Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 02 tháng 04 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chương III của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Dự thảo) dành các Điều 57 và 58 để hiến định rõ những nội dung liên quan đến việc quản lý thống nhất và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia.
Trong đó, Điều 57 nêu rõ: “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, về mặt quan điểm, Dự thảo đã nêu rõ: Các nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia “là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”. Đây là quan điểm hết sức đúng đắn, là hành lang pháp lý cơ bản để xây dựng những luật, bộ luật và văn bản dưới luật nhằm hướng đến mục tiêu quản lý, tổ chức khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Hiến pháp năm 1992 mặc dù đã có những điều khoản quy định về quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên; nhưng, thực tế trước diễn biến của đời sống xã hội cho thấy, việc quản lý tài nguyên lâu nay vẫn bị buông lỏng, luật pháp cùng những quy định dưới luật còn nhiều kẽ hở, dễ bị lợi dụng và vi phạm.
Dẫn tới thực trạng đáng lo ngại đó là, tài nguyên quốc gia bị xâm hại nghiêm trọng, vi phạm pháp luật về quản lý và khai thác tài nguyên diễn ra khá phổ biến. Nhất là những vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai; vi phạm trong quản lý, khai thác tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản.
Thậm chí, theo kết quả điều tra, thống kê của các cơ quan chức năng, cho thấy: Nạn tham nhũng trên lĩnh vực đất đai đã và đang trở thành điểm nóng trên phạm vi toàn quốc. Tình trạng tàn phá, khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản xảy ra ở nhiều nơi. Tỷ lệ vụ việc khiếu kiện, tranh chấp kéo dài, khiếu kiện tập thể liên quan đến đất đai chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số những vụ việc.
Từ thực tế ấy, Dự thảo nêu những vấn đề về quản lý, khai thác các nguồn tài nguyên là hết sức cần thiết, nhất là cần phải bổ sung thêm những nội dung mà Hiến pháp năm 1992 chưa phản ánh hết, nhằm khắc phục cho được những vấn đề xã hội đang đặt ra. Về nội dung, theo tôi các Điều 57 và 58 nên sửa như sau cho đầy đủ và chặt chẽ hơn.
Điều 57 nên có nội dung: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản và những tài nguyên thiên nhiên khác; nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, tổ chức khai thác có hiệu quả theo quy định của pháp luật”.
Ở đây cần thêm các từ (in ngả) như trên là bởi, cần phải đưa “tài nguyên rừng” vào nội dung, bởi rừng cần được xác định là nguồn tài nguyên vô cùng quý báu của quốc gia. Do đó, việc thêm cụm từ “tổ chức khai thác có hiệu quả” nhằm cụ thể hóa hơn nữa vai trò của Nhà nước, ở đây đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lợi của quốc gia đã được xác định là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tuy nhiên nhằm thể hiện rõ vài trò “quản lý” và biến nguồn tài nguyên ấy trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thì Nhà nước phải đóng vai trò “tổ chức khai thác có hiệu quả” theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, về nội dung Điều 58 nên sửa như sau:
- Khoản 1 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật và tổ chức khai thác theo quy hoạch”. Sửa như thế sẽ rõ nghĩa hơn, bởi nếu để cụm từ “quản lý theo quy hoạch và pháp luật” sẽ không rõ ràng, và rất khó hiểu “thế nào là quản lý theo quy hoạch?
- Khoản 2, Điều 58 nên bỏ cụm từ “đất để sử dụng ổn định”, vì trùng lặp; thay từ “hợp lý” bằng “hiệu quả” cho rõ nghĩa hơn, vì sử dụng đất thế nào là hợp lý thì thật khó lý giải; và thay từ “luật” bằng từ “pháp luật”, đồng thời thêm cụm từ “của tổ chức và cá nhân” ở câu cuối cho đúng về mặt ngôn từ.
Và nội dung khoản này nên sửa như sau: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất lâu dài hoặc có thời hạn. Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác có hiệu quả, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích; được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Quyền sử dụng đất là quyền tài sản của tổ chức và cá nhân được pháp luật bảo hộ".
- Khoản 3 nên sửa lại như sau: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai”.
Ở đây nên thay cụm từ “lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội” bằng cụm từ “tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai” cho thống nhất với nội dung được nêu tại khoản 3, Điều 56. Mặt khác, tôi cho rằng: Nếu để quy định Nhà nước thu hồi đất cho “lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội” thì quá rộng, và chưa chắc đã thể hiện rõ vấn đề “thật cần thiết”.
Bởi, bản thân các tổ chức, cá nhân được Nhà nước “giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất lâu dài hoặc có thời hạn” cũng đang sử dụng vào những mục đích “thật cần thiết” và “góp phần phát triển kinh tế - xã hội”. Nếu để quy định thu hồi đất cho “lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội” rất dễ dẫn tới tình trạng lợi dụng hiến định để thu hồi đất một cách vô tội vạ, như đã từng xảy ra, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân được giao quyền sử dụng đất, gây bức xúc cho xã hội và phát sinh nhiều hệ lụy khác. (Quân Đội Nhân Dân 30/3)đầu trang(
Đối với quy chế FLEGT từ EU, các doanh nghiệp không nên hoang mang, vấn đề là chúng ta cần đảm bảo nguồn gỗ hợp pháp, cùng với đó phối hợp với các khách hàng phía EU để hiểu thêm các thủ tục về giải trình.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương trong năm 2012 xuất khẩu đồ gỗ, lâm sản của Việt Nam đạt kim ngạch 4,67 tỷ USD tăng 15,3% so với cùng kỳ và tăng gần 200% so với năm 2007, là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ xuất siêu cao so với cả nước (khoảng 3 tỷ USD, tương ứng 65%). Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới và thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Năm 2012 sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó tập trung vào 4 thị trường trọng điểm là Mỹ chiếm trên 38%, Trung Quốc hơn 15%, EU 14% và Nhật Bản 14%. Thị trường xuất khẩu dăm mảnh chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Theo các chuyên gia dự báo trong năm 2013 xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ có tăng trưởng khoảng 10%, kim ngạch xuất khẩu ước đạt khoảng 5,5 tỷ USD, trong đó Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn là những thị trường có mức tăng trưởng cao, ở những thị trường này, ngay từ đầu năm, nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã có những hợp đồng tới giữa năm.
Trong điều kiện kinh tế thế giới đang còn nhiều khó khăn, hoạt động xuất khẩu ngày càng tăng, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều xu hướng, rào cản ở các thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Quy chế 995/2010 của Liên minh châu Âu (EU) về kế hoạch hành động thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản - gọi tắt là FLEGT chính thức có hiệu lực từ ngày 3/3/2013. Quy định cấm nhập khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp vào thị trường EU và yêu cầu các nhà kinh doanh cung cấp gỗ lần đầu tiên vào thị trường này phải thực hiện trách nhiệm giải trình.
Yêu cầu này đã buộc các doanh nghiệp kinh doanh gỗ Việt Nam phải cải thiện quy trình kinh doanh sản xuất để có những thích ứng kịp thời. Chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm FSC - CoC là cơ sở giúp người tiêu dùng xác định được sản phẩm gỗ có nguồn gốc rừng được quản lý tốt, an toàn, tuân thủ nghiêm ngặt về môi trường và xã hội.
Chứng nhận FSC - CoC không hoàn toàn là có thể đáp ứng được 100% yêu cầu của quy chế FLEGT; nhưng chứng chỉ FSC - CoC là tiền đề quan trọng, tạo ra lợi thế rất lớn để các đơn vị dễ dàng vượt qua các cuộc sát hạch của Châu Âu và các thị trường khác trong thời gian tới.
Theo khảo sát 56 doanh nghiệp tại Bình Định, một trong những tỉnh có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gỗ, của chương trình lâm nghiệp Việt – Đức GIZ, 51/56 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 91% có chứng chỉ FSC - CoC.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội chế biến gỗ Bình Dương cho rằng, trong kế hoạch kinh doanh của mình các DN phải có phương án giải trình cho tốt, đặc biệt khi mình mua các sản phẩm gỗ từ đâu, từ nước nào thì phải có nguồn gốc rõ ràng. Thời gian qua Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng như Hiệp hội chế biến gỗ Bình Dương cũng có những thông báo, hỗ trợ thông tin rất rõ về quy chế FLEGT từ EU để cho các DN nắm bắt được tinh thần này và có các phương án cho xuất khẩu.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NNPTNT cho rằng đối với quy chế FLEGT từ EU, các doanh nghiệp không nên hoang mang, vấn đề là chúng ta cần đảm bảo nguồn gỗ hợp pháp, cùng với đó phối hợp với các khách hàng phía EU để hiểu thêm các thủ tục về giải trình. (Chinhphu.vn 1/4) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Ở nhiều nơi, trong khi tình trạng rừng bị tàn phá ngày càng nghiêm trọng nhưng vẫn chưa có giải pháp bảo vệ hiệu quả thì ở tỉnh Quảng Bình xuất hiện một mô hình quản lý rừng khá hiệu quả, làm vốn rừng ngày càng phát triển cả về diện tích lẫn chất lượng, đời sống hàng nghìn hộ dân ổn định nhờ nghề rừng và kết quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị chủ rừng hằng năm luôn vượt kế hoạch đề ra. Đó là thực tế ở Công ty TNHH MTV lâm, công nghiệp Long Đại.
Công ty TNHH MTV lâm, công nghiệp Long Đại (Công ty Long Đại) được giao và thuê hơn 100 nghìn ha rừng và đất rừng để sản xuất, kinh doanh. Trong khi ở nhiều nơi, dù rừng đã có chủ nhưng vẫn bị tàn phá, suy kiệt nặng nề, thậm chí trở thành điểm nóng về phá rừng thì vốn rừng của Công ty Long Đại nằm trải dài trên địa phận của ba huyện, trong lâm phận có năm xã miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn, quen tập quán đốt rừng làm rẫy, lại có hai tuyến đông - tây đường Hồ Chí Minh băng qua vẫn được bảo vệ và phát triển tốt.
Hơn 30 năm phát triển với bao thăng trầm, Công ty Long Đại đã tạo ra được một cơ chế khoán quản khá chặt chẽ và khoa học, vừa giữ được vốn rừng, vừa tạo điều kiện để rừng phát triển, ổn định sản xuất và đời sống cho hàng nghìn lao động và hộ nông dân. Và thực tế ở Công ty Long Đại đã cho thấy, khi người dân ý thức rõ lợi ích thiết thực của mình từ rừng thì họ sẽ phát huy cao nhất trách nhiệm bảo vệ và phát triển diện tích rừng được giao, như một người chủ thật sự.
