Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 31 tháng 01 năm 2013
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
NHÂN SỰ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
KINH TẾ
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

THỜI SỰ
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư đứng đầu sẽ sớm ra mắt.
Hôm nay 31-1, Ban Nội chính Trung ương sẽ tiếp nhận con người, cơ sở vật chất từ Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN). Với hơn 80 nhân sự ban đầu, Ban Nội chính sẽ chính thức hoạt động, đầu tiên là với chức năng cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, kể từ ngày Luật PCTN sửa đổi có hiệu lực 1-2. Việc tiếp nhận tổ chức, bộ máy, nhân sự từ Vụ Pháp luật và Vụ Nội chính - thuộc Văn phòng Trung ương - như quyết định của Bộ Chính trị đã đề ra, sẽ được triển khai sau đó.
Cùng thời gian này, ngày 1-2, Ban Kinh tế Trung ương sẽ nhận chuyển giao tổ chức, bộ máy, con người từ Vụ Kinh tế và Vụ Xã hội - thuộc Văn phòng Trung ương Đảng, tổng cộng hơn 30 người, để bắt đầu thực hiện chức năng là cơ quan tham mưu của Ban chấp hành (BCH) Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, các chính sách lớn thuộc lĩnh vực kinh tế-xã hội.
Trước đó, để có xúc tiến các công việc, thủ tục hành chính chuẩn bị bước đầu về nhân sự, bộ máy cho hai ban này, trong lúc hai tân trưởng ban đều đang kiêm nhiệm chức vụ khác (Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh đang giữ chức Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng; Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ đang kiêm chức Bộ trưởng Tài chính), Ban Bí thư đã bổ nhiệm hai phó ban.
Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương Phạm Anh Tuấn (TS luật) là khuôn mặt khá quen thuộc. Ông Tuấn nguyên là trưởng Ban Xây dựng pháp luật Văn phòng Chính phủ, tháng 12-2008 sang làm phó chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN.
Còn Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương Bùi Văn Thạch (TS kinh tế) là gương mặt khá mới. Ông Thạch từng qua chức vụ trưởng Vụ Thư ký, vụ trưởng Vụ Tổng hợp - Văn phòng Trung ương Đảng. Tháng 10-2008, ông được luân chuyển về làm phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, cho đến cuối tháng 4-2012 thì trở về làm phó chánh Văn phòng Trung ương.
Ông Tuấn và ông Thạch cho biết các công việc chuẩn bị ban đầu để đưa hai ban vào hoạt động như khắc con dấu, mở tài khoản… đã cơ bản hoàn tất. Về cơ sở vật chất, trước mắt Ban Nội chính Trung ương sẽ sử dụng nơi làm việc của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN. Còn Ban Kinh tế Trung ương thì tiếp tục sử dụng trụ sở làm việc của hai vụ Kinh tế, Xã hội.
Chỉ đạo trực tiếp các công việc này, những ngày qua, Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh và Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ đã có những buổi làm việc với các cơ quan, bộ phận có liên quan để chuẩn bị tiếp nhận bộ máy, con người…
Theo các quyết định của Bộ Chính trị, lẽ ra các đề án về chuyển giao tổ chức, bộ máy, nhân sự phải hoàn thành trước. Nhưng do Ban Tổ chức Trung ương chưa xây dựng xong nên trước mắt cứ tiến hành chuyển giao cơ học. Sau đó, hai ban mới sẽ cùng Ban Tổ chức Trung ương rà soát lại nhân sự, ban hành các quy chế làm việc nội bộ, đưa hai cơ quan mới này vào hoạt động quy củ.
Liên quan đến công tác tổ chức này, được biết Bộ Chính trị sẽ sớm ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN theo mô hình mới, do Tổng Bí thư làm trưởng ban, kịp lúc Luật PCTN sửa đổi có hiệu lực. Dự kiến ngày 4-2, Ban Chỉ đạo mới sẽ ra mắt, họp phiên đầu tiên, thể hiện sự nối tiếp, liên tục trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về PCTN. (Pháp luật TP.HCM 31/1) đầu trang(
Tiếp tục chương trình phiên họp thường kỳ tháng 1/2013, sáng 30/1, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ đã thảo luận, đóng góp ý kiến về 7 dự án Luật, Pháp lệnh.
Cụ thể, 7 dự án Luật, Pháp lệnh là: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và Chữa cháy; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Tiếp công dân; Pháp lệnh công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng (sửa đổi 48/103 điều, từ Chương I đến Chương IV) tập trung sửa đổi, bổ sung về hệ thống tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Ngoài ra, có sự sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan tới nguyên tắc khen thưởng, thẩm quyền ban hành hình thức thi đua, khen thưởng và thủ tục hồ sơ xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng.
Dự án luật này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng hiện nay.
Các thành viên Chính phủ đã tập trung đóng góp ý kiến về tiêu chuẩn danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng; việc bổ sung thẩm quyền của cấp tổng cục, quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng… được ban hành cờ thi đua và bằng khen; việc bổ sung hình thức khen thưởng cấp Nhà nước là “Huy chương Thanh niên xung phong kháng chiến” để tặng cho đối tượng là Thanh niên xung phong có quá trình cống hiến trong 2 cuộc kháng chiến;…
Nội dung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và Chữa cháy (có 12 điểm trong số 65 điều của Luật Phòng cháy và Chữa cháy được sửa đổi, bổ sung) tập trung vào các vấn đề lớn như đề cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác phòng cháy chữa cháy; bổ sung một số loại hình công trình mới xuất hiện ở Việt Nam có nguy cơ cháy, nổ cao; luật hóa một số quy định về nhiệm vụ cụ thể của lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy; quy định về kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy cơ sở và bổ sung chế độ hỗ trợ cho lực lượng dân phòng.
Dự án Luật này đã được Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Công an lựa chọn và trình Thủ tướng Chính phủ cho phép gửi Phiếu xin ý kiến của các thành viên Chính phủ về 3 vấn đề quan trọng thuộc nội dung của dự án Luật còn có ý kiến khác nhau là: bổ sung quy định thu phí kinh doanh các mặt hàng có nguy cơ cháy nổ cao; kinh phí cho công tác phòng cháy, chữa cháy ở cơ sở; chế độ hỗ trợ thường xuyên cho đội ngũ đội viên dân phòng ở cơ sở. Tính đến hết ngày 29/1, Văn phòng Chính phủ đã nhận được ý kiến của 22/27 thành viên Chính phủ.
Liên quan đến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, các thành viên Chính phủ cho rằng, dự án Luật đã tập trung vào giải quyết những vướng mắc, bất hợp lý của luật hiện hành; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, không có những sửa đổi làm tăng thêm gánh nặng thuế hay tăng các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp; giữ vững các nguyên tắc cũng như mục tiêu dài hạn của luật. Đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa thu ngân sách với khuyến khích đầu tư phát triển, có chú ý đến khía cạnh giảm số thu ngân sách, bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước trong những năm tới.
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đây là Luật có tác động rất lớn đến xã hội và đối với hoạt động thu hút và thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước. Dự án Luật phải đưa ra những ưu đãi để thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn nữa nhất là thu hút đầu tư vào những lĩnh vực mong muốn, phục vụ cho tái cơ cấu nền kinh tế,…
Mức thuế suất phổ thông; quy định khống chế lãi tiền vay không được trừ vào chi phí đối với khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu; ưu đãi thuế suất đối với đầu tư mở rộng; ưu đãi đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn… là những vấn đề lớn được các thành viên Chính phủ tập trung tiếp tục thảo luận, đóng góp ý kiến đối với dự án Luật này.
Dự Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã làm rõ hơn một số quy định của Luật hiện hành hoặc bổ sung những vấn đề mới phát sinh, bảo đảm việc tính thuế, nộp thuế phù hợp với thực tiễn; giảm thủ tục cho doanh nghiệp, giảm chi phí quản lý thuế; đồng thời bảo đảm sự đồng bộ với các luật, pháp lệnh được ban hành trong những năm gần đây.
Thảo luận về dự thảo Luật này, các thành viên Chính phủ đã tập trung vào 2 vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau là: đối tượng không chịu thuế (khoản 1 Điều 1 dự thảo Luật) và việc nâng mức thuế tối thiểu được hoàn đối với đầu tư và xuất khẩu (khoản 7 Điều 1 dự thảo Luật).
Về đối tượng không chịu thuế (khoản 1 Điều 1 dự thảo Luật), nhiều ý kiến đồng ý với quy định của dự thảo Luật là chuyển dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư từ đối tượng không chịu thuế sang đối tượng chịu thuế và áp dụng thuế suất 10%; cho rằng quy định như vậy sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp, đơn vị cung cấp các dịch vụ phục vụ cộng đồng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư hạch toán đầy đủ chi phí. Tuy nhiên, ý kiến của một số thành viên Chính phủ đề xuất cần cân nhắc áp dụng thuế suất 10% hay 5%.
Việc nâng mức thuế tối thiểu được hoàn đối với đầu tư và xuất khẩu, đa số ý kiến của các thành viên Chính phủ đồng ý với dự thảo Luật là nâng mức tiền thuế đầu vào tối thiểu để được hoàn thuế từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng trong trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư kéo dài trên 1 năm, vì quy định này phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội hiện nay, do mức tiền thuế đầu vào tối thiểu 200 triệu đồng được quy định từ năm 2000, đến nay đã qua 12 năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng khá cao…
Ngoài ra, các thành viên Chính phủ cũng đóng góp các ý kiến liên quan đến việc nâng thời hạn kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào; ngưỡng đăng ký thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ…
Với 10 chương, 73 điều, dự án Luật Tiếp công dân đã cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện tiếp công dân. Dự án Luật cũng đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động tiếp công dân và trách nhiệm tiếp công dân của các cơ quan của Đảng, cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp,… nhằm đảm bảo sự thống nhất, toàn diện về hoạt động tiếp công dân.
Đề cập đến các nội dung còn có ý kiến khác nhau về tư cách pháp lý của Ban tiếp công dân, có ý kiến cho rằng việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân cần bố trí các điều kiện đảm bảo về bộ máy, biên chế để giúp thủ trưởng tổ chức thực hiện việc tiếp công dân hiệu quả, tránh hình thức là cần thiết. Tuy nhiên, dự thảo Luật không nên quy định cụ thể về thành lập tổ chức, tên gọi và mô hình tổ chức, cơ cấu tổ chức của bộ phận thực hiện tiếp công dân, bởi nếu quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của Ban tiếp công dân như vậy là đã chuyển giao trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cho các Ban này.
Bên cạnh đó, các thành viên Chính phủ cũng đóng góp các ý kiến liên quan đến phạm vi điều chỉnh của dự án Luật; việc tiếp nhận, xử lý trường hợp nhiều người kiến nghị, phản ánh cùng một nội dung.
Với kết cấu 5 Chương, 30 Điều, nội dung dự án Pháp lệnh công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương đã quán triệt và thể chế hóa các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác quốc phòng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với quy định của các luật, pháp lệnh hiện hành về lĩnh vực quốc phòng.
Dự án Pháp lệnh đã được Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Quốc phòng chọn ra 2 vấn đề còn có ý kiến khác nhau (về tên của Pháp lệnh và thầm quyền của Bộ Tư lệnh Quân khu với UBND cấp tỉnh), đã trình và được Thủ tướng cho phép gửi phiếu xin ý kiến của các thành viên Chính phủ; tới nay Văn phòng Chính phủ đã nhận được ý kiến của 23/27 thành viên Chính phủ về các nội dung xin ý kiến nêu trên.
Dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ có 2 điều, gồm điều 1 là các nội dung sửa đổi Pháp lệnh hiện hành liên quan đến tổ chức sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp,… và điều 2 là hiệu lực thi hành.
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ, sớm hoàn thiện các dự án Luật để trình Quốc hội. (Chính phủ 30/1) đầu trang(

CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo kết quả một năm thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg ngày 7/11/2011 về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Theo yêu cầu của Thủ tướng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo cần đánh giá sự chuyển biến trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; trách nhiệm gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu cơ quan, địa phương thông qua việc triển khai học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; việc công bố và tổ chức thực hiện các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp; công tác phối hợp với các tổ chức đảng, tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế, xã hội ở các đơn vị trực thuộc bộ, ngành, địa phương trong việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Công tác chỉ đạo và triển khai kế hoạch giáo dục chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề thuộc các bộ, ngành, địa phương quản lý; công tác biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để đưa vào giảng dạy ở các cấp học, bậc học ở địa phương.
Thủ tướng cũng yêu cầu báo cáo công tác thông tin tuyên truyền về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về các điển hình tiên tiến, tấm gương người tốt, việc tốt ở các cơ quan, địa phương.
Trong mỗi nội dung nêu trên cần nêu rõ những thành công, hạn chế và bài học kinh nghiệm của cơ quan, địa phương. Các Bộ, ngành, địa phương nộp báo cáo trước ngày 15/3/2013.
Thủ tướng giao Bộ Nội vụ làm đầu mối tiếp nhận các Báo cáo và chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Thông tin và Truyền thông tổng hợp tình hình thực hiện Chỉ thị 1973 theo những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ, báo cáo Thủ tướng trước 31/3/2013 về kết quả một năm thực hiện Chỉ thị 1973 trong cả nước.
Bộ Nội vụ chủ động phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương trong công tác kiểm tra, đánh giá việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các Bộ, ngành, địa phương. (Chính phủ 30/1) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh vừa ký Quyết định về việc giải quyết chế độ, chính sách đối với Chủ nhiệm hợp tác xã có quy mô toàn xã trong thời kỳ bao cấp chưa được hưởng chế độ của Nhà nước.
Đối tượng áp dụng là những người có thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có quy mô toàn xã từ ngày 1/7/1997 trở về trước đã từ trần trong thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã hoặc sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã chưa được giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đối với thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã, trực tiếp làm ít nhất một trong các công việc: Giữ chức vụ, chức danh ở xã, phường, thị trấn theo quy định; thuộc biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc làm các công việc thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Quyết định nêu rõ chế độ, chính sách đối với từng trường hợp. Cụ thể, những người từ trần trong thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã hoặc từ trần sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã đến trước ngày Quyết định này có hiệu lực thì thân nhân của người từ trần được hưởng trợ cấp bằng mức trợ cấp mai táng theo quy định là 10 tháng lương tối thiểu chung hiện hành; trường hợp người từ trần không còn thân nhân thì người cúng giỗ được hưởng khoản trợ cấp này.
Về nguồn kinh phí bảo đảm chế độ này, trường hợp từ trần trong thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã hoặc từ trần sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã nhưng không có thời gian làm ít nhất một trong các công việc theo quy định thì do ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm.
Trường hợp từ trần sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã nhưng có thời gian làm ít nhất một trong các công việc theo quy định  (nếu chưa đóng bảo hiểm xã hội theo quy định thì không phải truy nộp) thì do quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm.
Trường hợp những người sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã mà không có thời gian làm ít nhất một trong các công việc quy định nêu trên thì thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã được hưởng trợ cấp một lần do ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm.
Mức trợ cấp một lần được xác định như sau: cứ mỗi năm làm Chủ nhiệm hợp tác xã được trợ cấp bằng 1 tháng lương tối thiểu chung hiện hành. Mức trợ cấp thấp nhất bằng 3 tháng lương tối thiểu chung hiện hành.
Thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã, nếu có số tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ 3 tháng đến 6 tháng tính nửa năm; trên 6 tháng tính một năm. Những người có thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã bị gián đoạn từ 12 tháng trở lên thì thời gian trước gián đoạn không được tính để hưởng chế độ, chính sách quy định tại Quyết định này.
Đối với những người sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã mà trực tiếp làm ít nhất một trong các công việc quy định nêu trên (nếu có thời gian không liên tục thì được cộng dồn và nếu chưa đóng bảo hiểm xã hội theo quy định trong thời gian sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã thì phải truy nộp) thì thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã được tính cộng nối với thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành của pháp luật.
Trường hợp không truy nộp bảo hiểm xã hội theo quy định thì thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã được hưởng trợ cấp một lần do ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm. Mức trợ cấp một lần thực hiện theo cách tính như đối với những người sau khi thôi làm Chủ nhiệm hợp tác xã mà không có thời gian làm ít nhất một trong các công việc quy định nêu trên. (Chính phủ 30/1) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp 2013.
Theo đó, phó thủ tướng yêu cầu chủ tịch UBND cấp tỉnh phải bố trí đúng, đủ cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã để thực hiện nhiệm vụ được giao, chấm dứt việc cán bộ tư pháp - hộ tịch kiêm nhiệm công tác khác.
Phó thủ tướng yêu cầu ngành tư pháp đẩy mạnh kiểm tra việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại một số bộ ngành địa phương, kiên quyết xử lý hoặc kiến nghị xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật, chú trọng những lĩnh vực kinh tế-xã hội có nhiều bức xúc. Phó thủ tướng nhấn mạnh ngành tư pháp phải gương mẫu, thực hiện nghiêm việc không uống rượu bia trong giờ hành chính, các sở Tư pháp báo cáo UBND các tỉnh phát động phong trào này tại địa phương mình. (Pháp luật TP.HCM 31/1) đầu trang(
Tăng tuổi nghỉ hưu của cả nam, nữ và tăng tuổi nghỉ hưu của nữ là 2 phương án được Bộ LĐ-TB-XH đề xuất tại hội thảo lấy ý kiến nội dung hướng dẫn điều 187 - bộ luật Lao động về tuổi nghỉ hưu, được tổ chức ngày 30.1.
Theo Tổng cục Dân số, tuổi thọ trung bình và kỳ vọng sống của người Việt Nam đang tăng. Những nguyên nhân này đã tạo nên áp lực về mất cân đối quỹ hưu trí và tử tuất trong tương lai gần, đòi hỏi phải có những thay đổi về tuổi nghỉ hưu.
Để giải quyết nguy cơ “vỡ quỹ”, Vụ Bảo hiểm xã hội (Bộ LĐ-TB-XH) đã đề xuất 2 phương án tăng tuổi hưu. Cùng với đó là 2 phương án về lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu: tăng ngay thêm 5 năm làm việc; thực hiện tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình. Thời điểm áp dụng tăng tuổi hưu bắt đầu từ 1.1.2014. (Thanh Niên 31/1) đầu trang(

NHÂN SỰ
Thủ tướng vừa phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm thành viên UBND thành phố Hà Nội,  tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Long.
Tại Quyết định 248/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc bầu chức danh Ủy viên UBND thành phố Hà Nội, nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Nguyễn Đức Chung, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội.
Tại Quyết định 247/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc miễn nhiệm chức danh Ủy viên UBND thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Nguyễn Đức Nhanh, nguyên Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, để nghỉ hưu theo chế độ.
Tại Quyết định 244/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc bầu chức danh Ủy viên UBND tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với bà Phạm Thị Hường, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ.
Tại Quyết định 246/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc bầu chức danh Ủy viên UBND tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Nguyễn Hiếu Nghĩa, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Long.
Tại Quyết định 245/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc miễn nhiệm chức danh Ủy viên UBND tỉnh Vĩnh Long nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Lê Phúc Lợi, nguyên Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Long. (Chính phủ 30/1) đầu trang(
Một số sở, ban ngành và cơ quan cấp huyện ở Nghệ An đang có hiện tượng lãnh đạo từ trưởng, phó phòng nhiều hơn nhân viên.
Theo kết quả kiểm tra của Sở Nội vụ Nghệ An, tại Phòng Tài chính kế toán của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 15 người, trong đó có 1 trưởng phòng và 6 phó phòng. Sở này ngoài giám đốc còn có đến 7 phó giám đốc phụ trách các lĩnh vực, như: lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, nông nghiệp, thú y, kiểm lâm...
Sở Nội vụ hiện có 31 biên chế nhưng có tới 19 lãnh đạo gồm: 1 giám đốc, 4 phó giám đốc và các trưởng, phó phòng. Phòng Công chức viên chức của Sở hiện có 4 nhân viên thì có 3 lãnh đạo gồm 1 trưởng phòng, 2 phó phòng.
Sáng 30/1, bà Cao Thị Hiền, Giám đốc Sở Nội vụ cho biết, Sở có 7 phòng, mỗi phòng đều có trưởng phòng và 1-2 phó phòng theo quy định. Mấy năm vừa qua, Sở có nhiều người nghỉ hưu nên đang làm quy trình để tuyển biên chế cho đủ người làm việc theo quy định.
Tại Phòng Tài chính kế toán của UBND huyện Anh Sơn có 4 biên chế thì tất cả đều là sếp, gồm 1 trưởng phòng và 3 phó phòng.
Bà Cao Thị Hiền giải thích, đây là hệ quả của quá trình sáp nhập một số sở, ban ngành đặc thù. Sở Nông nghiệp là kết quả của sự sáp nhập 3 sở cũ gồm Thủy sản, Lâm nghiệp và Nông nghiệp. Trong quá trình đó, một số trưởng phòng ở sở cũ phải xuống làm phó phòng sở mới dẫn đến hiện tượng phòng 15 người nhưng có đến 6 phó phòng.
Mặt khác, đặc thù của Sở Nông nghiệp là một phòng phụ trách nhiều lĩnh vực, như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, thú y... nên cần có phó phòng quản lý đúng chuyên môn, không thể kiêm nhiệm.
Theo Quyết định số 63 năm 2008 của UBND tỉnh Nghệ An, mỗi phòng ban thuộc sở, ngành, UBND cấp huyện chỉ được bố trí 1 trưởng phòng và 2 phó phòng, trường hợp cần quá số người thì làm văn bản xin ý kiến Sở Nội vụ. "Ở Nghệ An, số lượng trưởng, phó phòng vẫn nằm trong khung quy định, không có gì bất thường", bà Cao Thị Hiền khẳng định. (Vnexpress 30/1) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ngày 30-1, Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Hoàng Quân đã ký quyết định ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhóm thủ tục hành chính thuộc ba lĩnh vực:
hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký, quản lý cư trú (gọi tắt là ba trong một) cho trẻ em dưới sáu tuổi trên địa bàn TP.HCM. Toàn bộ hồ sơ, giấy tờ sẽ được hoàn tất trong vòng 9-11 ngày làm việc kể từ ngày người dân đến làm thủ tục tại UBND cấp xã, phường.
UBND TP yêu cầu UBND cấp xã, phường cần công khai đầy đủ, rõ ràng các loại giấy tờ, thủ tục hành chính, niêm yết tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả để người dân dễ tiếp cận. Đồng thời, tổ chức tuyên truyền, thông báo xuống từng khu phố, tổ dân phố để người dân nắm rõ và thực hiện đúng khi có nhu cầu. Quy chế này sẽ được thực hiện đồng loạt tại TP sau 10 ngày kể từ ngày ký. (Pháp luật TP.HCM 31/1) đầu trang(

QUẢN LÝ
Chuyện hi hữu này xảy ra đối với ông Nguyễn Cao Trí, trưởng Công an xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Ông Trí bị nhiều người tố cáo hay nhậu say và đánh người vô cớ. Ông Nguyễn Thành Hây, bí thư Đảng ủy xã Bàu Đồn, cho biết: “Cách đây hai năm khi còn là công an viên, ông Trí có hành vi đánh dân khi nhậu say. Từ lúc được bổ nhiệm làm trưởng công an xã vào tháng 12-2012, đảng ủy đã yêu cầu ông Trí viết cam kết hạn chế uống rượu và kiềm chế tính nóng nảy. Hai tháng qua, ông Trí đã bớt uống rượu và bớt nóng nảy”.
Theo tố cáo của người dân, ông Trí đã nhiều lần gây mất an ninh trật tự trong xóm ấp khi nhậu say và chửi bới, phá nhà cửa của mình. Trước đây, vào tháng 4-2010, ông Trí đã đánh ông Nguyễn Văn Hồi, một người dân cùng xã; tháng 6-2012, ông Trí đã đánh và dùng lời lẽ thô tục chửi vợ chồng cậu ruột của mình. Chưa hết, vào tháng 11-2012, ông Trí đã đánh một người dân trong xã là anh Huỳnh Văn Đức...
Theo ông Hây, việc ông Trí hành hung ông Hồi đã được chi bộ đưa ra kiểm điểm rút kinh nghiệm. Ông Hây cũng cho biết Ủy ban kiểm tra Đảng xã Bàu Đồn xác nhận ông Trí từng có lời lẽ thô tục chửi vợ chồng cậu ruột của mình, tuy nhiên chưa đến mức xử lý kỷ luật nên đề nghị đưa ra kiểm điểm, phê bình trước chi bộ... “Quan điểm của xã là giáo dục là chính chứ không có chuyện bao che” - ông Hây nói. (Tuổi Trẻ 31/1) đầu trang(

KINH TẾ
Tại Hội thảo về định hướng và quan điểm xây dựng Luật quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (DN) do Bộ Tài chính tổ chức ngày 30-1, PGS. TS Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán - Kiểm toán Việt Nam đề cập nhiều quỹ nhà nước được đầu tư hàng trăm tỷ mỗi năm nhưng không biết chi tiêu thế nào.
Theo ông Đặng Văn Thanh, điểm đáng chú ý hiện nay là chúng ta có Luật Ngân sách Nhà nước nhưng ngân sách ngày càng nhỏ đi trong tổng số quỹ tài chính của Nhà nước, song lại chưa có luật điều chỉnh. Bên cạnh ngân sách Nhà nước có tới 40 quỹ ngoài ngân sách. Có những quỹ tới hàng chục nghìn, thậm chí cả trăm nghìn tỷ nhưng chi tiêu ra sao, hình thành thế nào thì không ai biết.
“Tôi làm đại biểu Quốc hội 5 năm, kiến nghị mấy lần nhưng chưa một quỹ nào báo cáo công khai trước Quốc hội về tiền chi tiêu thế nào. Quanh đi quẩn lại là kết quả xóa đói giảm nghèo… Hôm trước, ngồi ở Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội nghe một loạt quỹ của Bộ Y tế thấy nhiều vấn đề lắm. Có những quỹ được đầu tư hàng chục năm nay như Quỹ Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam nhưng tiền tiêu thế nào, sàng lọc, bồi bổ con người thế nào, chống bệnh hiểm nghèo thế nào không rõ”- Ông Thanh nói.
Cũng theo ông Thanh, có tình trạng hiện nay là Quốc hội có những khoản đứng về mặt tài chính quốc gia, tài chính Nhà nước, Quốc hội cũng chưa được biết. Việc quản lý hiệu quả đầu tư vốn Nhà nước ở các DN hiện nay cũng cần xem xét lại.
Có những DN có vốn đầu tư của Nhà nước tới hàng trăm tỉ đồng nhưng lợi nhuận lại không cao, chỉ vài tỷ bạc. Trong khi có những DN chỉ có vài phần trăm vốn của Nhà nước nhưng có tới hàng trăm tỷ đồng lợi nhuận.
Điều này do từ trước đến nay ta chưa bàn đến việc quản lý lãi của các DN có vốn đầu tư của Nhà nước như thế nào, chia cổ phần cổ tức ra sao khi có vốn Nhà nước.
“Nên xây dựng Luật tài chính của những DN có vốn Nhà nước, liên quan quyền hạn, chế tài, trách nhiệm của Nhà nước ở các đơn vị này là cần thiết. Cần một cơ chế tài chính riêng đặc thù cho những DN sử dụng vốn Nhà nước. Tôi làm kế toán nên rất sốt ruột khi bỏ tiền ra mà không biết hiệu quả ra sao. Người ta chi trăm triệu nhưng khai ngàn tỷ mà không sao, không ai biết”- Ông Thanh nói.
Theo kiến nghị của các chuyên gia, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, trong khi chúng ta đang đặt vấn đề sở hữu toàn dân mà đại diện cho nhân dân chính là Quốc hội. Do đó, Quốc hội phải là chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu là Chính phủ.
TS Lê Đăng Doanh cho rằng, có nhiều tồn tại liên quan đến quản lý và sử dụng vốn nhà nước cũng như có những lỗ hổng trong tư duy chính sách.
Theo ông Doanh, sự tự chủ của DN Nhà nước (DNNN) hiện nay là rộng rãi. Sự can thiệp của các bộ còn khá nhiều nhưng việc giám sát trong quản lý vốn Nhà nước vẫn còn lỗ hổng.
Đặc biệt, vai trò giám sát của Quốc hội không được luật hoá nên chỉ có vai trò giám sát chung, đi kiểm tra sau đó có khuyến nghị, những đơn vị được khuyến nghị không thực hiện cũng chẳng sao. Còn Luật Đầu tư có quy định nhưng không phân định rõ việc sử dụng vốn đầu tư và tài sản Nhà nước.
Ngoài ra, theo ông Doanh, một lỗ hổng lớn khác là chưa có Luật về Cổ phần hóa DNNN cũng như chưa có Luật về Đầu tư công dù Bộ KH&ĐT nhiều lần đưa ra thảo luận, trình nhiều ban ngành.
“Trong khi đó chúng ta đã cổ phần hóa hơn 3.000 DNNN. Đầu tư công cũng thực hiện từ khi xây dựng đất nước nhưng đến nay vẫn chưa có luật quản lý các lĩnh vực này. Ở đây vai trò của Quốc hội chưa phát huy được hiệu quả, chưa tương xứng như yêu cầu”- Ông Doanh phân tích.
Một khoảng trống được các chuyên gia chỉ rõ trong việc quản lý vốn Nhà nước đó là DNNN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhưng dù sử dụng lao động lớn, tài nguyên nhiều, sử dụng tới trên 60% tín dụng nhưng chưa thực hiện được vai trò chủ đạo của DN nòng cốt, gây ra thất thoát vốn lớn của Nhà nước. Những vụ việc gây thất thoát lên tới hàng nghìn tỷ đồng xảy ra ở Vinashin, Vinalines và mới đây là ở Agribank đã cho thấy điều này.
Theo các chuyên gia, hiện các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước lập ra rất nhiều công ty con, công ty cháu nhưng cơ chế góp vốn không rõ ràng, không xác định được vốn nào là vốn Nhà nước. Điều này được giải thích do chúng ta quá ham đầu tư.
Có tình trạng số công trình đầu tư công hiện nay khoảng 40.000, đầu tư rất nhiều nhưng sau khi hoàn thành thì lại không hoàn toàn trở thành doanh nghiệp Nhà nước. Cùng với đó, sự can thiệp của các bộ ngành nhà nước vào DNNN vẫn còn nặng nề nên muốn cải cách DNNN thì phải cải cách bản thân bộ máy của Nhà nước. (Tiền Phong 31/1) đầu trang(
Khó lòng đo được nhiệt độ của “ghế” Thống đốc, nhưng chắc chắn nó không kém phần nóng trong năm 2013.
Tiễn năm con Rồng trong dư âm nhiều chiều về quản lý thị trường vàng, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã ghi điểm ở một số lĩnh vực như tỷ giá ổn định, nỗ lực hạ lãi suất (một đầu) và gượng giữ thế trận cho những ngân hàng mất thanh khoản, yếu kém đi dần vào khuôn khổ tái cấu trúc của toàn hệ thống.
Song, vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề mà người đứng đầu ngân hàng Trung ương vẫn chưa xử lý rốt ráo được. Những vấn đề này có tiếp tục “quấn” chân Thống đốc trong năm con Rắn?
Nếu như đầu năm 2011, tỷ giá ngoại tệ danh nghĩa đã có một đợt điều chỉnh tăng tới 9,3% thì năm 2012, tỷ giá được kiềm chế trong một biên độ hẹp và ổn định hơn nhiều.
Giới chuyên môn cho rằng, công bằng mà nói, nhờ việc điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ một cách rộng rãi này, Thống đốc Bình và các cộng sự của ông mới có thêm dư địa để giữ tỷ giá ổn định trong năm 2012.
“Tất nhiên, bên cạnh còn có các yếu tố hỗ trợ khác như Việt Nam lần đầu xuất siêu sau 20 năm; những nỗ lực dẹp loạn giá vàng theo hướng triệt để hạn chế đầu cơ và không cấp quota nhập khẩu vàng song song với việc chấp nhận giá vàng trong nước lênh khênh trên cao so với giá vàng thế giới; việc kiềm chế lạm phát khiến mức tăng CPI về một con số…
Tất cả đã giúp giảm áp lực đè lên tỷ giá, và đây trở thành điểm sáng không hẳn ngẫu nhiên, cũng không phải mất quá nhiều nỗ lực để có được”, Thạc sĩ Tài chính Nguyễn Lê Ngọc Hoàn nhận định.
Kinh nghiệm của năm 2012 và ngay cả trước đây cho thấy, rất khó có được một hệ thống dữ liệu thống kê ngân hàng có độ tin cậy cao.
Cho dù năm ngoái, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước đã cho công bố các số liệu hoạt động của ngành, nhưng việc dự báo đâu là vấn đề khó khăn nhất sẽ đón đợi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong năm 2013 là rất khó.
Hiện nợ xấu, với tốc độ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn, vẫn chưa xác định được con số chính thức. 8,6%, 10%, 13% hay 15%? Và tiền đâu để xử lý vấn đề này? Thống đốc Bình tuyên bố, sẽ lập công ty mua bán nợ quốc gia với vốn huy động từ phát hành trái phiếu.
Còn Thủ tướng mới đây thì thành thật rằng: “Xử lý nợ trăm sự phải nhờ vào các ngân hàng thương mại vì ngân sách không có tiền để giải quyết vấn đề này”.
Bên cạnh đó, tiến độ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra một cách ì ạch cũng khiến các nhà quan sát quốc tế sốt ruột.
Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam năm 2012, ông Sanjay Kaira, Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam cảnh báo: “Việc trì hoãn thêm nữa các cải cách ngân hàng sẽ có thể làm tăng các khoản nợ dự phòng của Chính phủ”.
Còn Fitch Ratings, trong báo cáo “Triển vọng 2013: Ngân hàng Việt Nam”, cũng không quên “dội gáo nước lạnh” khi đánh giá những tiến bộ về cải cách cũng như củng cố lĩnh vực ngân hàng và việc thành lập một công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam là “dường như chưa rõ ràng”.
Với tất cả những vấn đề nổi cộm như vậy, chuyên gia Lê Trọng Nhi thẳng thắn: “Để tách bạch được cái khó nhất trong những cái khó nêu trên sẽ là liều lĩnh, nếu không muốn gọi là “ẩu tả”.
Chúng ta không muốn “ẩu tả”. Nhưng để cảm nhận và hình dung được những cái khó đang đợi Thống đốc trong năm 2013, nhất thiết cần cân đo lại những bất trắc và những cái chưa và không được quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của những năm trước, và đặc biệt hơn với những biến cố biến động “nội tại” của năm 2012 vừa qua”.
Đo lường như thế nào trong một hệ thống số liệu tù mù? Đây rõ ràng là một thách đố với mọi chuyên gia.
Dẫu vậy, theo ông Nhi, vẫn có thể chọn và khu biệt lại hai cụm vấn đề và hai cụm giải pháp sẽ làm nóng ghế Thống đốc năm 2013, đó là: tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu; lạm phát - tăng trưởng tín dụng - vàng.
Trong đó, vế thứ nhất là cụm vấn đề của trì trệ, vế thứ 2 là cụm vấn đề của tăng trưởng. Hai cụm vấn đề ở hai thái cực và chính trong mỗi cụm cũng có hai thái cực. Đó là những cái khó không chỉ của năm 2013 mà sẽ còn tiếp tục những năm sau đó.
Nhìn lại những năm trước, có thể thấy lạm phát tại Việt Nam đã luôn cao kể từ năm 2007.
Mặc dù lạm phát đã được đưa về mức một con số trong năm 2012, nhưng con số này vẫn luôn đe dọa “sổng chuồng” do áp lực tăng trưởng tín dụng cho một nền kinh tế đã “khô cạn”. “Tìm được một vị thế và thực hiện được cụm vấn đề này là chuyện nhức đầu không thể tránh của Thống đốc và Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Theo đó, phải nói ngay - nói thật là sự tổn thương và trì trệ của nền kinh tế hiện nay là một phần hệ quả từ những kế hoạch bành trướng (thay vì phát triển) nhanh của hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính khác.
Những cái lệch lớn và sự lạm dụng cả về lượng lẫn hướng của thị trường tín dụng đã tạo ra nhiều giá trị huyễn hoặc làm tổn thương và kéo lệch thêm nhiều thị trường khác như: thị trường lãi suất, thị trường trái phiếu, thị trường liên ngân hàng…
Hệ lụy là một hệ thống ngân hàng bị xô lệch và những khoản nợ xấu lớn “trời ơi” đè nặng lên nền kinh tế luôn thèm khát tăng trưởng”, ông Nhi nói.
Khép lại năm 2012, lãi suất tiếp tục hạ xuống lần thứ 6, quá nhanh theo IMF. Nền kinh tế tiếp tục có lý do để đối mặt với nguy cơ lạm phát trong năm mới, dù sức mua trong nền kinh tế chưa có nhiều thay đổi.
Một quyết định của Thống đốc NHNN đã được duy trì trong suốt năm 2012, qua 6 lần hạ lãi suất khiến nhiều người không hiểu nổi, đó là không áp trần lãi suất cho vay đầu ra cho tất cả mọi lĩnh vực mà chỉ áp cho một số lĩnh vực.
Quyết định này là vì NHNN phải tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại đang rất khó khăn lấy lãi cho vay để trích bù nợ xấu hay là vì lợi ích cục bộ của một (hay vài nhóm) tìm đặc lợi khác trong chính sách ngân hàng (hay cao hơn thế là lợi ích tổng thể của nền kinh tế) với mục tiêu giữ ổn định hệ thống ngân hàng và cân bằng thế trận tăng trưởng và lạm phát? Hai nhiệm vụ này, như chính Thống đốc từng nhận định là “điệp vụ bất khả thi”.
Thêm một câu hỏi để lại dư âm không biết nên buồn hay vui, nên kỳ vọng hay bớt hy vọng về sự xoay vần diễn tiến chính sách tiền tệ. Chiếc ghế Thống đốc vốn đã nóng và vẫn đang nóng dần lên. (Doanh nhân 30/1) đầu trang(

CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Ngày 28/1, UBND tỉnh cho biết, Chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Hùng vừa ký Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND qui định mức chi bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn (gọi chung là công tác tiếp dân).
Đối với cán bộ chưa được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề thanh tra, khi tham gia công tác tiếp dân thì được bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày/người. Trường hợp đang hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề thanh tra thì được bồi dưỡng 80.000 đồng/ngày/người. Đối với cán bộ, công chức, sỹ quan, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, cán bộ y tế, dân phòng, giao thông khi được giao làm nhiệm vụ tại nơi tiếp công dân thì được bồi dưỡng 50.000 đồng/ngày/người.
Đối với cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ chuyên trách xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng được hưởng mức cho bồi dưỡng 50.000 đồng/ngày/người. (Thanh Tra 29/1, Tr5) đầu trang(

PHÁP LUẬT
Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an vừa tống đạt lệnh khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Nguyễn Trọng Ánh (28 tuổi, Kiến Thụy, Hải Phòng), thiếu úy, cán bộ Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC 45) Công an TP Hải Phòng.
Theo thượng tá Phạm Duy Diên - chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Công an TP Hải Phòng, ông Ánh bị bắt để điều tra về hành vi “tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Công an TP Hải Phòng cũng đã tước quân tịch đối với Nguyễn Trọng Ánh.
Bước đầu cơ quan điều tra xác định Ánh cùng Vũ Tiến Sơn (nguyên thượng tá - phó phòng PC 45 Công an TP Hải Phòng, đã bị khởi tố trước đó) có hành vi che giấu, giúp Dương Chí Dũng - nguyên cục trưởng Cục Hàng hải VN, nguyên chủ tịch HĐQT Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines) - trốn ra nước ngoài. (Tuổi Trẻ 31/1) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Sở Nội vụ Nghệ An vừa kiểm tra một số cơ quan trong tỉnh, phát lộ thực tế kinh hoàng: những đơn vị này đang có tình trạng lãnh đạo đông hơn nhân viên.
Chẳng hạn Phòng Tài chính kế toán (Sở NN-PTNT) có 15 người thì thành phần quản lý chiếm phân nửa gồm 1 trưởng phòng, 6 phó phòng; Phòng Tài chính kế toán (UBND H.Anh Sơn) còn phá kỷ lục hơn: tuy chỉ có 4 biên chế nhưng “sĩ quan” trăm phần trăm: 1 trưởng và 3 phó.
Đó là thực tế cay đắng ở một tỉnh nghèo dân đông còn rất nhiều khó khăn. Cũng không hẳn “mô hình” này phổ cập đại trà tại hầu hết các tỉnh thành, quận huyện trên đất nước ta nhưng người dân có quyền nghi ngờ ở những nơi khác sự lạm phát, phung phí “nhân lực quản lý” không biết đến chừng nào.
Cứ hình dung ra điều khó xử: toàn những quan là quan, vị nào cũng ý thức được vai trò lãnh đạo chỉ đạo của mình, rốt cuộc chỉ thiếu người thực hiện. Và thật vô phúc cho ai nào lọt vào đó làm nhân viên. Từ việc công đến điều sai vặt chắc phải cõng tất. Trăm dâu đổ đầu tằm. Xin nhớ rằng đối tượng bị coi là lạm phát đó đều hưởng lương ngân sách, lương cao, được nuôi bằng tiền thuế của dân.
Từ chuyện Nghệ An, sực nhớ ở xứ mình lâu nay xảy ra ối điều tương tự khiến người dân ì xèo, dư luận phàn nàn. Có một dạo báo chí gây choáng với thông tin ở xã nghèo xứ Thanh chỉ vài ngàn dân mà cõng rất nhiều cán bộ.
Gần đây nhất, tại cuộc họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ công chức, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu ra tỷ lệ những người vô vi, vô tích sự đến mức kinh hoàng “trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào".
Một thực tế khó thể chấp nhận trong bộ máy công quyền hành chính hiện đại. Chính phủ luôn đặt ra yêu cầu “chất lượng, tinh gọn, hiệu quả” nhưng bộ máy công vụ nhiều nơi, nhiều cấp gần như thực hiện ngược lại.
Nhân chuyện lạm phát cán bộ lãnh đạo, cũng cần giở lại một chỉ đạo khác của Chính phủ ban hành cách nay chưa lâu. Nghị định số 36/2012/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ nêu rõ số lượng thứ trưởng ở mỗi bộ không quá 4 người.
Thực ra nghị định ấy cũng chỉ nhắc lại Nghị định 178/2007/NĐ-CP tính đến nay đã 6 năm, vậy mà 6 năm qua hầu hết các bộ vẫn ung dung tự tại với số lượng thứ trưởng vượt quá quy định. Các tổ chức cục, vụ cũng vậy, quy định cấp phó chỉ được 3 nhân sự nhưng cũng có nơi vượt gấp đôi. Bộ máy hành chính đã cồng kềnh, nặng nề, lại thêm đội ngũ quản lý quá đông giẫm chân nhau, người nọ nhìn người kia khiến chất lượng và hiệu quả không được như mong muốn của Chính phủ và người dân.
Trong một nền hành chính bất cập thực tế, nhiều “quan” quá dẫn đến thái độ quan liêu, hách dịch, luôn xem mình là nhân vật quan trọng, ra vẻ ta đây. Tình trạng này không nên để kéo dài, vừa tốn ngân sách, vừa làm hư cán bộ, tạo ra dư luận không hay về bộ máy công quyền. (Thanh Niên 31/1) đầu trang(
“Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”.
Ý kiến phát biểu này của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức mới đây lại tiếp tục nóng tại cuộc họp báo về phiên họp Chính phủ vừa qua.
Cụ thể, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam xác nhận: “Trong bộ máy hành chính của chúng ta, có một bộ phận, vì nhiều nguyên nhân nên sự đóng góp là rất hạn chế. Ngay cơ quan Văn phòng Chính phủ cũng có, có chuyên viên làm rất nhiều việc, có chuyên viên còn thời gian rỗi”.
Như vậy, chẳng phải tìm ví dụ cụ thể quá xa xôi, ngay cơ quan đầu não của khối hành pháp cũng tồn tại những “đầy tớ” chỉ ung dung hưởng tiền thuế của dân mà không có đóng góp (hoặc đóng góp không đáng kể) cho sự nghiệp phục vụ nhân dân. Đáng nói hơn, loại công chức này có khi còn ngáng trở cơ hội cho những người có kiến thức và tâm huyết khác chưa có vị trí, chưa được giao nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy. Thậm chí loại công chức này có khi còn làm hại xã hội, làm hại nhân dân nếu cứ... cố gắng xây dựng chính sách.
Còn nhớ tại cuộc họp thông báo về kết quả kiểm tra ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội về dư luận vụ “chạy công chức 100 triệu đồng”, lãnh đạo TP Hà Nội nói rằng việc này (chạy công chức) không phải không có, mà là chưa tìm được bằng chứng mà thôi. Trong lúc đó thì người dân đang hết sức bức xúc trước tình trạng hàng loạt luật, nghị định, thông tư (như quy định về lễ tang, về phạt xe không chính chủ, về quản lý thức ăn đường phố...) làm ra không khả thi, có nhiều quy định nực cười mà lý do bắt nguồn từ trình độ của công chức.
Vì thế điều người dân đang quan tâm hiện nay không phải là chuyện “nhận diện” hay “tìm hiểu” sự yếu kém của một bộ phận “đầy tớ” nữa mà chính là phương thuốc “đặc trị” ra sao, bởi để họ tồn tại ngày nào thì thiệt hại cho dân ngày đấy! (Pháp luật TP.HCM 31/1) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, suất đầu tư đường cao tốc 4 làn xe tại Việt Nam từ 7,4 - 28,2 triệu USD/km, một con số quá cao so với nhiều nước, kể cả những nước phát triển.
Có nhiều lý do để minh chứng. Địa hình của Việt Nam không thuận lợi, nền đất yếu, nhiều cầu cống… Nhưng có lẽ đây không phải là những đặc thù riêng của VN, nước nào lại không có nền đất yếu, phải làm nhiều cầu cống, không có những khó khăn phải xử lý trong quá trình xây dựng các công trình lớn, thậm chí họ làm đường cao tốc trên biển.
Nhưng vô lý thay, giá xây dựng 1km đường cao tốc của VN cao gấp ba - bốn lần so với các nước như Mỹ, Trung Quốc… Theo các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này, hiện giá đầu tư đường cao tốc 4 làn xe ở Mỹ, Trung Quốc là 7 triệu USD/km.
Các chuyên gia cũng tính toán và đưa ra con số, suất đầu tư đường cao tốc 4 làn xe mặt đất tại VN khoảng 8 triệu USD/km là hợp lý (chưa tính cầu và giải phóng mặt bằng).
Vậy câu hỏi đặt ra là con số chênh lệch rõ to đó đi đâu? Nó đi vào cổng của lãng phí hay đi vào cửa của tham nhũng? Chưa ai trả lời câu hỏi này và cũng chưa chắc đã trả lời được, nhưng lực nước, sức dân bị cạn kiệt vì các khoản chênh lệch này thì quá rõ. Tiền đầu tư xây dựng đường cao tốc lấy từ đâu ra, cho dù rút từ túi ngân sách hay đi vay của thiên hạ thì cuối cùng cũng là mồ hôi nước mắt của người dân. Với phân tích rành mạch, con số so sánh cụ thể mà các chuyên gia đưa ra, ai cũng rõ tiền chênh lệch đó đi đâu?
Đầu tư nhiều tiền hơn so với các nước, nhưng chất lượng đường cao tốc VN lại thấp hơn rất nhiều. Điều này không cần phải nói nhiều, bởi vì nó sờ sờ ra trước mắt. Xin mời quý bạn đọc đến tham quan đường cao tốc TPHCM - Trung Lương một chuyến, tự khắc sẽ rõ.
Công dân có nghĩa vụ đóng thuế, nhưng có quyền đòi hỏi chính quyền làm ra những sản phẩm hành chính công cũng như các công trình, dịch vụ công đạt chất lượng. Ở các quốc gia văn minh, người dân đóng thuế rất cao, nhưng họ sẽ rất hài lòng khi lái xe đi trên một con đường êm ái, thông suốt, độ an toàn cao.
Còn ở nước mình, những con đường chất lượng cao rất hiếm. Vậy thì người VN có hài lòng khi nộp thuế không?
Có thể chưa khẳng định, nhưng quả thực người ta có quyền nghi ngờ "bóng ma" tham nhũng đang lởn vởn trên từng kilômét đường cao tốc. Xin đừng cổ súy cho con số 28,2 triệu USD/km đường nữa, bởi vì sẽ còn nhiều đường cao tốc sắp ra đời. Nếu dựa vào suất đầu tư này để tính cho các công trình sắp tới thì sẽ có thêm nhiều "bóng ma" tham nhũng trên các tuyến đường cao tốc. (Lao Động 30/1) đầu trang(
Hình ảnh bệnh nhân và người nhà chen chúc, vạ vật ở các bệnh viện, nhất là ở bệnh viện các thành phố lớn dù nhiều năm tồn tại, dù ngành Y cứ thỉnh thoảng lại đưa ra vài tuyên bố khắc phục nhưng đến nay vẫn đầy nhức nhối.
Sự quá tải của các bệnh viện tuyến trên, việc người dân luôn muốn về thành phố chữa bệnh là thực tế không dễ để ngành Y khắc phục một sớm một chiều. Quá tải bệnh nhân, rườm rà thủ tục khiến hoạt động khám chữa bệnh của bệnh nhân không khác gì một cuộc hành xác.
Các y, bác sỹ có thông cảm với nỗi khổ của người bệnh không? Chắc chắn câu trả lời của họ là có. Và chuyện thủ tục rườm rà về góc độ nào đó cũng ảnh hưởng không tốt đến công việc của nhân viên y tế.
Nhưng phải chăng vì ngành Y còn quá nhiều vấn đề khác phải giải quyết mà vấn đề nào cũng khá nan giải, nên tầm quan trọng của chuyện giảm thiểu thủ tục khám chữa bệnh dường như bị xem nhẹ? Vả lại, thực tế thời gian gần đây cho thấy vẫn có nhiều cách thức để đơn giản thủ tục khám chữa bệnh, giảm bớt phiền hà cho người dân.
Ví như việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp đơn giản hóa thủ tục đăng ký khám, chữa bệnh bằng sổ y bạ điện tử mà một bệnh viện tư ở Hà Nội đã thực hiện.
Ngay trong hàng chục thủ tục khám chữa bệnh đã đề cập ở trên, chỉ cần tính toán lại, một bệnh viện ở TP.HCM đã giảm được 2 loại thủ tục. Giảm được thủ tục nào là người bệnh và thân nhân nhẹ người từng ấy. Vấn đề nằm ở chỗ ngành Y có đủ quyết tâm để cải cách không mà thôi. (Tiền Phong 30/1) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tổng Thư ký Hội đồng châu Âu Thorbjorn Jagland cho biết, tham nhũng đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự phát triển và dân chủ, công bằng ở châu Âu, đồng thời làm sụt giảm đáng kể lòng tin của người dân châu Âu.
Tổng Thư ký Hội đồng châu Âu nhấn mạnh, châu Âu đang bị điêu đứng không chỉ bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính mà còn bị tác động rất lớn bởi cuộc khủng hoảng lòng tin.
“Tham nhũng đang là mối đe dọa ngày càng lớn, đè nặng lên nền dân chủ của châu Âu. Một bộ phận lớn người dân châu Âu đang mất niềm tin vào Chính phủ của từng quốc gia cũng như mất lòng tin vào Liên minh châu Âu. Châu Âu cần có hành động thích hợp giải quyết ngay vấn đề này, không chần chừ gì nữa”, ông Thorbjorn Jagland nói. (Thanh Tra 30/1) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai