|
Ngày 25 tháng 01 năm 2016
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
KINH TẾ
ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
NHÌN RA THẾ GIỚI
THỜI SỰ
"Tất cả ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư không được Trung ương giới thiệu đều đã rút hết. Vì ý thức Đảng của các đồng chí ấy rất cao và các đồng chí bày tỏ ý nguyện từ lâu rồi".
Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Quang Vĩnh thông tin như vậy với báo giới chiều 24-1.
Theo thông cáo của đại hội, trong ngày làm việc ngày 24-1, các đại biểu tiếp tục thảo luận về tiêu chuẩn, cơ cấu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; nghiên cứu danh sách đề cử của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (cả chính thức và dự khuyết); ghi phiếu ứng cử, đề cử; tiểu ban nhân sự nhận báo cáo của các đoàn về việc ứng cử, đề cử.
Đoàn thư ký đại hội cũng đã gửi xin ý kiến về dự kiến những vấn đề đại hội cần biểu quyết trong các văn kiện Đại hội XII.
Đến cuối giờ chiều 24-1, 68 trưởng đoàn đã báo cáo Đoàn chủ tịch về danh sách nhân sự xin rút.
“Tất cả ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư không được Trung ương giới thiệu đều đã rút hết. Vì ý thức Đảng của các đồng chí ấy rất cao và các đồng chí bày tỏ ý nguyện từ lâu rồi (từng xin rút tại Hội nghị Trung ương). Việc đồng ý cho rút hay không cho rút sẽ do đại hội quyết định” - Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Quang Vĩnh thông tin với báo giới.
Danh sách đề cử, các trường hợp xin rút khỏi danh sách đề cử Ban Chấp hành Trung ương sẽ được biểu quyết thông qua tại Đại hội XII của Đảng vào chiều nay 25-1. Sau đó đại hội bầu ban kiểm phiếu để sáng 26-1 tiến hành bỏ phiếu.
Để chuẩn bị cho việc “chốt” danh sách bầu cử, Đoàn chủ tịch thực hiện bốn bước theo quy trình công tác nhân sự tại đại hội.
Bước một: nghe 68 trưởng đoàn báo cáo về danh sách ứng cử, đề cử được các đại biểu ghi vào phiếu tại mỗi đoàn (nằm ngoài danh sách “cứng” 221 người do Ban Chấp hành Trung ương khóa XI giới thiệu).
Bước hai: thông báo tổng hợp danh sách bổ sung này đến 68 đoàn. Đại biểu ghi phiếu xin rút (nếu có).
Bước ba: họp để xem xét các trường hợp xin rút. Theo quy chế bầu cử tại đại hội, Đoàn chủ tịch lấy phiếu xin ý kiến đại hội đồng ý hoặc không đồng ý để các ứng cử viên xin rút.
Bước bốn: báo cáo đại hội về việc bầu cử, danh sách ứng cử viên và các trường hợp xin rút.
Số lượng ứng cử viên trong danh sách bầu phải nhiều hơn số lượng cần bầu với số dư tối đa không quá 30% (trong đó Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chuẩn bị số dư 10,5%).
Cụ thể danh sách “cứng” có 221 người gồm 199 ở “bảng” ủy viên Trung ương chính thức và 22 ở “bảng” ủy viên dự khuyết. Để đảm bảo số dư không quá 30%, danh sách bầu cử chỉ có thể bổ sung 39 người (thêm 35 vào “bảng” chính thức và thêm 4 vào “bảng” dự khuyết).
Nguồn tin cho biết tổng hợp phiếu đề cử từ 68 đoàn đại biểu dự đại hội cho thấy có 92 ứng cử viên được giới thiệu thêm vào danh sách Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Trong đó có 62 người được đề cử ủy viên Trung ương chính thức, 30 người được đề cử ủy viên Trung ương dự khuyết. Không có trường hợp nào ứng cử.
Như vậy số lượng đề cử đã vượt quá số dư 30%. Sau khi đại hội tiến hành thủ tục xin rút và đồng ý hoặc không đồng ý cho rút, nếu số dư vẫn vượt quá 30%, Đoàn chủ tịch sẽ lấy phiếu xin ý kiến đại hội để lấy người có số phiếu cao từ trên xuống (không cần phải quá bán) cho đến khi danh sách có đủ số dư tối đa theo quy định. (Tuổi Trẻ 25/1) đầu trang(
Sáng 24-1, Ủy viên trung ương Đảng Vũ Trọng Kim - Phó chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban trung ương MTTQVN đã có cuộc trao đổi với báo giới bên lề Đại hội Đảng XII.
Trả lời câu hỏi: “Trên mạng xuất hiện thông tin ngoài việc đề cử giới thiệu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tái cử khóa XII, hội nghị trung ương 14 còn giới thiệu ba vị trí chủ chốt còn lại, gồm: Chủ tịch nước là ông Trần Đại Quang, Thủ tướng là ông Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Ông có thể nói gì về điều này?”
Ông Vũ Trọng Kim nói: “Tôi xác nhận hội nghị trung ương đã xác định (quyết nghị) theo hướng đó”.
Cũng trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ, ông Vũ Trọng Kim xác nhận tỷ lệ phiếu giới thiệu tại hội nghị trung ương 14 đối với vị trí Tổng Bí thư của ông Nguyễn Phú Trọng là rất cao, hơn 75%.
Ngày 24-1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng bước sang ngày làm việc thứ 4.
Cả ngày, các đại biểu làm việc tại đoàn, thảo luận về tiêu chuẩn, cơ cấu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; nghiên cứu danh sách đề cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (cả chính thức và dự khuyết) do Ban Chấp hành Trung ương khóa XI chuẩn bị.
Sau đó, các đại biểu tiến hành ghi phiếu ứng cử, đề cử thêm nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (ngoài danh sách do Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đề cử).
Đoàn Chủ tịch Đại hội sẽ nghe các Trưởng đoàn đại biểu dự Đại hội báo cáo về danh sách ứng cử, đề cử (bổ sung) vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. (Tuổi Trẻ 24/1) đầu trang(
Sáng 23.1, tham luận tại Đại hội XII, Chủ tịch BCH T.Ư Hội Nông dân Việt Nam đã có bài phát biểu với chủ đề “Xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam vững mạnh, trong khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh”, trong đó chỉ rõ 4 vai trò và 5 nguy cơ và 8 nhóm giải pháp để nông dân Việt Nam không bị tụt hậu trong giai đoạn mới.
Nghiên cứu Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW khóa XI trình Đại hội XII lần này chúng ta thấy vấn đề “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ XHCN” là thành tố có vị trí thứ 2 trong tiêu đề của Báo cáo chính trị.
Điều này khẳng định, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ XHCN là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là giải pháp để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng nhằm “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; sớm đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” .
Do vị trí, vai trò quan trọng của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ XHCN, trong Báo cáo đã có 22 lần nhắc tới “đại đoàn kết toàn dân tộc” và viết thành một mục riêng, có nhận định, đánh giá, có phương hướng nhiệm vụ.
Trong nội dung này, Báo cáo nêu rõ “Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp dịch vụ.
Nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin..., cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”.
Vấn đề nêu trên là khẳng định sự nhất quán của Đảng ta “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”. Đây là một trong những nhân tố quan trọng làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc kháng chiến, trước đổi mới và trong đổi mới.
Bước vào thời kỳ CNH – HĐH, hội nhập và phát triển – vấn đề phát huy sức mạnh đoàn kết phải vừa kế thừa, vừa có bước phát triển mới về chất lượng, đó là nhằm “Tạo sinh lực mới cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Trong đó, giai cấp nông dân phải làm tròn trách nhiệm của mình với 4 vai trò chủ yếu sau đây:
Một là, Nông dân có vai trò là lực lượng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn..., sản xuất ra lương thực, thực phẩm, một số mặt hàng tiểu thủ công nghiệp...để nuôi sống xã hội, cung cấp một số hàng tiêu dùng, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp.
Hai là, Nông dân có vai trò là lực lượng sản sinh, gìn giữ, bảo tồn và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, bao gồm cả: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
Ba là, Nông dân có vai trò là nguồn nhân lực và là một lực lượng chính trị hùng hậu, có ở tất cả miền núi, biển đảo, trung du, đồng bằng, ven đô và đô thị nhỏ. Nông dân là nguồn chủ yếu cung cấp nhân lực cho bộ đội, công an, công nhân, đội ngũ trí thức, công chức, viên chức của đất nước. Lực lượng chính trị này, luôn trung thành và tự nguyện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời nông dân cũng luôn hăng hái thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng.
Bốn là, Nông dân có vai trò là lực lượng trọng yếu bảo vệ tài nguyên và môi trường của đất nước, bao gồm: đất đai, rừng, biển đảo, nước, khoáng sản...v.v.
Với 4 vai trò chính đó, chúng ta có thể khẳng định: Nông dân là lực lượng trọng yếu về: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh và sự nghiệp CNH – HĐH - Đô thị hóa đất nước.
Sau 30 năm thực hiện đổi mới và hội nhập thế giới, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, Nghị quyết, những chính sách lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân. Cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng để phát triển nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống nông dân.
Về nông dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp nông dân, Hội Nông dân Việt Nam bằng sự nỗ lực vượt khó và niềm tin với Đảng, Nhà nước, nông dân nước ta đã có những đóng góp to lớn, được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận. Vị thế, vai trò của người nông dân, giai cấp nông dân được nâng cao, mở rộng và tham gia ngày một nhiều vào công việc của Đảng, Nhà nước, địa phương và cộng đồng.
Nhờ vậy, sự nghiệp đổi mới của Đảng, của dân tộc 30 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, như: Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; cung cấp đủ và vượt lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước; 10 mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu xếp thứ hạng cao trên thế giới gồm: Gạo, hạt tiêu, hạt điều, cao su, cà phê, các sản phẩm về gỗ, thủy sản,…
Biên giới, đất liền, biển đảo được giữ vững, an ninh chính trị, an toàn xã hội; công cuộc xây dựng Nông thôn mới đạt kết quả ban đầu quan trọng và đã trở thành phong trào rộng lớn cuốn hút các lực lượng xã hội tham gia.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu xây dựng “mẫu hình người nông dân mới, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì vai trò, vị trí của nông dân, nông thôn đang cảnh báo có 5 nguy cơ sau đây:
1. Về địa vị, vai trò kinh tế của nông dân, nông thôn đang có biểu hiện giảm sút trong quá trình CNH - HĐH và Đô thị hóa. Không ít bộ, ngành và địa phương còn coi nông dân, nông nghiệp là "sân sau của công nghiệp, doanh nghiệp” nên việc đầu tư xã hội phát triển nông nghiệp giảm sút mạnh từ 32,4% của những năm 1989-1990 xuống còn 14,2% những năm 2005-2010 và chỉ còn 6,12% đến 6,06% những năm 2012 – 2014.
Cùng với khó khăn của tiêu thụ nông sản, đã làm cho kinh tế nông nghiệp chững lại, giảm sút và kéo theo là việc nông dân không được quyền “định giá nông sản”..., điều này đồng nghĩa với địa vị, vai trò kinh tế của nông dân giảm sút theo. Và dẫn tới thu nhập của nông dân cũng giảm, tạo ra tâm lý nông dân không muốn làm nông nghiệp.
2. Khoa học kỹ thuật nông nghiệp nhìn chung vẫn khó “thâm nhập vào nông dân”, phần lớn lao động nông nghiệp trẻ tìm cách ly quê, ly nông. Cùng với đất sản xuất nông nghiệp vẫn nhỏ lẻ, manh mún, nông sản giá thành cao, chất lượng thấp,… dẫn đến khả năng hội nhập kinh tế thế giới của nông dân, của nông nghiệp Việt Nam chậm, tụt hậu xa hơn đối với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
3. Quá trình Công nghiệp hóa, đô thị hóa trong 20 năm qua và những năm tới khả năng sẽ tiếp tục lấy đi đất sản xuất nông nghiệp, Đặc biệt là vùng đất 2 lúa, đất ven trục lộ giao thông, đất ven đô thị…; việc “đào tạo nghề cho lao động nông thôn” chất lượng thấp, môi trường nông thôn xuống cấp nghiêm trọng..., dẫn đến nông dân thiếu việc làm, nông thôn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.
4. Về văn hóa xã hội: nông dân đang mất dần năng lực sáng tạo văn hóa, bị cuốn theo lợi ích vật chất. Lối sống thực dụng “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, "sống chết mặc bay", đua theo lợi ích trước mắt mà buông lỏng vệ sinh an toàn thực phẩm, bất chấp sức khỏe người tiêu dùng. Văn hóa truyền thống “tình làng, nghĩa xóm” bị suy giảm. Một bộ phận nông dân trẻ có lối sống đua đòi, hưởng thụ cao hơn lao động, xa dần văn hóa, nghệ thuật dân gian, lịch sử dân tộc và luôn mong muốn từ bỏ nguồn gốc “nông dân” của mình.
5. Nông dân đang bị phân hóa giàu nghèo và xu thế ngày càng tăng. Trước đổi mới khoảng cách là 3,5 lần; đầu đổi mới 5,6 lần; hiện tại khoảng 10,2 lần.
Để đạt được mục tiêu “người nông dân là chủ thể của quá trình sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”, thực hiện thành công CNH - HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam đã nêu trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII này; chúng tôi xin kiến nghị 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giai cấp nông dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc như sau:
Một là, vừa qua chúng ta đã tập trung nhiều cho phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, tới đây cần tiếp tục cụ thể hóa chương trình, nội dung trung hạn, dài hạn xây dựng giai cấp nông dân gắn liền với phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 – BCH Trung ương Đảng (khóa X) về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trong đó trọng điểm là đến năm 2020, phải nâng mức thu nhập của nông dân lên gấp 2,5 lần so với năm 2008 và tăng dần vào những năm tiếp theo. Đây là nền tảng, là điều kiện tiên quyết để nâng cao dân sinh, dân trí, dân luật, dân chủ cho nông dân.
Hai là, đầu tư cho “Tam nông” phải duy trì đúng theo Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X), bảo đảm giai đoạn 5 năm sau gấp 2,5 lần 5 năm trước. Xin có lời giải cho câu hỏi: làm thế nào và bằng cách nào để nâng cao đầu tư xã hội cho "tam nông"? Cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực nên tập trung vào các vấn đề then chốt mà người nông dân sản xuất nhỏ đang mong đợi, gồm:
- Công nghiệp và phương tiện lưu giữ, bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch.
- Xây dựng thương hiệu, thông tin thị trường.
- Hạ tầng cơ sở vật chất cho vùng miền theo quy hoạch sản xuất.
- Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khoa học kỹ thuật tiên tiến và liên kết sản xuất, tiêu thụ.
Ba là, trong tái cơ cấu nông nghiệp chú trọng rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành, hàng sản xuất theo thế mạnh của vùng miền, địa phương và đặc điểm đất, sinh thái cây trồng vật nuôi gắn với phát triển công nghệ cao, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ cho phù hợp. Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành theo quy hoạch, kế hoạch.
Bốn là, tập trung giải quyết khó khăn, tạo sức bật cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn bằng 3 biện pháp mạnh, có tính đột phá gồm: Khoa học kỹ thuật; An toàn vệ sinh thực phẩm và cung cấp thông tin thị trường, giá cả; gắn liền với mở rộng, phát triển thị trường tiềm năng có giá trị sinh lời cao như: Châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật… hạn chế thị trường dễ tính, giá rẻ và bấp bênh.
Năm là, tổ chức lại sản xuất nông nghiệp bằng tăng cường liên kết, nâng qui mô, phát triển kinh tế hợp tác theo chuỗi giá trị sản phẩm, ngành hàng theo thế mạnh vùng, miền. Hướng trọng tâm nông sản vào xuất khẩu, có sức cạnh tranh cao. Gắn tổ chức sản xuất kinh tế hợp tác với đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt là nghề trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản.
Sáu là, mở rộng, nâng cao chất lượng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, có lộ trình thích hợp để nông dân tham gia và được hưởng lương hưu; đồng thời, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng bền vững công cuộc xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh, là chiếc nôi thân yêu, nuôi dưỡng tâm hồn đẹp, cao quý của người nông dân Việt Nam.
Bảy là, tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng giáo dục, dạy nghề, đưa thông tin về cơ sở tới từng địa bàn dân cư; nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm dạy nghề, coi trọng hình thức "nông dân dạy nông dân", làm tốt công tác tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân. Qua đó, để nông dân chủ động, tham gia nhiều hơn vào giám sát hoạt động đối với cán bộ, đảng viên, cơ quan công quyền và xây dựng chính sách pháp luật của nhà nước; tự tin bảo vệ quyền và nghĩa vụ, lợi ích của công dân theo Hiến pháp, pháp luật.
Tám là, Tổng kết lý luận gắn thực tiễn, đề ra các tiêu chí cụ thể và chỉ đạo xây dựng mẫu hình " người nông dân mới" trong thời kỳ CNH, HĐH với các tiêu chí "nhận thức mới, kiến thức mới, ý thức mới, văn hóa mới , quyết tâm mới để có đời sống cao hơn và để xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. (Dân Việt 23/1) đầu trang(
Cả hai vị tân Chủ tịch Hà Nội và Tp.HCM đều có tham luận trong sáng 22/1, đưa đến Đại hội 12 những góc nhìn về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đi vào cuộc sống, vấn đề mấu chốt là phải hoàn thiện thể chế, Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung trình bày tham luận.
Đảng bộ Hà Nội xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phải tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Chung phát biểu.
Theo ông, Hà Nội đã vận dụng sáng tạo kinh tế thị trường, thông qua việc thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ, vững chắc các loại thị trường.
Trong đó, sớm hình thành một số thị trường mới, như thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, thị trường mua bán nợ, thị trường ý tưởng mới và tri thức, thị trường khoa học và công nghệ…
“Đặc biệt, thời gian qua, Hà Nội đã rất chú trọng tới việc đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo bước chuyển biến mạnh về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức; cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư bảo đảm thông thoáng, minh bạch, bình đẳng, phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh trên địa bàn Thủ đô”, ông Chung trình bày.
Trình bày tham luận của đoàn đại biểu Đảng bộ Tp.HCM, Chủ tịch Nguyễn Thành Phong nhìn nhận, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố là đô thị đặc biệt. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế còn chậm, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế chưa cao.
Thành phố đã đề ra nhiều giải pháp khắc phục, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các động lực phát triển mang tính đột phá”, ông Phong nói.
Ông đề cập nội dung chính yếu thứ nhất là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, cần ưu tiên cho chất lượng tăng trưởng thay vì tốc độ tăng trưởng.
Bản tham luận nêu rõ, Tp.HCM cùng với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một địa bàn có rất nhiều tiềm năng và lợi thế. Tuy nhiên, chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy và khai thác có hiệu quả những tiềm năng và lợi thế ấy.
Vì vậy, trong thiết kế cơ chế, chính sách, rất cần chú trọng vào hình thành các động lực, phù hợp với điều kiện từng vùng miền, tạo không gian chủ động cho các địa phương.
Ông Phong nhấn mạnh, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần tạo đột phá trong cải cách hành chính và tài chính công; quy định minh bạch ba cơ chế về phân quyền, phân cấp và ủy quyền cho địa phương; đồng thời tạo cơ chế để tăng cường hiệu lực kiểm tra, thanh tra của Chính phủ đối với chính quyền địa phương. (Vneconomy 22/1) đầu trang(
“Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, chưa bao giờ trong tâm hồn người Việt biển lại gây xôn xao đến vậy”, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi, ông Lê Viết Chữ nói trước Đại hội 12, sáng 22/1.
Phát triển kinh tế biển đảo gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia là chủ đề tham luận ông Chữ mang đến Đại hội lần này, trong bối cảnh biển Đông đang diễn biến phức tạp, như nhận định tại văn kiện Đại hội.
Sự xôn xao nói trên, theo Bí thư Quảng Ngãi, không chỉ gợi lên chút lãng mạn trong thi ca, âm nhạc hay trong đời sống mưu sinh thường nhật của người dân, mà đã được nâng lên thành tầm “chiến lược quốc gia”, gắn với “vận hội” của dân tộc, đất nước. Lớn lao và trọng đại, nhưng mộc mạc và giản dị: sống nhờ biển, giàu lên từ biển nên ta phải bám biển, giữ biển.
Nói cách khác, phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia là chủ trương lớn, là chiến lược nhất quán, là sự nghiệp lâu dài của Đảng, Nhà nước và nhân dân, ông Chữ diễn giải.
Vị bí thư của tỉnh miền Trung khẳng định: trong tâm thức mỗi cán bộ, đảng viên và 1,3 triệu người dân Quảng Ngãi, biển là một phần máu thịt, quý giá và thiêng liêng.
Về lịch sử bảo vệ chủ quyền, theo ông Chữ, không một người dân nào trên quê hương Quảng Ngãi không xúc động bùi ngùi, thương cảm và tự hào mỗi khi khai hội khao lề, tế lính Hoàng Sa.
Nhiều thế kỷ trước, nhất là đầu thế kỷ 19, lớp lớp các thế hệ dân phu từ đảo Lý Sơn đến xã Bình Châu vâng lệnh các vua, chúa nhà Nguyễn lên đường ra Hoàng Sa và Trường Sa để thực thi chủ quyền, dựng bia cắm mốc và khai thác sản vật. Nhiều ngôi mộ gió và các kỷ vật, sắc chỉ, chỉ dụ của các triều vua còn lưu lại trên đảo Lý Sơn như minh chứng về chủ quyền của Tổ quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông Chữ phát biểu.
Bí thư Quảng Ngãi còn còn cho biết, trong những năm gần đây, mặc dù tình hình biển Đông diễn biến phức tạp, ngư dân Quảng Ngãi vẫn quyết tâm bám biển, khai thác các ngư trường truyền thống Hoàng Sa - Trường Sa.
Con số cụ thể hơn được ông nêu tại tham luận là từ tháng 5/2014 đến hết tháng 12/2015, có 135 tàu với 1.626 lượt ngư dân bị nước ngoài bắt giữ, ngăn cản, đập phá, xua đuổi, cướp tài sản.
Quảng Ngãi đã phối hợp với các bộ, ngành Trung ương đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, gìn giữ hòa bình, ổn định an ninh trên biển, Bí thư Quảng Ngãi thông tin.
Trong những nhiệm vụ chủ yếu thời gian tới, ông Chữ cho biết sẽ quy hoạch và xây dựng Lý Sơn thành huyện đảo du lịch mạnh về kinh tế, vững chắc về quốc phòng, an ninh, đảm nhiệm vai trò quan trọng trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Triển khai dự án khu bảo tồn thiên nhiên biển, xây dựng cảng Bến Đình, lập hồ sơ trình Chính phủ công nhận đảo Lý Sơn là di sản văn hóa cấp quốc gia đặc biệt, khu vực Lý Sơn - Bình Châu là công viên địa chất toàn cầu.
Quãng Ngãi cũng đề nghị Trung ương hỗ trợ tỉnh xây dựng đảo Lý Sơn trở thành một đô thị biển hiện đại với thế mạnh vượt trội là kinh tế du lịch, thủy sản; đồng thời là một cứ điểm quân sự trọng yếu trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Theo ông Chữ, cần tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo và vùng ven biển, đảm bảo an sinh xã hội để người dân ra định cư lâu dài trên các đảo; đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật quân sự hiện đại cho lực lượng hải quân, biên phòng, cảnh sát biển để ngăn ngừa, đấu tranh ngăn chặn tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự vùng biển, bảo vệ ngư dân sản xuất trên biển và sẵn sàng tác chiến thắng lợi trong mọi tình huống. (Vneconomy 23/1; Thanh Niên 23/1) đầu trang(
“Chúng tôi đang chuẩn bị để nhất thể hóa chức danh Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND ở 25% các huyện và 50% các xã', bà Đỗ Thị Hoàng, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ninh cho biết.
Tại Đại hội Đảng XII, bà Đỗ Thị Hoàng cho biết tỉnh đã thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế”, với 6 nhóm giải pháp.
Trong đó, giải pháp đầu tiên là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đáng chú ý của nhóm giải pháp này là mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng và công tác tổ chức cán bộ; bảo đảm khách quan, minh bạch trong lựa chọn, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; mở rộng chất vấn trong Đảng, tăng cường đối thoại, chủ động nắm bắt và tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giải pháp khác là sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm đầu mối, tránh trùng chéo.
Kết quả, đến nay đã giảm 2 đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh; 91 phòng, đơn vị, đầu mối trực thuộc các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và các địa phương; tập trung được sự lãnh đạo, chỉ đạo và nguồn lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy.
Bên cạnh đó, tỉnh cải cách hành chính theo hướng tách dần dịch vụ công ra khỏi quản lý nhà nước; Nhà nước giữ vai trò tạo lập môi trường cho doanh nghiệp, nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, gần 100% các thủ tục được thực hiện trực tiếp tại Trung tâm phục vụ hành chính công; 99,5% số hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn; trên 98% người dân và doanh nghiệp được khảo sát có ý kiến hài lòng…
“Chúng tôi đang chuẩn bị để nhất thể hóa chức danh Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND ở 25% các huyện và 50% các xã; nhất thể hóa người đứng đầu các tổ chức có chức năng, nhiệm vụ tương đồng như Trưởng ban Dân vận sẽ kiêm Chủ tịch MTTQ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra kiêm Chánh thanh tra, Trưởng ban Tuyên giáo kiêm Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Trưởng ban Tổ chức kiêm Trưởng phòng Nội vụ ở 34 - 70% các huyện...”, bà Đỗ Thị Hoàng cho biết. (Thanh Niên 23/1, Tr3) đầu trang(
“Chúng ta không bao giờ nhân nhượng về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, không ai cho phép nhân nhượng”, Thượng tướng Võ Tiến Trung, Giám đốc Học viện Quốc phòng trao đổi với báo chí bên lề Đại hội 12.
Ông Trung khẳng định quan điểm của Đảng là mọi vấn đề tranh chấp cần giải quyết bằng con đường hòa bình, hữu nghị, càng hòa bình hữu nghị càng giữ vững được đất nước.
Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta không sẵn sàng để trong trường hợp không giữ vững được đất nước bằng con đường hòa bình, không thương thảo được để giữ hòa bình, thì buộc chúng ta phải bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự.
Chúng ta hoàn toàn mong muốn tự vệ, giữ nước bằng con đường tự vệ hoàn toàn, chúng ta không đe dọa ai, sử dụng vũ lực với bất cứ một trường hợp nào, trừ trường hợp họ buộc chúng ta phải cầm súng, nếu họ tiến công xâm lược chúng ta thì lúc đó chúng ta buộc phải cầm súng, ông Trung nói.
Dân tộc ta đã hy sinh, tổn thất quá nhiều trong chiến tranh rồi, hơn ai hết ta yêu chuộng hòa bình. Nhưng trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, không ai có quyền nhân nhượng. Ta bình tĩnh giải quyết bằng con đường hòa bình, thương thảo, hữu nghị, ngoại giao, pháp lý, chứ không bao giờ nhân nhượng, tướng Trung nêu rõ quan điểm.
Về tham luận của Đại tướng Ngô Xuân Lịch có nhắc đến việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí hiện đại, Thượng tướng Võ Tiến Trung nói: “Chúng ta muốn bảo vệ Tổ quốc thì ngoài việc bỏ tiền ra của dân đi mua sắm trang bị những vũ khí hiện đại của nước ngoài thì phải tự chủ bằng trí tuệ người Việt Nam, bằng khả năng công nghiệp Việt Nam.
Chúng ta từng bước nghiên cứu những vũ khí công nghệ cao để trang bị cho quân đội. Hiện nay ta đủ vũ khí bộ binh, trang bị cho tất cả lực lượng lục quân rất hiện đại. Ta đã nghiên cứu ra phương tiện để trang bị cho lực lượng thông tin hiện đại ngang với các nước tiên tiến nhất hiện nay.
Như vậy thì thì hà cớ gì trí tuệ người Việt không nghiên cứu ra vũ khí hiện đại hơn, có công nghệ cao hơn để phòng thủ đất nước, tức là chúng ta phải có vũ khí tự vệ”.
Ta cố gắng bao nhiêu nhưng thực lực vẫn không thể nào bằng một số nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, về trang thiết bị, vũ khí. Là một sĩ quan quân đội, ông nghĩ sao? Thượng tướng Võ Tiến Trung trả lời: “Trong cuộc đấu trí và đấu lực, vũ khí trang bị là một mặt thôi, là yếu tố hết sức quan trọng, bên cạnh yếu tố con người, yếu tố chính trị.
Ta có chính nghĩa, ta bảo vệ Tổ quốc của mình, ta tự vệ. Vì vậy ta sẽ được cả thế giới, dư luận tiến bộ, yêu chuộng hòa bình đứng về phía ta.
Tuy vũ khí của ta hiện đại nhưng số lượng ít, và có những vũ khí ta không hiện đại bằng họ, nhưng với tinh thần con người Việt Nam, với trách nhiệm tự vệ, ta có sức mạnh về chính trị. Hai yếu tố này hòa quyện tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Ta có bán hết đất nước này để mua vũ khí - tất nhiên ta không làm điều đó - thì ta vẫn không thể bằng các nước lớn. Ta chiến đấu tự vệ, vì vậy ta mua sắm vũ khí trang bị vừa phải, đúng với khả năng của nền kinh tế.
Chúng ta không vào cuộc đua vũ trang, không so sánh mình với Trung Quốc. Ta luôn chủ trương coi Trung Quốc là đối tác chiến lược, là bạn bè, cùng nhau giữ hòa bình trên biển”. (Vneconomy 23/1) đầu trang(
Tham luận tại Đại hội XII sáng 23-1, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu rõ tranh chấp trên Biển Đông diễn biến gay gắt, phức tạp.
Sáng 23-1, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã trình bày tham luận “Đưa quá trình hội nhập quốc tế vào chiều sâu, phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế quốc tế Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (Đại hội XII).
Nêu bật những thành tựu của công tác đối ngoại trong nhiệm kỳ 5 năm qua, Phó Thủ tướng cho biết hoạt động đối ngoại đã góp phần quan trọng duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước, thông qua việc đưa mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.
“Thiết lập thêm quan hệ đối tác chiến lược với 8 nước, quan hệ đối tác toàn diện thêm với 3 nước, nâng tổng số đối tác chiến lược lên 15 nước và tổng số đối tác toàn diện lên 10 nước, trong đó Việt Nam đã có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện với tất cả 5 nước uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc” - Phó Thủ tướng nêu rõ.
Bên cạnh đó, người đứng đầu ngành ngoại giao cho biết Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. “Chúng ta đã ký kết hoặc kết thúc đàm phán 4 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong tổng số 15 hiệp định thương mại tự do ta đã tham gia và đang đàm phán” - Phó Thủ tướng nói.
Phó thủ tướng nêu rõ công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, bảo vệ an ninh Tổ quốc. Theo Phó Thủ tướng, trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông, Việt Nam đã sử dụng triệt để các biện pháp chính trị - ngoại giao, thông qua song phương và đa phương, khu vực và quốc tế, kiên trì và kiên quyết trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thúc đẩy hợp tác hữu nghị, nỗ lực đối thoại nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề Biển Đông, đồng thời vẫn duy trì đoàn kết trong ASEAN, duy trì quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.
“Chúng ta đã tranh thủ được công luận quốc tế lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, phản đối các hành động vi phạm luật pháp quốc tế, bảo vệ hòa bình, ổn định, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc” - ông Phạm Bình Minh cho hay.
Phó Thủ tướng cho biết trong 5 năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đa phương với phương châm chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng”, qua đó góp phần quan trọng vào việc nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.
Nhìn nhận về 5 năm tới, Phó Thủ tướng cho rằng tình hình thế giới sẽ thay đổi nhanh, diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, các thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên gay gắt. “Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, đồng thời cũng là trọng điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất trắc. Tranh chấp trên Biển Đông diễn biến gay gắt, phức tạp” - ông Phạm Bình Minh nhìn nhận.
Để đưa hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu trong 5-10 năm tới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội… Phó Thủ tướng nêu bật 4 nhiệm vụ mà công tác đối ngoại sẽ tập trung thực hiện.
Thứ nhất, thực hiện triệt để phương châm “triển khai đồng bộ” các định hướng đối ngoại được Đại hội XII của Đảng thông qua, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, giữa các ngành, các cấp, các địa phương.
Thứ hai, trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác, nhất là các khuôn khổ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đảm bảo môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước, thúc đẩy quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.
Thứ tư, triển khai các định hướng lớn về hội nhập được nêu trong Văn kiện Đại hội, tập trung thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến 2020, tầm nhìn 2030... (Người Lao Động 23/1) đầu trang(
Thu ngân sách từ dầu thô đã giảm từ mức bình quân 5,2% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn dưới 1% hiện nay, dự toán 2016 là 0,9% GDP.
Đây là thông tin được Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn nêu tại tham luận về tái cơ cấu ngân sách Nhà nước, tại Đại hội Đảng lần thứ 12.
Thời gian qua, tốc độ thu ngân sách tăng đến 11% nhưng có chậm so với 5 năm trước (20%), theo ông Tuấn có nguyên nhân do tỷ trọng thu từ dầu thô và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm mạnh. Thu ngân sách từ dầu thô do giảm mạnh do sản lượng và giá không tăng, thậm chí giảm, còn thu từ xuất nhập khẩu giảm là do phải liên tục cắt giảm thuế để hội nhập.
Con số cụ thể được nêu tại tham luận là, giai đoạn 2006-2010, thu từ dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 11,1% GDP, giai đoạn 2011-2015 giảm còn khoảng 7% GDP, năm 2015 còn 5,3% GDP và dự toán 2016 là 4,3% GDP.
Trong đó, thu dầu thô giảm từ mức bình quân 5,2% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn dưới 1% hiện nay (dự toán 2016 là 0,9% GDP). Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm từ mức bình quân 5,9% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn 3,4% năm 2016.
Với giai đoạn 2016 - 2020, ông Tuấn nói, cân đối ngân sách Nhà nước tiếp tục khó khăn, khả năng thu tăng không lớn, trong khi áp lực chi ngày càng tăng. Để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, cần thiết phải tái cơ cấu ngân sách.
Cụ thể, phấn đấu tỷ lệ huy động vào ngân sách trên GDP bình quân khoảng 20-21% GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 19-20% GDP; tỷ trọng thu nội địa đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách Nhà nước.
Ông Tuấn cũng cho biết, trong giai đoạn tới, dự kiến sẽ điều chỉnh chính sách thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, xuất nhập khẩu... theo hướng khuyến khích doanh nghiệp, người dân tích tụ để đầu tư cho phát triển, bảo hộ hợp lý sản xuất - kinh doanh trong nước và phù hợp với cam kết quốc tế; tăng cường quản lý và điều tiết hợp lý đối với tài nguyên, khoáng sản, đất đai.
Đồng thời, phấn đấu đến hết năm 2018 cơ bản hoàn thành quá trình sắp xếp, tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này, tăng mức đóng góp cho ngân sách. Sử dụng một phần nguồn thu từ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp cho đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục...
Về tái cơ cấu chi ngân sách, Thứ trưởng Tuấn nêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng chi thường xuyên giảm khoảng 10% so với dự toán năm 2015. Qua đó góp phần tăng chi đầu tư phát triển từ mức 17% dự toán chi ngân sách năm 2015 lên trên 20%, đảm bảo các nghĩa vụ chi trả nợ đến hạn.
Để giảm chi thường xuyên, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế; chỉ tuyển dụng mới không quá 50% số biên chế đã thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định, ông Tuấn diễn giải.
Liên quan đến bội chi và nợ công, ông Tuấn cho biết sẽ giảm dần bội chi, tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2016-2020 theo quy định của Luật Ngân sách hiện hành bình quân khoảng 4,9% GDP. Tính theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (năm 2015) thì bình quân khoảng 4% GDP.
Việc cơ cấu lại ngân sách còn nhằm bảo đảm dư nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định. Đến năm 2020, nợ công không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.
Ông Tuấn nêu rõ, để giải quyết một cách căn bản các vấn đề nợ Chính phủ cần có các giải pháp tổng thể, tiếp tục điều chỉnh cơ cấu ngân sách nhà nước theo hướng tăng thu, tiết kiệm chi, giảm bội chi.
Đồng thời cần tái cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vay trung hạn và dài hạn với lãi suất phù hợp, rà soát để tái cơ cấu danh mục nợ nhằm kéo dài kỳ hạn nợ, giảm nghĩa vụ trả nợ lãi… kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh Chính phủ, các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng.
Bên cạnh đó là thống nhất công tác quản lý nợ nước ngoài, các khoản vay của Chính phủ vào một đầu mối nhằm theo dõi, quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đúng quy định. (Vneconomy 23/1) đầu trang(
Năm 2015, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt mức kỷ lục, 115 nghìn người, đưa tổng số lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài lên trên 500.000 người.
Thông tin này được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyển cho biết tại tham luận ở Đại hội Đảng lần thứ 12, sáng 23/1.
Bộ trưởng khái quát, năm 2015, cả nước có 52,9 triệu người có việc làm. Chuyển dịch cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế có chuyển biến tích cực, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm, năm 2015 còn 44,3% (giảm 4,4% so với năm 2010).
Đến cuối năm 2014, cả nước có trên 19 triệu lao động làm công ăn lương, chiếm trên 36% tổng số việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động vẫn luôn duy trì ở mức thấp, năm 2015 là 2,31%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,29%.
Cùng thời điểm cuối năm 2015, cả nước có trên 12,07 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, chiếm trên 23% lực lượng lao động.
Trong đó, tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên 11,85 triệu người, tăng trên 2,25 triệu người so với cuối năm 2010; tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên 223 nghìn người, tăng trên 148 nghìn người so với cuối năm 2010.
Nhiều con số khác cũng được Bộ trưởng đề cập, như cả nước hiện có gần 2,6 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội. Có trên 9,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 3,6 triệu người so với cuối năm 2010.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã phát huy tác dụng trong bối cảnh kinh tế khó khăn vừa qua: từ tháng 1/2011 đến cuối năm 2015 có trên 2,07 triệu lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp; trên 1,7 triệu lượt người tư vấn, giới thiệu việc làm; trên 122 nghìn lượt người được hỗ trợ học nghề..., Bộ trưởng khái quát.
Bên cạnh kết quả, Bộ trưỡng cũng nhìn nhận một số thách thức của việc đảm bảo an sinh xã hội hiện nay. Đó là, chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động. Hay, đa số lao động phi chính thức chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
Bộ trưởng cũng đánh giá, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, năm 2015 là 44,3%.
Chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở (có bằng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%. (Vneconomy 24/1) đầu trang(
Chiều 23/1, Đại hội Đảng lần thứ 12 nghe báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khoá 12.
Sau đó, Đại hội tiến hành thảo luận và biểu quyết về số lượng Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ mới.
Theo thông tin trước Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 dự kiến có 200 vị, gồm 180 uỷ viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết (khoá 11 có 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết). Số lượng tái cử dự kiến khoảng 55-60% (đổi mới khoảng 40-45%).
Theo chương trình Đại hội, sáng Chủ Nhật (24/1), các đoàn đại biểu thảo luận về tiêu chuẩn, cơ cấu Ban Chấp hành Trung ương khoá mới. Tại đây, các vị trưởng đoàn phổ biến về báo cáo của Đoàn Chủ tịch những thông tin cần thiết trong danh sách giới thiệu nhân sự ứng cử Ban Chấp hành khoá 12 (nếu có).
Thời gian còn lại, các đại biểu nghiên cứu danh sách giới thiệu ứng cử, đề cử Ban Chấp hành khoá 12 (chính thức và dự khuyết) do Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 chuẩn bị.
Chiều cùng ngày, các đại biểu vẫn làm việc tại đoàn, trao đổi tiếp về tiêu chuẩn, cơ cấu, danh sách đề cử Ban Chấp hành Trung ương khoá mới và nghiên cứu các tài liệu hồ sơ về nhân sự. Sau đó các đại biểu ghi phiếu ứng cử, đề cử vào Ban Chấp hành khoá mới.
Đến 15h, Đoàn Chủ tịch nghe các trưởng đoàn báo cáo về danh sách ứng cử, đề cử (bổ sung) vào ban chấp hành khoá 12.
Sáng thứ Hai (25/1), Đoàn Chủ tịch sẽ thông báo tổng hợp danh sách ứng cử, đề cử (bổ sung) Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 đến các đoàn.
Cũng tại đoàn, đại biểu ghi phiếu xin rút khỏi danh sách đề cử, ứng cử Ban Chấp hành khoá mới (nếu có). Tiếp đó, Đoàn Chủ tịch họp để xem xét các trường hợp xin rút.
Buổi chiều, tại hội trường, Đoàn Chủ tịch báo cáo với đại hội về việc bầu cử và danh sách ứng cử, đề cử, các trường hợp xin rút trước khi đại hội thực hiện quy trình để biểu quyết thông qua danh sách ứng cử, đề cử Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 và tiến hành bầu ban kiểm phiếu.
Đầu giờ sáng 26/1, đại biểu nhận danh sách bầu cử chính thức tại đoàn, ghi phiếu bầu cử Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ mới tại đoàn. Điều này được một số vị đại biểu nhận xét là hợp lý, có thời gian để đại biểu cân nhắc và tập trung hơn khi ghi phiếu ở hội trường.
9h30 ngày 26/1, đại biểu tiến hành bỏ phiếu tại hội trường và kết quả sẽ được công bố vào cuối chiều cùng ngày.
Cả ngày 27/1, Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 họp hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị, Tổng bí thư, Ban bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Kết quả bầu cử các chức danh nói trên sẽ được công bố tại phiên bế mạc Đại hội vào sáng thứ Năm, ngày 28/1. (Vneconomy 23/1) đầu trang(
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tư lệnh quân khu IV nhấn mạnh: Biển Đông chính là vấn đề sống còn của cả dân tộc, Trung ương XII phải đặc biệt quan tâm.
Trao đổi với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh quân khu IV chia sẻ: “Hàng triệu Đảng viên và nhân dân cả nước đang chờ đợi Đai hội Đảng XII sẽ xác định được đường hướng đi lên, phát triển mạnh mẽ của thành quả cách mạng, của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đặc biệt, tôi kỳ vọng cơ quan lãnh đạo tối cao là Ban chấp hành trung ương khóa XII, trong đó Bộ Chính trị và đặc biệt nhất là 4 đồng chí tứ trụ của triều đình được lựa chọn phải thực sự là tiêu biểu cho ý chí của toàn dân tộc. Đó là các đồng chí phải có dũng khí, phẩm chất đạo đức và trí tuệ ở đỉnh cao nhất của Đảng, của dân tộc để lái con thuyền vượt qua những khó khăn trong nhiệm kỳ sắp tới”.
Theo Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, trong xu thế hội nhập thì nhiệm vụ phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu để nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, lịch sử phát triển hàng nghìn năm của đất nước cho thấy, trong bấy kỳ hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải chú trọng cả nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền dân tộc, trước sự nhòm ngó của những kẻ xấu, luôn lợi dụng thời cơ để xâm chiếm đất đai, biển đảo cảu tổ quốc.
“Tôi đề nghị Trung ương XII phải đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ chủ quyền của dân tộc, nhất là biển đảo. Biển Đông là vấn đề sống còn của cả dân tộc, vì vậy cơ quan lãnh đạo tối cao phải thể hiện bản lĩnh, ý chí của toàn dân, thực sự xứng đáng là cơ quan tối cao đại diện cho phẩm chất đạo đức, trí tuệ của nhân dân.
Nhiều thế hệ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập, bảo vệ hòa bình của dân tộc, vậy thì các lớp sau này phải hành động sao cho xứng đáng với truyền thống ấy. Muốn thống nhất được tinh thần của nhân dân hướng đến mục tiêu cao nhất thì trước hết tinh thần của 4 vị tứ trụ phải thể hiện được điều ấy”, Tướng Thước nhấn mạnh.
Theo Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, để phát huy được sức mạnh của toàn dân thì trước hết trong Đảng phải đoàn kết, phải thống nhất, phải đấu tranh loại bỏ tiêu cực, phát huy được những mặt tốt.
“Đảng phải kiên quyết đấu tranh để loại trừ bằng được nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền ra khỏi Đảng. Đó là vấn đề bức xúc số một của Đảng, của dân, nó làm suy yếu sức mạnh của Đảng, gây nguy hại tới sự tồn vong của chế độ, xa hơn nữa là khiến cho sức mạnh của đất nước bị suy giảm, kẻ thù sẽ nhân cơ hội xâm chiếm lãnh thổ”, Tướng Thước chỉ rõ.
Qua kinh nghiệm thực tế, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cho rằng, công tác tuyển chọn cán bộ của Đảng có quy trình chặt chẽ, vì vậy không khó để tìm ra những cán bộ giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt.
Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo: “Có những cán bộ là người tốt, nhưng sau một thời gian được bổ nhiệm thì lại bị biến chất, thành ra người xấu. Đầu tiên là do chính cán bộ đó thiếu bản lĩnh, không chịu rèn luyện, bị lóa mắt vì đồng tiền.
Nhưng ở chiều ngược lại, Đảng cũng phải xem xét trên các phương diện khác, liệu rằng sự đãi ngộ đã đủ đảm bảo đời sống cho họ chưa? Đã đủ để họ yên tâm lo cho gia đình chưa? Chúng ta hô hào trọng dụng người tài nhưng không có cơ chế để phát huy họ thì làm sao thành công được”.
Trong di chúc để lại cho Đảng, cho nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Min viết: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
Bác đã chỉ ra rằng, Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Đối với Bác, dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán bộ, đảng viên noi theo.
Bác nói rằng: "Tổ chức đảng cũng vậy, Đảng không phải trên trời rơi xuống, "Đảng là người, nên có sai lầm, tức là cũng có lúc khoẻ mạnh, lúc ốm đau, bệnh tật. Đó là lẽ thường tình, không vì thấy ốm đau mà phát sinh tư tưởng lo sợ, bi quan, tuyệt vọng, giấu giếm bệnh tật trong mình".
Người khẳng định: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính". Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình "để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng".
Từ đó khẳng định, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhất giúp Đảng ta trong sạch vững mạnh, làm tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, trên thực tế thì kết quả các cuộc phê bình và tự phê bình chưa đạt được đúng với mong muốn của Đảng. Cứ nhìn vào thực tế chất lượng cán bộ ra sao, cách hành xử thế nào, tài sản ở đâu ra nhiều thế… là thấy ngay kết quả.
Cũng từ đó, Đảng đặt ra vấn đề đấu tranh với với những diễn biến tự chuyển hóa trong nội bộ - mầm mống nguy hại làm phai nhạt lý tưởng của thế hệ trẻ.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước bình luận: “Ngăn chặn đà suy thoái với cán bộ Đảng viên là nhiệm vụ nặng nề, rất khó khăn, nhưng bắt buộc phải làm để giữ gìn chế độ, giữ gìn nền hòa bình cho dân tộc. 86 năm qua, Đảng luôn một lòng vì nhân dân, trong những thời khắc khó khăn nhất của dân tộc, Đảng đã chứng minh được bản lĩnh, lãnh đạo nhân dân vùng lên.
Bây giờ, Đảng phải thể hiện bản lĩnh mạnh mẽ hơn nữa vì dân, có như vậy thì dân mới tin, mới ủng hộ Đảng”. (Giáo dục Việt Nam 25/1) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Tập đoàn Viễn thông Quân đội chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ngay khi Dự án được Bộ Công an phê duyệt.
Phó Thủ tướng giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tập đoàn Viễn thông Quân đội đẩy nhanh tiến độ phê duyệt Dự án khả thi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; chủ động xây dựng và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tập huấn về khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và số định danh cá nhân nhằm triển khai có hiệu quả Luật Căn cước công dân và Luật Hộ tịch; xây dựng trình Thủ tướng ban hành Chỉ thị về tăng cường phối hợp trong tổ chức triển khai dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Thông tin và Truyền thông sớm ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc thông điệp dữ liệu công dân trao đổi giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hệ thống thông tin của các Bộ, ngành, địa phương.
Bộ Tư pháp, Bộ Công an đánh giá, rút kinh nghiệm về việc thí điểm cấp số định danh cá nhân, lường trước những khó khăn về sự không cân xứng hạ tầng công nghệ thông tin giữa các địa phương, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả khi tổ chức triển khai cấp số định danh trên cả nước. (Công An Nhân Dân 23/1) đầu trang(
Nhà nước sẽ chi 13.055 tỉ đồng để cải cách tiền lương, số tiền này sử dụng vào các mục đích gồm: tinh giản biên chế; điều chỉnh lương hưu...
Trong năm 2016, Nhà nước sẽ chi 13.055 tỉ đồng để cải cách tiền lương. Số tiền này sử dụng vào các mục đích gồm: tinh giản biên chế; điều chỉnh lương hưu đối với người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động thấp dưới 2 triệu đồng/tháng.
Ngoài ra, những giáo viên mầm non về hưu trước năm 1995 có lương hưu thấp sẽ được tăng thêm để bằng mức lương cơ sở. Đồng thời một phần số tiền trên sẽ hỗ trợ một số địa phương nghèo, ngân sách khó khăn để khi tăng lương cơ sở lên 1,21 triệu đồng/tháng từ ngày 1-5. (Tuổi Trẻ 23/1) đầu trang(
KINH TẾ
Theo số liệu Tổng cục Thống kê vừa công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1-2016 không thay đổi so với tháng trước (tháng 12-2015), dù đây là tháng có kỳ nghỉ Tết Dương lịch và chuẩn bị cho kỳ mua sắm cuối năm chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.
Theo các chuyên gia kinh tế, CPI tháng 1-2016 không tăng chủ yếu là do trong tháng qua, các loại giá xăng dầu, gas đã giảm đáng kể, dẫn tới chỉ số giá nhóm nhiên liệu giảm 6,44% so với tháng trước, góp phần làm giảm CPI chung khoảng 0,27%. Giá các dịch vụ giao thông công cộng cũng giảm 0,35%, do một số doanh nghiệp điều chỉnh giảm giá cước xe khách và taxi.
Ở chiều ngược lại, chỉ số giá lương thực tăng 0,48% trong tháng, một phần do tác động tích cực từ việc Việt Nam đã giành được các hợp đồng xuất khẩu gạo cho Indonesia trong những tháng cuối năm 2015 (việc giao hàng được thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến hết quý I năm 2016). Chính phủ Indonesia còn có kế hoạch mua thêm 350.000 tấn gạo ngay trong quý I - 2016. Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines cũng đã có kế hoạch mua thêm gạo từ Việt Nam và Thái Lan trong năm 2016. Chỉ số nhóm thực phẩm cũng tăng 0,3% và nhóm may mặc, mũ nón, giày dép cũng tăng 0,37%.
Nhìn lại trong 10 năm gần đây, ngoại trừ năm 2015 là năm có tốc độ lạm phát rất thấp (0,6%) thì CPI tháng 1 giảm 0,2%, còn lại tất cả các tháng 1 đều có mức tăng giá khá cao. (Sài Gòn Giải Phóng 24/1) đầu trang(
Trong khi các nền kinh tế đang nổi trên thế giới như Nga, Brazil và Trung Quốc đang giảm tốc, mức tăng trưởng gần 7% mà Việt Nam đạt được trong năm 2015 sẽ đưa quốc gia này trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới.
Đây là bình luận được trang mạng Bloomberg.com đăng tải ngày 24/1. Theo bài viết, nhu cầu tiêu dùng nội địa và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao là những yếu tố giúp Việt Nam đương đầu với những thách thức từ nguy cơ xuất hiện làn sóng bán tháo chứng khoán và hạ giá tiền tệ trong năm 2015.
Bài viết dẫn lời các chuyên gia quốc tế cho rằng “trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm như hiện nay, nhu cầu tiêu dùng nội địa có thể coi là một yếu tố quyết định. Người dân Việt Nam ngày càng lạc quan về tương lai. Xét trên bình diện khu vực và quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ”.
Theo ước tính của Bloomberg, kinh tế Việt Nam trong năm 2016 có thể tăng trưởng 6,7%, tương đương mức năm 2015. Những nỗ lực gần đây của Ngân hàng Trung ương Việt Nam nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn cũng đã góp phần tăng tính ổn định cho nền kinh tế vĩ mô, đồng thời giảm bớt áp lực đối với dự trữ ngân hàng.
Trong khi đó, theo các số liệu chính thức, tiêu dùng cá nhân trong năm 2015 đã tăng 9,3%. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2015 tăng 17,4% so với năm 2014, lên mức kỷ lục 14,5 tỷ USD. Các thị trường chứng khoán cũng thu hút giới đầu tư nước ngoài.
Bài viết dẫn lời nhà kinh tế Eugenia Victorino, thuộc Tập đoàn Ngân hàng Australia & New Zealand, nhận định: “Nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong năm 2016. Tuy nhiên, triển vọng dài hạn phụ thuộc vào những kết quả từ sự thay đổi về mặt chính trị trong 12 tháng tới."
Ông Victorino dự đoán trong năm 2016 và 2017, Việt Nam có thể trở thành một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất ở khu vực và thế giới. Tuy nhiên, nhân tố có thể làm chệch hướng tăng trưởng của Việt Nam là thâm hụt thương mại tăng cao, có thể là do khối lượng nhập khẩu hang tiêu dùng lớn, như ôtô. (Vietnamplus 24/1) đầu trang(
Ngày 23/1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Công điện 144/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố đôn đốc thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.
Theo công điện, thời gian từ nay đến Tết Nguyên đán Bính Thân không còn nhiều, Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục chỉ đạo thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ đã được giao tại Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 24/12/2015 về việc tăng cường công tác quản lý điều hành nhằm bình ổn thị trường, giá cả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.
Các Bộ Công Thương, Bộ Tài chính triển khai đồng bộ các giải pháp, đảm bảo cung cầu hàng hóa, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá và cung ứng đầy đủ hàng hóa thiết yếu với giá cả hợp lý để phục vụ người dân trong dịp Tết, đặc biệt tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo; chỉ đạo các lực lượng chức năng kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ thị trường nội địa; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, nhất là các mặt hàng chất nổ, pháo, vũ khí, hàng hóa vi phạm về môi trường, an toàn thực phẩm và các mặt hàng phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết.
Bộ Công an tiếp tục mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm; chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động khủng bố, phá hoại, gây mất trật tự, bảo đảm giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong dịp Tết; tăng cường tuần tra, kiểm soát các khu vực bến tàu, bến xe, các địa bàn trọng yếu; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về trật tự, an toàn giao thông, sản xuất, buôn bán và vận chuyển pháo nổ.
Bộ Giao thông vận tải có giải pháp hiệu quả nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của người dân, nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong dịp Tết; chủ động phối hợp với các địa phương kiểm soát chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi chèn ép hành khách, đầu cơ vé tàu, vé xe, tăng giá vé và cước vận tải trái quy định; kịp thời khắc phục tình trạng ùn tắc tại các vị trí giao thông trọng điểm, thành phố lớn.
Các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy định về vệ sinh, an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, các chợ đầu mối nông sản, các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, cơ sở kinh doanh rau, quả phục vụ Tết; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Bộ Y tế chỉ đạo các bệnh viện, trung tâm y tế tổ chức trực ban 24/24 giờ, bảo đảm đầy đủ nhân lực, thuốc chữa bệnh, trang thiết bị sơ cứu, cấp cứu kịp thời bệnh nhân trong dịp Tết.
Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan, lực lượng chức năng các cấp trên địa bàn: thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội tổ chức tốt việc hỗ trợ lương thực, thăm hỏi, tặng quà cho người nghèo, hộ nghèo, người có công, người già, neo đơn và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn, bảo đảm mọi người dân đều được đón Tết đầm ấm, vui tươi.
Các địa phương tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, lễ hội trong dịp Tết Nguyên đán, bảo đảm vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với thuần phong, mỹ tục và phong tục, tập quán của từng địa phương.
Bên cạnh đó, chủ động phòng, chống, tấn công trấn áp các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; kiểm soát tốt và xử lý nghiêm hành vi đốt pháo nổ trên địa bàn; chủ động thực hiện hiệu quả các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng ùn tắc, giảm thiểu tai nạn giao thông, tăng cường công tác phòng chống cháy nổ, nhất là tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu dân cư, nơi tập trung đông người.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện Công điện. (Vietnamplus 23/1) đầu trang(
ĐỊA PHƯƠNG
Đó là chỉ đạo của phó chủ tịch UBND TP Hà Nội tại buổi làm việc với các sở, ngành, quận/huyện liên quan về nội dung chuẩn bị tổ chức lễ hội xuân 2016 mới đây.
Theo ông Sơn, Hà Nội hiện có trên 1.000 lễ hội với quy mô khác nhau và tập trung vào mùa xuân, nhiều lễ hội đã khôi phục được những phong tục, tín ngưỡng văn hoá đặc sắc. Các lễ hội này tập trung chủ yếu tại năm quận/huyện như Đống Đa, Đông Anh, Mỹ Đức, Sóc Sơn, Mê Linh.
Để khắc phục một số tồn tại hạn chế trong công tác tổ chức lễ hội năm 2015, tạo không khí phấn khởi, vui tươi lành mạnh, an toàn, tiết kiệm cho nhân dân tham gia lễ hội năm 2016, UBND TP Hà Nội yêu cầu chính quyền các quận/huyện trên phải tổ chức thực hiện lễ hội xuân 2016 đảm bảo đúng quy định “trang trọng, tiết kiệm, tránh lãng phí”.
“Chấm dứt tình trạng đổi tiền lẻ dưới mọi hình thức, rà soát việc bố trí hòm công đức, nơi dâng lễ đúng quy định” - ông Sơn chỉ đạo. Cùng với đó, phó chủ tịch UBND TP Hà Nội cũng yêu cầu các lễ hội phải đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, sắp xếp hàng quán đảm bảo mỹ quan, kiên quyết xử lý các hàng rong vi phạm, lấn chiếm hành lang giao thông. Các hàng quán phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có tủ kính, có giấy chứng nhận đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, niêm yết giá bán.
Riêng đối với lễ hội Chùa Hương, ông Sơn yêu cầu CA TP Hà Nội và các huyện Mỹ Đức, Thanh Oai, Ứng Hoà phải làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội ngay từ đường vào khu di tích và khu vực xung quanh chùa để “ngăn chặn không để xảy ra các tệ nạn xã hội, không có hiện tượng cò mồi, bắt chẹt du khách về giá vé tham quan, giá vé đò tại các bến đò, cửa động”. (Pháp Luật TP.HCM 23/1) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Theo TAND TP Hà Nội, quyết định tịch thu toàn bộ lô rượu trị giá 3,7 tỉ đồng của Cục Điều tra chống buôn lậu có nhiều sai phạm.
TAND TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm vụ kiện hành chính giữa nguyên đơn là Công ty Camellia Trading International INC (Belize) và bị đơn là cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan về việc tịch thu lô hàng rượu trị giá 3,7 tỉ đồng của công ty này hồi tháng 6-2013.
Theo đơn khởi kiện, năm 2013 Công ty Camellia Trading International INC đã gửi vào kho ngoại quan của Công ty TNHH quốc tế Sao Bắc toàn bộ lô hàng rượu gồm 349 kiện, trị giá 3,7 tỉ đồng.
Công ty Sao Bắc được ủy quyền nhận hàng, làm thủ tục khai báo hải quan, nhập lô hàng về cảng Hải Phòng. Chiều 21-6-2013, toàn bộ lô hàng đã được nhập kho dưới sự kiểm tra, giám sát của Chi cục hải quan cảng Cái Lân thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh.
Tuy nhiên sau đó Chi cục hải quan cảng Cái Lân đã không làm thủ tục xuất lô hàng ra khỏi kho ngoại quan với lý do: Đội kiểm soát chống buôn lậu khu vực phía Bắc, Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan đề nghị tạm thời chưa làm thủ tục để chờ kết quả kiểm tra xác minh hồ sơ hải quan của lô hàng.
Tháng 10-2013, Cục Điều tra chống buôn lậu ra quyết định phong tỏa lô hàng. Đến tháng 4-2015, Cục Điều tra chống buôn lậu ra quyết định tịch thu toàn bộ lô hàng nêu trên với lý do tịch thu tang vật vi phạm hành chính không xác định được chủ sở hữu.
Sau đó, Công ty Camellia làm đơn khởi kiện đến TAND TP Hà Nội và yêu cầu hủy hai quyết định do cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu ban hành vì hai quyết định này xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty.
Tại tòa, đại diện ủy quyền của cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu cho rằng quyết định tịch thu lô hàng nói trên hoàn toàn đúng thẩm quyền, đúng quy định.
Trong khi đó, luật sư Phan Thị Hương Thủy - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn - cho rằng Cục Điều tra chống buôn lậu đã ban hành quyết định không hợp pháp, căn cứ vào các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực.
Luật sư cho rằng Cục Điều tra chống buôn lậu chỉ có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 100 triệu đồng, trong khi giá trị toàn bộ lô hàng rượu lên tới 3,7 tỉ đồng.
Xét thấy quyết định hành chính của cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu có nhiều sai phạm, TAND TP Hà Nội đã tuyên hủy toàn bộ quyết định, giao trả lô hàng cho Công ty Camellia Trading International INC. (Tuổi Trẻ 23/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Năm 2015, hơn 54.000 quan chức Trung Quốc đã bị điều tra về tội hối lộ, xao lãng nhiệm vụ và một số tội danh khác liên quan đến chức vụ.
Theo THX, trong một bản báo cáo được công bố ngày 24/1, Trưởng Ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCDI) Vương Kỳ Sơn cho biết, trong năm 2015, hơn 54.000 quan chức nước này đã bị điều tra về tội hối lộ, xao lãng nhiệm vụ và một số tội danh khác liên quan đến chức vụ.
Theo báo cáo tổng kết nhiệm vụ của ông Vương Kỳ Sơn tại phiên họp toàn thể lần thứ sáu của CCDI diễn ra ngày 12/1, các tòa án trên toàn quốc đã đưa ra kết luận với hơn 20.000 vụ án, trong đó có 16.000 vụ liên quan đến tội hối lộ và biển thủ công quỹ và 4.300 vụ về tội xao lãng nhiệm vụ.
Nhà chức trách có thẩm quyền đã tiếp nhận hơn 2,8 triệu đơn trình báo và xử phạt khoảng 336.000 cán bộ vi phạm kỷ luật. 90 quan chức thuộc chính quyền trung ương đã bị điều tra về tội vi phạm kỷ luật, 42 người trong số đó đã được bàn giao cho cơ quan tư pháp để điều tra hình sự.
Ngoài ra CCDI cũng đã điều tra 49.000 quan chức về vi phạm quy định chống xa hoa lãng phí, trong đó 34.000 người đã bị công khai tên tuổi.
Cơ quan này cũng đã đối phó mạnh mẽ với nạn tham nhũng trong nội bộ khi 2.479 thanh tra kỷ luật đã bị xử phạt trong năm 2015.
Trung Quốc cũng đã tiết lộ về chiến dịch mang tên "Lưới trời" khiến 1.023 đối tượng đang chạy trốn ở nước ngoài dẫn giải trở về nước, thu hồi được 3 tỷ nhân dân tệ (khoảng 461,5 triệu USD). (Vietnamplus 25/1) đầu trang(
Honduras và Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ (OAS) vừa thông qua việc thành lập một tổ chức pháp lý gồm các nhà điều tra và thẩm phán quốc tế, nhằm trợ giúp cuộc chiến chống tham nhũng tại quốc gia Trung Mỹ này.
Honduras đang rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội nghiêm trọng, nhiều lĩnh vực đang chịu sự kiểm soát của các băng nhóm và phải gánh hậu quả nặng nề của hàng loạt bê bối tham nhũng trong Chính phủ.
Trước đó, ông Juan Orlando Hernandez từng đề nghị Liên hợp quốc trợ giúp khẩn cấp trong việc tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị có chiều hướng vượt tầm kiểm soát của Chính phủ, dẫn tới các cuộc tuần hành của hàng vạn người dân yêu cầu Tổng thống từ chức.
Kể từ năm 2007, Liên hợp quốc đã điều tra các vụ việc quan trọng, bao gồm bê bối khiến cựu Tổng thống Otto Pérez Molina và cựu Phó Tổng thống Roxana Baldetti phải ngồi tù.
Kể từ sau khi vụ bê bối biển thủ công quỹ tại Viện Bảo hiểm xã hội Honduras (do đảng cầm quyền kiểm soát) bị phanh phui, làn sóng biểu tình, tuần hành và phong tỏa trụ sở các cơ quan Chính phủ đòi Tổng thống Juan Orlando Hernandez từ chức và trừng phạt nghiêm những đối tượng liên quan liên tục diễn ra trên khắp đất nước. Những người biểu tình đã xuống đường yêu cầu một ủy ban giống như ở nước “láng giềng” Guatemala và lo ngại tổ chức pháp lý tại Honduras sẽ không đủ mạnh để chống tham nhũng hiệu quả.
Honduras là một trong những nước nghèo nhất châu Mỹ với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm và thu nhập bình quân đầu người rất thấp. Ước tính có khoảng 70% dân số nước này nằm trong diện nghèo đói, trong khi tỷ lệ thất nghiệp lên tới 28%. (Thanh Tra 24/1) đầu trang( ./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||