Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 06 năm 2016
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
NHÂN SỰ
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
NHÌN RA THẾ GIỚI

THỜI SỰ
Chiều 29/6, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân đã ký ban hành nghị quyết của QH về việc lùi hiệu lực thi hành bộ luật Hình sự (BLHS) mới cùng bộ luật Tố tụng hình sự, luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, ba luật có dẫn chiếu quy định trong BLHS.
Bốn luật này được QH thông qua hồi cuối năm 2015, có hiệu lực đầy đủ từ 1/7 tới. Nhưng tất cả bị lùi thời hiệu do phát hiện hàng loạt sai sót trong BLHS.
Ngày 27/6, UBTVQH đã mở phiên họp đặc biệt, triệu tập tất cả trưởng hoặc phó trưởng đoàn đại biểu từ 63 tỉnh thành, để báo cáo, thảo luận về kết quả rà soát BLHS 2015.
Kết thúc cuộc họp, UBTVQH thống nhất phương án gửi các ĐBQH khóa 13 tờ trình của UBTVQH về việc lùi hiệu lực bốn luật, kèm theo là dự thảo nghị quyết của QH để các đoàn họp, biểu quyết bằng bỏ phiếu kín về việc lùi thời hạn thi hành.
Chiều nay (29/6), các ĐBQH khoá 13 đã tiến hành biểu quyết (qua phiếu được gửi đến tận tay từng người) về nghị quyết lùi thời hạn thi hành của BLHS mới.
Trả lời báo VnEconomy, Tổng thư ký QH Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, kết quả kiểm phiếu cho thấy, tuyệt đại đa số đại biểu ủng hộ lùi hiệu lực thi hành của BLHS mới cho đến khi sửa xong các sai sót.
Dự kiến ban đầu ĐBQH đề xuất lùi thời hạn thi hành lại 6 tháng, đến 1/1/2017 nhưng UBTVQH lo đến thời hạn đó vẫn chưa sửa xong nên nghị quyết gia hạn đến khi sửa xong các lỗi.
Như vậy, trong thời gian từ nay đến thời điểm đó, QH khóa 14 sẽ phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hơn 90 nội dung phát hiện có sai sót liên quan BLHS mới này.
Trong nghị quyết, QH cũng cho phép áp dụng trước các quy định của BLHS mới có lợi cho người phạm tội, tức là tuy lùi nhưng các điều khoản có lợi cho người phạm tội vẫn được áp dụng. Cụ thể, các quy định được nêu tại khoản 3, điều 7 vẫn được thực hiện từ ngày 1/7/2016…
Nghị quyết lùi thời hạn thi hành BLHS mới đã được chuyển sang Văn phòng Chủ tịch nước để thực hiện quy trình công bố. (Vietnamnet 29/6; Thanh Niên 30/6) đầu trang(

CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 25/2016/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động của Cảng quốc tế Cam Ranh - Bộ Quốc phòng.
Quy chế này quy định về cơ chế quản lý hoạt động của Cảng quốc tế Cam Ranh bao gồm: Phạm vi giới hạn của Cảng quốc tế Cam Ranh; quản lý các hoạt động cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ; quản lý người và các loại phương tiện của Việt Nam, của nước ngoài vào, rời, hoạt động trong khu vực Cảng quốc tế Cam Ranh.
Trong đó, Quyết định quy định các loại hình dịch vụ cung cấp trong khu vực Cảng quốc tế Cam Ranh được thực hiện theo quy định có liên quan của pháp luật bao gồm: Vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường biển; đại lý tàu biển, đại lý vận tải đường biển; môi giới hàng hải; hoa tiêu hàng hải; cứu hộ hàng hải; tư vấn hàng hải; bảo dưỡng, sửa chữa, cung cấp phụ tùng, thiết bị thay thế cho các loại tàu thuyền; cung cấp nhu yếu phẩm, điện, nước, khí, nhiên liệu, dầu nhờn, vật liệu chèn, lót, ngăn cách hàng hóa cho các loại tàu thuyền hoặc các dịch vụ phục vụ cho thủy thủ; bốc dỡ hàng hoá, cho thuê kho, bãi; cho thuê cảng trung chuyển hàng hóa; dịch vụ cảnh giới ngầm, đảm bảo an ninh 24/24 giờ; tiếp đón sĩ quan, thuyền viên và khách du lịch bằng đường biển; tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng; cung cấp các dịch vụ y tế, thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng; tổ chức hội chợ triển lãm hàng hải, Hải quân trong nước, quốc tế và các hoạt động đối ngoại quốc phòng; các hình thức dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyết định nêu rõ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định và tổ chức quản lý hoạt động của tàu thuyền quân sự Việt Nam tại vùng nước Cảng quốc tế Cam Ranh.
Tàu thuyền dân sự Việt Nam và nước ngoài đến và rời vùng nước Cảng quốc tế Cam Ranh thực hiện thủ tục đến và rời cảng biển theo quy định tại Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải và quy định tại Điều 6, Điều 8 và Điều 10 Nghị định số 71/2015/NĐ-CP ngày 3/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tàu quân sự nước ngoài thực hiện các chuyến thăm chính thức, thăm xã giao hoặc phối hợp huấn luyện, diễn tập thực hiện theo quy định tại Nghị định số 104/2012/NĐ-CP ngày 05/12/2012 của Chính phủ quy định đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hàng hoá thông qua Cảng quốc tế Cam Ranh được quản lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, thuế đối với hàng hoá từ nước ngoài đưa vào Cảng quốc tế Cam Ranh, hàng tiêu dùng, văn phòng phẩm, trang thiết bị văn phòng phục vụ cho hoạt động trong Cảng từ Việt Nam đưa vào Cảng quốc tế Cam Ranh cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Đối với lương thực, thực phẩm, nhiên liệu xuất khẩu, nhập khẩu qua Cảng quốc tế Cam Ranh phải được thực hiện đầy đủ thủ tục hải quan và chịu sự giám sát Hải quan theo quy định của pháp luật. (Thanh Tra 30/6) đầu trang(
Đây là chỉ đạo của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội nghị triển khai công tác phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2016 - 2020 do Bảo hiểm xã hội (BHXH) VN và Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29.6.
Phó thủ tướng nhấn mạnh: “Người mua bảo hiểm là khách hàng đặc biệt. Không thể có chuyện đến thuyết phục người ta mua bảo hiểm mà lại bắt người ta trình đủ loại giấy tờ. Vì vậy, BHXH phải loại bỏ các quy định không cần thiết trong quản lý BHYT”.
Về trách nhiệm của ngành y tế, theo Phó thủ tướng, bệnh viện và ngành y tế, phải nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để người dân tin tưởng vào khám, chữa bệnh bằng BHYT.
Tại hội nghị, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cũng đã nhấn nút khai trương Cổng dữ liệu y tế và Hệ thống thông tin giám định BHYT. Theo Phó thủ tướng, đây là thời điểm không chỉ là lịch sử đối với ngành y tế mà còn đối với ngành công nghệ thông tin bởi lần đầu tiên toàn bộ việc giám định được kết nối 14.000 cơ sở y tế.
Phó thủ tướng đề nghị trong thời gian tới, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, BHXH VN cần tiếp tục triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế có liên thông, cho phép công nhận kết quả xét nghiệm cận lâm sàng giữa các bệnh viện khác nhau giúp người bệnh giảm tốn kém thời gian, chi phí, công sức. (Thanh Niên 30/6) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đồng ý tiếp tục thực hiện cơ chế hỗ trợ kinh phí để giải quyết chính sách chi trả tiền lương tháng và kinh phí đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian quân nhân nghỉ chuẩn bị hưu tại các công ty quốc phòng giai đoạn 2016 – 2020 như đã thực hiện trong giai đoạn 2012 – 2015.Nguồn kinh phí từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ: Quốc phòng, Tài chính thực hiện hỗ trợ kinh phí để giải quyết chính sách theo quy định.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành văn bản quy định chung về chế độ, chính sách đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong thời gian nghỉ chuẩn bị hưu tại các công ty quốc phòng phù hợp với quy định hiện hành. (Chính Phủ 29/6) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Nghị định trên quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phạm vi vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ; chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; hành lang bảo vệ bờ biển; hạn chế các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển; phân loại hải đảo; xác định và thông báo về khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố.
Trong đó, Nghị định quy định rõ, hải đảo được chia thành 2 nhóm: 1- Quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm phải bảo vệ, bảo tồn; 2- Quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm được khai thác, sử dụng tài nguyên.
Quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm phải bảo vệ, bảo tồn bao gồm quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm có toàn bộ diện tích đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau: 1- Là vườn quốc gia hoặc khu dự trữ thiên nhiên cấp quốc gia hoặc khu bảo tồn loài sinh cảnh cấp quốc gia hoặc khu bảo vệ cảnh quan cấp quốc gia theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học; 2- Là di tích quốc gia hoặc di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa; 3- Có điểm dùng để xác định đường cơ sở; 4- Được sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh.
Quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm được khai thác, sử dụng tài nguyên bao gồm quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm không thuộc tiêu chí trên.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh có biển lập và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục phân loại hải đảo. (Đảng Cộng Sản VN 29/6) đầu trang(

NHÂN SỰ
Ngày 29/6, Bộ trưởng Công Thương quyết định điều động ông Trần Hữu Linh, nguyên Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, giữ chức Chánh Văn phòng Bộ Công Thương.
Tại buổi lễ, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh bày tỏ sự tin tưởng trong cương vị mới, ông Trần Hữu Linh sẽ tiếp tục phát huy năng lực, kinh nghiệm của mình, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong Bộ để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp của ngành công thương.
Ông Trần Hữu Linh cho biết, công việc sắp tới sẽ có rất nhiều thách thức, tuy nhiên ông sẽ nỗ lực phấn đấu để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp xây dựng Bộ Công Thương ngày càng phát triển.
Thời gian qua, vị trí Chánh văn phòng Bộ Công Thương được coi là vị trí rất quan trọng và khá nhạy cảm khi liên tiếp có nhiều thông tin gây sự chú ý của dư luận liên quan đến những cá nhân từng giữ chức chánh văn phòng cơ quan siêu bộ này.
Trong đó phải kể đến trường hợp của ông Trịnh Xuân Thanh, người vừa bị loại khỏi danh sách ứng cử HĐND tỉnh Hậu Giang  vừa qua, từng giữ chức Chánh văn phòng Bộ Công Thương.
Ông Trịnh Xuân Thanh gây sự chú ý của dư luận (khi còn là Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang) sử dụng xe Lexus 5 tỷ đồng cá nhân gắn biển số xanh. Ông Thanh cũng có nhiều điều tiếng trong quá trình bổ nhiệm từ khi làm Phó chánh văn phòng kiêm Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Công Thương tại Đà Nẵng do trong thời kỳ làm lãnh đạo Tổng công ty Xây lắp Dầu khí (PVC) và để doanh nghiệp này thua lỗ trên 3.000 tỷ đồng.
Cùng thu hút sự chú ý của dư luận sau khi giữ chức Chánh văn phòng Bộ Công Thương là trường hợp của ông Võ Thanh Hà, thư ký của nguyên Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng. Hồi tháng 10/2015, sau khi rời khỏi vị trí Chánh văn phòng Bộ Công Thương, ông Hà được ông Vũ Huy Hoàng bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT Tổng Cty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco).
Trước đó, Bộ Công Thương đã ủy quyền cho ông Hà, làm đại diện 23% vốn Nhà nước tại doanh nghiệp này. Ông Võ Thanh Hà sinh năm 1974, được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng Bộ Công Thương hồi tháng 2/2015. Trước đó, ông Hà là Phó chánh văn phòng, kiêm Thư ký Bộ trưởng. (Tiền Phong 30/6; Tuổi Trẻ 30/6) đầu trang(
Ngày 29/6, HĐND tỉnh Tuyên Quang khóa XVIII và HĐND tỉnh Lai Châu khóa XIV đã tổ chức kỳ họp thứ nhất, để kiện toàn chức danh lãnh đạo chủ chốt của HĐND và UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Cụ thể, các đại biểu HĐND tỉnh Tuyên Quang đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Tuyên Quang giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021.
Các đại biểu HĐND tỉnh đã bầu đồng chí Phạm Thị Minh Xuân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy Yên Sơn và đồng chí Triệu Kim Long, Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh khóa XVII giữ chức Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021.
Ngay sau đó, kỳ họp đã tiến hành bầu các chức danh của UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016-2021. Theo đó, đồng chí Phạm Minh Huấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh khóa XVII tái cử giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021.
Các đồng chí: Nguyễn Đình Quang; Trần Ngọc Thực; Nguyễn Hải Anh tái đắc cử chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021.
Đồng chí Lê Thị Kim Dung, Giám đốc Sở Tài chính cũng đã được bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021.
Đối với tỉnh Lai Châu, các đại biểu HĐND tỉnh Lai Châu đã bầu đồng chí Vũ Văn Hoàn, Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Các đại biểu HĐND tỉnh Lai Châu đã bầu đồng chí Bùi Từ Thiện, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XIII và đồng chí Đoàn Đức Long, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giữ chức Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khoá XIV, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Cũng tại kỳ họp thứ nhất, HĐND tỉnh Lai Châu tiếp tục bầu các chức danh Chủ tịch UBND tỉnh, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Kết quả, đồng chí Đỗ Ngọc An, Phó Bí thư Tỉnh ủy tái đắc cử chức Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Các đồng chí: Giàng A Tính; Tống Thanh Hải; Lê Trọng Quảng tiếp tục tái đắc cử chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2016 – 2021. (Đảng Cộng Sản VN 30/6) đầu trang(
Ngày 29/6, HĐND tỉnh Hà Giang khóa XVII và HĐND tỉnh Cà Mau khóa IX đã tổ chức kỳ họp thứ nhất, để kiện toàn các chức danh chủ chốt của HĐND và UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Theo đó, tại kỳ họp thứ nhất của HĐND tỉnh Hà Giang khóa XVII, với tỷ lệ phiếu tín nhiệm cao, đồng chí Thào Hồng Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy được bầu làm Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Giang, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Đồng chí Chúng Thị Chiên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVI và đồng chí Hoàng Văn Vịnh, Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh khóa XVI được bầu làm Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Giang khóa XVII.
Đối với các chức danh của UBND tỉnh, các đại biểu HĐND tỉnh Hà Giang đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang nhiệm kỳ 2011 - 2016 tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Các đại biểu HĐND tỉnh cũng bầu 3 Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang nhiệm kỳ 2016 - 2021 gồm các đồng chí: Nguyễn Minh Tiến, Trần Đức Quý và đồng chí Hà Thị Minh Hạnh.
Cũng tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Cà Mau khóa IX nhiệm kỳ 2016 - 2021, đồng chí Trần Văn Hiện, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đắc cử chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Đồng chí Nguyễn Kiên Cường, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau khoá VIII và đồng chí Dương Huỳnh Khải, Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khoá IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Cũng tại kỳ họp, đồng chí Nguyễn Tiến Hải đã tái đắc cử Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Các đồng chí: Lâm Văn Bi, Trần Hồng Quân, Thân Đức Hưởng tái đắc cử chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Đồng chí Lê Văn Sử, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cũng được bầu giữ chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021. (Đảng Cộng Sản VN 29/6) đầu trang(
Ngày 29/6, HĐND tỉnh Điện Biên khóa XIV nhiệm kỳ 2016 -2021, tiến hành kỳ họp thứ nhất. Đồng chí Đỗ Bá Tỵ, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Trần Văn Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên dự và chỉ đạo kỳ họp.
Phát biểu tại phiên khai mạc, đồng chí Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: Xác định đúng tầm quan trọng của kỳ họp thứ nhất trong việc kiện toàn nhân sự HĐND, UBND theo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương.
Vì vậy từng đại biểu HĐND tỉnh Điện Biên nêu cao trách nhiệm, lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực để bầu vào các vị trí  lãnh đạo của HĐND và UBND tỉnh. Trong nhiệm kỳ HĐND cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động.
Không ngừng nâng cao chất lượng giám sát, quyết định và tiếp xúc cử tri. Hướng về cơ sở, tập trung vào những  vấn đề bức xúc trong đời sống kinh tế, xã hội của Nhân dân. Theo hướng cụ thể, thiết thực, mang lại hiệu quả vì lợi ích của Nhân dân.
Kỳ họp thông qua Báo cáo Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 trên địa bàn tỉnh; Báo cáo xác nhận tư cách 51 đại biểu HĐND tỉnh khóa XIV nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Tại kỳ họp lần thứ nhất HĐND tỉnh Điện Biên Khóa XIV đã bầu ông Lò Văn Muôn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh; Bà Giàng Thị Hoa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và ông Lê Trọng Khôi, Tỉnh ủy viên giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh. Bầu các chức danh: Trưởng, Phó ban các Ban: Kinh tế - Ngân sách; Văn hóa - Xã hội; Pháp chế; Dân tộc của HĐND Tỉnh khóa XIV nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Tại kỳ họp HĐND tỉnh Điện Biên cũng đã bầu ông Mùa A Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, tái cử giữ chức Chủ tịch UBND Tỉnh; bầu ông Lê Thành Đô, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các ông: Lò Văn Tiến, Tỉnh ủy viên; Lê Văn Quý, Tỉnh ủy viên tái cử giữ các chức vụ Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Điện Biên khóa XIV nhiệm kỳ 2016 -2021. (Đảng Cộng Sản VN 29/6) đầu trang(
Ngày 29/6, tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế khoá VII, các đại biểu đã bỏ phiếu bầu cử chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Theo đó, với số phiếu tín nhiệm tuyệt đối, đồng chí Lê Trường Lưu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế khoá VI tái đắc cử Chủ tịch HĐND tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Đồng chí Cái Vĩnh Tuấn, Giám đốc Sở Nội vụ và đồng chí Nguyễn Thị Ái Vân, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế khoá VII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Tại kỳ họp này, HĐND tỉnh đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Cao, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2011 - 2016 tiếp tục giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh khóa VII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Các đồng chí: Phan Ngọc Thọ, Nguyễn Dung, Đinh Khắc Đính và Nguyễn Văn Phương cũng tái đắc cử chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021.
HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng bầu Ủy viên UBND tỉnh gồm 20 thành viên là thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh. (Đảng Cộng Sản 29/6) đầu trang(
Sáng 29/6, HĐND tỉnh Hưng Yên khóa XVI nhiệm kỳ 2016-2021 tiến hành kỳ họp đầu tiên. Ông Đỗ Xuân Tuyên, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy được bầu làm Chủ tịch HĐND tỉnh. Ông Nguyễn Văn Phóng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh.
Trong diễn văn khai mạc kỳ họp, ông Đỗ Tiến Sỹ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hưng Yên khóa XV, chủ tọa kỳ họp, nêu rõ 3 nhiệm vụ quan trọng của kỳ họp đầu tiên HĐND tỉnh khóa mới là báo cáo kết quả công tác bầu cử, tiến hành bầu các chức danh của HĐND, UBND tỉnh và đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 6 tháng đầu năm, mục tiêu, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm.
Trong cuộc bầu cử vừa qua, gần 97% trong tổng số gần 930.000 cử tri toàn tỉnh Hưng Yên đã đi bỏ phiếu để bầu đủ 53 đại biểu HĐND tỉnh khóa XVI.
Tại kỳ họp thứ nhất, các đại biểu đã bầu ông Đỗ Xuân Tuyên, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy làm Chủ tịch HĐND tỉnh. 2 tân Phó Chủ tịch HĐND tỉnh là ông Đặng Minh Ngọc và ông Đỗ Xuân Sảng.
Phát biểu tại kỳ họp, ông Đỗ Xuân Tuyên hứa hẹn sẽ cùng HĐND tỉnh khóa mới nâng cao hiệu quả của các nghị quyết và chất lượng giám sát để đưa Hưng Yên phát triển hơn nữa.
Kỳ họp cũng tiến hành bầu ông Nguyễn Văn Phóng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, tái cử chức danh Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021. Các ông Đặng Ngọc Quỳnh, Nguyễn Duy Hưng, Nguyễn Minh Quang tiếp tục tái cử chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
Phát biểu tại kỳ họp, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phóng cam kết sẽ “phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong chính quyền các cấp và toàn xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, thực hiện có hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đề án xây dựng nông thôn mới, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững”.
Ngoài ra, các đại biểu cũng tiến hành bầu các chức danh của Ban Kinh tế ngân sách, Ban Pháp chế, Ban Văn hóa xã hội HĐND tỉnh, bầu 16 thành viên UBND tỉnh và 20 Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ mới.
Trước đó, ngày 27/6, hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên khóa XVIII đã bầu ông Đỗ Xuân Tuyên, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy làm Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy.
Ông Đỗ Xuân Tuyên sinh năm 1966, tốt nghiệp Học viện Quân y, từng đảm nhiệm các chức vụ Giám đốc Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên, Chủ tịch UBND thành phố Hưng Yên, Trưởng ban Tuyên giáo, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hưng Yên. (Đảng Cộng Sản 29/6) đầu trang(
Sáng 29/6, HĐND tỉnh Nghệ An khóa XVII tiến hành kỳ họp thứ nhất, bầu các chức danh chủ chốt của HĐND và UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Kết quả, đồng chí Nguyễn Xuân Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nghệ An được bầu giữ chức vụ Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Đồng chí Cao Thị Hiền, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVI và đồng chí Hoàng Viết Đường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh được giữ chức Phó Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Cũng tại kỳ họp, thực hiện công tác kiện toàn nhân sự chủ chốt UBND tỉnh nhiệm kỳ mới, các đại biểu tiến hành bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Theo đó, đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tái đắc cử chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Các đồng chí: Lê Xuân Đại, Lê Minh Thông, Đinh Viết Hồng, Huỳnh Thanh Điền và Lê Ngọc Hoa tái đắc cử chức vụ chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nhiệm kỳ 2016 - 2021. (Đảng Cộng Sản 29/6) đầu trang(
Ngày 29/6, tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Hải Phòng khóa XV, các đại biểu đã bỏ phiếu bầu cử chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND thành phố, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Theo đó, với số phiếu tín nhiệm tuyệt đối, đồng chí Lê Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố khóa XIV được các đại biểu HĐND thành phố bầu giữ chức Chủ tịch HĐND khóa XV, nhiệm kỳ 2016 - 2021. Các đồng chí: Nguyễn Đình Bích, Phó Chủ tịch HĐND thành phố khóa XIV và đồng chí Dương Ngọc Tuấn, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐND thành phố Hải Phòng, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Sau khi bầu các chức danh HĐND thành phố, các đại biểu đã tiến hành kiện toàn các chức danh UBND thành phố, nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Kết quả, với số phiếu tín nhiệm cao, đồng chí Nguyễn Văn Tùng, Phó Chủ tịch UBND thành phố được bầu là Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng khóa XV nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Các đồng chí: Lê Khắc Nam, Nguyễn Xuân Bình, Lê Thanh Sơn tiếp tục được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng khóa XV. (Đảng Cộng Sản VN 29/6) đầu trang(

KINH TẾ
Xét một cách tổng thể, VN và Liên minh kinh tế Á - Âu sẽ mở cửa thị trường hàng hóa chiếm đến 90% số dòng thuế, tương đương trên 90% kim ngạch thương mại song phương.
Bộ Tài chính vừa hoàn tất việc lấy ý kiến của các bộ ngành, doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân về dự thảo Nghị định của Chính phủ ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt khi Hiệp định Thương mại tự do VN - Liên minh kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA) có hiệu lực (dự kiến trong năm 2016).
Xét một cách tổng thể, VN và Liên minh kinh tế Á - Âu sẽ mở cửa thị trường hàng hóa chiếm đến 90% số dòng thuế, tương đương trên 90% kim ngạch thương mại song phương.
Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng thu thuế nhập khẩu của VN theo hiệp định này giảm khoảng 1 triệu USD/năm, phía Liên minh kinh tế Á - Âu giảm thu gấp 3 lần so với VN trong cùng giai đoạn.
Dự kiến, trong năm nay, sẽ có gần 5.000 dòng thuế sẽ về 0%, chiếm 52,4% tổng số các mặt hàng trong biểu thuế. Năm 2017, số dòng thuế 0% áp dụng như năm 2016. Năm 2018, có thêm 144 dòng thuế được cắt giảm về 0%, tăng tổng số dòng thuế nhập khẩu 0% của hiệp định lên 5.103 dòng, chiếm khoảng 54% tổng biểu. (Thanh Niên 30/6) đầu trang(
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2016 tiếp tục phục hồi nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn khá chậm. 2016 là năm còn nhiều khó khăn nên chưa thể kỳ vọng sự tăng trưởng đột phá, vì thế không chạy theo tốc độ tăng trưởng GDP bằng mọi giá.
Thay vào đó tập trung tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, đồng thời giải quyết những vấn đề đang tồn tại của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập.
Bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2016 chưa có dấu hiệu khởi sắc đáng kể, dù vẫn nối tiếp quá trình phục hồi tốc độ tăng trưởng từ năm 2013 đến nay. Điểm sáng nổi bật là kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 so với tháng 12-2015 tăng 2,35%, nhưng chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá một số lĩnh vực như y tế, giáo dục…
Tỷ giá ổn định; lãi suất cho vay có xu hướng giảm; thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng khá cao, kể cả đăng ký mới lẫn thực hiện. Theo số liệu 6 tháng đầu năm, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 11,28 tỷ USD, tăng 105,4% so với cùng kỳ năm 2015; tổng vốn FDI thực hiện 7,25 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ 2015.
6 tháng qua đã có gần 13.000 doanh nghiệp hoạt động trở lại sau thời gian tạm ngưng. Đặc biệt, những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ đã có tác dụng tích cực đối với thị trường.
Năm 2015 tăng trưởng GDP đạt 6,7%, mức tăng cao nhất trong 5 năm 2011-2015 (năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng 5,52%, năm 2013 tăng 5,42% và năm 2014 tăng 5,98%). Nhưng diễn biến tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm cho thấy, sự phục hồi tốc độ tăng trưởng trong năm đầu của kế hoạch 5 năm 2016-2020 không mấy lạc quan so với kỳ vọng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2016 cao hơn  2015.
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp chậm lại, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) chỉ tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (năm 2015 tăng 9,4%). Công nghiệp khai khoáng tăng trưởng âm 1,2%, công nghiệp chế biến cũng tăng trưởng chậm lại so với mức tăng 9,9% cùng kỳ của năm trước.
Sản xuất nông, lâm ngư nghiệp vẫn khó khăn do tác động tiêu cực cả thị trường lẫn điều kiện tự nhiên như hạn hán, xâm nhập mặn. Xuất nhập khẩu tăng trưởng khá chậm khi kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 5,9% so với cùng kỳ 2015; kim ngạch nhập khẩu giảm 0,5% (trong đó khu vực FDI giảm 1,8% và khu vực trong nước tăng 1,3%).
Kim ngạch nhập khẩu giảm có nguyên nhân giảm giá, nhưng chủ yếu vẫn do nhu cầu nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến và sức mua của thị trường tăng trưởng chậm.
Trong 5 năm qua, các chính sách và giải pháp Chính phủ thực thi đều kiên trì với 3 mục tiêu ưu tiên đề ra từ năm 2011: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường để có tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội.
Bên cạnh đó đã thực hiện thành công bước đầu tái cơ cấu 3 lĩnh vực ưu tiên: đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Song chủ yếu ứng phó các vấn đề ngắn hạn, chưa giải quyết  được căn cơ các vấn đề trung, dài hạn đang đặt ra từ nội tại của cơ cấu kinh tế. Tuy kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, nhưng thách thức đặt ra trong thời gian tới rất nhiều.
Theo đó, chúng ta vừa phải giải quyết những vấn đề đang tồn tại ngắn hạn, vừa phải thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn liên quan đến tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải quyết vấn đề suy giảm trong sản xuất nông nghiệp, chuẩn bị điều kiện để hội nhập khu vực và quốc tế, nhất là thực hiện các hiệp định kinh tế đa phương và song phương thế hệ mới.
Từ lâu chúng ta đã xác định nội lực của nền kinh tế là yếu tố quyết định thành công trong hội nhập. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009, đã lâm vào tình trạng bất ổn vĩ mô kéo dài, nội lực suy yếu, sự phục hồi chậm, nhất là khu vực kinh tế trong nước.
Song nguyên nhân sâu xa do duy trì quá lâu cơ cấu và mô hình tăng trưởng kinh tế thiếu tính cạnh tranh; đổi mới thể chế kinh tế chậm. Vì thế, điều cân nhắc lúc này là  không nên chạy theo tốc độ tăng trưởng GDP bằng mọi giá, thay vào đó nỗ lực tập trung giải quyết những những vấn đề tồn tại đang đặt ra của cơ cấu kinh tế.
Chúng ta không đối lập giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, vì nhiệm vụ của kinh tế vĩ mô phải bảo đảm 4 mục tiêu chính: GDP tăng trưởng cao và ổn định; kiểm soát được lạm phát; giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng xuất khẩu ròng.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay nên đặt mục tiêu trong 2 năm 2016-2017 giữ được tốc độ tăng GDP 6-6,5% và kiểm soát được CPI dưới 5%; hướng các chính sách vào mục tiêu tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng; cải cách thể chế, cơ cấu lại nợ công; tiếp tục quá trình tái cơ cấu 3 lãnh vực ưu tiên: đầu tư công; thị trường tài chính và doanh nghiệp nhà nước. Có vậy các năm tiếp theo mới có thể tăng trưởng cao và bền vững hơn, bảo đảm mục tiêu tăng GDP bình quân 6,5-7% trong cả giai đoạn 2016-2020.
Trong 20 năm qua, đặc biệt trong 15 năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã trải qua quá trình hội nhập khu vực và quốc tế đúng theo tinh thần chủ động và tích cực, hội nhập toàn diện với nền kinh tế toàn cầu. Tham gia sân chơi toàn cầu, cơ hội và thách thức luôn đan xen nên buộc kinh tế nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng phải biết lựa chọn những lợi thế, loại bỏ những bất lợi để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt trên cả 3 góc độ: cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Đồng thời, cần nhìn lại quá trình công nghiệp hóa đất nước gắn với quá trình hội nhập trong gần 20 năm qua, để nhận diện những thách thức từ nội tại của nền kinh tế, đối chiếu với những chủ trương và giải pháp đang thực thi, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây chính là những giải pháp để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong hội nhập. Dòng chảy hội nhập thế hệ mới, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ chính là cơ hội đang mở ra cho nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam.
Đánh giá tình hình kinh tế năm 2015, Chính phủ cũng đã nêu rõ 9 nhóm vấn đề còn hạn chế, yếu kém, trong đó đang tồn tại các vấn đề đáng lưu ý như: kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; cân đối ngân sách nhà nước còn khó khăn, bội chi còn cao; nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn; chất lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém còn khó khăn; huy động nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước còn hạn chế; tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm…
Dù khó khăn nhưng Chính phủ không điều chỉnh mục tiêu kế hoạch, mà quyết tâm phấn đấu thực hiện như Nghị quyết của Quốc hội đã đề ra: “Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015, chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững.
Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao  năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp…”.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, trong năm 2016 Chính phủ vẫn kiên trì áp dụng chính sách nhằm tăng cường các yếu tố ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời có sự linh hoạt hơn về chính sách tài khóa và tiền tệ, hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông nghiệp, nông thôn, lĩnh vực xuất khẩu.
Trong đó, tập trung những giải pháp chủ yếu: (1) Điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, nhất là tỷ giá, lãi suất; tăng trưởng tín dụng, xử lý nợ xấu, nợ đọng  xây dựng cơ bản, nợ đọng thuế và kiểm soát chặt chẽ nợ công; cơ cấu lại thu chi ngân sách nhà nước, triệt để thực hành  tiết kiệm. (2) Tập trung tháo gỡ khó khăn cho khu vực kinh tế trong nước; thực hiện các giải pháp có hiệu quả hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất; tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường, cải thiện môi trường đầu tư… (3) Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. (4) Đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, gian lận thương mại; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng… (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 30/6) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Cần tính đến một phương án tất cả các nước ở Biển Đông có vùng biển bị Trung Quốc đưa vào phạm vi “đường lưỡi bò”, cùng kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế - PGS. TS, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân kiến nghị.
Việc Trung Quốc vi phạm UNCLOS 1982, vi phạm DOC, trì hoãn đàm phán thực chất COC, trắng trợn hạ đặt giàn khoan vào sâu vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, phớt lờ phản ứng của cộng đồng quốc tế…, báo hiệu một tương lai khó xác định về hiện thực hóa và tính màu nhiệm của COC.
Các nước ASEAN (và cộng đồng quốc tế) cần nhận rõ những thủ đoạn trên, để tìm ra những biện pháp hiệu quả ngăn cản chiến lược của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông. ASEAN cần và có thể thực hiện một số biện pháp sau để hạn chế tham vọng của Trung Quốc:
Hơn lúc nào hết, ASEAN cần có nhận thức đi cùng một quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao hơn. Trong số các nước có yêu sách đòi chủ quyền ở Biển Đông, thì bốn nước ASEAN (gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei) có tranh chấp trực tiếp tại vùng biển này.
Các nước khác như Indonesia, Singapore Thái Lan và Campuchia là những nước nằm ven bờ Biển Đông, đều chia sẻ lợi ích chiến lược to lớn, cả kinh tế, tự do thương mại, lẫn an ninh và quốc phòng. Tuy Mi-an-ma không nằm trên bờ Biển Đông, nhưng Biển Đông là con đường thông thương hàng hải thuận lợi nhất cho nước này trong phát triển quan hệ với các nước ven bờ Thái Bình Dương, khi tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây thuộc Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng trở nên thuận tiện, thì lợi ích của Mi-an-ma sẽ được nhân lên nhiều lần.
Tuy không có biển, nhưng Lào cũng được hưởng lợi lớn khi sử dụng giao thông hàng hải cũng như được tham gia đánh bắt lượng hải sản dư thừa sau khi Việt Nam hoàn thành tính toán nhu cầu, mức độ, khả năng đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông.
Do vậy, một khi tranh chấp Biển Đông leo thang không chỉ đe dọa lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước ASEAN ven bờ, mà còn làm xấu đi môi trường hợp tác và phát triển của toàn khối, nhất là quan hệ của ASEAN và các nước thành viên với các đối tác bên ngoài, trước hết là với Trung Quốc, Nhật Bản v.v...
Các nước Đông Nam Á, nhất là các nước có yêu sách chủ quyền, dù muốn hay không, đều phải dành ngân sách nhiều hơn cho chi phí quốc phòng, làm gia tăng cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến đầu tư phát triển kinh tế, mà còn làm tăng nghi kỵ về an ninh.
Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là ASEAN đang nỗ lực hiện thực hóa Cộng đồng, trong đó có Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC) vào cuối năm 2015. Những nội dung và phương thức xây dựng APSC như "xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử" và hợp tác, tìm kiếm, thiết lập các định chế để "ngăn ngừa xung đột" trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài được xác định rõ trong Kế hoạch hành động năm 2004 và trong Kế hoạch Tổng thể APSC năm 2009.
Như vậy, việc tham gia giải quyết mâu thuẫn, tạo lập các cơ chế để củng cố lòng tin, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi của ASEAN. Mỗi thành viên ASEAN phải coi đây là lợi ích của chính mình, phải coi lợi ích của toàn Hiệp hội gắn liền với lợi ích quốc gia mình.
ASEAN cần thống nhất, đoàn kết hơn nữa trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, tránh ngón đòn “chia để trị” của Trung Quốc.
Chính sự thiếu gắn kết, thống nhất về lập trường chung và thái độ “cầm chừng” của ASEAN và một số nước thành viên trong việc thực thi các thỏa thuận đã ký kết ở cấp độ khu vực và toàn cầu liên quan đến Biển Đông (như DOC), hay UNCLOS 1982 cũng như việc chậm thông qua và ban hành COC đã và đang cản trở hiện thực hóa COC và là sự “ngầm khuyến khích” những hành động trắng trợn, ngang ngược của Trung Quốc muốn dùng vũ lực để thay đổi hiện trạng như thời gian vừa qua.
Hơn nữa, việc tham gia ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông còn giúp ASEAN duy trì và củng cố vai trò trung tâm, động lực thúc đẩy, kết nối, kiến tạo các cơ chế hợp tác đa phương ở châu Á - Thái Bình Dương, nhất là vai trò của ASEAN trong Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF),Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN và các nước đối tác (ADMM+).
Điều đó làm tăng sức đề kháng của ASEAN và các nước thành viên trước sức ép gia tăng về địa - chính trị do cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trước hết là giữa Mỹ và Trung Quốc; đồng thời làm tăng sức hấp dẫn và tính hiệu quả của ASEAN và các nước thành viên trong việc mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài, đưa vị thế của ASEAN lên tầm cao mới, củng cố vị thế của ASEAN như là một nhân tố không thể thiếu trong kiến tạo môi trường hòa bình, cũng như các cơ chế hợp tác đa phương đã và đang hình thành ở khu vực.
Như vậy, việc ASEAN tham gia giải quyết mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông đạt được ba mục đích: (i) góp phần hiện thực hóa APSC; (ii) hạn chế ASEAN và các nước thành viên rơi vào vòng xoáy cạnh tranh địa - chính trị của các nước lớn, duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang hình thành và (iii) góp phần giảm thiểu thế độc quyền chiến lược của một số nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc, ở khu vực này, làm tăng phần hợp tác, chia sẻ lợi ích giữa họ và giữa họ với các nước ASEAN. Kết quả đó đã và sẽ góp phần củng cố môi trường hợp tác và an ninh khu vực, trong đó chủ quyền quốc gia - dân tộc của các thành viên ASEAN sẽ được tôn trọng. Như vậy, có thể nói, việc ASEAN tham gia giải quyết mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông vừa là trách nhiệm, vừa là lợi ích chiến lược của tổ chức này cũng như của mỗi quốc gia thành viên. Đây cũng là một trong những phép thử đối với hiện thực hóa APSC.
Nếu nguyên tắc đồng thuận (concensus) phát huy tác dụng từ ngày ASEAN ra đời tới nay, thì gần đây nguyên tắc này đã bộc lộ những hạn chế, làm giảm tính tập trung, thống nhất mạnh mẽ cần có của Hiệp hội. ASEAN cần dũng cảm điều chỉnh nguyên tắc concensus khi ra quyết định tập thể, coi đây là một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất để ASEAN đạt được thống nhất nội bộ trước khi giải quyết tranh chấp.
Đồng thời cần nghiên cứu áp dụng bổ sung cơ chế đảm bảo thống nhất, phát huy trách nhiệm và kế thừa liên tục chính sách chung của ASEAN qua các nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN theo kiểu “troika”. Hai nội dung cần đổi mới trên đây trước hết cần thiết cho các phương án đấu tranh về Biển Đông nói riêng cũng như cho việc xây dựng Cộng đồng ASEAN nói chung.
Từ Hội nghị Cấp cao ASEAN - 24 đến nay, ngày càng có thêm thành viên ASEAN thể hiện tiếng nói trách nhiệm trong vấn đề Biển Đông, chứng tỏ bước chuyển mạnh mẽ trong nhận thức về trách nhiệm chính trị và lợi ích chiến lược của Hiệp hội, bởi ngăn ngừa và quản lý xung đột ở Biển Đông là phép thử đối với sự tồn tại và phát triển ASEAN trong những năm sắp tới.
Các thành viên ASEAN không có yêu sách đòi chủ quyền cần ủng hộ lập trường mà các nước ASEAN có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei) đã thống nhất với nhau, nhằm tạo đồng thuận trong đàm phán đa phương.
Trong bối cảnh hiện nay, ASEAN cần chủ động đưa ra các sáng kiến mới, tạo dựng các cơ chế, hình thức hợp tác hòa bình mới. Việc đảm bảo tự do, an toàn, an ninh hàng hải, hàng không cho tất cả các nước có lợi ích ở Biển Đông sẽ cho phép các quốc gia thành viên ASEAN thúc đẩy “quốc tế hóa” vấn đề này.
Hiện nay, không ít quốc gia ngoài khu vực quan tâm đến tự do, an ninh hàng hải và hàng không. ASEAN cần chọn chủ đề “tự do an ninh hàng hải, hàng không” ở Biển Đông là khâu đột phá. Đây cũng là điều Trung Quốc lâu nay né tránh, nên rất ít khả năng Trung Quốc tham gia đàm phán.
Bốn nước (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei) nói riêng và khối ASEAN nói chung có thể mời các quốc gia có lợi ích liên quan đến an toàn hàng hải, hàng không ở khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc… tham gia đàm phán đa phương, tiến tới xây dựng một Thỏa thuận (hoặc Hiệp định) về đảm bảo an ninh hàng hải, hàng không ở Biển Đông.
Thỏa thuận (hoặc Hiệp định) này để ngỏ (mở) cho tất cả các nước trong và ngoài khu vực tham gia. Điều đó sẽ tạo tiền lệ quan trọng, làm cho Trung Quốc không thể đứng bên lề các cuộc đàm phán cũng như điều ước quốc tế này nếu Trung Quốc nghiêm túc mong muốn giải quyết các tranh chấp.
Như vậy, bằng cách đàm phán, ký điều ước quốc tế đa phương về các giải pháp đảm bảo tự do, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông, ASEAN và các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei có thể tạo tiền đề, xác lập các điều khoản cho cuộc đàm phán đa phương tương lai với Trung Quốc.
Trung Quốc luôn né tránh việc giải quyết vấn đề bằng luật pháp quốc tế, vì nước này chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông theo con đường song phương, loại trừ việc tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào khác. Đây là “điểm yếu” của Trung Quốc mà ASEAN cần triệt để khai thác.
Sử dụng công cụ pháp lý hiệu quả sẽ mở ra khả năng sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp, hoặc chí ít hạn chế các hành động gây hấn, các tuyên bố yêu sách vô lý không tuân thủ UNCLOS 1982.
Do vậy, không chỉ “quốc tế hóa” vấn đề an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, ASEAN (ít nhất là các nước có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc) không nên ngần ngại đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), hoặc Tòa Trọng tài thường trực (PCA) theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 (tùy thái độ của Trung Quốc), bởi không ít vùng biển tranh chấp trên thế giới không phân định được qua đàm phán, cuối cùng phải nhờ đến phán quyết của Tòa án, từ đó mới có ổn định bền vững.
Thực tế cho thấy, sau khi đã tiến hành các biện pháp hòa bình khác với Trung Quốc không đạt kết quả, tháng 1/2013 Philippines đã đi tiên phong trong việc cố gắng giải quyết tranh chấp một cách hòa bình bằng việc dựa vào luật pháp quốc tế, đơn phương kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài thường trực (PCA) theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Đây là lựa chọn khôn khéo, vì thủ tục tài phán mang tính bắt buộc khi các bên không đạt được thỏa thuận.
Ngay cả khi Trung Quốc tuyên bố không tham gia, điều này cũng không làm trì hoãn vụ kiện, Tòa trọng tài vẫn được thành lập và các thủ tục xét xử vẫn được tiếp tục. Trung Quốc không tham gia vụ kiện sẽ là bất lợi trong việc bảo đảm lợi ích của họ trên cơ sở luật pháp quốc tế trước Tòa. Về tính chất pháp lý, bản án của Tòa Trọng tài thường trực dựa trên quy định tại Điều 11 - Phụ lục VII của UNCLOS có tính chất tối hậu và không được quyền kháng cáo (trừ việc yêu cầu giải thích). Bản án của Tòa Trọng tài có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp.
Việc Philippines kiện Trung Quốc ra PCA theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 sẽ giúp một số thành viên ASEAN thêm kinh nghiệm đấu tranh giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Dẫu Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện thì thủ tục tố tụng vẫn được tiến hành và phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực (PCA) sẽ là cơ sở pháp lý để các nước ASEAN yêu cầu Trung Quốc tiến hành giải quyết tranh chấp trên thực địa.
Cần tính đến một phương án là tất cả các nước đòi chủ quyền trên Biển Đông, có vùng biển bị Trung Quốc đưa vào phạm vi “đường 10 đoạn”, cùng kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế. Đó có thể là cách duy nhất các nước bị Trung Quốc đe dọa đáp trả hành vi của Trung Quốc bằng công cụ pháp lý.
Sau sự kiện HD-981 tháng 5/2014, lòng tin vào những “cam kết” của Trung Quốc đã suy giảm nghiêm trọng, vì vậy Việt Nam nói riêng và các nước ASEAN nói chung tiếp tục kiên trì, kiên quyết đòi đàm phán đa phương với Trung Quốc để giải quyết các tranh chấp chủ quyền trên biển.
Nhưng trước khi đàm phán đa phương với Trung Quốc, các nước ASEAN có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông cần tiến hành đàm phán đa phương với nhau nhằm giải quyết tất cả các tranh chấp về các vùng biển, cần xác định rõ phạm vi chủ quyền và quy chế pháp lý đối với các vùng biển, thềm lục địa và các đảo ở quần đảo Trường Sa để xác định phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi nước trên cơ sở UNCLOS 1982, cũng như thống nhất phương án đàm phán với Trung Quốc.
Chắc chắn Trung Quốc sẽ phản đối đàm phán đa phương nội khối này, thậm chí gây thêm căng thẳng, phức tạp (chiếm một số đảo, bãi đá chìm, làm căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo v.v…). Nhưng thành công của đàm phán đa phương giữa các nước ASEAN có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông sẽ là minh chứng cho một cuộc đàm phán đa phương giải quyết các tranh chấp mà không có Trung Quốc tham gia.
Qua đây, các nước ASEAN sẽ có vị thế tốt hơn, làm cơ sở để thiết lập các điều khoản cho đàm phán tập thể với Trung Quốc cũng như kéo Trung Quốc vào đàm phán đa phương sau này.
Sau sự kiện HD-981, Việt Nam đã tận dụng các Diễn đàn khu vực, quốc tế, kể cả đề nghị cho lưu hành công hàm tại Đại hội đồng LHQ tố cáo hành động của Trung Quốc. Trên cơ sở kinh nghiệm này, ASEAN nên có phương án sẵn sàng gửi đề nghị của ASEAN lên Tổng Thư ký LHQ nếu tình hình tiếp tục căng thẳng hoặc có những phát sinh phức tạp mới, thậm chí nghiên cứu phương án đưa ra Đại hội đồng LHQ, để cả thế giới thấy được hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ của một nước lớn đang giữ vai trò quan trọng đối với hòa bình, an ninh thế giới.
Tại các diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Đối thoại Shangri-La…, nhiều tiếng nói ủng hộ lập trường "quốc tế hóa", giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và tự do hàng hải tại Biển Đông.
ASEAN cần tiếp tục sử dụng các diễn đàn này để buộc các bên liên quan tìm kiếm giải pháp duy trì hòa bình, qua đó đẩy mạnh “quốc tế hóa” phương cách giải quyết tranh chấp; đẩy mạnh truyền thông về vấn đề Biển Đông theo hướng vì lợi ích của cộng đồng khu vực. Đây chính là sự kết hợp sức mạnh của thời đại với sức mạnh của Hiệp hội để giải quyết vấn đề liên quan tới lợi ích chiến lược của ASEAN.
Bên cạnh đó, ASEAN cần cùng Trung Quốc đàm phán, ký kết về COC sớm chừng nào hay chừng ấy. Chúng ta thiếu cơ sở để kỳ vọng vào sự nhiệm màu của COC, nhưng cần kiên trì đấu tranh tìm mọi giải pháp, dù là nhỏ nhất, giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trước khi quá muộn.
Sự kiện HD-981 và những gì tiếp sau đó buộc các nước phải nhận thức rõ hơn chiến thuật của Trung Quốc hòng độc chiếm Biển Đông, cũng như cần có cách nhìn mới về quan hệ ASEAN - Trung Quốc. Giờ đây, ASEAN cần có những quyết sách và hành động hợp thời, hiệu quả, đồng thời kịp thời bổ sung, hoàn thiện cơ chế điều hành của Hiệp hội.
Việt Nam cần chủ động cùng một số thành viên chủ chốt phát huy vai trò trong ASEAN, đưa ra các sáng kiến củng cố đoàn kết, thống nhất nội khối, cũng như phối hợp thực hiện các bước đi đàm phán đa phương. Bên cạnh đó, Việt Nam kiên trì và kiên quyết phản đối yêu sách “đường 9 đoạn”, “đường 10 đoạn” của Trung Quốc, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đòi Trung Quốc rút hết giàn khoan và các tàu khỏi vùng biển Việt Nam; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, không để xảy ra xung đột; cũng như cảnh giác phòng ngừa các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, thậm chí có những hành động làm tổn hại lợi ích đất nước.
Đồng thời, cần chủ động hoàn chỉnh hồ sơ pháp lý về chủ quyền biển, đảo để bày tỏ quan điểm khi cần thiết; sẵn sàng tận dụng những lợi thế mà vụ kiện do Philippines khởi xướng mang lại. Việt Nam cần rà soát kỹ càng các mối quan hệ với Trung Quốc, hạn chế phụ thuộc quá nhiều về kinh tế vào nước lớn này, đồng thời vận dụng linh hoạt tất cả các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, đặc biệt tận dụng thế mạnh pháp lý và công luận để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng tại Biển Đông.
Tác giả PGS. TS. Nguyễn Hồng Quân là Thiếu tướng, Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược Quốc phòng - Bộ Quốc phòng. Bài viết được đăng lần đầu tiên trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (100), tháng 3/2015. (Viettimes 30/6) đầu trang(

MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Chủ tịch UBND tỉnh vừa có văn bản​ yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm túc chủ trương không dùng bia, rượu trong giờ hành chính và giờ nghỉ trưa của các ngày làm việc.
Cụ thể, yêu cầu thủ trưởng các sở, ban ngành, các huyện, thành phố tiếp tục quán triệt trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 31-CT/TU ngày 13/6/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, không dùng bia, rượu trong giờ hành chính và giờ nghỉ trưa của các ngày làm việc, ngày trực, khi tổ chức hội nghị, tổ chức lễ kỷ niệm, ngày truyền thống, đón tiếp khách (kể cả các đoàn khách đặc biệt và phục vụ công tác đối ngoại)… hay bất kỳ trường hợp ngoại lệ nào.
​Xử lý kỷ luật nghiêm các trường hợp t​ùy tiện dùng bia, rượu trong giờ hành chính và giờ nghỉ trưa của các ngày làm việc.
Thủ trưởng các sở, ban ngành và các đơn vị thuộc UBND tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và UBND xã, phường, thị trấn thuộc quyền quản lý tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc nội dung này. (Báo Quảng Ngãi 29/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
80% công ty được khảo sát ở Ấn Độ cho biết, từng là nạn nhân của gian lận trong năm 2015 - 2016, tăng từ 69% trong giai đoạn 2013 - 2014.
Báo cáo Gian lận Toàn cầu 2015 - 2016 thực hiện bởi Cơ quan Tư vấn giảm thiểu rủi ro Kroll, với sự trợ giúp của Economist Intelligence Unit, cho thấy, tình trạng gian lận tại Ấn Độ cao thứ 3 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát trên 6 lục địa, đứng sau Colombia (83%) và Châu Phi hạ Sahara (84%).
Cũng theo kết quả khảo sát, 1/4 số người được hỏi tại Ấn Độ cho biết bị tổn thất vì tham nhũng, hối lộ. Trong khi, mức trung bình toàn cầu, chỉ 11% các công ty báo cáo tham nhũng và hối lộ như một nguồn thất thu.
Báo cáo cũng chỉ ra, phạm vi ảnh hưởng của gian lận gia tăng trên toàn cầu, cộng thêm việc thiếu các biện pháp phòng ngừa tại các chính các công ty Ấn Độ và một hệ thống pháp luật yếu kém đã dẫn đến kết quả là 92% số người được hỏi cho rằng họ đã phải gia tăng sự tiếp xúc với gian lận.
Vấn đề gian lận trong mua sắm, đấu thầu cũng đang nhức nhối tại Ấn Độ. Các công ty ở quốc gia này cho biết, sự gian lận trong cung cấp, mua sắm làm ảnh hưởng tới 23% doanh thu của các công ty, cao hơn mức trung bình toàn cầu là 17%. (Thanh Tra 30/6) đầu trang(
Truyền thông Brazil ngày 28/6 cho biết cảnh sát nước này vừa phát giác một đường dây tham nhũng, rút ruột của Bộ Văn hóa khoảng 53 triệu USD.
Cảnh sát đã bắt giữ 14 đối tượng lạm dụng kẽ hở của một đạo luật liên quan đến tăng cường chi tiêu cho các hoạt động văn hóa. Cụ thể, những đối tượng này đã sử dụng ngân sách cấp cho các hoạt động quảng bá văn hóa để chi tiêu cho đảng phái và những đám cưới hoang phí.
Theo ông Rodrigo de Campos Costa  - một quan chức của Lực lượng chống tội phạm có tổ chức, cho biết những hành vi nói trên là sự vi phạm trắng trợn luật pháp, đồng thời tiết lộ Bộ Văn hóa đã phối hợp với các nhà điều tra để đảm bảo pháp luật đang phát huy hiệu quả đối với những mục đích đề ra nhằm thúc đẩy văn hóa trong nước.
Năm 1991, Brazil ban hành Luật Rouanet, cho phép các công ty sử dụng ngân sách để hỗ trợ các hoạt động văn hóa sẽ được miễn thuế. Các nhà điều tra cho rằng các nghi can đã sử dụng sai mục đích nguồn ngân sách vốn được sử dụng để hỗ trợ các dự án văn hóa.
Trong gần hai năm qua, Brazil đã rơi vào tình trạng tham nhũng tràn lan nhất là lĩnh vực dịch vụ công. Những vụ bê bối tài chính lớn cũng đã khiến nhiều quan chức cấp cao bị bắt giam và xét xử. Thậm chí, Tổng thống Brazil Dilma Rousseff cũng đang bị đình chỉ chức vụ từ hôm 12/5 do những cáo buộc bà đã vi phạm kỷ luật tài chính. (Thanh Tra 29/6) đầu trang(./.