Tại xã Sơn Lộc, huyện Bố Trạch nơi có gần nửa số dân với hơn 200 hộ tham gia nhận khoán bảo vệ, khai thác rừng thông và cao-su từ Công ty Long Đại, Chủ tịch UBND xã Phan Thị Hoa cho biết: Liên kết với công ty để nhận khoán rừng là một hướng đi đúng và hiệu quả, giải quyết một lúc hai vấn đề vốn rất nan giải của địa phương bấy lâu. Đó là giảm áp lực phá rừng và tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho bà con. Với mức thu nhập bình quân từ bốn đến năm triệu đồng/người/tháng, đời sống một bộ phận không nhỏ người dân trong xã được nâng lên rõ rệt.
"Với cơ chế khoán quản này, người lao động thấy lợi ích và trách nhiệm thiết thực từ rừng, cho nên họ giữ gìn từng gốc cây. Nhiều nơi rừng xen giữa khu dân cư, đường giao thông nhưng nạn cháy rừng hay mất nhựa, cây bị chặt hạ rất ít xảy ra. Có thể nói, ở đây, mỗi người dân ven rừng thật sự là một nhân viên bảo vệ". Giám đốc CNLT Vĩnh Long Đặng Thành Cương nói.
Có thể nói, Công ty Long Đại đã tạo cơ chế xã hội hóa để huy động đông đảo lực lượng "vệ tinh" tham gia làm chủ rừng, cùng doanh nghiệp quản lý, khai thác, chịu trách nhiệm và chia sẻ quyền lợi từ rừng. Họ là những hộ nông dân các địa phương ở ven rừng, là con em đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa vốn quen sống bằng cách phát - đốt - cốt - trỉa và khai thác lâm sản, từng làm "đau đầu" cơ quan quản lý rừng và chính quyền địa phương. Điều đáng mừng là lực lượng "vệ tinh" này không bị giới hạn mà ngày càng đông thêm khi diện tích rừng trồng vào độ tuổi khai thác tăng lên.
Đến nay, có hơn 1.500 hộ tham gia trồng, bảo vệ và khai thác ở năm CNLT thuộc Công ty Long Đại với tổng diện tích hơn 16 nghìn ha và với cơ chế khoán như vợ chồng chị Ngân ở CNLT Vĩnh Long, bình quân mỗi lao động "vệ tinh" có thu nhập ổn định khoảng 4 đến 4,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, nếu lao động "vệ tinh" nào tích cực, làm tốt sẽ được xét tuyển vào quân số chính thức của công ty, với quyền lợi như các cán bộ, công nhân khác.
Công ty Long Đại có hơn 70 nghìn ha rừng tự nhiên được giao cho hai đơn vị quản lý, bảo vệ là CNLT Trường Sơn và CNLT Khe Giữa. Trong khi tình trạng phá rừng tự nhiên ở nhiều nơi đang diễn biến phức tạp thì với vốn rừng giàu gỗ quý như ở Công ty Long Đại, nguy cơ ấy luôn ở mức cao.
Cách quản lý rừng ở đây rất bài bản, khoa học. Phó Giám đốc phụ trách CNLT Trường Sơn Phạm Xuân Phong cho biết: Tất cả cây rừng từ nhóm một đến nhóm tám có đường kính 45 cm trở lên đều được đưa vào hồ sơ quản lý với các thông số như tên cây, số hiệu cây, tọa độ cây trên bản đồ, số đo cây, hướng đổ... Để chặt một cây gỗ rừng tự nhiên ở đây phải có ba dấu búa theo tọa độ GPS. Vì vậy, dù ở cửa rừng hay tại nhà máy chế biến, chỉ cần nhìn dấu búa, cán bộ quản lý biết rõ cây được chặt ở vị trí nào trên bản đồ.
Để bảo vệ rừng, Công ty Long Đại có cơ chế giám sát khai thác hiệu quả. Từ lâu họ đã "nói không" với việc đấu thầu khai thác. Bởi bài học nhiều nơi cho thấy, mỗi khi khai thác xong, khu rừng đó như bị tàn phá nặng, phải rất nhiều năm sau mới hồi phục. Ở đây họ tự tổ chức khai thác với sự giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt của cơ quan chức năng. Tất cả những cây được đưa vào khai thác, ngoài tiêu chuẩn, chất lượng cây, phải đáp ứng đầy đủ các yếu tố về mật độ rừng, lộ tuyến vận tải, phương án khai thác nhằm hạn chế thấp nhất việc ảnh hưởng đến thảm rừng, tán rừng, vì vậy chỉ vài năm sau là có thể mở cửa rừng khai thác trở lại.
Nhờ bảo vệ tốt, theo thời gian, vốn rừng tự nhiên do Công ty Long Đại quản lý không những không bị mất, bị nghèo đi mà trữ lượng gỗ ngày càng tăng lên. Riêng tại lâm phận CNLT Trường Sơn, trước đây sản lượng khai thác mỗi năm chỉ từ 3 đến 3,5 nghìn m3, nhưng cách đây hai năm khi điều tra lại, trữ lượng gỗ rừng tự nhiên đã có hơn ba triệu m3, vì thế UBND tỉnh Quảng Bình quyết định cho phép khai thác mỗi năm từ 5 đến 5,5 nghìn m3. (Nhân Dân 2/4) đầu trang(
Phát triển vườn rừng nhằm bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc bằng cách giao khoán đất rừng cho người dân quản lý, khai thác dưới sự giám sát của ngành kiểm lâm, chính quyền địa phương nhiều năm qua đã phát huy hiệu quả tại hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang).
Nhiều năm qua, những hộ dân tham gia trồng và giữ rừng trên núi Dài (huyện Tri Tôn) chủ yếu cải thiện kinh tế bằng cách trồng xen các loại cây ăn quả, rau màu, dược liệu. Tuy nhiên, đời sống không ít hộ dân vẫn gặp khó khăn do giá nông sản biến động, việc vận chuyển xuống núi tốn nhiều chi phí...
Một loại cây trồng mới đang được vài hộ dân ở núi Dài canh tác thử nghiệm và cho thấy tiềm năng rất lớn. Dựa vào thời tiết mát mẻ quanh năm, nhiều hộ dân tại đỉnh núi Dài thời gian qua đã phát triển mạnh mô hình canh tác vườn rừng hiệu quả, với cây trồng chủ yếu là giống khoai môn Đà Lạt (hay còn gọi là khoai cao).
Ông Lê Công Tảo, khóm An Hòa B (thị trấn Ba Chúc, Tri Tôn), cho biết, giống khoai này rất dễ trồng, chủ yếu sử dụng nước mưa tự nhiên, chi phí đầu tư thấp nhưng bán được giá cao. Ngoài ra, giống khoai môn này còn có tác dụng diệt cỏ tự nhiên. Vào mùa mưa sắp tới, ông Tảo dự kiến sẽ xuống giống 50 ha khoai môn Đà Lạt ở khu vực Ô Sình - Vồ Cờ.
"Nếu mô hình này được mở rộng, đời sống người dân được cải thiện tốt hơn thì họ sẽ yên tâm gắn bó lâu dài với rừng và tích cực giữ rừng. Mong muốn của chúng tôi hiện nay là ngành kiểm lâm nên kiểm tra lại mật độ cây sao trong diện tích đất rừng để có thể tỉa bớt, tạo thông thoáng dưới tán rừng cho các loại cây trồng khác phát triển. Trong đó, giống khoai môn Đà Lạt cũng cần có ánh nắng mới sinh trưởng tốt", ông Tảo kiến nghị.
Song song với giống khoai môn, hiện nay, vườn rừng tại khu vực Ô Sình, ông Tảo cùng nhiều hộ dân khác đang phát triển mạnh cây su hào và các loại cây ăn trái khác như sa-pô, sầu riêng, xoài, dâu...
Cùng chung đề xuất này, ông Phạm Ngọc Minh có gần 20 năm gắn bó với rừng ở đồi Tà Pạ (xã Núi Tô, Tri Tôn), cho biết, bên cạnh công việc chăm sóc rừng, ông còn tranh thủ thu gom củi khô về bán và trồng xen canh một số loại cây như xoài, điều, mít... Tuy nhiên, do mật độ cây sao trong rừng quá dày, che hết ánh nắng khiến các loại cây ăn trái này thường bị hiện tượng thối quả non, năng suất thấp.
"Nếu diện tích cây sao được tỉa bớt với mật độ phù hợp thì các loại cây trồng khác sẽ phát triển tốt, đời sống người trồng rừng cũng ổn định hơn, hạn chế được tình trạng chặt phá rừng trái phép", ông Minh nói.
Còn tại núi Cấm (huyện Tịnh Biên), nhiều mô hình canh tác vườn rừng khác phát huy hiệu quả rất tốt như: Quýt điều, nuôi hươu, nai kết hợp trồng rừng, mô hình trồng thanh long ruột đỏ, tre lấy măng... mang lại thu nhập cho người trồng hằng năm trên dưới trăm triệu đồng.
Nhằm hỗ trợ mô hình vườn rừng phát huy hiệu quả hơn nữa, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm An Giang Trần Phú Hòa cho biết, trong năm 2013, bên cạnh việc triển khai các phương án bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), ngành kiểm lâm sẽ cho kiểm tra lại mật độ cây sao theo phản ánh của người dân. Nếu nơi nào có số lượng hơn 600 cây/1.000 m2 thì lực lượng kiểm lâm sẽ phối hợp với người dân cắt tỉa bớt.
Ông Hòa cũng cho rằng, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chặt phá, xâm chiếm đất rừng là do giá trị kinh tế của rừng còn thấp, không bảo đảm đời sống cho người trồng rừng. Vì vậy, chủ rừng, các hộ nhận giao khoán rừng chưa thật sự quan tâm đến rừng trong khi nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác lại rất cao, như làm rẫy, trồng cây ăn trái...
Bên cạnh đó, chính sách đầu tư cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, chưa có nhiều mô hình nông - lâm kết hợp có hiệu quả trên vùng đồi núi để tạo nguồn thu nhập bền vững, cho người dân nhận giao khoán phát triển kinh tế rừng. (Nhân Dân 2/4) đầu trang(
Để chủ động phòng, chống cháy rừng, Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã tăng cường lực lượng và trang thiết bị, củng cố và lập mới các chốt cảnh báo cháy rừng sớm ở các khu vực trọng điểm, mỗi chốt cảnh báo thường xuyên có từ sáu đến tám người thường trực 24/24 giờ trong ngày. Diện tích có nguy cơ cháy cao rộng hơn bảy nghìn ha, chủ yếu là rừng trúc ở độ cao 2.800 m.
Tại Bạc Liêu, những ngày gần đây nhiệt độ trung bình tại khu vực vườn chim luôn ở mức 37oC, độ ẩm trung bình 60%. Ban quản lý rừng đã nâng mức dự báo cháy rừng vườn chim lên cấp 5 - cấp có khả năng xảy ra cháy rừng cao nhất, đồng thời đóng hoàn toàn cửa rừng, ngừng đón khách tham quan và tổ chức trực chữa cháy 24/24 giờ.
Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang cho biết, hàng chục nghìn ha rừng ở tỉnh này cũng đang trong tình trạng dự báo cháy ở mức nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm. Nắng nóng gay gắt trong những ngày qua đã khiến nước bốc hơi nhanh và độ ẩm giảm thấp, nên diện tích rừng bị khô hạn nằm trong dự báo cháy từ cấp 4 đến cấp cực kỳ nguy hiểm tăng lên hơn 40 nghìn ha, chiếm gần 60% tổng diện tích rừng toàn tỉnh. Hầu hết các diện tích này tập trung trên lâm phần rừng tràm vùng U Minh Thượng và các huyện Hòn Đất, Kiên Lương và rừng đảo Phú Quốc.
Tỉnh An Giang đã khoanh vùng hơn 7.300 ha rừng nằm trong tình trạng báo cháy ở cấp cực kỳ nguy hiểm. Diện tích này tập trung nhiều nhất là huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và thị xã Châu Đốc.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết, hiện nay toàn bộ diện tích rừng tràm, rừng đảo bị khô lên đến hơn 42 nghìn ha. Diện tích rừng báo động cháy cấp IV, cấp V (cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm) chiếm gần 38 nghìn ha. Trước tình hình này, tỉnh đã đề nghị các cấp, các ngành và các chủ rừng, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất lâm nghiệp và chính quyền địa phương tăng cường các biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra cháy rừng. (Nhân Dân 2/4) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 1-4, nhiều khu vực của 11 tỉnh (Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Gia Lai, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa, Đồng Tháp, Cà Mau) có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 2/4) đầu trang(
Những ngày đầu mùa nắng, về "chảo lửa” huyện miền núi Tương Dương (Nghệ An). Ở đây, nhiệt độ luôn ở mức cao trên 37 độ, thậm chí có lúc đỉnh điểm lên tới hơn 40oC khiến cuộc sống của người dân rơi vào tình trạng khó khăn, đồng thời đây cũng là mối nguy hiểm cho hàng trăm hecta rừng.
Mặc dù công tác triển khai PCCR được ngành chức năng huyện Tương Dương triển khai khá chu đáo, nhưng do điều kiện khách quan cho nên vẫn còn đó những vùng trọng điểm về cháy rừng.
Theo thống kê, hiện Tương Dương có khoảng hơn 20 điểm có nguy cơ xảy ra cháy như Thạc Dương, bản Mác (xã Thạch Giám), bản Tân Hợp, bản Lũng (xã Tam Thái), Xộp Nậm, Phà Lõm (xã Tam Hợp), bản Lả, Minh Tiến (Lượng Minh)… đây là các địa điểm có nhiều thực bì dễ gây cháy, tuy nhiên đây cũng là điểm nóng của nạn khai thác lâm sản, việc bảo vệ rất khó thực hiện.
Ngoài ra, tình trạng hồi hương trái phép, di cư tự do vào khu vực lòng hồ đang diễn biến phức tạp, đời sống nhân dân trên địa bàn vẫn có nhu cầu sản xuất nương rẫy để ổn định lương thực, nhu cầu sử dụng lâm sản gây khó khăn cho công tác BVR và PCCR.
Ông Võ Sỹ Lâm – Hạt trưởng hạt kiểm lâm Tương Dương cho biết, huyện Tương Dương luôn tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân PCCR trong mùa làm nương, rẫy; tổ chức di dời các công trình, nhà cửa có nguy cơ bị sạt lở, lũ cuốn trôi. (Đại Đoàn Kết 1/4) đầu trang(
Tuy trên địa bàn tỉnh đã có những cơn mưa làm giảm bớt nguy cơ cháy rừng nhưng hiện nay đang là mùa khô, thời tiết vẫn còn diễn biến khá phức tạp; chính vì vậy đòi hỏi ngành chức năng, các đơn vị chủ rừng ở các địa phương cần tập trung mọi nguồn lực cho công tác này. Xác định được nhiệm vụ quan trọng đó, Công ty Lâm nghiệp Bảo Thuận, huyện Di Linh đang tích cực cho công tác này.
Công ty Lâm nghiệp Bảo Thuận hiện quản lý 21 tiểu khu với tổng diện tích trên 19 ngàn ha, trong đó diện tích giao khoán cho các hộ dân là 8.253 ha với 319 hộ. Để thực hiện tốt phương án phòng cháy, chửa cháy rừng trong mùa khô năm 2013, ngay từ đầu năm, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch, phân công cho cán bộ quản lý từng tiểu khu, tổ chức tuyên truyền vận động người dân sống xung quanh rừng nâng cao ý thức trong việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Đặc biệt, Ngoài lực lượng nhận khoán quản lý bảo vệ rừng, công ty lâm nghiệp Bảo Thuận đã tiến hợp đồng với đội thường trực phòng chống cháy rừng, sẵng sàng ứng phó khi có tình huống cháy xẩy ra.
Với phương châm “phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời và hiệu quả” vì vậy ngay từ đầu mùa khô đơn vị chỉ đạo các bộ phận trực thuộc chủ động thi công phát dọn, xử lý thực bì phòng chống cháy. Thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ, phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về nâng cao ý thức phòng cháy chữa cháy bằng nhiều hình thức phong phú. Nhờ đó, trong năm 2012 và những tháng đầu năm 2013 này những diện tích do Công ty Lâm nghiệp Bảo Thuận quản lý đã không xẩy ra vụ cháy nào làm thiệt hại đến tài nguyên rừng. (Đài PT - TH Lâm Đồng 1/4)đầu trang(
Đó là cây gỗ tung theo tiếng Ê-đê, được xác định lớn nhất ở TP. Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) với đường kính gốc hơn 20 người ôm, cao chót vót gần 60 mét… nằm ở cánh rừng đầu nguồn buôn Ky, phường Thành Nhất.
Theo ông Bùi Tú Trà - Phó Ban thanh tra Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường tỉnh Đắk Lắk – cây gỗ tung tại buôn Ky được xem là một trong những cây gỗ lớn nhất trong các rừng đầu nguồn nguyên sinh hiếm hoi còn lại tại thành phố Buôn Ma Thuột.
“Hiện nay ở thành phố Buôn Ma Thuột, việc còn sót lại rừng nguyên sinh đầu nguồn như ở buôn Ky là rất quý. Cây gỗ tung trong ở buôn Ky là cây gỗ lớn nhất thành phố Buôn Ma Thuột nhưng đáng tiếc rừng ở đây diện tích còn lại quá hạn chế”, ông Bùi Tú Trà nhận định.
Ông Bùi Tú Trà cho hay, trong thời gian tới, các ban ngành liên quan sẽ sớm có đề nghị đưa cây gỗ tung lớn nhất TP. Buôn Ma Thuột ở buôn Ky vào danh sách cây di sản của tỉnh Đắk Lắk. “Nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời thì trong tương lai số cây gỗ này sẽ không còn, người ta sẽ đốt rác xung quanh khiến các cây gỗ chết dần. Cây gỗ tung to lớn này cũng bị đe dọa từng ngày”, ông Trà cảnh báo.
Ông Nguyễn Minh Tuấn - phó Chủ tịch UBND phường Thành Nhất, cho biết thời gian qua UBND Thành Nhất đã có biện pháp nghiêm cấm các hành vi chặt phá liên quan đến các cây gỗ ở rừng đầu nguồn ở buôn Ky. “Cây gỗ tung ở buôn Ky có thể lên tới hàng trăm năm tuổi. Hiện UBND TP. Buôn Ma Thuột đã có chủ trương bố trí kinh phí để khôi phục, tôn tạo bến nước ở khu vực này, bảo vệ các cây rừng xung quanh”, ông Tuấn cho biết. (Dân Trí 31/3) đầu trang(
Người Phản Ứng Nhanh Hoang Dã, nữ nhiếp ảnh gia trẻ người Mỹ Gabby Salazar đã có những trải nghiệm thú vị trong nghề. Chị chia sẻ kinh nghiệm chụp ảnh của mình với các bạn trẻ đam mê nhiếp ảnh tại các cuộc giao lưu ở Hà Nội và TPHCM ngày 30 và 31/3.
Cuộc giao lưu này là hoạt động tiền đề nhằm khởi động và cổ vũ cho cuộc thi Nhiếp ảnh gia trẻ EOS khu vực châu Á diễn ra sau đó do công ty Canon và National Geographic phối hợp tổ chức.
Tại cuộc hội thảo ở Hà Nội, Gabby Salazar, một nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh thiên nhiên, “nhà khám phá trẻ” của kênh truyền hình địa lý Quốc gia (National Geographic) cho biết, cô sẽ theo đuổi sự nghiệp xuất bản về bảo tồn và lịch sử tự nhiên.
Gabby tin rằng việc kể chuyện bằng hình ảnh là một trong những cách hữu hiệu nhất để thu hút mọi người chú ý đến khoa học và bảo tồn.
Cô nói: “Chỉ một bức ảnh mưa bom napan ném vào dân làng có thể thay đổi diễn biến của chiến tranh Việt Nam, thì những bức ảnh về các khu vực, những nền văn hóa và môi trường sống bị đe dọa có thể thay đổi diễn biến của công tác bảo tồn thiên nhiên hoang dã”.
Nhằm phục vụ cho hoạt động của dự án Trợ cấp các nhà khám phá trẻ, Gabby đã tìm kiếm và khám phá hơn 15 địa điểm dọc đường cao tốc xuyên đại dương giữa Cusco và Puerto Maldonado (Peru) và hành lang bảo tồn thiên nhiên, nơi giao giữa Los Amigos và Tambopata ở Peru để kể câu chuyện bằng hình ảnh về những nỗ lực bảo tồn thiên nhiên của cộng đồng, chính phủ và nước ngoài tại đây - nơi nằm ngay giữa lòng của sự phát triển đang ngày càng mở rộng. (Tiền Phong 31/3)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, các nông, lâm trường quốc doanh đã hoàn thành việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; sắp xếp, chuyển đổi thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước.
Sau sắp xếp, hầu hết các công ty nông, lâm nghiệp ổn định và phát triển vùng nguyên liệu sẵn có của mình và không ngừng nâng cao đầu tư khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung.
Ông Nguyễn Xuân Quang, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận định: Việc triển khai Nghị quyết 28 nhằm bảo vệ rừng hiệu quả cần giao diện tích rừng cho các đơn vị có tiềm lực kinh tế hơn là tiếp tục giao cho các Ban quản lý yếu kém.
Ông Nguyễn Xuân Quang cho biết tỉnh Quảng Bình đã chú trọng đổi mới nội dung, đổi mới bộ máy tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý điều hành và đặc biệt gắn vào sản xuất kinh doanh, gắn với đất đai, bảo vệ rừng, khai thác rừng có hiệu quả. Đến nay, tỉnh cơ bản đã rà soát đất tại các nông, lâm trường, tiến hành giao quyền sử dụng đất.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Đăng Khoa, phần lớn đất đai và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, chưa lập bản đồ địa chính, diện tích đất được cấp sổ đỏ chiếm tỷ lệ thấp. Nhiều công ty nông, lâm nghiệp sử dụng đất đai, rừng, vườn cây lâu năm hiệu quả còn thấp; chưa đổi mới và phát triển các hình thức khoán ổn định, lâu dài đến hộ công nhân, người lao động… Đây là nguyên nhân khiến các địa phương và nông, lâm trường lúng túng chuyển đổi mô hình hoạt động phù hợp.
Ông Hồ Minh Khải, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nông nghiệp Cờ Đỏ (Cần Thơ) cho biết: Trong quản lý đất đai, công ty đã rất thành công với cánh đồng mẫu lớn, tuy nhiên vẫn còn tồn tại tranh chấp đất đai giữa hộ nông dân có đất gốc và hộ giao khoán. Đây cũng là khó khăn cho doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa…
Trên thực tế, do làm ăn thua lỗ kéo dài nên một số nông, lâm trường buông lỏng quản lý đất đai, thiếu kiểm tra. Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương các cấp với nông, lâm trường còn lỏng lẻo, việc xử lý và ngăn chặn hành vi lấn chiếm còn thiếu cương quyết để kéo dài nhiều năm, thậm chí bất lực trong việc giải quyết mâu thuẫn đất đai. Đây cũng được xem là “nút thắt” lớn nhất mà các công ty nông nghiệp cần tìm cách tháo gỡ.
Ông Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông nêu ý kiến, việc kiểm kê, đánh giá lại tài nguyên rừng là rất cần thiết nhưng vì số liệu hiện nay chưa phản ánh được con số thực, không biết nguồn tài nguyên đến đâu để có giải pháp ứng xử, từ đó mới xác định được nguồn nào quản lý, nguồn nào sản xuất, nguồn nào chuyển sang lâm nghiệp.
Theo ông Luyện, những diện tích rừng mà dân đã canh tác ổn định từ 5 đến 10 năm như cà phê, cao su…. không nên đưa vào diệc tích lâm nghiệp nữa mà cần có cơ chế, chính sách chuyển về địa phương giao đất cho người dân đầu tư thâm canh, ổn định sản xuất.
Phát biểu kết luận tại Hội nghị tổng kết 10 năm triển khai Nghị quyết 28 vừa diễn ra tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhấn mạnh yêu cầu tiên quyết đặt ra là đất đai và rừng phải có người quản lý, không thể để tình trạng không ai quản lý, quản lý không hiệu quả, thậm chí có nơi còn để xảy ra thất thoát.
Theo Phó Thủ tướng, trước hết cần gắn quyền lợi với trách nhiệm trong lĩnh vực quản lý này, từ đó xử lý hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Đồng thời cần phân loại rừng với những tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể, để nghiên cứu xây dựng phương án đo đạc, cắm mốc, kiểm kê đất, xử lý các tồn tại về đất đai, chuyển đổi mô hình công ty nông nghiệp phù hợp thực tế. (VOV 1/4)đầu trang(
Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã WAR (Wildlife at Risk) đã giới thiệu một hình ảnh tuyền truyền gây “sốc” về tình trạng sử dụng sừng tê giác ở VN.
Đó là tác phẩm có tên “Kill the myth” (Xóa sổ điều hoang đường), thể hiện hình ảnh một chiếc sừng tê giác xoay ngược đầu nhọn xuống đất, được cắm vào… chỗ hiểm, như một sự thay thế cho “của quý” của các quý ông. Tác phẩm này được thực hiện bởi các họa sĩ do tổ chức WAR Việt Nam ủy nhiệm.
“Điều hoang đường” mà tác phẩm muốn nói đến chính là quan niệm của nhiều người việt Nam về sừng tê giác, coi đây là thứ “thần dược phòng the”, biểu tượng số một của sức mạnh tình dục trên cõi đời.
Sự sùng bái đến mức mê muội đã đẩy giá sừng tê giác ở Việt Nam lên một cái giá không tưởng: khoảng 130 triệu đồng/1 lạng, bất chấp việc các nhà khoa học đã chứng minh sừng tê giác có giá trị y học không hề cao hơn… móng tay người.
Với việc tiêu thụ sừng tê giác, người Việt Nam đã lờ đi một thực tế nhức nhối: một loài sinh vật quý hiếm đã tồn tại trên trái đất 50 triệu năm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, do hầu hết sừng tê giác tại Việt Nam có nguồn gốc từ hoạt động săn trộm ở Nam Phi.
Theo các nhà bảo tồn, nhu cầu sừng tê giác từ Việt Nam là một nguyên nhân quan trọng đẩy tê giác châu Phi đến bờ vực tuyệt chủng – điều đã xảy ra trên thực tế với loài tê giác một sừng của Việt Nam.
Thông qua tác phẩm “Kill the myth”, tổ chức WAR muốn nhắn nhủ người Việt Nam rằng: Hãy từ bỏ quan niệm hoang đường về sức mạnh của sừng tê giác để cứu loài động vật quý hiếm này khỏi họa diệt chủng. (Theo Kienthuc.net.vn 2/4)đầu trang(
Lĩnh vực chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản luôn được đánh giá là một trong số ít ngành nghề có giá trị xuất khẩu cao, ổn định. Tuy nhiên, không ít người vẫn còn lo ngại về tính bền vững của hàng gỗ Việt do còn nhiều bị động ở khâu tìm thị trường đầu ra cũng như phụ thuộc nguyên liệu ngoại nhập. Trong khi đó, việc quy hoạch, quản lý, khai thác, rừng trong nước vẫn còn tồn tại nhiều bất cập.
Theo báo cáo của Bộ Công thương, năm 2012 xuất khẩu đồ gỗ, lâm sản Việt Nam đạt kim ngạch khoảng 4,67 tỷ USD, tăng 15,3% so với năm 2011, vượt gần 7% so với kế hoạch. Năm 2012, xuất khẩu gỗ và lâm sản là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ xuất siêu cao so với cả nước (khoảng 3 tỷ USD, tương đương 65%).
Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc…để tái xuất sang một nước thứ ba, đến nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng.
Năm 2012, sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với khoảng hơn 3.000 các cơ sở chế biến và hơn 300 doanh nghiệp trồng rừng trong cả nước đã tạo thêm được nhiều việc làm cho người dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng.
Tại Diễn đàn về chủ đề Doanh nghiệp trồng rừng, chế biến và xuất khẩu gỗ năm 2013, do Bộ NN và PTNT tổ chức ngày 29-3 tại TP.Hồ Chí Minh, ông Võ Đại Hải – Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng, xuất khẩu gỗ và lâm sản là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ xuất siêu cao với một số lĩnh vực khác (trên 3 tỷ USD, tương đương 65%).
Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 6 trên thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Giá trị xuất khẩu chiếm tỷ lệ lớn là nội thất trong nhà, ngoài trời, dăm mảnh nguyên liệu. Các địa phương chiếm tỷ trọng lớn là: TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương đạt trên 1 tỷ USD, tỉnh Bình Định trên 200 triệu USD.
Trong 2 tháng đầu năm 2013, ước kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đạt khoảng 831 triệu USD, tăng 36,2% so với cùng kỳ năm 2012.
Tuy nhiên, theo nhận định của Bộ NN và PTNT, hiện nay tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất trồng rừng giữa người dân sở tại và các Công ty Lâm nghiệp diễn ra rất phổ biến và phức tạp. Nguyên nhân của trình trạng này theo ông Võ Đại Hải một phần là do người dân thiếu đất canh tác, nhưng chủ yếu vẫn là tình trạng xâm lấn, gom đất để sang nhượng trái phép hoặc yêu sách đối với các công ty để được đền bù.
Hầu hết các địa phương không có quy hoạch, kế hoạch khai thác hàng năm cũng như dài hạn mà chủ yếu là do các chủ rừng khai thác tự phát theo nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy, ở địa phương, không định hướng được công tác chế biến, tiêu thụ gỗ rừng trồng một cách bài bản. Lợi nhuận thu được từ khai thác rừng còn thấp.
Các doanh nghiệp phản ánh, tuy mức đầu tư lớn nhưng lợi nhuận của ngành chế biến xuất khẩu gỗ lại khá thấp, nhất là các doanh nghiệp trong nước với sản xuất hàng nội thất, ngoài trời. Do đó, thực chất lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất hàng mộc xuất khẩu chỉ đạt 5% giá trị xuất khẩu.
Ông Nguyễn Tôn Quyền – Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp Hội gỗ và Lâm sản Việt Nam dự báo, trong những năm tới việc cung cấp gỗ trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, chất lượng gỗ vẫn chủ yếu là gỗ có đường kính nhỏ, phục vụ cho sản xuất giấy và ván nhân tạo, trong khi gỗ rừng có đường kính lớn để sản xuất đồ mộc xuất khẩu còn rất hạn chế.
Ông Quyền kiến nghị, cần phải có biện pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị lâm sản ở Việt Nam, chuỗi đó bao gồm: trồng rừng, khai thác, chế biến, thương mại. Cả 4 khâu đó cần phải được thực hiện các giải pháp đồng thời như: ứng dụng công nghệ, giải pháp thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp, liên kết doanh nghiệp với doanh nghiệp. (Đại Đoàn Kết 1/4)đầu trang(
Tối 31/3, anh Nguyễn Đắc Thành (trú xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, Nghệ An) cho biết anh đã chuộc được con rắn hổ chúa trọng lượng 3,2 kg, dài khoảng 2 m, bán sang Trung Quốc với giá 13 triệu đồng để mang về Việt Nam thả lại môi trường tự nhiên.
Trước đó, ngày 26/-3, một người dân bắt được con rắn hổ chúa trên ở xóm 8 (xã Nam Xuân) và bán được hơn 1,2 triệu đồng. Sau đó rắn được bán qua bốn thương lái và đã bị đưa sang Trung Quốc. Hay tin, anh Thành đã quyên góp tiền đi chuộc rắn về. (Pháp Luật TPHCM 1/4)đầu trang(
Ban quản lý dự án Bảo tồn Đồng cỏ bàng, Kiểm lâm địa bàn huyện Hòn Đất và Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me (Kiên Giang) vừa bàn giao 01 mẫu sếu đầu đỏ đặc biệt quý hiểm thuộc nhóm IB cho Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.
Theo các thông tin thu nhận được tại địa bàn, cá thể sếu đầu đỏ này do kiệt sức trong quá trình bay đã rơi xuống mặt đất thuộc địa bàn huyện Hòn Đất vào ngày 19 tháng 03 năm 2013. Các cán bộ và nhân viên thú y thuộc trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me đã cố gắng cứu chữa nhưng do vết thương ở chân quá nặng, cá thể sếu đầu đỏ đã chết. Mẫu sếu được bảo quản trong tủ đông tại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me. (Khoa Học&Đời Sống 2/4)đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2013, hiện nay các địa phương, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn huyện Qùy Hợp đã và đang tích cực chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết phục cho công tác trồng rừng năm 2013. Toàn huyện phấn đấu trồng 1.150ha rừng theo đúng kế hoạch và thời vụ.
Năm 2013 lâm trường Qùy Hợp được giao chỉ tiêu trồng 150ha; Đến thời điểm này lâm trường Qùy Hợp đã chủ động ươm 10 vạn cây giống các loại, liên hệ với các đơn vị cung ứng phân bón vay 50 tấn phân bón để phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2013.
Tính đến nay, huyện Qùy Hợp đã hoàn thành việc quy hoạch, trồng được gần 14.000 cây phân tán trong lễ trồng cây đầu xuân 2013. chuẩn bị đầy đủ cơ cấu cây giống, phân bón cho việc trồng rừng. (Báo Nghệ An 1/4)đầu trang(
Nhằm đẩy mạnh khai thác tiềm năng, lợi thế về lâm nghiệp, những năm qua tỉnh ta đã khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút doanh nghiệp tham gia trồng rừng. Tuy nhiên, do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, đến thời điểm này, kết quả doanh nghiệp trồng rừng chưa thực sự khả quan, đó là chưa kể đến không ít dự án trồng rừng còn nằm “trên giấy”...
Đó là thực trạng phát triển lâm nghiệp của tỉnh Điện Biên hiện nay. Dù được đánh giá là tỉnh có tiềm năng, lợi thế về phát triển lâm nghiệp với tổng diện tích đất lâm nghiệp chiếm gần 80% tổng diện tích tự nhiên. Như vậy, trên lý thuyết là việc phát triển rừng rất thuận lợi vì đâu cũng có đất rừng và cũng có thể trồng rừng. Song là tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nên vấn đề phát triển rừng sản xuất cũng vì thế mà hạn chế.
Xét trên điều kiện cụ thể đó, mời gọi doanh nghiệp đầu tư trồng rừng được xem là “cứu cánh”, là “đòn bẩy” để phát triển rừng sản xuất, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Nhưng đến thời điểm này, kết quả doanh nghiệp trồng rừng sản xuất chưa thực sự khả quan như kỳ vọng của chính quyền địa phương và người dân. Trong số 18 doanh nghiệp được UBND tỉnh cấp phép trồng rừng sản xuất với tổng vốn hàng nghìn tỷ đồng, nhưng đến nay, số doanh nghiệp thực sự đã trồng rừng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đó là chưa kể đến quy mô trồng rừng ra sao, chất lượng rừng trồng như thế nào?
Bà Đặng Thị Thu Hiền, Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Theo số liệu mà các doanh nghiệp cung cấp cho Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn, đến cuối năm 2012, toàn tỉnh mới có 8 doanh nghiệp trồng rừng với tổng diện tích 283,8ha. Trong số đó, đơn vị trồng được nhiều nhất là Công ty Cổ phần rừng Việt Tây Bắc 70ha; Doanh nghiệp Tư nhân Trung Kiên 50ha; Công ty Cổ phần Lâm Biên 43,8ha...
Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai trồng rừng của doanh nghiệp vẫn không đảm bảo kế hoạch mà các dự án đã xây dựng. Chưa xét đến diện tích rừng đã trồng có đúng như đơn vị báo cáo và đảm bảo tiêu chí theo quy định để được hỗ trợ theo Quyết định 147 của Chính phủ thì chưa có căn cứ, vì phải đợi kết quả nghiệm thu. Chính vì vậy, số tiền tỉnh được phân bổ gần 27 tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp trồng rừng sản xuất và vận chuyển chế biến lâm sản đến nay vẫn chưa thể giải ngân.
Còn lại 10 doanh nghiệp dù được cấp phép nhưng vẫn chưa thể trồng rừng ngoài những nguyên nhân do chưa thực hiện và hoàn thiện thủ tục xin thuê đất để trồng rừng, thì vấn đề thống nhất với người dân về cơ chế hưởng lợi chưa rõ ràng, khiến cho người dân chưa có niềm tin để góp đất cùng doanh nghiệp trồng rừng.
Không ít diện tích rừng trồng của Công ty Cổ phần Lâm Biên tại xã Si Pa Phìn và Phìn Hồ (huyện Mường Chà) đã bị cháy, bị phá nhổ những năm vừa qua phần lớn là do chưa tìm được sự đồng thuận giữa người dân với doanh nghiệp. Hay việc Công ty Cổ phần Dương Tri Tôn đã đào hố chuẩn bị trồng rừng nhưng vẫn bị người dân giữ đất cũng vì lý do này... Đó chính là thực trạng cho thấy sự liên kết thiếu bền vững, không hài hòa giữa doanh nghiệp trồng rừng và người dân có đất...
Là cơ quan được giao quản lý về lâm nghiệp trên địa bàn, nhưng bà Đặng Thị Thu Hiền, Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Theo giấy chứng nhận đầu tư được cấp, địa chỉ của nhiều doanh nghiệp ở tận đâu, nên chúng tôi thường xuyên không liên hệ được. Họ cũng chẳng chủ động báo cáo tình hình thực hiện trồng rừng ra sao. Khi cần nắm số liệu thì mình phải liên lạc thế nhưng có khi họ chuyển trụ sở lâu rồi mà chẳng báo nên việc liên hệ cũng khó khăn.
Cũng nói về việc này, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó phòng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn huyện Mường Chà chia sẻ: Doanh nghiệp trồng rừng trên địa bàn mình quản lý thực, nhưng bình thường chẳng khi nào thấy báo cáo tình hình. Chỉ khi xảy ra tranh chấp, vướng mắc với người dân thì mới gọi đến phòng xuống tháo gỡ. Doanh nghiệp trồng rừng chưa thực sự cần dân và cần chính quyền cơ sở. Đó là chưa xét đến năng lực tài chính ra sao, chuyên môn, nghiệp vụ như thế nào. Chu kỳ để rừng sản xuất cho khai thác từ 7 - 8 năm. Mà chỉ cần thiếu 1 trong 3 yếu tố (vốn, đất, nhân lực) thì khó để trồng rừng thành công. (Báo Điện Biên 1/4)đầu trang(
Cây dó bầu mà sản phẩm của nó là trầm hương, kỳ nam có lịch sử lâu đời ở vùng Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào… nhưng sản phẩm tự nhiên ngày càng cạn kiệt.
Vì vậy, theo Hội Trầm hương Việt Nam (VAWA), những nước như Ấn Độ, Trung Quốc (kể cả Đài Loan), Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Thái Lan, Hà Lan, Mỹ… nghiên cứu tạo trầm trên cây dó bầu từ thập niên 1930. Ở Việt Nam, từ năm 1987, giới khoa học trong nước nghiên cứu về tạo trầm, trong khi người trồng dó tự mày mò tạo trầm từ đầu những năm 1990.
Việc cấy hóa chất hoặc vật cứng vào cây dó bầu với những thành công bước đầu ở một số vườn dó bầu ở huyện Tiên Phước (Quảng Nam) dù chỉ thu được trầm loại 4, loại 5 (tốt nhất là kỳ nam, loại 1) làm một số người cho rằng đã thành công và thẩm định giá trị khai thác 1ha dó bầu ít nhất cũng vài ba tỷ đồng (ở mức tạo trầm thấp); nếu cây không tạo được trầm thì bán gỗ làm nhang vẫn có lãi cao hơn hẳn so với trồng quế hoặc cây nguyên liệu giấy.
Từ đó tạo ra làn sóng ngầm trồng dó bầu ở vườn nhà, không ít nơi thay thế dần các cây trồng khác bằng cách xen canh sau 2-3 năm phá bỏ vườn cũ. Đến nay, diện tích cây dó bầu được trồng gần 20.000ha với khoảng 15 - 20 triệu cây dó bầu (Aquilaria crassna), tập trung nhiều ở vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung. Địa phương lớn nhất là Hà Tĩnh, trồng khoảng 3.000ha.
Có nhiều phương cách tạo trầm, nhưng VAWA cho rằng, có thể khái quát tạo trầm trên cây dó bầu thành 2 phương pháp chính: Gây tổn thương (khoan, đục hoặc đóng kim loại vào thân cây) và gây tổn thương kết hợp với chế phẩm sinh học hoặc hóa chất (khoan lỗ trên thân cây hoặc lột vỏ, sau đó bơm chế phẩm sinh học hoặc hóa chất vào lỗ khoan hoặc vùng vỏ đã lột).
Quá trình hình thành trầm trong cây dó là do một loại khuẩn của cây sinh ra để ngăn chặn côn trùng ở những vị trí có vết thương trên cây. Khi vết thương được ngăn chặn sẽ hình thành một lớp mỏng màu nâu hoặc sậm, nằm giữa phần gỗ chết (khô) và phần gỗ sống (tươi). Nếu nạo lấy lớp mỏng này đưa vào lửa đốt sẽ tỏa mùi hương trầm, nhưng đây chưa phải là trầm. Tuy vậy đã có không ít người ngộ nhận là đã tạo được trầm.
Thật ra, việc tạo trầm thành công khi lớp mỏng màu nâu hoặc màu sậm trên tiếp tục lan rộng, dày thêm, tích tụ dầu nhiều hơn. Vì vậy, theo VAWA, việc tạo trầm trên cây dó bầu chưa cho kết quả như mong muốn, đôi khi còn gây ra tổn hại cho người trồng, ít ai giàu lên từ loại cây trồng này. Nếu có chỉ là những người buôn bán cây giống.
Tuy nhiên cho đến nay nhiều người vẫn hy vọng có thể làm giàu từ cây trồng này. Một điều chú ý, xu hướng sử dụng các sản phẩm từ trầm hiện nay là an toàn cho sức khỏe. Từ xưa đến nay con người quen dùng trầm tự nhiên (trầm sinh học) để làm dược liệu chữa bệnh, tinh dầu phục vụ công nghiệp mỹ phẩm nên theo xu hướng tạo trầm hương sinh học.
VAWA cho biết, mỗi phương pháp tạo trầm cho kết quả không giống nhau về số lượng, chất lượng, thời gian, phí tổn và kết quả. Có phương pháp tạo trầm thành công, nhưng có phương pháp không thành công, thậm chí còn làm chết cây.
Theo VAWA, nên lựa chọn phương pháp tạo trầm bằng gây tổn thương kết hợp với chế phẩm sinh học, loại trầm tạo ra (miếng hoặc mảnh) ít nhất phải đạt trong các thứ hạng của loại 5, với số lượng 1,5 - 2kg trên cây dó có độ tuổi từ 8 trở lên và thời hạn tạo khoảng 2 năm, mức chi phí từ 200.000 - 800.000 đồng/cây và người tạo trầm phải bảo chứng. Một điều cần hết sức chú ý, đó là mùi hương của trầm. Nếu kết quả tạo được trầm như nêu trên, một khi không chế biến thành trầm miếng hoặc mảnh, có thể sử dụng toàn bộ cây dó bầu đã tạo trầm để chế biến bằng cách chiết suất tinh dầu trầm.
Trước khi tạo trầm trên cây dó bầu, nhà vườn phải tìm hiểu như phương pháp nào, tạo được loại trầm gì, số lượng bao nhiêu cho mỗi cây theo độ tuổi hoặc độ lớn, thời hạn bao lâu, phí tổn ra sao… Khi chưa có câu trả lời thích hợp thì nên mạnh dạn từ chối, nếu không sẽ “tiền mất, tật mang”. (Sài Gòn Giải Phóng 1/4)đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ra Văn bản số 1545/UBND-LN chấp thuận đề xuất của Sở Tài chính về việc phê duyệt giá trị bồi thường thiệt hại tài nguyên rừng của 8 doanh nghiệp vi phạm lâm luật.
Theo đó, 8 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phải bồi thường giá trị tài nguyên rừng bị thiệt hại trên diện tích rừng mà các doanh nghiệp này được thuê gồm: Công ty TNHH Tâm Châu, Di Đức, Ngọc Mai Trang, Bảy Chín; Công ty cổ phần Toàn Hưng, Cao su Bảo Lâm, Đá quý, vàng Lâm Đồng và DNTN Sơn Điền.
Doanh nghiệp phải bồi thường cao nhất là Ngọc Mai Trang (trụ sở tại 17 Phạm Hồng Thái, TP Đà Lạt) với số tiền 12 tỷ 441 triệu đồng; tiếp đến là Công ty cổ phần Cao su Bảo Lâm gần 1,8 tỷ đồng; số doanh nghiệp còn lại phải bồi thường từ 20 triệu đến hơn 200 triệu đồng. Tổng số tiền 8 doanh nghiệp phải bồi thường do vi phạm lâm luật là gần 15 tỷ đồng, thời gian hoàn thành việc đóng tiền vào Kho bạc Nhà nước được UBND tỉnh Lâm Đồng ấn định là trước ngày 30/5/2013.
Ngoài việc bồi thường gây thiệt hại về tài nguyên rừng bằng tiền, các doanh nghiệp trên buộc phải khắc phục hậu quả bằng cách trồng mới, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng đã trồng trên diện tích rừng bị phá. Đây là một động thái mạnh tay đầu tiên được tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhằm chấn chỉnh lại tình trạng các doanh nghiệp thuê đất rừng nhưng để mất rừng tràn lan trong thời gian qua. (Công An Nhân Dân 1/4)đầu trang(
Ngày 1.4, ông Lê Hồng Nhân, Trưởng BQL rừng phòng hộ Nam Ban, cho biết đã đề nghị cơ quan chức năng điều tra làm rõ vụ kẻ xấu đe dọa nhà chị Trần Thị Hồng Hạnh (23 tuổi), Tiểu khu trưởng tiểu khu 265.
Trước đó, ngày 29.3 chị Hạnh phối hợp với chính quyền xã Đông Thanh, H.Lâm Hà (Lâm Đồng) thu giữ 2 bi gỗ dài 1,7 m, đường kính khoảng 40 cm được giấu tại bìa rừng. Đến tối cùng ngày, nhà chị Hạnh ở thị trấn Nam Ban (Lâm Hà) bị kẻ xấu rải thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ quanh vách nhà và tưới lên cả vách tường gỗ. Hiện chị Hạnh phải tạm trú nhà người thân để đề phòng bất trắc. (Thanh Niên 2/4; Nông Thôn Ngày Nay 2/4; Tuổi Trẻ 1/4; Người Lao Động 1/4)đầu trang(
VQG Cúc Phương, nơi có hệ sinh thái đa dạng với loài gỗ quý hiếm đang bị lâm tặc “làm thịt” một cách tàn bạo.
Sau một tuần xâm nhập vào rừng vùng đệm, vùng lõi rừng Cúc Phương, phóng viên Nông Nghiệp VN tận mắt chứng kiến những cây gỗ hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ, những thanh gỗ được xẻ tươi rói chờ vận chuyển ra khỏi rừng. (Nông Nghiệp VN 1/4)đầu trang(
1/4, ông Trương Hiếu Hoàng, Trưởng Ban quản lý rừng dặc dụng Krông Trai (huyện Sơn Hòa) thuộc Chi cục Kiểm lâm Phú Yên cho biết, đơn vị đang chờ kết quả điều tra của Công an huyện Sơn Hòa, về hành vi chống người thi hành công vụ của nhóm đối tượng vận chuyển gỗ lậu quá khích.
Trước đó, 28-3, tổ công tác của Ban quản lý rừng đặc dụng Krông Trai phát hiện 2 xe mô tô vận chuyển gỗ trên đường liên xã từ buôn xây dựng, xã Suối Trai qua đập Thủy điện sông Ba Hạ. Do trời tối nên tổ công tác phải dùng đèn pin làm tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên, các đối tượng không những không chấp hành mà còn tăng tốc bỏ chạy, lạng lách, đánh võng, chèn ép tổ công tác trên đường rượt đuổi theo hướng về đập Thủy điện sông Ba Hạ.
Đến đoạn đường đầu kênh dẫn dòng thủy điện, xuất hiện một đối tượng khác điều khiển xe mô tô 78H9-2214 “hỗ trợ” nhóm vận chuyển gỗ, tiếp tục lạng lách trên đường, khống chế tổ công tác làm nhiệm vụ, buộc kiểm lâm viên Nguyễn Văn Hiệp phải nổ một phát súng AK chỉ thiên để cảnh cáo.
Tuy nhiên, các đối tượng vẫn ngoan cố, quá khích, tiếp tục dùng xe mô tô chèn ép xe lực lượng kiểm lâm, làm kiểm lâm viên Trần Quốc Khánh ngã xuống đường, rồi chúng bỏ chạy. Tổ công tác tiếp tục truy đuổi quyết liệt cho đến bờ hồ Thủy điện sông Ba Hạ thì khống chế được đối tượng cùng xe mô tô 78H9-2214, còn 2 xe mô tô vận chuyển gỗ tiếp tục bỏ chạy về hướng huyện Sông Hinh.
Lúc này, đối tượng điều khiển xe 78H9-2214 bất ngờ dùng cây gỗ tấn công tổ công tác, làm anh Khánh bị thương phải cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Hòa. Do đối tượng quá hung hãn, kiểm lâm viên Lê Xuân Tuấn phải dùng súng đạn cao su R88 bắn 1 phát vào người đối tượng để tự vệ và khống chế, nhưng đối tượng này vẫn ngoan cố, tiếp tục dùng rựa tấn công tổ công tác. Và bọn chúng chỉ bỏ chạy khi có sự tiếp sức, hỗ trợ kịp thời của các lực lượng chức năng và chính quyền xã Suối Trai.
Theo ông Trương Hiếu Hoàng, qua điều tra ban đầu, người điều khiển xe mô tô 78H9- 2214 tên Tý Vũ, các đối tượng kéo theo xe rùa chở gỗ xẻ tên Tu, vận chuyển gỗ tròn tên Giống. Tất cả đều trú tại thôn Tịnh Sơn, TT Củng Sơn, huyện Sơn Hòa. (An Ninh Thủ Đô 2/4)đầu trang(
Một lãnh đạo Công an tỉnh Quảng Trị xác nhận đúng là lực lượng điều tra đã xác định được nhóm đối tượng thực hiện vụ bắt cóc giết người dã man.
Theo đó, hai đối tượng người Việt ở bản Tà Păng, xã Hướng Lập và một đối tượng người Lào ở tỉnh Savannakhet (Lào) là những người được xác định đã gây ra vụ án nói trên.
Tuy nhiên, danh tính 3 người này đến nay vẫn chưa được phía công an tiết lộ để đảm bảo việc điều tra.
Trước đó, hai người trong nhóm tìm trầm trốn thoát khỏi bọn bắt cóc là Đỗ Văn Hiền và Hoàng Văn Hà (cùng trú tại Quảng Trạch, Quảng Bình) đã được cơ quan điều tra đưa vào Quảng Trị nhận diện nhóm đối tượng tình nghi thực hiện việc bắt cóc.
Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ thì anh Hà và anh Hiền đã nhận diện được một trong số những đối tượng nói trên.
Chiều 2-4 ban chuyên án sẽ họp sau đó mới quyết định việc khởi tố và truy nã đối tượng. (Tuổi Trẻ 2/4; Sài Gòn Giải Phóng 2/4)đầu trang(
Buôn bán và tiêu thụ sừng tê giác đã bị cấm nhưng sức nóng và niềm tin vào loại "biệt dược" có thể chữa bách bệnh này càng trở nên nóng hơn bao giờ hết với những người lắm tiền nhiều của theo kiểu "phú quý sinh lễ nghĩa". Để phục vụ cho những người tin vào sự diệu kỳ của nó, một loại đĩa chuyên dụng để mài sừng tê giác được sản xuất rầm rộ và bày bán la liệt ở làng nghề gốm cổ truyền.
Tin vào sự kì diệu của sừng tê giác có thể chữa bách bệnh từ đau đầu đến bệnh gút, bệnh nan y và thậm chí cả ung thư, tăng cường sức mạnh đàn ông, nhiều đại gia, những người lắm tiền nhiều của không tiếc tay, vung cả trăm triệu đồng để sở hữu khoảng 100 gam sừng tê giác. Thực chất, công cụ chế biến loại "thần dược" này khá đơn giản, thông thường chỉ cần mài sừng tê giác thành dạng bột pha với nước để uống là có thể chữa bách bệnh.
Để mài được sừng tê giác chỉ cần một đĩa chuyên dụng, làm sao khi mài sừng không bị lẫn với các tạp chất khác. Vì thế mà một số làng gốm cổ truyền đã bắt tay vào sản xuất đĩa chuyên dụng để mài sừng tê giác phục vụ cho các bậc "đế vương" thời hiện đại. Những người thợ ở làng gốm, họ nắm bắt thị trường, nhu cầu của đại gia rất nhanh.
Nắm bắt được xu hướng đó cũng như nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều thợ gốm làng gốm Bát Tràng cổ truyền ở huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội đã bắt tay vào sản xuất đĩa mài sừng tê giác.
Tại chợ gốm ở Bát Tràng, chỉ nhìn qua các cửa hàng bày bán sản phẩm của họ là phát hiện ra, ki-ốt nào cũng có hàng bày bán sẵn. Dù không được bày bán ở những vị trí bắt mắt, nhưng là mặt hàng khá được "chuộng" trong thời gian gần đây nên chỉ cần hỏi mua là quý khách được đáp ứng nhu cầu ngay. Chúng được đặt ở vị trí sâu bên trong bởi những người biết và mua loại đĩa này phần lớn là đại gia, người thật sự giàu có hoặc những người bị bệnh thập tử nhất sinh, coi uống sừng tê giác là cơ hội cuối cùng để sống sót. Tuy nhiên, cũng có cửa hàng treo hẳn một biển nhỏ ghi rõ, có bán đĩa mài sừng tê giác.
Qua khảo sát của PV, những chiếc đĩa mài sừng tê giác được chia làm bốn cỡ, có đường kính khác nhau, loại 14cm, 16cm, 20cm và 22cm. Trong đó cỡ trung bình 20cm được nhiều người tìm mua nhất. Mặt trong của đĩa thô giáp, thành đĩa được tráng mem xanh hoặc trắng bóng láng có in hình một con tê giác với cái sừng dài hoặc chữ thọ, mặt dưới đĩa được in chữ "đĩa mài sừng" và hình con tê giác kèm theo địa chỉ nơi sản xuất "Bát Tràng - Việt Nam".
Quy luật có cầu ắt có cung, điều này cho thấy dù ít hay nhiều thì xu hướng ngày càng nhiều người tìm đến loại "thần dược" sừng tê giác ngày càng đáng báo động. Trong khi đó, hội nghị lớn nhất hành tinh vừa diễn ra tại Bangkok (Thái Lan) để thảo luận các biện pháp đối phó với nạn săn bắt trộm tê giác, Việt Nam bị liệt vào "tầm ngắm" và được coi là trung tâm tiêu thụ và sử dụng sừng tê giác của thế giới. (Người Đưa Tin 31/3)đầu trang(
Ông Trần Việt Hưng, phó giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết: Theo điều tra của ENV năm 2011 - 2012, nhiều người tin rằng, sừng tê giác có thể giúp giảm sốt, thải độc tố, tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Thậm chí một số người còn cho rằng, sừng tê giác chữa được cả bệnh ung thư.
Vào tháng 8/2012, ENV đã tổ chức bốn cuộc triển lãm về động vật hoang dã tại Hà Nội, Đà Nẵng, và TP. Hồ Chí Minh với chủ đề: "Bạn có tin vào lời đồn rằng, sừng tê giác có thể chữa được ung thư?". Có tổng số 214 người đã chia sẻ ý kiến về vấn đề này và kết quả cuối cùng được thể hiện: Có đến 160 người (chiếm 74,8%) không tin rằng sừng tê giác có thể chữa được bệnh ung thư; chỉ 33 người (chiếm 15,4%) nghĩ rằng sừng tê giác có tác dụng nào đó trong việc điều trị bệnh ung thư và 21 người (chiếm 9,8%) trả lời rằng họ không biết sừng tê giác có thể chữa được bệnh ung thư hay không.
Trên thực tế, việc sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam còn được xem như cách thể hiện đẳng cấp của một số người muốn phô trương sự giàu có và thành công của mình bằng việc tiêu thụ các sản phẩm quý hiếm, đắt tiền và khác người như sừng tê giác. Tuy nhiên, các phản ứng dị ứng và nhiễm độc do các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên như sừng tê giác, mật gấu, cao hổ... thường khá nặng và diễn biến dai dẳng, ít đáp ứng với điều trị.
Ông Hưng cũng cho hay: Sừng tê giác do chất kê-ra-tin (chất sừng) tạo ra, tương tự như thành phần cấu tạo của móng tay và sừng trâu. Hơn thế nữa, theo các bác sỹ đông y, hầu hết các sản phẩm được cho là sừng tê giác đang có mặt trên thị trường đều là hàng giả.
Tê giác và các sản phẩm từ tê giác đều được pháp luật bảo vệ. Quảng cáo, buôn bán sừng tê giác là vi phạm pháp luật Việt Nam. Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) nghiêm cấm vận chuyển sừng tê giác vào Việt Nam nếu không có giấy phép hợp lệ. Sừng tê giác hợp pháp chỉ được dùng cho trưng bày và không được phép buôn bán vì mục đích thương mại. (Người Đưa Tin 31/3)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Việc làm này cho thấy cách hành xử tùy tiện của những người được nhà nước giao quyền quản lý di sản
Mấy ngày vừa qua, dư luận cả nước lại rộ lên thông tin ông Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình mang 11 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đi cầm cố để nhờ một cá nhân xin vốn tài trợ của nước ngoài để bảo vệ rừng. Việc làm này cho thấy cách hành xử tùy tiện của những người được nhà nước giao quyền quản lý di sản, đồng thời gây nên sự hoài nghi có hay không hành vi trục lợi cá nhân núp bóng việc xin vốn bảo vệ rừng.
Theo phản ánh của dư luận, từ năm 2011, ông Lưu Minh Thành - Giám đốc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng - Di sản thiên nhiên thế giới ở Quảng Bình đã mang 11 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với gần 123 nghìn ha rừng của Vườn quốc gia giao cho một người phụ nữ ở thành phố Đồng Hới, mà ông tin là có mối quan hệ với nhiều cán bộ trung ương, nhiều tổ chức nước ngoài, có khả năng xin được nguồn vốn hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn tỉ đồng hỗ trợ không hoàn lại phục vụ cho việc bảo vệ và phát triển rừng.
Vì sao khi được giữ vị trí cao nhất của cơ quan quản lý khối tài sản đặc biệt của quốc gia, lại là một Di sản thiên nhiên thế giới, ông Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng lại không thông qua các cơ quan quản lý cấp trên để xin hỗ trợ vốn bảo vệ phát triển rừng, mà lại phải nhờ qua tay một người phụ nữ, để rồi khi sự việc vỡ lỡ ra, thì ông cũng không biết người phụ nữ ấy có phải là đại diện cho Công ty TNHH phát triển Lâm nghiệp Việt Nam, đơn vị làm dịch vụ môi giới hay không?
Có lẽ vì quá nóng lòng với nguồn vốn được vẽ ra mà ông Lưu Minh Thành đã bỏ qua những nguyên tắc cơ bản trong việc quản lý và sử dụng khối tài sản mà nhà nước đã giao cho mình quản lý. Nên việc giao nhận 11 sổ đỏ của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng chỉ được xác định bằng một tờ giấy biên nhận sơ sài, không ghi chức vụ ai và cũng không đóng dấu.
Kết quả là sau hơn 2 năm với bao lần hứa hẹn, đến giờ, vẫn chưa thấy đồng vốn hỗ trợ từ các tổ chức nước ngoài như người phụ nữ này đã hứa. Mà 11 sổ đỏ của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng chưa được trả lại như đã cam kết là trong vòng 6 tháng.
Nhớ lại cách đây không lâu, ông Trần Văn Thành, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng) và hiện đang là Giám đốc Vườn Quốc gia Yor Đôn (Đắc Lắc) cũng đã cầm sổ đỏ cả 2 Vườn quốc gia để xin nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ bảo vệ rừng thông qua Công ty Tư vấn- Dịch vụ- Đầu tư phát triển đất Lam Hồng Việt, trụ sở ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Hậu quả là vốn đâu chẳng thấy, cuối cùng đơn vị phải mất tiền tỉ cho tổ tư vấn lập hồ sơ dự án.
Đã là Vườn quốc gia, là Di sản thiên nhiên thế giới, tất nhiên là có qui chế nghiêm ngặt để quản lý, bảo vệ và khai thác phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nên dù những vụ việc “chạy dự án” có thất bại, chắc chắn cơ quan chức năng cũng không để cho tài sản của dân của nước thành của riêng ai. Tổng cục Lâm nghiệp, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo rà soát lại qui trình thủ tục, kiểm điểm việc làm này của những ông Giám đốc Vườn quốc gia.
Nhưng dư luận cũng đặt câu hỏi: Vì sao họ lại tùy tiện trong việc sử dụng giấy tờ có giá trị của cơ quan như vậy? Có hay không nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ cho việc bảo vệ và phát triển rừng ở các khu Vườn quốc gia mà cơ quan chức năng không biết? Và vì sao các đối tượng làm môi giới xin vốn hỗ trợ lại tập trung vào đối tượng là những Vườn quốc gia? Những câu hỏi này rất cần được cơ quan chức năng làm rõ. (VOV 2/4)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Nhà chức trách Thái Lan vừa phát giác vụ buôn lậu 54 con rùa lưỡi cày, một trong những loài rùa cạn hiếm nhất hành tinh, tại thành phố Bangkok.
Vụ bắt giữ người đàn ông buôn lậu rùa diễn ra tại một sân bay ở Bangkok vào ngày 30/3, Geek đưa tin. Khi lục soát chiếc túi mà người đàn ông mang theo, cảnh sát phát hiện 54 con rùa lưỡi cày còn nhỏ. Đây là một con số gây sốc với giới bảo tồn, bởi họ biết rằng số lượng rùa lưỡi cày, loài động vật đặc hữu của quốc đảo Madagascar, còn sống chỉ vào khoảng 400. Như vậy, số rùa lưỡi cày mà người đàn ông mang theo chiếm hơn 10% tổng số cá thể loài trên hành tinh.
Ngoài ra, chiếc túi còn chứa 21 con rùa Radiated. Đây cũng là một loài rùa cạn quý hiếm đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
Giới chức xác định một phụ nữ 25 tuổi đứng tên chiếc túi. Người phụ nữ này bay từ Madagascar tới Bangkok. Nhưng điều khiến cảnh sát ngạc nhiên là người đàn ông có thể lấy chiếc túi dù anh ta không phải là hành khách trong chuyến bay. Thực tế đó cho thấy hai khả năng: hoạt động kiểm tra an ninh ở sân bay lỏng lẻo hoặc ai đó đã giúp kẻ buôn lậu lấy chiếc túi.
Mạng lưới TRAFFIC cho rằng phần lớn người dân mua rùa lưỡi cày để nuôi. Đây là điểm sáng duy nhất trong tương lai u ám của chúng, bởi nếu là động vật cảnh, chúng sẽ không thể chết nhanh và dễ dàng như những con vật bị bán cho các nhà hàng hay hiệu thuốc cổ truyền. Chỉ trong vòng ba năm qua, giới chức Thái Lan đã phát hiện hơn 4.300 con rùa nước và rùa cạn khi những kẻ buôn lậu vận chuyển chúng qua các sân bay. (Hà Nội Mới 2/4)đầu trang(
Các nhà khoa học Đức đã điên đầu khi cùng một lúc họ phát hiện tới 101 loài bọ cánh cứng ở Papua New Guinea và không biết làm sao để đặt tên chúng.
Vừa qua, các nhà sinh vật Đức đã phát hiện một loạt loài mới tại Papua New Guinea (châu Úc). Đây là tin vui lớn, nhưng đồng thời nó cũng khiến họ phải đau đầu trong việc đặt tên cho những chú bọ cánh cứng này.
Cực chẳng đã, các nhà khoa học Đức đã nghĩ ra một phương pháp đặc biệt. Đó là… tra danh bạ điện thoại năm 2010 của Papua New Guinea để đặt tên cho các loài họ mới phát hiện. Có đến 10 cái họ được chọn ra theo cách này đồng nghĩa với việc hàng loạt gia đình bỗng dưng được “lưu danh sử sách” một cách bất ngờ.
Cụ thể, các nhà khoa học đã giở trang 236 của cuốn danh bạ này và chọn họ Kanawi để đặt tên cho một chú bọ cánh cứng nhỏ là một con bọ màu đen là Trigonopterus kanawiorum. Tương tự, những người có họ là Morea thuộc trang 275 cũng được chọn để đặt tên cho một con bọ cánh cứng nhỏ màu đen khác là Trigonopterus moreaorum.
Giáo sư Alexander Riedel thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Karlsruhe (Đức) lý giải quyết định lạ lùng đặt tên lạ lùng này: “Chúng tôi không có thời gian để nghĩ tên cho chúng. Có hơn 100 loài được phát hiện và thu hút sự chú ý cực lớn của công chúng. Cách đặt tên kiểu mới đó nhanh gấp 5 lần so với cách đặt tên thông thường”.
Theo ông Riedel, cách đặt tên truyền thống dựa trên đặc điểm cấu trúc của loài. Như thế các nhà khoa học sẽ mất rất nhiều thời gian để đặt được cái tên thích hợp cho chúng nếu sử dụng phương pháp cổ điển này. (Nông Thôn Ngày Nay 2/4)đầu trang(
Voi rừng châu Phi đang bị săn bắn trái phép ngay tại khu vực sinh sống của chúng.
Một nghiên cứu chỉ ra điều gây sửng sốt là 62% tổng số voi rừng châu Phi bị giết ngay tại khu vực sinh sống của chúng ở Trung Phi để lấy ngà trong thập niên trước. Sự giảm sút số lượng một cách nhanh chóng đang khiến các nhà nghiên cứu lo ngại về nguy cơ tuyệt chủng của loài này.
Tiến sĩ Fiona Maisels và Samantha Strindberg thuộc hội bảo tồn động vật hoang dã cho biết, để bảo tồn loài động vật này cần phải có nỗ lực hợp tác ở mức độ quốc tế, tất cả các tuyến buôn lậu ngày cuối cùng đều tập kết ở khu vực Viễn Đông.
Đây là nghiên cứu lớn nhất từ trước tới nay được thực hiện đối với loài voi rừng châu Phi, được tiến hành với sự tham gia của hơn 60 nhà khoa học từ năm 2002 đến năm 2011, cùng với sự nỗ lực rất lớn của các nhân viên bảo tồn đến từ 5 quốc gia: Cameroon, Trung Phi, Cộng hòa dân chủ Congo, Gabon và Cộng hòa Congo.
Báo cáo chỉ ra rằng, hầu hết một phần ba diện tích đất nơi voi rừng châu Phi có thể sinh sống trong 10 năm qua đã trở nên quá nguy hiểm cho chúng. Do mật độ dân số cao, các công trình giao thông dày đặc, nạn săn bắn diễn ra với mức độ cao, sự yếu kém của chính quyền như nạn tham nhũng và thiếu chế tài đủ mạnh.
Voi rừng châu phi khác với voi đồng cỏ, voi rừng châu Phi nhỏ hơn voi đồng một chút và chúng là 2 loài riêng lẻ.
Nghiên cứu được tiến hành bởi chương trình CITES-MIKE cũng chỉ ra rằng, nạn săn bắt trộm gia tăng trên khắp châu Phi từ năm 2006 có liên hệ mật thiết với nhu cầu tăng mạnh ở khu vực Viễn Đông. (Theo Agroviet 1/4)đầu trang(
Khu vực miền tây Ấn Độ hoàn toàn không có các vùng hoang sơ và với mật độ dân số con người cao đang thu hút các lòai động vật hoang dã như báo gấm.
Một nghiên cứu do Vidya Athreaya của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) đứng đầu đã tìm thấy 5 loài động vật ăn thịt to lớn đã trưởng thành, bao gồm báo gấm và linh cẩu sọc vằn, trên diện tích 38 dặm vuông, một mật độ chưa từng được báo cáo trong quá khứ ở một nơi cảnh quan có con người sinh sống.
Theo nguồn tin từ trụ sở WCS tại New York, bằng chứng từ các bẫy camera cho thấy báo gấm đến gần sát các ngôi nhà vào ban đêm mà phần lớn không bị phát giác bởi người dân, và mặc dù khoảng cách rất gần giữa báo gấm và con người, chỉ có vài báo cáo về việc tấn công trong khu vực.
Nghiên cứu được thực hiện ở bang miền tây Ấn Độ Maharashtra.
Ullas Karanth, chuyên gia nghiên cứu loài mèo lớn của WCS cho biết: “Con người bị báo gấm tấn công hiếm khi xảy ra mặc dù tình trạng bất ổn luôn tiềm tàng bởi báo gấm đã từng liên quan đến cuộc xung đột nghiêm trọng, dẫn đến cái chết của con người ở các khu vực lân cận.”
Các nhà nghiên cứu cho biết, các bẫy camera cũng ghi lại hình ảnh mèo đốm, cầy hương Ấn Độ nhỏ, cáo Ấn Độ, mèo rừng, chó rừng và cầy mangut.
“Kết quả của nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về khả năng thích nghi của cả con người và động vật hoang dã đối với sự hiện diện của nhau trên cùng lãnh thổ.” (Theo Agroviet 1/4)đầu trang(
Theo một cuộc điều tra về các loài chim, số lượng các loài chim cực kỳ quý hiếm và đang bị đe dọa tuyệt chủng vào loại bậc nhất đang tiếp tục suy giảm sau nhiều năm ở mức báo động.
Chim sáo đá, một loài trong danh sách đỏ của Anh – có nghĩa là đang được quan tâm bảo tồn ở mức độ cao nhất – chạm mức thấp lịch sử về số lượng trong cuộc điều tra Big Garden Birdwatch của RSPB vào năm ngoái và số lượng của loài chim này đã giảm 16% trong năm nay.
Số lượng chim sẻ, cũng nằm trong danh sách đỏ, đã giảm 17% trong các khu vườn so với năm 2012, trong khi loài chim sẻ ức đỏ và chim chích bờ giậu, cả hai nằm trong danh sách hổ phách, giảm lần lượt 20% và 13%.
Mặc dù một số loài chim tiếp tục suy giảm về số lượng, các loài khác cho thấy sự cải thiện như chim sẻ vàng, chim hét đầu xám và chim giẻ cùi, với tỉ lệ lên tới 85%. (Theo Agroviet 1/4)đầu trang(
Trong vài thập kỷ tới, các vùng đất bao quanh Bắc Cực có thể sẽ bùng nổ cây xanh phát triển do hiện tượng ấm lên toàn cầu.
Đây là kết quả nghiên cứu từ mô hình máy tính của các nhà khoa học, được đăng tải trên Tạp chí Biến đổi khí hậu Tự nhiên, số ra ngày 31/3.
Nghiên cứu cho biết khi nền nhiệt độ ấm lên, các loài cỏ, cây bụi và các loài cây khác tại Bắc Cực sẽ phát triển, xuyên thủng các lớp băng bao gồm cả những lớp băng vĩnh cửu.
Đến năm 2050, diện tích các thảm thực vật ở Bắc Cực có thể sẽ tăng thêm 52% khi cây trưởng thành, và trải rộng ra hàng trăm cây số.
Chuyên gia Richard Pearson từ Trung tâm Bảo tồn và Đa dạng Sinh học thuộc Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ cho biết việc tái phân bổ trên diện rộng của thảm thực vật Bắc Cực sẽ gây ra những tác động nhất định tới hệ sinh thái toàn cầu. (VietnamPlus.vn 2/4)đầu trang(
Các nhà nghiên cứu sáng mới đây đã tạo ra một phần mềm phân tích mạng nhện để xác định ra danh tính của loại nhện đó.
Phần mềm được nghiên cứu và phát triển nhằm giúp các nhà khoa học nhanh chóng xác định sự phổ biến của một số loài nhện cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học. Với cơ sở dữ liệu lên tới 150 hình ảnh chi tiết về mạng nhện của loài được tổng hợp một cách chi tiết. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là chọn lọc, lấy những hình ảnh tối ưu nhất và loại bỏ các phần thông tin thừa.
Phần giữa của mạng nhện là nơi chứa nhiều thông tin nhất giúp xác định chủng loài nhện chính xác tới 99,96%. Nhóm nghiên cứu tại Đại học Las Palmas ở Tây Ban Nha mới chỉ sử dụng 4 loài nhện để nghiên cứu nhưng đã đem tới độ chính xác gần như tuyệt đối. Từ các nguyên tắc này, phần mềm sẽ được mở rộng để nhận diện tất cả các loài nhện trong tương lai. (Hà Nội Mới 2/4) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa