Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 02 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 3714 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT về tăng cường, chấn chỉnh hoạt động lực lượng kiểm lâm (KL), cả nước đã xử lý 716 cán bộ vi phạm quy định của ngành trong đó buộc thôi việc 19 cán bộ, cách chức 19 cán bộ, xử lý hình sự 16 trường hợp…
Phát hiện sai phạm qua đường dây nóng Ông Đỗ Trọng Kim, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Kiểm lâm cho biết, thời gian qua lực lượng KL ở các đơn vị đã chủ động triển khai các nội dung theo tinh thần chỉ thị của Bộ trưởng. Hầu hết các đơn vị KL từ TƯ đến địa phương đều có địa điểm tiếp công dân tại trụ sở cơ quan, đơn vị, niêm yết công khai quy chế và phân công người có trách nhiệm để tiếp công dân.
Bên cạnh đó, tại Cục Kiểm lâm và các Chi cục Kiểm lâm đều công khai số điện thoại thường trực của lãnh đạo đơn vị trên website nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, công dân kịp thời phản ánh về hoạt động của công chức KL hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm cũng được thực hiện gắt gao.
Toàn quốc đã tổ chức được 2.938 cuộc kiểm tra chấn chỉnh hoạt động của kiểm lâm. Cục Kiểm lâm tổ chức được 18 cuộc, các Chi cục Kiểm lâm tổ chức 2.920 cuộc, bao gồm cả kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất và kiểm tra thông tin qua đường dây nóng. Thông qua công tác kiểm tra đã phát hiện 716 trường hợp công chức, viên chức KL vi phạm tác phong và quy trình công tác trong khi thi hành công vụ và đã xử lý nhắc nhở 255 trường hợp, khiển trách 235 trường hợp, cảnh cáo 158 trường hợp, hạ bậc lương 3 trường hợp, giáng chức 11 trường hợp, cách chức 19 trường hợp, buộc thôi việc 19 trường hợp và xử lý hình sự 16 trường hợp…
Nhờ việc kiểm tra kiểm soát thường xuyên cùng với tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cán bộ nên đến nay trong toàn lực lượng đã có sự chuyển biến và đạt được những kết quả nhất định trong nhận thức và hành động. Từ đầu năm đến nay, cả nước đã phát hiện 10.345 vụ vi phạm các quy định Nhà nước về mua bán, vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản, giảm 6% so với cùng kì năm 2013.
Tịch thu 22.632 m3 gỗ. Tổng số tiền thu nộp ngân sách 216,6 tỉ đồng. Năm 2014, lực lượng KL đã xử lý 396 vụ vi phạm các quy định về quản lý động vật hoang dã, giảm 91 vụ so với cùng kì 2013. Tịch thu 5.165 cá thể trong đó có 468 cá thể là động vật nguy cấp, quý hiếm.
Ý thức trách nhiệm của cán bộ công chức, viên chức KL trong hoạt động công vụ từng bước được nâng lên và dần dần khắc phục, giảm thiểu các hạn chế thiếu sót. Luân chuyển cán bộ, hạn chế nể nang Một trong những giải pháp để tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ rừng mà ngành KL vẫn tích cực thực hiện trong thời gian qua đó là “luân chuyển cán bộ”.
Theo đánh giá chung, cơ bản các cán bộ KL làm tốt chức năng nhiệm vụ được giao tuy nhiên vẫn còn một bộ phận KL chưa làm tốt vai trò, chức trách nhiệm vụ của KL địa bàn vì vậy cần phải liên tục đánh giá, rà soát để sắp xếp, luân chuyển bố trí cán bộ cho phù hợp.
Trong 3 năm, toàn quốc đã rà soát, chuyển đổi 3.887 trường hợp KL, trong đó chuyển đổi định kì 3.703 trường hợp; chuyển đổi cán bộ sau khi bị xử lý vi phạm 184 trường hợp. Quảng Ninh là một trong những tỉnh thực hiện rất tốt Chỉ thị 3714 của Bộ NN-PTNT. Tại đây, Chi cục Kiểm lâm thành lập hẳn Ban chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động và xây dựng kế hoạch kiểm tra gửi tới các ngành liên quan, UBND các huyện thị, thành phố trong tỉnh để phối hợp giám sát hoạt động cán bộ KL trên địa bàn.
Số máy của lãnh đạo Chi cục cũng được thông báo công khai cho tất cả các ngành, tổ chức nói trên bằng văn bản để tiếp nhận thông tin. Trong quá trình đấu tranh truy bắt lâm tặc, có 22 vụ chống người thi hành công vụ gây hậu quả thương tích cho 7 cán bộ KL. Tình trạng chống người thi hành công vụ tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Bình Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng, Hà Tĩnh….
Qua đó đã tiếp nhận 4 vụ việc phản ánh về cán bộ KL say rượu khiếm nhã, cán bộ KL lập hồ sơ xác minh vận chuyển lâm sản không đúng quy định, cán bộ buông lỏng quản lý để dân lấn chiếm rừng…
Theo ông Phạm Văn Phát, PGĐ Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, tất cả các trường hợp sai phạm nêu trên đều bị xử lý nghiêm khắc. Ngoài ra, để hạn chế, phòng ngừa sai phạm, Chi cục thực hiện triệt để công tác “luân chuyển cán bộ” và luôn phải đảm bảo nguyên tắc cán bộ KL không được làm việc ở huyện nhà, xã nhà. “Bởi nếu cứ làm việc ở gần nhà thì cán bộ có nghiêm túc đến mấy cũng khó tránh khỏi nể nang, dẫn tới sai phạm khi thi hành công vụ” ông Phát nói.
Hằng năm, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh đều xem xét luân chuyển công chức là lãnh đạo từ Hạt phó và tương đương trở lên để đáp ứng hiệu quả cao hơn về lãnh đạo quản lý và phòng chống tiêu cực có thể xảy ra. Cụ thể, đã có 9 công chức lãnh đạo có đủ thời gian công tác theo quy định và đang làm thủ tục chuẩn bị luân chuyển tiếp 6 cán bộ trong quý IV/2014.... (Nông Nghiệp Việt Nam 2/12) đầu trang(
Phá rừng không chỉ chặt hết gỗ quý, săn bắt động vật hoang dã, đào bới khai khoáng, mà còn chiếm đất rừng để chuyển sang các mục đích sử dụng khác, vụ lợi cá nhân… Rừng trên toàn quốc đang bị khai thác cạn kiệt, song số vụ việc xử lý hành vi xâm hại rừng vẫn hạn chế.
Đó là một trong những nội dung “làm nóng” hội nghị Tổng kết công tác quản lý và bảo vệ rừng năm 2014 do Cục Kiểm lâm, Bộ NNPTNT tổ chức tại Đà Nẵng sáng 1.12…
Theo Cục Kiểm lâm, trong 10 tháng năm 2014, cả nước có trên 21.000 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, chỉ có 195 vụ được đưa ra xử lý hình sự, trong đó, 10 vụ được đưa ra xét xử, chiếm 5%. Chính vì vậy, có đến 2.000 vụ phá rừng trái phép với diện tích trên 600ha; 10.345 vụ vi phạm lâm luật về khai thác, chế biến vận chuyển và mua bán trái phép gỗ rừng, tịch thu trên 22.600m3 gỗ; gần 400 vụ vi phạm về quản lý, mua bán vận chuyển tiêu thụ động vật hoang dã với trên 5.000 cá thể động vật bị xâm hại…
Từ năm 2012, Bộ NNPTNT đã ban hành thông tư về việc buộc các dự án phá rừng phải trồng bù, như các dự án thủy điện phải trồng bù tới 11.000ha, nhưng đến nay các dự án chỉ trồng được 4.000ha…
Theo ông Đỗ Trọng Kim - Phó Tổng cục trưởng Lâm nghiệp, phụ trách Cục Kiểm lâm - việc khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra ở những địa phương còn nhiều diện tích rừng tự nhiên, còn nhiều gỗ thương mại cao, những vùng rừng giáp ranh giữa các địa phương. Điểm nóng là Đắc Nông, Đắc Lắc, Quảng Nam, Quảng Bình, Sơn La, Bắc Cạn… Đây cũng chính là những địa phương có “điểm nóng” về các vụ phá rừng phòng hộ, rừng sản xuất để chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng.
Ngoài ra, tình hình phá rừng để lấy đất trồng rừng, trồng cây công nghiệp, chiếm dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đang diễn biến phức tạp tại các địa phương. Báo cáo của các tỉnh nêu trên cho thấy, diện tích rừng bị phá cả trăm hécta ở mỗi địa phương.
Vấn đề này, Thứ trưởng Bộ NNPTNT - ông Hà Công Tuấn - cho biết, dù đã có nhiều tiến bộ, số vụ vi phạm lâm luật giảm, song diện tích và lâm sản bị triệt hạ, buôn bán lại gia tăng. Đặc biệt, vụ việc chiếm đất rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng diễn ra ở các lâm phận, các nông trường, các chính quyền cơ sở được nhà nước giao đất để quản lý.
Theo Thứ trưởng Tuấn, hiện các Cty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, lâm trường… quản lý trên 2 triệu hécta đất rừng. Nhưng phần lớn các chủ rừng này không đủ năng lực bảo vệ rừng được giao. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng xảy ra khá gay gắt thời gian qua. Nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước. Số vụ chống người thi hành công vụ, ngăn cản lực lượng chức năng… diễn ra nhiều, phức tạp và tồn đọng kéo dài.
Thứ trưởng Tuấn thừa nhận, đây là những bất hợp lý trong việc giao đất, giao quyền quản lý rừng còn tồn tại. Sắp tới, Bộ NNPTNT kiến nghị Chính phủ sắp xếp lại việc giao đất, giao rừng, rà soát, sắp xếp lại hợp lý, dành phần đất cho dân để đảm bảo họ không phải làm thuê trên chính mảnh đất rừng cha ông từng canh tác, sắp xếp giao lại cho dân để hạn chế việc phá rừng để lấy đất sản xuất.
Cục Kiểm lâm cũng thừa nhận việc chỉ đạo về quản lý và bảo vệ rừng chưa quyết liệt, thiếu các biện pháp đồng bộ tại các địa phương. Thậm chí một số cán bộ cấp huyện, xã còn có biểu hiện vi phạm pháp luật, tiếp tay phá rừng, tiêu thụ lâm sản trái phép… Ông Đỗ Trọng Kim còn đưa ra nguyên nhân, lực lượng kiểm lâm mỏng, thiếu trên 3.000 nhân sự. “Quy định 1 kiểm lâm viên quản lý 500ha rừng tự nhiên, 1.000ha đối với rừng sản xuất đã rất khó đối với việc quản lý, bảo vệ rừng, song thực tế chưa đáp ứng đủ nhân lực theo quy định này”- ông Kim phân trần.
Mới đây, tại vùng rừng giáp ranh Đà Nẵng, Quảng Nam đã xảy ra vụ phá rừng lớn với số lượng gỗ quý phát hiện trên 50m3. Kiểm lâm Đà Nẵng đã phải đình chỉ 7 cán bộ quản lý bảo vệ rừng và kiểm lâm liên quan, khởi tố vụ án để điều tra. Vụ việc chưa có kết quả cụ thể. Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Kiểm lâm, phần lớn các vụ phá rừng đều không có kết quả điều tra tốt, không bắt được đối tượng chủ mưu phá rừng. (Lao Động 2/12; Pháp Luật TPHCM 1/12) đầu trang(
Lâm tặc là ai? Bấy nay, có lẽ chưa có ai đưa ra định nghĩa trọn vẹn về khái niệm này. Truyền thông góp phần đóng khung cho dư luận mặc định lâm tặc là những kẻ khai thác lâm sản trái phép.
Vậy những kẻ trực tiếp khai thác lâm sản trái phép thực chất là ai vậy? Họ là những người dân tại chỗ hoặc di cư, vì bức bí với cuộc mưu sinh, vì miếng cơm manh áo, hồn nhiên hoặc có chủ đích nương dựa vào sản vật của rừng để tồn tại. Và trớ trêu thay, họ chưa bao giờ coi mình và tự nhận mình là lâm tặc.
Một gánh củi, một bao than, một khoảnh rừng bị đốt để làm rẫy, một vài con thú bị săn bẫy, dăm bảy cây gỗ bị đốn hạ, cưa xẻ, nhọc nhằn mang ra khỏi rừng… nợ áo cơm, con cái thúc ép sau lưng khiến họ đành nhắm mắt làm liều trước các quy định lệ luật. Họ là lâm tặc đó ư?
Nếu chỉ thế là có thể gọi đó là lâm tặc, thì những người nông dân chân chất sống ngay bìa rừng và những phận nghèo không việc làm, không thu nhập từ những miền quê khác phải đánh cược mạng sống của mình giữa rừng thiêng nước độc chắc hẳn chỉ là những lâm tặc… lính xông pha trận mạc, chỉ đâu đánh đấy. Còn chỉ huy, sĩ quan, tướng lâm tặc đang ở đâu?
Tại Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng hôm 1/12 tại Đà Nẵng, lãnh đạo Cục Kiểm lâm cho rằng đối tượng đứng sau thuê đồng bào phá rừng mới là “lâm tặc đầu sỏ”. Nhưng oái oăm thay, những lâm tặc đầu sỏ này đa phần không thể phát hiện và xử lý được.
Những lâm tặc đầu sỏ theo nhận định của Cục Kiểm lâm có phép tàng hình, hay thủ đoạn quá tinh vi chăng? Chắc chắn là không. Những kẻ đầu nậu chuyên thu gom gỗ thì địa phương có rừng nào không có. Những xưởng cưa xẻ trái phép mọc lên như nấm chắc không phải là quá khó để phát hiện. Những thương vụ tập kết hàng trăm, thậm chí hàng ngàn mét khối gỗ lậu xuôi theo từng toa tàu, hay những chuyến xe siêu trường siêu trọng vượt qua hàng chục tỉnh, thành với giăng mắc trạm kiểm tra, kiểm soát không lẽ lực lượng chức năng không biết?
Dư luận có quyền so sánh, chỉ một tép heroin bé tẹo thôi mà lực lượng phòng chống ma túy còn tìm ra thì vì sao hàng ngàn phách gỗ lậu quý hiếm ngang nhiên diễu trước mặt cơ quan chức năng mà họ không thấy. Họ bị phép thôi miên chăng? Sẽ không có gì lạ khi có nhiều vụ vận chuyển trái phép gỗ lậu mà người áp tải không ai khác là cán bộ kiểm lâm.
Một cán bộ làm lâu năm trong lực lượng kiểm lâm tâm sự rằng, có một công thức cộng sinh hình thành trong lĩnh vực này. Phải có người trực tiếp khai thác, có người thu gom, có người mua đường (bôi trơn, hối lộ) và mọi dòng chảy về ông trùm khuynh loát thị trường gỗ. Ăn chia sòng phẳng. Thế nên, vị này kết luận chua chát: Hết rừng là hết lâm tặc thôi, chống làm chi cho mất công, tốn của!
Một con số được đưa ra: Trong số 18.417 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đã xử lý thì có tới 18.222 vụ phạt hành chính, xử lý hình sự 195 vụ nhưng đưa ra xét xử có 10 vụ, đạt tỷ lệ chỉ 5%. Quả là con số buồn! Con số đó sẽ tỷ lệ nghịch với diện tích rừng bị phá.
Câu truyền khẩu chống lâm tặc trước tiên là làm ngay trong lực lượng chống lâm tặc ấy, thật đáng suy ngẫm. (Tiền Phong 2/12, tr4) đầu trang(
Cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị vừa phát hiện một vụ vận chuyển động vật hoang dã trái phép với số lượng lớn qua Cửa khẩu quốc tế (CKQT) Lao Bảo.
Thế nhưng, thay vì phải giao cho cơ quan có thẩm quyền gấp rút xử lý, thả về môi trường tự nhiên thì toàn bộ những cá thể động vật này hiện đang nằm “chờ chết” trong nhà kho của Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo.
Chiều 27.11, Công an (CA) huyện Hướng Hóa đã phối hợp với Hải quan và Đồn Biên phòng CKQT Lao Bảo kiểm tra, phát hiện trên xe ôtô khách có 120,5kg động vật hoang dã còn sống, gồm: 36kg tê tê (thuộc loại quý hiếm), 68kg rắn ráo trâu; 15,5kg ba ba; 1kg rùa.
Ngay sau đó, CA huyện Hướng Hóa đề xuất bàn giao số động vật này cho kiểm lâm (KL) xử lý. “Theo quy định thì phải giao cho kiểm lâm (KL). Còn KL đề xuất xử lý như thế nào là việc của họ” – thượng tá Phan Thanh Quảng - Trưởng CA huyện Hướng Hóa - cho biết.
Đến 20h tối 27.11, Hạt KL huyện Hướng Hóa đã làm xong thủ tục và đem 120,5kg động vật về nhập kho, chăm sóc để tiến hành xử lý. Ngày 28.11, sẽ thành lập đoàn liên ngành để thả toàn bộ động vật vừa phát hiện về môi trường tự nhiên. “Động vật còn sống, có loại thuộc dạng quý hiếm như têtê, nên chúng tôi lên kế hoạch phải nhanh chóng thả về tự nhiên. Nếu chậm trễ, sẽ dẫn đến chết” - ông Nguyễn Văn Thành - Hạt trưởng Hạt KL huyện Hướng Hóa - trao đổi với PV tối 27.11.
Trong sáng 28.11, ông Hoàng Văn Cừ - Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh - nói rằng: “Anh Thanh, Chi cục trưởng Hải quan CKQT Lao Bảo có đề xuất nhận lại số động vật đã bàn giao, nhưng tôi chỉ đạo là để KL xử lý”. Tuy nhiên, cũng trong sáng 28.11, ông Đinh Ngọc Thanh - Chi cục trưởng Hải quan CKQT Lao Bảo - đã nhận lại 120,5kg động vật hoang dã ở KL với lý do “để làm lại hồ sơ, chuyển về Cục Hải quan tỉnh QT xử lý”.
Sau khi nhận lại 120,5kg động vật hoang dã ở KL, Hải quan CKQT Lao Bảo đưa về cất giữ tại nhà kho của mình. Những cá thể động vật hoang dã này được chứa trong những bao lưới chật hẹp, nằm bất động trên sàn. Cán bộ hải quan ở đây đã chăm sóc những cá thể động vật này bằng cách bật điều hòa và tưới nước lên các bao lưới.
Anh Lê Chí Đông - cán bộ hải quan tại đây - cho biết, khi phát hiện 120,5kg động vật hoang dã, cơ quan này đã lập biên bản vi phạm hành chính “Vận chuyển hàng hóa nhập khẩu không có chứng từ hợp lệ trong địa bàn hoạt động của hải quan”. Vì lý do lô hàng vượt quá quá thẩm quyền xử lý của Chi cục trưởng, nên phải bàn giao cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị.
Còn theo ông Ngô Minh Tuấn - Chi cục phó Hải quan CKQT Lao Bảo - nếu động vật hoang dã được phát hiện có nguồn gốc trong nước, thì phải giao cho KL; còn 120,5kg động vật đã phát hiện có nguồn gốc từ nước ngoài, đây cũng là một loại hàng hóa, nên hải quan có quyền xử lý. Ông Tuấn cho biết thêm, hiện hải quan đang tạm giữ tang vật, còn hồ sơ đã chuyển cho Cục Hải quan tỉnh QT.
“Việc bắt giữ và nhận lại lô hàng ở kiểm lâm anh Thanh làm (ông Đinh Ngọc Thanh), tôi mới lên đơn vị nên không nắm rõ. Còn việc chậm trễ trong quá trình xử lý, có thể là do cuối tuần” – ông Tuấn nói.
Trong lúc Hải quan CHQT Lao Bảo đang tạm giữ lô động vật hoang dã và đợi chờ ý kiến của cấp trên, thì hàng chục cá thể động vật này đang bị hành xác, không được chăm sóc đúng cách hoặc thả về môi trường kịp thời.
Nếu đến lúc có quyết định xử lý của Cục Hải quan tỉnh QT, nhưng số động vật đã chết hoặc không đủ sức để thả về môi trường tự nhiên thì sẽ xử lý bằng cách nào? Và, ai sẽ là người gánh trách nhiệm đem “giam” động vật hoang dã quý hiếm cho đến chết trong nhà kho? (Lao Động 1/12, tr7) đầu trang(
1.12, ông Hoàng Văn Cừ - Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị (QT) - cho biết, đã có quyết định (QĐ) xử phạt hành chính người vi phạm và chuyển 120,5kg động vật hoang dã cho Kiểm lâm (KL) huyện Hướng Hóa xử lý theo quy định...
Về việc chậm trễ xử lý như thông tin báo Lao Động đã đăng tải, ông Cừ nói: “Do ban đầu quy trình không đúng và chủ quan một chút, nhưng bò sát ít bị tác động đến sức khỏe. Nên sẽ không bị ảnh hưởng nhiều”.
Hiện Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo đang làm thủ tục để chuyển số động trên cho Hạt KL huyện Hướng Hóa xử lý. Tuy nhiên, theo ông Lê Văn Thành - Hạt trưởng Hạt KL huyện Hướng Hóa - theo Thông tư 90/2008/TT-BNN thì cấp nào xử lý vi phạm hành chính thì cấp ấy xử lý tang vật.
“Chúng tôi không nhận số động vật hoang dã ấy. Vì KL không thể căn cứ vào QĐ xử lý vi phạm hành chính của hải quan để ra QĐ xử lý tang vật được. Như vậy là trái ngành” - ông Thành nói. Theo ông Thành, hải quan cần ra QĐ xử lý tang vật, rồi yêu cầu KL phối hợp xử lý mới hợp lý. (Lao Động 2/12) đầu trang(
Trước việc chủ đầu tư dự án đường sắt đô thị (ĐSĐT) Nhổn - Ga Hà Nội giải tỏa gần 200 cây xanh, trong đó chặt hạ 144 cây và cho rằng cây xà cừ lâu năm bị chặt không phải cây đô thị, hôm qua, đơn vị quản lý cây xanh TP Hà Nội khẳng định, xà cừ là cây đô thị và sẽ không cho phép chặt hàng loạt.
Theo ông Lê Huy Hoàng, Phó giám đốc Ban quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội (MRB) - chủ đầu tư dự án ĐSĐT Nhổn - Ga Hà Nội, những ngày qua ngoài 27 cây xanh tại đường Tây Tựu (QL 70) phải chặt hạ, di chuyển để thi công đường ra vào khu depot, thời gian tới sẽ có gần 200 cây xanh, trong đó có 144 cây, chủ yếu là xà cừ nằm trên trục đường Cầu Giấy - Kim Mã - Nguyễn Thái Học phải chặt hạ để làm nhà ga và khoan đường đi ngầm. Ông Hoàng khẳng định, những cây chặt hạ là cây không thuộc chủng loại cây đô thị, trong đó có cây xà cừ.
Trao đổi với PV ngày 1/12, ông Nguyễn Xuân Hưng - Phó giám đốc Công ty Công viên cây xanh Hà Nội cho biết, cây xanh trên tuyến đường Cầu Giấy - Kim Mã hầu hết là xà cừ lâu năm. “Xà cừ là cây thuộc chủng loại đô thị, hơn nữa đây còn là một trong 15 loại cây đặc trưng trên các tuyến phố Hà Nội”, ông Hưng khẳng định.
Theo ông Nguyễn Xuân Hưng, trên địa bàn thành phố hiện nay có rất nhiều dự án liên quan đến cây xanh, ngoài tuyến ĐSĐT Nhổn - Ga Hà Nội còn có tuyến Hà Đông - Cát Linh; rồi các dự án thi công đường như vành đai 2, vành đai 3… cũng làm ảnh hưởng đến số lượng cây xanh. Rút kinh nghiệm từ những năm trước, thay vì cấp phép cho chặt hạ, di chuyển đồng loạt, hiện nay Sở Xây dựng căn cứ vào tiến độ dự án để cấp phép.
Theo đó, để được cấp phép chặt hạ, di chuyển cây xanh, sau khi có ý kiến chấp thuận của thành phố, chủ đầu tư - đơn vị thi công phải báo cáo tiến độ, căn cứ vào đó Sở Xây dựng sẽ cấp phép theo từng đợt. Với dự án Nhổn - Ga Hà Nội, hiện Sở Xây dựng chỉ cấp phép theo đợt: đợt 1 vừa cấp cho MRB chặt, di chuyển 27 cây xanh tại hạng mục làm đường ra vào depot Tây Tựu. Muốn chặt, di chuyển cây xanh tại khu vực Cầu Giấy - Kim Mã chủ đầu tư phải làm báo cáo và xin giấy phép các đợt tiếp theo.
Cũng theo ông Hưng, khi thi công toàn tuyến ĐSĐT Nhổn - ga Hà Nội sẽ có nhiều cây xanh bị chặt hạ hoặc phải di chuyển. Căn cứ vào tình hình tuổi thọ của cây, hiện cây xanh chạy dọc tuyến ĐSĐT Nhổn - Ga Hà Nội được chia làm 2 đoạn.
Đoạn 1 từ Ga Hà Nội đi qua các tuyến phố Nguyễn Thái Học - Kim Mã - Cầu Giấy; đây là đoạn cây xanh được trồng lâu năm và chủ yếu là cây thuộc chủng loại đô thị như xà cừ; đây cũng là đoạn vừa được TP Hà Nội cho phép đầu tư hơn 3 tỷ đồng theo hình thức xã hội hóa để thay thế các cây nghiêng, cây chết, cây không đúng chủng loại.
Đoạn 2: từ Cầu Giấy đến Nhổn, đoạn này cây xanh vừa được trồng mới khi dự án mở rộng QL 32 đoạn Cầu Giấy - Nhổn hoàn thành, 100% cây xanh trên tuyến là cây đô thị, nhiều nhất là sữa. (Tiền Phong 2/12, tr10) đầu trang(
Cử tri Hà Nội không đồng tình việc chặt hạ cây xanh - một ngày trước khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân TP Hà Nội - bức xúc này được đặt ra trong các cuộc tiếp xúc cử tri.
Và cùng thời điểm, hàng loạt cây xanh dọc đường Nguyễn Thái Học – Kim Mã đoạn ra tới Khách sạn Daewoo bị chặt hạ vì cong vênh và không đúng chủng loại. Trước đó những cây xà cừ ở đường Nguyễn Trãi bị hạ xuống vì dự án đường sắt trên cao…Những vết cưa trên mỗi thân cây bị hạ xuống như một vết cứa vào trái tim người Hà Nội.
Số tiền 3,5 tỷ đồng. Số cây bị chặt hạ và thay thế là khoảng hơn 200 cây xanh. Lý do là cây cong, lệch tán, không đúng chủng loại cây đô thị. Đầy đủ dữ liệu để theo đó, 52 cây bằng lăng và bàng trên phố Kim Mã bị chặt hạ, trên phố Nguyễn Thái Học là 144 cây. Đương nhiên, chặt xong thì trồng thay thế ngay – những cây mới được bó như bó xôi, đeo gông để cho khỏi đổ. Còn những cây cũ vừa mới đây phấp phới đã bị lưỡi cưa xoèn xoẹt, lạnh lùng đốn ngã, nhựa ứa ra như những dòng nước mắt. Đời cây – đời người!
Không hiểu thế nào là đúng chủng loại cây đô thị - dù đúng là cần có quy hoạch cây xanh cho đô thị. Bởi vì chặt xong một cây bàng, một cây bằng lăng trên đường Kim Mã, người ta lại trồng lại y chang "chủng loại”, tức là cũng bàng, cũng bằng lăng. Lý do không đúng chủng loại cây đô thị có lẽ phải gạt sang bên và chắc sẽ phải giải thích bằng "cong”, "lệch tán”…
Có nhiều lý do để chặt cây. To tát như những dự án phát triển, nhỏ bé như cong, sâu, mối mọt. Bằng cách nào thì sự thật là những cái cây cũng bị đốn ngã, ngổn ngang lòng người.
Hà Nội có những con đường gắn với những hàng cây. Có rất nhiều người không rời nổi một ngôi nhà, một nơi làm việc chỉ vì những hàng cây níu kéo, như những tán xà cừ nơi phố Bà Triệu, những hàng hoa sữa đường Nguyễn Du…Trong tâm tưởng nhiều người, cây cũng như người, cây có linh hồn của cây, chặt xuống là đốn hạ một niềm tin. Hà Nội đã nhiều năm qua, chưa lấp đầy nỗi trống vắng trong lòng người khi nhớ về những cây xà cừ cuối đường Bà Triệu. Đoạn đường ấy giờ đây vẫn những hàng cau trống hươ trống hoác. Cũng như nhiều năm nữa, chắc những linh hồn xà cừ đường Nguyễn Trãi vẫn vương vít nơi này…
Trong quá khứ, Hà Nội từng trải qua những lần bị hủy diệt bởi bom B52. Đọc "Những ngõ phố Hà Nội” của nhà văn Tô Hoài, thấy sau một đêm bom đạn, sáng mai ra những hàng cây Hà Nội vẫn vươn mình, kiêu hãnh. Hà Nội mùa đông, tháng Chạp 1972. Những cây bàng phố Khâm Thiên ngã xuống, linh hồn cây hòa cùng linh hồn người Hà Nội, biến thành sức mạnh, biến thành niềm tin.
Ở TP Hồ Chí Minh, hàng trăm cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng cũng vừa được Thành phố phê duyệt đốn hạ trong thời gian tới để phục vụ cho dự án cầu Thủ Thiêm 2. Luôn luôn có bài toán khó giải nhân danh những dự án phục vụ cho phát triển. Nhưng có cách nào không để bảo vệ những cây xanh đã sống đời cây dằng dặc cả trăm năm, đã mang hồn vía cuộc đời trong nó?
Một nhóm các bạn trẻ ở TP. Hồ Chí Minh đã lập trang web bảo vệ cây. Họ căng dòng chữ đáng suy nghĩ: "Tôi không muốn đổi cây xanh lấy cầu vượt”. Và họ nhận được sự ủng hộ của nhiều người.
Cử tri Hà Nội không đồng tình với việc chặt hạ cây xanh. Nhóm các trẻ ở TP Hồ Chí Minh "không muốn đổi cây xanh lấy cầu vượt” và lấy được nhiều chữ ký. Cần hơn nữa tinh thần bảo vệ cây xanh mạnh mẽ, tích cực hơn. Việc giữ lại những hàng cây phải trở thành tình cảm và trách nhiệm của cả cộng đồng.
Để tác động tới chủ trương, tới quyết định của các cấp lãnh đạo khi đồng ý cho chặt cây nhân danh đường sắt trên cao, nhân danh cầu vượt, nhân danh mọi sự phát triển nóng. Trong lúc chưa trồng thêm được những cây xanh, đừng đốn ngã bất kỳ cây nào nữa vì bất cứ lý do gì (ngay cả nếu cây bị sâu bệnh cũng phải chữa chạy trước khi lạnh lùng giơ lưỡi cưa lên, hay vì lệch tán mà phải chặt là một lý do khó chấp nhận…).
Giá trị cơ bản và bền vững của một đô thị trước hết là ở không gian sống, rồi mới đến phương tiện để sống. Những cây cổ thụ hàng trăm năm là diện mạo, là tinh thần, là linh hồn của một đô thị sống. Cây cũng là một cơ thể sống, cùng thăng trầm thời cuộc mà tạo ra khí chất, cốt cách của cây.
Trách nhiệm khi đồng ý cho đốn hạ những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi thuộc về ai? Cây hỏi ấy phải được đặt ra, để giữ những linh hồn cây ở lại. (Đại Đoàn Kết 2/12, tr12) đầu trang(
Thủy tùng hay còn gọi là thông nước có tên khoa học Glyptostrobus pensilis, được xem như hóa thạch sống của ngành hạt trần, xuất hiện cách đây khoảng 10 triệu năm. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn giá trị kinh tế do gỗ có mùi thơm, hoa vân, màu sắc rất đẹp, được dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ.
Với những lý do đó, 162 cây thủy tùng ở Đắk Lắk đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Đây cũng là quần thể thủy tùng tự nhiên quý hiếm còn sót lại trên thế giới và được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, huyện Krông Năng và Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk được xem là thủ phủ của loài cây thủy tùng. Ở những khu vực đầm lầy, loài cây này nhiều vô kể. Thậm chí, người ta sẵn sàng đốn hạ, vùi lấp hàng chục ha thủy tùng để làm đập thủy lợi Ea Ral (xã Ea Ral, huyện Ea H’leo).
Điều này cũng dễ hiểu vì thời gian đó, thủy tùng được xếp vào loại gỗ tạp. Năm 2008, nhiều người đồn đoán loài cây này có khả năng chữa bệnh ung thư, mang lại sinh khí cho ngôi nhà nên mỗi ngày có hàng trăm người chen nhau đào bới tìm kiếm thủy tùng bị vùi lấp dưới đập thủy lợi Ea Ral. Đầu nậu gỗ khắp nơi kéo về để mua gỗ thủy tùng, đẩy giá lên rất cao khiến loài cây này bị săn lùng ráo riết.
Trước thực trạng trên, năm 2010, Trường Đại học Tây Nguyên lập dự án điều tra hiện trạng để làm cơ sở cho công tác bảo tồn thủy tùng. Qua công tác kiểm đếm, vào thời điểm này, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 256 cây, trong đó quần thể ở Ea Ral có 219 cây, quần thể xã Trấp K’sor (huyện Krông Năng) có 31 cây, 5 cây ở xã Cư Né (huyện Krông Búk) và 1 cây ở huyện Buôn Đôn.
Tháng 1-2011, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án bảo tồn loài sinh cảnh thông nước và thành lập khu bảo tồn loài sinh cảnh thông nước Đắk Lắk. Tuy lực lượng chức năng tích cực bảo vệ trong những năm qua nhưng thủy tùng đã chết hoặc bị kẻ gian chặt hạ 94 cây, hiện chỉ còn lại 162 cây.
TS Trần Vinh, Phó viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cho biết quần thể thủy tùng ở xã Ea Ral, số cây có chất lượng loại A chiếm 39,7%, số cây loại B chiếm 42,5% và loại C là 17,8%. Tại xã Trấp K’sor, số cây loại A chỉ chiếm 20%, loại B chiếm 46,7% và loại C là 33,3%. Còn các cây đơn lẻ khác chủ yếu là loại C. Như vậy, số thủy tùng còn sót lại trên địa bàn của tỉnh Đắk Lắk không những bị hạn chế về mặt số lượng mà còn giảm sút về mặt chất lượng.
Quần thể thủy tùng xã Trấp K’sor hiện còn 21 cây, nhỏ nhất có đường kính 30 cm, lớn nhất từ 3-4 người ôm, nhiều cây có tuổi thọ từ 500-600 năm. Năm 2012, tỉnh Đắk Lắk đã dựng một con đập dài 300 m tại khu đầm lầy để giữ nước cho cây thủy tùng sinh trưởng, phát triển và phục vụ nước tưới sản xuất cho người dân trong vùng. Tuy nhiên, khi thiết kế xây dựng đập, chủ đầu tư không tính toán lưu lượng nước và các biện pháp xả nước nên mực nước trong vùng đầm lầy luôn ở mức rất cao trong thời gian dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển của cây.
Theo PGS-TS Bảo Huy, Trường Đại học Tây Nguyên, thủy tùng là loài cây phát triển tốt ở khu vực đầm lầy, nước cạn. Tuy nhiên, cũng như bao loài cây ngập nước khác, thủy tùng chỉ phát triển được khi rễ thở không bị ngập nước để lấy ôxy. Khảo sát cho thấy quần thể thủy tùng ở xã Trấp K’sor có bộ phận rễ thở mọc cách gốc từ 20-50 cm tùy theo tuổi thọ của cây, trong khi mực nước tại khu đầm lầy Trấp K’sor luôn cao từ 80 đến 90 cm. Vào mùa mưa, mực nước cao hơn 1 m khiến rễ thở của cây bị “ngộp”.
Theo khảo sát nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, nguyên nhân chính khiến thủy tùng chết, vàng lá, rụng lá trong thời gian qua là do ngập nước. Cùng chung số phận, 84 cây con được trồng thử nghiệm tại trạm Trấp K’sor cũng chết do nước dâng cao, ngập hết rễ. Tuy nhiên, ông Trần Xuân Phước, Giám đốc Khu Bảo tồn loài sinh cảnh thông nước Đắk Lắk, cho biết cần tiến hành thêm một cuộc khảo sát nữa mới có thể khẳng định thủy tùng chết do ngập nước hay do già cỗi, sau đó mới tìm biện pháp cứu cây!
Những năm qua, để bảo tồn loài thực vật quý hiếm, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều phương pháp nhân giống. Một trong những phương pháp bước đầu cho tỉ lệ sống cao là dùng nhánh của thủy tùng ghép vào gốc của cây bụt mọc (một loài cây cùng họ với thủy tùng).
Tuy nhiên, khi đưa 260 cây con vào trồng thử nghiệm ở 2 quần thể thủy tùng Ea Ral và Trấp K’sor thì kết quả không như mong đợi. Theo ông Phước, mặc dù đã trồng được 2 năm nhưng gần 300 cây thủy tùng ghép phát triển rất chậm, nhiều cây héo dần rồi chết. PGS-TS Bảo Huy cho biết thủy tùng là loài cổ thực vật, xuất hiện cách đây hàng triệu năm, những cây cùng thời với thủy tùng đa số đã bị tuyệt chủng.
Do đó, xét theo góc độ quy luật tiến hóa tự nhiên thì việc thủy tùng biến mất cũng là điều bình thường. Riêng về nghiên cứu ghép thủy tùng vào cây bụt mọc, bước đầu tuy cho kết quả khả quan nhưng cần phải có thời gian để xem cây có phát triển được không. Xét về nguồn gien, một khi đã ghép thủy tùng trên gốc cây mẹ, cho dù cùng họ, cây phát triển tốt thì đó vẫn không phải là thủy tùng đích thực. “Vấn đề nan giải nhất hiện nay là sinh cảnh nơi thủy tùng sống đã thay đổi, nếu thành công trong việc lai tạo giống cũng chưa chắc đã bảo tồn được loài cây này” - PGS-TS Bảo Huy lo ngại.
Theo ông Trần Xuân Phước, ngoài 2 quần thể thủy tùng tập trung ở 2 xã Ea Ral và Trấp K’sor, hiện còn có 3 cây khác nằm rải rác trong vườn của người dân. Để bảo tồn tuyệt đối loài cây này, Khu Bảo tồn loài sinh cảnh thông nước Đắk Lắk đã thuê 3 hộ dân bảo vệ với giá 1 triệu đồng/cây/tháng. (Người Lao Động 2/12, tr11) đầu trang(
Xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam là địa phương nổi tiếng với nghề bẫy chim. Dọc theo các tuyến đường trong xã, người dân bày bán từ chim sẻ, gà đồng, cò, vạc… cho tới những loại chim to khác.
Ngoài việc bán trên lề đường, anh Đỗ Văn Trọng, người dân địa phương này, cho biết: “Chim trời bẫy xong được đưa vào nhà hàng, quán nhậu. Nhiều chủ nhà hàng còn đặt hàng từ khi chưa tới mùa”.
PV cũng bắt gặp rất nhiều người giăng lưới bắt chim trên cánh đồng Hoằng Minh, Hoằng Quang (huyện Hoằng Hóa); Quảng Vinh, Quảng Hùng (huyện Quảng Xương) của tỉnh Thanh Hóa.
Không chỉ bán chim ở chợ quê và các tuyến quốc lộ, người săn chim còn bán ở các thành phố lớn. Xe máy, xe đạp chở đầy chim “lượn” trên các tuyến phố sầm uất của Thanh Hóa, Hà Nam…, đặc biệt vào giờ tan tầm. Người mua thỏa sức chọn, trả giá, không để ý gì đến tiếng kêu thất thanh của những chú chim tội nghiệp.
Đặc biệt gần đây, loài sâm cầm quý hiếm cũng được bày bán với số lượng khá lớn ở Thanh Hóa. Người bán chim cho biết mùa này sâm cầm về rất nhiều nên người dân trúng lớn vì giá khá cao, giá dao động từ 800.000 đến 1 triệu đồng/con.
Một cán bộ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho biết việc xử lý những người buôn bán chim dạo rất khó vì họ không săn bắt chim trên rừng mà bắt ở vùng đồng bằng, ven biển - vốn không phải là nơi cấm săn bắt. (Người Lao Động 2/12, tr11) đầu trang(
Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đang tiếp nhận một bệnh nhân sống tại tại Quảng Ninh bị rắn lục đuôi đỏ cắn, vừa được chuyển từ bệnh viên địa phương lên.
Theo tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn, Phụ trách Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, trong các tháng qua, liên tục tiếp nhận các nạn nhân nhập viện do bị rắn độc cắn, trong đó có các loại rắn rất độc như hổ mang, cạp nia và cả những trường hợp bị cắn bởi rắn lục đuôi đỏ. Hiện, bệnh viện đang tiếp nhận một bệnh nhân sống tại tại Quảng Ninh bị rắn lục đuôi đỏ cắn, được bệnh viện địa phương chuyển lên điều trị.
Ngoài ra, tại Hà Nội, gần đây cũng đã ghi nhận các ca bệnh bị rắn lục đuôi đỏ cắn, là các bệnh nhân ở huyện ngoại thành Hà Nội. Theo tiến sĩ Sơn, “rắn lục đuôi đỏ nguy hiểm bởi độc chất khi vào cơ thể gây rối loạn đông máu, gây chảy máu, xuất huyết. Nạn nhân có thể  tử vong do bị xuất huyết não”.
Trước tình trạng nhiều bệnh nhân nhập viện điều trị do bị rắn độc tấn công tại nhiều địa phương, hôm 1.12, ông Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho biết, cơ quan này đã có văn bản yêu cầu các Sở Y tế, các bệnh viện thuộc Bộ Y tế tập trung nhân lực và thuốc để cứu chữa bệnh nhân bị rắn độc cắn, không để xảy ra tử vong.
Ông Lương Ngọc Khuê cũng cho hay Cục đã giao Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai tập huấn, đào tạo về lý thuyết và lâm sàng cho cán bộ y tế tại các tỉnh.
Theo ông Khuê, Việt Nam là một trong những nước có nhiều loại rắn độc cắn người có thể gây tử vong nếu không được cấp cứu đúng và kịp thời. Để điều trị rắn độc cắn, huyết thanh kháng độc nọc rắn góp phần rất quan trọng. Hiện nay, Viện Vắc xin và Sinh phẩm y tế đã sản xuất được một số huyết thanh trị rắn độc cắn, trong đó có huyết thanh kháng độc nọc rắn lục đuôi đỏ.
Các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Trung ương Huế, Chợ Rẫy… là các cơ sở thực hành rất tốt công tác chữa trị các trường hợp bị rắn độc cắn, vì hàng năm đều tiếp nhận điều trị, cứu sống hàng chục ca bệnh rất nặng bị rắn độc tấn công. (Thanh Niên 2/12) đầu trang(
GS.TS Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam cùng các chuyên gia sinh thái khác lí giải nguyên nhân rắn lục đuôi đỏ bùng phát cắn người bất thường và đưa ra các gợi ý kiềm chế.
GS.TS Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam, cho hay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về rắn lục đuôi đỏ. Theo nhiều tài liệu, rắn lục đuôi đỏ (hay còn gọi là rắn lục mép trắng, rắn lục tre) có vùng phân bố khá rộng, xuất hiện ở hầu hết các vùng rừng trong cả nước. Loài này sống chủ yếu trên cây, hoạt động vào ban đêm, ăn chuột, thằn lằn, ếch, nhái…
Rắn lục đuôi đỏ vốn sống chủ yếu trong rừng nay xuất hiện nhiều ở các khu dân cư có thể do nhiều nguyên nhân. Theo GS Đặng Huy Huỳnh, rắn là loài biến nhiệt, nhiệt độ tăng có thể làm tăng số lượng rắn. Điều này phù hợp với việc loài rắn đuôi đỏ xuất hiện nhiều ở các tỉnh phía Nam.
Ngoài ra, vùng rừng vốn là nơi sống của rắn lục đuôi đỏ, nay bị chặt phá, rắn mất môi trường sống nên di chuyển về hang hốc, bụi cây gần khu dân cư. Tuy nhiên, các điều kiện trên đều khiến gia tăng số lượng các loài rắn khác, tại sao chỉ có rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều?
Theo GS Huỳnh, loài này sinh sản khá nhiều, chúng đẻ con chứ không đẻ trứng như nhiều loài rắn khác, mỗi lần đẻ 4-14 con. Các loài thiên địch của chúng trong môi trường như cầy, cáo, mèo giảm đi khá nhiều do nạn săn bắt cũng làm gia tăng số lượng rắn. Tuy nhiên, rắn lục đuôi đỏ thường sinh con vào tháng 6-7, chứ không phải mùa này. Ngoài ra, rắn lục đuôi đỏ không phải là loài có giá trị kinh tế như nhiều loài khác. Thịt rắn hôi nên không được sử dụng làm thức ăn, ngâm rượu thuốc, nên chúng càng có cơ hội phát triển.
Theo TS Nguyễn Quảng Trường, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, muốn biết vì sao rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều, phải có các nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, có thể giả thuyết, nguồn thức ăn dồi dào hơn và sinh cảnh sống phù hợp đã kích thích sự phát triển của rắn lục, đặc biệt là ở các khu dân cư ven rừng. Theo GS Huỳnh, các cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, làm rõ số rắn lục đuôi đỏ tăng bao nhiêu, vì sao lại tăng, biện pháp phòng chống hiệu quả nhất… “Phải làm nhanh để người dân đỡ hoang mang, ảnh hưởng đến tinh thần, sản xuất”, ông Huỳnh nói.
Theo GS Huỳnh, rắn lục đuôi đỏ không độc như hổ mang hay cạp nong, cạp nia, nhưng rất khó phát hiện loài rắn này, vì chúng thường sống trong bụi cây, hang hốc và có màu xanh. Người dân nên phát quang bụi rậm quanh nhà. Rắn hoạt động chủ yếu vào ban đêm, nên khi đi ra ngoài vào ban đêm, người dân nên dùng đèn pin, đi ủng.
Ngoài ra, có thể trồng sả hoặc nuôi chó, mèo để hạn chế rắn xuất hiện. Theo TS Nguyễn Quảng Trường, nọc độc của rắn lục không tác động lên hệ thần kinh, mà thường tác động lên hệ tuần hoàn, gây rối loạn đông máu, sưng nề hoặc hoại tử. Điều đáng ngại là một con rắn chết, thậm chí đầu rắn bị cắt rời vẫn có thể cắn và phóng nọc độc theo phản xạ cho đến 90 phút sau khi nó chết.
Khi bị rắn cắn, cần hạn chế vận động để tránh làm tăng nhanh quá trình tác động của nọc đến các phần khác của cơ thể, không nên rạch vết thương vì có thể làm mất máu cấp. Không nên ga-rô bằng dây cao su, vì dễ gây hoại tử do thiếu máu cung cấp đến phần cơ thể phía dưới ga-rô. Cũng không nên đắp các loại thuốc không rõ nguồn gốc, không rõ tác dụng vì có thể gây nhiễm trùng. Cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được điều trị. Nếu có thể, bắt con rắn cắn người đến bệnh viện để bác sĩ xác định đúng chủng loại huyết thanh cần sử dụng.
Ngày 1/12, tin từ khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện T.Ư Huế cho biết, kể từ tháng 10, cơ sở y tế này điều trị 16 bệnh nhân bị rắn cắn, trong đó 9 người bị rắn lục đuôi đỏ tấn công, chủ yếu ở thị xã Hương Thủy. Họ bị rắn cắn khi đang phát quang bụi rậm, chăm sóc vườn cây. Bệnh nhân N.V.Đ (trú phường Phú Bài, Hương Thủy) nói rằng, đây là lần đầu tiên ông thấy rắn lục đuôi đỏ tại địa bàn và cắn người. Trước đây, loài rắn cắn người thường là rắn lục toàn thân xanh. Bệnh viện T.Ư Huế cho biết, từ tháng 10 trở về trước khoảng 5 năm, cơ sở y tế này không điều trị ca nào do rắn lục đuôi đỏ cắn. Việc tiếp nhận nhiều ca bệnh như vậy trong gần 2 tháng qua là điều lạ thường.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, Việt Nam là một trong những nước có nhiều loại rắn độc cắn người có thể gây tử vong nếu không được cấp cứu đúng và kịp thời. Do đó, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh yêu cầu các đơn vị trực tiếp thực hiện hoặc chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc tập trung cấp cứu, hồi sức, điều trị cho người bệnh bị rắn độc cắn không để xảy ra tử vong.
Trường hợp cần tư vấn về cấp cứu, điều trị cho người bệnh nặng do rắn độc cắn có thể liên hệ với Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai) theo đường dây nóng của bệnh viện. Tổ chức tập huấn, đào tạo lại về việc sơ cứu, cấp cứu, hồi sức, chống độc, chăm sóc người bị rắn độc cắn cho bác sĩ, điều dưỡng theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế. Viện Vắc-xin và Sinh phẩm y tế Nha Trang đã sản xuất được huyết thanh kháng độc nọc rắn lục đuôi đỏ. (Tiền Phong 2/12; Sài Gòn Giải Phóng 2/12, tr6) đầu trang(
Sau một thời gian dài truy tìm, lực lượng chức năng của tỉnh Đồng Nai đã phát hiện và tiêu diệt con cá sấu nặng gần 20 kg, dài 1,2 m do người dân ở xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu nuôi nhưng bị sổng chuồng rồi lao ra hồ Trị An thuộc huyện Định Quán, Vĩnh Cửu (Đồng Nai).
Người dân sống ở lòng hồ tạm thời đã hết lo, song hiện nay, tại các xã xung quanh khu vực hồ Trị An có hàng trăm trang trại nuôi cá sấu đang tồn tại. Điều đáng nói là các hộ dân nuôi loài động vật ăn thịt hung dữ này lại xem nhẹ vấn đề đảm bảo an toàn, nguy cơ cá sấu sổng chuồng vì thế vẫn hiện hữu.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai cho biết: "Hồ thủy điện Trị An là hồ lớn nhất miền Nam với diện tích 323 km2, thuộc Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai. Chúng tôi kiến nghị các ngành chức năng không cho người dân nuôi động vật hoang dã trong khu vực khu bảo tồn, nếu cá sấu sổng chuồng sẽ gây nguy hiểm cho người dân và khách du lịch. Vấn đề nuôi cá sấu dù không thể cấm nhưng để đảm bảo an toàn thiết nghĩ, thời gian tới cơ qua chức năng cần có những quy định rõ ràng về hệ thống chuồng trại, quy trình nuôi an toàn".
Phong trào nuôi cá sấu xiêm diễn ra rầm rộ nhất ở huyện Định Quán. Thống kê của Chi Cục Kiểm lâm Đồng Nai cho thấy, trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 200 trang trại nuôi cá sấu, với trên 100.000 cá thể. Trong đó, riêng huyện Định Quán có khoảng 150 trang trại, với trên 80.000 cá sấu đang được nuôi nhốt.
Về xã Phú Ngọc (Định Quán) đâu đâu cũng gặp những tấm biển có nội dung mua bán cá sấu. Ở đây, nhà ít nuôi trên 50 con cá sấu, nhà nhiều nuôi hơn 1.000 con. Trại cá sấu nơi đây đa phần lợp mái lá, mái tôn, tường bao được xây bằng gạch với độ cao gần 1m, dày khoảng 5 cm, có gia đình cẩn thận hơn nên phía trên tường được rào thêm một phần lưới thép.
Trại cá sấu của ông Nguyễn Mạnh Nam (ấp 1, xã Phú Ngọc) được chia làm 2 khu, mỗi khu có diện tích hơn 100 m2. Khi chúng tôi tiếp cận khu vực ông Nam nuôi loại cá sấu lớn, vừa nghe tiếng động, hàng chục con cá với chiều dài trên 1,5 m đang nằm im lìm đồng loạt rầm rầm lao xuống nước.
Ông Nam trấn an: “Có tiếng động lớn là chúng quăng mình xuống nước, chứ chẳng bao giờ cá sấu lao được qua tường. Tôi nuôi cá sấu mấy năm nay, chúng chưa bao giờ cắn người, cũng chưa có con nào lọt ra ngoài”.
Nếu so về số lượng thì ấp 4 (xã Phú Ngọc) là nơi có đàn cá sấu nuôi lớn nhất ở Đồng Nai (trên 60.000 cá thể). Dân ấp 4 nằm sát bên sông La Ngà - đầu nguồn của hồ Trị An, song các trại cá sấu của người dân vẫn chỉ làm bằng tường gạch mỏng. Nhà bà Trần Thị Hạnh (cách con rạch nhỏ dẫn ra sông La Ngà hơn 5 m), hiện đang nuôi hơn 300 con cá sấu với đủ loại lớn nhỏ trong một khu đất rộng trên 500 m2, dù trên lớp tường bao bà Hạnh có giăng lưới thép nhưng bà vẫn không dám chắc cá sấu sẽ không thoát được ra ngoài.
Bà Hạnh cho biết, cá sấu có giá hơn 200.000 đồng/kg, mỗi con cá sấu vì thế thành tài sản lớn của người nuôi, nếu cá có sổng ra ngoài thì dân sẽ quyết tâm vây bắt. Hàng ngày bà vẫn kiểm soát chặt số lượng cá, quyết tâm không để cá sấu sổng chuồng.
Theo người dân, trước đây, cá sấu chỉ có giá khoảng 130.000 đồng/kg, năm 2014, giá cá tăng đột biến, đây là nguyên nhân chính khiến số lượng người nuôi tăng lên. Ở các xã Mã Đà, Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu), nơi có các hồ đập thông ra hồ Trị An và sông Đồng Nai, năm 2013 trở về trước chỉ có vài hộ nuôi cá sấu thì nay hàng chục trại cá sấu đã xuất hiện. Nếu cá sấu không may sổng chuồng thì chắc chắn sẽ ra các sông hồ, đe dọa cuộc sống của người dân, đặc biệt là trẻ em.
Theo UBND huyện Vĩnh Cửu, sở dĩ các hộ dân sống gần hồ Trị An thường nuôi cá sấu là do điều kiện tự nhiên ở đây ẩm ướt, phù hợp cho cá sấu phát triển. Trước việc cá sấu có thể sổng chuồng ra hồ, sông, UBND huyện đã yêu cầu cơ quan ban ngành và các địa phương đề ra biện pháp đảm bảo an toàn cho người dân sống ở khu vực lòng hồ, đặc biệt là trẻ em.
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai cho rằng, dù không còn trong tự nhiên song hiện cá sấu vẫn nằm trong danh mục động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng và theo công ước Cites thì cá sấu là động vật cấm buôn bán quốc tế. Do đó, thời gian qua, ngành kiểm lâm chỉ cấp phép, giám sát nuôi, vận chuyển trao đổi cá sấu; tiến hành kiểm tra chuồng trại, khuyến cáo người dân phải thực hiện vệ sinh môi trường, đảm bảo các biện pháp an toàn. (Tin Tức 2/12) đầu trang(
Hàng chục héc-ta rừng phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đã bị chặt trụi để trồng mới rừng sản xuất. Điều lạ lùng, hoạt động phá rừng diễn ra công khai hằng ngày nhưng chính quyền, ngành chức năng địa phương dường như lại không biết!?
Ngã tư Khe Cau trên đường Hồ Chí Minh cách Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn chừng 3km hướng Nam - Bắc. Từ đây, đi theo con đường phía tay trái khoảng 7km là bạt ngàn rừng phòng hộ nằm dọc bên bờ sông Bến Hải, thuộc xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh. Tuy nhiên, để vượt qua được 7km đường rừng ấy là chuyện không hề đơn giản.
Sau hơn 2 giờ đồng hồ đánh vật với con đường lầy lội, nhiều chỗ bị bánh xe tải khoét sâu ngang đầu gối, chỗ đèo dốc dựng ngược lên trời… cuối cùng cũng đến được khu rừng kể trên. Quanh chỗ PV đứng có ba màu sắc khác nhau về rừng: Rừng trồng (đa số cây keo lai) khoảng 3-4 năm tuổi có màu xanh nõn chuối; rừng tự nhiên xanh sậm; rừng vừa được trồng mới 1-2 tháng tuổi lớm chớm xanh giữa một vùng đất đai rộng lớn, chỗ trắng toát bợt bạt, chỗ đen nhẻm, vì số cây rừng tự nhiên trước đó bị chặt phá, đốt hủy nhưng chưa lấp hết được.
Người dẫn đường ngậm ngùi: “Đây nguyên là rừng phòng hộ rộng hàng chục héc-ta, nhưng tháng 9 và 10/2014, hàng chục người và phương tiện máy móc đã vào đây chặt trụi rừng. Số cây lớn họ vận chuyển đi bán, số cành, ngọn họ chất thành đống rồi đốt. Sau khi đã chặt hết rừng, số người này đã cho san ủi, đào đất và trồng mới rừng sản xuất, chủ yếu cây tràm đen và keo lai”.
PV lội bộ hơn 3 giờ đồng hồ mới cơ bản hết phần rừng bị chặt trắng. Ở đó vẫn còn rất nhiều gốc cây to chưa bị máy móc vùi lấp, chổng ngược lên trời. Rừng phòng hộ ở xã Vĩnh Hà đã bị chặt phá không thương tiếc, nhưng chính quyền, ngành chức năng địa phương vẫn dường như không hề hay biết(!?).
Trở lại việc phá rừng phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà, PV đã 2 lần đến Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh và hơn 10 lần gọi điện thoại liên hệ làm việc với ông Bùi Quang Linh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện này, nhưng ông Linh đều vắng mặt tại trụ sở và không nghe máy. Một lần khác tại trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh, PV được ông Nguyễn Hữu Tám, Phó Hạt trưởng báo lại: “Ông Linh đồng ý cho phóng viên bản báo cáo của đơn vị tháng 11/2014, chứ làm việc thì không có người”. Để làm rõ vụ việc phá rừng phòng hộ kể trên, PV đã có buổi làm việc trực tiếp với ông Trần Hữu Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh (phụ trách mảng Lâm nghiệp).
Ông Hùng cho biết, trên địa bàn xã Vĩnh Hà có xảy ra việc phá 25,7 héc-ta rừng phòng hộ. Tuy nhiên, UBND huyện đã chỉ đạo xử lý nghiêm sự việc. Theo đó, buộc những đối tượng phá rừng phải trồng lại cây bản địa để đảm bảo chức năng phòng hộ chứ không cho trồng rừng sản xuất. Tại buổi làm việc, ông Hùng cũng đã cho gọi cấp dưới của mình đến để tìm hiểu thông tin với phóng viên.
Tuy nhiên, khi PV cung cấp các hình ảnh, thì được biết rừng phòng hộ bị chặt trụi không nằm trong diện tích 25,7 héc-ta rừng kể trên. Ông Hùng đã cho kiểm tra và ngay trong buổi làm việc đã chỉ đạo các đơn vị liên quan phải sớm kiểm tra thông tin và xử lý nghiêm sự việc… (Công An Nhân Dân 29/11, tr2) đầu trang(
Sau đi thực tế hàng chục héc-ta rừng phòng hộ trên địa bàn xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã bị chặt trụi để... trồng rừng sản xuất, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào những cánh rừng phòng hộ trên địa bàn xã này. Thật xót xa, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ ở đây vẫn đang bị chặt phá rất nghiêm trọng.
Màu xanh sậm của những cánh rừng tự nhiên, nhìn từ khu vực rừng phòng hộ đã bị chặt trụi để trồng mới rừng sản xuất, chỉ là tấm áo khoác bên ngoài. Vào sâu bên trong những cánh rừng này mới thấy hết cảnh tượng chặt phá rừng bừa bãi thật xót xa. Hầu hết cây lớn bị đốn hạ sát gốc, rừng bị tàn phá khắp nơi và mở đường chằng chịt.
PV bắt đầu ghi hình từ chỗ rừng giáp ranh với khu vực rừng phòng hộ đã bị chặt trụi tới cách đó chừng 3km. Cứ bình quân 10m dọc con đường lớn, có một con đường nhỏ ở bên này; hoặc bên kia mở vào xuyên cả một khu rừng rộng lớn. Đi hết mỗi con đường ấy, bình quân phải mất một giờ đồng hồ.
Tại mỗi con đường, chỗ nào cũng có cây rừng bị đốn hạ, gỗ chất cao thành từng đống... PV đã đi thực tế 2 ngày liền, với 15 con đường, ghi nhận hàng trăm cây rừng phòng hộ bị đốn hạ, có nhiều cây nằm vào những vị trí hiểm trở, “lâm tặc” chưa kịp thu hoạch được, nhựa cây cứ như những giọt máu còn nguyên tươi, ứa ra ở những chỗ bị cắt ngang thân đổ gục xuống trông rất xót xa.
Theo tìm hiểu, chỉ có một con đường độc đạo để những chiếc xe tải vận chuyển gỗ rời khỏi khu vực vùng rừng phòng hộ xã Vĩnh Hà. Đó là con đường lớn xuyên suốt những cánh rừng phòng hộ đổ ra ngã tư Khe Cau và rẽ theo hai hướng Bắc, hoặc Nam trên đường Hồ Chí Minh.
Nếu xe chạy theo hướng Bắc, bắt buộc phải “lọt” qua Trạm Kiểm lâm Bến Quan (thuộc Hạt Kiểm lâm Vĩnh Linh). Ngược lại, bắt buộc phải “lọt” qua Trạm Kiểm lâm Cầu Treo (thuộc Hạt Kiểm lâm Gio Linh). Điều lạ lùng, trong các báo cáo của các đơn vị này với các cơ quan chức năng cấp trên liên quan, số vụ phát hiện, bắt giữ gỗ rừng bị khai thác, vận chuyển trái phép từ những khu vực rừng phòng hộ là rất hiếm (?!).
Ông Bùi Quang Linh, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh thừa nhận, tình trạng khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn huyện xảy ra phổ biến và tồn tại dai dẳng từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, ông Linh nêu quan điểm, nguyên nhân xảy ra nạn phá rừng kể trên là do công tác quản lý hành chính về mặt nhà nước tại địa phương còn nhiều hạn chế.
Cụ thể, rừng phòng hộ ở Vĩnh Hà hiện tại có rất nhiều chủ sở hữu, như: Công ty Cao su Quảng Trị, Lâm trường Bến Hải, Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải, Làng Thanh niên lập nghiệp huyện Vĩnh Linh…
Trong khi đó, đến nay chính quyền và cơ quan chức năng địa phương vẫn chưa phân định và cắm được cột mốc ranh giới về các loại rừng và chủ rừng(?). Do đó, rất khó biết được vùng rừng nào bị chặt phá, xâm hại để quy trách nhiệm xử lý. (Công An Nhân Dân 1/12) đầu trang(
Theo Báo cáo của Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, từ đầu năm đến nay, qua tuần tra, kiểm soát, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 107 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu hơn 16m3 gỗ tròn, hơn 86m3 gỗ xẻ hộp (trong đó có hơn 3m3 gỗ thuộc nhóm quý hiếm), hơn 5,8 tấn trắc dây, 300kg củi.
Phương tiện tịch thu gồm: 57 chiếc xe gắn máy, 7 chiếc máy cưa xăng, 1 chiếc ghe. Qua xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật, phương tiện vi phạm, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 710 triệu đồng.
Được biết thời gian qua, trên địa bàn thị xã Ninh Hòa xảy ra một số điểm nóng về khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép như: khai thác trắc dây, khai thác gỗ ở khu vực Ea Krông Rou... nhưng đã được lực lượng chức năng xử lý dứt điểm. (Báo Khánh Hòa 30/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng chức năng của tỉnh đã phát hiện, xử lý 316 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm, trong số 316 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng bị phát hiện, có11 vụ phá rừng trái phép; 23 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác; 186 vụ vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 72 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác; 14 vụ vi phạm quy định về phòng, chống cháy rừng; 10 vụ vi phạm quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã.
Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật, phương tiện bị tịch thu trên 2,4 tỷ đồng. Được biết, các đơn vị, địa bàn phát hiện nhiều vụ việc nhất là Đội Kiểm lâm cơ động, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hạt Kiểm lâm Văn Bàn, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Hạt Kiểm Lâm Sa Pa và Hạt Kiểm lâm Bắc Hà.
Cũng trong 11 tháng năm 2014, toàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy rừng làm thiệt hại 40,645 ha rừng các loại. Trong số các vụ cháy xảy ra, cơ quan chức năng mới truy tìm được 2 vụ có đương sự.
Để hạn chế tối đa các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong các tháng cuối năm, ngành kiểm lâm tỉnh tiếp tục phối hợp cùng các cấp, các ngành sẽ đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra ngăn chặn, đấu tranh với các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ rừng tự nhiên trái phép, kiên quyết không để xảy ra các điểm nóng về phá rừng. (Báo Lào Cai 1/12) đầu trang(
Tại nhà văn hóa xã Phúc Sơn, Ban chỉ đạo kế hoạch quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR huyện Chiêm Hóa đã tổ chức hội nghị kiểm điểm công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015 cụm các xã Phúc Sơn, Minh Quang.
Dự hội nghị có các lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện, lãnh đạo Công an huyện, BCH quân sự huyện, các cơ quan thành viên BCĐ của huyện; lãnh đạo Đảng ủy, UBND, UBMTTQ, các đoàn thể, thành viên Ban phát triển rừng các xã Phúc Sơn, Minh Quang và Hạt Kiểm Lâm Na Hang, Lâm Bình.
Cụm 2 xã Phúc Sơn, Minh Quang thuộc địa bàn Trạm Kiểm lâm Phúc Sơn phụ trách với sống 34 thôn bản trên 3.158 hộ gia đình, tổng diện tích tự nhiên là trên 13.258ha. Trong đó: diện tích đất lâm nghiệp trên 10.500ha; đất rừng tự nhiên trên 8.700ha; đất rừng trồng trên 1.000ha. Đây là địa bàn có có tổng diện tích đất rừng lớn, chiếm 79% tổng diện tích tự nhiên, đặc biệt rừng chủ yếu là trên núi đá vôi có nhiều loại lâm sản quý hiếm.
Thực hiện công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, thời gian qua, mặc dù với lực lượng kiểm lâm viên ít, nhưng khắc phục khó khăn  Trạm Kiểm lâm Phúc Sơn đã phối hợp cùng với các xã thuộc địa bàn phụ trách làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chích sách về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Tổ chức tuyên truyền được 28 buổi với trên 4.300 lượt người nghe, trên 3.000 lượt hộ gia đình của 34 thôn bản ký cam kết bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. Các xã đã tổ chức kiện toàn ban chỉ huy các vấn đề cấp bách về bảo vệ, PCCCR, các tổ cơ động, tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở thôn bản.
Kết quả trong năm trên địa bàn các xã Phúc Sơn, Minh Quang đã không để xảy ra cháy rừng; công tác phát triển rừng tiếp tục được chú trọng, trong năm đã vận động nhân dân trồng mới được 111,3ha, đạt 100% kế hoạch. Đồng thời làm tốt công tác kiểm tra, cấp phép có các tổ chức, hộ gia đình khai thác rừng trồng với khối lượng trên 2.500m3  gỗ.
Công tác tuần tra kiểm soát việc khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản và các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn. Qua kiểm tra đã  phát hiện và xử lý 80 vụ vi phạm về quy địn khai thác gỗ; vận chuyển, cất giữ lâm sản trái pháp luật. Đã thu giữ được 39m3 gỗ các loại; thu giữ 13 xe mô tô, 21 cưa xăng; 3 ô tô, phạt tiền nộp ngân sách nhà nước trên 160 triệu đồng. Bên cạnh đó, tổ công tác liên ngành cũng thường xuyên kiểm tra, truy quét đối với các hoạt động khai thác, cất giữ, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép tại các thôn trọng điểm như Bản Biến, thôn Tầng; đường 279...
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế, về nhiệm vụ phương hướng trong thời gian tới, trạm kiểm lâm Phúc Sơn sẽ tiếp tục phối hợp tốt với các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; làm tốt công tác vận động nhân dân thực hiện trồng rừng; tăng cường các biện pháp ngăn chặn các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, lấn chiếm sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích….
Hội nghị cũng đã đề ra một số giải pháp cụ thể, trong đó các xã, thị trấn cần tập trung cần làm tốt công tác chỉ đạo thực hiện quản lý và bảo vệ rừng, PCCCR tại cơ sở; thường xuyên tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra, ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật, tổ chức ký cam kết, vận động nhân dân thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR; triển khai các văn bản của nhà nước, của tỉnh, của huyện về công quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR đến từng thôn bản; phối hợp làm tốt công tác cảnh báo, dự báo cháy rừng trong mùa hnh khô; Duy trì và tổ chức hoạt động có hiệu quả Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, PCCCR, các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, PCCCR ở thôn bản. (Chiemhoa.gov.vn 28/11) đầu trang(
Dù phải ăn dầm nằm dề quanh năm trong rừng ngập mặn Long Thành, làm bạn với cây bần, mắm, đước... nhưng thu nhập của họ chỉ bằng lương tháng công nhân. Nếu không yêu rừng, chắc chắn họ không thể trụ nổi trong rừng ngập mặn lâu đến thế.​
Rừng ngập mặn Long Thành có diện tích gần 5 ngàn hécta, trải dài dọc 4 xã thuộc 2 huyện Long Thành và Nhơn Trạch. Để bảo vệ khu rừng ngập mặn xanh tươi quanh năm, hơn 20 nhân viên bảo vệ của Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành đã chấp nhận sống trong rừng.
Theo lời ông Hồ Đình Sơn, Trưởng phòng Bảo vệ rừng thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành, trong chiến tranh chống Mỹ, rừng ngập mặn Long Thành là căn cứ đóng quân của ta, và địch nhiều lần điều lực lượng đến càn quét tàn phá khu rừng dữ dội.
Vì thế, rừng ngập mặn Long Thành đã trở thành vùng đất hoang tàn, bần, đước, mắm, chà là chỉ còn trơ lại gốc và rễ. Sau ngày đất nước thống nhất, rừng ngập mặn Long Thành mới được tỉnh khôi phục dần, do vậy cây cối trong khu rừng ngập mặn hầu hết có độ tuổi chỉ từ 36-38 năm.
Rừng ngập mặn Long Thành có 1 đội bảo vệ chỉ huy 7 trạm bảo vệ, gồm: Rạch Tràm, Bàn Phước, Rừng Giống, Tây Cò, Rạch Gốc, Long Thọ và Tắc Không. Mỗi trạm có từ 2-4 cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ giữ rừng. Để đến được Trạm Rạch Tràm, trạm cửa ngõ trước khi vào rừng ngập mặn, phải đến bến sông Lòng Tranh thuộc xã Long Thọ (huyện Nhơn Trạch).
Chiếc xuồng máy qua một khúc sông Long Tranh rồi len lỏi vào những con rạch nhỏ, đang là mùa mưa nên bần, đước, mắm được tắm gội sạch sẽ, các cành lá vươn lên một màu xanh mơn mởn đến mát mắt. Đặc biệt nhất là những bộ rễ cây trong rừng ngập mặn đều mọc chồi lên trên mặt nước từ 0,5-1m đan vào nhau như một tấm lưới màu nâu sẫm làm cho khu rừng thêm vẻ huyền bí.
Sau gần 20 phút đi xuồng, đến Trạm Rạch Tràm, ở đây có 3 cán bộ, nhân viên trực. Trạm được thiết kế theo kiểu nhà sàn nằm cheo leo ven sông, gối đầu vào rừng. Chừng như đoán được sự tò mò, thắc mắc trong ánh mắt, ông Trường Văn Lơn, Đội phó của 3 trạm: Rạch Tràm, Bàn Phước, Rừng Giống phân bua: “Các trạm bảo vệ trong rừng ngập mặn đều xây theo kiểu nhà sàn để tránh ngập vào mùa nước dâng. Hàng năm từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch, nước trên sông Lòng Tranh theo thủy triều dâng cao ngập qua gốc đước, mắm, bần từ 1-2m có khi tràn cả vào nhà”.
Tuy chỉ có 3 người đàn ông sống cùng nhau trong căn nhà nơi rừng rậm nhưng mọi đồ dùng đều được sắp đặt khá ngăn nắp. Trong căn bếp nhỏ đơn sơ, ngoài hũ muối, đường, bột ngọt có thêm nồi thịt heo kho sẵn, vài bó rau có lẽ mua từ hôm trước nên đã héo bắt đầu ngả sang màu vàng.
Ông Lơn ngượng nghịu thanh minh, từ đây vào bờ xa nên cứ 2-3 ngày, anh em trong trạm mới thay phiên nhau vào bờ mua nước ngọt, rau, thức ăn một lần. Nước ngọt hiếm phải mua từng can nên mọi sinh hoạt, tắm giặt đều phải tiết kiệm từng lít nước. Công việc của anh em trong trạm ngày mưa cũng như ngày nắng đều phải đi tuần trong rừng 1-2 lần/ngày.
Vừa rót nước trà mời, ông Lơn vừa kể: “Gia đình tôi ở ngay xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, nhưng mỗi tuần chỉ về được 1 ngày. Thi thoảng ghé qua nhà, thấy cảnh vợ một mình làm lụng nuôi 2 đứa con mà mình chẳng giúp được bao nhiêu cả về vật chất lẫn tinh thần, thấy cũng xót xa, day dứt. Hai con của tôi lớn học lớp 11, nhỏ học lớp 8 đều rất ngoan, biết kính trọng cha mẹ”.
Ông Trần Văn Tròn, Đội trưởng Đội bảo vệ rừng, kể: “ Tôi gắn bó với rừng ngập mặn Long Thành gần 24 năm. Quanh năm tôi ở trong rừng, mỗi tháng tranh thủ ghé qua nhà được 3-4 lần nên mãi năm 40 tuổi mới tìm được người phụ nữ thông cảm chịu lấy mình. Có vợ rồi tôi vẫn phải biền biệt trong rừng, mọi việc từ lo toan kinh tế đến dạy bảo con cái và đưa đón con đi học đều một tay vợ tôi quán xuyến. Có lần bất chợt ghé về nhà, nhìn thấy cảnh vợ tay bồng đứa nhỏ, tay dạy con lớn học, tôi thấy nao lòng. Vậy mà cô ấy chưa khi nào mở lời trách cứ, còn động viên tôi làm tốt công việc”.
Lương cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng có thâm niên lâu năm cũng chỉ 4-4,5 triệu đồng/tháng, trừ chi phí ăn uống đi lại người nào tiết kiệm cũng chỉ giúp được vợ con khoảng 2 triệu đồng/tháng.
Vừa nhâm nhi ly trà, ông Tròn kết thúc câu chuyện về gia đình bằng nhận xét đầy tự hào: “Cũng nhờ có hậu phương vững chắc nên chúng tôi mới yên tâm giữ rừng, trước đây trạm chỉ là căn nhà gỗ ọp ẹp hơn 10m2 cứ mỗi lần mưa mọi đồ đạc trong nhà đều ướt nhẹp. Vì thế, không ít nhân viên trẻ xin vào làm chưa đầy 1 tuần đã bỏ việc vì không chịu được buồn và thiếu thốn. Hiểu hoàn cảnh khó khăn của anh em bảo vệ rừng nên năm 2012, tỉnh hỗ trợ kinh phí xây dựng các trạm bảo vệ rừng nên anh em mới có nơi ở, làm việc khang trang như vậy”.
Bình quân mỗi cán bộ nhân viên của các trạm bảo vệ rừng ngập mặn Long Thành phải quản lý trên 200 hécta rừng ngập mặn. Mỗi ngày phải ngồi trên xuồng máy nhỏ đi vào các con rạch nhỏ tuần tra 1-2 lần, nguy hiểm rình rập cũng không ít.
Anh Đàm Văn Đắc ở Trạm Rừng Giống, người có thâm niên gắn bó với rừng ngập mặn 13 năm, kể: “Cũng có hôm đang đi tuần sâu trong rừng thì trời đổ mưa lớn kèm dông gió giật mạnh khiến xuồng không trở về trạm được, phải trú tạm gốc bần lớn để tránh. Có bữa tránh tới tối chưa về được, muỗi rừng con nào con nấy vừa lớn lại đói lâu ngày lao vào đốt, về đến trạm thì mình mẩy nổi từng cục u đỏ ửng ngứa cả đêm không ngủ được”.
Theo lời anh Đắc, biết là làm nhân viên bảo vệ rừng lương thấp, điều kiện làm việc lại vất vả nguy hiểm nhưng nhiều anh em lớn tuổi ở đây vẫn quyết tâm bám nghề. Bởi ngoài lòng yêu nghề thì họ còn mong muốn góp chút sức giữ rừng cho tương lai những thế hệ mai sau.
Anh Lê Sỹ Tuấn, Đội phó các trạm bảo vệ rừng, tâm sự: “Năm 21 tuổi tôi về làm ở Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành và được phân công vào đội bảo vệ ở trong rừng đến nay là tròn 10 năm. Thú thật lúc đầu mới vào ở trong rừng tôi rất buồn, vì sống tại các trạm bảo vệ rừng có đến 4 cái không, là: không điện, không tivi, không quạt, không điện thoại. Cứ vào khoảng nhá nhem tối là muỗi rừng bay lao xao”.
Thế nhưng có một điều lạ là dù bị lũ muỗi rừng đốt thường xuyên nhưng hầu như tại các trạm không có ai bị bệnh sốt rét, anh em tại các trạm khi gặp nhau thường đùa, muỗi ở rừng ngập mặn bị nước mặn khử trùng nên không ai bị bệnh sốt xuất huyết, hoặc sốt rét do muỗi đốt. Gần 2 năm nay, các trạm được hỗ trợ mua máy năng lượng mặt trời nên buổi tối đã có điện, tivi để xem, nhưng những ngày mưa nhiều, không nắng thì tivi, bóng điện đành xếp lại để dùng dèn dầu.
Ông Nguyễn Văn Thông, Phó trưởng phòng Bảo vệ rừng Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành, cho hay: “Tuy chỉ có hơn 20 cán bộ, nhân viên ở trong rừng làm công tác bảo vệ, nhưng gần 5 ngàn hécta rừng ngập mặn được giữ gìn rất tốt. Các trường hợp xâm phạm rừng để chặt cây đều được phát hiện ngăn chặn sớm nên nhiều năm nay không xảy ra trường hợp vi phạm nghiêm trọng”.
Chia tay với các cán bộ, nhân viên tại các trạm bảo vệ rừng, thầm thán phục họ, bởi phải có lòng say mê rừng ngập mặn, chịu được gian khó, họ mới trụ nổi tại nơi này qua nhiều năm. (Dongnai.gov.vn 1/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhân kỷ niệm 55 Ngày truyền thống ngành Lâm nghiệp (28/11/1959-28/11/2014), Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ năm nay có khả năng đạt 6,2 tỷ USD, gấp hơn 2 lần so 5 năm trước (năm 2009 đạt 2,8 tỷ USD), độ che phủ rừng đạt 41%.
Đồ gỗ Việt Nam được xuất đi hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo ông Tuấn, những năm gần đây, GDP ngành Lâm nghiệp liên tục tăng: Năm 2011 đạt 3,4%, năm 2012 đạt 4,6%, năm 2013 đạt 5,9% và năm 2014 có khả năng vượt 6%. Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản phát triển mạnh; thu nhập, đời sống của người dân sống dựa vào rừng từng bước nâng lên... (Tiền Phong 2/12) đầu trang(
Việt Nam và EU đang tiến hành đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT). Hiệp định này dự kiến sẽ được ký kết và triển khai thực hiện vào cuối năm 2015.
Tháng 11 vừa qua, Việt Nam và EU đã tiến hành phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4 về VPA/FLEGT, dự kiến hiệp định này được ký kết trong năm tới. Khi Hiệp định VPA/FLEGT có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ áp dụng hệ thống hợp pháp của gỗ khi xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường EU.
Một cơ quan giám sát độc lập sẽ được hai bên nhất trí làm nhiệm vụ giám sát hệ thống này và cấp phép FLEGT sau khi hiệp định ký kết. Gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam được cấp phép FLEGT sẽ không phải tiến hành trách nhiệm giải trình khai báo nguồn gốc gỗ theo Quy chế gỗ của EU đã có hiệu lực từ năm 2013. VPA/FLEGT yêu cầu nước xuất khẩu gỗ phải đảm bảo về nguồn gốc của gỗ nguyên liệu.
Nếu trước đây các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ có thể nhập gỗ nguyên liệu từ nhiều nguồn, kể cả nguồn gỗ bất hợp pháp để sản xuất, thì khi VPA/FLEGT được triển khai, DN phải “chia tay” với nguồn gỗ bất hợp pháp. Theo Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, điều này sẽ làm thay đổi thói quen sản xuất - kinh doanh gỗ của DN và làng nghề gỗ của Việt Nam trong thời gian tới.
Ông Nguyễn Hữu Trí, Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (Dowooha), cho biết các DN chế biến gỗ xuất khẩu trong tỉnh nhiều năm nay đã ý thức việc sử dụng nguồn nguyên liệu có nguồn gốc để sản xuất hàng, đặc biệt từ khi các thị trường EU, Mỹ siết chặt việc kiểm tra nguồn gốc gỗ thông qua các đạo luật FLEGT của EU hay Lacey của Mỹ.
Theo ông Lê Khắc Khang, trợ lý Tổng giám đốc Công ty chế biến gỗ F.J Wood  (huyện Trảng Bom), EU là thị trường lớn nhưng rất khó tính, DN muốn xuất được hàng sang đây phải tuân thủ những quy định mà họ đưa ra. “Người dân châu Âu có ý thức rất cao trong việc sử dụng các sản phẩm ít gây tác động đến môi trường. Chính vì vậy, họ đưa ra những quy định rất khắt khe” - anh Khang nói.
Ông Lê Hồng Phát, Giám đốc Công ty cổ phần chế biến gỗ Hoàng Nhật Phát (huyện Long Thành), DN chuyên làm hàng  xuất khẩu sang EU và Mỹ, so sánh: “Sản xuất hàng cho thị trường Mỹ vẫn dễ chịu hơn so với thị trường EU. Đối với thị trường EU, họ không chỉ quan tâm đến nguồn gốc gỗ mà còn những phụ liệu đi kèm và môi trường lao động của DN. Châu Âu là thị trường khó nhất”. Để không mất thời gian cho việc truy nguyên nguồn gốc gỗ, nhiều năm nay ông Phát đã nhập khẩu gỗ nguyên liệu ngay từ Mỹ và một số nước châu Âu để sản xuất, mặc dù giá nguyên liệu ở các nước này khá cao.
Các DN chế biến gỗ xuất khẩu chủ động trong việc sử dụng gỗ nguyên liệu hợp pháp sẽ là cơ hội tốt khi Việt Nam ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản. Khi đó, sản phẩm  gỗ Việt Nam tự do hơn ở thị trường EU.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, đến nay đã có 6 nước ký VPA với EU là: Indonesia, Ghana, Cameroon, Liberia, Cộng hòa Congo và Cộng hòa Trung Phi. Các quốc gia này đang xây dựng các hệ thống nhằm kiểm tra, xác minh và cấp phép gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp.
9 quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, Lào, Thái Lan và Malaysia đang tiến hành đàm phán với EU. Ngoài ra, còn có hơn 10 quốc gia khác ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ cũng đang tìm hiểu để tham gia hiệp định này. (Báo Đồng Nai 1/12) đầu trang(
Toàn tỉnh có hơn 626.812 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên 388.188 ha, rừng trồng 169.619 ha, còn lại 69.457 ha đất chưa có rừng với trữ lượng hơn 16,64 triệu m3 gỗ.
Tỉnh xác định phát triển kinh tế rừng là chiến lược lâu dài. Vì vậy, kinh tế lâm nghiệp đang phát triển theo hướng xã hội hóa với nhiều thành phần tham gia và chuyển từ khai thác là chủ yếu sang trồng mới, chăm sóc, bảo vệ gắn với chế biến sâu.
Hiện nay, mạng lưới chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh đã hình thành, với 75 công ty, doanh nghiệp, 16 HTX và 1.580 hộ kinh doanh. Trong đó, có nhiều công ty, nhà máy chế biến lâm sản lớn, như: Công ty TNHH Thành Nam (xã Bãi Trành, huyện Như Xuân), công suất 10.000m3/năm; Công ty TNHH INOVEGREEN, công suất 200.000 tấn dăm/năm; Nhà máy Chế biến gỗ Thanh Kỳ (Như Thanh), công suất 70.000 tấn gỗ dăm/năm.
Với mạng lưới cơ sở, nhà máy chế biến trên, năm 2013 các cơ sở đã chế biến, tiêu thụ hơn 12.500 m3 gỗ, 20.209m2 ván nhân tạo, 153.000m3 dăm mảnh, 5.210m3 đồ gỗ xuất khẩu, 15.000 tấn bột giấy và khoảng 11 triệu cây luồng, 35.000 tấn nan thanh. Đầu ra cho sản phẩm gỗ rừng ổn định đã tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân ở nhiều huyện miền núi.
Đến thăm rừng keo đang khai thác của hộ anh Nguyễn Thanh Minh, ở thôn 3, xã Xuân Du (Như Thanh), anh cho biết: Gia đình anh đang khai thác 2 ha keo với giá bán 940.000 đồng/tấn, xe của nhà máy vào tận chân rừng bốc gỗ, anh chỉ việc theo xe đến trạm cân và nhận tiền.
Thực hiện các chương trình trồng rừng 661, 147 và WB3, đến nay huyện Như Thanh đã có khoảng 14.000 ha, năng suất, chất lượng rừng trồng tương đối khá, chu kỳ 5 năm đạt từ 65 đến 75 m3/ha. Thu nhập 1 ha rừng trồng của người dân từ 35 - 45 triệu đồng/chu kỳ 5 năm. Trước đây, người dân trong huyện luôn lo lắng về đầu ra của sản phẩm rừng trồng, nhưng nay đã được giải quyết, ngoài Nhà máy Chế biến gỗ Thanh Kỳ, Nhà máy Giấy Lam Sơn, còn có các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh đã tạo tính cạnh tranh trong thu mua sản phẩm theo hướng có lợi cho nhân dân trồng rừng.
Trái với các sản phẩm gỗ rừng trồng có đầu ra ổn định, thì cây luồng lại đang có sự lãng phí lớn, khai thác không đi kèm với khâu chế biến sâu. Toàn tỉnh có hơn 71.000 ha, phân bố ở các huyện Lang Chánh, Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Thường Xuân... với trữ lượng khoảng hơn 102,5 triệu cây.
Đây là nguồn nguyên liệu lớn phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Song thực tế hiện nay,  ở các địa phương miền núi đang thiếu những nhà máy chế biến xuất khẩu luồng lớn, dẫn đến sản phẩm chủ yếu được xuất bán thô nguyên cây, hoặc dưới dạng nan thanh, cọc. Huyện Lang Chánh là địa phương có rừng luồng lớn, với 11.537,23 ha, mỗi năm cho khai thác khoảng 1 triệu cây.
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện mới chỉ có 3 cơ sở chế biến các sản phẩm từ luồng, như: tăm, đũa,  vàng mã... Với quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu nên các doanh nghiệp không đủ sức khai thác, chế biến sâu các sản phẩm luồng xuất khẩu. Trong khi đó, công tác phục tráng, đầu tư thâm canh lại ít được chính quyền, bà con quan tâm.
Để các sản phẩm lâm sản, đặc biệt là cây luồng trở thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, các huyện miền núi cần lập quy hoạch, “trải thảm đỏ” với nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi để kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, xây dựng nhà máy, gắn sản xuất với chế biến. Chỉ có như vậy, các mặt hàng lâm sản mới có cơ hội vươn ra các thị trường lớn trong và ngoài nước, góp phần giảm nghèo cho người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở các huyện miền núi. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong năm 2014, công tác trồng mới rừng tập trung đạt 13.285ha (vượt 15,9% kế hoạch và tăng 4,8% so cùng kỳ); trồng trên 344.000 cây phân tán các loại.
Bên cạnh đó, công tác sản xuất cây giống và kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng bảo đảm chất lượng tốt, đã gieo tạo được 29 triệu cây giống (chủ yếu là keo) và một số loại cây khác; công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng được tăng cường, trong 40.038ha rừng trồng được chăm sóc có 2.550ha rừng phòng hộ và 37.488ha rừng sản xuất. (Báo Quảng Ninh 29/11) đầu trang(
Vào những năm mới tái lập tỉnh, ở Quảng Ngãi chỉ có 119.605ha rừng (trong đó có 95.600ha rừng tự nhiên và 24.005ha rừng trồng), độ che phủ rừng chỉ đạt 19%. Để phát triển rừng, tỉnh đã huy động các nguồn lực đầu tư cho lâm nghiệp.
Trong đó, nguồn vốn của ngân sách nhà nước đã đầu tư để thực hiện trồng rừng, bảo vệ rừng từ năm 1999 đến nay trên 268 tỷ đồng. Tỉnh còn thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển rừng, trong đó có vốn từ dự án nước ngoài huy động được trên 712 tỷ đồng.
Nhiều chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn trong nước và nước ngoài đã triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao. Điển hình như Chương trình 327 (phủ xanh đất trống, đồi núi trọc), Chương trình 661 (trồng mới 5 triệu ha rừng), Dự án PAM 4304 (vốn nước ngoài tài trợ để trồng rừng ven biển) và các dự án trồng rừng do nước ngoài tài trợ như dự án WB3 (vay vốn của Ngân hàng thế giới), dự án KFW6 (Ngân hàng tái thiết Đức viện trợ), dự án trồng rừng phòng hộ JBIC, dự án PACSA, dự án JICA.
Ngoài ra, còn có một số tổ chức, cá nhân khác tham gia trồng rừng sản xuất. Nhờ vậy, đến năm 2013 diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh đã lên đến 275.930ha, tăng 156.325ha so với năm 1989. Trong đó rừng tự nhiên có 109.878ha và rừng trồng 140.281ha. Độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 48,25%, tăng 29,25% so với ngày mới tái lập tỉnh.
Các diện tích rừng phòng hộ được trồng theo đúng quy hoạch. Nhiều loại cây bản địa như dầu rái, sao đen, lim xanh, lim xẹt, chò chỉ, phi lao… được đưa vào trồng rừng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của từng vùng. Chất lượng rừng phòng hộ ngày càng nâng cao, phát huy được chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường hệ sinh thái, góp phần phòng chống thiên tai do sa bồi thủy phá, bảo vệ đa dạng sinh học, cung cấp nguồn nước và nước sinh hoạt cho khu vực hạ nguồn.
Nhờ áp dụng khoa học công nghệ đưa các giống mới và công nghệ cấy hom vào sản xuất cây trồng rừng nên diện tích rừng sản xuất phát triển mạnh trong các năm gần đây. Chủ yếu là trồng các loại cây keo lai hom, keo tai tượng, bời lời, xà cừ… Năng suất trung bình đạt 80-120m3/ha, góp phần tăng thu nhập cho người trồng rừng và tăng chức năng phòng hộ của rừng.
Hằng năm tỉnh cũng đã bố trí xây dựng một số vườn ươm cố định và di động cho các Ban quản lý rừng phòng hộ để gieo tạo cây giống phục vụ cho trồng rừng, chăm sóc rừng trồng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người dân vùng dự án. Trong tỉnh cũng đã có một đơn vị đầu tư xây dựng cơ sở nhân giống chất lượng cao bằng công nghệ nuôi cấy mô sản xuất có hiệu quả.
Hiện nay gỗ rừng trồng được khai thác từ nhiều nguồn như các lâm trường, HTX nông nghiệp, các tổ chức và cá nhân đã và đang phát triển nhanh. Giai đoạn trước 1995, loại gỗ khai thác chủ yếu là bạch đàn, phi lao. Sau 1995, do nhu cầu chế biến nguyên liệu giấy tăng lên nên các loại gỗ khai thác phần lớn là keo và bạch đàn, còn gỗ phi lao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Đến nay, diện tích khai thác gỗ hằng năm từ 7.000-8.000ha, với sản lượng đạt khoảng 5.000-6.000m3, chủ yếu là keo lai và keo tai tượng.
Trước đây, số lượng các đơn vị khai thác, thu mua, chế biến, xuất khẩu lâm sản ở Quảng Ngãi không nhiều, chỉ có một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên lĩnh vực này. Hiện nay đã có 450 cơ sở khai thác, chế biến, kinh doanh lâm sản được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngoài ra còn có 21 doanh nghiệp có nhà máy sản xuất dăm gỗ thô, thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc. Hằng năm trên địa bàn tỉnh còn chế biến tiêu thụ khoảng 200 tấn song mây, 1.300 tấn đót và 200 tấn vỏ quế khô…
Tuy đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nhưng nhìn chung ngành lâm nghiệp Quảng Ngãi cũng còn gặp nhiều khó khăn. Đó là cơ sở hạ tầng kém phát triển, chi phí đầu tư cao, công nghệ còn lạc hậu…
Để công tác phát triển lâm nghiệp phát huy được tiềm năng, lợi thế của địa phương, trong thời gian đến cần tập trung xây dựng và thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo hướng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo tính bền vững, bảo vệ tốt môi trường sinh thái...
Có như vậy mới nâng tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 50% vào năm 2015 và năm 2020 đạt 52%. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh cùng với sự phối hợp của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội chung tay góp sức, tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp trồng rừng. (Báo Quảng Ngãi 30/11) đầu trang(
Thời gian qua, Báo Quảng Trị đã nhận được đơn thư của ông Võ Hoành (52 tuổi) và anh Đoàn Kim Lịch (39 tuổi) trú tại thôn Trấm, xã Triệu Thượng (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) phản ánh về việc trồng rừng nhưng không được khai thác. PV đã tiến hành tìm hiểu nội dung vụ việc...
Hơn 16 năm trước, 2 hộ dân Đoàn Kim Lịch và Võ Hoành ở thôn Trấm, xã Triệu Thượng đã bỏ tiền của, công sức của mình ra khai hoang vùng đồi xung quanh khu vực khe Nà Lượt để trồng rừng, thế nhưng đến nay việc khai thác rừng trồng buộc phải dừng lại. Phía các cơ quan chức năng liên quan cho rằng hơn 10 ha rừng khai hoang với trữ lượng gỗ tràm hàng trăm mét khối trên đều thuộc rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh của dự án 661...
Đó là lời khẳng định của ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch, người đứng tên trong đơn thư phản ánh. “Chúng tôi là người ở thôn Trâm Lý, xã Hải Quy (huyện Hải Lăng) lên Trấm làm kinh tế mới từ những năm 1987. Ngày đó tôi và gia đình anh Lịch đã bắt đầu khai hoang để trồng sắn, cây ăn quả, cây công nghiệp. Sau khi thấy không hiệu quả nên năm 1994 chúng tôi chuyển sang trồng rừng và một ít cây cà phê thử nghiệm. Hiện tại trên diện tích ấy còn có gốc tích cây cà phê chứng minh rằng đó là đất do chúng tôi tự khai hoang.
Thế nhưng không hiểu tại sao các cơ quan chức năng cho rằng đó là đất thuộc dự án khoanh nuôi tái sinh rừng giai đoạn 2000-2005. Người dân ai cũng biết rằng dự án đó được triển khai sau khi chúng tôi khai hoang đã gần chục năm. Nếu gian dối chúng tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật”, ông Võ Hoành khẳng định.
Lý giải vì sao chỉ còn một số gốc cà phê không hiệu quả nhưng ông vẫn giữ lại thì ông Hoành cho rằng muốn giữ lại để làm bằng chứng sau này nếu ai đó khiếu kiện, tranh chấp với mình.
Ông Hoành cho biết thêm: “Vào khoảng đầu năm 1998, khi phao tràn đập Trấm nâng lên khiến đất màu bị ngập, không thể sản xuất nông nghiệp được nữa nên ông Võ Duy (Thôn trưởng, kiêm nhóm trưởng kinh tế mới thôn Trấm) và ông Đoàn Kim Chánh (Bí thư chi bộ) bấy giờ đã vận động giãn dân vào khu đồi để khai hoang lấy thêm đất lập nghiệp. Thời điểm đó, chúng tôi chỉ viết đơn xin khai hoang tại khu vực khe Nà Lượt rồi tiến hành lập trang trại chăn nuôi, trồng rừng chứ không hề lấn chiếm rừng hay vi phạm điều gì. Từ những ngày đầu khai hoang, chúng tôi tiếp tục trồng tràm cho đến nay”.
Sau khi bắt tay vào khai hoang, do sức người có hạn nên 2 hộ này chỉ tiến hành trồng rừng theo từng giai đoạn. Ban đầu là trồng tràm xung quanh khu vực bìa diện tích đã khai thác để đánh dấu sở hữu rồi mới trồng dần dần đến khi hoàn tất trên diện tích đã được khai hoang.
Từ năm 2005 đến 2010, ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch đã có 4 lần khai thác rừng tràm. Sau khi khai thác xong, họ bắt đầu trồng tràm mới trên diện tích vừa khai thác. Theo ông Hoành và anh Lịch thì vào năm 2005, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành đo đạc và khẳng định diện tích rừng của ông Hoành là 6,1 ha và anh Đoàn Kim Lịch là 6,5 ha.
Cuối năm 2013, cơn bão số 10 và 11 đã làm gãy đổ một số diện tích rừng tràm nên tháng 1/2014, 2 hộ dân đã làm đơn xin khai thác. Sau đó, tại công văn số 113/SNN-LN (ngày 8/2/2014) của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị cho phép người trồng rừng khai thác 103 ha rừng do dân tự bỏ vốn ra trồng.
Và hiển nhiên trong danh sách đó có tên hộ ông Võ Hoành và gia đình anh Đoàn Kim Lịch. Thế nhưng khi 2 hộ dân này tiến hành làm đơn, nộp thuế để khai thác thì Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Thạch Hãn không đồng ý với lý do rừng tràm này thuộc diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh (dự án 661) do nhà nước đầu tư.
Nhớ lại những tháng ngày khai hoang nhọc nhằn nhưng đến bây giờ bị cấm khai thác, anh Đoàn Kim Lịch cho biết: “Ngày đó vì mưu sinh nên chúng tôi chẳng ngại khó nhọc, hiểm nguy. Sau chiến tranh, vùng đồi này đầy rẫy đạn bom, nếu sơ suất hết sức nguy hiểm đến tính mạng. Vừa thuê người rà phá bom mìn, vừa khai hoang mà lòng thấp thỏm không yên. Bây giờ các cơ quan chức năng cho rằng diện tích ấy nằm trong bản đồ rừng tái sinh nên tôi rất bức xúc”.
Trong biên bản làm việc xác minh nội dung kiến nghị của 2 hộ dân Đoàn Kim Lịch và Võ Hoành (vào ngày 31/8/2014), ông Tạ Quang Lịch, Chánh Thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng: Qua kiểm tra hồ sơ của Ban quản lý Dự án 661 trên địa bàn huyện Triệu Phong thì diện tích rừng của ông Đoàn Kim Lịch và ông Võ Hoành đã trồng lấn chiếm lên diện tích đã được thiết kế khoanh nuôi xúc tiến tái sinh là 5,3 ha (trong đó ông Đoàn Kim Lịch 3,8 ha; ông Võ Hoành 1,5 ha).
Vào ngày 15/9/2014, Sở Nông nghiệp và PTNT có công văn số 1201/SNN-LN gửi các cấp, ngành liên quan khẳng định rằng: Toàn bộ diện tích rừng trồng liên quan đến nội dung đơn phản ánh của 2 hộ dân Võ Hoành và Đoàn Kim Lịch hiện được xác định nằm trong vùng quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn.
Nếu như chiếu theo ý kiến của ông Tạ Quang Lịch thì 2 hộ dân vẫn còn hơn 5,3 ha đất rừng không nằm trong đất dự án 661 thế nhưng công văn của Sở NN- PTNT lại cho rằng toàn bộ số đất khai hoang của ông Võ Hoành và Đoàn Kim Lịch đều nằm trong khu vực rừng khoanh nuôi?
Theo tìm hiểu thì dự án 661 tiến hành trồng mới 5 triệu héc ta rừng trên địa bàn huyện Triệu Phong bắt đầu từ năm 2000 đến 2005 tại các lô A1, A2, A4, tiểu khu 831. Trong khi đó diện tích rừng tràm và đất khai hoang của ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch đã có từ năm 1998.
“Căn cứ vào các loại giấy tờ liên quan đến dự án 661 thì đất chúng tôi khai hoang trước khi dự án thành lập. Trong thời gian 12 năm ròng, chúng tôi khai hoang và trồng trọt không thấy cơ quan chức năng nào đến cản trở hay khuyến cáo chúng tôi vi phạm điều gì đâu. Thậm chí năm 2005, Sở Tài nguyên và Môi trường còn tiến hành đo đạc và khẳng định diện tích rừng ông Võ Hoành là 6,1 ha, còn ông Đoàn Kim Lịch là 6,5 ha (sau này biên bản làm việc ngày 10/6/2014 cho là chỉ 10,6 ha). Bây giờ các cơ quan chức năng cho rằng đất rừng chúng tôi lấn chiếm rừng dự án thì chẳng khác nào chúng tôi như bị mất trắng đất khai hoang”, ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch nói trong bức xúc.
Đem thắc mắc của 2 hộ dân, chúng tôi trao đổi với ông Trần Xuân Dưỡng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Thạch Hãn thì được ông cho biết: “Chúng tôi chỉ làm đúng chức trách nhiệm vụ được giao chứ không hề làm khó nhân dân. Theo công văn số 1201/SNN-LN, ngày 15/9/2014, chúng tôi căn cứ vào mục 4 để làm tròn trách nhiệm của mình. Còn nếu cho khai thác hay không cho khai thác chúng tôi không có thẩm quyền”.
Được biết, Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Thạch Hãn được thành lập từ ngày 12/12/2006, tức là sau giai đoạn có rừng tái sinh và sau đó được Ban quản lý dự án 661 (Tây Triệu Phong) bàn giao lại. Căn cứ trên các giấy tờ, sổ sách bàn giao lại, ông Dưỡng một mực khẳng định đó là diện tích rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh do nhà nước đầu tư. Và khi 2 hộ dân nêu trên xin cấp phép khai thác thì ông Dưỡng không đồng ý. “Họ không những không đồng ý mà còn cắm biển cấm khai thác trên đất mà chúng tôi khai hoang. Sự việc đó khiến chúng tôi rất bất bình”, anh Lịch cho biết.
Ông Trần Xuân Dưỡng cho chúng tôi biết, theo hợp đồng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung số 25/HĐKT (ngày 28/8/2000), giữa Ban Quản lý dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Tây Triệu Phong với nhóm hộ tại thôn Trấm do ông Võ Duy làm nhóm trưởng thì diện tích rừng nói trên cũng được thể hiện rõ trong hợp đồng giao khoán và đã được thanh toán đầy đủ chi phí đầu tư hàng năm.
Vì thế, việc ông Võ Hoành và ông Đoàn Kim Lịch đề nghị khai thác diện tích rừng nói trên là không phù hợp và không có cơ sở để xem xét, giải quyết. Tuy nhiên cả ông Hoành và anh Lịch đều phủ nhận thông tin trên.
“Việc ông Võ Duy có nhận hợp đồng giao khoán và chi phí thanh toán hàng năm hay không chúng tôi không quan tâm vì chúng tôi không hề tham gia hay có bất cứ mối liên quan nào vào việc hợp đồng trồng rừng đó. Phía các cơ quan chức năng cho rằng việc khiếu kiện của chúng tôi là không phù hợp và không có cơ sở xem xét, giải quyết thì quá vô lý”, ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch khẳng định.
Một câu hỏi được đặt ra là vì sao từ khi khai hoang đến năm 2010 (1998- 2010), ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch đã có 4 lần khai thác rừng tràm trên đất mình khai hoang (các cơ quan chức năng cho là rừng dự án) nhưng không thấy cơ quan chức năng nào có biện pháp ngăn cản, xử phạt.
“Nếu rừng mà chúng tôi khai hoang thuộc rừng khoanh nuôi dự án thì họ đã xử phạt chúng tôi từ lâu rồi. Hơn 10 năm nay khai thác không sao, đến đầu năm 2014 làm đơn xin khai thác thì bị cấm. Chúng tôi rất bức xúc trước cách xử lý thiếu thuyết phục đó”, ông Hoành cho biết.
Sau đó công văn 113/ SNN-LN (ngày 8/2/2014) của Sở Nông nghiệp và PTNT cho phép khai thác 103 ha rừng do dân tự bỏ vốn ra trồng, và hiển nhiên trong danh sách đó có tên hộ ông Võ Hoành và gia đình anh Đoàn Kim Lịch.
Trả lời câu hỏi vì sao Sở Nông nghiệp và PTNT cho phép khai thác 103 ha rừng do dân tự bỏ vốn ra trồng và có tên của 2 hộ này nhưng họ không được cấp phép khai thác thì ông Dưỡng giải thích: “Khi cán bộ đi thực tế thì thấy đó là diện tích rừng do dân tự trồng nhưng sau về kiểm tra lại thì diện tích rừng của hộ Đoàn Kim Lịch và hộ Võ Hoành nằm trong diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh nên đương nhiên là không được phép khai thác”.
Bị cấm khai thác nên gần 10 ha tràm đang vào kỳ thu hoạch do chính tay 2 hộ dân này trồng phải đành gác lại. Ông Võ Hoành và anh Đoàn Kim Lịch nhìn nhau mà lòng nghẹn đắng: “Bao nhiêu năm đầu tư tiền của để khai hoang và trồng rừng bây giờ lại không được khai thác khiến chúng tôi mất gần 400 triệu đồng”.
Từ tìm hiểu trên thực tế, cũng như trên cơ sở kết luận của Sở Nông nghiệp và PTNT, cho rằng, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, nắm bắt tình hình để có biện pháp, hướng giải quyết thỏa đáng cho người dân... (Báo Quảng Trị 1/12) đầu trang(
Hiện nay, huyện Sơn Dương đang tích cực chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm 2015, với mục tiêu hoàn thành trồng mới gần 2.260 ha rừng.
Năm 2015, huyện Sơn Dương có kế hoạch trồng 2.255 ha rừng, trong đó trồng rừng sản xuất tập trung 2.200 ha, bao gồm trồng rừng quốc doanh và hộ gia đình, trồng cây phân tán 55 ha. Dự kiến nhu cầu cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 2015 là trên 4.117.000 cây keo hạt.
Hiện nay, Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Sơn Dương và các Ban Quản lý dự án trồng rừng cơ sở đã chủ động tổ chức sản xuất, tiến hành gieo ươm cây giống, đảm bảo chất lượng phục vụ kế hoạch trồng rừng. UBND huyện đã giao cho Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Sơn Dương khai thác 100 ha, sản lượng gỗ 8.000m3, giao cho các xã, thị trấn khai thác 1.700 ha rừng trồng hộ gia đình với khối lượng gỗ 144.000 m3 và giải phóng diện tích đất phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 2015.
Hiện các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sơn Dương đã củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo về bảo vệ và phát triển rừng, phối hợp rà soát đất trồng rừng, rừng trồng đến tuổi khai thác, triển khai đăng ký trồng rừng mới và khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân thực hiện hình thức liên kết sản xuất.
Để đảm bảo kế hoạch trồng rừng năm 2015, Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Dương, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Tân Trào đã tiến hành rà soát diện tích đất có khả năng đưa vào trồng rừng năm 2015 ở 33 xã, thị trấn trên địa bàn. Các xã vận động nhân dân thực hiện dỡ bỏ cây sắn trồng trên đất lâm nghiệp để đảm bảo quỹ đất trồng rừng trong năm 2015. (Đài PTTH Tuyên Quang 1/12) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2013 và 2014, công tác thiết kế rừng trồng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Năm 2015, Ban Quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng các huyện, thị xã, Vườn Quốc gia Ba Bể, công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đang đẩy nhanh khâu thiết kế trồng rừng, chuẩn bị tốt cho công tác gieo ươm, xử lý thực bì trồng rừng.
Để triển khai tốt các bước trong công tác trồng rừng năm 2015, đặc biệt là tiến độ trồng quế vụ xuân. Chi cục Lâm nghiệp chỉ đạo các Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng các địa phương  tiến hành chỉ thầu với các đơn vị chuyên tư vấn, thiết kế trồng rừng là: Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Bắc Kạn, Xí nghiệp giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh, Doanh Nghiệp Kiên Cường đảm nhận công tác khảo sát  thiết kế để người dân chủ động trong công tác xử lý thực bì cho kịp thời vụ trồng rừng.
Để đảm bảo việc thiết kế đúng lô, đúng đối tượng, đúng diện tích, Ban quản lý dự án đã  thành lập các tổ phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế đến từng thôn, bản để thiết kế trồng rừng. Đến nay, toàn tỉnh đã thiết kế trồng rừng đạt trên 40% diện tích.
Trong vụ trồng rừng năm 2015, để hoàn thành kế hoạch trồng mới hơn 7.000 ha rừng, bên cạnh việc chủ động phối hợp với các đơn vị chuyên tư vấn, thiết kế trồng rừng, bà con các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ xử lý thực bì, cuốc hố trồng rừng để kịp thời vụ trồng quế vụ xuân và tránh thiết kế xong bỏ không thực hiện, gây lãng phí. (Báo Bắc Kạn 1/12) đầu trang(
Hội Cựu chiến binh xã Bình Dương (Thăng Bình) vừa ra quân trồng rừng phòng hộ ven biển. Hơn 150 hội viên tham gia trồng được 20.000 cây keo lá tràm, phủ xanh diện tích 10ha rừng phòng hộ ven biển thuộc dự án rừng Pacsa, ở thôn 4, xã Bình Dương.
Được biết, khu rừng này trồng keo lá tràm từ năm 2005, nhưng do bão số 11 năm 2013, đã thiệt hại 70% diện tích. UBND huyện Thăng Bình phát động nhân dân tiếp tục trồng mới trên diện tích bị hư hại nhằm hạn chế sự xâm thực của biển, bảo vệ dân cư sống ven biển và chống cát bay. (Báo Quảng Nam 1/12) đầu trang(
Đến nay, giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của huyện tăng bình quân 6,3%/năm, cao hơn chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đề ra là 5-6%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 6,7%/năm, lâm nghiệp tăng 8,9%/năm...
Để đạt được kết quả đó, trong thời gian qua huyện đã tập trung chỉ đạo và ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp để phát triển nông - lâm nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị sản phẩm.
Cùng với đó, huyện tập trung tuyên truyền vận động người dân ở từng xã phát triển một số lĩnh vực có lợi thế, từ đó xác định các sản phẩm chủ lực, tránh đầu tư dàn trải. Các lĩnh vực được chú trọng, khuyến khích phát triển là chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ gia cầm tập trung; quy hoạch vùng sản xuất các loại cây, con có giá trị (chim trĩ, chim công, hoa lan hồ điệp, mía tím, táo, ổi Đài Loan, thanh long ruột đỏ, ngô nếp lai MX10…).
Cùng với cán bộ Phòng NN&PTNT huyện, đến thăm một trong những trang trại gà cho thu nhập khoảng 1 tỷ đồng/năm của anh Phan Lương Khuyên (thôn Lưỡng Kỳ, xã Thống Nhất). Với trên 40ha đất đồi rừng, gia đình anh Khuyên dành một phần nhỏ trồng nhãn lồng và nuôi gà, còn phần lớn là trồng rừng.
Khai thác lợi thế đất lâm nghiệp, trong những năm qua huyện đẩy mạnh trồng rừng tập trung, cây phân tán và khai thác rừng đúng độ tuổi để nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế; phát triển kinh tế rừng trên cơ sở bảo vệ tốt rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
Hàng năm, diện tích khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng của Hoành Bồ đạt 19.000ha; trồng mới từ 1.800-2.000ha rừng tập trung, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 63% (cao nhất tỉnh); sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 50.000m3/năm.
Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với việc thực hiện các mục tiêu của chương trình xây dựng NTM, huyện coi trọng hỗ trợ sản xuất cho người dân và doanh nghiệp. Tiêu biểu như hỗ trợ doanh nghiệp Thịnh Phát với dự án sản xuất nấm; HTX Tín Phát sản xuất hoa; 2 dự án thuộc chương trình OCOP là mật ong xã Thống Nhất và rượu Bâu xã Bằng Cả; xây dựng cơ sở vật chất cho việc thực hiện ứng dụng công nghệ tiên tiến để phát triển vùng trồng hoa chất lượng cao… Hàng năm, ngân sách huyện dành hàng tỷ đồng hỗ trợ sản xuất.
Kết quả của quá trình tập trung đầu tư phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp trong thời gian qua đã từng bước nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn: Năm 2010 đạt trên 11 triệu đồng/người/năm, đến năm 2014 là gần 17 triệu đồng/người. (Báo Quảng Ninh 1/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tại Syria, nhiều cây xanh đã bị chặt để người dân Syria dùng làm củi đốt để chống chọi với mùa đông khắc nghiệt.
Cuộc nội chiến kéo dài tại Syria đã khiến khoảng 200.000 người thiệt mạng và gần 10 triệu người trở thành vô gia cư. Với những người này, cuộc sống tạm bợ càng thêm phần khó khăn khi mùa đông tràn về và họ phải đối mặt với tình cảnh thiếu nhiên liệu sưởi ấm.
Tại đất nước này, chính phủ đã tiến hành thắt chặt chi tiêu cho các sản phẩm tiêu dùng, bao gồm cả điện và khí đốt. Người dân Syria không còn lựa chọn nào khác ngoài đốn cây.
Anh Mohammad Zu’bi, người dân Syria cho biết: “Bây giờ không có ga cũng không có điện. Trong khi đó, con người cần phải giữ ấm. Chúng tôi đành phải đốn cây”.
Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường cho rằng, nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, Syria sẽ phải đối mặt với nạn phá rừng khó có thể cứu vãn. Nhưng trước mắt, với những người dân Syria, đây là lựa chọn duy nhất họ có khi mùa đông khắc nghiệt đang đến gần. (VTV 1/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng