội dung đề án của tỉnh, của huyện và các văn bản hướng dẫn của trung ương, của tỉnh, Bát Xát đã cụ thể hóa bằng văn bản chỉ đạo điều hành, ban hành trên 50 văn bản các loại và kê hoạch nhà nước hàng năm về trồng rừng, bảo vệ rừng giao cho các cơ quan chuyên môn, UBND các xã thị trấn tổ chức triển khai thực hiện.
Tổ chức 5 hội nghị tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ PCCCR cấp huyện; 49 hội nghị tuyên truyền công tác PCCCR cấp xã với trên 1.600 lượt người tham gia và 174 buổi họp thôn với 5.274 lượt người nghe. Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng cho 2.700 hộ và ký bản cam kết đốt nương an toàn cho 3.255 hộ.
Đã xử lý 37 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng 13 vụ vận chuyện lâm sản trái phép, tịch thu trên 5.000m3 gỗ… bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng 18.618 ha, đồng thời phát triển hai loại rừng phòng hộ và rừng kinh tế. Riêng về rừng phòng hộ trong 3 năm đã trồng 744 ha, giao kháo bảo vệ mỗi năm 10.000 ha đạt 100% KH.
Riêng Ban quản lý bảo vệ rừng đã thực hiện giao khoán 30 nghìn 550 ha, tổng số hộ tham gia nhận khoán trên 2 nghìn hộ, tăng độ che phủ của rừng từ 54,6% (năm 2013) lên  55% năm 2014 cao hơn độ tre phủ rừng toàn tỉnh. Hàng năm huyện đã chỉ đạo các ngành, như phòng nông nhiệp và phát triển nông thôn, hạt Kiểm lâm huyện, ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền các xã trong huyện tổ chức tuần tra bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ vậy, công tác bảo vệ rừng luôn được bảo đảm, an ninh rừng ổn định.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tại buổi giám sát, các thành viên tham dự cũng đã thảo luận chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế mà BQL rừng phòng hộ Bát Xát cần khắc phục trong thời gian tới. Huyện cũng đã kiến nghị với  đoàn một số vấn đề như: Tiếp tục quan tâm hỗ trợ đầu tư chương trình trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, tăng mức hỗ trợ cho trồng và chăm sóc rừng phòng hộ đặc biệt là vùng sâu, vùng xa…
Phát biểu kết luận buổi giám sát, ông Tạ Đình Bảng – ủy viện BTV tỉnh ủy, Phó chủ tịch HĐND tỉnh, ghi nhận và đánh giá cao công tác  quản lý bảo vệ rừng  phòng hộ của huyện  Bát Xát. Ông Bảng mong muốn trong thời gian tới huyện cần tập trung các giải pháp vào công tác quản lý, bảo vệ, phát triển sản xuất từ rừng.
Thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và hạt kiểm lâm huyện tuyên truyền đến các hộ dân nâng cao nhận thức hiểu biêt được lợi ích của việc trồng, bảo vệ rừng đặc biệt là rừng phòng hộ trong phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; chuyển giao những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, như: cây giống; các khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến các hộ dân trong khu vực. Xây dựng, tổ chức thực hiện tốt phương án phòng, chống cháy rừng. Hướng dẫn nhân dân tổ chức trồng và phát triển các loại cây dược liệu trong vùng rừng nguyên sinh hợp lý, đảm bảo sự phát triển rừng bền vững.
Ông Bảng cũng ghi nhận những kiến nghị của huyện Bát Xát để bổ sung vào báo cáo trình HĐND tỉnh. Cũng như việc hoạch định chính sách về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và các chế độ liên quan đến cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý , bảo vệ rừng phòng hộ của huyện và của tỉnh nói chung. (Laocai.gov.vn 2/6) đầu trang(
Do không thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng diện tích rừng được giao đã dẫn đến tranh chấp giữa các nhóm hộ khi UBND tỉnh có chủ trương thu hồi đất rừng tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm (xã Đại Sơn)...
Ngày 12.2.2014, UBND tỉnh có Thông báo số 41/TB- UBND về chủ trương thu hồi đất tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm để xây dựng bãi tập kết nguyên liệu phục vụ hoạt động của Nhà máy xi măng Xuân Thành (thuộc Tập đoàn Xuân Thành). Sau khi triển khai thông báo về chủ trương thu hồi của UBND tỉnh, UBND xã Đại Sơn cùng các đơn vị chức năng đã mời các hộ dân có diện tích đất rừng trồng bị thu hồi đi thực tế xác định ranh giới.
Ngày 3.3.2014, UBND xã Đại Sơn có Thông báo số 10/TB- UBND niêm yết công khai bản đồ đo đạc địa chính công trình: bãi chứa nguyên liệu phục vụ Nhà máy Xi măng Xuân Thành. Trong thời gian niêm yết đã có một số hộ trong và ngoài xã gửi đơn tranh chấp và đề nghị giải quyết vì cho rằng trong khu vực đất bị thu hồi có diện tích đất của họ.
Cụ thể, ông Lê Tranh (xã Đại Quang) và Nguyễn Văn Nhanh (xã Đại Đồng) đại diện cho nhiều hộ khác (sau đây gọi là nhóm hộ ông Lê Tranh) có đơn tranh chấp với các hộ ông Hồ Văn Cảnh, Nguyễn Sáu (xã Đại Sơn), Lê Văn Tùng, Lê Văn Khôi, Lê Quốc Toàn, Từ Văn Thắng, Lương Nam (có hộ khẩu ngoài xã Đại Sơn) cùng nhiều hộ khác (sau đây gọi là nhóm hộ ông Cảnh). Do đó, nhóm hộ ông Cảnh đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng nhờ can thiệp, bảo vệ quyền lợi.
Vậy ai là chủ sở hữu rừng trồng tại Khe Hoa - Suối Lấm? Và cơ sở nào để nhóm hộ ông Lê Tranh có đơn tranh chấp với nhóm hộ ông Cảnh?
Qua tìm hiểu được biết, năm 1996, sau khi giải thể, Lâm trường Đại Lộc giao cho nhóm hộ ông Lê Tranh - là cán bộ nhân viên lâm trường 120ha rừng tại xã Đại Sơn để trồng rừng. Tuy nhiên, theo ông Dương Tài Liệu - Chủ tịch UBND xã Đại Sơn, nhóm hộ của ông Lê Tranh chỉ trồng được khoảng 30ha tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm, diện tích còn lại do các hộ dân trong và ngoài địa phương phát trồng.
Ngoài ra, do việc quản lý, sử dụng đất rừng của nhóm hộ ông Lê Tranh không hiệu quả nên trong diện tích 30ha này đã bị nhóm hộ ông Cảnh xâm lấn, phát dọn, canh tác từ nhiều năm qua. Đến nay, các hộ này vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Theo ông Dương Tài Liệu, diện tích đất bị thu hồi xây dựng bãi tập kết nguyên liệu của Nhà máy Xi măng Xuân Thành là khoảng 7,2ha. Hiện địa phương đã bàn giao hơn 1,8ha để thi công công trình.
Ông Liệu cũng cho biết, năm 2007, UBND xã Đại Sơn phối hợp với đoàn đo đạc của tỉnh đi đo đạc đất theo hiện trạng thực tế để lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân. Từ thời điểm đó đến nay nhóm hộ ông Lê Tranh không có ý kiến gì và cũng không thực hiện việc đo đạc thực tế để xét cấp đất. Qua kiểm tra, nhóm hộ ông Lê Tranh chỉ có trích lục bản đồ do các đời Chủ tịch xã trước ký, chưa có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền.
“Ông Tranh cho rằng các hộ trên lấn chiếm đất của ông vào các năm 2012, 2013 là không đúng thực tế. Vì các hộ bị ông Lê Tranh tranh chấp đều thể hiện ở bản đồ lâm nghiệp 1/10.000 năm 2007 của xã. UBND xã Đại Sơn xét thấy, từ năm 2010 đến nay, không có đơn tranh chấp giữa các hộ dân, nhưng khi có chủ trương thu hồi đất giao cho Tập đoàn Xuân Thành làm bãi tập kết vật liệu thì lại xảy ra tranh chấp là điều bất hợp lý. Do đó, UBND xã Đại Sơn đã báo cáo vụ việc lên các ngành chức năng của huyện để có hướng giải quyết” - ông Liệu nói.
Ông Trần Quốc Khánh - Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đại Lộc cho biết, UBND huyện Đại Lộc vừa giao cho Phòng Tài nguyên và môi trường phối hợp với các ngành liên quan cùng chính quyền xã Đại Sơn tiến hành kiểm tra thực tế hiện trạng sử dụng đất, xác minh làm rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các nhóm hộ đang xảy ra tranh chấp tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm. Phòng Tài nguyên và môi trường sẽ sớm có kết luận để tham mưu UBND huyện giải quyết dứt điểm vụ việc, tránh để xảy ra “điểm nóng” phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn.
Báo cáo số 12/BC-UBND ngày 24.4.2014 của UBND xã Đại Sơn gửi UBND huyện Đại Lộc có đề cập: Tại điều 02 trong giấy tờ giao đất cho nhóm hộ ông Lê Tranh của Lâm trường Đại Lộc nêu rõ: “Nếu trong vòng hai năm chủ hộ nhận đất mà không canh tác thì Nhà nước thu hồi diện tích đó”.
Thêm nữa, theo trích lục đo địa chính từ tờ bản đồ quy hoạch (tháng 10.2007) dự án xây dựng bãi tập kết nguyên liệu và qua thực tế hiện trạng sử dụng đất hiện nay, có thể nhận thấy việc nhóm hộ ông Lê Tranh sử dụng giấy tờ giao đất của Lâm trường Đại Lộc làm chứng cứ pháp lý minh chứng cho quyền sở hữu đất rừng tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm là chưa phù hợp với quy định pháp luật. (Báo Quảng Nam 2/6) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ hơn 4.000 ha rừng trên địa bàn 10 xã, thị trấn của các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Vĩnh Lộc; trong đó có hơn 2.000 ha rừng phòng hộ, gần 2.000 ha rừng và đất rừng sản xuất.
Để bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế đồi rừng hiệu quả, ban đã phối hợp với các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Từ đầu năm 2014 đến nay, ban đã thành lập 5 tổ xung kích ở 5 trạm quản lý, bảo vệ rừng, với 150 thành viên; chuẩn bị dụng cụ, phương tiện hậu cần PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”; thực hiện một số giải pháp về lâm sinh, trồng các cây phân tán vào các khu rừng thông, phát 15 km đường băng cản lửa, dọn thực bì ở 350 ha và các  dây leo trong rừng làm giảm vật liệu cháy. Vì vậy, an ninh rừng luôn giữ vững, độ che phủ rừng của ban quản lý đạt 55%.
Bên cạnh đó, công tác trồng rừng được chú trọng, ban đã tổ chức cho nhân dân chuẩn bị hiện trường và cây giống để tham gia trồng rừng theo Dự án Jica; tổ chức ươm 351.000 cây giống các loại cung cấp cho người dân trồng rừng theo Dự án WP3 của huyện và cung ứng giống cho người dân trên địa bàn trồng rừng. (Báo Thanh Hóa 1/6) đầu trang(
Vừa qua Đoàn công tác kiểm tra chi cục kiểm lâm tỉnh Hà giang đã có buổi làm việc với UBND huyện Xín Mần về việc: Tăng cường công tác quản lý lâm sản trên địa bàn huyện.
Thực hiện kế hoạch số 46 ngày 26/3/2014 của UBND tỉnh Hà Giang về việc Tăng cường công tác quản lý lâm sản  trên địa bàn tỉnh. Vừa qua Đoàn công tác kiểm tra chi cục kiểm lâm tỉnh Hà giang đã có buổi làm việc với UBND huyện Xín Mần về việc Tăng cường công tác quản lý lâm sản trên địa bàn huyện.
Nhìn chung trong những năm vừa quan Hạt kiểm lâm huyện Xín Mần đã nên kế hoạch tham mưu cho UBND huyện thành lập tổ kiểm tra liên ngành của huyện thường xuyên tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng để nâng cao cao nhận thức tới từng người dân, đồng thời vận động nhân dân tích cực tham gia tố cáo các đối tượng có hành vi vi phạm về khai thác vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép.
Hiện nay trên địa bàn huyện Xín Mần có 21 cơ sở sản xuất kinh doanh lâm sản được cấp giấy phép đều thực hiện tốt các quy định, đảm bảo đúng pháp luật. Công tác quản lý các loại gỗ trên địa bàn các xã, thị trấn bị gãy đổ do thiên tai còn nằm trong rừng được công bố công khai trước toàn dân để quản lý, bảo vệ. Ngoài ra huyện đã thành lập 19 Ban quản lý bảo vệ rừng cấp xã thường xuyên tuần tra phát hiện các đối tượng vi phạm  khai thác trái phép  vận chuyện trái phép để kịp thời ngăn chặn.
Qua nghe báo cáo, Lãnh đạo cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang đã đánh giá kết quả mà huyện Xín Mần cũng như hạt kiểm lâm đã làm được trong thời gian qua. Đồng thời đề nghị hạt kiểm lâm huyện tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch tăng cường quản lý lâm sản trên địa bàn huyện theo nội dung kế hoạch 46 của UBND tỉnh; UBND huyện chỉ đạo các xã thị trấn tiến hành họp thôn để từng hộ gia đình tự kê khai về số lượng, khối lượng, chủng loại, nguồn gốc lâm sản trước đây mà hộ gia đình đã mua và khai thác để sử dụng. (Trang Tin Điện Tử Huyện Xín Mần, Hà Giang 31/5) đầu trang(
Theo Ban chỉ đạo Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng, các địa phương, đơn vị liên quan trong tỉnh đã chuẩn bị hơn 5 triệu cây giống lâm nghiệp các loại cho kế hoạch trồng rừng năm 2014.
Trong đó có 2000 cây giống vô tính và 5 triệu cây giống hữu tính gồm thông 3 lá và giống cây keo các loại, ngoài ra còn có 200kg hạt giống thông 3 lá.
Dự kiến kế hoạch trồng rừng trong năm 2014 là 5.763ha, trong đó có 470ha được trồng bằng kế hoạch ngân sách của tỉnh và ngân sách hỗ trợ của trung ương; 1.250ha được trồng theo kế hoạch hỗ trợ của nguồn vốn ODA, Dự án Flitch; khoảng 400ha sẽ được trồng thay thế ở các dự án công trình thuỷ điện trên địa bàn; tiếp tục triển khai trồng rừng kinh tế trên diện tích cải tạo rừng nghèo kiệt của các hộ dân huyện Đạ Tẻh là hơn 1 ngàn ha; trồng rừng sau khai thác trắng rừng thông theo đề án của tỉnh là 88ha; tiếp tục triển khai trồng cây cao su, trồng rừng kinh tế từ diện tích đất của các hộ dân và diện tích đất lâm nghiệp từ các dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân dự kiến khoảng 2,5 ngàn ha.
Hiện nay, trên địa bàn Lâm Đồng bắt đầu bước vào mùa mưa cũng là thời vụ trồng rừng, UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị và hộ gia đình liên quan chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để triển khai trồng rừng, trồng cây phân tán theo kế hoạch đề ra. (Đài PTTH Lâm Đồng 31/5) đầu trang(
Năm 2014, huyện Hàm Yên có kế hoạch trồng mới 2.230 ha rừng. Trong đó, rừng trồng của nhân dân 1.625 ha; trồng rừng phân tán 100 ha và rừng trồng của các Công ty lâm nghiệp 425 ha.
Các xã có diện tích trồng rừng nhiều là: Hùng Đức 210 ha, Yên Lâm 202 ha; Minh Hương 152 ha, Thành Long 163 ha, Yên Phú 113 ha… Đến nay, toàn huyện đã gieo ươm được 3.954.000 cây giống lâm nghiệp, gồm các loại keo, mỡ, lát hoa, bồ đề, xoan và mỡ.
Tại xã Yên Phú, bà con nơi đây đang tập trung phát dọn nương đồi, đào hố để trồng mới những diện tích rừng trồng vừa khai thác. Đến thăm khu đồi rừng của gia đình ông Vũ Thành Đồng, thôn 3 Minh Phú, đồi cây mới trồng đang hồi xanh, hơn chục người đang cặm cụi làm cỏ. Gia đình ông trồng rừng từ năm 1990, hiện nay có hơn 15 ha rừng của gia đình và gần 20 ha trồng liên doanh, đợt khai thác gần đây nhất là giữa năm 2013, gia đình ông đã khai thác hơn 2 ha keo và thu về gần 200 triệu đồng. Sau khi khai thác xong, gia đình đã huy động nhân lực thu dọn thực bì, tiến hành trồng lại trên diện tích vừa khai thác.
Hùng Đức một trong những xã có diện tích rừng trồng mới lớn nhất nhì của huyện Hàm Yên. Nhiều hộ dân trong xã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ trồng rừng. Một trong những hộ có diện tích rừng lớn ở Hùng Đức là gia đình ông Hà Thanh An, thôn Thanh Vân, năm 2005 ông An trồng 3 ha keo đầu tiên, những năm tiếp theo, ông mở rộng diện tích rừng trồng của gia đình thêm 2 ha, năm 2009 gia đình trồng thêm 5 ha keo liên doanh với lâm trường Tân Phong (Hàm Yên). Sau 7 năm, 3 ha keo đầu tiên đã cho khai thác, ông thu về gần 500 triệu đồng.
Ông Vân cho biết, gia đình ông trồng rừng theo phương thức “cuốn chiếu”, nghĩa là cứ diện tích nào đến tuổi thì khai thác, sau đó trồng mới vào diện tích đã khai thác. Cuối năm 2013, ông cũng đã khai thác hơn 2 ha cây keo, thu được hơn 200 triệu đồng. Hiện nay, gia đình ông đang tập trung trồng lại toàn bộ diện tích đã khai thác, gia đình ông chọn giống cây keo lai trồng cho đợt này.
Anh Hà Xuân Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Hùng Đức cho biết: Nghề trồng rừng ở Hùng Đức có từ cách đây hơn 20 năm, trước kia người dân trong xã chủ yếu trồng cây bồ đề với quy mô nhỏ và mang tính tự phát. Từ khi thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đến người dân thì công tác trồng rừng bắt đầu có bước phát triển mạnh mẽ.
Hiện nay, Hùng Đức có trên 1.900 hộ dân thì có hơn 80% số hộ tham gia phát triển lâm nghiệp. Hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch từ huyện giao và nhu cầu phát triển rừng tại các thôn, UBND xã đã xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu trồng rừng tới từng thôn. Đồng thời, cử các cán bộ khuyến nông, khuyến lâm phối hợp với từng thôn, tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nhân dân về quy trình, kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trước khi bước vào vụ trồng rừng mới.
Tính đến giữa tháng 5, toàn huyện đã trồng mới được trên 720 ha rừng tập trung và rừng phân tán. Để công tác trồng rừng năm 2014 đạt và vượt mức kế hoạch, UBND huyện tiếp tục chỉ đạo UBND các xã đôn đốc nhân dân đẩy mạnh việc dọn thực bì, đăng ký chọn nguồn giống để trồng theo đúng kế hoạch đã đề ra. Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, huyện Hàm Yên còn tăng cường chỉ đạo, chăm sóc diện tích rừng trồng các năm trước chủ yếu là phát dọn thực bì, đầu tư nguồn phân bón thích hợp giúp cho cây phát triển tốt. (Hamyen.org.vn 30/5) đầu trang(
Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Bạch Thông lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010-2015 đề ra chỉ tiêu đến năm 2015 toàn huyện trồng được 5.000ha rừng. Bằng nhiều giải pháp triển khai thực hiện phù hợp, đến nay diện tích trồng rừng mới của toàn huyện đã đạt trên 5.000ha…
Theo thống kê, hiện nay huyện Bạch Thông có tổng diện tích đất lâm nghiệp trên 42.000ha, trong đó diện tích rừng sản xuất là hơn 22.000ha, đây là lợi thế, tiềm năng tương đối lớn để huyện đẩy mạnh phát triển cây lâm nghiệp.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 13 đã xác định mục tiêu xây dựng huyện Bạch Thông trở thành vùng kinh tế động lực của tỉnh, kinh tế phát triển nhanh và bền vững ngành nông nghiệp phát triển với mũi nhọn là lâm nghiệp. Do đó huyện đã tập trung các nguồn lực, triển khai đồng bộ các chương trình, dự án trồng rừng, không những nâng cao độ che phủ của rừng mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Dựa vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, vị trí địa lý thực tế của địa phương, huyện đã tổ chức quy hoạch thành từng vùng kinh tế, trong đó có vùng sản xuất cây lâm nghiệp bao gồm các xã Vi Hương, Nguyên Phúc, Phương Linh, Tú Trĩ, Lục Bình, Tân Tiến, Đôn Phong, Dương Phong, Mỹ Thanh, để từ đó đầu tư một cách có trọng tâm, trọng điểm.
Theo đó, huyện đã ưu tiên triển khai các dự án trồng rừng của Nhà nước tại các địa phương này, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, tập huấn khoa học kỹ thuật, triển khai hỗ trợ người dân trồng rừng theo quy định.
Phần lớn diện tích đất rừng ở các xã nằm trong vùng quy hoạch đều là đồi thấp, chất đất tốt nên thuận lợi cho phát triển trồng rừng. Những năm qua, các cấp chính quyền, ngành chức năng đã có nhiều nỗ lực trong việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn, tạo điều kiện cho việc bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có và đẩy mạnh hoạt động trồng rừng trên đất lâm nghiệp. Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng theo các chương trình dự án được triển khai rộng khắp trong toàn huyện góp phần tăng nhanh độ che phủ của rừng lên 71%.
Để thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 13 về công tác phát triển rừng, huyện ủy Bạch Thông đã xây dựng chương trình thực hiện nghị quyết đại hội, trong đó phân chia chỉ tiêu trồng rừng theo từng năm cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương làm cơ sở định hướng cho Hội đồng nhân dân huyện ban hành nghị quyết và UBND huyện xây dựng kế hoạch, sau đó giao chỉ tiêu cụ thể cho từng xã, từng đơn vị.
Trên cơ sở đó, UBND huyện chỉ đạo các xã, thị trấn tiến hành rà soát quỹ đất để đăng ký trồng rừng, dựa vào đó giao chỉ tiêu cho từng xã, việc làm này nhằm bảo đảm cho việc đăng ký diện tích thực hiện chính xác có tính khả thi cao, xác định được cơ cấu cây trồng theo chỉ đạo và ký kết hợp đồng với đơn vị sản xuất cây giống. Công tác tuyên truyền về chính sách bảo vệ, phát triển rừng cũng đã được cấp ủy,chính quyền địa phương triển khai thực hiện đến tận thôn, bản, hộ gia đình nên nhận thức và tư duy của người dân đã có sự thay đổi rõ rệt, hầu hết người nông dân đã gắn bó với rừng, đầu tư công sức, tiền của để trồng rừng.
Phong trào trồng rừng được phát triển mạnh mẽ kể từ khi thực hiện Dự án trồng rừng 147 của Chính phủ ( nay gọi là dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Bạch Thông giai đoạn 2011-2020). Diện tích đăng ký trồng rừng đều tăng theo từng năm với cơ cấu giống chủ lực là cây mỡ và keo lai Úc. Vào mỗi vụ trồng rừng, hàng triệu cây giống bảo đảm chất lượng đã được cấp cho nhân dân. Năm 2011 toàn huyện trồng được 915ha, năm 2012 trồng được 1.138,97ha, năm 2013 trồng được 1.701,45ha; năm 2014 thiết kế trồng rừng được 1.300ha.
Sau bốn năm, toàn huyện trồng được  5.055,24ha và vượt chỉ tiêu nghị quyết đại hội đảng bộ huyện đề ra, nghĩa là về đích sớm một năm.
Đồng chí Hà Đức Tuyến, Bí thư huyện ủy Bạch Thông cho biết: Để đạt chỉ tiêu về công tác trồng rừng huyện ủy đặc biệt quan tâm đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương. Vì vậy hàng tuần thường trực huyện ủy tổ chức giao ban, hằng tháng giao ban các xã, thị trấn để kiểm tra lại công tác trồng rừng. Đồng thời Ban thường vụ huyện ủy làm việc trực tiếp với Ban quản lý phát triển rừng và Hạt Kiểm lâm, trong đó có kiểm lâm viên phụ trách xã nghe những vướng mắc từ cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện công tác trồng rừng, từ đó cùng tháo gỡ khó khăn để có biện pháp chỉ đạo đúng hướng, kịp thời, hiệu quả.
Huyện ủy cũng đã chỉ đạo các xã tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích của trồng rừng nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân, để bà con nỗ lực, tâm  huyết với việc phát triển rừng. Do đó mà diện tích trồng rừng được tăng lên theo từng năm.
Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, đúng hướng, hiệu quả mà công tác phát triển rừng trên địa bàn huyện Bạch Thông trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong phong trào trồng rừng của tỉnh trên cả ba mặt diện tích, thời vụ và tỷ lệ cây sống cao. Trồng rừng giờ đây đã trở thành phong trào phát triển mạnh ở Bạch Thông không những góp phần đẩy nhanh tỷ lệ độ che phủ của rừng mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa nghèo cho nông dân. (Báo Bắc Cạn 2/6) đầu trang(
Thực hiện chương trình bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học, cho đến nay Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đã giao khoán quản lý bảo vệ trên 42.300ha rừng.
Trong đó diện tích giao khoán quản lý theo dự án Flitch (Dự án Phát triển Lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Qũy Ủy thác ngành Lâm nghiệp TFF gồm Hà Lan, Phần Lan, Thụy Điển và Thụy Sỹ tài trợ) trên 2.300ha; giao khoán quản lý theo dịch vụ môi trường rừng tại Đồng Nai là trên 7.000ha; tại Serepok là trên 15.170ha, Đa Nhim trên 17.600ha.
Tổng diện tích giao khoán được giao cho 5 tập  thể và 1.245 hộ dân sinh sống trong khu vực Vườn quốc gia.
Trong năm 2014, ngoài việc tiếp tục quản lý tốt diện tích rừng đã giao khoán, Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà dự kiến sẽ nuôi dưỡng hơn 80ha rừng trồng, đồng thời tham gia cùng với các tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện nghiên cứu khoa học liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như phối hợp với Viện Hàn lâm và KHCN Việt Nam thực hiện Khảo sát và đánh giá sơ bộ đa dạng sinh học về: thực vật, côn trùng, thủy sinh vật; các loài quý hiếm, các loài đặc hữu, các loài cần quan tâm bảo tồn ở VQG Bidoup - Núi Bà; Xây dựng Hồ sơ công nhận VQG Bidoup - Núi Bà là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. (Báo Lâm Đồng 1/6) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có quyết định điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tại huyện Bảo Lâm giai đoạn 2014 - 2020.
Hiện tại, trong tổng diện tích 80.308ha đất lâm nghiệp, hiện trạng 3 loại rừng của huyện Bảo Lâm gồm: Rừng đặc dụng 5.504ha, rừng phòng hộ 9.858ha, rừng sản xuất 64.946ha. Theo quy hoạch điều chỉnh, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Bảo Lâm sẽ giảm còn 79.010ha. Trong đó, rừng đặc dụng giảm còn 5.346ha; rừng phòng hộ tăng lên 9.867ha và rừng sản xuất giảm còn 63.797ha.
Nội dung quy hoạch điều chỉnh nêu rõ sẽ điều chỉnh 42ha đất có rừng nằm liền kề vào rừng phòng hộ; điều chỉnh 4.161ha đất có rừng nằm liền kề vào rừng sản xuất; điều chỉnh  5.101ha đất rừng sản xuất và 279ha đất rừng phòng hộ ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng do diện tích đất này đã sản xuất nông nghiệp ở gần khu dân cư ổn định và thuận lợi về giao thông.
Việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tại huyện Bảo Lâm nhằm xác định lại cơ cấu đất lâm nghiệp và đất ngoài lâm nghiệp cho phù hợp với thực tế, tạo sự ổn định trong phát triển sản xuất lâm nghiệp và nông nghiệp. Quy hoạch này cũng là cơ sở để xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng chặt chẽ và bền vững hơn. (Báo Lâm Đồng 1/6) đầu trang(
Xã Lê Chung (Hòa An) chỉ có 400 ha đất ruộng, rẫy; 3.700 ha đất đồi, núi, có thế mạnh, tiềm năng phát triển kinh tế rừng. Ông Hoàng La Thụ, Bí thư Đảng ủy xã cho biết: Từ năm 1996 đến nay, gần 3.700 ha rừng của xã chuyển đổi qua nhiều Ban quản lý (BQL) và một số đơn vị nhà nước mà chưa phát huy thế mạnh phát triển rừng để người dân sống bằng nghề rừng. Vì vậy, gần 20 năm qua thế mạnh kinh tế rừng của xã vẫn bỏ ngỏ…
Năm 1996 - 2006, đất rừng của xã gần 3.200 ha thuộc về BQL rừng 327, BQL rừng phòng hộ Hòa An, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hòa An. BQL triển khai trồng rừng đến người dân khoảng 300 ha (theo ước thống kê, 200 ha trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, người dân được cung cấp giống thông, sa mộc và tiền bảo vệ khoanh nuôi 100 nghìn đồng/ha/năm + 100 ha trồng rừng theo Chương trình PAM, hỗ trợ 360 kg gạo, 1.600 cây con/ha và giống cây trồng).
Nhưng chưa đến kỳ được hưởng nguồn lợi dự án cũ, năm 2006, 3.200 ha đất rừng của xã gồm 300 ha rừng trồng dự án chuyển sang cho Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng theo Quyết định số 3126/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Cao Bằng. Từ năm 2008 - 2014, Công ty triển khai trồng rừng mới 230 ha tại xã nhưng người dân không tham gia trồng rừng.
Rừng tự nhiên có độ che phủ nhưng không có giá trị kinh tế. Vì cơ bản là cây tự nhiên, không có cây gỗ, cây công nghiệp để thành hàng hóa. Gần 20 năm qua, các đơn vị được giao đất rừng của xã triển khai trồng hơn 400 ha/3.200 ha đất rừng. Trong đó, gần 200 ha rừng trồng theo Chương trình 327, PAM mới chỉ gần đến kỳ thu hoạch nhưng lại chuyển giao đất rừng về Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng đến nay vẫn chưa được khai thác. Tiền khoanh nuôi, đầu tư trồng rừng ban đầu chỉ có mấy chục hộ tham gia dự án trồng rừng xóm Khuổi Diển - Nà Mười được hưởng.
Từ khi Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng tiếp nhận thuê lại đất rừng, xã đã vận động bà con trồng rừng sản xuất. Mức hỗ trợ 12 triệu đồng/ha, giống cây, phân bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng cây keo cho bà con. Sau 7 năm khoanh nuôi, bảo vệ bà con trích nộp lại cho Công ty gỗ keo đường kính 10 cm, 65 m3 gỗ/ha (giá 1 triệu 800 nghìn đồng - năm 2007), số dư còn lại bà con mới được bán cho Công ty để hưởng lợi. Bà con không chấp thuận.
Theo ông Nông Xuân Ngại, Bí thư Chi bộ xóm Khuổi Diển - Nà Mười giải thích: Do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của xã trồng cây keo 7 năm không thể sinh trưởng nhanh có đường kính 10 cm, đạt 65 m3/ha. Vì thế người dân không thể có đủ định mức nộp cho Công ty, lấy đâu ra phần hưởng lợi? Nếu bán cho Công ty 65 m3 gỗ x 1 triệu 800 nghìn đồng/ha/7 năm = 117 triệu đồng, mà chi phí là 12 triệu đồng/ha, còn bà con trồng, chăm sóc cây không được hưởng lợi bằng 1/4 định mức. Vì vậy, người dân không hưởng ứng trồng rừng của Công ty.
Ông Thụ và bà con bức xúc phản ánh: Gần 20 năm qua, 90% đất rừng của xã chuyển giao qua nhiều đơn vị quản lý mà chưa phát triển kinh tế rừng. Hộ có đất rừng từ lâu đời bảo vệ rừng nhưng vẫn không có hộ nào được làm sổ đỏ về quyền sử dụng đất. Vì thế, khi các đơn vị, nhà đầu tư triển khai trồng rừng không hiệu quả, bà con muốn trồng cây khác phù hợp hơn với nhu cầu gia đình, điều kiện thổ nhưỡng thì lại không được quyền.
Vì đất rừng về mặt pháp lý không thuộc sở hữu người dân trong xã. Bà con mong muốn đất rừng đã chia từng lô của các hộ phải được cấp sổ đỏ chứng nhận quyền sở hữu gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… Nếu để kéo dài tình trạng này lãng phí thế mạnh phát triển kinh tế xã, chưa phù hợp với điểm h, i, Điều 64 của Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2013. Cũng vì thế một số hộ tham gia trồng rừng 327, PAM muốn khai thác phải làm rất nhiều thủ tục qua các cơ quan quản lý về kỹ thuật, quy trình… và vẫn chưa có hướng khai thác cụ thể đến kỳ thu hoạch gần 20 năm.
PV đem những nguyện vọng của bà con xã Lê Chung (Hòa An) trao đổi ông Chu Lâm Phương, Quyền Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng. Ông Lâm cho biết: Công ty vận động bà con trồng rừng với mức đầu tư 12 triệu đồng/ha/7 năm là mức cao nhất so với các tỉnh trồng rừng miền núi phía Bắc. Do đặc thù điều kiện thổ nhưỡng của xã, cây keo phát triển chậm, nhưng chỉ từ 7 - 10 năm trở lên sẽ thành sản phẩm gỗ. Thị trường trượt giá, nếu năm 2007, 1 m3 gỗ keo, đường kính 10 cm trở lên giá 1 triệu 800 nghìn đồng, hiện nay khoảng 800 - 1 triệu đồng. Như thế Công ty vẫn chịu thiệt.
Bên cạnh đó, trồng rừng Công ty gặp nhiều trở ngại do: đặc thù rừng, núi của xã (toàn tỉnh nói chung) chia cắt mạnh, đất dốc hiểm trở, không có đường đi nên khó khăn cho trồng rừng sản xuất. Vận động bà con xã trồng rừng nhưng bà con vẫn chưa hưởng ứng do chưa thay đổi tư duy lao động chuyên nghiệp, chưa chịu khó, thiếu lao động là thanh niên có sức khỏe. Trồng rừng cần nhiều lao động thường xuyên, 1 vụ trồng 3 tháng mùa xuân phải xong số diện tích được giao (1 - 2 - 5 ha), không trồng rải rác (5 - 6 - 8 tháng/năm).
Vì trồng rừng không theo đúng thời vụ, hết mùa xuân sang hè cây cỏ, cây tự nhiên phát triển rất nhanh ăn hết màu cây trồng, khó chăm sóc và trồng mới. Tâm lý của bà con không nhận trồng rừng mới mà muốn Công ty trồng rừng mới xong sẽ nhận bảo vệ, khoanh nuôi.
Do vậy, để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, từ năm 2011 - 2014, Công ty thuê 50 lao động ngoài tỉnh về xã để trồng mới, chăm sóc 230 ha. Tiền công 8 triệu 800 nghìn đồng/ha trồng mới, 4 triệu 700 nghìn đồng/ha chăm sóc. Tuy vậy vẫn chưa đảm bảo tiến độ kế hoạch trồng mới 100 - 200 ha/năm. Đây là điều Công ty không mong muốn. Nếu tiến độ trồng như hiện nay, 15 năm tới, Công ty vẫn chưa đạt tiến độ trồng rừng mới của xã. Trong khi đó tiền thuê đất rừng đến năm thứ 15 trở đi là 11 tỷ 300 triệu đồng/năm. Đây là vấn đề khó khăn rất lớn cho Công ty.
Về rừng bà con trồng theo Dự án 327, PAM sắp đến kỳ thu hoạch trên đất chuyển giao cho Công ty, ông Phương cho biết: Rừng bà con trồng trước đây theo dự án, đề nghị bà con làm thủ tục để thu hoạch, hưởng lợi theo quy định.
Tiền khoanh nuôi bảo vệ rừng 50 nghìn đồng/ha/năm đã kết thúc từ năm 2008, Công ty đã thông báo cho xã, xóm tiếp tục bảo vệ rừng theo hợp đồng giao khoán BQL rừng phòng hộ Hòa An (cũ) theo vị trí, ranh giới, rừng cũ đã phân để hưởng lợi như trước đây. Sau này có chính sách đầu tư cụ thể, Công ty sẽ ký hợp đồng bảo vệ rừng đối với rừng tự nhiên.
PV gặp ông Đặng Hùng Chương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao đổi về vướng mắc của Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng và bà con xã Lê Chung, ông Chương cho biết: Hiện nay, tiến độ trồng rừng mới của toàn tỉnh cũng như xã Lê Chung gặp nhiều khó khăn. So với các tỉnh  miền Bắc, trừ Hà Giang, địa hình đồi, núi trồng rừng của Cao Bằng chia cắt rất mạnh, độ dốc lớn, khí hậu khắc nghiệt, công lao động thấp, giá đầu tư thấp, chưa có nhà máy sản xuất chế biến gỗ quy mô lớn tại chỗ bao tiêu sản phẩm.
Vì thế huy động người dân, đơn vị đầu tư trồng rừng khó triển khai. Các đơn vị đầu tư (Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…) dù chi mức đầu tư trồng rừng sản xuất cao nhưng vẫn chưa tương xứng với công lao động, nên bà con chưa hưởng ứng. Trong khi đó giá sản phẩm quá thấp, 1 m3 gỗ keo giá 800 nghìn đồng, mất 7 - 10 năm trồng và chăm sóc, chưa kể trừ đi chi phí đầu tư sản xuất.
Để trồng rừng sản xuất chủ yếu trồng 1 - 2 loại cây với quy mô 40.000 ha trở lên mới đáp ứng nguyên liệu cho 1 nhà máy sản xuất chế biến gỗ. Muốn có nhà máy sản xuất chế biến gỗ phải có diện tích trồng rừng tương ứng với cung cấp nguyên liệu, mà Cao Bằng chưa hình thành vùng nguyên liệu lớn. Bên cạnh đó văn bản, quy định hướng dẫn Nhà nước về trồng rừng, đầu tư trồng rừng còn chồng chéo, chưa phù hợp.
Việc bà con xã Lê Chung muốn được làm sổ đỏ chứng nhận quyền sử dụng đất theo phân lô cần xem xét kỹ. Tỉnh chủ trương giao đất cho Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng vì muốn đưa đất rừng xã Lê Chung vào trồng rừng sản xuất để thành sản phẩm hàng hóa. Diện tích rừng của xã có rừng phòng hộ đầu nguồn cho sông Hiến, rất quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái cho thành phố Cao Bằng.
Nếu cá nhân có sổ đỏ quyền sử dụng đất, mỗi người tự do trồng một loại cây, làm nhiều mô hình khác nhau khó có sản phẩm thành hàng hóa theo chủ trương của tỉnh. Quan điểm của tỉnh và Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng tìm mọi cách làm phù hợp để bà con được hưởng lợi từ rừng. Đất rừng theo phân lô của BQL cũ vẫn không thay đổi, thuộc về bà con. Tuy nhiên, cần phải có sự phối hợp, hài hòa lợi ích đôi bên.
Thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kế hoạch rà soát lại rừng, tham mưu cho UBND tỉnh trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy hoạch rừng sản xuất của tỉnh trên địa bàn các huyện: Nguyên Bình, Thạch An, Hòa An thành rừng sản xuất tập trung. Đồng thời, mời các nhà đầu tư và nhân dân tham gia dự án, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, hài hòa lợi ích đôi bên.
Công ty TNHH Lâm nghiệp Cao Bằng xúc tiến xin chủ trương của UBND tỉnh đầu tư nhà máy chế biến gỗ công suất 7.000 m3/năm, đa dạng về sản phẩm gỗ, tháo gỡ tâm lý quan ngại của người dân bao tiêu sản phẩm từ trồng rừng sản xuất. (Báo Cao Bằng 2/6) đầu trang(
29-5, Ban Dân tộc HĐND tỉnh đã có buổi làm việc với BQL dự án Nhà máy thủy điện Đăk My 4. Ông Trần Kim Hùng - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh cùng các ban HĐND và lãnh đạo huyện Phước Sơn dự buổi làm việc.
Dự án Nhà máy thủy điện Đăk My 4 có 77 hộ dân ở hai xã Phước Xuân và Phước Hòa, huyện Phước Sơn tái định cư, từ năm 2012 đến nay đã ổn định cuộc sống. Trong 3 năm qua, nhà máy đã cung cấp hơn 1,5 tỷ KWh cho hệ thống điện quốc gia; phối hợp với Sở NN-PTNT điều tiết nước tưới tiêu vào mùa khô và vận hành quy trình hồ chứa trong mùa bão lũ.
Trong tổng số 125,4ha đất rừng phải trồng thay thế khi chuyển quyền sử dụng đất ở dự án thủy điện, BQL dự án Nhà máy thủy điện Đăk My 4 mới tiến hành trồng 9,14ha, số còn lại do chưa được huyện Phước Sơn bố trí đất nên chưa tiến hành trồng rừng thay thế được. Tính đến 30-4-2014, BQL dự án Thủy điện Đăk My 4 chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 31 tỷ đồng.
Tại buổi làm việc, ông Trần Kim Hùng và Ban dân tộc HĐND tỉnh lưu ý chính quyền huyện Phước Sơn, BQL dự án Nhà máy thủy điện Đăk My 4 phải bàn bạc, đề xuất phương án khả thi nếu không bố trí được đất để trồng rừng thay thế. (Phuocson.gov.vn 2/6) đầu trang(
Là một xã nằm về phía Đông Bắc của huyện Tân Sơn, Thu Ngạc có hơn 4 nghìn ha đất lâm nghiệp, chiếm tới 91% diện tích đất tự nhiên của toàn xã. Cùng với phát triển nông nghiệp, chính quyền xã khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Từ chủ trương giao đất giao rừng cho bà con trước đây, đến các dự án phát triển lâm nghiệp sau này như chương trình PAM, 327, 661… Thu Ngạc đã dần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn.
Ông Hà Văn Liêm, Chủ tịch xã cho biết: Việc phát triển kinh tế đồi rừng được Đảng uỷ, UBND xã quan tâm và sát sao chỉ đạo xuống đến từng thôn, xóm. Từ việc nhận thức được thế mạnh phát triển kinh tế đồi rừng ở địa phương, cán bộ khuyến lâm cùng với cán bộ kiểm lâm địa bàn đã tích cực vận động bà con, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh bằng loài cây keo hạt ngoại, sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Nhờ sự chỉ đạo và tuyên truyền của cả hệ thống chính trị nên trong vài năm trở lại đây, phong trào phát triển kinh tế đồi rừng được các chủ rừng trong xã ủng hộ và làm theo.
Chỉ tính từ năm 2011 đến nay, toàn xã đã tham gia trồng gần 300ha rừng sản xuất, phòng hộ từ chương trình bảo vệ và phát triển rừng của huyện; cùng với đó là hàng trăm ha rừng trồng do người dân tự đầu tư. Hiện tại, nhiều diện tích  rừng trồng trong xã đến tuổi khai thác tạo nguồn nguyên liệu cho một số xưởng chế biến lâm sản, tạo việc làm cho người dân địa phương. Ông Liêm cho biết thêm, nhờ đầu tư phát triển kinh tế đồi rừng mà nhiều hộ gia đình đã xây được nhà, mua sắm vật dụng thiết yếu như tivi, tủ lạnh, xe máy…
Gia đình ông Nguyễn Trường Tuấn là một trong những hộ điển hình về làm giàu nhờ phát triển kinh tế đồi rừng. Nói chuyện với chúng tôi bên vạt rừng keo mới một năm tuổi nhưng đã cao vút đầu người ông Tuấn cho biết: Gia đình ông chuyển từ Thái Bình lên đây làm kinh tế, ban đầu gặp rất nhiều khó khăn do không có đất. Năm 1996, Nhà nước có chính sách giao đất giao rừng cho hộ gia đình, ông mạnh dạn nhận 20 ha. Khi ấy, nhìn những vạt rừng vút tầm mắt toàn là nứa với lau lách ông có đôi chút băn khoăn, lo lắng, nhưng với ý chí thoát nghèo, ông quyết tâm nhận đất. Ban đầu chưa có vốn gia đình trồng 2 ha rừng bồ đề là loài cây nhanh cho thu hoạch để thu hồi vốn.
Ngoài ra, bằng hình thức liên doanh với Lâm trường Tam Sơn, gia đình ông tiếp tục trồng được 11ha rừng keo. Năm 2006 sau khi khai thác bán 4 ha rừng bồ đề, keo hộ ông Nguyễn Trường Tuấn đã thu về 280 triệu đồng; đến năm 2008 gia đình lại tiếp tục khai thác 6 ha rừng keo trồng liên doanh với lâm trường, sau khi trừ chi phí và trả sản lượng theo hợp đồng gia đình ông thu về 300 triệu đồng.
Sau khi có vốn, ông Tuấn mạnh dạn đầu tư mua xe tải chở hàng, mở xưởng xẻ, thu mua, tiêu thụ gỗ khai thác trên địa bàn xã và các vùng lân cận. Năm 2009, được sự hỗ trợ phân bón, cây giống từ dự án bảo vệ và phát triển rừng của huyện; cùng với vốn đầu tư của gia đình toàn bộ 20 ha đất được giao của ông đã phủ xanh bằng loài cây keo tai tượng hạt ngoại.
Nhờ đầu tư đúng hướng nên bình quân mỗi năm sau khi trừ chi phí gia đình ông thu từ 80-100 triệu đồng. Cũng từ nguồn thu ổn định ông đã xây cất được căn nhà 2 tầng khang trang, mua đất xây nhà cho con và đầu tư cho chúng học nghề.
Từ thực tế phong trào phát triển kinh tế đồi rừng của một xã miền núi như Thu Ngạc cho thấy: Khi người dân có tư liệu sản xuất là đất đai, cùng với định hướng đúng đắn của chính quyền, hỗ trợ đầu tư của nhà nước thì việc phát triển kinh tế, tạo nguồn thu từ đó giúp xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu là hoàn toàn có thể thực hiện được. (Báo Phú Thọ 2/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhiếp ảnh gia Wadimu vô tình bắt gặp được cảnh tượng kỳ lạ khi dê rừng đơn độc đuổi đánh con báo tại khu bảo tồn động vật hoang dã ở Kenya.
Sau khi “trạm chán”, chú dê rừng không những không bỏ chạy mà đã kiên quyết bảo vệ lãnh địa, thậm chí còn xua đuổi thành công con báo xâm nhập.
Kẻ săn mồi này không thể ngờ rằng chú dê rừng vốn hiền lành lại to gan đến thế, trước sự quả cảm của đối thủ, nó đã phải tháo chạy. (Dân Việt 2/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang