|
Ngày 01 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
28/11, tại Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Hà Nội) đã diễn ra buổi gặp mặt kỷ niệm 55 năm Ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959-28/11/2014), tổng kết cuộc thi viết “Rừng là cuộc sống của tôi” và phát động cuộc thi ảnh “Rừng và con người”.
Tham dự có ông Hà Công Tuấn - Thứ trưởng Bộ NN-PTNT kiêm Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, ông Nguyễn Mạnh Thường - Tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam và đông đảo cán bộ, công nhân viên ngành lâm nghiệp. Hiện tại độ che phủ của rừng đã đạt 41%, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản trên 6,2 tỉ USD, đời sống của hàng triệu người dân vùng cao đã thực sự vững mạnh.
Nhờ có lực lượng giữ rừng mà tình trạng vi phạm các quy định pháp luật giảm dần về số vụ và giảm 80% diện tích rừng vị phá trái pháp luật trong 5 năm qua… Cuộc thi “Rừng là cuộc sống của tôi” do Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Báo Nông nghiệp Việt Nam tổ chức đã khép lại sau gần 5 tháng với gần 200 bài viết gửi đến từ các vùng miền....
Kết quả không có giải nhất, 3 giải nhì, 4 giải ba, 6 giải khuyến khích.
Giải nhì gồm các tác phẩm: “Rừng khuya không yên tĩnh” của Nguyễn Văn Cường - Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam; “Vào rừng gỡ đú, tìm bẫy và Hành trình giải cứu voọc chà vá chân xám” của Phùng Mỹ Trung, Cục Hải quan Đồng Nai; “Nổi nênh Giỏ Cùng và Những điều không dám nói” của Dương Đình Tường, tòa soạn Báo Nông nghiệp Việt Nam.
Giải ba gồm các tác phẩm: “Bà Loan rừng” của Du An, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Điện Biên, “Người giữ rừng nơi biên giới Bình Phước” của Kiều Thị Ánh, Trung tâm Giáo dục Môi trường và Dịch vụ Môi trường rừng Vườn quốc gia Bù Gia Mập, “Rừng Thiêng” của Trần Văn Việt, Ban Kinh tế Trung ương, “Cất súng săn trên gác bếp và Phố trong rừng” của Thái Sinh, PV Báo Nông nghiệp Việt Nam thường trú tại Yên Bái.
Giải khuyến khích gồm các tác phẩm: “Chuyện của tôi - chiến sĩ kiểm lâm” của Nguyễn Đức Quế - Đội KLCĐ và PCCR, Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên; “Rừng ơi” của Trương Thanh Liêm, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP Cần Thơ; “Rừng trong tôi” của Hồ Thị Hằng Nga, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum; “Yêu anh người lính rừng” của Ngô Thị Thảo Nguyên, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; “Rừng, tình yêu, cuộc sống của tôi” của Vũ Văn Tuân, Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Tây Bắc, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam; Cụm tác phẩm của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên....
Tổng cục Lâm nghiệp cũng đã chính thức phát động cuộc thi ảnh “Rừng và cuộc sống”. Cuộc thi tập trung phản ánh vẻ đẹp phong phú và đa dạng của các hệ sinh thái rừng Việt Nam gắn với nỗ lực bảo vệ và phát triển rừng, giảm mất rừng, suy thoái rừng và tái cơ cấu rừng theo hướng bền vững.
Thông qua đó, cuộc thi hướng đến mục tiêu: Tăng cường nhận thức của toàn xã hội về vai trò và giá trị của rừng đối với cuộc sống con người nhằm khơi gợi tình yêu đối với rừng và trân trọng những giá trị của rừng cũng như những con người làm nghề rừng; Kêu gọi sự ủng hộ và hỗ trợ của toàn xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, những chương trình kế hoạch mà ngành đang triển khai. Ảnh dự thi là ảnh màu hoặc đen trắng, ảnh đơn chiếc hoặc ảnh bộ với thông tin thời gian chụp, địa điểm chụp, họ và tên tác giả, số chứng minh thư nhân dân, giới tính, dân tộc, số điện thoại hoặc địa chỉ email đi kèm.
Có tổng cộng 21 giải thưởng sẽ được trao gồm 1 giải nhất (10 triệu đồng), 2 giải nhì (7 triệu đồng), 3 giải ba (5 triệu đồng), 15 giải khuyến khích (500.000 đồng). Ảnh dự thi xin gửi về: Văn phòng Tổng cục Lâm nghiệp, số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội hoặc Ban quản lý Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn 2, P041, nhà P, số 14 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội. Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào cuối tháng 5 năm 2015.... (Nông Nghiệp Việt Nam 1/12) đầu trang(
Sáng 30/11, “thiếu tá rơi súng” Võ Ngọc Quang - Đội trưởng Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm Hình sự, Công an huyện Cư Kuin, Đắk Lắk - người vừa nhận quyết định tạm đình chỉ công tác để làm rõ một số sai phạm liên quan - có cuộc đối thoại với báo chí.
Thiếu tá Quang nói: “Với tư cách cá nhân, tôi khẳng định 100% không khai thác chế biến lâm sản trái phép, vì Cư Kuin không có rừng... Tôi là Đội trưởng nên cũng không điên mà đòi hối lộ hay chạy án làm gì!.
Tôi là đội trưởng, là Bí thư chi bộ cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Cư Kuin. Sau khi có vụ bắt gỗ do Công an và Kiểm lâm tỉnh thực hiện, dư luận xấu tung ra là mấy lãnh đạo công an huyện như ông Quang, Phu, Bường (phó và trưởng Công an huyện) bị bắt hết, và nhiều tin xấu khác liên quan cá nhân tôi.
Mẹ tôi là thương binh, 70 tuổi rồi, sống một mình, bị bệnh cao huyết áp, nghe liền lên cơn hoảng loạn, phải đưa đi cấp cứu. Tâm lý tôi cũng thế. Tôi mười mấy ngày không ăn không ngủ, suy nhược thần kinh luôn.
Một vị lãnh đạo huyện trao đổi với tôi, biết là nhà chú không có gỗ, nhưng Lợi tố cáo quá, ép quá, gửi đơn tỉnh đề nghị khám xét khẩn cấp nhà tôi.
Tôi sẵn sàng đồng ý nhưng đưa ra phương án chỉ chọn những người có uy tín đi vào từng người, muốn kiểm tra thì kiểm tra, cho quay phim toàn bộ nhà cũng được; chứ tôi là sĩ quan công an, trực tiếp điều tra trấn áp tội phạm, mà cả đoàn kéo vào, kích động các đối tượng tội phạm ghi âm ghi hình tung lên mạng, coi công an huyện Cư Kuin không ra gì thì sao?
Giống trường hợp tung video clip ông Quang gỗ lậu vừa rồi lên mạng đó, mà có phải gỗ ông Quang đâu?
Tôi đề nghị phải thông qua Đảng ủy công an. Người ta không làm mà nhè lúc tôi đang làm vụ trộm cắp lại gọi tôi về, đưa mười mấy, hai mươi người công bố quyết định, tôi hoảng loạn chứ…”.
Thiếu tá Quang phủ nhận liên quan các tin nhắn đe dọa trả thù mà những số máy lạ đã nhắn vào điện thoại ông Trần Minh Lợi - người ghi âm, ghi hình làm chứng cứ kèm đơn thư tố cáo sai phạm của 7 cán bộ công an, kiểm sát, trong đó thiếu tá Quang bị tạm đình chỉ công tác .
Theo thiếu tá Quang, ông Lợi là người lắm chiêu trò, “ranh ma và hiểu biết luật pháp”.
Như thông tin đã đưa trước đó, nhận được đơn tố cáo của ông Trần Minh Lợi (ngụ xã Ea B'hốk, huyện Cư Kuin) về việc trong nhà ông Quang có cất giấu 10 m3 gỗ hương (nhóm IIA) và nhà của ông Phạm Thanh Tùng (bố vợ ông Quang) có cất giấu 13 hộp gỗ pơmu (nhóm IIA) tất cả đều không có nguồn gốc hợp pháp, Hạt kiểm lâm huyện Krông Ana (quản lý cả địa bàn huyện Cư Kuin) đã đề nghị cơ quan chức năng phối hợp kiểm tra.
Ngày 7/11, Chủ tịch UBND huyện Cư Kuin đã ra 2 quyết định khám xét nơi cất giấu tang vật vi phạm hành chính tại nơi cư trú của ông Quang và ông Tùng.
Trong cuộc họp ngày 13/11, tổ kiểm tra liên ngành huyện Cư Kuin, Hạt Kiểm lâm huyện Krông Ana đã mời ông Quang tham dự để thông báo về việc sẽ khám xét.
Tại cuộc họp, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Quang đề nghị tổ công tác cử từng thành viên vào nhà khám xét chứ không vào cả tổ.
Theo báo cáo của tổ kiểm tra: "Ông Quang tỏ thái độ hung hăng, không tôn trọng, phanh ngực áo (sắc phục cảnh sát), hăm dọa các thành viên trong tổ. Ông Quang liên tục có thái độ, cử chỉ, lời nói, hành vi côn đồ thách thức các thành viên tổ. Ông Quang nói “Trong nhà tôi có 200 lít xăng nếu cần thiết tôi sẽ cho đốt cả nhà".
“Ngay sau đó, ông Quang rút súng ngắn ra đòi bắn các thành viên trong tổ ngay tại phòng họp và chĩa súng lên trần nhà đòi bắn, gây cảnh hỗn loạn ngay tại UBND huyện Cư Kuin"- báo cáo của tổ kiểm tra liên ngành nêu rõ. (Đất Việt 1/12) đầu trang(
Với mục đích triệt hạ rừng thông để chiếm đất canh tác, người dân các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng đang tìm mọi cách từ đẽo vỏ cây, đốt lửa, khoan lỗ đổ thuốc sâu, cưa 2/3 cây rồi nhờ gió xô đổ… để mong "xóa sổ” những cánh rừng thông có tuổi đời từ 20 đến 30 năm không thương tiếc.
Sự việc chỉ được các cơ quan chức năng phát hiện khi các cây thông bị rủ lá, héo khô và chết dần một cách bất thường.
Theo ông Đỗ Ngọc Trai, Hạt Trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đăk G’Long (tỉnh Đắk Nông), sau khi phát hiện hàng trăm cây thông cảnh quan tại lô 6, tiểu khu 1658 dọc Tỉnh lộ 4, thuộc địa phận xã Quảng Sơn, (huyện Đắk G’long) do Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Quảng Sơn quản chết một cách bất thường, đơn vị đã lập, chuyển hồ sơ cho công an huyện đề nghị điều tra làm rõ vụ hủy hoại rừng xảy ra tại địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long, khi phát hiện sự việc, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra, thống kê và ghi nhận tại thực địa có 400 cây thông có độ tuổi từ 25 đến 30 năm đã bị vạc vỏ, khoét vào thân cây và bị đổ hóa chất vào, khiến cây chết từ từ (trong đó có có 25 cây đã bị đốn hạ, cưa gốc).
Các cây thông có chiều cao từ 20 đến 25m, với đường kính 25 cm đến 30cm. Bên cạnh đó, tại tiểu khu 1646, thuộc xã Quảng Sơn, lực lượng chức năng cũng phát hiện có hơn 100 cây thông đã bị đầu độc với thủ đoạn tương tự. Tại một số vị trí khác phần đất cây thông bị đốn hạ đã được người dân san ủi mặt bằng chuẩn bị dựng nhà ở và lều lán trại...
Mới đây tại các tiểu khu 148A, 148B, thuộc địa bàn P.7, TP.Đà Lạt nơi giáp ranh với xã Lát, huyện Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng), cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra thực địa, xác định có 20 cây thông gần 30 năm tuổi, cao 20m, đường kính gốc 60cm, bị chết bất thường, qua kiểm tra phát hiện ở mỗi gốc thông bị chết đều có ít nhất 1 mũi khoan vào thân cây, sâu từ 5-10cm.
Trước đó, Hạt Kiểm lâm TP. Đà Lạt cho biết: Sau khi phát hiện tại tiểu khu 151, phường 12, TP.Đà Lạt có hàng chục cây thông chết bất thường, đơn vị đã kiểm tra và ghi nhận có 39 cây thông đường kính từ 11cm đến 30cm, chiều cao vút ngọn trung bình khoảng 8m chết là do bị chặt, bị khoan lỗ để bơm hóa chất.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương, từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn huyện đã phát hiện 75 vụ phá rừng, trong đó có 19 vụ ken cây thông, đổ hóa chất làm cây chết. Cũng trên địa bàn H. Lạc Dương, tại tiểu khu 91, thuộc Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà có gần 100 cây thông từ 25 - 30 năm tuổi đang chết dần do bị ken và "tiêm” thuốc độc với mục đích lấn chiếm đất rừng.
Còn tại tỉnh Đắk Lắk, rừng thông phòng hộ dọc QL 14 (đoạn qua thị xã Buôn Hồ, các huyện Krông Buk, Ea H’leo) có diện tích 2.047 ha do Liên hiệp Nông - Lâm - Công nghiệp Ea Súp trồng từ năm 1986 trở về trước.
Trong quy hoạch của tỉnh Đắk Lắk, đó là rừng phòng hộ cho lưu vực Ea Súp ở phía tây và lưu vực sông Ba ở phía đông, đồng thời là "lá phổi xanh” che bóng mát, tạo cảnh quan đẹp và có tác dụng phòng hộ chống sạt lở, sụt lún, xuống cấp của QL 14. Năm 1997, rừng được giao cho Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ QL 14 chăm sóc và bảo vệ.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, với nhiều thủ đoạn tinh vi như dùng dao chặt đứt 1 đoạn vỏ cây dưới gốc, đẽo thân cây cho nhựa chảy ra rồi dùng lửa đốt hoặc liều lĩnh hơn nữa là lợi dụng lúc vắng người dùng cưa lốc đốn hạ hàng loạt… đã khiến cho diện tích rừng liên tục giảm.
Theo phản ánh của các cơ quan chức năng thì kẻ xấu thường lợi dụng vào ban đêm để ken, khoan lỗ và đổ thuốc độc vào thân cây thông và những cây thông bị kẻ xấu hại sau một thời gian ngấm thuốc mới chết, nên các cơ quan chức năng rất khó khăn trong việc phát hiện và xử lý những người vi phạm.
Bên cạnh đó, diện tích rừng thông được các đơn vị quản lý rộng, lực lượng mỏng. Một phần diện tích rừng thông nằm gần khu vực rẫy vườn của người dân nhiều người dân thường lợi dụng trong lúc đi làm rẫy, khi không thấy lực lượng chức năng thì ra tay "triệt hạ” rừng thông để lấn đất.
Trước việc kẻ xấu luôn tìm mọi cách "bức tử” diện tích rừng thông, lực lượng chức năng các địa phương đã có nhiều giải pháp để ngăn chặn nhưng xem ra vẫn chưa đủ sức răn đe những kẻ xấu. (Đại Đoàn Kết 29/11, tr7) đầu trang(
Như đã biết, từ nguồn tin của phóng viên (PV), qua quá trình trinh sát kết hợp với Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), báo cáo thẳng tới Cục Cảnh sát môi trường (C49, Bộ Công an), cuối tháng 11.2014, các nhà kho, xưởng chế tác rùa biển khổng lồ và cực kỳ tàn độc ở Nha Trang (Khánh Hòa) đã bị triệt phá. Ít nhất hàng nghìn cá thể rùa biển quý hiếm được bảo vệ đặc biệt trên toàn thế giới đã được ngành chức năng thu giữ.
Câu hỏi đặt ra là: Liệu việc bắt giữ “mắt xích” này có là bàn đạp, đủ để chúng ta chặt đứt đường dây săn bắt, buôn bán, giết thịt, chế tác, bán rùa biển ra nước ngoài đã hoạt động hàng chục năm trên nhiều tỉnh thành kia không? Ai là “ông trùm” đích thực của những “nấm mồ rùa biển” lớn nhất Việt Nam này?
Theo điều tra của PV, có nhiều cơ sở để khẳng định: Hoàng Tuấn Hải, người “nhận tội bước đầu” hiện nay chỉ là nhân vật đóng thế cho ông trùm Hoàng Mạnh C mà loạt bài gần đây đã đề cập đến. Nếu cơ quan chức năng không vào cuộc minh bạch, quyết liệt như cần phải có thì nguy cơ “đánh rắn chưa đánh dập đầu” lại tái phát, và ông trùm C lại “hồi tỉnh” giống như hắn đã từng “tái xuất giang hồ” sau vụ bị thu giữ gần 849 cá thể rùa biển (mà báo chí, truyền hình từng đưa tin) từ năm 2009.
Clip mà PV đang lưu giữ cho thấy, đối tượng Hoàng Tuấn Hải đã đi mượn búa, trực tiếp cầm búa đinh phá vỡ khóa kho đông lạnh (trên đường Nguyễn Tất Thành, TP.Nha Trang) mà y tự nhận là “ông chủ”. Cơ quan hữu trách thì khẳng định, tội ác của đường dây này gây ra cho rùa biển quý hiếm của Việt Nam và thế giới (nhiều rùa bọn chúng bắt được có chiều dài đường kính mai lên đến 80cm, có gắn chip nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới)…, thì nhất định phải khởi tố hình sự, vì rùa biển là loài được bảo vệ đặc biệt, cấm mọi hình thức nuôi, nhốt, săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán.
Ông Trần Trọng Bình - Phó Cục trưởng Cục C49, khẳng định đây là đường dây chuyên săn bắt, chế tác, tiêu thụ rùa biển có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đơn vị đang xem xét để khởi tố vụ án hình sự. Hải đã nhận tội có mua bán chế tác các “xác” rùa biển, đồi mồi để bán cho khách du lịch, cho người ta làm đồ mỹ nghệ chơi bời. Hải còn “rắn giả dây thừng” cho rằng, anh ta không hiểu biết nên cứ nghĩ mua rùa biển đã chết thì không bị tội, ai ngờ bị “làm to” thế này, lấy đâu tiền ra nộp phạt.
Với công phu điều tra từ đầu rồi gửi tài liệu gồm hình ảnh, ghi âm, tư liệu điền dã cho cảnh sát môi trường, PV xin khẳng định: Lời khai kể trên của Hải là hoàn toàn man trá. Không một ai có quyền ngây thơ hoặc giả vờ ngây thơ để tin vào “ông trùm” giả nai như thế được. Các tài liệu đã đăng báo đều khẳng định, ít nhất hơn 1.000 hoặc 4-5 nghìn cá thể rùa biển đã bị bắt giữ.
Đây chỉ là một lát cắt lúc cơ quan chức năng ập vào mà thôi, còn gần 10 năm qua đường dây này liên tục hoạt động, thử hỏi bao nhiêu vạn con rùa biển đã bị xẻ thịt? Bắt đầu từ năm 2011, ENV đã đi điều tra từ ngư dân, các đầu nậu buôn rùa biển ở nhiều tỉnh miền Trung, đặc biệt là khu vực cảng Sa Kỳ, rồi huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Tất cả các đầu mối thu mua rùa từ ngư dân, rồi cả các đầu nậu lớn “bao tiêu” rùa từ các đội tàu được họ “đầu tư tài chính” đều cho biết: Họ cung cấp hàng cho ông trùm C tại Nha Trang. Có một văn bản mà C49 yêu cầu ENV gửi để chính thức “tố cáo” đã được ban hành ngay khi PV và cán bộ điều tra của ENV đang “nằm vùng” cùng trinh sát C49 ở trước các kho xưởng của C tại Nha Trang. Văn bản ấy được cập nhật, với chữ ký của lãnh đạo ENV và dấu triện đàng hoàng đều cho biết, C mới thật sự là ông chủ của đường dây này.
Từng tọa độ GPS, từng địa chỉ các “căn cứ địa” của C, từng số điện thoại, từng thủ đoạn của toàn bộ đường dây này, có cả số của C và Hoàng Tuấn Hải đều được chúng tôi cập nhật rõ ràng. Việc Hải đứng ra nhận tội là điều không nằm ngoài dự kiến. Vì thế, các văn bản giấy tờ, các cuộc đối thoại trước giờ cơ quan chức năng ập vào bắt giữ và nghe Hải khai nhận đang lưu giữ cẩn thận. Các tài liệu đó đã thuyết phục tới mức không thể thuyết phục hơn cho rằng: C mới là ông trùm của đường dây này.
Có thể kể đến vài văn bản, các cuộc phỏng vấn, ghi âm mà PV có được để làm bằng chứng cho điều này, gồm: Tài liệu của ENV trước và sau khi các “nấm mồ rùa biển” được “khai quật” và triệt phá; các cuộc phỏng vấn trước và sau khi cảnh sát ập vào đều cho thấy các thủ đoạn vô cùng tinh vi của C (chứ không phải ai khác!).
Tài liệu tố cáo của “công dân tốt” từng bố trí chụp ảnh nhà kho, xưởng chế tác của C gửi PV càng giúp ta thấy rõ hơn về ông trùm. “Công dân” kể trên cũng trực tiếp gặp, sát cánh cùng PV trong những ngày “phá án” ở Nha Trang. Cho đến giờ phút này, dù hơn một lần, cơ quan công an có nghi ngờ tính chính xác và “tâm địa” của người tố cáo, nhưng sau khi ván bài lật ngửa thì tất cả phải công nhận: 100% những gì anh ta tố cáo là đúng.
Kể cả sơ đồ các nhà kho bí mật, kể cả số lượng cá thể rùa, rồi thủ đoạn làm giả rùa và đồi mồi của C để che mắt cơ quan chức năng, 100% là đúng sự thật. Và dĩ nhiên, lời tố cáo của họ về C cũng rất đáng tin cậy, họ bảo: C là ông trùm vô cùng tinh vi, không “tóm” được C, thì việc bắt giữ vài nghìn cái mai rùa khô (tiếc thay!) chỉ là phần nổi của tảng băng chìm!
Đặc biệt, ngoài công việc của người điều tra, tố cáo, gửi băng ghi âm, hình ảnh cho công an, với tư cách là nhà báo nhiều năm kinh nghiệm tác nghiệp, PV khẳng định một lần nữa: Không có lý do gì để chúng ta không tin vào lời tố cáo, lời trả lời phỏng vấn của người dân từ trước khi đường dây này bị triệt phá vài mắt xích vào tháng 11.2014.
Xin nhấn mạnh: Trong quá trình trinh sát hóa trang để điều tra, PV đã có được những băng ghi âm này, chứ không phải sau khi công an bắt giữ người dân mới nói. Do thế, rất đáng tin cậy. Như sau: Khi 3 trinh sát lão luyện của Phòng 3, C49 đang tiếp cận bí mật các ngôi nhà xung quanh kho xưởng để tác nghiệp, PV cũng có mặt ở một bụi lau gần xưởng chế tác của C (nơi thu giữ hàng nghìn cá thể rùa biển sau đó) ở xã Phước Đồng để thu nhận tin tức.
Tại đây, PV có phỏng vấn, ghi âm, ghi hình bí mật với một bà chăn bò, bà tên là T. Bà này cho biết: Gần chục năm nay, C công khai xẻ thịt, ném thịt rùa biển cho cá ăn hoặc bán cho quán nhậu rồi ngâm mai và da rùa vào các bể phoóc môn lớn. Chế tác rồi đem bán sang Trung Quốc. Thế lực của C cực mạnh, mạnh đến mức bà và mọi người không dám tố cáo.
Khi chia tay bà T còn buông đàn bò, chạy theo van vỉ, chú là người tốt, thì chú đừng nói tôi kể chuyện với chú kẻo nguy hiểm lắm. Hóa chất độc hại từ các xưởng chế tác rùa của C và đồng bọn đã thải ra sông suối ao hồ. Bà T và nhiều người bỏ nghề mò cua bắt ốc, vì không loài thủy sản nào sống được, vả lại người nào lội xuống nước đó cũng bị rụng lông chân, mẩn ngứa khắp người.
Còn ông M, người đã hàng trăm lần liên lạc, cung cấp các tài liệu cốt tử cho việc phá án gây rung động dư luận vừa qua thì trước sau vẫn một mực: Nếu công an ập vào mà có thông số nào anh cung cấp sai so với thực tế, anh chịu trách nhiệm trước pháp luật. Qua điều tra của PV từ bà con trong khu vực, qua lời tố cáo của ông M khi gặp PV tại một khách sạn ở Nha Trang, khi ngồi trên xe của PV đến “dạo quanh” các kho xưởng của C, thì: Hoàng Mạnh C vốn là người tỉnh Hà Nam, bố vợ C là một người khá có “thế lực”.
Anh ta SN 1976, xuất thân bán thịt chó ở Nha Trang, sau này ế ẩm bỏ đi làm thuê, rồi học nghề “buôn rùa biển”. Nay anh ta rất giàu, có trang trại ốc hương, trang trại cá bốp, có các xưởng chế tác, có nhà kho đông lạnh riêng, có xe ôtô tải và nhiều tài sản khác. Lúc cao điểm, anh ta có hơn 40 thợ làm việc, số thợ hơi giảm xuống khi được báo “có động” với việc cơ quan chức năng đến kiểm tra…
Trung tuần tháng 11.2014, khi PV đem nhiều thiết bị vào giám sát khu xưởng chế tác của C, thì được biết nhân công vẫn làm việc. C còn thuê người là cán bộ cơ sở giữ vai trò như “bảo vệ” các cơ sở của mình, PV đến gắn thiết bị ghi hình đã bị dọa nạt, xua đuổi với thái độ cực kỳ hung hãn. Điều này đã được công an xác nhận từ trước khi phá án.
Cuộc trò chuyện với 3 người đàn ông “vô tình” gặp ở một quán cà phê gần “nấm mồ rùa biển” đã được ghi hình, ghi âm, cho biết: C từng bị thu giữ hơn 800 con rùa biển, bị xử phạt 10 triệu đồng rồi cơ quan chức năng thả rùa ra biển, sau đó C đi thu gom lại và giết mổ, chế tác. Việc bắt giữ 849 con rùa của C đã được đăng báo, không còn gì để bàn cãi.
Bà con kể tiếp: Hóa chất độc hại thải ra, cơ quan chức năng lẽ ra phải xử lý “nhưng C nó mạnh lắm, không ai làm gì cả”. Họ còn “chỉ mặt đặt tên” từng cơ quan “làm ngơ” cho C hành động. Họ còn phân tích, những con rùa biển to bằng cái mâm, hàng vạn con, rồi từng cỗ xe tải khổng lồ chở đồi mồi, vích ra khỏi xưởng, đi qua hàng chục trạm gác, trạm kiểm tra, lên tận biên giới Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh để sang Trung Quốc, tại sao không ai biết? Dân ở trong khu vực ai cũng biết, và việc C bị bắt rồi lại hoạt động nghênh ngang như thế được là vì sao, nhắm mắt ai cũng hiểu! (bà con nói).
Gần các kho xưởng bị khám xét và thu giữ hàng nghìn cá thể rùa biển, PV đã trò chuyện với bà con trước giờ phá án của cơ quan công an, các thông tin này đã được thông báo cho các trinh sát ngay sau đó.
Trong vai những người đi mua đất làm kho xưởng, khi hỏi về Hoàng Mạnh C (C “đồi mồi”) thì bà con khẳng định: Suốt bao năm, thậm chí C còn phơi cả rùa, đồi mồi ra đường trong quá trình chế tác. Gần đây, hắn hoạt động vô cùng kín đáo.
Các phản biện rất mong được cơ quan điều tra lưu tâm: Tất cả các tài liệu mà ENV, PV (đã phân tích ở trên), rồi các trinh sát có được (khi trò chuyện với PV trước giờ phá án) đều nói về C “đồi mồi” là ông trùm. Sau khi phá án, ENV vẫn có công văn (gửi Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ TNMT, UBND tỉnh Khánh Hòa cùng cơ quan hữu trách) đòi khởi tố hình sự vụ án và quyết tìm ra ông trùm thật sự của đường dây này (thông tin đã đăng báo). Vậy chúng ta có nên coi Hoàng Tuấn Hải là đối tượng “tự nhận ông trùm” duy nhất nữa không?
Sau khi nấm mồ rùa biển lớn nhất Việt Nam được “khai quật”, các báo đã tiến hành phỏng vấn, nhiều báo đã trích dẫn lời cán bộ nhắc đến đối tượng C. Ví dụ: Đối tượng Hải khai nhận, được báo Tuổi trẻ TPHCM trích dẫn sau đó, rằng Hải mua lại kho này của em trai mình là Hoàng Minh C (người địa phương gọi là C “đồi mồi”), C trước đây cũng có mua và chế tác rùa biển, từng bị xử lý vì nuôi động vật hoang dã trái phép, bị thu giữ 850 con rùa biển. Hải - là anh trai C - còn thừa nhận như vậy.
Chưa hết, sau khi “vỡ ổ con chuồn chuồn”, báo Khánh Hòa và vài tờ báo còn trích lời người dân và cán bộ xã rất rõ ràng: Nhiều người dân thì ai cũng biết C “đồi mồi” với tường tận các nhà kho chứa cả nghìn con rùa biển, trong khi, cán bộ xã người thì nói không biết.
Người như ông Bùi Cao Pháp - Phó Chủ tịch UBND xã Phước Đồng thì thẳng thắn: Lâu nay, chỉ biết xưởng là của Hoàng Minh C chứ không biết là kho xưởng ấy là của Hải. Chủ tịch UBND xã Phước Đồng cho biết, ngày 19.7.2014, công an kinh tế địa phương có đến kiểm tra kho xưởng của nhà “ông chủ Hải” nhưng không phát hiện được gì; trong khi công an địa phương lại “giãi bày” với báo chí không giống như thế.
Dường như đó là lý do mà Cục Cảnh sát môi trường phải từ Hà Nội, từ TPHCM cất công ra Nha Trang để phá án, thay vì cơ quan chức năng địa phương làm điều đó? Báo Công an Nhân dân, ngay sau vụ bắt giữ kể trên, cũng đưa tin về việc các trinh sát phá án ghi nhận người dân đều kể về đối tượng Hoàng Minh C (C “đồi mồi”) với đường dây khổng lồ này, cả xưởng gỗ ngụy trang làm kho đông lạnh của y cũng tên là “Hoàng C”…
Trước giờ phá án, PV còn ra ngoài “đảo xa” trò chuyện với ông Mạc Tiến N, người trực tiếp hợp tác với Hoàng Minh C trong vụ nuôi rùa biển rồi bị bắt giữ 849 cá thể cách đây mấy năm. Ông này cho biết, khi công an làm việc, C đã ra mặt và năn nỉ ông N ký văn bản. C còn đưa người Trung Quốc trực tiếp ra bè khen rùa đẹp đặt vấn đề mua. Ông N cũng cho biết nhiều thông tin đáng sợ về đường dây buôn bán, giết và chế tác rùa biển kể trên, do C cầm đầu.
Với những bằng chứng kể trên, vậy, thử hỏi, làm sao chúng ta có quyền tin, ông trùm đích thực của đường dây này là đối tượng Hải? Hải có thể chỉ là một mắt xích, còn “bố già” có phải là C? Kính đề nghị cơ quan chức năng nỗ lực thực sự để làm rõ nghi vấn này. (Lao Động 29/11) đầu trang(
Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Đắk Lắk vừa kiến nghị UBND tỉnh và các cơ quan chức năng làm rõ trách nhiệm của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Rừng Xanh do để gần 2.470 ha rừng bị phá, lấn chiếm trái phép từ năm 2010 - 2014, thiếu 415 hồ sơ vi phạm phá rừng so với thống kê, 222 vụ phá rừng có lập biên bản nhưng không báo cáo.
Tương tự, yêu cầu làm rõ trách nhiệm của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ea Hleo để mất hơn 567 ha rừng, 40 hồ sơ vi phạm về khai thác rừng trái phép chưa chuyển cho cơ quan chức năng xử lý.
Đoàn liên ngành cũng yêu cầu công ty này nộp nhiều tỉ đồng tiền nợ thuế và giải trình những sai phạm trong thực hiện 2 dự án liên kết khai thác đá tại xã Ea Sol, H.Ea Hleo, do chưa thực hiện đủ các thủ tục liên quan. (Thanh Niên 30/11) đầu trang(
“Chúng tôi đã đình chỉ bảy cán bộ, kiểm lâm bảo vệ rừng. Riêng giám đốc ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa là ông Phạm Ngọc Sự hiện đã bị luân chuyển sang làm công tác khác”.
Ông Trần Đình Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng, chiều 28-11 cho biết. Cũng theo ông Quỳnh, cơ quan chức năng đã chính thức khởi tố vụ án phá rừng lớn nhất TP Đà Nẵng từ trước tới nay tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa.
Như đã đưa tin, vụ phá rừng, cất giấu gỗ quý xảy ra tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa là vụ việc hết sức nghiêm trọng. Trên 43 m3 bị phá, trong đó số gỗ được phát hiện cất giấu trong rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa là 24,4 m3 và rừng giáp ranh của Quảng Nam là 18,6 m3.
Vừa qua, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết đã chỉ đạo lập dự trù kinh phí xây dựng trạm quản lý bảo vệ rừng mới trên lâm phận TP thay cho Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông (thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa). Trạm Cà Nhông chính là trạm quản lý rừng bị coi là tiếp tay cho lâm tặc trong vụ việc phá rừng trên. (Pháp Luật TPHCM 30/11; Nông Nghiệp Việt Nam 1/12) đầu trang(
Ngày 30-11, Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã (WAR) phối hợp với Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tổ chức Ngày hội bảo vệ dugong (dân địa phương gọi là bò biển, cá cúi).
Thông qua các hình thức truyền thông như diễu hành, diễn kịch…, ban tổ chức mong muốn người dân biết được tầm quan trọng cũng như tình cảnh nguy cấp của dugong và cùng chung tay bảo vệ loài động vật quý hiếm này.
Theo Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới, dugong được xếp ở mức cực kỳ nguy cấp, đe dọa tuyệt chủng. Ở Việt Nam, dugong được phát hiện tại vùng biển Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và Phú Quốc nhưng đến nay chỉ còn lại không quá 100 con, chủ yếu ở Phú Quốc.
Do thân hình to lớn (có thể dài 3 m, nặng đến 450 kg), di chuyển chậm chạp, loài này dễ bị mắc vào lưới đánh cá của ngư dân. Bên cạnh đó, dugong cũng bị săn bắt để lấy thịt, da làm thức ăn và răng làm thuốc chữa bệnh hoặc đồ trang sức. (Người Lao Động 1/12) đầu trang(
Ngày 30.11, bác sĩ Bùi Mạnh Hùng, Trưởng khoa Cấp cứu hồi sức Bệnh viện T.Ư Huế, cho biết trong vòng hai tháng qua, khoa Cấp cứu hồi sức đã tiếp nhận 16 ca bệnh nhân bị rắn cắn. Trong đó, tháng 10 tiếp nhận 6 ca, tháng 11 đã tiếp nhận 10 ca và có 9 ca do rắn lục đuôi đỏ cắn.
Theo ghi nhận của khoa, các ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn đều thuộc địa bàn thị xã Hương Thủy. “Do nhiều trường hợp bệnh nhân được ghi nhận xuất phát từ một địa bàn nên khoa Cấp cứu hồi sức đang tập hợp để báo cáo cho Ban giám đốc bệnh viện và Sở Y tế Thừa Thiên-Huế, để có biện pháp khuyến cáo người dân về phòng bệnh cho cộng đồng”, bác sĩ Bùi Mạnh Hùng cho biết.
Theo bác sĩ Bùi Mạnh Hùng, tất cả các bệnh nhân nhờ đến bệnh viện kịp thời nên hầu hết đều được điều trị thành công, không có trường hợp nào biến chứng nặng phải tử vong.
Hiện tại, vẫn còn 2 bệnh nhân điều trị là anh Hoàng Mạnh Quang (30 tuổi, sĩ quan của một đơn vị quân đội đóng tại phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy) và Võ Văn Đằng (40 tuổi, cũng trú tại phường Phú Bài) đều bị rắn lục đuôi đỏ cắn trong ngày 27.11.
Theo thạc sĩ Đỗ Quang Huy, Trưởng bộ môn Quản lý động vật hoang dã, Đại học Lâm nghiệp, để phòng trừ rắn lục đuôi đỏ, người dân nên phát quang các bụi cây sát lối đi, gần khu vực nhà hoặc trồng cây xả quanh nhà cũng có tác dụng kiềm chế loài rắn lục đuôi đỏ.
Thạc sĩ Đỗ Quang Huy cho biết, qua nghiên cứu và thử nghiệm, rắn lục đuôi đỏ đặc biệt sợ mùi lưu huỳnh. Ở những vùng thường xuyên có người bị rắn tấn công, người dân nên lấy lưu huỳnh nghiền nhỏ thành bột sau đó rắc xung quanh vào nơi nghi vấn có rắn lục đuôi đỏ sinh sống trú ngụ. “Mùi lưu huỳnh sẽ có tác dụng xua đuổi rắn đi rất xa”, thạc sĩ Huy nói.
Giải thích về hiện tượng nhiều người bị rắn lục đuôi đỏ tấn công nhiều đột biến trong năm nay, thạc sĩ Huy cho rằng, có nguyên nhân do số lượng cá thể rắn đang tăng lên nhiều hơn.
Điều này có phần ảnh hưởng của biến đổi khí khậu. Trong vài năm gần đây, nhiệt độ trung bình mỗi năm điều nhích lên từ 0,5 - 1 độ C. Thời thiết nóng ẩm kéo dài là môi trường tự nhiên lý tưởng cho rắn lục đuôi đỏ gia tăng sinh sản.
Trong khi đó, số lượng cá thể loài thiên địch đặc biệt thích ăn rắn lục đuôi đỏ như cầy (còn gọi là con lỏn chanh), chim bìm bịp, cầy móc chua, chim ưng… lại giảm đi rất nhiều do bị con người săn bắt. (Thanh Niên 1/12, tr4) đầu trang(
Theo các nghị định và thông tư của Chính phủ, nuôi động vật hoang dã để kinh doanh hợp pháp cần được tạo điều kiện và nên khuyến khích. Trong đó, việc nuôi, tạo giống được cho là giúp bảo tồn một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng (do hoàn cảnh thiên nhiên khách quan và con người tận diệt).
Tuy nhiên, gần đây, chính bộ phận bảo tồn và kiểm lâm “kêu trời” vì tình trạng nuôi nhốt ồ ạt. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai đã kiến nghị UBND tỉnh Đồng Nai có biện pháp giảm thiểu các trại nuôi nhốt trong và ven khu bảo tồn. Đơn vị này cho rằng việc cấp phép tràn lan như hiện nay là không hợp lý và khó kiểm soát.
Diện tích toàn Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai rộng hơn 100.000 ha nhưng toàn bộ lực lượng của đơn vị chỉ có 109 người. Lực lượng kiểm lâm ở các huyện với sự hoạt động độc lập, quân số cũng ít ỏi, chẳng hạn như huyện Vĩnh Cửu chỉ có 20 người.
Trong khi đó, theo đơn vị này, nạn xâm phạm rừng cùng số vụ săn bắn thú rừng vẫn rất phổ biến, ngoài những vụ phát hiện còn có rất nhiều vụ khác mà kiểm lâm không kiểm tra hết được. Các đối tượng vi phạm thường sử dụng những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Một số đối tượng dùng cả vũ khí quân dụng, vũ khí tự chế để chống đối, bắn trả kiểm lâm đang thực thi công vụ.
Cách đây vài tháng, tại khu vực thuộc Trạm Kiểm soát Suối Trau (Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai), lực lượng kiểm lâm tiến hành chặn một ô tô có dấu hiệu nghi vấn do Vũ Văn Sơn cầm lái. Người này không chấp hành mà còn gọi điện kêu rất nhiều người đến và tấn công lực lượng kiểm lâm.
Các đối tượng quá hung hãn, manh động khiến ông Trần Đức Dũng, phó trạm, bị thương nặng. Chỉ đến khi lực lượng kiểm lâm nổ súng chỉ thiên thì những kẻ manh động mới chịu bỏ chạy. Sau đó, Sơn bị bắt tạm giam, khởi tố về 2 tội “Chống người thi hành công vụ” và “Cố ý gây thương tích”.
Trước đó, anh Phạm Văn Nông, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Suối Ràng (cũng thuộc khu bảo tồn), sau khi lập biên bản 2 kẻ vừa săn 3 con dúi từ trong rừng ra đã bị những người này mai phục trả thù. Bọn chúng dùng hung khí đánh anh Nông gãy tay, một kiểm lâm viên khác phải bỏ chạy thoát thân. Bọn chúng còn liều lĩnh chống lại cả công an xã, chỉ khi công an huyện, tỉnh xuống mới chịu thúc thủ; hàng chục đối tượng bị bắt giữ.
“Tình trạng các quán nhậu trở thành những trạm trung chuyển, “chợ đầu mối” để gom thịt thú rừng từ các vườn quốc gia, khu bảo tồn đi các nơi, lực lượng kiểm lâm biết hết nhưng không làm gì được. Muốn kiểm tra các điểm này thì phải nhờ hạt kiểm lâm, công an huyện phối hợp vì là nhà dân. Phát hiện tài sản trị giá dưới 2 triệu đồng thì cũng chỉ ở mức xử phạt hành chính, còn gặp thợ săn vứt bỏ tang vật rồi chối thì cũng đành chịu…” - một cán bộ quản lý của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai lắc đầu.
Theo ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai, không nên cho phép nuôi động vật hoang dã trong và gần khu bảo tồn. Điều này ở nước ta vẫn thực hiện trong khi nhiều nước khác rất “kỵ”. Nhiều ý kiến cho rằng việc nuôi nhốt động vật hoang dã tại các trang trại giúp bảo tồn giống...
Tuy nhiên, nạn buôn bán động vật hoang dã theo đó lại ngày càng phức tạp, đặt trong tình trạng báo động. Các chủ trang trại không phải lúc nào cũng thật thà khai báo nên không thể kiểm soát được.
“Khi vấn đề cho phép nuôi nhốt còn gây nhiều tranh cãi, trước mắt cần phải thu hồi giấy phép, không tiếp tục cấp phép, đồng thời di dời động vật hoang dã đang nuôi ra khỏi khu vực trong và ven khu bảo tồn. Điều này tránh việc có thể gây lây lan dịch bệnh đối với động vật hoang dã trong rừng đặc dụng và khó khăn cho công tác chống săn bắt” - ông Mùi nói.
Ông Bùi Minh Tân, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu, cho rằng với lực lượng mỏng, trong tình trạng hiện nay, kiểm lâm huyện cũng khó khăn trong việc kiểm tra, phát hiện các đường dây buôn bán động vật hoang dã cũng như kiểm soát các trang trại nuôi nhốt trên địa bàn.
Theo ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, cơ quan quản lý nắm bắt được tình trạng khó khăn của lực lượng kiểm lâm khu vực bảo tồn nhưng do hiện nay các văn bản quy định không có gì thay đổi nên chưa thể tự ý điều chỉnh. “Nghị định 82/2006/NĐ/CP, Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT đã quy định về các vấn đề bảo tồn, dù còn có nhiều tranh luận nhưng trước mắt chưa có quy định mới thì vẫn phải chấp hành” - ông Dũng nói.
Riêng đối với cá sấu, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai cho biết phong trào nuôi nhốt gần đây quá tràn lan khiến đơn vị này khó kiểm soát. Theo ông Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, do cá sấu nằm trong danh mục động vật hoang dã nên trách nhiệm quản lý thuộc về kiểm lâm và không được xem là vật nuôi trong cơ cấu nông nghiệp.
“Trong danh mục kiểm soát của kiểm lâm, cá sấu được xếp vào hàng động vật hung dữ, cần kiểm soát chặt để không ảnh hưởng đến môi trường và an toàn của người dân…” - ông Đạo nói.
Hồ thủy điện Trị An nằm trong vùng lõi khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Thời gian gần đây, hồ bị gần 30 hộ dân giăng lưới chiếm dụng, “phân lô” thành từng khoảnh rộng hàng trăm hecta để thu lợi, tận diệt nguồn hải sản tự nhiên.
Đã nhiều tháng nay, UBND tỉnh Đồng Nai cùng UBND huyện Định Quán và khu bảo tồn nhiều lần họp bàn kiên quyết xử lý nhưng vẫn chưa thực hiện được. “Có thể phải hợp thức hóa và có cách quản lý, sắp xếp để đưa tình trạng này vào hoạt động quy củ...” - ông Trần Văn Mùi nói. (Người Lao Động 29/11) đầu trang(
Sáng 1-12, ông Lê Việt Dũng - Chi cục phó Chi cục kiểm lâm Đồng Nai, cho biết con cá sấu sổng chuồng gần hồ Trị An đã bị các lực lượng làm nhiệm vụ bắn chết.
Theo ông Dũng, vào chiều 30-11, khi kiểm lâm xác định được vị trí con cá sấu thì đã tổ chức đi ghe bủa lưới vây bắt, nhưng do nó vẫn tiếp tục di chuyển nên kiểm lâm đã bắn.
Như Tuổi Trẻ thông tin, ngày 29-11 lực lượng kiểm lâm và chính quyền xã Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu) đã phát hiện con cá sấu trên đang ở trong ao của nhà ông Nguyễn Vũ Hà. Khi tổ chức vây bắt, các lực lượng đã bắn cá và dùng máy tầm ngư để xác định vị trí cá di chuyển, vớt lên bờ nhưng không thành vì ao quá rộng.
Cá sấu vừa bị bắn chết là cá sấu mà hơn một tháng trước UBND huyện Vĩnh Cửu từng cảnh báo bị sổng chuồng nên thông báo đến chính quyền và người dân ở khu vực gần hồ Tri An cảnh giác và tìm kiếm. (Tuổi Trẻ 1/12) đầu trang(
27/11, TAND huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình đã tuyên án đối với hai bị cáo trong vụ "lâm tặc" khống chế kiểm lâm cưỡng đoạt ba thanh gỗ lậu xảy ra tại trạm Kiểm lâm liên ngành Khe Sến thuộc hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch xảy ra vào hồi tháng 7/2014.
Theo đó, vào tối 3/6, một nhóm người chủ yếu là thanh niên đã đến trước trạm kiểm lâm liên ngành Khe Sến (đóng trên đường Hồ Chí Minh nhánh Đông đoạn đi qua xã Xuân Trạch, Bố Trạch – Quảng Bình) trấn áp các kiểm lâm viên đang trực chốt tại trạm và cướp lại 3 thanh gỗ lậu mà sáng cùng ngày lực lượng kiểm lâm ở trạm liên ngành này phát hiện và bắt giữ.
Không dừng lại ở đó, đến tối 7/6, nhiều thanh niên đi trên các xe máy chạy qua trạm và dừng lại, chúng dùng đá ném vào trạm kiểm lâm này, rất may không có đồng chí kiểm lâm nào bị thương.
Ngay sau khi sự việc xảy ra cơ quan CA huyện Bố Trạch đã vào cuộc điều tra và xác định rõ hai đối tượng là Nguyễn Văn Phương (SN 1988) và Trương Văn Tuấn (SN 1997) cả hai đều trú tại xã Xuân Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Căn cứ vào những chứng cứ có được, cơ quan điều tra đã xác định Phương và Tuấn đã dùng lời nói uy hiếp đến cán bộ Kiểm lâm cướp 0,054m3 gỗ táu có giá trị là 378.000 đồng và đây chính là tang vật vi phạm hành chính của nhóm lâm tặc đã bị cơ quan chức năng thu giữ trong quá trình vận chuyển trên đường.
Vụ án này có đồng phạm nhưng không tổ chức chặt chẽ và trong đó Phương là kẻ chủ mưu. Hành vi vi phạm trên của hai bị can Phương và Tuấn đã phạm tội "cưỡng đoạt tài sản" theo quy định điều 135 Bộ LHS. TAND huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình đã tuyên phạt Nguyễn Văn Phương 18 tháng tù và Trương Văn Tuấn là 12 tháng tù nhưng cả hai đều cho hưởng án treo. (Giáo Dục & Thời Đại 28/11) đầu trang(
28/11, ông Phạm Minh Sơn, Chủ tịch UBND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk cho biết, vừa ký quyết định kỷ luật khiển trách đối với ông Nguyễn Ngọc Thuận (Chủ tịch UBND xã Ea Tam) và ông Lương Văn Chì (Phó Chủ tịch UBND xã Ea Tam) vì ký giấy cho người dân xã bán gỗ trắc (gỗ quý nhóm II a) đã qua sử dụng khi chưa có chủ trương của huyện gây thất thoát trên 4 tỷ đồng tiền thuế của Nhà nước - theo cách tạm tính của tổ kiểm tra liên ngành huyện.
UBND huyện đã kiến nghị Bộ Tài chính cho áp thuế gỗ trắc đã qua sử dụng để huyện xác định chính xác số tiền thuế thất thoát, sau đó sẽ có hình thức xử lý phù hợp đối với cán bộ liên quan. (Tiền Phong 29/11; Nhân Dân 29/11, tr7) đầu trang(
Hàng nghìn héc-ta rừng Buôn Ja Wầm, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk bị tàn phá công khai, hàng nghìn khối gỗ vận chuyển ra khỏi rừng hiên ngang không ai bắt giữ, PV đã phản ánh nhiều bài, hình ảnh, tư liệu chứng minh có sự tiếp tay của cán bộ Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (Công ty Buôn Ja Wầm) gửi các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk, nhưng đến nay vẫn không có động tĩnh.
Nhân chứng, vật chứng rõ ràng nhưng ông Tổng Giám đốc Công ty Buôn Ja Wầm còn lớn tiếng “kêu oan”, cho rằng báo chí thông tin không đúng sự thật. Để “bắt tận tay, day tận cánh” và chứng minh cán bộ lãnh đạo của Công ty Lâm nghiệp là “lâm tặc”, người dân đã phải mua sắm thiết bị ghi âm, ghi hình và gần một năm theo dõi, ngày 28/10/2014 thủ phạm phá rừng Buôn Ja Wầm là cán bộ lãnh đạo Công ty Buôn Ja Wầm đã phải lộ diện. Nhưng, để điều tra, truy tố được vụ án nghiêm trọng này thì các cơ quan chức năng của trung ương phải vào cuộc mới có thể phá án.
Rừng Buôn Ja Wầm gần 9.000ha do Công ty Buôn Ja Wầm quản lí đã bị phá hoại hoàn toàn, nghiêm trọng hơn so với những khu rừng do các Công ty khác quản lí. Hành vi phá hoại rừng Buôn Ja Wầm ở Đắk Lắk, sau khi phản ảnh về hành vi phá hoại rừng, đánh đập dân, phá hoại tài sản của dân, một vài tờ báo khác lại “a dua” viết theo “đơn đặt hàng” của ông Tổng Giám đốc Công ty Buôn Ja Wầm để thông tin ngược lại nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật của Công ty này.
Cho đến nay, rừng Buôn Ja Wầm đã sạch bách, những cây gỗ quý hiếm cuối cùng ngay sát vách Công ty cũng đã bị tận diệt. Với tội ác nghiêm trọng và sự lộng hành của cán bộ lãnh đạo Công ty Buôn Ja Wầm như vậy, nhưng các cơ quan chức năng ở Đắk Lắk vẫn thờ ơ khiến người dân hết sức bức xúc, trở thành “điều tra viên bất đắc dĩ” để có đủ bằng chứng chứng minh thủ phạm.
Ngày 30/10/2014, theo trình báo của người dân, Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột đã tịch thu một số gỗ cà te của ông Phan Quốc Tấn, Phó Giám đốc, Trưởng phòng Quản lí tài sản Lâm trường Buôn Ja Wầm và ông Phạm Văn Tiệp, Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ Công ty Buôn Ja Wầm. Số gỗ này được cắt từ cây gỗ cà te có đường kính khoảng 90cm bị đốn hạ tại rừng thực nghiệm sát vách Lâm trường bộ của Công ty Buôn Ja Wầm đưa đi cất giấu tại số nhà 22 đường Nguyễn Trung Trực, TP Buôn Ma Thuột (nhà em trai ông Dương Văn Sơn, Tổng Giám đốc Công ty Lâm nghiệp).
Tại hiện trường, ông Phan Quốc Tấn nhận là gỗ của mình, nhưng trong biên bản ghi lời khai tại Hạt Kiểm lâm chỉ một mình ông Phạm Văn Tiệp đứng tên và khai là nông dân ở xã Ea Kiết. Việc ông Tiệp khai gian dối là nông dân để che giấu hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức. Đây là cây gỗ thứ hai, sau cây gỗ hương bị đốn hạ tại rừng thực nghiệm trước đó. Hai cây gỗ này có giá trị hàng trăm triệu đồng và cũng là những cây gỗ cuối cùng của rừng Buôn Ja Wầm ở huyện Cư M’gar.
Sau khi có đủ bằng chứng chứng minh cán bộ Công ty Buôn Ja Wầm là lâm tặc, PV phỏng vấn ông Đoàn Quốc Thư, Phó Giám đốc, thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk vì sao trước đó, tháng 3/2014, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo Công an tỉnh điều tra nhưng đến nay không có động tĩnh. Ông Thư cho biết đã có văn bản gửi UBND tỉnh và hứa sẽ cung cấp văn bản cho phóng viên, nhưng ông Phạm Quang Thắng, Trưởng phòng Tổng hợp Công an tỉnh lại nói không thể cung cấp được vì đây là “văn bản mật”.
Từ khi ông Dương Văn Sơn lên làm Tổng Giám đốc Công ty Buôn Ja Wầm, ngoài việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng về phá hoại rừng, cán bộ, nhân viên Công ty này còn vi phạm nghiêm trọng về các hành vi đánh đập, đốt nhà dân, đổ lương thực của dân xuống suối, thu hồi đất của dân trái pháp luật. Dân tố cáo, kêu cứu nhưng không cơ quan chức năng nào ở Đắk Lắk xem xét, xử lí.
Liên quan đến hành vi phá hoại rừng Buôn Ja Wầm, vừa qua Tòa án hai cấp ở Đắk Lắk đã kết án 2 năm 6 tháng tù giam một công dân ở huyện Krông Pắk vì người này đã tố cáo một cán bộ trong Đoàn Kiểm lâm liên ngành của huyện Cư M’gar về hành vi lợi dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản, mục đích là để ngăn chặn người dân tố cáo đường dây phá hoại rừng và vận chuyển gỗ trái phép ở rừng Buôn Ja Wầm.
Những tài liệu và bằng chứng mà PV có được cho thấy sự lộng hành của Công ty Buôn Ja Wầm là có sự “bảo kê”. Hành vi cán bộ lâm nghiệp ở khu rừng Buôn Ja Wầm trở thành “lâm tặc” cần được xét xử nghiêm minh và nạn phá rừng ở đây cần được cơ quan bảo vệ pháp luật làm rõ. (Người Cao Tuổi 28/11) đầu trang(
28/11, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh đã điều tra làm rõ đối tượng đăng hình ảnh thông tin thất thiệt trên Facebook liên quan đến rắn lục đuôi đỏ.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có một số người dân bị rắn cắn. Ngay sau đó xuất hiện tin đồn thất thiệt lan truyền ở nhiều nơi, đặc biệt trên các mạng xã hội đã rộ lên tin đồn thiếu cơ sở là có người đi thả rắn lục đuôi đỏ vào các khu dân cư.
Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh Quảng Ngãi đã xác minh, điều tra đối tượng Võ Quốc Anh (20 tuổi) ở khu vực 1, thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn về hành vi “Cung cấp thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân” do đăng hình ảnh thông tin thất thiệt liên quan đến rắn lục đuôi đỏ.
Trước đó, vào ngày 17 và 18/11, Võ Quốc Anh đã dùng facebook có tên Yamaha Xóm Chùa đăng tải hình ảnh kèm theo dòng tin “Bắt được người mang 30 kilogam rắn lục đuôi đỏ để đi thả tại huyện Tây Trà, Quảng Ngãi” nhưng không có cơ sở chính xác từ cơ quan chức năng. Ngay sau đó, đã có hàng trăm người chia sẻ thông tin trên từ Facebook của Võ Quốc Anh, gây hoang mang cho nhiều người.
Tại cơ quan điều tra, Võ Quốc Anh khai nhận, mục đích đăng tải nội dung trên chỉ để cho vui chứ không nghĩ đến hậu quả nghiêm trọng. Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Để tránh gây hoang mang trong dân, tỉnh Quảng Ngãi đã chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phòng chống rắn lục đuôi đỏ trong dân, tổ chức phát quang bụi rậm và hướng dân các biện pháp sơ cấp cứu khi bị rắn lục đuôi đỏ cắn cho người dân chủ động ứng phó. (Tin Tức 28/11) đầu trang(
Những cánh rừng bạt ngàn bị tàn phá, những cây gỗ quý từ các khu rừng cứ bị đốn hạ, tuồn ra khỏi rừng, nhưng không hề bị xử lý. Đó là bức xúc của nhiều người dân ở huyện Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) khi nói về nạn phá rừng ở đây.
Không chỉ có lâm tặc là những cá nhân đơn lẻ, mà ở huyện Bảo Lâm còn có những doanh nghiệp tàn phá rừng quy mô lớn.
Ngày 22-11-2011, UBND tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Việt Tài (do ông Quí làm giám đốc) thuê đất tại tiểu khu 396, 397 xã Lộc Bắc thời hạn 50 năm để trồng cây cao su, trồng rừng kết hợp quản lý bảo vệ rừng, với hình thức thuê trả tiền hàng năm. Trên phần đất được giao, có khu đất rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc dự án trồng cây cao su và có rừng khoanh nuôi mà Công ty Việt Tài có trách nhiệm phải bảo vệ cho Nhà nước.
Sau khi được giao đất, ngày 5-12-2011 ông Quí làm giấy ủy quyền cho Công ty Thành Chí (do ông Đoan làm giám đốc) được “khai thác tận dụng lâm sản tại khu đất rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc dự án trồng cây cao su của Công ty Việt Tài”.
Lợi dụng việc được ủy quyền, Công ty Thành Chí không những khai thác tận thu lâm sản cải tạo thuộc dự án trồng cây cao su tại tiểu khu 396, 397 xã Lộc Bắc (diện tích được phép khai thác là 271,26 ha), còn lấn sang cả khu vực rừng khoanh nuôi mà Công ty Việt Tài có trách nhiệm phải bảo vệ. Phát hiện việc này, ông Quí đã ngăn chặn, yêu cầu Công ty Thành Chí ngưng khai thác nhưng không thành.
Từ “giấy mời” của Công ty Việt Tài, các cơ quan chức năng ở Lâm Đồng vào cuộc. Theo “biên bản kiểm tra khai thác lâm sản” lập lúc 10 giờ ngày 19-7-2012, ghi nhận: “Qua kiểm tra và đo vẽ bằng máy định vị GPS, diện tích bị khai thác lấn ra ngoài hiện trường là 41.840m2, khối lượng thiệt hại tính theo hồ sơ kiểm kê tài nguyên rừng là 906,88m3...”.
Mặc dù Công ty Việt Tài đã ra văn bản “hủy bỏ giấy ủy quyền” gửi Công ty Thành Chí và các cơ quan chức năng, nhưng ngày 26-11-2012, ông Trần Sách Đoan (Giám đốc Công ty Thành Chí) vẫn gửi văn bản xin vận chuyển khoảng hơn 1.000m3 gỗ ra khỏi rừng. Theo ước tính, số gỗ bị các cơ quan chức năng lập biên bản có giá hơn 4 tỷ đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 71 ngày 6-11-2013 để điều tra, xử lý theo pháp luật.
Sau khi lập biên bản xác định diện tích rừng bị tàn phá, số gỗ khai thác trái phép để lại hiện trường và khởi tố vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm và các cơ quan chức năng ở Lâm Đồng vẫn không có biện pháp bảo quản tang vật, để gần cả ngàn khối gỗ nằm giữa rừng, hứng mưa, chịu nắng. Quá xót xa, ông Quí lại gửi văn bản yêu cầu bảo quản tang vật để sau này xử lý, bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Ngày 20-12-2012, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm ban hành văn bản số 1858/CSĐT cho biết: “Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm đã phối hợp với Hạt kiểm lâm và các cơ quan chức năng tiến hành điều tra, xác minh để sớm có kết luận vi phạm và thu hồi số tang vật theo đúng quy định của pháp luật”.
Thấy số lượng gỗ 906,88m3 không được bảo quản, Giám đốc Công ty Việt Tài lại tiếp tục làm đơn yêu cầu các cơ quan chức năng bảo quản tang vật của vụ án. Sau khi xem xét nội dung đơn, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm xét thấy việc xác định lại trữ lượng gỗ còn lại thuộc chức năng, thẩm quyền xử lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng nên đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 157 ngày 16-12-2013 trưng cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng để thực hiện theo thẩm quyền. Thế nhưng, từ đó đến nay các cơ quan chức năng của tỉnh Lâm Đồng vẫn chưa tiến hành xác định lại trữ lượng gỗ còn lại sau khi một phần diện tích rừng bị tàn phá. Điều đó gây khó khăn cho Công ty Việt Tài trong việc bảo vệ rừng.
Sau hơn 700 ngày nằm giữa rừng, 906,88m3 gỗ vẫn không hề có biện pháp bảo quản. Thấy tài sản của Nhà nước bị xuống cấp, hư hỏng, ông Quí lại làm đơn yêu cầu các cơ quan chức năng có biện pháp bảo quản, xử lý (vì đây là tang vật của vụ án). Từ đơn của ông Quí, ngày 25-6-2014, đại diện Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm cùng Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm và các cơ quan chức năng đến hiện trường lập “biên bản xác minh về việc thu hồi vật chứng” ghi nhận kết quả như sau: “Tổng số gỗ (vật chứng) được thu hồi về bãi tập trung chờ quyết định xử lý vật chứng gồm 7 lóng, khối lượng 23,710m3. Số gỗ (vật chứng) không thu hồi được do mục nát, mất phẩm cấp, đang phân hủy (tự tiêu hủy)”.
Ngày 30-7-2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm đã gửi công văn, yêu cầu Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm tiến hành lập thủ tục bán đấu giá số lâm sản thu được (7 lóng gỗ tròn có tổng khối lượng 23,710m3). Như vậy, từ việc xác định số gỗ 906,88m3 bị tàn phá, nay chỉ tiến hành lập thủ tục bán đấu giá số lâm sản 23,710m3 (?!). Số gỗ còn lại với hơn 883m3 vẫn bỏ lại hiện trường để tự phân hủy. Đây là sự thất thoát tài sản của Nhà nước, đồng thời làm “biến dạng” vụ án.
Để làm rõ những bức xúc của người dân địa phương, từ đơn phản ánh của Công ty Việt Tài, PV đã đến Công an huyện Bảo Lâm để xác minh, làm rõ. Thế nhưng đã nhiều lần lui tới, chờ đợi, lãnh đạo Công an huyện Bảo Lâm đều khước từ, không tiếp vì “bận họp”.
Tiếp xúc với PV, ông Trần Hữu Du - Viện trưởng VKSND huyện Bảo Lâm cũng “bận họp” nên không thể nói gì về vụ án đã bị khởi tố hơn một năm trước. Rõ ràng, vụ án “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” đã được cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm khởi tố hơn một năm trước đang có nguy cơ bị “chìm xuồng” vì đến nay vẫn chưa khởi tố bị can và để tang vật ngoài trời, không bảo quản, làm giảm mức độ thiệt hại... Đó là những dấu hiệu không bình thường, gây bất bình trong dư luận.
Để giữ gìn kỷ cương phép nước, rất mong các Cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh Lâm Đồng sớm vào cuộc, chỉ đạo điều tra làm rõ, xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng theo pháp luật. Bên cạnh đó, cần xem xét xử lý trách nhiệm của các cán bộ liên quan đến việc chậm giải quyết vụ án, để một khối lượng gỗ bị hư hỏng, gây thất thu cho Nhà nước. (Công An TPHCM 28/11, tr4) đầu trang(
Rừng thông phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 qua địa bàn huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đang đứng trước nguy cơ xóa sổ bởi sự tàn phá, xâm lấn để làm nhà ở và nương rẫy.
Trước đây, những kẻ phá rừng chủ yếu xâm lấn dần rừng thông bằng cách gọt vỏ cây cho chết dần rồi đốn hạ, tiến hành "vây lấn tấn phá" rừng thông. Thời gian gần đây, những cây thông còn lại sát nương rẫy cũng bị tận diệt bởi thủ đoạn đầu độc bằng hóa chất.
Rừng thông thuộc huyện Đắc Song trước đây rất rậm rạp, xanh tươi, nay chỉ còn lại những khoảnh nhỏ đan xen với nương rẫy do người dân xâm lấn, đang bị tận diệt bằng cách đầu độc. Tại tiểu khu 1614, có khoảng 1 ha thông hơn 30 năm tuổi mới bị đầu độc đang bị khô héo lá và chết dần.
Tại hiện trường, những cây thông chết đều có hàng chục lỗ khoan có đóng que nhỏ. Trong các lỗ nhỏ đều có bọt trắng của hoá chất. Gần khu vực này có 2 khoảnh thông (sát khu vực rẫy cà phê, hồ tiêu của người dân) với hàng trăm cây thông lớn nhỏ đường kính trên dưới 30 cm đã chết trước đó không lâu, một số cây đã bị người dân đốn hạ.
Ông Nguyễn Đức Hạnh, ở thôn 7, xã Nâm N’jang, huyện Đắk Song, sống gần tiểu khu 1614 cho biết: "Tôi đã ở tại khu vực này gần 20 năm, người dân sống trong vùng này thưa thớt thì thông còn rất nhiều. Trước đây, bà con chỉ khai hoang ở dưới chân đồi để trồng cà phê, nhưng sau này giá các loại nông sản như hồ tiêu được giá nên bà con cứ thế lấn dần lên khu vực rừng thông".
Theo ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, thủ đoạn phá hại rừng thông dọc Quốc lộ 14 rất phức tạp, người dân phá rừng với mục đích lấn chiếm đất để sản xuất và làm nhà, nhất là vùng đất mặt đường thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán. Họ dùng nhiều biện pháp tinh vi như, khoan lỗ, bỏ hóa chất để hủy hoại cây thông. Do việc hủy hoại rừng thông thực hiện vào ban đêm, nên khi phát hiện ra, thì họ vứt các dụng cụ rồi bỏ trốn nên cán bộ kiểm lâm không xử lý được.
Ông Thịnh cũng cho rằng, dù lực lượng kiểm lâm đã tích cực phối hợp với cơ quan chức năng để tuần tra, kiểm soát, nhưng do diện tích rừng thông nằm rải rác lại xen kẽ với nhà ở và nương rẫy của người dân lại dài trên 20km nên việc canh giữ, bảo vệ rất khó khăn.
Rừng thông phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 thuộc địa phận 2 xã Trường Xuân và Nâm N'Jang được trồng từ năm 1978 đến năm 1984 với diện tích ban đầu trên 400 ha. Rừng thông không chỉ có chức năng phòng hộ mà còn là khu rừng cảnh quan rất đẹp. Trước đây, rừng thông được Lâm trường Đắk Nông và Đắk Rung quản lý.
Từ năm 2013, rừng được giao cho nhiều đơn vị khác nhau quản lý bảo vệ. Cũng trong thời gian này, rừng bị tàn phá và xâm lấn nhiều nhất. UBND huyện Đắk Song đã phối hợp với các đơn vị chủ rừng, Chi cục Kiểm lâm cưỡng chế giải tỏa nhiều lần nhưng chưa kiên quyết, dẫn đến việc người dân quay lại tiếp tục lấn chiếm đất rừng ngày càng nhiều hơn. Cuối tháng 4/2014 vừa qua, UBND huyện Đắk Song đã tổ chức một đợt cưỡng chế, giải tỏa một số hộ dân lấn chiếm đất rừng thông.
Trong những năm qua, huyện Đắk Song xảy ra nhiều vụ lấn chiếm đất rừng làm nhà ở và nương rẫy trái phép. Từ đầu năm 2014 đến nay, Đắk Song là một trong những huyện phát hiện số vụ phá rừng làm nương rẫy nhiều nhất Đắk Nông. (Tin Tức 29/11) đầu trang(
Ông Lê Huy Hoàng, Phó Giám đốc Ban QLDA ĐSĐT Hà Nội cho hay, theo tiến độ và được sự cấp phép của Sở Xây dựng Hà Nội, trong đợt 1 sẽ có 27 cây xanh phải chặt hạ, di chuyển. Số cây này nằm trên đường 70 (đoạn từ ngã tư Nhổn đến khu Depot Nhổn), trong đó có 18 cây phải chặt hạ gồm xà cừ, hoa sữa... và 9 cây di chuyển.
Theo ông Lê Huy Hoàng, việc chặt hạ, di chuyển cây xanh đợt này đã được tư vấn bởi Công ty CP Tư vấn và đầu tư xây dựng CCIC, đơn vị thực hiện là Công ty TNHH MTV- Công viên cây xanh Hà Nội. Theo đó, việc di chuyển, chặt hạ 27 cây xanh đợt 1 này sẽ được thực hiện trong những ngày tới.
Đối với những cây xanh bị chặt hạ, đại diện Ban QLDA ĐSĐT Hà Nội cho biết, những phần cây không đáp ứng tiêu chuẩn gỗ sẽ được quy đổi là củi, những phần cây có đường kính lớn hơn 30cm, không sâu mục sẽ được nghiệm thu và Sở Tài chính thẩm định giá, được chiết khấu trừ vào dự toán thanh toán cho Công ty Công viên cây xanh. Còn lại, số cây xanh di chuyển sẽ được đưa về vườn ươm của Công ty Cây xanh Hà Nội tại khu vực cầu Diễn.
Liên quan đến toàn bộ kế hoạch di chuyển cây xanh nằm trong dự án ĐSĐT tuyến số 3 này, ông Lê Huy Hoàng cho hay, đơn vị này đã khảo sát, mời chuyên gia xây dựng đánh giá lập kế hoạch, toàn bộ cây xanh nằm trong dự án đều phải chặt hạ hoặc di chuyển.
Cụ thể, đoạn từ Nhổn đến Cầu Giấy sẽ phải xử lý 119 cây xanh, trong đó chặt hạ 51 cây, di chuyển 68 cây. “Toàn bộ số cây xanh thuộc 8,5km ga đi trên cao này này đã được lên kế hoạch và trình Sở Xây dựng xin giấy phép để tiếp tục thực hiện chặt hạ, di chuyển sau đợt 1 này".
Đối với đoạn ga ngầm kéo dài từ ga S9-S12 (ga Cầu Giấy đến ga Hà Nội) đều phải đào mở, nên toàn bộ cây xanh thuộc đoạn này cũng phải chặt hạ, di chuyển ra khỏi phạm vi dự án. Số lượng cây xanh nằm trong đoạn này là 192 cây, trong đó chặt hạ 144 cây, di chuyển 48 cây.
“Đối với những cây không thuộc cây xanh đô thị, cây quá to không thể trồng lại được, chi phí di chuyển cũng lớn nên chúng tôi lên kế hoạch chặt hạ. Còn những cây nhỏ, di chuyển được sẽ đưa về vườn ươm tại khu vực cầu Diễn để trồng lại sau khi hoàn thiện dự án. Song, đây mới là kết quả điều tra, khảo sát của chúng tôi, còn việc chặt hạ, di chuyển phải theo từng giai đoạn của dự án và phải được Sở Xây dựng chấp thuận, cấp phép”, ông Lê Huy Hoàng bổ sung.
Như vậy, theo kế hoạch, toàn bộ hàng cây xà cừ lâu năm trên phố Kim Mã sẽ bị chặt hạ để phục vụ làm ga gầm của dự án. Tuy nhiên, sau khi hoàn thiện, chủ đầu tư cho biết sẽ trồng lại cây mới. Ngoài ra, tại khu vực Depot Nhổn, sau khi hoàn thành sẽ trồng 3ha cỏ, 183 cây lim cao khoảng 7m, 33 cây cọ, khoảng 320 cây vụi, 52 cây hoa sữa và tạo hồ nước rộng 1ha.
Theo ông Lê Huy Hoàng, dự án cây xanh này sẽ góp phần làm xanh khu vực, cải thiện môi trường xung quanh ga Depot Nhổn. Hơn nữa, các chuyên gia môi trường cũng đã đánh giá, khi dự án ĐSĐT tuyến số 3 hoàn thành, người dân chuyển từ phương tiện cá nhân sang di chuyển bằng tàu điện sẽ giúp tiết giảm được 20.000 tấn khí thải, chủ yếu là CO2 mỗi năm.
Ông Kiều Xuân Hưng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội cho biết thêm, phần lớn cây xanh trong nằm trong dự án ĐSĐT tuyến số 3 đều là cây đô thị, duy chỉ có đoạn ngã tư Nhổn đến khu Depot Nhổn do được trồng từ lâu nên xen kẽ nhiều chủng loại. Trong đó, xà cừ cũng nằm trong danh mục cây đô thị nhưng hạn chế trồng trên những tuyến phố chật hẹp. (An Ninh Thủ Đô 29/11, tr6) đầu trang(
28/11, phát biểu tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 18, ông Trần Đình Quỳnh, Giám đốc Sở NN-PTNT cho hay, qua kiểm tra rà soát, ở Đà Nẵng có rắn lục xuất hiện tại một số điểm trên hầu hết các quận, huyện nhưng số lượng không nhiều, không phổ biến đến mức phải quá lo lắng.
Theo ông Trần Đình Quỳnh, thực tế những năm trước trên địa bàn TP vẫn có rắn lục đuôi đỏ xuất hiện, như cách đây 2 năm đã phát hiện tại quận Sơn Trà, chứ không phải bây giờ mới có. Tuy nhiên thời gian gần đây, ngoài những thông tin chính thống của các báo, đài TƯ và địa phương về hiện tượng này thì có một số tin đồn lan truyền trong nhân dân là rắn lục đuôi đỏ xuất hiện “do người này thả, người kia thả”, thậm chí nêu địa điểm cụ thể.
“Đơn cử cách đây 2 hôm tôi đi kiểm tra tại huyện Hòa Vang thì có thông tin có một xe chở rắn lục đuôi đỏ đổ ở khu vực đập An Trạch và một xe đổ ở hồ Đồng Nghệ... Nhưng khi chúng tôi đến trực tiếp xác minh với Chủ tịch UBND xã Hòa Phong, Hòa Khương thì họ đều khẳng định đó là tin đồn thất thiệt. Chính quyền các địa phương cần thông báo rõ tình hình cho người dân và xử lý các tin đồn để tránh gây hoang mang trong dư luận” – ông Trần Đình Quỳnh nói.
Đáng chú ý, từ hôm 27/11 đến sáng 28/11, trên mạng loan truyền thông tin quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) bắt quả tang một đối tượng thả hai con rắn lục đuôi đỏ sắp đẻ. Thông tin này mô tả vụ việc bị bắt “tại trận” tới mức hai con rắn lục đuôi đỏ còn chưa kịp lủi đi chỗ khác sau khi được thả ra. Đối tượng bị bắt đã khai sơ bộ về phương tiện chở rắn đi thả và số tiền được trả cho việc làm này...
Trao đổi với PV 28/11 về thông tin kể trên, ông Dương Thành Thị, Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu cho biết, cả ngày hôm qua ông cùng Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng Công an quận Liên Chiểu kiểm tra tình hình trên đèo Hải Vân nhưng hoàn toàn không nhận được báo cáo nào về vụ việc như vừa nêu. Đến sáng nay ông cũng không nhận được thông tin nào về việc Công an quận bắt được đối tượng đi thả rắn lục đuôi đỏ.
“Đó chỉ là tin đồn thất thiệt trên mạng, gây hoang mang dư luận xã hội. Nếu bắt được đối tượng như thế thì Công an quận đã báo cáo cho tôi ngay” – ông Dương Thành Thị khẳng định. Sau khi gọi điện cho Công an quận Liên Chiểu để kiểm tra, ông Dương Thành Thị một lần nữa cho biết: “Công an quận cũng xác định không bắt trường hợp nào hết. Thông tin đưa trên mạng là rất sai lệch, gây hoang mang dư luận!”.
Ngay sau đó, PV tiếp tục liên hệ với Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng Công an quận Liên Chiểu. Ông xác nhận trong thời gian qua đã xuất hiện một số tin đồn về việc Công an quận Cẩm Lệ bắt một đối tượng thả rắn lục đuôi đỏ và chuyển cho Công an quận Liên Chiểu xử lý. Ngài ra còn có tin đồn sinh viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng có hiện tượng thả rắn lục đuôi đỏ... Tuy nhiên qua xác minh của Công an quận Liên Chiểu thì hoàn toàn không có thật.
Theo Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, khi có thông tin rắn lục đuôi đỏ xuất hiện trên địa bàn, Công an quận đã triển khai cho Công an các phường nắm địa bàn thật chặt chẽ để đảm bảo an ninh trật tự, tránh xảy ra tình hình phức tạp. Tuy nhiên qua báo cáo của Công an các phường thì không có rắn lục đuôi đỏ xuất hiện ở Liên Chiểu. Chỉ có một trường hợp vừa qua báo chí nêu là có người dân ở Liên Chiểu bắt được rắn lục đuôi đỏ nhưng Công an không xác minh được đó là ai, địa chỉ cụ thể ở đâu...
“Để đảm bảo an ninh trật tự, đề phòng có người tung tin đồn thất thiệt dẫn đến phức tạp, chúng tôi đã triển khai lực lượng nắm chắc các địa bàn, có thông tin gì phải báo cáo lãnh đạo đơn vị ngay để có hướng xử lý. Đến thời điểm này khẳng định không có việc Công an Liên Chiểu bắt giữ đối tượng thả rắn lục đuôi đỏ, nếu có thì chúng tôi đã thông tin cho báo chí. Nếu đúng là phát hiện được đối tượng thả rắn lục thì quá tốt vì sẽ giải tỏa được tâm lý cho nhân dân, nhưng thực tế là không có!” – Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng nói.
Trước đó, ngày 27/11, ông Tán Văn Đặng, Trưởng Công an xã Hòa Phong (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng) khẳng định, thông tin lan truyền ở khu vực chợ Túy Loan về việc có 2 thanh niên mang bao rắn lục đuôi đỏ đi thả trên địa bàn Hòa Phong và bị Công an xã bắt quả tang vào ngày 26/11 chỉ là tin đồn thổi. (InfoNet 28/11; Nông Thôn Ngày Nay 29/11, tr2) đầu trang(
27/11, tại khu đồi 72, thôn Xuân Hòa - xã Vân Hòa, Hạt Kiểm lâm huyện Ba Vì đã phối hợp với UBND xã Vân Hòa, Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014.
Tình huống giả định là người dân vô ý làm cháy rừng và bỏ chạy. Sau khi phát hiện cháy rừng, các lực lượng bảo vệ rừng đã tổ chức dập lửa, thông báo cho trưởng thôn nơi có rừng để huy động lực lượng tham gia chữa cháy.
Với phương châm 4 tại chỗ, sau hơn một giờ, các lực lượng phòng cháy, chữa cháy và người dân địa phương đã khống chế và dập tắt lửa, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, tài sản. (Kinh Tế & Đô Thị 29/11, tr2) đầu trang(
Khánh Hòa: Vào tù vì đốt lá mía làm cháy lan sang rừng trồng
Chiều 27-11, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tuyên chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh Lâm (sinh năm 1987, trú Ninh Xuân, Ninh Hòa), phạm tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, giảm hình phạt cho bị cáo từ 1 năm còn 9 tháng tù giam.
Theo hồ sơ, khoảng 13 giờ ngày 27-3-2012, sau khi thu hoạch xong, Lâm đốt rác ruộng mía của mình ở khu vực xã Ninh Xuân. Do vô ý, Lâm để lửa cháy lan sang ruộng mía của 19 hộ liền kề rồi tiếp tục cháy lan sang rừng trồng keo, bạch đàn của Công ty TNHH Cát Phú, làm cháy tổng cộng gần 22 ha keo và bạch đàn.
Hội đồng định giá xác định diện tích rừng bị cháy thiệt hại hơn 330 triệu đồng. 19 hộ dân có ruộng mía bị cháy đều thừa nhận không thiệt hại gì và không có yêu cầu nên không xét đưa vào người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tiền án, tiền sự, sau phiên tòa sơ thẩm đã khắc phục bồi thường được 3 triệu đồng cho Công ty Cát Phú nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo. (Báo Khánh Hòa 27/11) đầu trang(
Theo thống kê hiện nay, huyện Yên Thế có tổng diện tích trên 14.000 ha rừng các loại; trong đó có trên 865 ha rừng tự nhiên và gần 13.300 ha rừng trồng.
Để đảm bảo cho các diện tích rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt, mang lại hiệu quả cao, những năm qua, huyện đã triển khai nhiều giải pháp trồng, chăm sóc, quản lý, đặc biệt là các biện pháp phòng, chống cháy rừng.
Theo đó, ngày 24/10/2013, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3836 thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) Bảo vệ rừng (BVR) và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) huyện mùa khô hanh 2013-2014. BCĐ đã họp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên và quy định việc phối kết hợp giữa các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể, các cơ sở, chủ rừng trên địa bàn trong công tác PCCCR.
Với 9 xã trọng điểm và 5 chủ rừng lớn trên địa bàn, BCĐ huyện đã chỉ đạo UBND các xã thành lập 14 Ban chỉ huy BVR - PCCCR tại cơ sở với 219 thành viên, xây dựng các bộ Phương án BVR-PCCCR cơ sở, 81 tổ xung kích BVR-PCCCR ở thôn, bản, tiểu khu và các đội sản xuất lâm nghiệp với 821 thành viên. Đây chính là lực lượng thường trực tại chỗ sẵn sàng tham gia ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Ngoài ra, BCĐ BVR - PCCCR huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Yên Thế phân công 8 cán bộ Kiểm lâm phụ trách địa bàn 21/21 xã, thị trấn để tham mưu, phối hợp với chính quyền cơ sở và các chủ rừng trong công tác PCCCR; ký hợp đồng BVR và PCCCR với 10 lao động địa phương thuộc 9 xã trọng điểm cháy rừng làm nhiệm vụ thường xuyên tuần tra, kiểm tra, giám sát lửa rừng.
Đặc biệt, BCĐ BVR - PCCCR huyện đã giao cho Hạt Kiểm lâm ký hợp đồng hàng năm với Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện, Đài Truyền thanh các xã trọng điểm về cháy rừng thường xuyên đưa tin, bài phản ánh tuyên truyền về công tác quản lý BVR và thông tin cảnh báo cháy rừng trên hệ thống truyền thanh - truyền hình huyện và loa truyền thanh cơ sở; chỉ đạo Hạt kiểm lâm tổ chức các hội nghị chuyên đề và phối hợp với cơ sở tổ chức tuyên truyền lồng ghép công tác quản lý, BVR, PCCCR trong các cuộc họp của xã, thôn và các đoàn thể địa phương.
Ông Đồng Xuân Thanh - Hạt trưởng Kiểm lâm huyện cho biết: Nội dung tuyên truyền tập trung vào văn bản pháp luật về quản lý, BCR, công tác PCCCR, các văn bản, chính sách của Nhà nước về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; các gương điển hình tiên tiến trong sản xuất lâm nghiệp...
Kết quả từ đầu năm 2014, BCĐ huyện đã thực hiện được 144 hội nghị tuyên truyền lồng ghép trên địa bàn xã, thôn với 3.444 lượt người tham dự; tổ chức 1 lớp tập huấn kiến thức về BVR và PCCCR tại xã Canh Nậu cho 85 người tham gia; phát 220 lượt tin, bài trên hệ thống truyền thanh cơ sở; kẻ vẽ tuyên truyền trên 7 bảng tin và 72 biển báo, bảng BVR…
Cũng theo ông Thanh - Hạt trưởng Kiểm lâm huyện cho biết, BCĐ huyện đã tiến hành bố trí và thông báo rộng rãi số điện thoại thường trực của BCĐ huyện, xã và các chủ rừng lớn để mọi người dân đều có thể thông tin tình hình lửa rừng và các vi phạm về BVR, PCCCR một cách nhanh chóng và kịp thời nhất.
Bên cạnh đó, BCĐ BVR-PCCCR huyện cũng chỉ đạo Hạt Kiểm lâm phân công cán bộ Kiểm lâm địa bàn phối hợp với lực lượng khuyến lâm các xã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào trồng rừng, thông qua việc lựa chọn giống cây có chất lượng, thực hiện thâm canh, có bón phân, chăm sóc suốt chu kỳ, đồng thời thiết kế thi công hệ thống đường ranh cản lửa ngay từ khi trồng rừng; hướng dẫn nhân dân đốt dọn thực bì chuẩn bị hiện trường trồng rừng có kiểm soát từ phía đỉnh xuống dưới chân làm cho vật liệu cháy kiệt; phát, dọn dây leo, cây bụi cạnh tranh với cây trồng chính 2 lần/năm; tuyên truyền nhân dân nâng cao ý thức sử dụng lửa gần rừng và ven rừng, tuyệt đối không sử dụng lửa gần rừng và ven rừng trong những ngày hanh khô kéo dài...
Theo đánh giá của cơ quan chức năng, nhờ tích cực triển khai các giải pháp đồng bộ nên đến nay, cơ bản diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Yên Thế đã được cải tạo, thay thế bằng những lớp rừng mới phát triển tốt và ít có khả năng xảy ra cháy rừng hơn so với các giống cây được trồng trước đó. Riêng đối với một số diện tích chưa có khả năng cải tạo, có nguy cơ xảy ra cháy cao đã được BCĐ huyện chỉ đạo các xã và các chủ rừng chủ động tiến hành các biện pháp chăm sóc, phát dọn, tiêu giảm thực bì, vật liệu cháy… để giảm xuống mức thấp nhất về nguy cơ gây cháy rừng.
Đặc biệt, tình trạng cháy rừng trên địa bàn huyện đã được hạn chế đến mức thấp nhất. Tính đến hết tháng 10/2014, trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng tại địa bàn xã Tam Hiệp với diện tích 0,3 ha; tuy nhiên, bằng các biện pháp tích cực trong công tác PCCCR, lực lượng chức năng và địa phương đã sớm phát hiện và tổ chức huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy kịp thời. Do đó, chỉ cháy thực bì, không gây thiệt hại cho cây rừng. So với cùng kỳ năm 2013, số vụ cháy rừng trên địa bàn huyện đã giảm 1 vụ, và nhất là không gây thiệt hại về tài sản.
Bằng nỗ lực của mình, huyện Yên Thế đang nỗ lực triển khai nhiều biện pháp, từ cải tạo thay thế các giống cây trồng cũ bằng các giống mới năng suất, chất lượng cao hơn, đến việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, PCCCR; qua đó, nhằm hướng đến mục tiêu phát huy cao nhất hiệu quả các diện tích rừng trồng mang lại đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung của địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Yên Thế 27/11) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh vừa cho biết, tính đến ngày 15/11, lực lượng Kiểm lâm tỉnh đã bắt giữ và xử lý hành chính 259 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, tăng 25 vụ so với cùng kỳ.
Trong đó, số vụ xử phạt hành chính là 256 vụ và xử lý hình sự 03 vụ. Kiểm lâm tỉnh cũng đã tổ chức tịch thu 184,26 m3 gỗ các loại quy tròn (gỗ quý hiếm 35,52 m3); gỗ thông thường 148,74 m3; 6.340,7 kg động vật. Tổng giá trị thu hồi 6.331,47 triệu đồng.
Do lợi nhuận cao nên nhiều đối tượng vẫn tiếp tục có những hành động liều lĩnh buôn bán, vận chuyển trái phép động vật rừng và các loại gỗ. Trong khi đó, ở một số nơi trong tỉnh, lực lượng kiểm lâm vẫn còn mỏng.
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản, phòng chống hoạt động vận chuyển, kinh doanh động vật rừng, sản phẩm động vật rừng, lực lượng chức năng sẽ đẩy mạnh các biện pháp quản lý nhà nước, đồng thời tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ môi trường; bảo vệ các loài động vật rừng là rất cần thiết. (Đài PTTH Quảng Ninh 28/11) đầu trang(
27.11, tại sông Nước Lương thuộc thôn T6, xã Đắk Mang, huyện Hoài Ân, Hạt Kiểm Lâm Hoài Ân đã ngăn chặn một vụ vận chuyển gỗ trái phép bằng đường sông gồm 37 súc gỗ nhóm 4, 5 gần 4m3, chủ nhân đã bỏ tang vật chạy trốn.
Trong thời gian gần đây, tình trạng khai thác và buôn bán gỗ trái phép trên địa bàn xã Đắk Mang diễn biến phức tạp, Hạt Kiểm lâm Hoài Ân đã tăng cường lực lượng, lập chốt canh giữ cả ngày đêm nhưng lâm tặc vẫn dùng nhiều thủ đoạn để qua mặt lực lượng kiểm lâm.
Chỉ tính riêng từ tháng 10 đến nay, Hạt kiểm lâm Hoài Ân đã truy lùng và bắt trên 10 vụ thu giữ trên 20m3 gỗ. (Báo Bình Định 28/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đêm 29/11, khi phát hiện tại khu vực trạm thu phí cũ trên quốc lộ 10 (xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng) có một đoàn xe tải chở nhiều cây gỗ lớn có dấu hiệu quá tải, lực lượng Thanh tra Sở GTVT và CSGT kiểm tra, đưa xe tải BKS 15C-05527 về trạm cân di động trên Quốc lộ 5 để kiểm tra tải trọng.
Theo đó, chiếc xe có tải trọng cho phép chở 10 tấn hàng của Cty Cổ phần thương mại và vận tải Trường Xuân đã chở tới 42 tấn gỗ, quá tải 323%.
Cùng thời điểm này, lực lượng TTGT phát hiện ba xe tai chở gỗ khác của Cty Cổ phần thương mại và vận tải Trường Xuân đỗ bên lề đường tiến hành kiểm tra nhưng các lái xe đã khóa cửa bỏ đi. Lực lượng TTGT đã phải cắt cử người và phương tiện chặn các xe này chờ xử lý. Đến sáng 30/11, các lái xe quay lại xuất trình giấy tờ, đưa xe về trạm cân để kiểm tra tải trọng.
Ông Trần Văn Thanh, Phó Chánh thanh tra Sở GTVT Hải Phòng, cho biết cả 3 xe trên đều chở quá tải trọng trên 50% (xe tải trên 5 tấn), đồng thời vi phạm chở hàng quá khổ giới hạn cầu đường. Thanh tra Sở GTVT Hải Phòng đã ra quyết định xử phạt đối với lái xe và chủ xe.
Theo Thanh tra Sở GTVT Hải Phòng, các xe này chở gỗ từ Hải Phòng đi theo Quốc lộ 10 rẽ qua huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) nhằm “né” 2 trạm cân di động trên Quốc lộ 5 của Hải Phòng và Hải Dương. (Tiền Phong 1/12, tr2) đầu trang(
Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập ngành Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959-28/11/2014), sáng 28/11, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức gặp mặt các cán bộ, công nhân viên của ngành lâm nghiệp qua các thời kỳ và phát động cuộc thi ảnh “Rừng và con người”.
Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành lâm nghiệp đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển đất nước, cải thiện sinh kế người dân ở khu vực nông thôn và miền núi, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và an ninh, quốc phòng.
Diện tích rừng tăng nhanh và ổn định, độ che phủ rừng tăng liên tục từ 28% năm 1992 lên 41% vào năm 2014. Trong 5 năm qua, giảm 80% diện tích rừng bị tàn phá trái pháp luật. Công tác phòng chống cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” được tăng cường. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng nhanh. Năm 2014 kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ ước đạt 6,2 tỷ USD…
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn nêu rõ: Góp phần vào những kết quả của ngành lâm nghiệp thời gian qua có sự đóng góp rất lớn của các cán bộ, công nhân viên chức ngành lâm nghiệp qua các thời kỳ. Đây là dịp ngành lâm nghiệp đánh giá những việc đã làm được, chưa làm được để đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị xuất khẩu các sản phẩm lâm sản và phát triển lâm nghiệp bền vững.
“Dịp này là cơ hội để chúng ta cùng chia sẻ qua đó hiểu sâu sắc hơn chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời là nghĩa cử của người làm lâm nghiệp tri ân đến những tấm gương cần cù, dũng cảm trong thầm lặng hy sinh xương máu trong bảo vệ mầu xanh của đất nước. Chúng tôi mong muốn các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và dân sự trong và ngoài nước tiếp tục quan tâm bằng hành động cụ thể thiết thực chung tay xây dựng ngành lầm nghiệp tiên tiến tiếp cận nhanh với công nghiệp hóa hiện đại hóa thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển và bảo vệ rừng”- Thứ trưởng Hà Công Tuấn nói.
Dịp này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Chương trình hợp tác của Liên hợp quốc về Giảm phát thải khí nhà kính phát động cuộc thi ảnh “Rừng và con người”. Cuộc thi nhằm truyền tải vẻ đẹp phong phú và sự đa dạng của các hệ sinh thái rừng ở Việt Nam; Tăng cường nhận thức của toàn xã hội về vai trò và giá trị của rừng đối với cuộc sống con người, gắn với nỗ lực bảo vệ và phát triển rừng, giảm mất rừng và suy thoái rừng của người dân và cơ quan quản lý Nhà nước trong lộ trình thực hiện tái cơ cấu ngành với mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững. (VOV 28/11; Kinh Tế & Đô Thị 28/11) đầu trang(
Từ khi Hà Tĩnh thực hiện chủ trương chuyển đổi rừng phòng hộ thành rừng sản xuất, đã có không ít hệ lụy xảy ra. Đặc biệt, khi các cấp chính quyền ưu tiên rừng cho doanh nghiệp phát triển cao su, nhiều hộ dân trước đây sống dựa vào rừng trở nên trắng tay vì mất đất sản xuất. Thực tế này đang diễn ra tại xã Hương Thủy (huyện Hương Khê).
Xã Hương Thủy nằm bên bờ sông Ngàn Sâu thuộc vùng rốn lũ huyện Hương Khê, có diện tích đất tự nhiên trên 3.200ha. Cuộc sống của hơn 600 hộ dân chủ yếu dựa vào rừng và đất rừng. Thế nhưng, từ khi tỉnh và huyện tiến hành giao trên 2.000ha đất tự nhiên cho Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh và Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê sử dụng vào mục đích trồng cao su, thì cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn vì thiếu đất sản xuất.
Trước đây, Hương Thủy chưa bao giờ thiếu đất sản xuất. Thế nhưng, từ khi hai công ty cao su về mở rộng sản xuất trên địa bàn thì thực trạng này đã xảy ra. Cách đây 5 năm, do thấy sức hấp dẫn của cây cao su, chính quyền đã đồng ý cho doanh nghiệp mở rộng diện tích trồng cao su trên địa bàn mà không hề quan tâm đến ý nguyện của người dân. Chỉ đến khi doanh nghiệp cầm sổ đỏ trên tay thì người dân mới "té ngửa" đất của mình đã bị thu hồi.
Những hộ dân mất đất sản xuất ở thôn 11 kể lại: Từ năm 1993 về trước, tại tiểu khu 186 đồi Ba Cạnh có một làng với 20 hộ định canh định cư. Những cựu chiến binh sau khi hoàn thành nghĩa vụ ở chiến trường trở về đã tích cực khai hoang phục hóa, phủ xanh đất trống đồi trọc, xây dựng cuộc sống mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Lúc đầu, họ phát cây làm rẫy trồng sắn, trồng chè; đến năm 1982 thì đưa vợ con vào định cư ở đây dựng nhà, mở đường lập nên làng Ba Cạnh. Cuộc sống đang hồi sinh trên vùng đất mới, thế rồi vào cuối năm 1993, dịch bệnh sốt rét hoành hành, cướp đi tính mạng của nhiều người trong làng, buộc những người sống sót phải đi tìm nơi ở mới. Tuy vậy, nơi đây vẫn là vùng đất mà họ hàng ngày lui tới để tăng gia sản xuất kiếm kế sinh nhai.
Ông Lê Văn Hùng, một trong những cựu chiến binh đầu tiên định cư ở đây xúc động nói: Khu vườn trước đây nuôi sống cả gia đình, nhưng giờ đây trở nên hoang tàn khi giao cho Công ty Cao su Hương Khê. Bà Phan Thị Vân cùng cảnh như ông Hùng cũng bày tỏ: Lấy đất của dân cấp cho doanh nghiệp trồng cao su nhưng doanh nghiệp lại không trồng cao su mà thuê một hộ dân khác trồng bạch đàn lấy gỗ làm nguyên liệu, thật hết sức vô lý.
Tiếp xúc với PV, người dân xóm 11 cho biết thêm: "Ngày 7/11/2008, UBND xã Hương Thủy ra thông báo nghiêm cấm trồng các loại cây tại đồi Ba Cạnh thì những hộ dân có đất sản xuất và đất vườn tại khu vực này mới biết rằng diện tích đất mà họ bỏ nhiều công sức khai hoang, phục hóa đã bị chính quyền cấp cho Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê. Từ đó, 22 gia đình cựu chiến binh ở đây mất đất sản xuất, cuộc sống vùng rốn lũ vốn đã khó khăn, vất vả, nay lại càng khó khăn hơn".
Điển hình như gia đình bà Nguyễn Thị Huệ, một trong những hộ đầu tiên vào khai hoang tại tiểu khu 186. Chồng bà Huệ là cựu chiến binh Nguyễn Viết Tạo, người từng tham gia trận đánh cuối cùng giải phóng Sài Gòn, khi trở về quê khai hoang phục hóa tại đồi Ba Cạnh đã lao động quá sức nên lâm bệnh qua đời, nay diện tích mà ông Tạo khai hoang phục hóa để lại cho mẹ con bà Huệ cũng bị chiếm dụng. Mặc dù gia đình có đến 3 lao động nhưng không có đất sản xuất nên rơi vào hoàn cảnh nghèo túng quanh năm.
Không chỉ gia đình bà Huệ mà những hộ dân khác khi mất đất sản xuất cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Bất bình trước việc mất đất sản xuất, từ năm 2008 đến nay, những hộ dân này đã nhiều lần kiến nghị lên các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng nhưng vẫn chỉ là "đá ném ao bèo", lên tỉnh thì tỉnh bảo về huyện, đến huyện thì huyện giao trách nhiệm cho chính quyền xã giải quyết.
Đi tìm câu trả lời cho người dân mất đất sản xuất, PV trực tiếp gặp cấp ủy và chính quyền xã Hương Thủy thì được giải thích một cách bất nhất. Bí thư Đảng ủy Nguyễn Văn Phú cho rằng, nguyện vọng của người dân là chính đáng, xã đang có kế hoạch đề xuất với huyện can thiệp với công ty nhượng lại một số diện tích để cấp cho dân phát triển sản xuất, sớm ổn định cuộc sống.
Còn ông Nguyễn Ngọc Chí, Phó chủ tịch UBND xã, lại bảo: Dân kêu kiện là không có cơ sở, vì đất đó tỉnh đã cấp quyền sử dụng cho Công ty Cao su Hương Khê nên người dân muốn đòi lại đất thì trực tiếp đến tòa án nhân dân huyện.
Theo ông Chí, từ năm 2003, Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ranh giới bản đồ sử dụng đất bao trùm lên số diện tích hơn 5ha đất của 22 hộ dân xóm 11 (cũ) tại tiểu khu 186 đồi Ba Cạnh. Chính quyền xã Hương Thủy cho rằng, những hộ dân này không có cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất.
Nhưng trên thực tế, đây là diện tích đất mà người dân khai hoang phục hóa, sinh sống và sản xuất từ năm 1982 đến năm 1993 và hiện nay nhiều loại cây trồng như chè, tro, tranh và một số cây ăn quả khác mặc dầu bị bỏ hoang vì không được chăm sóc nhưng vẫn còn hiện hữu. Một số gia đình vẫn tranh thủ vào đây thu hái. Rõ ràng, để xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, nhu cầu về đất sản xuất cho người dân Hương Thủy nói chung, 22 hộ ở làng Ba Cánh nói riêng, là hết sức cần thiết.
Về vấn đề này, ông Trần Thanh Hà, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê, nói: Về luật thì người dân không có quyền đòi lại đất vì đất của chúng tôi đã được UBND tỉnh cấp quyền sử dụng. Còn việc sử dụng như thế nào lại là việc của công ty.
Tuy nhiên, người dân thiếu đất, muốn có được diện tích đất trước đây mình đã khai hoang để sản xuất thì địa phương phải làm việc với công ty để tìm cách giải quyết, chứ lâu nay chúng tôi chưa hề nghe địa phương nói gì. Ở huyện Vũ Quang, sau khi địa phương đề xuất, chúng tôi đã nhượng lại 500ha đất cho dân để phát triển sản xuất; còn làng Ba Cạnh cần khoảng10ha không phải là chuyện khó. Vấn đề là phải có sự bàn bạc thống nhất giữa địa phương và công ty.
Có lẽ nếu nói như ông Hà thì câu chuyện đòi trả lại đất sản xuất của người dân Hương Thủy không phải kéo dài suốt nửa thập kỷ qua và nếu quả thực đúng như ông Hà trả lời trước báo giới thì chính quyền địa phương cần nhìn lại mình để nêu cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm trước nhân dân, đảm bảo quyền lợi cũng như nhu cầu chính đáng của bà con. Đặc biệt, cần thực hiện nghiêm Đề án 3592 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về công tác chuyển đổi đất rừng giúp cải thiện cuộc sống người dân vùng rốn lũ. (Kinh Tế Nông Thôn 30/11) đầu trang(
Ngày 30-11, nguồn tin từ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước cho hay cơ quan này vừa có văn bản đề nghị Sở Tài nguyên - môi trường rà soát, cung cấp số liệu cho thuê đất lâm nghiệp.
Văn bản phải thể hiện rõ diện tích cho thuê, thời điểm cho thuê theo đơn vị chủ rừng, chủ dự án và tổ chức, cá nhân đã được cho thuê đất để báo cáo UBND tỉnh xem xét, có ý kiến chỉ đạo.
Cũng theo nội dung văn bản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề nghị Sở Tài nguyên - môi trường cung cấp số lượng, diện tích đất lâm nghiệp trước đây giao khoán cho các tổ chức, cá nhân nhưng hiện đã được UBND các cấp cho thuê và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Số lượng, diện tích đất lâm nghiệp được UBND các cấp cho thuê và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân để thực hiện các dự án khác không phải là lâm nghiệp (như khai thác khoáng sản, chăn nuôi, du lịch, chợ, bệnh viện...); thực hiện dự án trồng cao su trên đất lâm nghiệp, sử dụng vào các mục đích khác ngoài các nội dung nói trên.
Trong loạt bài “Ban phát đất rừng cho quan chức” đã chỉ rõ: Trong khi rất nhiều người dân thiếu đất sản xuất thì một số cán bộ, vợ, con... giám đốc các sở, ngành của tỉnh Bình Phước lại được “ban phát” hàng chục hecta đất rừng để trồng cao su.
Liên quan vấn đề này, vừa qua Văn phòng Chính phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về báo cáo giải trình của UBND tỉnh Bình Phước xung quanh loạt bài “Ban phát đất rừng cho quan chức”.
Phó thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài nguyên - môi trường, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với UBND tỉnh Bình Phước kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất. Từ đó đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Tuổi Trẻ 1/12, tr3) đầu trang(
Theo đơn của các hộ dân, từ năm 2002 - 2006, 3 nhóm gồm 11 hộ dân ở Ea Tam và Cư Klông nhận đất trồng rừng ổn định, lâu dài được 299,89ha cây gỗ thông xen keo, cộng với 17 hộ dân có hợp đồng trồng và chăm sóc rừng, nâng tổng số diện tích đất rừng được người dân nhận từ BQL Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng (gọi tắt là BQL) lên đến hơn 500ha, trong đó có 418,6ha đã được người cải tạo, trồng cây gây thành rừng.
Thế nhưng, không hiểu vì sao, năm 2008 UBND tỉnh Đắk Lắk lại đột ngột “gạt” lấy toàn bộ diện tích đất này giao cho doanh nghiệp chặt phá, trồng rừng lại từ đầu?!
Việc này, ngay từ đầu không chỉ gặp phải sự phản kháng của các hộ dân đã bỏ công, bỏ của ra trồng rừng, gây bức xúc trong dư luận, mà ngay cả chính quyền và cơ quan chức năng sở tại cũng không đồng ý. Tại cuộc phúc tra ngày 7/4/2008, Giám đốc BQL khẳng định không thể giao diện tích đất rừng này cho doanh nghiệp. Chính quyền huyện Krông Năng cũng không đồng tình việc thu hồi đất rừng tại xã Ea Dăh, khi khẳng định: Hiện tại chưa thể giao cho Công ty CP Trường Thành lập dự án đầu tư trồng rừng được, do chưa di dời và ổn định được dân cư trong vùng.
Tuy nhiên, ngày 03/10/2008, UBND tỉnh Đắk Lắk vẫn ra Quyết định số 2572/QĐ-UBND thu hồi 568,43 ha của BQL để giao cho Công ty CP Trường Thành, đồng nghĩa thu hồi toàn bộ 418,6ha rừng trồng hợp pháp của 28 hộ dân đã bỏ biết bao công sức gây dựng nên.
Đối chiếu với Điều 26 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và khoản 2, Điều 26 Nghị định số 23/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật này, thấy việc UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi hơn 400ha đất rừng, rừng trồng đã giao khoán cho các hộ dân để giao cho doanh nghiệp tư nhân là không được phép.
Nói về việc này, ông Phạm Thế Hoan, Phó chánh thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk Lắk, cứ một hai khẳng định: “Việc thu hồi có căn cứ”. Khi phóng viên đề nghị ông Hoan phân tích tính có căn cứ, đúng pháp luật ở đâu thì ông lại giải thích vòng vo, không nêu ra được căn cứ cụ thể.
Tuy nhiên, ông Hoan cũng nói: “Xét nhu cầu của dân, dân có còn nhu cầu trồng rừng hay không? Nếu còn nhu cầu mà vẫn thu hồi để giao là sai, dân không còn nhu cầu mà thu hồi là đúng”. Và nói thêm, nếu trước thời điểm thu hồi đất để giao cho Công ty CP Trường Thành mà dân kiện thì chắc việc thu hồi diện tích đất đó của dân không xảy ra.
Nhiều hộ dân có đất rừng đang tranh chấp khẳng định: “Việc lên phương án, kế hoạch thu hồi đất để giao cho Công ty CP Trường Thành dân không được biết, vì mãi đến lúc doanh nghiệp có “sổ đỏ” rồi dân mới được biết, mới bức xúc đội đơn đi kiện”.
Trong lúc đó, tại thời điểm UBND tỉnh Đắk Lắk ra quyết định thu hồi đất rừng đã giao khoán cho dân (năm 2008), đang chịu sự điều chỉnh của Thông tư 38/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, trong đó Điều 3 quy định rõ: “Không giao, cho thuê những diện tích rừng đang có tranh chấp” và “việc giao, cho thuê rừng, thu hồi rừng phải có sự tham gia của người dân địa phương và công bố công khai”. “Chúng tôi quyết liệt phản đối nhưng UBND tỉnh vẫn cứ thu hồi diện tích đất rừng đang tranh chấp giao cho Công ty Trường Thành thuê. Không những thế, nhiều hộ dân không biết được tỉnh đã thu hồi đất rừng và đem cho doanh nghiệp thuê”, ông Phan Khắc Văn nói.
Trao đổi với phóng viên xung quanh việc việc này, ông Nguyễn Đình Tùng, Giám đốc BQL, cho biết, thời điểm đó BQL chỉ “căn cứ vào tờ trình của công ty và của UBND tỉnh chỉ đạo”.
Mặc dầu lý giải có nhiều yếu tố, tuy nhiên ông Tùng cũng nhận định: “Đã giao cho hộ dân lâu dài, khi thu hồi anh phải có quyết định thu hồi và phải có thanh lý hợp đồng. Mà đã thanh lý hợp đồng, đề nghị thu hồi thì phải đền bù”. Khi tranh chấp đất rừng giữa các hộ dân với chính quyền địa phương chưa được giải quyết thấu đáo, UBND huyện Krông Năng đã có văn bản yêu cầu hai bên giữ nguyên hiện trạng, thì ngày 24/5/2014, Công ty CP Trường Thành đã cho công nhân vào triệt hạ rừng thông do người dân dày công trồng nên ở tiểu khu 316.
Trực tiếp cán bộ BQL, Kiểm lâm huyện và Công an xã Ea Tam có mặt tại hiện trường, qua kiểm tra đã lập biên bản vi phạm, với khoảng 700-800 cây thông trồng từ năm 2006 bị cắt thành từng khúc có chiều dài 2m, đường kính cây to nhất 27cm, còn đại đa số có đường kính gốc 13-17cm, diện tích bị chặt phá 8.000m2.
Tại thời điểm này, nhận được tin báo của người dân, phóng viên đã trực tiếp có mặt và chứng kiến hàng trăm cây thông đang chu kỳ khai thác nhựa bị cưa đổ ngổn ngang, nhựa thông ứa ra như máu và nước mắt của người dân trồng rừng.
Việc DN ngang nhiên chặt phá rừng do dân trồng, ông Tùng khẳng định: “Công ty Trường Thành đã sai”,“Nói về luật thẳng mực tàu là vi phạm”.
Hành động chặt phá rừng thông do dân trồng của Công ty CP Trường Thành có dấu hiệu của tội hủy hoại rừng, đồng thời đẩy tranh chấp lên đỉnh điểm, gây thiệt hại về kinh tế của Nhà nước cũng như các hộ dân (ước khoảng 300 triệu đồng).
Nói về những bất cập dẫn tới tranh chấp xảy ra, ông Nguyễn Quốc Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk, nhận định: “Đây là hai cái nhập một, anh làm không đúng nguyên tắc dẫn đến bây giờ có sự tranh chấp xảy ra. Thứ nhất là việc giao không đúng, giữa hồ sơ và trên thực tế, thực địa không đúng. Thứ hai, việc đầu tư trồng rừng theo chương trình 661 trên diện tích giao khoán cũng chưa rõ ràng nên mới có tranh chấp. Chứ trong trường hợp Ban giám đốc BQL làm chặt chẽ thì sẽ không có tình trạng như bây giờ”.
Cũng phải thừa nhận thực tế có một số hộ dân trồng rừng ngoài tiểu khu đã quy định trong hồ sơ. Quá trình rà soát diện tích đất trồng rừng trên hồ sơ và kiểm tra trên thực tế tại thực địa cũng không chính xác, vì vậy đã xảy ra sự việc giao đất lâm nghiệp rừng trồng cho DN chồng lấn lên diện tích đã giao khoán cho người dân trước đó. Sự việc này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan chức năng, mà còn gây thiệt hại cho người dân nhận khoán trồng rừng.
Cũng chính vì tranh chấp xảy ra, mà hiện nay một số khoảnh đất tại tiểu khu 311, 314, 316 vẫn chưa được trồng rừng, không những thế, thiệt hại về kinh tế cũng rất lớn cho Nhà nước và người trồng rừng, khi rừng keo đã bị rỗng ruột do quá tuổi khai thác nhưng không được chặt, rừng thông đã vào chu kỳ lấy nhựa nhưng vẫn để mặc cho mưa nắng.
Trực tiếp Giám đốc BQL đề xuất: “Người dân đã có ít nhiều công sức vào trồng rừng. Mong các cơ quan chức năng xem xét giải quyết thấu tình đạt lý, có lợi cho người dân đầu tư trồng rừng từ trước đến nay”.
Ông Nông Văn Lập, Chủ tịch HĐND xã Cư Klông, cũng đề nghị cấp trên có giải pháp làm sao cho hài hòa, công bằng, ổn định cuộc sống của những hộ gia đình trồng rừng ở đây.
Thiết nghĩ, “nút thắt” để chấm dứt tranh chấp này là UBND tỉnh Đắk Lắk cần phải xem xét, ưu tiên cho dân, vì dân đã đầu tư công sức, tiền của bao nhiêu năm vào những thảm rừng này. (Kinh Tế Nông Thôn 29/11) đầu trang(
Cách đây hai năm, rừng phòng hộ đầu nguồn Đông Tiễn, xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, Quảng Nam nổi lên như “điểm nóng” của nạn phá rừng, đốt nương rẫy. 24 hộ dân tại xã đến khu rừng phòng hộ này phá rừng lấy đất sản xuất hoặc chờ dự án để được đền bù.
Lực lượng kiểm lâm đã lập hồ sơ để truy cứu trước pháp luật. Nhưng vì thấy người dân nghèo, thiếu đất sản xuất nên thay vì xử lý hình sự, cơ quan chức năng Quảng Nam áp dụng biện pháp “lấy công chuộc tội”, để dân tự trồng lại toàn bộ diện tích rừng đã bị phá.
Rừng phòng hộ đầu nguồn Đông Tiễn giờ đã trải một màu xanh ngắt của keo. Khác với hai năm trước, khu rừng này bị đốt, chặt phá tan hoang.
Đặc biệt tại tiểu khu 484 Vinh Nam, gần 50ha rừng bị người dân đốt phá để lấy đất sản xuất, trồng rau hoặc chăn nuôi. Những cây có chức năng phòng hộ như sung, đu đủ rừng, vừng nước, trâm... có đường kính 30-40cm bị đốn hạ nằm la liệt trong rừng.
Một trong những hộ đốt phá rừng nhiều nhất có thể kể đến anh Lê Văn Tân (35 tuổi, thôn Nam Tiễn). Gặp PV trong lúc anh đang tất bật chăm sóc trang trại nấm ngay trong vườn của mình, anh Tân nói: “Không sống dựa vào rừng nữa. Hiện giờ mình làm trang trại mỗi tháng kiếm được vài triệu đồng, có thu nhập nuôi vợ con. Trước đây chỉ nghĩ đơn giản là lên núi phát rẫy, trồng keo chứ đâu biết phá rừng phòng hộ là vi phạm pháp luật, sẽ bị khởi tố. Sau khi bị chính quyền địa phương kiểm điểm, gia đình tôi đã trồng lại y nguyên 1,9ha rừng đã phá”.
Anh Tân kể lại, năm 2012 thấy bà con trong xã rầm rộ lên khu vực rừng phòng hộ Đông Tiễn để phát rẫy, lập trang trại nên anh cũng “liều” lên phá rừng lấy đất trồng cây. Gia đình anh thuộc diện tái định cư khu vực lòng hồ thủy lợi Đông Tiễn, vì thiếu đất sản xuất, cuộc sống khó khăn nên anh đã lên khu rừng phòng hộ đầu nguồn này đốt phá gần 1,9ha đất rừng.
Khi lực lượng kiểm lâm huyện Thăng Bình phát hiện đã lập hồ sơ thủ tục chuyển cơ quan công an huyện xử lý theo thẩm quyền. “Khi công an huyện triệu tập lên làm việc tôi mới toát mồ hôi vì biết mình vi phạm pháp luật khi phá rừng phòng hộ. Sợ bị khởi tố, tù tội rồi mấy đứa con nhỏ, mẹ già không ai nuôi. Rồi một ngày cuối tháng 5-2014, xã có giấy mời ra nhà văn hóa. Đến nơi mới biết mình chỉ phải đọc bản kiểm điểm, ký cam kết trồng lại diện tích rừng đã phá, tôi mới thở phào nhẹ nhõm” - anh Tân kể lại.
Sau đó anh Tân đi mua 7.000 cây keo giống đưa lên rừng phòng hộ để trồng mất gần một tháng trời thì xong. Đến nay số keo đó đã cao quá đầu người.
Tương tự, ông Dương Văn Năm (54 tuổi, thôn Vinh Đông) năm 2012 cũng theo bà con trong xã lên rừng đầu nguồn Đông Tiễn đốt rừng làm rẫy. Gia đình ông đã phá gần 0,4ha rừng để mở trang trại trồng keo. Đến tháng 8-2012, việc phá rừng của ông bị cơ quan chức năng phát hiện. Nhiều lần ông được mời đến công an, kiểm lâm để làm việc.
“Khi làm việc với cơ quan chức năng, mình mới nhận thức việc phá rừng lấy đất trồng rau, trồng cây của mình là sai. Cũng may là chính quyền không xử lý, khởi tố mà chỉ bắt mình làm bản kiểm điểm rồi trồng lại diện tích rừng đã bị phá. Đến nay, tôi chấp hành và trồng lại toàn bộ diện tích rừng này rồi” - ông Năm tâm sự.
Gia đình ông Năm có sáu nhân khẩu, được xã cấp 250m2 đất để canh tác. Theo ông Năm, do cuộc sống khó khăn, bà con mới lên rừng đốt phá làm rẫy để canh tác, kiếm sống mà không hề biết hành vi phá rừng phòng hộ đầu nguồn là vi phạm pháp luật.
Anh Tân, ông Năm là hai trong số 24 người dân ở Bình Trị lẽ ra đã ngồi tù nhưng nhờ cách làm linh hoạt của cơ quan chức năng Quảng Nam nên họ đều thoát khỏi vòng lao lý.
Theo ông Lê Viết Mãnh - phó chủ tịch UBND xã Bình Trị, tổng diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn Đông Tiễn khoảng 280ha. Đến nay diện tích rừng 48,1ha do người dân trong xã đốt phá đã được chính họ trồng lại đầy đủ. Từ tháng 7-2012, do nghe “phong thanh” thông tin huyện triển khai trồng cao su tiểu điền tại khu vực rừng phòng hộ Đông Tiễn, 24 hộ dân đã lên đó phá rừng, trồng cây chờ đền bù. Hộ phá nhiều nhất khoảng 3,5ha, ít nhất khoảng 0,4ha.
“Chỉ cần phá từ 0,3ha rừng phòng hộ là đã bị khởi tố. Nếu chiếu theo luật thì 24 người dân này đều bị truy tố trước pháp luật” - ông Mãnh cho biết.
Một nguyên nhân chính khiến các hộ đốt phá rừng phòng hộ làm rẫy là do khi được tái định cư khu vực lòng hồ Đông Tiễn, người dân thiếu đất sản xuất, mỗi nhân khẩu chỉ được cấp 450m2, trong khi đó gần 70% diện tích đất sản xuất không có nước tưới. Cuộc sống người dân khó khăn cộng với nhận thức kém, chưa hiểu biết pháp luật đã đẩy họ vi phạm pháp luật.
Sau khi phát hiện các hộ dân phá rừng, cuối tháng 5-2013 địa phương tổ chức họp từ đảng ủy đến chính quyền, xác định nếu các đối tượng này bị đưa ra khởi tố sẽ ảnh hưởng đến tình hình chính trị của địa phương cũng như cuộc sống gia đình của họ.
Xã Bình Trị gửi văn bản lên cấp trên đề nghị không khởi tố những hộ phá rừng phòng hộ, thay vào đó là buộc họ “lấy công chuộc tội”, làm kiểm điểm trước nhân dân và cam kết tự trồng lại diện tích rừng đã bị chính họ tàn phá.
“Sau khi được cấp trên đồng ý với cách giải quyết này, chúng tôi đã tổ chức họp 24 hộ dân vào cuối tháng 5-2014. Buổi họp hôm đó có sự tham dự của UBND huyện, công an, kiểm lâm... Tại buổi họp này, lần lượt mỗi hộ tự đọc bản kiểm điểm trước nhân dân, hứa sẽ khắc phục lại rừng. Sau đó các hộ ký bản cam kết trồng lại rừng và không đốt phá rừng nữa” - ông Mãnh cho hay.
Ngay sau cuộc họp, mỗi hộ dân tự mua cây giống, thuê nhân công trồng bù lại phần đồi trọc bị đốt phá trước đó. Đến tháng 7-2014, toàn bộ diện tích rừng bị phá đã được chính họ trồng keo phủ xanh. Số diện tích rừng này xã đã giao cho các hội, đoàn thể chăm sóc, quản lý.
Ông Mãnh cho biết: “Phải nói rằng người dân phá rừng này khác hoàn toàn với lâm tặc. Các cơ quan chức năng của tỉnh, huyện đã nghiên cứu kỹ hết rồi nên mới thống nhất như vậy. Pháp luật nghiêm minh nhưng cũng có sự khoan hồng, cho người dân một con đường lấy công chuộc tội”. (Tuổi Trẻ 29/11) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm đã ký ban hành Quyết định số 2541/QĐ-UBND ngày 24-11-2014 về việc thành lập đoàn thanh tra toàn bộ diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Đồng Phú.
Đoàn thanh tra gồm 11 thành viên, do Chánh Thanh tra tỉnh Phạm Phước Hải làm trưởng đoàn, Phó chánh Thanh tra tỉnh Phạm Văn Thuấn làm phó đoàn và đại diện các đơn vị: Kho bạc tỉnh, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, Thanh tra huyện Đồng Phú.
Đối tượng thanh tra lần này là UBND và các phòng, ban chuyên môn huyện Đồng Phú; Công ty TNHH MTV Cao su Bình Phước (đơn vị nhận bàn giao từ Ban quản lý rừng kinh tế Tân Lập, Lâm trường Đồng Xoài, Ban quản lý rừng kinh tế Suối Nhung); Chi cục Lâm nghiệp - Sở NN&PTNT, các tổ chức, cá nhân được giao khoán, cho thuê đất và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Thời kỳ thanh tra là từ khi triển khai các dự án trồng rừng đến nay.
Nội dung thanh tra gồm: Công tác quy hoạch đất để trồng rừng; tổng số vốn đầu tư; đơn vị thực hiện, kết quả thực hiện; trình tự, thủ tục giao khoán, cho thuê đất để trồng rừng; việc giao đất, cho thuê đất và cấp GCNQSD đất được quy hoạch để trồng rừng sản xuất cho các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế, hộ gia đình, cá nhân; công tác quản lý, bảo vệ rừng trồng. (Báo Bình Phước 29/11) đầu trang(
Tính đến quý II/2014, toàn tỉnh trồng mới gần 6.000ha rừng, khoanh nuôi phục hồi 12.896ha rừng, trồng gần 13 triệu cây phân tán… Hầu hết tài nguyên rừng được giao cho các đơn vị, hộ gia đình và cộng đồng quản lý. Độ che phủ của rừng chiếm 62,4% diện tích...
Là địa phương có nhiều rừng, Kon Tum luôn xác định lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng. Để khai thác có hiệu quả tiềm năng này, ngày 1/7/2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2011-2015.
Theo đó, việc phát triển lâm nghiệp được thực hiện theo hướng bền vững dựa trên cơ sở phát triển toàn diện và đồng bộ các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng, cải tạo rừng, khai thác, chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái, nhằm gia tăng các giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; thu hút mọi nguồn lực xã hội đầu tư bảo vệ rừng, phát triển rừng và hưởng lợi từ rừng...
Tỉnh Kon Tum đặt ra mục tiêu toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp phải được giao, cho thuê và có chủ thực sự; lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, bảo vệ và khai thác rừng theo hướng bền vững, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, miền núi từ việc nhận khoán bảo vệ rừng và trồng rừng…
Theo đánh giá, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết, công tác quản lý, bảo vệ rừng có những chuyển biến tích cực, nhận thức về vai trò của rừng đối với đời sống xã hội của các cấp ủy, chính quyền và người dân được nâng lên rõ rệt; việc đầu tư trồng rừng được tập trung theo hướng nâng cao về chất lượng; một bộ phận rừng được khai thác theo phương án quản lý rừng bền vững... Đặc biệt, việc thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã và đang có những tác động tích cực đến việc phát triển lâm nghiệp bền vững ở địa phương.
Tính đến quý II/2014, toàn tỉnh trồng mới gần 6.000ha rừng, khoanh nuôi phục hồi 12.896ha rừng, trồng gần 13 triệu cây phân tán… Hầu hết tài nguyên rừng được giao cho các đơn vị, hộ gia đình và cộng đồng quản lý. Kết quả kiểm kê rừng mới đây cho thấy, toàn tỉnh có 604.241,74ha đất có rừng, độ che phủ của rừng chiếm 62,4% diện tích.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, tình trạng xâm canh, phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ trái pháp luật vẫn còn xảy ra nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn triệt để; tác động của ngành Lâm nghiệp đối với sự phát triển xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; người dân chưa thể vươn lên làm giàu bằng nghề rừng...
Những hạn chế, thiếu sót trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do nguồn lực đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, hệ thống chính sách lâm nghiệp chưa đồng bộ và phù hợp với yêu cầu thực tế; việc triển khai thực hiện Nghị quyết ở một số cấp ủy, chính quyền địa phương và các ngành của tỉnh chưa thực sự quyết liệt, năng động…
Đánh giá lại việc phát triển lâm nghiệp bền vững, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cơ quan tham mưu giúp việc, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các sở, ngành, Mặt trận và các đoàn thể tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền Nghị quyết 02 và các văn bản của Trung ương, của tỉnh liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững để tập trung tổ chức, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã được đề ra; đồng thời tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện ở cấp mình, ngành mình.
Các cấp ủy, chính quyền các huyện, thành phố, các sở, ngành liên quan, các chủ rừng nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp; huy động cả hệ thống chính trị (nhất là phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, trưởng thôn, già làng, người có uy tín trong cộng đồng dân cư) và tập trung nguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng yêu cầu Ban cán sự đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết và các phương án của UBND tỉnh về chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2015, về giải quyết đất chồng lấn, lấn chiếm nằm trong lâm phần của các đơn vị chủ rừng.
Xác định, khoanh vùng những khu vực có khả năng xảy ra tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng để tăng cường lực lượng truy quét, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; xây dựng và ban hành quy chế làm việc, quy trình công tác của các trạm kiểm soát liên ngành, bảo đảm tính thống nhất, kỷ luật cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; rà soát, bổ sung quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy để quản lý và giải quyết đất sản xuất cho dân; triển khai thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty lâm nghiệp trên địa bàn… (Báo Kon Tum 27/11) đầu trang(
28/11, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập ngành lâm nghiệp Việt Nam (28/22/1959 – 28/11/2014).
Tới dự có các ông: Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Ma Quang Trung, Cục trưởng Cục Hợp tác, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tại buổi lễ, lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh đã ôn lại truyền thống vẻ vang của ngành lâm nghiệp Việt Nam và lâm nghiệp Lào Cai trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, ông Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã biểu dương những nỗ lực của ngành nông - lâm nghiệp trong những năm qua.
Về nhiệm vụ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Ngành nông - lâm nghiệp cần tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng phù hợp và hiệu quả; chú trọng công tác phối hợp với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tổ chức tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng; phát triển mạnh rừng sản xuất, đẩy mạnh thâm canh rừng, phát triển nguồn lợi có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chế biến gỗ cho thị trường trong nước và xuất khẩu; tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp về kiểm kê rừng tự nhiên, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển và bảo vệ rừng.
Nhân dịp này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ngọc Hưng đã trao bức trướng của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lào Cai chúc mừng ngành lâm nghiệp Lào Cai. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao Kỷ niệm chương cho các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các cơ quan, đơn vị của tỉnh đã có nhiều đóng góp đối với ngành lâm nghiệp Lào Cai.
Cũng trong sáng 28/11, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo đánh giá kết quả bảo vệ và phát triển rừng sau 23 năm tái lập, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với đề án tái cơ cấu sản xuất lâm nghiệp.
Theo báo cáo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, sau 23 năm tái lập tỉnh, với sự cố gắng của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sự vào cuộc của các địa phương, diện tích, chất lượng rừng đã tăng đáng kể.
Độ che phủ rừng từ 19% diện tích tự nhiên vào năm 1991, đến nay đã đạt hơn 53%, tốc độ tăng bình quân từ 1,5% đến 1,7%/năm. Con số này đã đưa Lào Cai trở thành một trong những địa phương có tỷ lệ độ che phủ rừng lớn nhất cả nước. Chất lượng rừng của tỉnh Lào Cai cũng dần được cải thiện theo hướng mở rộng diện tích rừng giàu, rừng trung bình.
Chủ trương đẩy mạnh giao đất, giao rừng, quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh đã giúp kinh tế lâm nghiệp trở thành động lực, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng phát triển, thúc đẩy xóa đói, giảm nghèo, ổn định phát triển sản xuất và định cư ở khu vực vùng cao.
Mục tiêu của tỉnh trong thời gian tới là tiếp tục nâng cao diện tích che phủ và làm giàu rừng; giải quyết tốt vấn đề sinh thái, phát triển rừng kinh tế nhằm giúp người dân hưởng lợi ngày càng lớn từ rừng.
Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng, như chính sách phát triển rừng; ưu đãi, khuyến khích hoạt động, hỗ trợ năng lực cho lực lượng kiểm lâm, nhất là những vị trí, như vườn quốc gia, khu bảo tồn; hỗ trợ người dân sống gần rừng. (Báo Lào Cai 28/11) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu của Đề án triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2020 nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng; huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ, phát triển rừng; tạo điều kiện cho ngành lâm nghiệp hoạt động, đảm bảo cho người lao động trực tiếp được chi trả giá trị của rừng do mình tạo ra và nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, sử dụng, bảo vệ cho các chủ rừng.
Đề án cũng xác định rõ các loại hình và đối tượng, mức chi trả, kế hoạch, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2020 gồm: Các ban quản lý rừng, hộ gia đình, nhóm cộng đồng, tổ chức, các doanh nghiệp (lâm trường, hoặc công ty lâm nghiệp). Giá trị chi trả sẽ được tính toán và thay đổi hàng năm tùy thuộc vào sản lượng điện, sản lượng nước thương phẩm và doanh thu du lịch của năm đó theo giá trị thực tế mà các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng đạt được.
Kết luận cuộc họp, ông Đặng Huy Hậu, PCT UBND tỉnh khẳng định: Năm 2015, tỉnh sẽ tiến hành thu dịch vụ môi trường rừng theo danh mục hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp& Phát triển nông thôn.
Giao Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với đơn vị tư vấn lấy ý kiến của các ngành liên quan cho dự thảo danh mục các đối tượng thu dự kiến, căn cứ vào hệ số, chỉ tiêu cụ thể để báo cáo UBND tỉnh xem xét trong tháng 12.
Song song với đó, tỉnh sẽ tiếp tục đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những hướng dẫn cụ thể để thực hiện bổ sung danh mục đối tượng thu dịch vụ môi trường rừng. Sau khi đề án được phê duyệt, các cơ quan thông tin, tuyên truyền của tỉnh thực hiện tuyên truyền công khai, minh bạch cho các tổ chức, doanh nghiệp được biết. (Báo Quảng Ninh 28/11) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã khẳng định sự phù hợp với xu hướng quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, được các bên liên quan thực hiện tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Nguyên do: Đây là chính sách mới, lần đầu tiên thực hiện ở nước ta và trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, hướng dẫn thi hành chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã tạo lập một nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng; góp phần nâng cao đời sống người dân sống gắn bó với rừng.
Đến nay, hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện chính sách đã dần được hoàn chỉnh với trên 20 văn bản quy phạm pháp luật; trong đó có 4 thông tư hướng dẫn chính sách chi trả DVMTR đã được ban hành. Đây là các căn cứ pháp lý rất quan trọng, dựa vào đó các đơn vị, địa phương hoàn toàn có thể chủ động triển khai vận hành, tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR để thu nộp, có kế hoạch triển khai chi trả tiền dịch vụ cho các chủ rừng.
Đến nay, đã có 36 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, trong đó có 32 tỉnh đã ổn định tổ chức bộ máy hoạt động. Toàn quốc đã ký được 351 hợp đồng ủy thác với các cơ sở sử dụng DVMTR thu tiền dịch vụ để chi trả cho chủ rừng. Sau hơn 3 năm, cả nước đã thu được hơn 3.329 tỷ đồng chi trả cho chủ rừng. Tỷ lệ giải ngân bình quân chung đến các chủ rừng đạt trên 70%. Nguồn tiền này đã đóng góp rất lớn vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo kinh phí duy trì bảo vệ diện tích rừng bình quân đạt từ 2,8 đến 3,37 triệu ha rừng/năm.
Bên cạnh đó, chính sách đã góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa. Mức thu nhập bình quân hàng năm của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từ chính sách chi trả DVMTR của cả nước đạt 1,8 triệu đồng/hộ/năm. Nguồn tiền DVMTR còn góp phần giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho các Ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp, giúp các công ty khôi phục sản xuất, thoát khỏi nguy cơ bị giải thể, phá sản trong bối cảnh nhà nước có chủ trương hạn chế, tiến tới chấm dứt khai thác gỗ từ rừng tự nhiên.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng, chính sách chi trả DVMTR là một sáng kiến được quốc tế đánh giá cao và được xã hội rất ủng hộ, mặc dù diện tích rừng chưa nhiều nhưng Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc thực hiện chính sách này. Chính sách chi trả DVMTR có tác dụng nâng cao nhận thức của người sử dụng, giúp cho người trồng rừng được cải thiện đời sống, công tác bảo vệ rừng được tăng thêm nguồn vốn đầu tư, đưa dịch vụ môi trường trở thành dịch vụ hàng hóa.
Kết quả đó góp phần phát triển bền vững việc sử dụng đất đai và bảo vệ môi trường. Việt Nam là quốc gia rất thiếu nước và chịu tác động ngày càng nặng nề của môi trường. Do đó, hơn ai hết, chính chúng ta phải tích cực bảo vệ môi trường rừng, môi trường sinh thủy của mình.
Tuy nhiên, trong số 5 loại dịch vụ môi trường rừng, hiện mới chỉ thu được 3 loại dịch vụ là thủy điện, nước sạch và du lịch, còn hai dịch vụ là hấp thụ, lưu giữ các-bon và cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn con giống sử dụng nguồn nước từ rừng tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản vẫn chưa triển khai thu theo quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP, trong thời gian tới cần phải đẩy mạnh triển khai chính sách hơn nữa.
Chỉ rõ việc một số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, công suất dưới 30MW thuộc sở hữu tư nhân cố tình chây ỳ, tìm nhiều lý do để trì hoãn việc chi trả DVMTR. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định thực tế mức chi trả tiền DVMTR áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là quá nhỏ, các địa phương cần chỉ đạo quyết liệt, nghiêm túc, phải tuyên truyền để doanh nghiệp thấy được trách nhiệm trong việc sử dụng cả nguồn nước và lưu vực.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Công Thương tiếp tục chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các công ty thủy điện rà soát, ký kết lại các hợp đồng mua bán điện có tiền dịch vụ môi trường trong cơ cấu giá điện. Kiểm tra chặt các nhà máy thủy điện nhỏ chây ỳ, không chịu nộp tiền DVMTR cho các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, hướng dẫn thực hiện nghiêm theo quy định.
Các địa phương tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, tuyên truyền phổ biến chính sách, đôn đốc các đơn vị sử dụng DVMTR thực hiện nghiêm việc thu nộp tiền theo quy định. Kiện toàn tổ chức bộ máy Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo hướng gọn nhẹ; lồng ghép thực hiện chính sách chi trả DVMTR với việc bảo vệ, phát triển rừng và các chính sách khuyến khích, phát triển lâm nghiệp khác có liên quan.
Với những bất cập trong chính sách dẫn đến chênh lệch về mức chi trả, tỷ lệ giải ngân thấp, chưa huy động hết các nguồn thu, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu các bên liên quan nghiên cứu, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Nghị định 99/2010/NĐ-CP hợp lý.
Bộ NN&PTNT cần tổ chức kiểm tra, đánh giá các vướng mắc, trên cơ sở đó có các giải pháp để thực hiện trong những năm tiếp theo; phối hợp với Bộ Tài chính có giải pháp xử lý về chi phí quản lý và nguồn thu với diện tích rừng tự quản theo Thông tư 62/TTLT-BNNPTNT-BTC.
Rà soát, sửa đổi, đảm bảo sự thống nhất giữa quy định tại Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng và Thông tư 85/2012/TT-BTC về hướng dẫn chế độ tài chính cho Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành thông tư liên tịch quy định tiêu chí thành lập, mô hình tổ chức và phân cấp quản lý các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp.
Ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cho biết: Để phát triển rừng bền vững, trong thời gian tới, Điện Biên sẽ triển khai các biện pháp phối hợp chặt chẽ giữa Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp để chủ động việc đảm bảo công tác chi trả DVMTR.
Quán triệt đến các đơn vị liên quan chú trọng và làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về chính sách chi trả DVMTR. Thực hiện tốt công tác rà soát giao đất, giao rừng, tiếp tục chi trả tiền DVMTR sau khi các huyện đã rà soát, xác định chủ rừng. Đồng thời tỉnh tăng cường kiểm tra, giám sát về tổ chức thực hiện chi trả DVMTR để đảm bảo nguồn kinh phí chi trả đúng mục đích, hiệu quả,…
Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Tuyên Quang cho biêt: Tính đến tháng 6/2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Tuyên Quang mới tiếp nhận trên 9 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng điều phối từ Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam.
Tuy nhiên, Quỹ mới tạm ứng gần 2,8 tỷ đồng cho 2 tổ chức, còn những chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và tổ chức không phải là chủ rừng được nhà nước giao quản lý, bảo vệ rừng do chưa xác định được diện tích đã giao nên chưa thể chi trả theo dự kiến.
Ông Mã Seo Sẩu, thôn San 2, xã Lao Chải, huyện Sa Pa (Lào Cai): Trước khi có chủ trương chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ, người dân không có ý thức cao trong công việc bảo vệ rừng, thường xuyên để xảy ra tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đốt nương làm rẫy không ai quản lý. Nhưng từ năm 2012 trở lại đây, khi rừng có chủ, việc bảo vệ đã được nhân dân tự giác phối hợp với kiểm lâm làm tốt; số vụ cháy rừng giảm hẳn.
Ông Mã A Nủ, Chủ tịch UBND xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa (Lào Cai): San Sả Hồ là địa phương có nhiều diện tích rừng được nhận khoán nhất huyện Sa Pa. Từ khi có chủ trương của Nhà nước giao khoán bảo vệ và có quỹ dịch vụ môi trường rừng chi trả, xã đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, phối hợp với các cơ quan chức năng và Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, Hạt Kiểm lâm huyện Sa Pa đo đạc diện tích rừng và tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng đối với các chủ rừng. Nhờ đó, từ năm 2012 đến nay, rừng được bảo vệ tốt, số vụ vi phạm lâm luật hầu như không còn. (Tin Tức 27/11) đầu trang(
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ cho các địa phương thực hiện như: Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP; Nghị định 05/2008/NĐ CP về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng...
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ.
Mức chi trả tiền DVMTR cho chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng trên toàn quốc trung bình hiện nay đạt mức 200 nghìn đồng/ha. Các tỉnh có mức chi trả cao gồm: Kon Tum (362 nghìn đồng/ha): Lâm Đồng (350 nghìn đồng/ha) và Lai Châu (gần 290 đồng/ha)...
Sự chênh lệch lớn về đơn giá chi trả bình quân/ha giữa các lưu vực của các nhà máy thủy điện cũng là một khó khăn lớn cho các địa phương. Ví như ở Yên Bái, tại lưu vực sông Đà, các chủ rừng được chi trả với giá hơn 300 nghìn đồng/ha, trong khi lưu vực sông Chảy chỉ có giá trên 34 nghìn đồng/ha và lưu vực sông Hồng là hơn 28 nghìn đồng/ha. Sự chênh lệch về giá này còn diễn ra ngay địa bàn của một số huyện.
Tại Mù Cang Chải (Yên Bái), đơn giá chi trả cho các chủ rừng theo đầu nguồn sông Hồng là hơn 20 nghìn đồng/ha, nhưng đầu nguồn sông Đà lại có giá cao hơn rất nhiều với trên 473 nghìn đồng/ha.
Hay như tại tỉnh Nghệ An, ngay tại địa bàn huyện Quế Phong, đơn giá bảo vệ rừng tại lưu vực thủy điện Hủa Na, Cửa Đạt là 345.000 đ/ha, trong khi đó đơn giá tại lưu vực thủy điện Sao Va, Bản Cốc chỉ có 30.000 đ/ha.
Nguyên nhân của sự chênh lệch chi trả DVMTR theo ông Vũ Đức Chung, Phó Chánh Văn Phòng thị xã Nghĩa Lộ, là do ở mỗi địa phương khi chi trả DVMTR lại phụ thuộc vào nguồn thu từ các đơn vị sử dụng dịch vụ rừng như: nhà máy sản xuất điện, các công ty cung cấp nước sạch... nên dẫn đến việc chi trả các mức giá khác nhau. Do đó dẫn đến tình trạng các chủ rừng, hộ dân không hiểu, so bì và làm đơn kiến nghị kéo dài lên các cấp chính quyền, gây khó khăn trong công tác tuyên truyền, giao khoán bảo vệ rừng, nhất là đối tượng đồng bào DTTS.
Do vậy, trong thời gian tới, các ban ngành, đặc biệt là chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền tới từng người dân để bà con hiểu rõ về mức chi trả DVMTR.
Qua hơn 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR cho thấy, không ít doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sản xuất thủy điện có công suất vừa và nhỏ vẫn còn chây ì, nợ đọng tiền chi trả DVMTR, nhưng chưa có chế tài xử lý vi phạm. Điển hình như, ở Sơn La, từ 2011-2013, số tiền các công ty ở Sơn La nợ đọng phí chi trả DVMTR là 56 tỷ đồng; Yên Bái là gần 11 tỷ đồng ...
Theo ông Kiều Tư Gian, Chi Cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, kiêm Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Yên Bái, Nghị định 99/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/172011. Tuy nhiên, do năm 2011, 2012, Cục Điều tiết Điện lực thuộc Bộ Công thương chưa quy định giá bán điện của các nhà máy bao gồm cả phí DVMTR, nên các đơn vị sản xuất thủy điện trong tỉnh chưa xác định được nguồn kinh phí phải trả cho phí DVMTR. Vì vậy, các đơn vị chưa nộp.
Đến năm 2013, Cục Điều tiết Điện lực đã tính phí này vào giá bán điện, lúc này mới có một số doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc việc chi trả. Đây cũng là tình trạng chung của các địa phương trên cả nước.
Theo quy định của Nghị định 99, mức chi trả tiền DVMTR áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là 20 đồng/kwh điện thương phẩm; đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch là 40 đồng/m3 nước thương phẩm.
Để có kinh phí chi trả phí DVMT, các doanh nghiệp kinh doanh đã tính phí DVMTR vào giá thành bán cho người sử dụng.
Như vậy, tiền DVMTR đã, đang và sẽ triển khai là do người dân sử dụng điện, nước hàng ngày chi trả, còn nhà máy thủy điện chỉ là đơn vị trung gian, thu hộ cho các chủ rừng. Trong khi đó, trên thực tế, các công ty cung cấp nước sạch, thủy điện đang thu lợi nhuận trực tiếp từ rừng thì lại không phải chi trả khoản tiền này. Điều này đã gây nên sự bức xúc đối với người dân, dẫn đến sự thiếu công bằng trong xã hội.
Minh chứng cho điều này, là tất cả các hồ chứa và kênh dẫn nước của nhà máy Thủy điện Sơn La đều phải phụ thuộc một phần không nhỏ vào nguồn nước từ rừng để đảm bảo việc tích nước phát điện. Hay như hồ Thủy điện A Vương (Quảng Nam) có dung tích 343,55 triệu m3 nước, mỗi năm, nhà máy thủy điện này phát ra khoảng 1 tỷ/kwh điện thương phẩm tương với ứng nhu cầu khoảng 1 tỷ m3 nước, trong đó khoảng 700 triệu m3 nước mà họ sử dụng là do sự điều tiết của rừng. Điều này cho thấy, chính các doanh nghiệp sử dụng điện cũng hưởng lợi từ rừng, chứ không chỉ có người dân sử dụng điện. Vì thế, các nhà máy thủy điện cũng phải trả phí DVMTR, chứ không chỉ là cơ quan trung gian.
Rừng không chỉ có tác dụng làm ổn định nguồn nước mà còn có tác dụng điều hòa không khí, hấp thu các khí C02 và các khí thải độc hại khác. Vì vậy, không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh thủy điện, nước sạch, du lịch phải chi trả DVMTR mà ngay các nhà máy, xí nghiệp có lượng xả khí thải lớn, các phương tiện giao thông vận tải sử dụng nguyên liệu xăng dầu cũng phải đóng góp một khoản phí để chi trả cho người trồng rừng. (Dân Tộc & Phát Triển 28/11, tr4) đầu trang(
Ông Nguyễn Khắc Lâm, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An cho biết: Tính đến tháng 7/2014, qua gần 3 năm triển khai, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An đã ký hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR, với 7 nhà máy thủy điện, 4 cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch; tổng thu lũy kế đạt trên 107.112 triệu đồng, trong đó thu từ cơ sở sản xuất thủy điện 99.870 triệu đồng, cơ sở sản xuất nước sạch 44 triệu đồng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng 1.612 triệu đồng, lãi tiền gửi ngân hàng 5.586 triệu đồng (tạm tính đến 30/4/2014)
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là, việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu là, các Ban Quản lý rừng phòng hộ và Hạt kiểm lâm các huyện chưa hoàn thành việc lập hồ sơ giao khoán bảo vệ rừng, rà soát xác định cụ thể diện tích, hiện trạng rừng đến từng chủ rừng, chủ quản lý, nhất là phần diện tích do UBND xã, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn quản lý. Do đó chưa có căn cứ để chi trả đầy đủ cho các chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng.
Đến nay, diện tích đã có hồ sơ phê duyệt mới chỉ đạt gần 90.000 ha/315 ha (khoảng 28,5%) so với diện tích rừng được chi trả trong toàn tỉnh. (Dân Tộc & Phát Triển 28/11, tr4) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tổng số tiền Quỹ Bảo vệ Và phát triển rừng tỉnh nhận ủy thác đến nay là 34 tỷ 769 triệu đồng, đã chi trả gần 28 tỷ 300 triệu đồng cho 77.102 hộ dân tham gia bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số công ty nợ đọng tiền DVMTR như Công ty Cổ phần Thủy điện Thái An là gần 14 tỷ đồng (số tiền chi trả DVMTR trong 2 năm 2012-2013 của công ty này là gần 15 tỷ đồng, nhưng đến nay, doanh nghiệp mới trả được hơn 1 tỷ đồng). Công ty Cổ phần Bitexco Nho Quế nợ đọng trên 12,7 tỷ đồng... (Dân Tộc & Phát Triển 28/11, tr4) đầu trang(
Các nhà máy thủy điện đang hoạt động trên địa bàn còn nợ đọng trên 18,7 tỷ đồng tiền DVMTR, nhiều nhất là Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ với trên 11,9 tỷ đồng; Công cổ phần thủy điện Srok Phu Miêng IDICO trên 5,5 tỷ đồng.
Vừa qua, tỉnh đã có văn bản đề nghị Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam nhằm xác định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu, ban điều hành các công ty cổ phần sản xuất thủy điện đóng trên địa bàn Bình Phước hiện đang sử dụng lưu vực chung 2 tỉnh Bình Phước và Đăk Nông trong việc chưa thực hiện chi trả DVMTR.
Bình Phước yêu cầu, các công ty nói trên khẩn trương nộp tiền chi trả DVMTR còn nợ đọng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chính phủ có giải pháp quyết liệt, quy định chế tài xử lý để chính sách của Nhà nước được thực hiện nghiêm, đầy đủ. (Dân Tộc & Phát Triển 28/11, tr4) đầu trang(
Đến nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã chi hơn 2,2 tỷ đồng tiền tạm ứng dịch vụ môi trường rừng quý I và quý II năm 2014 cho các đơn vị chủ rừng trong tỉnh.
Trong đó, 4 công ty TNHH MTV cao su là Sông Bé 650 triệu đồng, Phước Long 700 triệu, Bình Phước 557 triệu, Phú Riềng 260 triệu và Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Gia Phúc 34 triệu đồng.
Riêng tháng 10-2014, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã thu ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng trên 247 triệu đồng. Trong đó, thu Nhà máy thủy điện Đắk U trên 86,5 triệu đồng, Nhà máy thủy điện Bù Cà Mau trên 157 triệu, Công ty cổ phần thủy điện Srok Phu Miêng IDICO (cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch) hơn 3 triệu đồng. (Báo Bình Phước 29/11) đầu trang(
Tính đến hết ngày 21/11, huyện Bắc Hà đã trồng được 750 ha rừng, trong đó trồng rừng phòng hộ 150 ha và rừng sản xuất 600 ha.
Một số xã có diện tích trồng rừng lớn là Bản Liền 70 ha, Cốc Ly 63, 6 ha, Nậm Khánh 61 ha, Thải Giàng Phố 60 ha, Bảo Nhai 50 ha…
Nét mới trong vụ trồng rừng năm nay, UBND huyện đã sớm giao chỉ tiêu, kế hoạch, vốn sản xuất lâm nghiệp và ban hành suất đầu tư trồng rừng phòng hộ, mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất năm 2014 ngay từ đầu quý IV/2013. Trên cơ sở đó, các đơn vị đã chủ động giao kế hoạch, chuẩn bị tốt các điều kiện trồng rừng tại các xã ngay từ đầu năm.
Thời gian tới, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện tập trung trồng xong 100 ha rừng phòng hộ, hoàn thành kế hoạch được giao. Đồng thời, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện tiến hành rà soát, bổ sung quỹ đất trồng rừng năm 2015. Theo kế hoạch, trong năm 2015, huyện Bắc Hà sẽ trồng 1.150 ha rừng, trong đó có 150 ha rừng phòng hộ và 1.000 ha rừng sản xuất. (Báo Lào Cai 27/11) đầu trang(
Kỷ niệm ngày Lâm nghiệp Việt Nam 28.11, sáng 27/11, tại khu vực rừng hồ Phú Ninh, xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát động trồng cây gây rừng năm 2014.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Đình Tùng cùng với hàng trăm cán bộ các Sở ban ngành đoàn thể, nhân dân địa phương và sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật tham gia trồng cây tại khu vực này.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Đình Tùng yêu cầu các cấp, các ngành và các địa phương bám sát nhiệm vụ, chương trình công tác, triển khai có hiệu quả kế hoạch bảo vệ và trồng rừng hằng năm. Đây là trách nhiệm bảo vệ vốn rừng, mang lại lợi ích cho người dân và xã hội. Mùa trồng rừng năm này, các địa phương tiếp tục triển khai các dự án đầu tư trồng rừng, phát động mạnh mẽ phong trào trồng cây trong toàn thể tầng lớp nhân dân.
Sau lễ phát động, cán bộ, viên viên và người dân tham gia trồng 5.000 cây keo lưỡi liềm và sao đen. Nhờ tích cực trồng cây gây rừng, đến nay Quảng Nam đã đạt độ che phủ rừng gần 50% diện tích.
Năm nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh có kế hoạch trồng mới khoảng 2.200ha rừng, khoanh nuôi 14 ngàn ha rừng tự nhiên, chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 270 ngàn ha cho người dân chăm sóc, bảo vệ. Ngành lâm nghiệp đã chuẩn bị được 15 triệu cây con đạt tiêu chuẩn phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm nay. (Đài PTTH Quảng Nam 27/11) đầu trang(
Cũng giống như nhiều năm trước, việc triển khai trồng rừng năm 2015 tại huyện Pác Nặm tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Tính đến thời điểm này, người dân mới chỉ đăng ký trồng gần 140, 9 ha/tổng số 820 ha, đạt 17% kế hoạch giao.
Theo Ban quản lý Dự án trồng rừng 147 huyện Pác Nặm, nguyên nhân dẫn tới diện tích đăng ký trồng rừng đạt thấp là do người dân chưa thấy được nguồn lợi lâu dài từ trồng rừng; Một số nguồn vốn hỗ trợ chăm sóc rừng trồng từ năm 2011 đến nay vẫn chưa được thanh toán; Nhiều diện tích rừng mỡ đã đến tuổi thu hoạch nhưng không tiêu thụ được.
Trong khi đó, thì tình hình sâu ong gây hại trên cây mỡ diễn biến phức tạp cũng phần nào ảnh hưởng đến tâm lý của người dân. Ngoài ra, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhiều hộ không có thu nhập thay thế khi trồng rừng nên chỉ tập trung vào trồng các loại cây nghiệp ngắn ngày như ngô, đỗ tương.
Ngoài những nguyên nhân trên thì công tác tuyên truyền về chính sách trồng rừng đến người dân vẫn chưa được sâu rộng nên chưa huy động được họ tham gia tích cực vào công tác trồng rừng. Việc đăng ký trồng rừng chậm như hiện nay sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc bố trí cơ cấu giống cũng như việc triển khai trồng rừng theo đúng kế hoạch trong năm 2015 tại huyện Pác Nặm. (Đài PTTH Bắc Kạn 27/11) đầu trang(
Với ưu điểm chịu được gió mạnh, ít gãy đổ nên cây keo lai mô thích hợp để trồng trên diện tích đất đồi núi, nâng cao giá trị kinh tế. Hiện nay, các xã cánh Tây của huyện Tư Nghĩa như Nghĩa Lâm, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thọ, Nghĩa Thuận là các địa phương có diện tích rừng lớn, cây keo là cây trồng chủ lực.
Xuất phát từ những ưu điểm trên của cây keo lai mô, năm 2012, Trạm Khuyến nông huyện Tư Nghĩa đã chọn giống keo lai mô dòng BV10 để thực hiện mô hình trình diễn trồng thâm canh 05ha tại xã Nghĩa Thuận. Mô hình được thực hiện không những áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bao gồm từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và quản lý rừng mà còn giúp chuyển giao kỹ thuật trồng rừng và quản lý rừng một cách bền vững cho hộ gia đình tham gia dự án.
Sau 02 năm triển khai, từ thực tế cho thấy, mô hình trồng thâm canh keo lai mô đang có triển vọng tốt, cây có tỷ lệ sống trên 90%, cây có khả năng sinh trưởng tốt. Cây keo lai mô có mật độ trồng thưa hơn keo giâm hom. Với khoảng cách cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m, số lượng cây giảm đáng kể so với trồng keo dâm hom, nếu trồng trên cùng 1 diện tích. Sau 2 năm, chiều cao trung bình của cây đạt 8m, đường kính ngang ngực từ 8-10cm, khi đó, đường kính ngang ngực của keo giâm hom chỉ từ 5-6cm.
Huyện Tư Nghĩa có nhiều xã miền núi có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên, nhiều năm nay, người dân các xã cánh Tây của huyện Tư Nghĩa vẫn sử dụng keo giâm hom làm keo giống vì keo dâm hom giá thành thấp hơn keo lai mô. Mô hình cây keo lai mô dòng BV10, Trạm Khuyến nông huyện đưa vào vùng đất xã Nghĩa Thuận trồng thử nghiệm với quy mô 5ha hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với các giống keo khác.
Từ kết quả ban đầu của mô hình trồng keo lai mô phù hợp với chân đất ở các xã miền núi của huyện mà còn hứa hẹn đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng thu nhập cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều hộ dân có đất rừng thì trở ngại lớn nhất hiện nay trong việc nhân rộng mô hình đó là cây giống có giá bán khá cao so với các loại keo gieo ươm từ hạt hoặc cây giâm hom đang có mặt trên thị trường.
Theo các chủ rừng, giá mỗi cây keo giâm hom từ 400- 500 đồng/cây, còn giá keo lai mô từ 2000- 2500 đồng/cây, trong khi kết quả đem lại mới chỉ là bước đầu, chưa có hiệu quả kinh tế cụ thể.
Theo ông Phạm Đăng Đồng- Trạm trưởng Trạm khuyến nông huyện Tư Nghĩa, dù giá thành hiện nay khá cao nhưng trồng cây keo lai mô bước đầu đen lại hiệu quả. Nhờ cây mau phát triển nên sau khi trồng 5 năm, với 1ha keo lai mô, người dân có thể thu từ 140- 150 tấn, còn đối với keo giâm hom chỉ thu từ 100- 110 tấn keo. Nếu có điều kiện, có thể để chu kỳ keo từ 6-7 năm, khi đó, rừng cho trữ lượng gỗ cao nhất, đồng thời chúng ta có thể bán một phần gỗ để làm mộc dân dụng có giá cao hơn giá gỗ nguyên liệu.
Mặc dù hiện nay, cây keo lai mô chưa thực sự được người dân đưa vào trồng đại trà, nhưng qua mô hình thí điểm có thể khẳng định bước đầu cây keo lai mô dễ trồng, phát triển nhanh hơn keo giâm hom và đem lại thu nhập cao hơn nhờ rút ngắn thời gian trồng. Chính vì vậy, bà con nông dân cần cân nhắc kỹ khi trồng keo để mang lại nguồn lợi cao nhất. (Báo Quảng Ngãi 26/11) đầu trang(
Nhiều năm liền, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông là điểm sáng về công tác trồng rừng, bảo vệ rừng. Nhờ vậy, độ che phủ rừng đạt 97%, đồng thời góp phần tích cực trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho người dân bản địa.
Từ năm 2008, Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Con Cuông được giao triển khai trồng rừng nguyên liệu trên 8 xã khó khăn của huyện theo Quyết định 147 của Chính phủ “về chính sách phát triển rừng sản xuất, giai đoạn 2007 – 2015”. Địa bàn ở các xã rộng, địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi đồi núi cao và hệ thống sông suối, đường giao thông phục vụ lâm sinh chưa có nên rất khó cho việc trồng rừng.
Trước thực trạng trên, Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Con Cuông đã phối hợp với chính quyền các địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động nhân dân tham gia trồng rừng. Cán bộ bám địa bàn hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nguyên liệu cho bà con. Nhờ vậy mà lấy được niềm tin trong nhân dân, từ chỗ chỉ 1 xã trồng rừng thì nay cả 8 xã đều triển khai trồng rừng.
Đến thời điểm này, Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp Con Cuông đã trồng được trên 8000 ha rừng (chủ yếu là trồng rừng theo dự án 147), hàng năm trồng được từ 600 - 800 ha rừng. Tính riêng dự án 147 có khoảng trên 1.100 hộ dân tham gia trồng rừng nguyên liệu, đạt thu nhập từ 40 - 50 triệu đồng/năm/ hộ.
Tìm về xã Môn Sơn, thấy bạt ngàn màu xanh mỡ màng của cây keo lai. Ông Quốc Việt ở bản Cửa Rào đang kiểm tra lứa keo mới trồng cho hay: “Gia đình trồng keo theo chương trình dự án 147 được trên 2 ha từ những năm 2010. Được Công ty Lâm nghiệp Con Cuông cung ứng cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng cây kịp thời nên keo sinh trưởng tốt. Đến thời điểm này chúng tôi đã thu hoạch lứa đầu tiên đạt trên 80 triệu đồng/ 2 ha. Để tăng thêm thu nhập, keo phát triển được 2 - 3 tuổi chúng tôi khoanh vùng nuôi trên 200 gà thả đồi, nhờ vậy mà hàng tháng đều cải thiện thêm thu nhập. Thấy lợi ích kinh tế từ trồng rừng, nên ngoài trồng rừng theo dự án 147, gia đình tôi còn vay vốn trồng thêm 3 ha rừng keo nữa…”.
Được biết toàn xã Môn Sơn thời điểm năm 2009 chỉ trồng từ 4 - 5 ha rừng, đến nay xã đã có trên 100 ha rừng trồng của dự án. Từ hiệu quả trồng rừng của dự án 147 mang lại, nhiều hộ dân ở xã đã tự bỏ vốn trồng rừng thêm được 70 ha, đưa tổng diện tích rừng nguyên liệu của xã trên đạt 170 ha.
Tại xã Châu Khê, sát biên giới Việt - Lào, đời sống người dân còn đặc biệt khó khăn, nhưng từ khi thực hiện dự án 147, xã trồng được trên 150 ha rừng nguyên liệu, từng bước giúp nhiều hộ dân vươn lên thoát nghèo. Năm đầu tiên triển khai Quyết định 147 nguồn kinh phí hỗ trợ trồng mỗi ha rừng chỉ có 2 triệu đồng, khu vực biên giới 3 triệu đồng, công ty TNHH-MTV lâm nghiệp kịp thời cung ứng giống, phân bón tương đương với số tiền hỗ trợ. Tuy nhiên, để trồng rừng đạt hiệu quả hơn thì cần phải lồng ghép thêm các nguồn vốn để nâng mức đầu tư trồng rừng cao hơn. Hiện nhà nước hỗ trợ 2 - 3 triệu đồng/ha trồng rừng là chưa đủ, bà con phải bỏ tiền để đầu tư thêm.
Ông Nguyễn Đức Sơn - Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông cho biết thêm: “Ngoài trồng rừng theo dự án 147, Công ty còn hợp đồng giao khoán với trên 60 hộ dân để trồng trên 40 ha rừng nguyên liệu (hợp đồng giao khoán theo Nghị định 135 của Chính phủ, sau khi khai thác rừng nguyên liệu dân hưởng 80%, công ty hưởng 20%). Đến thời điểm này, cơ bản các hộ nhận khoán đều có thu hoạch từ rừng, hàng năm có thu nhập từ 40 - 60 triệu đồng/hộ/năm”.
Những năm qua, công ty còn tiến hành trồng khảo nghiệm được trên 30 ha các giống cây như keo ngoại, sa nhân, ràng ràng, cây vạn trứng … để từ đó tìm ra các giống cây trồng phù hợp với từng vùng đất của địa phương. Cùng đó, tiến hành trồng được nhiều mô hình giống cây bản địa, chuyển hóa rừng trồng gần giống rừng tự nhiên được trên 100 ha với 3 loại cây chính là: Ràng ràng, cây sồi phảng và vạn trứng.
Bên cạnh làm tốt công tác trồng rừng nguyên liệu, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông còn thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng. Anh Võ Văn Tam - Trạm trưởng bảo vệ rừng số 2 (xã Yên Khê) cho hay: “Trạm có 4 cán bộ, nhân viên, được giao nhiệm vụ bảo vệ 2.434 ha rừng, vùng giáp ranh với 2 xã Chi Khê và Châu Khê khá phức tạp, một số đối tượng thường lén lút vào để chặt phá lâm sản. Trước thực trạng trên, trạm đã phối hợp với chính quyền các địa phương để tuyên truyền, vận động người dân không xâm hại rừng. Phối hợp với các lực lượng của chính quyền địa phương cùng tuần tra bảo vệ rừng. Năm 2014, Trạm đã phát hiện ngăn chặn được trên 20 trường hợp phá rừng, giao cho các ngành chức năng xử lý 4 vụ…”.
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, công ty hoàn thành công tác cắm mốc ranh giới giữa khu vực rừng giáp ranh với khu dân cư và Vườn quốc gia Pù Mát, tổ chức các đợt phát quang đường ranh giới. Công ty hiện có 4 trạm quản lý, bảo vệ rừng đặt ở các xã Lục Dạ, Yên Khê, Châu Khê…
Tất cả các trạm thường xuyên phối hợp với các lực lượng của chính quyền địa phương tuần tra, bảo vệ rừng định kỳ. Công tác bảo vệ rừng được cập nhật báo cáo trong ngày theo “đường dây nóng” trực tiếp cho giám đốc công ty, để đơn vị nắm tình hình và có phương án xử lý kịp thời… (Báo Nghệ An 28/11) đầu trang(
Chuyển từ khai thác lâm sản truyền thống sang khoanh nuôi bảo vệ, trồng mới và làm giàu rừng là hướng đi bền vững được ngành Lâm nghiệp kiên trì thực hiện trong nhiều năm qua.
Hoạt động này góp phần tích cực phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến giấy, từng bước giải quyết việc làm, thu nhập cho người làm nghề rừng. Phát huy thành quả đó, trước yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thôi thúc Ngành Lâm nghiệp Nghệ An tiếp tục tái cơ cấu một cách hiệu quả hơn.
Thực hiện lời di huấn của Bác về trồng cây gây rừng, 55 năm qua, ngành Lâm nghiệp cùng chính quyền các cấp và nhân dân trên địa bàn tỉnh triển khai nhiều chủ trương biện pháp đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Hoạt động này đưa Nghệ An trở thành một trong những địa phương đi đầu trong phát triển lâm nghiệp cả nước.
Toàn tỉnh hiện có trên 1 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp với cơ cấu 3 loại rừng (gồm rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất), tỷ lệ che phủ rừng đạt 54,6%. Trong đó, diện tích rừng trồng trên 160 ngàn ha. Nhờ áp dụng tiến bộ về giống nên năng suất, sản lượng rừng trồng tăng nhanh so với trước. Hiện năng suất rừng nguyên liệu giấy đạt bình quân 100 m3/ha và doanh thu 70 triệu đồng/ha/chu kỳ sản xuất.
Rừng trồng không chỉ góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môi trường mà đã hình thành vùng nguyên liệu giấy tập trung với gần 100 ngàn ha, trung bình mỗi năm khai thác đưa vào chế biến 400 - 450 ngàn m3 gỗ nguyên liệu, 2.000 - 2.500 tấn nhựa thông, 4.000 tấn nứa lùng tạo hàng xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ trên 89 triệu USD, giải quyết việc làm, thu nhập cho hàng chục vạn lao động và hộ gia đình sống gần rừng.
Tuy vậy, trước yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, ngành Lâm nghiệp cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng bộc lộ một số hạn chế. Trước hết có thể thấy, vai trò, chức năng của từng loại rừng chưa rõ trong phát triển chung của ngành Lâm nghiệp; Quy hoạch chưa gắn mục tiêu định hướng, chưa giải quyết tận cùng chuỗi phát triển và giá trị nội tại của nó. Các tiềm năng lợi thế về rừng chưa được phát huy tốt, giá trị từ rừng mang lại chiếm tỷ trọng thấp trong nền kinh tế. Nạn khai thác, đốt phá rừng chưa được ngăn chặn. Đời sống của người làm nghề rừng tuy đã được cải thiện song vẫn còn nhiều khó khăn.
Với rừng đặc dụng (172 ngàn ha), chức năng chính là bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, nhưng trên thực tế chưa phát huy tận cùng chức năng này. Các khu rừng đặc dụng như: Vườn Quốc gia thiên nhiên Pù Mát, Pù Hoạt, Pù Huống… được đánh giá là “kho vàng” lưu giữ các loài động, thực vật quý hiếm, trong đó có nhiều loài chưa có trong Sách Đỏ thế giới đang khoanh vùng “đắp chiếu”. Cùng đó, thiếu các giải pháp để khai thác các giá trị về tính đa dạng sinh học và các lợi thế của rừng để phát triển các ngành du lịch, dịch vụ độc đáo, chia sẻ lợi ích cho cộng đồng.
Đối với rừng phòng hộ, diện tích khá lớn (362 ngàn ha), song việc khai thác các giá trị của rừng như các sản phẩm lâm sản, phi lâm sản chưa thiết thực; chưa thu hút được nguồn đầu tư của các tổ chức phi chính phủ để “lấy rừng nuôi rừng, lấy rừng nuôi người”, đưa người dân gắn bó với rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Cá biệt trên một số diện tích rừng phòng hộ do chưa có cơ chế quản lý tốt nên nạn cháy rừng, khai thác lâm sản, phát nương làm rẫy vẫn thường xảy ra với mức độ nghiêm trọng. Chỉ riêng năm 2014, trên địa bàn một số huyện đã xảy ra hàng chục vụ cháy rừng phòng hộ, gây thiệt hại hàng trăm ha thông 4 – 5 tuổi.
Còn với rừng sản xuất, mặc dù được đánh giá có bước phát triển mạnh, nhưng diện tích rừng trồng lại chủ yếu là rừng nguyên liệu giấy, chưa có rừng gỗ lớn, đang sản xuất, kinh doanh trôi nổi, chủ yếu bán nguyên liệu thô, chưa tạo ra vùng nguyên liệu quy mô, gắn với chế biến tạo thành chuỗi sản xuất hàng hóa, đa dạng về sản phẩm, vì vậy giá trị kinh tế mang lại còn thấp. Hiện trong số trên 160 ngàn ha rừng trồng, có 60% là rừng keo nguyên liệu phục vụ cho chế biến dăm thô xuất khẩu.
Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức của ngành mặc dù thời gian qua đã được sắp xếp chuyển đổi thành 14 ban quản lý rừng và 5 công ty lâm nghiệpTNHH MTV, nhưng chưa trở thành “bà đỡ” dịch vụ đầu vào và đầu ra tạo liên kết chặt chẽ thúc đẩy nghề rừng phát triển theo quy mô sản xuất hàng hóa. Một số công ty lâm nghiệp sức khỏe kém, năng lực sản xuất, kinh doanh yếu sống èo ọt. Các Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng hoạt động nặng tính hành chính, thiếu năng động đổi mới, mọi hoạt động phụ thuộc vào hầu bao của Nhà nước.
Trong khi đó, cơ chế, chính sách bất cập, thiếu đồng bộ chưa tạo đòn bẩy thúc đẩy nghề rừng phát triển, nhất là chưa hấp dẫn để thu hút các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Chính sách đầu tư hạ tầng, nhất là kinh phí xây dựng đường vận xuất cho lâm nghiệp thấp, kinh phí không đáng kể, mỗi năm chỉ được 4-5 tỷ đồng nên nhiều nơi có rừng lại chưa có đường, việc khai thác vận chuyển sản phẩm rừng trồng vất vả, tốn kém, giá thành cao, không có lãi. Cơ chế hỗ trợ lại không đồng bộ, một số chương trình như: Chương trình 30a hỗ trợ nhỏ giọt, manh mún; Các chương trình xóa đói, giảm nghèo trùng lặp, thiếu hấp dẫn, thiếu động lực để người nghèo vượt khó, vươn lên gắn bó với nghề rừng.
Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ngoài giống chưa có gì đáng kể. Phần lớn rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ quản lý song còn manh mún, nhỏ lẻ, năng suất thấp, chất lượng rừng không đáp ứng yêu cầu cho quá trình tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn tập trung. Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích rừng trồng thấp, nhiều nơi mới đạt 7-8 triệu đồng/ha/năm, trong khi ở các nước đã đạt 30-40 triệu đồng/ha/năm.
Công tác chế biến lâm sản đang ở thời điểm yếu kém và lạc hậu. Ngoài dây chuyền sản xuất dăm giấy và nhà máy chế biến gỗ MDF tại khu công nghiệp Nam Cấm, trên địa bàn chưa có cơ sở chế biến sâu có quy mô... Xuất phát từ những yếu kém đó, để tạo bước phát triển nhanh bền vững cho ngành Lâm nghiệp Nghệ An, không có con đường nào khác là phải thực hiện tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng lĩnh vực lâm nghiệp. Theo đó cần sắp xếp, tổ chức lại làm thay đổi tương quan về cơ cấu tài nguyên, các bộ phận cấu thành và các nguồn lực khác nhằm nâng cao hiệu quả trong ngành Lâm nghiệp.
Căn cứ Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/6/2013 về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN, ngày 8/7/2013 Bộ NN&PTNT mục tiêu nhiệm vụ của tái cơ cấu ngành lâm nghiệp là tập trung đẩy mạnh xã hội hoá Lâm nghiệp, thu hút các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội và người dân tham gia, nâng cao giá trị gia tăng của ngành, tạo việc làm, tăng thu nhập góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống góp phần giữ vững quốc phòng - an ninh. Tái cơ cấu lâm nghiệp phải lồng ghép với phát triển kinh tế - xã hội thuộc các lĩnh vực khác; Thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sức cạnh tranh và hiệu quả trong sản xuất, khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến lâm sản từ nguồn nguyên liệu trong nước.
Với rừng đặc dụng, phải xác định chiến lược bảo tồn rừng mà trọng tâm là bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác triệt để chức năng vai trò của nó, sớm quy hoạch hệ thống du lịch sinh thái, thị trường hóa các sản phẩm đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên. Từ đó góp phần chia sẻ lợi ích nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng bảo tồn.
Đối với rừng phòng hộ, phải nâng cao giá trị bảo đảm an toàn về môi trường, hồ đập thủy lợi, thủy điện, tạo môi trường ổn định, bảo đảm quốc phòng - an ninh cho miền Tây Nghệ An, phát huy tối đa bảo vệ môi trường gắn với phát triển chăn nuôi đại gia súc, cây, con đặc sản, làng nghề, tận dụng dịch vụ môi trường rừng.
Với rừng sản xuất, phải xác lập vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu, tạo ra được những mặt hàng sản phẩm lợi thế mang tính cạnh tranh và giá trị cao. Qua đó, phát huy vai trò của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong đầu tư phát triển. Tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào công nghiệp chế biến lâm sản và trồng rừng năng suất cao. Tạo cơ hội để các hộ nông dân tự liên kết theo chiều ngang trong sản xuất nguyên liệu và liên kết dọc với doanh nghiệp trong tiêu thụ và chế biến lâm sản.
Quá trình thực hiện tái cơ cấu đòi hỏi phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng xanh. Đó là sự tăng trưởng dựa trên việc khai thác, lợi dụng một cách tối đa sinh lợi của rừng, để tạo ra nguồn thu cao nhất, ổn định nội sinh của rừng, bảo đảm an sinh xã hội, hướng tới việc quản lý bền vững diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ; sử dụng có hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp.
Để đạt mục tiêu này, trước hết tập trung rà soát phân rõ 3 loại rừng ổn định trong kế hoạch dài hạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030, gắn các quy hoạch với các chỉ tiêu cho từng loại rừng, nhất là rừng sản xuất với chuỗi nâng cao giá trị; Chú trọng phát triển rừng gỗ lớn, vùng cây đặc sản mang lợi thế và đi liền với đó là thực hiện chế biến sâu, sớm tạo ra các sản phẩm chất lượng, giá trị cao mà thị trường đang cần. (Báo Nghệ An 28/11) đầu trang(
Trong những năm qua, tỉnh đã có nhiều giải pháp phát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp, tạo điều kiện để người trồng rừng tăng thu nhập; tiếp tục hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư, huy động nguồn lực phát triển kinh tế lâm nghiệp. Đồng thời, làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh đạt 64,5%.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2010-2015), ngành Lâm nghiệp tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành nhiều chủ trương, chính sách, các giải pháp chỉ đạo kiên quyết nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp. UBND tỉnh đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức, thành lập Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 do Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban; thành lập Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh và 11 ban quản lý cấp cơ sở để triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ đầu tư, bảo vệ và phát triển rừng từ tỉnh đến cơ sở.
Tỉnh đã xây dựng các đề án quan trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp: Đề án phát triển bền vững vùng nguyên liệu đến năm 2015; Đề án giao rừng tự nhiên gắn với giao đất lâm nghiệp cho các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp thuộc tỉnh; xây dựng Đề án giao rừng tự nhiên, rừng trồng đã đầu tư bằng vốn ngân sách trên địa bàn toàn tỉnh.
Cùng với đó tỉnh cũng đã ban hành các cơ chế, chính sách triển khai thực hiện Đề án giao rừng, gắn với giao đất lâm nghiệp rừng trồng thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất. Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương cho biết, với trên 4.000 ha đất rừng, thời gian tới, Công ty thực hiện rà soát lại diện tích nào kinh doanh hiệu quả công ty giữ lại, diện tích manh mún, hiệu quả kinh doanh thấp sẽ gửi trả lại địa phương. Công ty cũng thực hiện tăng cường liên doanh, liên kết với nhân dân địa phương trong công tác trồng và bảo vệ rừng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng.
UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành liên quan hướng dẫn UBND cấp huyện xây dựng phương án quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cố định cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất lương thực; các sở, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp, đề nghị các cấp chính quyền kiên quyết xử lý các cá nhân, hộ gia đình vi phạm sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích.
Đến nay, tỉnh đã hoàn thành Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020; rà soát, điều chỉnh hợp lý quy hoạch phân 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) trên địa bàn tỉnh.
Theo Chi cục Lâm nghiệp, trên cơ sở kết quả quy hoạch phân 3 loại rừng, ngay từ năm 2007, ngành đã tham mưu UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nhà máy, cơ sở chế biến, đồng thời thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc các nhà máy, cơ sở chế biến thực hiện việc đầu tư, phát triển vùng nguyên liệu đã được quy hoạch.
Hằng năm, công tác trồng rừng được chỉ đạo chặt chẽ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần đưa diện tích có rừng từ trên 390.000 ha năm 2010 lên trên 408.500 ha năm 2013. Năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu nâng diện tích có rừng lên trên 409.000 ha, duy trì độ che phủ rừng trên 64%, hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra.
Phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp phải bảo đảm bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường. Trên địa bàn tiếp tục hình thành và phát triển một số vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng đủ nhu cầu gỗ, lâm sản cho các nhà máy và cơ sở chế biến gỗ.
Đồng thời, phát triển lâm nghiệp theo chuỗi giá trị từ trồng rừng, chế biến và bao tiêu sản phẩm để nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa, giúp người làm nghề rừng yên tâm gắn bó với nghề, đời sống từng bước được nâng lên. (Báo Tuyên Quang 28/11) đầu trang(
Năm 2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát được giao trồng mới 350 ha rừng. Để hoàn thành kế hoạch, ngay từ cuối năm 2013, ban đã chuẩn bị 6.000m2 vườn ươm và đã gieo ươm hơn 50 vạn cây xoan giống; phối hợp với các xã, thị trấn, các bản tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc trên diện tích đã được phân định.
Thấy tác dụng của việc trồng rừng, các hộ đã tích cực trồng và đạt 370 ha (vượt kế hoạch 20 ha). Như vậy, tính từ năm 2009 đến nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát đã trồng mới được 1.900 ha rừng.
Cùng với việc trồng rừng, trong những năm qua, nhất là năm 2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ 3.905 ha rừng, đồng thời làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Tính đến thời điểm này, huyện Bình Liêu đã trồng được gần 900 ha rừng, đạt 99,8% kế hoạch trồng mới năm 2014. Các loại cây trồng chủ yếu gồm keo, cây thông, sở…
Để thực hiện tốt kế hoạch trồng rừng, ngay từ đầu năm, Ban Chỉ đạo trồng rừng của huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, Công ty Lâm nghiệp Bình Liêu và các xã, thị trấn đẩy nhanh tiến độ khai thác rừng trồng để giải phóng đất trồng rừng.
Huyện cũng chủ động nguồn giống và quản lý tốt chất lượng cây giống. Đồng thời, các cơ quan chức năng tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng rừng và hướng dẫn nhân dân trồng rừng theo hướng thâm canh, xen canh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao...
Diện tích khai thác gỗ rừng trồng đạt 214 ha đạt 84% kế hoạch, các loại lâm sản quế, sở, nhựa thông do đến chu kỳ khai thác nên sản lượng đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Cùng với trồng rừng mới, công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng được huyện quan tâm thực hiện. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng nào. (Báo Quảng Ninh 29/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một số người nông dân chăn cừu ở Pháp đã lùa khoảng 250 con cừu tới khu vực trước tháp Eiffel ở thủ đô Paris để phản đối chính sách bảo vệ loài sói của chính phủ. Theo đó, việc bảo vệ loài sói đã khiến số lượng cừu của họ chết ngày càng nhiều.
Theo quy ước bảo tồn động vật hoang dã ở châu Âu, loài sói đã được đưa trở lại Pháp và được chính phủ nước này bảo vệ. Theo ước tính, hiện có khoảng 300 con sói tại Pháp và số lượng đang gia tăng.
Theo Liên đoàn Nuôi cừu Pháp (FNO), số vụ sói tấn công đàn cừu tăng mạnh trong những năm gần đây. Tính từ đầu năm 2014 đến nay đã ghi nhận 4.800 vụ, cao hơn 1.000 vụ so với năm ngoái.
Luc Bourgeois, một người chăn cừu ở miền Đông Nam Pháp, cho biết anh mất 150 trong tổng số 3.000 con cừu trong năm nay.
Michele Boudoin, tổng thư ký của FNO cũng lên tiếng phản đối kế hoạch bồi thường của chính phủ bởi kế hoạch trên là một sự lãng phí lớn. "Chúng tôi không cần tiền. Chúng tôi cần một môi trường tốt để chăm sóc cừu" - ông Michele chia sẻ. (VietnamPlus 28/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||